Powered By Blogger

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2023

Nguồn gốc lịch sử và Di tồn văn hóa của người Đản (I)

Phiên Bỉnh Chiêu

Người dịch: Hà Hữu Nga

Kể từ thời nhà Hán và nhà Tấn, ở Ba Thục, Giang Hoài, Lĩnh Nam, cho đến Khuê Chiết và các khu vực liền kề khác của đất nước, đều có các hoạt động của người Đản (Diên). Lấy thuyền làm nhà, dựa vào nước để mưu sinh là một nét đặc trưng trong cuộc sống của người Đản. Bài viết này đưa ra một đánh giá chi tiết và nghiên cứu văn bản về các lý thuyết học thuật khác nhau liên quan đến nguồn gốc của người Đản, người ta tin rằng người Đản là một bộ phận hậu duệ của người Bách Việt cổ đại, và họ bảo lưu tục xăm mình của người Việt cổ đại, quen sông nước thạo thuyền bè, thích thủy sản, thờ rắn, v.v. Sau đó, người Đản dần dần dung hợp thành Hán tộc.

Người Đản (Diên), thường được gọi là Bọ nước, tung tích hoạt động của họ thấy ở các khu vực Đông Nam và Nam Trung Quốc. Sử sách Trung Quốc chép người Diên có ở Xuyên [Tứ Xuyên], Ngạc [Hồ Bắc], Tương [Hồ Nam], Kiềm [Quý Châu] và những nơi khác nữa; vấn đề là tuy trùng tên nhưng có phải họ đều thuộc cùng một cộng đồng không? Người Đản là một dân tộc thiểu số trong lịch sử Trung Quốc, họ còn lưu giữ nhiều đặc điểm văn hóa, tục thờ rắn vẫn được truyền bá rộng rãi trong dân gian, liệu đó có phải là di tích văn hóa của người Đản hay không? Bài viết chỉ xin trao đổi một số ý kiến ​​về vấn đề này.

1. Địa bàn phân bố của người Đản

Người Đản trong lịch sử được gọi là người Diên, và chữ Đản lần đầu tiên xuất hiện trong cụm từ  胡夷蛋蠻” Hồ Di Đản Man, sách 嶺南節度饗軍堂記 Lĩnh Nam Tiết độ Hưởng Quân đường kí của Liễu Tông Nguyên vào thời nhà Đường. Đây là ghi chép sớm nhất về tên gọi người Đản. Tại sao lại gọi là Đản, có người cho rằng Diên [con sên] là từ thông tục của Đản, có người giải thích thuyền của người Đản hình quả trứng nên gọi là Đản (quả trứng), lại có ý kiến cho rằng người Đản lấy trứng thay cho thuế phú, còn có quan điểm coi người Đản có nguồn gốc từ người [Đãn] cổ đại. Lý do tại sao thì vẫn cần phải được nghiên cứu thêm. Vì người Đản sống trên thuyền, kể từ thời nhà Đường và nhà Tống, nên trong sử sách đã xuất hiện các tên gọi khác nhau như 遊艇子 [Du đĩnh tử] “Mọi thuyền”, 白水郎 [Bạch thủy lang] Bọ nước và 九姓漁 [Cửu tính ngư hộ] “Ngư hộ chín họ” [ Trần Tiền Lâm, Lý, Viên, Tôn, Diệp, Hà, và Hứa].

Trong sử sách Trung Quốc, người Diên xuất hiện sớm hơn người Đản. Họ có địa bàn phân bố rộng, xuất hiện ở các tỉnh Tây Nam, Trung Nam và Đông Nam Bộ. Người Diên Ba Thục thấy trong “Hoa Dương quốc chí - Ba chí” của Thường Cừ đời Tấn: “Vùng đất ấy kéo dài đến Ngư Phúc ở phía đông, và đến Phần Đạo ở phía bắc tiếp giáp Hán Trung, đến tận Kiềm Phù ở cực Nam. Nó thuộc về các rợ Bốc, Trách, Trực, Cộng, Nỗ, 責直 Trách Trực, Di, Diên.

Theo 南齊書•高逸•明僧傳 Nam Tề thư · Cao Dật · Minh Tăng truyện, Huệ, cháu trai của Tăng Thiệu, viết “Năm Kiến Chi nguyên niên, [Thiệu] làm Thứ sử Ba Thục, và ông đã vỗ về Man Diên”. “Nam thư - Châu Quận chí”, “Lương thư - Trương Tề truyện”, “Trần thư - Từ Thế Phổ truyện”, “Chu thư - Dị Vực truyện”, “Chu thư - Lục Đằng truyện”, “Bắc sử - Lục Đằng truyện” và các sách khác đều có ghi chép về hoạt động của Man Diên. “Tùy thư - Dương Tố truyện” gọi khu vực Ba Thục của người Diên là “Ba Diên”. “Man thư” viết: “Rợ Diên sống trong khe núi, còn người Ba Hạ sống nơi thành thị, đối với Trung Nguyên thì phong tục, nghi lễ và âm nhạc bất đồng.

Các khu vực Ba Thục cùng Ngạc [Hồ Bắc], Tương [Hồ Nam], Kiềm [Quý Châu] ngay từ thời Tam Quốc đã được ghi nhận là có rợ Diên. Theo “Tam Quốc chí - Hoàng Cái truyện”, khi Hoàng Cái làm thứ sử Vũ Lăng của nước Ngô, thì bọn tù trưởng các rợ Vũ Di gồm Ba, Triết, Do, Đản đều quy phục. Đản [] chính là rợ Diên vậy. “Đường Ngữ Lâm”: “Gia Cát Vũ hầu cai quản Thục, khắc chế Man Diên xâm phạm địa giới của người Hán.” “Bắc sử - Man truyện” chép: “Thiên Hòa nguyên niên (566), lệnh cho Khai phủ Lục Đằng đốc thúc bọn Vương Lượng, Tư Mã Duệ thảo phạt... Chỉ có một con đường nhỏ dẫn lên theo bậc thang, mà Man dân làm thành dốc đứng, không dành cho binh tướng.” “Tùy thư - Địa lý chí”: “Người quận Trường Sa xen lẫn cả rợ Di Diên, gọi là Mạc Diêu.” “Thái Bình Hoàn Vũ kí - Kiềm Châu, mục huyện Bành Thủy chép: “Người ta nói rằng man Vũ Lăng đều là hậu duệ của Bàn Hồ, mà người xưa cho là nơi định cư của rợ Diên. Văn nhân thời Minh là Tào Học Linh trong sách “Thục trung Danh thắng kí” mục Bành Thủy, dẫn “Cựu kinh” chép: “Vùng đất giáp Kinh Sở [Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Tây, Quý Châu] đẹp như Ba Thục, Năm sông (Ngũ Khê: Hùng Khê, Mãn Khê, Dậu Khê, Vũ Khê, Thần Khê vì vậy Hoài Hóa từ cổ đã được gọi là Ngũ Khê chi địa) ôm ấp, các rợ Man Diên quần tụ. Quang Tự, Tú Sơn huyện chí viết: Vùng khê động Tú Sơn khuất khúc sâu hiểm là nơi các rợ Nô, Nhương, Di, Diên cư trú từ xa xưa. Từ đó có thể thấy, dưới thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, rợ Diên đã sinh sôi khu vực Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Quý Châu, trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, hoạt động của họ vẫn tiếp tục và quyền lực của họ vẫn hưng thịnh không ngừng.

Rợ Đản hoạt động ở khu vực Lĩnh Nam kể từ thời Tùy Đường đã liên tục được ghi lại. “Tùy thư - Nam man truyện” chép: 南蠻雜類,與華人錯居,曰蜒,曰獽,曰俚,曰獠,曰㐌,俱無君長,隨山洞而居,古先所謂百越是也。其俗斷髮文身,好相攻討,浸以微弱,稍屬於中國,皆列為郡縣,同之齊人,不復詳載。大業中,南荒朝貢者十餘國,其事迹多湮滅而無聞。今所存錄,四國而已[Tùy thư, Quyển bát thập nhị Liệt truyện Đệ tứ thập thất Nam Man] Nam Man tạp loại, dữ Hoa nhân thác cư, viết Diên, viết Nhương, viết Lí, viết Lão, viết Đà, câu vô quân trưởng, tùy san đỗng nhi cư, cổ tiên sở vị Bách Việt thị dã. Kì tục đoạn phát văn thân, hảo tương công thảo, tẩm dĩ vi nhược, sảo chúc ư Trung Quốc, giai liệt vi quận huyện, đồng chi Tề nhân, bất phục tường tái. Đại Nghiệp trung, nam hoang triều cống giả thập dư quốc, kì sự tích đa nhân diệt nhi vô văn. Kim sở tồn lục, tứ quốc nhi dĩ. Các rợ phương Nam là loài hỗn tạp, sống xem lẫn với người Hoa, được gọi là Diên, Nhương, Lí, Lão, Đà, tất cả đều không có kẻ quân trưởng, chúng sống trong lũng động, từ cổ xưa vẫn gọi là Bách Việt vậy. Các rợ đó có tục cắt tóc xăm mình, thích đánh lẫn nhau, xem ra hèn yếu, có chút lệ thuộc vào Trung Quốc, đều được chia thành quận huyện, chẳng khác gì nhau, không cần lặp lại tình tiết vậy. Trong thời Đại Nghiệp, có hơn mười nước Nam man hoang mọn kia đến triều cống, những sự tích đó đa phần mai một, không còn tung tích. Cho đến nay những ghi chép còn lại chỉ có bốn nước mà thôi [Tùy thư ghi lại được Lâm Ấp, Xích Thổ, Chân Lạp và Bà Lợi-HHN].

Sách “Xương Lê toàn tập - Thanh Hà Quận công Phòng công mộ kiệt minh”: Bài minh trên mộ Thanh Hà Quận công ghi: “Cai quản 13 châu vùng núi non, bọn Man rừng Diên động, tuân thủ những điều cốt tử”. Cố Viêm Vũ “Thiên hạ Quận quốc Lợi bệnh thư” quyển 104 dẫn “Tấn thư” Đào Hoàng dâng sớ nói: “Thời Tấn, Quảng Châu… trong vòng 60 dặm, có tới hơn 5 vạn hộ tòng phục, đều là các rợ Man, Diên tạp cư.” [Nguyên văn của Phiên Bỉnh Chiêu là: 顧炎武《天下郡國利病書》卷104引《晉書》陶橫上疏雲:“晉時,廣州…週圍六十餘裡,賓服者五萬餘,皆蠻、蜒雜居.Cố Viêm Vũ “Thiên hạ Quận quốc Lợi bệnh thư” quyển 104 dẫn “Tấn thư” Đào Hoàng thượng sơ vân: “Tấn thì, Quảng Châu… chu vi lục thập dư lí, tân phục giả ngũ vạn dư hộ, giai Man, Diên tạp cư.”

[Vì không có《天下郡國利病書》卷104 Thiên hạ Quận quốc Lợi bệnh thư” quyển 104 trong tay nên đành chịu, không biết là Cố Viêm Vũ và tác giả họ Phiên ai sai ai đúng, còn trong Tấn thư, quyển 57, Mục Đào Hoàng thì viết như sau: 既平,普減州郡兵,璜上言曰:「交土荒裔,斗一方,或重譯而言,連帶山海。又南郡去州海行千有餘里,外距林邑纔七百里。夷帥范熊世為逋寇,自稱為王,數攻百姓。且連接扶南,種類猥多,朋黨相倚,負險不賓。往隸時,數作寇逆,破郡縣,殺害長吏。臣以駑,昔為故國所採,偏戍在南,十有餘年。雖前後征討,翦其魁桀,深山僻穴,尚有逋竄。又臣所統之卒本七千餘人,南土溫濕,多有氣毒,加累年征討,死亡減耗,其見在者二千四百二十人。今四海混同,無思不服,當卷甲清刃,禮樂是務。而此州之人,識義者寡,厭其安樂,好為禍亂。又廣州南岸,周旋六千餘里,不賓屬者乃五萬餘戶,及桂林不羈之輩,復當萬。至於服從官役,纔五千餘家。二州脣齒,唯兵是鎮。又寧州興古接據上流,去交址郡千六百里,水陸並通,互相維衛。州兵未宜約損,以示單虛。夫風塵之變,出於非常。臣亡國之餘,議不足採,聖恩廣厚,猥垂飾擢,蠲其罪釁,改授方任,去辱即寵,拭目更視,誓念投命,以報所受,臨履所見,謹冒瞽陳。」又以「合浦郡土地磽确,無有田農,百姓唯以採珠為業,商賈去來,以珠貿米。而時珠禁甚嚴,慮百姓私散好珠,禁來去,人以飢困。又所調猥多,限每不充。今請上珠三分輸二,次者輸一,粗者蠲除。自十月訖二月,非採上珠之時,聽商旅往來如舊」Phiên: Ngô kí bình, phổ giảm châu quận binh, Hoàng thượng ngôn viết: “Giao thổ hoang duệ, đẩu tuyệt nhất phương, hoặc trùng dịch nhi ngôn, liên đới sơn hải. Hựu Nam Quận khứ Châu Hải hành thiên hữu dư lí, ngoại cự Lâm Ấp tài thất bách lí. Di soái Phạm Hùng thế vi bô khấu, tự xưng vi vương, sổ công bách tính. Thả liên tiếp Phù Nam, chủng loại ổi đa, bằng đảng tương ỷ, phụ hiểm bất tân. Vãng lệ Ngô thì, sổ tác khấu nghịch, công phá quận huyện, sát hại trưởng lại. Thần dĩ uông nô, tích vi cố quốc sở thải, thiên thú tại nam, thập hữu dư niên. Tuy tiền hậu chinh thảo, tiễn kì khôi kiệt, thâm sơn tích huyệt, thượng hữu bô thoán. Hựu thần sở thống chi tốt bản thất thiên dư nhân, Nam thổ ôn thấp, đa hữu khí độc, gia luy niên chinh thảo, tử vong giảm háo, kì kiến tại giả nhị thiên tứ bách nhị thập nhân. Kim tứ hải hỗn đồng, vô tư bất phục, đương quyển giáp thanh nhận, lễ nhạc thị vụ. Nhi thử châu chi nhân, thức nghĩa giả quả, yếm kì an nhạc, hảo vi họa loạn. Hựu Quảng Châu nam ngạn, chu toàn lục thiên dư lí, bất tân chúc giả nãi ngũ vạn dư hộ, cập Quế Lâm bất ki chi bối, phục đương vạn hộ. Chí ư phục tòng quan dịch, tài ngũ thiên dư gia. Nhị châu thần xỉ, duy binh thị trấn. Hựu Ninh Châu, Hưng Cổ tiếp cứ thượng lưu, khứ Giao Chỉ quận thiên lục bách lí, thủy lục tịnh thông, hỗ tương duy vệ. Châu binh vị nghi ước tổn, dĩ thị đan hư. Phu phong trần chi biến, xuất ư phi thường. Thần vong quốc chi dư, nghị bất túc thải, thánh ân quảng hậu, ổi thùy sức trạc, quyên kì tội hấn, cải thụ phương nhậm, khứ nhục tức sủng, thức mục canh thị, thệ niệm đầu mệnh, dĩ báo sở thụ, lâm lí sở kiến, cẩn mạo cổ trần. Hựu dĩ Hợp Phố quận thổ địa khao xác, vô hữu điền nông, bách tính duy dĩ thải châu vi nghiệp, thương cổ khứ lai, dĩ châu mậu mễ. Nhi Ngô thì châu cấm thậm nghiêm, lự bách tính tư tán hảo châu, cấm tuyệt lai khứ,  nhân dĩ cơ khốn. Hựu sở điều ổi đa, hạn mỗi bất sung. Kim thỉnh thượng châu tam phân thâu nhị, thứ giả thâu nhất, thô giả quyên trừ. Tự thập nguyệt cật nhị nguyệt, phi thải thượng châu chi thì, thính thương lữ vãng lai như cựu. Dịch: Nước Ngô diệt, khắp các châu quận binh bị đều giảm, Hoàng dâng sớ viết: “Vạt đất Giao kia, một phương hoang hiểm, ngôn ngữ bất đồng, phải nhiều lần dịch, núi biển dằng dịt. Vả, Nam Quận - Chu Hải đã hơn ngàn dặm, mà tới Lâm Ấp chỉ bảy trăm dặm. Di soái Phạm Hùng, thảo khấu ngoài vòng, tự ý xưng vương, đánh mắng trăm họ. Lại liền Phù Nam, chủng loại hỗn tạp, bầy lũ ỷ dựa, cậy hiểm bất tuân. Quen thói thời Ngô, toan tính phản nghịch, công phá quận huyện, sát hại trưởng lại. Thần vì hèn yếu, may nhờ nước cũ chọn dùng, thiên thú phương Nam, mười năm có lẻ. Dẫu sau trước chỉ toan đánh dẹp, diệt lũ hung tợn, nhưng non thẳm hang sâu, chúng còn lẩn lút. Vả, đám quân binh thần từng quản lĩnh, hơn bảy ngàn tên, Nam thổ ẩm thấp, ngút ngàn chướng độc, lại luôn năm chinh thảo, bệnh tật tử vong, giờ chỉ còn hai ngàn bốn trăm hai mươi đứa chẵn. Nay bốn biển hòa chung, nơi nơi thần phục, hợp lúc cuốn giáp, tra gươm, chăm lo lễ nhạc. Hiếm thay thức giả bản châu! Dân ghét cảnh an vui, ham gây họa loạn. Lại nam ngạn Quảng Châu, xa ngoài sáu ngàn dặm, hơn năm vạn nhà chẳng chịu phục tùng, cùng lũ bất kham Quế Lâm thêm vạn nhà nữa. Thế mà chịu gánh việc quan cũng chỉ đến hơn năm ngàn nhà. Hai châu môi hở răng lạnh chỉ biết trông nhờ quân binh. Vả, Ninh Châu, Hưng Cổ tiếp giữ thượng lưu, xa ngoài Giao Chỉ ngàn sáu trăm dặm, thủy bộ đều thông, cùng nhau gìn giữ. Châu binh chưa nên tiết giảm, kẻo mà thưa vắng. Ôi, gió bụi biến thiên, sinh xuất phi thường. Thần, phận thừa vong quốc, nói bàn chẳng trọn, thánh ân sâu dày, lỗ mỗ tâu bày, những mong xá tội, cải đổi thụ chức, từ bỏ nhơ nhuốc, tiếp nhận ân sủng, lau mắt để coi, nguyện dâng sinh mệnh, lấy báo ân làm thụ hưởng, lấy phẩm hạnh mà nhìn, cẩn trọng dâng lời ngu muội. Lại do, Hợp Phố đất đai cằn cỗi, đâu ruộng để cày, nên trăm họ phải lấy mò châu làm nghiệp, khách buôn qua lại, đổi ngọc kiếm cơm. Như thời Ngô cấm ngặt mò châu, sợ trăm họ tư tán ngọc quý, cấm tuyệt giao thương, người người khốn khó. Vả, hạn chồng lên hạn, chẳng thể lấp đầy. Nay xin, ngọc tốt ba phần thu hai, hạng trung thu một, hạng thô miễn trừ. Từ tháng Mười đến tháng Hai, ấy vụ khôn mò ngọc tốt, kệ khách buôn như cũ vãng lai. - HHN]

Sách “Lĩnh ngoại Đại đáp”  của Chu Khứ Phi đời Tống, “Xuyết canh lục” của Đào Tông Nghi nhà Minh, “Cổ kim Đồ thư Tập thành” của Trần Mộng Lôi nhà Thanh, “Thiên hạ Quận quốc Lợi bệnh thư” của Cố Viêm Vũ cuối Minh-đầu Thanh, “Viêm kích Kỉ văn” của Điền Nhữ Thành nhà Minh, “Xích nhã” của Quảng Lộ nhà Minh, cho đến “Quảng Đông Tân ngữ” của Khuất Đại Quân nhà Thanh, “Việt thuật” của Ngại Tự nhà Thanh, “Sơn Đồng Khê Tiêm chí” của Lục Thứ Vân nhà Thanh, “Việt Phong” của Lý Điều Nguyên nhà Thanh, “Lĩnh Nam Tạp kí” của Ngô [Hạo?] Chấn Phương nhà Thanh, và các địa phương chí đều có ghi lại các hoạt động của người Đản, người Diên ở vùng Lưỡng Quảng. Các hoạt động này chủ yếu diễn ra khu vực bờ biển Lĩnh Nam và các khu vực đông tây Lưỡng Giang đến vùng ven biển hai bên sông Châu Giang.

Lịch sử người Đản Phúc Kiến có thể truy nguyên đến triều đại Ngô Tôn thời Tam Quốc. Theo “Tống thư- Nguyên Phong lệnh”. Vào năm Thái Khang thứ ba (282 SCN), Tấn Vũ đế cắt đặt chức Giáo úy Điển thuyền tỉnh Kiến An. Sách “Nguyên Hòa quận huyện Đồ chí” của Lý Cát Phủ nhà Đường viết: “Chính nhà Ngô kia đã lập nên 曲部都尉 Khúc bộ Đô úy chuyên quản bọn thuyền nhân giang hồ đó”. Giáo sư Hàn Chấn Hoa cho rằng 曲部 “Khúc bộ” có thể là chữ 典那 “Điển na” viết sai. 舟腸 Chu Tràng là loại thuyền dài của người Việt, và nó thường được kết hợp với một loại thuyền dài khác hình chim hạc [鴿cáp trành], được gọi chung là 舟鳥 “chu điểu trành”. Sách Khang Hi Tự điển chú trành” trong “Việt Tuyệt thư” người Việt gọi thuyền là 須慮 tu lự. trường tức là đăng vậy. Sách “Tập vận” [của Đinh Độ và đồng nghiệp đời Tống Nhân Tông-HHN] đã phiên thiết âm ô. nga trành là thuyền có dáng dài vậy”. Sách “Chánh tự thông” [của Trương Tự Liệt thời Minh Sùng Trinh] chú: 船小而長者曰 “thuyền tiểu nhi trường giả viết chu” [chu tên một loài chim trong sách cổ, Thuyết văn gọi là khuất cưu, một loại chim nước mà người Quảng Đông gọi là [gwat6] hạc-HHN]” – thuyền nhỏ mà dài thì gọi là chu. [Theo “Việt tuyệt thư” thì người Việt thường dùng loại thuyền 䑠鸼 liễu chu. Sách “Thái bình hoàn vũ kí” viết: 船頭尾尖高,當中平闊,衝波逐浪,都無畏懼,名曰䑠鸼 Thuyền đầu vĩ tiêm cao, đương trung bình khoát, xung ba trục lãng, đô vô úy cụ, danh viết liễu chu thuyền.” Đầu ngẩng đuôi vút, lòng thuyền phẳng rộng, cưỡi sóng lướt bão, thảy không nao núng, đúng thật liễu chu thuyền. - HHN]. Hạc giang 鶴肛 thuyền hình đuôi hạc là loại thuyền thủy chiến của người Việt. Sách “Lương thư - Vương Tăng Biện truyện” ghi: 及王師次南州,賊帥侯子鑑等,率步騎萬餘人於岸挑戰,又以鴿千艘,並載士,兩邊悉八十掉,掉手皆越人,去來趣襲,捷過風電“Cập vương sư thứ Nam Châu, tặc soái Hầu Tử Giám đẳng, suất bộ kị vạn dư nhân ư ngạn thiêu chiến, hựu dĩ cáp trành thiên tao, tịnh tái sĩ, lưỡng biên tất bát thập điệu, điệu thủ giai Việt nhân, khứ lai thú tập, tiệp quá phong điện.” “Kịp lúc đoàn quân Hoàng đế đến Nam Châu, tặc soái Hầu Tử Giám, dẫn hơn vạn lính bộ binh và kị binh đến bờ sông khiêu chiến, lại đem ngàn chiến thuyền [鴿cáp trành] chở quân binh, hai bên có đến 80 mái chèo, các tay trèo đều là người Việt, tới lui thoăn thoắt, vun vút như chớp. Loại 鶴肛 hạc giang đó đầu đuôi cao nhọn còn được gọi là Liễu Ô Thuyền hoặc Ô Thuyền.

Vào thời Ngụy - Tấn, tại Phúc Châu có đặt chức Điển giải Đô úy (Điển thuyền Giáo úy) [Chức danh quân sự Giáo úy: Theo ghi chép lịch sử, chức danh này đã tồn tại trong đội quân khởi nghĩa vào cuối thời nhà Tần. “Hạng Vũ Bản kỉ” chép: 秦二世元年七月,陳涉等起大澤中。其九月,會稽守通謂梁曰:“江西皆反,此亦天亡秦之時也。吾聞先即制人,後則為人所製。吾欲發兵,使公及桓楚將。”是時桓楚亡在澤中。梁曰:“桓楚亡,人莫知其處,獨籍知之耳。”梁乃出,誡籍持劍居外待。梁復入,與守坐,:“請召籍,使受命召桓楚。” 守曰:“諾。”梁召籍入。須臾,梁眴籍曰:“可行矣!”於是籍遂拔劍斬守頭。項梁持守頭,佩其印綬。門下大驚,擾亂,籍所擊殺數十百人。一府中皆懾伏,莫敢起。梁乃召故所知豪吏,諭以所為起大事,遂舉中兵。使人收下縣,得精兵八千人。梁部署中豪傑為校尉、候、司馬。有一人不得用,自言於梁。梁曰:“前時某喪使公主某事,不能辦,以此不任用公。”眾乃皆伏。於是梁為會稽守,籍為裨將,徇下縣。

Phiên: Tần Nhị thế Nguyên niên thất nguyệt, Trần Thiệp đẳng khởi Đại Trạch trung. Kì cửu nguyệt, Hội Kê thủ Thông vị Lương viết: “Giang Tây giai phản, thử diệc thiên vong Tần chi thì dã. Ngô văn tiên tức chế nhân, hậu tắc vi nhân sở chế. Ngô dục phát binh, sử công cập Hoàn Sở tướng.” Thị thì Hoàn Sở vong tại trạch trung. Lương viết: “Hoàn Sở vong, nhân mạc tri kì xứ, độc Tịch tri chi nhĩ.” Lương nãi xuất, giới Tịch trì kiếm cư ngoại đãi. Lương phục nhập, dữ thủ tọa, viết: “Thỉnh triệu Tịch, sử thụ mệnh triệu Hoàn Sở.” Thủ viết: “Nặc.” Lương triệu Tịch nhập. Tu du, Lương thuấn Tịch viết: “Khả hành hĩ!” Ư thị Tịch toại bạt kiếm trảm thủ đầu. Hạng Lương trì thủ đầu, bội kì ấn thụ. Môn hạ đại kinh, nhiễu loạn, Tịch sở kích sát sổ thập bách nhân. Nhất phủ trung giai nhiếp phục, mạc cảm khởi. Lương nãi triệu cố sở tri hào lại, dụ dĩ sở vi khởi đại sự, toại cử Ngô Trung binh. Sử nhân thu hạ huyện, đắc tinh binh bát thiên nhân. Lương bộ thự Ngô Trung hào kiệt vi giáo úy, hậu, ti mã. Hữu nhất nhân bất đắc dụng, tự ngôn ư Lương. Lương viết: “Tiền thì mỗ tang sử công chủ mỗ sự, bất năng bạn, dĩ thử bất nhậm dụng công.” Chúng nãi giai phục. Ư thị Lương vi Hội Kê thủ, Tịch vi tì tướng, tuẫn hạ huyện.

Dịch: Tần Nhị thế Nguyên niên, tháng Bảy, bọn Trần Thiệp khởi sự ở Đại Trạch [Đại Trạch hương, nay là Tô Châu, Giang Tô], Hội Kê quận thủ Ân Thông nói với Hạng Lương: Cả Giang Tây làm phản, ấy là lúc Trời bỏ nhà Tần vậy. Tình thế này, nếu không lập tức áp chế người thì chắc chắn sẽ bị người áp chế. Tôi muốn khởi binh, dùng ông và Hoàn Sở làm tướng. Lúc bấy giờ Hoàn Sở đang trốn đến vùng đầm trạch. Lương nói: “Hoàn Sở trốn, ngoài Tịch [Hạng Vũ] ra, chẳng ai biết đâu mà lần.” Lương bèn đi ra, dặn Tịch cầm kiếm đứng bên ngoài đợi. Lương quay vào, ngồi xuống cùng quận thủ, nói: “Xin gọi Tịch vào, lệnh cho y triệu Hoàn Sở về.” Quận thủ đáp: “Phải”. Lương gọi Tịch vào. Thoáng chốc, đưa mắt về phía Tịch nói: “Làm chứ hỉ!” Liền đó, Tịch tuốt kiếm chém đầu Quận thủ. Hạng Lương nắm đầu Quận thủ, lột dây thao buộc ấn. Bọn thuộc hạ cả kinh, nhiễu loạn, Tịch giết chết hàng chục tên. Phủ chúng khiếp phục, không dám chống cự. Lương bèn triệu tập bọn quan lại và hào kiệt đã từng quen biết, nói rõ duyên cớ khởi đại sự, rồi phát binh ở Ngô Trung [vùng Giang Tô, Triết Giang]. Lại sai người thu gom trong huyện được tám ngàn tinh binh. Lương cắt đặt các hào kiệt Ngô Trung làm giáo úy [thời Tần Hán là chỉ huy cấp trung đoàn đến sư đoàn - HHN], hậu [kiểm sát quân đội-HHN], tư mã [thời Chiến quốc mỗi đạo quân có một tư mã, dưới chức chủ tướng và phó tướng, hàm đại phu, sách “Uý Liễu tử” (thời Tần-Hán) chép: 令百人一卒,千人一司馬,萬人一將,以少誅眾,以弱誅強.Lệnh bách nhân nhất tốt, thiên nhân nhất tư mã, vạn nhân nhất tướng, dĩ thiểu tru chúng, dĩ nhược tru cường. Sai khiến được một trăm người phải là một người lính, một ngàn người phải là một tư mã, một vạn người phải là một viên tướng, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh - HHN]. Có một kẻ không được dùng, tìm gặp Lương để hỏi cho ra nhẽ. Lương đáp: “Ta nhớ có một đám tang nhờ ông làm một việc mà còn chẳng đặng, giờ nào dám cậy ông gánh vác”. Đám chúng cả phục. Rồi đó Lương làm quận thủ Hội Kê, Tịch làm phó tướng, đoạt lấy toàn quận. - HHN].

Một trong những mục đích hiển nhiên của việc đặt chức Điển giải Đô úy (Điển thuyền Giáo úy) là để cai quản các hộ thuyền hoặc hộ đèn ở Phúc Châu. Đồng thời, ở Ôn Ma (nay là quận Liên Giang) Phúc Châu, có một 溫麻船屯 “Ôn Ma Thuyền Truân” [Thuyền đồn Ôn Ma]. Ôn Ma lệnh. Thái Khang năm thứ tư (283), Tấn Vũ Đế, lập Thuyền đồn Ôn Ma.”① Thuyền Ôn Ma là loại thuyền lớn ghép bằng năm tấm ván, còn được gọi là thuyền Ôn Ma Ngũ hội. Loại thuyền này có nguồn gốc từ huyện Vĩnh Ninh, còn huyện Dự Chương thì kết ghép năm tấm ván làm thành một chiếc thuyền lớn, nhân đó lấy Ngũ Hội làm địa danh vậy. ② Dần dần, nó còn được dùng mở rộng để gọi là “Ngũ phàm thuyền” - Thuyền năm buồm, hay “Ô thuyền” - Thuyền quạ, sau này trở nên rất phổ biến đối với người Đản ở Phúc Kiến.

____________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: 番炳釗 (1998). 蛋民的歷史來源及其文化遺存.廣西民族研究》1998年 第 45 期. Phiên Bỉnh Chiêu, 1998. Đản dân đích lịch sử lai nguyên cập kì văn hóa di tồn. Quảng Tây Dân tộc Nghiên cứu 1998 niên đệ 4 kì tổng đệ 5 kì.

注釋:

①《宋書》卷36《州郡二·晉安郡》。

② 晉週處《風土記》,《太平禦覽》 卷770 引。

③ 韓振華《試釋福建水上蛋民(白水郎)的歷史來源》,《廈門大學爹報》」954年第5期第 152頁。

④ (輿地紀勝》卷128引宋王達《福州南台江》詩。

⑤ 《北史·楊敷傳》。

⑥ 《隋書》卷2《高祖紀下 。

⑦ 徐坷《清稗類鈔·種族表》。

⑧ 王守仁《王文成公全書》卷13《剿平安義叛黨疏》,

⑨羅香林《中夏系統中之百越·古代百越分布考》,獨立出版社,1943年。

10.韓振華《試釋福建水卜蛋民(白水郎)的歷史來源》,《廈門大學學報》1954年第5期第149 頁。

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

Nhà Nguyên-Mông ở Vân Nam và các Chính thể Nguyên-Tai/Tai thế kỷ 13-14 (I)

Christian Daniels

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Bài viết này xem xét ảnh hưởng của nhà Nguyên-Mông đối với sự xuất hiện của các chính thể Nguyên(Proto)-Tai/Tai sau năm 1260 ở vùng thượng nguồn Ayeyarwaddy (Irrawaddy) và sông Mekong dựa vào Nguyên sử, một bia mộ năm 1461 được phát hiện gần đây, và các nguồn khác của Trung Quốc và Tai. Tôi đưa ra năm lập luận. Thứ nhất, với tư cách là quốc gia kế thừa, nhà Nguyên-Mông đã giành được quyền sở hữu các lãnh thổ của vương quốc Đại Lý trước đây ở Vân Nam và phía bắc lục địa Đông Nam Á bằng cách khôi phục quyền lực chính trị cho hoàng tộc họ Đoàn đã bị phế truất. Thứ hai là sự phục hồi của họ Đoàn đã hỗ trợ quân Nguyên-Mông tiến vào phía bắc Đông Nam Á lục địa dọc theo các tuyến giao thông dẫn từ phía tây Vân Nam đến vùng thượng lưu sông Ayeyarwaddy và sông Mê Kông được thành lập trong thời kỳ Vương quốc Đại Lý. Thứ ba là Mäng2 Maaw2 (Moeng Mao, chữ Hán 麓川 Lộc Xuyên), một liên minh chính trị lớn của Tai ở phía tây lục địa, đã nổi lên trong khoảng 1335-1350 SCN trong bối cảnh quân Nguyên-Mông trục xuất quyền lực Mian ra khỏi Thượng Ayeyarwaddy trong những năm 1280, và sau khi đạo quân chiếm đóng Nguyên-Mông rút đi vào năm 1303.Thứ tư là trường hợp của một người Hán được bổ nhiệm làm 宣慰 Tuyên úy Lan Nạp vào khoảng năm 1341 chứng thực rằng gia đình họ Đoàn đã hỗ trợ chính quyền Nguyên-Mông cai quản phía bắc Đông Nam Á lục địa bằng cách cung cấp nhân sự cấp thấp hơn làm yamen [衙門 nha môn] của những người cai trị Tai được bổ nhiệm làm quan chức bản địa. Thứ năm là, đánh giá từ dữ liệu lịch sử, các yamen như vậy có ảnh hưởng hạn chế với tư cách là chất xúc tác cho việc xây dựng chính thể Tai. Năm lập luận này được gắn bó với nhau. Kết hợp lại, chúng chứng minh rằng bằng chứng hiện có không chứng minh cho tuyên bố của Victor Lieberman rằng nhà Nguyên-Mông “khuyến khích thành lập các quốc gia khách hàng Tai” ở thượng nguồn sông Mê Kông bằng cách cung cấp cho họ “các mô hình hành chính và quân sự mới” thông qua vị thế của họ với tư cách là các quan chức bản địa. Kết luận của tôi là các khái niệm về “sự bảo trợ” và “các quốc gia khách hàng” là sai lầm vì chúng hạ thấp tính trung tâm của nguyên(proto)-Tai/Tai với tư cách là các tác nhân định hướng con đường riêng của họ để xây dựng chính thể; tác tố nguyên-Tai/Tai được minh xác bằng việc họ giành được với đầy tham vọng các kỹ năng, công nghệ và hệ thống chữ viết mới.

Cuộc chinh phạt 大理國 Đại Lý quốc (937–1253) của Qubilai Qan vào năm 1253/54 theo lệnh của anh trai ông là Möngke đã đánh dấu cuộc chạm trán đầu tiên giữa các chính thể Mon-Khmer và nguyên-Tai/Tai trong quỹ đạo của Vân Nam với sự cai trị trực tiếp của quyền lực triều đại Trung Quốc, và gây ra những thay đổi quan trọng trong 127 năm cai trị của [tr.202] Nguyên-Mông.1 Nguyên-Mông đã phát động các chiến dịch tấn công vào Đông Nam Á lục địa ngay sau cuộc chinh phục, thậm chí cả trước khi họ giành được quyền kiểm soát hoàn toàn đối với các vùng lõi của vương quốc Đại Lý đã sụp đổ trên cao nguyên Vân-Quý. Ban đầu được thiết kế để thiết lập một đầu cầu tấn công Nam Tống, cuối cùng cuộc chinh phạt đã biến lãnh thổ của vương quốc này thành một tỉnh của Trung Quốc, và đặt nền móng cho sự cai trị của các triều đại nhà Minh và nhà Thanh.2 Sự thất bại của các chiến dịch chống lại nhà Trần 陳朝 ( 1225–1400) của Đại Việt và người Miến của Pagan, đã khiến cho các nhà sử học đi đến kết luận rằng các cuộc xâm nhập của Nguyên - Mông chỉ gây ảnh hưởng hạn chế đến quá trình lịch sử bản địa ở Đông Nam Á. Trong bài viết này, tôi cho rằng công cuộc cai trị Vân Nam của họ đã có ảnh hưởng đến các chính thể nằm ở rìa phía nam của thế giới Nguyên-Mông thuộc miền bắc Đông Nam Á ngày nay.

Bằng chứng thực nghiệm đến từ một bia mộ được phát hiện gần đây vào năm 1461, lần đầu tiên tiết lộ chi tiết về sự quản lý của nhà Nguyên-Mông đối với các chính thể trước đây trực thuộc Vương quốc Đại Lý thông qua thể chế Thổ quan (土官).3 Tấm bia này ghi lại việc bổ nhiệm một người Trung Quốc, tên là Khang Mân 康旻, làm 宣慰 Tuyên úy thuộc 八百宣慰司 Bát bách Tuyên úy Ty vào khoảng năm 1341. Cư trú tại 趙州 Triệu Châu (ngày nay là 鳳儀鎮 Phụng Nghi trấn, gần Đại Lý, tránh được muỗi mang mầm bệnh sốt rét ở độ cao hơn 1.900 mét, ông mạo hiểm xuống vùng đất có khí hậu khắc nghiệt của miền bắc Thái Lan trong khoảng bốn tháng mỗi năm . Theo các truyền thuyết về bệnh sốt rét ở Trung Quốc, việc tiếp xúc với sương mù, chướng khí hoặc dịch hại sẽ gây ra cái chết, vì vậy nhiệm vụ của ông diễn ra theo mùa, “đến nhiệm sở vào mùa đông và trở về [trước] mùa hè”.4 八百 Bát Bách là cách gọi của người Trung Quốc dành cho chính thể Tai Lan Nạp 蘭納 (còn được gọi là 八百 Bát Bách Tức phụ, do vua Mangrai (r. 1259–1311)5 thành lập ở miền bắc Thái Lan. Việc một người không phải là người bản địa như Kang Min, đến từ Thiểm Tây 陝西 [tr.203] ở phía bắc Trung Quốc xa xôi, làm quan bản xứ là điều hết sức bất thường.6

Nguyên sử ghi lại Phayu (Han Bu 韓部 [Hàn Bộ] r. 1337/ 38–1355), người cai trị đương nhiệm của Lan Nạp, với tư cách là quan bản xứ của Bát bách Tuyên úy Ty trong một mục ngày 1 tháng 2 năm 1346 ( Chí Chính 6/12/ jiawu). Những năm từ 1341 đến 1346 gần tương ứng với thời kỳ Khang Mân được bổ nhiệm, nhưng không có nguồn tài liệu nào của Trung Quốc hoặc Tai đề cập đến Khang Mân.7 Việc tuyển dụng các quan chức không phải người bản địa tham gia vào việc cai quản các chính thể Môn-Khmer và nguyên-Tai/Tai cho thấy sự hiện diện của nhà Nguyên-Mông ở phía bắc Đông Nam Á lục địa lâu dài hơn so với gợi ý của các tường thuật thông thường về các cuộc đánh phá quân sự không đáng kể và ngắn ngủi. Việc được bổ nhiệm những người như Khang Mân làm quan chức ở khu vực thượng lưu sông Mekong đặt ra vấn đề liệu nhà Nguyên-Mông có thực sự thúc đẩy sự gia nhập đột ngột của các chính thể Tai vào giai đoạn lịch sử đó hay không.

Vào đầu những năm 1300, người Tai thống trị thượng và trung lưu sông Mekong, Vương quốc Haripunjaya có trung tâm là Lamphun, và hầu hết đồng bằng Chaophraya, nơi họ hòa nhập với người Mons và người Khmers. Họ bắt đầu tấn công nhà nước đặc quyền của Angkor gần như cùng lúc với việc họ bắt đầu đánh phá các chính thể của Miến. Ngay từ năm 1297, các lực lượng do người Tai lãnh đạo đã phá hủy các ngôi làng trên vùng đồng bằng Campuchia, và các cuộc xâm nhập chống lại Angkor đã leo thang sau khi thành lập Ayutthaya vào năm 1351.8 Victor Lieberman và những người khác xác định các kỹ năng võ thuật (“các tay sai, chư hầu cấp thấp”), kỹ thuật nông nghiệp ưu việt (phổ biến các giống lúa mới năng suất cao và kỹ năng quản lý nước) và biến đổi khí hậu là những yếu tố tạo ra sự bành trướng của các chính thể Tai và sự suy tàn của quyền lực hoàng gia Môn và Khmer ở Thượng và Trung lưu sông Mekong.9 Ngược lại, tác động của các chính thể Tai (Shan) ở vùng thượng lưu sông Ayeyarwaddy đối với các chính thể Miến không lâu dài, một tình huống không giống như ảnh hưởng của các chính thể Tai đối với các chính thể Môn và Khmer ở khu vực sông Mekong. Thứ nhất, các cuộc đột kích của người Tai không kết thúc bằng quá trình định cư có hệ thống vì những người Tai di cư đã hòa nhập với văn hóa Miến Điện, thường trở thành “‘người Miến’ sau một hoặc hai thế hệ”.10 Thứ hai, sự mất đoàn kết chính trị giữa các nhà lãnh đạo Tai đã ngăn cản họ tiến hành các chiến dịch thống nhất chống lại chính thể Ava.11 Thứ ba , giới tinh hoa Tai mô phỏng văn hóa Phật giáo Miến Điện, vì vậy họ “không bao giờ đe dọa nghiêm trọng uy thế văn hóa Miến Điện”.12

Mặc dù áp lực của Thái đối với Angkor và Pagan chỉ bắt đầu sau cuộc chinh phục [tr.204] Vân Nam, học giả trong quá khứ đã đánh giá thấp vai trò của nhà Nguyên-Mông. Bài viết này đặt mục tiêu đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhà Nguyên- Mông đối với sự xuất hiện của các chính thể nguyên-Tai/Tai ở vùng Thượng Ayeyarwaddy, đặc biệt là ảnh hưởng đối với sự hình thành chính thể Tai rộng lớn của Mäng2 Maaw2 (tiếng Tày: Moeng Mao, tiếng Trung : Luchuan 麓川 [Lộc Xuyên].13 Tôi sử dụng trường hợp của Khang Mân và các con trai của ông để làm sáng tỏ cách thức nhà Nguyên- Mông quản lý các chính thể Môn-Khmer và Tai. Vào đêm trước cuộc chinh phục của Qubilai Qan, biên giới của Vương quốc Đại Lý đã vươn đến “thành Koncan / Kaungzin [tiếng Hán 江頭城 [Giang Đầu Thành] nghĩa đen là “thành phố ở đầu sông” gần Bhamo] trên vùng đất của người Miến ở phía tây nam, và “sông 鹿滄江 Lộc Thương 臨安路 Lâm An lộ, phía đông nam (YS, 61.1457). Khu vực do vương quốc Đại Lý kiểm soát trải dài theo hình vòng cung từ Thượng Ayeyarwaddy, qua khu vực thượng nguồn sông Mekong đến sông Đà (黑河 Hắc Hà - sông Đen) ở Lai Châu 萊州, tây bắc Việt Nam.

Giáp với khu vực văn hóa Tây Tạng ở phía tây bắc, và giáp nhà Tống Trung Quốc ở phía đông bắc, phạm vi lãnh thổ của vương quốc bao gồm các phần phía bắc Đông Nam Á lục địa ngày nay và tỉnh Tứ Xuyên. Để đánh giá ảnh hưởng của nhà Nguyên- Mông đối với sự hình thành các chính thể nguyên-Tai/Tai, trước tiên chúng ta cần xác minh bằng thực nghiệm quá trình mà họ đưa ra yêu sách đối với các lãnh thổ của Vương quốc Đại Lý. Tôi cho rằng quân Nguyên- Mông đã sử dụng quyền lực chính trị của hoàng tộc Đoàn thị (段氏) bị phế truất, và từ từ di chuyển về phía nam theo từng giai đoạn để thiết lập quyền kiểm soát đối với vùng thượng lưu Ayeyarwaddy và thượng nguồn sông Mekong. Có vẻ như tra tấn, nhưng tôi vẫn phải cung cấp chi tiết đáng kể về mối quan hệ giữa gia đình họ Đoàn và quân Nguyên- Mông tiến về phía nam vì mối liên hệ quan trọng này chưa từng được chứng minh trước đây, và vì họ Đoàn đã tạo điều kiện cho quân Nguyên- Mông tiếp cận được khu vực này. Cơ hội để Khang Mân và các con trai của ông phục vụ với tư cách là các quan chức Nguyên-Mông bắt nguồn từ mối quan hệ thân thiết của họ với gia đình Đoàn thị. Tấm bia có ý nghĩa chính bởi nó ghi lại trường hợp nhà họ Đoàn cung cấp nha lại cho các đơn vị hành chính nhân sự ở các chính thể Môn-Khmer và Tai. Họ Đoàn rõ ràng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho sự cai trị của Nguyên- Mông đối với các chính thể này. Bằng cách tập trung vào vai trò của gia đình này, chúng ta có thể tiếp cận ảnh hưởng của nhà Nguyên- Mông đối với việc hình thành các chính thể Tai từ một góc nhìn mới mẻ, một góc nhìn giúp nâng cao hiểu biết tổng thể của chúng ta về các chính thể ở rìa cực nam của thế giới Nguyên- Mông.

Văn bản tấm bia 1461

Phiên bản đã xuất bản của tấm bia, sau đây gọi là Bản khắc, xuất hiện trong bộ sưu tập 104 tấm bia từ thị trấn Fengyi, nhiều tấm bia trong số đó chưa từng được công bố trước đây. Ông 馬存兆 Mã Tồn Triệu, một học giả độc lập người Phụng Nghi trấn, đã thu thập và sao chép tấm bia cùng với Giáo sư 馬健雄 Mã Kiện Hùng, Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST) và các nhà nghiên cứu tại Đại học Đại Lý. Nhân viên tại HKUST, 華南研究中心 Trung tâm Nghiên cứu Nam Trung Quốc [tr.205] cả ở 南沙 Nam Sa, Quảng Châu và Thanh Thủy Loan, Hồng Kông, đã nhập liệu và chỉnh sửa các văn bản. Trung tâm Nghiên cứu Nam Trung Quốc đã công bố văn bản tấm bia trong một cuốn sách có tựa đề 大理鳳儀古碑文集 Đại Lý Phụng Nghi Cổ bi Văn tập [DFGJ) vào năm 2013.

Hậu duệ của Khang Mân đã khai quật được Minh văn (khắc trên đá cẩm thạch khai thác tại địa phương), từ khoảng ruộng khô của họ trên núi 蛇山 Xà Sơn, 芝華村 Chi Hoa thôn, thị trấn 鳳儀 Phụng Nghi. Phiên bản xuất bản năm 2013 dựa trên bản sao chép của Mã Tồn Triệu, người thôn này, vào khoảng năm 2004, về thời điểm phát hiện. Trong các lần đến thăm địa điểm này lần lượt vào năm 2015 và 2016, tôi đối chiếu phiên bản đã xuất bản với tấm bia hiện còn (xem Hình 1) và quan sát thấy một số khác biệt, phát sinh do: (1) sai lầm trong lần đầu phiên dịch vào năm 2004; (2) lỗi phát sinh trong quá trình nhập liệu/rà soát; và (3) khắc lại một vài ký tự hạn chế trên tấm bia trước khi dựng lại tại nơi phát hiện, vào khoảng năm 2011. Mặc dù những khác biệt này không ảnh hưởng đến bằng chứng thực tế được ghi lại, tôi đã chuẩn bị một phiên bản văn bản sửa đổi, sao chép trong bài viết này, bằng cách so sánh bản gốc phiên dịch năm 2004 (hiện thuộc sở hữu của người đồng nghiệp, Giáo sư Mã Kiện Hùng), bản đã xuất bản và tấm bia hiện tồn tại địa điểm.

Hình 1. Văn khắc chữ Hán, niên đại, 1461, dựng tại thôn Chi Hoa 芝華村, Phụng Nghi 鳳儀, Đại Lý, Vân Nam. Hình 2. Năm chủng tử tự bīja (có nghĩa là hạt giống) trên đỉnh mặt trước bia mộ. Mỗi chủng tử tự bīja là một phương tiện để hành giả tiếp nhận được nguồn năng lượng và thực chứng những điều huyền diệu của thế giới tâm linh, và từ phải sang trái lần lượt là: aḥ, ह्री hrīḥ, āṃḥ, tāṃ ताँहूँ, hūṃ. Cảm ơn Tiến sĩ Bill Mak vì đã giải mã các chủng tử này.

Mặt trước của Văn bia ghi lại cuộc đời của Khang Hảo Khiêm (康好謙) và tổ tiên của ông kể từ thời Khang Mẫn, bằng chữ Hán. Đỉnh bia có hình cây nấm với năm bīja chủng tử tự bao quanh tiêu đề chữ Hán 教諭康公墓誌 [giáo dụ Khang Công mộ chí - Mộ chí Chánh Học quan Khang công] phía trên dòng chữ tiếng Hán (xem Hình 2). Mặt sau được khắc [tr.206] Tổng trì Đại thừa tiếng Phạn उष्णीष विजय धारणी Uṣṇīṣavijayadhāraṇī [chữ Hán: 佛頂尊勝陀羅尼 Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni], thường gắn với các nghi thức an táng của Phật giáo được thực hành rộng rãi trên khắp châu Á theo đạo Phật kể từ thế kỷ thứ 8 (xem Hình 3). Tổng trì này, được viết bằng chữ Phạn Nāgarī (mười tám dòng), được dành cho Khang Hảo Khiêm, và liệt kê tên của các thành viên trong gia đình bằng chữ Hán ở phía dưới.14 Con cháu Khang Mân đã trát xi măng lên đỉnh bia hình nấm và các cạnh trái và phải ở mặt sau, dẫn đến làm mất một hàng chữ Phạn ở trên cùng và một số chữ cái ở cả hai mép. Tổng trì Uṣṇīṣavijayadhāraṇī Phật đỉnh Tôn thắng Đà La Ni là một văn bản tôn giáo không ghi ngày tháng, và không phải là bản dịch của văn bản tiếng Trung ở mặt trước.15 धारणी Dhāraṇī, hay मन्त्र Mantra Chân ngôn, chỉ có hiệu quả nếu được viết bằng tiếng Phạn, bởi vì không thể dịch thuật, và quả thực, có lẽ vì lý do này mà không có phiên bản Dhāraṇī nào bằng chữ Hán được phát hiện ở Vân Nam. Những chân ngôn Mật tông được viết bằng chữ Siddhamātṛkā (hoặc Siddham Tất đàm) ở mặt trong của nắp bình tro cốt có niên đại từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14 đã được khai quật tại 來鳳山 Lai Phượng Sơn ở thị trấn 騰衝 Đằng Xung, sâu trong lãnh thổ Mon-Khmer và proto-Tai/Tai.16 Mười hai ký tự Trung Quốc nằm trong dòng mười ba của văn bản tiếng Phạn ở mặt sau [tr.207] của Bản khắc, 追為顯考康公諱賜好謙神主 truy vi hiển khảo Khang Công húy tứ Hảo Khiêm thần chủ - Bài vị Tưởng niệm Hiển khảo [cha] Khang công Hảo Khiêm húy Tứ, xác nhận là dành cho Khang Hảo Khiêm, chứng thực rằng उष्णीष विजय धारणी Uṣṇīṣavijayadhāraṇī Tổng trì này phù hợp với người chết được ghi trong văn bản chữ Hán ở mặt trước.

Với tư cách là những người được gia đình họ Đoàn bảo trợ, không có gì ngạc nhiên khi Nguyên sử không ghi lại Khang Mân và các con trai của ông ta. Các nguồn còn lại chỉ mô tả một cách sơ sài các hoạt động của những người bảo trợ lừng lẫy của họ, nhà họ Đoàn, trong thời kỳ Nguyên-Mông, chứ nói gì đến các gia đình di cư mới nổi như nhà họ Khang. Những tấm bia đơn lẻ ghi lại các thông tin có giá trị về lịch sử địa phương là phổ biến trong các tư liệu lịch sử thời kỳ trước nhà Minh của Vân Nam. Ví dụ, tấm bia nổi tiếng 爨龍顏碑 Thoán Long Nhan bi  là nguồn tài liệu duy nhất ghi lại sự nghiệp chính trị của 爨龍顏 Thoán Long Nhan (386-446), một đại thần địa phương được các triều đại Tấn và 劉宋 Lưu Tống bổ nhiệm làm quản lý quận Kiến Ninh ở Ninh Châu 寧州建寧郡 (Nay là thành phố 曲靖市 Khúc Tĩnh ở đông Vân Nam). Không có lịch sử tiêu chuẩn nào ghi lại tên của ông và việc bổ nhiệm ông vào các chức vụ được liệt kê trong tấm bia này (Kajiyama, 2017). Nhiều tấm bia từ thời Nguyên đến thời Minh có trong 大理叢書金石篇 Đại Lý Tùng thư kim thạch thiên (DCJP Tập hợp Văn khắc Đại Lý trên Đá và Đồng) đã ghi lại những dữ liệu độc nhất, tuy nhiên các nhà sử học không truy vấn tính xác thực của chúng như những nguồn có giá trị chỉ vì thiếu các xác chứng. Tương tự như vậy, không có lý do gì để nghi ngờ tính xác thực của Văn bia Khang Hảo Khiêm.

Tôi đã thảo luận về Văn bia này trong một bài viết được trình bày tại Hội nghị Chuyên đề Quốc tế lần Thứ sáu về Hệ thống Thổ ty và Văn hóa Trung Quốc được tổ chức tại 永順 Vĩnh Thuận, Hồ Nam. vào ngày 22 tháng 10 năm 2016, và không có học giả nào bày tỏ lo ngại về giá trị của nó với tư cách là một nguồn lịch sử.17 Khuôn khổ của văn bản giống với các bản khắc trên bia mộ khác của Đại Lý vào giữa thế kỷ 15, đặc biệt là trong phần ghi chép về dòng dõi mẫu hệ và các liên minh hôn nhân của họ. Ngoài ra, các địa danh trong Văn bia cũng có thể được xác minh bằng các nguồn khác.

Hình 3. Văn bản Uṣṇiṣavijayadhāraṇī bằng chữ Nāgarī ở mặt sau của Văn bia. Theo cách giải mã của Tiến sĩ Bill Mak, văn bản bắt đầu bằng “… siṣṭāya buddhāya”, kết thúc bằng “nāma dhāraṇi samāpadam [sic] iti” cộng với các chữ cái bīja bổ sung “oṃ aṃ svāhā”. Ông lưu ý rằng việc viết các chữ cái bằng màu đen là rất hiếm, mặc dù việc tô màu bằng mực đỏ và đen được tìm thấy trong một số mẫu vật của nhà Minh. Nội dung của văn bản này gần giống với các Tổng trì Uṣṇīṣavijayadhāraṇī Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni khác ở Vân Nam, như Walter Liebenthal (1947a), (1947b), (1955), và gần đây hơn là Oskar von Hinüber (1989) đã đọc. Tiến sĩ Mak chỉ ra rằng so sánh với các mẫu vật khác từ Vân Nam cho thấy nội dung văn bản của Tổng trì Uṣṇiṣavijayadhāraṇī, ở mặt sau của Minh văn, giống với văn bản thuộc loại cuối thời Minh do Liebenthal thông báo (1955). Đặc điểm chính của loại chữ cuối thời Minh là bao gồm chữ bīja “bhrūṃ” trong văn bản, như được thấy trong hàng đầu tiên của bức ảnh này, sau chữ “oṃ”.

Họ Đoàn phục hồi

[Tr.208] Một sự kiện, cho đến nay vẫn bị bỏ qua, nhưng cực kỳ quan trọng để hiểu được các chiến lược của nhà Nguyên-Mông nhằm giành lấy các lãnh thổ trước đây của Vương quốc Đại Lý ở phía bắc Đông Nam Á, là mối quan hệ của họ với hoàng tộc Duẩn từng bị phế truất. Möngke đã khôi phục quyền lực tạm thời cho vị vua cuối cùng Đoàn Hưng Trí (段興智) vào năm 1255, và phục hồi tước hiệu vương giả bằng tiếng Phạn của ông là 摩訶羅嵯 Maharajā Đại vương vào năm 1256.18 Tước hiệu Đại vương bao hàm vai trò của Đoàn Hưng Trí như một चक्रवर्तिन् Cakravartin – Chuyển luân vương, hay đấng trị vì cả phần xác lẫn phần hồn của thần dân, với một tổ tiên đã thành Phật bởi sức nặng của lịch sử; họ Đoàn là một gia đình hoàng gia tái sinh từ một vị Phật Di Lặc giáng trần từ cõi trời तुषित Tuṣita Đâu suất.19 Việc nhà Nguyên-Mông công nhận danh hiệu này đã giúp phục hồi quyền lực tôn giáo và thế tục của ông (và có lẽ là của con cháu ông nữa), một nguồn lực chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc cai quản Vân Nam của họ. Để tiếp tục mục đích này, Möngke đã đầu tư cho Đoàn Hưng Trí có thẩm quyền kiểm soát các dân tộc địa phương được mô tả là 諸蠻 chư Man nhiều Man mọi, bọn白爨 Bạch Thoán và 等部 đẳng bộ các bộ lạc khác. Möngke cũng giao cho em trai út của cha Hưng Trí, là 段福 Đoàn Phúc lãnh đạo quân đội bản địa. Đoàn Hưng Chí nhiệt tình hưởng ứng yêu cầu của nhà Nguyên-Mông. Ông trao quyền lực cho em trai mình là Đoàn Thực 段實,còn được gọi là Đoàn Cử Nhật 段苴日, đương nhiệm 1261-1282, và bắt đầu khôi phục các chính thể trước đây phụ thuộc vào vương quốc Đại Lý, với Đoàn Phúc đứng đầu một đội quân rợ Bặc và Thoán gồm 20.000 đứa mạnh khỏe [tr.209], làm tiên phong cho viên tướng chỉ huy Mông Cổ thiện chiến, Uriyangqadai 兀良合台, Ngột Lương Hợp Thai (chết năm 1272).20 Mặc dù sự khôi phục của họ Đoàn đã giúp ổn định vùng Đại Lý, nhưng phải đến khoảng năm 1274, quân Nguyên-Mông mới mới đánh bại được các thủ lĩnh địa phương ở khu vực 善闡 Thiện Xiển (Côn Minh) (Herman 2007, 48-49).

Đây là những sự kiện của hoàng tộc Đoàn bị phế truất đã leo thang lên chức quan bản địa cấp cao nhất ở phía tây Vân Nam. 野史 Dã sử gọi họ là 段氏總管 Đoàn thị Tổng quản, một chức quan cha truyền con nối do tổng cộng mười hai người họ Đoàn đứng đầu trong thời kỳ Nguyên-Mông. Hayashi Ken'ichirō 林謙一郎 [Lâm Khiêm Nhất Lang] chia lịch sử cai quản của dòng họ Đoàn thành ba thời kỳ, và bằng thực nghiệm chứng minh rằng cụm từ Đoàn thị Tổng quản thực sự bao gồm hai chức danh hành chính khác nhau, một dân sự và một quân sự.21 Giai đoạn sớm bao gồm hai mươi năm cai trị đầu tiên của Nguyên-Mông, từ 1253 đến 1273, trước khi thành lập tỉnh Vân Nam vào năm 1276. Bằng cách phục hồi quyền lực tôn giáo và mang tính tạm thời với tư cách là Maharajā Đại vương, các Tổng quản của Gia tộc Đoàn đã giữ lại được một số biện pháp kiểm soát đối với các lãnh thổ hoặc phạm vi ảnh hưởng trước đây của họ. Điều này có lợi cho nhà Nguyên-Mông bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động “đạo quân Thoán Bặc” do họ Đoàn lãnh đạo để tiêu diệt sự kháng cự ở Vân Nam, và hỗ trợ cho cuộc chinh phục nhà Nam Tống. Một số binh đội Thoán Bặc thậm chí còn định cư ở 湖南 Hồ Nam, nơi con cháu của họ vẫn cư trú ở đó cho đến tận ngày nay (Hayashi 2016, 378-379).

Thời kỳ thứ hai kéo dài từ năm 1274 cho đến c. 1330. Sau khi 雲南行省 Vân Nam hành tỉnh - tỉnh Vân Nam được thành lập, nhà Nguyên Mông đã bãi bỏ quyền của gia tộc họ Đoàn thay mặt họ cai quản toàn bộ Vân Nam, và hạn chế quyền cai quản của họ Đoàn ở phía tây Vân Nam, bao gồm các khu vực người Môn-Khmer và người nguyên-Tai /Tai dọc theo tuyếntrên đường đến Thượng Ayeyarwaddy. Hai chức vị cha truyền con nối khác nhau được ban cho vào thời điểm ấy đã chứng thực cho sự sắp xếp lại này. Chức vị thứ nhất là 大理路總管 Đại lý Lộ Tổng quản, được ban cho họ Đoàn vào năm 1274 (YS, 166. 3910); những người đương nhiệm của chức vụ này còn được gọi là 大理路軍民總官 Đại Lý Lộ Quân dân Tổng quản. Chức vị thứ hai là 大理金齒等處宣慰使都元帥 Đại Lý Kim xỉ đẳng xứ Tuyên úy sử Đô Nguyên soái, và người nắm giữ nó từng là một viên tướng chịu trách nhiệm về phía tây Vân Nam, bao gồm các lãnh thổ Đại Lý, Kim Xỉ và các lãnh thổ nguyên-Tai/ Tai.22

Những người họ Đoàn đứng đầu cả hai chức vị cha truyền con nối, từ anh trai sang em trai hoặc từ chú sang cháu trai. Hayashi cho rằng cấu trúc kép này tạo thành xương sống của quyền lực chính trị được phục hồi của Đoàn, và ông dẫn ra ba cặp bổ nhiệm (1) Đoàn Hưng Trí và Đoàn Phúc; (2) 段忠 Đoàn Trung (đương nhiệm 1283) [tr.210] và 段慶 Đoàn Khánh (đương nhiệm 1284-1306); và (3) Đoàn Khánh và 段正 Đoàn Chính (đương nhiệm 1307-1316).23 Một tấm bia, 加封孔子聖詔碑 Gia phong Khổng Tử thánh chiếu bi (năm 1309), được phát hiện tại Đại Lý năm 1984 và hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Thành phố Đại Lý, ghi lại những người họ Đoàn được bổ nhiệm đồng thời vào hai chức vụ này: cụ thể là Đoàn Chính, người được phong làm 明威將軍大理路軍民總管, Minh uy Tướng quân Đại Lý lộ Quân dân Tổng quản và Đoàn Khánh, được bổ nhiệm làm 鎮國上將軍大理金齒等處宣慰使都元帥 Trấn quốc Thượng tướng quân Đại Lý Kim xỉ đẳng xứ Tuyên úy sứ Đô nguyên soái. Theo Hayashi, hai chức danh này đại diện cho một hệ thống tổ chức kép, thứ nhất là dân sự và thứ hai là quân sự.24  

Ông cũng đưa ra giả thuyết cho rằng sự phân chia quyền lực này có thể có từ năm 1255/56 khi nhà Nguyên-Mông giao cho Đoàn Hưng Chí quản lý các công việc nhà nước, và Đoàn Phúc lãnh đạo quân đội Thoán Bặc. Giai đoạn thứ ba bắt đầu vào năm 1331 và kết thúc vào năm 1381 với sự sụp đổ của chế độ Nguyên-Mông ở Vân Nam. Do rối loạn và năng lực suy giảm, chính quyền cấp tỉnh đã mất quyền kiểm soát đối với Vân Nam, và quyền lực chính trị rơi vào tay hai蒙古宗王 Mông Cổ Tông vương: Vân Nam vương 雲南王 tại Đại Lý và Lương vương 梁王 tại Côn Minh. Gia đình họ Đoàn đã giành được quyền lực trong thời kỳ khó khăn này, và thậm chí còn tự phong mình là Gia tộc họ Đoàn của 大後理国 Đại Hậu Lý quốc [Gia tộc của Vương quốc Hậu Lý vĩ đại].25 Họ đoàn kết hợp tác với nhà Nguyên-Mông cho đến khi các cuộc tranh giành quyền lực nổ ra trong nội bộ họ Đoàn, những rạn nứt ngày càng lớn giữa các thành viên trong gia đình vào cuối những năm 1320; vụ Lương vương ở Côn Minh ám sát Đoàn Công 段功 (đương chức 1345-1366) cuối cùng đã khiến cả gia tộc theo lập trường chống Nguyên-Mông (Hayashi, 1996, 9-13; 28).

Sự phục hồi sau năm 1255 xác nhận quyền cai trị của gia đình họ Đoàn đối với các nhóm nguyên-Tai /Tai, được gọi là 金齒 Kim Xỉ [nghĩa đen là “răng vàng”] và 百夷/白衣/白夷 Bác Di, Bạch Y, Bạch Di (Daniels, 2000. 54-58). Tước vị, Tổng quản và Trấn quốc Thượng tướng quân Đại Lý Kim xỉ đẳng xứ Tuyên úy sứ Đô nguyên soái thể hiện mối liên hệ lịch sử của gia tộc họ Đoàn với người Mon-Khmer và nguyên-Tai/Tai. 段實 Đoàn Thực, Tổng quản đầu tiên, cai quản 騰越 Đằng Việt [ngày nay là 騰衝 Đằng Xung], có vị trí chiến lược để kiểm soát vùng Thượng Ayeyarwaddy (YS, 166. 3910; Fang, 2001, 8). Mặc dù người Mông Cổ, chẳng hạn như Hülegü 忽哥赤 [Hốt Ca Xích], anh trai của Qubilai Qan, cũng giám sát khu vực Kim Xỉ giáp Đằng Việt,26 nhà Nguyên-Mông chủ yếu dựa vào họ Đoàn để kiểm soát Kim Xỉ/ Bạch Di. Việc huy động các lực lượng Thoán và Bặc để hỗ trợ cho các cuộc chiến chống lại Kim Xỉ/ Bạch Di, vào khoảng ngày 8 tháng 11 đến [tr.211] ngày 6 tháng 12 năm 1276 (Zhiyuan 13/10) xác minh vai trò của họ Đoàn. Chiến dịch này dẫn đến việc bắt được 40.000 hộ gia đình, quy phục 109 Trại của người 和泥 Hòa Nê [tổ tiên người Hà Nhì ngày nay], và sự đầu hàng của viên quan bản địa 匍思 Bồ Tư và những bọn khác (Su Tianjue, ed .1987. 41:46b, 1367–529). Việc triển khai các đội quân bản địa do họ Đoàn lãnh đạo làm giảm thiểu sự xâm lược của bọn Mon-Khmer và Kim Xỉ/ Bạch Di trên các tuyến đường dẫn đến Ấn Độ Dương.

Trước cuộc chinh phục của Nguyên-Mông, triều đình Đại Lý đã kiểm soát các thủ lĩnh ở các vùng biên giới thông qua một hệ thống phong kiến gồm các liên minh đã cam kết, giống như 羈縻政策 ki mi chính sách “chính sách dây cương” ràng buộc các tộc thiểu số thời Đường - Tống. Trong 317 năm, 22 vị vua Đại Lý đã cai trị nhiều nhóm rợ 白蠻 Bạch Man,烏蠻 Ô Man, 漢人 Hán nhân, Mon-Khmer, Kim Xỉ/ Bạch Di, và những rợ khác. Họ giao cho các gia tộc Bạch Man ưu tú, chẳng hạn như Đoàn, Cao, Dương và Đổng giám sát những người ở ngoại vi phía nam và cho phép chuyển giao quyền lực cha truyền con nối cho con cháu (Fang. 2015. 485–497) . Ví dụ, 高升泰 Cao Thăng Thái, người nắm giữ quyền lực chính trị vào cuối thế kỷ 11, đã cắt cử các thành viên trong gia đình đóng tại các điểm quan trọng dọc theo các tuyến đường giao thông ở phía tây Vân Nam, và một số hậu duệ thậm chí còn được bổ nhiệm các vị trí quan chức cho tới khi quân Nguyên-Mông đến. Ông giao cho cháu mình, 高明量 Cao Minh Lượng, xây dựng một thành trấn tại 威楚 Uy Sở (ngày nay là Sở Hùng 楚雄), và nơi này vẫn thuộc quyền kiểm soát của gia tộc cho đến thời Cao Trường Thọ 高長壽.27 Ngoài ra, gia tộc Cao hẳn đã cai quản 騰越 Đằng Việt, trên con đường giao thông đến Miến Điện và Ấn Độ, do 高救 Cao Cứu cai quản vào năm 1255 (YS, 61.1480). Bằng cách kiểm soát các vị trí chiến lược, vương quốc Đại Lý thống trị các thủ lĩnh địa phương theo trục bắc-nam xuống đến tận Thượng Ayeyarwaddy ở phía tây và Thượng nguồn sông Mekong ở phía đông. Người Nguyên-Mông tuyên bố chủ quyền đối với khu vực này bằng cách sử dụng quyền lực chính trị của gia tộc họ Đoàn và các mối liên hệ của họ với các nhà cai trị bản địa được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ thông qua các gia đình quý tộc ưu tú được giao nhiệm vụ giám sát họ.

Kinh nghiệm của họ Đoàn trong việc quản lý lãnh thổ chồng lấn với các vùng đất do người Miến [Pagan] kiểm soát nằm rải rác dọc theo bờ sông Ayeyarwaddy đã chứng tỏ là vô giá đối với nhà Nguyên-Mông. Nhà sử học tiền tệ Kuroda Akinobu 黑田明伸 [Hắc Điền Minh Thân] cho rằng việc quân Nguyên-Mông tiến vào lãnh thổ Pagan xuất phát từ mong muốn kết nối Vân Nam với Ấn Độ Dương. Ông lập luận rằng mong muốn của Qubilai Qan là tạo ra “một con đường lớn để mở rộng thương mại với Miến Điện và Ấn Độ” bằng cách mở các tuyến đường thương mại từ Vân Nam đến Vịnh Bengal, là một phần của đại kế hoạch Nguyên-Mông nhằm đẩy nhanh quá trình lưu thông bạc tại các cấp cao hơn của nền kinh tế trên toàn bộ Á-Âu (Kuroda, 2009, 253-254; Rossabi, 1994, 418). Kuroda đã đưa ra bằng chứng để chứng minh rằng các liên kết kinh tế giữa Vân Nam và Vịnh Bengal đóng vai trò là phương tiện cho dòng bạc chảy vào Trung Quốc. Đầu tiên, ông chỉ ra việc sử dụng vỏ sò từ quần đảo Maldives làm tiền tệ ở Vân Nam như bằng chứng về mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ giữa Vân Nam và Bengal, 1330-1350.28 Thứ hai, ông giải thích việc thành lập một đơn vị hành chính với tên gọi khá cồng kềnh, 邦牙等處宣慰司都元帥府並總管府 Bang Nha đẳng xứ Tuyên úy ti Đô nguyên soái phủ tịnh Tổng quản phủ - Tư lệnh Quân sự [tr.212] Ty Tuyên úy Pinya và các địa điểm khác có Giám sát trưởng phụ trách tại Pinya ở Thượng Miến Điện vào ngày 18 tháng 1 năm 1339 (Zhiyuan 4/12/wuxu) để tạo thuận lợi cho dòng chảy bạc từ Trung Quốc sang Ấn Độ, qua Miến Điện, từ năm 1339 đến đầu những năm 1360.29 Kinh nghiệm, được tích lũy qua nhiều thế hệ của nhà họ Đoàn sẽ hỗ trợ cho việc thành lập các cơ sở cai trị ở những vùng đất đó. Động cơ huy động các nguồn lực chính trị của nhà họ Đoàn cũng có thể xuất phát một phần từ mối lo ngại của nhà Nguyên-Mông về các mối đe dọa tiềm ẩn đối với Vân Nam từ phía nam.

Đối với gia tộc họ Đoàn, việc phục hồi có ý nghĩa nhiều hơn là sự phục hồi chỉ trên danh nghĩa đơn thuần. Gia tộc họ Cao từng giữ chức 相國 Tướng quốc, và có ảnh hưởng chính trị đáng kể từ những năm đầu của thời kỳ Vương quốc Đại Lý; sự nắm chặt quyền cai quản của họ đã hạn chế đáng kể họ Đoàn.30 Trên thực tế, ảnh hưởng của họ lớn đến mức những người đương thời gọi họ là 高國主 “Cao Quốc chủ”. Bằng cách bổ nhiệm người họ Đoàn vào chức vụ cao nhất ở phía tây Vân Nam, nhà Nguyên-Mông đã công nhận rõ ràng họ là những thủ lĩnh tối cao của địa phương, có địa vị vượt trội so với đối thủ của họ, gia tộc họ Cao. Nhà họ Đoàn rõ ràng đã nổi lên từ cuộc chinh phục với tư cách là người thừa kế không thể tranh cãi đối với di sản của vương quốc Đại Lý. Điều này đã khuyến khích người Tổng quản thứ hai và cuối cùng của chế độ Tổng quản họ Đoàn, Đoàn Bảo 段寶 (tại vị 1366-1381), yêu cầu các quan lại nhà Minh xâm lược công nhận họ là một triều đại có tên là Vương quốc Hậu Lý quốc 後理國 (Hayashi, 1996. 28). Việc phong Đoàn Thực làm Tổng quản đầu tiên vào năm 1261 là rất quan trọng vì nó khôi phục uy tín cho dòng họ, khẳng định tính hợp pháp của họ và gia tăng quyền lực của họ trong các cộng đồng địa phương.

Nhà Nguyên-Mông rất cần uy quyền của họ Đoàn để tăng cường cai trị người dân địa phương dọc theo các con đường dẫn đến Ấn Độ Dương. Hệ thống cai trị Nguyên-Mông chia Vân Nam thành các đạo, các lộ, các châu và các huyện; họ bổ nhiệm các thủ lĩnh địa phương là các quan chức bản địa ở các khu vực mới chinh phục để đứng đầu các 宣慰司 Tuyên úy ty và các lộ.31 Họ giao cho 達魯花赤 Đạt Lỗ Hoa Xích giám sát các thủ lĩnh [tr.213] địa phương, và đóng quân Mông Cổ để đảm bảo kiểm soát chặt chẽ hơn.32 Chúng ta biết rằng các nhà lãnh đạo địa phương, theo truyền thống có lòng trung thành với Vương quốc Đại Lý từ Đại Lý cho đến Thượng Ayeyarwaddy, vẫn công nhận quyền thống trị của họ Đoàn, ngay cả sau cuộc chinh phạt. Các sứ thần của Kim Xỉ/ Bạch Di tới Triều đình Nguyên-Mông vào năm 1261 đã giải thích mối quan hệ chính trị của họ là “thuộc hạ của 六詔 Lục Chiếu, hay vương quốc Đại Lý, do đó minh chứng cho lòng trung thành hiện tại với họ Đoàn (Wang, 1498, 779; Daniels , 2000, 72). Sự tin cậy của nhà Nguyên-Mông với gia tộc họ Đoàn đã thừa nhận các mối liên hệ lịch sử của tổ tiên họ với các nhà lãnh đạo địa phương. Sự sắp xếp này tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động quân đội địa phương trong các chiến dịch quân sự chống lại người Miến; nó cho phép nhà Nguyên-Mông tập hợp quân đội và được đảm bảo các nguồn cung cấp trong khi hành quân. Sự cai quản chung của nhà Nguyên-Mông và gia tộc họ Đoàn đã đặt nền móng cho cuộc chinh phạt về phía nam tới Ấn Độ Dương.

______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Daniels, Christian (2018). The Mongol-Yuan in Yunnan and ProtoTai/ Tai Polities during the 13th-14th Centuries, In Journal of the Siam Society, Vol. 106, 2018.

Tác giả: Christian Daniels, Giáo sư tại Khoa Nhân văn, Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông. Các lĩnh vực quan tâm nghiên cứu chính/Lĩnh vực chuyên môn: (1) Lịch sử chuyển giao công nghệ Trung Quốc sang Đông Nam Á và sự di cư của người Hán, 1368 đến 1900. (2) Lịch sử tự trị của Tây Nam Trung Quốc và Đông Nam Á lục địa (đặc biệt là vai trò của các chế độ bản địa như chính thể Tai/Dai trong lịch sử Đông Nam Á và Trung Quốc) (3) Bảo tồn các tài liệu Tai/Dai ở Vân Nam và Đông Nam Á lục địa (4) Lịch sử xã hội, kinh tế và trí thức của Vân Nam.

Notes

1. His elder brother Möngke (Xianzong 憲宗 r.1251–1259) ordered Qubilai Qan (1215–94; shizu 世祖 r.1260–1294) to begin the campaign against the Dali Kingdom in the summer of 1253. For the Mongol conquest of Dali, see Herman (2007), pp. 47–49. The Mongol-Yuan 蒙元 period dates from the foundation of the Great Mongol Nation (Yeke Mongghol Ulus) in 1206. In Yunnan, the Mongol-Yuan period begins with the conquest of 1253 and ends in 1382 when overthrown by the Ming. Note that Mongol-Yuan domination of Yunnan commenced twenty-six years before the demise of the Southern Song, and ended fourteen years after the foundation of the Ming dynasty in 1368.

2. The Branch Secretariat of Yunnan and other places (Yunnan dengchu xingzhong shusheng 雲南等處行中書省) was established in 1276, over twenty years after the cataclysmic fall of the Dali kingdom, and it marked the foundation of Yunnan as a province of China, see YS, 61.1458. This was 137 years before the creation of Guizhou province in 1413 by the Ming dynasty.

3. The term for native officials during the Yuan and early Ming was tuguan土官. The earliestappearance of the term tusi 土司, which was used extensively during the Qing period, was in an entry for 1542 (Jiajing 21) in the Shizong Shilu 世宗實. The same source records ten more instances up to 1566 (Jiajing 45), see Luo Zhong and Luo Weiqing (2016), pp. 7-8, and Dai Jinxin (2015). None of these early references recorded the usage of the term tusi in Yunnan.

4. The stele titled, “Tomb Inscription for Instructor Mr. Kang (Jiaoyu Kang Gong Muzhi 教諭康公墓誌)”, is dated 12 March to 10 April 1461 (Tianshun 5/2). The printed version is in DFGJ, pp. 203–205.

5. For the biographical data of King Mangrai, I follow Liew-Herres, Grabowsky, and Wichienkeeo (2008), p. 53 fn 203. Journal of the Siam Society, Vol. 106, 2018

6. The Mongol-Yuan 蒙元 period dates from the foundation of the Great Mongol Nation (Yeke Mongghol Ulus) in 1206. In Yunnan, the Mongol-Yuan period begins with the conquest of 1253 and ends in 1382 when overthrown by the Ming.

7. YS, 41. 876. Also, see Liew-Herres, Grabowsky, and Wichienkeeo (2008), p. 86.

8. Lieberman (2003), pp. 241–242. Concerning early Tai movements and culture, see Lieberman (2003), pp. 240–242; Wyatt, (1984), pp. 24–60; Luce (1958), pp. 123–214; and O’Connor (1995), pp. 982–83.

9. Lieberman and Buckley (2012), pp. 1075–10768) also downplays Tai influence.

10. Lieberman (2003), p. 125.

11. For Tai raids on Pagan and Ava see Sun (2000), pp. 34–44, 224–42; Fernquest (2005), pp. 284–395, and Fernquest (2006), pp. 27–81.

12. Lieberman (2003), p. 125. Aung-Thwin (1998) also downplays Tai influence. Daniels (2012) cites the borrowing of Burmese script by the Tai of northern Burma and south-west Yunnan as an example of Burmese cultural influence on Tai rulers and aristocracy in the 13th century after the weakening of Pagan and the rise of Ava.

13. The upper Ayeyarwaddy river region includes the Shan and Kachin areas of northern Myanmar and the Dehong Tai and Jingpo Autonomous Area in south-west Yunnan.

14. Dr. Bill Mak 麥文彪 of Kyoto University has identified the script as an intermediate form, lying “between siddhamātṛkā (or siddham) and nāgarī, exhibiting characteristics resembling the latter more closely than the former.” Although Oskar von Hinüber (1989) identified this script to be siddham, Dr. Mak points out that the vowel representation and letters such as “a” and “i” indicate a nāgarī affiliation (not devanāgarī). Furthermore, he notes that the usage of nāgarī during the early Ming is not surprising since Sanskrit inscriptions in other parts of China during the Yuan/Ming period were written in either rañjana (lantsa) or nāgarī scripts, not siddhmātṛkā.” Indian monks who came to China during the Song period used nāgarī script, instead of the siddhmātṛkā, script of the Tang period. Dali scribes used nāgarī script to copy two Sanskrit texts included in the Fanxiang juan 梵像卷 (Scroll of Buddhist Images) executed by the Dali Kinggdom court painter, Zhang Shengwen 張勝, and dated 1180; the Duoxin Jingzhuang 多心經幢 (Heart Sutra Pillar) and the Huguo Jingzhuang 護國經幢 (Realm-Protecting Sutra Pillar), see Li Lincan (1982), pp. 121. The Uṣṇīṣavijayadhāraṇī on the reverse side of the Inscription followed the Yuan/Ming tradition of Sanskrit orthography. This explanation is based on Dr. Mak’s seminar talk at the Division of Humanities, HKUST, titled “Sanskrit inscriptions and manuscripts in Yunnan, a preliminary survey”, 30 August 2017, and email communications dated 31 August and 1 September 2017 respectively.

15. The absence of a date is not unusual. Dr. Mak informed me that he has not seen any dates on Sanskrit materials from Yunnan, or other parts of East Asia, email communications of 31 August and 1 September 2017 respectively.

16. These magic spells were probably designed to prevent evil spirts from entering the burial urn. My colleague, Professor Takashima Jun 高島淳, of the Research Institute for Languages and Cultures of Asia and Africa, Tokyo University of Foreign Studies, kindly provided a tentative transcription of the text in an email dated 13 September 2004. A photograph of the text was published in Tōkyō Gaikokugo Daigaku Ajia Afurika Gengo Bunka Kenkyūjo Ed., (2005), p. 40. Taking into consideration the mistakes in the orthography of the original, Dr. Mak has kindly emended the text as shown below and provided an English translation. Transcription: “oṃ visphuradakṣa vajrapaṃcara hūṃ phaṭ” Emendation: “oṃ visphurad rakṣa vajrapaṃjara hūṃ phaṭ” Translation: “Oṃ! Protect by darting asunder! Oh, the Diamond Net vajrapañjara 金剛網! Hūṃ! Phaṭ!” Dr Mak suggests that it may be connected to the Vajrapañjara Tantra, sometimes translated as the “Indestructible Tent Tantra”, email from Dr Mak dated 19 September 2017.

17. For the published version of this conference paper, see Tang Li (2017), pp. 15-19.

18. We learn from the Yuan History, Möngke appointed “Duan Xingzhi to take charge of state affairs (yi Duan Xingzhi zhu guoshi 以段興智主國事)” after the conquest of Dali, in recognition for the loyalty he displayed by presenting maps, requesting the pacification of ethnic groups, and suggesting policies for administration and taxation in 1255, see YS, 166. 3910. Neither Hayashi (1996), nor Fang Hui 方慧 (2001), pp. 48–52, pointed out the important role played by the restored Duan Family in managing polities formerly subordinate to them. Fang Hui summarised the contribution of the Duan family to Mongol-Yuan rule as assisting in the conquest of local leaders, participating in the campaign against the Tran Dynasty of Annam, and aiding them overthrowing the Southern Song.

19. Zhang Xilu (1991), p, 183-184, interpreted the restoration of the maharajā title as signifying that Duan Xingzhi was “a great tantric king (mijiao dawang 密教大王)”. Judging from the Nanzhao Tuzhuan (12th or 13th century copy), maharajā referred to the Mahayana tradition of kingship. This scroll depicted Menglonghao 蒙隆昊 or Longshun 隆舜 (reigned 877-?), the twelfth Nanzhao King, barefooted with his hair in a topnot and his hands cupped, waiting to be consecrated with water 灌頂 and pronounced monarch in front of a statute of Guanyin (Avalokitesva Bodhisattva 觀世音菩薩). An inscription in Chinese beside Longshun identified him as the “maharajā 摩訶羅嵯, the local cakravartin (tu lunwang 土輪王)”, who “accepts responsibility for the good and the mean, and requests all four quarters come together as one family 謙[慊]賤,四方請為一家”, see Li Lincan (1982), p. 137. The Fanxiang juan 梵像卷 of c. 1180 also illustrated a maharajā about to be consecrated with water before being declared king, see illustration 55 in Li Lincan (1982), p. 96. The coupling of the terms maharajā and cakravartin indicates the existence of the Mahayana tradition of kingship in Yunnan from the later 9th century, at least. Apart from inferring that the king was a universal monarch (世界大王) and a king of kings (王中之王), the term cakravartin 轉輪王 also signified that the king had assumed the form of a Bodhisattva Maitreya 彌勒菩薩 to found and rule his royal kingdom according to Hindu or Buddhist beliefs. Ku Cheng-mei (2016), p. 245, pointed out that this tradition of kingship was a characteristic feature of Mahayana Buddhist kingship in her study of the King of Dvaravati.

20. YS, 166.3910 refers to Duan Juri as Xinjuri 信苴日.

21. Unless otherwise noted, the periodisation and source material is based on written comments presented by Hayashi Ken’ichirō at the Historical Development of the Plains and Hills Bordering Southwest China and Southeast Asia Zomia Study Group Special International Workshop, at Center for Southeast Asian Studies, Kyoto University, 13 January 2017.

22. YS, 166.3911 recorded the bestowal of this title on Duan Shi’s son, Duan Aqing 段阿慶. For the dates of Duan Zheng and Duan Aqing, see Fang (2001), p. 8.

23. Hayashi (1996), pp. 9-13.

24. The civilian title was Military-cum-Civilian General Administrator of the Dali Route 大理路軍民総管, Assistant Grand Councillor 参政 and Administrator 平章 in the Branch Secretariat whilethe military title was that of a Pacification Commissioner.

25. Based on Hayashi’s written comments mentioned above.

26. Qubilai Qan assigned his brother, Hülegü (Hugechi 忽哥赤), the King of Yunnan, to take charge of Dali, Shanchan, Chahanzhang 茶罕章 and Chituge’er 赤禿哥兒 on 15 October 1267 (Zhiyuan 至元 4/9/gengxu). Chahanzhang refers to the white barbarians, or Baiman 白蠻, on both sides of the Jinsha river 金沙江 in north-west Yunnan, see Fang Guoyu (1987), pp. 788–790. Chituge’er refers to the spirit barbarians 鬼蠻, or black barbarians wuman 烏蠻, in eastern Yunnan and western Guizhou, see Fang Guoyu (1987), pp. 791–793.

27. YS, 61.1460. Gao Zhisheng 高智昇dispatched his grandson Gao Dahui 高大惠 to administer Beisheng Prefecture 北勝府, see YS, 61.1464.

28. Kuroda (2009), pp. 253-254 hypothesised that Sylhet, which lay on the contemporary eastern frontier of Muslim rulers in Bengal, functioned as the gateway to Yunnan.

29. YS.846. Kuroda is mistaken in locating Pinya in the Shan states. He noted that the stream of silver ceased with the “decay of Shan rule in Burma, and the collapse of the Mongol empire in China”. Kuroda (2009), pp. 255-256, surmised that the development of the Burma trade route through military means in 1338, together with the acquisition of stored silver from the Southern Song in 1276, explain the increase in silver during the late 13th and the first half of the 14th century.

30. For instance, a stele, dated 8 May 1376, recorded that during the pre-Mongol-Yuan period: “due to the distinguished meritorious service rendered by the Gao, [the Duan] appointed their descendants to prefectures, commanderies, sub-prefectures, and counties (fujun zhouxian 府郡州縣), and they built all the great monasteries on famous scenic mountains (mingshan dacha 名山大)”, see “Chongjian Yangpai Xingbao si xuzhi changzhu ji 重建陽派興寶寺續置常住記”, dated 8 May 1376 (Xuanguang 宣光6 丙辰/ 4/guimao), DCJP, vol. 10, p. 8.

31. YS, 91.2308 recorded: “The Pacification Commissions 宣慰司 are in charge of military and

civilian matters, and are divided into Circuits (dao ) for supervising commanderies and counties (junxian 郡縣). When the Secretariat 行省 issues administrative directives, they convey them to subordinate units, and when commanderies and counties have requests they report them to the Secretariat. When military issues arise on the frontiers, they double as Chief Military Commands (Du Yuanshuai Fu 都元帥府), or merely serve as Military Commands (Yuanshuai Fu 元帥府).”

32. Endicott-West (1989). pp. 44–63 emphasised the fragmentation and disorganisation that daruyaci brought to civil administration.

References

BMSW Bün2 Mäng2 Sën5 Wi1 bqNB mQnB sxNAviC.Taungyi: Wong wan press, nd. Transcribed into modern Shan script by Lung Taang Ke from a manuscript in old Shan script, copied by U Camyi at Mäng2 Yai on 14 July 1959.

DCJP Yang Shiyu 楊世鈺 and Zhang Shufang 張樹芳 ed. 1993. Dali Congshu Jinshi Pian 大理叢書金石篇. Beijing: Zhongguo Shehui Kexue Chubanshe, 10 volumes.

DFGJ Ma, Cunzhao 馬存兆. 2013. Dali Fengyi Gubeiwen Ji 大理鳳儀古碑文集.Hong Kong: Xianggang Keji Daxue Huanan Yanjiu Zhongxin 香港科技大學華南研究中心.

PSMKMLMKC Pün2 pöt1 süng3 ce4 mök3 khaaw1 maaw2 long1 mäng2 ko2 cam3 pi3 bqNBbwdCsqnBze mwgE hrvCmrvBlonC mQnB gOB zmE biE in Yunnan Sheng shaoshu minzu guji zhengli chuban guihua bangongshi, ed. (1988), pp. 172-250.

SMPTKMKC Saa2 mëng2 pu2 tün2 khä2mäng2 ko2 cam3 pi3 srBmxnBbuBdqNBhQBmQnBgOBzmEbiE in Yunnan Sheng shaoshu minzu guji zhengli chuban guihua bangongshi, ed. (1988), pp. 251–501.

YS Song Lian 宋濂 et al. Yuanshi 元史 . Beijing: Zhonghua shuju (1976).

Aung-Thwin, Michael. 1998. Myth and History in the Historiography of Early Burma: Paradigms,

Primary Sources, and Prejudices. Athens: Ohio University Center for International Studies.

Condominas, Georges. 1990. From Lawa to Mon, from Saa’ to Thai: Historical and Anthropological

Aspects of Southeast Asian Social Spaces. Canberra: ANU.

Dai Jinxin 戴晉新. 2015. “Du Mao Qiling Mansi Hezhi xu 讀毛奇齡《蠻司合志》序,Zhongguo Shehui Kexueyuan Lishishi Yanjiusuo Zunyi Shifan Xueyuan Tusi Wenhua Zhongxin et al., Ed., Diwujie Zhongguo tusi zhidu yu tusi wenhua guoji xueshu yantaohui lunwenji 第五屆中國土司制度與土司文化國際學術研討會論文集. Zunyi 遵義, pp. 54–58.

Daniels, Christian. 2000. “The Formation of Tai Polities Between the 13th and 16th Centuries: the Role of Technological Transfer”. The Memoirs of the Tōyō Bunko, 58, pp. 51–98.

Reprinted in Geoff Wade Ed., China and Southeast Asia; Routledge Library on Southeast Asia, Volume II Southeast Asia and Ming China (from the fourteenth to the sixteenth century), Routledge, London and New York, 2008, pp. 295~343.

Christian Daniels. 2012. “Script Without Buddhism: Burmese Influence on the Tay (Shan) Script of Mäng2 Maaw2 as seen in a Chinese Scroll Painting of 1407”. International Journal of Asian Studies. Vol. 9, Part 2, pp. 147–176.

Dehongzhou daixue xuehui 德宏州學學會 ed. 2005. Mengmao Nong Daizu lishi yanjiu 卯弄族歴史研究. Kunming: Yunnan minzu chubanshe.

Deyell, John. 1983. “The China Connection: Problems of Silver Supply in Medieval Bengal.”in Precious Metals in the Later Medieval and Early Modern Worlds, ed., J.F. Richard. Durham: Carolina Academic Press, pp, 207–227.

Endicott-West, Elizabeth. 1989. Mongolian Rule in China: Local Administration in the Yuan Dynasty. Cambridge: Council on East Asian Studies, Harvard University.

Fang Guoyu 方國瑜. 1987. Zhongguo Xinan Lishi Dili Kaoshi 中國西南史地理考釋. Beijing: Zhonghua Shuju.

Fang Hui 方慧. 2001. Dali Zongguan Duan Shi Shici Nianli ji qi yu Mengyuan Zhengquan Guanxi Yanjiu 大理總管段氏世次年及其與蒙元政權關係研究. Kunming: Yunnan jiaoyu chubanshe, pp. 48–52.

Fang Tie 方鐵. 2015. Fanglue yu Shizhi: Lichao Dui Xinan Bianjiang de Jingying 方略與施治:朝對西南邊疆的經營. Beijing: Shehui kexue wenxian chubanshe.

Fernquest, Jon. 2005. “Min-gyi-nyo, the Shan Invasions of Ava (1524–27), and the Beginnings of Expansionary Warfare in Toungoo Burma: 1486–1539.” SOAS Bulletin of Burma Research. 3.2, pp. 284–395.

Fernquest, Jon. 2006. “Crucible of War: Burma and the Ming in the Tai Frontier Zone (1382– 1454).” SOAS Bulletin of Burma Research. 4.2, pp. 27–81.

Grabowsky, Volker. 2010. “The Northern Tai Polity of Lan Na (Ba-bai Da-dian) in the 14th and

15th Centuries: The Ming Factor”. In Southeast Asia in the fifteenth century: The China factor. Geoff Wade and Sun Laichen eds. Singapore: NUS Press, pp. 197–245.

Gu Zuyu . Dushi Fangyu Jiyao 讀史方輿紀要. Xinhua Sanwei Shushi 新化三味書室 edition, 1899 (光緒 25 ).

Hayashi Ken’ichirō 林謙一郎. 1996. “Gendai Unnan no Danshi Sōkan 元代雲南の段氏總管”,

Tōyō Gakuhō 東洋學報. 78:3, pp. 1–35.

Hayashi Ken’ichirō 林謙一郎. 2016. “Yunnan Baizu yu Hunan Baizu de Minzu Rentong Qianxi 雲南白族與湖南白族的民族認同淺析.” in Sixth International symposium on Chinese Tusi System and Culture Conference papers 第六屆中國土司制度與土司文化國際學術研討會論文集. Jishou Daxue Lishi Wenhua Xueyuan 吉首大學史文化學院 and Yongshun Laosicheng Yizhi Guanlichu 永順老司城遺址管理處, pp. 378-379.

Herman, John E. 2007. Amid the Clouds and Mist: China’s Colonisation of Guizhou, 1200-1700. Cambridge: Harvard University Asia Center.

Hsiao Ch’i-Ching. 1994. “Mid-Yuan Politics”. In The Cambridge History of China, Vol. 6: Alien Regimes and Border States 9071368. ed. Herbert Franke and Denis Twitchett. Cambridge: Cambridge University Press, pp. 490-560.

Hucker, Charles O. 1985. A Dictionary of Official Titles in Imperial China. Stanford: Stanford University Press, 1985.

Izui, Hisanosuke 泉井久之助. 1949. Hikaku Gengo Kenkyū 比較言語學研究. Osaka: Sōgensha 創元社.

Jiang Yingliang 江應. 1980. Baiyi Zhuan Jiaozhu 百夷傳校注. Kunming: Yunnan renmin chubanshe.

Kajiyama Satoshi 梶山智史 2017. “Ryū Sō ‘San Ryūgan Hi’ kara mita Nanchū Daisei San shi劉宋「爨龍顔碑」からみた南中大姓爨氏”, in Kegasawa Yasunori 氣賀澤保則 Ed., Unnan no Rekishi to Bunka to sono Fūdo 雲南の歴史と文化とその風土, Tokyo: Bensei shuppan 勉誠出版社, pp. 59-82.

Ke, Shaomin 柯劭忞. 1956. Xin Yuanshi 新元史. Taibei: Ershiwu shi biankan.

Ku Cheng-mei 古正美. 2016. “Gudai Xianluo Zhuiheluo Wangguo de Dacheng Fojiao Jianguo Xinyang 古代暹羅墜和羅王國的大乘佛教建國信仰 (Dvaravati’s Mahayana Buddhist Conception of Royalty)” Rao Zongyi Guoxueyuan Yuankan 饒宗頤國學院院刊, 第三期 No. 3, pp. 241-286.

Kuroda Akinobu. 2009. “The Eurasian silver century, 1276-1359: Commensurability and Multiplicity”. Journal of Global History, 4, pp. 245–269.

Li Lincan 李霖燦 1982. Nanzhao Daliguo de Xinziliao Zonghe Yanjiu 南詔大理國新資料的綜合研究 (A Study of the NanChao and Ta-Li Kingdoms in the light of Art Materials Found in Various Museums), National Palace Museum, Taipei.

Liebenthal, Walter. 1947a. “Sanskrit Inscriptions from Yunnan I (and Dates of the Foundation of the Main Pagodas in That Province)”, Monumenta Serica, 12, pp. 1-40.

Liebenthal, Walter. 1947b. “A Sanskrit Inscription from Yunnan”, Sino-Indian Studies III Parts 1,2. Calcutta, pp. 10.-12.

Liebenthal, Walter. 1955. “Sanskrit Inscriptions from Yunnan II”, Sino-Indian Studies V Part 1. Santiniketan, pp. 46-68.

Lieberman, Victor. 2003. Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800~1830, Vol.

Journal of the Siam Society, Vol. 106, 2018.

Lieberman, Victor and Brendan Buckley. 2012. “The Impact of Climate on Southeast Asia circa. 950-1820: New Findings.” Modern Asian Studies. 46, 5 (2012) pp. 1049–1096.

Liew-Herres, Foon Ming 劉奮明, Volker Grabowsky and Aroonrut Wichienkeeo. 2008. Lan Na in Chinese Historiography: Sino-Tai Relations as Reflected in the Yuan and Ming Sources (13th to 17th Centuries). Bangkok: Institute of Asian Studies, Chulalongkorn University.

Liew-Herres, Foon Ming 劉奮明, Volker Grawbosky and Renoo Wichasin. 2012. Chronicle of Sipsòng Panna: History and Society of a Tai Lü Kingdom Twelfth to Twentieth Century. Chiang Mai: Mekong Press.

Lu Ren . 2012. “Yuandai Xuanwei Si de Bianjiang Yanhua ji Junzheng Guankong Tedian 元代宣慰司的邊疆演化及軍政管控特點. Yunnan Shifan Daxue Xuebao 雲南師範大學學報. Zhexue Shehui Kexue Ban 哲學社會科學版. Vol. 44, No. 6, pp. 25-32.

Luce, G.H. 1958. “The Early Syam in Burma’s History”. Journal of the Siam Society. 46, 2, pp. 123–214.

Luce, G.H. 1959. “Note on the Peoples of Burma in the 12th-13th Century AD”. Journal of The Burma Research Society. Vol. XLII, Part 1, pp. 52-74.

Luce, G.H. 1985. Phases of Pre-Pagan Burma: Languages and History. New York: Oxford University Press.

Luo Zhong 羅中 and Luo Weiqing 羅維慶. 2016. “Zhidu yu Fuhao: Liubianzhong Qingdai Tusi Zhidu de Duoyangxing Fazhan 制度與符號:流變中清代土司制度的多樣性發展”, Qingshi Luncong 清史論叢, No. 32, pp. 3-30.

Moore, Elizabeth. 2007. Early Landscapes of Myanmar. Bangkok: River Books.

O’Connor, Richard A. 1995. “Agricultural Change and Ethnic Succession in Southeast Asian States: A Case for Regional Anthropology.” Journal of Asian Studies. 54, 4, pp. 968-996.

Peng Gang 彭綱 and Zhou Jifeng 周季鳳. 1990. Zhengde Yunnan Gazetteer 正德雲南志 Preface 1510 (Zhengde 5). Included in Tianyige Cang Mingdai Fangzhi Xuankan Xubian 天一閣藏明代方志選刊續編, 70 &71. Shanghai: Shanghai Shudian.

Rossabi, Morris. 1994. “The Reign of Khubilai Khan” in The Cambridge History of China, Vol. 6: Alien Regimes and Border States 9071368. eds. Herbert Franke and Denis Twitchett. Cambridge: Cambridge University Press, pp. 414-489.

Shao, Yuanping 邵遠平. 2002. Xu Hongjian Lu Yuanshi Leibian 元史類編 (original 1699, Xuxiu Siku Quanshu. Shanghai: Guji Chubanshe.

Shintani, Tadahiko 新谷忠彦. 2000. Shan (Tay) go In’onron to Mojihōシャン (Tay) 語韻音論と文字法. Tokyo: Institute for the Study Languages and Cultures of Asia and Africa.

Shiratori Yoshirō 白鳥芳郎. 1950. “Genchō Nyū Men no Ichikōsatsu 元朝入緬の一考察”, Tōyō Gakuhō 東洋學報. 33: 3–4, pp. 69–89.

Su Tianjue 蘇天爵, ed. 1987. Yuan Wenlei 元文類. Sike Quanshu edition: Shanghai: Shanghai Guji Chubanshe.

Sun, Laichen. 2000. “Ming-Southeast Asian Overland Interactions, 1368–1644.” Ph.D diss., Univ. of Michigan.

Taizu Shilu, . 1962. Taibei: Guoli Zhongyang Yanjiuyuan Lishi Yuyan Yanjuisuo.

Tan, Qixiang 譚其驤 ed. 1982. Zhongguo Lishi Ditu Ji 中國歷史地圖集. Shanghai: Ditu Chubanshe.

Tang Li 唐立 (Christian Daniels). 2017. “Yuandai Babai Xifu Xuanwei Sishi Shifou Hanzu元代八百宣慰司使是否”, Zunyi Shifan Xueyuan Xuebao 义师范学院学,19,15-19.

Tōkyō Gaikokugo Daigaku Ajia Afurika Gengo Bunka Kenkyūjo 東京外国語大学アジア・アフリカ言語文化研究所. Ed., 2005. Zusetsu Ajia Moji Nyūmon 圖説アジア文字入門, Journal of the Siam Society, Vol. 106, 2018, Kawade Shobō Shinsha 河出書房新社, Tōkyō, 2005.

Tuguan Dibu 土官底簿. Siku Quanshu Zhenben Chuji edition.

von Hinüber, Oskar. 1989. “Two Dharani-Inscriptions from Tombs at Dali (Yunnan)”, Journal of the Siam Society, 77, 1, pp. 55-59.

Wade, Geoff. 2009. “An Annotated Translation of the Yuan Shi Account of Mian (Burma)” in The Scholar’s Mind: Essay in Honor of Frederick W. Mote. Perry Link, ed. Hong Kong: The Chinese University of Hong Kong, pp. 17-49.

Wang, Jinpin. 2016. “Clergy, Kinship, and Clout in Yuan Dynasty Shaanxi”. International Journal of Asian Studies, 13, 2, pp. 197-228.

Wang, Yun 王惲. Preface. 1498. Qiujian Xiansheng Daquan Wenji 秋澗先生大全文集. Sibu Congkan Chubian Jibu edition.

Wyatt, David K. 1984, Thailand: A Short History. New Haven and London: Yale University Press.

Wyatt David K. and Aroonrut Wichienkeeo. 1995. transl. The Chiang Mai Chronicle. Chiang Mai: Silkworm Books.

Yule, Henry, trs., Henri Cordier. 2012. The Travels of Marco Polo: The Illustrated Edition. New York: Fall River Press.

Yunnan Sheng Shaoshu Minzu Guji zhengli Chuban Guihua Bangongshi 雲南省少數民族古籍整理出版規劃辦公室. ed. (1988). Meng Guozhanbi Ji Meng Mao Gudai Zhu Wang Shi 猛果占璧及猛卯古代諸王史. Kunming: Yunnan Minzu Chubanshe.

Zhang, Tingyu et al. eds. 1995. Mingshi 明史. Beijing, Zhonghua Shuju.

Zhang Xilu 張錫祿. 1991. “Gudai Baizu Daxing Fojiao Zhi Azhali 古代白族大姓佛教之阿叱力,” in Lan Jifu 藍吉富 et al., Yunnan Dali Fojiao Lunwen Ji 雲南大理佛教論文集, Gaoxiong 高雄, Foguang Chubanshe 佛光出版社, 1991, pp. 171-214. Journal of the Siam Society, Vol. 106, 2018