Maurice Merleau-Ponty
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần III. Hiện-hữu-Tự-thân và Hiện-hữu-trong-Thế-giới
1. Cái Tôi Tư duy
Chúng ta hãy quay lại ví dụ về người mắc chứng cuồng. Thật dễ dàng để coi anh ta như một kẻ giả tạo, nhưng trước hết chính anh ta đang tự lừa dối mình, và sự bất ổn này một lần nữa đặt ra vấn đề mà chúng ta đang cố gắng giải quyết; làm thế nào mà nạn nhân của chứng cuồng lại không cảm nhận được những gì anh ta cảm nhận, và cảm nhận được những gì anh ta không cảm nhận? Anh ta không giả vờ đau đớn, buồn bã hay tức giận, nhưng những cơn ‘đau đớn’, ‘buồn bã’ hay ‘giận dữ’ của anh ta có thể phân biệt được với những trường hợp ‘thực sự’mắc phải chứng bệnh này, bởi vì anh ta không hoàn toàn bị chúng chi phối: cốt lõi của anh ta vẫn còn một vùng bình yên. Những cảm xúc ảo tưởng hoặc tưởng tượng được trải nghiệm một cách chân thực, nhưng được trải nghiệm, có thể nói, ở rìa ngoài của chính chúng ta.17 Trẻ em và nhiều người lớn chịu ảnh hưởng của ‘giá trị tình huống’, che giấu khỏi họ những cảm xúc thực sự của họ—họ vui mừng vì được tặng quà, buồn bã vì đang ở đám tang, vui vẻ hay buồn bã tùy thuộc vào khung cảnh xung quanh, và, ở phía bên kia của bất kỳ cảm xúc nào như vậy, thờ ơ và trung lập. ‘Chúng ta trải nghiệm cảm giác ấy một cách mãnh liệt, nhưng [tr.442] lại không chân thực. Nó cứ như thể cái bóng của một tình cảm chân thực.’
Thái độ tự nhiên của chúng ta không phải là trải nghiệm cảm xúc của chính mình hay bám víu vào những thú vui của riêng mình, mà là sống theo những phạm trù cảm xúc của môi trường. ‘Cô gái được yêu không phóng chiếu cảm xúc của mình như Isolde [Isolde là nhân vật chính trong Tristan und Isolde, là một vở nhạc kịch của Richard Wagner, dựa trên cuốn tiểu thuyết lãng mạn thời trung cổ thế kỷ 12 của Gottfried von Strassburg, Tristan và Iseult; được hình thành lần đầu tiên vào năm 1854, âm nhạc được sáng tác từ năm 1857 đến năm 1859 và được công diễn lần đầu tại Königliches Hoftheater und Nationaltheater ở Munich vào ngày 10 tháng 6 năm 1865, với sự tham gia của Hans von Bülow; Tristan und Isolde phần nào khai thác cảm hứng từ quan niệm triết học của Arthur Schopenhauer và từ mối quan hệ của Wagner với nàng thơ Mathilde Wesendonck; tác phẩm khám phá các chủ đề hiện sinh như sự nỗ lực không ngừng của loài và bản chất siêu việt của tình yêu vượt qua cái chết, đồng thời kết hợp tâm linh từ chủ nghĩa thần bí cũng như siêu hình học Vedanta và Phật giáo , những chủ đề mà Schopenhauer quan tâm; Wagner là một trong những nghệ sĩ phương Tây đầu tiên sử dụng các khái niệm từ các tôn giáo धर्म dharma Pháp trong tác phẩm của mình. HHN] hay Juliet, [Giulietta Capuleti là nhân vật nữ chính trong vở bi kịch lãng mạn Romeo và Juliet của William Shakespeare, một cô gái 13 tuổi, là con gái duy nhất của tộc trưởng nhà Capulet; nàng đem lòng yêu Romeo, một thành viên của nhà Montague, gia tộc có mối thù truyền kiếp với nhà Capulet; câu chuyện có một lịch sử lâu đời, thậm chí còn trước cả thời Shakespeare - HHN] mà cảm nhận cảm xúc của những bóng ma thi ca này và truyền chúng vào cuộc sống của chính mình. Có lẽ đến một thời điểm sau đó, một cảm xúc cá nhân và chân thực mới phá vỡ mạng lưới ảo tưởng tình cảm của cô ấy.’18 Nhưng cho đến khi cảm xúc này xuất hiện, cô gái không có cách nào khám phá ra yếu tố ảo tưởng và văn chương trong tình yêu của mình. Chính sự thật về những cảm xúc tương lai của cô ấy mới được định sẵn để tiết lộ sự sai lầm của những cảm xúc hiện tại, những cảm xúc được trải nghiệm một cách chân thực. Cô gái ‘mất đi thực tại của mình’19 trong đó, cũng như diễn viên mất đi vai diễn mà anh ta thể hiện, vì vậy chúng ta không đối mặt với những hình ảnh hay ý tưởng tạo ra cảm xúc thực sự, mà là những cảm xúc nhân tạo và tình cảm tưởng tượng. Do đó, chúng ta không phải lúc nào cũng làm chủ được bản thân trong toàn bộ thực tại của mình, và chúng ta có quyền nói về một nhận thức nội tâm, một giác quan bên trong, một ‘bộ phân tích’ hoạt động từ chúng ta đến chính mình, không ngừng cung cấp kiến thức về cuộc sống và sự tồn tại của chúng ta, nhưng không phải tất cả. Những gì còn lại ở phía bên kia của nhận thức nội tâm và không gây ấn tượng với giác quan bên trong không phải là vô thức. ‘Cuộc sống của tôi’, ‘toàn bộ hiện hữu của tôi’ không phải là những cấu trúc mơ hồ, giống như cái ‘tự ngã sâu thẳm’ của Bergson, mà là những hiện tượng chắc chắn được tiết lộ cho phép phản tư. Đó chỉ đơn giản là vấn đề về những gì chúng ta đang làm. Tôi phát hiện ra mình đang yêu. Có thể không một sự kiện nào trong số những sự kiện mà giờ đây tôi nhận ra là bằng chứng cho tình yêu của mình lại không bị tôi chú ý; không phải là sự thúc đẩy nhanh chóng của hiện tại hướng tới tương lai của tôi, không phải là cảm xúc khiến tôi không nói nên lời, cũng không phải là sự sốt ruột chờ đợi ngày chúng tôi gặp nhau. Tuy nhiên, tôi đã không nhìn nhận toàn bộ sự việc, hoặc nếu có, tôi đã không nhận ra rằng đó là một vấn đề của một cảm xúc quan trọng đến vậy, bởi vì giờ đây tôi nhận ra rằng mình không thể hình dung cuộc sống lại thiếu đi tình yêu này nữa. Nhìn lại những ngày tháng trôi qua, tôi nhận ra rằng suy nghĩ và hành động của mình bị phân cực, tôi nhận ra quá trình tổ chức, một sự tổng hợp đang hình thành. Tuy nhiên, không thể giả vờ rằng tôi luôn biết những gì tôi biết bây giờ, và coi [tr.443] như một quá trình tự nhận thức đã tồn tại trong những ngày tháng đã trôi qua, một loại tự nhận thức mà chỉ gần đây tôi mới có được. Nói chung, không thể phủ nhận rằng tôi còn nhiều điều phải học hỏi về bản thân, cũng như không thể đặt trước, ngay trong sâu thẳm trái tim mình, một cách hiểu về bản thân chứa đựng tất cả những gì tôi biết về chính mình, sau khi đã đọc sách và trải nghiệm mà hiện tại tôi chưa hề hay biết. Ý niệm về một hình thái ý thức trong suốt với chính nó, tồn tại của nó có thể đồng nhất với nhận thức về tồn tại của nó, không khác biệt nhiều so với khái niệm vô thức; trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có cùng một ảo tưởng hồi tưởng, bởi vì, được đưa vào tôi như một đối tượng rõ ràng, tất cả những gì sau này tôi sẽ hiểu về bản thân mình.
Tình yêu đã vận dụng phép biện chứng của nó thông qua tôi, và điều mà tôi vừa mới nhận thức được, ngay từ đầu không phải là một thứ ẩn giấu trong vô thức của tôi, cũng không phải là một đối tượng trước ý thức của tôi, mà là xung lực đưa tôi đến với một kẻ nào đó, cuộc biến đổi trong suy nghĩ và hành vi của tôi—tôi không hề không nhận thức được điều đó vì chính tôi là kẻ đã chịu đựng những giờ phút buồn chán trước cuộc gặp gỡ, và là kẻ cảm thấy hân hoan khi ả đến gần—nó đã được nghiệm sinh, chứ không phải được biết đến, từ đầu chí cuối. Kẻ yêu cũng chẳng mấy khác kẻ mơ. ‘Nội dung tiềm ẩn’ và ‘ý nghĩa tình dục’ của giấc mơ chắc chắn hiện diện đối với kẻ mơ vì chính gã là kẻ mơ giấc mơ của mình. Nhưng, chính vì tình dục là bầu không khí chung của giấc mơ, nên những yếu tố này không được khái quát hóa thành tình dục, vì thiếu bất kỳ bối cảnh phi tình dục nào để chúng có thể nổi bật. Khi chúng ta tự hỏi liệu kẻ mơ có ý thức được nội dung tình dục trong giấc mơ của mình hay không, thực ra chúng ta đang đưa ra câu hỏi sai. Nếu tình dục, như chúng ta đã giải thích ở trên, thực sự là một trong những cách chúng ta thiết lập mối quan hệ với thế giới, thì bất cứ khi nào cái hiện hữu siêu tình dục của chúng ta cũng bị phủ bóng, như xảy ra trong giấc mơ, tình dục hiện diện ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả; về bản chất, nó mơ hồ và không thể hiện rõ ràng như chính nó. Ngọn lửa xuất hiện trong giấc mơ không phải là cách để kẻ mơ che giấu ham muốn tình dục dưới một biểu tượng dễ chấp nhận, vì nó chỉ xuất hiện như một biểu tượng khi tỉnh thức; trong ngôn ngữ của giấc mơ, lửa là biểu tượng của bản năng tình dục bởi vì kẻ mơ, khi tách rời khỏi thế giới vật chất và bối cảnh cứng nhắc của cuộc sống thức tỉnh, chỉ sử dụng hình ảnh theo tỷ lệ giá trị tình cảm của nó. Ý nghĩa tình dục của giấc mơ không phải là vô thức cũng không phải là ‘hữu thức’, [tr.444] bởi vì giấc mơ không ‘biểu nghĩa’, như cuộc sống thức tỉnh, bằng cách liên hệ một chuỗi sự kiện này với một chuỗi sự kiện khác, và thật sai lầm khi coi tình dục được kết tinh trong ‘những tái hiện vô thức’ cũng như khi coi trong sâu thẳm kẻ mơ là một ý thức gọi nó bằng tên thật của nó vậy. Tương tự, đối với kẻ yêu mà trải nghiệm đó là của gã, thì tình yêu là vô danh; nó không phải là một thứ có năng lực giới hạn và chỉ định, cũng không phải là tình yêu được nói đến trong sách báo, bởi vì đó là cách gã thiết lập mối quan hệ của mình với thế giới; nó là một biểu nghĩa hiện sinh. Kẻ phạm tội không nhận ra tội lỗi, và kẻ phản bội không nhận ra sự bội phản của mình, không phải vì chúng tồn tại sâu thẳm trong hắn như những biểu hiện hay khuynh hướng vô thức, mà vì chúng là quá nhiều thế giới khép kín, quá nhiều tình huống. Nếu ở trong một tình huống, ta bị bao vây và không thể minh bạch với chính mình, do đó tiếp xúc với bản thân chỉ có thể đạt được trong phạm vi mơ hồ.
Nhưng chẳng phải chúng ta đã đi quá xa rồi sao? Nếu ảo tưởng có thể tồn tại trong ý thức vào một số thời điểm, thì chẳng phải nó sẽ không tồn tại trong mọi thời điểm sao? Chúng ta đã nói rằng có những cảm xúc tưởng tượng mà chúng ta đủ gắn bó để trải nghiệm chúng, nhưng chưa đủ để chúng trở nên chân thực. Vậy liệu có bất kỳ sự cam kết tuyệt đối nào không? Chẳng phải bản chất của cam kết là giữ nguyên tính tự chủ của kẻ cam kết, theo nghĩa nó không bao giờ hoàn toàn, và do đó chẳng phải chúng ta không còn phương tiện nào để mô tả một số cảm xúc nhất định là chân thực nữa sao? Định nghĩa chủ thể bằng khuôn viên tồn tại, tức là theo một quá trình mà trong đó gã vượt lên chính mình, thì chắc chắn bằng chính hành động đó tuyên án gã là ảo tưởng, vì gã sẽ không bao giờ có thể là bất cứ điều gì. Thông qua kiềm chế trong ý thức, để không định nghĩa thực tại theo vẻ bề ngoài, chẳng phải chúng ta đã cắt đứt những mối liên kết ràng buộc chúng ta với chính mình, và quy giản ý thức xuống trạng thái chỉ là vẻ bề ngoài của một thực tại vô hình nào đó sao? Một mặt chẳng phải chúng ta đang đối diện với tình thế tiến thoái lưỡng nan của một ý thức tuyệt đối và mặt khác là mối nghi ngờ vô tận sao? Và chẳng phải bằng việc bác bỏ giải pháp đầu tiên, chúng ta đã khiến cái Cogito Tôi Tư duy trở nên bất khả thể sao? Lời phản bác này đưa chúng ta đến điểm mấu chốt. Sẽ là không đúng khi nói rằng sự tồn tại của tôi hoàn toàn làm chủ chính nó, cũng không đúng khi nói rằng nó hoàn toàn xa lạ với chính nó, bởi vì nó là hành động hay việc làm, và bởi vì hành động, theo định nghĩa, là sự chuyển đổi mạnh mẽ từ những gì tôi có sang những gì tôi muốn có, từ những gì tôi là sang những gì tôi có ý hướng trở thành. Tôi có thể hoàn thành cái Cogito Tôi Tư duy và có sự đảm bảo về ý chí, tình yêu hoặc niềm tin chân thành, miễn là trước hết tôi thực sự có ý chí, tình yêu hoặc niềm tin, và do đó hoàn thành sự tồn tại của chính mình. Nếu không phải vậy, thì mối ngờ vực không thể xóa bỏ sẽ lan rộng khắp thế giới, và cả trong suy nghĩ của chính tôi. Tôi sẽ mãi mãi tự hỏi liệu ‘sở thích’, ‘ý chí’, ‘mong muốn’ và ‘dự án’ của tôi có thực sự là của tôi hay không, bởi vì chúng sẽ luôn có vẻ giả tạo, không có thật và không được hoàn thành. Nhưng rồi mối ngờ này, vốn không phải là một mối ngờ thực sự, thậm chí không còn đủ sức mang lại sự chắc chắn tuyệt đối của việc nghi ngờ nữa.20 Cách duy nhất để thoát ra và bước vào sự ‘chân thành’ là ngăn chặn những do dự như vậy và lao mình vào ‘hành động’ một cách mù quáng. Do đó, không phải vì tôi nghĩ tôi tồn tại mà tôi chắc chắn về sự tồn tại của mình: ngược lại, tính chắc chắn mà tôi có được về những suy nghĩ của mình bắt nguồn từ sự tồn tại thực sự của chúng. Tình yêu, lòng căm thù và ý chí của tôi không chắc chắn chỉ với tư cách là những suy nghĩ về việc yêu, ghét và mong muốn: ngược lại, toàn bộ tính chắc chắn của những suy nghĩ này là nhờ vào tính chắc chắn của những hành động yêu thương, căm ghét hoặc ý chí mà tôi hoàn toàn chắc chắn vì tôi thực hiện chúng. Mọi nhận thức nội tại đều không đầy đủ bởi vì tôi không phải là một đối tượng có thể được tri giác, bởi vì tôi tạo ra thực tại của mình và chỉ tìm thấy chính mình trong hành động. ‘Tôi nghi ngờ’: không có cách nào để dập tắt mọi nghi ngờ liên quan đến mệnh đề này ngoài việc thực sự nghi ngờ, tham gia vào trải nghiệm nghi ngờ, và do đó đưa sự nghi ngờ này vào tồn tại như là tính chắc chắn của nghi ngờ. Nghi ngờ luôn là nghi ngờ điều gì đó, ngay cả khi ‘nghi ngờ mọi thứ’. Tôi chắc chắn về mối ngờ của mình bởi vì tôi coi điều này hay điều kia, thậm chí mọi thứ và cả tồn tại của chính tôi nữa là đáng ngờ. Chính thông qua mối quan hệ của tôi với ‘sự vật’ mà tôi biết bản thân mình; tri giác nội tâm theo sau, và sẽ không thể có được nếu tôi không tiếp xúc với mối ngờ của mình ngay trong chính đối tượng của nó. Điều đã nói về tri giác bên ngoài cũng có thể nói về tri giác bên trong: nó bao hàm vô hạn, và là một tổng hợp không bao giờ kết thúc, mặc dù luôn không hoàn chỉnh, nhưng vẫn tự khẳng định. Nếu tôi cố gắng xác minh tri giác của mình về cái gạt tàn thuốc, thì nhiệm vụ của tôi sẽ là vô tận, bởi vì tri giác này coi nhiều hơn những gì tôi có thể biết một cách rõ ràng là điều hiển nhiên.
[Tr.446] Tương tự, nếu tôi cố gắng xác minh thực tại của sự nghi ngờ của mình, tôi sẽ lại bị cuốn vào một vòng xoáy vô tận, bởi vì tôi sẽ cần phải đặt câu hỏi đối với suy nghĩ của mình về sự nghi ngờ, sau đó là suy nghĩ về suy nghĩ đó, và cứ thế tiếp diễn. Tính chắc chắn bắt nguồn từ chính sự nghi ngờ như một hành động, chứ không phải từ những suy nghĩ này, cũng giống như tính chắc chắn về sự vật và thế giới có trước bất kỳ tri thức lý thuyết nào về các thuộc tính của chúng. Thật vậy, như đã nói, biết là biết rằng mình biết, không phải vì bậc tri thức thứ hai này đảm bảo chính tri thức, mà ngược lại. Tôi không thể tái tạo lại sự vật, nhưng vẫn có những sự vật được tri giác. Tương tự như vậy, tôi không bao giờ có thể trùng khớp với cuộc sống của mình, vốn luôn trốn chạy khỏi chính nó, bất chấp điều đó vẫn có những tri giác nội tâm. Vì lý do tương tự, tôi mở lòng đón nhận cả ảo tưởng và sự thật về bản thân: nghĩa là, có những hành động mà trong đó tôi tự tập hợp lại để vượt qua chính mình. Cái Cogito Tôi Tư duy là nhận thức về thực tế cơ bản này. Trong mệnh đề: ‘Tôi Tư duy nên tôi tồn tại’, thì hai khẳng định này phải được coi là ngang bằng nhau, nếu không sẽ không có cái Cogito Tôi Tư duy. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của sự tương đương này: không phải cái ‘Tôi là’ được chứa đựng một cách nổi bật trong cái Tôi Tư duy, không phải tồn tại của tôi được thu gọn lại thành thứ ý thức mà tôi có về nó, mà ngược lại, chính cái Tôi Tư duy được tái hòa nhập vào quá trình siêu việt của cái ‘Tôi là’, và ý thức vào tồn tại. Thật vậy, dường như cần phải thừa nhận sự trùng khớp tuyệt đối của tôi với chính mình, nếu không phải trong trường hợp ý chí và cảm xúc, thì ít nhất là trong các hành động của ‘tư duy thuần túy’. Nếu đúng như vậy, tất cả những gì chúng ta đã nói sẽ bị thách thức, do đó, thay vì chỉ là một cách tồn tại đơn thuần, tư tưởng sẽ thực sự độc chiếm chúng ta. Vì vậy, bây giờ chúng ta phải xem xét đến sự hiểu biết. Tôi nghĩ về hình tam giác, không gian ba chiều mà tam giác là thuộc về nó, phần kéo dài của một trong các cạnh của nó, và đường thẳng có thể được vẽ qua đỉnh của nó song song với cạnh đối diện, và tôi nhận thấy rằng đường thẳng này, cùng với đỉnh, tạo thành ba góc có tổng bằng tổng các góc của tam giác, và hơn nữa, bằng hai góc vuông. Tôi chắc chắn về cái kết quả mà tôi coi là đã được chứng minh; điều đó có nghĩa là cấu trúc sơ đồ của tôi không giống như những nét vẽ được đứa trẻ tùy ý thêm vào bức vẽ của nó, mà mỗi nét vẽ đều hoàn toàn biến đổi ý nghĩa (‘đó là một ngôi nhà; không, đó là một chiếc thuyền; không, đó là một người đàn ông’), một tập hợp các đường thẳng được vẽ ngẫu nhiên bằng bàn tay tôi. Quá trình từ đầu đến cuối đều hướng đến một hình tam giác. Sự hình thành của [tr.447] hình vẽ không chỉ là hình thành thực sự, mà còn là một sự hình thành có thể hiểu được; tôi xây dựng cấu trúc của mình theo các quy tắc, và khiến các thuộc tính xuất hiện trong hình vẽ—các thuộc tính là các mối quan hệ thuộc về bản chất của hình tam giác. Giống hệt đứa trẻ, tôi không tái tạo lại những gì được gợi ý bởi hình vẽ không rõ ràng thực sự có trên giấy. Tôi nhận thức được việc trình bày một bằng chứng, bởi vì tôi tri giác một mối liên hệ cần thiết giữa tập hợp dữ liệu tạo thành giả thuyết và cái kết luận mà tôi rút ra từ chúng. Chính sự cần thiết này đảm bảo rằng tôi có thể lặp lại thao tác với vô số số liệu thực nghiệm, và bản thân sự cần thiết này bắt nguồn từ thực tế là ở mỗi bước trong việc chứng minh của tôi, và mỗi lần tôi đưa ra các mối quan hệ mới, tôi vẫn ý thức được cái tam giác kia như một cấu trúc ổn định được điều kiện hóa và được chúng giữ nguyên vẹn. Đó là lý do tại sao nếu muốn, chúng ta có thể nói rằng việc chứng minh bao gồm cả việc đưa tổng các góc được tạo dựng thành hai nhóm khác nhau, và xem tổng đó luân phiên bằng tổng các góc của tam giác, và bằng hai góc vuông,21 nhưng cần phải nói thêm22 rằng ở đây chúng ta không chỉ có hai cấu hình kế tiếp nhau, cấu hình đầu tiên loại bỏ cấu hình thứ hai (như trường hợp đứa trẻ phác họa trong mơ); cấu hình đầu tiên tồn tại đối với tôi trong khi cấu hình thứ hai đang trong quá trình hình thành, tổng các góc mà tôi đồng nhất với hai góc vuông cũng giống như ở nơi khác tôi đồng nhất với tổng các góc của tam giác, tất cả điều này chỉ có thể thực hiện được miễn là tôi vượt ra ngoài cái trật tự của hiện tượng hoặc vẻ bề ngoài và tiếp cận được trật tự của eidos [Ghi chú Eidos tiếng Hy Lạp εἶδος eîdos, nghĩa là ‘cái được nhìn thấy, hình thức’, từ ngôn ngữ Nguyên Ấn-Âu ‘weyd’ ‘nhìn thấy’, so sánh với dạng hoàn thành trong tiếng Hy Lạp ‘οἶδα’ oîda ‘Tôi đã thấy’ = ‘Tôi biết’ biểu thị hình thức, hình dạng hoặc vẻ bề ngoài; thuật ngữ này đã có thể được tìm thấy trong các cuộc đối thoại Cratylus và Parmenides của Plato, nơi nó thường được dịch là ‘ý niệm’; đối với Aristotle, nó trái ngược với ὕλη hýlē vật chất; trong hiện tượng học của Edmund Husserl, thuật ngữ này đại diện cho bản chất; đối với Aristotle, eidos có hai nghĩa chính: theo nghĩa phân loại logic hoặc khoa học, là loại của một chi theo nghĩa hình thức, chẳng hạn như một quả cầu bằng đồng hoặc hướng dẫn xây dựng một ngôi nhà, đối lập với vật chất, là bản chất, là hýlē của quả cầu bằng đồng này, của các thành phần xây dựng của ngôi nhà này; Eidos là một khái niệm trung tâm đối với Aristotle; trong tác phẩm Siêu hình học của mình, ông định nghĩa eidos là τὸ εἶδος τὸ ἐνόν to eidos to enon ‘hình thức nội tại’ của bản chất sơ cấp hay ουσία ousia (Met. VII 11, 1037a 29-30); hình thức và vật chất là hai quan điểm về một σύνολον synolon tổng thể; không có vật thể riêng lẻ nào tồn tại mà không có vật chất; nhưng nó không thể được định nghĩa nếu không có hình thức, cái phổ quát bên trong; Frede/G. Patzig: Aristoteles Metaphysik Z, Text, Übers. und Kommentar, 2 Bde., München 1988, hier Bd. II, S. 211–214. HHN] hoặc của hiện hữu. Chân lý có vẻ bất khả trừ khi người ta có được sự tự chủ tuyệt đối trong tư duy chủ động, nếu không, nó sẽ không thể diễn ra trong một chuỗi các thao tác liên tiếp và tạo ra một kết quả có giá trị vĩnh viễn.
Sẽ không có cả tư tưởng lẫn chân lý nếu không có một hành động mà nhờ đó tôi chế ngự được sự phân tán về mặt thời gian của các giai đoạn tư duy, và sự tồn tại de facto thực tế đơn thuần của các sự kiện tinh thần của tôi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu đầy đủ bản chất của hành động này. Sự cần thiết về bằng chứng không phải là sự cần thiết phân tích: cấu trúc cho phép đạt được kết luận không thực sự nằm trong bản chất của tam giác, mà chỉ có thể thực hiện được khi bản chất đó đóng vai trò là điểm khởi đầu [tr.448]. Không có định nghĩa nào về tam giác bao gồm trước các thuộc tính sẽ được chứng minh sau đó và các bước trung gian dẫn đến chứng minh đó. Kéo dài một cạnh, vẽ một đường thẳng song song với cạnh đối diện qua đỉnh, giới thiệu định lý liên quan đến các đường thẳng song song và cát tuyến của chúng, những bước này chỉ có thể thực hiện được nếu tôi xem xét chính tam giác như nó được vẽ trên giấy, trên bảng đen hoặc trong trí tưởng tượng, với physiognomy tướng diện học của nó, sự sắp xếp cụ thể của các đường thẳng, nói tóm lại là Gestalt hình thái của nó. Phải chăng chính xác đây là bản chất hay ý tưởng về một tam giác? Ngay từ đầu, chúng ta hãy bác bỏ bất kỳ ý tưởng nào về bản chất hình thức của tam giác. Cho dù người ta có ý kiến gì về những nỗ lực hình thức hóa, thì trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng chúng không thể cung cấp một logic sáng tạo, và không có định nghĩa logic nào về một tam giác có thể sánh được về tính phong phú với tầm nhìn về hình học, hoặc cho phép chúng ta đạt được, thông qua một loạt các thao tác hình thức, những kết luận chưa được thiết lập bằng trợ giúp trực giác. Có lẽ sẽ có người phản đối rằng điều này chỉ đề cập đến các khía cạnh tâm lý của sự khám phá, sao cho nếu sau sự kiện người ta có thể thiết lập được mối liên hệ giữa giả thuyết và kết luận mà không dựa vào trực giác, thì đó là vì trực giác không phải là trung gian tất yếu của tư duy và không có chỗ đứng trong logic. Nhưng thực tế là quá trình hình thức hóa luôn mang tính hồi tưởng chứng tỏ rằng nó không bao giờ thực sự hoàn chỉnh, và tư duy hình thức nuôi dưỡng tư duy trực giác. Nó bộc lộ những tiên đề chưa được hình thành mà người ta cho rằng lý trí dựa vào, và dường như mang lại cho lý trí một sự chặt chẽ nhất định và khám phá ra nền tảng tính chắc chắn của chúng ta; nhưng trên thực tế, nơi mà tính chắc chắn nảy sinh và nơi mà một chân lý xuất hiện luôn là tư duy trực giác, mặc dù, hay đúng hơn là chính vì, các nguyên tắc được ngầm giả định ở đó. Sẽ không có kinh nghiệm về chân lý, và không gì có thể dập tắt ‘hoạt ngôn tinh thần’ của chúng ta nếu chúng ta vi formae suy nghĩ bằng sức mạnh của hình thức, và nếu các mối quan hệ hình thức không được trình hiện cho chúng ta trước tiên dưới dạng kết tinh trong một sự vật cụ thể nào đó. Thậ chí chúng ta sẽ không thể đưa ra được một giả thuyết để suy luận các hệ quả, nếu trước hết chúng ta không coi nó là đúng. Giả thuyết là điều được cho là đúng, do đó tư duy giả thuyết giả định một số kinh nghiệm về chân lý de facto thực tế. Vậy là cấu trúc này liên quan đến cấu hình của tam giác, đến cách nó chiếm không gian, đến các mối quan hệ được thể hiện bởi các từ ‘trên’, ‘bên cạnh’, ‘đỉnh’ và ‘mở rộng’. Liệu những mối quan hệ này có cấu thành một loại bản chất vật chất của tam giác không? Nếu các từ [tr.449] ‘trên’, ‘xuyên qua’, v.v., vẫn giữ được bất kỳ ý nghĩa nào, thì đó là nhờ tôi đang làm việc trên một tam giác hữu hình hoặc tưởng tượng, nghĩa là, một tam giác ít nhất có tiềm năng nằm trong trường tri giác của tôi, được xác định theo các hướng ‘trên’ và ‘dưới’, ‘phải’ và ‘trái’, hoặc một lần nữa, như chúng ta đã chỉ ra trước đó, được ngụ ý trong sự nắm bắt chung của tôi về thế giới. Cấu trúc này làm rõ các khả tính của tam giác, được xem xét không phải dưới ánh sáng của định nghĩa, như một ý niệm thuần túy, mà như một cấu hình và với tư cách là cực mà các chuyển động của tôi hướng tới. Kết luận tất yếu xuất phát từ giả thuyết bởi vì, trong hành động xây dựng, nhà hình học đã trải nghiệm khả năng chuyển đổi. Chúng ta hãy thử mô tả hành động này rõ hơn. Chúng ta đã thấy rằng điều xảy ra rõ ràng không phải là một thao tác hoàn toàn bằng tay, sự chuyển động thực tế của bàn tay và cây bút trên giấy, bởi vì trong trường hợp đó sẽ không có sự khác biệt giữa một cấu trúc và bất kỳ tập hợp nét vẽ tùy ý nào, và sẽ không có sự chứng minh nào. Cấu trúc là một cử chỉ, có nghĩa là các nét vẽ thực tế là biểu hiện bên ngoài của một ý hướng. Nhưng ý hướng đó là gì? Tôi ‘xem xét’ hình tam giác, đối với tôi đó là một tập hợp các đường thẳng có một hướng nhất định, và nếu các từ như ‘góc’ hay ‘hướng’ có bất cứ ý nghĩa gì đối với tôi, thì đó là ở chỗ tôi đặt mình ở một điểm, và từ đó hướng tới một điểm khác, ở chỗ hệ thống các vị trí không gian cung cấp cho tôi một trường chuyển động khả thể. Như vậy, tôi nắm bắt được bản chất cụ thể của hình tam giác, không phải là một tập hợp các ‘đặc điểm’ khách quan, mà là công thức của một thái độ, một phương thức nhất định về sự nắm giữ thế giới của tôi, tóm lại là một cấu trúc. Khi tạo dựng, tôi gắn cấu trúc đầu tiên với cấu trúc thứ hai, cấu trúc ‘song song và cát tuyến’. Làm sao điều đó có thể xảy ra? Đó là bởi vì tri giác của tôi về hình tam giác không phải là cố định và chết cứng, bởi vì hình vẽ tam giác trên giấy chỉ là lớp vỏ bên ngoài của nó; nó được xuyên suốt bởi các đường sức, [lines of force là các đường cong tưởng tượng được vẽ trong không gian để minh họa hình ảnh trực quan về hướng và độ mạnh của trường lực - điện trường hoặc từ trường - tại bất kỳ điểm nào; chúng cho biết lực tác dụng lên một điện tích hoặc nam châm thử đặt trong trường - HHN] và ở khắp mọi nơi trong đó, những hướng đi mới chưa được vạch ra nhưng đã được hé lộ là khả thể. Trong chừng mực mà hình tam giác liên quan đến sự nắm giữ thế giới của tôi, nó tràn đầy những khả tính vô định mà cấu trúc thực sự được vẽ chỉ là một trong số đó. Cấu trúc này có giá trị minh chứng bởi vì tôi khiến nó xuất hiện từ công thức năng động của hình tam giác. Nó thể hiện sức mạnh của tôi để làm rõ các biểu tượng hữu hình của một sự nắm giữ nhất định đối với mọi thứ, đó là tri giác của tôi về cấu trúc của hình tam giác. Đó là một hành động của trí tưởng tượng sáng tạo chứ không phải là sự trở lại với ý tưởng vĩnh cửu [tr.450] về hình tam giác. Hệt như việc định vị các vật thể trong không gian, theo Kant, không chỉ đơn thuần là một thao tác tinh thần, mà còn là một thao tác sử dụng khả tính vận động của cơ thể,23 chuyển động tạo ra cảm giác tại điểm cụ thể trên quỹ đạo của nó, thì nhà hình học, nói chung là kẻ nghiên cứu các quy luật khách quan về vị trí, chỉ biết được các mối quan hệ mà gã quan tâm bằng cách mô tả chúng, ít nhất là về mặt tiềm năng, bằng cơ thể của mình. Chủ thể của hình học là một chủ thể vận động. Điều này có nghĩa là trước hết, cơ thể chúng ta không phải là một vật thể, cũng không phải chuyển động của nó chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian khách quan, nếu không thì vấn đề sẽ chỉ bị chuyển đổi, và chuyển động của chính cơ thể mình sẽ không làm sáng tỏ vấn đề về vị trí của sự vật, vì bản thân nó sẽ không là gì khác ngoài một vật thể. Như Kant thừa nhận, phải có một ‘chuyển động tạo ra không gian’24 đó là chuyển động có ý hướng của chúng ta, khác với ‘chuyển động trong không gian’, đó là chuyển động của sự vật và của cơ thể thụ động của chúng ta. Nhưng còn nhiều điều cần nói thêm: nếu chuyển động tạo ra không gian, chúng ta phải loại trừ khả tính mà sự vận động của cơ thể chỉ là một ‘công cụ’25 cho ý thức cấu thành. Nếu có một ý thức cấu thành, thì chuyển động của cơ thể chỉ là chuyển động khi ý thức đó nghĩ về nó xét theo khía cạnh đó;26 sức mạnh kiến tạo chỉ tái khám phá trong nó những gì nó đã đặt vào đó, và cơ thể thậm chí không phải là một công cụ theo nghĩa này: nó là một vật thể giữa các vật thể. Không có tâm lý học nào trong triết học về ý thức cấu thành. Hoặc ít nhất là không thể có điều gì hợp lệ để một tâm lý học như vậy lên tiếng, vì nó không thể làm gì khác ngoài việc áp dụng kết quả của sự phản tư phân tích vào từng nội dung cụ thể, đồng thời bóp méo chúng, vì nó tước đoạt ý nghĩa siêu nghiệm của chúng. Chuyển động của cơ thể chỉ có thể đóng một vai trò trong tri giác về thế giới nếu bản thân nó là một ý hướng tính nguyên gốc, một cách thức liên hệ chính nó với đối tượng tri thức riêng biệt. Thế giới xung quanh chúng ta không phải là một hệ thống các đối tượng mà chúng ta tổng hợp, mà là một tổng thể các sự vật, mở ra cho chúng ta, mà chúng ta tự phóng chiếu bản thân mình tới đó. “Chuyển động tạo ra [tr.451] không gian’ không triển khai quỹ đạo từ một điểm siêu hình nào đó không có vị trí trong thế giới thực, mà từ một nơi nào đó ở đây đến một nơi nào đó ở xa, những nơi này nhất thiết phải hoán đổi cho nhau. Cái dự phóng hướng tới chuyển động là một hành động, có nghĩa là nó vạch ra khoảng cách không gian-thời gian bằng cách thực sự bao phủ nó. Do đó, tư duy của nhà hình học, trong chừng mực nó nhất thiết được duy trì bởi hành động này, không trùng khớp với chính nó: nó hoàn toàn và đơn giản là siêu việt. Trong chừng mực mà, bằng cách thêm một kết cấu, tôi có thể làm sáng tỏ các thuộc tính của một tam giác, và vẫn thấy rằng hình được biến đổi như vậy không ngừng là hình ban đầu, và hơn nữa, trong chừng mực mà tôi có thể thực hiện một sự tổng hợp vẫn giữ được đặc tính tất yếu, điều này không phải vì cái kết cấu của tôi được nâng đỡ bởi một khái niệm về tam giác bao gồm tất cả các thuộc tính của nó, hoặc vì, bắt đầu từ ý thức tri giác, tôi đạt đến cái eidos thị kiến: đó là vì tôi thực hiện sự tổng hợp thuộc tính mới bằng cơ thể của mình, điều này ngay lập tức đưa tôi vào không gian, trong khi chuyển động tự chủ của nó cho phép tôi, thông qua một loạt quy trình nhất định, một lần nữa đạt đến một cái nhìn toàn diện về không gian. Tư duy hình học không hề vượt lên trên ý thức tri giác, nhưng chính từ thế giới tri giác mà tôi mượn được khái niệm bản chất. Tôi tin rằng tam giác luôn luôn đã có, và luôn luôn sẽ có, các góc có tổng bằng hai góc vuông, cũng như tất cả các thuộc tính ít rõ ràng hơn mà hình học gán cho nó, bởi vì tôi đã có trải nghiệm về một tam giác thực sự, và bởi vì, với tư cách là một vật thể vật lý, nó nhất thiết phải chứa đựng trong mình tất cả những gì nó đã từng có khả năng, hoặc sẽ có khả năng thể hiện. Trừ khi vật thể được tri giác đã mãi mãi gieo vào ta khái niệm lý tưởng về một hiện hữu đó chính là nó, thì sẽ không có hiện tượng hiện hữu, và tư duy toán học sẽ xuất hiện như một sự sáng tạo đơn thuần. Thứ mà tôi gọi là bản chất của tam giác không gì khác ngoài giả định về một sự tổng hợp hoàn chỉnh, mà chúng ta đã định nghĩa sự vật theo khuôn khổ của nó.
Cơ thể chúng ta, ở mức độ nó tự vận động, tức là ở mức độ nó không thể tách rời khỏi quan điểm về thế giới và chính là quan điểm đó được hiện thực hóa, là điều kiện của khả tính, không chỉ của sự tổng hợp hình học, mà còn của tất cả các vận hành biểu đạt và tất cả các quan điểm thu được cấu thành nên thế giới văn hóa. Khi chúng ta nói rằng tư tưởng là tự phát, điều này không có nghĩa là nó trùng khớp với chính nó; [tr.452] ngược lại, điều đó có nghĩa là nó vượt lên chính nó, và ngôn ngữ chính là hành động mà qua đó nó bất tử hóa chính nó như là chân lý. Thật vậy, rõ ràng ngôn ngữ không thể được coi là một lớp vỏ bọc cho tư tưởng, hoặc biểu đạt như là cách phiên dịch thành một hệ thống ký hiệu võ đoán, của một ý nghĩa đã rõ ràng đối với chính nó. Người ta nói đi nói lại rằng âm thanh và âm vị không có ý nghĩa tự thân, và tất cả những gì ý thức của chúng ta có thể tìm thấy trong ngôn ngữ là những gì nó đã đặt vào đó. Nhưng từ đó sẽ suy ra rằng ngôn ngữ không thể dạy chúng ta điều gì, và cùng lắm nó chỉ có thể khơi gợi trong chúng ta các cách kết hợp mới của những ý nghĩa mà chúng ta đã có. Nhưng đây chính là điều mà kinh nghiệm về ngôn ngữ bác bỏ. Đúng là giao tiếp giả định một hệ thống tương ứng như từ điển cung cấp, nhưng nó còn vượt xa hơn thế, và điều mang lại ý nghĩa cho mỗi từ chính là câu. Chính vì được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau mà từ ngữ dần dần tích lũy một ý nghĩa không thể xác định một cách tuyệt đối. Một câu nói sâu sắc hay một cuốn sách hay áp đặt ý nghĩa của chúng lên chúng ta. Do đó, chúng mang ý nghĩa đó trong mình theo một cách nào đó. Còn đối với chủ thể nói, gã cũng phải có khả năng vượt qua những gì mình đã nghĩ trước đó, và tìm thấy trong chính lời nói của mình nhiều suy tư hơn những gì mà gã đã gửi gắm vào đó, nếu không chúng ta sẽ không thấy suy tư, ngay cả những suy tư đơn độc, tìm cách thể hiện với đức kiên trì đến vậy. Do đó, lời nói là một hoạt động nghịch lý mà qua đó, bằng cách sử dụng các từ có nghĩa nhất định và những nghĩa đã có sẵn, chúng ta cố gắng theo đuổi một ý định nhất thiết phải vượt qua, sửa đổi, và cuối cùng, tự nó ổn định ý nghĩa của các từ phiên dịch ý nghĩa đó. Ngôn ngữ được cấu thành đóng vai trò hạn chế tương tự trong công cuộc biểu đạt như màu sắc trong hội họa: nếu chúng ta không có mắt, hay nói chung là các giác quan, thì sẽ không có hội họa nào cả, nhưng bức tranh ‘nói’ với chúng ta nhiều hơn việc chỉ sử dụng các giác quan có thể làm được. Do đó, bức tranh, vượt qua và vượt lên trên dữ liệu giác quan, lời nói, dữ liệu ngôn ngữ, tự bản thân nó phải sở hữu một giá trị biểu nghĩa, độc lập của bất kỳ ý nghĩa nào tồn tại cho chính nó, trong tâm trí của người xem hoặc kẻ nghe. “Bằng cách sử dụng từ ngữ như họa sĩ sử dụng màu sắc và nhạc sĩ sử dụng nốt nhạc, chúng ta đang cố gắng cấu thành, từ một cảnh tượng, một cảm xúc, hoặc thậm chí một ý tưởng trừu tượng, một loại tương đương hoặc specie loại hình có thể hòa tan trong tâm trí. Ở đây, biểu đạt trở thành điều chính yếu. Chúng ta nhào nặn và làm sống động người đọc, chúng ta khiến họ tham gia vào thế giới thi ca, sáng tạo của chúng ta, đặt vào khuôn miệng ẩn giấu trong tâm trí họ [tr.453] thông điệp về một đối tượng hoặc một cảm xúc nhất định.”27 Bên trong họa sĩ hoặc chủ thể nói, bức tranh và lời nói tương ứng không minh họa một suy tư có sẵn, mà biến suy tư đó thành của riêng họ. Đây là lý do tại sao chúng ta được dẫn dắt để phân biệt giữa một lời nói thứ cấp, diễn đạt lại một tư tưởng đã được tiếp thu, và một lời nói khởi nguồn, đưa tư tưởng đó vào tồn tại, trước hết là cho chính chúng ta, và sau đó là cho những kẻ khác. Giờ đây, tất cả những từ ngữ đã trở thành những dấu hiệu đơn thuần cho một tư tưởng duy nhất chỉ có thể làm được điều đó bởi vì trước hết chúng đã đóng vai trò là những từ ngữ khởi nguồn, và chúng ta vẫn còn nhớ được tính phong nhiêu mà chúng ta cảm nhận được, và chúng giống như một phong cảnh mới mẻ đối với chúng ta, trong khi chúng ta đang tham gia vào việc ‘tiếp thu’ chúng, và trong khi chúng vẫn còn thực hiện chức năng biểu đạt nguyên thủy. Do đó, tự chủ và sự trùng hợp với tự ngã không dùng để định nghĩa tư tưởng, trái lại, tư tưởng là kết quả của biểu đạt và luôn luôn là một ảo ảnh, bởi vì tính minh bạch của những gì được tiếp thu dựa trên hoạt động mơ hồ cơ bản đã cho phép chúng ta bất tử hóa trong chính mình một khoảnh khắc của cuộc sống thoáng qua. Chúng ta được mời gọi để nhận ra bên dưới lối tư duy đắm chìm trong những thành tựu đã đạt được, và chỉ mang lại một chỗ nghỉ ngơi ngắn ngủi trong quá trình biểu đạt bất tận, một lối tư duy khác đang tranh đấu để tự khẳng định mình, và chỉ thành công bằng cách uốn nắn các nguồn lực của ngôn ngữ đã thành tạo để sử dụng theo một cách mới mẻ nào đó. Cách vận hành này phải được coi là một thực tế tối thượng, bởi vì bất kỳ lời giải thích nào về nó—cho dù là theo chủ nghĩa kinh nghiệm, bằng cách quy giản những ý nghĩa mới thành những ý nghĩa đã cho; hay theo chủ nghĩa duy tâm, giả định một tri thức tuyệt đối tiềm ẩn trong những hình thái tri thức sơ khai nhất—đều sẽ tương đương với việc phủ nhận nó.
_______________________________________
(Còn nữa…)
Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.
Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.
Notes
17 Scheler, Idole der Selbsterkenntis, pp. 63 and ff.
18 Scheler, Idole der Selbsterkenntis, pp. 89–95.
19 J. P. Sartre, L’Imaginaire, p. 243.
20 "....In which case, that too, that cynical distaste at her own persona, was deliberately put on! And that scorn for the distaste which she was busy contriving, was so much playacting too! And her doubt about her scorn...it was maddening. Once you started being sincere, was there no end to it?" S. de Beauvoir, L’Invitée, p. 232.
21 Wertheimer, Drei Abhandlungen zur Gestalttheorie: die Schluszprozesse im produktiven Denken.
22 A. Gurwitsch, Quelques aspects et quelques développements de la théorie de la Forme, p. 460.
23 P. Lachièze-Rey, Utilisation possible du schématisme kantien pour une théorie de la perception and Réflexions sur l’activité spirituelle constituante.
24 Lachièze-Rey, Réflexions sur
l’activité spirituelle constituante, p. 132.
25 Lachièze-Rey, Utilisation possible….., p. 7.
26 ‘It must disclose intrinsically the immanence of a spatial trajectory, which alone can enable it to be thought of as motion’. Lachièze-Rey, ibid., p. 6.
27 Claudel, Réflexions sur le vers
français, Positions et propositions, pp. 11–12.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét