Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Đánh giá lại các cuộc đi biển của Trịnh Hòa (III)



Đánh giá lại các cuộc đi biển của Trịnh Hòa (III)

Geoff Wade

Người dịch: Hà Hữu Nga

Đánh giá chung về các cuộc hải hành do hoạn quan chỉ huy

Các ví dụ ở trên cho thấy rằng các lực lượng hải đội được cử đi nước ngoài trong khoảng 30 năm đầu của thế kỷ 15 có mục đích tìm kiếm sự công nhận quyền thống trị của nhà Minh về (hoặc có lẽ là quyền bá chủ) toàn bộ các chính thể của thế giới biển đã được biết đến. Để đạt được mục đích này, họ đã sử dụng sức mạnh hoặc sự đe dọa. Số quốc chủ Đông Nam Á đến Trung Quốc với sứ bộ Trịnh Hòa cho thấy sự cưỡng bức chắc hẳn phải là một yếu tố của các cuộc hải hành. Dường như đối với các quốc chủ Đông Nam Á, không thấy nói về các chuyến thăm viếng các chính thể khác. Thực tế nhiều quốc chủ đến với triều đình nhà Minh trong giai đoạn này như vậy đã cho thấy có sự cưỡng bức nào đó. “Ngoại giao tàu chiến” không phải là từ thường được sử dụng cho các chuyến hải hành của Trịnh Hòa. Tuy nhiên rõ ràng là các sứ bộ này trên danh nghĩa đã tham gia vào công việc ngoại giao và điều đó cho thấy các hải đội của Trịnh Hòa thực sự là các tàu chiến, có lẽ với 26.000 trong số 28.000 thành viên của các cuộc hải hành là binh lính, và “ngoại giao tàu chiến” có vẻ là từ thích hợp đối với nhiệm vụ của các hải đội này.    

Thông qua cưỡng bách, mục đích của các chuyến hải hành này còn là để kiểm soát các cảng và các tuyến hàng hải. Nhiệm vụ của các chuyến hải hành này không phải là kiểm soát lãnh thổ - đó là sứ mệnh của việc khai hóa. Đúng ra đó chính là việc kiểm soát chính trị và kinh tế theo không gian – kiểm soát các tuyến giao thông huyết mạch, các điểm nút và các mạng lưới kinh tế. Bằng việc kiểm soát hệ thống cảng và các tuyến thương mại, người ta có thể dễ dàng kiểm soát được công việc thương mại, một yếu tố quan thiết của các chuyến hải hành chính là nhiệm vụ vơ vét vàng bạc, báu vật. Các hải đội thực dân này chính là các công cụ cần thiết để đảm bảo cho việc kiểm soát này có hiệu lực thường xuyên và lâu dài. Bằng cách thức của mình, nhà Minh thông qua các chuyến hải hành này đã dấn sâu vào nguyên chủ nghĩa thực dân biển. Có nghĩa là họ đã dấn sâu vào hình thức thực dân biển sơ khai thông qua việc sử dụng các hải đội thống trị để kiểm soát (và cả để răn đe) các chính thể cảng biển chủ yếu dọc theo mạng thương mại biển Đông – Tây, cũng như giữa các vùng biển với nhau để thâu tóm các lợi ích kinh tế và chính trị.       

Nguyên chủ nghĩa thực dân biển của nhà Minh, như đã đề cập liên quan đến các cuộc hải hành của Trịnh Hòa, khá tương đồng với chủ nghĩa thực dân biển sau này của Bồ Đào Nha trong thế kỷ XV – XVI. Ở một mức độ nào đó, Pearson [61] đã mô tả đế quốc Bồ Đào Nha như là sự tiếp nối của các thành bang Ý. Ông cho rằng ở mức độ chính thống, đã có sự gắn kết rất chặt chẽ giữa triều đình và thương mại. Không nghi ngờ gì nữa, đây rõ ràng là một thực tế của nhà Minh. Hơn nữa, dựa trên cơ sở các công trình của Rothermund [Asian Trade and European Expansion] và của Steensgard [Asian Trade Revolution], Pearson cho rằng “đây là một đế quốc sử dụng cưỡng bức quân sự để mong đạt được các lợi thế về kinh tế. Về cơ bản thương mại châu Á là cống nạp; Bồ Đào Nha đã tạo ra một loại răn đe mới về bạo lực đối với hàng hải châu Á và sau đó bán lấy quyền bảo hộ bằng sự răn đe này, như đã thấy trong chính sách thuế quan và thông quan. Trong thực tế nó không hề cung cấp dịch vụ nào cho người cống nạp; nói theo cách hiện đại thì đó chính xác là một mánh bảo kê. Vì vậy kiểu gì thì nó cũng bị thất bại”. [62] Chỉ việc thay từ “Bồ Đào Nha” bằng từ “Trung Quốc” thì chúng ta sẽ có được một mô tả tuyệt vời về các hành động của nhà Minh tại Đông Nam Á và Ấn Độ Dương trong vòng 30 năm đầu của thế kỷ XV. Sức mạnh quân sự mà các hải đội Trịnh Hòa sử dụng có nhiệm vụ duy trì loại thái bình nhà Minh, là loại thái bình tối thiểu cũng đem lại cho nhà Minh lợi thế về kinh tế và chính trị. Việc kết thúc các cuộc hải hành của nhà Minh là một trong những lý do về việc tại sao nguyên chủ nghĩa thực dân biển Trung Quốc đã không bao giờ phát triển được thành một thứ chủ nghĩa thực dân chính thức theo kiểu mà người phương Tây theo đuổi. Các nhân tố góp phần vào việc kết thúc của các cuộc hải hành ấy thì rất nhiều. Cái chết của Hoàng đế Vĩnh Lạc là một nhân tố, các khoản chi phí khổng lồ cho các cuộc hải hành cũng vậy. Các vị đại thần trong nhiều thập kỷ cũng phản đối các chuyến hải hành vì đó là các cuộc phiêu lưu tốn kém và về cơ bản lại do hoạn quan lèo lái. Sau cái chết của người bảo trợ cho các chuyến hải hành thì rồi cuối cùng các sứ mệnh của nó cũng bị cuốn đi.      

Tuy nhiên một tài liệu trong Biên niên sử thời Minh năm 1445 cho biết rằng việc kiểm soát (hoặc cố gắng kiểm soát) hàng hải đã được duy trì tối thiểu cho đến giữa những năm 1440. Tài liệu tham khảo cho biết rằng ba người Java đi thuyền từ Java đến buôn bán với nước Xiêm đã bị nhà Minh bắt và đưa đến kinh đô Trung Quốc. [63] Việc nhà Minh xây dựng chính sách thương mại riêng giữa Java và Xiêm trong giai đoạn này cho thấy rằng các cố gắng trong việc kiểm soát thương mại biển trong vùng nhìn chung vẫn tiếp tục tối thiểu là một nửa thế kỷ nữa.

“Chủ nghĩa thực dân” và nhà Minh

Việc kiểm tra ba lĩnh vực trong hoạt động của nhà Minh vào thế kỷ XV tại Đông Nam Á, và gắn liền với mỗi loại nhãn “thực dân”, đó là nhờ tác giả đưa ra một loại biện hộ nhất định cho các nhãn đó.  

Vậy thì “chủ nghĩa thực dân” có phải là một thuật ngữ thích hợp cho các hành động ấy của nhà Minh? Herold Wiens đã đưa ra một phản ứng tích cực, khi trong công trình China’s March Toward the Tropics xuất bản năm 1954, ông viết về “những khu tự trị dân tộc” của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau năm 1949 đã được sử dụng để “che đậy một chủ nghĩa thực dân cũ”. [64] Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của ông được công bố trong những năm tháng căng thẳng nhất của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cuốn sách ấy, về một số phương diện đã được coi là một phản ứng đối với tình trạng phân đôi chính trị tồn tại trong thời gian đó. Liệu các quan điểm của ông có quá cường điệu? Hay là lịch sử bành trướng của Trung Quốc vào đầu thời nhà Minh đã thực sự cho thấy một “chủ nghĩa thực dân”?      

Thuật ngữ “chủ nghĩa thực dân” tự thân nó có một lịch sử rất đa sắc, được sử dụng để nói về quá trình định cư của người La Mã tại các vùng mà đế quốc La Mã chinh phục được; để nói về quá trình mở rộng của đế quốc Nga sang phía đông; về sự bành trướng của đến quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ; và về các hoạt động trên biển của các cường quốc châu Âu sau thế kỷ XV. Tuy nhiên cuộc luận chiến về chủ nghĩa thực dân giờ đây đã gắn liền với sự bành trướng của các đế quốc hàng hải châu Âu đến mức việc áp dụng thuật ngữ đó cho Trung Quốc như là một tác nhân chứ hơn là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân, ở một mức độ nào đó, hầu như lại có vẻ không dễ định nghĩa.

Những quan điểm khác thì lựa chọn phương án phân biệt “chủ nghĩa đế quốc” châu Âu, được nuôi dưỡng bởi các nguồn lực của cuộc cách mạng công nghiệp, và dẫn đến quá trình giải-công nghiệp hóa và sản xuất nông nghiệp phi-thực phẩm tại các thực dân địa, từ quá trình bành trướng thực dân châu Âu sớm hơn vào thế kỷ XVI và XVII. Nhưng liệu chúng ta có thể sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa đế quốc” để nói về sự bành trướng của nhà Minh? Phải chăng sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ XIV – XV phù hợp với định nghĩa chủ nghĩa đế quốc của Schumpeter là khi “một nhà nước chứng tỏ một xu hướng không mục đích đối với việc mở rộng bằng sức mạnh vượt khỏi tất cả các giới hạn có thể xác định”, đến mức là các hành động chinh phục của nó xảy ra “không phải thực sự là phương tiện để đạt đến một mục đích nào đó ngoại trừ cái ẩn chứa trong chính sự thực thi hành động của nó”. [65] Vậy thì liệu có thể nói rằng các hành động bành trướng của nhà Minh chỉ bị thúc đẩy bởi một “ý chí thống trị” hoặc bởi một cái gì đó đã được tính toán, và có thể phân loại là “chủ nghĩa thực dân”?

Liệu có phải sự bành trướng sớm và quá trình xâm lược của nhà Minh đối với các chính thể khác là một sản phẩm của nhu cầu kinh tế? Liệu quan niệm của J.A. Hobson dùng để nói về chủ nghĩa đế quốc Anh có thể được ứng dụng cho nhà Minh? Hobson cho rằng: “Từ lập trường này, khoản chi cho quân sự và hải quân ngày càng tăng của chúng ta trong những năm gần đây có thể chủ yếu được coi là các chi phí bảo hiểm để bảo hộ các thị trường thuộc địa hiện có và các khoản phí tổn hiện hành cho các thị trường mới”. [66]    

Hoặc phải chăng kích thích tố cho quá trình bành trướng trong thời Hồng Vũ (1368-98) và Vĩnh Lạc (1403-24) cũng giống như các tình trạng khẩn cấp khiến cho hoàng thân thủ tướng Nga Gorchakov đã mô tả cuộc đông tiến của Nga năm 1864 là “Tình hình của nước Nga, chính là trạng huống mà tất cả các nhà nước văn minh bắt đầu tiếp xúc với bọn du mục không có tổ chức nhà nước...Để chống lại các cuộc tấn công cướp phá của họ, chúng ta cần phải chinh phục họ và kiểm soát họ thật chặt. Nhưng cũng còn có những cách khác nữa... cuối cùng chúng ta cũng vẫn phải dấn tới...Chúng ta hành binh bởi nhu cầu bắt buộc cũng như bởi tham vọng thúc dục”. [67]    

Một số định nghĩa đã được đề xuất cho thuật ngữ “chủ nghĩa thực dân”, mà tính đa dạng của nó cho thấy đó chính là một khái niệm không dễ nắm bắt trọn nghĩa. Trong công trình Modern Colonialism: institutions and policies của mình, T.R. Adam định nghĩa chủ nghĩa thực dân là “sự kiểm soát chính trị của một dân tộc kém phát triển có đời sống kinh tế và xã hội do quyền lực thống trị dẫn dắt”. [68] Hans Kohn thì cho rằng “chủ nghĩa thực dân là sự thống trị ngoại bang áp đặt vào một dân tộc”. [69] Michael Doyle quan niệm chủ nghĩa thực dân là sản phẩm khả dĩ của chủ nghĩa đế quốc, đến lượt mình, nó là một quá trình thiết lập “một mối quan hệ, chính thức hoặc phi chính thức, trong đó một nhà nước kiểm soát chủ quyền thực thi chính trị của một xã hội chính trị khác”. [70] Đối với R.J. Horvath thì sự khác biệt quan trọng giữa chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc là ở chỗ chủ nghĩa thực dân can dự vào sự hiện diện của một số lớn cư dân từ cường quốc thực dân trong một quốc gia bị thực dân hóa. Ferro cũng đồng ý với quan điểm này khi cho rằng quá trình thực dân hóa “gắn liền với quá trình chiếm đất ở nước ngoài, còn bọn thực dân thì dùng đất đó để canh tác và để ở”. [71]

Học thuyết “nước mặn” quy định chặt chẽ cách viết về chủ nghĩa thực dân, giải thực dân và cho rằng thuật ngữ chủ nhĩa thực dân đặc biệt được áp dụng vào mối quan hệ giữa các cường quốc thực dân châu Âu và các “lãnh thổ nước ngoài” của họ tỏ ra là một cách phân chia võ đoán, dựa trên cơ sở “sự trải rộng mặc dù là một giả định không có cơ sở, có nguồn gốc từ các cuộc thám hiểm thế kỷ XV, khi các đế quốc thực dân được thành lập bằng các sức mạnh trên biển, ngược lại việc bành trướng đến nhiều vùng đất liền kề thì lại không sản sinh ra...chủ nghĩa thực dân”. [72] Đối với học thuyết này thì các lãnh thổ cần phải tách biệt khỏi mẫu quốc bằng biển cả thì mới được coi là các thực dân địa. Học thuyết này dựa trên thứ được một số tác giả coi là “nguyên lý khoảng cách” như một yếu tố không thể thiếu được của chủ nghĩa thực dân. Vậy thì liệu khoảng cách có tạo ra sự khác biệt về chất trong hiện tượng không?  

Các lý lẽ của David Armitage dường như đã đem đến một ý tưởng bao quát và thuyết phục hơn về chủ nghĩa thực dân. Ông thừa nhận câu chuyện của chủ nghĩa thực dân Anh vận hành theo một đường thẳng từ nước Anh, qua Ireland đến vùng Carribbe và sau đó đến bờ đông châu Mỹ. [73] Khoảng cách và sự chia tách bởi biển cả không phải là những đặc trưng quyết định. Đó là các hệ tư tưởng, các chính sách và các thực tiễn của quyền lực thực dân quyết định bản chất của hiện tượng. Ông cũng coi Scotland, giống như nước Anh, là “tên thực dân”, trong đó nó sử dụng sự định cư, tích hợp văn hóa và tình trạng phụ thuộc về kinh tế là phương tiện để “khai hóa” các vùng biên lãnh thổ và các cư dân của nó. [74]

Các định nghĩa khái quát do Osterhammel và Emerson cung cấp có lẽ gần với cách thức mà tôi sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa thực dân trong bài viết này. Osterhammel và Frisch nói về nó như là “một mối quan hệ thống trị giữa một nhóm bản địa đa số (hoặc nhập cư cưỡng bách) và một thiểu số xâm lược nước ngoài. Các quyết định cơ bản tác động đến sinh mạng của người dân bản địa là do bọn thực dân đưa ra và thực hiện”. [75] Emerson định nghĩa “chủ nghĩa thực dân” là “việc thiết lập và duy trì, trong một khoảng thời gian dài, quyền thống trị đối với một dân tộc khác bị tách biệt, nhưng lại phụ thuộc vào cường quốc thống trị”. [76]  

Quay trở lại với ba nhóm chính sách và thực thi chính sách của nhà Minh đã được đề cập chi tiết ở trên, và dưới ánh sáng của các ý tưởng và các định nghĩa của Armitage, Osterhammel và Emerson, thì có vẻ như hoàn toàn có đủ cơ sở để phân loại các hành động đó là của một nhà nước thực dân.

1. Các cuộc hải hành do hoạn quan lãnh đạo vào đầu thế kỷ XV chỉ tạo ra một nguyên chủ nghĩa thực dân biển vì không có sự thống trị thực sự đối với các dân tộc hoặc lãnh thổ khác. Nhưng lại có sự thống trị tại các điểm nút và các mạng lưới đường biển. Quân sự tạo ra sức mạnh mà các hải đội nhà Minh sử dụng và vai trò của nó là duy trì kiểu thái bình nhà Minh, tạo cho nhà Minh năng lực tác động ảnh hưởng đến các chính thể, và chí ít thì ở một mức độ nào đó, họ cũng đạt được những lợi thế kinh tế ngắn hạn.

2. Cuộc xâm lược của nhà Minh đối với Đại Việt có lẽ là một ví dụ rõ ràng nhất về một hành động phiêu lưu thực dân. Có xâm lấn, xâm chiếm đất, áp đặt quân sự, hành chính, bóc lột kinh tế và thống trị của triều đình đó lên kinh đô của nước bị thống trị. Chính quá trình giải thực dân hóa rõ ràng đã diễn ra sau thất bại của hành động phiêu lưu này đã nhấn mạnh đến bản chất thực dân của nó.

3. Sự xâm lược và chiếm đóng của nhà Minh đối với các chính thể Thái Vân Nam trong thế kỷ XV là một hành động phiêu lưu thực dân thành công nhất đã được xem xét, khi nhiều vùng đã bị thực dân hóa trong thời nhà Minh vẫn tạo thành một bộ phận của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay. Vẫn còn đôi chút nghi ngờ về việc liệu các hành động này của vua quan nhà Minh có phải bản chất là thực dân không. Họ đã can dự vào việc sử dụng một lực lượng quân đội hùng hậu để xâm lược các dân tộc khác biệt về tộc thuộc với người Trung Quốc; để chiếm lãnh thổ, xé lẻ lãnh thổ của họ thành các đơn vị hành chính nhỏ hơn; để bổ nhiệm đội ngũ tay chân dễ bề sai bảo và bọn “quan bảo hộ”; để bóc lột kinh tế đối với các vùng mà họ chiếm được. Quân đội thực dân nhà Minh, gồm cả người địa phương và người Hán, đã sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực nhằm duy trì sự thống trị của họ tại các vùng người Thái ở Vân Nam.

Việc xem xét kinh nghiệm thực dân tại Đông Nam Á của bài viết chỉ giới hạn vào giai đoạn trước khi người châu Âu đặt chân đến vùng này. Các ý kiến đưa ra ở trên cho dù vẫn chưa đủ để tác động quyết định đến bạn đọc, nhưng tối thiểu thì nó cũng mở ra một đường hướng cho việc thừa nhận rằng khi nghiên cứu chủ nghĩa thực dân tại Đông Nam Á chúng ta cần mở rộng các giới hạn thời gian đã có để bao gồm cả việc xem xét các hành động của các chính thể mà chúng ta biết là nằm dưới cái nhãn “Trung Quốc”. [77]   
___________________________________

Nguồn: Geoff Wade 2004. The Zheng He Voyages: A Reassessment, In The ARI Working Paper Series is published electronically by the Asia Research Institute of the National University of Singapore, October 2004.

Tác giả: Geoff Wade (韋傑夫 Vi Kiệt Phu) là một sử gia chuyên về các diễn giải lịch sử Trung Quốc – Đông Nam Á và biên niên sử so sánh, đặc biệt là công trình cơ sở dữ liệu Southeast Asia in the Ming Shi-lu [Minh Thực Lục*]: An Open Access Resource, cung cấp cho người đọc hơn 3000 tài liệu tham khảo về Đông Nam Á được dẫn từ biên niên sử đời nhà Minh; ông cũng vừa chủ biên bộ sách đồ sộ China and Southeast Asia (Routledge, 2009), gồm 6 tập khảo sát các công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lâu dài về các mối quan hệ Đông Nam Á – Trung Quốc. 

Tài liệu dẫn

61. M.N. Pearson, “Merchants and States” in James D. Tracy (ed.), The Political Economy of Merchant Empires: State Power and World Trade 1350-1750 (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), pp. 41-116. See p. 77.

62. Ibid. p. 79. Để biết thêm về nghiên cứu phân đoạn sự bành trướng thương mại biển, xem Sanjay Subramanyam and Lúis Filipe F.R. Thomaz, “Evolution of empire: The Portuguese in the Indian Ocean during the sixteenth century” in James D. Tracy (ed.), The Political Economy of Merchant Empires: State Power and World Trade 1350-1750 (Cambridge: Cambridge University Press, 1991), pp. 298-331. Các tác giả đã mô tả chi tiết ba mô hình tổ chức đế quốc (một mạng lưới pháo đài ven biển trong tình trạng đặc hữu của chiến tranh ở bắc Phi; nhà nông và quá trình thực dân hóa lãnh thổ và định cư tại các đảo Đại Tây Dương; một mạng lưới ven biển ít bạo lực, nhiều thương mại trên vùng bờ biển Guinea), và gợi ý rằng giai đoạn đầu tiên trong “cuộc phiêu lưu châu Á” liên quan đến các phụ loại của cả ba mô hình. Kinh nghiệm hàng hải của nhà Minh có cái gì đó rất gần gũi với mô hình Guinea.

63. Ming Ying-zong shi-lu, juan 132.8a.

64. Herold J. Wiens, China's March toward the Tropics. Hamden-Connecticut: Shoe String Press 1954.

65. Quoted in Marc Ferro, Colonization: A Global History (London: Routledge, 1997), p. 13.

66. J.A. Hobson, Imperialism: A Study, London, Unwin Hyman, 1988 (original edition 1903), p. 64.

67. Quoted in Ferro, Colonization, p. 14.

68. T.R. Adam, Modern Colonialism: institutions and policies, New York, Doubleday and Company, 1955, p. 3.

69. In R. Strausz-Hupe and H. W. Hazard (eds.), The Idea of Colonialism (Foreign Policy Research Institute, University of Pennsylvania, 1958), p. 11.

70. M. Doyle, Empires (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1986).

71. Ferro, Colonization, p. 1.

72. L. C. Buchheit, Secession, the `Legitimacy of Self-determination (New Haven, Conn.: Yale University Press, 1978), p.18.

73. David Armitage, The Ideological Origins of the British Empire, (Cambridge: Cambridge University Press, 2000), p. 45.

74. Ibid., p. 26.

75. Jürgen Osterhammel and Shelly L. Frisch, Colonialism: A Theoretical Overview, Princeton: Markus Weiner, 1997), pp. 16-17.

76. R. Emerson, “Colonialism: Political Aspects” in D.L. Sills (ed.), International Encyclopedia of the Social Sciences, vol. 3, pp.1-6. (New York: Macmillan and Free Press, 1968). 

77. Anthony Reid cho rằng chúng ta cần phải mở rộng các mối quan tâm vượt khỏi tình trạng phản đạo đức hóa về chủ nghĩa thực dân Trung Quốc để xem xét những gì đã làm cho các đến chế Trung Quốc thành công trên bộ, còn về cơ bản lại không thành công trong quá trình bành trướng bằng đường biển. Rõ ràng là sự thất bại trong việc tạo ra một cơ sở kinh tế bền vững cho các cuộc phiêu lưu hải hành là một nhân tố chủ chốt.



Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Đánh giá lại quan hệ Trung Quốc và Đông Nam Á thời nhà Minh thế kỷ XV (I)



Đánh giá lại quan hệ Trung Quốc và Đông Nam Á thời nhà Minh thế kỷ XV (I)

Geoff Wade

Người dịch: Hà Hữu Nga

Giới thiệu

Ở Trung Quốc, vào đầu thế kỷ XIV, nhà Nguyên đã trải qua một sự suy thoái về cả quyền lực chính trị lẫn sức mạnh quân sự. Tình trạng này đã đưa lại cơ hội và động cơ cho những nỗ lực về quyền lực và tự vệ một cách giản đơn của các tay chơi chính trị khác. Tình trạng quân sự hóa cao của xã hội Trung Quốc thời kỳ này đã xác định rằng cuộc chiến tranh giữa những người trung thành với nhà Nguyên, các thủ lĩnh tự vũ trang địa phương, bọn buôn lậu, và các giáo phái phiến loạn đã diễn ra trong hầu hết các thập kỷ tiếp theo. Vào những năm 1350, các cuộc nổi loạn đã đưa đến nước “Trung Quốc” mà các vua nhà Nguyên đã kiểm soát bị chia thành những chính thể khác nhau và chiến tranh với nhau. Một thủ lĩnh của một nhóm phiến loạn là 朱元璋 Chu Nguyên Chương đã thực sự có khả năng kiểm soát ngày càng nhiều vùng rộng lớn và xây dựng một nhà nước Trung Quốc có tên là 大明 Đại Minh. Với việc xây dựng kinh đô ở 南京 Nam Kinh năm 1368, Chu đã bắt đầu kiến tạo một triều đại kéo dài cho đến tận năm 1644. [1] Tuy nhiên ngay sau khi xây dựng kinh đô, quan quân nhà Minh vẫn cần lao vào các trận chiến lớn với các lực lượng cạnh tranh. Một trong những chiến trận như vậy là cuộc vật lộn với một người trung thành với nhà Nguyên Kökö Temür [擴廓帖木兒* Khoách Khuếch Thiếp Mộc Nhi] vào năm 1370 với 85.000 quân và 15.000 ngựa chiến bị bắt. Tuy nhiên vào thời gian đó, quân đội nhà Minh đã chiếm được kinh thành 大都 Đại Đô của nhà Nguyên, đổi tên thành 北平 Bắc Bình và một nhà nước mới đã được chuẩn bị một cách đầy đủ.       

Nhà Minh thực thi chính sách đối nội và đối ngoại săn đuổi những người Mông Cổ khỏi Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, và thái tổ nhà Minh đã gây ra tình trạng hoảng loạn ở nơi cuối cùng là kinh đô của ông. [2] Sau khi xây dựng xong thủ đô tại Nam Kinh, lập thái tử và hoàng hậu, sắp đặt lục bộ và bổ nhiệm các quan chức cao cấp, ông ban hành một đạo luật mới của nhà Minh, làm nền tảng cho triều đại mới. Trong những năm 1370, Minh Thái tổ 明太祖 Chu Nguyên Chương đã mở rộng bộ máy hành chính của nhà Minh và, một phần là vì bệnh hoang tưởng gia tăng, ông đã xây dựng một lực lượng lớn hoạn quan hoàng cung làm đội ngũ tay chân thân tín và làm đối trọng cân bằng với hệ thống quan lại trong guồng máy hành chính. Bộ máy hành chính do ông tạo ra chủ yếu là để duy trì sự tồn tại cho triều đại của mình. Chính cấu trúc hành chính đế chế này đã khởi xướng và thực thi cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại của nhà Minh trong 280 năm tiếp theo.  

Chính sách đối ngoại của nhà Minh và Đông Nam Á

Như đã thể hiện trong cả các văn bản chữ Hán chính thức và không chính thức, các vua chúa nhà Minh tự thể hiện mình, hoặc tối thiểu là tự mô tả mình là thế thiên hành đạo để cai trị Trung Quốc, và quyền cai trị của họ mở rộng ra “toàn bộ Thiên hạ”. Vai trò đó đòi hỏi họ phải phong tước cho thủ lĩnh của các chính thể xung quanh mong được triều cống thường xuyên với nhà Đại Minh. Như vậy có nghĩa là nó tạo ra các cơ sở nghi lễ và tu từ học cho các mối quan hệ của nhà Minh với các chính thể vượt khỏi tầm kiểm soát hành chính của nó. [3]   

Có một điều rất rõ ràng là không phải tất cả các vua chúa của các chính thể Đông Nam Á đều đồng ý với cách hiểu như trên về vị trí của họ đối với Trung Quốc, ngay cả từ các văn bản chữ Hán. Chẳng hạn vào giữa thế kỷ XV, Krung Phra Nakhon Sri Ayudhya, vua Ayudhya đã từ chối đáp ứng đòi hỏi của sứ bộ nhà Minh phải quay đầu về phía bắc bái vọng hoàng đế nhà Minh và đã an trí viên chánh sứ Minh ở Ayudhya cho đến chết. [4] Tuy nhiên, mặc dù có các ví dụ như vậy, nhưng việc được nhà Minh thừa nhận tỏ ra là rất quan trọng đối với vua chúa ở một số nơi và có vai trò rõ ràng đối với các chính thể và các nền kinh tế Đông Nam Á trong giai đoạn này. Nhà Minh đã đóng vai trò làm đối trọng với các bá chủ khác chẳng hạn như Majapahit,  vừa tạo điều kiện để các chính thể có mối quan hệ thương mại “cống nạp” với Trung Quốc, vừa đảm bảo cho họ lựa chọn một hệ thống an ninh. Việc tham gia vào hệ thống này đã được chấp nhận một cách công khai trong các biên niên sử Việt, trong đó chẳng hạn, có ghi rằng vua Đại Việt “求封 cầu phong” của nhà Minh vào năm 1457. [5]

Các mối quan hệ của nhà Minh với Đông Nam Á tùy thuộc vào mối quan tâm học vấn, [6] và dựa trên cơ sở các công trình này, có một số thứ manh tính phổ biến liên quan đến nhà Minh. Cần phải xác định ngay từ đầu rằng thường xuyên có các cuộc trao đổi sứ bộ giữa nhà Minh và các chính thể của Đông Nam Á. Một trong những hành động đầu tiên của nhà Minh khi nắm trọn quyền lực là cử các quan chức đến các chính thể khác để tuyên bố về triều đại mới. Các sứ bộ nhà Minh cũng được cử đến cả các chính thể này để thực hiện các chức năng “phong tước”, hoặc viếng lễ tang các vị vua chúa ở đó. Các sứ bộ này thường giám sát các viên thư lại 給事中 cấp sự trung của các bộ phận khác nhau thuộc 六科 lục khoa. Dưới đây là một số ví dụ cho thấy các chức năng của các sứ bộ này.

1. Dâng lễ viếng vua Champa chết năm 1452. [7]
2. Dâng lễ viếng vua Siêm chết và phong tước cho tân vương Siêm năm 1453. [8]
3. Phong tước cho Hồi vương Malacca năm 1459. [9]
4. Phong tước cho vua An Nam năm 1460. [10]
5. Phong tước cho vua Champa năm 1478. [11]

Một yếu tố quan trọng khác trong các mối quan hệ qua lại giữa nhà Minh và Đông Nam Á là các “cống sứ” từ các chính thể Đông Nam Á đến Minh triều, và đây chính là một yếu tố thương mại rất rõ ràng. Các sứ bộ này là chủ đề của hàng loạt bài viết và là một chỉ dẫn tuyệt với có thể được sử dụng để tối thiểu cũng truy tìm được con đường mà các sứ bộ thuộc các chính thể Hồi giáo Đông Nam Á đến với Minh triều vào thế kỷ XV. [12] Tình trạng thiếu quan tâm đến các sứ bộ này trong bài viết này là thực ra lại là một chức năng nhiều nghiên cứu đã được thực hiện hơn là một chỉ báo về tầm quan trọng tương đối của chúng.

Cho dù có là người hoài nghi về mức độ phản ánh những gì diễn ra tại Đông Nam Á trong thế kỷ XV của các văn bản tiếng Hán, hoặc cho dù chỉ quan tâm đến việc “cầu phong” và các “quan hệ triều cống” những gì mà các văn bản nhà Minh đã viết thì cũng không có gì khác hơn các tiểu tiết giao lưu, trao đổi ngoại giao giữa các chính thể, thì chúng ta vẫn có thể nói tương đối chắc chắn rằng trong suốt thế kỷ XV nhà Minh đã rất quan tâm đến Đông Nam Á.

Để xem xét các hiệu quả mà nhà Minh tác động lên vùng Đông Nam Á trong thế kỷ XV, trước hết có lẽ cần phải nhìn vào những gì mà các chính sách này theo đuổi liên quan đến khu vực mà các vua chúa nhà Minh thay nhau cai trị. Việc nghiên cứu biên niên sử về các chính sách đã giúp soạn thảo phần đầu tiên của bài viết này, và công việc tiếp theo của tôi là cố gắng tổng hợp các chính sách và các hoạt động riêng biệt nhằm lý giải một cách chặt chẽ hơn về phương thức mà nhà Minh và các tác nhân của nó tác động đến Đông Nam Á trong suốt thế kỷ đó. 

Các chính sách của Minh Thái tổ đối với Đông Nam Á/ thời Hồng Vũ (1368-98)

Ngay buổi đầu triều đại của mình, Chu Nguyên Chương, Hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã ban chiếu chỉ cho các thế hệ sau. Các chỉ lệnh này bao gồm chỉ dụ cho 都督府 Đô đốc phủ tại các vùng phải đương đầu với vị thế bị nước ngoài đe dọa đến chính thể nhà Minh, và cả những vùng không ở vào tình thế đó. Ông cho rằng những vungùng phía bắc là nguy hiểm, trong khi đó những vùng phía nam thì không tạo ra tình thế bị đe dọa, và không phải chịu đòn tấn công tùy tiện. [13] Nhưng cho dù thực tế như vậy, hoặc là hậu quả của thực tế như vậy thì các chính thể ở phía nam của nhà Minh cũng vẫn phải chịu những tác động nặng nề nhất của quá trình bành trướng của nhà Minh trong thế kỷ tiếp theo.

Quá trình xâm lược các chính thể Vân Nam

Năm 1369, không lâu sau khi 朱元璋 Chu Nguyên Chương lập nên triều đại Minh, ông ta đã gửi tối hậu thư đến 雲南日本等國 Vân Nam, Nhật Bản và các nước đồng hạng. [14] Việc sớm công nhận Vân Nam như một “quốc gia” bên ngoài nước Minh ngay lập tức thay đổi sau đó. Vào năm 1380, Vân Nam đã bị coi là lãnh thổ Trung Quốc từ đời nhà Hán, [15] và nhà Minh đã huy động 250.000 lính tấn công chính thể này, chiếm大理 Đại Lý, 庐江, Lư Giang và 金歯 Kim Xỉ vào năm 1382. Nhờ đó Minh Thái tổ đã kiểm soát các trung tâm đô thị chủ yếu tại vùng tây bắc của Vân Nam ngày nay, kể cả các vùng của người Thái. Vào năm 1387, Minh Thái tổ đã bành trướng tham vọng và chuẩn bị mở cuộc tấn công  vào chính thể 擺衣 Bãi Y (Möng Mao) về phía nam của các vùng đất mà ông ta đã chinh phục trước đó, ông ta đã cử một viên tướng đến Tứ Xuyên mua 10.000 trâu bò cày kéo để giết thịt nuôi quân trong một cuộc viễn chinh lâu dài. Dưới sự chỉ huy của 沐英 Mộc Anh, quân Minh đã tấn công người 擺衣 Bãi Y bằng hỏa khí, chém giết hơn 30.000 người. [16] Sau đó 思倫發 Tư Luân Phát, vua người Bãi Y bằng mọi giá đã cản phá cuộc viễn chinh chống lại ông, được bù lại bằng việc ông được công nhận là vua của người Bãi Y! [17] Khi 刀幹孟 Đao Can Mạnh nổi loạn chống lại 思倫發 Tư Luân Phát, bằng cách tách những vùng đất rộng lớn ra khỏi ông để đáp lại ông. [18] Nhà Minh cũng đã phá vỡ lãnh thổ cũ của ông thành các chính thể 麓川 Lộc Xuyên, 孟養 Mạnh Dưỡng, 木邦 Mộc Bang, 孟定 Mạnh Định, 廬江 Lư Giang, 灣甸 Loan Điện, 幹崖 Can Nhai, 大侯 Đại Hầu, tất cả đều dưới quyền của những kẻ trị vì riêng biệt. [19] Đây là mở đầu của chính sách chia để trị đã được nhà Minh theo đuổi ngay từ đầu, và nó đã có tác động sâu sắc đến các chính thể của người Thái vùng thượng du. 

Các “thổ ty” ở Vân Nam

Các chính thể mới tại Vân Nam được “sáng tạo” (hoặc được công nhận) dưới triều đại đầu tiên của nhà Minh được người Minh gọi là 土司 Thổ ty, vì các chính thể này ban đầu thường được để thuộc quyền kiểm soát của các thổ tù theo chế độ cha truyền con nối. Thông qua các thổ tù này nhà Minh thực thi quyền kiểm soát và can thiệp sâu vào quá trình bóc lột kinh tế bằng chế độ cống nạp và các loại thuế, binh dịch, lao dịch khác nhau.

Thổ ty 車里 Xa Lý (Chiềng Hung, Chiềng Rung, nay là 景洪 Cảnh Hồng), một chính thể của người Thái là tiền thân của Sipsong Panna, được công nhận là một 土司 Thổ ty vào năm 1384 với vị thủ lĩnh đầu tiên là “Trưởng quan”. Năm 1385, nhà Minh đã thành lập 因遠羅必甸長官司 - Nhân viễn la tất điền Trưởng quan ti tại 沅江府 Nguyên Giang phủ, Vân Nam (cạnh sông Hồng). Chính thể này của người Thái có một “Trưởng lưu quan” và một “Phó trưởng quan”. Lưu quan là một bộ phận trong chính sách cán bộ của nhà Minh, trong khi cấp phó rõ ràng là thành viên của một gia đình thổ tù cha truyền con nối. [20] Vậy là ở đây chúng ta đã thấy những bước khởi đầu của quá trình các chính thể cũ của Đông Nam Á bị hấp thu dần dần vào nhà nước Trung Quốc. 

Bóc lột kinh tế Vân Nam

Trong quá trình hấp thu dần dần vào nhà Minh, các chính thể này phải chịu hàng loạt yêu sách cống nạp, binh dịch, lao dịch, các sắc thuế và nhiều yêu sách khác. Chẳng hạn đối với trường hợp chính thể của người Tai Mao 卯江傣人 [người Thái vùng sông Mão] sinh sống hàng ngàn đời tại vùng 麓川/平緬宣慰使司 Lộc Xuyên/ Bình Miễn Tuyên úy Sử ty, năm 1397 nhà Minh đòi 思倫發 Tư Luân Phát phải cống nạp 15.000 ngựa, 500 voi và 30.000 trâu bò. [21] Tiếp đó họ còn đòi nộp một số lượng bạc lớn đổi lấy khoản công lao dịch đối với người dân Lộc Xuyên. Theo yêu sách ban đầu, số bạc phải nộp hàng năm là 6.900 lạng [22], sau đó tăng lên gấp ba là 18.000 lạng. Thực tế người dân vùng này không thể nào thỏa mãn được với yêu sách đó thì số bạc quy định lại trở về yêu sách ban đầu. [23] Nhiều khoản cống phú, lao dịch khác nữa đã bị áp đặt cho các chính thể trong vùng Đông Nam Á, thông qua việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng tấn công quân sự.

Cống nạp/Thương mại

Thời Hồng Vũ được đánh dấu bởi việc nhà Minh thường xuyên cử sứ bộ đến các chính thể ngoại quốc và tiếp đón các sứ bộ thuộc các chính thể Đông Á và Đông Nam Á gồm An Nam, Champa, Cambodia, Xiêm, Giao Chỉ, Tam Phật tề, Java, Nhật Bản, Lưu Cầu, Brunei, và Triều Tiên. Rõ ràng họ đã đến Trung Quốc theo các điều khoản nhân nhượng thương mại đối với các đoàn cống sứ và nhận các phần thưởng do nhà Minh ban phát cho các vua chúa dâng “cống vật”. [24] Tuy nhiên cỗ máy ngoại giao – thương mại cũng được nhà Minh sử dụng ngay trong chính thể của mình để gây tác động và kiểm soát các địa phương. Đó là vụ bê bối của Tể tướng [1377 - 1380] nhà Minh 胡惟庸 Hồ Duy Dung về tội lộng quyền và mưu phản, rồi bị Hoàng đế Chu Nguyên Chương hành quyết. [25] Việc Hồ Duy Dung có thể can dự vào hàng loạt mối quan hệ ngầm với các chính thể Đông Nam Á đã được Wolters, [26] đề cập và không cần phải lặp lại ở đây. Chỉ cần nói rằng các thành viên của bộ máy quan liêu nhà Minh đã can dự rất sâu vào chính trị Đông Nam Á trong thập niên 1390.  

Cấm biển

Đầu thập niên 1370, người dân ven biển Trung Quốc bị cấm ra biển chỉ trừ các phái bộ của triều đình. [27] Không lâu sau đó, các viên tướng vùng Phúc Kiến ngầm cử người đi biển buôn bán đều bị trừng phạt. [28] Lệnh cấm được đưa ra vào năm 1381 [29] và 1384 [30] hơn nữa, đích thân Hoàng đế ban chỉ dụ “cấm ngặt dân chúng không được tiếp xúc với người Phiên” [31] vào năm 1390. [32] Tần số xuất hiện thường xuyên của các lệnh cấm này chững tỏ rằng chúng không có hiệu lực, và lý do mà Hoàng đế phải hạ chỉ là “trong thời gian này ở Quảng Đông, Quảng Tây, Chiết Giang và Phúc Kiến có những kẻ ngu dốt không biết về việc này [các lệnh cấm] vẫn ngang nhiên buôn bán với Phiên nhân”. Sử liệu năm 1394 cho thấy những hạn chế ngặt nghèo áp đặt cho thương nhân ngoại quốc đến Trung Quốc, chỉ có Lưu Cầu, Cambodia và Xiêm mới được phép đến triều đình dâng cống vật. Trong thời gian này, dân thường Trung Quốc bị cấm sử dụng bất kỳ hàng hóa hoặc hương liệu nào của Phiên nhân. [33] Lệnh cấm ra nước ngoài buôn bán đã được lặp lại vào năm 1397. [34] Phải chăng các lệnh cấm  thực sự tác động đến thương mại biển giữa nam Trung Quốc và Đông Nam Á này, là một cái gì đó không được thể hiện rõ ràng trong các văn bản của Minh triều và có lẽ chỉ thông qua các nghiên cứu khảo cổ học thì mới có thể ráp lại được tình trạng suy thoái và các luồng hàng hóa trong thương mại biển giữa Trung Quốc và Đông Nam Á trong giai đoạn này.
_________________________________________

Nguồn: Ming China and Southeast Asia in the 15th Century: A Reappraisal, Asia Research Institute Working Paper Series No. 28.

Tác giả: Geoff Wade (韋傑夫 Vi Kiệt Phu) là một sử gia chuyên về các diễn giải lịch sử Trung Quốc – Đông Nam Á và biên niên sử so sánh, đặc biệt là công trình cơ sở dữ liệu Southeast Asia in the Ming Shi-lu [明實錄 Minh Thực lục*]: An Open Access Resource, cung cấp cho người đọc hơn 3000 tài liệu tham khảo về Đông Nam Á được dẫn từ biên niên sử đời nhà Minh; ông cũng vừa chủ biên bộ sách đồ sộ China and Southeast Asia (Routledge, 2009), gồm 6 tập khảo sát các công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lâu dài về các mối quan hệ Đông Nam Á – Trung Quốc. 


Tài liệu dẫn

1. For more detailed accounts of the demise of the Yuan dynasty and the founding of the Ming, see F.W.Mote, Imperial China 900-1800, Cambridge Mass., Harvard University Press, 1999, pp. 517-583; and also F.W. Mote, “The Rise of the Ming Dynasty 1330-1367” in Cambridge History of China,Cambridge, Cambridge University Press, Vol. 7, pp 11-15.

2. Zhu Yuan-zhang had inspected Kai-feng, the former Song capital, and his birthplace of Feng-yang (Hao-zhou), as well as the Han and Tang capitals of Xi-an, as his potential capitals. He did, however,subsequently decide to remain at Ying-tian (the modern Nan-jing), possibly because of its distancefrom the Mongol heartlands.

3. For some broad-ranging studies of imperial China’s foreign relations, see the essays within J.K. Fairbank (ed.), The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations, Cambridge, Massachussetts, 1968; Morris Rossabi (ed.) China Among Equals: the Middle Kingdom and Its Neighbors 10th-14th Centuries; and Mark Mancall (ed.), China at the Center: 300 Years of Foreign Policy (Transformation of Modern China series.) NewYork, Free Press, 1984.

4.  Ming Xian-zong shi-lu, juan 229.4a and Wu-zong shi-lu, juan 2.19a.

5. Chen Ching-ho, 陳荊和 (編校) 校合本 <大越史記全書> (3 本), (Đại Việt sử ký toàn thư ), Tokyo, 1985-86. See pp. 635 and 641.

6. The works of Wang Gungwu, J.V.G. Mills, Oliver Wolters, Roderich Ptak and Sun Laichen are notable in this area, and include: Wang Gungwu’s “The Opening of relations between China and Malacca” in J.S. Bastin and R. Roolvink (eds.) Malayan and Indonesian Studies: Essays Presented to Sir Richard Winstedt, London, pp 87-104; “Early Ming relations with Southeast Asia: A Background Essay, in Fairbank, The Chinese World Order, “The First Three Rulers of Malacca” in Journal of the Royal Asiatic Society Malaysian Branch, Vol. 41 (1968), pp. 11-22; and “China and Southeast Asia 1402-24” in J. Chen and N. Tarling (ed.) Social History of China and Southeast Asia, Cambridge 1970, pp. 375-402: J.V.G. Mills’ Ma Huan,Ying-yai Shen-lan, "The Overall Survey of the Ocean's Shores" [1433], Cambridge University Press for the Hakluyt Society, Extra Series No. XLII, 1970; and “Chinese Navigators in Insulinde about A.D. 1500” in Archipel 18 (1979), pp. 69-93; Oliver Wolters’ The Fall or Srivijaya in Malay History, Ithaca, Cornell University Press, 1970; Roderich Ptak’s essays collected in China and the Asian Seas: Trade, Travel, and Visions of the Other (1400-1750), Ashgate, (Collected Studies, 638), 1998 and China's Seaborne Trade With South and Southeast Asia 1200-1750, Ashgate (Collected Studies, 640), 1999; and Fei Hsin, Hsing-ch’a sheng-lan: The overall Survey of the Star Raft, translated by J.V.G. Mills; revised, annotated and edited by Roderich Ptak, Harrassowitz Verlag, Wiesbaden 1996: and Sun Laichen’s “Chinese Military Technology and Dai Viet: c. 13901497” in Nhung Tuyết Trần & Anthony Reid (eds.), Viet Nam: Borderless Histories (Madison, Wisconsin: University of Wisconsin Press); “Military Technology Transfers from Ming China and the Emergence of Northern Mainland Southeast Asia (c. 1390–1527)” in Journal of Southeast Asian Studies Volume 34: 3 (October 2003), ", and “Chinese Military Technology and Dai Viet: c. 1390-1497, http://www.ari.nus.edu.sg/docs/wps/wps03_011.pdf

7. Ying-zong shi-lu, juan 218.1a.

8. Ying-zong shi-lu, juan 225.11a-b.

9. Ying-zong shi-lu, juan 306.5a-b.

10.  Ying-zong shi-lu, juan 306.5a-b.

11. Xian-zong shi-lu, juan 181.2a-b.

12.  Watanabe Hiroshi, “An Index of Embassies and Tribute Missions from Islamic Countries to MingChina (1368-1466) as recorded in the Ming Shih-lu, Classified According to Geographic Area” in Memoirs of the Research Department of the Toyo Bunko, No. 33 (1975), pp. 285-347.

13. Tai-zu shi-lu, juan 68.4a-b.

14. Tai-zu shi-lu, juan 39.1b. Another reference to Yun-nan as a country can be found at Tai-zu shi-lu, juan 53.9a-b.

15. Tai-zu shi-lu, juan 138.5a-b.

16. Tai-zu shi-lu, juan 189.14b-16a.

17. Tai-zu shi-lu, juan 198.2a-b.

18. Tai-zu shi-lu, juan 255.2a-b and 255.8a-b.

19. Tai-zong shi-lu, juan 15.2a and 16.3a.

20. Tai-zu shi-lu, juan 172.5b.

21. Tai-zu shi-lu, juan 190.3b.

22. A Chinese unit of weight, often referred to as a “Chinese ounce”. During the Ming, it averaged 37grams.

23. Tai-zong shi-lu, juan 17.6a.

24. In 1384, it was stated that the accompanying goods brought by tribute envoys were not to be taxed. See Tai-zu shi-lu, juan 158.5b.

25. The failure to advise the Emperor of the arrival of the Cham envoys in 1379 was apparently the actwhich sparked investigations of Hu Wei-yong and colleagues. This led to his jailing and eventual death,together with a further reportedly 15,000 other individuals. For further details, see Chan Hok-lam’s account of Hu Wei-yong in L. Carrington Goodrich and Chaoying Fang’s Dictionary of MingBiography, New York, Columbia University Press, 1976, pp. 638-641. See also Frederick W. Moteand Denis Twitchett, The Cambridge History of China –Volume 7: The Ming Dynasty 1368-1644 Part1, pp. 155, 162-64.

26. O.W. Wolters, The Fall of Srivijaya in Malay History, Oxford, OUP, 1970, pp. 68-70.

27. Tai-zu shi-lu, juan 70.3b.

28. Tai-zu shi-lu, juan 70.7a-b.

29. Tai-zu shi-lu, juan 139.7a.

30. Tai-zu shi-lu, juan 159.4b.

31. A generic term for foreigners, often used to refer to those who came from the maritime realm.

32. Tai-zu shi-lu, juan 205.4a.

33. Tai-zu shi-lu, juan 231.2a-b.

34. Tai-zu shi-lu, juan 252.2b