Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Hai tuyến đường từ Trung Quốc đến Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ VIII (I)



Hai tuyến đường từ Trung Quốc đến Ấn Độ vào cuối thế kỷ thứ VIII (I)

Paul Pelliot

Người dịch: Hà Hữu Nga

Khoa học địa lý Trung Quốc đã có bước tiến bộ lớn dưới thời nhà Đường (618 – 906). Nhưng không may là nhiều công trình rất quan trọng không còn tồn tại cho đến ngày nay. Các chuyên luận địa lý đại cương xưa nhất đã được biên soạn trong thời gian này, 括地志 Quát địa chí hoàn thành năm 642, cho đến nay chỉ còn lại những phần rời rạc (1). Chuyên luận lớn của 賈耽 Giả Đam (730-805) (2), 十道志 Thập Đạo chí, Ghi chép về mười Đạo, thì khó mà biết được gì nhiều qua các đoạn trích của sách太平寰宇記 Thái Bình Hoàn Vũ Ký (3) vào cuối thế kỷ X.   

Ngoài ra, sách 十道圖 Thập Đạo đồ của李林甫 Lý Lâm Phủ hoàn thành vào đầu thế kỷ IX; chúng ta biết được đầu đề cuốn sách là nhờ 新唐書 Tân Đường thư cung cấp, nhưng phải sử dụng đến khoa bi ký học thì mới có thể đọc được một đoạn của cuốn sách (4). Chỉ có công trình địa lý đại cương thứ hai của Lý Lâm Phủ là 元和郡縣圖志 Nguyên Hòa quận huyện đồ chí, ở chương 40, được xác định niên đại năm 806 – 820, là thoát được sự hủy hoại của thời gian; nhưng trải qua nhiều thế kỷ, nó cũng đã bị mất thêm 6 chương và toàn bộ các bản đồ (5).

Rất may là nhờ có sách 新唐書 Tân Đường thư (6) mà chúng ta còn được đọc một số đoạn tóm lược hồi ức địa lý do Giả Đam ghi lại trong thời 貞元 Trinh Nguyên (785-805) (7) và đó là những đoạn rất hay về lịch sử địa lý châu Á với tư cách một chỉnh thể. Trong đó mô tả hàng loạt tuyến đường từ Trung Quốc đi Triều Tiên, Trung Á, Ấn Độ và đến tận Baghdag. Trong đoạn dịch về cuộc hành trình của 宋雲 Tống Vân, năm 518-522 (8), ông Chavannes đã trích dẫn một phần đoạn đường đến Khotan. Ông đã công bố trong đó đoạn Harachar đến Koutcha và đoạn đường Koutcha đến Aoulié-ata trong bài viết Documents sur les Tou-kiue occidentaux (pp. 7-10). Hiện tôi đang nghiên cứu tuyến Bắc Bộ (9) đi Ấn Độ theo đường Vân Nam và Quảng Đông đi Ấn Độ theo đường biển phương Nam.

Tôi lần theo những tuyến khác trong 蠻書 Man thư (10) và 新唐書 Tân Đường Thư bổ sung cho một số vấn đề của Giả Đam. Tuyến đầu tiên là Bắc Kỳ. Trong thực tế, sau này, Bắc Kỳ trong nhiều thế kỷ đã trở thành một bộ phận của đế chế Trung Quốc. Lần đầu tiên bị chinh phục vào thế kỷ thứ III TCN trong thời Tần Thủy Hoàng đế, Bắc Kỳ và Việt Nam phần phía bắc đã hình thành nên nhà tiền Hán (206 TCN) và hậu Hán (25-220 SCN) từ ba đạo 交阯* Giao Chỉ (vùng Hà Nội), 九眞 Cửu Chân (vùng Thanh Hóa?) và 日南 Nhật Nam (vùng Quảng Bình?) (11). Vào đầu công nguyên các mối quan hệ thương mại hoặc chính trị đã được thiết lập đều đặn giữa Trung Quốc và các quốc gia vùng biển phương Nam, trong đó Giao Chỉ, Bắc Kỳ là điểm đến cuối cùng của các thương thuyền; và đó chính là nơi mà Marcus Aurelius đã cử sứ bộ tới vào năm 166 SCN (12). Trong khi những rắc rối do phong trào Mũ Vàng [黃巾之亂 Hoàng Cân chi loạn của ba anh em Trương Giác, Trương Bảo, Trương Lương] gây ra vào cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III làm cho Trung Quốc tan hoang thì Bắc Kỳ lại tương đối yên tĩnh; sách 安南志畧 An Nam chí lược (13) của Lê Tắc vẫn còn lưu lại một số cái tên Trung Quốc đã đến đó lánh nạn. Dưới thời Tam Quốc, Bắc Kỳ thuộc về nhà Ngô, thủ đô là Nam Kinh: vào quãng năm 226 một thương nhân là Tần Luận người Đông Địa Trung hải đã đến Bắc Kỳ, lúc đó được gọi là quận [交州 Giao Châu] Giao Chỉ (14). Sau đó Lữ Đại được cử làm thái thú “để khai hóa vùng phía nam của vương quốc” [安南志畧 An Nam chí lược], và Lâm Ấp, Phù Nam trở thành các chư hầu (15). Theo Cựu Đường thư (k. 41, p. 33 v°), thì toàn bộ các vương quốc thuộc vùng biển nam từ thời nhà Hán đều đến triều cống “nhất thiết phải tìm đường đến Giao Chỉ” [theo sách 資治通鑑補正 Tư Trị thông giám bổ chính] (16).

Tuy nhiên các nhà hàng hải đã dần dần sử dụng tuyến đường trực tiếp nhất để đến Trung Quốc, và cuối cùng Quảng Đông đã thay thế địa vị của Bắc Kỳ. Chính nhà sư 義淨 Nghĩa Tịnh vào thế kỷ thứ VII đã hành hương đến Ấn Độ từ Quảng Đông. Nhưng vận động sẽ không diễn ra nếu không có đấu tranh. Tỉnh Quảng Đông thực sự nằm trong biên giới Trung Quốc, thay vì Bắc Kỳ là một loại đất bảo hộ. Và người Quảng Đông đòi hỏi phải được độc quyền các lợi ích của họ trong các hoạt động ngoại thương. Năm 792, Kinh lược sứ 嶺南 Lĩnh Nam (tức là Lưỡng Quảng) đã gửi lên triều đình một tấu biểu [theo sách 資治通鑑補正 Tư Trị thông giám bổ chính] (17) thỉnh nguyện cho thuyền buôn nước ngoài thỉnh thoảng sử dụng 安南 An Nam (Bắc Kỳ ngày nay) và yêu cầu có một đại diện là một quan chức cấp đạo được cử đến Bắc Kỳ để cấm thương mại. Hoàng đế đã ân chuẩn lời tấu, nhưng 陸贄 Lục Chí (18) cho biết “Các thương thuyền đến các nước xa xôi chỉ duy nhất để tìm kiếm mối lợi. Đối xử với họ tốt thì họ sẽ đến; phiền nhiễu họ thì họ sẽ bỏ đi. Quảng Châu lâu nay vẫn là nơi tụ hội của các thương thuyền ngoại quốc. Nay bỗng dưng tất cả đổi thay và họ sẽ đến An Nam; nếu chẳng phải là nạn nhân của tệ nhũng lạm thì lẽ nào họ lại không đến [Quảng Châu] nữa. Nhưng người ta lại không tìm đến hỏi triều đình, lại không làm bận tâm Hoàng đế thêm nữa. Vả lại, cả Lĩnh Nam (Lưỡng Quảng) và An Nam vùng đất nào mà không thuộc quốc chủ; các nội quan và các ngoại quan thảy đều là công bộc của Hoàng đế. Vậy thì tại sao chúng ta lại tin vào Lĩnh Nam để đóng cửa An Nam? Tại sao lại coi trọng các nội quan mà lại coi nhẹ các ngoại quan? Thần kính sợ dâng tấu”. Thực ra ông không tiếp tục xem xét cái ý đồ trên, hơn nữa vai trò của Quảng Đông là do vị trí địa lý của nó đem lại, chứ không phải là do các đạo luật ban ra. Tuyến đường của Giả Đam từ Quảng Đông theo đường biển phía nam chính là tuyến đường mà các thương gia Ả Rập đã đến vào thế kỷ thứ IX. Cuộc giành lại độc lập của An Nam vào năm 968 cuối cùng đã gạt bỏ vấn đề này, và vận hội của Quảng Châu một thời được người Zaytoun (tiếng Ả Rập là [người làm ra] Ô Liu) bồi đắp, nay thực sự đã bị sói mòn bởi người châu Âu vào giữa thế kỷ cuối cùng.

Chế độ An Nam đô hộ phủ do nhà Đường lập ra năm 679 và đồng thời nó cũng tạo hình cái tên gọi của An Nam theo âm Trung Quốc và Annamite trong tiếng Pháp. Xứ này lần đầu tiên được tạo lập dưới thời Hán là quận Giao Chỉ. Tôi chỉ có thể biết vào khoảng cuối thế kỷ VIII An Nam Đô hộ phủ được lập chính là thời điểm bắt đầu tuyến đường của chúng ta. Năm 866 hoặc đầu 867, viên tướng Trung Quốc 髙騈 Cao Biền đánh bại Nam Chiếu, chinh phục Giao Chỉ và xây dựng thành 大羅 Đại La. Nhưng đây chính là ngôi thành mà 李元嘉 Lý Nguyên Gia đã xây dựng năm 824 bên bờ 蘇歷江 Tô Lịch Giang. Sau đó, vì lý do phong thủy, 李元嘉 Lý Nguyên Gia đã rời đi, và dường như tường thành大羅 Đại La là do 張舟 Trương Châu xây năm 808 và thành của Trương Châu cũng được xây lại trên chính ngôi thành được 趙昌 Triệu Xương mở rộng năm 791 trên cơ sở La Thành do 張佰儀 Trương Bách Nghi xây năm 767. Vì vậy có thể là vị trí của An Nam Đô hộ phủ vào cuối thế kỷ thứ VIII cũng chính là vị trí mà 髙騈 Cao Biền đã xây thành.

Ngày nay vị trí của ngôi thành do 髙騈 Cao Biền xây đã được xác định một cách chắc chắn, đó là ở góc tây bắc của Hà Nội bây giờ, cạnh trường đua mới chúng ta vẫn còn thấy di tích những đoạn thành đất cũ. Dọc theo các đoạn thành này đến tận sông Tô Lịch, và cái tên này vẫn được sử dụng từ thời đó đến nay. Vì vậy trên thực tế chúng ta có thể xác định được vị trí An Nam Đô hộ phủ tại Hà Nội (19). Thực sự thì đây là giải pháp khả thể, nhưng không được quên rằng còn một vấn đề chưa được biết đó chính là tầm quan trọng của việc dời chuyển vị trí của thành vào năm 824. Sách 新唐書 Tân Đường thư (k.43 , tr.8 ) viết rằng năm 825 Phủ thành đã được chuyển đến huyện 宋平 Tống Bình; ngày nay, mặc dù sách Cương mục của An Nam (phần mở đầu, chương 4, tr.32) không khẳng định bất cứ mối liên hệ nào giữa việc 李元嘉 Lý Nguyên Gia dời thành và việc chuyển thành vào năm 825, có vẻ như đó có thể là cùng một sự kiện, và chúng tôi cho rằng vì vào năm 824 hoặc 825 vị trí của Phủ thành được chuyển đến huyện Tống Bình, điều đó phù hợp với các di tích còn lại cho đến bây giờ, đó chính là các di tích trước khi xây dựng phủ thành ở một huyện khác, mà trong thực tế theo Tân Đường thư (k.43 , tr.7) thì đó chính là huyện 交趾**Giao Chỉ.    

Danh mục của 舊唐書 Cựu Đường thư (k.41, tr.33) và 新唐書 Tân Đường thư (k.43 , tr.8 ) lại kê đích danh huyện Tống Bình lên đầu tất cả các huyện khác của châu thủ phủ thuộc An Nam, điều đó ẩn ý rằng mặc dù Đại La năm 824 vẫn còn là thủ phủ của An Nam, nhưng về mặt hành chính thì thủ phủ lại là huyện Tống Bình. Điều đó cũng cho thấy tại sao 舊唐書 Cựu Đường thư (k.41, tr.33) lại không đặt Phủ thành vào huyện Giao Chỉ, là nơi chỉ cách Phủ thành 10 dặm về phía đông bắc là đến được lãnh thổ của huyện Giao Chỉ. Nhưng sau đó chúng ta lại phải đối đầu với các vấn đề mới. Trong thời 貞元 Trinh Nguyên (785-805), có nghĩa là trước khi chuyển thủ phủ năm 824, Phủ thành vẫn thuộc huyện Giao Chỉ thì phải giải thích như thế nào về việc để đi tới Phong Châu vẫn phải đi qua huyện Giao Chỉ? Còn các vị trí do 舊唐書 Cựu Đường thư chỉ ra dường như lại có vấn đề***: cũng văn bản đó cho thấy lần lượt huyện 朱鳶 Châu Diên cách phủ thành 500 dặm về phía đông, còn đạo 朱鳶 Châu Diên thứ hai lại cách phủ thành 549 dặm về phía bắc; xin bổ sung thêm là người An Nam (Cương mục, phần mở đầu, chương 2, tr.10) lại đặt Châu Diên ở huyện 永祥 Vĩnh Tường thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay, có nghĩa là cách phủ thành 100 dặm về phía tây bắc.

Cuối cùng, chính vị trí của huyện Giao Chỉ hình như cũng đã thay đổi. Có lẽ chỉ có một chương trình nghiên cứu chi tiết và hệ thống về tổ chức hành chính cổ này của Trung Quốc tại Bắc Kỳ thì mới giải quyết được các mâu thuẫn trên. Trong lúc này, nhân chuyện nhầm lẫn 30 hoặc 40 km, tôi coi Hà Nội là điểm xuất phát của tuyến đường do Giả Đam đề xuất.
_______________________________________

Nguồn: Paul Pelliot 1904. Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècle, Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. Tome 4, 1904. pp. 131-413. (Paul Pelliot, Professeur à l'Ecole française ď 'Extrême-Orient).

Ghi chú của người dịch:

*,** Trong công trình của mình Pelliot đã sử dụng hai chữ “chỉ” khác nhau cho cụm từ Giao Chỉ, đó là交阯* và 交趾**, trong khi chữ * “chỉ” này có nghĩa là: nền móng, cơ sở, nơi, chỗ, địa điểm; thì chữ ** “chỉ” này lại có nghĩa là: chân, ngón chân, dấu vết, tung tích. Ngoài ra tôi cũng hơi lúng túng với các từ chỉ đơn vị hành chính được Pelliot sử dụng trong công trình này, cụ thể là: commanderie, prefecture, sous- prefecture, district được dùng với các danh từ riêng  交阯  Giao Chỉ, 朱鳶 Châu Diên, Phong Châu, 永祥 Vĩnh Tường, 宋平 Tống Bình, v.v.

*** Chính cách sử dụng tư liệu của Pelliot cũng có vấn đề khi ông dẫn 舊唐書 Cựu Đường thư kiểu này, bởi vì nó dễ làm cho người đọc lúng túng, nhầm lẫn nếu hình dung những địa điểm cách xa An Nam Đô hộ phủ hàng vài trăm dặm theo đường chim bay chứ không phải là theo hệ thống thủy lộ đôi khi rất quanh co, vòng vèo do sông ngòi uốn lượn. Trong khi đó 舊唐書 sách Cựu Đường thư, quyển tứ thập nhất, Chí đệ nhị thập nhất, Địa lý tứ, viết như sau:

安南都督府隋交趾郡...調露元年八月,改交州都督府為安南都護府.大足元年四月,置武安州,南登州,並隸安南府.至德二年九月,改為鎮南都護府,後為安南府...西至愛州界小黃江口,水路四百一十六里,西南至長州界文陽縣靖江鎮一百五十里,西北至峯州嘉寧縣論江口水路一百五十里,東至朱鳶縣界小黃江口水路五百里,北至朱鳶州阿勞江口水路五百四十九里,北至武平縣界武定江二百五十二里,東北至交趾縣界福生去十里也.[舊唐書卷四十一, 誌第二十一, 地理四 Cựu Đường thư, quyển tứ thập nhất, Chí đệ nhị thập nhất, Địa lý tứ].

An Nam đô đốc phủ thời nhà Tùy thuộc quận Giao Chỉ...Năm Điều Lộ nguyên niên [năm 679, nhà Đường], tháng tám đổi Giao Châu đô đốc phủ thành An Nam đô hộ phủ. Năm Đại Túc nguyên niên [năm 701, nhà Đường] tháng tư, lập Vũ An châu, Nam Đăng châu, đều thuộc vào An Nam phủ. Năm Chí Đức thứ hai [năm 757, nhà Đường], tháng chín, đổi làm Trấn Nam đô hộ phủ, sau thành An Nam phủ...[Tính từ Phủ thành] Phía tây đến Ái Châu, mốc giới cửa sông Tiểu Hoàng, theo đường thủy [Hà Hữu Nga lưu ý] là 416 dặm (khoảng 208km); phía nam đến Trường Châu, mốc giới huyện Văn Dương, trấn Tĩnh Giang là 150 dặm (khoảng 75km); tây bắc đến Phong Châu, huyện Gia Ninh, cửa sông Luân Giang theo đường thủy cũng là 150 dặm (khoảng 75km); phía đông đến huyện Chu Diên, mốc giới cửa sông Tiểu Hoàng theo đường thủy là 100 dặm (khoảng 50km); phía bắc đến châu Chu Diên, cửa sông A Lao theo đường thủy là 540 dặm (khoảng 270km); phía bắc đến huyện Vũ Bình, mốc giới sông Vũ Định là 252 dặm (khoảng 126km); đông bắc đến huyện Giao Chỉ, mốc giới Phúc Sinh khoảng 10 dặm.       

 
Chú thích

1. Cf. Chavannes, Le défilé de Long-men, dans /. A., juillet-août 1902, p. I44. Les fragments subsistants du 括地志 Quát địa chí ont été réunis par 孫生衍 Tôn Sinh Diễn et publiés par lui en 1797 dans son excellent 岱南閣叢書 Đại Nam Các Tùng Thư.

2. Sur Kia Tan, voir le très important mémoire de M. Chavannes, Les deux plus anciens spécimens de la cartographie chinoise, dans B. E. F. E.-O., iii, 244. — Cet ouvrage de Kia Tan est celui qui est cité dans le Sin t'ang chou, k. 176, p. 1 v°, sous le titre de 貞元十道錄 Trinh Nguyên Thập Đạo Lục, « Description des dix régions dans la période Lcheng-yuan (785-805) ». Le太平寰宇記 Thái Bình Hoàn Vũ Ký là donne aussi le titre de 十道述 Thập đạo thuật. Sous les T'ang, la Chine était divisée en dix régions appelées tao, đạo.

3. Le 太平寰宇記 Thái Bình Hoàn Vũ Ký của 樂史 Nhạc Sử a été publié en 970-988 ; sur cet ouvrage, cf. Wylie, Notes, p. 35, et B. E. F. E.-O., n, 338-339.

4. Cf. B.E.F.E.O., m, 717, et le 孫淵如文集 Tôn Uyên Như Văn tập, section try 岱南閣文集 Đại Nam Các văn tập ii, 11.

5. Ci. В E. F. E.-O., m, 716-718.

6. Auk. 43 , p. 13 ro-16vo.

7. La fin de l'année 805 est occupée par la 1e année 永貞 yong-tcheng Vĩnh Trinh.

8. B. E. F. E.-O., ni, p. 390, n. 9.

9. Le Tonkin fut une province chinoise depuis la chute du royaume de   Nan yue Nam Việt), en 111 av. J.-C, jusqu'en 968 de notre ère, à l'exception du temps des Li antérieurs (544-602) et des Wou (Ngo) (939-965).

10. Le Man chou 蠻書 Man chou Man Thư  en 10 k. est l'oeuvre de 樊綽 Fan Tch'o Phàn Xước, qui est mentionné dans la Nouvelle histoire (les Tang (к. 222 , р. 2 г°) comme un secrétaire de Ts'ai Si Sái Tập, gouverneur chinois au Tonkin. Lors des troubles de 862, qui amenèrent la mort de Ts'ai Si, Fan Tch'o put s'enfuir en emportant les sceaux de son chef. Il publia son livre au début de la période 咸通 hien-ťong Hàm Thông (860-873) (cf. Sseu h' ou ts'iuanclwu tsong mou, k. 66, p. 11).

Le Man chou fut perdu comme livre indépendant au début des Ming, postérieurement cependant à la compilation du 永樂大典 Yong lo ta tien Vĩnh Lạc Đại Điển, ("est dans le Yong lo ta tien que les érudits du xvnie siècle allèrent chercher les longs extraits classés sous diverses rubriques, et divisèrent arbitrairement ces fragments en dix chapitres, sous prétexte de se conformer au nombre original. Le Man chou fut édité en caractères mobiles au Wou-ying-tien en 1774; c'est de cette édition princeps que je me suis servi. Il y a bon nombre de réimpressions, tant dans les réimpressions collectives d'ouvrages édités au Wou-ying-tien que dans des collections comme le très précieux 雲南備徴志 Yun nanpei tcheng tche Vân Nam Bị Trưng chí. Une édition marquant les noms propres a été récemment donnée dans le 漸西村舎叢刻 Tsien si ts'ouen chô t’song ko -  Tiệm Tây Thôn Xá Tùng Khắc (cf. B. E. F. E.-O., ni, 518). Le Man chou mériterait d'être intégralement traduit et commenté.

11. Ces identifications sont traditionnelles, mais, pour la commanderie du Je-nan tout au moins, il est assez difficile de déterminer exactement quelles régions étaient soumises à sa juridiction. La solution doit varier sans doute suivant les époques. Cf. infra, dernière partie du premier itinéraire.

12. M. Parker (China Review, l. xx, p. 339) a eu l'idée extraordinaire de faire débarquer les envoyés de Marc-Aurèle à Mergui au Tennasserini, pour les faire passer ensuite par Mandalay sur l'Iraouaddy, Xieng-hong dans les Sipsong-panna du Yunnan et Vinh sur la côte d'Annamite. Cette hypothèse, qui va d'ailleurs contre les textes, ne résiste pas à l'examen d'une carte.

13. 安南志畧 An Nam Chí Lược. Réédition japonaise de 1884, ch. 10, p. 1 ; trad. Sainson, pp. 389-390.

14. Cf. Hirth, China and the Roman Orient, pp. 47-48.

15. Cf. Mémoires sur Г Annam, ch. 7, p. 5 vfj ; trad. Sainson, p. 330 ; 6. E. F. E.-O., m, 251, 303.

16. Ce n'est pas à dire qu'on n'allât pas déjà à Canton. Mais l'exemple de Fa-hien, qui, parti des Détroits pour Canton, fut entrainé par la tempête jusque sur les côtes du Ghan-tong, explique qu'on ait longtemps préféré le cabotage le long de la côte annamite.

17. Cf. 資治通鑑補正 Tseu tche t'ong kien pou tcheng Tư Trị Thông Giám Bổ Chính (ou « Tseu tche ťong kien revu et corrigé »), éd. lithogr. de Changhai, 1902, k. 234, p. 2 v°.

18. Lou Tche est une des belles ligures de l'époque des Tang. il véout de 754 à 805. Cf. Giles, Biogr. Diet., n° 1406 ; 舊唐書 Kieou t'ang chou Cựu Đường Thư, k. 139 ; Sin t'ang chou, к . 157.

19. Cf. Cương Mục, s. a. 767, 791, 808, 824, 867 (où la date cyclique est fausse d'an  an); G. Dumoutier, Etude historique et archéologique sur Hoa-lu-, dans Bullet, de géogr. histor. et descript., 1893, p. 38.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét