Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Nghiên cứu Trung Quốc - Indonesia (I)



Nghiên cứu Trung Quốc - Indonesia (I)

Louis-Charles  Damais

Người dịch: Hà Hữu Nga


I.  Một số tước vị của người Java trong sử liệu Nhà Tống

A. 司馬傑落佶  Ti Mã Kiệt Lạc Cát Liên

Trong số các thông tin thuộc nguồn sử liệu Trung Quốc liên quan đến thời nhà Tống, chúng ta thấy có đề cập đến các quan chức của đảo Java. Các mối quan hệ ban đầu có vẻ như bị thất lạc đáng tiếc là chúng tôi có được mẩu thông tin này từ hai phiên bản, cả hai đều bị cắt ngắn Pelliot cũng không dám lựa chọn phiên bản nào.

Một đoạn được tìm thấy trong 宋史 Tống sử文獻通考 Văn hiến Thông khảo của 馬端臨 Mã Đoan Lâm, cho ta biết: 以王子三人為副王。官有落佶連四人,共治國事,如中國宰相 (1). (dĩ vương tử tam nhân vi phó vương. Quan hữu lạc cát liên tứ nhân, cộng trị quốc sự, như trung quốc tể tướng). Lấy ba vị trong số vương tử làm phó vương. Quan thì có Lạc Cát liên bốn vị, cùng giải quyết các vấn đề quốc sự, như tể tướng Trung Quốc vậy.

Đoạn khác trong 諸蕃 志 Chư Phiên chí của 趙汝 Triệu Như Quát, viết 以王子三人為副王官有司馬傑,落佶連,共治國事,如中國宰相 (2) (dĩ vương tử tam nhân vi phó vương. Quan hữu ti mã kiệt, lạc cát liên, cộng trị quốc sự, như trung quốc tể tướng). Lấy ba vị trong số vương tử làm phó vương. Quan thì có Ti Mã Kiệt, Lạc Cát liên, cùng giải quyết các vấn đề quốc sự, như tể tướng Trung Quốc vậy. Chúng ta thấy rằng phiên bản đầu nói đến bốn Lạc Cát Liên, còn bản thứ hai lại nói đến ti mã kiệt, lạc cát liên, mà không xác định cụ thể các con số.

Pelliot đã phản bác cái lý lẽ phục dựng phóng túng của Schlegel, là người cho rằng các chữ 傑落佶kiệt lạc cát liên chính là một từ Mã Lai gọi là “kedëkaran - nguồn gốc từ một cái gọi là Dekar - mà ông gán nghĩa một cách vô căn cứ là “Hội đồng chiến binh(3). Pelliot nói thêm: Nhưng đây là một giả thuyết. Khi dùng từ 司馬 ti mã theo nghĩa phổ biến nhất của nó ở Trung Quốc, ông kết luận một cách đơn giản là: “Văn bản Chư Phiên chí vẻ cho rằng các quan chức đang được nói đến ở đây đều ti mã, nói chung…” (4). Mặc dù ông đã bị nhầm lẫn về giá trị của chữ d Malay, nhưng trong một ghi chú Pelliot cho biết rằng việc giải thích Rakryàn đã được nói tới, nhưng bị Schlegel từ chối cho trường hợp 落佶 lạc cát liên thể hợp lý, là hoàn toàn đúng sự thật (5).

Chúng ta vừa đề xuất xem trong trường hợp 落佶 lạc cát liên này việc phiên âm chính xác một loại hình khẩu ngữ của quá trình chuyển đổi *Rakэdryan mà sự tồn tại của nó cũng là cần thiết cho việc giải thích ngữ đoạn Rakarayân theo kiểu Rakryan, mà hai hình thức cũng thông dụng trong cổ tự Java (6). Đồng thời, chúng tôi cũng cho rằng các từ cát diên ki-yen sử dụng trong 新唐書 Tân Đường Thư chỉ là thể hiện một biến thể khác (hoặc một cách phát âm hơi khác nhau) được rút ngắn lại của cùng một tước vị phải được khôi phục lại thành [га]kэ[га]уаn hoặc [га]кэ[гэ]уаn.
____________________________________________

Nguồn: Louis-Charles Damais 1960. Études sino-indonésiennes, Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. Tome 50 N°1, 1960. pp. 1-35.

Tác giả: Louis-Charles Damais (1911 - 1966) là một nhà nghiên cứu tại Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Năm 1937, ông chuyển đến Java, và ở đó trong suốt thời gian chiến tranh thế giới II. Sau chiến tranh, ông đến Hà Nội, Việt Nam. Damais đã có một niềm đam mê sớm với các ngôn ngữ cổ phương đông​. Ông đã cho thấy tài năng đặc biệt về lĩnh vực này với sáu bằng ngoại ngữ: tiếng Ba Tư, Ả Rập, văn học Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Mã Lai, tiếng Trung Quốc. Ông còn nói tiếng Hungary, Hà Lan, Anh, Nga, Ý, và đã học tiếng Phạn. Tại Sorbonne, Damais nhận được các loại chứng chỉ tốt nghiệp khác nhau: nghiên cứu tiếng Ả Rập, Ấn Độ học, và lịch sử của các tôn giáo. Vào tháng Tư năm 1937, ông đến Batavia, làm quản lý dự án của Bộ Giáo dục và Surakarta ông học khiêu vũ, âm nhạc và ngôn ngữ Java. Ông trở về Pháp vào năm 1947, sau đó đến Sài Gòn vào năm 1949 để giảng dạy tại các trường đại học. Vào thời điểm này ông tham gia EFEO với tư cách Tổng thư ký: ông chuyển đến Hà Nội một năm trước khi trường thành lập một trung tâm nghiên cứu tại Jakarta vào năm 1952. Trong những năm 1950, ông công bố trên BEFEO sáu loạt bài nghiên cứu về Indonesia. Ông đột ngột qua đời tại Jakarta tháng 5 năm 1966, để lại đằng sau nhiều công việc còn dang dở.

Ghi chú

(1) Trong Tống sử, quá trình chuyển đổi trong Tiểu dẫn k. 489 dành cho 闍婆 Chà trang 5844 (15 b) chỉnh sửa 二十四史 Nhị thập Tứ sử của công ty 藝文 印書舘 Nghệ Văn n Thư Quán (nay YWYChK) được xuất bản ở Đài Loan. Các phiên bản của Nhị thập tứ sử gọi là g 白納本二十四史 Bạch Nạp Bản Nhị Thp Tứ sử hoặc Po-na-pen (nay PNP), p. 16 r ° k. 489, làm cho văn bản đó trở nên chính xác. Bản dịch tiếng Anh của Groeneveldt được tìm thấy trong vở ghi chép của ông về quần đảo Mã Lai và Malacca, trong VBG 39, 1880, 16. Tác giả không cung cấp bất kỳ một đoạn khôi phục văn bản nào. Đối với 文獻通考 Văn hiến Thông khảo, chúng tôi tham khảo ý kiến ​​chỉnh sửa Thp Thông của 商務印書舘 Thương vụ  Ấn Thư quán hoặc Commercial Press. Đoạn văn bản đang được đề cập trang 2606b WHTK. Xem bản dịch tiếng Pháp của Hervey de Saint-Denis Méridionaux, năm 1883, p. 497.

(2) Chúng tôi sử dụng bản chỉnh sửa của ông 馮承鈞 Phùng Thừa Quân được gọi là 諸蕃 Chư Phiên chí Hiệu chú, 上海 Thượng Hải, 1956, p. 23. Chú giải 9 (p. 25) cho 落佶 lo-ki-lien tương đương với Rakryan được khôi phục trong Bulletin  de  l'EFEO,  XI,  p.  21, đó là một bài viết của E. Huber, Đông Dương nghiên cứu, VII, Các phát hiện mới về khảo cổ học ở An Nam, trong đó sự tương đương trên đã được khẳng định, có thể là theo Pelliot, mặc dù ông không được trích dẫn.

(3) Có lẽ cũng cần phải xem xét kỹ hơn chi tiết này để làm rõ giá trị không đáng kể trong lập luận của Schlegel. không thể nghiên cứu chi tiết về thuật ngữ này, ông chỉ nói ra cái từ Malay ông nghĩ trong đầu Dekar, chứ không phải ddkar như đánh vần  Dekar thì ông chỉ nên sử dụng nó như một gợi ý. Trong thực tế, dekar chỉ là một dạng viết tắt của pandekar trong sự kết nối với động từ msndekar (xem batak pandikar, các từ pandeka của người Minarjkabaw pdndekar của người Java), có nghĩa là “võ sỹ thượng hạng, đặc biệt là trong cuộc đấu võ có tên gọi silat theo ngôn ngữ Malay, và gọi sileq theo ngôn ngữ Minarjkabaw, gọi pdňcaq theo ngôn ngữ Java рэпсак theo ngôn ngữ Bali. Do đó có thể dịch “võ sĩ thượng hạng, “chiến binh hảo hạng, khéo léo với lưỡi dao găm, cũng hệt như vậy với chiến binh dũng cảm. Wilkinson định nghĩa từ đó là “nhân vật hàng đầu trong một cuộc tấn công, một đấu sĩ, một trang hảo hán” trong từ điển Malay-English của ông (Latin hóa), II, 241 b, và ông cũng cho biết thêm rằng pdndekar không phải là một sĩ quan chuyên nghiệp; một chiến binh lãng tử, thiên về một cái gì đó của một gã du côn trong thời bình. “Vì vậy chúng ta thấy, đàng sau một chiến binh dũng cảm, có thể lại là kẻ “đâm thuê chém mướn. Nghĩa cơ bản xuất phát từ ý nghĩa phái sinh của nhà vô địch, người bảo vệ lẽ phải”, vv. Đó đặc biệt  những sắc thái nghĩa ông đã trải nghiệm trong ngôn ngữ Indonesia hiện đại. Xem các sắc thái biểu hiện pdndekar lidah pdndekar hoặc kata, có nghĩa là “nói trôi chảy”, “tính  thích chuyện trò” của một người có tay nghề cao trong cuộc thảo luận và pdndekar репа là “hoạt bút”, để nói một nhà báo giỏi. Gần đây, những cách diễn đạt này không còn mang nghĩa xấu. Xem Kamus Umum Bahasa Indonesia Poerwadarminta của WJS, Jakarta, năm 1952, s. v. Đối với một công việc thì từ depdndekar của người Sumatra trong nghĩa gốc của nó không hề có ý miệt thị, xem R. Roolvink, Dialek Malaju di Deli “Phương ngữ Dali ở Malaysia” bằng tiếng Bahasa dan Budaja, I, 1952-1953, số 3, p. 15.

Nếu кэрэndекаrаn tồn tại, thì thuật ngữ này có thể có nghĩa là chất lượng (hoặc trạng thái) pdndekar và nghĩa Hội đồng chiến binh, Schlegel đã đưa ra một dạng thức * kddekaran thì chắc chắn là không mấy đáng tin cậy, và thuần túy là tưởng tượng.

(4) Xem thảo luận của Pelliot trong bài “Deux  Itinéraires”,  in BEFEO, IV,  1904,  311-312.

(5)
Cũng xem “Deux  Itinéraires”, tr. 312, Ghi chú 1. Tiêu đề xuất hiện trong minh văn học, không phải luôn kết nối với Mantri như Pelliot nghĩ, thường một mình.

Từ nguyên của rakryàn đặt ra vấn đề thú vị mà chúng tôi hy vọng sẽ khám phá vào dịp khác. Xem những gì De Casparis nói Prasasti Indonesia (nay là PI) I, năm 1950, 54. Một nhận xét của ông  cần được kiểm tra rất kỹ lưỡng, bởi vì vấn đề này phức tạp hơn bạn tưởng khi đọc ông. Xem một số nhận xét khác của chúng tôi trong IED (= Nghiên cứu minh văn học Indonesia) IV, trong BEFEO, XL VII, 28, ghi chú 3.

(6) Đối với các chi tiết phiên âm tiếng Indonesia phiên âm aksara của chúng tôi, người đọc nên tham khảo IEE V BEFEO, XLIX, 1958 § 35-41, p. 10-12.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét