Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Tiền sử Việt Nam (V)


Tiền sử Việt Nam (V)
 
Người viết: Hà Hữu Nga

Theo đặt hàng của GS. Phan Huy Lê (2005)


Lưu ý đầu trang: Đây là bản draft đầu tiên tôi [Hà Hữu Nga] viết theo đặt hàng của GS. Phan Huy Lê, dưới sự hướng dẫn của GS. Trần Quốc Vượng. Vì vậy xin có ba lưu ý quan trọng:

1. Bản draft này được lưu ở đây với tư cách cá nhân và là bản draft chưa được chỉnh sửa.
2. Mọi hình thức sử dụng như: sao chép, trích dẫn v.v…là không hợp lệ.  
3.Vì GS. Trần Quốc Vượng ốm nặng và mất trước khi đọc bản draft này vào năm 2005 nên mọi sai sót có trong draft đều thuộc về người viết; nhiều quan điểm trong bài viết không chắc đã được GS. Trần Quốc Vượng đồng ý. 


3. Thời đại kim khí và quá trình hình thành nhà nước sơ khai

Các cư dân thời đại kim khí ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

Cư dân văn hóa Phùng Nguyên: Sau đợt biển tiến Holocene trung, tam giác châu Bắc Bộ đã hình thành và các nhóm cư dân hậu kỳ đá mới từ địa bàn cũ của các văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Soi Nhụ và có thể cả các nhóm hậu kỳ đá mới Bắc Trung Bộ cũng hướng về khu vực đồng bằng Trung châu Bắc Bộ, khai thác nguồn lợi đất đai để phát triển nền kinh tế nông nghiệp đang phát triển mạnh. Về phương diện Khảo cổ học, cái tên văn hóa Phùng Nguyên là để chỉ một cộng đồng người sơ kỳ thời đại kim khí phân bố trên khắp địa bàn đồng bằng và vùng trung du Bắc Bộ ngày nay, và họ chính là tổ tiên trực tiếp của những người đã tạo dựng nền văn minh Đông Sơn nổi tiếng của người Việt cổ.
           
Cho đến nay, hơn 50 di chỉ của cư dân văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện và nghiên cứu. Mật độ tập trung đậm đặc nhất của các di chỉ Phùng Nguyên là ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc với 34 địa điểm, Hà Nội và Hà Tây có 14 địa điểm, Bắc Ninh 6 địa điểm. Địa bàn phân bố của cư dân Phùng Nguyên hầu hết tập trung tại vùng hợp lưu của các con sông lớn ở Bắc Bộ, đó là sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Đáy thuộc địa phận các tỉnh vừa kể ở trên. Một số niên đại C14 trong các di chỉ Phùng Nguyên là: Gò Mả Đống 4145 ± 60 năm cách ngày nay; niên đại di chỉ Đồng Chỗ là 3800 ± 60 năm cách ngày nay; ở lớp Phùng Nguyên thuộc di chỉ Đồng Đậu có niên đại 3330 ± 100 năm cách ngày nay.  Trước hết phải nói rằng họat động kinh tế chủ đạo của cư dân Phùng Nguyên là sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước. Song song với các họat động nông nghiệp, thủ công nghiệp và trao đổi, buôn bán cũng phát triển mạnh mẽ. Đang trong quá trình thoát thai khỏi thời đại đồ đá, các cư dân Phùng Nguyên vẫn duy trì nền thủ công nghiệp chế tác đá, và phải nói rằng họ đã đẩy ngành chế tác đá lên trở thành một kỹ nghệ tinh xảo và điêu luyện. Về công cụ sản xuất, bộ sưu tập lớn nhất là bôn đá hình tứ giác, lưỡi vát về một phía, tiếp đó là rìu tứ giác [Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999b]. Cả bôn và rìu đều có hình dáng chuẩn xác và được mài nhẵn. Ngoài ra cư dân Phùng Nguyên còn chế tác công cụ sản xuất bằng đá khác như dao, liềm, cưa, và đặc biệt là mũi khoan đá. Hai công xưởng tiền sử chế tác mũi khoan và đồ trang sức đá lớn nhất nước ta đã được phát hiện tại Bãi Tự (Bắc Ninh) và Tràng Kênh (Hải Phòng) [Nguyễn Thị Kim Dung 1986].

Sự phát triển của thủ công nghiệp Tràng Kênh còn thể hiện ở nghề làm vải, mà trước hết có thể là loại vải vỏ cây. Riêng tại địa điểm Phùng Nguyên đã tìm được 18 bàn đập bằng đá, bằng nghiên cứu so sánh dân tộc học và thực nghiệm, các nhà khảo cổ học đã kết luận đó là những chiếc bàn đập vỏ cây. Có nhiều khả năng chính loại y phục là sản phẩm của bàn đập vỏ cây đã gợi ý cho người tiền sử sử dụng những sợi vỏ cây đan kết lại thành vải, và một trong những nguồn gốc của việc phát hiện ra sợi chính nhờ ở những chiếc bàn đập vỏ cây này. Đối với con người, y phục và trang sức luôn có một mối gắn bó mật thiết và mang tính hữu cơ. Nhu cầu làm đẹp không chỉ đơn giản là để làm đẹp, mà nó còn là một biểu tượng, một tín hiệu thông tin cho người khác biết về vị thế của một cá nhân trong cộng đồng. Ngành thủ công trang sức tiền sử phát triển trước hết là từ khía cạnh đó. Với trường hợp cư dân Phùng Nguyên, khi nông nghiệp định cư đã làm cho cuộc sống của con người được cải thiện nhiều thì trong xã hội xuất hiện những hạng người khác nhau, với chức năng và vị thế xã hội khác nhau. Ngành thủ công sản xuất đồ trang sức đá đã đáp ứng tốt cho nhu cầu đó. Tại di chỉ Phùng Nguyên, trong số hơn 4000 hiện vật đá đã có tới gần 600 hiện vật là đồ trang sức. Riêng ở di chỉ Văn Điển thuộc văn hóa Phùng Nguyên Hà Nội, trong số 1085 hiện vật đá đã có tới 535 chiếc vòng.
           
Một trong những thành tựu lớn nhất của nghề thủ công Phùng Nguyên là nghề gốm. Loại hình đồ gốm của cư dân Phùng Nguyên cực kỳ đa dạng, gồm có đồ đựng, đồ đun nấu, đồ dùng trong ăn uống, sinh họat, đồ dùng trong nghi lễ và có thể có cả những “hàng hóa uy tín” nhằm phô trương quyền uy của các vị thủ lĩnh hoặc các nhân vật quan trọng trong cộng đồng. Nhiều sản phẩm được trang trí hoa văn rất đẹp, không có dấu hiệu sử dụng để đun nấu, có lẽ có chức năng là hàng hóa uy tín. Người thợ gốm Phùng Nguyên không chỉ là những nghệ nhân tài ba, mà có lẽ họ còn là những người có nguồn tri thức phong phú nhất trong cộng đồng. Trong khuôn khổ tri thức tiền sử, ở một mức độ nhất định, họ phải hiểu biết về các kiến thức mà ngày nay chúng ta gọi là hóa học, cơ học, vật lý học, hình học, mỹ thuật...vv. Và còn hơn thế nữa, bằng phong cách tạo dáng, và nhất là trang trí hoa văn gốm, người Phùng Nguyên còn gán cho các sản phẩm của mình những ý nghĩa, những chuẩn mực hoặc những hệ thống ý nghĩa, hệ thống chuẩn mực và cách quan niệm về thế giới của xã hội tiền sử Phùng Nguyên.
           
Về nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên, cho đến nay mới chỉ có một nghiên cứu chính thức cho rằng vào sơ kỳ thời đại kim khí đã có một bộ lạc ở phía Tây Nghệ Tĩnh di chuyển lên phía bắc, qua vùng đất Hòa Bình - Hà Tây hoặc vòng qua vùng Tây Bắc xuống định cư tại khu vực đồng bằng sông Hồng [Hà Văn Tấn 1976]. Tuy nhiên không thấy ai tiếp tục đi theo giả thiết đơn tuyến này. Một khuynh hướng khác tìm tòi nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên theo lý thuyết đa tuyến, cho rằng khi đồng bằng Trung du và Bắc Bộ hình thành đã có nhiều nhóm người từ mọi hướng tập trung về khai thác khu vực này. Đó có thể là các nhóm từ biển vào (văn hóa Hạ Long); từ đồng bằng Thanh Nghệ ra (giai đọan hậu kỳ đá mới Gò Trũng); từ Hà Giang xuống (văn hóa Hà Giang); từ Lạng Sơn về (văn hóa Mai Pha sớm hoặc giai đọan tiền Mai Pha); các nhóm hậu kỳ đá mới từ Tây Bắc, Hòa Bình, Hà Tây (vùng chân núi đá vôi Hương Sơn) cũng tụ hội về đây. Các quá trình đó tạo thành một mạng các mối quan hệ nguồn gốc của văn hóa Phùng Nguyên. Điều này ngày càng được thực tế tư liệu và lý thuyết chứng minh là đúng. Các cư dân Phùng Nguyên vẫn sử dụng các nguyên liệu cuội làm công cụ theo truyền thống Hòa Bình; nhiều dấu Bắc Sơn, bàn mài Hạ Long, gốm xốp Hạ Long, rìu có vai có nấc Hạ Long đã tìm thấy khi khai quật hoặc thám sát các “làng” Phùng Nguyên. Các công cụ có nguồn gốc cuội chỉ hiếm dần vào giai đoạn Phùng Nguyên muộn như các di chỉ Tiên Hội, Xuân Kiều, Từ Sơn, Lũng Hòa, Tràng Kênh, lớp dưới di chỉ Đồng Đậu. Sở dĩ cư dân Phùng Nguyên được coi là đã bước vào giai đoạn sơ kỳ kim khí vì trong một số di chỉ thuộc giai đọan này đã tìm thấy gỉ đồng và những mẩu đồng thau nhỏ, là hợp kim của đồng và thiếc, ở Bãi Tự đã tìm được một mảnh vòng hoặc một đoạn dây kim loại chì [Diệp Đình Hoa 1978].

Các cư dân giai đọan văn hóa Đồng Đậu: Văn hóa Đồng Đậu có tên gọi bắt nguồn từ di chỉ Đồng Đậu, thuộc xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa bàn phân bố của các di tích thuộc văn hóa Đồng Đậu về cơ bản trùng hợp với địa bàn của cư dân Phùng Nguyên. Nói cách khác, về phương diện lịch sử, Đồng Đậu là giai đọan phát triển kế tiếp của văn hóa Phùng Nguyên. Tuy nhiên, nếu như mật độ địa điểm tụ cư của người Phùng Nguyên đậm đặc ở vùng đất Phú Thọ thì đến giai đoạn Đồng Đậu, người tiền sử có xu hướng tiến xa hơn về phía đồng bằng ven biển, vì sau giai đoạn Holocene trung, biển lui dần và các khu vực đồng bằng thấp ngày càng trở nên khô ráo hơn, thuận tiện cho việc cư trú và khai khẩn của con người. Cũng giống như người Phùng Nguyên, các cư dân Đồng Đậu thường chọn các gò đất bằng phẳng để ở. Nền nhà của họ thường được tôn thêm bằng loại đất sét màu vàng nện chặt. Đôi khi phát hiện ra các hố đất đen trong khu vực nền ấy, và các nhà khảo cổ học cho rằng đó là những chiếc hố chôn cột. Cho đến nay đã có nhiều niên đại C14 được xác định cho văn hóa Đồng Đậu, trong đó tiêu biểu là di chỉ Thành Dền. Lớp sớm nhất có tuổi 3390 ± 70 năm cách ngày nay. Lớp trên cùng có tuổi 2650 ± 130 năm cách ngày nay. Cư dân Đồng Đậu sống ở trung kỳ thời đại đồng thau Việt Nam.

Chắc chắn rằng cư dân Đồng Đậu là những người thợ luyện kim thành thạo. Nếu như ở giai đọan Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ học chưa phát hiện được những sản phẩm đồng thau hoàn chỉnh thì đến giai đọan Đồng Đậu đã phát hiện được những mũi tên, mũi nhọn bằng đồng. Không những thế người ta còn tìm được bằng chứng thể hiện kỹ thuật đúc đồng của cư dân tiền sử thuộc giai đọan văn hóa này. Tại di chỉ Tiên Hội đã tìm được khuôn đúc hai mang. Tại các di chỉ khác thuộc giai đoạn này như Đồng Đậu (lớp II), Đồng Dền, Đông Lâm, Đồi Đà (Lớp dưới) cũng tìm thấy khuôn đúc và nồi rót đồng. Và thành Dền được coi là một trung tâm đúc đồng thuộc giai đoạn văn hóa Đồng Đậu [Hà Văn Tấn, Nguyễn Xuân Mạnh,...1985]. Đồ đồng của người Đồng Đậu là những sản phẩm hoàn chỉnh gồm có rìu, giáo, lao, mũi tên, lưỡi câu, mũi nhọn, búa, rũa bằng đồng....vv. Có ba loại hình rìu đặc trưng là rìu chữ nhật, rìu xòe cân và rìu lưỡi lệch thuộc di chỉ Đồng Dền. Có một sự kế thừa và phát triển rất logic trong nghề thủ công Đồng Đậu là tuy đồ đồng đã rất phát triển, nhưng cư dân ở đây vẫn sử dụng các công cụ bằng đá. Đồ đá của người Đồng Đậu gồm có rìu, đục, qua, mũi tên, vòng tay, khuyên tai. Tuy nhiên, trừ việc sản xuất đồ trang sức, việc chế tác các công cụ sản xuất bằng đá ở Đồng Đậu đã bị suy thoái nhiều so với cư dân Phùng Nguyên. Ngay cả nguyên liệu chế tác đồ trang sức cũng kém nguyên liệu đá Phùng Nguyên. Đó có thể là do nguyên liệu mới là đồng thau đã chi phối và thu hút tâm trí của người cổ Đồng Đậu. Nghề thủ công làm gốm vẫn tiếp tục phát triển với nhiều loại hình hiện vật như bát, chậu, vò, bình, các loại nồi đáy tròn hay đáy bằng. Có một số motif hoa văn gốm chưa hề xuất hiện trong văn hóa Phùng Nguyên, chẳng hạn như loại hình hoa văn khuông nhạc, và đường tròn đồng tâm. Riêng hoa văn đường tròn đồng tâm của cư dân Đồng Đậu có thể là một trong những nguồn gốc của hoa văn trống đồng Đông Sơn sau này. Ngoài ra gốm còn là chứng nhân cho một nghề thủ công điêu luyện khác của cư dân Đồng Đậu, đó là nghề đan lát. Trên nhiều mảnh gốm còn để lại những dấu đan lóng mốt, lóng đôi với những nan đan được tước mỏng, vót chuốt rất cầu kỳ, tinh tế. Chỉ riêng điều này cũng giúp ta hình dung được phần nào cuộc sống ổn định và phong phú của cư dân Đồng Đậu.
           
Không có gì phải nghi ngờ rằng người Đồng Đậu là những nhóm cư dân làm nông, hậu duệ trực tiếp của người Phùng Nguyên. Hình thức canh tác của họ có thể là cả ruộng nước lẫn ruộng khô. Tại di chỉ Đồng Đậu, nhiều mẫu gạo cháy đã được phát hiện. Chăn nuôi đã rất phát triển trong các cộng đồng làm nông Đồng Đậu. Trong các di chỉ thuộc giai đoạn văn hóa này thấy có nhiều xương răng trâu bò, lợn gà đã thuần dưỡng. Tuy nhiên săn bắt và hái lượm vẫn đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế của cư dân nơi đây. Di tích xương răng thú hoang thấy trong các di chỉ Đồng Đậu gồm có voi, trâu bò rừng, gà lợn rừng, hươu nai. Các động vật thủy sinh gồm có cá cua, trai, ốc, rùa. Bộ công cụ và vũ khí săn bắt của cư dân nơi đây cũng rất phong phú, gồm có giáo, lao, mũi tên, lưỡi câu bằng xương, bằng đồng. Đặc biệt nghệ thuật làm tượng của cư dân Đồng Đậu đã lấy các vật nuôi gần gũi với con người như trâu, bò, gà làm đối tượng mô tả. Đó là một dấu hiệu cho thấy sự thịnh vượng và phát triển về mặt kinh tế và xã hội của cư dân Đồng Đậu để tiến đến một trình độ cao hơn trong văn hóa Gò Mun.
           
Cư dân giai đoạn Gò Mun: văn hóa Gò Mun còn là một trình độ hay một giai đoạn phát triển của tiền sử Việt Nam trên con đường tiến tới hình thành nền văn minh Đông Sơn. Gò Mun là tên của một địa điểm khảo cổ học tiêu biểu cho giai đoạn phát triển này, được phát hiện tại Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Giống như Đồng Đậu bắt nguồn từ Phùng Nguyên, đến lượt mình giai đọan Gò Mun lại là sự tiếp nối lịch sử cư dân Đồng Đậu. Địa bàn phân bố của người Gò Mun phần nào trùng hợp với địa bàn của các cư dân Phùng Nguyên và Đồng Đậu trước đó, nhưng chắc chắn là mật độ cư trú đậm đặc hơn. Điều này được minh chứng bởi các địa điểm Gò Mun và Gò Chiền sát nhau, đặc biệt tại Thụy Vân huyện Phong Châu (Phú Thọ) cư dân Gò Mun đã lập làng trên 5 quả đồi liền kề nhau là Gò Gai, Gò Con Cá, Gò Thế, Gò Tro Trên, Gò Tro Dưới. Về niên đại, có một số mẫu C14 có tuổi điển hình của giai đọan Gò Mun, đó là di chỉ Vườn Chuối (Hà Tây) thuộc giai đọan cuối Đồng Đậu, đầu Gò Mun là 3045 ± 120 năm cách ngày nay; niên đại di chỉ Gò Chùa Thông (Hà Nội) là 2655 ± 90 năm cách ngày nay. Cư dân Gò Mun thuộc giai đọan cuối của văn hóa đồng thau.
           
Nghề đúc đồng của người Gò Mun đã có những bước tiến lớn so với cư dân Đồng Đậu. Trong giai đọan Đồng Đậu chúng ta chỉ thấy có khoảng 10 loại hình hiện vật đồng thì đến văn hóa Gò Mun đã có tới trên 20 loại công cụ, vũ khí, và các vật dụng khác nhau, trong đó đặc biệt đã phát hiện được cả liềm đồng. Các hiện vật đồng khác gồm có rìu, giáo, lao, mũi tên, mũi nhọn, lưỡi câu, búa, dũa, liềm, tượng, lục lạc, vòng tay, trâm cài, nhẫn...vv. Người Gò Mun vẫn sử dụng công cụ đá, trước hết vẫn là rìu đá, đục đá, bàn mài. Đồ trang sức đá cũng phong phú không kém các giai đọan trước, gồm các loại vòng tay, vòng tai, khuyên tai đá với nhiều loại hình khác nhau, nhất là sự đa dạng hóa các loại hình khuyên tai bốn mấu. Một thay đổi dễ nhận ra trong bộ công cụ đá truyền thống là lao giáo đá không thấy xuất hiện, có lẽ chất liệu đồng đã hoàn toàn thay thế một cách hiệu quả cho chất liệu đá trong việc chế tác những loại hình vũ khí này. Cùng khuynh hướng đó, dường như việc sử dụng chất liệu xương thú hoang cũng giảm đi so với giai đoạn trước. Nghề thủ công làm gốm Gò Mun phát triển rất mạnh, tuy nhiên không theo hướng hoa mỹ như gốm Phùng Nguyên, mà mang tính thực dụng nhiều hơn. Đó là những đồ đựng hoặc đồ đun nấu có kích thước lớn, thành gốm dày và được nung rất chắc chắn. Một trong những cách trang trí hoa văn gốm đặc sắc của người Gò Mun là hoa văn đắp nổi; loại hoa văn này phần nào gợi lại truyền thống hoa văn đắp nổi của cư dân hậu kỳ đá mới Hạ Long, một trong những cuội nguồn văn hóa của cư dân Việt cổ.
           
Cư dân Gò Mun là những người làm nông có kinh nghiệm lâu đời được kế thừa từ các tổ tiên hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí của mình. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra những hầm chứa lương thực hoặc hạt giống ở di chỉ Đồng Đậu. Đó là những hạt gạo cháy đen ở suốt các lớp từ Phùng Nguyên muộn qua giai đọan Đồng Đậu đến giai đọan Gò Mun. Ngay tại di chỉ Gò Mun cũng phát hiện được một hầm ngũ cốc mục nát. Các nhà nghiên cứu cho rằng các cư dân này không những có đủ mà còn có thừa lương thực để sử dụng và dự trữ. Phương thức canh tác của người Gò Mun có thể là quảng canh trên một khu vực rộng lớn [Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999, 146 – 147]. Các nghiên cứu di tích lúa gạo trong các di chỉ này cho thấy người ta đã trồng cả lúa tẻ, cả lúa nếp, cả luá ruộng và lúa nương [Đào Thế Tuấn 1988]. Có thể nghĩ rằng bên cạnh quảng canh, người Gò Mun đã thâm canh một số loại ngũ cốc nhất định. Ngoài ra, người Gò Mun còn phát triển mạnh nghề chăn nuôi gia súc. Xương răng động vật thuần dưỡng có voi, trâu, bò, lợn, gà, chó. Cách thức canh tác dùng sức động vật có lẽ vẫn là lùa các đàn gia súc (khoảng 15 – 30 con trâu, trong đó có 2 - 3 con đầu đàn được huấn luyện để dẫn dắt cả đàn, trên một diện tích 1000 m2) xuống ruộng dẫm cho thuần thục đất để gieo cấy, giống như cách thức mà người Mnông vẫn canh tác ở vùng ruộng nước xung quanh hồ Lắc (Đắc Lắc) ngày nay.

Còn nữa…


Tài liệu Tham khảo

Aung-Thwin, Michael 1985. Pagan: the Origins of Modern Burma. Honolulu: University of Hawaii Press., p. 87.

Bellwood P. 1997. Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago. 2nd Edition. Honolulu: University of Hawaii Press.

Bentley, G. Carter 1986. Indigenous States of Southeast Asia. Annual Review of Anthropology 15: 275 – 305.

Bowler, Sandra 2001. Nguồn gốc Châu Á Khảo cổ học và Nhân học, trong Bức khảm văn hoá Châu Á - Tiếp cận Nhân học (Grant Evans chủ biên), bản tiếng Việt, do Cao Xuân Phổ dịch, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 2001. Trang 51.

Bùi Vinh 1993. Khai quật di chỉ Làng Còng (Thanh Hoá) – 1992. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1992, Hà Nội, trang 50 -51.

Bùi Vinh 2003. Cư dân văn hoá Đa Bút trong các đợt biển tiến (Nhận thức qua tư liệu Địa - Khảo cổ học ở Làng Còng và Hang Sáo). Tạp chí Khảo cổ học, số 2 (122) (III-IV), trang 3-15.

Chử Văn Tần 1976. Tìm hiểu quá khứ xa xưa của Tây Bắc. Khảo cổ học, số 18-1976, trang 40-53.

Ciochon R.L, 1988. Gigantopithecus the King of all apes. Animal Kingdom, Vol. 91, No. 2, 1988.

Colani, M. 1928. Notice sur la préhistoire du Tonkin, BSGI, vol. XVIIIV, 1, pp. 71-72.

Diệp Đình Hoa 1978: Về những hiện vật kim loại ở buổi đầu thời đại đồ đồng thau Việt Nam, Tạp chí Khảo cổ học số 2, trang 11-20.

Donald, M. 1991. Origins of the Modern Mind: Three Stages in the Evolution of Culture and Cognition. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Đào Quí Cảnh 2004. Vấn đề nông nghiệp trong văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trang 64.

Đào Thế Tuấn 1988.   trang 44. Về những hạt gạo cháy phát hiện ở Đồng Đậu (Vĩnh Phú) năm 1984. Tạp chí Khảo cổ học, số 4, trang 44-46.

Earle, Timothy, ed. 1991. Chiefdom: Power, Economy and Ideology. New York: Cambridge University Press.

Eblen, Ruth A. and William R. Eblen, Editors 1994. The Encyclopedia of the Environment. The René Dubos Center for Human Environments. Huston Mifflin Company, Boston New York 1994. p. 4.

Eisler R. 1987. The Chalice and The Blade: Our History, Our Future. New York, Harper & Row, 1987.

Gardner, H. 1997. Thinking about thinking. New York Review of Books. 9-10-1997.

Gorman C.E. 1970. Excavations at Spirit Cave, North Thailand: some interim interpretations. Asian Perspectives 13: 79-107.

Gorman C.E. 1971. The Hoabinhian and after: subsistence patterns in Southeast Asia during the late Pleistocene and early Recent periods. World Archaeology 2 (3): 300 – 320.

Grenier, Louise 1998. Working with Indigenous Knowledge, a Guide for Researchers. International Development Research Centre, Ottawa, Canada.  pp. 1-9.

Hà Hữu Nga 1982. Thời đại đá mới Việt Nam: Môi trường – Văn hóa và một mô hình tổng quát. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1982. Hà Nội.
         
Hà Hữu Nga, Nguyễn Cường, và Bùi Vinh 1996. Báo cáo Khai quật di chỉ Mai Pha (Lạng Sơn). Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Hà Hữu Nga 1998. Có một nền văn hoá Soi Nhụ tại khu vực vịnh Hạ Long. Kỷ yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997. Hà Nội 1998, trang 91.

Hà Hữu Nga, Nguyễn Văn Hảo 1999. Hạ Long thời tiền sử. Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 1999.

Hà Hữu Nga 2000. Soi Nhụ – Nền văn hoá cổ nhất hiện biết trên vịnh Hạ Long.  Hội thảo Vịnh Hạ Long 5 năm di sản Thế giới, do UBND Tỉnh Quảng Ninh – Bộ Văn hoá Thông tin và Uỷ ban UNESCO Việt Nam tổ chức, Hạ Long 4-2000, trang 72-80.

Hà Hữu Nga 2004. Khảo cổ học Đông Bắc Việt Nam từ những hệ thống sinh thái nhân văn tới các cấu trúc xã hội tiền nhà nước. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam, Tập I, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2004. Trang 117-139.

Hà Văn Tấn 1962. Về vấn đề người Indonesian và loại hình Indonesian trong thời đại nguyên thuỷ Việt Nam. Thông báo Khoa học Đại học Tổng hợp, Sử học I, trang 168 – 202.

Hà Văn Tấn 1976. Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên và vấn đề Tiền Việt Mường (một giả thiết công tác mới).

Hà Văn Tấn 1982. Từ Bàu Tró đến Sa Huỳnh. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1980, Hà Nội, trang 142-144.

Hà Văn Tấn 1984. Lớp dăm đá vôi ở Ngườm với khí hậu cuối Pleistocene ở Đông Nam Á. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1984, trang 18-20.

Hà Văn Tấn 1986. Kỹ nghệ Ngườm trong một phối cảnh rộng hơn. Tạp chí Khảo cổ học, số 3, 1986, trang 3-10.

Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998. Khảo cổ học Việt Nam. Tập I. Thời đại đá Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trang 76.

Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999. Khảo cổ học Việt Nam. Tập II. Thời đại kim khí Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

Hà Văn Tấn, Nguyễn Xuân Mạnh,...1985. Khai quật lần thứ hai di chỉ Thành Dền (Hà Nội), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1984, trang 95.

Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998. Khảo cổ học Việt Nam. Tập I. Thời đại đá Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trang 60 – 63.

Hà Văn Tấn, Bùi Vinh và Võ Qúi 1990. Những dấu hiệu về một nền văn hoá khảo cổ mới ở Hà Tuyên. Tạp chí Khảo cổ học, số 1-2-1990. trang 34-38.

Hall, Keneth R. 1985. Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press.

Higham, Charles F. W. 1989. The later Prehistory of Mainland Southeast Asia. Journal of World Prehistory 3: 235 – 282.

Hoàng Xuân Chinh và Nguyễn Văn Bình 1978. Điều tra khảo cổ học thời đại đá cũ ở Đồng Nai và Sông Bé. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1978.

Hodder, Ian 1991. Reading the Past – Current Approaches to Interpretations in Archaeology. Second Edition. Cambridge University Press. pp. 121-149.

Lê Văn Thuế, Vũ Thế Long 1976. Nghiên cứu di tích xương răng động vật ở di chỉ Hoa Lộc (Thanh Hóa). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1976, Hà Nội, trang 145.

Lê Văn Thuế – Vũ Thế Long 1986. Di cốt động vật ở Hang Dơi (Lạng Sơn). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1985, Hà Nội 1986, trang 49.

Lê Xuân Diệm – Phạm Quang Sơn – Bùi Chí Hoàng 1991. Khảo cổ học Đồng Nai thời Tiền sử. Nhà xuất bản Đồng Nai.

Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Tứ Dần ... 1985. Đặc điểm địa mạo thềm lục địa Việt Nam và các vùng lân cận, Tạp chí Khảo cổ học, số 2-1985, trang 16 – 18.

Mansuy H. 1924. Stations préhistoriques dans les carvenes du massif calcaire de Bacson (Tonkin). MSGI. Vol. 11,No. 2.

Mansuy H. 1925. Stations préhistoriques de Keo Phay (suit) de Khac Kiem (suit) de Lai Ta (suit) et Bang Mac dans le massif calcaire de Bac Son (Tonkin). MSGI. Vol. 12, No. 2.

Mansuy H. et M. Colani 1925. Néolithique inferieur (Bacsonien) et néolithique superieur dans les Haut Tonkin. MSGI. 12, f.3.

Mansuy, H. 1925. Nouvelles de cauvertes dans les carvens du massif calcaire de Bac Sơn (Tonkin). MSGI. Vol. 12, N0 1, p. 34.

Mithen, Steven J. 1996. The Prehistory of the Mind: The Cognitive Origins of Art, Religion and Science. Cambridge: Cambridge University Press.

Nguyễn Cường 2002. Văn Hoá Mai Pha. Sở Văn hoá Thông tin Lạng Sơn, trang 90.

Nguyễn Duy và Nguyễn Quang Quyền 1966. Nghiên cứu về hai sọ cổ ở Quỳnh Văn – Nghệ An. Trong Một số báo cáo về Khảo cổ học Việt Nam. Hà Nội, trang 351-366.

Nguyễn Duy Tỳ, Đào Linh Côn 1985. Kỹ thuật luyện kim đồng thau ở địa điểm Dốc Chùa. Tạp chí Khảo cổ học, số 3, trang 24-30.
   
Nguyễn Đình Khoa 1986. Con người thuộc văn hoá Hoà Bình. Tạp chí Khảo cổ học số 1-1986.

Nguyễn Khắc Sử 1983. Sự phát triển kinh tế và tổ chức xã hội của cư dân cổ Cúc Phương, Tạp chí Khảo cổ học, số 1 - 1983, trang 20.

Nguyễn Khắc Sử 1995. Văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên. Tạp chí Khảo cổ học, số 3- 1995, trang 7 – 16.

Nguyễn Khắc Sử và cộng sự 1998. Báo cáo điều tra khảo cổ học vùng ngập nước tỉnh Lai Châu (chủ biên). Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Nguyễn Kim Thuỷ 2004. Cư dân Đa Bút qua tài liệu Sinh khảo cổ. Tạp chí Khảo cổ học, số 1 (127) (I-II), trang 15-23.

Nguyễn Lân Cường 1977. Di cốt người cổ ở hang Con Moong. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1976. Hà Nội 1977. Trang 112

Nguyễn Lân Cường 1988a. Trở lại vấn đề niên đại của hoá thạch người ở Việt Nam. Tạp chí Khảo cổ học số 1-2, 1988, trang 4-11.

Nguyễn Lân Cường 1988b. Di cốt người cổ trên đất Lạng Sơn. Tuyển tập luận văn Hội nghị khoa học Xứ Lạng, Lạng Sơn 1988, trang 39.

Nguyễn Lân Cường 1992. Những hoá thạch người cổ ở Việt Nam và Đông Nam Á trong thời kỳ Pleistocene. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 1, trang 5-12.

Nguyễn Lân Cường 1996. Đặc điểm nhân chủng cư dân văn hoá Đông Sơn
ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1996.

Nguyễn Thị Kim Dung 1986. Báo cáo khai quật công xưởng Tràng Kênh lần thứ hai. Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Nguyễn Thị Kim Dung, Đặng Văn Thắng...1995. Đồ trang sức trong mọ chum ở Cần Giờ. Trong Khảo cổ học, số 2, trang 27-45.

Nguyễn Trung Chiến 2003. Mối quan hệ và liên hệ ở bình tuyến đá mới hậu Hoà Bình – Bắc Sơn ven biển Đa Bút – Quỳnh Văn – Cái Bèo – Bàu Dũ. Tạp chí Khảo cổ học, số 4 (124) (VII-VIII), 2003, trang 11 - 12.

Nguyễn Trường Kỳ 1983. Bước đầu tìm hiểu nghề thủy tinh ở nước ta. Tạp chí Khảo cổ học, số 1, trang 47-54.

Nguyễn Văn Long và Lê Trung Khá 1977. Về những hiện vật đá cũ mới tìm được ở Vườn Dũ (Sông Bé) và Gia Tân (Đồng Nai). Tạp chí Khảo cổ học, số 4-1977.

Patte E. 1932. Le Kjokkenmodding néolithique de Dabut et ses sépultures (province de Thanh Hoa, Indochine). BSGI, Vol. XIX, pt.3, 1932.

Phạm Đức Mạnh 1985. Qua đồng Long Giao. Tạp chí Khảo cổ học, số 1, trang  37 – 68.

Phạm Quang Sơn 1978. Bước đầu tìm hiểu sự phong phú văn hóa hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau ở lưu vực sông Đồng Nai. Tạp chí Khảo cổ học, số 1, trang 35-40. 

Phạm Thị Ninh 1995. Văn hoá Bàu Tró - đặc trưng và loại hình. Luận án Phó tiến sĩ, Khoa học lịch sử, Hà Nội, trang 9 – 11.

Sahlins. M.D., and E. R. Service, eds. 1960. Evolution and Culture. Ann Arbor: University of Michigan Press.

Saurin E. 1939. Les cranes préhistoriques inédit de Lang Cuom. Far Eastern Association of Tropical Medicine 10ème Congrès. T. I. Hanoi.

Saurin E. 1956. Outilage Hoabinhien à Giap Khau, Port Courbet (Nord Vietnam). BEFEO. Vol. XLVIII, No. 2, 1956.

Sharer, Robert J. and Wendy Ashmore 1992. Archaeology Discovering Our Past. Second Edition. Mayfield Publishing Company, Mountain View, California. London . Toronto. Pp. 561-562.

Taylor, Keith W. 1992. The early Kingdoms. Pp. 137 - 182 in The Cambridge History of Southeast Asia, N. Tarling, ed. Cambridge: Cambridge University Press. P. 181. 

Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh 2001. Địa chí Quảng Ninh. Tập I, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, trang 421.

Trần Quốc Vượng 1974. Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng. Trong Khảo cổ học, số 14, Hà Nội, tr. 71-81.

Trần Quốc Vượng 1986. Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Thung lũng. Tạp chí Khảo cổ học, số 2-1986, trang 1- 6.

Trần Quốc Vượng 1993. Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, 1993.

Trần Quốc Vượng 1996. Mấy ý kiến về trống đồng và Tâm thức Việt cổ. Trong Theo dòng lịch sử - Những vùng đất, thần và tâm thức người Việt. Nxb. Văn hóa, Hà Nội, tr 39-65.

Trần Quốc Vượng 2000. Việt Nam và biển Đông, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3(71), 2000.

Trình Năng Chung 1991. Kỹ nghệ Ngườm và văn hoá Bắc Sơn, Tạp chí Khảo cổ học, số 2, trang 16 – 21.

Verneau R. 1909. Les cranes humains du gisement de Pho Binh Gia (Tonkin). L’Anthropologie. No. 20: 545-549.

Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 1969. Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Việt Nam về văn hoá Bắc Sơn, Hà Nội, trang 140.

Vũ Quốc Hiền, Chu Văn Vệ 1996. Công cụ đá và đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể ở di chỉ Bích Đầm (Khánh Hòa). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1976, Hà Nội, trang 90.

Vũ Thế Long, Lê Trung Khá, và Hoàng Văn Dư 1977. Khai quật Thẩm ồm (Nghệ An) đợt I. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1977, trang 13.

Vũ Thế Long 1982. Về những chiếc răng vượn khổng lồ. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1982, trang 67-69.

Vũ Thế Long 1984. Người Hoà Bình và thế giới động vật. Tạp chí Khảo cổ học, số 1-2, 1984. Trang 126.

Vũ Thế Long, Hà Hữu Nga 2004. Phát hiện công cụ thời đại đá cũ ở Đak Lak. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2003. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Wheatley, Paul 1979. Urban genesis in mainland South East Asia. Pp. 288 – 303 in Early South East Asia: Essays in Archaeology, History and Historical Geography. R. B. Smith and W. Watson, eds. New York: Oxford University Press.

Weidenreich, F. 1943 “The skull of Sinanthropus pekinensis”, Palaeontologica Sinica (n.s. D), Vol. 10, pp. 1 – 298.

Welch, David and Rudith R. McNeill 1991. Settlement, agriculture and population changes in the Phi Mai region, Thailand. Pp. 210 – 228 in Indo-Pacific Prehistory 1990: Proceedings of the 14th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Yogyakarta, Indonesia, vol. 2. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 11.

Wisseman C. Jan 1985. Theater States and Oriental Despotisms: Early Southeast Asia in the Eyes of the West. Hull: University of Hull Center for South-East Asian Studies Occasional Paper no. 10., p.9.

Wisseman C. Jan 1992. Trade and settlement in early Java: integrating the epigraphic and archaeological data. Pp. 181 – 197 in Early Metallurgy, Trade and Urban Centers in Thailand and Southeast Asia. I. Glover, P. Suchitta, and J. Villiers, eds. Bankok: White Lotus.

White C. Joyce. 1995. Incorporating Heterarchy into Theory on Socio-Political Development: The Case from Southeast Asia. In Heterarchy and the Analysis of Complex Societies. Robert. M. Ehrenreich, Carole L. Crumley, and Janet E. Levy, eds. Archaeological Papers of the American Anthropological Association, Number 6. Arlington, Va.: American Anthropological Association. Pp. 101 – 123.

Wolter, O. W. 1982. History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét