Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực
a) Đơn tử như là động lực
Tri thức xác thực là tri thức đầy đủ, tri thức chứa đựng một cách rõ ràng tất cả các xác định gắn kết trong một hiện hữu. Tri thức đầy đủ là notion completa seu perfecta khái niệm hoàn chỉnh hoặc hoàn hảo. Trong đó, tất cả các vị ngữ xác định chủ thể đều có sẵn. Tuy nhiên, chủ thể của phát biểu này cũng là chủ thể với tư cách hiện hữu tự thân cơ bản, bản chất cá thể. Do đó, Leibniz tuyên bố trong Primae Veritates Các chân lý Đầu tiên: Notio completa seu perfecta substantiae singularis involvit Omnia ejus praedicata praeterita, praesentia ac futura (C. 520) [Khái niệm hoàn chỉnh hoặc hoàn hảo của một bản chất cá thể bao hàm tất cả các vị ngữ, quá khứ, hiện tại và tương lai của nó, L. 268]. Si qua notio sit completa, seu talis ut ex ea ratio (reddi) possit omnium praedicatorum ejusdem subjecti cui tribui potest haec notio, erit notio Substantiae individualis; et contra. Nam substantia individualis est subjectum quod alten subjecto non inest, alia autem insunt ipsi, itaque praedicata omnia ejusdem subjecti sunt Omnia praedicata ejusdem substantiae individualis. (C. 403)
“Nếu bất kỳ khái niệm nào là hoàn chỉnh, hoặc nếu nó là một khái niệm mà từ đó lý do có thể được đưa ra cho tất cả các vị ngữ của cùng một chủ thể mà khái niệm này được quy cho, thì đó sẽ là khái niệm về một thực thể riêng lẻ; và điều ngược lại xảy ra. Vì tính cá thể thực chất là một chủ thể không inest có trong một chủ thể khác, mà có những chủ thể khác ở trong đó, và do đó tất cả các vị ngữ của chủ thể đó đều là các vị ngữ của cùng một cá thể thực thể. Ở đây có sự đồng nhất rõ ràng giữa chủ thể của những phát biểu chân thực với bản chất cá nhân như là hiện hữu đích thực.” Nhưng cho đến nay, hữu thể của hiện hữu này, Thực thể tính của bản chất này, vẫn còn mơ hồ. Và chúng ta phải đặt câu hỏi thêm về mối liên hệ giữa đặc tính siêu hình của Thực thể tính của bản chất cá nhân và lý thuyết đồng nhất tính logic của phán đoán, hay nói cách khác, từ ‘logic’ ở đây có nghĩa là gì. Học thuyết về Thực thể tính của bản chất cá nhân trong đơn tử luận của Leibniz, vốn là cốt lõi của toàn bộ siêu hình học của ông. Luận điểm siêu hình chính mà chúng ta cần làm rõ là bản chất cá nhân là đơn tử. Cách diễn giải về hiện hữu của Leibniz mang tính đơn tử luận.
Các văn bản chính về Đơn tử luận là: 1) Discours de Metaphysique Luận về Siêu hình học, [tr.71] 1686 (G. IV 427-63) [L. 303]; 2) Thư từ trao đổi với Arnauld, từ năm 1686 trở đi. (G. II, 47-138) [L. 331]; 3) De primae Philosophiae Emendatione, et de Notione Substantiae, Về việc Sửa đổi Triết học Đầu tiên và Khái niệm Bản chất trong Acta Eruditorum Lipsiensium - Biên bản của Học giới Leipzig năm 1694 (G. IV 468-70) [L. 432]; 4) Systeme nouveau de la Nature et de la communication des substances - Hệ thống mới về Tự nhiên và Liên hệ giữa các Bản chất…. trong Journal des Savants, 1695 (G. IV 477-87) [L. 453]; 5) Principes de la Nature et de la Grâce fondés en Raison - Nguyên lý của Tự nhiên và Ân điển trên Cơ sở Lý tính, 1714 (G. VI 598-606) [L. 636]; 6) Monadologie – Đơn tử luận, 1714 (G. VI 607-23) [L. 643]. Bài luận cuối cùng này được Leibniz viết bằng tiếng Pháp lần cuối ông ở Vienna hai năm trước khi qua đời. Tác phẩm này cũng không được xuất bản trong suốt cuộc đời ông. Năm 1721, một bản dịch tiếng Latinh của nó xuất hiện trong Acta Eruditorum - Biên bản của Học giới Leipzig, dưới tiêu đề Principia Philosophiae – Nguyên lý Triết học. Năm 1840, lần đầu tiên nó được J. E. Erdmann xuất bản ở dạng nguyên bản, dưới tiêu đề La Monadologie – Đơn tử luận.
Ở đây, chỉ có thể trình bày một số đặc điểm của Monadologie – Đơn tử luận quan trọng đối với chúng ta, chứ không phải tất cả các chủ đề đan xen của nó. Bản thân Leibniz chỉ gợi ý những yếu tố cốt lõi và không phát triển nó một cách triệt để và có hệ thống.10 Ở đây, cũng như trong các giáo lý khác của ông, nhiều điều vẫn còn ở giai đoạn hình thành ban đầu, thường là trong một số cuộc tranh luận. Mặc dù chúng ta có một ấn phẩm viết rõ ràng về chủ đề này, Monadologie – Đơn tử luận, nhưng đặc điểm của nó là chứa chín mươi luận điểm được liệt kê nối tiếp nhau. Do đó, siêu hình học đơn tử luận gánh chịu các diễn giải đa dạng nhất, mà bất kỳ cách giải thích nào cũng có thể viện dẫn Leibniz trong một hoặc nhiều luận điểm của ông. Nhưng điều này lại là chân đối với tòa bộ triết học đích thực. Hiện đang thịnh hành cái đồng thuận giả-triết học, nhưng đó là sự đồng thuận của đám đông. Vì vậy, sẽ là một quan niệm hoàn toàn sai lầm về bản chất của triết học nếu ai đó tin rằng họ có thể chắt lọc được Kant và Plato bằng cách tính toán và cân bằng khéo léo tất cả các cách diễn giải của Kant hoặc tất cả các cách diễn giải của Plato. Điều này cũng vô nghĩa với Leibniz. Kết quả thu được sẽ là một thứ chết chóc. Kant an sich Cái Kant Tự thân, là một ý tưởng đi ngược lại bản chất của lịch sử và chắc chắn là ngược lại với lịch sử triết học. Cái Kant lịch sử này luôn chỉ là Kant hiện thân trong một khả tính triết học hóa nguyên gốc, chỉ biểu hiện một phần, nếu ai đó muốn, nhưng là một phần đích thực mang trong mình nó tác động của cái toàn thể.
Tính hiện thực của lịch sử, đặc biệt là quá khứ, không [tr.72] xuất hiện trong bản tường thuật đầy đủ nhất về ‘cách nó đã xảy ra’. Thay vào đó, tính hiện thực của những gì đã xảy ra nằm ở khả tính của nó. Khả tính này trong mỗi trường hợp đều biểu hiện như câu trả lời cho một câu hỏi sống động đặt ra trước nó một hiện tại tương lai theo nghĩa ‘chúng ta có thể làm gì?’. Khách tính của lịch sử nằm ở tính vô tận của các khả tính, chứ không phải ở sự cứng nhắc cố định của một kết quả. Chúng ta muốn ghi nhớ điều này cho phần diễn giải tiếp theo về Đơn tử luận. Diễn giải của chúng ta phải mạo hiểm đi xa hơn Leibniz, hay nói đúng hơn là quay trở lại nguồn gốc của Leibniz - ngay cả khi có nguy cơ đi xa khỏi những gì ông thực sự đã nói.
Hai điều đầu tiên cần được nhấn mạnh: 1) Đơn tử luận như một diễn giải về substantiality thực thể tính của bản chất định nghĩa hữu thể của các hiện hữu đích thực. Nó là ontology, metaphysics hữu thể luận, siêu hình học. Và đó là siêu hình học tổng quát, bởi vì người ta tìm kiếm một khái niệm về hiện hữu áp dụng cho mọi hienj hữu đích thực, dù là bản chất vật chất, các sinh vật sống [thực vật, động vật], các hiện hữu tồn tại theo cách con người tồn tại, hay Thiên Chúa. Đồng thời, khái niệm về hiện hữu phải cho phép thiết lập nhữn khác biệt giữa các hiện hữu khác nhau trong nhất tính của một khái niệm tổng quát. 2) Bản chất của tri thức hữu thể luận, và sự phát triển rõ ràng của nó bởi Leibniz, nhìn chung vẫn còn mơ hồ và dò dẫm. Do đó, cách diễn giải Đơn tử luận về vật chất của ông, bất cứ khi nào nó theo đuổi những xung lực cấp tiến hơn, đều trở nên mơ hồ và bị pha trộn bởi những thứ khác. Tư tưởng của Leibniz chỉ là chuẩn bị cho sự tách biệt cuối cùng giữa tri thức siêu hình và phi siêu hình. Sự tách biệt xuất hiện với Kant, và sau đó nó lại bị chôn vùi hoàn toàn. Tôi muốn nhắc lại bối cảnh dẫn dắt của vấn đề. Trên cơ sở Đơn tử luận, chúng ta muốn biết về Hữu thể của các thực thể (của bản chất). Tuy nhiên, trước đây chúng ta đã biết rằng, hữu thể, đối tượng đưa ra các phán đoán, được định nghĩa bởi toàn bộ các dấu hiệu tương thích lẫn nhau, bởi sự mạch lạc của chúng, bởi đồng nhất tính như là nhất tính của đa bội tính này. Liệu có mối liên hệ nào, và mối liên hệ đó là loại liên hệ nào, giữa việc diễn giải hiện hữu như là nhất tính và việc diễn giải hiện hữu như là đơn tử? Liệu việc khám phá ra mối liên hệ này có mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về điều chúng ta đang tìm kiếm: nền tảng siêu hình logic của Leibniz - và cùng với nó là cái nhìn sâu sắc mang tính hệ mẫu vào cội rễ sâu xa của logic trong siêu hình học?
Thuật ngữ mà Leibniz chọn để chỉ định tính thực thể của bản chất đã mang tính biểu thị: ‘đơn tử’. Từ tiếng Hy Lạp μονάς monas có nghĩa là đơn giản, nhất tính, cái một. Nhưng nó cũng có nghĩa là: cái cá thể, cái đơn độc. Leibniz sử dụng thuật ngữ này chỉ về sau, khi ông đã phát triển Metaphysica Substantiae siêu hình học về bản chất của mình, sau năm 1696. Ông đã lấy thuật ngữ μονάς monas [tr.73] từ Giordano Bruno thông qua Francis Mercury van Helmont. Cứ như thể tất cả các ý nghĩa Hy Lạp đều được chứa đựng trong những gì Leibniz muốn nói đến bằng thuật ngữ này. Bản chất của vật chất nằm ở chỗ nó là một đơn tử. Sự tồn tại đích thực có đặc điểm của ‘đơn vị’ đơn giản của cá thể, của cái đứng độc lập. Lường trước, đơn tử là cái đơn giản ngay từ đầu đã thống nhất và cá thể hóa trước. Hướng mà Leibniz cố gắng hình dung lại bản chất của vật chất một cách mới mẻ, nguyên thủy và phổ quát hơn, trở nên rõ ràng nếu chúng ta nhớ lại những nỗ lực trước đó của Descartes và Spinoza. Trong Principia Philosophiae Nguyên lý Triết học, Descartes nói (I, 51): Per substantiam nihil aliud intelligere possumus quam rem quae ita existit, ut nulla alia re indigeat ad existendum “Bằng bản chất, chúng ta không thể hiểu điều gì khác ngoài cái tồn tại sao cho nó không cần bất cứ thứ gì khác để tồn tại”. Đặc điểm của bản chất được thể hiện ở chỗ nó không cần bất cứ thứ gì khác. Spinoza cũng nói (Ethica I, định nghĩa 3): Per substantiam intelligo id, quod in se est, et per se concipitur: hoc est id, cujus conceptus non indiget conceptu alterius rei, a quo forman debeat “Bằng bản chất, tôi muốn nói đến cái tồn tại trong chính nó và được hình thành bởi chính nó: đây là cái mà khái niệm đó không cần đến khái niệm về một thứ khác mà từ đó nó cần được hình thành”.
Theo định nghĩa này, bản chất là cái vẫn tồn tại trong chính nó. Nhưng ở đây, bản chất cũng được định nghĩa theo cách phủ định. “Tồn tại trong chính nó, ở nền tảng của nó phải thuộc về quan niệm bản chất từ thời cổ đại theo cách bất khả quy giản,” với tư cách cái chỉ hiệu ὑποκείμενον hypokeimenon nằm bên dưới biểu lộ ra. Cái mà Descartes và Spinoza bổ sung vào điều này về bản chất là phủ định, hay đúng hơn, liên quan đến cách thức mà bản chất được hình thành. Ngược lại, Leibniz mong muốn một định nghĩa khẳng định về thực thể tính của bản chất. Việc mô tả bản chất như một đơn tử, như một ‘đơn vị’, đạt được cách diễn giải khẳng định như vậy đến mức nào, và ‘đơn vị’ ở đây có nghĩa là gì? Chúng ta đã nói rằng đơn tử luận là siêu hình học tổng quát. Chính vì điều đó mà nó phải hướng đến tất cả các hiện hữu. Như vậy, vấn đề nóng bỏng trong thời đại của Leibniz, vấn đề về bản thể của tự nhiên, về cả vật chất - vô cơ lẫn hữu cơ, trở thành manh mối dẫn dắt sự phát triển của Đơn tử luận - chắc chắn không phải là manh mối duy nhất và mang tính quyết định cuối cùng.
Descartes đã cố gắng nhìn nhận bản thể của tự nhiên vật lý, res corporea vật thể hữu hình, in extensio đang mở rộng. Tính mở rộng là thuộc tính chính, và tất cả các thuộc tính của vật thể vật lý được cho là có thể quy giản về nó. Giờ đây, tất cả các đặc điểm của các hiện tượng tự nhiên, như vậy, đều liên quan đến sự thay đổi, đến chuyển động. Tất cả chuyển động đều là motio localis thay đổi vị trí [tr.74], và chỉ như vậy thì chuyển động mới được coi là có thể xem xét một cách khoa học. Bằng cách này, chuyển động trở nên dễ tiếp cận với quan niệm được cho là nghiêm ngặt nhất, đó là lý thuyết toán học-hình học. Những người theo chủ nghĩa Descartes đã áp dụng lý thuyết này đặc biệt cho tự nhiên hữu cơ, cho thực vật và động vật. Những loài sau cũng được coi là một mạng lưới của các thay đổi vị trí đơn thuần; chúng được nghiên cứu hoàn toàn theo cơ học - động vật như những cỗ máy. Việc chỉ đơn thuần đề cập đến lĩnh vực các hiệu hữu ấy có thể đặt ra giới hạn cho bản thể luận tự nhiên của Descartes. Nhưng nó vẫn chưa đầy đủ ngay cả trong tự nhiên vô cơ. Descartes đã cố gắng loại trừ một cách rõ ràng khái niệm lực khỏi vật lý: ac de vi qua (motus localis) excitatur…. non inquiramus (Principia Philosophiae Nguyên lý Triết học I, 65) “chúng ta sẽ hiểu rõ nhất về chuyển động nếu chỉ tìm hiểu về sự vận động, mà không xét đến lực tạo ra nó”. Chính xác hơn, Descartes vẫn chưa có khái niệm lực xác định về mặt vật lý, nhưng với thuật ngữ vis - lực, ông đã nghĩ đến ‘các phẩm chất huyền bí’ của triết học tự nhiên thuộc Trường phái Kinh viện.
Ngược lại, Leibniz có ý hướng coi động lực học là nền tảng cơ bản cho vật lý học toán học. Nhưng nhận xét này không chạm đến ý hướng triết học đích thực của ông. Mục đích siêu hình học bản thể luận của ông luôn đi kèm với ý hướng vật lý-bản thể mà không có sự phân chia rõ ràng các lĩnh vực, không có sự khác biệt về loại vấn đề và bằng chứng. Nếu muốn giảm thiểu những hàm ý của việc chuyển sang động lực học trong vật lý, liên quan đến ý nghĩa và ý hướng siêu hình học của nó, thì cần phải xem xét một thứ khác, cụ thể, đó là thứ đòi hỏi cả cấu trúc đơn tử luận của bản chất vật lý. Nếu ta giả định tiền đề bản thể luận của Descartes cho rằng bản chất của đối tượng vật lý nằm ở tính mở rộng của nó, thì mọi vật thể được mở rộng cuối cùng đều có thể được quy giản về các yếu tố tối hậu của cái được mở rộng, đó là các điểm toán học.
Theo một nghĩa nào đó, chúng là ‘các nhất tính’. Nhưng theo nghĩa nào? Chỉ là các giới hạn. Việc các điểm là các giới hạn có nghĩa theo hai điều: 1) bản thân chúng có thể phân chia ad infinitum vô hạn; nghĩa là, chúng không bao giờ mất đi đặc tính là các giới hạn, ranh giới; 2) điểm không còn là một hình lập phương, một mặt phẳng, một đường thẳng, mà chỉ là giới hạn của những thứ này. Một đơn vị như vậy được định nghĩa hoàn toàn phủ định. Đó là điều, chẳng hạn, xuất hiện sau này trong siêu hình học không gian của Hegel, khi Hegel nói rằng điểm là một sự phủ định đơn giản. Nó không phải là bất kỳ hình dạng không gian nào còn lại trong không gian, và với tư cách ‘không phải cái còn lại’, mỗi điểm đồng thời là phủ định của cái còn lại. Điểm chỉ là một đơn vị thống nhất của những gì còn lại. Nhưng ngay trong khái niệm của nó, nó là phần còn lại có thể thu gọn hơn nữa, mang tính giới hạn của sự phân mảnh cái toàn thể.
[Tr.75] Yếu tố cơ bản của extensio sự mở rộng chỉ mang đặc tính của giới hạn và phủ định. Là phần còn lại mang tính phủ định, nó không thể có thuộc tính thống nhất một tổng thể. Nó chỉ có thể tham gia vào một sự thống nhất và bản thân nó cần một sự thống nhất. Nếu extensio cấu thành bản chất bản thể học của sự vật tự nhiên, thì cái nguyên thủy trong bản chất này, điểm toán học, không bao giờ có thể làm cho sự thống nhất bản thể học của một hữu thể tự thân trở nên dễ hiểu và là nền tảng. Điều quyết định đối với những xem xét bản thể học về bản chất của sự vật là, nếu extensio về mặt siêu hình cấu thành res corporeal sự vật hữu hình, và nếu omne ens unum mọi hữu thể đều là một, thì yếu tố cơ bản của extensio, điểm toán học, phải cấu thành nhất tính của một res corporea sự vật hữu hình. Điều đó có thể xảy ra không? Không. Nếu không, thì extensio không phải là bản chất, khi đó cần một định nghĩa mới về bản chất, cùng với một sự xác định mới về ý nghĩa của ‘nhất tính’ ở đây.
Leibniz cũng phản bác Descartes rằng cái vẫn còn là bất biến và không đổi thì không phải là lượng chuyển động mà là độ lớn của lực. Tuy nhiên, độ lớn này không được xác định bởi công thức m x v (tích của khối lượng và vận tốc) mà là bởi m x v² (tích của khối lượng và bình phương của vận tốc). Từ đó, Leibniz kết luận rằng có điều gì đó thuộc về vật thể vượt ra ngoài khối lượng và chuyển động, do đó vượt ra ngoài extensio sự mở rộng. Vì vậy, Leibniz nói trong Systeme nouveau Hệ thống mới (G. IV, 478f.): Lúc đầu, sau khi thoát khỏi sự ràng buộc của Aristotle, tôi chấp nhận khoảng trống và các nguyên tử, vì chính những thứ này thỏa mãn trí tưởng tượng tốt nhất. Nhưng khi quay lại với chúng sau nhiều suy nghĩ, tôi nhận thấy rằng không thể tìm thấy các nguyên tắc của một sự thống nhất thực sự chỉ trong vật chất hoặc trong những gì chỉ mang tính thụ động, vì mọi thứ trong đó chỉ là một tập hợp hoặc sự kết hợp của các bộ phận đến vô cùng.[L. 454]
Cái gì mang tính phủ định và thụ động, thì bản thân nó cần sự thống nhất, không thể là nguyên tắc của nhất tính, không thể là cái thực sự thống nhất. Do đó nguyên tắc nhất tính phải được tìm kiếm trong chính cái gì đó tự thân nó mang tính thống nhất khẳng định và do đó mang tính chủ động. Đa bội tính, về bản chất, là realitas thực tại của nó, chỉ có thể tồn tại trên cơ sở một nhất tính chân. Leibniz tiếp tục (Ibid.): Giờ đây, đa bội tính chỉ có thể bắt nguồn từ những nhất tính chân có nguồn gốc khác và hoàn toàn khác với các điểm toán học, những điểm này chỉ đơn thuần là giới hạn của những gì được mở rộng, và chắc chắn rằng thể liên tục không thể được cấu thành từ những sửa đổi của chúng. Do đó, để tìm ra những unites reelles nhất tính thực sự, tôi buộc phải viện đến một điểm thực sự và sống động, hoặc một nguyên tử bản chất phải bao gồm một cái gì đó mang tính hình thức (hình thành) hoặc chủ động để [tr.76] tạo nên một hiện hữu hoàn chỉnh. Do đó, tôi buộc phải gọi chúng là những hình thức bản chất, ngày nay bị tấn công đến vậy, và đưa chúng trở lại vị trí danh dự.
Nhưng ở đây Leibniz đã nhận xét rõ ràng rằng những hình thức vật chất này không thể và không được dùng để “giải thích các vấn đề cụ thể của tự nhiên” Chúng không có chức năng bản thể trong các vấn đề của khoa học tự nhiên thực chứng. Tuy nhiên, chúng lại “cần thiết để xác định các nguyên tắc tổng quát chân” (Ibid.). Các ‘điểm sống động’ được cho là để giải quyết một vấn đề siêu hình học-bản thể luận. Những điểm này là các đơn vị, nhưng là các đơn vị sống động, các đơn tử. ‘Nguyên tử hình thức’ chính xác không phải là một phần còn lại của ὕλη hyle materia vật chất, một thứ cần được xác định, mà nó là yếu tố xác định. Nếu người ta tiếp nhận học thuyết này một cách hời hợt và không phải với một ý hướng siêu hình thuần túy - một ý hướng mà chính Leibniz không nhất quán duy trì trong suốt tác phẩm của mình - nếu người ta hiểu thuyết đơn tử một cách phổ biến, như thể rất ngây thơ, thì nó sẽ đưa ra một tuyên bố cho một cái gì đó giống như vật linh luận vậy: Mọi thứ, kể cả các thể nguyên tử, đều sống động và đầy những linh hồn và tâm trí nhỏ bé. Chính Leibniz đã đề cập đến ‘những vị thần nhỏ bé’. Sau đó, người ta có thể kể lại những câu nói sáo rỗng quen thuộc: Với Leibniz, chúng ta có một tư duy năng động thay vì một thế giới quan máy móc; ông ‘ủng hộ’ duy linh luận thay vì chủ nghĩa duy vật, cách giải thích thế giới của ông mang tính mục đích luận thay vì nhân quả một chiều - và tất cả những câu chuyện trẻ con khác mà người ta dễ thấy trong các cuốn lịch sử triết học thông thường.
Ngược lại, chúng ta có lý do chính đáng để phải giả định rằng cách diễn giải đơn tử luận về các hiện hữu này được khởi xướng với một ý hướng triết học đích thực. Trong nỗ lực làm sáng tỏ ý hướng này, vấn đề về tính thực thể của bản chất là một vấn đề siêu hình-bản thể luận có tính chất quyết định đối với cách diễn giải của chúng ta, mặc dù chính Leibniz không phải lúc nào cũng rõ ràng về vấn đề này, bởi vì chính tự thân khái niệm siêu hình học vẫn còn bị lẫn lộn. Nguyên tắc phương pháp luận của chúng ta phải là: Tính minh bạch đầu tiên về ý hướng dẫn dắt của chúng ta, và sau đó là tính minh bạch đối với những gì Leibniz nói về cách diễn giải đơn tử về tự nhiên. Chúng ta phải cố gắng làm sáng tỏ cốt lõi triết học đích thực của đơn tử luận. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể đánh giá lại theo cách hồi tưởng mức độ khả thể và đã được thực hiện đối với ý hướng của Leibniz, cách thức và lý do tại sao nó lại bị bóp méo một cách tất yếu. Trạng thái bóp méo không xảy ra một cách ngẫu nhiên, bởi vì mọi triết học, với tư cách là một vật thể người vốn dĩ thất bại; và Thiên Chúa không cần triết học. Nhưng để một triết học thậm chí có khả năng thất bại, thì cần phải có một nỗ lực mạnh mẽ để nó thành công!
[Tr.77] Khi lần đầu tiên mô tả các đơn tử, các điểm ‘đã’ và đang sống động và các điểm tạo nên sự sống, chúng ta cố ý bắt đầu với extension sự mở rộng, để làm rõ rằng vấn đề đơn tử luận trở nên cấp bách ngay cả khi các hiện hữu như vậy không có cùng phương thức hiện hữu như các sinh vật sống. Vậy thì điều gì đặc biệt cần ghi nhớ liên quan đến ý tưởng về các đơn tử? Ba điều: 1) Các đơn vị, các điểm, tự chúng không cần sự thống nhất mà chúng là thứ mang lại nhất tính. Chúng làm cho điều gì đó trở nên khả thể. 2) Các đơn vị mang lại nhất tính tự chúng là những đơn vị thống nhất nguyên thủy, theo một nghĩa nào đó là chủ động. Do đó, Leibniz gọi những điểm này là vis primitiva, lực nguyên thủy, lực đơn giản nguyên thủy. 3) Khái niệm về đơn tử này có ý hướng siêu hình-hữu thể luận. Vì vậy, Leibniz cũng gọi các điểm là point metaphysiques (op. cit. 482), ‘điểm siêu hình’, chứ không phải các điểm toán học. Chúng còn được gọi là ‘các nguyên tử hình thức’, chứ không phải các nguyên tử vật chất. Nghĩa là, chúng không phải là những mảnh cơ bản, tối thượng của ὕλη hyle, của materia vật chất, mà chúng là nguyên tắc bất khả phân chia nguyên thủy của sự hình thành, là forma cái hình thức, là εἶδος eidos.
Mỗi hiện hữu độc lập đều được cấu thành như một đơn tử, nghĩa là, ipsum persistens….primitivam vim habet ‘cái tự nó tồn tại….có sức mạnh nguyên gốc’ (Thư gửi de VoIder, ngày 21 tháng 1 năm 1704; L. 533). Việc nói rằng mỗi hiện hữu độc lập đều được ban cho sức mạnh có nghĩa là gì? Việc hiểu ý nghĩa siêu hình của đơn tử luận phụ thuộc vào việc hiểu đúng khái niệm vis primitiva lực nguyên thủy. Vấn đề về thực thể tính của bản chất cần được giải quyết một cách khẳng định, và đối với Leibniz, vấn đề đó là ‘cái nhất tính’ của đơn tử. Mọi điều được nói về ‘lực’ và chức năng siêu hình của nó phải được hiểu từ quan điểm của vấn đề định nghĩa nhất tính của bản chất theo cách khẳng định. Bản chất của ‘lực’ phải được hiểu thông qua vấn đề về nhất tính vốn có trong thực thể tính. Ngày nay chúng ta mới chỉ đang khám phá lại ý nghĩa cơ bản của các vấn đề siêu hình học tổng quát, cùng với những khó khăn của chúng. Tính bất lực trước các vấn đề siêu hình chỉ có thể được giải thích bằng sự đoạn tuyệt hoàn toàn mà triết học đương đại đã tạo ra với truyền thống cổ xưa vĩ đại. Đây là lý do duy nhất tại sao chưa có nỗ lực nào để nắm bắt triệt để Đơn tử luận của Leibniz trong ý hướng cốt lõi của nó, mặc dù Leibniz đã giải thích rõ ràng ý nghĩa và tầm quan trọng siêu hình tổng quát của vấn đề đơn tử luận về bản chất. Ông đã thực hiện điều này trong bài viết ngắn đã đề cập trước đó De primae Philosophiae Emendatione, et de Notione Substantiae - Luận về Tu chỉnh Triết học Thứ nhất và về Khái niệm Bản chất. Bài viết này đề cập đến việc cải tiến triết học đầu tiên, siêu hình học tổng quát (bản thể luận), bằng cách làm rõ [tr.78] khái niệm bản thể, bằng cách diễn giải đơn tử về thực thể tính.
Bài viết ngắn gọn chỉ chiếm một trang trong ấn bản Erdmann (121122; G. IV, 468-70) [L. 432-33]. Việc chúng ta có tiến tới ý nghĩa bản thể luận của Đơn tử luận hay vẫn mắc kẹt trong sự trống rỗng của triết học phổ biến phụ thuộc vào việc chúng ta có hiểu bài viết này hay không. Chủ đề là các natura substantiae in universum bản thể tự nhiên trong vũ trụ, thực chất của bản chất nói chung, thực thể tính theo đúng nghĩa. Notio substantiae, quam ego transfero, tam foecunda est, ut inde veritates primariae, etiam circa Deum et mentes, et naturam corporum, eaeque partim cognitae, sed parum demostratae, partim hactenus ignotae, sed maximi per ceteras scientas usus futurae, consequantur. (G. IV, 469) Khái niệm về thực thể mà tôi đưa ra quá hiệu quả đến nỗi từ đó dẫn đến những chân lý căn bản và nguyên thủy, những chân lý trên thực tế về Thiên Chúa, các linh hồn và bản chất của thể xác (nghĩa là về mọi hiện hữu và lãnh vực của chúng), những chân lý một phần được biết đến nhưng ít được chứng minh, một phần cho đến nay vẫn chưa được biết đến nhưng dù sao cũng có ý nghĩa lớn nhất đối với các ngành khoa học (phi triết học) khác. [L. 433]
Leibniz mở đầu cuộc thảo luận ngắn gọn của mình về bản chất như là khái niệm bản thể luận cơ bản với sự phản ánh tổng quát về sự cần thiết phải tinh chỉnh các khái niệm siêu hình học, những khó khăn kèm theo và những nỗ lực trước đó. Thông thường, toán học với các định nghĩa của nó được coi là paradigma hệ mẫu của sự rõ ràng và khác biệt, mặc dù ở đây Leibniz ở một mức độ nào đó thấy rằng việc tinh chỉnh và chứng minh các khái niệm siêu hình cơ bản là một loại thủ tục khác. “Video pleroque, qui Mathematicis doctrinis delectantur, a Metaphysicis abhorrere, quod in illis lucem, in his tenebras animadvertant. Cujus rei potissimam causam esse arbitror, quod notions generales, et quae maxime omnibus notae creduntur, humana negligentia atque inconstantia cogitandi ambiguae atque obscurae sunt factae; et quae vulgo afferuntur de6nitiones, ne nominales sunt quidem, adeo nihil explicant….Nec vero substantiae tantum, sed et causae, et actionis, et relationis, et similitudinis, et plerorumque aliorum terminorum generalium notiones veras et foecundas vulgo latere manifestum est. Unde nemo mirari debet, scientiam illam principem, quae Primae Philosophiae nomine venit…., adhuc inter quaerenda mansisse. (G. IV, 468-69) “Tôi thấy rằng hầu hết những người quan tâm đến khoa học toán học đều không thích siêu hình học vì họ nhận thấy ánh sáng ở toán học nhưng lại nhận thấy bóng tối ở siêu hình học. Tôi tin rằng lý do chính cho điều này [tr.79] là những khái niệm chung mà mọi người coi là đương nhiên đã trở nên mơ hồ và khó hiểu do sự bất cẩn và tính dễ thay đổi trong tư duy của con người; các định nghĩa thường được đưa ra cho những khái niệm cơ bản này thậm chí không phải là những định nghĩa mang tính định danh và do đó không mang lại chút ánh sáng nào….Rõ ràng là những khái niệm chân thực và hữu ích, không chỉ về bản chất, mà còn về nguyên nhân, hành động, quan hệ, sự tương đồng và nhiều thuật ngữ tổng quát khác, thường bị che khuất. Vì vậy, không ai nên ngạc nhiên nếu ngành khoa học chính, vốn xuất hiện dưới tên gọi triết học thứ nhất, cho đến nay vẫn còn nằm trong số những điều chưa được khám phá… Tuy nhiên, đối với tôi, dường như ánh sáng và tính chắc chắn cần thiết hơn trong siêu hình học so với tự thân toán học, bởi vì các vấn đề toán học mang theo những thử nghiệm và xác minh riêng của chúng, đây là lý do mạnh mẽ nhất cho sự thành công của toán học. Nhưng trong siêu hình học lại thiếu lợi thế này. Và vì vậy, một trật tự thủ tục đặc biệt nhất định là cần thiết, giống như sợi chỉ trong mê cung,….với tính minh bạch được bảo đảm không kém gì mức độ mà bất kỳ ai cũng muốn thấy trong ngôn ngữ hàng ngày.” [L. 433]
Theo Leibniz, siêu hình học đòi hỏi một phương thức khẳng định và giải thích khác với phương thức đã được chứng minh là hữu ích cho sự phát triển của toán học. Cần phải hướng tới tính minh bạch này, nhưng như vậy không có nghĩa là nhượng bộ trước đàm thoại hàng ngày và ‘lý giải phổ thông’. Việc đánh giá siêu hình học tổng quát bằng cách so sánh nó với toán học đã xuất hiện ở một mức độ nào đó từ thời Plato, và nó tiếp tục như một nguyên tắc chung kể từ thời Descartes, đến nỗi ngay cả đối với Kant cũng cần phải nêu rõ mối quan hệ này (xem Phê phán Lý tính Thuần túy, ‘Phương pháp siêu nghiệm’, Chương 1, Phần 1: ‘Bộ môn Lý tính Thuần túy trong việc Sử dụng Giáo điều của nó’, A 712-38, B 740-66). Ông nói: “Tri thức triết học là tri thức thu được bằng lý tính từ các khái niệm; tri thức toán học là tri thức thu được bằng lý tính từ việc xây dựng các khái niệm’ (A 713, B 741). Trong phương pháp luận cụ thể này, Kant không đạt được mức độ rõ ràng như trong diễn giải triết học thực sự của ông trong Chương về Lược đồ hóa. Cujus rei ut aliquem gustum dem, dicam interim, notionem virium seu virtutis (quam Germani vocant Krafft, Galli la force) cui ego explicandae peculiarem Dynamices scientiam destinavi, plurimum lucis afferre ad veram notionem substantiae intelligendam. (G. IV, 469) “Để cung cấp một sự hiểu biết sơ lược, tôi sẽ nói rằng khái niệm về lực hoặc sức mạnh, mà người Đức gọi là Kraft và người Pháp gọi là la force, và để giải thích nó, tôi đã thiết lập một ngành khoa học riêng biệt về động lực học, mang lại ánh sáng mạnh mẽ nhất cho sự hiểu biết của chúng ta về khái niệm chân về bản chất.” [L. 433]
[P.80] Ở đây, Leibniz ban đầu chỉ khẳng định rằng khái niệm về lực là yếu tố cấu thành cho việc diễn giải thực thể tính của bản chất. Nhưng ông không làm sáng tỏ mối liên hệ vốn có giữa các đặc tính của lực và nhất tính của bản chất. Ông chỉ giới hạn mình ở một nhiệm vụ sơ bộ, đó là làm rõ những gì ông hiểu về lực. Ông làm điều này bằng cách phân biệt nó với các khái niệm siêu hình học của trường phái kinh viện về potentia nuda tiềm năng thuần túy (passiva thụ động), potentia active – tiềm năng hành động và ‘actio’ chủ động, mà đến lượt chúng lại quay trở lại cuộc thảo luận của Aristotle về δύναμις dinamis động năng; ἐνέργεια enérgeia động năng và ἐντελέχεια entelecheia hoàn thiện). Lý thuyết về potentia passiva tiềm năng thụ động và potentia activa tiềm năng chủ động là một phần lớn và quan trọng của học thuyết kinh viện Aristotelian. Ở đây chúng ta không thể đi sâu vào vấn đề này. Sự phân biệt này là sự phân chia nhỏ hơn của một sự phân biệt tổng quát hơn mà chúng ta đã xem xét ở một mức độ nào đó theo một hướng khác. Dưới thuật ngữ essential bản chất hay realitas thực tại, cụ thể là khả tính theo nghĩa cái cấu thành nên bản chất của một sự vật, cho phép sự vật tồn tại trong cấu tạo thiết yếu của nó bất kể khả tính này có được hiện thực hóa hay không. Các nhà triết học kinh viện cũng gọi khả tính này là potentia objectiva tiềm năng khách thể hay metaphysica siêu hình; ‘có tính khách quan’ theo nghĩa cũ (giống như realitas objectiva thực tại khách quan đối với Descartes): ob-jectum vật thể bị tách ra, cái đặt trước mặt, cái đối lập với chính mình - chỉ đơn thuần là suy nghĩ về bản thân và tự mình diễn giải những khả tính thuần túy, bản chất của một sự vật. Bên cạnh potentia objectiva tiềm năng khách thể (possibilitas khả tính, essentia bản chất) này còn có một potential subjectiva chủ thể tiềm năng; subjectum chủ thể không theo nghĩa hiện đại mà theo nghĩa cổ xưa: cái nằm ở nền tảng, tự nó hiện hữu; và vì vậy nó cũng được gọi là potentia physica, năng lực vật lý. Đó là sức mạnh, năng lực bản thể luận capacitas rei ad aliquam perjectionem seu ad aliquem actum ‘năng lực của sự vật cho việc hoàn thiện hoặc cho một hành động nào đó’.
Potentialia subjectiva (physica) tiềm năng chủ thể (vật lý) này được chia thành activa chủ động và passiva thụ động. Thomas Aquinas, trong Questiones disputatae de potentia Câu hỏi Tranh luận về Tiềm năng (q. I, a. 1, resp.), nói: Duplex est potentia, una activa, cui respondet actus, qui est operatio; et huic primo nomen potentiae videtur fuisse attributum; alia est potentia passiva, cui respondet actus primus, qui est forma, ad quam similiter videtur secundario nomen potentiae devolutum. “Tiềm năng có hai mặt: một là hoạt động, tương ứng với hành động là hoạt động [chức năng, operatio hoạt động]; thứ hai là sức mạnh thụ động, và tương ứng với nó là hành động chủ yếu mang tính hình thức, mà thuật ngữ ‘sức mạnh’ dường như được áp dụng thứ yếu. Thuật ngữ ‘sức mạnh’ có hai nghĩa. Đầu tiên nó chỉ định sức mạnh để hoàn thành, bản thân việc đạt được, actus theo nghĩa [tr.81] hành động. Việc chỉ định ‘sức mạnh’ dường như trước hết là do hiện tượng này, khả năng hoàn thành. Nguyên nhân chính để phát triển khái niệm về khả tính rõ ràng bắt nguồn từ hiện tượng sức mạnh này. Sức mạnh theo nghĩa thứ hai là năng lực trải qua, cho phép một điều gì đó được tạo ra từ chính nó. Sức mạnh này là khuynh hướng, năng lực bẩm sinh. Thuật ngữ tương quan của nó là actus theo nghĩa forma, hiện thực tính. ‘Sức mạnh’ khi chỉ định cái cho phép bản thân được hiện thực hóa thành một cái gì đó dường như là một ý nghĩa phái sinh của thuật ngữ này.
Khái niệm hai mặt của potentia, sức mạnh, rõ ràng tương ứng với khái niệm hai mặt của actus. Thomas nói trong cùng đoạn văn: Actus autem est duplex: scilicet primus, qui est forma; et secundus, qui est operatio “Tuy nhiên, hành động có hai mặt: hành động đầu tiên, dĩ nhiên, là hình thức; và hành động thứ hai là hoạt động”. Khái niệm hành động có hai mặt. Hành động ‘đầu tiên’ biểu thị tính được thực hiện, hay nói đúng hơn forma, tính hiện thực của một cái gì đó. Hành động ‘thứ hai’ biểu thị hành động như là hành động của một cái gì đó đã hiện thực. Thứ tự số do đó phản ánh thứ tự của tự thân vấn đề. Potentia passiva sức mạnh thụ động tương ứng với actus qua forma hành động với tư cách hình thức, và potentia activa tương ứng với actus qua actio hành động với tư cách hành động. Nhưng loại tương ứng trong cả hai cặp khái niệm đều khác nhau. Về điều này, Thomas nói trong Summa Theologica Thần học Tổng luận I, q. xxv, a. 1, ad 1: Potentia activa non dividitur contra actum, sed fundatur in eo; nam unumquodque agit secundum quod est in actu. Potentia vera passive dividitur contra actum; nam unumquodque patitur, secundum quod est in potentia. “Sức mạnh chủ động không trái ngược với hành động, mà dựa trên hành động, vì mọi thứ đều hành động khi nó là hiện thực: nhưng sức mạnh thụ động trái ngược với hành động, vì một sự vật thụ động khi nó là tiềm năng.”
Sức mạnh để hoàn thành ở đây không được phân biệt với hành động với tư cách là hoạt động. Nghĩa là, sức mạnh để hoàn thành không phải là một thứ độc lập, mà một sự vật chỉ có thể chủ động hoàn thành khi chính nó tồn tại trong thực tính. Một sự vật không thể là chính nó nếu nó không phải thực tính. Ngược lại, sức mạnh, như sức mạnh để trở thành một cái gì đó, để cho phép một cái gì đó xảy ra với chính nó, lại khác biệt với thực tính, vì trong trường hợp này, một cái gì đó trở thành hiện thực đặc biệt phụ thuộc vào khuynh hướng của cái cho phép điều gì đó xảy ra với chính nó. Cái năng lực khác biệt với cái đang tồn tại và có thể tồn tại trên cơ sở của cái năng lực đó. Tự thân cái năng lực không cần sự hiện thực hóa. Đây là những khác biệt quan trọng đối với bản thể luận tổng quát và từ lâu chúng đã được diễn giải và đồng hóa một cách không đầy đủ. Điều quan trọng [tr.82] là phải nhìn xa hơn hình thức Kinh viện của một danh sách đơn thuần về sự khác biệt.
Leibniz phác họa khái niệm của mình về vis activa lực chủ động chống lại sự khác biệt giữa sức mạnh chủ động và thụ động. Chính xác hơn, ông mô tả nó chống lại quyền lực chủ động. Vis activa và potentia activa tiềm năng chủ động dường như có ý nghĩa giống nhau về mặt nghĩa đen. Nhưng: Differt enim vis activa a potentia nuda vulgo scholis cognita, quod potentia active Scholasticorum, seu facultas, nihil aliud est quam propinqua agendi possibilitas, quae tamen aliena excitatione et velut stimulo indiget, ut in actum transfemtur. (G. IV, 469) (G. IV, 469) “Lực chủ động khác với sức mạnh đơn thuần vốn thân thuộc với các Trường phái triết học, vì sức mạnh hay năng lực chủ động của triết học Kinh viện chỉ là một khả tính hành động gần đúng, vốn cần một kích thích hay tác động bên ngoài để được chuyển thành hành động.” [L. 433]
Tiềm năng chủ động của trường phái triết học Kinh viện chỉ là một khuynh hướng hành động, một khuynh hướng sắp hành động nhưng chưa hành động. Đó là một năng lực tồn tại trong một cái gì đó tồn tại, một năng lực chưa được phát huy. Sed vis activa actum quendum sive entelecheia continet, atque inter facultatem agendi actionem que ipsam media est, et conatum involvit. (Ibid.; xem thêm bên dưới về nisus, khuynh hướng.) “Nhưng lực chủ động chứa đựng một hành động nhất định hoặc ἐντελέχεια entelecheia việc hiện thực hóa, và do đó nằm giữa khả năng hành động và chính hành động đó và bao hàm một conatus xung lực. [L. 433] Vis activa sức mạnh chủ động là một hoạt động nhất định, tuy nhiên, không phải là hoạt động trong sự hoàn thành thực sự của nó. Nó là một khả năng, nhưng không phải là khả năng ở trạng thái nghỉ. Chúng ta gọi điều Leibniz muốn nói ở đây là ‘hướng tới…’, hoặc, tốt hơn hết, để làm nổi bật khoảnh khắc cụ thể, đã phần nào thực tế của hoạt động: thúc đẩy hoặc hướng tới, là sự thúc đẩy. Không phải là một khuynh hướng hay một quá trình được cho là như vậy, mà là ‘đảm nhận nó’, cụ thể là ‘tự mình gánh vác nó’. Ý ông là tự đặt mình vào, như trong thành ngữ “anh ta quyết tâm làm điều đó”, tự mình gánh vác nó. Bản thân sự thúc đẩy thường dẫn đến hoạt động, không chỉ đôi khi mà là về bản chất. Sự dẫn đến này không cần bất kỳ kích thích bên ngoài nào trước đó. Sự thúc đẩy là xung lực mà về bản chất là tự vận hành.
________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes
10. Cf. the summary on Leibniz's monadology in the lecture Einleitung in die Philosophie, Winter-Semester 1928129 [planned as volume 27 of the Gesamtausgabe]; the monadology is also dealt with in the seminar in winter semester 1929130 on truth and certainty in Descartes and Leibniz.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét