Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
III. Định nghĩa triết học theo Aristotle
[Tr.9] Giờ đây, việc minh định mang tính triết học cái ý tưởng về triết học với tư cách hồi tưởng và tập trung vào hiện tại có thể tự nó đi theo nhiều hướng khác nhau. Gần gũi nhất là xác định triết học bằng cách phân biệt nó với các khoa học phi triết học. Xét cho cùng, mối liên hệ mà triết học có được với các khoa học, bất chấp những biến đổi chi tiết, luôn là một mối liên hệ sống động, bởi vì đó là một mối liên hệ thiết yếu. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn đi theo con đường này, vì vấn đề về mối liên hệ giữa triết học và các khoa học thực chứng sẽ cuốn lấy chúng ta trong chính bản thân logic. Thay vào đó, chúng ta sẽ bắt đầu từ một ‘định nghĩa’ trực tiếp về triết học do Aristotle đưa ra. Và chúng ta chọn chính xác hướng tiếp cận này bởi vì, trong tư tưởng cổ đại, các vấn đề triết học cơ bản có thể hiểu được trong tính nguyên gốc của chúng - điều này không có nghĩa là tất cả các vấn đề cơ bản đều đã được đặt ra. Trên thực tế, triết học cổ đại là một khởi đầu khổng lồ, và như vậy nó chứa đựng trong mình một kho tàng những khả tính thực sự còn chưa được phát triển và một phần hoàn toàn ẩn kín. Tính nguyên gốc và chắc chắn của thời cổ đại tương ứng với sự lan man, thiếu định hướng về tâm lý học của triết học đương đại. Tóm lại, tính nguyên gốc của thời cổ đại tương ứng với nhu cầu hiện tại là đưa các vấn đề trở lại sự đơn giản; chỉ bằng cách này, bóng dáng của chúng mới có thể trở nên sắc nét.
[Tr.10] Hơn nữa, chúng ta chọn Aristotle trong triết học cổ đại vì ông đại diện cho đỉnh cao của sự phát triển triết học cổ đại đích thực. Nhưng bởi vì triết học là nỗ lực tự do triệt để nhất của sự hữu hạn của con người, nên về bản chất nó hữu hạn hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. Bản thân Aristotle còn xa mới đạt được sự hoàn thiện hay thậm chí là tính minh bạch cuối cùng về những gì đã đạt được. Điều này được thể hiện ngay trong cách ông mô tả triết học. [Ghi chú dài về Siêu hình học Aristotle: Ἔστιν ἐπιστήμη τις ἣ θεωρεῖ τὸ ὂν ᾗ ὂν καὶ τὰ τούτῳ ὑπάρχοντα καθ' αὑτό. αὕτη δ' ἐστὶν οὐδεμιᾷ τῶν ἐν μέρει λεγομένων ἡ αὐτή οὐδεμία γὰρ τῶν ἄλλων ἐπισκοπεῖ καθόλου περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὄν, ἀλλὰ μέρος αὐτοῦ τι ἀποτεμόμεναι περὶ τούτου θεωροῦσι τὸ συμβεβηκός, οἷον αἱ μαθηματικαὶ τῶν ἐπιστημῶν. ἐπεὶ δὲ τὰς ἀρχὰς καὶ τὰς ἀκροτάτας αἰτίας ζητοῦμεν, δῆλον ὡς φύσεώς τινος αὐτὰς ἀναγκαῖον εἶναι καθ' αὑτήν. εἰ οὖν καὶ οἱ τὰ στοιχεῖα τῶν ὄντων ζητοῦντες ταύτας τὰς ἀρχὰς ἐζήτουν, ἀνάγκη καὶ τὰ στοιχεῖα τοῦ ὄντος εἶναι μὴ κατὰ συμβεβηκὸς ἀλλ' ᾗ ὄν διὸ καὶ ἡμῖν τοῦ ὄντος ᾗ ὂν τὰς πρώτας αἰτίας ληπτέον. Τὸ δὲ ὂν λέγεται μὲν πολλαχῶς, ἀλλὰ πρὸς ἓν καὶ μίαν τινὰ φύσιν καὶ οὐχ ὁμωνύμως ἀλλ' ὥσπερ καὶ τὸ ὑγιεινὸν ἅπαν πρὸς ὑγίειαν, τὸ μὲντῷ φυλάττειν τὸ δὲ τῷ ποιεῖν τὸ δὲ τῷ σημεῖον εἶναι τῆς ὑγιείας τὸ δ' ὅτι δεκτικὸν αὐτῆς, καὶ τὸ ἰατρικὸν πρὸς ἰατρικήν (τὸ μὲν γὰρ τῷ ἔχειν ἰατρικὴν λέγεται ἰατρικὸν τὸ δὲ τῷ εὐφυὲς εἶναι πρὸς αὐτὴν τὸ δὲ τῷ ἔργον εἶναι τῆς ἰατρικῆς), ὁμοιοτρόπως δὲ καὶ ἄλλα ληψόμεθα λεγόμενα τούτοις,–οὕτω δὲ καὶ τὸ ὂν λέγεται πολλαχῶς μὲν ἀλλ' ἅπαν πρὸς μίαν ἀρχήν τὰ μὲν γὰρ ὅτι οὐσίαι, ὄντα λέγεται, τὰ δ' ὅτι πάθη οὐσίας, τὰ δ' ὅτι ὁδὸς εἰς οὐσίαν ἢ φθοραὶ ἢ στερήσεις ἢ ποιότητες ἢ ποιητικὰ ἢ γεννητικὰ οὐσίας ἢ τῶν πρὸς τὴν οὐσίαν λεγομένων, ἢ τούτων τινὸς ἀποφάσεις ἢ οὐσίας διὸ καὶ τὸ μὴ ὂν εἶναι μὴ ὄν φαμεν. καθάπερ οὖν καὶ τῶν ὑγιεινῶν ἁπάντων μία ἐπιστήμη ἔστιν, ὁμοίως τοῦτο καὶ ἐπὶ τῶν ἄλλων. οὐ γὰρ μόνον τῶν καθ' ἓν λεγομένων ἐπιστήμης ἐστὶ θεωρῆσαι μιᾶς ἀλλὰ καὶ τῶν πρὸς μίαν λεγομένων φύσιν καὶ γὰρ ταῦτα τρόπον τινὰ λέγονται καθ' ἕν. δῆλον οὖν ὅτι καὶ τὰ ὄντα μιᾶς θεωρῆσαι ᾗ ὄντα. πανταχοῦ δὲ κυρίως τοῦ πρώτου ἡ ἐπιστήμη, καὶ ἐξ οὗ τὰ ἄλλα ἤρτηται, καὶ δι' ὃ λέγονται. εἰ οὖν τοῦτ' ἐστὶν ἡ οὐσία, τῶν οὐσιῶν ἂν δέοι τὰς ἀρχὰς καὶ τὰς αἰτίας ἔχειν τὸν φιλόσοφον.
Phiên bừa: Có một ἐπιστήμη lĩnh vực tri thức nhất định nghiên cứu về bản thể như bản thể và các thuộc tính tất yếu thuộc về bản thể. 295. Lĩnh vực tri thức này không giống với bất kỳ lĩnh vực tri thức nào được gọi là tri thức chuyên biệt; vì không có lĩnh vực tri thức nào khác cố gắng nghiên cứu bản thể như bản thể nói chung, mà chỉ tách ra một phần của nó để nghiên cứu các thuộc tính ngẫu nhiên của phần đó. Ví dụ, đó là điều mà các lĩnh vực toán học thực hiện. Vậy là, vì chúng ta đang tìm kiếm các nguyên tắc và nguyên nhân tối hậu của sự vật, nên rõ ràng là chúng phải tự thân là nguyên nhân của một bản chất nào đó. Do đó, nếu những người đi trước chúng ta tìm kiếm các yếu tố của bản thể/hữu thể/tồn tại đã tìm kiếm những nguyên tắc này, thì chúng phải là các yếu tố của bản thể/hữu thể/tồn tại không phải một cách ngẫu nhiên mà là vì chúng là bản thể/hữu thể/tồn tại. Do đó, chính trong bản thể/hữu thể/tồn tại như là bản thể/hữu thể/tồn tại mà chúng ta cũng phải nắm bắt được những nguyên nhân đầu tiên. Thuật ngữ ‘bản thể’ được sử dụng theo nhiều nghĩa, nhưng đều liên quan đến một sự vật và một bản chất nào đó chứ không phải một cách mơ hồ. Như vậy, mọi thứ lành mạnh đều liên quan đến sức khỏe, thứ này liên quan vì nó bảo vệ sức khỏe, thứ khác liên quan vì nó tạo ra sức khỏe, thứ khác nữa liên quan vì nó là chỉ dấu của sức khỏe (như nước tiểu), rồi thứ khác nữa cũng liên quan vì nó bổ sung thêm sức khỏe. Theo cách tương tự, thuật ngữ ἰατρικὸν ‘chữa bệnh’ cũng liên quan tương tự đến ἰατρικήν [ἰατρικήν – iatrikēn, là một từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là y học, thuật chữa bệnh, hoặc thuộc về y tế, từ căn: ἰατρική iatrikē - danh từ giống cái; ἰατρικήν là dạng đối cách số ít, thường được sử dụng làm tân ngữ trong câu (ví dụ ‘học ngành y’, ‘thực hành y học’- HHN] ‘y thuật’; một thứ được gọi là ‘y tế, y học’ là có liên quan vì nó sở hữu y thuật, thứ khác liên quan vì nó tiếp nhận y thuật, và thứ khác nữa liên quan vì nó là hành động của những người sở hữu y thuật. Chúng ta có thể đưa ra những từ khác được sử dụng theo cách tương tự. Và tương tự như vậy, có nhiều nghĩa mà thuật ngữ τὸ ὂν ‘tồn tại/bản thể/hữu thể’ [τὸ ὄν là một thuật ngữ triết học Hy Lạp cổ đại, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là ‘cái đang là’, ‘bản thể’, ‘hữu thể’ hoặc ‘tồn tại’; τὸ tò - mạo từ trung tính, tương đương với ‘the’ trong tiếng Anh, chỉ một sự vật, cái gì đó; ὄν (on) là phân từ hiện tại của động từ εἰμί eimi là, tồn tại, có nghĩa là ‘đang là’, ‘đang tồn tại’, kết hợp lại τὸ ὂν biểu nghĩa ‘cái đang tồn tại’, ‘thực thể’; cấu trúc đặc biệt - Ego eimi: cụm từ ‘ἐγώ εἰμι’ Ego eimi, có nghĩa là ‘Ta là/Tôi là’; chia động từ thì hiện tại: εἰμί eimí - Tôi là; εἶ ei - Bạn là; ἐστί(ν) esti[n] - Anh ấy/Cô ấy/Nó là; ἐσμέν esmen - Chúng tôi là; ἐστέ este - Các bạn là; εἰσί(ν) eisi[n] - Họ là; τὸ ὂν là một khái niệm nền tảng trong siêu hình học và bản thể luận, đặc biệt quan trọng trong triết học của Plato và Aristotle - HHN] được sử dụng, nhưng mỗi nghĩa đều quy về một nguyên tắc đầu tiên. Bởi vì một số sự vật được gọi là tồn tại vì chúng là chất; những thứ khác được gọi là tồn tại vì chúng là ảnh hưởng của chất; những thứ khác nữa được gọi là tồn tại vì chúng là một quá trình hướng tới chất, hoặc sự hư hỏng, thiếu hụt, hoặc phẩm chất của chất, hoặc vì chúng là nguyên tắc sản xuất hoặc tạo sinh ra chất, hoặc của những thứ có liên quan đến chất, hoặc sự phủ định của một số trong số này hoặc của chất. Chính vì lý do này mà ngay cả khi nói về phi-tồn tại, chúng ta cũng nói rằng nó là phi tồn tại. Như vậy, vì có một lĩnh vực tri thức nghiên cứu tất cả những sự vật lành mạnh, nên điều tương tự cũng áp dụng cho các trường hợp khác. Bởi vì không chỉ trong trường hợp những sự vật có cùng một khái niệm chung thì việc nghiên cứu thuộc về một lĩnh vự tri thức học duy nhất, mà còn trong trường hợp những sự vật có liên quan đến cùng một bản chất chung; bởi vì ngay cả những sự vật này, theo một nghĩa nào đó, cũng có cùng một khái niệm chung. Rõ ràng là, việc khảo sát tất cả những sự vật tồn tại, xét về bản chất, cũng là công việc của một lĩnh vực tri thức học duy nhất. —Nhưng ở khắp mọi nơi, tri thức học chủ yếu nghiên cứu những cái cơ bản, là nền tảng của những sự vật khác, và nhờ đó mà chúng có tên gọi. Nếu đây là bản chất, thì nhà triết học phải nắm bắt các nguyên tắc và nguyên nhân của cái bản chất đó. Theo Αριστοτέλης, η Μεταφυσική: Βιβλίο Δ - Aristote, Siêu hình học: Quyển Δ (IV): 4.1–4.2 1003a21–1003b19-HHN]
Aristotle gọi khoa học này là Φιλοσοφία Πρώτη (Triết học Thứ nhất) (Meta. El, 1026a 30), triết học về cái thứ nhất, triết học bậc nhất, theo nghĩa chân thực. Ông lặp lại đặc điểm này: Meta. El, 1026a 31f: «καὶ περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὄν, ταύτης ἂν εἴη θεωρῆσαι, καὶ τί ἐστι καὶ τὰ ὑπάρχοντα ᾗ ὄν» 1511 (Meta. El, 1026a 31f). “Và nhiệm vụ của khoa học này là tìm hiểu các tồn tại/hiện hữu với tư cách hữu thể, minh định nó (về mặt này) là gì và những gì thuộc về nó, theo đúng nghĩa.” [Đoạn đầy đủ là: Η φράση «καὶ περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὄν, ταύτης ἂν εἴη θεωρῆσαι, καὶ τί ἐστι καὶ τὰ ὑπάρχοντα ᾗ ὄν» προέρχεται από τα Μετὰ τὰ Φυσικά του Αριστοτέλους (Βιβλίο Γ, 1003a) και αποτελεί τον θεμελιώδη ορισμό της «Πρώτης Φιλοσοφίας» ή οντολογίας. Σημαίνει: «Και [η επιστήμη αυτή] είναι δουλειά της να θεωρήσει [να μελετήσει] το ον ως ον, τόσο το τι είναι [την ουσία/ουσία] όσο και τα χαρακτηριστικά που ανήκουν σε αυτό ως ον». Đoạn văn “và liên quan đến các hiện hữu với tư cách tồn tại/hữu thể/bản thể, nếu điều đó được xem xét, thì cái là và cái tồn tại là hữu thể/bản thể” xuất phát từ siêu hình học Aristotle (Aristotle’s Metaphysics (Book III, 1003a) và cấu thành định nghĩa ‘Triết học Thứ nhất’ hoặc Bản thể học. Điều đó có nghĩa là: “Và [khoa học này] chính là lĩnh vực để xem xét [nghiên cứu] tồn tại là hữu thể, kể cả cái nó là [cái bản chất/vật chất] và các đặc điểm thuộc về nó với tư cách tồn tại.” ]
Mô tả triết học này có vẻ cực kỳ trừu tượng và trống rỗng: sự tìm hiểu về các hiện hữu như là hữu thể!. Điều muốn nói không phải là việc khảo sát về hiện hữu này hay hiện hữu kia, vật này, hòn đá này, cây này và con vật này, con người này, cũng không phải là khảo sát về tất cả các vật thể vật chất, tất cả thực vật, động vật, con người – mà trong mỗi trường hợp đó sẽ là khảo sát về một vùng cụ thể của cái đang tồn tại, của hữu thể. Nhưng Aristotle cũng không nói rằng triết học là việc tìm hiểu về tất cả các hữu thể được xem xét một cách tổng thể, tất cả các vùng này được xem xét cùng nhau. Thay vào đó, điều cần được khảo sát là cái τὸ ὂν ᾗ ὂν tò on hēi on các hiện hữu liên quan đến hữu thể, tức là chỉ liên quan đến điều làm cho một hiện hữu thể trở thành hữu thể đó: hiện hữu. Tri thức bậc nhất, tức là tri thức về cái đầu tiên, là tri thức về hữu thể. Nhưng ý nghĩa của ‘tồn tại/ hiện hữu’ dường như vẫn còn mơ hồ. Chúng ta không thể hình dung bất cứ điều gì dưới thuật ngữ này. Một tồn tại/ hiện hữu, hiện hữu này hay hiện hữu kia, chắc chắn chúng ta có thể đặt nó trước mắt mình - nhưng hữu thể thì sao? Tuy nhiên, Aristotle chắc chắn không khẳng định rằng tồn tại/hiện hữu đã hoàn toàn rõ ràng; ông nói rằng chính điều này cần được đặt câu hỏi. Đó là một vấn đề. Vấn đề của triết học là đặt câu hỏi này một cách đúng đắn và giải thích điều gì thuộc về hữu thể theo đúng nghĩa. Hữu thể với tư cách là chủ đề của triết học quả thực rất mơ hồ. Nó chỉ có thể được nói theo cách phủ định: đối tượng của triết học là không có gì thuộc về các hiện hữu với tư cách là một hiện hữu cụ thể.
Tuy thế nhưng Aristotle lại đồng thời nói về triết học chân thực với tư cách là θεολογίκή theologiké mang tính thần học (φιλοσοφία triết học) (Meta. Ibid., 1026a 18ff.). Điều đó liên quan đến cái αἴτια τοῖς φανεροῖς τῶν θείων aítia toîs phaneroîs tôn theíon những nguyên nhân/lý do đối với những biểu hiện của tự thân cái linh thiêng. Ông viết: εἰ δέ τί ἐστιν ἀΐδιον καὶ ἀκίνητον καὶ χωριστόν, φανερὸν ὅτι θεωρητικῆς τὸ γνῶναι, οὐ μέντοι φυσικῆς γε (περὶ κινητῶν γάρ τινων ἡ φυσική) οὐδὲ μαθηματικῆς, ἀλλὰ προτέρας ἀμφοῖν. ἡ μὲν γὰρ φυσικὴ περὶ χωριστὰ μὲν ἀλλ᾽ οὐκ ἀκίνητα, τῆς δὲ μαθηματικῆς ἔνια περὶ ἀκίνητα μὲν οὐ χωριστὰ δὲ ἴσως ἀλλ᾽ ὡς ἐν ὕλῃ: ἡ δὲ πρώτη καὶ περὶ χωριστὰ καὶ ἀκίνητα. ἀνάγκη δὲ πάντα μὲν τὰ αἴτια ἀΐδια εἶναι, μάλιστα δὲ ταῦτα: ταῦτα γὰρ αἴτια τοῖς φανεροῖς τῶν θείων. ὥστε τρεῖς ἂν εἶεν φιλοσοφίαι θεωρητικαί, μαθηματική, φυσική, θεολογική ὥστε τρεῖς ἂν εἶεν φιλοσοφίαι θεωρητικαί, μαθηματική, φυσική, θεολογική (οὐ γὰρ ἄδηλον ὅτι εἴ που τὸ θεῖον ὑπάρχει, ἐν τῇ τοιαύτῃ φύσει ὑπάρχει), καὶ τὴν τιμιωτάτην δεῖ περὶ τὸ τιμιώτατον γένος εἶναι. αἱ μὲν οὖν θεωρητικαὶ τῶν ἄλλων ἐπιστημῶν αἱρετώταται, αὕτη δὲ τῶν θεωρητικῶν. ἀπορήσειε γὰρ ἄν τις πότερόν ποθ᾽ ἡ πρώτη φιλοσοφία καθόλου ἐστὶν ἢ περί τι γένος καὶ φύσιν τινὰ μίαν (οὐ γὰρ ὁ αὐτὸς τρόπος οὐδ᾽ ἐν ταῖς μαθηματικαῖς, ἀλλ᾽ ἡ μὲν γεωμετρία καὶ ἀστρολογία περί τινα φύσιν εἰσίν, ἡ δὲ καθόλου πασῶν κοινή): εἰ μὲν οὖν μὴ ἔστι τις ἑτέρα οὐσία παρὰ τὰς φύσει συνεστηκυίας, ἡ φυσικὴ ἂν εἴη πρώτη ἐπιστήμη: εἰ δ᾽ ἔστι τις οὐσία ἀκίνητος, αὕτη προτέρα καὶ φιλοσοφία πρώτη, καὶ καθόλου οὕτως ὅτι πρώτη: καὶ περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὂν ταύτης ἂν εἴη θεωρῆσαι, καὶ τί ἐστι καὶ τὰ ὑπάρχοντα ᾗ ὄν. Phiên bừa: Giờ đây, nếu có một cái gì đó bất động, vĩnh hằng và tách rời khỏi vật chất, thì rõ ràng người ta biết về nó như một khoa học lý thuyết. Tuy nhiên, nó không thuộc về vật lý/triết học tự nhiên (vì khoa học này nghiên cứu những vật thể chuyển động nhất định), cũng không thuộc về toán học, mà thuộc về một khoa học có trước cả hai. Bởi vì vật lý/triết học tự nhiên nghiên cứu những thứ không thể tách rời khỏi vật chất nhưng không bất động. Nhưng nhất thiết phải luôn đi kèm với những nguyên nhân giống nhau, và đặc biệt là những nguyên nhân này: vì đó là những nguyên nhân hiện thân của thần thánh. Vì vậy, nếu có ba triết học lý thuyết, là toán học, vật lý, và thần học (vì vẫn không biết có phải nơi nào thần thánh tồn tại, thì thần thánh tồn tại trong cùng một bản chất hay không), và triết học đáng kính nhất coi nó thuộc về loại đáng kính nhất. Do đó, các khía cạnh lý thuyết của các lĩnh vực tri thức khác là heretical dị giáo, nhưng khoa học này thuộc về các khía cạnh lý thuyết. Vì ông đặt câu hỏi liệu sau này có phải là triết học đầu tiên hay không, hay liệu nó có liên quan đến một loại chi/giống và một số bản chất (vì phương pháp tương tự không có trong toán học, nhưng hình học và chiêm tinh học liên quan đến một số bản chất, và điều này là chung cho tất cả): nếu vậy thì không có bản chất nào khác ngoài bản chất của sự cấu thành, thì lĩnh vực tri thức tự nhiên là khoa học đầu tiên: nếu bản chất là bất động, điều này là có trước và triết học là đầu tiên, và hoàn toàn không giống việc nó là lĩnh vực tri thức đầu tiên: và về tồn tại/hiện hữu/hữu thể, nếu điều này được xem xét, nó là gì và các thực thể tồn tại với tư cách là tồn tại/hiện hữu/hữu thể. [Αριστοτέλης, Μεταφυσική, Βιβλίο ΣΤ΄ 1025b 3-1026a 32 - Α, Η Μέθοδος Διερεύνησης του Είναι. Κεφάλαιο 1 Aristotles, Siêu hình học, Quyển VI, Phương pháp Khảo sát Tồn tại/Hữu thể/Hiện hữu. Chương 1: 1025b 3-1026a 32 -HHN]
[Tr.11] [(οὐ γὰρ ἄδηλον ὅτι εἴ που τὸ θεῖον ὑπάρχει, ἐν τῇ τοιαύτῃ φύσει ὑπάρχει), καὶ τὴν τιμιωτάτην δεῖ περὶ τὸ τιμιώτατον γένος εἶναι: Rõ ràng là nếu thần thánh hiện diện ở bất cứ đâu, thì nó hiện diện trong loại thực thể này: và lĩnh vực tri thức cao quý nhất cũng phải nghiên cứu loại hữu thể cao quý nhất]; lĩnh vực tri thức cao quý nhất phải là khoa học về cái cao nhất, về cái đầu tiên. Tὸ θεῖον to theîon đơn giản có nghĩa là các hiện hữu – các thiên đàng: bao trùm và áp đảo, nơi mà chúng ta bị ném xuống dưới và lên trên đó, thứ làm chúng ta chói mắt và bất ngờ, cái áp đảo. Θεολόγείν theologein là sự chiêm nghiệm về κόσμος vũ trụ (xem de mundo 391b 4). Chúng ta hãy ghi nhớ rằng triết học, với tư cách là triết học đầu tiên, có tính chất kép: tri thức về hữu thể và tri thức về cái áp đảo. (Tính chất kép này tương ứng với tính chất kép trong Hữu thể và Thời gian của sự tồn tại và đặc tính bị liệng xuống.) Tuy nhiên, với định nghĩa này, chúng ta đã đi đến một định hướng ban đầu. Bởi vì bản thân khoa học này không chỉ đơn giản là hiển nhiên. Nó không phải là một loại sở hữu trực tiếp như tri thức thường nhật về sự vật và về bản thân chúng ta. Πρώτη Φιλοσοφία Prōtē Philosophia Triết học Thứ nhất, là ἐπιστήμη episteme: khoa học được tìm kiếm, khoa học không bao giờ có thể trở thành loại sở hữu cố định và, theo đúng nghĩa, chỉ có thể được truyền lại. Thực sự thì, đó là thứ tri thức chỉ có thể đạt được nếu mỗi lần đều được tìm kiếm lại từ đầu. Đó chính xác là một cuộc phiêu lưu, một ‘thế giới đảo ngược’: Nghĩa là, hiểu biết đích thực về hữu thể/bản thể phải tự thân đạt được trước tiên. Bản chất của khoa học này là nó phải được tìm kiếm. Chỉ có tri thức như vậy khi việc tìm kiếm và thiên hướng vươn tới nó còn sống động, một thiên hướng mà đằng sau nó là nỗ lực và ý chí. Tri thức này thiên về tự nguyện hướng tới hiểu biết nguyên gốc: φιλο-σοφία philo-sophia. Φιλείν philein có nghĩa là yêu thương theo nghĩa quan tâm đến điều gì đó một cách tin tưởng; σοφός sophós có nghĩa là người hiểu biết điều gì đó, người có thể ‘trụ vững – dưới’ một vấn đề, kẻ khảo sát mọi khả tính của nó, kẻ mà mọi sự vật đối với hắn phải minh bạch, vì đã nắm bắt được nó; σοφία sophia biểu thị khả tính hiểu biết khái niệm chính xác về những gì là thiết yếu. Vì vậy, trong Đạo đức Nicomachean (Z 7, 1141a 12), Aristotle định nghĩa σοφία sophia là ἀρετή τέχνης aretē technēs, như là khuynh hướng tự do vượt trội trong việc nhận thức những gì mình đang làm. ‘Sự khôn ngoan’, lối dịch thông thường σοφία sophia, nhìn chung là trống rỗng và gây hiểu lầm.
Trong đoạn văn nói về σοφός (Ibid., 1141b 3ff.) Aristotles có viết: διὸ Ἀναξαγόραν καὶ Θαλῆν καὶ τοὺς τοιούτους σοφοὺς μὲν φρονίμους δ᾽ οὔ φασιν εἶναι, ὅταν ἴδωσιν ἀγνοοῦντας τὰ συμφέροντα ἑαυτοῖς, καὶ περιττὰ μὲν καὶ θαυμαστὰ καὶ χαλεπὰ καὶ δαιμόνια εἰδέναι αὐτούς φασιν, ἄχρηστα δ᾽, ὅτι οὐ τὰ ἀνθρώπινα ἀγαθὰ ζητοῦσιν. “Đó là lý do tại sao người ta nói rằng những người như Anaxagoras và Thales ‘có thể thông thái nhưng không khôn ngoan’, khi họ thấy những người này thể hiện sự thiếu hiểu biết về chính lợi ích của mình; và trong khi thừa nhận họ sở hữu một tri thức hiếm có, kỳ diệu, khó hiểu và thậm chí siêu phàm, người ta vẫn tuyên bố tri thức này là vô dụng, bởi vì các bậc hiền triết này không tìm cách hiểu biết những điều tốt cho con người.” [Đoạn dịch trên của Harris Rackham (1868–1944); ai từng học hoặc liều chết dám mon men cày/ đọc nguyên bản Aristotles như kẻ Khảo cổ này đều biết rất rõ, ông là một học giả cổ điển nổi tiếng người Anh, được biết đến với các bản dịch văn bản Hy Lạp và Latinh, đặc biệt là cho Thư viện Kinh điển Loeb; ông nổi tiếng nhất với việc dịch các tác phẩm Đạo đức Nicomachean, Chính trị và Đạo đức Eudemian của Aristotle từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Anh - HHN].
[Tr.12] Chúng ta sẽ bình luận về điều quan trọng ở đây đối với bối cảnh của chúng ta: Vì vậy, người ta nói Anaxagoras và Thales và những người như vậy là σοφοί [Σοφοί phát âm: so-fí, là dạng số nhiều của từ σοφός sophós, có nghĩa là ‘những người khôn ngoan’, ‘các bậc hiền triết’, hoặc ‘những kẻ thông thái’; từ này có gốc từ σοφία sophia trí tuệ/sự khôn ngoan; trong triết học Hy Lạp cổ đại, từ này được dùng để chỉ những người am hiểu, có tri thức cao sâu, có liên quan đến các khái niệm như σοφιστής sophistés, số nhiều σοφισταί sophistai, nhà ngụy biện/người thầy hay φιλοσοφία philosophia triết học - tình yêu sự khôn ngoan; tóm lại, σοφοί có nghĩa là những người khôn ngoan/thông thái - HHN], những người hiểu biết, bởi vì người ta nhận thấy rằng những người này không chỉ nhìn vào lợi ích và ưu điểm của riêng mình mà còn hướng đến περίττας períttas số lẻ, những gì nằm ngoài quan điểm thông thường hàng ngày của lẽ thường - đối với θανμαστά thaumastá là một từ tiếng Hy Lạp cổ đại hoặc hiện đại, có nghĩa là ‘điều tuyệt vời’, ‘kỳ quan’, ‘kỳ diệu’ hoặc ‘đáng kinh ngạc’, đối với những gì khơi gợi kinh ngạc, như hoàn thiện, tức là những gì liên tục thúc đẩy hướng tới câu hỏi mới - đối với χαλεπὰ khalepá, những điều khó khăn, những gì không thể đạt được bằng các phương tiện thông thường của những cách suy nghĩ khéo léo và nhanh chóng - đối với δαιμόνια daimónia, ma quái, ác quỷ những gì thuộc về con người xét về khía cạnh tối thượng và toàn thể và khiến họ bị trói buộc (xem Meta. Al&2). Những thứ thuộc loại này là ἄχρηστα ákhrésta, vô dụng cho những nhu cầu hàng ngày; những người này không theo đuổi những thứ mà con người thường quan tâm, đó là khoái lạc và danh vọng.
Tuy nhiên, mọi thứ thiết yếu, có ý nghĩa quyết định mà không đập ngay vào mắt, luôn đi kèm với những gì chỉ trông giống như sự vật chính cống, có thật, lại chỉ là vẻ bề ngoài. Đó là lý do tại sao, trong mỗi thời kỳ, triết học đều phải mang theo mình một thứ gì đó trông giống như triết học và bắt chước nó về cách thức và hành vi, thậm chí còn vượt trội hơn - nhưng về bản chất lại gây ra sự bối rối. Vẻ bề ngoài của φιλόσοφος philósophos nhà triết học lại chính chính là σοφιστής sophistés, nhà ngụy biện. Nhà ngụy biện này không phấn đấu cho sự hiểu biết thực sự, không có sự kiên trì, mà chỉ nhấm nháp mọi thứ, luôn là những thứ mới nhất và thường là những thứ thực sự đáng giá, nhưng ông ta chỉ nhấm nháp và bị cám dỗ bởi sự tò mò và lừa bịp đơn thuần. Ông ta không phải là người tìm kiếm sự hiểu biết, tức là không phải là người thực sự hiểu biết. Đúng hơn ông ta là kẻ duy lý hóa, đối với anh ta không có gì là chắc chắn, ngoại trừ những điều ông ta nhận thấy mình không thể đạt được bằng phương tiện của mình. Tuy nhiên, ông không đơn giản bỏ qua vấn đề thứ hai mà cố gắng chứng minh rằng những điều như vậy không tồn tại hoặc chỉ là sự bịa đặt của các nhà triết học. Đối với ông, tất cả chỉ là chuyện phiếm, bất kể chúng có thực sự tồn tại hay không. Ὅί γὰρ διαλεκτικοὶ καὶ σοφισταὶ τὸ αυτο μὲν ύποσύοὲ ταὶ σχῆμα τὧ φιλόσοφὧ ῇ γὰρ σοφιστικής φαινομὲνη (Meta. r 2, l004b 17ft'.) [Các nhà biện chứng và các nhà ngụy biện có vẻ ngoài giống hệt nhà triết học, bởi vì ngụy biện chỉ là trí tuệ về hình thức mà thôi.]
[Ghi chú dài câu trên của Aristotles trong văn sau: (i) ὥστ᾽ ἐπειδὴ πολλαχῶς τὸ ἓν λέγεται, καὶ ταῦτα πολλαχῶς μὲν λεχθήσεται, ὅμως δὲ μιᾶς ἅπαντά ἐστι γνωρίζειν: οὐ γὰρ εἰ πολλαχῶς, ἑτέρας, ἀλλ᾽ εἰ μήτε καθ᾽ ἓν μήτε [25] πρὸς ἓν οἱ λόγοι ἀναφέρονται. ἐπεὶ δὲ πάντα πρὸς τὸ πρῶτον ἀναφέρεται, οἷον ὅσα ἓν λέγεται πρὸς τὸ πρῶτον ἕν, ὡσαύτως φατέον καὶ περὶ ταὐτοῦ καὶ ἑτέρου καὶ τῶν ἐναντίων ἔχειν: ὥστε διελόμενον ποσαχῶς λέγεται ἕκαστον, οὕτως ἀποδοτέον πρὸς τὸ πρῶτον ἐν ἑκάστῃ κατηγορίᾳ πῶς πρὸς ἐκεῖνο [30] λέγεται: τὰ μὲν γὰρ τῷ ἔχειν ἐκεῖνο τὰ δὲ τῷ ποιεῖν τὰ δὲ κατ᾽ ἄλλους λεχθήσεται τοιούτους τρόπους. (ii) φανερὸν οὖν [ὅπερ ἐν ταῖς ἀπορίαις [điểm nghẽn] ἐλέχθη [đã được nói]] ὅτι μιᾶς περὶ τούτων καὶ τῆς οὐσίας ἐστὶ λόγον ἔχειν (τοῦτο δ᾽ ἦν ἓν τῶν ἐν τοῖς ἀπορήμασιν), (iii) καὶ ἔστι τοῦ φιλοσόφου περὶ πάντων δύνασθαι θεωρεῖν. [1004β] [1] εἰ γὰρ μὴ τοῦ φιλοσόφου, τίς ἔσται ὁ ἐπισκεψόμενος εἰ ταὐτὸ Σωκράτης καὶ Σωκράτης καθήμενος, ἢ εἰ ἓν ἑνὶ ἐναντίον, ἢ τί ἐστι τὸ ἐναντίον ἢ ποσαχῶς λέγεται; ὁμοίως δὲ καὶ περὶ τῶν ἄλλων τῶν τοιούτων. [5] ἐπεὶ οὖν τοῦ ἑνὸς ᾗ ἓν καὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὂν ταῦτα καθ᾽ αὑτά ἐστι πάθη, ἀλλ᾽ οὐχ ᾗ ἀριθμοὶ ἢ γραμμαὶ ἢ πῦρ, δῆλον ὡς ἐκείνης τῆς ἐπιστήμης καὶ τί ἐστι γνωρίσαι καὶ τὰ συμβεβηκότ᾽ αὐτοῖς. καὶ οὐ ταύτῃ ἁμαρτάνουσιν οἱ περὶ αὐτῶν σκοπούμενοι ὡς οὐ φιλοσοφοῦντες, ἀλλ᾽ ὅτι πρότερον ἡ οὐσία, [10] περὶ ἧς οὐθὲν ἐπαΐουσιν, ἐπεὶ ὥσπερ ἔστι καὶ ἀριθμοῦ ᾗ ἀριθμὸς ἴδια πάθη, οἷον περιττότης ἀρτιότης, συμμετρία ἰσότης, ὑπεροχὴ ἔλλειψις, καὶ ταῦτα καὶ καθ᾽ αὑτοὺς καὶ πρὸς ἀλλήλους ὑπάρχει τοῖς ἀριθμοῖς (ὁμοίως δὲ καὶ στερεῷ καὶ ἀκινήτῳ καὶ κινουμένῳ ἀβαρεῖ τε καὶ βάρος [15] ἔχοντι ἔστιν ἕτερα ἴδια), οὕτω καὶ τῷ ὄντι ᾗ ὂν ἔστι τινὰ ἴδια, καὶ ταῦτ᾽ ἐστὶ περὶ ὧν τοῦ φιλοσόφου ἐπισκέψασθαι τὸ ἀληθές. (iv) σημεῖον δέ: οἱ γὰρ διαλεκτικοὶ καὶ σοφισταὶ τὸ αὐτὸ μὲν ὑποδύονται σχῆμα τῷ φιλοσόφῳ: ἡ γὰρ σοφιστικὴ φαινομένη μόνον σοφία ἐστί, καὶ οἱ διαλεκτικοὶ [20] διαλέγονται περὶ ἁπάντων, κοινὸν δὲ πᾶσι τὸ ὄν ἐστιν, διαλέγονται δὲ περὶ τούτων δῆλον ὅτι διὰ τὸ τῆς φιλοσοφίας ταῦτα εἶναι οἰκεῖα. περὶ μὲν γὰρ τὸ αὐτὸ γένος στρέφεται ἡ σοφιστικὴ καὶ ἡ διαλεκτικὴ τῇ φιλοσοφίᾳ, (v) ἀλλὰ διαφέρει τῆς μὲν τῷ τρόπῳ τῆς δυνάμεως, τῆς δὲ τοῦ βίου [25] τῇ προαιρέσει: ἔστι δὲ ἡ διαλεκτικὴ πειραστικὴ περὶ ὧν ἡ φιλοσοφία γνωριστική, ἡ δὲ σοφιστικὴ φαινομένη, οὖσα δ᾽ οὔ. Phiên bừa: Do đó, vì có nhiều nghĩa mà một sự vật được cho là một, nên các thuật ngữ này cũng sẽ có nhiều nghĩa, nhưng chỉ có một lĩnh vực tri thức (science) duy nhất là biết được tất cả các nghĩa đó; vì một thuật ngữ thuộc về các lĩnh vực tri thức khác nhau nếu không phải nó có các nghĩa khác nhau, và nếu nó không có một nghĩa duy nhất và các định nghĩa về nó không thể quy về một nghĩa trung tâm duy nhất. Và vì tất cả mọi thứ đều được quy về cái gốc gác, chẳng hạn như tất cả những thứ được gọi là một đều được quy về cái cơ bản, chúng ta phải nói rằng điều này cũng đúng với cái giống nhau và cái khác và với những cái trái ngược nói chung; do đó, sau khi phân biệt các nghĩa khác nhau của mỗi thứ, chúng ta phải giải thích bằng cách quy về cái cơ bản trong trường hợp của mỗi vị ngữ được đề cập, bằng cách nói rằng chúng có liên quan đến nó như thế nào; vì một số sẽ được gọi bằng cái tên mà chúng được gọi, bởi vì chúng sở hữu nó, còn những thứ khác được gọi bằng cái tên khác bởi vì chúng sản sinh ra nó, và những thứ khác nữa cũng được gọi theo những cách tương tự khác. Rõ ràng là, một lĩnh vực tri thức (science) có khả năng giải thích cả những khái niệm này cũng như bản chất (đây là một trong những câu hỏi trong cuốn sách về các vấn đề của chúng ta), (iii) và chức năng của nhà triết học là có khả năng khảo sát mọi thứ. Bởi vì nếu đó không phải là chức năng của nhà triết học, thì ai sẽ hỏi liệu Socrates và Socrates ngồi đó có phải là cùng một sự vật hay không, hoặc liệu một thứ có một mặt trái hay không, hoặc mặt trái là gì, hoặc nó có bao nhiêu nghĩa? Và tương tự với tất cả các câu hỏi khác như vậy. Bởi vậy, vì đây là những sửa đổi thiết yếu của nhất tính với tư cách là nhất tính và của tồn tại/hiện hữu/hữu thể với tư cách là tồn tại/hiện hữu/hữu thể, chứ không phải với tư cách là số, đường thẳng hay lửa, nên rõ ràng là lĩnh vực tri thức (science) này có nhiệm vụ khảo sát cả bản chất của những khái niệm này và các thuộc tính của chúng. HHN]
Φιλοσοφία philosophia Triết học khác với σοφιστική sophistikē ngụy biện τοῦ βίου τῇ προαιρέσει của cuộc sống bằng cách lựa chọn (Ibid., 1004b 24ff'.), thông qua tồn tại bằng cách nắm bắt tồn tại từ trước, tức là, thông qua tính ‘nghiêm túc’.* [*Triết học khác với ngụy biện ‘durch das Im-vorhinein-ergriffenhaben der Existenz,’ bằng cách nắm bắt được sự tồn tại từ trước mà trong đó Ergrijfensein nó dịch chuyển có nghĩa là bị cuốn hút bởi một tình cảm mãnh liệt và cũng hàm ý hành động hiểu biết thông thường được thể hiện bằng Ergreifen nắm bắt. Nhưng chỉ dùng cụm từ ‘hành động tinh thần’ thôi thì sẽ gợi lên quá nhiều về sự kiểm soát có ý thức, trong khi chúng ta đang bàn đến một khía cạnh tiên nghiệm của Befindlichkeit Tâm thái] Nhà triết học [tr.13] đã tự mình đảm bảo tính nghiêm túc của khái niệm, của việc đặt câu hỏi cơ bản. Mọi thứ thường nhật, hàng ngày, tầm thường (tình trạng sa ngã) đều trái ngược với nỗ lực này. Ngược lại, nhà ngụy biện, với tư cách là người lý giải và tự cho mình là người biết tất cả, tự cho mình nhiệm vụ tác động đến con người, thuyết phục họ rằng họ phải quan tâm đến nhu cầu tinh thần của nhau. Triết học (Φιλοσοφία) là sự nỗ lực hướng tới khả tính hiểu biết đích thực. Do đó, nó thực sự không phải là nhãn hiệu cho bất kỳ loại tri thức nào có thể được lưu truyền tự do. Nó không phải là việc sở hữu thông tin và học thuyết. Triết học về bản chất phải được tìm kiếm, nghĩa là đối tượng của nó phải ‘giành được’ ngay từ đầu. Nhưng triết học tìm ra đối tượng nào mà nó nên lấy làm đối tượng nhận thức của mình? Nỗ lực hướng tới khả tính hiểu biết đúng đắn về cái cốt yếu, hay sự hiểu biết này, có đối tượng là hữu thể/hiện hữu/tồn tại. Đây là điều cốt yếu. Hiểu biết hướng tới cái cốt yếu này là điều đầu tiên chừng nào nó còn là hiểu biết về cái có trước vạ vật, cái tồn tại sớm hơn, trước mọi thứ khác nữa, nghĩa là có trước các hiện hữu riêng lẻ. Nhưng hữu thể/hiện hữu/tồn tại luôn có trước các hiện hữu riêng lẻ, bởi vì nó là cái được hiểu đầu tiên trước khi bất cứ thứ gì giống như một hiện hữu có thể xuất hiện ở bất cứ đâu và bằng bất kỳ cách nào. Do đó, triết học là tri thức về hữu thể/hiện hữu/tồn tại. Trong chừng mực nó hướng tới sự hiểu biết và xác định về mặt khái niệm, cho một λόγος của τὸ ὂν ᾗ ὂν to on hei on, [hữu thể/hiện hữu/tồn tại với tư cách là hữu thể/hiện hữu/tồn tại] thì đó là Hữu thể luận. Khái niệm này không có nguồn gốc Hy Lạp, chỉ xuất hiện lần đầu vào cuối thế kỷ XVII, như trong tác phẩm của Descartes ở Clauberg. Nhưng mô tả này sẽ chẳng có gì nhiều nếu chưa làm rõ được các khả tính và nhiệm vụ nội tại trú ngụ trong một khoa học như vậy và nó dựa trên loại cơ sở nào.
Lưu ý: Triết học cố gắng hình dung về hữu thể, chứ không phải là hiện hữu này hay tồn tại kia. Đúng thế, vậy thì chúng ta muốn nói gì về hữu thể khi phân biệt với các thực thể? Hữu thể của một vật hiện hữu có nghĩa là gì? [Vorhandenheit/ Present-at-hand là một thuật ngữ triết học quan trọng trong Sein und Zeit Tồn tại và Thời gian của Martin Heidegger, mô tả trạng thái của các vật thể khi chúng được quan sát, nghiên cứu hoặc nhận biết như những đối tượng khách quan, tách rời khỏi ngữ cảnh sử dụng hàng ngày của chúng; là sự vật tồn tại như một ‘đối tượng’ trước mặt, đơn thuần là cái đang hiện hữu, tồn tại độc lập với con người, có thể quan sát, đo lường hoặc phân tích; Heidegger phân biệt sự vật trong trạng thái Zuhandenheit/Ready-to-hand - sẵn sàng sử dụng và Vorhandenheit/ Present-at-hand; ví dụ, một cây búa đang được dùng để đóng đinh thì nó là Zuhandenheit/Ready-to-hand: ta không nghĩ về nó, mà chỉ sử dụng; khi cây búa bị gãy, nó trở thành Vorhandenheit/ Present-at-hand vì ta dừng lại, quan sát nó như một vật thể hỏng, để xem xét nó hỏng bộ phận nào, sửa ra sao để dung được. HHN] Ví dụ, hòn đá: nó có màu sắc, độ cứng, độ bóng, hình dạng không gian, trọng lượng, kích thước nhất định. Những đặc điểm này thuộc về nó như hiện hữu này. Nó ‘là’ tất cả những điều này, là như thế này thế kia. Nhưng ý nghĩa của việc nó hiện hữu – kiểu hiện hữu Vorhandenheit/ Present-at-hand ngay trước mắt và hiện hữu như thế này thế kia là gì? Hiện hữu Vorhandenheit/ Present-at-hand ngay trước mắt của viên đá không tự nó hiện hữu ngay trước mắt trong chính nó, như là màu sắc, độ cứng, v.v. Cái đặc trưng của viên đá là cái mà dựa trên đó tôi nói nó hiện diện, ngay cả khi tôi không xem xét nó vào lúc này, ngay cả khi chính tôi không hiện diện. Và cái mà tôi muốn nói đến bằng ‘bản thân tôi’ cũng là một hiện hữu. Liệu hiện hữu đó cũng hiện hữu trong hiện hữu đó nếu tôi không tồn tại? Rõ ràng là không – ‘tôi’ thuộc về nó. Tuy nhiên, đây không phải là hai, hữu thể của một viên đá và của cái ‘tôi’. Nhưng trong trường hợp cái hiện hữu có thể nói ‘tôi’ lại chính là thứ hiện hữu cam kết với hiện hữu của chính nó và tự chịu trách nhiệm cho cái hiện hữu này.
[Tr.14] Nhưng triết học, trước hết, cũng là θεολογίκή theologikē mang tính thần học. Điều này có nghĩa là gì, một phần phụ, một nét hoàn thiện, một thế giới quan? Liệu φιλοσοφία triết học có phải là θεολογίκή mang tính thần học, chỉ để có một kết luận? Hay triết học hoặc là bản thể học hoặc là thần học? Hay là cả hai cùng một lúc? Liệu điều được tìm kiếm với từ ‘thần học’ thực sự nằm trong bản chất của triết học được hiểu một cách toàn diện và triệt để? Hay cái xuất hiện trong Aristotle như là thần học vẫn là tàn dư của thời kỳ đầu của ông? Liệu đó là siêu hình học cũ, và bản thể học là siêu hình học mới? Và liệu có sự tiến hóa nào diễn ra từ cái này sang cái kia? Những câu hỏi này1 không thể được giải quyết chỉ bằng cách diễn giải lịch sử-ngữ văn học.2 Ngược lại, chính cách diễn giải này lại đòi hỏi chúng ta phải được hướng dẫn bởi một sự hiểu biết về vấn đề phù hợp với những gì được truyền lại. Và trước hết chúng ta phải có được sự hiểu biết như vậy.3 Với mô tả hai mặt của triết học theo quan điểm Aristoteles là ‘bản thể học’ và ‘thần học’, hoặc là không nói gì cả, hoặc là nói tất cả mọi thứ, tùy thuộc vào cách chúng ta mang theo những khả tín hiểu biết độc đáo của riêng mình. Vậy thì thần học thuộc về bản chất của triết học theo nghĩa nào và ở mức độ nào? Để chứng minh điều này, chúng ta phải làm rõ những gì Aristoteles đã nói một cách khá mơ hồ, như là θεολογίκή theologikē mang tính thần học, giao thoa với triết học. Và chúng ta phải làm cho điều này dễ hiểu theo cách mà chúng ta cấp tiến hóa khái niệm bản thể học. Như vậy, chúng ta cũng có thể có được một điểm thuận lợi để trả lời câu hỏi về mối quan hệ giữa triết học và thế giới quan. Nhưng đối với nhiệm vụ cụ thể của chúng ta, điều quan trọng là mô tả chân trời tổng quát mà trong đó logic triết học phải vận động, một chân trời sẽ trở thành của chúng ta ở những chiều kích hữu hình hơn chính xác thông qua sự suy ngẫm triết học cụ thể về các vấn đề cơ bản của logic. Việc chúng ta quay trở về với Aristoteles sẽ chỉ trở thành phép hồi tưởng đích thực khi ở đây và bây giờ chúng ta triết học hóa vấn đề. Nhưng ngay từ đầu khóa học, chúng ta chưa thể nghĩ đến đẩy mạnh suy tư tập trung vào khoảnh khắc về bản chất của triết học đến mức có thể hiểu ngay lập tức định nghĩa và đặc điểm kép của Aristotle trở nên quan trọng như thế nào. Ở giai đoạn này, chúng ta chỉ có thể gợi ý những gì là quan trọng đối với suy tư tập trung vào khoảnh khắc.
_______________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes
1. Cf. Paul Natorp, "Thema und Disposition der Aristotelischen Metaphysik," Philosophische Monatshefte 24 (1888), pp. 37-65 and 540-74.
2. cr. Werner Jaeger, Aristoteles,
Grundlegung einer Geschichte seiner
Entwicklung (Berlin, 1923) [Aristotle: Fundamentals of his Development, trans. Richard
Robinson, (Oxford: Clarendon, 1948, reprinted 1960)).
3. Cf. Kant on this point: "Von dem transzendentalen Ideal," Kritik der reinen Vemunft, A 571-83, B 599-611.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét