Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

Viên sứ thần cuối cùng của Phù Nam đến Trung Quốc dưới thời Lương (539)



Viên sứ thần cuối cùng của Phù Nam đến Trung Quốc dưới thời Lương (539)

Paul Pelliot

Người dịch: Hà Hữu Nga


Trong một bài trước (Bulletin III, Le Fou-nan, 257, 271, 284, 294), tôi viết rằng thư tịch Trung Quốc cho chúng ta biết Phật giáo được thành lập ở Phù Nam từ cuối thế kỷ thứ năm (1). Tôi đã trích dẫn một đoạn sau đây trong Lương thư (k 54, trang 4 ..): “Vào năm Đại Đồng thứ năm (539 SCN-C), ông ta (vua Fu-nan) thậm chí còn gửi một sứ bộ sang cống tê giác sống, và nói rằng đất nước ôngmột sợi tóc của Đức Phật dài một trượng hai tấc. Hoàng đế đã phái sa môn 雲寶 Thích Vân Bảo đi sứ để lấy Phật tích đó”.

Hoặc toàn bộ đoạn Lương thư về Phù Nam được sao chép k. 78 của Nam sử (tr. 2 và ss). Từ hai bộ sử đó tôi đề xuât một vài biến thể; Tuy nhiên tôi đã bỏ qua một vấn đề cụ thể: ai là vị sư đã được hoàng đế nhà Lương cử đi sứ Phù Nam: thay cho 雲寶 Vân Bảo, Nam sử lại viết là Đàm Bảo 曇寶 (2). Theo lối diễn dịch, có lẽ Vân Bảo, “Ngọc Vân” Megharatna [मेघरत्] * ít có khả năng hơn so với 曇寶 Đàm Bảo hoặc “Phan” thường để dịch từ dharma - pháp, mà tên đầy đủ Dharmaratna [धर्मरत]**. Sách Phật Tổ Thống kỉ 佛祖統 biên soạn ngay trước năm 1269, trích dẫn cùng một sự kiện với cùng niên đại (3); chỉ ghi duy nhất một nhà sư không phải tên 雲寶 Vân Bảo, hoặc 曇寶 Đàm Bảo, mà là 寶雲 Bảo Vân. Trong số các thư tịch trên, thật khó mà chọn theo cái nào. Tôi cho rằng ở đây, tác giả Phật Tổ thống kỉ đã sử dụng Lương thư và ông đã viết 寶雲 Bảo Vân thay vì 雲寶 Vân Bảo, hoặc ông đã lẫn với nhà sư 寶雲 Bảo Vân cùng thời Pháp Hiển, rất nổi danh (4) hoặc chỉ đơn giản là cách ghép tên 寶雲 Bảo Vân rất thông dụng trong hệ thống thuật ngữ tôn giáo (5); ngược lại, bản Lương thư có vẻ như ít có khả năng hơn là Nam sử, tôi lại thiên về cái tên chỉ hàng giáo phẩm mới 曇寶 Đàm Bảo [Dharmaratna धर्मरत** [Đức hạnh], chính là người đã đến Phù Nam vào năm 539 để tìm kiếm tóc Phật.     

Kể từ sau năm 539cho đến năm 556, Lương thư không đề cập đến quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Phù Nam. Tuy nhiên Phật Tổ thống kỉ, ít nhất là theo bản tiếng Nhật (k 37, tr 60) lại cung cấp các thông tin vào năm 540 như sau: “Vua Phù Nam cử một sứ thần đến Triều đình để triều cống, gồm tượng Đức Phật và các kinh bổn,…”. Nhưng thật không may, đặc việt là bản tiếng Nhật lại mắc lỗi hoặc do người soạn Phật Tổ thống kỉ, chắc chắn rằng cái tên Phù Nam trong đoạn văn này được đề cập ở các dòng trước đó vào năm 539, còn ở đây chúng ta lại thấy là Hà Nam.

Hà Nam vương là một hoàng tử 鮮卑 gốc Tiên Ty tổ tiên đã tách ra khỏi một công quốc ở phía tây nam 涼州 Lương Châu thuộc tỉnh 甘肅 Cam Túc. Thực ra ở Lương thư (k. 3, p. 8) ta thấy năm 540 Hà Nam vương dâng cống ngựa cùng các sản vật của xứ này, trong Nam sử (k. 7, p. 5) có đề cập đến điều đó, cũng như trong Phật Tổ thống kỉ, có đòi hỏi Kinh Phật hàng loạt các cống phẩm tương tự đã được đưa đến, chính kết quả của yêu cầu này.

Viên sứ thần Phù Nam cuối cùng được biết phái đến Lương triều vào năm 539. Hoặc là cuộc đời  của परमार्थ*** Paramàrtha (6) Chân Đế, như đã kể續高僧傳 Tục Cao Tăng truyện (1, 88), rằng - ông đến Trung Quốc theo yêu cầu của một sứ mệnh gồm có Trương Phiếm và những người khác, thời gian Lương Vũ đế đang cải tổ đất nước mình (niên hiệu Đại Đồng 大同 (535-546), một sứ thần của Phù Nam, người sau này đã đến Magadha tìm kiếm kinh điển và các học giả Phật giáo. Chân Đế đến Quảng Châu năm 546. Sau đó hình như sứ bộ Trương Phiếm đã đi Phù Nam và từ đó hành hương đến Ấn Độ cùng với nhà sư 曇寶 Đàm Bảo, hoặc 雲寶 Vân Bảo, khi Vân Bảo thừa lệnh của hoàng đế, đến Phù Nam để tìm lấy tóc Phật.
________________________________________

Nguồn: Paul Pelliot 1903. La dernière ambassade du Fou-nan en Chine sous les Leang (539), Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. Tome 3, 1903. pp. 671-672

Tác giả: Paul Pelliot (1878 – 1945) là nhà Hán học nổi tiếng người Pháp, học trò của Sylvain Lévi và Édouard Chavannes. Ông làm việc tại Viện Viễn đông Bác cổ - École Frnaҫaise d’Extrême Orient tại Hà Nội, và năm 1900 ông đã được gửi đi Bắc Kinh tìm kiếm sách cho thư viện của Viện. Thời gian ở Bắc Kinh ông đã bị bắt giữ trong Phong trào 義和團 Nghĩa Hòa Đoàn, và bị kẹt trong thời gian phong tỏa các tòa công sứ ngoại quốc.  Pelliot đã thực hiện hai vụ đột phá lãnh thổ đối phương trong thời gian bị phong tỏa. Vì hành động dũng cảm đó, ông đã được thưởng huân chương cao quý nhất Bắc đẩu Bội tinh của Cộng hòa Pháp. Năm 22 tuổi ông trở về Hà Nội và nhận ghế giáo sư Hán học tại Viện, sau đó trở thành giáo sư Hán học tại Collège de France, là nơi tập trung những học giả lỗi lạc và danh giá nhất của nước Pháp.

Chú thích:

*, **, ***: Người dịch chú

(1) C'est par une erreur de composition que la note qui doit être jointe à la p. 294 est imprimée  comme note 2 de lap. 293.

(2) Le texte du Nan che est cité par M. De Grootdans son article de Y Album Kern, lets over Boeddhistische relieken en reliektorens in China, p. 132.

(3) Tripitaka japonais, ix, 60 v°.

(4) Cf. Nanjio, Catalogue, Appendice 11, n° 77.

(5) Il y a dans le Tripitaka un 寶雲經 Pao yun king, Ratnameghasutra;  cf. Nanjio, Catalogue, n°  152.

(6) Il sera longuement question de Paramàrtha dans un travail de M. Takakusu sur la Sàmkhyakàrikâ; ce travail est sous presse et paraîtra dans le Bulletin.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét