Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

"Cái xã hội” trong Lý thuyết Khảo cổ học: Viễn cảnh Lịch sử và Đương đại



"Cái xã hội” trong Lý thuyết Khảo cổ học: Viễn cảnh Lịch sử và Đương đại

Ian Hodder

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tầm quan trọng nhất của cái xã hội trong lý thuyết khảo cổ học đã xuất hiện trong thập kỷ gần đây. Qua thế kỷ XX như một toàn bộ có thể xác định được một sự thay đổi tổng thể từ "cái văn hóa cho đến "cái xã hội trong các cuộc thảo luận lý thuyết về khảo cổ học. Đây là một yêu cầu lớn và có rất nhiều trường hợp ngoại lệ và những thăng trầm, nhưng trong chương này, tôi hy vọng có thể chứng minh được sự thay đổi và giải thích tầm quan trọng của nó.

Viễn cảnh Lịch sử

Lâu nay người ta đã thừa nhận rằng khảo cổ học cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ở châu Âu và Bắc Mỹ chủ yếu liên quan đến việc xây dựng tài liệu về các chuỗi và văn hóa-lịch sửảnh hưởng của nó. Tại Hoa Kỳ những mối quan tâm này đã được gắn chặt với cách thức mà nhân học văn hóa với tư cách là một tổng thể phát triển thông qua trường phái Boas và việc hệ thống hóa phương pháp tiếp cận bốn lĩnh vực. Ở Anh và châu Âu, mối quan tâm tới định nghĩa văn hóa phát triển vượt khỏi các liên kết chặt chẽ hơn giữa khảo cổ học, lịch sử và thế giới Hy - La. Sau đó những thay đổi về định nghĩa văn hóa và xã hội trong khảo cổ học cũng đã diễn ra hoặc phản ứng với những thay đổi trong nhân học và các ngành liên quan. Tuy nhiên, ở đây, mối quan tâm của tôi lại tập trung vào tác động của những thay đổi này trong khảo cổ học.

Lâu nay khái niệm văn hóa, đã được lý thuyết hóa bởi Childe và những người khác, thì chủ yếu quan tâm đến những đặc điểm chung mà thôi. Những đặc điểm chung mang tính khuôn sáo này   các phong cách đồ gốm và các kiểu loại hiện vật, xương cốt, nhưng đối với nhiều tác giả thì chúng còn bao gồm các đặc tính xã hội nữa. Do đó, cái xã hội được coi là một phần của cái văn hóa. Đối với Walter Taylor (1948: 103) chủ đề của khảo cổ học văn hóa, trong lý thuyết của mình, các khía cạnh xã hội của văn hóa là những đặc điểm chung có liên quan. Nhưng có rất ít sự quan tâm cụ thể đối với tự thân cái xã hội; trung tâm điểm vẫn là văn hóa. Một khái niệm bộ phận của văn hóa, trong đó cái xã hội là một tập con của tổng thể văn hóa, có lẽ đã được xác định một cách rõ ràng nhất trong lời đáp của Hawkes (1954) với Taylor. Hawkes, trong phần thể hiện lý thuyết “bậc thang suy luậnnổi tiếng của mình, đã cho rằng để đạt được sự hiểu biết về các nền văn hóa trong quá khứ thì tương đối dễ dàng bằng cách suy luận các kỹ thuật từ các hiện tượng khảo cổ học. Trên bậc thang tiếp theo, có thể suy ra các nền kinh tế sinh nhai. Công việc khó hơn đó suy luận về các thể chế chính trị, xã hội của nhóm, và khó khăn hơn cả, ở nấc thang trên cùng, suy luận về các thể chế tôn giáo và đời sống tinh thần. Đối với Hawkes, nấc thang xã hội liên quan đến các mô hình định cư phân tích có liên quan để xem liệu có thể xác định được các lều trại đặc biệt, chủ chốt, lớn hơn hay không. còn liên quan đến các dữ liệu mộ táng để xem liệu có thể quan sát được sự phân cấp thứ bậc xã hội hay không (Hawkes 1954: 161-162).

Còn đối với Grahame Clark thì xã hội cũng là một tập con của văn hóa nói chung. Là một nhà tiền sử, ông định giá thông tin từ nhân học xã hội để hỗ trợ cho việc diễn giải các nền văn hóa sớm. Trong tập sách Khảo cổ học và Xã hội (1939 [1957]), ông xem văn hóa là một cấu phần hệt như giao thông, công nghệ, thương mại, và tôn giáo, riêng tổ chức xã hội thì không (1939 [1957]: 175). Các đơn vị xã hội các nhóm chính thông qua văn hóa nhờ văn hóa mà có được các đặc điểm chung và được truyền từ thế hệ này cho thế hệ khác(ibid. 169). Clark chắc chắn cũng coi tổ chức xã hội đóng vai trò trung tâm trong hệ thống văn hóa vì vị trí của nó trong việc chuyển tải văn hóa. Ông còn thảo luận về nhân khẩu học, thương mại, chuyên môn hoá sản xuất, và sự phân hóa xã hội với tư cách là các bộ phận quan trọng trong việc diễn giải cái xã hội của khảo cổ học. Ngôn ngữ, văn tự, nghệ thuật, khoa học và pháp luật cũng được xem là không thể tách rời khỏi lĩnh vực xã hội. Dù sao, đối với Clark thì cái xã hội vẫn còn là một cấu phần của cái văn hóa, các mối liên kết của ông tại Cambridge với các nhà nhân chủng học xã hội có thể dẫn ông đến việc nhấn mạnh cái xã hội hơn là các đồng nghiệp Mỹ vốn chịu ảnh hưởng của truyền thống đối lập trong nhân học văn hóa.

Childe vẫn thường được coi là một trong những lý thuyết gia chính liên quan đến khái niệm văn hóa khảo cổ học (ví dụ, 1925). Tuy nhiên, các mối bận tâm Marxist của ông cũng đã dẫn ông đến mô tả (1960) sự tiến hóa của các xã hội theo các giai đoạn được xác định bởi các nhà lý thuyết xã hội và dân tộc học (như là lược đồ mông muội, man, văn minh của Morgan). Chính những khuynh hướng Marxist ấy cũng dẫn Childe đến việc thảo luận về các hoạt động nội bộ của các xã hội liên quan đến những diễn giải phức tạp về các mối quan hệ xã hội. Năm 1939, trong cuốn sách “Con người làm ra bản thân mình”, ông đã tìm hiểu cách thức phát triển văn hóa ở vùng Cận Đông trong mối liên quan mật thiết tới sự thích nghi với môi trường. Nhưng ông cũng thừa nhận rằng đó là các cơ chế xã hội cho phép thích ứng. Ông đã cho thấy cách thức lưu truyền thông tin về sự sống còn của con người thông qua các truyền thống xã hội. Ông coi ngôn ngữ như là một sản phẩm xã hội, với các nghĩa được sáng tạo thông qua sự đồng thuận của nhóm người. Ông coi các khám phá và phát minh công nghệ là thuộc lĩnh vực xã hội, gắn liền với sự xuất hiện của sản xuất chuyên môn hóa các quá trình tập trung của cải. Trong mô hình của ông, các cơ chế xã hội và ý thức hệ cũng có thể xuất hiện để làm chậm tiến bộ, và trong một công trình khác (ví dụ, Childe 1952) ông lập luận rằng phát triển văn hóa trở nên trì trệ ở vùng Cận Đông cổ đại so với châu Âu, vì sự khác biệt giữa các giới tinh hoa chuyên chế và mê tín ở phương Đông và, trong khi đó giới tinh hoa và các chuyên gia ở châu Âu thì lại độc lập và có đầu óc kinh doanh hơn. Nhưng cuối cùng, ngay cả đối với Childe, thì cái xã hội cũng chỉ là một hệ thống phụ trong một tổng thể văn hóa rộng lớn hơn. Vì vậy mà nó phụ thuộc vào các khía cạnh khác của cuộc sống, đặc biệt là kinh tế và môi trường. Vì vậy, ví dụ, trên các đồng bằng phù sa rộng lớn và vùng đất bằng phẳng ven sông thì nhu cầu mở rộng các công trình dân sinh để tưới tiêu cho đất và bảo vệ các khu định cư sẽ có xu hướng củng cố tổ chức xã hội và tập trung hóa hệ thống kinh tế(Childe 1939: 159 ).

Cũng còn một cảm giác khác, trong đó khảo cổ học đã có một chiều kích xã hội trong các giai đoạn văn hóa-lịch sử, truyền bá luận, và tiến hóa. Đối với nhiều người, khảo cổ học đã có một vai trò xã hội. Nhiều nhà khảo cổ học thế kỷ XIX và XX cảm thấy trách nhiệm xã hội trong việc xây dựng các viện bảo tàng cho công chúng rộng lớn hơn, cho dù thông điệp ấy được chủ trương trong các bảo tàng đó gia trưởng, chủ nghĩa dân tộc chủ nghĩa đế quốc. Một số đã xây dựng lý thuyết thật dài về trách nhiệm xã hội. Ở phần cuối công trình “Các phương pháp và Mục tiêu trong Khảo cổ học” xuất bản vào năm 1904, Flinders Petrie cho rằng công việc nghiên cứu quá khứ và khảo cổ học dẫn đến sự liên kết xã hội trách nhiệm của con người đối với con người(Flinders Petrie 1904: 193). Năm 1934, Grahame Clark thảo luận về các liên kết chính trị giữa khảo cổ học và nhà nước, còn Childe (1949) thì thảo luận việc tạo dựng xã hội về tri thức khảo cổ học. Quan điểm cho rằng cái xã hội là một phần của cái văn hóa vẫn được duy trì trong Khảo cổ học Mới, và trong Khảo cổ học Quá trình. Cái xã hội hiện nay thường được xác định là một hệ thống phụ trong một hệ thống tổng thể. Việc sử dụng thường xuyên thuật ngữ hệ thống văn hóa xã hộiđể mô tả hệ thống như một toàn thể có thể xác định một sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào cái xã hội trong khảo cổ học quá trình. Thật vậy, hầu hết người ta đã nhấn mạnh bằng cách sử dụng các thuật ngữ xã hội như nhóm, bộ lạc, lãnh địa hoặc nhà nước để mô tả các tập hợp khảo cổ học. Ngày nay người ta đã nhận ra một tiễn song hành trong số các nhà khảo cổ học quá trình, khi họ phân loại các xã hội trong khuôn khổ phức hợp xã hội (Johnson và Earle 1987). Nhưng trong thực tế trong hầu hết khảo cổ học quá trình vẫn duy trì trường hợp là hệ thống phụ xã hội vẫn còn phụ thuộc vào các phụ hệ thống môi trường, kinh tế và kỹ nghệ. Khoản nợ tri thức của khảo cổ học quá trình đối với phương pháp tiếp cận sinh thái và vật chất đảm bảo rằng các mối quan hệ xã hội được coi là phát sinh từ, hoặc dựa vào các lĩnh vực khác của cuộc sống.

Quan điểm bộ phận liên tục của văn hóa cái xã hội có thể thấy trong sự phân biệt của Binford  về các hiện vật kinh tế-kỹ thuật, xã hội-kỹ thuật, tư tưởng-kỹ thuật (Binford 1962). Một số hiện vật là một phần của phụ hệ thống xã hội nhưng những hiện vật khác thì lại không phải. Đối với David Clarke cũng vậy, cái xã hội là một tập con của tổng thể “hệ thống văn hóa - xã hội”. “Phụ hệ thống xã hội mạng lưới phân cấp các mối quan hệ cá nhân suy luận, trong đó có quan hệ họ hàng vị thế xếp hạng(1968: 102). Công trình của ông về Di chỉ thời đồ sắt  Glastonbury nhằm cố gắng suy ra tổ chức quan hệ thân thuộc từ các dữ liệu định cư và phân bố văn hóa vật chất (1972). Tại Hoa Kỳ, một động thái song hành đã tìm kiếm hành vi cư trú sau hôn nhân từ các dữ liệu phân bố gốm trong các di chỉ (ví dụ, Longacre 1970). Mặc dù những nỗ lực ban đầu “trong vai nhà dân tộc học trong quá khứ và suy ra quan hệ họ hàng thời tiền sử cuối cùng đã không thành công, nhưng đó vẫn là một phần của một nỗ lực to lớn và thành công của  các nhà khảo cổ quá trình trong việc sử dụng dữ liệu cư trú mai táng để suy luận về kích cỡ nhóm và phân hạng xã hội. Một ví dụ điển hình của một nhà khảo cổ học quá trình với cam kết mạnh mẽ đối với cái xã hội là Colin Renfrew. Ông biện hộ cho khả năng của các nhà khảo cổ học trong việc tái tạo lại các phụ hệ thống xã hội quá khứ trong bài giảng khai mạc của ông tại Đại học Southampton (Renfrew 1973). Sau đó, trong cuốn sách “Các cách tiếp cận Khảo cổ học Xã hội” của mình, ông nói rằng ông đã rất quan tâm đến việc “suy luận về tính chất xã hội từ các dữ liệu khảo cổ học(1984: 4). Giống như Clark trước kia, ông muốn xây dựng các liên minh với nhân học xã hội, ông định nghĩa khảo cổ học xã hội là việc tái cấu trúc các hệ thống xã hội các mối quan hệ trong quá khứ. Hầu hết các công trình của ông trong giai đoạn này đều liên quan đến việc cố gắng xác định mức độ phân cấp xã hội các hệ thống trao đổi giữa các tầng lớp tinh hoa và các nhóm xã hội. Ông cũng quan tâm đến các vấn đề về bản sắc và tộc thuộc trong quá khứ.

Trong một bài giảng tại lễ khai mạc sau đó, tại Đại học Cambridge (Renfrew 1982), ông biện hộ cho một sự thay đổi hơn nữa từ cái xã hội đến cái nhận thức. Để xác định một khảo cổ học nhận thức-quá trình (xem thêm Renfrew Zubrow 1994), người ta có thể cho rằng Renfrew đã coi cái nhận thức như là một cách thức nào đó có thể tách khỏi cái xã hội - người ta có thể tách riêng các quá trình nhận thức trong tâm trí khỏi bối cảnh xã hội của họ. Đây là một tuyên bố bị hầu hết lý thuyết xã hội khảo cổ học quá trình khước từ, như chúng ta sẽ thấy. Việc xác định về một khảo cổ học nhận thức quá trình một lần nữa cho thấy đối với Renfrew, “cái xã hội” trong lý thuyết khảo cổ học chỉ là một phụ hệ thống có thể được tách ra từ những lĩnh vực khác của cuộc sống, bao gồm cả cái nhận thức.
______________________________________

Nguồn: Ian Hodder 2007. The ‘‘Social’’ in Archaeological Theory: An Historical and Contemporary Perspective. Lynn Meskell and Robert W. Preucel Copyright © 2007 Blackwell Publishing Ltd.

Tác giả: Ian Hodder sinh năm 1949, tốt nghiệp cử nhân tại Đại học London năm 1971, nhận học vị tiến sĩ tại Đại học Cambridge năm 1975, trở thành giáo sư Đại học Cambridge từ năm 1977 ở tuổi 28.


Tài liệu dẫn

Binford, L. R. 1962. Archaeology as anthropology. American Antiquity28: 217–225.

Childe, V. G. 1925. The Dawn of European Civilization. London: Kegan Paul.

Childe, V. G. 1939. Man Makes Himself. New York: Oxford University Press.

Childe, V. G. 1949. Social Worlds of Knowledge. London: Oxford University Press.

Childe, V. G. 1952. New Light on the Most Ancient East. London: Routledge & Kegan Paul.

Childe, V. G. 1960. What Happened in History. London: Max Parrish.

Clark, G. 1934. Archaeology and the state. Antiquity8: 414–428.

Clark, G. 1957 [1939]. Archaeology and Society. 3rd edn. London: Methuen.

Clarke, D. 1968. Analytical Archaeology. London: Methuen.

Clarke, D. 1972. A provisional model of an Iron Age society and its settlement system. In D. Clarke (ed.), Models in Archaeology. London: Methuen.

Hawkes, C. F. C. 1954. Archaeological theory and method: Some suggestions from the Old World. American Anthropologist56: 155–168.

Longacre, W. 1970.Archaeology as Anthropology. Tucson: Anthropological Papers of the University of Arizona 17.

Petrie, W. M. F. 1904.Methods and Aims in Archaeology. London: Macmillan.

Renfrew, C. 1973. Social Archaeology. Southampton: University of Southampton.

Renfrew, C. 1982. Towards an Archaeology of Mind. Cambridge: Cambridge University Press.

Renfrew, C. 1984. Approaches to Social Archaeology. Edinburgh: Edinburgh University Press.

Renfrew, C., and E. Zubrow (eds.) 1994.The Ancient Mind: Elements of Cognitive Archaeology. Cambridge: Cambridge University Press.

Taylor, W. 1948. A Study of Archaeology. Carbondale: Southern Illinois University Press.

Taylor, W. 1996.Time, Culture and Identity. London: Routledge.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét