Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Nagarjuna Long Thọ - Phật Thích Ca tái thế (I)



Nagarjuna Long Thọ - Phật Thích Ca tái thế (I)

Douglas Berger

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nagarjuna – Long Thọ नागार्जुन (khoảng 150 - 250 SCN), được Phật giáo Đại thừa coi là “Phật Thích Ca tái thế”, đã đề xuất những phê phán sắc sảo đối với triết học bản chất luận, học thuyết nhận thức và các cách tiếp cận thực tiễn của cả Phật giáo lẫn Bà La Môn giáo. Khái niệm trung tâm của Nagarjuna – Long Thọ là शून्यता Śūnyatā - “không tính" của vạn hữu để chỉ sự biến đổi miên tục, vì vậy mà hết thảy hiện tượng không hề có tự tính, được sử dụng làm định đề học thuật cho tư duy Phật giáo, và sau đó đã gây ra không ít phiền não cho các hệ thống Vệ Đà đối địch. Khái niệm ấy có những mối liên hệ cơ bản mật thiết với các mô hình triết học Ấn Độ về nhân quả, bản thể học vật chất, tri thức học, các hệ thống khái niệm của ngôn ngữ, đạo đức và các hệ thống lý thuyết cứu thế bằng giải thoát; nó đã tác động ảnh hưởng mạnh mẽ tới tất cả các hệ thống triết học Phật giáo tại Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, và rất khác với chính tư tưởng của bản thân Nagarjuna – Long Thọ. Có lẽ không phải là quá lời khi nói rằng khái niệm không tính đầy sáng tạo của Nagarjuna – Long Thọ, mặc dù sau đó được các nhà triết học ở Nam Á và Đông Á định giá bằng nhiều cách khác nhau, nhưng đã mãi mãi tác động ảnh hưởng sâu sắc đến đặc trưng của tư tưởng Phật giáo.

Cuộc đời, huyền thoại và các công trình

Chỉ có đôi điều quí giá còn lại về cuộc đời thật của Nagarjuna – Long Thọ lịch sử. Hai bản tiểu sử phổ biến nhất của Nagarjuna, một bằng tiếng Hán và bản khác bằng tiếng Tạng, được viết lại nhiều thế kỷ sau khi Nagarjuna – Long Thọ viên tịch và là một sự kết hợp rất sinh động, nhưng về phương diện lịch sử lại là những tư liệu không thể tin được, và đôi khi còn mang chất huyền thoại. Tuy nhiên từ những phác thảo chi tiết lịch sử và huyền thoại có nghĩa là thực chất có tính giáo dục, được kết hợp với những văn bản chắc chắn được gán cho ông, chúng ta có thể tìm được một ý nghĩa nào đó về vị thế của ông trong truyền thống Phật giáo và Triết học Ấn Độ.

Nagarjuna – Long Thọ sinh ra trong một gia đình “Ấn Độ giáo”, trong thời ông có nghĩa là lòng trung thành tôn giáo với người Vedas, có lẽ là thuộc về một gia đình đẳng cấp tăng lữ Bà La Môn cao cấp, và có lẽ ở vùng Nam Andhra Ấn Độ. Các niên biểu của cuộc đời ông thực sự là vô định, nhưng hai văn bản có lẽ đã được chính ông viết đã đem lại cho chúng ta một hiểu biết nhất định. Có những tư liệu dưới dạng những bức thư và đã được gửi cho nhà vua lịch sử Bắc Satvahana thuộc triều đại Gautamiputra Satakarni (cai trị vào khoảng 166-196 SCN), người bảo trợ Bà La Môn kiên định tại quốc gia đó, những trận chiến liên miên chống lại những ông vua Shaka Satrap phía bắc hùng mạnh, và những cố gắng bành trướng đầy tham vọng nhưng bất thành của vương triều này, dường như đã cho thấy rằng ông ta không thể cố gắng để theo được lời khuyên của Nagarjuna – Long Thọ chấp nhận chủ nghĩa hoà bình Phật giáo và duy trì một vương quốc thái bình. Ở bất cứ mức độ nào thì những quan hệ thư từ của ông với quốc vương có lẽ cũng giúp xác định những năm tháng đầy ý nghĩa của cuộc đời Nagarjuna – Long Thọ vào khoảng thời gian từ 150 đến 200 SCN. Sau đó các nguồn văn tự Tây Tạng về cơ bản có thể là chính xác trong việc vẽ lại chân dung cuộc hành hương của Nagarjuna – Long Thọ khỏi Andhra đến Nalanda bây giờ là Bihar nghiên cứu Phật giáo. Đây chính là thánh địa tương lai của Tự viện Phật giáo lớn nhất trong lịch sử đáng tự hào của truyền thống đó tại Ấn Độ. Cuộc hành hương về phương Bắc ấy có lẽ đi theo con đường của các nhà vua Shaka. Trong thế giới tri thức đầy âm hưởng của một miền bắc Ấn Độ sôi động, Nagarjuna – Long Thọ  đã bắt đầu cuộc đời của một triết gia.

Cơ hội để Nagarjuna – Long Thọ “cải giáo” theo Đạo Phật cũng chưa được biết chắc chắn. Theo lý giải của Tạng bản thì người ta đã tiên tri rằng ông sẽ chết sớm, vì vậy cha mẹ ông quyết định đánh bại số phận khủng khiếp ấy bằng cách cho ông gia nhập tăng đoàn Phật giáo, sau đó sức khoẻ của ông đã nhanh chóng được cải thiện. Vậy là ông đã đi về phương Bắc và bắt đầu được giáo dục bằng một hệ thống mới. Hán bản, với cách kể chuyện huyền thoại Trung Hoa đầy màu sắc đã vẽ lên chân dung một thanh niên bị ma ám, đã sử dụng sức mạnh phương thuật Yoga để đi trốn, với một số ít bạn bè, vào hậu cung của nhà vua và cám dỗ các cung nữ. Nagarjuna – Long Thọ đã trốn thoát khi họ bị phát hiện, nhưng tất cả những người bạn của ông đã bị bắt và bị hành quyết, còn ông thì đi theo con đường xuất thế, tìm kiếm giải thoát. Sau khi được cải đạo, nhờ tài nghệ về phương thuật và thiền định, ông đã được mời xuống Long Cung. Trong thời gian ở đó, con người phi thường mới khai tâm ấy đã “tìm được” “trí tuệ bát nhã” Phật giáo, gọi là प्रज्ञापारमितासूत्र Prajnaparamita Sustras 般若波羅蜜多, Bát nhã Ba La Mật đa kinh. Nhờ vào công quả lẫy lừng của mình, ông đã hồi hướng cho trần thế, và sau đó có tên Nagarjuna – Long Thọ, “Thánh Long”.

Mặc dù sự kiên định của truyền thống đó thấm nhuần kinh bổn của các trào lưu tư tưởng cạnh tranh của स्थविरवाद Theravada cổ điển 上座部 Thượng Tọa bộ, nhưng sự xuất hiện của महायान Mahayana 大乘 Đại thừa Phật giáo đã khích lệ quá trình ra đời của hệ thống kinh văn Nagarjuna – Long Thọ, và đôi khi người ta cũng vẫn xếp nhiều tập kinh bổn Phật giáo sớm, do Nagarjuna – Long Thọ kết tập vào các văn bản Đại thừa tiếng Phạn sau đó. Rất có thể là Nagarjuna – Long Thọ đã trấn hưng bằng sự kích thích những cuộc luận chiến triết học hàn lâm  mới phát triển khắp miền bắc Ấn Độ trong số/và giữa các nhà tư tưởng Bà La Môn và Phật giáo. Vào thời gian này Phật giáo có lẽ có một thế giới quan hệ thống cạnh tranh lâu đời nhất, nhưng sau đó các trường phái Vedic chẳng hạn như सांख्य  Samkhya ( Số luận) đã phân chia vũ trụ thành các thực thể vật chất và tinh thần, Yoga bộ môn thiền định và वैशेषिक Vaisesika Thắng Luận tông, hoặc nguyên tử luận có lẽ đã đứng vững. Nhưng các vấn đề mới đầy phấn khích đang diễn ra trong các căn phòng tranh luận. Một trường phái Vedic mới (न्याय Nyaya  Chính lý) đã làm cho nó xuất hiện trước công chúng dưới dạng văn học bằng cách dựng lên hiện thực luận phức tạp; nó phân loại các sự vật cơ bản có thể biết trong thế giới này, thiết định một lý thuyết tri thức được dùng làm cơ sở cho toàn bộ các xác nhận chân lý và đưa ra một lý thuyết phát triển mạnh mẽ về luận chứng logic vừa chính xác lại vừa đầy ảo hóa. Cùng với nó, trong Phật giáo các giáo phái của các nhà siêu hình đã xuất hiện cùng với các học thuyết riêng của họ về nguyên tử luận và các phạm trù vật chất cơ bản. Nagarjuna – Long Thọ đã phải thực hiện một cam kết mạnh mẽ của cả hai phong trào Phật giáo và Bà La Môn, một nỗ lực tri thức cho đến lúc đó là chưa từng có.

Nagarjuna – Long Thọ nhận ra trong khái niệm शून्यता sunyata không tính, một khái niệm trong văn liệu Phật giáo Pali sớm có nghĩa là không có sự tồn tại cố hữu, vững chắc trong các cá thể, nhưng từ thế kỷ II TCN nó cũng đã biểu thị khái niệm mới thiết lập là “số không”, chìa khoá lý giải vấn đề trung tâm của Phật pháp, và việc tháo gỡ mọi bí mật của các trường phái triết học siêu hình trong thời gian đó đã phát triển sôi nổi xung quanh ông. Thực sự thì triết học của Nagarjuna – Long Thọ có thể được coi là một cố gắng để tấn công toàn bộ các hệ thống tư tưởng phân tích thế giới trong khuôn khổ của các chất và bản chất đã được cố định. Theo Nagarjuna – Long Thọ, các sự vật trong thực tế không có bản chất ổn định, và thực ra thì đó chỉ là vì tình trạng thiếu vắng sự tồn tại bản chất, không đổi, mà nó có thể thay đổi, và một sự vật có thể chuyển thành sự vật khác. Mỗi sự vật chỉ có thể có sự tồn tại của nó thông qua sự thiếu vắng cái bản chất thường hằng và cố hữu của nó. Với khái niệm mới “không tính”, “trống không”, “thiếu vắng”, “trống rỗng” này, một cái gì đó không phải một vật bất bình thường, đó chính là cái giúp tạo nên từ và ngữ vựng của tư tưởng Phật giáo vĩnh hằng.

Được trang bị bằng ý niệm “không tính” của vạn hữu, Nagarjuna – Long Thọ đã xây dựng lên bộ kinh văn Phật giáo độc đáo của mình. Trong khi hệ thống luận lý này vẫn tồn tại trong các kinh văn mang tên ông, thì mọi người dường như đều cho rằng điều đó là hiển nhiên. Vì người ta không biết các kinh văn ấy của ông được viết theo trật tự niên đại như thế nào, nên cách tốt nhất có thể được là sắp xếp chúng theo chủ đề Phật giáo, chủ đề Bà La Môn giáo và cuối cùng là chủ đề đạo đức học. Việc xác định các trường phái mà Nagarjuna – Long Thọ coi là kinh văn Phật giáo kiên định nhất về phương diện siêu hình học trong truyền thống Ấn Độ, đã thực sự thúc đẩy ông viết nên kiệt tác मूलमध्यमककारिका Mulamadhyamakakarika 根本中觀 Căn bản Trung quán Luận tụng, và sau đó để tinh lọc thêm khái niệm mang tính cách mạng và mới được đặt ra, Sunyatasaptati - Thất thập Không tính luận tụng 七十空性論, tiếp đó là chuyên luận về phương pháp triết học Phật giáo, Yuktisastika 六十如理論 Lục thập Như lý luận. Trong số các công trình được viết cho các Phật tử có thể kể thêm một chuyên luận về thế giới kinh nghiệm được chia sẻ và sự khẳng định thông qua thói quen xã hội được gọi là Vyavaharasiddhi   Danh ngôn Thành tựu luận, mặc dù chỉ còn lại một số bài kệ được các tác gia trích dẫn, nhưng Danh ngôn Thành tựu luận đã thất lạc ấy cũng giống hệt tình trạng một cuốn kinh điển được một số nhà Phật học Trung Quốc và Ấn Độ trích dẫn khác, đó là Bodhisambaraka 菩提資糧 Bồ đề Tư lương. Cuối cùng là kinh văn về nhân quả Phật giáo प्रतीत्यसमुत्पादहृदय Pratityasumutpadahrdaya Duyên khởi tâm pháp. Tiếp theo là một loạt công trình về phương pháp triết học, trong đó phần lớn đều là những phê phán đối với các loại tri thức luận bản chất chủ nghĩa của giới tăng lữ Bà La Môn, chẳng hạn như Vigrahavyavartani Hồi tránh luận và một kinh văn khác với cái đầu đề không mấy tinh tế Vaidalyaprakarana 廣破論 Quảng Phá luận. Cuối cùng là một cặp đôi luận tụng về tôn giáo và đạo đức gửi cho đức vua Gautamiputra, có tên là Suhrlekha - Gửi người bạn thân) Ratnavali - Vòng hoa quý. Trên thực tế Nagarjuna – Long Thọ là một tác giả khá năng động khi viết hầu hết những vấn đề triết học cấp thiết về Phật giáo và Bà La Môn giáo thuộc thời ông, và hơn thế, đã mang những tư tưởng của ông đến với các lĩnh vực triết học chính trị, đạo đức và xã hội.

Cho đến bây giờ chúng ta vẫn không biết chính xác Nagarjuna – Long Thọ sống đến bao nhiêu tuổi. Nhưng huyền tích về cái chết của ông lại là một tặng vật về thân thế của ông trong truyền thống Phật giáo. Các tiểu sử Tạng ngữ kể với chúng ta rằng khi người kế thừa của Gautamiputra chuẩn bị đăng quang, ông đã áy náy muốn tìm cho ra một người thay thế với tư cách một cố vấn tinh thần để thống nhất các sở thích Ba La Môn của mình và không biết làm thế nào để tiếp xúc một cách tế nhị hoặc theo đúng nghi thức với Nagarjuna – Long Thọ, cuối cùng ông đã thẳng thắn yêu cầu nhà hiền giả xắp xếp thể hiện lòng từ bi của mình về tình trạng khó xử ấy bằng hành động tự tử. Nagarjuna – Long Thọ đã đồng ý, và ông đã được cắt đầu bằng một loại lá cỏ thiêng rất sắc cạnh mà thỉnh thoảng ông vẫn tình cờ nhổ rễ để lấy vật liệu làm toạ cụ thiền. Nhà logic học bất khuất chỉ có thể bị gục ngã bởi chính ý chí và vũ khí của riêng ông mà thôi. Không biết có đúng hay không, nếu bậc thầy của phương pháp hoài nghi này được đánh giá là người châm biếm.
___________________________________

Còn nữa...


Tác giả: PGS.TS. Douglas L. Berger, Tổng biên tập, Dimensions of Asian Spirituality Book Series, University of Hawaii Press, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký, Hội Triết học So sánh và Triết học Châu Á; Giảng viên Khoa triết, Southern Illinois University, chuyên về Tư tưởng Triết học Phật giáo Ấn Độ, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Nhân học Châu Á.


Nguồn: Nagarjuna (c.150-c.250), In Internet Encyclopedia of Philosophy IEP, A Peer - Reviewed Academic Resources, Originally published: May 2003.

 

References

 

Nagarjuna’s Works Addressed to Buddhists

Bodhisambharaka, (Preparation for Enlightenment) translated by Christian Lindtner, Nagarjuniana: Studies in the Writings and Philosophy of Nagarjuna, Akademisk Forlag, Copenhagen, 1987, 228-48.

Mulamadhyamakakarika, (Fundamental Verses on the Middle Way) translated as The Philosophy of the Middle Way by David J. Kalapuhana, SUNY Press, Albany, 1986.

Pratityasamutpadahrdaya, (The Constituents of Dependent Arising) translated by L. Jamspal and Peter Della Santina in Journal of the Department of Buddhist Studies, University of Delhi, 2:1, 1974, 29-32.

Sunyatasaptati, (Seventy Verses on Emptiness) translated by Cristian Lindtner, Nagarjuniana: Studies in the Writings and Philosophy of Nagarjuna, Akademisk Forlag, Copenhagen, 1987, 35-69.

Yuktisastika, (Sixty Verses on Reasoning) translated by Christian Lindtner, Nagarjuniana: Studies in the Writings and Philosophy of Nagarjuna, Akademisk Forlag, Copenhagen, 1987, 103-19.

Nagarjuna’s Works Addressed to Brahminical Systems

Vigrahavyavartani, (The End of Disputes) translated as The Dialectical Method of Nagarjuna by Kamaleswar Bhattacharya, Motilal Banarsidass, Delhi, 1978.

Vaidalyaprakarana, (Pulverizing the Categories) translated as Madhyamika Dialectics by Ole Holten Pind, Akademisk Forlag, Copenhagen, 1987.

Nagarjuna’s Ethical Epistles

Ratnavali, (Precious Garland) translated as The Precious Garland and the Song of the Four Mindfulnesses by Jeffrey Hopkins, Lati Rimpoche and Anne Klein, Vikas Publishing, Delhi, 1975.

Suhrllekha, (To a Good Friend) translated as Nagarjuna’s Letter to King Gautamiputra by L. Jamspal, N.S. Chophel and Peter Della Santina, Motilal Banarsidass, Delhi, 1978.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét