Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Hiện tượng luận về Ý nghĩa của Husserl trong Khảo sát Logic



Hiện tượng luận về Ý nghĩa của Husserl trong Khảo sát Logic

Nythamar Fernandes de Oliveira

Người dịch: Hà Hữu Nga

Giới thiệu

Lý thuyết về ý nghĩa của Edmund Husserl chắc chắn chiếm một vị trí đặc quyền nhất trong tòa lâu đài hiện tượng luận hoành tráng của ông. Có lẽ vì ảnh hưởng phổ biến và cơ bản trong các văn bản của Husserl, "ý nghĩa" là một trong những từ khóa mô tả hay nhất, cùng với "ý thức" và "tính chủ đích", phần cốt lõi cái dự phóng hiện tượng luận ấy. Thực ra thì cả phép tường giải lẫn giải cấu trúc đều là những đứa con hợp pháp của hiện tượng luận Husserl, đều được sử dụng để khẳng định vị trí trung tâm hòa hợp với "ý nghĩa" trong các khảo sát của Husserl. Tuy nhiên không thể, khảo sát một cách đầy đủ ý nghĩa phổ biến của "hiện tượng luận về ý nghĩa của Husserl" trong một tiểu luận có giới hạn này, bài viết không có kỳ vọng là một nghiên cứu khai thác thấu đáo, mà chỉ tìm cách giới thiệu một vấn đề thuộc phạm vi thay đổi từ thế giới sự vật đến một loại hiện tượng luận về thế giới sống của chính Husserl mà thôi. Vì vậy tôi sẽ giới hạn vấn đề vào việc phác thảo lý thuyết về ý nghĩa của Husserl trong Logical Investigations - Khảo sát Logic - những đóng góp của nó cho sự phát triển một hiện tượng luận trong phần Ý tưởng I. Tôi đặc biệt quan tâm đến sự đóng góp của Husserl cho "phong cách" tường giải của quá trình triết học hóa được thực hiện bởi các triết gia đương thời như Heidegger, Levinas, Merleau-Ponty, Gadamer, Ricoeur, Foucault, và Derrida. Chắc chắn là việc xem xét các vấn đề được đề xuất bởi trào lưu tường giải và cội nguồn tư tưởng của các triết gia ấy sẽ vượt khỏi phạm vi của bài viết này. Thực ra thì, chính trong Logical Investigations, chúng ta phải tìm cho ra các tiền đề khái niệm cho toàn bộ các vấn đề hiện tượng luận về quá trình biểu nghĩa và ngôn ngữ, sau đó đã được phát triển trong các bài giảng ở Göttingen năm 1908 về lý thuyết ý nghĩa, kể cả trong Ideas I, và Crisis cũng như The Origin of Geometry nữa. Như Jacques Derrida chỉ ra,

Trong lĩnh vực này [ngôn ngữ] hơn bất cứ lĩnh vực nào khác, một cách đọc kiên nhẫn sẽ xuất hiện trong các nghiên cứu cấu trúc ươm mầm của bất kỳ tư tưởng nào của Husserl. Mỗi trang đều cần phải được đọc - hoặc thực hành ngầm ẩn - về các quy giản bản chất hiện tượng, sự hiện diện của tất cả mọi thứ có thể phát hiện, tiếp cận được”. [Dans ce domaine [du langage] plus qu’ailleurs, une lecture patiente ferait apparaître dans les Recherches la structure germinale de toute la pensée husserlienne. A chaque page se laisse lire la nécessité –ou la pratique implicite—des réductions éidétiques et phénoménologiques, la présence repérable de tout ce à quoi elles donneront accès].

Như Derrida nhận xét, vấn đề đầu tiên của Logical Investigations - Khảo sát Logic - xuất hiện để điều khiển việc đọc các vấn đề tiếp theo. Và điều này được thực hiện như là một thủ tục chiến lược trong văn bản của Husserl, trong đó sự chặt chẽ của các phân tích hiện tượng luận của ông bao gồm cả sự vắng mặt cần thiết của các giả định đề (Voraussetzungslosigkeit) như là một xuất phát điểm. Vì vậy, ngay cả sự kiện [Faktum] ngôn ngữ cũng có thể không được xem xét, theo dự phóng của Husserl, như một tiền giả định. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, Derrida đã chứng minh một cách thuyết phục rằng vấn đề không phải là ở đó, cái μάθησις mathesis [học, tạo ra tri thức] kiểu Husserlien không che giấu "một tiền giả định siêu hình," ở chính trung tâm lý thuyết về ý nghĩa của ông, mà nó đã thực sự cấu thành hiện tượng luận, nó là, "từ bên trong." Rất lâu trước Derrida, Heidegger đã bắt đầu bước tiến này chống lại "tính thiếu tiền giả định hữu thể luận" của Husserl bằng cách triệu hồi phép tường giải về cái "Sein" - hữu thể -  bị lãng quên, bị che dấu bởi/bị đàn áp tại trung tâm của cái "Bewusstsein"  [συνείδησις] - “nhận thức”  Husserlien tuyệt đối hóa. Từ quan điểm tường giải, chính xác là, từ bên trong Khảo sát Logic, mà người ta cần phải tìm hiểu lý thuyết về ý nghĩa của Husserl.

Biểu hiện và Ý nghĩa

Mối quan tâm được kết hợp sớm vào toán học và tâm lý học của Husserl đã dẫn ông đến việc tập trung vào tri thức luận về các khái niệm số học, như chúng ta có thể suy ra từ tiêu đề của các công trình Habilitationsschrift [Luận về tiền giả định], Über den Begriff der Zahl - Về khái niệm số (1887) của ông, và cả các công trình quan trọng đầu tiên như Philosophie der Arithmetik (Triết học Số học, 1891), mà tập đầu có phụ đề Psychologische und logische Untersuchungen - Khảo sát Tâm lý và Logic. Dưới ảnh hưởng của nhà tâm lý học - triết học Franz Brentano, Husserl đã bắt đầu khớp nối nền tảng tâm lý của logic và triết học. Như Husserl đã thú nhận ở lời nói đầu cho bản in đầu tiên công trình Khảo sát Logic của mình:

Tôi bắt đầu công việc dựa trên giả định thịnh hành cho rằng tâm lý học là ngành khoa học mà từ đó logic nói chung, và logic của các khoa học diễn dịch, đã phải hy vọng để minh định về phương diện triết học. Vì lý do này mà các nghiên cứu tâm lý chiếm một vị trí rất lớn trong tập đầu của Triết học số học (chỉ mới công bố) của tôi. Tuy nhiên, vẫn có những kết nối trong đó một nền tảng tâm lý như vậy không bao giờ làm tôi hài lòng”,

Sau đó, ông kiên trì rằng nền tảng của khái niệm vcon số chính là nền tảng tâm lý của khái niệm về tính vô số. Điều quan trọng là phải nhớ rằng suy nghĩ riêng của Husserl đã xuất hiện từ một môi trường "tâm lý luận", rõ ràng được đánh dấu bởi tri thức luận Kant mới. Theo quan điểm đó, thế giới của chúng ta là một "thế giới" được xây dựng bằng sự phản ánh và trừu tượng hóa về/và từ các nội dung vật lý, và toàn bộ tri ​​thức phải được giới hạn vào các hiện tượng tâm linh. Sự quy giản các vần đề triết học, toán học và logic này thành các vấn đề tâm lý đã được gọi là "tâm lý luận". Do đó hiện tượng luận Husserl xuất hiện như là một nỗ lực cấp tiến để vượt qua cả tâm lý luận và chủ nghĩa kinh nghiệm truyền thống. Tuy nhiên, bước đột phá hiện tượng luận này sẽ không diễn ra cho đến khi Husserl công bố tác phẩm Logische Untersuchungen - Khảo sát Logic của ông vào năm 1900 và 1901. Mặc dù ở đây, tôi không có ý định xem xét sự tiến hóa lịch sử của hiện tượng luận Husserl, nhưng điều vô cùng quan trọng cần lưu ý lý thuyết về ý nghĩa của Husserl đã tiến hóa trong một khuôn khổ triết học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa kinh nghiệm Đức và phê phán của Gottlob Frege về logic tâm lý luận, thực sự trùng hợp với sự vận động theo hướng tự phê phán của Husserl nhằm từ bỏ triết học ban đầu của ông về số học và theo đuổi Khảo sát Logic. Công trình Khảo sát Logic của Husserl đã làm suy yếu cách tiếp cận tâm lý để đón nhận phương pháp hiện tượng luận, đã không được phát triển đầy đủ cho đến khi xuất hiện tập đầu tiên Ideen zu einer reinen Phänomenologie und phänomenologischen Philosophie - Ý tưởng về Hiện tượng luận thuần túy và Triết học Hiện tượng luận - của ông vào năm 1913. Công trình Khảo sát Logic của ông mở ra với một bút chiến dài "Lời nói đầu về Logic thuần túy", trong đó Husserl tấn công cả tâm lý và thói hoài nghi của chủ nghĩa kinh nghiệm. Tuy nhiên, tâm lý học mô tả vẫn phải được coi là có liên quan đến các nền tảng của logic và, trên thực tế, hiện tượng luận tự nó được hình thành đầu tiên ở cấp độ mô tả này. Do đó mục đích hệ thống chính của Lời nói đầu là để bác bỏ luận điểm cho rằng tâm lý học với tư cách là khoa học thực nghiệm có thể cung cấp những lời giải thích về phương diện triết học về các quan niệm và các nguyên tắc logic. Husserl bắt đầu phần Giới thiệu của mình bằng cách chỉ ra rằng kể từ John Stuart Mill, và đặc biệt là do ảnh hưởng của ông, logic đã phát triển theo ba hướng: siêu hình, hình thức, và tâm lý học (LI I, 53). Trong đó hướng cuối cùng, cũng trở thành phổ biến nhất, mà Husserl phải tập trung sự chú ý cho các khảo sát của mình. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm khi giảm tập trung nỗ lực của Husserl vào cuộc tấn công tâm lý luận. Giống như Kant, người vẫn cùng với Descartes và Hume, maître à penser - bậc thầy tư tưởng lúc sinh thời của ông, Husserl đặc biệt quan tâm đến các nền tảng của khoa học (Wissenschaft), hiệu lực của tri thức, và cái gọi là các quy luật của tư tưởng, hay nói theo cách của riêng ông, trong "mối quan hệ, đặc biệt là, giữa chủ thể tính của nhận thức và khách thể tính của nội dung được nhận thức" (LI I, 42). Đó là lý do tại sao, trong suốt các khảo sát của mình, Husserl đều kiên trì rằng một khoa học cần phải được xác định theo lĩnh vực mà nó khảo sát. Giờ đây, cái cần thiết chính là Wissenschaftslehre - một lý thuyết khoa học, "mà tính đặc thù của nó phải là khoa học của khoa học [Wissenschaft von der Wissenschaft]" (LI I, 60). Do đó logic được xác lập làm Wissenschaftslehre - "khoa học thuần túy," có ba nhiệm vụ được Husserl tóm tắt trong chương cuối cùng của Phần giới thiệu (§§ 67-69): "việc ấn định các kiểu loại ý nghĩa thuần túy, các kiểu loại đối tượng thuần túy, các kết hợp quy luật chi phối chúng;" "các quy luật và các lý thuyết có căn cứ trên ba kiểu loại này;" và, "lý thuyết về các hình thức khả thể của các lý thuyết hoặc lý thuyết thuần túy của các đa tạp" (LI I, 236-240). Tuy nhiên, chỉ trong tập thứ hai (ấn bản tiếng Đức) của Khảo sát Logic thì cuối cùng Husserl mới trình bày một định nghĩa về logic như là "khoa học của những ý nghĩa theo cách hiểu thông thường [Wissenschaft von Bedeutungen als solchen]" (LI II, 323/98). Mối quan tâm kép này đối với "khoa học" và việc "đặt nền móng" logic của nó đã phác họa đường xoắn ốc Husserlien về ý nghĩa như là một cách khớp nối hiện tượng luận giữa "cội nguồn" (eidos) và "sự biểu hiện ý nghĩa" (logos) của kinh nghiệm nhận thức con người. Sau khi phát triển các ý tưởng về một logic thuần túy với một quan điểm trang bị cho một "khoa học của khoa học", Husserl đã xúc tiến khảo sát thực chất của "ý nghĩa" và các vấn đề lien quan trong tập Khảo sát Logic thứ hai của mình. Tiêu đề của tập này rất mang tính khám phá (Untersuchungen zur Phänomenologie und Theorie der Erkenntnis- Nghiên cứu Hiện tượng luận và lý thuyết tri thức) của hiện tượng luận về ý nghĩa của Husserl, chủ yếu được phát triển trong bốn khảo sát đầu tiên. Định hướng mang tính hiện tượng luận trong các nghiên cứu của ông được giảng giải một cách cẩn thận trong phần Giới thiệu.

“Ở đây chúng tôi không quan tâm đến các cuộc thảo luận về ngữ pháp, được quan niệm một cách kinh nghiệm chủ nghĩa và liên quan đến một ngôn ngữ nhất định về phương diện lịch sử: chúng tôi chỉ quan tâm đến các cuộc thảo luận về một loại chung nhất, bao gồm các lĩnh vực rộng lớn hơn của một lý thuyết khách quan về tri thức ​​[objektiven Theorie der Erkenntnis] và, gắn kết chặt chẽ với tri thức, hiện tượng luận thuần túy của những kinh nghiệm tư duy và nhận thức [einer Reinen Phänomenologie der Denk- und Erkenntniserlebnisse]. Hiện tượng này, giống như hiện tượng luận kinh nghiệm thuần túy nói chung [Reine Phänomenologie der Erlebnisse überhaupt], ​​mối quan tâm riêng của , có các kinh nghiệm trực giác có thể nắm bắtcó thể phân tích trong bản chất tổng thể thuần khiết của chúng, chứ không phải là các kinh nghiệm được tri giác và xử lý bằng thực nghiệm như các sự kiện thực tiễn... Hiện tượng luận này phải đem lại cách biểu hiện thuần túy [zu reinem Ausdruck], phải mô tả bằng khuôn khổ các khái niệm bản chất [deskriptiv in Wesensbegriffen] và các cách thức chi phối của bản chất của chúng, các bản chất trực tiếp làm cho chúng được nhận thức bằng trực giác, và các kết nối có nguồn gốc thuần khiết trong các bản chất như vậy. Mỗi tuyên bố [Aussage] như vậy về bản chất đều là một phán đoán tiên thiên trong ý nghĩa cao nhất của từ này. (LI II, 249/6)

Do đó rõ ràng , để hiểu việc tạo thành bản chất các đối tượng của chúng ta, chúng ta phải tiến hành theo "cách thức thuần túy trực giác" để khảo sát, theo các quy luật của một logic thuần túy, những cách thức mà các đối tượng này đã được cung cấp hình thức ngữ pháp, có nghĩa là, bằng các biểu hiện ngôn ngữ:

“Vì vậy, các đối tượng [Objekte] mà logic thuần túy tìm cách để khảo sát, trong trường hợp đầu tiên, được cung cấp bằng lớp trang phục ngữ pháp. Hay chính xác hơn, trước chúng ta, chúng bắt đầu được đắm mình vào các trạng thái tinh thần cụ thể có thêm chức năng hoặc ý nghĩa - ý định hoặc là ý nghĩa - việc thực hiện bất cứ biểu hiện nào bằng lời nói - trong trường hợp sau việc minh họa bằng trực giác, hoặc cung cấp bằng chứng trực giác cho ý nghĩa của chúng ta - và hình thành một nhất tính với các biểu hiện như vậy. (LI II, 250/8)

Điều mà Husserl quan tâm lại không phải là sự phán đoán về tâm lý ("hiện tượng tinh thần cụ thể") mà là phán đoán logic, "ý nghĩa được xác quyết giống hệt nhau, một ý nghĩa đối lập lại với vô số ý nghĩa, hoàn toàn khác về phương diện mô tả, các kinh nghiệm-phán đoán" (LI II, 251) . Vì vậy Husserl tiếp tục phát triển một phân tích thực sự về sự biểu nghĩa, bằng cách nghiên cứu lõi logic của ngôn ngữ trong Khảo sát Đầu tiên , "Biểu hiện và Ý nghĩa" [Ausdruck und Bedeutung]. Thật thú vị khi nhận thấy rằng Husserl bắt đầu khảo sát này bằng cách chỉ ra tính chất mơ hồ (Doppelsinn) trong thuật ngữ "dấu hiệu" (Zeichen): "Mỗi dấu hiệu là một dấu hiệu cho một cái gì đó, nhưng không phải mỗi dấu hiệu đều có 'ý nghĩa Bedeutung,' 'tri giác Sinn' dấu hiệu đó thể hiện [Jedes Zeichen ist für Zeichen etwas, aber nicht jedes hat eine "Bedeutung," einen "Sinn," der mit dem Zeichen "ausgedrückt" ist]" (LI II, 269/30). Mặc dù tất cả các dấu hiệu đều biểu nghĩa, trong đó mỗi cái được biểu nghĩa đều được chỉ ra bằng một cái biểu nghĩa, nhưng không phải tất cả những cái biểu nghĩa đều có một ý nghĩa, trong chừng mực không phải tất cả các dấu hiệu đều các "biểu hiện" (thuật ngữ Husserlien). Tất nhiên, việc nói về cặp đối lập cái biểu nghĩa / cái được biểu nghĩa là một sự lạm dụng lỗi thời, đối với chúng ta, vì tập giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương nổi tiếng của Ferdinand de Saussure đã không được xuất bản trước năm 1916. Hơn nữa, nói một cách chặt chẽ theo khuôn khổ của Saussure, thì sẽ gặp rất nhiều vấn đề. Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau, vì nó liên quan đến rất nhiều chỉ trích nhằm chống lại lý thuyết về ý nghĩa của Husserl. Giờ đây, ta cần nhớ rằng quan niệm về ngôn ngữ học của Husserl nằm trong cái được gọi là một quan điểm "truyền thống" của ngôn ngữ. Theo quan điểm này, ngôn ngữ là một phương tiện đơn thuần để thể hiện và truyền tải một tư duy, đại diện cho một số thực tiễn độc lập nào đó. Quan điểm truyền thống này, có niên đại từ Aristotle, cho rằng sự phù hợp giữa bản chất của một sự vật và tư tưởng về nó, và từ liên quan đến cả hai, là những gì làm cho tri ​​thức và ngôn ngữ trở nên có thể, như sau đây: thực tiễn (bản chất) ------ suy nghĩ (khái niệm) ------ ngôn ngữ (từ).

Vì vậy cái trật tự "quyết định" đạt được khi chúng ta chuyển từ thực tiễn đến suy nghĩ và ngôn ngữ, trong khi trật tự "quy chiếu" cần phải được xử lý theo hướng ngược lại, vì các từ liên quan đến khái niệm và sự vật. Vì vậy, quan niệm truyền thống, siêu hình về "chân lý" được ngụ ý một cách logic bằng quan điểm sau: chân lý là sự tương hợp của ý tưởng với thực tiễn, adequatio intellectus ad rem - Trí tuệ đủ cho sự vật. Sự gắn kết hợp lý giữ thực tiễn, suy nghĩ, và ngôn ngữ, trong truyền thống triết học, đã trở thành nhiệm vụ của siêu hình học, tri thức luận và logic, tương ứng. Sau sự hồi sinh của triết học Kant vào cuối thế kỷ XIX, các vấn đề tri thức luận không giải quyết được khiến cho một số nhà triết học toán học Đức chuyển sang logic như là một loại philosophia prima - triết học đầu tiên mới [Các nghiên cứu về các chân lý phổ quát và phổ biến nhất của toàn bộ khoa học, được Aristotle quan niệm như vậy, sau đó được Francis Bacon và những người khác đi theo; cụ thể hơn, còn có cả các nghiên cứu về  thần linh và vĩnh cửu. 1605 Bacon Adv. Learning ii. fol. 20v.] Và trong số các nhà logic học đó các đóng góp của Frege có vai trò quyết định trong việc phát triển lý thuyết ý nghĩa của Husserl. Theo Frege, ý nghĩa (Bedeutung) của một câu hoặc một cái tên chính quy chiếu của nó, trong khi tri giác (Sinn) chỉ định cách thức mà đối tượng quy chiếu vào thực sự được suy nghĩ đến. Sự phân biệt quan trọng giữa "ý nghĩa" và "tri giác" được xác lập trong một nghiên cứu chuyên đề của Frege, "Über Sinn und Bedeutung - Về tri giác và Ý nghĩa" xuất bản lần đầu vào năm 1892. Vì các khác biệt tinh tế giữa các thuật ngữ của Frege và của Husserl, có thể gây ra một số hiểu lầm, nên cần phải làm rõ sự tương ứng sau đây: cái mà Frege gọi "Sinn - Tri giác" thì lại được Husserl gọi là "Bedeutung - Ý nghĩa", trong khi "Bedeutung - Ý nghĩa" của Frege lại tương ứng với "Gegenstand - chủ đề" của Husserl. Một trong những ví dụ của chính Frege có thể giúp chúng ta minh họa cho sự khác biệt này: mặc dù hai cách biểu hiện "sao mai" và "sao hôm" có cùng một ý nghĩa (Bedeutung) chúng quy chiếu vào cùng một đối tượng, hành tinh Venus, nhưng chúng lại không có cùng một tri giác (Sinn), trong đó chúng quy chiếu vào Venus bằng những cách khác nhau. Tuy nhiên, đối với Husserl, không có sự phân biệt nào giữa "Sinn" và "Bedeutung," như chúng ta đọc được trong Khảo sát Logic,

"Ý nghĩa" [Bedeutung] vẫn tiếp tục được chúng tôi sử dụng đồng nghĩa với "tri giác" [Sinn]. Hoàn toàn có thể đồng ý là có những thuật ngữ song hành có thể hoán đổi cho nhau trong trường hợp của khái niệm này, đặc biệt là tri giác [Sinn] của thuật ngữ "ý nghĩa" [Bedeutung] tự thân phải được khảo sát. Việc xem xét thêm là xu hướng thâm căn của chúng ta trong việc sử dụng hai từ như là đồng nghĩa, một hoàn cảnh làm cho nó có vẻ một bước đi đáng ngờ nếu các ý nghĩa của chúng bị phân biệt, và nếu (như G. Frege đã đề xuất), chúng ta sử dụng một từ để nói về ý nghĩa theo nghĩa của chúng tôi, còn một từ cho các đối tượng được thể hiện [für die ausgedrückten Gegenstande]. Về điều này chúng ta có thể nói thêm cả hai thuật ngữ này bị đặt vào cùng tình thế lập lờ [Äquivokationen], mà chúng tôi đã phân biệt trên khi gắn kết với thuật ngữ "biểu hiện" [bei der Rede vom Ausgedrücktsein], vả lại, đối với nhiều người thì điều đó là như vậy trong cả khoa học và trong lời nói thông thường. (LI II, 292/58)

Mặc dù đó là phản tâm lý luận của Frege hầu hết lấy cảm hứng từ quan niệm hiện tượng luận của Husserl về một logic thuần túy, nhưng chúng ta vẫn có thể thấy rằng lý thuyết về ý nghĩa của Husserl khác với Frege chính bởi các hiểu của Husserl về các khái niệm tâm lý chẳng hạn như ý thức tính chủ đích. Toàn bộ vấn đề cấu thành đối tượng của tư duy, và do đó những gì người ta quy chiếu vào khi nói về một cái gì đó, giờ đây cần phải được xem xét trong nghiên cứu của chúng tôi. Trước khi chúng ta tiếp tục xem xét những gì Husserl muốn nói bằng "Bedeutung" hoặc "Sinn", trước tiên chúng ta phải cố gắng diễn giải quan niệm về "Gegenstand", có nghĩa là, đối tượng quy chiếu của một biểu hiện của Husserl. Chúng ta đã thấy rằng Husserl bắt đầu công trình Khảo sát Thứ nhất với một nhận xét về ý thức mơ hồ của thuật ngữ "Zeichen - dấu hiệu": một mặt, một dấu hiệu có đặc trưng chung của "biểu hiện" (Ausdruck); mặt khác, một dấu hiệu có thể không đại diện cho bất cứ cái gì, không thể hiện bất cứ điều gì, chỉ đơn giản được lấy làm một "chỉ dẫn" (Anzeichen), chẳng hạn như nhãn hiệu và ghi chú. Và Husserl tiến hành khẳng định rằng "(ngh)ĩa [Das Bedeuten] không phải là một cách đặc biệt của việc là một dấu hiệu theo nghĩa chỉ định một cái gì đó." (LI II, 269) do đó một dấu hiệu chỉ định bị tước mất "Bedeutung - ý nghĩa", thì nó là bedeutungslos, trong đó nó không thực hiện một chức năng biểu nghĩa" (eine Bedeutungsfunktion). Vậy là các biểu hiện (Ausdrücke) phải được phân biệt với các ký hiệu chỉ định (anzeigenden Zeichen) ở chỗ chúng đều có ý nghĩa (bedeutsamen) (LI II 275/37). Hơn nữa, một biểu hiện không chỉ có ý nghĩa còn quy chiếu vào một số đối tượng (Gegenstände) nhất định, có nghĩa là, mỗi biểu hiện là biểu hiện về một cái gì đó (über Etwas) (LI II 287/52). Và đây không phải luôn luôn là một mối quan hệ của việc đặt tên, không phải tất cả các biểu hiện đều gọi tên (các) đối tượng của chúng. Đó chính xác là ở mức độ tham chiếu của các định đề mà lý thuyết về ý nghĩa của Husserl tự vạch gianh giới với quan niệm của Frege. Trong khi đó, Frege liên kết ý nghĩa (Sinn) của một định đề với quan niệm (Gedanke) được biểu hiệnquy chiếu của nó (Bedeutung) chính chân-giá trị (Wahrheitswert), mà định đề của Husserl là một Gedanke nhưng lại quy chiếu vào một Sachverhalt, "trạng thái sự kiện" ( LI II 288/53). Husserl minh họa điều này bằng cách chỉ ra rằng hai câu đó nói về sự vật khác nhau, chẳng hạn như "a lớn hơn b" còn "b thì nhỏ hơn a" thể hiện, trên thực tế, cùng một trạng thái sự kiện, trong đó "cùng một vấn đề" [Sache] được lĩnh hội một cách khẳng địnhđược xác quyết theo hai cách khác nhau." Vì vậy phương pháp tiếp cận hiện tượng luận đặc trưng cho phân tích của Husserl về ý nghĩa có thể không phải hài lòng với một sự hiểu biết đơn giản về các chức năng biểu tượng và ngôn ngữ, nhưng nó tìm cách quay trở lại với "bản thân sự vật", để sử dụng các bằng chứng về trực giác phát triển đầy đủ, thực sự tượng trưng bởi các từ, và để tái thiết lại toàn bộ ý nghĩa bằng cách xác định "sự đồng nhất bất khả hủy." mục đích chính của "hiện tượng tri thức" của Husserl vẫn duy trì việc tái lập sự kết nối cần thiết giữa ý nghĩa-chủ đích (Bedeutungsintention) và ý nghĩa-thực hiện (Bedeutungserfüllung), tức là cách thức khớp nối một cách có ý nghĩa giữa cái "chủ thể" và cái "khách thể" trong bản chất -cấu trúc của kinh nghiệm "thuần túy". Tôi đang cố tình sử dụng động từ "tái tạo" để nhấn mạnh động thái "phục hồi" tiềm ẩn trong lý thuyết về ý nghĩa của Husserl, đặc biệt là khi ông sử dụng các động từ auffassen ("lĩnh hội", “phân tích”) và auslegen ("sắp xếp" "giải nghĩa") theo nghĩa diễn giải, minh họa mà chúng tôi hy vọng sẽ khám phá trong suốt bài viết này. Việc cấu tạo ý nghĩa, từ ý định có tính đặt nền móng đến việc thực hiện sự biểu nghĩa của nó, được tự tái tạo bằng Einfährung - dẫn nhập một cách có phương pháp của Husserl vào hiện tượng luận thích hợp, Khảo sát Logic đã sử dụng để cấu thành môn giáo dục dự bị lý tưởng. Đó là lý do tại sao Husserl lại kết luận Khảo sát Thứ nhất bằng luận đề logic "ý nghĩa được thống nhất một cách lý tưởng" (§§ 29-35). Bởi vì logic đã được xác lập như là "khoa học thống nhất lý thuyết," nên bản chất của toàn bộ nhất tính lý thuyết đã cho chính là "nhất tính về ý nghĩa" và đó là những gì làm cho ti ​​thức trở nên khả thể. Tuy nhiên Husserl đã xác định rõ ràng ông không ủng hộ sự tồn tại siêu hình của các "đối tượng phổ quát" bằng lối tư duy linh thánh hoặc bằng một topo ouranios τόπος oὐρανός vị trí thượng đỉnh nào đó, mà ông chỉ triệt để tìm cách vượt qua cả duy tâm luận và hiện thực luận bằng cách thay trung tâm của cuộc luận chiến tri thức luận, ra khỏi sự quy chiếu thực sự của nó để hướng đến chính mối tương quan ý nghĩa giữa chủ thể "nhận thức" và đối tượng phải được "nhận thức".
______________________________________

Nguồn: Nythamar Fernandes de Oliveira 2000. Husserl’s Phenomenology of Meaning in the Logical Investigations, (To John D. Caputo). The full, original version of this paper, containing all notes and bibliographical references, is found on Veritas 44/1 (2000): 117-135. 

Tác giả: Nythamar Fernandes de Oliveira, cử nhân Thần học, Khoa Faculté de Théologie Réformée d'Aix-en-Provence (1985, 1987), Thạc sĩ Triết học (Đại học Villanova, 1990) và Tiến sĩ Triết học, Đại học bang New York tại Stony Brook. Nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trường phái Mới về Nghiên cứu Xã hội (1997-1998), Trường Kinh tế London và Đại học Kassel (2004-05) [New School for Social Research (1997-98), the London School of Economics and the University of Kassel (2004-05) , đồng thời là một nhà nghiên cứu tại Alexander von Humboldt Stiftung. Ông là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Toledo, Ohio (Mỹ) trong năm 2007-08. Ông hiện là giáo sư tại Đại học Công giáo của Rio Grande do Sul (PUCRS) và Điều phối viên của Trung tâm Nghiên cứu Brazil cho dân chủ, sáng lập năm 2009. Ông đã tổ chức 9 sự kiện quốc tế và tham gia thuyết trình trong hơn 50 sự kiện (với hơn 30 sự kiện quốc tế). Ông đã hướng dẫn 13 luận án tiến sĩ; đã xuất bản ba cuốn sách.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét