Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Nhân học chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, tiền sử (I)



Nhân học chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, tiền sử (I)

A.L. Kroeber

Người dịch: Hà Hữu Nga

I. Nhân học, Sinh học, Lịch sử

Nhân học là khoa học về con người. Tuy nhiên, nghĩa đen, nghĩa từ nguyên của khái niệm này lại quá rộng và chung chung. Chính xác hơn có lẽ là: "Khoa học về con người cùng sản phẩm hành vi của nó". Nhưng ngay cả định nghĩa này cũng vẫn cần sự bổ sung để làm cho nó đầy đủ cụ thể, vì không có một phương tiện để khẳng định các khoa học như sinh lý học và tâm lý học với tư cách là các bộ phận của nhân học. Giờ đây sinh lý và tâm lý tập trung sự chú ý vào những con người đặc biệt, mà họ xem là các cá nhân. Điều đó đem lại một đầu mối để giới hạn thêm chúng ta đang tìm kiếm. Nhân học rõ ràng không liên quan đến những con người đặc biệt như vậy, mà đến những con người trong các nhóm, các chủng tộc và dân tộc cũng như các diễn biến và hành động của họ. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa cơ bản tạm thời như sau: "Nhân học là khoa học về các nhóm người cùng hành vi và các sản phẩm của họ". Định nghĩa này sẽ bao gồm bất kỳ phát hiện nào về  tổng thể loài người, vì định nghĩa này tạo thành một tập hợp các chủng tộc hoặc dân tộc, một loại siêu nhóm hoặc xã hội tổng thể.

Tuy nhiên, con người là một động vật hoặc sinh vật và anh ta cũng là một con người văn minh, có một lịch sử và những phẩm chất xã hội. Vì thế, anh ta được khảo sát - các khía cạnh khác nhau của anh ta được khảo sát - bằng cả các khoa học hữu cơ hoặc sinh học hoặc các khoa học về đời sống và bằng những cái vẫn thường được gọi là các ngành khoa học xã hội và lịch sử nói chung. Đúng vậy, thuật ngữ sau, "các khoa học xã hội", mặc dù thường được sử dụng, nhưng lại không dễ xác định một cách thỏa đáng. Nhưng chúng ta có thể để lại khó khăn này cho các nhà triết học khoa học. Trong thực tế, nhân học chủ yếu được phân loại vừa với tư cách là một loại sinh học vừa với tư cách là một loại khoa học xã hội. Một số trường đại học đã thừa nhận thực tế này bằng việc dạy các khóa nghiên cứu nhân học với tư cách sinh họccác khóa khác với tư cách là khoa học xã hội, hoặc thậm chí các khóa học tương tự, bao gồm cả hai loại khoa học đó. Một tình huống tham gia kép như vậy trong các ngành khoa học là điều không bình thường. Nếu nhân học không chủ yếu quan tâm đến con người với tư cách một loài động vật, hoặc đến con người với tư cách một con người xã hội có lịch sử, có thể được xác lập hoàn toàn trong cả cuộc sống hoặc trong thể loại khoa học lịch sử-xã hội, thì cả hai khía cạnh này rõ ràng đều được thể hiện đáng kể trong chủ đề của nó. Liệu có thể chủ đề cụ thể của nhân học là mối tương quan của cái thuộc về sinh học trong con người và cả những cái thuộc về xã hội và lịch sử trong con người hay không? Câu trả lời là Có. Hoặc, rộng hơn, nhân học ít nhất cũng thực sự quan tâm đến cả hai nhân tố hữu cơ và xã hội trong con người, trong khi gần như tất cả các ngành khoa học và các nghiên cứu khác lại chỉ quan tâm đến một trong hai nhân tố đó. Bản thân nhân học quan tâm đến cả hai tập hợp nhân tố đó các tập hợp này gắn liền với con người trong tự nhiên. Thường thì thậm chí chúng còn gắn bó với nhau trong một và cùng một hiện tượng, như khi một người được sinh ra với tài năng âm nhạc di truyền và phát triển tài năng này hơn nữa bằng nghiên cứu và đào tạo. Mối gắn kết đó không phải lúc nào cũng dễ dàng tháo gỡ; chúng cần phải được tách bạch nếu các quy trình vận hành cần phải được nhận thức. Đó chính là công việc khác thường của nhà nhân  học.

2. Các yếu tố hữu cơ và xã hội văn hóa 

Với câu hỏi tại sao một người da đen Louisiana lại đen và có đầu dài, thì câu trả lời đã có sẵn. Anh ta được sinh ra như vậy. Như con bò sinh ra lũ bê, và sư tử sinh ra sư tử con, nên người da đen sinh ra từ người da đen, và da trắng sinh ra từ người da trắng. Chúng ta gọi cái lực lượng vận hành ấy là di truyền. Cũng người Negro của chúng ta lại được cho là đáng yêu dễ gần. Liệu đây có phải là một phẩm chất bẩm sinh? Hầu hết chúng ta có thể trả lời là Có. Anh ta ca hát trên cánh đồng ngô thường xuyên hơn so với người da trắng bên hàng xóm. Đó có phải cũng vì tính di truyền của mình? "Tất nhiên - anh ta bẩm sinh như vậy," có thể là một câu trả lời chung, "Có lẽ thế - tại sao không?" một cách thận trọng hơn. Nhưng giờ đây, người da đen của chúng ta lại đang hát bài "Memphis Blues", mà cụ cố của anh ta ở Châu Phi chắc chắn không hát. Đối với các bài hát cụ thể, di truyền rõ ràng là không còn là nguyên do. Người da đen của chúng ta có thể đã học được nó từ một người bác, hoặc có lẽ từ bạn học của mình; rất có thể anh ta đã có được nó từ con người, những kẻ không phải tổ tiên của mình, hoặc trên đài phát thanh, có được nó như là một phần tập quán của mình, giống như là một thành viên của Hội Thánh Báp-tít mặc áo chùng, và hàng ngàn thứ khác từ bên ngoài đến với anh ta, chứ không phải là từ bên trong. Tại các điểm này, di truyền được thay thế bởi truyền thống, tự nhiên được thay thế bởi sự chăm sóc, để sử dụng một bài thơ điệp vần quen thuộc. Giờ đây, các lực lượng tác động hoàn toàn khác với các tác động từ những con người làm cho da anh ta đen và đầu anh ta dài. Chúng là những nguyên nhân của một trật tự khác.

Bài hát đặc biệt của những người da đen và làn da của anh ta đại diện cho những thái cực rõ ràng về vấn đề này. họ có một bản chất tốt và khuynh hướng giai điệu. Rõ ràng là những đặc điểm này cũng có thể là kết quả của ví dụ con người, của "môi trường xã hội", của truyền thống đương đại. Có những người tin như vậy, cũng như những người nhìn thấy ở họ chủ yếu các tác động của xung động sinh học bẩm sinh. Có lẽ những đặc điểm trung gian đáng ngờ này là kết quả của sự pha trộn giữa thiên nhiên và nuôi dưỡng, sức mạnh của mỗi nhân tố thay đổi theo đặc điểm hoặc các cá nhân được xem xét. Rõ ràng, ở bất kỳ một tỷ lệ nào, thì ở đây cũng vẫn có chỗ cho việc khảo sát và cân đong về bằng chứng. Một vấn đề chính cống vẫn tồn tại. Vấn đề này không thể được giải quyết chỉ bởi một mình khoa học lịch sử, hoặc xã hội, bởi vì bản thân các khoa học đó không quan tâm đến tính di truyền. Không thể được giải quyết bằng sinh học, khoa học liên quan đến tính di truyền và các nhân tố tương tự, nhưng cũng không tiếp tục vận hành bằng nguyên tắc truyền thống phi sinh học hay bằng những gì mà con người đạt được khi họ có nguyên tắc đó trong các xã hội.

Vậy thì đây một trong những nhiệm vụ đặc biệt cho nhân học: việc giải thích các hiện tượng mà cả nhân tố hữu cơ bẩm sinh lẫn nhân tố "xã hội" hoặc các nhân tố đạt được đều gia nhập hoặc có thể gia nhập. Từ "xã hội" là một từ phi kỹ thuật có tính tập quán vì các hiện tượng phi hữu cơ hoặc nhiều hữu cơ hơn đều đề cập đến nó. Tuy nhiên, đó là một từ không rõ ràng và do đó đôi khi còn là một từ khó hiểu nữa. Như sẽ chỉ ra một cách vắn tắt, "xã hội" đề cập đến cả hiện tượng xã hội lẫn hiện tượng văn hóa. Cho đến khi phân biệt được giữa hai loại hiện tượng đó, chúng ta cũng có thể đặt "xã hội" trong dấu ngoặc kép, hoặc sử dụng từ " xã hội văn hóa" để thay thế.

3. Nhân học “thể chất” hay nhân học hữu cơ

Các ngành khoa học hữu cơ làm nền tảng choc ngành khoa học xã hội văn hóa. Trong các mối quan tâm của mình, các khoa học hữu cơ trực tiếp là "tự nhiên" nhiều hơn, ít "nhân bản hóa" hơn. Do đó nhân học chấp nhận và sử dụng các nguyên tắc chung của sinh học: các định luật di truyền và các học thuyết về sự phát triển và quá trình tiến hóa tế bào, chẳng hạn, và tất cả các kết quả nghiên cứu về giải phẫu học, sinh lý học, phôi sinh học, động vật học, cổ sinh vật học, và các khoa học khác. Nghề nghiệp đó đã xác định các nguyên tắc này có thể áp dụng cho con người được bao lâu, trong các trường hợp cụ thể chúng có những hình thái nào. Điều này đòi hỏi phải tập trung chú ý, xây dựng các phương pháp khảo sát đặc biệt. Nhiều vấn đề sinh học, bao gồm hầu hết các vấn đề sinh lý và di truyền, có thể được bắt tay thực hiện một cách thuận lợi nhất trong phòng thí nghiệm, hoặc ít nhất là trong các điều kiện thử nghiệm. Tuy nhiên, phương pháp thực nghiệm lại không dễ ứng dụng cho con người sống theo các nhóm. Các hiện tượng xã hội văn hóa phải được thực hiện khi chúng bắt đầu được sàng lọc một cách cẩn thận và sau đó tiếp tục được tái sàng lọc, thay vì được đơn giản hóa một cách giả tạo trước, như được thực hiện trong phòng thí nghiệm.

Sau đó, còn vì nhân học, về phương diện sinh học, vận hành trong các giới hạn hẹp của một loài, nên đôi khi mối quan tâm của nó được hướng đến những đặc điểm chi ly, nhỏ nhặt, chẳng hạn như các nhà động vật học rất hiếm khi gặp rắc rối với: tỷ lệ của chiều dài và chiều rộng của hộp sọ - chỉ số đầu nổi tiếng - chẳng hạn; mức độ cong của xương cánh tay, v.v. Ngoài ra, các dữ liệu này phải được sử dụng trong tổng thể, không thể bị biến đổi bởi các điều kiện nhân tạo khác nhau, nên nó cần phải được bảo đảm khỏi mọi biến đổi có thể của con người, các chủng tộc khác nhau, giới tính khác nhau, lứa tuổi khác nhau, và các phép loại suy thô sơ gần nhất của chúng. Kết quả là nhân học thể chất hoặc sinh học - "thể chất học" [somatology] như đôi khi được gọi như vậy ở các nước Anglo-Saxon, và đôi khi chỉ đơn giản là "nhân học" ở châu Âu lục địa - đã một phần cấu thành một loại chuyên môn hóa hoặc mài sắc thêm một số khía cạnh nhất định của sinh học đại cương. Nó đã bắt đầu được hấp thụ, ở một mức độ đáng kể, trong các hiện tượng đặc biệt nào đó, chẳng hạn như loài người hoặc các tiểu chủng các phương pháp nghiên cứu chúng.

4. Nhân học Xã hội văn hóa

Các khoa học xã hội văn hóa, thường thường, nhưng có phần lỏng lẻo, được gọi là các ngành khoa học xã hội, ngược lại với các khoa học hữu cơ. Cơ thể và các bộ phận thiết bị bẩm sinh của con người hậu thuẫn cho các hành động và thành công của họ khi được quyết định bởi truyền thống, và là quan trọng nhất đối với nền văn hóa hoặc văn minh của họ cũng như đối với các tập hợp người trong các xã hội. Do đó, mối quan hệ của nhân học với khoa học xã hội văn hóa, theo một nghĩa nào đó, chính là mặt đối lập của nó với khoa học sinh học. Thay vì chuyên môn hóa, nhân học đã bị trùm lấp bằng việc cố gắng khái quát hóa các phát hiện của lịch sử. Các nhà sử học không bao giờ có thể là nhà thử nghiệm; nhà xã hội học, nhà kinh tế học, và các nhà khoa học xã hội khác cũng rất hiếm khi như vậy. Các nhà sử học phải giải quyết cái độc nhất; vì ở một mức độ nhất định, mỗi sự kiện lịch sử, xã hội, văn hóa đều có một cái gì đó vô song về nó. Họ không thừa nhận các quy luật, và cũng không xác minh chúng bằng các thử nghiệm nhân tạo. Nhưng nhân học lại tìm kiếm các quá trình tổng hợp và hồi quy như có thể xảy ra trong các sự kiện phong phú của lịch sử và trong các xã hội, các thể chế, tập quán và tín ngưỡng đa dạng của nhân loại. Vì vậy, chừng nào các quá trình như vậy có thể được tách bạch hoặc được hình thành, thì chúng chính là các khái quát hóa.

Đôi khi người ta gọi đó là nhân học xã hội và văn hóa - một phần chủ đề của nó liên quan đến các khía cạnh không-chỉ là-hữu cơ của hành vi con người - thì dường như lại bận tâm đến các tộc người vừa cổ đại vừa hoang dã lại vừa kỳ lạ và tuyệt chủng. Nguyên nhân chính là người ta mong muốn nhận thức rõ hơn về tất cả các nền văn minh, không phân biệt thời gian và địa điểm, theo các nguyên tắc trừu tượng, hoặc các nguyên tắc khái quát, nếu có thể. Không phải con người sống trong hang động cần được khai sáng nhiều hơn người La Mã, hoặc những con dao đá lửa thú vị hơn món đồ sứ nõn nà hoặc nghệ thuật in ấn đã khiến cho nhân học phải chú ý nhiều hơn vào người hang động, thực tế là người ta muốn biết về người sống trong hang động và những con dao đá lửa, không ai khác nghiên cứu, cũng như về những người La Mã và nghề in ấn mà lịch sử cho chúng ta biết rất đầy đủ. Có vẻ là võ đoán khi thích thú với những gì xa lạ hơn những thứ quen thuộc, và về nguyên tắc, nhân học chưa bao giờ chấp nhận việc xét đoán đôi khi ngầm diễn tả rằng lĩnh vực thích hợp nhất của nó nên được giới hạn vào người nguyên thủy theo đúng nghĩa của từ đó. Giống như vậy, động vật học cũng có thể giới hạn mối quan tâm của mình vào những quả trứng hoặc các sinh vật đơn bào. Có lẽ đúng là một số nghiên cứu về tiền sử và sơ sử, đặc biệt là trong các giai đoạn khởi đầu của nhân học, đã xuất phát từ loại thị hiếu cảm xúc về cái bị bỏ quên hoặc cái bị bỏ qua, cái mơ hồ và cái xa lạ, cái không quen và cái bí ẩn. Nhưng các xu hướng thẩm mỹ cá nhân ngẫu hững như vậy không thể phân định phạm vi của một khoa học hoặc xác định mục tiêu và phương pháp của nó được. Vô số các nhà sử học đã trở thành những kẻ thâm căn cố đế đàm luận những chuyện tầm phào, nhưng vì vậy mà người ta lại không khăng khăng rằng chủ đề thích hợp duy nhất của lịch sử là những trò thân mật ở cầu thang phía cửa hậu. 

Vậy thì đây chính là lý do cho sự phát triển đặc biệt của những phụ bộ môn của nhân học vẫn được gọi là khảo cổ học, "khoa học về những gì đã cũ" trong sự nghiệp của nhân loại, đặc biệt là khi được phát lộ bởi các cuộc khai quật của các di chỉ cư trú thời tiền sử, và dân tộc học, "khoa học về các dân tộc" cùng các nền văn hóa của họ và lịch sử đời sống với tư cách là các nhóm, không phân biệt mức độ tiến bộ của họ [1].

5. Các quá trình tiến hoá và cuồng tưởng tiến hóa luận

Trong những khía cạnh cơ bản hơn của chúng, cả hai tuyến phát triển hữu cơ hay di truyền và xã hội văn hóa hoặc "môi trường" chạy qua toàn bộ đời sống của con người. Chúng rất khác biệt các cơ chế, và các sản phẩm của chúng là khác biệt. Vì vậy, so sánh việc có được sức mạnh của các chuyến bay tương ứng của các loài chim trong quá trình phát triển hữu cơ của chúng khỏi các loài bò sát tổ tiên xuất phát từ hàng triệu năm trước đây, và bởi con người như là kết quả của các tiến bộ văn hóa thuộc lĩnh vực phát minh trong thế hệ qua, ngay lập tức bộc lộ những khác biệt sâu sắc của quá trình vốn có trong khái niệm mơ hồ "tiến hóa". Loài chim đã từ bỏ một cặp chân đi bộ để có được đôi cánh. Nó bổ sung thêm một khả năng mới bằng cách chuyển hóa một phần của cái cũ. Tổng các bộ phận hoặc cơ quan của nó không lớn hơn so với trước đó. Thay đổi này chỉ được truyền lại cho con cháu cùng dòng máu của các cá nhân đã thay đổi. Dòng bò sát vẫn tiếp tục như , hoặc nếu nó thay đổi, thì cũng đã làm như vậycác nguyên nhân không liên quan đến sự tiến hóa của các loài chim. Trái lại, những chiếc máy bay, đã đem đến cho con người một khả năng mới mà không giảm bớt hoặc thậm chí làm ảnh hưởng đến bất kỳ khả năng nào con người đã có trước đó. Điều đó khiến cho không có thay đổi rõ ràng nào về cơ thể, cung không có những thay đổi về năng lực tinh thần. Phát minh đã được truyền cho các cá nhân và nhóm không có cùng dòng máu với các nhà phát minh; trong thực tế, nó đã ảnh hưởng đến vận mệnh của tất cả chúng ta. Về mặt lý thuyết, phát minh đã có thể truyền cho tổ tiên nếu chúng xảy ra lúc sinh thời họ. Tóm lại, nó đại diện cho một quá trình phát triển dần thành nguồn cung cấp cho nền văn minh hiện tồn hơn là một sự chuyển hóa.

Một khi những tác động rộng lớn của sự phân biệt được minh họa bằng ví dụ ấy đã được nắm bắt, thì nhiều lỗi thông thường sẽ được ngăn ngừa, phòng chống. Chương trình ưu sinh học, chẳng hạn, đã mất đi nhiều sức lực của nó. Chắc chắn có nhiều điều để nói thiên về khả năng hiểu biết và phân biệt trong giao phối, như trong mọi thứ khác. Cần có sự tiếp thu kiến ​​thức chính xác hơn về di truyền của con người. Nhưng, theo trục chính, đôi khi những tuyên bố cho rằng ưu sinh luận là cần thiết để bảo tồn nền văn minh khỏi bị giải thể, hoặc để duy trì sự hưng thịnh của dân tộc này hay dân tộc khác, đều dựa trên những trá ngụy của việc chỉ thừa nhận các nguyên nhân hữu cơ với tư cách là nguyên nhân hoạt tác, khi các nguyên nhân xã hội văn hóa cũng như các nguyên nhân hữu cơ đều là những nguyên nhân chủ động - khi thực sự thì các nhân tố siêu di truyền có thể lại là các nguyên nhân mạnh mẽ hơn nhiều. Vì vậy, trong cái được gọi một cách lầm lạc là các vấn đề chủng tộc, thìduy trung bình của ngày hôm nay vẫn suy lý một cách lẫn lộn giữa các nguyên nhân và hiệu quả hữu cơ và xã hội văn hóa [2]. Nhân học vẫn chưa có một vị trí để luôn luôn tuyên bố rõ đâu là ranh giới giữa các nguyên nhân hữu cơ góp phần và các nguyên nhân siêu hữu cơ hay "xã hội văn hóa" của các hiện tượng như vậy. Nhưng nó lại duy trì tính khác biệt cơ bản của chúng duy trì tầm quan trọng của sự khác biệt đó, nếu việc hiểu biết thực sự được coi là mục tiêu. Nếu không nắm bắt chắc chắn nguyên tắc này, thì nhiều luận cứ và kết luận trong tập sách này sẽ mất đi ý nghĩa của chúng.

Theo đó, việc xác định nhân học là "con đẻ của Darwin" là sai lầm. Thành tựu cơ bản của Darwin là ở chỗ ông đã tưởng tượng, và chứng minh phần lớn bởi các bằng chứng gián tiếp, thông qua một cơ chế mà sự tiến hóa hữu cơ có vẻ diễn ra. Tuy nhiên toàn bộ lịch sử của con người, còn bao gồm rất nhiều vấn đề khác nữa chứ không chỉ là một chất hữu cơ, cho nên một nền nhân học chỉ đơn thuần hoặc hạn chế ở thuyết Darwinian về cơ bản sẽ là một sinh học ứng dụng sai lạc. Người ta gần như có thể nói giống hệt về một nền nhân học Copernicus hay một nền nhân học Newton vậy.

Cái đã ảnh hưởng rất lớn đến một loại nhân học trước đây, chủ yếu gây hại, lại không phải là chủ thuyết Darwin, mà là ý tưởng mơ hồ về sự tiến bộ, ảnh hưởng đến khía cạnh hữu cơ Darwin đã tình cờ hỗ trợ và cung cấp một thực thể rõ ràng, đó là cả một nhóm tưởng tiến hóa luận, đúng đắnlầm lạc, kể từ đó đã đắm mình một cách tởm lợm. Nhân học cũ đã trở thành thực tế phổ biến nhằm "giải thích" bất kỳ một bộ phận nào của nền văn minh nhân loại bằng cách sắp xếp một số hình thức của nó trong một chuỗi tiến hóa từ thấp nhất đến cao nhất và bằng cách cho phép mỗi giai đoạn kế tiếp nhau diễn tiến một cách tự nhiên, không hề có nguyên nhân cụ thể, từ giai đoạn trước. Về cơ bản thủ tục logic này ngây ngô đến đáng kinh ngạc. Trong các lược đ thuộc lĩnh vực và thời đại này của chúng ta, chúng ta đã đứng trên đỉnh của con đường dốc đó. Vì vậy, bất cứ cái gì có vẻ khác biệt nhất với tập quán của chúng ta cũng đều được coi là sớm nhất, còn những hiện tượng khác bị vất bỏ bất cứ nơi nào cũng sẽ đóng góp đắc lực nhất vào tính ngay thẳng của việc leo lên trên. Sự xuất hiện tương đối của các hiện tượng trong thời gian và không gian đã bị bỏ qua theo thiên hướng phù hợp logic với một kế hoạch. Người ta lý lẽ rằng chúng ta nhất quyết duy trì chế độ hôn nhân một vợ một chồng, nên những bước khởi đầu của kết hợp tính dục người có thể nằm trong tình trạng đối lập của sự chung chạ bừa bãi. chúng ta dành quyền ưu tiên cho dòng cha, và nói chung là biết ông ta, nên các xã hội sớm chắc chắn phải được coi là thuộc dòng mẹ và không ai biết về người cha của mình. Chúng ta ghét cay ghét đắng loạn luân; do đó những người đàn ông nguyên thủy nhất đã thường kết hôn với các chị em của mình. Đây là những mẫu kết luận hợp lý, hoặc các giả định của trường phái tiến hóa luận kinh điển của nhân học, vào khoảng từ 1860-1890, vẫn tin rằng có thể xác định được các nguồn gốc nguyên ủy hay các nguyên nhân tối hậu, và chúng có thể được phát hiện bằng cách suy luận tư biện. Danh mục công việc phải thực hiện của trường phái nhân học tiến hóa luận-tư biện kinh điển này đã được vinh danh bằng một số tên tuổi lừng lẫy. Không cần phải nói, những con người này đã trui rèn tính tàn khốc căn cội của các quan điểm bằng kiến ​​thức uyên bác, sắc sảo hay vẻ đẹp của bài thuyết trình, và hiểu biết sâu sắc thường xuyên cùng cảm giác hợp lý của các đặc thù cụ thể. Trong thời mình, hai hoặc ba thế hệ trước, dưới sự mê hoặc của khái niệm tiến hóa trong buổi đầu khởi phát của nó, và của i tiên đề về sự tiến bộ bằng các phương pháp suy lý mạnh nhất hầu như không thể tránh khỏi. Ngày nay chúng đã quá cũ vì sáo mòn; chúng đã hạ cấp thành khoa học báo chí hoặc đã trở thành vấn đề cho đám nhàn cư tài tử. Họ là bằng chứng của một khuynh hướng thiên về tính bảnh chọe tự cảm thấy mình vượt trội hơn toàn bộ quá khứ. Những cách suy nghĩ được đề cập ở đây chỉ là một ví dụ của thói che mây buộc gió nảy sinh từ sự vay chuyển kém cỏi các khái niệm sinh học hợp thức vào lĩnh vực lịch sử xã hội và văn hóa loài người, hoặc xem những lĩnh vực đó diễn ra theo một sơ đồ tiến bộ giản đơn.
__________________________________________________

Nguồn: A.L. Kroeber 1923-1948. Anthropology race, language, culture, psychology, prehistory, Harcourt, Brace and Company INC., New York.

Tác giả: Alfred Louis Kroeber (1876 - 1960) sinh ra ở Hoboken, New Jersey, trong một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu lớp trên gốc Đức. Gia đình ông nói tiếng Đức ở nhà, và Kroeber còn học thêm tiếng Latin và tiếng Hy Lạp trường. Ông vào học Columbia College ở tuổi 16, bằng cử nhân tiếng Anh vào năm 1896, và bằng Thạc sỹ về kịch lãng mạn vào năm 1897. Khi đổi sang lĩnh vực nhân học, ông nhận bằng Tiến sĩ do Franz Boas hướng dẫn tại Đại học Columbia năm 1901, trên cơ sở luận án dài 28 trang về biểu tượng trang trí của người Arapaho. Ông là giáo sư đầu tiên của Khoa nhân học tại Đại học Berkeley California, đồng thời là Giám đốc Bảo tàng Nhân học tại đây suốt từ năm 1909 đến năm 1947. Ông là cha đẻ của tiểu thuyết gia nổi tiếng, nhà thơ, nhà văn viết truyện ngắn Ursula K. Le Guin. Mặc dù nổi tiếng là một nhà nhân học văn hóa, nhưng ông lại làm rất nhiều về khảo cổ học và ngôn ngữ học nhân học, và ông có công lớn đối với nhân học bằng cách kết nối giữa khảo cổ học và văn hóa. Ông đã khai quật khảo cổ học ở New Mexico, Mexico và Peru. Tại Peru, ông đã giúp thành lập Viện Nghiên cứu Andean (IAS) với các nhà nhân học người Peru Julio C. Tello và học giả lớn khác.

Kroeber và học trò của ông đã thực hiện công trình quan trọng: thu thập các dữ liệu văn hóa về các bộ lạc người Mỹ bản địa miền tây, với cuốn Handbook of the Indians of California (1925). Kroeber được ghi nhận là người đã phát triển các khái niệm về vùng văn hóa [cultural area], cấu hình văn hóa [cultural configuration] (Cultural and Natural Areas of Native North America, 1939), và mệt mỏi văn hóa [cultural fatigue] (Anthropology, 1963). Ảnh hưởng của Kroeber mạnh đến nỗi nhiều người đương thời đã bắt chước phong cách để râu để ria cũng như các quan điểm của ông với tư cách là một sử gia văn hóa. Trong suốt cuộc đời của mình, ông được coi là "Bậc trưởng thượng của nhà nhân học người Mỹ". Kroeber và Roland B. Dixon đã rất có ảnh hưởng trong việc phân loại di truyền các ngôn ngữ của người da đỏ ở Bắc Mỹ. Cuốn sách giáo khoa của Kroeber, Nhân học (Anthropology 1923, 1948), được sử dụng rộng rãi trong nhiều năm. Vào cuối những năm 1940, nó là một trong mười cuốn sách yêu cầu tất cả sinh viên năm thứ nhất của Đại học Columbia phải đọc. Cuốn Configurations of Cultural Growth (1944) [Các cấu hình của tăng trưởng Văn hóa] của ông đã có một ảnh hưởng lâu dài đối với việc nghiên cứu khoa học xã hội về thiên tài và sự vĩ đại; Kroeber tin rằng thiên tài phát sinh tvăn hóa tại những thời điểm cụ thể, không duy trì lý thuyết về vai trò quyết định của "vĩ nhân".

Ghi chú:

1. Vì thiên về mô tả, nên dân tộc chí đôi khi bị tách khỏi dân tộc học thiên về lý thuyết hoặc lịch sử nhiều hơn.

2. Một ví dụ cho thấy sự lầm lạc vẫn còn kéo dài sự phát triển riêng biệt của các bộ phận cơ thể bằng cách sử dụng như thế nào đó các tình huống hữu cơ của một cơ chế xã hội văn hóa có giá trị. Một ví dụ ngược lại việc sự quy gán tình trạng lạc hậu văn hóa được sinh ra bởi môi trường hoặc lịch sử cho sự thấp kém về hữu cơ và di truyền.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét