Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

Tiền sử Việt Nam (VII)



Tiền sử Việt Nam (VII)
 
Người viết: Hà Hữu Nga

Theo đặt hàng của GS. Phan Huy Lê (2005)


Lưu ý đầu trang: Đây là bản draft đầu tiên tôi [Hà Hữu Nga] viết theo đặt hàng của GS. Phan Huy Lê, dưới sự hướng dẫn của GS. Trần Quốc Vượng. Vì vậy xin có ba lưu ý quan trọng:

1. Bản draft này được lưu ở đây với tư cách cá nhân và là bản draft chưa được chỉnh sửa.
2. Mọi hình thức sử dụng như: sao chép, trích dẫn v.v…là không hợp lệ.  
3.Vì GS. Trần Quốc Vượng ốm nặng và mất trước khi đọc bản draft này vào năm 2005 nên mọi sai sót có trong draft đều thuộc về người viết; nhiều quan điểm trong bài viết không chắc đã được GS. Trần Quốc Vượng đồng ý. 

3.5. Quá trình hình thành Nhà nước sơ khai ở Việt Nam và Đông Nam Á

Trong số các lý thuyết nghiên cứu quá trình phát triển tổ chức xã hội tiền sử có lẽ không lý thuyết nào đưa ra được một mô hình rõ ràng bằng mô hình phát triển nhóm - bộ lạc -  thủ lĩnh địa - nhà nước do các nhà nhân học Mỹ đề xuất từ giữa thế kỷ XX. Tuy nhiên khi áp dụng vào lý giải quá trình hình thành nhà nước tại khu vực Đông Nam Á, lý thuyết này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Đối với các nhà tiền sử học phương Tây thì các hạn chế liên quan đến mô hình ấy được họ cho là i) hầu hết các công trình nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á không được thực hiện theo khuôn khổ khảo cổ học nhân học Mỹ [Taylor, Keith W. 1992] (1); ii) còn thiếu các dữ liệu khảo cổ học, và có rất ít các bằng chứng khảo cổ học trực tiếp về giai đoạn tiền nhà nước của khu vực này từ 200 năm trước CN đến 800 năm sau CN; iii) các dữ liệu đã có thì lộn xộn, không thống nhất với các dữ liệu của các khu vực khác trên thế giới, vì vậy không thể so sánh được [Bentley, G. Carter 1986]; iv) việc áp dụng các mô hình tiến hóa vào khu vực này tỏ ra không mấy thành công. Hơn nữa không thể cố ép các xã hội tiền nhà nước vào khuôn khổ mô hình thủ lĩnh địa và các mô hình tiến hóa khác [Wisseman C. Jan 1992] (3). Trong khi đó khái niệm “thủ lĩnh địa” lại chính là một mô hình đề xuất về tính chất tập trung của ba biến số: “kiểm soát kinh tế, tiềm lực quân sự, và sự chính thống hóa lễ thức” trong “các xã hội trung gian đó” [Earle, Timothy, ed. 1991]. Một vấn đề cơ bản trong việc nghiên cứu quá trình hình thành của nhà nước là người ta không đưa ra được một định nghĩa thống nhất về thủ lĩnh địa là gì, và ngay cả việc coi những thực thể chính trị như thế nào là nhà nước cũng vẫn còn cần phải tranh luận. Theo họ, “Nhiều thực thể được dán nhãn “nhà nước sớm” như Angkor cũng mới chỉ có những đặc tính của các thực thể giống-thủ lĩnh địa - hoặc thậm chí là bộ tộc, nhất là ở quyền thừa kế không thể chế hóa, và người ta thường dựa vào tư cách ân uy của thủ lĩnh” [White C. Joyce. 1995].

Mặt khác, các đặc trưng giống-thủ lĩnh địa là “tính chất phân hóa thứ bậc xã hội đã rõ ràng”, trong đó các “thủ lĩnh đã tăng cường việc kiểm soát việc phân phối các hàng hóa uy tín trong vùng, cho các cộng đồng phụ thuộc vào xã hội của ông ta” [Wolter, O. W. 1982]. Có một thực thể nào đó giống-thủ lĩnh địa đã phát triển ở đây từ giữa đến cuối thiên niên kỷ I trước CN dựa vào sự xuất hiện của các phân cấp cư trú trong vùng [Higham, Charles F. W. 1989]. Tuy nhiên bằng chứng về các mối tương liên thủ lĩnh địa như chiến tranh, kế thừa bền vững cấp bậc xã hội, sự thống nhất về hệ tư tưởng, hoặc sự kiểm soát kinh tế của giới tinh hoa vẫn chưa hề rõ ràng. Bằng chứng chắc chắn về quyền lực chính trị tập trung hoặc sự chuyển đổi trong phân tầng xã hội với khả năng tiếp cận khác nhau đối với các nguồn chiến lược cũng chưa thấy có. Các nhà nhân học Mỹ cho rằng việc nghiên cứu các xã hội phức hợp Đông Nam Á lâu nay chỉ tập trung vào các cấu trúc thứ bậc giữa thượng tầng và hạ tầng xã hội [Welch, David and Rudith R. McNeill 1991]. Vì vậy cần phải có một khái niệm trung tâm dùng để thảo luận về quá trình xuất hiện nhà nước trong khu vực này.
           
Trong khi đó cách tiếp cận của Earle về quyền lực, sự thống trị, phân tầng xã hội, việc kiểm soát các nguồn, các lưu vực sông, kiểm soát trao đổi hàng hóa uy tín, chiến tranh, phụ thuộc, trung tâm, giới tinh hoa, và ân uy của thủ lĩnh...vv lại quá tập trung vào mối quan hệ theo chiều dọc (thứ bậc). Các vấn đề phức tạp như vậy được các nhà nghiên cứu cho là có thật và quan trọng, nhưng cách tiếp cận các vấn đề đó thì lại đơn tuyến. Và các nhà nhân học Mỹ đã đề xuất khái niệm thay thế, đó là lý thuyết mạng để giải quyết vấn đề này. Họ cho rằng các yếu tố then chốt của lý thuyết mạng phải là một cấu trúc thứ bậc linh họat và sự phân hóa xã hội theo bình tuyến hoặc phân cấp bên. Trong số các nhà nhân học phương Tây, Joyce White là người tiên phong dùng mô hình mạng để lý giải tiền sử Đông Nam Á, cho dù trước bà 13 năm mô hình này đã được đề xuất ở Việt Nam và vẫn được áp dụng cho đến bây giờ [Hà Hữu Nga 1982]. Bà cho rằng quá trình phát triển xã hội tại vùng trung tâm Đông Nam Á lục địa chí ít từ thiên niên kỷ II trước CN có những đặc trưng nổi bật và bền vững như sau: i) đa nguyên văn hóa; ii) các nền kinh tế bản địa được đặc trưng bởi: ii.a. các đơn vị sản xuất dựa trên cơ sở hộ, ii.b. sự chuyên môn hóa kinh tế dựa trên cơ sở cộng đồng, ii.c. các cơ chế phân phối sản phẩm mang tính cạnh tranh, đa trung tâm và trùng lặp, không có độc quyền của một trung tâm duy nhất; iii) hệ thống vị thế xã hội linh động trong thực tiễn và bao gồm cả sự thành đạt cá nhân; iv) các chiến lược giải quyết xung đột và tập trung quyền lực chính trị có khuynh hướng hình thành các liên minh bằng cách hợp tác - cạnh tranh ở trung tâm, và tái thỏa thuận định kỳ (trong khi đó chiến tranh, kiểm soát, chinh phục, hoặc các hành vi bạo lực khác chỉ là thứ yếu). Từ đó, White đã đưa ra mô hình phát triển xã hội Đông Nam Á như sau: i) địa phương hóa văn hóa vật chất một cách rõ ràng; ii) sự phát triển của các cộng đồng thủ công chuyên môn hóa; iii) tính chất cá nhân thể hiện rõ trong việc xử lý một số ngôi mộ khác thường chiểu theo các lễ thức mang tính cá nhân, căn cứ vào các vai trò kinh tế và/hoặc xã hội; rất hiếm có bằng chứng về chiến tranh hoặc bạo lực có tổ chức. Joyce White coi mô hình này là một mô hình mạng, vì nó nhấn vào tính chất linh động trong việc xác định vị thế, trong các mối quan hệ chính trị và việc phân hóa bên về phương diện kinh tế và xã hội [White C. Joyce 1995].

Trước hết có thể nói rằng White đã đúng khi phê phán cách tiếp cận tiến hóa đơn tuyến nhóm - bộ lạc - thủ lĩnh địa - nhà nước và áp dụng lý thuyết mạng vào việc nghiên cứu quá trình xuất hiện nhà nước tại Đông Nam Á, bởi vì ở khu vực này sự phân hóa xã hội không rõ ràng, đặc biệt không có phân hóa bền vững theo chiều dọc [Trần Quốc Vượng 1974, 1993, 1996, 2000]. Tuy nhiên việc bà sử dụng nghiên cứu trường hợp lưu vực sông Mun Chi (Thái Lan) làm “vùng hạch” để khái quát cho toàn bộ vấn đề xuất hiện nhà nước sớm ở Đông Nam Á thì lại là một sai lầm về phương pháp luận, vì Đông Nam Á chỉ là một tên gọi do người phương Tây đặt ra cho một khu vực địa lý rộng lớn. Đó không phải là một thực thể đơn nhất về kinh tế, văn hóa, xã hội, và chính trị, vì vậy không thể coi Thái Lan là đại diện cho toàn bộ sự phát triển của Đông Nam Á được. Sai lầm thứ hai của White có lẽ còn lớn hơn khi bà cho rằng khó mà tập trung được cả ba biến số mà Earle đưa ra: “kiểm soát kinh tế, năng lực quân sự, và sự chính thống hóa lễ thức” trong “các xã hội trung gian” trên con đường tiến tới hình thành nhà nước. “Trong khi đó việc kiểm soát kinh tế và năng lực quân sự lại không nhất thiết là vấn đề trung tâm đối với các xã hội nhà nước sớm trong khu vực này” [White C. Joyce 1995].

Việc Earle và các nhà nghiên cứu phương Tây sử dụng khái niệm “chính thống hóa lễ thức” thay thế cho khái niệm chính trị học hiện đại “thể chế” là một cố gắng thích nghi ngôn ngữ sử dụng để mô tả xã hội tiền sử Đông Nam Á. Tuy nhiên thực chất của chính thống hóa lễ thức chính là quá trình xây dựng thể chế, và đó chính là xây dựng cấu trúc thượng tầng xã hội. Nói cách khác, đó là hình hài của một nhà nước sơ khai. Về phương diện này cách tiếp cận của Earle là duy vật, mạch lạc và hoàn toàn chính xác. Trong khi đó White đã sai ở chỗ là tuy sử dụng mô hình mạng, nhưng về phương diện tri thức luận bà vẫn hoàn toàn tư duy theo lối đơn tuyến. Các thể chế, hay nói khác đi, những hình thức của nhà nước chỉ xuất hiện trên cơ sở một nhóm người đã có khả năng kiểm soát, và trên thực tế đã thực thi việc kiểm soát kinh tế. Và việc kiểm soát đó phải là trung tâm của vấn đề.

White đã đan một tấm lưới tri thức để đánh bắt con cá của vấn đề hình thành nhà nước sơ khai. Thế nhưng bà lại cắt bỏ cái rốn của tấm lưới, vì cho rằng sự kiểm soát kinh tế ấy “không nhất thiết phải là vấn đề trung tâm”. Trong khi đó, bất cứ quá trình hình thành nhà nước nào cũng gắn liền với việc chinh phục các cộng đồng khác và/hoặc chống lại sự chinh phục của các cộng đồng khác. Về khía cạnh này, chiến tranh đã trở thành một thuộc tính của quá trình hình thành nhà nước. Bằng sự phù phép của White, “năng lực quân sự” cũng lại “không nhất thiết là vấn đề trung tâm đối với các xã hội nhà nước sớm trong khu vực này”. Thiện chí ca ngợi người Thái của White là đáng trân trọng và không thể chối cãi, vì ở phương Tây, nước Mỹ của bà đã có “Pax america” – Hòa bình kiểu Mỹ; ở Đông Á đã có “Pax japona” - Hòa bình kiểu Nhật; thì ở Đông Nam Á cũng phải có một “Pax thailanda” - hòa bình kiểu Thái. Nhưng trên thực tế không một nền hòa bình nào không xây dựng nhà nước của nó dựa trên sức mạnh kinh tế và tiềm lực quân sự. Quên đi hay cố tình bỏ qua tất cả những vấn đề cốt yếu đó, White đã nhấn mạnh đặc biệt vào quá trình hình thành nhà nước ở Đông Nam Á lục địa thông qua các hệ thống liên minh chính trị – xã hội để cấu tạo nên bóng dáng của một Đông Nam Á cần được bảo trợ. Bà khẳng định rằng “các hệ thống chính trị lịch sử tộc thuộc và lịch sử ở Đông Nam Á cũng bộc lộ những yếu tố chung trong việc nhấn mạnh vào tính linh động và sự hình thành liên minh” [White C. Joyce 1995]. Bà lấy người khác để nói hộ mình “điều có tính chất quyết định cho sự thành công của các thủ lĩnh là thể hiện tài năng ngoại giao thông qua việc duy trì các mối quan hệ liên cá nhân” [Wolter, O. W. 1982, 17-18], hoặc “đàm phán hòa bình hoặc trao đổi bằng thương mại” [Hall, Keneth R. 1985] “mặc dù đã có nhiều cuộc chiến tranh được ghi chép lại, nhưng các sử gia không coi đó là hành động có tổ chức chính yếu đối với các thủ lĩnh giai đoạn sớm” [Wolter, O. W. 1982, 17-18], và “chí ít thì sự lãnh đạo hòa bình và việc xây dựng liên minh cũng luôn luôn được nhấn mạnh” [Hall, K. R. 1985].

Dường như White và hầu hết các nhà nghiên cứu phương Tây đều có chung một lối nhìn mập mờ đối với quá trình hình thành nhà nước sớm ở khu vực Đông Nam Á lục địa. Theo họ, đó là một quá trình hướng tâm vào phong cách ân uy của vị thủ lĩnh, nó đối lập với thực chất ly tâm giữa nhà nước và dân chúng [White C. Joyce 1995]. Dân chúng bị thu hút về phía các thủ lĩnh và hướng về trung tâm nên đã tạo ra một sự thống trị mở rộng hoặc một tình thế bức bách mở rộng lãnh thổ [Wisseman C. Jan 1985]. Và hệ quả tất yếu của động thái hướng tâm của dân chúng đối với nhà nước là ở chỗ nhà nước không chú trọng kiểm soát lãnh thổ bằng việc kiểm soát lao động, vì vậy mà nhà nước tập trung vào việc kiểm soát con người. “Cuộc chiến để kiểm soát con người được thực hiện bằng cách hình thành các liên minh chính trị với giới điền chủ địa phương. Và đây mới là mối bận tâm chính yếu của những người cai trị” [Hall, Keneth R. 1985]. Tuy nhiên White cũng đã có một lập trường rõ ràng khi đồng ý với Aung-Thwin rằng “mật độ dân số thấp luôn luôn là một vấn đề của các nhà nước Đông Nam Á. Việc xây dựng mối quan hệ thần thuộc tạo cơ sở cho việc tuyển dụng lao động chứ không phải là việc xác định các mối quan hệ vị thế trong phân tầng xã hội. Các thủ lĩnh lôi cuốn những người đi theo, thậm chí là toàn bộ cả một vùng bằng cách đảm bảo an ninh, ban cấp đất, ban thưởng tước vị, che chở và cho quyền được tiếp cận với nguồn nước nhằm tạo cơ hội khuyếch trương ảnh hưởng đối với dân chúng. Trong bối cảnh đó, các khái niệm ‘nô lệ’ hay ‘nông nô’ mà sử sách vẫn nói chính là những loại thần thuộc được bảo trợ” [Aung-Thwin M. 1985].

Đằng sau động thái nghiên cứu lịch sử hình thành nhà nước ở khu vực Đông Nam Á, các nhà nhân học phương Tây muốn nói một điều là trước khi du nhập ảnh hưởng Ấn Độ và Trung Quốc, vùng này vẫn nguyên vẹn là một xã hội không có lịch sử. Nhưng có lẽ đó cũng không phải là một ẩn ý, vì qua Wheatley, White đã phát biểu một cách không hề dấu giếm rằng: các nhà nước ở miền Bắc Việt Nam được Trung Quốc áp đặt [Wheatley, Paul 1979; White C. Joyce 1995]. Ngày nay, trong trào lưu của nền kinh tế tri thức, nhiều khía cạnh lý thuyết về vấn đề nhà nước đã được bổ sung hoặc được làm rõ thêm, trong đó có vấn đề về mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Trước đây trong lý luận về nhà nước người ta không đề cập đến loại hình sản xuất tri thức và thông tin. Người ta cố gắng đối lập tuyệt đối hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc để chứng minh cho sự vận động biện chứng của các loại hình nhà nước. Giờ đây vấn đề này đã được làm sáng tỏ, và thậm chí người ta còn đưa ra khái niệm nhà nước điện tử. Nhà nước điện tử là một loại hình nhà nước lấy sản xuất thông tin làm phương thức tồn tại của mình. Trong xã hội tiền sử Việt Nam đã có một hình thức nhà nước tồn tại dựa vào phương thức này. Đó chính là nhà nước Đông Sơn của người Việt cổ. Việc sản xuất ra hệ thống biểu tượng chính là một hình thức sản xuất thông tin tiền sử [Hà Hữu Nga 2004, 117 - 139]. Trống đồng là sản phẩm của một nền kinh tế biểu tượng, và bản thân nó là một biểu tượng quyền lực tập trung của các thế lực kiểm soát xã hội về kinh tế, tiềm năng quân sự, và tạo dựng thể chế. Chính chức năng sản xuất biểu tượng đã làm cho mối quan hệ giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở trở nên liên tục, không có gián đoạn. Và như vậy bản thân nhà nước cũng có chức năng sản xuất, chứ không phải là một cơ thể ăn bám xã hội. Phương thức sản xuất của nhà nước chính là sản xuất ra các chính sách, các quyết định, nó góp phần điều chỉnh hợp lý các nguồn tài nguyên trong xã hội. Không có phương thức sản xuất đó xã hội không thể tồn tại, vận hành và phát triển được. Vì vậy việc nghiên cứu quá trình hình thành nhà nước ở Việt Nam và Đông Nam Á cần có một định nghĩa mới về nhà nước. Chỉ có như vậy thì việc nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn của người Việt cổ mới có được đầy đủ ý nghĩa.
___________________________________


Tài liệu Tham khảo

Aung-Thwin, Michael 1985. Pagan: the Origins of Modern Burma. Honolulu: University of Hawaii Press., p. 87.

Bellwood P. 1997. Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago. 2nd Edition. Honolulu: University of Hawaii Press.

Bentley, G. Carter 1986. Indigenous States of Southeast Asia. Annual Review of Anthropology 15: 275 – 305.

Bowler, Sandra 2001. Nguồn gốc Châu á Khảo cổ học và Nhân học, trong Bức khảm văn hoá Châu á - Tiếp cận Nhân học (Grant Evans chủ biên), bản tiếng Việt, do Cao Xuân Phổ dịch, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 2001. Trang 51.

Bùi Vinh 1993. Khai quật di chỉ Làng Còng (Thanh Hoá) – 1992. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1992, Hà Nội, trang 50 -51.

Bùi Vinh 2003. Cư dân văn hoá Đa Bút trong các đợt biển tiến (Nhận thức qua tư liệu Địa - Khảo cổ học ở Làng Còng và Hang Sáo). Tạp chí Khảo cổ học, số 2 (122) (III-IV), trang 3-15.

Chử Văn Tần 1976. Tìm hiểu quá khứ xa xưa của Tây Bắc. Khảo cổ học, số 18-1976, trang 40-53.

Ciochon R.L, 1988. Gigantopithecus the King of all apes. Animal Kingdom, Vol. 91, No. 2, 1988.

Colani, M. 1928. Notice sur la préhistoire du Tonkin, BSGI, vol. XVIIIV, 1, pp. 71-72.

Diệp Đình Hoa 1978: Về những hiện vật kim loại ở buổi đầu thời đại đồ đồng thau Việt Nam, Tạp chí Khảo cổ học số 2, trang 11-20.

Donald, M. 1991. Origins of the Modern Mind: Three Stages in the Evolution of Culture and Cognition. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Đào Qúi Cảnh 2004. Vấn đề nông nghiệp trong văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trang 64.

Đào Thế Tuấn 1988.   trang 44. Về những hạt gạo cháy phát hiện ở Đồng Đậu (Vĩnh Phú) năm 1984. Tạp chí Khảo cổ học, số 4, trang 44-46.

Earle, Timothy, ed. 1991. Chiefdom: Power, Economy and Ideology. New York: Cambridge University Press.

Eblen, Ruth A. and William R. Eblen, Editors 1994. The Encyclopedia of the Environment. The René Dubos Center for Human Environments. Huston Mifflin Company, Boston New York 1994. p. 4.

Eisler R. 1987. The Chalice and The Blade: Our History, Our Future. New York, Harper & Row, 1987.

Gardner, H. 1997. Thinking about thinking. New York Review of Books. 9-10-1997.

Gorman C.E. 1970. Excavations at Spirit Cave, North Thailand: some interim interpretations. Asian Perspectives 13: 79-107.

Gorman C.E. 1971. The Hoabinhian and after: subsistence patterns in Southeast Asia during the late Pleistocene and early Recent periods. World Archaeology 2 (3): 300 – 320.

Grenier, Louise 1998. Working with Indigenous Knowledge, a Guide for Researchers. International Development Research Centre, Ottawa, Canada.  pp. 1-9.

Hà Hữu Nga 1982. Thời đại đá mới Việt Nam: Môi trường – Văn hóa và một mô hình tổng quát. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1982. Hà Nội.
         
Hà Hữu Nga, Nguyễn Cường, và Bùi Vinh 1996. Báo cáo Khai quật di chỉ Mai Pha (Lạng Sơn). Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Hà Hữu Nga 1998. Có một nền văn hoá Soi Nhụ tại khu vực vịnh Hạ Long. Kỷ yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1997. Hà Nội 1998, trang 91.

Hà Hữu Nga, Nguyễn Văn Hảo 1999. Hạ Long thời tiền sử. Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 1999.

Hà Hữu Nga 2000. Soi Nhụ – Nền văn hoá cổ nhất hiện biết trên vịnh Hạ Long.  Hội thảo Vịnh Hạ Long 5 năm di sản Thế giới, do UBND Tỉnh Quảng Ninh – Bộ Văn hoá Thông tin và Uỷ ban UNESCO Việt Nam tổ chức, Hạ Long 4-2000, trang 72-80.

Hà Hữu Nga 2004. Khảo cổ học Đông Bắc Việt Nam từ những hệ thống sinh thái nhân văn tới các cấu trúc xã hội tiền nhà nước. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam, Tập I, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2004. Trang 117-139.

Hà Văn Tấn 1962. Về vấn đề người Indonesian và loại hình Indonesian trong thời đại nguyên thuỷ Việt Nam. Thông báo Khoa học Đại học Tổng hợp, Sử học I, trang 168 – 202.

Hà Văn Tấn 1976. Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên và vấn đề Tiền Việt Mường (một giả thiết công tác mới).

Hà Văn Tấn 1982. Từ Bàu Tró đến Sa Huỳnh. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1980, Hà Nội, trang 142-144.

Hà Văn Tấn 1984. Lớp dăm đá vôi ở Ngườm với khí hậu cuối Pleistocene ở Đông Nam á. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1984, trang 18-20.

Hà Văn Tấn 1986. Kỹ nghệ Ngườm trong một phối cảnh rộng hơn. Tạp chí Khảo cổ học, số 3, 1986, trang 3-10.

Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998. Khảo cổ học Việt Nam. Tập I. Thời đại đá Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trang 76.

Hà Văn Tấn (chủ biên) 1999. Khảo cổ học Việt Nam. Tập II. Thời đại kim khí Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

Hà Văn Tấn, Nguyễn Xuân Mạnh,...1985. Khai quật lần thứ hai di chỉ Thành Dền (Hà Nội), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1984, trang 95.

Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998. Khảo cổ học Việt Nam. Tập I. Thời đại đá Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trang 60 – 63.

Hà Văn Tấn, Bùi Vinh và Võ Qúi 1990. Những dấu hiệu về một nền văn hoá khảo cổ mới ở Hà Tuyên. Tạp chí Khảo cổ học, số 1-2-1990. trang 34-38.

Hall, Keneth R. 1985. Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press.

Higham, Charles F. W. 1989. The later Prehistory of Mainland Southeast Asia. Journal of World Prehistory 3: 235 – 282.

Hoàng Xuân Chinh và Nguyễn Văn Bình 1978. Điều tra khảo cổ học thời đại đá cũ ở Đồng Nai và Sông Bé. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1978.

Hodder, Ian 1991. Reading the Past – Current Approaches to Interpretations in Archaeology. Second Edition. Cambridge University Press. pp. 121-149.

Lê Văn Thuế, Vũ Thế Long 1976. Nghiên cứu di tích xương răng động vật ở di chỉ Hoa Lộc (Thanh Hóa). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1976, Hà Nội, trang 145.

Lê Văn Thuế – Vũ Thế Long 1986. Di cốt động vật ở Hang Dơi (Lạng Sơn). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1985, Hà Nội 1986, trang 49.

Lê Xuân Diệm – Phạm Quang Sơn – Bùi Chí Hoàng 1991. Khảo cổ học Đồng Nai thời Tiền sử. Nhà xuất bản Đồng Nai.

Lưu Tỳ, Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Tứ Dần ... 1985. Đặc điểm địa mạo thềm lục địa Việt Nam và các vùng lân cận, Tạp chí Khảo cổ học, số 2-1985, trang 16 – 18.

Mansuy H. 1924. Stations préhistoriques dans les carvenes du massif calcaire de Bacson (Tonkin). MSGI. Vol. 11,No. 2.

Mansuy H. 1925. Stations préhistoriques de Keo Phay (suit) de Khac Kiem (suit) de Lai Ta (suit) et Bang Mac dans le massif calcaire de Bac Son (Tonkin). MSGI. Vol. 12, No. 2.

Mansuy H. et M. Colani 1925. Néolithique inferieur (Bacsonien) et néolithique superieur dans les Haut Tonkin. MSGI. 12, f.3.

Mansuy, H. 1925. Nouvelles de cauvertes dans les carvens du massif calcaire de Bac Sơn (Tonkin). MSGI. Vol. 12, N0 1, p. 34.

Mithen, Steven J. 1996. The Prehistory of the Mind: The Cognitive Origins of Art, Religion and Science. Cambridge: Cambridge University Press.

Nguyễn Cường 2002. Văn Hoá Mai Pha. Sở Văn hoá Thông tin Lạng Sơn, trang 90.

Nguyễn Duy và Nguyễn Quang Quyền 1966. Nghiên cứu về hai sọ cổ ở Quỳnh Văn – Nghệ An. Trong Một số báo cáo về Khảo cổ học Việt Nam. Hà Nội, trang 351-366.

Nguyễn Duy Tỳ, Đào Linh Côn 1985. Kỹ thuật luyện kim đồng thau ở địa điểm Dốc Chùa. Tạp chí Khảo cổ học, số 3, trang 24-30.
   
Nguyễn Đình Khoa 1986. Con người thuộc văn hoá Hoà Bình. Tạp chí Khảo cổ học số 1-1986.

Nguyễn Khắc Sử 1983. Sự phát triển kinh tế và tổ chức xã hội của cư dân cổ Cúc Phương, Tạp chí Khảo cổ học, số 1 - 1983, trang 20.

Nguyễn Khắc Sử 1995. Văn hóa Biển Hồ ở Tây Nguyên. Tạp chí Khảo cổ học, số 3- 1995, trang 7 – 16.

Nguyễn Khắc Sử và cộng sự 1998. Báo cáo điều tra khảo cổ học vùng ngập nước tỉnh Lai Châu (chủ biên). Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Nguyễn Kim Thuỷ 2004. Cư dân Đa Bút qua tài liệu Sinh khảo cổ. Tạp chí Khảo cổ học, số 1 (127) (I-II), trang 15-23.

Nguyễn Lân Cường 1977. Di cốt người cổ ở hang Con Moong. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1976. Hà Nội 1977. Trang 112

Nguyễn Lân Cường 1988a. Trở lại vấn đề niên đại của hoá thạch người ở Việt Nam. Tạp chí Khảo cổ học số 1-2, 1988, trang 4-11.

Nguyễn Lân Cường 1988b. Di cốt người cổ trên đất Lạng Sơn. Tuyển tập luận văn Hội nghị khoa học Xứ Lạng, Lạng Sơn 1988, trang 39.

Nguyễn Lân Cường 1992. Những hoá thạch người cổ ở Việt Nam và Đông Nam á trong thời kỳ Pleistocene. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 1, trang 5-12.

Nguyễn Lân Cường 1996. Đặc điểm nhân chủng cư dân văn hoá Đông Sơn
ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1996.

Nguyễn Thị Kim Dung 1986. Báo cáo khai quật công xưởng Tràng Kênh lần thứ hai. Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Nguyễn Thị Kim Dung, Đặng Văn Thắng...1995. Đồ trang sức trong mọ chum ở Cần Giờ. Trong Khảo cổ học, số 2, trang 27-45.

Nguyễn Trung Chiến 2003. Mối quan hệ và liên hệ ở bình tuyến đá mới hậu Hoà Bình – Bắc Sơn ven biển Đa Bút – Quỳnh Văn – Cái Bèo – Bàu Dũ. Tạp chí Khảo cổ học, số 4 (124) (VII-VIII), 2003, trang 11 - 12.

Nguyễn Trường Kỳ 1983. Bước đầu tìm hiểu nghề thủy tinh ở nước ta. Tạp chí Khảo cổ học, số 1, trang 47-54.

Nguyễn Văn Long và Lê Trung Khá 1977. Về những hiện vật đá cũ mới tìm được ở Vườn Dũ (Sông Bé) và Gia Tân (Đồng Nai). Tạp chí Khảo cổ học, số 4-1977.

Patte E. 1932. Le Kjokkenmodding néolithique de Dabut et ses sépultures (province de Thanh Hoa, Indochine). BSGI, Vol. XIX, pt.3, 1932.

Phạm Đức Mạnh 1985. Qua đồng Long Giao. Tạp chí Khảo cổ học, số 1, trang  37 – 68.

Phạm Quang Sơn 1978. Bước đầu tìm hiểu sự phong phú văn hóa hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau ở lưu vực sông Đồng Nai. Tạp chí Khảo cổ học, số 1, trang 35-40. 

Phạm Thị Ninh 1995. Văn hoá Bàu Tró - đặc trưng và loại hình.Luận án Phó tiến sĩ, Khoa học lịch sử, Hà Nội, trang 9 – 11.

Sahlins. M.D., and E. R. Service, eds. 1960. Evolution and Culture. Ann Arbor: University of Michigan Press.

Saurin E. 1939. Les cranes préhistoriques inédit de Lang Cuom. Far Eastern Association of Tropical Medicine 10ème Congrès. T. I. Hanoi.

Saurin E. 1956. Outilage Hoabinhien à Giap Khau, Port Courbet (Nord Vietnam). BEFEO. Vol. XLVIII, No. 2, 1956.

Sharer, Robert J. and Wendy Ashmore 1992. Archaeology Discovering Our Past. Second Edition. Mayfield Publishing Company, Mountain View, California. London . Toronto. Pp. 561-562.

Taylor, Keith W. 1992. The early Kingdoms. Pp. 137 - 182 in The Cambridge History of Southeast Asia, N. Tarling, ed. Cambridge: Cambridge University Press. P. 181. 

Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh 2001. Địa chí Quảng Ninh. Tập I, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, trang 421.

Trần Quốc Vượng 1974. Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng. Trong Khảo cổ học, số 14, Hà Nội, tr. 71-81.

Trần Quốc Vượng 1986. Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Thung lũng. Tạp chí Khảo cổ học, số 2-1986, trang 1- 6.

Trần Quốc Vượng 1993. Mấy nét khái quát lịch sử cổ xưa về cái nhìn về biển của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, 1993.

Trần Quốc Vượng 1996. Mấy ý kiến về trống đồng và Tâm thức Việt cổ. Trong Theo dòng lịch sử - Những vùng đất, thần và tâm thức người Việt. Nxb. Văn hóa, Hà Nội, tr 39-65.

Trần Quốc Vượng 2000. Việt Nam và biển Đông, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3(71), 2000.

Trình Năng Chung 1991. Kỹ nghệ Ngườm và văn hoá Bắc Sơn, Tạp chí Khảo cổ học, số 2, trang 16 – 21.

Verneau R. 1909. Les cranes humains du gisement de Pho Binh Gia (Tonkin). L’Anthropologie. No. 20: 545-549.

Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 1969. Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Việt Nam về văn hoá Bắc Sơn, Hà Nội, trang 140.

Vũ Quốc Hiền, Chu Văn Vệ 1996. Công cụ đá và đồ trang sức bằng vỏ nhuyễn thể ở di chỉ Bích Đầm (Khánh Hòa). Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1976, Hà Nội, trang 90.

Vũ Thế Long, Lê Trung Khá, và Hoàng Văn Dư 1977. Khai quật Thẩm ồm (Nghệ An) đợt I. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1977, trang 13.

Vũ Thế Long 1982. Về những chiếc răng vượn khổng lồ. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1982, trang 67-69.

Vũ Thế Long 1984. Người Hoà Bình và thế giới động vật. Tạp chí Khảo cổ học, số 1-2, 1984. Trang 126.

Vũ Thế Long, Hà Hữu Nga 2004. Phát hiện công cụ thời đại đá cũ ở Đak Lak. Kỷ yếu Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2003. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Wheatley, Paul 1979. Urban genesis in mainland South East Asia. Pp. 288 – 303 in Early South East Asia: Essays in Archaeology, History and Historical Geography. R. B. Smith and W. Watson, eds. New York: Oxford University Press.

Weidenreich, F. 1943 “The skull of Sinanthropus pekinensis”, Palaeontologica Sinica (n.s. D), Vol. 10, pp. 1 – 298.

Welch, David and Rudith R. McNeill 1991. Settlement, agriculture and population changes in the Phi Mai region, Thailand. Pp. 210 – 228 in Indo-Pacific Prehistory 1990: Proceedings of the 14th Congress of the Indo-Pacific Prehistory Association, Yogyakarta, Indonesia, vol. 2. Bulletin of the Indo-Pacific Prehistory Association 11.

Wisseman C. Jan 1985. Theater States and Oriental Despotisms: Early Southeast Asia in the Eyes of the West. Hull: University of Hull Center for South-East Asian Studies Occasional Paper no. 10., p.9.

Wisseman C. Jan 1992. Trade and settlement in early Java: integrating the epigraphic and archaeological data. Pp. 181 – 197 in Early Metallurgy, Trade and Urban Centers in Thailand and Southeast Asia. I. Glover, P. Suchitta, and J. Villiers, eds. Bankok: White Lotus.

White C. Joyce. 1995. Incorporating Heterarchy into Theory on Socio-Political Development: The Case from Southeast Asia. In Heterarchy and the Analysis of Complex Societies. Robert. M. Ehrenreich, Carole L. Crumley, and Janet E. Levy, eds. Archaeological Papers of the American Anthropological Association, Number 6. Arlington, Va.: American Anthropological Association. Pp. 101 – 123.

Wolter, O. W. 1982. History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2012

Thiếu vắng Ký ức Lịch sử “Việt Nam” sớm


Thiếu vắng Ký ức Lịch sử “Việt Nam” sớm

Le Minh Khai

Người dịch: Hà Hữu Nga


Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch và chuyển tải đến những ai liên quan - quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai đặt ra nhằm thúc đẩy học thuật phát triển. 


Khi các học giả trung đại Việt Nam viết các bộ sử đầu tiên về vùng đồng bằng Sông Hồng họ đã cấu trúc các bộ sử đó xung quanh nguyên tắc chính trị 正統 chính thống được truyền từ người trị vì này đến người trị vì khác.

[Đại] Việt sử lược bắt đầu dòng chính thống này với Triệu Đà, một người sinh ra tại tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc), sau đó đã thiết lập vương quốc của ông ta tại khu vực Quảng Đông ngày nay và tự coi mình là hoàng đế vào thế kỷ III TCN (Trước Công nguyên).  

Sau đó một sứ bộ triều đình nhà Hán đã khuyên Triệu Đà bỏ “Đế hiệu” vì vậy mà người nối nghiệp ông ta được mô tả trong các văn liệu Trung Quốc và trong [Đại] Việt sử lược là vương, Văn vương, vương là một thuật ngữ có thể chấp nhận được đối với người đứng đầu một chính thể tự nhận là trung thành với nhà Hán, đó là điều mà nhà Hán thuyết phục Triệu Đà tuân thủ.

Sau đó sách Đại Việt sử ký toàn thư đã khơi sâu dòng chính thống đó tới tận Kinh Dương Vương, và truyền qua các vủa Hùng tới Triệu Đà.

Giống như các bộ sử Trung Quốc, Đại Việt sử ký toàn thư cũng xác định rằng Triệu Đà đã bỏ Đế hiệu và người kế nghiệp đã dùng “Văn Vương”.

Thực ra thì Đại Việt sử ký toàn thư không chỉ theo nội dung các bộ sử thuộc các triều đại sớm của Trung Quốc về phương diện này, mà thong tin được đưa ra trong nhiều trường hợp là chuyển dịch đúng nguyên văn từng từ.

Điều đó dẫn đến nhiều câu hỏi được đặt ra: Liệu những công trình như [Đại] Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư có phải là một phần của truyền thống lịch sử Việt? Có phải các sáng tạo thời trung đại có dựa vào các nguồn sử sách Trung Quốc hiện có không? Nói cách khác, liệu chúng có bao gồm bất cứ ký ức lịch sử nào, hoặc các bộ sử đó có được biên soạn bằng cách sao chép những gì đã có của các học giả Trung Quốc?  

Khảo cổ học có thể giúp chúng ta trả lời các câu hỏi này. Trong những năm 1980, các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã khai quật mộ của người mà họ tin là kế nghiệp Triệu Đà là Văn Vương. Tuy nhiên rất đáng ngạc nhiên là họ đã phát hiện được trong mộ một chiếc ấn có ghi 文帝行璽 “Văn Đế hành tỷ”.

Trong khi các nguồn sử liệu Việt Nam và Trung Quốc đều cho rằng Triệu Đà thôi không dùng “Đế hiệu” nữa thì phát hiện khảo cổ học này đã cho thấy không có chuyện Triệu Đà bỏ “Đế hiệu”.  Không những thế người kế vị ông ta cũng vẫn sử dụng “Đế hiệu”.

Như tôi đã nói ở trên, các bộ Việt sử đầu tiên được viết xoay quanh nguyên lý “chính thống”. Trong  thực tế việc Triệu Đà đã tuyên xưng Hoàng đế là rất quan trọng đối với các bộ sử này, vì ông ta là nhân vật đầu tiên ở “phương Nam” đã làm như vậy.

Khi đã biết rõ tầm quan trọng của quan niệm ấy, thế mà tại sao các bộ sử này lại không chỉ rõ là người kế nghiệp của ông ta vẫn dùng đế hiệu?

Họ đã không đề cập đến sự kiện này vì không có ký ức lịch sử và không có truyền thống lịch sử trong vùng. [Đại] Việt sử lược Đại Việt sử ký toàn thư là sản phẩm của quá trình sáng tạo lịch sử diễn ra trong thời trung đại. Không có ký ức lịch sử trong các công trình đó.

Vậy thì điều đó đưa ta tới một vấn đề còn lớn hơn. Nếu các sử gia Việt không nhớ “Văn Đế” thì làm sao mà họ có thể nhớ nổi các vua Hùng sớm hơn?


Nguồn://leminhkhai.wordpress.com/2012/04/10/the-absence-of-historical-memory-in-early-vietnam/


Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

Nhà nước hóa, Chủ nghĩa Dân tộc Nhà nước và các vua Hùng

Nhà nước hóa, Chủ nghĩa Dân tộc Nhà nước và các vua Hùng

Le Minh Khai

Người dịch: Hà Hữu Nga


Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam; đề cập đến các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa hàng đầu của Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch và chuyển tải đến những ai liên quan - quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai đặt ra nhằm thúc đẩy học thuật phát triển.


Có một bài viết rất đáng quan tâm đề cập đến các nguồn tin tức trên Internet Việt Nam và về các blog Việt Nam. Đó là một câu truyện về việc “nhà nước hóa” các lễ hội và học giả Ngô Đức Thịnh sợ rằng hiện tượng đó làm giảm vai trò tham gia, cũng như ý nghĩa của các lễ hội đó đối với những người dân trong vùng.

Lý do cho vấn đề này được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng là vì lễ hội giỗ tổ các vua Hùng hàng năm vừa mới qua đi và cũng giống như các lễ hội khác, chẳng hạn lễ hội đền Trần, lễ giỗ tổ Hùng vương tại tỉnh Phú Thọ cũng cho thấy sự can thiệp ngày càng tăng của các quan chức chính quyền địa phương.

Để rút ngắn bớt câu truyện dài dòng, và điều không được trực tiếp nói ra trong bài viết trên chính là các quan chức quốc gia và địa phương đã nhận thấy rằng sẽ kiếm được rất nhiều tiền nếu biến các lễ hội địa phương thành quy mô quốc gia. Chính vì vậy mà nhà nước ngày càng can thiệp sâu hơn vào các lễ hội.  

Theo bài viết này (Lo nhất: “Nhà nước hóa” lễ hội!), thì sự can dự của nhà nước vào lễ hội Đền Hùng bắt đầu từ thời nhà Nguyễn. Bài viết, dù không trích dẫn bất cứ nguồn nào, vẫn cho rằng nhà Nguyễn đã tạo ra nghi lễ giỗ tổ các vua Hùng, và trong quá trình đó, nghi lễ đã bắt đầu được coi là “Quốc lễ” , mặc dù bài viết cho rằng các vua nhà Nguyễn hiếm khi tham dự.

Nhưng sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, bài viết tiếp tục, Hồ Chí Minh và chính phủ của ông đã phân loại các di tích lịch sử khác nhau thành “di tích quốc gia”, bao gồm đền thờ các vua Hùng tại Phú Thọ. Chính phủ Hồ Chí Minh cũng ấn định một ngày trong năm để tôn vinh các vua Hùng là ngày quốc lễ.

Hiện nay chính phủ Việt Nam đang gắng sức vận động UNESCO gắn biển cho đền thờ này là “di sản văn hóa” Thế giới. Điều đó sẽ làm tăng giá trị của di tích với tư cách là một địa điểm du lịch, và điều đó cũng có nghĩa là tiền.

Khi tham khảo hơn 17.000 trang sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sử lệ - Toát yếu luật lệ nhà Nguyễn, tôi không phát hiện được bất cứ tham chiếu nào liên quan đến nghi lễ giỗ các vua Hùng. Tuy nhiên công trình đó liên quan đến các điển lệ có hiệu lực từ trước khi nhà Nguyễn rơi vào chế độ “bảo hộ” của người Pháp.  

Trong khi tôi tìm kiếm các nguồn tư liệu chứng minh cho điều này thì không ai nói cho tôi biết rằng người Pháp là người đầu tiên tạo ra nghi lễ này, để giúp cho nhà Nguyễn xây dựng “Quốc lễ” “thích hợp” làm lợi cho nền quân chủ hiện đại.

Bên cạnh vấn đề nhỏ đó, điều mà tôi thấy bài viết đó chưa phát hiện ra và mối bận tâm của Ngô Đức Thịnh là ở chỗ trong khi sự thật là chúng ta có thể thấy quá trình “nhà nước hóa” các vua Hùng ngày càng tăng trong thế kỷ qua, thì đó chỉ là một kết quả thứ yếu của một lực đẩy nghiêm trọng hơn nhiều của chủ nghĩa dân tộc do nhà nước đỡ đầu để cổ vũ cho các vua Hùng với tư cách là tổ tiên của cả dân tộc.

Chỉ từ cuối những năm 1960 thì các vủa Hùng mới trở thành tổ tiên nghiễm nhiên của dân tộc Việt Nam, và điều đó đã diễn ra dưới sức ép ngày càng tăng của nhà nước để “chứng tỏ” rằng các vua Hùng thực sự có thật! Tôi đã có một số bài viết ngắn về đề tài này.

Vậy là theo Ngô Đức Thịnh thì quá trình “nhà nước hóa” lễ hội đền Hùng tại Phú Thọ là không tốt. Được thôi, nhưng thế còn 50 năm chủ nghĩa dân tộc được nhà nước đỡ đầu thì sao? Điều đó thì tốt, đúng không?


Nguồn: leminhkhai.wordpress.com/17 Apr. 2011/


Đọc quá khứ – những cách tiếp cận lý giải Khảo cổ học hiện nay (VI)


Đọc quá khứ – những cách tiếp cận
lý giải Khảo cổ học hiện nay (VI)


Ian Hodder

Người dịch: Hà Hữu Nga

Phê phán 
Mặc dù cuốn sách này muốn tìm cách lý giải đầy đủ về mối liên hệ giữa duy tâm và duy vật, trong khi đó đóng góp của Levi-Strauss trước hết là hướng tới một lý thuyết về siêu cấu trúc. Các mối liên hệ với hạ tầng cơ sở không phải là tiêu điểm nghiên cứu.

Theo cách tiếp cận ký hiệu học đối với ngôn ngữ trong công trình của Saussure, một công trình có ảnh hưởng chủ yếu đối với cấu trúc luận thì mối quan tâm nghiên cứu là xem xét việc tổ chức các ký hiệu sao cho chúng có nghĩa. Vì vậy từ “cái bình” là một vật biểu nghĩa võ đoán của khái niệm được biểu nghĩa.

Người ta nghiên cứu mối liên hệ giữa vật biểu nghĩa và vật được biểu nghĩa, nhưng lại ít quan tâm đến bản thân cái “vật” đó – trong trường hợp này thì là một chiếc bình bằng vật thật. Những cách tiếp cận như vậy không giúp cho chúng ta tìm kiếm những mối tương liên giữa duy tâm và duy vật. Cần có sự vận động từ mã “ngôn ngữ” được cấu trúc trừu tượng đến diễn ngôn hoặc việc “giao tiếp tình huống” (Ricoeur 1971; Barrett 1987; Hodder 1989a).

Việc phân tích trừu tượng các dấu hiệu và ý nghĩa đặc biệt là một vấn đề trong KCH, vì trước hết nó liên quan đến văn hoá vật chất. Chúng ta đào bới các hiện vật cũng nhiều như chúng ta đào bới các ý tưởng vậy. Và chúng ta muốn xem mỗi đối tượng vừa với tư cách là một vật, kết quả của những quá trình sản xuất và hành động, lại vừa như một ký hiệu, vì hiện vật đó (chiếc bình) tự thân nó là vật biểu nghĩa cho những khái niệm khác (chẳng hạn bộ lạc “x”, hoặc các hoạt động của phụ nữ). Việc nghiên cứu văn hoá vật chất mời gọi chúng ta bắc cây cầu qua con sông ngăn cách giữa duy tâm và duy vật, nhưng cấu trúc luận lại ít trợ giúp được cho chúng ta trong lĩnh vực này.

Khi tìm kiếm các mối quan hệ giữa cấu trúc và quá trình (có nghĩa là tính đệ qui của cấu trúc và hành động) thì cấu trúc luận đóng một vai trò cần, nhưng chưa đủ. Từ “cái bình” có thể là vật biểu nghĩa cho khái niệm về một cái bình. Nhưng cũng tương tự như vậy, bản thân hiện vật này cũng có thể là vật biểu nghĩa cho ý niệm về một cái gì đó là một chiếc bình – có những ảnh hưởng tới cả hai cách. Người ta thừa nhận các cấu trúc là trung gian cho hành động trong thế giới, nhưng chúng cũng bị biến đổi bởi những hành động đó. Bình luận mang tính phê phán như vậy có thể được thực hiện theo một cách nào đó khác. Hơn nữa trong cấu trúc luận và trong hậu cấu trúc luận (Bapty và Yates 1990) thì cá nhân chỉ là thụ động. Ngoài ra lại còn bị điều tiết bởi các qui luật thích nghi, giờ đây cá nhân bị quyết định bởi các cấu trúc và/ hoặc các qui luật phổ biến của tư duy. Sự khiếm khuyết của quan điểm này có thể thấy rõ bằng cách đặt câu hỏi “một phong cách tốt là gì?” trong mối liên hệ với mẫu trang trí hoặc bất kỳ lĩnh vực có cấu trúc nào của hành động. Tính “phong cách” không đơn giản là vấn đề tuân thủ các qui tắc một cách bền bỉ. O’Neale (1932) đã chỉ rõ những người đan giỏ Anh điêng ven biển Bắc Clifornia nói rằng các mẫu thiết kế là “tốt” nếu chúng dễ chịu và được sắp xếp hợp lý, trong khi những mẫu thiết kế có sắp xếp lộn xộn thì bị cho là “xấu”. Nhưng bằng chứng khẩu ngữ như vậy chỉ hỗ trợ cho quan niệm về một phong cách được cấu trúc tồn tại-trong cấu trúc, hoặc thậm chí vượt khỏi giới hạn của mình, nó vẫn có thể được coi là “có phong cách”. Một ngôi sao nhạc pop như Boy George có thể tạo ra một phong cách mới, và được cho là có phong độ cao, mặc dù không hề có một ngữ pháp thiết kế nào tạo ra những lựa chọn quần áo, trang sức và những ẩn ý. Hơn nữa, Boy George lại tạo ra phong cách bằng việc sử dụng, tận dụng và biến đổi các nguyên tắc cấu trúc liên quan đến việc trang sức. Anh sử dụng cấu trúc về phương diện xã hội để tạo ra cấu trúc và xã hội mới.

Vì vậy các lý thuyết của chúng ta về cấu trúc phải tạo điều kiện cho vai trò của các cá nhân năng động. Trong hầu hết KCH cấu trúc thì các vai trò có vẻ như tạo ra một tập hợp các chuẩn mực chung: mỗi cá nhân trong xã hội đều được xác định là có cùng cấu trúc để nhận ra chúng từ cùng một góc độ và để gán cho chúng cùng một ý nghĩa. Đây là một quan điểm rất định chuẩn (như đã đề cập ở chương 1) mà cuốn sách này muốn xem xét lại.

Một khía cạnh mang tính phê phán khác là cấu trúc luận là phi lịch sử theo hai nghĩa. Trước hết Saussure nhấn mạnh đến tính chất võ đoán của ký hiệu. Bất cứ từ nào cũng có thể được sử dụng để biểu thị nghĩa cho khái niệm về một chiếc bình, và bất cứ một hiện vật hoặc không gian nào cũng có thể được sử dụng để biểu nghĩa cho tính giới hạn, giới tính, nhóm bộ lạc, mùa hè và mùa đông. Rõ ràng là còn thiếu những tiếp cận như vậy trong một bộ môn có thể sử dụng cách đó để các ký hiệu trở nên có ý nghĩa, không võ đoán thông qua những chuỗi lịch sử dài hạn. Thứ hai, chúng ta chưa biết rõ các biến đổi cấu trúc đã diễn ra như thế nào. Chắc là người ta có thể dễ dàng nói rằng biến đổi liên quan đến sự chuyển hoá cấu trúc, và đây là một quan niệm quan trọng; nhưng trong các phân tích cấu trúc, tự thân chúng có ít nhu cầu biến đổi, và khó mà biết được tại sao các biến đổi ấy lại xảy ra và tại sao chúng lại xảy ra theo một đường hướng như vậy, và tại sao hoặc như thế nào mà tự thân cấu trúc có thể thay đổi một cách triệt để. Vấn đề này  nảy sinh từ mối quan hệ không đầy đủ giữa cấu trúc và quá trình và từ cách đánh giá quá thấp vai trò cá nhân năng động trong việc sáng tạo ra các cấu trúc.

Một loại phê phán rất khác nữa liên quan đến hậu cấu trúc luận (chẳng hạn như Tilley 1990a và b; Bapty và Yates 1990; Derrida 1976). Trong cấu trúc luận vật biểu nghĩa có được ý nghĩa nhờ những khác biệt của chúng với các vật biểu nghĩa khác. Nhưng tự thân những vật biểu nghĩa khác đó cũng chỉ có nghĩa bằng cách đối lập với chính những vật biểu nghĩa khác trong một chuỗi biểu thị ý nghĩa vô tận. Vì vậy luôn luôn có thể giải cấu trúc bất cứ phân tích cấu trúc nào giả định một hệ thống đối lập thuần tuý chặt chẽ. Thực ra thì có thể giải cấu trúc bất cứ phân tích nào đòi hỏi một tổng thể tính, một tổng thể hoặc một ý nghĩa gốc, một chân lý, vì những “nguồn gốc” ý nghĩa này luôn luôn phải tuỳ thuộc vào những vật biểu nghĩa khác. Những cách tiếp cận như vậy có giá trị lớn trong việc phê phán những tuyệt đối tính mà người ta vẫn đòi hỏi phải có trong một bài viết về KCH. Việc phân tích nội tại bất cứ văn bản KCH nào cũng đều cho thấy cái ở bên ngoài thì cũng rất cần thiết cho cái “bên trong”. Phân tích hậu cấu trúc cũng có giá trị phổ biến các quan niệm như quyền lực và chân lý (Foucault 1979; 1981) và làm phân mảnh khái niệm văn hoá (tr. 159). Tuy nhiên hậu cấu trúc luận cũng đã cơ bản giải cá nhân trung tâm luận, vì vậy mà đánh bẫy cá nhân trong chuỗi biểu hiện ý nghĩa. Tương tự như vậy, trong nhiều phiên bản, hậu cấu trúc luận đã không quan tâm đầy đủ đến các hiệu ứng của thế giới thực tại do các diễn ngôn tạo ra (Eagleton 1983). Vì vậy mà nó không thể thoát khỏi những phê phán chủ yếu được thực hiện trong cuốn sách này.

Tính minh xác

Có lẽ sự chỉ trích chủ yếu cấu trúc luận tập trung xung quanh quan niệm về sự minh xác. Làm thế nào để có được một KCH cấu trúc luận một cách nghiêm nhặt? Cấu trúc luận liên kết một cách mật thiết với trí tưởng tượng bay bổng, với những lý lẽ không có cơ sở, vì với trí tưởng tượng thì toàn bộ dữ liệu có thể được coi như là những chuyển đổi lẫn nhau và đều thuộc vào những cấu trúc cơ sở. Nhiều phân tích cấu trúc luận tỏ ra nghiêm nhặt và đã được chấp nhận một cách rộng rãi. Việc nhận thức rằng người ta có thể điều chỉnh các phân tích cấu trúc và xác quyết một số phân tích nào đó có thể tốt hơn những phân tích khác, hàm ý rằng có thể tìm thấy các thao tác để tạo ra những lý lẽ hợp lý (Wylie 1982).

Thao tác có giá trị phổ biến nhất được KCH cấu trúc chấp nhận dường như thể hiện rằng những cấu trúc tương đồng thường ẩn sau nhiều loại khác biệt dữ liệu trong cùng một ngữ cảnh lịch sử. Càng nhiều dữ liệu có thể cài vào cùng những nguyên tắc tổ chức thì càng đạt được tính hợp lý bằng tổ chức tự thân của các nguyên tắc đó. Như với trường hợp phân tích các hệ thống, phân tích cấu trúc sẽ có sức thuyết phục nếu nó có thể tập hợp được hoặc tạo được nghĩa của những dữ liệu tản mát không liên hệ gì với nhau từ trước. Khi chúng ta đã thấy việc đơn giản tìm kiếm một mô hình (phân vùng theo chiều ngang và theo chiều dọc, đối xứng và ...vv) là chưa đủ - thì chúng ta cũng cần tạo ra một trừu tượng hoá nào đó về ý nghĩa của mô hình. Vì vậy trong một phân tích thuyết phục của Deetz (1977) về việc thải bỏ đồ thừa, về táng thức và phong cách gốm trong các di chỉ Mỹ thời lịch sử, sự đối lập về thời gian giữa các trừu tượng hoá được ông gọi là đạo đức học cá nhân và cộng đồng có thể được coi là sợi dây xuyên suốt các nghiên cứu của ông, và có thể được sử dụng để giải thích một loạt khác biệt về các kiểu dữ liệu.

Khi nghiên cứu về các mối liên hệ cấu trúc trong thời đại đồ sắt tại di chỉ Glastonbury, Davis Clarke (1972) đã biện hộ cho trường hợp của mình bằng cách chỉ ra sự lặp lại của cùng một cấu trúc đàn ông: đàn bà trong các khuôn viên sống khác nhau, vào những thời kỳ khác nhau. Fritz (1978) đã tìm cách để phát hiện cùng một cấu trúc ở cấp vùng và cấp tiểu vùng. Tilley (1984) đã chỉ ra cách thức quan sát một trừu tượng hoá gọi là “tính giới hạn” để thay đổi đồng thời ở cả trang trí gốm và táng thức. Khi phân tích về thời đại Đá mới Orkney, tôi đã cố thử chứng tỏ rằng các cấu trúc trong cư trú, mộ táng và việc sử dụng các nghi thức không gian có thể tương liên với nhau, mặc dù rất khó có đủ dữ liệu (Hodder 1982a).

Câu hỏi về vấn đề minh xác cấu trúc – có phải các cấu trúc liên quan đến dữ liệu không? – là một câu hỏi mang tính qui ước. Toàn bộ các phân tích KCH đều liên quan đến việc lý giải cái thế giới thực tại trong quá trình quan sát, và sau đó làm cho các lý thuyết thích ứng với các quan sát để tạo ra một lý lẽ thích hợp – ngoài ra khó mà đòi hỏi được gì hơn nữa. Việc phân tích cấu trúc bắt nguồn từ chính những nguyên tắc như vậy. Ví dụ trong việc phân tích nghệ thuật Nuba (xem tr. 39 ở trên) cho thấy tính nghệ thuật càng cao thì càng khác biệt nhau, và cái mà ngữ pháp tạo sinh có thể tạo ra, thì ngữ pháp lại càng hợp lý. Chúng ta có thể hỏi liệu bất cứ mẫu trang trí nào xuất hiện cũng không tương hợp với các qui tắc không. Chẳng hạn có phải “các từ” vẫn kết hợp với nhau theo cạnh chứ không phải theo góc không? Sự thực thì ® là hiếm nếu nó đã từng xuất hiện trong nghệ thuật đó. Tương tự như vậy có thể áp dụng cho một ký hiệu khác. Các motif đó không được thừa nhận về phương diện ngữ pháp và việc chúng vắng mặt trong nghệ thuật đã hỗ trợ cho bản thân ngữ pháp.

Việc thừa nhận các cấu trúc phải không được phổ quát là một điều quan trọng, và  tính chất phổ quát của chúng không được phép làm thành một bộ phận chính của cái thao tác được hợp lý hoá đó. Tự thân các cấu trúc ấy là hoàn toàn riêng biệt (như trong trường hợp người Nuba sử dụng các mẫu trang trí cắt chéo). Nhưng đó là nội dung ý nghĩa đặc biệt, có thể có tầm quan trọng lịch sử riêng. Vì vậy hình chữ thập Nuba không chỉ là một cấu trúc trang trí – mà nó còn là một biểu tượng gây xúc cảm cao, với một tầm quan trọng lịch sử đặc thù, và tác động mạnh mẽ tới việc sử dụng nghệ thuật Nuba về phương diện xã hội (Hodder 1982a). Vì vậy một phần giá trị của các phân tích cấu trúc trong KCH phải quan tâm tới sự trừu tượng hoá các ý nghĩa riêng biệt gắn liền với các cấu trúc đó.

Trong một vài trường hợp, có sự liên tục lịch sử với hiện tại thì các ý nghĩa được ấn định cho quá khứ tỏ ra có sức thuyết phục. Vì vậy định nghĩa của Glassie (1975) về các loại công trình xây dựng, các mặt tiền nhà, các không gian trong phòng là “công cộng” hoặc “tư nhân”, hoặc sự liên tưởng của ông về tính bất đối xứng giữa “tự nhiên” và “hữu cơ” là có sức thuyết phục, vì nước Mỹ thế kỷ XVIII còn gần gũi với chúng ta. Về phương diện cá nhân, tôi lại càng không tin nếu sự không đối xứng được liên hệ với “cái hữu cơ” ở Kenya hoặc ở Hungari tiền sử. Đó là khi các ý nghĩa được áp dụng theo cách so sánh văn hoá, không có sự qui chiếu vào ngữ cảnh, thì sẽ nảy sinh những bất ổn. Vì vậy trong công trình mới đây, Leroi-Gourhan (1982) đã rất cẩn thận khi xác định các trang trí trong các hang động đá cũ là “đàn ông” hay “đàn bà”. Nhưng giai đoạn tiền sử nào có các dữ liệu mang tính liên tưởng và ngữ cảnh nhiều hơn, thì việc gán nghĩa cần phải được cấu trúc cẩn thận. Vì vậy trong thời đại đá mới châu Âu, tôi đã cho rằng các ngôi mộ có nghĩa là những ngôi nhà dựa trên cơ sở tám điểm tương đồng giữa chúng (Hodder 1984a).

Các liên tưởng chức năng và ngữ cảnh cũng cho phép suy luận về tính chất tương đồng ý nghĩa. Rõ ràng chúng ta không thể ấn định với một niềm tin tưởng chắc chắn rằng nếu một hiện vật được phát hiện trong một ngôi mộ đàn ông thì nó có những “phẩm chất” đàn ông, hay là một hiện vật được phát hiện tại một nơi hành lễ thì nó phải mang ý nghĩa “nghi lễ”, thế mà những ấn định như vậy lại thường được các nhà KCH thực hiện. Các ý nghĩa có thể được lý giải một cách hợp lý khi ngữ cảnh được xem xét cẩn thận và có phê phán. Chẳng hạn như Arnold đã gợi ý rằng việc phân vùng môi trường và trang trí theo mảng trên đồ gốm được liên tưởng với cái ngữ cảnh văn hoá riêng đó, vì cả những chiếc bình lẫn môi trường được phân vùng đều có chung những chức năng quản lý và dự trữ nguồn nước. Bằng cách xây dựng những liên tưởng ngữ cảnh như vậy, Arnold đã làm tăng tính  hợp lý trong lập luận của ông, và những lý lẽ đó sẽ được củng cố thêm nếu có thể chứng tỏ được rằng các bình nước chỉ là những thứ được sử dụng trong các môi trường phân vùng theo chiều ngang, hoặc những chiếc bình được sử dụng cho những mục đích khác không hề được trang trí theo cách như vậy.

Vậy là sự phân đôi phải được thể hiện bằng cả lý giải chức năng và cấu trúc, khi ủng hộ cho một lý thuyết nào đó thì cần phải chỉ ra các dữ kiện đã không được lý giải một cách đầy đủ bằng các dữ kiện khác. Chắc chắn McGhee đã biện hộ cho trường hợp của ông khi cho rằng không hề có nhu cầu chức năng trong việc phân biệt ngà voi và gạc hươu thành các loại công cụ và vũ khí khác nhau. Loại lý lẽ này là bất chắc ở chỗ là nó thường giả định tính chất thống trị của thuộc tính chức năng, vật chất: các chức năng được lý giải trước tiên, và tất cả những gì còn lại thì đều là “tư duy”. Loại lý lẽ đó cũng xác quyết một cách ảo tưởng rằng có sự phân đôi giữa chức năng và ý nghĩa biểu tượng. Như ví dụ của McGhee đã chỉ rõ, một hiện vật có thể là một phần của một bộ công cụ, nhưng đồng thời nó cũng có thể là một phần của một tập hợp các loại đối tượng được cấu trúc. Là các nhà KCH chúng ta cần phải tính đến các yếu tố trầm tích và hậu trầm tích mà vẫn phát hiện ra các liên tưởng chức năng giữa các đối tượng trong di chỉ của chúng ta. Những liên kết chức năng như vậy đóng một phần vai trò trong ý nghĩa được ấn định cho các đối tượng – phần ý nghĩa nhận thức và biểu tượng của đối tượng xuất phát từ việc sử dụng chúng. Ở chương 2 chúng ta đã thấy rằng việc ấn định chức năng phụ thuộc vào việc ấn định ý nghĩa biểu tượng. Một lần nữa chúng ta quay trở lại với các khái niệm văn hoá vật chất vừa là hiện vật, vừa là ký hiệu, khái niệm ảnh hưởng hai chiều, khái niệm về một sự thống nhất cần thiết.

Vấn đề này có thể được làm sáng tỏ thông qua một ví dụ thuần tuý giả thuyết. Hãy tưởng tượng rằng một số ngôi nhà dài tiền sử được phát hiện trong một khu vực. Tất cả các ngôi nhà này đều được làm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cửa mở về hướng Đông Nam. Thế là đã xuất hiện hai giả thuyết “xung đột nhau”: việc sắp xếp hướng nhà như vậy là vì gió luôn luôn thổi từ hướng Tây Bắc, hoặc trục Tây Bắc - Đông Nam có ý nghĩa biểu tượng. Cả hai giả thuyết này đều có thể đúng theo những cách khác nhau, trong đó một giả thuyết thì chỉ ra rằng gió thực sự thổi mạnh từ hướng Tây Bắc, còn giả thuyết kia thì bằng cách xác định cùng một cấu trúc nhưng lại thuộc lĩnh vực khác. Chẳng hạn trục Tây Bắc - Đông Nam cũng có thể được người ta chọn đặt hướng mộ, và hướng các công trình nghi lễ. Trục ấy còn phổ biến trong cả những xắp đặt khác khi sử dụng không gian cư trú. Nhưng thực ra thì cả hai giả thuyết này đều không mâu thuẫn với nhau. Khi gán nghĩa cho thế giới xung quanh mình, chúng ta thường sử dụng các vị trí của mặt trời, mặt trăng, các dòng sông, các quả núi, và hướng gió; tương tự như vậy, ý nghĩa biểu tượng gắn liền với gió và hướng gió thổi mạnh nhất sẽ tác động đến quyết định bố trí hướng nhà và nơi cư trú như thế nào. Vậy là việc sử dụng chức năng và các đặc điểm môi trường đều là những bộ phận của quá trình gán ý nghĩa cho thế giới, và thang giá trị của các cấu trúc ý nghĩa có lẽ không tuỳ thuộc vào việc giải quyết các yếu tố như vậy.

Chúng ta đã nhận ra rằng các luận giải cấu trúc hợp lý có thể được thực hiện bằng cách chỉ ra các cấu trúc đó lý giải nguyên do cho nhiều loại dữ liệu khác nhau. Cũng cần phải đặt các cấu trúc vào nội dung ý nghĩa của chúng và trong ngữ cảnh sử dụng chúng. Bằng những cách thức khác nhau ấy, dựa vào dữ liệu người ta có thể chỉ ra rằng bất kỳ lý lẽ nào cũng không đứng vững được. Vì vậy một loại hiện vật nào đó được giả định là “đàn ông” lại được phát hiện trong một mộ phụ nữ, hoặc một giai đoạn của các hoạt động “cộng đồng” lại có nhiều đặc trưng “cá nhân”, hoặc quá nhiều đầu mũi tên được làm bằng ngà voi. Tất nhiên người ta có thể lập luận rằng đã xuất hiện “chuyển đổi” cấu trúc trong các trường hợp không “thích hợp”, nhưng ở một giai đoạn nào đó thì tính chất khéo léo trí thức lại trở thành bất hợp lý, chí ít là đối với những trường hợp khác, và những cấu trúc khác nhau đã tìm được cách để lý giải dữ liệu.

Kết luận: Tầm vóc của Khảo cổ học Cấu trúc

Trong chương này, chúng ta đã chuyển trọng tâm sang các mã biểu tượng và cấu trúc của tư duy. Chương tiếp theo sẽ mô tả những kiểu cấu trúc, xã hội và công nghệ khác. Tầm vóc chủ yếu của toàn bộ công trình như vậy trong KCH là ở chỗ nó đưa chúng ta tới những cấp độ phân tích khác. Chúng ta không còn bị giới hạn vào việc lượng hoá những gì hiện diện, mà còn có thể tiếp cận với việc lý giải cả những gì không hiện diện. Hệ thống không còn là tất cả những gì có ở đó – còn có cả những cấu trúc, thông qua chúng mà hệ thống có được hình thức của nó. Chúng ta vẫn chưa phát hiện đủ cái cá nhân trong một ngữ cảnh lịch sử và văn hoá, như phê phán ở trên đã làm sáng tỏ, nhưng trên con đường đi tới, chúng ta cũng đã đạt được một phương cách nào đó, đặc biệt là trong việc tìm hiểu văn hoá như là một hệ thống được cấu thành để có ý nghĩa.

Cấu trúc luận cung cấp cho chúng ta một phương pháp và một lý thuyết để phân tích các ý nghĩa văn hoá vật chất. Các nhà KCH quá trình đã quan tâm nhiều đến các chức năng của các biểu tượng. Như chúng ta đã thấy, chức năng là một thuộc tính quan trọng của ý nghĩa: việc sử dụng và liên tưởng chiếc bình với những thứ mà nó chứa đựng, với ngọn lửa nấu những thứ đồ ăn trong bình, với đồng nhất tính của bộ lạc,và với hệ thống tôn ty xã hội, tất cả đều quan trọng, mặc dù không phải là những nhân tố quyết định về những ý nghĩa biểu trưng của chiếc bình. Nhưng các nhà KCH quá trình đã không quan tâm đến việc tổ chức các liên tưởng chức năng đó thành các cấu trúc ý nghĩa. Bất kể những hạn chế của cấu trúc luận, nó vẫn đưa lại cho chúng ta một bước đi đầu tiên hướng về một cách tiếp cận rộng lớn hơn.

Tuy nhiên, cấu trúc luận trong bất kỳ cái lốt nào cũng vẫn đóng góp cho KCH, về bất kỳ đặc trưng, quan niệm biến đổi nào. Schiffer (1976) đương nhiên đã lưu ý đến tầm quan trọng của các biến đổi văn hoá, nhưng cấu trúc luận lại đem đến cho chúng ta một phương pháp và một cấp độ phân tích sâu hơn. Như Faris (1983) đã chỉ ra, văn hoá vật chất của chúng ta không đại diện cho các mối quan hệ xã hội – nhưng nó lại đại diện cho một lối nhìn chủ quan vào các mối quan hệ xã hội. Từ việc nghiên cứu những đồ phế thải bằng cách chỉ rõ những quan niệm về “cứt” đã nảy sinh từ đồ phế thải và các xã hội (Okely 1979; Moore 1982) đến việc chỉ rõ táng thức là một biến đổi nhận thức của xã hội (Parker Pearson 1982), đã chứng tỏ đóng góp của cấu trúc luận là rất rõ ràng. Có thể tiếp cận các qui luật biến đổi, và điều đó được khẳng định thông qua phân tích hệ thống.

Một đóng góp quan trọng tương tự và có liên quan là ở chỗ những lĩnh vực văn hoá vật chất và hành động của con người (mai táng, cư trú, nghệ thuật, trao đổi) có thể là những chuyển đổi của cùng một sơ đồ cơ bản, hoặc có thể là những chuyển đổi lẫn nhau. Hơn nữa, khi coi mỗi lĩnh vực là một phụ hệ thống riêng biệt, thì mỗi phụ hệ thống đó lại có thể gắn kết với phụ hệ thống khác với tư cách là những biểu hiện vẻ ngoài khác nhau của cùng những hệ thống mã như nhau. Quan niệm văn hoá được tạo thành bởi ý nghĩa có tầm quan trọng to lớn trong việc tập hợp các khuynh hướng khác nhau của các dữ liệu và phân tích KCH.
_________________________________________ 

Còn nữa…

Tác giả: GS. Ian Hodder sinh năm 1949, tốt nghiệp cử nhân tại Đại học London năm 1971, nhận học vị tiến sĩ tại Đại học Cambridge năm 1975, trở thành giáo sư Đại học Cambridge từ năm 1977. 

Nguyên bản: Reading the Past – Current approaches to Interpretation in Archaeology. Second Edition. Cambridge University Press 1991.


Tài liệu Tham khảo

Barrett, J. C.,1987. Contextual Archaeology. Antiquity 61, 468–73.

Bapty, I., and Yates, T. (eds.), 1990. Archaeology after Structuralism: Introductory Readings in Post-Structuralism and Archaeology, London: Routledge.

Clarke, D. L., 1972. A Provisional Model of an Iron Age Society and its Settlement System. In D. L. Clarke (ed.), Models in Archaeology, London: Methuen.

Deetz, James, 1977. In Small Things Forgotten. NewYork: Anchor Books.

Derrida, J., 1976. Of Grammatology. Baltimore: Johns Hopkins University Press.

Eagleton, T., 1983. Literary Theory. Oxford: Blackwell.

Faris, J., 1983. From Form to Content in the Structural Study of Aesthetic Systems. In D. Washburn (ed.). Structure and Cognition in Art, Cambridge University Press.

Foucault, Michel, 1979. What is an Author?. In J. Harari (ed.), Textual Strategies: Perspectives in Post-Structuralist Criticism. Ithaca: Cornell University Press.

Foucault, Michel, 1981a. The History of Sexuality. Volume 1: An Introdution, London: Penguin.

Fritz, J., 1978. Paleopsychology Today: Ideational Systems and Human Adaptation in Prehistory. In C. Redman et al. (eds.), Social Archaeology: Beyond Dating and Subsistence, New York: Academic Press.

Glassie, J., 1975. Folk Housing of Middle Virginia. Knoxville: University of Tennessee Press.

Hodder, I., 1982a. Symbols in Action. Cambridge University Press.

Hodder, I., 1984a. Burials, Houses, Women and Men in the European Neolithic. In D. Miller and C. Tilley (eds.), Ideology, Power and Prehistory, Cambridge University Press.

Hodder, I., 1984b, ‘Archaeology in 1984’, Antiquity 58, 25–32.

Hodder, I., 1989a. This is not an Article about Material Culture as Text. Journal of Anthropological Archaeology 8, 250–69.

Leroi-Gourhan, A., 1982. The Dawn of European Art, Cambridge University Press.

Moore, H., 1982. The Interpretation of Spatial Patterning in Settlement Residues. In I. Hodder (ed.), Symbolic and Structural Archaeology, Cambridge University Press.

Okely, J., 1979. An Anthropological Contribution to the History and Archaeology of an Ethnic Group. In B. C. Burnham and J. Kingsbury (eds.), Space, Hierarchy and Society, Oxford: British Archaeological Reports International Series, 59.

O'Neale, Lila M.1932. Yurok-Karok Basket Weavers.  Berkeley: University of California Press.

Parker Pearson, M. 1982. Mortuary Practices, Society and Ideology: An Ethno-archaeological Study. In I. Hodder (ed.). Symbolic and Structural Archaeology, Cambridge University Press.

Ricoeur, P., 1971. The Model of the Text: Meaningful Action Considered as a Text. Social Research 38, 529–62.

Schiffer, M. B., 1976. Behavioural Archaeology. New York: Academic Press.

Tilley, C., 1984. Ideology and the Legitimation of Power in the Middle Neolithic of Southern Sweden. In D. Miller and C. Tilley (eds.), Ideology, Power and Prehistory, Cambridge University Press.

Tilley, C.,  (ed.), 1990a. Reading Material Culture. Oxford: Blackwell.

Wylie, M. A., 1982. Epistemological Issues Raised by a Structuralist Archaeology. In I. Hodder (ed.,), Symbolic and Structural Archaeology, Cambridge University Press.