Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Bay bằng một cánh



Bay bằng một cánh

Hà Lập Nhân 

chiều bỗng vui nắng rắc bụi vàng
mây vần vũ xiêm y chân trời song sóng
những khoảng rừng 
bay bằng một cánh
chúm môi chín mọng đỉnh trời

mưa hát âm u không dứt tiếng
bầy chim mỏ vàng rền rĩ mấy tầng trời
sải những nhịp buồn 
bay bằng một cánh
gió đuổi mây tả tơi bẻ vụn đại ngàn
sấm sét rền trời khản giọng

lối gầy thảm cỏ khúc khích rơi
những vệt chân trần núi hoa khép cánh
quạnh bóng người sáng mai thức giấc
trong hương dã thảo 
vạt vạt hoa lấm tấm rải vàng
ngơ ngác một khoảng rừng nắng lạ
cặp suối mắt miên man hun hút trong tóc xõa
bay bằng một cánh 
mỉm cười

một ngày kia bầu trời vắng bóng mặt trời
mây vắng gió 
chợt thấy mình gối đầu trên vầng mây lạ
môi thơm ru dìu dặt gió về 
bay bằng một cánh
bầy ong núi thoảng hương dã thảo
âm u bắt nhịp điệu thương ca 
mắt biếc rợp trời

khúc hát đẫm mưa
những nẻo phố gầy
bay bằng một cánh 
khuất sau những nhịp chân song sóng
những vực mắt sâu 
khép một cánh bay
thăm thẳm cuối trời

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

Văn hóa là gì? (III)

Văn hóa là gì? (III)

H. Spencer-Oatey

Người dịch: Hà Hữu Nga

9. Văn hóa được học hỏi mà có

Văn hóa
được học hỏi từ những người mà ta tương tác khi ta được xã hội hóa. Việc quan sát người lớn phản ứng và nói chuyện với trẻ em là một cách thức tuyệt vời để thấy được cách trao truyền biểu tượng văn hóa thực sự của con người. Hai đứa trẻ được sinh ra vào cùng một lúc ở hai nơi khác nhau của trái đất có thể được dạy dỗ để đáp ứng với các kích thích vật lý và xã hội theo những cách thức rất khác nhau. Ví dụ, một số đứa trẻ được dạy nhoẻn cười với người lạ, trong khi những trẻ em khác lại được dạy chỉ cười trong những trường hợp rất cụ thể. Tại Hoa Kỳ, hầu hết trẻ em được yêu cầu từ một độ tuổi rất sớm để đưa ra các quyết định về những gì chúng muốn làm và những gì chúng thích; trong nhiều nền văn hóa khác, cha mẹ sẽ không bao giờ hỏi một đứa trẻ những gì muốn làm chỉ đơn giản bảo nó phải làm gì mà thôi.

Văn hóa cũng được giảng dạy bởi những lời giải thích mọi người nhận cho thiên nhiên và con người các sự kiện xung quanh họ. Mọi người từ các nền văn hóa khác nhau sẽ hoàn thiện phần còn bỏ trống bằng những cách thức tương phản với nhau. Những người mà trẻ em giao tiếp sẽ khen ngợi và khuyến khích các loại hành vi cụ thể (như khóc hay không khóc, im lặng hoặc nói nhiều). Chắc chắn có những khác biệt về những gì mà một đứa trẻ học được từ gia đình so với gia đình khác trong bất kỳ nền văn hóa nào. Tuy nhiên, mối quan tâm của chúng ta không phải là về những khác biệt này, mà là về các tương đồng trong hầu hết hoặc tất cả các gia đình, tạo thành cơ sở cho một nền văn hóa. Vì mối quan tâm cụ thể của chúng ta là quan hệ giữa văn hóa và giao tiếp liên cá nhân, nên chúng ta tập trung vào cách thức mà một nền văn hóa cung cấp cho các thành viên của mình một tập hợp các giải thích họ sử dụng như các bộ lọc để tạo ra ý nghĩa của thông điệp và kinh nghiệm. [Lustig và Koester 1999: 31-2]

Quan niệm cho rằng văn hoá được thông qua quá trình học tập có một số hàm ý quan trọng đối với hành vi quan hệ quốc tế. Trước hết, một nhận thức như vậy có thể dẫn đến khoan dung hơn với những khác biệt văn hóa, một điều kiện tiên quyết cho các giao tiếp liên văn hóa một cách hiệu quả trong bối cảnh quan hệ quốc tế. Thứ hai, bản chất học hỏi được của văn hóa được sử dụng như một lời nhắc nhở rằng chúng ta đã làm chủ được nền văn hóa của mình thông qua quá trình học tập, cũng có thể (mặc dù khó khăn hơn) học hỏi để thực hành trong các nền văn hóa khác. Vì vậy, việc phát triển kỹ năng liên văn hóa cho các doanh nhân phương Tây có thể được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo hiệu quả. Và cuối cùng, bản chất của văn hóa học dẫn chúng ta đến một kết luận hiển nhiên là lực lượng lao động nước ngoài, mặc dù có lẽ thiếu các kỹ năng liên quan đến các công việc nhất định trong thời điểm hiện tại, vẫn hoàn toàn có khả năng học hỏi những kỹ năng đó trong tương lai, miễn là họ tiếp xúc với các chương trình đào tạo phù hợp về phương diện văn hóa. [Ferraro 1998: 19]

10. Văn hóa tùy thuộc vào quá trình biến đổi dần dần

Bất kỳ
cách diễn giải nhân học nào về văn hóa của bất kỳ xã hội nào cũng đều là một kiểu quan niệm tức thời về một thời gian cụ thể. Vài năm sau khi hoàn thành việc nghiên cứu một văn hóa, nhà dân tộc học nên quay trở lại và người đó sẽ không còn thấy chính xác tình huống tương tự, không có nền văn hóa nào vẫn hoàn toàn tĩnh tại năm này qua năm khác. Các nhà nhân học đầu thế kỷ XX - đặc biệt là những người theo trường phái cấu trúc/chức năng thường có xu hướng giải nhấn động lực học văn hóa bằng cách gợi ý rằng một số xã hội đang ở trong trạng thái cân bằng ở điểm zero trong đó các động lực thay đổi đã bị phủ nhận bởi những động lực của chủ nghĩa bảo thủ văn hóa. Mặc dù quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản, nhưng các xã hội tiền văn tự vẫn có xu hướng bảo thủ hơn (và, do đó, biến đổi không nhanh) so với các xã hội hiện đại, công nghiệp hoá, và có tính phức tạp cao, giờ đây người ta thường chấp nhận rằng, ở một mức độ nhất định, sự biến đổi là một đặc điểm không đổi của tất cả các nền văn hóa.

Các nhà nghiên cứu biển đổi văn hóa công nhận rằng sự đổi mới văn hoá (có nghĩa là, việc đưa vào những cách tư duy, chuẩn mực, hoặc các hạng mục vật chất mới) diễn ra như là kết quả của cả nội lực lẫn ngoại lực. Cơ chế của sự biến đổi vận hành trong một nền văn hóa nhất định được gọi là phát hiện và sáng tạo. Mặc dù phát hiện và sáng tạo là quan trọng, nhưng hầu hết các đổi mới được đưa vào một nền văn hóa đều là kết quả của việc vay mượn từ các nền văn hóa khác. Quá trình này được gọi là truyền bá văn hóa, sự lan truyền của các hạng mục văn hóa từ một nền văn hóa này đến một nền văn hóa khác. Tầm quan trọng của việc vay mượn văn hóa có thể được nhận thức tốt hơn nếu được xem xét trong khuôn khổ của các nỗ lực kinh tế. Nghĩa là, việc vay mượn phát minh, sáng tạo của người khác sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc khám phá hoặc phát minh thêm một lần nữa. Trong thực tế, các nhà nhân học đều đồng ý rằng đến 90 phần trăm của tất cả mọi thứ, các ý tưởng và các thức hành vi tìm thấy trong bất kỳ nền văn hóa nào cũng đều có nguồn gốc ở một nơi nào đó khác. Các cá nhân trong mọi văn hóa, giới hạn bởi bối cảnh và thời gian, đều giảm bớt nỗ lực khi họ có được các ý tưởng mới bằng phương thức vay mượn. Tuyên bố này cũng đúng đối với nền văn hóa của chúng ta cũng như các nền văn hóa khác, thực tế là Bắc Mỹ thường có xu hướng bỏ qua vấn đề này. hầu hết biến đổi văn hóa đều là kết quả của truyền bá, nên nó xứng đáng được xem xét kỹ hơn. Khi biết rằng truyền bá văn hóa xảy ra trong những tình huống rất khác nhau, nên chúng ta có thể xác định những qui tắc nhất định cho phép đưa ra một số phán đoán khái quát chính xác cho tất cả các nền văn hóa.

Trước hết, truyền bá văn hóa là một quá trình chọn lọc. Bất cứ khi nào hai nền văn hóa bắt đầu tiếp xúc, thì mỗi nền văn hóa đều không chấp nhận một cách bừa bãi tất cả mọi thứ từ nền văn hóa kia. Nếu xảy ra tình trạng như vậy, thì các khác biệt lớn về văn hóa tồn tại cho đến ngày nay có lđã biến mất từ lâu rồi. Thay vào đó, các hạng mục được vay mượn từ nền văn hóa khác chỉ xảy ra khi chúng chứng tỏ là hữu ích và / hoặc tương thích. ... Nói cách khác, một sự đổi mới có khả năng được truyền bá vào một nền văn hóa tiếp nhận khi: i)được xem là vượt trội so với những gì hiện tồn tại; ii) nó phù hợp với các thức văn hóa hiện có; iii) nó dễ hiểu; iv) có thể được kiểm tra trên cơ sở thực nghiệm; và v) đổi mới đó đem lại lợi ích có thể thấy rõ đối với số lượng dân cư tương đối. Năm biến số trên cần được các nhà chiến lược kinh doanh quốc tế xem xét khi có ý định giới thiệu các khái niệm quản lý và tiếp thi mới vào một nền văn hóa bên ngoài.

Thứ hai, vay mượn văn hóa là một quá trình hai chiều. Các nhà nghiên cứu sớm về biến đổi văn hóa tin rằng sự tiếp xúc giữa các xã hội "nguyên thủy" và các xã hội "văn minh" làm cho các “xã hội nguyên thủy” chấp nhận các đặc trưng văn hóa của các “xã hội văn minh”. Lập trường này được dựa trên giả định các xã hội nguyên thủy "thấp kém" không có gì để cung cấp cho các xã hội văn minh "cao đẳng". Tuy nhiên ngày nay, các nhà nhân học đều từ chối một lập trường như vậy, vì người ta đã phát hiện đi phát hiện lại rằng các đặc trưng văn hóa được truyền bá theo cả hai hướng. Sự tiếp xúc giữa người châu Âu với người Da đỏ châu Mỹ là một trường hợp điển hình. Người Mỹ bản địa, chắc chắn, đã tiếp nhận vô số thứ từ người châu Âu, nhưng việc truyền bá theo hướng ngược lại cũng rất đáng kể. Ví dụ, người ta đã ước tính (Driver 1961: 584) rằng các loại cây trồng chiếm gần một nửa nguồn cung cấp lương thực của thế giới là do người Da đỏ châu Mỹ thuần hóa. Chúng bao gồm ngô, đậu, bí, khoai lang, và cái gọi là "khoai tây Ailen"... v.v.

Thứ ba, rất hiếm khi các mục vay mượn được chuyển vào nền văn hóa tiếp nhận trong dạng thức nguyên gốc của chúng. Thay vào đó, những ý tưởng mới, các hiện vật, hoặc kỹ thuật thường được tái diễn giải và làm lại sao cho có thể được tích hợp một cách hiệu quả hơn vào cấu hình tổng thể của nền văn hóa tiếp nhận. Lowell Holmes đã cung cấp một ví dụ soi sáng cách thức của một sự đổi mới đặc biệt từ Ý (pizza) đã được biến đổi sau khi nó sát nhập vào nền văn hóa Hoa Kỳ. "Ban đầu, chiếc bánh Ý này đã được làm bằng phô mai mozzarella hoặc scamorza, cà chua, gia vị rất xúc xích có nhiều gia vị, rau thơm hoa môi [Origanum vulgare], và một lớp vỏ làm bằng bột mì, nước, dầu ô liu và men bia. Mặc dù loại bánh pizza vẫn còn tìm thấy trong hầu hết các thành phố miền Đông, cũng như trong các thành phố miền Trung Tây, trong nhiều trường hợp, món ăn này đã được giải thích là để đáp ứng sở thích hương vị miền Trung Tây đối với loại thực phẩm nhạt nhẽo. Bánh pizza Ý đích thực trong các tiểu bang như Kansas, Missouri, Iowa, Nebraska, hoặc Dakota thường được xem là quá cay; do đó, có thể mua tại các nhà hàng hoặc tại các siêu thị loại bánh pizza đầu bảng với loại pho mát theo quy trình Mỹ, không hề vị rau môi, và thay vì xúc xích gia vị, hamburger hay thậm chí cá ngừ cắt tròn theo phiên bản Mỹ hóa. Trong nhiều công thức nấu ăn gia đình, lớp vỏ được làm bằng bánh quy hỗn hợp. Mặc dù những người Ý sẽ khó nhận ra nó, nhưng nó vẫn còn mang tên pizza và đã trở nên cự kỳ phổ biến "(1971: 361-2). ...

Thứ tư, một số đặc điểm văn hóa dễ dàng truyền bá hơn so với các đặc điểm khác. Nhìn chung các đổi mới công nghệ có nhiều khả năng được vay mượn hơn là các thức xã hội, hoặc các hệ thống tín ngưỡng, phần lớn là vì tính hữu dụng của một đặc điểm công nghệ đặc biệt có thể được công nhận một cách nhanh chóng. Ví dụ, một người đi bộ năm dặm mỗi ngày để làm việc không cần phải thuyết phục nhiều cũng nhận ra rằng một chiếc ô tô có thể đưa anh ta đến chỗ làm việc nhanh hơn và cần ít sức lực hơn. Tuy nhiên thực tế lại rất khó thuyết phục một người Hồi giáo trở thành một người Ấn giáo hay một doanh nhân Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu trở thành một người theo chủ nghĩa xã hội.

Điều quan trọng đối với một doanh nhân quốc tế để hiểu rằng một mức độ nào đó, tất cả các nền văn hóa đều liên tục trải qua sự biến đổi. Ba thành phần cơ bản của văn hóa (sự vật, ý tưởng và các mô thức hành vi) có thể trải qua các bổ sung, xóa bỏ, hoặc biến đổi. Một số thành phần mất đi, những thành phần mới được chấp nhận, và những thành phần hiện tồn có thể biến đổi theo một cách thức nào đó có thể quan sát được. Mặc dù tốc độ của sự biến đổi văn hóa của mỗi xã hội đều khác nhau, nhưng  khi nhìn nhận các nền văn hóa theo thời gian, thì không có gì là vĩnh hằng ngoài sự biến đổi. Cái nhìn sâu sắc và trực tiếp mang tính nhân học này cần nhắc nhở các doanh nhân quốc tế biết rằng i) bất kỳ môi trường văn hóa nào ngày nay cũng đều không chính xác giống hệt như nó đã tồn tại năm ngoái hoặc sẽ trở thành vào năm sau. Vì vậy môi trường văn hóa cần được giám sát liên tục; ii) mặc dù không có sự phù hợp giữa nền văn hóa của một công ty Mỹ hoạt động ở nước ngoài và lực lượng lao động ở nước ngoài, nhưng thực ra thì văn hóa có thể làm thay đổi và cung cấp một biện pháp lạc quan nhất định là các khoảng cách văn hoá cuối cùng có thể được lấp đầy.

Hơn nữa, quan niệm về truyền bá văn hóa có những hàm ý quan trọng cho hoạt động  kinh doanh quốc tế. Dù ta đang cố gắng tạo ra thị trường mới ở nước ngoài hoặc làm cho lực lượng lao động địa phương thấm nhuần thái độ và hành vi mới thì buộc phải  hiểu rằng truyền bá văn hóa là mang tính chọn lọc. Việc biết với một mức độ nhất định về tính dự đoán trước mà các sự vật, ý tưởng, và hành vi có khả năng được một nền văn hóa cụ thể chấp nhận, thì các biến quyết định tác động ảnh hưởng đến việc truyền bá như lợi thế tương đối, tính tương thích, và khả năng có thể quan sát cần phải được nhận thức rõ. Việc hiểu rõ rằng truyền bá văn hóa thường liên quan đến một số biến đổi hạng mục văn hóa chính là một ý tưởng quan trọng đối với những ai quan tâm đến  việc tạo ra thị trường sản phẩm mới trong các nền văn hóa khác. Để minh họa, trước khi một loại bột giặt - thường được đóng gói trong một bao bì màu xanh lá cây Hoa Kỳ - sẽ được chấp nhận tại một số địa phương Tây Phi, thì cần phải thay đổi màu sắc của bao bì, bởi vì tại một  số nền văn hóa Tây Phi, màu xanh lá cây làm người ta liên tưởng đến cái chết.

Ngoài ra, ý tưởng cho rằng một số thành phần nhất định của một văn hóa dễ dàng được chấp nhận hơn so với những thành phần khác trong những môi trường văn hóa khác nhau chí ít là nên cung cấp một số hướng dẫn chung cho việc đánh giá những loại thay đổi nào trong nền văn hóa địa phương có nhiều khả năng xảy ra. Bằng cách đánh giá những loại sự vật, ý tưởng và hành vi nào đã được tích hợp vào một nền văn hóa trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chiến lược cần hiểu rõ hơn về thực trạng khó khăn hay dễ dàng liên quan đến những biến đổi khởi đầu trong thói quen của người tiêu dùng hoặc hành vi nơi làm việc. Ferraro 1998: 25-9

11. Tất cả các bộ phận khác nhau của một nền văn hóa,một mức độ nào đó, đều có quan hệ tương liên với nhau

Các nền văn hóa cần được quan niệm như là các tổng thể tích hợp - có nghĩa là, các nền văn hóa đều là các hệ thống logic và mạch lạc, các bộ phận của nó ở một mức độ nhất định đều tương liên với nhau. ... Khi chúng ta nói rằng một nền văn hóa được tích hợp có nghĩa là chúng ta đang nói rằng các thành phần của nó không đơn giản là một sự phân loại ngẫu nhiên về các tập tục. Hơn thế, đó chính một hệ thống có tổ chức, trong đó các thành phần cụ thể đều tương liên với các thành phần khác. Nếu có thể xem văn hóa như các hệ thống tích hợp, thì chúng ta cũng có thể bắt đầu nhận thấy các đặc điểm văn hóa cụ thể phù hợp với tổng thể tích hợp ra sao, và kết quả là làm thế nào mà chúng có xu hướng tạo ra ý nghĩa trong bối cảnh đó. Và tất nhiên, được trang bị với một sự hiểu biết như vậy, các doanh nhân quốc tế có thể có lập trường tốt hơn để đối phó với những tập tục "kỳ lạ" mà họ gặp phải trong vũ đài kinh doanh quốc tế. ...

Nếu, trong thực tế, các nền văn hóa là các hệ thống mạch lạc, với các bộ phận cấu thành của chúng quan hệ tương liên với nhau, thì logic chắc chắn phải là bất cứ sự thay đổi nào trong một phần của hệ thống cũng đều có khả năng tạo ra sự thay đổi tương ứng trong các bộ phận khác của hệ thống. Việc giới thiệu một đổi mới công nghệ duy nhất có thể đặt ra một loạt các thay đổi liên quan. Nói cách khác, văn hóa thay đổi làm cho nền văn hóa khác cũng thay đổi theo.

Để minh họa, chúng ta cần phải nhìn vào những ảnh hưởng sâu rộng đối với nền văn hóa Mỹ do một đổi mới công nghệ, đã trở thành phổ biến trong những năm 1950 - đó là truyền hình. Việc bổ sung công nghệ duy nhất này vào vốn văn hóa vật chất của chúng ta đã gây ra hậu quả sâu sắc về các khía cạnh phi vật chất cho nền văn hóa đó, bao gồm chính trị, giáo dục, và các hệ thống tôn giáo của chúng ta, mà ở đây mới chỉ nói đến ba lĩnh vực. Ví dụ, chiến dịch vận động chính trị cho chức tổng thống năm 1948 và trước đó đã được thực hiện chủ yếu từ đoạn cuối cùng của một toa xe đường sắt trên cái gọi là tuyến lữ hành "ga xép".  Đến năm 1960, năm của những cuộc tranh cử chức tổng thống đầu tiên trên truyền hình, truyền hình đã mang lại những ý tưởng, lập trường, phong cách nói chuyện, và những dáng vẻ thể chất của các ứng viên trực tiếp vào phòng khách của đa số cử tri. Ngày nay các ứng viên chính trị, vì sức mạnh của truyền hình, cần phải chú ý đến trang điểm, quần áo, và các cử chỉ phi ngôn ngữ vì tất cả đều là các vấn đề trọng yếu của chiến dịch tranh cử. Trong giáo dục chính thức, một trong những hậu quả của việc sử dụng rộng rãi của truyền hình là để hạ thấp độ tuổi mà trẻ em phát triển "tính sẵn sàng đọc" với tư cách là một kết quả trực tiếp của các chương trình như "Phố Vừng". ... Truyền hình đã được nhiều nhà bình luận xã hội mô tả vừa là một phước lành lại vừa là một lời nguyền rủa. Nhưng tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận về các ưu điểm và nhược điểm của nó, khó có thể phủ nhận rằng nó đã góp phần thay đổi sâu sắc trong nhiều bộ phận khác của hệ thống văn hóa Hoa Kỳ. Và lý do của những thay đổi này là ở chỗ các nền văn hóa đều có xu hướng trở thành những hệ thống tích hợp với một số bộ phận kết nối với nhau, đến mức là bất cứ sự thay đổi nào trong một phần của nền văn hóa đó cũng đều có khả năng gây ra những thay đổi trong các bộ phận khác. [Ferraro 1998: 32-5]

12. Văn hóa là một khái niệm mô tả, không phải là một khái niệm đánh giá

Đôi khi mọi người nói về văn hóa "cao" và
văn hóa "thấp". Các định nghĩa liên quan đến "văn hóa cao" như sau: '[Văn hóa là] i) một trạng thái phát triển cao trong nghệ thuật & suy tư hiện tồn trong một xã hội và được đại diện ở các cấp độ khác nhau trong các thành viên của nó; ii) việc phát triển và cải thiện của tư duy hoặc cơ thể bởi giáo dục, hoặc đào tạo. ' [Longman Dictionary of Contemporary English]

Giải thích này về văn hóa thường được liên kết với các thuật ngữ và các khái niệm như là văn minh hóa, có học thức, được tinh lọc, văn hóa, và được kết hợp với các kết quả của sự tinh lọc như vậy - một nền nghệ thuật, văn học, âm nhạc, …v.v, của một xã hội. Tuy nhiên, quan niệm của chúng ta về văn hóa không phải là một cái gì đó độc nhất đối với các thành viên nhất định; đúng hơn nó liên quan đến toàn bộ xã hội. Hơn nữa, nó không chuyên chở giá trị. Không phải là một số nền văn hóa thì tiên tiến và một số thì lạc hậu, một số văn minh hơn và lịch sự hơn trong khi những nền văn hóa khác thì thô lậu. Thay vào đó, chúng là tương tự hoặc khác nhau mà thôi.

Những quan niệm không đầy đủ về văn hóa

[Có] ít nhất sáu ý tưởng liên quan
đến nhau về văn hóa mà chúng ta gọi là không đầy đủ. Những ý tưởng này thường được thấy trong các bài viết và thực hành của các cá nhân, bao gồm cả những người trong việc giải quyết xung đột, bằng cách vay mượn một cái nhìn nhân học đã lạc hậu về văn hóa, tìm cách sử dụng một cách tiếp cận văn hóa trong các công trình của họ.

1. Văn hóa là đồng nhất. Ý tưởng này giả định rằng một nền văn hóa (địa phương) thì không có những nghịch lý và mâu thuẫn nội tại chẳng hạn như: i) nó cung cấp các “chỉ dẫn” hành vi rõ ràng và không mơ hồ cho các cá nhân - một chương trình về cách thức hành động - hoặc ii) một khi đã nắm bắt hoặc học hỏi được bởi một người ngoài cuộc, nó có thể được đặc trưng bằng những cách thức tương đối minh bạch ("người Dobuans mắc chứng hoang tưởng "). Một quan điểm đồng nhất về văn hóa làm cho các ý tưởng không đầy đủ thứ hai dễ dàng duy trì hơn, cụ thể là:

2. Văn hóa là một sự vật. Việc vật chất hoá văn hóa - coi văn hóa như là một sự vật - dẫn đến một quan niệm cho rằng "nó" là một sự vật có thể hành động, gần như độc lập của các tác nhân con người. Không có ẩn ý về tác nhân thể ở đây. Một ví dụ đương đại rõ rang về loại suy tư này là lập luận trong Cuộc đụng độ của các nền văn minh của Samuel Huntington. Nó rất dễ dàng để rơi vào cái bẫy ngữ nghĩa của sự đồ vật hoá. Ta hãy đọc nhận xét trước đó trong bài tiểu luận này về sức mạnh cấu thành của văn hóa để xây dựng một định nghĩa của chính nó! Thuật ngữ này được sử dụng như là một cách ghi tốc ký, như chúng ta sẽ thấy, đề cập đến hành mớ các quá trình tri giác và nhận thức phức tạp, và nó là một loạt bước đi ngắn (nhận thức) từ cách ghi tốc ký đến sự hoán dụ đến đồ vật hoá. Nhưng chúng ta nên cảnh giác, đặc biệt là bởi việc đồ vật hóa văn hóa rất dễ dàng bỏ qua tính đa dạng nội văn hóa, bảo lãnh cho quan niệm không đầy đủ của ý tưởng thứ ba:

3. Văn hóa được phân bố đồng đều giữa các thành viên của một nhóm. Ý tưởng này quy tính đồng dạng về nhận thức, tình cảm, hành vi cho tất cả các thành viên của nhóm. Sự thay đổi nội văn hóa, dù ở cấp độ cá nhân hay nhóm, đều bị bỏ qua hoặc bị bác bỏ, xem như là "lệch lạc". Gắn kết với quan niệm này là quan niệm sai lầm khác cho rằng:

4. Cá nhân sở hữu không phải một văn hóa duy nhất. Cá nhân đó đơn giản là một người Somali, một người Mexico, hoặc một người Mỹ. Vì vậy văn hóa đồng nghĩa với tính đồng nhất [bản sắc] của nhóm. Gốc rễ của quan niệm sai lầm này xuất phát từ đặc quyền của cái mà chúng ta có thể gọi là văn hóa bộ lạc, văn hóa tộc người, hoặc văn hóa dân tộc, so với các nền văn hóa được kết nối - như chúng ta sẽ thấy - với các loại nhóm, các cấu trúc, hoặc các thể chế khác nhau. Một phần điều này xuất phát từ môi trường xã hội mà trong đó các nhà nhân học trước hết phát triển các ý tưởng về văn hóa: các nhóm bộ lạc hoặc tộc người có quy mô nhỏ và tương đối không khác biệt về phương diện xã hội. Sau đó nó được pha trộn bởi các nhà khoa học chính trị - những người đã giương cao khái niệm văn hóa (như "văn hóa chính trị") và ban đặc quyền cho nhà nước-dân tộc như là một đơn vị phân tích của họ - vì thế mà ban đặc quyền cho ý tưởng "tính cách dân tộc". Trong thực tế, như chúng ta sẽ thảo luận, đối với bất kỳ cá nhân nào, thì văn hóa luôn luôn xuất hiện số nhiều. Một người sở hữu và kiểm soát một số văn hóa theo cùng một cách, như các nhà ngôn ngữ học xã hội cho chúng ta biết rằng ngay cả cái gọi là người nói độc ngữ cũng kiểm soát các "phạm vi từ vựng" khác nhau của cùng một ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

5. Văn hóa là phong tục. Ý tưởng này cho rằng văn hóa không khác biệt về cấu trúc, nên những gì ta thấy cũng chính là những gì ta được. Và phần lớn những gì ta nhìn thấy (đặc biệt là trong một nền văn hóa khác với nền văn hóa của ta), tất nhiên có ngây thơ, chính phong tục. Văn hóa ở đây là gần như đồng nghĩa với "truyền thống", hoặc những cách hành xử theo phong tục. Những điều quan trọng cần biết, nếu ta là người ngoài cuộc, là những quy tắc theo đúng phong tục để xử sự đúng. Trong trường hợp này văn hóa quy giản thành một loại nghi thức ở cấp độ bề mặt. Biến đổi văn hóa, như Peter Black đã từng nói, chỉ đơn thuần là một vấn đề "nghi thức khác biệt". Một lần nữa, tác tố cá nhân bị xem nhẹ. Theo quan điểm này không có ý thức đấu tranh, có lẽ ngoại trừ trường hợp ý thức đấu tranh với những kẻ lầm lạc (xem mục 3 ở trên), những kẻ không thể hoặc sẽ không tuân theo truyền thống và phong tục: trên hết, việc san phẳng sự khác biệt và việc giảm thiểu tranh đấu chính xác là những gì mà các quy tắc và nghi thức đại diện.

6. Văn hóa là vô tận. Liên quan chặt chẽ với quan điểm văn hóa-là-phong tục (thực ra, liên quan đến tất cả các quan điểm trên), ý tưởng cho rằng văn hóa là vô tận quy một phẩm chất không thay đổi cho văn hóa, đặc biệt là cho những cái gọi là truyền thống. Ở đây, chúng ta nói đến, chẳng hạn như, về "tư duy Ả Rập" như thể là một yếu tố nhận thức đơn nhất đã được truyền lại cho chúng ta từ Mecca của Muhammed.

Sáu ý tưởng không đầy đủ về văn hóa là có liên quan và củng cố lẫn nhau. Việc sử dụng các ý tưởng đó, như chúng ta đã thảo luận, sẽ làm giảm đáng kể tính tiện ích của khái niệm văn hóa với tư cách là một công cụ phân tích để hiểu hoạt động xã hội, trong trường hợp này, xung đột và giải quyết xung đột. [Avruch 1998: 14-16]

Các cấp độ phân tích và các ngụy biện cần tránh

Nhiều
vấn đề nghiên cứu được thảo luận ở đây sẽ so sánh các đặc trưng của các nền văn hóa dân tộc cụ thể với hành vi trung bình của một mẫu nhỏ các đối tượng được rút ra từ bên trong các nền văn hóa đó. Nói cách khác, chúng ta có thể tìm thấy chính mình bằng cách khẳng định rằng chủ nghĩa tập thể của, chẳng hạn như, văn hóa quốc gia Indonesia làm cho một nhóm nhà nghiên cứu Indonesia gán ghép vào một bảng hỏi về các nguyên do cho sự thành công hay thất bại trong công việc của họ. Khi thể hiện theo cách này, rất dễ thấy rằng ngụ ý của quan hệ nhân quả là quá mạnh nên khó có thể coi là hợp lý. Theo một ý nghĩa chung, chúng ta có thể mong đợi nền văn hóa quốc gia Indonesia phải được thể hiện trong hệ thống giáo dục của nước đó, trong loại sinh viên được tuyển dụng, trong loại giảng dạy, và loại đánh giá. Nhưng nếu chúng ta muốn thực hiện một phép kiểm tra chắc chắn hơn về các liên kết nhân quả với hành vi cá nhân, tốt hơn hết, chúng ta nên biết nhóm các nhà nghiên cứu Indonesia cụ thể này có tính tập thể chủ nghĩa đến mức nào. Nói cách khác, chúng ta nên sử dụng những cách đặc trưng hóa của toàn bộ các nền văn hóa (ví dụ như các giá trị tập thể chủ nghĩa) để giải thích các thuộc tính cụ thể của nền văn hóa đó như một toàn thể (ví dụ như loại hệ thống chính trị được phát hiện ở đó, tỷ lệ bệnh tật, chi tiêu quân sự,…vv). Nhưng chúng ta nên sử dụng các đặc trưng hóa về các giá trị của các cá nhân, hoặc các nhóm cá nhân cụ thể nếu chúng ta muốn dự đoán các cá nhân cụ thể ấy sẽ hành xử như thế nào.

Các phương pháp đo lường cấp độ văn hóa có thể được sử dụng tốt nhất để giải thích sự biến đổi về cấp độ văn hóa; các phương pháp đo lường cấp độ cá nhân tốt nhất có thể được sử dụng để giải thích các biến đổi ở cấp độ cá nhân. Vì hầu hết các nghiên cứu tâm lý xã hội được tiến hành với các cá nhân, nên nhiều nhà nghiên cứu có nhu cầu cấp bách trong việc sử dụng các biện pháp đo lường ở cấp độ cá nhân như vậy, hơn là dựa vào các đặc trưng hóa cấp độ-văn hóa chẳng hạn như những đặc trưng hóa được Hofstede cung cấp (Bond, 1996b). ...

Sự nhầm lẫn về các cấp độ phân tích có lẽ là vấn đề lớn nhất duy nhất trong sự phát triển hiện tại của môn tâm lý học liên văn hóa. Khó khăn là nhiều nhà nghiên cứu trở thành nạn nhân với những gì Hofstede (1980) và những người khác đề cập đến như những sai lầm sinh thái. Giả sử vấn đề rõ rang là các quốc gia chi tiêu phần lớn tiền vào y tế nên dân cư khỏe mạnh nhất. Liệu có phải là các cá nhân chi tiêu phần lớn số tiền cho thuốc men có phải là những người khỏe mạnh nhất không? Hầu hết có lẽ không; thực sự ra thì có thể ở cấp độ cá nhân mối quan hệ ló lẽ ngược lại: hầu hết những người đau ốm nhất sẽ chi tiêu nhiều nhất. Bây giờ ta hãy xem xét một ví dụ xuất phát trực tiếp từ các khái niệm mà chúng ta đã thảo luận. Các quốc gia mà giá trị của họ thiên về khoảng cách quyền lực thấp bao gồm hầu hết các quốc gia giàu có nhất thế giới. Liệu có phải các cá nhân đối lập với hệ thống phân cấp có thể là người giàu? Chắc chắn là không: nhiều doanh nhân thành công nhất đã đạt được thành công thông qua việc sử dụng quan điểm phân cấp mạnh về quản lý. Các ngoại lệ đối với mô thức này chẳng hạn như Steve Jobs tại tập đoàn Apple Computer ở Hoa Kỳ, Richard Branson Virgin thuộc Vương quốc Anh và Ricardo Semler ở Brazil có thể đạt được vị thế anh hùng-dân gian như là các trường hợp ngoại lệ đối với quy tắc đó, nhưng danh tiếng của họ lại không làm chúng ta lóa mắt với tần số thành công lớn hơn nhiều so với các nhân vật tán thành các giá trị ít bình quân chủ nghĩa hơn.

... Nếu chúng ta quan tâm đến việc giải thích các khác biệt giữa các nền văn hóa quốc gia, thì chúng ta phải xử với mỗi văn hóa như là một đơn vị duy nhất, và chỉ dựa trên các chỉ số đặc trưng cho mỗi quốc gia như một tổng thể, chẳng hạn như các thước đo phản ánh các giá trị trung bình, sự giàu có, sức khỏe, khí hậu hay nhân khẩu học. Điều đó cho thấy rằng chúng ta chỉ nghiên cứu thành công loại hình này nếu chúng ta có sẵn dữ liệu từ vài chục quốc gia, vì chúng ta đã thực hiện các nghiên cứu đã được thảo luận trước đó trong chương này.

Nếu chúng ta đang quan tâm đến việc giải thích các tương đồng và khác biệt trong hành vi của các cá nhân, cho dù tất cả các cá nhân đó đều thuộc cùng một nhóm văn hóa hoặc lan truyền qua nhiều nhóm, thì cần phải tiến hành việc phân tích cấp độ cá nhân. Tuy nhiên, sẽ không thể tiến hành phân tích các các cấp độ cá nhân trong tất cả các nền văn hóa quốc gia, trừ khi người ta giải thích các khác biệt ở cấp độ văn hóa. Vì vậy, nếu chúng ta muốn nghiên cứu mối quan hệ giữa các giá trị của người làm công và tình trạng vắng mặt ở chỗ làm việc trong toàn bộ các nền văn hóa quốc gia, thì trước hết chúng ta có thể giải thích một thực tế là tình trạng nghỉ việc ở một số quốc gia là thường xuyên hơn so với một số quốc gia khác. Tình trạng nghỉ việc của mỗi cá nhân ở một số quốc gia thường xuyên hơn hơn so với những quốc gia khác. Vì vậy mỗi điểm số vắng mặt của mỗi cá nhân phải được thể hiện trong mối quan hệ với số điểm trung bình của quốc gia đó trước khi giả thuyết ấy có thể được kiểm tra. Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm tra mối liên hệ giữa các giá trị và tình trạng vắng mặt ở chỗ làm trên toàn bộ mẫu, và sau đó kiểm tra xem liệu độ vững chắc của mối liên hệ này thay đổi theo từng quốc gia hay không. Nếu mối quan hệ đó không thay đổi, thì nó sẽ cần phải xác định xem liệu điều đó có phải là do việc đo lường hay không (Bond, 1996).

Triandis et al. (1985) cho rằng để tránh nhầm lẫn giữa các phân tích được tiến hành ở cấp độ của các nền văn hóa và các phân tích dựa vào cấp độ cá nhân, chúng ta nên sử dụng những cặp khái niệm khác nhau nhưng liên quan với nhau. Đề xuất của nhóm tác giả này là chúng ta sử dụng thuật ngữ 'vị tha - allocentric' để mô tả một thành viên văn hóa ủng hộ các giá trị tập thể, nhưng vấn đề tạo ra sự phân biệt là ở chỗ cũng sẽ có một thiểu số người như vậy thuộc các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân. Tương tự như vậy nhóm tác giả Triandis đề nghị sử dụng thuật ngữ 'vị kỷ - idiocentric' để mô tả một thành viên văn hóa ủng hộ các giá trị cá nhân chủ nghĩa. Đề nghị này đem lại một thuật ngữ chính xác, nhưng các thuật ngữ ở cấp độ thích hợp lại chưa được các nhà nghiên cứu khác chấp nhận. [Smith và Bond 1998: 60-2]

Văn hoá và thuật ngữ liên quan

Văn hóa và
Dân tộc: Trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta, mọi người thường xử lý vấn đề văn hoá và dân tộc như những thuật ngữ tương đương. Mặc dù một số quốc gia trong thực tế chủ yếu là nơi sinh sống của những cư dân thuộc một nhóm văn hóa duy nhất, nhưng hầu hết các quốc gia đều thuộc về các quốc gia đa văn hóa. Dân tộc là một thuật ngữ chính trị đề cập đến một chính phủ và một tập hợp các cơ chế chính thức và hợp pháp được thành lập để điều chỉnh hành vi chính trị của người dân. Các quy định này thường bao gồm các khía cạnh của tập hợp dân cư như cách thức lựa chọn các nhà lãnh đạo, bởi những quy tắc mà các nhà lãnh đạo phải chi phối, các bộ luật ngân hàng và tiền tệ, các phương tiện để thành lập các nhóm quân sự, và các quy tắc thực thi hệ thống pháp luật. Các chính sách đối ngoại, chẳng hạn, được quốc gia chứ không phải là một nền văn hóa xác định. Nền văn hóa, hoặc các nền văn hóa, tồn tại trong ranh giới của một nhà nước dân tộc chắc chắn ảnh hưởng đến các quy định một quốc gia phát triển, nhưng thuật ngữ văn hóa lại không đồng nghĩa với dân tộc.

Dân tộc Nhật Bản thường được coi là đồng nhất vì vậy mà từ người Nhật thường được sử dụng vừa để chỉ dân tộc Nhật vừa để chỉ nền văn hóa Nhật. Mặc dù văn hóa Yamato của Nhật Bản văn hóa chiếm ưu thế áp đảo trong dân tộc Nhật Bản, nhưng ở đó vẫn các nền văn hóa khác. Các nhóm này bao gồm người Ainu, một nhóm người bản địa có nền văn hóa riêng, tôn giáo và ngôn ngữ riêng; chủ yếu là từ Okinawa, Hàn Quốc, và Trung Quốc; và những người nhập cư gần đây đang sinh sống ở đó. Hoa Kỳ là một ví dụ tuyệt vời về một dân tộc có nhiều nhóm văn hoá lớn sống trong ranh giới địa lý của nó; người Mỹ gốc Âu, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa, người Latinos, và các nền văn hóa châu Á khác nhau tất cả đều hiện diện tại Hoa Kỳ. Tất cả các thành viên của các nhóm văn hóa khác nhau đều là công dân của dân tộc Hoa Kỳ.

Văn hóa và Chủng tộc

Chủng tộc thường thuộc về các tương đồng dựa trên cơ sở di truyền hoặc dựa trên cơ sở sinh học của con người, có thể phân biệt, vừa duy nhất vừa có chức năng đánh dấu hoặc riêng biệt các nhóm người với nhau. Tuy nhiên, chủng tộc là một thuật ngữ ít mang tính sinh học so với tính chính trị hay xã hội. Mặc dù các thể loại chủng tộc không chính xác một hệ thống phân loại, nhưng người ta thường đồng ý rằng chủng tộc là một thuật ngữ mang tính bao trùm toàn bộ hơn so với thuật ngữ văn hóa hoặc dân tộc. Không phải toàn bộ người da trắng, chẳng hạn, là một bộ phận của cùng một nền văn hóa hoặc dân tộc. Nhiều quốc gia tây Âu chủ yếu bao gồm những người thuộc chủng tộc da trắng. Tương tự như vậy, trong số những người da trắng cũng có những khác biệt nhất định về văn hóa. Hãy xem xét những khác biệt văn hóa giữa các quốc gia chủ yếu là người da trắng của Vương quốc Anh, Na Uy, và Đức để hiểu sự khác biệt giữa văn hóa và chủng tộc.

Đôi khi chủng tộc và văn hóa dường như phải sát cánh bên nhau để tạo ra các khác biệt rõ ràng và quan trọng giữa các nhóm trong một xã hội lớn hơn; và đôi khi chủng tộc đóng một phần vai trò trong việc thành lập các nhóm văn hóa riêng biệt. Một ví dụ tuyệt vời về sự tương tác văn hóa và chủng tộc là trong lịch sử của người Mỹ gốc Phi tại Hoa Kỳ. Mặc dù chủng tộc có thể đã được sử dụng ngay từ đầu để tách người Mỹ gốc Phi khỏi người Mỹ da trắng, còn nền văn hóa Mỹ gốc Phi lại cung cấp một nguồn bản sắc mạnh mẽ và độc đáo cho các thành viên của chủng tộc da đen ở Hoa Kỳ. Giờ đây nhiều học giả thừa nhận rằng nền văn hóa Mỹ gốc Phi, với gốc rễ của nó trong các nền văn hóa châu Phi truyền thống, là riêng biệt và độc đáo và đã phát triển một tập hợp các thức văn hóa riêng. Mặc dù một người có gốc Nigeria và một người Mỹ gốc Phi đều từ cùng một chủng tộc, nhưng họ lại xuất phát từ hai nền văn hóa khác biệt. Tương tự như vậy, không tất cả những người Mỹ da đen đều là một phần của nền văn hóa người Mỹ gốc Phi, vì nhiều người có một quá trình xác lập bản sắc văn hóa chủ yếu với các nền văn hóa trong vùng biển Caribbean, Nam Mỹ, hoặc châu Phi.

Tuy nhiên chủng tộc có thể tạo thành cơ sở cho các hoạt động truyền thông có hại có thể là một trở ngại chủ yếu cho quá trình giao tiếp liên văn hóa. Việc phân loại con người theo chủng tộc ở Hoa Kỳ, chẳng hạn, đã trở thành cơ sở cho sự phân biệt đối xử và đàn áp có hệ thống đối với người da màu.

Văn hóa Tộc người

Nhóm tộc người là một thuật ngữ khác thường được sử dụng thay thế cho thuật ngữ văn hóa. Tộc người thực sự là thuật ngữ được dùng để chỉ một loạt các nhóm người có thể có chung một ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử, tôn giáo, quá trình đồng nhất với một hệ thống văn hóa hoặc nhà nước dân tộc chung. Bản chất của mối quan hệ của một nhóm tộc người với nền văn hóa của nó sẽ thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào một số đặc trưng quan trọng khác. Ví dụ, nhiều người ở Hoa Kỳ vẫn duy trì lòng trung thành với nhóm tộc người của tổ tiên họ, những người di cư từ các quốc gia và các nền văn hóa khác. Rất nhiều người vẫn nói rằng họ là người Đức, Hy Lạp hay Armenian khi tính tộc người được chỉ định bởi cái nhãn gắn liền với tổ tiên và có lẽ với một số phong tục tập quán và thực hành có nguồn gốc từ nhóm tộc người được đặt tên. Thực tế, nhiều người trong số các cá nhân này không phải thành viên tiêu biểu của nền văn hóa Mỹ gốc Âu. Trong các trường hợp khác, việc đồng nhất tính tộc thuộc có thể hoàn toàn trùng khớp với nền văn hóa. Nam Tư cũ, chẳng hạn, có ít nhất ba nhóm tộc người chủ yếu - Slovenia, Croatia, Serbia - mỗi tộc người đều có ngôn ngữ riêng và nền văn hóa khác biệt, bị buộc phải gắn với một nhà nước dân tộc sau Chiến tranh Thế giới II. Vì các thành viên của một nhóm tộc người có thể một phần của nhiều nền văn hóa và / hoặc quốc gia khác nhau. Ví dụ, người Do Thái có chung một quá trình đồng nhất hóa tộc người, mặc dù họ thuộc về những nền văn hóa rất khác nhau và là công dân của nhiều quốc gia [nation] khác nhau.

Văn hóa, tiểu văn hóa, và Đồng văn hóa

Tiểu văn hóa cũng là một thuật ngữ đôi khi được dùng để chỉ các nhóm dân tộc thiểu số và chủng tộc có chung một nhà nước-dân tộc phổ biến với các nền văn hóa khác và một số khía cạnh của nền văn hóa lớn hơn. Thông thường, ví dụ, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Ả Rập, người Mỹ gốc Á, người Mỹ bản địa, Latinos, các nhóm khác được gọi là các tiểu văn hóa tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên thuật ngữ này, có những nghĩa rộng mà chúng ta thấy có vấn đề, bởi vì nó cho thấy sự lệ thuộc vào nền văn hóa Mỹ gốc Âu lớn hơn.

Tương tự như vậy, thuật ngữ đồng văn hóa, thỉnh thoảng cũng được sử dụng nhằm nỗ lực tránh hàm ý về một mối quan hệ thứ bậc giữa nền văn hóa Mỹ gốc Âu các nhóm văn hóa quan trọng khác hình thành nên thể khảm văn hóa Hoa Kỳ. Đối với chúng ta thuật ngữ này cũng vấn đề. Đồng văn hóa cho thấy có một tổng thể văn hóa duy nhất tại Hoa Kỳ, hoàn toàn làm nổi bật quá mức nhóm văn hóa Mỹ gốc Âu. Trong một thế giới ngày càng thu hẹp và phụ thuộc lẫn nhau, hầu hết các nền văn hóa phải cùng tồn tại bên cạnh các nền văn hóa khác. Chúng tôi muốn xem người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Ả Rập, người Mỹ gốc Á, người Mỹ bản địa, người Latinos, và các nhóm người tương tự các nền văn hóa thực sự của riêng họ. Do đó thuật ngữ đồng văn hóa làm cho chúng ta trở nên dư thừa. [Lustig và Koester 1999: 33-36]

Văn hóa và bản sắc

Văn hóa không
đồng nhất với bản sắc. Các bản sắc bao gồm các câu trả lời của mọi người cho câu hỏi: Tôi thuộc về đâu? Chúng có cơ sở trên những hình ảnh và khuôn mẫu chung và những cảm xúc liên kết với các lớp quan niệm bên ngoài, chứ không phải với các giá trị. Các quần thể cư dân tranh đấu với nhau dựa trên cơ sở những bản sắc được “cảm nhận” khác nhau của họ có thể lại có chung các giá trị như nhau. Điển hình là các khu vực ngôn ngữ học ở Bỉ, các tôn giáo ở Bắc Ireland, và các nhóm bộ lạc ở châu Phi. Một bản sắc chung cần một cái chung khác: Ở nhà, tôi cảm thấy Hà Lan lại rất khác với những người châu Âu khác, chẳng hạn như người Bỉ và người Đức; ở châu Á hay Hoa Kỳ, tất cả chúng ta đều cảm thấy giống như người châu Âu. [Hofstede 2001: 10]

Đối với một nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc, không có bất cứ một chiếc hộp nào về bất kỳ một hình thức chính phủ nào được gọi là "Cablinasian" [da trắng, da đen, da đỏ, da vàng]. Nhưng, tuy nhiên, ít nhất cũng có một người Mỹ có thể kiểm tra chỗ đó. Tên của anh ấy là Tiger Woods. Woods, tay gôn trở thành hiện tượng, trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng chính anh đã phát minh ra từ đó khi còn là một đứa trẻ để mô tả cấu chủng tộc của mình: da trắng, da đen, da đỏda vàng.

Trong việc xác định tổ tiên của mình, Woods đã mở rộng cuộc thảo luận về chủng tộc ở người Mỹ, bằng cách làm nổi bật các sắc thái vô tận của màu xám bắc nhịp cầu nối liền sự phân chia giả tạo giữa "đen" và "trắng". Đây là một bước đi táo bạo. Nhiều chức năng chính phủ - điều tra dân số, hành động khẳng định, các chương trình giảm nghèo, và bản vẽ của các khu vực bàu cử Quốc hội - đều dựa trên số lượng của bốn nhóm chủng tộc được công nhận chính thức: Mỹ Da đỏ hoặc Alaska bản địa, châu Á Thái Bình Dương hoặc Islander, đen và trắng. Những người "Tây Ban Nha" có thể kiểm tra chiếc hộp để biết được xứ sở gốc của họ.

... Có lẽ các vấn đề quan trọng hơn, sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa - và lịch sử bất công chủng tộc của quốc gia - đã được đặt cơ sở trên những phân biệt chủng tộc đã hình thành từ lâu đời. Nhưng đó chính cái cách mà Woods đã thất bại trong việc làm cho phù hợp với những ý tưởng đã được thiết lập từ lâu đời về chủng tộc làm cho anh trở nên thú vị đến như vậy. [Barton 1997; được trích dẫn bởi Lustig và Koester 1999: 139]
______________________________________________

Nguồn: Spencer-Oatey, H. 2012. What is culture? A compilation of quotations. GlobalPAD Core Concepts.

Tác giả: Helen Spencer-Oatey, giáo sư đại học University of Warwick, Vương quốc Anh, giám đốc Trung tâm Ngôn ngữ học ứng dụng, đại học University of Warwick. Được đào tạo như một nhà tâm lý học và một nhà ngôn ngữ học, sau một thời gian ngắn làm việc tại doanh nghiệp, Helen ra nước ngoài để dạy tiếng Anh. Công việc giảng dạy đầu tiên của là ở Hồng Kông, và đó là nơi lần đầu tiên Helen gặp phải một số vấn đề ngôn ngữ có thể được sử dụng trong các nền văn hóa khác nhau. Càng ngày Helen càng quan tâm đến lĩnh vực này, một vài năm sau đó, bà đến làm việc tại Đại học Giao thông Thượng Hải và dạy một khóa học về ngôn ngữ và văn hóa. Helen bắt đầu thu thập các kinh nghiệm ở Trung Quốc và đã viết cuốn sách đầu tiên về phong tục tập quán và ngôn ngữ tương tác xã hội. Khi trở về Anh vào năm 1988, Helen làm nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Đại học Lancaster về quan niệm của người Trung Quốc và người Anh trong mối quan hệ giữa giáo viên hướng dẫn và thực tập sinh sau đại học. Sau đó bà trở thành giảng viên của Đại học Bedfordshire. Helen bắt đầu một dự án hợp tác nghiên cứu với Trường Đại học Kinh tế Quốc tế tại Bắc Kinh về các mối quan hệ kinh doanh Trung Quốc-Anh, và điều này đã làm nảy sinh một số vấn đề giao tiếp hấp dẫn, kích thích sự quan tâm của bà về lĩnh vực này hơn nữa. Năm 2002, Helen đã được bổ nhiệm (thay mặt cho Vương quốc Anh) quản lý Chương trình eChina-UK Programme, và bắt đầu đặt trụ sở tại Đại học Cambridge. Bà làm việc cho Đại học Warwick t năm 2007, trở thành giám đốc của Trung tâm Ngôn ngữ ng dụng của Đại học Warwick.

Helen đã được công bố nhiều công trình về lĩnh vực truyền thông liên văn hóa. Các cuốn sách liên quan bao gồm Tương tác liên văn hoá: Một cách tiếp cận đa ngành (đồng tác giả với Peter Franklin, Palgrave, 2009), Diễn ngôn Văn hoá: Văn hóa, Truyền thông và Lịch sự (Continuum, 2000 và 2008), Sổ tay Giao tiếp Liên văn hóa (đồng biên tập với Helga Kotthoff, Mouton de Gruyter, 2007), và Các sáng kiến học tập bằng điện ​​ở Trung Quốc: Sư phạm, chính sách và Văn hóa (Hồng Kông University Press, 2007). Bà còn công bố hang loạt bài viết trong các tạp chí, bao gồm cả Tạp chí Pragmatics, Tạp chí Intercultural Studies, Multilingua, tạp chí Truyền thông Châu Á Thái Bình Dương và Tạp chí Tâm lý học Liên văn hóa. Mới đây, đã tham gia nghiên cứu giảng dạy các kỹ năng liên văn hóa trong các trường học ở một loạt quốc gia châu Âu.

References

Adler, N. (1997) International Dimensions of Organizational Behavior. 3rd ed. Ohio: South-Western College Publishing.
Apte, M. (1994) Language in sociocultural context. In: R. E. Asher (Ed.), The Encyclopedia of Language and Linguistics. Vol.4 (pp. 2000-2010). Oxford: Pergamon Press.
Avruch, K. (1998) Culture and Conflict Resolution. Washington DC: United States Institute of Peace Press.
Ferraro, G. (1998) The Cultural Dimension of International Business. 3rd Edition. New Jersey: Prentice Hall.
Hofstede, G. (1991/1994) Cultures and Organizations: Software of the Mind. London: HarperCollinsBusiness.
Hofstede, G. (2001) Culture's Consequences. Comparing Values, Behaviors, Institutions, and Organizations across Nations. 2nd ed. London: Sage.
Lustig, M. W., & Koester, J. (1999) Intercultural Competence. Interpersonal Communication across Cultures. 3rd ed. New York: Longman.
Matsumoto, D. (1996) Culture and Psychology. Pacific Grove, CA: Brooks/Cole.
Saville-Troike, M. (1997) The ethnographic analysis of communicative events. In: N. Coupland and A. Jaworski (eds) Sociolinguistics. A Reader and Coursebook. pp.126–144. Basingstoke: Macmillan.
Smith, P. B., & Bond, M. H. (1998) Social Psychology across Cultures. London: Prentice Hall Europe.
Schein, E. (1984) Coming to a new awareness of organizational culture. Sloan Management Review 25(2): 3–16.
Schein, E. (1990) Organizational culture. American Psychologist 45(2): 109–119.
Spencer-Oatey, H. (2008) Culturally Speaking. Culture, Communication and Politeness Theory. 2nd edition. London: Continuum.
Triandis, H. C. (1994) Culture and Social Behavior. New York: McGraw Hill.
Trompenaars, F., & Hampden-Turner, C. (1997) Riding the Waves of Culture. Understanding Cultural Diversity in Business. 2nd ed. London: Nicholas Brealey.
Žegarac, V. (2007). A cognitive pragmatic perspective on communication and culture. In H. Kotthoff & H. Spencer-Oatey (Eds.), Handbook of Intercultural Communication. Berlin: Walter de Gruyter, 31–53.