Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Bản chất của việc trao đổi vòng cổ và vòng tay Kula (I)



Bản chất của việc trao đổi vòng cổ và vòng tay Kula (I)

Bronislaw Malinowski

Người dịch: Hà Hữu Nga

Vì vậy, sau khi đã mô tả cảnh trí, và các diễn viên, giờ đây chúng ta tiến hành trình diễn. Kula là một hình thức trao đổi, là hình tháitính liên bộ lạc mở rộng; nó được thực hiện bởi các cộng đồng sinh sống trong một chuỗi các đảo rộng lớn, tạo thành một vòng khép kín. Vòng này được thể hiện bởi các đường nối một số đảo về phía Bắc và phía Đông của cực Đông New Guinea. Dọc theo tuyến này, hai loại vòng Kula và chỉ có duy nhất hai loại này liên tục đi theo hai hướng ngược nhau. Một loại vòng cổ dài làm bằng vỏ sò ốc đỏ, gọi là soulava, theo chiều kim đồng hồ, di chuyển liên tục. Theo hướng ngược lại là loại vòng tay làm bằng vỏ sò ốc trắng gọi là mwali. Mỗi mặt hàng, khi di chuyển theo hướng riêng của mình trên tuyến đường khép kín, gặp mặt hàng kia, và liên tục được trao đổi với nhau. Mỗi chuyển động của các mặt hàng Kula, từng chi tiết của các giao dịch được cố định và quy định bởi một tập hợp các quy tắc và quy ước truyền thống, và một số hành vi trao đổi Kula luôn đi kèm bằng một loại nghi lễ ma thuật phức tạp và các lễ thức công cộng khác.

Trên mỗi hòn đảo và trong mỗi làng, ít nhiều đều có một số lượng nhất định những người đàn ông tham gia vào các trao đổi Kula đó, có nghĩa là, họ nhận được hàng, giữ chúng trong một thời gian ngắn, và sau đó chuyển chúng cho người khác. Vì vậy mỗi người đàn ông đều tham gia trao đổi Kula, định kỳ, mặc dù không thường xuyên, nhận được một hoặc một số mwali (vòng tay vỏ sò ốc trắng), hoặc một soulava (vòng cổ vỏ sò ốc đỏ), và sau đó lại trao nó cho một trong các đối tác của mình, người đã trao cho ông ta loại mặt hàng trao đổi đối lập. Như vậy không có người đàn ông nào giữ bất kỳ mặt hàng nào trong bất kỳ khoảng thời gian nào thuộc sở hữu của mình. Một loại giao dịch không kết thúc mối quan hệ Kula, tuân theo nguyên tắc "một lần thuộc về Kula, thì mãi mãi thuộc về Kula,"  và mối quan hệ đối tác giữa hai người đàn ông là một chuyện thường xuyên và suốt đời. Một lần nữa, bất kỳ mwali hoặc soulava nào cũng có thể luôn luôn được thấy di chuyển và thay đổi truyền tay, mà không hề chuyện dừng lại, do đó nguyên tắc "một lần thuộc về Kula, thì mãi mãi thuộc về Kula," cũng được áp dụng cho các đồ vật có giá trị khác.

Nghi thức trao đổi hai mặt hàng này khía cạnh cơ bản, chính thức của thể chế Kula. Nhưng đi kèm với nó, và thực hiện theo nguyên tắc của nó, chúng tôi tìm ra một số lượng lớn các hoạt động và các đặc tính thứ cấp liên quan. Như vậy, bên cạnh nghi thức trao đổi vòng tay, vòng cổ, các thổ dân còn tiến hành trao đổi các mặt hàng thương mại thông thường, bằng phương thức vật đổi vật giữa đảo này với đảo khác với một khối lượng lớn các hàng hóa, vật dụng, thường không thể kiếm được trong vùng,phải nhập từ vùng khác, và đó là những thứ không thể thiếu. Hơn nữa, có các hoạt động khác, trước hết liên quan đến Kula, hoặc gắn liền với nó, chẳng hạn như việc đóng những chiếc cano đi biển, phục vụ cho các chuyến đi xa, dài ngày, một số hình thức của các tang lễ quan trọng, và những cấm kỵ khởi đầu.

Do đó Kula là một thể chế rất lớn và phức tạp, cả về phạm vi địa lý, lẫn tính đa dạng của các thành phần hoạt động. Nó gắn kết một số lượng lớn các bộ lạc, và bao trùm một phức hợp rộng lớn các hoạt động, kết nối với nhau, xen cài lẫn nhau, để tạo thành một tổng thể hữu cơ.

Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng đối với chúng ta, cái có vẻ là một thể chế rộng lớn, phức tạp, và được tổ chức chặt chẽ lại chính là kết quả của quá nhiều hoạt động, theo đuổi, được thực hiện bởi những con người hoang dã, những con người không có luật pháp, mục đích, hoặc điều lệ chắc chắn. Họ không có kiến ​​thức phác thảo tổng thể về bất kỳ điều gì trong cấu trúc xã hội của họ. Họ biết những động cơ riêng của mình, biết mục đích của các hành động cá nhân và các quy tắc áp dụng cho chúng, nhưng ngoài những thứ đó ra, thì phương thức tạo hình toàn bộ thể chế tập thể này, lại hoàn toàn vượt quá phạm vi tư duy của họ. Ngay cả những người bản địa thông minh nhất cũng không hề có bất kỳ ý tưởng rõ ràng nào về Kula như một cấu trúc xã hội lớn, có tổ chức, vẫn còn rất ít chức năng xã hội và các mối liên quan. Nếu bạn hỏi anh ta Kula là, thì anh ta sẽ trả lời bằng cách đưa ra một vài chi tiết, rất có thể bằng cách đưa ra những kinh nghiệm cá nhân của mình và quan điểm chủ quan về Kula, nhưng không có được một định nghĩa rõ ràng nào về nó. Họ cũng không hề có bất cứ cách giải thích mạch lạc nào về Kula. Không có một hình ảnh tổng thể nào về Kula trong tâm trí của anh ta; anh ta ở trong nó, và không thể nhìn thấy cái tổng thể từ bên ngoài.

Sự tích hợp của tất cả các chi tiết quan sát được, việc đạt được một sự tổng hợp xã hội học của tất cả các triệu chứng có liên quan khác nhau, là nhiệm vụ của các nhà dân tộc học. Trước hết, ông ta phải thấy rằng các hoạt động nhất định, ngay từ cái nhìn đầu tiên có thể xuất hiện rời rạc và không tương liên với nhau, cũng có một ý nghĩa nào đó. Sau đó, ông ta phải tìm cho ra những gì là bất biến và có liên quan trong các hoạt động này, và những gì tình cờ và không cần thiết, có nghĩa là, để tìm ra các luật lệ và quy tắc của tất cả các giao dịch. Một lần nữa, nhà dân tộc học phải xây dựng hình ảnh của thể chế lớn, cũng hệt như nhà vật lý cấu trúc lý thuyết của mình từ các dữ liệu thực nghiệm, luôn luôn có được trong tầm tay của mọi người, nhưng lại rất cần một diễn giải nhất quán. Tôi đã đề cập đến vấn đề có tính phương pháp ấy trong phần giới thiệu (Các mục V và VI), nhưng tôi vẫn lặp lại ở đây, vì cần phải nắm bắt rõ ràng để không bị đánh mất đi quan điểm đúng về các điều kiện như chúng thực sự tồn tại người bản địa.

Trong việc đưa ra định nghĩa trừu tượng và súc tích ở trên, tôi đã phải đảo ngược thứ tự nghiên cứu, vì điều này được thực hiện trong công việc dân tộc học thực địa, nơi các kết luận tổng quát nhất thu được với tư cách là kết quả của các khảo sát lâu dài và các nghiên cứu quy nạp khó nhọc. Định nghĩa chung về Kula sẽ được sử dụng như là một loại kế hoạch hoặc sơ đồ trong các mô tả cụ thể và chi tiết hơn của chúng tôi. Và điều này lại cần thiết hơn, vì Kula có liên quan với sự trao đổi tài sản các tiện ích, do đó nó là một thể chế kinh tế, và không có khía cạnh khác của đời sống nguyên thủy, nơi mà tri thức của chúng tôi hạn hẹp hơn và sự hiểu biết của chúng tôi về kinh tế học lại càng hời hợt hơn. Do đó quan niệm sai lầm là rât phổ biến, và cần phải làm rõ cơ sở của vấn đề khi tiếp cận với bất kỳ chủ đề kinh tế nào.

Như vậy trong phần giới thiệu, chúng tôi gọi Kula một "hình thức trao đổi" và chúng tôi xếp nó cùng với các hệ thống vật đổi vật khác. Điều này là hoàn toàn chính xác, nếu chúng ta diễn giải một cách đầy đủ và rộng rãi từ "trao đổi", và nó có nghĩa là bất kỳ loại trao đổi hàng hóa nào. Nhưng từ "trao đổi" được sử dụng trong dân tộc học hiện tại và tài liệu kinh tế với rất nhiều ý nghĩa khác nhau, mà một lố các định kiến nhầm lẫn phải được gạt sang một bên để nắm bắt các sự kiện một cách chính xác. Vì vậy, quan niệm tiên nghiệm hiện thời về thương mại nguyên thủy có lẽ chính là cái quan niệm về một loại hoạt động trao đổi những mặt hàng không thể thiếu hoặc hữu ích, được thực hiện mà không cần nhiều nghi lễ hoặc quy định, dưới sức ép của sự khan hiếm hoặc nhu cầu, thảng hoặc trong những khoảng thời gian đứt đoạn, không theo quy tắc, hoạt động này cũng được thực hiện cả bằng phương thức vật đổi vật trực tiếp, mọi người đều nhanh chóng nhận ra là không được thực hiện vì cái mà anh ta đáng được hưởng hoặc, nếu những người hoang dã quá nhút nhát và không tin tưởng để đối mặt với nhau, một số cách thức mang tính phong tục, đảm bảo việc tuân thủ theo các nghĩa vụ phát sinh hoặc áp đặt bằng những hình phạt nặng nề.* Việc để lại cho hiện tại câu hỏi quan niệm này có giá trị hoặc không có giá trị bao lâu, thì theo tôi, nói chung là hoàn toàn nhầm lẫn, vì chúng ta phải thừa nhận một cách rõ ràng rằng thể chế Kula trái ngược, trong hầu hết các vấn đề, với định nghĩa về “thương mại hoang dã” ở trên. Nó soi rọi cho chúng ta thấy thương mại nguyên thủy bằng một thứ ánh sáng hoàn toàn khác.

Kula không phải là một hình thức trao đổi gian dốinhất thời. Hoàn toàn trái lại, nó có cội rễ từ huyền thoại, được hỗ trợ bởi luật tục truyền thống, và được vây phủ với các nghi lễ ma thuật. Tất cả các giao dịch chính của nó là công khai, mang tính nghi lễ, và được thực hiện theo các quy tắc rõ ràng. Nó không phải được thực hiện dựa trên sự thúc ép chốc lát, mà diễn ra định kỳ, vào những thời hạn được ấn định trước, và nó được thực hiện trên các tuyến thương mại nhất định, phải dẫn đến các vị trí hẹn gặp cố định. Về phương diện xã hội học, mặc dù việc giao dịch diễn ra giữa các bộ lạc khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, và có lẽ kể cả chủng tộc, nhưng vẫn dựa trên một vị thế cố định và bền vững, với một quan hệ đối tác liên kết thành các cặp với hàng ngàn cá nhân. Quan hệ đối tác này là một mối quan hệ lâu dài, nó bao hàm vô số nghĩa vụ đặc quyền với nhau, và tạo thành một kiểu quan hệ liên bộ lạc trên một quy mô rất lớn. Về cơ chế kinh tế của các giao dịch, thì điều này dựa trên một hình thức tin tưởng cụ thể, hàm ý về một mức độ tin tưởng lẫn nhau rất cao, cũng như việc tôn vinh thương mại, và điều này còn liên quan đến thương mại nhỏ, bao cấp, đi kèm với thể chế Kula thích hợp. Cuối cùng, việc thực hiện các hoạt động Kula không hề có sự căng thẳng về bất cứ nhu cầu nào, vì mục đích chính của nó là để trao đổi các loại hàng hóa không thuộc lĩnh vực sử dụng thực tiễn.

Từ định nghĩa ngắn gọn về Kula được đưa ra ở đầu chương này, chúng ta thấy rằng trong bản chất cuối cùng của nó, gạt bỏ tất cả những vẻ bề ngoài các thứ được thêm bớt, thì đó là một sự kiện rất đơn giản, mà ngay từ cái nhìn đầu tiên thậm chí đã có vẻ là nhạt nhẽo và không hề có chút lãng mạn nào. Trên hết, nó chỉ bao gồm một loại trao đổi, lặp đi lặp lại triền miên, hai mặt hàng được dùng cho việc trang sức, nhưng thậm chí còn không thể được sử dụng cho mục đích trang sức ở mọi nơi, mọi lúc. Tuy nhiên, hành động đơn giản này, việc truyền từ tay kẻ này sang tay người khác hai loại hiện vật vô nghĩa và hoàn toàn vô ích ấy, bằng cách  nào đó đã khá thành công trong việc cấu thành nền tảng của một thể chế liên bộ lạc lớn, được gắn liền với rất nhiều hoạt động khác, huyền thoại, ma thuật và truyền thống đã được xây dựng lên xung quanh các loại hình nghi thức và nghi lễ nhất định, đã đem lại cho nó một vầng hào quang của sự lãng mạn và giá trị trong tâm trí của người bản xứ, đã thực sự tạo ra một niềm đam mê trong trái tim của họ với việc trao đổi đơn giản này.

Định nghĩa về Kula giờ đây phải được khuếch đại, và chúng ta phải mô tả hết đặc trưng này đến đặc trưng khác, hết quy tắc này đến quy tắc khác, sao cho người ta có thể nắm bắt được một cách rõ ràng về cái cơ chế trao đổi chỉ với hai loại hiện vật mà đã làm nảy sinh một thể chế rộng lớn, phức tạp, và bắt rễ sâu xa đến như vậy.

Trước hết, cần phải nói một vài lời về hai đối tượng chính của hoạt động trao đổi, vòng tay bằng vỏ sò ốc mwalichuỗi vòng c soulava. Vòng tay bằng vỏ sò ốc được làm bằng cách đập vỡ phần đầu và phần đuôi hẹp của một vỏ sò ốc lớn hình nón, và sau đó đánh bóng chiếc vỏ đó. Toàn bộ cư dân Papuo-Melanesians New Guinea, và thậm chí kể cả cư dân các khu vực thuần Papua của vùng Vịnh​** đều rất thèm muốn có được những chiếc vòng này. Việc sử dụng các mảnh vỏ sò ốc Spondylus hình đĩa nhỏ màu đỏ để làm vòng cổ soulava, cũng rất lan rộng.

Có một trung tâm sản xuất của các mặt hàng này tại một làng ở Port Moresby, và còn có ở một vài nơi thuộc Đông New Guinea, đáng chú ý là Đảo Rossell, và ở vùng người Trobriands. Tôi đã nói "sử dụng" vào mục đích ở đây, bởi vì những hạt chuỗi nhỏ này, mỗi hạt là một vật hình đĩa khoan lỗ ở giữa, một vật bất kỳ nào đó có màu nâu bùn đến đỏ son, đã được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trang sức. Nhìn chung, chúng đều được sử dụng làm một phần của loại vòng đeo tai, khuyên làm bằng mai rùa, được gắn vào dái tai, và treo thêm vào đó một chùm vỏ sò ốc hình đĩa. Những chiếc hoa tai này được đeo rất nhiều, và đặc biệt là ở người Massim, ta thấy chúng hiện diện trên tai của một người đàn ông hay phụ nữ thứ hai, trong khi những người khác hài lòng với loại chỉ làm bằng mai rùa, không được trang sức thêm bằng các mảnh vỏ sò ốc đó.

Một vật trang trí hàng ngày, thường xuyên thấy người ta đeo, đặc biệt là các trẻ em kể cả gái lẫn trai, gồm một chuỗi vòng ngắn, chỉ đeo quanh cổ, làm bằng các mảnh vỏ sò ốc Spondylus đỏ, với một hoặc nhiều hạt chuỗi vỏ ốc tiền Cowrie. Những mảnh vỏ này có thể, thường được dùng để trang sức cùng các loại đồ trang sức khác nhau được tạo tác công phu hơn, chỉ đeo vào những dịp lễ hội. Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến loại dây chuyền rất dài, đo được từ 2-5 mét, làm bằng các mảnh vỏ sò ốc Spondylus, trong đó có hai loại chính, một loại đẹp hơn nhiều, với một mảnh vỏ sò ốc lớn, loại kia làm bằng các mảnh vỏ sò còn lớn hơn, và với một vài vỏ ốc tiền Cowrie hoặc những hạt chuối đen ở giữa.

Một mặt, những chuỗi vòng tay, và mặt khác, các chuỗi trang sức bằng vỏ ốc Spondylus dài, hai mặt hàng Kula chủ yếu, là những vật trang sức quan trọng nhất. Theo nghĩa đen, chúng chỉ được sử dụng cùng với những chiếc váy vũ hội được làm công phu nhất, và chỉ dùng cho những dịp lễ hội rất lớn, chẳng hạn như các điệu múa nghi lễ, các đại tiệc, và các cuộc hội họp lớn, trong đó còn có đại diện của một số làng khác. Chưa bao giờ chúng có thể được sử dụng làm đồ trang sức hàng ngày, cũng như không được dùng trong những dịp lễ lạt ít quan trọng, chẳng hạn như một vũ hội nhỏ trong làng, một dịp hội mùa, một đoàn nam nữ tụ hội làm chuyện yêu đương, mà chủ yếu là vẽ mặt, trang sức bằng hoa và các món đồ trang sức nhỏ hơn mặc dù cũng không phải được sử dụng hàng ngày. Nhưng mặc dù có thể sử dụng và đôi khi được sử dụng, đây không phải là chức năng chính của những món đồ trang sức này. vậy, một vị tù trưởng có thể sở hữu một vài chuỗi vòng cổ, và một vài chuỗi vòng tay. Giả sử một vũ hội lớn được tổ chức tại làng mình hoặc trong một ngôi làng lân cận, thì ông ta sẽ không tự đeo đồ trang sức của mình, nếu ông ta đến để cvũ, hỗ trợ, trừ khi ông có ý định nhảy và tự trang sức cho mình, nhưng bất kỳ người thân nào của ông ta, các con cái hoặc bạn bè của ông và thậm chí cả những người hầu cận, đều có thể sử dụng chúng khi ông cho phép. Nếu bạn đến dự một bữa tiệc hay một vũ hội có một số người đàn ông trang sức như vậy, và ngẫu nhiên hỏi bất cứ ai trong số người đeo đồ trang sức đó thì sẽ thấy là hơn một nửa số đó sẽ trả lời rằng bản thân họ không phải là chủ sở hữu các món trang sức đó, họ chỉ đi mượn mà thôi. Những món đồ này không phải là vật sở hữu để sử dụng; đặc quyền của việc trang sức bằng các món đồ này không phải là mục đích thực sự của việc sở hữu chúng.

Thật vậy và đây là điều quan trọng hơn bởi cho đến nay số lượng lớn vòng tay vỏ sò ốc, dễ có đến chín mươi phần trăm có kích cỡ quá nhỏ cả với lũ trẻ. Một vài vòng tay rất lớn và có giá trị không hề dùng để đeo, ngoại trừ một lần trong một thập kỷ, bởi một người đàn ông rất quan trọng trong một ngày đại lễ. Mặc dù tất cả các chuỗi vỏ có thể được sử dụng làm trang sức, nhưng một số chuỗi lại được coi là quá quý giá, và dềnh dàng để sử dụng thường xuyên, mà chỉ được đeo trong những dịp rất đặc biệt.

Mô tả ngược chiều này để lại cho chúng ta những câu hỏi: vậy thì tại sao những hiện vật này lại có giá trị, mục đích của chúng là ? Lời đáp đầy đủ cho câu hỏi này sẽ xuất hiện trong toàn bộ câu chuyện các chương tiếp theo, nhưng trước hết cũng cần đưa ra một ý tưởng gần gũi với lời đáp. Sẽ luôn tốt hơn nếu tiếp cận với cái chưa biết thông qua cái đã biết, vì vậy chúng ta hãy xem xét một chút, cho dù chúng ta không có các loại hiện vật có vai trò tương tự, được sử dụng và sở hữu theo cách thức tương tự. Sau sáu năm vắng mặt trong vùng biển phía Nam và nước Úc, tôi trở lại châu Âu và đã đến thăm qua lâu đài Edinburgh Castle, tôi đã thấy những viên đá quá quý của bộ vương miện. Người trông coi kể nhiều câu chuyện về cách thức mà các vị vua và hoàng hậu đã đội các vương miện này vào dịp này, dịp kia, các câu chuyện về việc người ta đã đưa một số vương miện về London, gây nên phẫn nộ rất lớn cho toàn bộ người dân Scotland; câu chuyện về cách thức phục hồi, và làm thế nào để giờ đây mọi người có thể hài lòng, kể từ khi các vương miện đó được giữ gìn an toàn trong các hộp đựng được khóa kín, và không ai có thể chạm vào chúng. Khi tôi nhìn vào các viên ngọc vương miện đó và nghĩ chúng xấu đến mức nào, vô dụng, vô duyên, thậm chí lòe lẹt ra sao, tôi lại có cảm giác rằng một cái gì đó tương tự mà tôi đã được nghe nói, và tôi đã nhìn thấy nhiều hiện vật khác thuộc loại này, đều gây nên trong tôi một ấn tượng tương tự.

Trên trái, chuỗi vòng cổ soulava, hoặc bagl, loại trang sức Kula thực sự. Bên phải, chuỗi katudababile (hoặc samakupa, cách gọi tên của người Massim phía Nam), được làm bằng những mảnh vỏ sò ốc lớn hơn, được sản xuất tại các làng Sinakcta và Vakuta (quần đảo Trobriand). Món đồ trang sức katudababile không có bất kỳ vai trò quan trọng nào trong thể chế Kula.
_____________________________________

Nguồn: Bronislaw Malinowski 1932. Argonauts of the Western Pacific, George Routledge & Sons, Ltd. London. (tr.82-88)

Tác giả: Bronisław Kasper Malinowski 1884-1942, người Ba Lan, là một trong số những nhà nhân học quan trọng nhất của thế kỷ XX. Từ năm 1910, Malinowski nghiên cứu kinh tế học tại Trường Kinh tế London. Dưới sự hướng dẫn của các giáo sư Seligman và Westermarck, ông đã tiến hành phân tích các mô hình trao đổi của thổ dân Úc thông qua các tài liệu dân tộc học. Năm 1914, ông đã nhận được tài trợ đến nghiên cứu tại New Guinea cùng nhà nhân học R.R. Marett, nhưng khi Thế chiến I bùng nổ, vì là một thần dân Áo, nên Malinowski đương nhiên là kẻ thù của Khối thịnh vượng chung thuộc Vương quốc Anh, nên ông không thể quay trở lại nước Anh. Tuy nhiên chính phủ Úc vẫn tài trợ và cho phép ông tiếp tục thực hiện công việc nghiên cứu dân tộc học trong lãnh thổ của họ và Malinowski đã chọn quần đảo Trobriand, ở Melanesia, ông ở đó vài năm, nghiên cứu văn hóa bản địa. Sau khi trở về Anh sau chiến tranh, ông xuất bản công trình nổi tiếng Argonauts of the Western Pacific (1922). Vời tác phẩm này, ông đã trở thành một trong những nhà nhân chủng học quan trọng nhất ở châu Âu thời đó. Ông trở thành giảng viên và sau đó được bổ nhiệm trưởng khoa nhân học tại Đại học Kinh tế London, thu hút rất nhiều sinh viên và trở thành nhân vật có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nhân học xã hội Anh. Trong thời gian này, đã có rất nhiều học trò của ông trở thành các nhà nhân học nổi tiếng như Raymond Firth, E.E. Evans-Pritchard, Hortense Powdermaker, Edmund Leach, Audrey Richards và Meyer Fortes. Từ năm 1933, ông tới giảng dạy tại một số trường đại học Mỹ và khi Thế chiến II nổ ra, ông quyết định ở lại Mỹ và làm giáo sư tại đại học Yale.

Công trình dân tộc học của ông về những người Trobriands đã mô tả thể chế phức tạp Vòng Kula, và đã trở thành nền tảng cho các lý thuyết tiếp theo về hoạt động trao đổi và nguyên tắc có đi có lại. Ông cũng được coi là một nhà nhân học thực địa lỗi lạc với các ghi chép nổi tiếng về phương pháp liên quan đến lĩnh vực nhân học, trở thành nền tảng phương pháp cho ngành nhân học sớm. Chính ông là người đã tạo ra thuật ngữ quan sát tham gia. Cách tiếp cận của ông về lý thuyết xã hội đã trở thành cơ sở cho thuyết chức năng luận, nhấn mạnh cách thức tổ chức xã hội và văn hóa phục vụ cho các nhu cầu cơ bản của con người, một quan điểm trái ngược với chức năng luận cấu trúc của Radcliffe-Brown nhấn mạnh những cách thức mà các tổ chức xã hội vận hành liên quan đến xã hội như một tổng thể.

Ghi chú:

* Bằng cụm từ "quan điểm hiện tại" tôi muốn nói là nó phải được tìm thấy trong các cuốn sách giáo khoa và trong các bình chú ngắn, rải rác trong các tài liệu kinh tế và dân tộc học. Như một vấn đề thực tiễn, Kinh tế học là một chủ đề rất ít khi đề cập đến cả trong các công trình lý thuyết dân tộc học, cũng như trong các diễn giải thuộc các lĩnh vực thực địa. Tôi đã bù đắp lại sự thiếu hụt này trong bài viết về "Kinh tế Nguyên thủy", được công bố trên Tạp chí Kinh tế, tháng Ba, 1921. (" Primitive Economics," published in the Economic Journal, March, 1921).

Phân tích rõ ràng nhất về vấn đề nền kinh tế hoang dã có thể thấy, mặc dù còn nhiều thiếu sót, trong "Tiến hóa công nghiệp," tiếng Anh dịch của K. Bücher, 1901 [K. Bücher's " Industrial Evolution," English Translation, 1901]. Tuy nhiên, về thương mại nguyên thủy, quan điểm của ông là không đủ. Về quan điểm chung của ông cho rằng những người hoang dã không có nền  kinh tế quốc gia, ông kiên trì rằng bất kỳ sự phổ biến nào của các hàng hoá giữa những người bản địa cũng đều được thực hiện bằng các phương tiện phi kinh tế, chẳng hạn như cướp bóc, cống nạp và quà tặng. Các thông tin chứa trong tuyển tập này không phù hợp với quan điểm của Bücher, cũng không thể coi các quan điểm đó là rất thân thuộc với mô tả của Barton về người Hin (trong Melanesians** của Seligman)

Tóm tắt các nghiên cứu được thực hiện trong Primitive Economics - Kinh tế Nguyên thủy, thể hiện tình cờ, cái cách thức mà công trình vững chãi, ít tính hiện thực đã được thực hiện, sẽ được tìm thấy trong cuốn Nhân chủng học, X XI, 1915-1916 của Pater W. Kopper [Die Ethnologische Wirtschaftsforschung]. Bài viết này rất hữu dụng, trong đó tác giả tóm tắt các quan điểm của những người khác.

** Giáo sư C. G. Seligman, op. tit., p. 93, nói rằng các chuỗi vòng tay vỏ sò ốc, toea, tên gọi của người Motu, được trao đổi từ vùng cảng Port Moresby đến Vịnh Papua. Đối với các cư dân  Motu và Koita, gần Port Moresby, loại đồ trang sức này được đánh giá cao, và hiện nay mức giá rất cao, lên đến 30 [bảng?], cao hơn nhiều so với mặt hàng cùng loại của người Massim.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét