Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

Hữu thể được viết ra



Hữu thể được viết ra

Jacques Derrida

Người dịch: Hà Hữu Nga
  
Thứ bằng chứng làm yên lòng người mà trong đó truyền thống phương Tây đã phải tổ chức và trải nghiệm có lẽ là như sau: trật tự của cái được biểu nghĩa không bao giờ đồng thời, trong điều kiện lý tưởng thì mặt kia hoặc cái song hành xê xích đôi chút - thời khắc bằng một nhịp thở - trật tự của cái biểu nghĩa. Và dấu hiệu phải là sự thống nhất của một thứ không đồng nhất, cái được biểu nghĩa (ý nghĩa hoặc sự vật, noema [Trong Ideen zu einer reinen Phänomenologie und phänomenologischen Philosophie: Buch 1, Allgemeine Einführung in die reine Phänomenologie - Các ý niệm cho một Hiện tượng luận thuần túy và Triết học hiện tượng luận: Cuốn 1, Giới thiệu tổng quát về Hiện tượng luận thuần túy, Husserl sử dụng thuật ngữ νόημα [noema] và νόησις [noesis] để chỉ định các yếu tố tương quan của một cấu trúc của bất kỳ hành động có chủ ý nào - HHN] nhận thức hay hiện thực) không phải trong tự thân cái biểu nghĩa, một dấu vết: trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được cấu thành bằng nghĩa của nó thông qua mối quan hệ của nó với một dấu vết khả thể. Bản chất chính thức của cái được biểu nghĩa là sự hiện diện, và đặc quyền của tính gần gũi của nó với cái ngôn trí - logos [λόγος] với tư cách là phone đơn vị âm chính là đặc quyền của sự hiện diện. Đây phản ứng không thể tránh khỏi ngay sau khi ai đó hỏi: "dấu hiệu là gì?", có nghĩa là, khi ta xuất trình cái dấu hiệu đó cho một câu hỏi về bản chất, cho “ti esti” (đó là cái gì) [“τὸ τί ἐστι” - Aristotle, Metaphysics, 1030a, HHN]. “Bản chất hình thức” của dấu hiệu chỉ có thể được xác định trong khuôn khổ của sự hiện diện. Người ta không thể loanh quanh câu trả lời đó, ngoại trừ bằng cách thách thức chính hình thức của vấn đề và bắt đầu nghĩ rằng cái dấu hiệu mang tên xấu đó, dấu hiệu duy nhất đó, thoát ra khỏi câu hỏi thể chế về triết học "đó là gì...? ". [8]

Việc cấp tiến hóa các khái niệm giải thích, quan điểm, đánh giá, sự khác biệt, và tất cả những motif "kinh nghiệm chủ nghĩa" hoặc phi triết học luôn luôn dằn vặt triết học trong suốt lịch sử phương Tây, và bên cạnh đó, không có gì ngoài tính chất yếu đuối không thể tránh khỏi được sản sinh ra trong lĩnh vực triết học, Nietzsche, khác với việc duy trì đơn giản (với Hegel và như Heidegger mong muốn) trong siêu hình học, đã đóng góp rất nhiều cho việc giải phóng cái biểu nghĩa khỏi sự phụ thuộc, hay có nguồn gốc liên quan đến cái ngôn trí logos và khái niệm chân lý liên quan hoặc cái được biểu nghĩa chủ yếu, theo bất cứ nghĩa nào được hiểu. Vì vậy, khi đọc và viết, thì văn bản đối với Nietzsche là những hoạt động "cội nguồn" [9] (Tôi đặt từ này trong ngoặc kép vì những lý do sẽ xuất hiện sau đây) liên quan đến một ý nghĩa là trước hết chúng không phải sao chép hoặc khám phá, vì vậy sẽ không phải là một chân lý được biểu nghĩa bằng yếu tố cội nguồn và sự hiện diện của ngôn trí logos, với tư cách là topos noetos [Năm 508 TCN, Arnou, vị thần Dục vọng xuất hiện trong triết học Plotinus, tr48 và Robin (La Théorie platonicienne de l'amour, Nouvelle édition. (Collection historique des grands philosophes). Paris, Alcan, 1933, pp. 83-84) đã giải thích τόπος νοητος - topos noetos - là bầu trời vô cùng rộng lớn khi đặt đối lập với ὑπερουράνιος τόπος - hyperuranios topos - vị trí bên ngoài bầu trời - của Phaedrus 247 A-E, 248 B, 248 D-249 A. Cụm từ νοητὸς κόσμος - noetos cosmos - vũ trụ nhận thức - thường được cho là của Plato, lại không thấy có trong các tác phẩm của ông - HHN] - nhận thức linh thánh, hoặc cấu trúc của một quy luật tất yếu tiên thiên. Để cứu Nietzsche khỏi cách đọc kiểu Heidegger, dường như trên hết, chúng ta phải không được cố phục hồi hoặc làm hiển lộ cái “hữu thể luận” bớt ngây thơ bao gồm những loại trực giác hữu thể luận sâu sắc gia nhập vào một loại chân lý nguồn cội, một nền tảng tính nguyên vẹn ẩn dưới dáng vẻ của một văn bản kinh nghiệm chủ nghĩa hoặc siêu hình học. Tính độc hại trong tư tưởng Nietzsche không thể bị hoàn toàn hiểu lầm. Trái lại, người ta phải nhấn mạnh "tính ngây thơ" của một cuộc đột phá không thể cố gắng bước ra ngoài siêu hình học, không thể pphán siêu hình học một cách triệt để mà không tiếp tục, bằng cách thức nào đó, bằng một loại nào đó, hoặc một phong cách văn bản nhất định, sử dụng các định đề, được đọc trong tập sao lục triết học, có nghĩa , theo Nietzsche thì đã bị đọc sai hoặc chưa đọc, vẫn luôn luôn là và sẽ luôn luôn là những “bản tính ngây thơ”, các dấu hiệu rời rạc của một đồ vật tuyệt đối phụ thuộc. Vì vậy, thay vì bảo vệ Nietzsche khỏi cách đọc của Heidegger, có lẽ chúng ta nên dâng toàn bộ ông cho nó, bằng cách cam kết rằng cách diễn giải không có dự phòng, bằng một cách thức nào đó, và đạt tới một điểm mà ở đó nội dung diễn ngôn của Nietzsche hầu như bị mất vì vấn đề hiện hữu, mà hình thức của nó lại đạt đến mức độ tuyệt đối xa lạ, mà ở đó cuối cùng cái văn bản của ông đã gợi lên một cách đọc khác, đáng tin cậy hơn đối với cách viết của ông:  Nietzsche đã viết cái mà ông đã viết. Ông đã viết rằng việc viết - và trước hết theo ông - về phương diện nguồn cội, không phụ thuộc vào logos và vào chân lý. sự phụ thuộc này đã hình thành trong một thời đại mà chúng ta cần phải giải cấu trúc ý nghĩa của . Giờ đây, theo hướng này (nhưng chỉ có hướng này, đọc theo cách khác, thì sự phá hủy theo kiểu Nietzschean vẫn còn giáo điều, và giống như mọi cách đảo lộn khác, một tù nhân của cái dinh thự siêu hình tuyên bố lật đổ hoàn toàn chính tòa dinh thực đó. Về điểm đó và theo trật tự đọc kiểu đó, các kết luận của Heidegger và Fink là không thể chối cãi), tư tưởng của Heidegger sẽ phục hồi lại hơn là phá hủy trường hợp của logos và trường hợp của chân lý hiện hữu với tư cách là "primum signatum - cái được biểu nghĩa đầu tiên:" i được biểu nghĩa "siêu vượt" ("siêu vượt" theo một nghĩa nhất định, như trong thời Trung cổ cái siêu vượt, ens [hiện hữu], unum [cái một], verum [cái chân lý], bonum [cái thiện] - được cho là "primum cognitum" - cái được nhận thức đầu tiên) được hàm ý bởi tất cả các hạng mục hoặc tất cả các ý nghĩa đã được xác định, bởi tất cả các từ vựng và toàn bộ cú pháp, và do đó, bởi tất cả các biểu nghĩa ngôn ngữ, mặc dù không được đồng nhất một cách giản đơn với bất kỳ một cái biểu nghĩa nào trong số đó, bằng cách tư cho phép bản thân nó phải được nhận thức trước thông qua mỗi biểu nghĩa đó, mà vẫn không thể quy giản vào toàn bộ các quyết định mang tính thời đại,dù sao thì cũng biến thành khả thể, vì vậy bằng cách mở ra lịch sử của ngôn trí logos, nhưng bản thân nó lại chỉ thông qua ngôn trí logos; có nghĩa là, không có gì trước ngôn trí logos và bên ngoài nó. Ngôn trí logos của hiện hữu, "Tư tưởng tuân theo Tiếng nói của Hữu thể," [10] là cội nguồn đầu tiên và cuối cùng của ký hiệu, của sự khác biệt giữa i biểu nghĩa [signans] và cái được biểu nghĩa [signatum]. Đó phải là một loại được biểu nghĩa siêu vượt cho sự khác biệt giữa cái biểu nghĩa và cái được biểu nghĩa ở đâu đó phải tuyệt đối và không thể quy giản. Không phải là do may mắn mà tư tưởng của hiện hữu, với tư cách là tư tưởng của cái được biểu nghĩa siêu vượt này được biểu thị trên hết bằng giọng nói: bằng một ngôn ngữ của các từ [mots]. Giọng nói được nghe thấy (được hiểu) - đó chắc chắn là những gì được gọi là ý thức gần nhất với tự n với tư cách là sự xóa bỏ tuyệt đối cái biểu nghĩa: tính tự yêu mình thuần túy nhất thiết phải có hình thức thời gian và không hề vay mượn từ bên ngoài bản thân nó, trong thế giới hoặc trong "hiện thực", bất kỳ cái biểu nghĩa phụ thêm nào, bất kỳ bản chất biểu hiện nào xa lạ với tính tự phát của riêng. Đây là kinh nghiệm duy nhất của cái được biểu nghĩa tự sản sinh ra bản thân nó một cách tự phát, từ bên trong bản thân nó, và do vậy, với tư cách là khái niệm được biểu nghĩa, trong các yếu tố của tính lý tưởng hoặc tính phổ quát. Đặc tính phi trần tục của bản chất biểu hiện này mang tính cấu thành của tính lý tưởng đó. Kinh nghiệm xóa bỏ cái biểu nghĩa trong tiếng nói không phải chỉ một trong nhiều ảo tưởng - vì nó là điều kiện của chính các ý tưởng về chân lý - ở một chỗ khác tôi sẽ chỉ rõ bằng cách nào mà nó thực sự tự đánh lừa chính bản thân mình. Ảo tưởng này chính là lịch sử của chân lý và nó không thể bị tiêu tan một cách nhanh chóng được. Bên trong sự khép kín của kinh nghiệm này, thì từ [mot] được sống  như là một nhất tính cơ bản và bất khả phân hủy của cái được biểu nghĩa và giọng nói, là nhất tính của khái niệm và một bản chất trong suốt của biểu hiện. Kinh nghiệm này được coi là ở độ thuần khiết nhất của nó - đồng thời trong điều kiện khả tính của nó - với tư cách là kinh nghiệm của “hữu thể”. Từ "hữu thể", hoặc ở bất kỳ mức độ nào, các từ chỉ định ý nghĩa của hữu thể trong các ngôn ngữ khác nhau, bằng một số từ khác, đều là một "từ cội nguồn" ("Urwort"), [11] từ siêu vượt đảm bảo cho khả tính của từ hữu thể so với tất cả các từ khác. Theo nghĩa đen, nó được nhận thức trước  trong toàn bộ ngôn ngữ và - đây là sự mở ngỏ của Hữu thể và Thời gian - chỉ duy nhất sự nhận thức trước này mới cho phép mở ra vấn đề về nghĩa của hữu thể nói chung, vượt lên tất cả các bản thể luận lĩnh vực và toàn bộ siêu hình học: một vấn đề khai mở triết học (ví dụ, trong triết học nguỵ biện) và cho phép nó tự được thay thế bằng triết học, một vấn đề mà Heidegger lặp đi lặp lại bằng cách xem xét kỹ lưỡng lịch sử siêu hình học để giải quyết. Heidegger vẫn luôn nhắc chúng ta rằng nghĩa của hữu thể không phải là từ “hữu thể” cũng không phải là khái niệm hữu thể. Mà nghĩa đó không là gì cả ở bên ngoài ngôn ngữ và ngôn ngữ của các từ, nó được gắn liền, nếu không phải là với một từ đặc thù hoặc với một hệ thống ngôn ngữ đặc thù (concesso non dato) ít nhất với khả tính của từ nói chung. Và với khả tính của tính đơn giản đến không thể quy giản của nó. Người ta có thể nghĩ rằng nó vẫn chỉ để lựa chọn giữa hai khả tính. (a) Có hay không một ngôn ngữ học hiện đại, một khoa học về sự biểu nghĩa phá vỡ nhất tính của từ này và phá vỡ tính bất khả quy giản được viện ra, vẫn còn có bất cứ điều gì liên quan đến "ngôn ngữ?" Heidegger có lẽ sẽ nghi ngờ điều đó. (b) Ngược lại, có hay không toàn bộ điều đó được suy tư một cách sâu sắc với tư cách là tư tưởng hoặc vấn đề được kèm theo trong một ngôn ngữ học cũ của từ mà người ta vẫn thực hành ở đây một cách vô tình? Vô tình bởi vì một ngôn ngữ như vậy, cho dù là ngẫu nhiên hay có hệ thống, luôn phải chia sẻ các giả định của siêu hình học. Ngôn ngữ và siêu hình học vận hành dựa trên những cơ sở như nhau.

Người ta hành động mà không nói rằng những khả năng lựa chọn không thể chỉ đơn giản như vậy. Một mặt, nếu ngôn ngữ học hiện đại vẫn hoàn toàn đóng kín bên trong tính khái niệm kinh điển, đặc biệt là nếu nó sử dụng một cách ngây thơ từ hữu thể và tất cả những gì mà nó giả định trước, bên trong loại ngôn ngữ học này, giải cấu trúc cái nhất tính của từ nói chung thì, theo mô hình câu hỏi của Heidegger, khi vận hành một cách mạnh mẽ từ chính việc mở ra của Hữu thểThời gian, nó không còn có thể bị giới hạn như một khoa học hữu thể hoặc một hữu thể luận lĩnh vực. Ở mức tối đa, vấn đề hữu thể thống nhất một cách bất khả phân ly với việc nhận thức trước về từ hữu thể, không bị quy giản vào nó, loại ngôn ngữ học vận hành để giải cấu trúc cái nhất tính đã thành của từ đó chỉ phải, trong thực tế hoặc về nguyên tắc, đưa ra vấn đề để xác định lĩnh vực và trật tự phụ thuộc của nó.   

Không chỉ không còn là lĩnh vực hữu thể đơn giản của nó, mà các giới hạn của hữu thể luận tương thích với nó cũng không còn bất cứ lĩnh vực nào về các giới hạn đó. Và ở đây tôi có thể nói gì về ngôn ngữ học, hoặc ít nhất cũng về một công việc nào đó có thể được thực hiện trong nó và nhờ nó, không được nói về tất cả các nghiên cứu ở mức tối đa và tới mức độ chặt chẽ cuối cùng cũng sẽ giải cấu thành việc xác lập các từ - khái niệm hữu thể luận, hữu thể trong tính đặc quyền của nó? Bên ngoài ngôn ngữ học, nó nằm trong lĩnh vực nghiên cứu phân tâm học bước đột phá này hiện tại dường như lại có khả năng mở rộng lớn nhất.

Bên trong phạm vi không gian hạn chế nghiêm ngặt của bước đột phá ấy, các "khoa học" này không còn bị chi phối bởi các vấn đề về một hiện tượng luận siêu vượt hoặc một hữu thể luận nền tảng nữa. lẽ người ta có thể nói rằng, việc tuân theo trật tự của các vấn đề được mở đầu bởi Hữu thể và Thời gian và việc cấp tiến hóa các vấn đề của hiện tượng luận Husserl, bước đột phá này không thuộc về bản thân khoa học, vì vậy mà là thứ dường như phải được sản sinh ra bên trong một lĩnh vực hữu thể hoặc bên trong một hữu thể luận lĩnh vực, lại không thuộc về chúng căn cứ theo các quyền và dẫn trở lại vấn đề của tự thân hữu thể.

Bởi vì đó thực sự là vấn đề của hữu thể mà Heidegger đòi hỏi ở siêu hình học. Và với nó, vấn đề về chân lý, về ý nghĩa, về ngôn trí [logos]. Sự suy tư không ngững nghỉ về vấn đề đó vẫn không khôi phục được niềm tin. Ngược lại, đã trục xuất niềm tin từ chiều sâu thẳm của nó, mà việc trở thành một vấn đề về nghĩa của hữu thể lại khó khăn hơn người ta vẫn tưởng. Bằng việc xem xét hiện trạng ngay trước toàn bộ các quyết định về hữu thể, bằng việc phá hủy những tính chất an toàn của thần học hữu thể, thì cách suy tư như vậy đã đóng góp, hoàn toàn ở mức cao nhất như hầu hết ngôn ngữ học hiện đại, vào sự chuyển chỗ của nhất tính về nghĩa của hữu thể, có nghĩa là, trong trường hợp cuối cùng, nhất tính của chính từ này.

Vì vậy mà, sau khi gợi lên "tiếng nói của hiện hữu," Heidegger đã gợi nhớ rằng đó là im lặng, câm, không âm thanh, không lời, nguyên là phi ngữ âm (die Gewähr Stimme der lautlosen verborgener Quellen ...). Tiếng nói của các cội nguồn là không được nghe thấy. Một sự đoạn tuyệt giữa nguyên nghĩa của hữu thể và từ, giữa nghĩa và tiếng nói, giữa "tiếng nói của hữu thể" và "ngữ âm", giữa "tiếng gọi của hữu thể," và âm thanh được khớp nối; một sự đoạn tuyệt như vậy, lập tức xác nhận một ẩn dụ nền tảng, và làm cho nó trở nên đáng ngờ bằng việc gia tăng sự khác biệt mang tính ẩn dụ, chuyển dịch tính mơ hồ về trạng huống Heideggerien liên quan đến siêu hình học về sự hiện diện và ngôn trí trung tâm luận. Ngay lập tức nó được bao chứa bên trong nó và vượt lấn nó. Nhưng lại không thể tách rời hai thứ đó khỏi nhau.

Chính svận động vượt lấn đôi khi lại kéo lùi gần lại với giới hạn. Đối lập với những gì gợi ra ở trên, chúng ta phải nhớ rằng, đối với Heidegger, nghĩa của hữu thể không không bao giờ đơn giản nghiêm túc là một cái "được biểu nghĩa". Không phải do may mắn mà từ đó không được sử dụng; điều đó có nghĩa là hữu thể thoát khỏi sự vận động của dấu hiệu, một định đề có thể được hiểu ngang bằng như là một sự lặp lại của truyền thống cổ điển và như một lời cảnh báo liên quan đến một lý thuyết siêu hình hoặc kỹ thuật của sự biểu nghĩa. Mặt khác, nghĩa của hữu thể theo nghĩa đen không phải "đầu tiên", hay "nền tảng", hoặc "siêu vượt", dù được hiểu theo nghĩa Kantien, hoặc Husserlien. Sự phục hồi của hữu thể với tư cách là "vượt lên" các loại thực thể, việc khải lộ cái hữu thể luận nền tảng, không có gì khác ngoài các thời khắc cần thiết nhưng tạm thời. Từ Lời giới thiệu về Siêu hình học trở đi, Heidegger đã từ bỏ cái dự phóng về / và hữu thể luận các từ. [12] Sự che đậy cần thiết, nguồn cội, và bất khả quy giản về nghĩa của hữu thể, sự che khuất của nó bên trong chính sự bừng rộ của hiện diện, thoái rút lui không có lịch sử trọn vẹn và lịch sử của hữu thể, sự kiên định của Heidegger bằng cách lưu ý rằng hữu thể được sản sinh ra với tư cách là lịch sử chỉ thông qua ngôn trí logos, và không có gì bên ngoài nó, thì không hề còn sự khác biệt giữa cái biểu nghĩa và cái được biểu nghĩa. Định đề về sự vượt lấn này vẫn không tích hợp vào một diễn ngôn cẩn trọng đã vận hành cái rủi ro của việc hình thành bản thân sự thoái bộ.  Vì vậy người ta phải đi theo con đường của vấn đề hữu thể như ​​nó được đạo diễn bởi Heidegger và chỉ bởi một mình ông, ở chính và vượt khỏi thần học hữu thể, để đạt tới tính nghiêm ngặt tư tưởng về sự không khác biệt xa lạ đó và để xác định nó một cách chính xác. Heidegger thỉnh thoảng nhắc nhở chúng ta rằng "hữu thể", như nó được cố định trong các hình thức tổng quát về cú pháp và từ vựng trong ngôn ngữ học và triết học phương Tây, không phải là một cái được biểu nghĩa đầu tiên và tuyệt đối bất khả quy giản, rằng nó vẫn cắm rễ sâu trong một hệ thống các ngôn ngữ và một “ý nghĩa” quyết định về phương diện lịch sử, mặc dù nó được hương đặc quyền một cách lạ lùng nhờ ở sự khải lộ và che đậy; đặc biệt khi ông gọi mời chúng ta suy tư về "đặc quyền" của "ngôi thứ ba số ít của lối trình bày hiện tại" và dạng "vô định". Siêu hình học phương Tây, với tư cách là giới hạn nghĩa của hữu thể bên trong lĩnh vực hiện diện, vẫn được sinh sản như là cái chi phối của một hình thái ngôn ngữ học. [13] Việc đặt vấn đề về nguồn gốc của sự chi phối đó chungquy lại không phải là việc thực thể hóa một cái được biểu nghĩa siêu vượt, mà là một cách đặt vấn đề về những gì cấu thành lịch sử của chúng ta và những gì sản sinh ra tự thân tính siêu vượt. Heidegger cũng đưa nó lên khi trong Zur Seinsfrage [Về vấn đề Hữu thể] với cùng một nguyên do, ông cho phép từ "hữu thể" chỉ được đọc khi nó bị gạch chéo (kreuzweise Durchstreichung). Tuy nhiên, dấu hiệu xỏa bỏ đó lại không phải “chỉ là một biểu tượng phủ định" (p. 31) [p. 83]. Động thái xóa bỏ đó chính là văn bản cuối cùng của một thời đại. Bên dưới nét xóa đó sự hiện diện của một cái được biểu nghĩa siêu vượt bị xóa bỏ trong khi vẫn còn đọc được. Bị xóa bỏ trong khi vẫn còn đọc được, bị phá hủy trong khi vẫn làm cho người ta nhìn thấy rõ chính các ý tưởng của dấu hiệu. Ở mức độ tối đa,đã giải giới hạn thần học hữu thể, siêu hình học về sự hiện diện và ngôn trí trung tâm luận, văn bản cuối cùng này cũng chính là văn bản đầu tiên.
__________________________________________________

Nguồn: Derrida Jacques [1967] 1997. The Written Being/ The Being Written, In Of Grammatology. Translated by Gayatri Chakravorty Spivak, Baltimore: JohnHopkins University Press. Pp. 18-26.

Tác giả: Jacques Derrida [1930-2004], là nhà triết học Pháp sinh tại Algeria, trong một gia đình Do Thái, quê gốc ở Toledo [là một thành phố ở Tây Ban Nha, cách Madrid 70 km về phía nam], trở thành công dân Pháp từ năm 1870, theo Sắc lệnh Cremieux trao quyền công dân Pháp đầy đủ cho các cư dân bản địa người Do Thái nói tiếng Arab ở Algiria thuộc Pháp. Cha mẹ ông Haïm Aaron Prosper Charles (Aimé) Derrida (1896–1970) và Georgette Sultana Esther Safar (1901–1991) đặt tên cho ông là Jackie, và họ coi đó là một cái tên Mỹ. Vào ngày đầu tiên của năm học 1942, Derrida đã bị các nhà hành chính Pháp đuổi khỏi trường để thực thi đạo luật bài Semite của chính phủ Vichy. Ông đã ngầm học nhảy lớp trong vòng một năm, mà không theo học ở trường của người Do Thái do các giáo viên bị đuổi dạy và các sinh viên bị đuổi học thành lập, và tham gia vào nhiều cuộc thi đá bóng, vì mơ ước trở thành cầu thủ chuyên nghiệp. Ở tuổi vị thành niên Derrida đã tìm thấy trong các công trình của các nhà triết học và nhà văn như Rousseau, Nietzsche và Gide một công cụ nổi loạn chống lại gia đình và xã hội. Ngoài ra ông cũng đọc Camus và Sartre. Trong ngày đầu đến trường École Normale Supérieure, Derrida đã gặp Louis Althusser và họ trở thành bạn. Sau khi đến thăm kho lưu trữ Husserl ở Leuven, nước Bỉ, ông đã hoàn thành chương trình thạc sỹ triết học về Edmund Husserl. Ông được nhận học bổng nghiên cứu tại Đại học Harvard và đã nghiên cứu ở đó hai năm 1956-1957 để đọc Ulysses của J. Joyce. Năm 1957, ông cưới nhà phân tâm học Marguerite Aucouturier tại Boston. Từ 1960-1964, ông dạy triết tại Sorbonne, và là trợ giảng cho Suzanne Bachelard [con gái của Gaston Bachelard], Canguilhem, Paul Ricœur và Jean Wahl. Năm 1964, nhờ sự giới thiệu của Althusser và Jean Hyppolite, ông trở thành giảng viên chính thức tại École Normale Supérieure, cho đến 1984. Năm 1965 ông bắt đầu gia nhập nhóm Tel Quel của các lý thuyết gia triết học và văn học và kéo dài trong 7 năm. Năm 1967, ông công bố ba cuốn sách đầu tay Écriture et Differance, La Voix et Phenomene, và De la Grammatologie. Năm 1986, ông trở thành giáo sư về các ngành nhân văn tại Đại học California, Irvine và giảng dạy ở đó cho đến khi chết vào năm 2004. 

Chú thích

* Enzyklopädie   der   philosophischen   Wissenschaften   in   Grundrisse,  Suhrkamp   edition (Frankfurt am Main, 1970), pp. 273-76).

8. I attempt to develop this theme elsewhere (Speech and Phenomena).
9. This  does  not,  by  simple  inversion,   mean   that   the   signifier  is   fundamental   or  primary .  The “primacy” or   “priority”   of   the   signifier   would   be   an   expression   untenable   and   absurd   to formulate illogically within the very logic that it would legitimately destroy . The signifier will never by rights   precede  the   signified, in  which  case  it   would  no  longer  be  a  signifier  and the “signifying”   signifier   would   no   longer   have   a   possible   signified.   The   thought   that   is announced   in   this   impossible   formula   without   being   successfully   contained   therein   should therefore   be  stated   in   another  way;   it   will  clearly  be  impossible   to   do  so  without  putting   the very idea   of the sign into suspicion, the  “sign-of” which  will always remain attached to  what is   here   put   in   question.   At   the   limit   therefore,   that   thought   would   destroy   the   entire conceptuality organized around the concept of the sign (signifier and signified, expression and content, and so on) .
10. Postface   to  Was   ist   Metaphysik?  [Frankfurt   am   Main,  1960],   p.  46.   The  insistence   of  the voice also dominates the  analysis  of Gewissen [conscience] in  Sein und Zeit  (pp. 267  f.) .[pp. 312 f.].
11. Cf.  Das   W esen   der   Sprache  [”The   Nature   of   Language”],   and  Das   Wort  [”Words”],   in Unterwegs zur Sprache  [Pfüllingen], 1959 [On the W ay to  Language, tr .   Peter  D. Hertz (New Y ork, 1971) ].
12. [Martin Heidegger,  Einführung   in   die   Metaphysik  (Tübingen,   1953)   translated   as  An Introduction to Metaphysics by Ralp Manheim  (New  Haven, 1959).] Tr .  French  Gilbert Kahn [Paris, 1967], p. 50.
13. Introduction  de la métaphysique, tr .   fr .   p. 103  [Einführung  p.  70; Intr oduction,  p.  92].  “All this   points   in   the   direction   of   what   we   encountered   when   we   characterized   the   Greek experience and interpretation of being. If we retain the usual interpretation of being, the word ‘being’  takes its meaning from the unity and determinateness of the horizon which guided our understanding. In short: we understand the verbal substantive ‘Sein’ through  the infinitive,  which in   turn  is  related  to  the   ‘is’  and  its  diversity  that   we have described. The  definite   and  particular verb  form   ‘is,’   the  third  person  singular  of  the   present indicative,  has here a pre-eminent rank. We understand  ‘being’  not in regard to the ‘thou art,’ ‘you are,’  ‘I am,’  or ‘they would be,’  though all of these, just as much as ‘is,’  represent verbal inflections  of ‘to  be.’….And  involuntarily ,  almost  as though  nothing else were  possible,  we explain the infinitive ‘tobe’ to ourselves through the ‘is.’ “Accordingly ,   ‘being’   has   the   meaning   indicated   above,   recalling   the   Greek   view   of   the essence of being, hence a determinateness which has not just dropped on us acci dentally from somewhere   but   has   dominated   our   historical   being-there   since   antiquity .   At   one   stroke   our search   for   the   definition   of   the   meaning   of   the   word   ‘being’  becomes   explicitly   what   it   is, namely  a   reflection   on   the   source   of  our   hidden  history .”   I   should,   of   course,   cite   the   entire analysis that concludes with these words.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét