Powered By Blogger

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XIV)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga Phần Thứ hai
Siêu hình học Nguyên lý Lý tính – Cơ sở của Logic
Phần Thứ nhất: Trình bày các khía cạnh của Vấn đề
 
[P.117] Ở đây chúng ta cần tập trung vào sự hiểu biết ý tưởng về cơ sở /căn cứ như nó được phát triển lần đầu và vẫn phổ biến, mặc dù toàn bộ vấn đề đã bắt đầu nổi lên. Không phải ngẫu nhiên mà ý tưởng về cơ sở lần đầu tiên xuất hiện dưới dạng ‘nguyên nhân’ và [tr.118] ‘lập luận’ (như là cơ sở để duy trì một khẳng định, cơ sở chứng minh), và cả hai đều được ký hiệu bằng αἰτία aitia nguyên nhân/ cơ sở/căn cứ. Tại sao điều này không phải là ngẫu nhiên? Thứ nhất, bởi vì ý niệm về nguyên nhân và sự gây ra xuất hiện ngay lập tức và cấp bách, do chúng ta tham gia vào thế giới để tạo ra một hiện hữu từ một hiện hữu khác, tức là trong bí quyết liên quan đến sự sản xuất, trong τέχνη tékhnē nghệ thuật/kỹ năng/ thủ công. Một lý do khác là các hữu thể tự biểu hiện ngay lập tức như là đối tượng của ngôn từ, tức là xuất hiện trong λόγος logos lý trí/trật tự/ nguyên lý/ diễn ngôn, trong έπιστήμη episteme tri thức/hiểu biết/khoa học, liên quan đến ‘chân lý’: Hiểu theo cách này, λόγος logos với τί ἐστιν ti estin [bản chất của nó] có liên quan đến ιδέα idea ý tưởng/ý niệm, đến εἴδη eidé [số nhiều của εἶδος] hình dáng/loại/kiểu/ý tưởng/thị kiến. Từ τέχνη tékhnē, thông qua αἴτιον aition [nguyên nhân] như ἀρχή arkhē [lý do, nguồn gốc], ta được quy chiếu ngay đến εἶδος eidos [hình thức cụ thể]. Λόγος logos và τέχνη tekhnē, hiểu theo nghĩa rộng, là những hành vi mà trong đó các hiện hữu tự thân được biểu hiện, và biểu hiện theo cách mà ý niệm về hữu thể lần đầu tiên phát triển trong chân trời này. Nhưng chúng ta đã biết rằng vấn đề về cơ sở có mối quan hệ mật thiết với vấn đề về hữu thể theo đúng nghĩa. Do đó, rõ ràng là tại sao việc trình bày vấn đề về cơ sở cũng diễn ra trong cùng một chiều kích với vấn đề cơ bản của siêu hình học nói chung. Nói cách khác, vấn đề về nền tảng cũng thuộc về vấn đề cơ bản của siêu hình học.
 
Chúng ta phải xác định được chiều kích của vấn đề về cơ sở, và điều này có nghĩa là phải mở ra một trường thị giác mà trong đó chúng ta có thể bắt đầu nhìn thấy hiện tượng cơ sở, trong đó chúng ta có thể hiểu được căn cứ như vậy có nghĩa là gì và ý tưởng này xuất phát từ đâu. Bản chất của triết học là không có lĩnh vực vấn đề nào của nó có thể được tìm thấy trực tiếp, tức là ngay lập tức, trong tầm nhìn của sự hiểu biết thông thường hàng ngày. Việc đi vào lĩnh vực cụ thể của một vấn đề đòi hỏi con đường riêng của nó. Chúng ta sẽ không thảo luận về tính đặc thù của con đường đó ngay bây giờ, mặc dù ở đây chúng ta nhất thiết phải đưa ra một số dự báo về những gì thực sự chỉ có thể được nhìn thấy bằng hồi tưởng quá khứ; thay vào đó, chúng ta sẽ tự mình đi một đoạn trên con đường đó. Chúng ta sẽ xuất phát từ quan điểm chung, hoặc từ cách diễn đạt gần nhất với quan điểm chung, bởi vì mỗi quan điểm như vậy đều có sự thật tiềm ẩn và có lẽ bị bóp méo theo cách riêng của nó. Trong logic truyền thống, nguyên tắc cơ sở cũng xuất hiện, trong một đoạn văn không dễ thấy nào đó bên cạnh và dưới một số nguyên tắc khác. Nó được xếp hạng, trong số các quy luật tư duy, sau nguyên tắc đồng nhất tính, nguyên tắc phi-mâu thuẫn và nguyên tắc loại trừ trung gian. Trước hết, chúng ta chọn cách diễn đạt phổ biến và thô sơ nhất có thể, để từ đó có thể chuyển sang một cách diễn đạt mới về vấn đề và đồng thời chỉ ra [tr.119] nguyên tắc này có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau như thế nào và tại sao nó lại như vậy bởi vì nó chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc như một vấn đề.

§8. Nguyên tắc Cơ sở như một Quy tắc Tư duy
 
Chúng ta phải làm rõ ý nghĩa của công thức [logic] về nguyên tắc cơ sở như một quy tắc tư duy, và liệu công thức này có thể hiện ý nghĩa ban đầu của principium rationis nguyên tắc lý tính hay không, và liệu ý tưởng về căn cứ có nhờ nó mà được làm rõ hay không. Nếu không phải như vậy, thì nguyên tắc cơ bản này của logic là một ứng cử viên kém cỏi cho nguyên tắc của một khoa học được cho là cơ bản. Chúng ta sẽ sử dụng công thức của Sigwart như ông đã trình bày trong Logik3 của ông, đã nêu rõ một cách tổng quát: “Điều thứ tư trong số các quy luật được gọi là quy luật tư duy… khẳng định thuộc tính khá chung của tất cả các phán đoán theo đúng nghĩa, đó là khi tin vào tính hợp thức của một phán đoán, đồng thời cũng tin vào tính tất yếu của nó” (Ibid. tr. 257). Cách hiểu thông thường về nguyên tắc căn cứ cho rằng con người không thể đưa ra phán đoán mà không có căn cứ cho sự khẳng định của mình. Hoặc, như Sigwart nói, “không có phán đoán nào được đưa ra mà không có cơ sở tâm lý cho sự chắc chắn của nó” (Ibid. tr. 256). Ông muốn nói gì bằng điều này? Tại sao... Ở đây ông đang nói về căn cứ của tính chắc chắn? “Tính chắc chắn” rõ ràng cần được phân biệt với đặc tính của mệnh đề mà chúng ta đã thảo luận trước đó, tức là chân lý. Nhưng đối với tính chân lý/là chân, chúng ta đã đề cập đến một loại cơ sở, đó là ‘cơ sở lập luận’, ‘cơ sở nhận thức’: Giờ đây chúng ta đang nghe về một cơ sở cho tính chắc chắn. Cơ sở của chân lý và cơ sở của tính chắc chắn có mối liên hệ với nhau như thế nào? Tính chắc chắn có nghĩa là gì, với tư cách khác chân lý? Tính chắc chắn của một tri ​​thức nằm ở chỗ tôi chắc chắn về chân lý của một mệnh đề. Do đó, tính chắc chắn luôn luôn giả định chân lý. Và việc chắc chắn về chân lý phụ thuộc vào một điều gì đó mà trên cơ sở đó tính chắc chắn đó coi chân lý liên quan là một sở hữu nhận thức hợp lệ.
 
Nhưng điều gì tạo ra tính hợp thức cho việc sở hữu tri ​​thức? Rõ ràng là việc thấu hiểu cái được sở hữu như vậy là chân lý, điều này đồng nghĩa với việc chân lý này được biện minh hoặc có cơ sở. Vậy kết quả của nó là gì? Thế thì cơ sở của chân lý và cơ sở của tính chắc chắn chẳng phải là một và giống nhau sao? Việc chắc chắn về một chân lý rõ ràng là sự thấu hiểu hoặc sự thấu hiểu hoàn chỉnh về cơ sở của chân lý. Theo đó [tr. 120], cơ sở của tính chắc chắn là cơ sở của chân lý, và với tư cách là một cơ sở, nó là một cơ sở được nhìn thấy. Cơ sở của sự chắc chắn là cơ sở của chân lý trở thành sự thấu hiểu. Cơ sở của tính chắc chắn và cơ sở của chân lý về bản chất là giống nhau và chỉ khác nhau về hình thức ở những khoảnh khắc được làm quen và nắm bắt thấu đáo một điều gì đó [Erkanntheit Trạng thái được nhận thức và Erfasstsein Trạng thái được nắm bắt hoàn toàn]. Cơ sở của tính chắc chắn là nền tảng của chân lý được làm cho trở nên hiển nhiên. Một điều ngay lập tức suy ra từ việc xem xét này. Việc giữ một tuyên bố chân là chân, khi chấp nhận một chân lý, cuối cùng phải được hỗ trợ bởi các cơ sở của chân lý để tự thân nó chắc chắn. Tính chắc chắn, như một phương thức giữ một điều gì đó là chân, như một cách sở hữu chân lý, được đồng xác định bởi cái được chiếm hữu, bởi chân lý. Và bản thân chân lý cũng có các ‘cơ sở’: Tính chắc chắn và sự chứng thực của nó phụ thuộc vào các cơ sở của chân lý.
 
Liệu mối liên hệ thiết yếu này có được hình thành trong tuyên bố của Sigwart được trích dẫn ở trên? Hay tuyên bố rằng không có phán đoán nào được khẳng định mà không có cơ sở tâm lý cho tính chắc chắn của nó có ý nghĩa khác? Rõ ràng là vậy! Bởi vì tuyên bố này không nói gì về các mối liên hệ thiết yếu, mà chỉ là một tuyên bố về các sự thật. Ở dạng khẳng định, tuyên bố này nói rằng trong tất cả các khẳng định và phán đoán đều có cơ sở tâm lý cho tính chắc chắn. Nhưng điều này không có nghĩa là mọi phán đoán đều hiển nhiên, tức là được đưa ra với sự thấu hiểu về lý do cho nó là chân. Bởi vì nhiều phán đoán xảy ra và được coi là chắc chắn mà không liên quan đến sự thấu hiểu nào. Tất nhiên, việc thiếu thấu hiểu về cơ sở hợp thức của chân lý không loại trừ thực tế là việc đưa ra phán đoán và cho rằng điều gì đó là chân thì có cơ sở thúc đẩy của nó. Cơ sở thúc đẩy trạng thái là chắc chắn và duy trì điều gì đó của một kẻ, cơ sở thúc đẩy niềm tin, không đơn giản là giống hệt cơ sở bằng chứng. Do đó, nếu những phán đoán này thiếu cơ sở cho sự chắc chắn, thì chúng không nhất thiết thiếu cơ sở thúc đẩy cho niềm tin của chúng ta về chân lý của chúng. Và vì vậy, tuyên bố trên [của Sigwart] có thể có nghĩa là trong mọi phán đoán được đưa ra đều có cơ sở thúc đẩy cho việc nó được coi là chân. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là một cơ sở thuộc về bản chất của chân lý và do đó cũng thuộc về việc sở hữu chân lý với tư cách là tính chắc chắn.
 
Trên thực tế, ngay cả cách giải thích sau cùng của chúng ta về tuyên bố trên cũng có thể bị nghi ngờ. Liệu mọi phán đoán đều có cơ sở thúc đẩy để cho rằng điều gì đó là đúng? Những mệnh đề không đủ cơ sở và thậm chí hoàn toàn không có cơ sở cũng được khẳng định và chấp nhận là đúng - mà không ai có thể nói rằng sự chấp nhận cụ thể này không có cơ sở thúc đẩy. Có thể có những khẳng định không có cơ sở như vậy, những khẳng định không có động cơ và không được biện minh, nhưng ngay cả [tr.121] những điều ấy vẫn không hoàn toàn vô căn cứ, bởi vì ngay cả những khẳng định không có động cơ, không được biện minh vẫn có thể có ‘nguyên nhân’ của chúng. Vậy thì tuyên bố được trích dẫn có nghĩa là gì? Chỉ đơn giản là khi đưa ra phán đoán, mọi người thường có những lý do thúc đẩy. Do đó, tuyên bố này là một khẳng định về những gì mà người bình thường vẫn làm khi đưa ra phán đoán của mình. Tuy nhiên, nó không nói gì về bản chất của các cơ sở, cho dù đó là cơ sở của chân lý hay cơ sở của tính chắc chắn. Nó chỉ mô tả cách thức và phương pháp thông thường để liên hệ với các cơ sở thúc đẩy phán đoán. Nếu chấp nhận luận điểm này đúng như bản chất của nó, chắc chắn sẽ không có gì để phản bác, ngoại trừ việc nó không có giá trị triết học nào. Tuy nhiên, khẳng định này không chỉ xâm phạm nguyên tắc lý tính, mà người ta còn tin rằng mình có quyền nói nhiều hơn thế, bởi vì người ta đưa nó vào logic như một khoa học về các quy tắc tư duy. Việc khẳng định tính bình thường về mặt thực tế trong quá trình phán đoán thông thường được coi là nền tảng cho một khẳng định hoàn toàn khác, đó là yêu cầu rằng mọi tư duy, mọi phán đoán đều phải có cơ sở.
 
Vì thông thường người ta hay dựa vào cơ sở tâm lý trong phán đoán, do đó, trong mọi trường hợp, phán đoán đều phải xem xét một cơ sở hợp thức. Tư duy cần có cơ sở và được dựa trên cơ sở. Tuyên bố định chuẩn này dựa trên xác quyết thực tế trước đó, và khẳng định thể hiện cái định chuẩn được coi là diễn đạt đích thực của nguyên tắc lý tính. Thậm chí, người ta còn đi xa hơn và đồng nhất khẳng định mang tính định chuẩn này với khẳng định rằng mọi xác quyết đều cần bằng chứng, và mọi khẳng định đều có thể chứng minh được và cần được chứng minh. Chúng ta sẽ bỏ qua thực tế rằng đây là một nỗ lực nhằm biện minh cho một chuẩn mực tư duy chung dựa trên sự tham chiếu đến các sự kiện kinh nghiệm, và đây là một nỗ lực nhằm đưa ra cơ sở thực nghiệm cho một tuyên bố tiên nghiệm. Phê bình của Husser về chủ nghĩa tâm lý trong Tập I của bộ Khảo sát Logic đã chỉ ra tính phi lý của nỗ lực như vậy. Lập luận của ông ở đó dĩ nhiên chỉ mang tính tương đối thuyết phục và chỉ mang tính phủ định. Bởi vì câu hỏi vẫn còn đó: Tuyên bố tiên nghiệm là gì, và liệu những tuyên bố định chuẩn như vậy có phải là tuyên bố tiên nghiệm hay không và theo nghĩa nào?
 
Điều quan trọng hơn nhiều là phải hỏi bằng cách nào tuyên bố định chuẩn, ‘mọi tư duy đều phải đưa ra lý do,’ được kết nối với principium rationis nguyên tắc lý tính chung. Ngay từ đầu, dễ dàng kết luận rằng tuyên bố này chỉ là một trường hợp đặc biệt của tuyên bố chung cho rằng mọi hành vi của con người, với tư cách là người tự do, đều có cơ sở thúc đẩy; do đó, hành vi của con người với tư cách là tư duy cũng vậy. (Hiểu đúng thì, phát biểu này là một mệnh đề thiết yếu về hành vi nói chung [tr. 122] chứ không phải về cách con người thường cố gắng hành động.) Tuy nhiên, phát biểu mang tính định chuẩn này còn muốn nói nhiều hơn là chỉ cần có cơ sở để khẳng định điều gì đó là chân, bởi vì nỗ lực đáp ứng yêu cầu này dẫn đến việc chứng minh cơ sở cho chân lý được khẳng định. Chúng ta lại bắt gặp mối liên hệ giữa cơ sở của chân lý và cơ sở của tính chắc chắn, và giờ đây chúng ta có thể hình dung mối liên hệ này rõ ràng hơn bằng cách tham khảo các phát biểu đang được xem xét. Chúng ta đang hỏi: Tại sao mọi cách sở hữu chân lý, mọi việc khẳng định điều gì đó là chân, đều phải có cơ sở của nó? Chỉ vì nó là một trong những hành vi khác? Hay cũng chính xác là vì việc khẳng định điều gì đó là chân theo đúng nghĩa bản thân phát biểu chân đó, và với tư cách là một phát biểu chân, có mối quan hệ với một cái gì đó giống như cơ sở?
 
Nhưng liệu chân lý có mối quan hệ như vậy với cơ sở không? Theo nghĩa nào? Và ở đây, ‘cơ sở’ có nghĩa là gì? Và nếu cơ sở thuộc về bản chất của chân lý, thì liệu mối liên hệ thiết yếu này có phải chính là cơ sở cho khả tính đòi hỏi tính có cơ sở của một phán đoán đúng đắn hay không? Và liệu yêu cầu về cơ sở tính của các phát ngôn đúng đắn trước hết có hàm ý việc đặt ra một cơ sở cho tính chắc chắn hay không? Và nói rằng bản chất của chân lý hàm ý một yêu cầu có nghĩa là gì? Cuộc thảo luận của chúng ta về một công thức cụ thể của nguyên tắc lý tính đã dẫn chúng ta đến nhận thức rằng vấn đề về cơ sở bằng cách nào đó có liên quan đến hiện tượng chân lý, và chiều kích của vấn đề được các thuật ngữ ‘chân lý’ và ‘bản chất của chân lý’ chỉ ra, đồng thời cũng là chiều kích mà vấn đề về nền tảng có thể được đặt ra. Trong quá trình đưa ra phán đoán, chúng ta đã phân biệt nhiều ‘cơ sở’ khác nhau, mỗi nền tảng đề cập đến một điều gì đó khác nhau, do đó bản thân ‘cơ sở’ có nghĩa là những sự vật khác nhau. Tất cả những loại cơ sở này đều có liên quan đến cơ sở và chân lý. Trong những điều đã nói ở trên, chúng ta luôn hiểu ‘cơ sở’ theo một cách nào đó, nhưng vẫn chưa chính xác làm rõ nó. Ngay cả khi gợi ý rằng cơ sở có liên quan đến chân lý, cũng chẳng ích gì nếu chúng ta chưa làm rõ bản chất của chân lý đối với vấn đề đang được xem xét.
 
§9. Bản chất của Chân lý và Quan hệ Thiết yếu với ‘Cơ sở’
a. Bản chất của Chân lý Mệnh đề
 
[Tr. 123] Nhiệm vụ của chúng ta trong việc làm sáng tỏ mối liên hệ thiết yếu giữa chân lý và cơ sở không phải là chứng minh cơ sở cho những chân lý cụ thể; mà là chỉ ra bằng cách nào chân lý tự thân, về bản chất, có mối quan hệ với cái mà chúng ta gọi đúng là ‘cơ sở’. Mối quan hệ thiết yếu giữa chân lý và bất cứ thứ gì giống như cơ sở đều cung cấp khả tính nội tại cho mọi chân lý đều có thể chứng minh được một cách lý tưởng. Đồng thời, mối quan hệ thiết yếu giữa chân lý và cơ sở cung cấp điểm tựa cho tính đúng đắn của yêu cầu, cần thiết ở một số khía cạnh, đó là các phát biểu chân phải có cơ sở. Mối quan hệ thiết yếu giữa chân lý và một cái gì đó giống như ‘cơ sở’ chỉ trở nên rõ ràng khi bản chất của bản thân chân lý phải đủ rõ ràng. Do đó, trước hết chúng ta cần một đặc điểm tổng quát về bản chất của chân lý, nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng cần trình bày về khả tính nội tại của bản chất chân lý. Khi chúng ta khảo sát và tìm kiếm câu trả lời theo hướng này và làm rõ khả tính nội tại của bản chất chân lý, thì điều đó có nghĩa là chúng ta cũng đang mô tả cái chiều kích mà trong đó vấn đề về cơ sở phải được đặt ra, mà trước hết, đó chính là một đặc điểm tổng quát về bản chất của chân lý.
 
Chúng ta đã nhấn mạnh rằng chân lý có vị trí của nó trong phán đoán, trong mệnh đề; chân lý không chỉ được tìm thấy trong phán đoán, mà bản chất của chân lý phải được thu thập từ bản chất của phán đoán. Tất cả điều này chúng ta thừa nhận trên giả định rằng xác quyết truyền thống là chính xác. Từ học thuyết về phán đoán của Leibniz, rõ ràng là chân lý được định nghĩa bởi phán đoán. Phán đoán có nghĩa là mối liên hệ, sự kết nối, sự bao hàm, đồng nhất tính: sự gắn kết của chủ ngữ và vị ngữ, của các khái niệm, các biểu tượng. Ngay từ thời cổ đại, phán đoán là một σύνθεσις νοημάτων sýnthesis noēmátōn ‘sự kết hợp của các khái niệm’: Chân lý được đồng nhất với sự thuộc về nhau của chủ ngữ và vị ngữ. Những gì thuộc về nhau một cách đúng đắn thì là chính xác. Chân lý là tính hợp thức của một sự kết hợp các khái niệm. Trong nhiều sự vật khác và bằng suy luận, chân lý được đặc trưng là Gültigkeit tính hợp thức. Nhưng liệu đặc trưng này có chạm đến bản chất của chân lý? Cái hợp thức là cái gì thuộc về nhau một cách đúng đắn. Vậy thì làm thế nào để quyết định rằng một số thứ nào đó lại thuộc về nhau? Làm thế nào chúng ta có thể đánh giá điều gì là phù hợp cho một khẳng định để nó là chân? Làm thế nào chúng ta định nghĩa tính chính xác của những gì thuộc về nhau? Nếu veritas chân lý tương đương với [tr.124] identitas đồng nhất tính, thì câu hỏi về chân lý chỉ được trả lời một nửa. Đó là đặc trưng của lối tư duy toán học, vì mục đích của mình, Leibniz định nghĩa chân lý là identitas đồng nhất tính, mà không tìm hiểu thêm về possibilitas khả tính của identitas đồng nhất tính này.
 
Điều gì xác định tính đúng đắn của một sự kết hợp các biểu tượng, tức là tính mạch lạc của chúng như một sự hài hòa? Điều gì quyết định liệu một sự kết hợp có đúng hay không? Một khẳng định là hài hòa, tức là đúng, khi mối quan hệ của các biểu tượng phù hợp với điều mà phán đoán được đưa ra. Tính hài hòa (đồng nhất tính của mối liên hệ) có được tính đúng đắn và giá trị từ sự tương ứng giữa những gì được suy nghĩ trong tư duy phán đoán với đối tượng được phán đoán. Sự điều chỉnh tính hài hòa diễn ra trong và thông qua sự tương ứng. Chân lý, với tư cách là giá trị, tính mạch lạc, tính đồng nhất, dựa trên sự tương ứng giữa biểu tượng và đối tượng, giữa νόημα nóema ý nghĩa/tư tưởng và πρᾶγμα pragma vật chất/sự việc/thực tại. Từ thời cổ đại, sự tương ứng này là đặc trưng của chân lý. Chân lý được định nghĩa là ὁμοίωσις homoiósis tương đồng, adaequatio [danh từ, giống cái - làm cho ngang bằng, làm cho tương xứng, thích nghi hoặc điều chỉnh - HHN] như tính tương xứng với một cái gì đó, như việc đo lường bằng một cái gì đó. Nhưng tại sao và bằng cách nào đặc điểm tương xứng với một cái gì đó lại thuộc về bản chất của chân lý? Tại sao bản chất của chân lý lại được định nghĩa theo ý tưởng về sự tương xứng, về việc được đo lường bằng một cái gì đó? Định nghĩa truyền thống này về bản chất của chân lý, ý tưởng về cái adaequatio, xuất hiện như thế nào?
 
Trước hết, rõ ràng là bản chất của chân lý như là đồng nhất tính được quy giản thành chân lý như là adaequatio sự tương ứng. Đồng thời, dường như nỗ lực hình dung bản chất của chân lý thông qua phán đoán không thành công ngay lập tức, hoặc trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể hiện rõ ràng. Trên thực tế, cho đến nay chúng ta chỉ thay thế một khái niệm này bằng một khái niệm khác, cụ thể là một khái niệm cũng liên quan đến khẳng định: sự tương ứng của một tổ hợp các khái niệm. Câu hỏi của chúng ta về bản chất của chân lý hiện đang tập trung vào điều gì? Vào sự tương ứng mà các repraesentationes khái niệm đại diện có với các đối tượng của chúng, với chủ thể và ý thức của nó trong mối quan hệ với những gì nằm ‘ngoài ý thức’. [Repraesentatio từ Latinh dùng để chỉ ‘đại diện’; đây là dạng danh từ của động từ Latin cổ repraesentare, nghĩa là ‘đưa ra trước mặt’, ‘trưng ra’ hoặc ‘làm hiện diện’; tùy thuộc vào ngữ cảnh cụ thể của ‘sự đại diện’ được đề cập đến, mà có thể sử dụng các từ Latin liên quan - đại diện pháp lý hoặc chính thức là procuratio - hành động thay mặt kẻ khác ; trình bày hoặc trưng bày vật chất: praesentatio - hành động đặt trước mặt theo nghĩa đen. - HHN] Do đó, chân lý như là sự tương ứng bằng cách nào đó lại liên quan đến mối quan hệ này của các khái niệm đại diện với các đối tượng của chúng. Làm thế nào chúng ta có thể định nghĩa thêm mối quan hệ này? Khi đặt ra câu hỏi này, chúng ta bước vào một sân chơi cho mọi lý thuyết có thể. Liệu chúng ta có thể xác định bản chất của chân lý trong lĩnh vực mơ hồ này? Liệu chúng ta có nên dựa vào một lý thuyết nhận thức luận mơ hồ để làm rõ bản chất của chân lý?
 
Cả những kẻ ủng hộ và phản đối cách mô tả truyền thống về chân lý này đều bỏ qua một thực tế là mô tả này chỉ là điểm khởi đầu để làm rõ bản chất của chân lý. Đó là một sự khởi đầu mà không hề đảm bảo, như lịch sử của khái niệm chân lý cho thấy, rằng nó [tr.125] sẽ được phát triển đúng đắn; nó cũng có thể trở thành điểm khởi đầu cho những lý thuyết sai lầm. Định nghĩa về chân lý với tư cách là adaequatio sự tương ứng là điểm khởi đầu, chứ chưa phải là câu trả lời; nó là điểm xuất phát để đặt ra vấn đề, nhưng chưa phải là giải pháp. Mặt khác, cách tiếp cận này để làm rõ bản chất của chân lý thông qua mệnh đề, thông qua λόγος logos, đã được sử dụng nhiều lần từ rất sớm trong truyền thống triết học. Nó không thể bị bác bỏ chỉ đơn giản vì nó dẫn đến những khó khăn. Điều quan trọng cuối cùng là cách tiếp cận này phải được thực hiện đúng cách và sau đó được tiến hành vượt ra ngoài điểm ban đầu nó được cho là dẫn dắt, đến bản chất của chân lý như là đặc điểm của các mệnh đề. Tuy nhiên, ‘tiến hành theo đúng cách’ trong việc diễn giải mệnh đề với mục đích làm sáng tỏ bản chất của chân lý có nghĩa là gì? Diễn giải mệnh đề chính xác ‘theo đúng cách’ có nghĩa là gì? Một sự diễn giải chính xác mệnh đề như vậy chắc chắn đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận mệnh đề như nó vốn có, trước mọi lời giải thích; do đó, chúng ta phải tránh việc xây dựng vội vàng một lý thuyết về mệnh đề mà không xác định đầy đủ các thuộc tính của mệnh đề theo đúng nghĩa cần được giải thích, mà không chấp nhận nó như nó tự thể hiện từ đầu. Nhưng dù vậy, một câu hỏi vẫn nảy sinh về ý nghĩa của cụm từ ‘tự thể hiện từ đầu’. Mệnh đề tự thể hiện như thế nào với chúng ta, khi chúng ta hành xử trước mọi lý thuyết về phán đoán, trước mọi câu hỏi triết học về mệnh đề?
 
Một câu trả lời có thể là bản thân mệnh đề là một phán đoán được diễn đạt bằng lời nói, một tuyên bố được phát ngôn, một phát ngôn bằng từ ngữ; từ ngữ tự thể hiện dưới dạng âm thanh, cao độ, tiếng ồn, và từ đó chúng ta đi đến phát âm, đến từ ngữ; từ đó chúng ta đi đến ý nghĩa, tư duy, biểu đạt, và điều này diễn ra trong tâm hồn, và biểu đạt trong tâm hồn có liên quan đến đối tượng bên ngoài. Ngay trong triết học của Aristotle, chúng ta đã tìm thấy trình tự: tiếng ồn, âm thanh [ngữ âm] φθόγγος phthongos và φωνή phōnḗ [âm thanh, giọng nói], phát âm, từ ngữ, ý nghĩa, tư duy, biểu đạt, tâm hồn. Vì vậy, kết quả là, chúng ta có ở đây một cách tiếp cận chặt chẽ và chính xác đối với những gì được cho trước ngay lập tức: những tiếng ồn mà từ đó chúng ta tiến lên từng bước. Hơn nữa, điểm xuất phát và con đường này dẫn chúng ta đến vấn đề mà chúng ta đã mô tả, sự tương ứng giữa đại diện/biểu trưng và đối tượng. Chúng ta càng theo đuổi và giải thích chi tiết mối quan hệ giữa tiếng ồn, âm thanh, từ ngữ, ý nghĩa, tư duy và biểu trưng một cách chính xác hơn, thì lời giải thích của chúng ta về điều thường được gọi là sự tương ứng giữa tư duy và đối tượng càng mang tính khoa học hơn.
 
Vậy việc bắt đầu từ phát âm có nắm bắt được những gì ngay lập tức hiện ra trước mắt chúng ta không? Hoàn toàn không. Giả sử ai đó [tr.126] ở đây trong lớp học nói ‘bảng kia đen’ và lên tiếng như vậy trong một ngữ cảnh hỏi đáp được đưa ra ngay lập tức. Vậy thì chúng ta chú ý đến điều gì để hiểu câu nói đó? Đến cách phát âm? Hay đến hình ảnh đại diện thực hiện việc tạo ra câu nói và đối với nó, những âm thanh được phát ra là các ‘dấu hiệu’? Không, thay vào đó, chúng ta hướng sự chú ý của mình đến chính cái bảng đen, ở đây trên tường! Trong nhận thức về cái bảng này, trong việc làm cho bảng đen hiện diện và suy nghĩ về nó và không gì khác, vollziehen wir die Aussage mit und nach chúng ta tham gia vào việc thực hiện câu nói. Điều mà câu nói trực tiếp trình hiện chính là điều mà nó nói đến. Nhưng liệu chúng ta có thu được nhiều lợi ích từ điều đó để thúc đẩy việc tìm tòi của mình không? Chắc chắn là không, nếu chúng ta muốn nói đến việc xây dựng các lý thuyết chưa chính muồi. Bởi vì những lý thuyết ấy bị suy yếu do quy trình này. Nhưng thực sự đã có được điều gì đó, nếu điểm xuất phát cho mọi việc thực sự làm rõ về một hiện tượng nằm ở việc trước tiên nắm bắt và giữ lấy những gì tự thân hiện diện. Chắc chắn, những khó khăn của một cách giải thích phù hợp chỉ mới bắt đầu. Điều quan trọng là phải duy trì tính chất ban đầu đã cho sẵn và từ đó tìm hiểu cấu trúc đầy đủ của hiện tượng đang được xem xét.
 
Điều gì chủ yếu hiện ra trước mắt chúng ta trong quá trình nghe và hiểu tự nhiên các phát ngôn? Chúng ta nắm bắt chúng ở khía cạnh nào? Liên quan đến đối tượng mà điều gì đó được nói đến. Do đó, chúng ta nắm bắt được phát ngôn kia với tư cách là phát ngôn về một điều gì đó. Chúng ta đã đề cập đến điều này trước đây, nhưng bây giờ chúng ta sẽ diễn giải nó một cách rõ ràng hơn. Cái diễn ra trong quá trình hoàn thành việc thực hiện một phát ngôn (về tấm bảng) không phải là trước tiên chúng ta cứ như thể tự đưa mình vào tâm hồn của kẻ đưa ra lời phát ngôn và sau đó bằng cách nào đó đặt mình vào mối quan hệ với đối tượng bên ngoài được nói đến. Thay vào đó, chúng ta luôn luôn cư xử hướng tới những thực thể xung quanh mình. Các phát ngôn không phải là thứ đầu tiên tạo ra mối quan hệ này, mà ngược lại mới đúng. Các phát ngôn trước hết có thể thực hiện được trên cơ sở một thái độ luôn tiềm ẩn đối với các hiện hữu. Dasein, cái ‘Tôi’ đưa ra các phát ngôn, luôn luôn ‘nằm trong’ các hiện hữu mà nó đưa ra các phát ngôn ấy. Hệ quả đầu tiên là việc đưa ra các phát ngôn, như là việc nói về môt điều gì đó, hoàn toàn không phải là một mối quan hệ nguyên thủy với các hiện hữu mà bản thân nó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở hiện-hữu-đã-có-giữa-các hiện-hữu của chúng ta, cho dù đó là hành vi nhận thức hay một loại hành vi thực tiễn nào đó. Chúng ta có thể nói rằng việc đưa ra các phát ngôn về X chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở có liên quan đến X.
 
Điều này hàm ý gì đối với vấn đề của chúng ta? Liệu bản chất của chân lý có thể được mô tả theo hướng của mệnh đề này không? Nếu chân lý có nghĩa là [tr.127] adaequatio sự tương ứng, sự phù hợp với các hiện hữu, thì khẳng định này tự đo lường trên các hiện hữu rõ ràng được xây dựng trên một thực tế là, trong sự tương tác của chúng ta với các hiện hữu, chúng ta đã, như thể, đạt được sự hiểu biết với các hiện hữu; những hiện hữu không phải là chính chúng ta, mà chúng ta bằng cách nào đó phải tương tác, được bộc lộ cho chúng ta. Vì vậy, một xác quyết cuối cùng có thể đúng, phù hợp về nội dung mệnh đề với cái mà tuyên bố đề cập đến, chỉ bởi vì cái hiện hữu mà nó nói đến đã được tiết lộ theo một cách nào đó. Nghĩa là, một câu nói về X chỉ đúng bởi vì sự tương tác của chúng ta với X đó đã có một loại chân lý nhất định. Lập luận thông thường chống lại adaequatio sự tương ứng chỉ ra sự dư thừa, sự bất khả thể của sự tương ứng; nhưng lập luận đó lại dựa trên tiền đề cho rằng sự tương ứng của một tuyên bố trước hết phải tạo ra mối quan hệ chủ thể-đối tượng.
 
Chân lý mệnh đề có nguồn gốc nguyên thủy hơn, bắt nguồn từ hiện-hữu-có-sẵn-bởi-sự-vật. Hiện tượng đó xảy ra ‘ngay từ đầu,’ trước khi đưa ra tuyên bố - từ khi nào? Luôn luôn, ngay từ đầu. Luôn luôn, nghĩa là, chừng nào và miễn là Dasein tồn tại. Việc ‘đã hiện hữu cùng vạn vật’ thuộc về sự tồn tại của Dasein, thuộc về loại và phương thức hiện hữu của nó. Tồn tại là thuật ngữ chỉ loại hiện hữu mà mỗi chúng ta đều là Dasein con người. Một con mèo không tồn tại, nhưng nó sống; một hòn đá không sống cũng không tồn tại nhưng vorhanden hiện diện trước mặt chúng ta. Trong số những sự vật khác, việc ‘hiện-hữu-có-sẵn-bằng-sự-vật’ thuộc về tồn tại. Điều này cần được hiểu theo nghĩa Dasein, với tư cách là tồn tại, tồn tại thông qua việc ‘hiện-hữu-bằng-vạn-vật’ này, và được bộc lộ trong và vì ‘hiện-hữu-bằng-vạn-vật’. ‘Hiện-hữu-bằng không phải là hiện hữu bên cạnh, cạnh một cái gì đó, như một chiếc ghế dài đặt cạnh nhà. Một chiếc ghế dài không tồn tại; nó không có ‘hiện hữu bằng ngôi nhà’ đúng nghĩa, vì điều đó có nghĩa là ngôi nhà sẽ xuất hiện và tự biểu hiện cho chiếc ghế dài với tư cách một ngôi nhà.
 
Là đặc trưng của sự tồn tại, việc ‘hiện-hữu-bằng-vạn-vật’ mang tính bộc lộ, nó cho phép người ta gặp gỡ vạn vật. Theo đúng nghĩa, hiện-hữu-bằng là sự tiết lộ, không phải thỉnh thoảng mà là về bản chất. Việc bộc lộ là ý nghĩa đích thực của trạng thái là-chân. Nếu chúng ta quay trở lại ý nghĩa ban đầu của khái niệm chân lý, chúng ta thấy sự hiểu biết cơ bản được hình thành bởi từ Hy Lạp ἀ-ληθεύειν alētheuein. Người Hy Lạp đã nhìn thấy đặc tính này của chân lý, mặc dù họ không đưa sự hiểu biết của mình đến thành quả, mà che đậy nó bằng các lý thuyết. Điều quan trọng là phải làm rõ vấn đề của tính phủ định tiềm ẩn trong khái niệm chân lý với tư cách ἀ-λήθεια. ‘Hiện-hữu-có-sẵn-bằng-sự-vật’, liên quan đến chúng, tự nó đã là mang tính bộc lộ. Phương thức bộc lộ này, như sự bộc lộ về những gì hiện diện một cách khách quan, là sự khám phá theo nghĩa rộng nhất. Việc đưa ra các tuyên bố về những Vorhandenes sự vật khách quan khám phá ra chúng theo một phương thức đặc thù của nó, cụ thể là, như việc xác định một cái gì đó là [tr.128] cái gì đó. Đó là ý nghĩa thực sự của sự tổng hợp συμπλοκή symplokē connectio liên kết, gắn kết. ‘Một cái gì đó như cái gì đó’ tự nó là không thể quy giản nhưng vẫn được đặt nền tảng. Nó chỉ có thể tồn tại trên cơ sở sự bộc lộ đã có sẵn trong Umgang-mit mối quan hệ của chúng ta với vạn vật. Khám phá này được thực hiện trong mệnh đề thì luôn luôn quy chiếu về một cái gì đó; nó được nuôi dưỡng bởi khám phá nguyên thủy có trong tương tác của chúng ta với vạn vật. Chúng ta đã đạt được một số điểm: 1) Là-chân có nghĩa là hiện hữu-mang tính bộc lộ; 2) Là-chân của các phát biểu không phải là yếu tố chính mà được đặt nền tảng trên sự tiết lộ trong ‘hiện-hữu-bằng-sự-vật’ của chúng ta, trong mối quan hệ của chúng ta với vạn vật. Phương thức bộc lộ sau này là một sự khám phá; 3) Là-chân với tư cách bộc lộ thuộc về tồn tại của Dasein theo đúng nghĩa.
 
Với điều này, câu hỏi chính đã được đặt ra. Nếu chân lý thuộc về mệnh đề một cách phái sinh, chứ không phải chủ yếu, và chỉ vì nó là một đặc điểm thiết yếu của hiện-hữu-bằng-sự-vật như một đặc tính cơ bản của tồn tại, thì liệu có phải là-chân chỉ thuộc về tồn tại trong chừng mực Dasein liên hệ với những gì Vorhandenes hiện diện khách quan, hay chân lý, một cách nguyên thủy, cũng thuộc về các cấu trúc thiết yếu khác của Dasein? Liệu being-true là-chân chỉ là sự bộc lộ như một sự khám phá, hay nó nên được hiểu rộng hơn và nguyên thủy hơn nữa? Thêm vào đó, rõ ràng là nếu being-true là-chân của một tuyên bố không phải là nguyên thủy, và tuy nhiên nếu cơ sở, có liên quan thiết yếu đến chân lý, thì vấn đề nguyên thủy của cơ sở cũng không thể được hình dung trên cơ sở chân lý mệnh đề.

[Ghi chú ngắn về chân lý mệnh đề: Ernst Tugendhat cho rằng quan niệm về chân lý của Edmund Husserl đưa ra một lựa chọn thay thế quan trọng cho hai xu hướng trái ngược trong triết học hiện đại. Một mặt, nhiều nhà triết học phân tích hài lòng với một khái niệm tối giản về chân lý mệnh đề theo công thức của Alfred Tarski “‘p’ đúng khi và chỉ khi p”. Theo Tugendhat, những công thức như vậy “chính xác và phù hợp [zutreffend], nhưng tầm thường”. Chúng không làm rõ sự tương ứng giữa mệnh đề và sự kiện mà chúng vẫn giả định. Kết quả là, chúng cản trở mọi khảo sát về “khả năng mở rộng khái niệm chân lý vượt ra ngoài phạm vi hẹp hơn của chân lý mệnh đề [Aussagewahrheit].” Mặt khác, các nhà triết học Lục địa mở rộng khái niệm chân lý vượt ra ngoài phạm vi mệnh đề lại rơi vào những quan niệm mơ hồ và không xác định đến mức họ không thể giải thích đầy đủ khái niệm thông thường về chân lý mệnh đề. Ví dụ, Martin Heidegger, với các quan niệm về Erschlossenheit tình trạng được bộc lộ và Unverborgenheit không che giấu, đã mở rộng khái niệm chân lý để bao hàm tất cả các Verhalten hành vi của con người, khiến chân lý trở nên ‘thực tiễn, lịch sử, hiện sinh’. Nhưng ông không bao giờ đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi: chính xác thì khái niệm mở rộng này liên quan đến chân lý mệnh đề như thế nào? Do đó, lý thuyết chân lý đương đại được chia thành hai xu hướng khác nhau: một sự xác định chính xác và phù hợp về chân lý mệnh đề bị hạn chế, tầm thường và trùng lặp; và một cách tiếp cận mở rộng đúng đắn đối với chân lý nhưng lại mơ hồ và không đủ cụ thể về chân lý mệnh đề. Tugendhat cho rằng cả hai xu hướng này đều rất có vấn đề. Ông khẳng định rằng mỗi xu hướng theo cách riêng của nó đều từ bỏ ‘ý niệm về trách nhiệm phê phán’. Và ý niệm này là trọng tâm của chính triết học: “‘Triết học’, theo nghĩa rộng nhất và…nguyên bản nhất của từ này, đại diện cho ý niệm định hướng toàn bộ cuộc sống con người hướng tới chân lý, tức là ý niệm sống trong trách nhiệm phê phán.’ Tugendhat cho rằng quan niệm hiện tượng học về chân lý của Husserl có tiềm năng giúp chúng ta vượt qua bế tắc này. Bởi vì sự giải thích về chân lý mệnh đề của Husserl cho phép “một sự mở rộng có chủ đích [schrittweise] và có thể kiểm chứng một cách phê phán [kontrollierbare]” hướng tới chân lý hiện sinh, hướng tới chân lý như nó được sống trong tình bạn chân thật và hành vi trung thực, chẳng hạn, chứ không chỉ đơn giản như nó được khẳng định. Mặc dù Husserl không thực sự giải thích được mối quan hệ giữa chân lý, lịch sử và thực tiễn của con người [Praxis], nhưng “lần đầu tiên kể từ chủ nghĩa duy tâm Đức”, Husserl hiểu cuộc sống con người trong toàn bộ khía cạnh của nó là “hướng tới chân lý”, và ông coi triết học là “sự triệt để hóa mối quan hệ này với chân lý [Wahrheitsbezug]”. Tugendhat lần đầu tiên công bố nghiên cứu của mình vào năm 1967, sau khi đã nộp thành công luận án Habilitationsschrift tại Khoa Triết học của Đại học Tübingen một năm trước đó. (Ernst Tugendhat (1967). Der Wahrheitsbegriff bei Husserl und Heidegger, 2nd ed. (Berlin: Walter de Gruyter, 1970). Mặc dù sự khác biệt mà ông lưu ý khi đó vẫn chưa biến mất, nhưng một mô tả tương tự ngày nay sẽ cần phải phức tạp hơn. Bởi vì chủ nghĩa tối giản về chân lý trong triết học phân tích những năm 1960 đã đa dạng hóa thành chủ nghĩa giản lược và chủ nghĩa đa nguyên, và chủ nghĩa bành trướng của Heidegger đã nhường chỗ cho chủ nghĩa giải cấu trúc của Derrida và lý thuyết phê phán của Habermas. Hơn nữa, sự hồi sinh của chủ nghĩa thực dụng và sự phát triển của chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa hậu thuộc địa và các hình thức lý thuyết giải phóng khác đã làm cho ‘bức tranh chân lý’ đương đại trở nên đa sắc màu hơn nhiều so với bức tranh mà Tugendhat mô tả. Tuy nhiên, thách thức mà ông đặt ra vẫn chưa biến mất. Có lẽ, tương tự như vậy, quan niệm hiện tượng học về chân lý của Husserl vẫn giữ được tiềm năng như một cách để giải quyết thách thức này. Vì vậy hoàn toàn có thể đặt câu hỏi liệu, và ở mức độ nào, quan niệm về chân lý của Husserl có thể giúp các nhà triết học kết nối khái niệm chân lý mệnh đề với một ý niệm về chân lý toàn diện hơn, hướng đến cuộc sống, mà không làm bỏ qua bất kỳ khía cạnh nào. Theo: Zuidervaart, L. (2016). Propositional and existential truth in Edmund Husserl’s Logical Investigations. Published in Symposium: Canadian Journal of Continental Philosophy, 20(1), 150–180. HHN]
______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.  
 
Notes
 
1. Original edition, Rudolstadt, 1813, pp. 13- 14; Arthur Schopenhauer Samtliche Werke, ed. P. Deussen, volume 3 (Munich, 1912), p. 11.
2. Cf. also the lecture course from the summer semester of 1926. Grundbegrjffe der antiken Philosophie [planned as volume 22 of the Gesamtausgabe].
3. C. Sigwart, Logik, volume 1. 4th edition (revised by H. Maier) (Tiibingen, 191 1).





 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét