Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Các chuyến đi của Marco Polo



Các chuyến đi của Marco Polo

Marco Polo
Rustichello de Pisa


Người dịch: Hà Hữu Nga

Về quốc gia rộng lớn có tên gọi Chamba

Bạn cần biết rằng khi rời cảng Zayton* bạn phải bơi theo hướng tây – nam – tây khoảng 1500 hải lý, sau đó bạn đến một quốc gia gọi là Chamba [1], một vương quốc thịnh vượng, có vương triều của riêng mình. Người dân Chamba là những người thờ tượng thần  và hàng năm đều triều cống Đại Hãn bằng voi, ngoài ra không còn gì khác. Và tôi sẽ kể về cách thức họ dâng cống vật.

Việc này diễn ra vào năm 1278, khi Đại Hãn cử viên tướng Nam tước Sa Tô (Sagatu) với rất đông kỵ binh và bộ binh tấn công Chamba, và viên tướng này đã biến cuộc tấn công thành một cuộc chiến trên quy mô lớn.     

Nhà vua Chamba lúc ấy có tên gọi là Accambale đã già cả, và đội quân của ông không thể đương đầu được với quân Sagatu. Khi thấy viên tướng này gây chiến với vương quốc của mình, ông đã rất đau buồn. Sau đó ông quyết định cử phái bộ tới triều đình Đại Hãn. Phái bộ thưa với Đại Hãn: “Chúa công của chúng thần là Vua Chamba coi Đại Hãn là chúa tể của người, và mong Đại Hãn thấu hiểu tình cảnh khổ đau lâu nay của chúa chúng thần, và chỉ mong cho vương quốc được yên bình. Vì thế, người cử chúng thần chuyển đến Đại Hãn ước nguyện được trở thành kẻ chư hầu của Đại Hãn, và kính cẩn mong Đại Hãn khiến cho Nam tước Sagatu rút quân về, để cho vương quốc của chúng thần được bình yên. Và từ nay, xứ sở chúng thần là thuộc về Đại Hãn, và chúa của chúng thần sẽ giữ gìn nó cho Đại Hãn”.

Sau khi nghe lời thỉnh cầu của sứ thần vua Chamba, Đại Hãn đã động lòng thương xót, và truyền cho Nam tước Sagatu rút quân khỏi vương quốc ấy đi chinh phục một vương quốc khác; và ý chỉ của Đại Hãn đã nhanh chóng được tuân theo. Vì vậy mà sau đó vua Chamba đã trở thành chư hầu của Đại Hãn, và hàng năm đều triều cống 20 con voi lớn nhất và đẹp nhất có ở vương quốc của ông.  

Nhưng tôi muốn tạm gác chủ đề này để kể với các bạn về những điều đặc biệt khác của vua Chamba.

Bạn cần biết rằng, trong vương quốc này phụ nữ không được phép cưới chồng trước khi nhà vua nhìn thấy mặt họ; nếu ưng ai thì ông ta sẽ lấy người đó làm vợ; nếu không ưng thì ông ta cho cô ta cho một món của hồi môn để đi lấy chồng. Năm 1285, Marco Polo đã đến thăm quốc gia đó, và trong thời gian đó nhà vua nước này có tới 326 người con cả trai lẫn gái, trong đó có tới 150 người có khả năng cầm vũ khí chiến đấu [2]. 
 
Vương quốc này có rất nhiều voi và họ cũng có rất nhiều trầm hương. Họ cũng có các cánh rừng gỗ mun mênh mông, màu gỗ đen nhánh, dùng làm cán bút, quân cờ. Ngoài ra chẳng còn gì đáng kể, vậy thì chúng ta sẽ chuyển sang truyện khác [3].
___________________________________

Nguồn: Polo Marco and Rustichello of Pisa. The Travels of Marco Polo — Volume 1, The Complete Yule – Cordier Edition, [Illustration: H. Yule] Including the unabridged third edition (1903) of Henry Yule's annotated translation, as revised by Henri Cordier; together with Cordier's later volume of notes and addenda (1920).

Ghi chú của người dịch tiếng Việt

*Zayton vẫn được coi là Sơn Tứ Thôn ngày nay:山咀村,同名地名,广: 广市台山市川岛镇的一个行政.山咀村(岛镇)”. Sơn Tứ thôn là địa danh: tại tỉnh Quảng Đông có thành phố Giang Môn, thị xã Đài Sơn, ở Xuyên Đảo trấn có một đơn vị hành chính gọi là Sơn Tứ Thôn.

** HC =  Henri Cordier

Chú thích

1. Cái tên Champa có nguồn gốc Ấn Độ giống như tên gọi nước láng giềng Kamboja cũng như nhiều tên gọi khác ở Đông Dương, và có lẽ lấy từ tên gọi của một nhà nước và đô thị cổ Ấn Độ nằm bên bờ sông Hằng, gần Bhagalpur ngày nay. Vào thế kỷ thứ VII, Huyền Trang đã đề cập đến nhà nước Ấn – Hoa là Mahachampa (Pel. Boudd, III. 83). 

Cái tên Champa còn đến thế kỷ XV hình như đã được người Tây Á dùng để gọi vương quốc trải dài giữa Bắc Kỳ và Kamboja, gồm toàn bộ vùng đất ngày nay gọi là Đàng Trong, bên ngoài Bắc Kỳ. Nó được người Trung Quốc gọi làChiêm Thành. Năm 1471 vua Lê Thánh Tông của Bắc Kỳ đã chinh phục vương quốc này, và người gốc Champa chỉ còn lại một số nhỏ cư trú tại các vùng núi tỉnh Bình Thuận ở cực Đông Nam của Đàng Trong. Tên gọi Champa vẫn được sử dụng cho các bản đồ vẽ về vùng này. (See J.A. ser. II. tom. xi. p. 31, and J. des Savans, 1822, p. 71).

Vị trí nổi bật của Champa trên tuyến hàng hải đến Trung Quốc là các vị trí cảng biển được gọi tên trong nhiều thời đại, và trong những ghi chép sớm nhất của các nhà hàng hải Arab đến Trung Quốc, chúng tôi thấy nước này được ghi với một cái tên thống nhất (cần chiếu cố sự thiếu hụt chữ cái trong tiếng Arab) là Sanf hoặc Chanf. Trong thực tế thì rất có thể là cái tên tiếng Hy Lạp Zaba/Zabai thuộc tuyến hải hành trong công trình Địa lý của Ptolemy đến Sinae chính là tên gọi này.

Năm 1882, Henry Yule đã viết: “Thực sự thì Champa, như đã biết về sau này, nằm ở phía đông của tam giác châu Mekong, trong khi Zabai của người Hy Lạp lại nằm ở phía tây của tam giác châu đó và ở phía tây của [tiếng Hy Lạp: mega akrotaerion] Mũi Lớn, hoặc Cambodia trên các bản đồ của chúng ta. Hình như Crawford (Desc. Ind. Arch. p. 80) đã nói rằng người Malay coi toàn bộ vùng chúng ta gọi là Kambodia cũng chính là Champa. Có thể đây là một lầm lẫn. Nhưng như chúng ta sẽ thấy, chắc chắn là cái tên Sanf trong tiếng Arab không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là Champa – cũng nằm ở phía tây của Mũi Lớn, tức là trong vịnh Thái Lan. Sự thật thì các vương quốc Đông Dương đã liên tục trải qua rất nhiều thăng trầm to lớn, và vào buổi đầu, Champa phải là một quốc gia rất rộng lớn và cường thịnh, vì vậy Huyền Trang (khoảng năm 629) mới gọi đó là Đại Champa (Maha-Champa). Và người bạn đã quá cố của tôi là Trung úy Garnier, từng rất chú ý đến các vấn đề này, đã suy luận từ các dự liệu cuả Biên niên sử Trung Quốc cùng các nguồn khác rằng cái kinh đô cổ được người Trung Quốc gọi là Phù Nam đã trải rộng trên toàn bộ phía đông của bán đảo thuộc vình Thái Lan, chính là một vương quốc của người Tsiam hoặc thuộc chủng Champa. Vị trí của cảng cổ Zabai hoặc Champa có lẽ cần phải được tìm kiếm tại phía tây Kamboja, gần Campot, hoặc Kang Kao trên bản đồ của chúng ta. Trên dải bờ biển này còn có các tên gọi KomarKamarah của Ibn Batuta và các tác giả Arab khác, cũng có rất nhiều trầm hương, đó là vùng đất về sau thuộc về người Khmer hoặc người Kambojan”. [Yule, Henry 1882. Notes on the Oldest Records of the Sea-Route to China from Western Asia, Proc.R.G.S. 1882, pp. 656-657].

Ông Barth cho rằng sự xác định trên rất nhất quán với bằng chứng trong minh văn XVIII.B. của ông được phát hiện ở Angkor và đối với minh văn ấy thì Campa là một bộ phận của Dakshinapatha, vùng đất phương nam. Nhưng vì vậy mà kinh đô của Nhà nước kình địch của Kamboja có lẽ lại rất gần với tỉnh Treang nơi phát hiện được các minh văn có những cái tên Bhavavarman và Icanavarman. Sự thật thì vào năm 627, nhà vua Kamboja, theo Biên niên sử Trung Quốc [Nouv. Mel. As. I. p. 84], đã chinh phục được vương quốc Phù Nam được Yule và Garnier đồng nhất với Campa. Abel Remusat (Nouv. Mel. As. I. pp. 75 and 77) đồng nhất nó với Bắc Kỳ, còn Stan Julien (J. As. 4 deg. Ser. X. p. 97) lại đồng nhất với Siam [Thái Lan] (Inscrip. Sanscrites du Cambodge, 1885, pp. 69-70, note.).   

Henry Yule viết (l.c. p. 657): “Chúng tôi đã cho rằng địa điểm Sanf trong tiếng Arab, cũng như Zabai trong tiếng Hy Lạp nằm ở phía tây của Mũi Cambodia. Điều đó được chứng minh bằng nhận định rằng người Arab, trong chuyến hải hành đến Trung Quốc đã đi mất mười ngày từ Sanf tới Pulo Condor (Côn Đảo)”. Nhưng Abulfeda (bản dịch của Guyard, II. ii. p. 127) lại dứt khoát cho rằng Bán đảo Komar (Khmer) nằm ở phía tây của Bán đảo Sanf; khoảng cách giữa SanfKomar không đến một này đi biển.  

Ngoài ra, còn một khó khăn nữa cần phải vượt qua.

Tôi đồng ý với Henry Yule và Marsden rằng ở chương vii, infra, tr. 276, của văn bản cần phải hiểu là “Khi bạn rời khỏi Chamba” thay cho “Khi bạn rời khỏi Java”. Đi từ Zayton, qua 1500 hải lý, Polo đã đến Chamba; từ Chamba bơi 700 hải lý ông đến các đảo Sondur và Condur, được Yule xác định là Sundar Fulat (Pulo Condore – Côn Đảo); từ Sundar Fulat, bơi 500 hải lý nữa ông đến nước Locac; sau đó đi tiếp 500 hải lý thì đến Pentam (Bintang), Malaiur, và Java Nhỏ (Sumatra). Hải trình của Ibn Khordadhbeh cũng khá đồng nhất với hành trình của Marco Polo, như GS. De Goeje đã lưu ý: “Khởi hành từ Mait (Bintang), và đi về phía trái Tiyuma (Timoan), mất 5 ngày thì đến Kimer (Kmer, Cambodia), đi tiếp ba ngày nữa theo ven biển thì đến Sanf; sau đó mất 100 parasangs (đơn vị đo khoảng ách của Ba Tư, 1 parasang = 6km) đường bộ hoặc đường biển đến Lukyn, điểm đầu tiên trong cuộc viếng thăm Trung Quốc, từ Lukyn mất 4 ngày bằng đường biển và 20 ngày bằng đường bộ thì đến Kanfu” [Quảng Đông , xem ghi chủ tr.199] (Xem De Goeje's Ibn Khordadhbeh, p. 48 et seq.). Nhưng ở đây chúng ta vấp phải vấn đề. GS. De Goeje viết cho tôi: “Rất lạ là trong Relation des Voyages của Reinaud, tr. 20, được Ibn al Fakih sao lại, tr. 12 seq., thì Sundar Fulat (Pulo Condore) lại nằm giữa Sanf và biển Trung Hoa (Sandjy); phải mất 10 ngày đi từ Sanf đến Sundar Fulat, và sau đó mất một tháng (trong đó mất 7 ngày đi giữa các núi được gọi là Các cửa vào Trung Quốc). Chúng tôi đọc thấy Livre des Merveilles de l'Inde (tr. 85, 86) viết như sau: “Khi đến giữa Sanf và bở biển Trung Quốc, ở lân cận Sundar Fulat, có một hòn đảo nằm ở lối vào biển Sandjy, thuộc biển Trung Quốc...” Có vẻ như từ hai đoạn này thì cần phải tìm kiếm Sanf ở Bán đảo Malay. Sanf này khác với Sanf của Ibn Khordadhbeh và của Abulfeda." (Guyard's transl. II. ii. 127). 

Qua các đoạn trên, tôi cho rằng không thể tìm kiếm Sanf ở Bán đảo Malay. Trong thực tế thì GS. G.Schlegel, trong một bài viết công bố trên T'oung Pao, vol. x., đã chứng minh rằng Shay-po (Djava), được viết bằng chữ Hán chính là dịch âm của cái tên Phạn ngữ của Hoa hồng Trung Quốc (Hibiscus rosa sinensis), Djava hoặc Djapa, chứ không phải là Đảo Java Lớn, mà theo các văn bản chữ Hán thì là một quốc gai trên Bán đảo Malay; nhưng theo tôi thì ông lại không chứng minh được rằng Shay-po là Champa, như chính ông tin là đã làm được điều đó. 

Tuy nhiên GS. De Goeje đã thêm vào trong bức thư, và tôi hoàn toàn đồng ý với vị học giả Arab học lừng danh của Leyden là ông cho rằng cái giả thuyết có hai Sanf là không ổn, mà ông nghiêng về phía cho rằng vị thuyền trưởng viết Marvels of India đã đặt Sundar Fulat hơi quá xa về phía bắc, và câu truyện của Relation des Voyages là không chính xác. 

Tóm lại, lịch sử các mối quan hệ giữa An Nam (Bắc Kỳ) và người hàng xóm phương nam, vương quốc Champa, mà các cuộc hải hành của Marco Polo và Ibn Khordadhbeh đã cho thấy, cũng như vị trí của Sanf được Abulfeda xác định thực sự làm cho tôi tin rằng việc đặt Champa vào phần bờ biển trung và nam của Đông Dương mà ngày nay người Pháp gọi là An Nam (Trung Bộ và Nam Bộ), ở tỉnh Bình Thuận đã chỉ ra một cách chính xác phần còn lại của cái vương quốc cổ đó.

Như đã viết ở trên, tôi đã nhận được Số 1 của tập ii của bộ BFFEO (Bul. de l'Ecole Francaise d'Extreme-Orient) trong đó có ghi chủ về Canf et Campa của M.A. Barth. Các chứng lý của GS. De Goeje và công trình của Ibn Khordadhbeh đã đưa Barth đến kết luận của tôi cho rằng bờ biển Champa đã được xác định ở chính nơi mà các bi ký đã được tìm thấy tại bờ biển miền trung An Nam ngày nay – H.C**].

Người mà Marco Polo gọi là Sagatu trong các sử liệu Trung Quốc chính là Sotu, [Toa Đô còn viết là 唆都, Sogetu, Suodu, Söghetei; (? – 1285) là một viên tướng Mông Cổ thời nhà Nguyên, thế kỷ 13].

Năm 1278, Sotu cử sứ bộ đến Chiêm Thành đòi Chiêm vương quy phục, Chiêm Thành đầu hàng, và trong nhiều năm ông ta đã triều cống Hốt Tất Liệt [Kublai]. Nhưng khi Đại Hãn can thiệp sâu vào công việc nội bộ của vương quốc bằng cách bổ một viên Thái thú và đội ngũ quan lại nhà Nguyên, thì con trai Chiêm vương (1282) đã cương quyết phản đối các hành động đó, và đã bỏ tù các quan chức nhà Nguyên. Đại Hãn phẫn nộ tột bậc với sự xúc phạm đó (xảy ra ngay sau thất bại của ông tại Nhật Bản), đã lệnh cho Sotu và những người khác nữa đến Chiêm Thành để trả thù. Năm sau, vị công tử của Chiêm vương đã phải trá hàng và đội quân của Sotu (nếu trong thực tế đội quân này đã được cử đến) đã rút lui. Tuy nhiên vị công tử Chiêm vương đã tiếp tục tấn công các cơ sở của quân Nguyên, và đã giết chết 100 quan quân nhà Nguyên. Sau đó Sotu đã cử một đội quân mới đến Chiêm Thành, nhưng đã không thành công, và ông ta phải bị bãi chức. Năm 1284 Chiêm vương đã cử một sứ bộ trong đó có cháu trai của ông đến Nguyên triều xin lỗi và hòa giải. Tuy nhiên, Hốt Tất Liệt đã từ chối và lệnh cho con trai ông là Thoát Hoan (Tughan) tiến đánh Đại Việt, một cuộc phiêu lưu đã đưa đến một thất bại thảm hại với quốc gia này.    

Ở đây chúng ta gặp phải một vài vấn đề với các giai thoại lịch sử của Marco Polo. Một số tên gọi và các hoàn cảnh lịch sử có thể nhận biết được trong các biên niên sử Trung Quốc; nhưng một số vấn đề thì lại không ăn khớp với các sự kiện và tên gọi trong biên niên sử. Sứ bộ năm 1284 có vẻ giống với sứ bộ mà Marco Polo nói đến, cho dù lịch sử Trung Quốc không cho thấy cái kết cục ưng ý mà ông đã gán cho nó như vậy. Niên đại trong văn bản cũng không chính xác, và khác với niên đại ghi trong sách của Marco Polo. Tôi nghi ngờ sách đó có niên đại gốc MCCLXXXIII.

Có một ghi chú cho cái tên chữ Hán của vị vua Sinhopala, và rõ ràng đó chính là cái tên Accambale (Acambale) của Ramusio; một dấu hiệu cho thấy ngay đó chính là sự tự ý thêm bớt từ ngữ vào một văn bản gốc, và sự đồng nhất Champa và Chen Chinh (Chiêm Thành).

[Chúng ta được biết từ một minh văn nói rằng năm 1265 Chiêm vương là Jaya-Sinhavarman II., là người mà năm 1277 có tên là Indravarman và người Trung Quốc gọi là Che li Tseya Sinho phala Maha thiwa (Cri Jaya Sinha varmma maha deva). Ông chính là vị Chiêm vương trong thời gian Marco Polo viễn du phương Đông (A. Bergaigne, Ancien royaume de Campa, pp. 39-40; E. Aymonier, les Tchames et leurs religious, p. 14.) - H.C. **]

Có các ghi chú về những sự kiện trong De Mailla (IX. 420-422) và Gaubil (194), nhưng các đoạn trích của Pauthier mà chúng tôi sử dụng thì lại đầy đủ hơn.

Voi là loại cống vật chủ yếu được các nhà nước Đông Dương định kỳ đem sang triều đình Trung Quốc.

[Trong một công trình bằng chữ Hán của một người An Nam vào thế kỷ XIV, có tên gọi An Nam chí lược đã được ông Sainson (1896) dịch ra tiếng Pháp, chúng ta đọc được: Voi chỉ có ở Lâm Ấp; quốc gia này đã trở thành Champa. Họ thường dùng voi để chuyên chở đồ vật; đất nước này ngày nay là tỉnh Pu Cheng”. Ông Sainson ghi chú Pu Cheng trong tiếng An Nam là Bố Chánh quan, bây giờ là Quảng Bình, và kinh đô đầu tiên là Đồng Hới, thời Champa chuyển về phía nam H.C. **].

[Người Chăm, theo truyền thống của họ thì có ba kinh đô: cổ nhất là Shri-Banoeuy, có lẽ thực sự là Quảng Bình; Bal-Hangov, gần Huế; và Bal-Angoue, thuộc tỉnh Bình Định. Vào thế kỷ thứ 4, vương quốc Lin-y hoặc Lâm Ấp đã được nói đến trong Biên niên sử Trung Quốc – H.C. **] 

2. Thời điểm Marco thăm Champa, theo Pauthier và Ramusio là năm 1280; G.T. là 1285; Geographic Latin là 1288. Tôi thiên về niên đại 1288. Vì chúng ta biết rằng khoảng năm 1290, Marco trở lại triều đình sau một sứ mệnh đến vùng biển Ấn Độ, có thể ông đã đến Champa thời gian này.

Gia tộc nhà vua là thuộc dòng dõi khác thường. Odoric nói: “Zampa là một đất nước rất tươi đẹp, có những kho hàng lớn với đủ loại hàng hóa. Nhà vua lúc tôi ở đó [khoảng 1323] có tới 200 đứa con, cả trai lẫn gái; vì ông có nhiều vợ và thê thiếp. Nhà vua còn có tới 14.000 con voi thuần...và voi được nuôi nhốt như ta nuôi bò vậy” [tr. 95-96]. Điều đó đã minh chứng cho những gì mà Marco đã viết về voi ở đây và chắc chắn là không có sự cường điệu liên quan đến toàn bộ các quốc gia Nam Đông Dương (Xem ghi chú của Odoric).

3. Bản thân Champa và các lãnh thổ liền kề là những vùng sản xuất trầm hương chủ chốt. Cả hai tên gọi tiếng Anh lign-aloes hoặc eagle-wood đều nhầm lẫn, vì thứ gỗ đó không hề liên quan gì đến cây lô hội hoặc chim đại bàng cả; dù sao thì cái tên Bishop Pallegoix xuất phát từ tên gọi sau cũng là loại gỗ có những chấm nhỏ giống như bộ lông chim đại bàng. Thực ra thì nó có tên gọi Aquila, Agila, từ cái tên tiếng Phạn Aguru, trong khi đó nó lại có thể là từ tiếng Malay Kayu-gahru, dù quá trình diễn biến của từ nguyên có thể theo cách khác; và [tiếng Hy Lạp Aloae] có lẽ là một sự sửa đổi sai lạc của một từ Arabs dùng cho nó, Al-'Ud, là “gỗ”.  

[Có lẽ người Bồ Đào Nha đầu tiên liên quan đến loại cây này và gọi nó bằng cái tên Arab là aghaluhy, hoặc tiếng Malay agila; từ đó sinh ra pao de' aguila, có nghĩa là gỗ aguila. Nó đã được dịch ra tiếng Latin là lignum aquilae, và từ đó chuyển thành ngôn ngữ hiện đại là bois d'aigle, eagle-wood, adlerholz, ...v.v. (A. Cabaton, les Chams, tr. 50.) Ông Groeneveldt (Ghi chú, tr. 141-142) viếtd: Lignum aloes chính là gỗ Aquilaria agallocha, và chủ yếu được biết là trầm hương. Sách Cương mục mô tả: Trầm hương còn được gọi là mật hương. Nó tiết ra từ lõi và từ mắt gỗ và chìm trong nước, vì tính chất khác thường đó mà nó được gọi là trầm hương. Trong sách Nam phương Thảo mộc trạng, loại gỗ này được gọi là mật hương, vì nó thơm vị mật. Cuốn sách còn cho chúng ta biết thêm rằng loại trầm này được sản xuất ở tất cả các quốc gia vùng phía nam Trung Quốc bằng cách đốn ngã cây gỗ già rồi để cho chúng mục nát ra, sau đó chỉ còn lại lõi gỗ, mắt gỗ và những phần rất cứng chắc khác. Loại sản phẩm này có nhiều tên gọi khác nhau căn cứ vào chất lượng và hình dáng của chúng, ngoài các tên gọi trên còn có các tên gọi khác như mã đề, kê cốt, thanh quế, tuy nhiên các tên này hiếm được sử dụng H.C. **].      

Loại trầm tốt của Champa được sản sinh ra nhờ loại cây họ đậu Aloexylon Agallochum bị bệnh, trong khi loại kém hơn, mặc dù có hương liệu tương tự được sản sinh từ một loài hoàn toàn khác, Aquilaria Agallocha, và thấy ở vĩ độ cao về phía bắn, đến tận Silhet.   

Phần bổ sung của GT ở đây là một ví dụ khác về việc sử dụng vô thức một từ phương Đông của Marco. Đó là từ gốc Ba Tư Abnus, gỗ mun, từ này hầu như đã được đưa nguyên vẹn vào từ Abenuz của Tây Ban Nha. Chúng tôi cũng thấy từ Ibenus trong bảng kê hàng hóa tiếng Pháp (Douet d'Arcq, p. 134), nhưng phần bổ sung dường như đã cho thấy từ này theo cách dùng của nhà du hành lại rất xa lạ đối với Rusticiano.  Từ Calamanz mà ông cũng dùng để chỉ cái hộp bút, thì lại giống với từ Kalamdan của Ba Tư hơn là từ Calamajo trong tiếng Ý.     

“Gỗ mun rất thông dụng ở đất nước này (Champa), nhưng loại gỗ quý nhất và rất sẵn lại được gọi là “Gỗ đại bàng”, loại có chất lượng tốt nhất phải mua bằng vàng; người địa phương gọi là Kỳ nam” (Bishop Louis in J.A.S.B. VI. 742; Dr. Birdwood, in the Bible Educator, I. 243; Crawford's Dict.).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét