Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

“Lạc” vương hoặc “Hùng” vương có không? Hay cả hai đều không có?


“Lạc” vương hoặc “Hùng” vương không?
Hay cả hai đều không có?

Le Minh Khai

Người dịch: Hà Hữu Nga


Lời người dịch: Trên trang mạng leminhkhai.wordpress.com có một số bài viết ngắn đề cập đến các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Chúng tôi cố gắng dịch và chuyển tải đến những ai liên quan - quan tâm, và mong rằng các vị sẽ có các trao đổi giúp làm rõ vấn đề mà tác giả Le Minh Khai đặt ra.

Câu hỏi liệu những người đầu tiên cai trị vùng đất Bắc Việt ngày nay vốn được gọi là các “Lạc” vương hoặc “Hùng” vương chính là một trong những vấn đề tranh cãi nóng hổi trong suốt cả thế kỷ nay. Học giả người Pháp Henri Maspero là người khai mào cho cuộc luận chiến này từ đầu thế kỷ XX với một lưu ý là trong các nguồn sử liệu Hán văn thì các ghi chép sớm nhất về chủ đề này đều có cả hai chữ lạc hùng.Maspero kết luận rằng một người sao chép bản chữ Hán đã viết nhầm chữ hùng thay vì chữ lạc (hai chữ này có tự dạng giống nhau, và có nhiều bằng chứng cho thấy trong những ngữ cảnh khác người ta đã nhầm hai chữ này với nhau), và sau này các sử gia Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự lầm lẫn đó.
 
Tuy được coi là một học giả tài năng, nhưng các lập luận của Maspero trong bài viết này đã để lại nhiều điều mà người đọc muốn biết thêm. Quan điểm của ông cho rằng người Việt đã đơn giản sao chép lẫn lộn hai chữ mà không nhận ra – đã hạ thấp phẩm giá của người Việt, vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên là thậm chí quan điểm ấy còn làm nảy sinh một đại thỏa thuận trong luận chiến. Vào cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, cuộc luận chiến này đã đạt đến một kết luận mang tính “chính trị” thiên về hùng (về chủ đề này tôi sẽ tiếp tục đề cập đến) nhưng đó lại không phải là một kết luận học thuật.  

Tôi đã đọc nhiều bài viết về đề tài này, tuy chưa phải là đọc hết. Vì vậy có lẽ đã có người đề cập đến vấn đề mà tôi đặt ra dưới đây. Dẫu sao thì dù có ai đã đề cập đến thì tôi cũng chưa được đọc. Vì vậy nếu ai biết vị nào đã đề cập đến vấn đề này thì xin cho tôi được biết.

Trong khi các học giả bàn luận không dứt về việc chữ lạc  chính xác hay chữ hùng mới chính xác thì tôi lại không hề thấy ai thảo luận về các đoạn trích dẫn dài hơn, trong đó hai chữ này xuất hiện trong các nguồn sử liệu chữ Hán sớm. Trong khi đó các đoạn ấy lại đem đến những đầu mối rõ ràng nhất cho thấy chữ nào là “chính xác”.

Có hai nguồn sử liệu chính cho các cuộc tranh luận này. Đặc biệt là có một nguồn chữ lạc, còn nguồn kia thì sử dụng chữ hùng. Bổ sung cho hai nguồn trên còn có các nguồn khác liên quan đến vấn đề này, nhưng các nguồn sử liệu khác ấy rõ ràng là các phiên bản rút gọn của hai đoạn dài hơn thấy trong Giao châu Ngoại vực kýNam Việt chí. Ngày nay cả hai công trình này đều đã thất lạc, nhưng các đoạn được trích dẫn thì vẫn còn.

Trước hết chúng ta hãy xem lại nguồn chủ yếu. 交州外域記 Giao châu Ngoại vực ký là một công trình về phương diện văn bản học cho thấy niên đại vào khoảng cuối thế kỷ thứ Ba, đầu thế kỷ thứ tư SCN. Đoạn dưới đây được trích dẫn trong sách 水經注 Thủy Kinh chú của Lịch Đạo Nguyên, thuộc thế kỷ thứ sáu SCN.

交州外域記曰,交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其,名為雒民.設雒王雒侯主諸郡縣.縣多為雒將.雒將銅印青綬.

Giao Châu ngoại vực kí viết, Giao Chỉ tích vị hữu quận huyện chi thì, thổ địa hữu lạc điền, kì điền tòng triều thủy thượng hạ, dân khẩn thực kì điền, danh vi lạc dân. Thiết lạc vương lạc hầu chủ chư quận huyện. Huyện đa vi lạc tướng. Lạc tướng đồng ấn thanh thụ.

Giao châu Ngoại vực ký chép rằng khi chưa chia thành quận huyện, Giao Chỉ đã có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống, người làm ruộng ấy mà ăn gọi là Lạc dân. Đặt chế độ Lạc vương, Lạc hầu làm chủ các quận huyện này. Phần nhiều các huyện đã có các Lạc tướng. Lạc tướng đeo ấn đồng quai thao xanh”.  

http://leminhkhai.files.wordpress.com/2010/05/sjz.jpg?w=108&h=300


Điểm đầu tiên cần lưu ý là tác giả này không khẳng định là đã đến vùng đất này thời lạc dân được mô tả đang sống ở đó không. Đoạn này được viết sau khi nhà Hán đã thiết lập “quận huyện” ở vùng đó rồi. 

Điểm tiếp theo cần phải lưu ý là chữ lạc không thể hiện nghĩa. Nó chỉ thể hiện một âm thanh, có nghĩa là một từ không thuộc ngôn ngữ Hán. Vậy thì từ này nghĩa là gì? Nhiều học giả diễn giải nghĩa của nó có cái gì đó liên quan đến lời khẳng định “những mảnh ruộng này theo nước triều lên xuống”, vì sau đó văn bản tiếp tục “vì vậy ( nhân) những người…”

(Ghi chú: có nghĩa là thủy triều, nhưng cũng có nghĩa là mực nước dâng dâng lên. Trong ngữ cảnh này đối với tôi có ý nghĩa rộng hơn).

Cuối cùng thực sự vẫn còn khúc mắc khi coi các khẳng định trên là nói về vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trước Bắc Thuộc.

Đặt chế độ Lạc vương, Lạc hầu làm chủ các quận huyện này. Phần nhiều các huyện đã có các Lạc tướng. Lạc tướng đeo ấn đồng quai thao xanh”. 

Vậy thì ai xếp đặt các Lạc vương? Ai là người có ấn đồng thao xanh? “Quận huyện là thiết chế chính trị của nhà Hán. Vì vậy tuyên bố này dường như nói rằng có những người trong khu vực được gọi là “lạc” và sau đó bị nhà Hán kiểm soát thì có những người “lạc” được bổ nhiệm cai quản vùng đất ấy nhân danh người Hán – một hiện tượng rất thông thường trong thời gian đó.

(Lưu ý: chữ vương có thể được dịch là “vua” hoặc “vương”. Vì vậy đoạn này có vẻ chỉ rõ có nhiều người mang tước hiệu vương đó, và trong ngữ cảnh này tôi dịch chữ đó là “vương”.

Nguồn thứ hai là 南越志, Nam Việt chí có thể thuộc thế kỷ năm SCN trong sách  太平廣記 Thái Bình Quảng ký, được viết vào thế kỷ thứ mười SCN. 交趾之地頗爲膏腴,徙民居之,始知播植,厥土惟黑壤,厥氣惟雄,故今稱其田為雄,其民為雄民,有君長亦曰雄王,有輔佐焉亦焉曰雄侯,分其地以為雄將.(出南越志).Giao chỉ chi địa pha vi cao du, tỉ dân cư chi, thủy tri bá thực, quyết thổ duy hắc nhưỡng, quyết khí duy hùng, cố kim xưng kì điền vi hùng điền, kì dân vi hùng dân, hữu quân trưởng diệc viết hùng vương, hữu phụ tá yên diệc yên viết hùng hầu, phân kì địa dĩ vi hùng tướng. (Xuất Nam Việt chí).

Vùng Giao Chỉ đất đai rất tươi tốt. Di dân đến đó, rồi mới biết trồng cấy. Đất đen xốp màu mỡ, khí đất hùng mạnh. Vì vậy ruộng đất ấy gọi là hùng điền, dân ấy là hùng dân. Có các bậc quân trưởng cũng gọi là các hùng vương; còn các phụ tá thì gọi là hùng hầu. Đất đó được phân chia ra mà có các hùng tướng. (Xuất Nam Việt chí).

http://leminhkhai.files.wordpress.com/2010/05/tpgj.jpg?w=107&h=300



Điều đầu tiên cần phải lưu ý là đoạn dẫn “quận huyện” đã biến mất. Sử liệu này không chỉ rõ nó thuộc vào thời điểm nào trong quá khứ, trước Bắc thuộc, như Giao châu Ngoại vực ký đã cho thấy. Vấn đề tiếp theo cần lưu ý là chữ hùng ở đây lại có nghĩa chứ không phải chỉ là biểu âm. Khí đất hùng mạnh, vì vậy mà dân ở đó gọi là hùng dân.

Nói cách khác, tác giả này đã không đơn giản mắc lỗi sao chép mà viết chữ hùng trong khi lẽ ra phải viết chữ lạc. Thay vào đó, ông đã quyết định biến đổi đoạn này cho phù hợp với nghĩa của chữ hùng là hùng mạnh. Để làm điều đó, ông đã them thông tin ở đoạn đầu về đất đai thì tươi tốt, khí thì hùng mạnh, và sau đó ông trực tiếp gắn kết chữ hùng với tên đất và người dân ở đó.   

Nếu như bằng chứng về cấp độ “sáng tạo” thông tin ở đây vẫn còn chưa rõ ràng thì chúng ta cần phải chỉ ra rằng đoạn 厥土惟黑壤 quyết thổ duy hắc nhưỡng đất xốp đen màu mỡ là một đoạn sao chép rất gần với một dòng trong thiên 禹貢 Vũ Cống, trong sách 尚書 Thượng thư, trong đó có nói đến 厥土惟白壤 quyết thổ duy bạch nhưỡng, đất xốp trắng màu mỡ. Những ai biết về kinh sách Trung Hoa thì sẽ dễ dàng nhận ra rằng đây không phải là một cách diễn đạt thông dụng. Tác giả này dứt khoát đã bắt chước đoạn này trong sách 尚書 Thượng thư. Đoạn tương tự trong Giao châu Ngoại vực ký không có bằng chứng về sự “vay mượn” như vậy.    

Cuối cùng đoạn này cũng không hề đề cập gì đến các lạc hầu lạc tướng được bổ nhiệm. Thay vào đó, cái mà chúng ta phát hiện ở đây lại là các quân trưởng - thủ lĩnh tối cao không bị ai kiểm soát.

Liên kết lại với nhau thì rõ ràng đoạn thứ hai này là một đoạn thay thế thông tin cho đoạn trích Giao châu Ngoại vực ký. Tác giả đã thay đổi chữ lạc cho chữ hùng trông giống như vậy để cho có nghĩa, mà không phải chỉ là biểu âm từ một ngôn ngữ ngoại quốc mà nghĩa của nó lại không rõ ràng. Sau đó ông ta đã thay đổi toàn bộ đoạn trích dẫn này bằng cách thêm thông tin mới về đất đai màu mỡ (và xóa bỏ thông tin về nước triều) sao cho chữ hùng có được một ngữ cảnh có thể có nghĩa. Và cuối cùng ông ta đã xóa bỏ ngữ cảnh lịch sử mà Giao châu Ngoại vực ký đã cung cấp bằng cách lờ đi bất cứ ý tứ nào về sự thống trị của Hán triều.

Vậy thì người Việt sau đó đã làm gì? Họ có đơn giản sao chép lỗi lầm ấy như Maspero đã khẳng định không? Không, họ đã sáng tạo ra một điều gì đó mới mẻ. Đó chính là một tích truyện dài mà các chi tiết của tích truyện cần phải đợi đến một bài viết mới, nhưng về cơ bản thì người Việt đã ‘kết hợp” thông tin từ cả hai phiên bản đó. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên thì các vua Hùng đặt “tướng văn gọi là Lạc hầu, và tướng võ là Lạc tướng”.

Tuy nhiên cuối cùng thì hầu hết chúng ta có lẽ đều thấy vào giai đoạn trước công nguyên đã có những người trong vùng mà người Hán gọi là lạc (không rõ tại sao, và từ này cũng được sử dụng cho cả những người ở các vùng khác của khu vực mà ngày nay gọi là Nam Trung Quốc), và họ đã được tuyển dụng để cai quản vùng đất đối với Trung Quốc chỉ là cấp quận huyện này. Các từ “vương”, “hầu” đều có nguồn gốc Hán, vì vậy chúng ta có thể giả định rằng lạc không phải là các từ mà các quân trưởng của họ gán cho các tước vị trên. Trong Giao châu Ngoại vực ký còn đề cập đến những người giữ các chức vụ này đã được bổ nhiệm để “cai quản các quận huyện” thuộc đơn vị hành chính Trung Quốc. Nói cách khác, Giao châu Ngoại vực ký không hề nói bất cứ điều gì với chúng ta về các vị quân trưởng của vùng này trước thời Bắc thuộc, mà chỉ nói về những người được gọi là lạc, hoặc có lẽ chỉ người Hán mới gọi họ là lạc.

Vậy thì có tồn tại “Lạc” vương hoặc “Hùng” vương không? Cho đến khi chúng ta còn có thể nói về điều này thì không có cả “Lạc” vương lẫn “Hùng” vương. Có vẻ đã có các Lạc vương cộng tác với người Hán, nhưng chúng ta mới chỉ biết được đến thế. Không nghi ngờ gì nữa, người lạc có các vị quân trưởng của họ trước khi người Hán đến, nhưng chúng ta không có cách nào để biết được họ gọi là gì.



2 nhận xét:

  1. Cám ơn anh đã dịch những bài của GS. Kelly Liam

    Trả lờiXóa
  2. Tác giả cho rằng: Từ 'lạc" không có nghĩa, nên nó không thuộc ngôn ngữ Hán. Do đó từ 'lạc' trong câu "Giao chỉ có ruộng lạc". Là từ mà người dân ở Giao Chỉ dùng để gọi ruộng theo thủy triều lên xuống [Tác giả của Giao châu ngoại vực ký chỉ gọi lại theo người dân ở đó]. Kéo theo từ "Lạc dân" là do tác giả của Giao Châu ngoại vực ký dùng để gọi dân làm ruộng lạc. Còn bản thân dân ở Giao Chỉ có gọi nhau là "Lạc dân" hay không thì chưa chắc chắn được. Vì là tác giả của Giao Châu ngoại vực ký căn cứ trên cơ sở dân làm ruộng lạc nên gọi dân đó là Lạc dân, nên rất có thể tác giả của tác phẩm này tiếp tục gọi quân trưởng của dân ở Giao Chỉ là Lạc vương, Lạc hầu.
    Nếu dân ở Giao Chỉ gọi ruộng của mình là ruộng lạc, gọi nhau bằng lạc dân, thì không có lý gì lại không gọi quân trưởng của mình là lạc tướng, lạc hầu.
    Nếu dân ở Giao Chỉ không gọi nhau là lạc dân, gọi quân trưởng là lạc tướng lạc hầu, mà đó là do người Hán gọi. Thì đúng là chúng ta chưa có cách nào để biết được dân ở Giao Chỉ gọi quân trưởng của mình là gì?
    Câu hỏi là: Tác giả của Giao Châu ngoại vực ký, biết rằng: Người dân ở Giao chỉ gọi ruộng theo triều lên xuống là ruộng lạc, mà lại không biết họ gọi nhau bằng gì và gọi quân trưởng của họ là gì?

    Trả lờiXóa