Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực
a) Đơn tử như là động lực
Hiện tượng thúc đẩy không chỉ mang theo nguyên nhân, theo nghĩa giải phóng, mà bản thân sự thúc đẩy đã được giải phóng. Tuy nhiên, nó được kích hoạt theo cách mà nó vẫn luôn luôn tích tụ, vẫn căng thẳng. Động lực tương ứng có thể bị cản trở trong lực đẩy của nó, nhưng trong trường hợp đó nó không giống như một [tr.83] khả năng hành động chỉ mang tính tĩnh. Tuy nhiên, việc loại bỏ trở ngại vẫn có thể cho phép động lực trở nên tự do. Do đó, động lực không cần thêm nguyên nhân nào từ bên ngoài, mà ngược lại, chỉ cần loại bỏ một số trở ngại hiện có, hay nói cách khác, theo cách diễn đạt khéo léo của Max Scheler, nó cần ‘giải phóng khỏi trở ngại’. Trong cùng một bài viết, Leibniz nói (ibid.): Atque ita per se ipsam in operationem fertur; nec auxiliis indiget, sed sola sublatione impedimenti [do đó tự nó được thực hiện bởi chính nó và không cần trợ giúp gì ngoài việc loại bỏ một trở ngại]. Một chiếc cung cong minh họa ý nghĩa của ông.
Sau khi làm rõ khái niệm vis activa lực chủ động như là động lực - bản dịch dung chữ ‘lực’ gây hiểu nhầm vì nó dễ dẫn đến quan niệm về một thuộc tính tĩnh - Leibniz đã đi đến định nghĩa cốt yếu: Et hanc agendi virtutem omni substantiae inesse ajo, semperque aliquam ex ea actionem nasci; “Tôi nói rằng sức mạnh hành động này vốn có trong mọi bản chất (cấu thành substantiae thực thể tính của nó) và một số hành động luôn phát sinh từ nó.” Nó là động lực và có tính sản sinh. Producere có nghĩa là: “dẫn dắt/hướng dẫn”, tự xuất hiện và duy trì kết quả trong chính nó. Định nghĩa này như là động lực cũng áp dụng cho các bản chất hữu hình. Khi các vật thể tác động lên nhau, động lực chỉ bị giới hạn và hạn chế ở các mức độ khác nhau. Những người theo chủ nghĩa Descartes đã bỏ qua điều này qui essentiam ejus (substantiae corporeae) in sola extension…. collocaverunt (ibid.) “kẻ đã đặt bản chất (của vật chất hữu hình) chỉ trong sự mở rộng”.
Mọi hiện hữu đều có đặc tính động lực này và được định nghĩa, bằng hiện hữu của nó, là có động lực. Đây là đặc điểm siêu hình cơ bản của cái đơn tử, mặc dù cấu trúc của động lực vẫn chưa được xác định rõ ràng. Điều được ngụ ý ở đây là một tuyên bố siêu hình có tầm quan trọng tối cao, mà chúng ta cần phải dự đoán ngay bây giờ. Bởi vì, với tư cách là phổ quát, cách diễn giải này về genuine being hữu thể đích thực cũng phải giải thích khả tính của các hiện hữu như một tổng thể. Tuyên bố cơ bản Đơn tử luận hàm ý gì về cách các mà các hiện hữu khác nhau cùng tồn tại trong toàn bộ vũ trụ? Nếu mỗi hiện hữu, mỗi đơn tử, đều có xung lực riêng, thì điều đó có nghĩa là nó mang theo những yếu tố thiết yếu hữu thể của nó, mục tiêu và phương thức hoạt động của nó. Sự hiện diện của tất cả các hiện hữu cùng nhau, hay nói đúng hơn là sự thúc đẩy lẫn nhau của các đơn tử khác, về bản chất là phủ định trong mối quan hệ có thể có của nó với mỗi đơn tử cá thể. Không một chất nào có thể truyền động lực của nó, vốn là bản thể thiết yếu của nó, cho các chất khác. Nó chỉ có thể cản trở hoặc không cản trở, và ngay cả chức năng này nó cũng chỉ có thể thực hiện một cách gián tiếp. Mối quan hệ giữa các chất với nhau chỉ mang tính hạn chế và do đó về bản chất là mang tính phủ định. Leibniz rất rõ ràng về điểm này:
[Tr.84] Apparebit etiam ex nostris meditationibus, substantiam creatam ab alia substantia creata non ipsam vim agendi, sed praeexistentis jam nisus sui, sive virtutis agendi, limites tantummodo ac determinationem accipere. (Ibid.) Qua sự suy ngẫm của chúng ta, rõ ràng là một chất được tạo ra nhận được từ một chất được tạo ra khác, không phải lực tác động của chính nó, mà chỉ là những giới hạn và sự xác định của nỗ lực hoặc sức mạnh hành động tồn tại từ trước của chính nó. [L. 433] Nisus praeexistens sức đẩy có sẵn này rất quan trọng. Leibniz kết thúc bài viết bằng câu nói: Ut alia Nunc taceam ad Solndum illud problema difficile, de substantiarum Operatione in se invicem, profutura [Giờ đây không nói đến những vấn đề khác, tôi sẽ để việc giải quyết vấn đề khó khăn về tác động lẫn nhau của các chất lên nhau cho tương lai].
Lưu ý: Leibniz cũng mô tả vis activa lực chủ động là ἐντελέχεια entelecheia trạng thái hoàn thành khi đề cập đến Aristotle, chẳng hạn trong Systeme nouveau Hệ thống mới và Monadologie Đơn tử luận (§18; G. VI, 609) [L. 453, 643, tương ứng], và ông bổ sung thêm lời giải thích: car elles ont en elles une certaine perfection (ἔχοσί τὸ ἐντελές échosí tó entelés); ‘vì chúng có trong mình một sự hoàn hảo hoặc trọn vẹn nhất định.’ Chúng hoàn chỉnh ở chỗ mỗi monad đơn tử (như sẽ được chứng minh sau) đã mang theo nội dung tích cực của nó, và với cách thức là nội dung đó một cách tiềm năng lại chính là vũ trụ. Cách hiểu này về ἐντελέχεια entelecheia trạng thái hoàn thành không phù hợp với ý định thực sự của Aristotle. Mặt khác, bằng cách gán cho nó một ý nghĩa mới, Leibniz đã khẳng định chính thuật ngữ này thuộc về Đơn tử luận của ông. Ngay từ thời Phục Hưng, ἐντελέχεια entelecheia đã được dịch theo nghĩa của Leibniz là perfectihabia; [Perfectihabia là một thuật ngữ triết học mang nghĩa đen là ‘tình trạng sở hữu sự hoàn hảo’. Theo Gottfried Wilhelm Leibniz từ này dịch sát nghĩa từ gốc Hy Lạp Entelechy mà Aristotle từng sử dụng; trong triết học, từ này thường được hiểu như sau: i) Sự tồn tại viên mãn - dùng để mô tả trạng thái của một thực thể (hoặc các đơn tử - monad của Leibniz) đã đạt được mục đích, sự hoàn thiện nội tại và thực hiện trọn vẹn tiềm năng của mình; ii) Trạng thái năng động - khác với sự tĩnh lặng, ‘perfectihabia’ hay ἐντελέχεια entelecheia biểu thị một dạng hoạt động không ngừng, liên tục và tự duy trì để giữ vững sự hoàn hảo đó bên trong sự vật-HHN] trong tác phẩm Monadologie Đơn tử luận, chương 148, đã nêu tên Hermolaus Barbarus là người dịch thuật ngữ này. Vào thời Phục Hưng, Hermolaus Barbarus (1454-1493) đã dịch và chú giải Aristotle và bài bình luận của Themistios, nhằm mục đích khôi phục lại hình ảnh Aristotle trong văn liệu Hy Lạp trước Chủ nghĩa Kinh viện thời trung cổ. Đương nhiên, nhiệm vụ của ông gặp phải nhiều khó khăn đáng kể. Người ta truyền lại rằng, vì bối rối trước ý nghĩa triết học của thuật ngữ ἐντελέχεια entelecheia, ông đã cầu khẩn Ác quỷ để được chỉ dẫn. (Ngày nay chúng ta cũng đang ở trong tình huống tương tự.)
Đến đây, chúng ta đã giải thích một cách tổng quát khái niệm vis activa: 1) vis activa có nghĩa là động lực; 2) động lực này được cho là vốn có trong mọi substance thực chất với tư cách thực thể; 3) một sự hoàn thành hoặc thực hiện nào đó đều liên tục phát sinh từ động lực. Nhưng bây giờ chúng ta mới đi đến vấn đề siêu hình thực sự về substantiality thực thể tính, về câu hỏi đối với nhất tính của substance thực thể như là hữu thể sơ cấp. Leibniz gọi cái không phải là vật chất là ‘hiện tượng’, một cái gì đó phái sinh, một sự dư thừa. Về vấn đề nhất tính [tr.85], chúng ta đọc các đoạn trong tác phẩm của Leibniz chỉ trích quan niệm của Descartes về thực tại như là sự mở rộng, cái res extensa thực thể mở rộng. Chỉ trích cho rằng ‘nhất tính’ không phải là kết quả của sự tích lũy, sự bổ sung sau đó, mà nhất tính được tìm thấy trong cái mang lại nhất tính từ trước. Nhất tính với tư cách là sự ban tặng nhất tính là chủ động, vis activa, động lực. Nó là primum constitutivum cấu thành đầu tiên, của nhất tính của thực thể/bản chất (Thư gửi de VoIder, ngày 30 tháng 6 năm 1704, (G. 11, 267) [L. 535]. Đây là vấn đề trung tâm của Đơn tử luận, vấn đề về động lực và substantiality thực thể tính. Đặc tính cơ bản của hoạt động này giờ đây đã được làm rõ, nhưng vẫn còn phải xem xét làm thế nào mà một thứ như động lực lại có thể tự thân ban cho-nhất tính. Câu hỏi quan trọng tiếp theo là: Trên cơ sở đơn tử tự-thống nhất này, toàn bộ vũ trụ tự cấu thành nên chính nó như thế nào trong tính liên kết của nó? Trước tiên, chúng ta cần xem xét thêm một khía cạnh khác.
b) Tìm kiếm đầu mối dẫn dắt cho việc diễn giải về hiện hữu/bản thể.
Chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh rằng chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa siêu hình của Đơn tử luận khi chúng ta dám mạo hiểm xây dựng những mối liên hệ và quan điểm thiết yếu, và khi chúng ta làm như vậy bằng cách đi theo con đường đã dẫn dắt chính Leibniz trong việc xây dựng Đơn tử luận. Đơn tử luận cố gắng làm sáng tỏ bản thể của các hiện hữu. Do đó, một ý niệm mang tính hệ mẫu về bản thể phải được tìm thấy ở đâu đó, và nó phải được tìm thấy ở nơi mà một cái gì đó giống như bản thể tự biểu hiện ngay lập tức đối với người đặt ra các câu hỏi triết học. Chúng ta liên hệ với các hiện hữu, tham gia vào và lạc mất chính mình trong chúng. Chúng ta bị choáng ngợp và mê hoặc bởi các hiện hữu. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ liên hệ theo cách này với các hiện hữu, mà bản thân chúng ta cũng là những hiện hữu - mỗi chúng ta đều là như vậy. Và chúng ta như vậy không phải một cách thờ ơ, mà theo cách chính hiện hữu của chúng ta là một mối quan tâm đối với chúng ta. Do đó, bên cạnh những lý do khác, hiện hữu của chính mình, theo một cách nào đó, luôn là manh mối dẫn dắt. Điều này cũng đúng với Đơn tử luận. Ý nghĩa hàm chứa của chức năng dẫn dắt này, và những gì được hình dung (ex-istence sự tồn tại/đứng-ngoài) thông qua đó, vẫn chưa được nghiên cứu về mặt hữu thể luận. Việc liên tục tham chiếu đến Dasein của chính mình, đến cấu trúc-hiện hữu và phương thức-hiện hữu của cái ‘Tôi’ của chính mình, đã cung cấp cho Leibniz mô hình về ‘nhất tính’ mà ông gán cho mọi hiện hữu. Các hiện hữu được diễn giải bằng cách tương tự với linh hồn, sự sống, tinh thần. Điều này trở nên rõ ràng trong nhiều đoạn văn. Tính minh bạch về manh mối dẫn dắt này rất quan trọng để hiểu được cách diễn giải của Leibniz về các hiện hữu, điều này có những hệ quả quan trọng.
[Tr.86] Bằng cách xem xét ‘linh hồn’ hay
‘hình thức’, nảy sinh ý tưởng về một sự thống nhất thực sự tương ứng với cái mà
trong chúng ta được gọi là cái ‘Tôi’; một nhất tính như vậy không thể xảy ra
trong máy móc nhân tạo hoặc trong một khối vật chất đơn giản… nó có thể được so
sánh với một đội quân hoặc một đàn gia súc, hoặc với một cái ao đầy cá, hoặc một
chiếc đồng hồ làm bằng lò xo và bánh răng. (Systeme
nouveau Hệ thống mới; G. IV, 482) [L. 546] “Tôi coi bản chất tự thân, nếu
nó có động lực ban đầu, như một đơn tử bất khả phân chia và hoàn hảo - có thể
so sánh với ego cái tôi của chúng ta.
(Thư gửi nhà triết học phái Descartes de VoIder tại Đại học Leyden, ngày 20
tháng 6 năm 1703; G. II, 251) [L.530] Có thể gợi ý thêm rằng nguyên tắc hoạt động
(động lực) này có thể hiểu được đối với chúng ta ở mức độ cao nhất bởi vì ở một
mức độ nào đó, nó tương tự như những gì vốn có trong chính chúng ta, cụ thể là
tái hiện và nỗ lực.” (Thư gửi de VoIder, ngày 30 tháng 6 năm 1704, G. II, 270) Ở
đây rõ ràng là định nghĩa về thực thể xuất phát, trước hết, bằng cách tương tự
với cái ‘Tôi’ và, thứ hai, do nguồn gốc này mà nó sở hữu mức độ dễ hiểu cao nhất.
“Ngược lại, tôi chỉ giả định ở khắp mọi nơi điều mà tất cả chúng ta đều phải thừa
nhận xảy ra khá thường xuyên trong tâm hồn mình, đó là những thay đổi nội tại tự-kích
hoạt, và với giả định duy nhất này, tôi đã bao quát toàn bộ mọi thứ.” (Thư gửi
de VoIder, 1705, G. II, 276)
Vì vậy, giả định duy nhất, nội dung thực sự của dự án siêu hình, là ý niệm về hiện hữu được rút ra từ trải nghiệm của tự ngã, từ sự thay đổi tự-kích hoạt có thể nhận biết được trong cái tôi, từ bản năng. “Nếu chúng ta coi các hình thức thực thể (vis primitiva lực nguyên thủy) như một cái gì đó tương tự như linh hồn, thì người ta có thể nghi ngờ liệu chúng đã bị bác bỏ một cách chính đáng hay không” (Thư gửi John Bernoulli, ngày 29 tháng 7 năm 1698, Math. Schr.11 III 12, 522, dịch từ Bk. II, 366). Điều đó không có nghĩa là formae substantiales các hình thức thực thể chỉ đơn giản là linh hồn, rằng chúng là những thứ mới và những hạt nhỏ, mà chúng tương ứng với ‘linh hồn’ hơn. Linh hồn chỉ đơn thuần là động lực để hình dung cấu trúc cơ bản của đơn tử. “Chính vì vậy, khi chúng ta nghĩ về bản thân mình, cái mà chúng ta nghĩ về hiện hữu, về thực thể, về cái đơn giản và cái phức hợp, về cái phi vật chất, và về chính Chúa, bằng cách hình dung về cái bị giới hạn trong chúng ta là vô hạn trong Ngài.” (Monadologie – Đơn tử luận, 130; G. VI, 612.) [L. 646].
[Tr.87] Đối với toàn bộ vấn đề nói chung, liên quan đến manh mối dẫn dắt của tự-phản tư và tự-nhận thức, ở đây có một bức thư hữu ích gửi Nữ hoàng Sophia Charlotte của Nước Phổ mà chúng ta cần tham khảo, “Về những gì độc lập với giác quan và vật chất,” (1702, G. VI, 499-508) [L. 547]. Nội dung liên quan như sau: “Suy tư này về bản thân thần, kẻ tri giác các đối tượng khả tri, và về hành động của chính thần kết cục từ đó, bổ sung thêm điều gì đó cho các đối tượng của giác quan. Nghĩ về một màu sắc nào đó và xem xét rằng thần đang nghĩ về nó - hai suy nghĩ này rất khác nhau, cũng giống như chính màu sắc khác với ego cái tôi tư duy về nó. Vì thần nhận thức rằng có những hiện hữu khác cũng có quyền nói ‘Tôi’, hoặc đối với những hiện hữu mà điều này có thể nói ra, nên nhờ đó mà thần nhận thức được cái gọi là thực thể nói chung. Chính sự xem xét về bản thân thần cũng cung cấp cho thần những khái niệm siêu hình khác, chẳng hạn như khái niệm về nguyên nhân, kết quả, hành động, sự tương đồng, v.v., và thậm chí cả những khái niệm về logic và đạo đức.” Cuối cùng, trong bức thư đó: “Hiện hữu tự thân và chân lý không được hiểu hoàn toàn thông qua các giác quan…Do đó quan niệm này về hiện hữu và chân lý được tìm thấy trong ego cái tôi và trong sự hiểu biết hơn là bằng các giác quan bên ngoài và lối tri giác về các đối tượng bên ngoài.” (G. VI, 502/3)
Tóm lại, tất cả những điều này dẫn đến kết luận gì? Thứ nhất, mặc dù có nhiều điểm khác biệt với Descartes, Leibniz vẫn duy trì quan điểm giống như Descartes về tính ưu việt của sự tự tin của bản ngã. Giống như Descartes, ông nhìn thấy trong cái ‘Tôi’, trong cái ego cogito (Tôi tư duy), chiều kích mà từ đó tất cả các khái niệm siêu hình cơ bản phải được rút ra. Tuy nhiên, chức năng dẫn dắt của bản ngã vẫn còn mơ hồ ở một số khía cạnh. Thứ nhất, chủ thể tự đặt ra vấn đề về sự tồn tại có thể tự đặt mình vào nghi vấn. Chủ thể khi đó có thể coi mình là có tính hệ mẫu bởi vì, với tư cách là một hiện hữu có sự hiện hữu của chính nó, nó cung cấp ý niệm về sự hiện hữu theo đúng nghĩa. Chủ thể cũng có thể xem mình là cái hiểu về hiện hữu. Là một hiện hữu có cấu trúc đặc biệt, chủ thể có trong hiện hữu của mình một hiểu biết về hiện hữu; trong trường hợp đó, hiện hữu không chỉ đơn thuần đề cập đến sự tồn tại của Dasein.
Liên quan đến tri thức hiện hữu như vậy, Leibniz nói: Et je voudrois bien savoir, comment nous pourrions avoir fidee de I'estre, si nous n'estions des Estres nous memes, et ne trouvions ainsi I'estre en nous. (Nouveaux Essais I, 1, §23; G. V, 71; cf. cũng §21 và Discours, §27, và Monadologie, §30)12 [Và tôi muốn [tr.88] biết làm thế nào chúng ta có thể có ý tưởng về hiện hữu nếu chúng ta không phải là chính mình và do đó không tìm thấy “tự mình là những hiện hữu và tìm thấy hiện hữu bên trong chính mình”. Leibniz cũng muốn nói rằng, để có được ý niệm này, tất nhiên chúng ta phải tồn tại. Nhưng ông còn muốn nói nhiều hơn thế. Về phương diện siêu hình học, chính bản chất của chúng ta là nằm ở chỗ chúng ta không thể là chính mình nếu không có ý niệm về hiện hữu. Nghĩa là, sự hiểu biết về hiện hữu là yếu tố cấu thành nên Dasein. Nhưng từ đó không suy ra rằng chúng ta có được ý niệm về hiện hữu bằng cách dựa vào chính mình như những hiện hữu. Thay vào đó, nguồn gốc gần nhất của ý niệm này là dửng dưng – thứ hiện diện không phân biệt của thế giới và chính chúng ta. (Nhân tiện, khái niệm ‘mana’ [Trong văn hóa Melanesia và Polynesia, mana là một sức mạnh siêu nhiên thấm đẫm trong vũ trụ; bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì cũng có thể có mana; người ta tin rằng đó là sự trau dồi hoặc sở hữu năng lượng và sức mạnh, chứ không phải là một nguồn sức mạnh; đó là một sức mạnh có ý hướng; vào thế kỷ 19, các học giả đã so sánh mana với các khái niệm tương tự như orenda của người da đỏ Iroquois và đưa ra giả thuyết rằng mana là một hiện tượng phổ quát để diễn giải nguồn gốc của các tôn giáo; tuy nhiên, các nghiên cứu sau này đã bác bỏ giả thuyết ấy; mana là một yếu tố nền tảng của vật linh luận Polynesia, một phẩm chất tâm linh có nguồn gốc siêu nhiên và là một sức mạnh thiêng liêng, phi cá nhân; mana được coi là một ‘sức mạnh siêu việt ban phước’ có thể ‘biểu hiện trực tiếp’ thông qua nhiều cách khác nhau, nhưng thường thể hiện qua lời nói, cử chỉ hoặc nghi lễ truyền thống của một ‘nhà tiên tri, thầy tế lễ hoặc tộc trưởng.- HHN] giải thích cho sự không phân biệt này và thứ hiện hữu được trao cho [thế giới].) Chính chúng ta là nguồn gốc của ý niệm về tồn tại, nhưng nguồn gốc này phải được hiểu là sự siêu việt nguyên thủy của Dasein. Đây là ý nghĩa của việc rút ra ý niệm về hữu thể từ ‘chủ thể’. Sự hiểu biết về hữu thể chỉ thuộc về chủ thể khi chủ thể là một cái gì đó. Điều đó vượt lên trên mọi thứ. Nhiều cách diễn đạt khác nhau về hữu thể nảy sinh từ sự siêu việt. Tuy nhiên, ý niệm về Hữu thể như vậy là vấn đề khó khăn và tối thượng. Trong chức năng đa diện như một manh mối dẫn dắt của cái tôi, bản thân chủ thể vẫn hoàn toàn chưa được làm rõ về mặt bản thể luận. Leibniz đặt ra và giải quyết vấn đề về sự tồn tại, vấn đề cơ bản của siêu hình học, bằng cách viện dẫn đến chủ thể. Mặc dù làm nổi bật các hiện tượng bản thể đích thực, việc viện dẫn cái tôi này, với Leibniz cũng như với những người tiền nhiệm và kế nhiệm của ông, vẫn còn mơ hồ chính vì bản thân cái ‘Tôi’ không được hiểu trong cấu trúc thiết yếu và cách hiện hữu đặc thù của nó.
Đây là lý do tại sao, với Leibniz, phải nảy sinh ấn tượng rằng cách diễn giải Đơn tử luận về các hiện hữu chỉ đơn giản là nhân hình hóa, một loại vật linh luận phổ quát nào đó bằng cách tương tự với cái ‘Tôi’: Nhưng không nên hiểu Leibniz một cách hời hợt và tùy tiện như vậy, ngoài việc ông cố gắng biện minh cho việc xem xét tương tự này về mặt siêu hình học: “Vì bản chất của sự vật là đồng dạng, nên bản chất của chúng ta không thể khác biệt vô hạn so với các thực thể đơn giản khác của cái mà toàn bộ vũ trụ bao gồm” (Thư gửi de VoIder, ngày 30 tháng 6 năm 1704; G. II, 270) [L. 537]. Tất nhiên, cách biện minh mà ông đưa ra ở đây là một nguyên tắc bản thể luận tổng quát, bản thân nó cũng cần được chứng minh. Thay vì giả định một tuyên bố trực tiếp và thô thiển về nhân hình hóa, chúng ta phải hỏi ngược lại: Những cấu trúc Dasein nào của chính chúng ta được cho là trở nên có liên quan đến việc diễn giải bản thể của thực thể? Những cấu trúc này được sửa đổi như thế nào [tr.89] để có đặc quyền làm cho tất cả các cấp độ tồn tại đơn nhất trở nên dễ hiểu? Ở đây cần nêu lại vấn đề trung tâm: Động lực của thực thể mang lại nhất tính như thế nào, bản thân động lực phải được định nghĩa ra sao?
c) Cấu trúc của động lực
Nếu động lực, hay cái được định nghĩa là cái tồn tại như động lực, được cho là mang lại nhất tính chừng nào nó là động lực, thì bản thân nó phải đơn giản. Nó không được có các bộ phận theo nghĩa của một tập hợp, một bộ sưu tập. Primum constitutivum cấu thành cơ bản phải là một nhất tính không thể chia cắt. Quae res in plura (actu jam existentia) dividi potest, ex pluribus est aggregata, et res quae ex pluribus aggregata, et res quae ex pluribus aggregata est, non est unum nisi mente nee habet realitatem nisi a contentis mutuatam. Hinc jam inferebam, ergo dantur in rebus unitates indivisibiles, quia alioqui nulla erit in rebus unitas vera, nee realitas non mutuata. Quod est absurdum. (Letter to de VoIder, June 30, 1704; G. II, 267). “Bất cứ thứ gì có thể chia thành nhiều thứ (thực sự đang tồn tại) thì đều là một tập hợp của nhiều thứ, và một thứ là tập hợp của nhiều thứ thì không phải là một, ngoại trừ về mặt tinh thần, cũng không có thực tại tính ngoại trừ bằng cách mượn thực tại từ các nội dung của nó (nó chỉ mượn nội dung cốt yếu của nó). Từ đó, tôi suy ra rằng có những nhất tính không thể chia cắt trong các sự vật bởi vì nếu không thì sẽ không có sự nhất tính thực sự trong các sự vật cũng như không có thực tại tính nào không phải là vay mượn. Và điều đó thật vô lý.” Và trong § 1 của Monadologie Đơn tử luận, Leibniz nói: “Thứ đơn tử mà chúng ta đang thảo luận ở đây không gì khác ngoài một thực thể đơn giản tham gia vào các hợp chất. Nó đơn giản, tức là nó không có các bộ phận” (G. VI, 607).
Tuy nhiên, nếu substance thực thể chỉ đơn thuần là thống nhất, thì phải có sẵn một cái gì đó đa tính mà nó thống nhất, bởi nếu không thì toàn bộ vấn đề unification thống nhất hóa sẽ trở nên vô nghĩa và thừa thãi. Cái thống nhất và cái có bản chất là thống nhất do đó về bản chất phải có mối quan hệ với cái đa tính. Điều này có nghĩa là phải có một cái đa tính ngay trong cái đơn tử với tư cách là đơn thuần và thống nhất; cái đơn tử với tư cách là đơn giản và thống nhất, theo đúng nghĩa phải xác định trước cái đa tính khả thể. Bởi vì cái đơn thuần thống nhất là Drang động lực và chỉ khi thực hiện động lực đồng thời mang trong mình cái đa tính, và là đa tính, thì cái đa tính phải có đặc tính của động lực, phải có chuyển động theo đúng nghĩa. Nhưng cái đa tính đang chuyển động là cái có thể thay đổi và cái luôn thay đổi. Cái đa tính bên trong động lực phải có đặc tính Gedrängte bị nén lại. Cái bị nén là cái gì đó Be-drängte bị ép lên. Nhưng [tr.90] trong động lực thì chính động lực là cái bị ép lên. Như vậy, trong chính động lực đã có sự tự vượt lên; có sự thay đổi, biến đổi, chuyển động. Điều này có nghĩa là động lực chính là cái thay đổi tự thân khi tiếp tục vận hành; động lực là cái Ge-drängte được thúc đẩy tiến lên. Động lực, với tư cách là primum constitutivum of substance yếu tố cấu thành đầu tiên của thực thể, phải đơn giản là thống nhất và vừa là nguồn gốc vừa là phương thức hiện hữu của cái có thể thay đổi. Ý nghĩa của simply unifying ‘đơn giản thống nhất’ cần được định nghĩa thêm. Nhất tính không phải là sự tập hợp tiếp theo của một tập hợp, mà là sự thống nhất tổ chức nguồn cội. Điều này có nghĩa là nguyên tắc cấu thành của sự thống nhất phải có trước cái tùy thuộc vào sự thống nhất khả thể. Cái thống nhất phải đi trước bằng cách vươn tới một cái gì đó mà từ đó mọi sự đa dạng đã nhận được unity nhất tính của nó. Thống nhất đơn giản ban đầu phải là một sự vươn ra và, như một sự vươn ra, phải nắm bắt trước theo cách mà toàn bộ sự đa dạng đã trở nên đa dạng trong tầm với bao quanh. Cái thống nhất theo nghĩa này vượt trước cái mà nó thống nhất trong quá trình phát triển của chính nó. Đó là substantia prae-eminens thực thể ưu việt (Thư gửi de VoIder, ngày 20 tháng 6 năm 1703; G. II, 252) [L. 530]. Từ ‘prae’ của pre-eminence không có nghĩa là sự tồn tại đi trước về mặt thời gian, mà là sự vươn tới và nắm bắt đi trước mang tính cấu trúc.
Do đó, cần thiết là vis primitiva lực nguyên thủy, tức là động lực với tư cách là primum constitutivum cấu thành đầu tiên của sự thống nhất nguyên gốc, phải là sự vươn tới và nắm bắt. Leibniz diễn đạt điều này bằng cách nói rằng về bản chất, đơn tử trong bản chất của nó về cơ bản là ‘nắm bắt’ [re-prasentierend – tái hiện]. Động cơ siêu hình sâu sắc nhất cho Vorstellungscharakter đặc tính trình hiện của đơn tử là chức năng thống nhất về mặt bản thể học của động lực. Động cơ này vẫn còn ẩn giấu đối với chính Leibniz. Theo bản chất của vấn đề, nó có thể là lý do duy nhất cho Reprasentationscharakter đặc tính tái hiện. Không phải vì đơn tử, với tư cách lực, một vật thể gì đó sống, và vật thể sống có linh hồn, và linh hồn đó, đến lượt nó, có khả năng Vorstellen nắm bắt. Đó sẽ là một sự áp dụng thực sự hời hợt [tr.91] của cái tâm linh vào hiện hữu nói chung và theo hình thức này sẽ không được biện minh về mặt siêu hình.
Bởi vì động lực được cho là thứ ban đầu chỉ đơn giản là thống nhất, nó phải vươn ra và nắm bắt; nó phải mang tính vor-stellend nắm bắt-trước. Nắm bắt [vor-stellen] ở đây được hiểu khá rộng, về mặt cấu trúc, chứ không phải là một khả năng cụ thể của linh hồn. Do đó, trong bản chất siêu hình của nó, đơn tử không phải là linh hồn, mà ngược lại, linh hồn là một biến thể có thể có của cái đơn tử. Về bản chất, động lực bao quát do đó không phải là một quá trình đôi khi cũng nắm bắt hoặc thậm chí tạo ra sự nắm bắt, mà cấu trúc của quá trình động lực tự nó đang vươn ra, là tĩnh tại. Theo nghĩa này, động lực là một sự nắm bắt trước. Tuy nhiên, thứ nắm bắt này không được hiểu đơn thuần là nhìn chằm chằm, mà là sự nhận thức, perceptio tri giác, tức là sự thống nhất-trước của cái đa dạng dans Ie simple trong cái đơn giản, (Principes de la Nature Nguyên lý Tự nhiên….§2; G. IV, 598) [L. 636]. Leibniz định nghĩa perceptio tri giác nihil aliud, quam multorum in uno expressio ‘không có gì khác ngoài sự biểu hiện của nhiều trong một’. Và sau đó ông viết: Nunquam versatur perceptio circa objectum, in quo non sit aliqua varietas seu multitudo (Thư gửi des Bosses, ngày 20 tháng 9 năm 1706, G. 1 1, 311) “Tri giác không bao giờ hướng đến một đối tượng mà trong đó không có sự đa dạng hoặc đa tính”.
Cùng với ‘nắm bắt/lĩnh hội’ còn có một ‘nỗ lực’ thuộc về cấu trúc của động lực. Sự đối lập này quay trở lại với νόησις noesis nhận thức/ trí tuệ và ὄρέξις órexis khát khao/ham muốn, tư duy và ham muốn, những năng lực cơ bản của mọi sinh vật theo Aristotle. Bên cạnh perceptio tri giác (repraesentatio tái hiện/đại diện), Leibniz đề cập rõ ràng đến năng lực thứ hai, appetitus khao khát/ham muốn. Ông phải nhấn mạnh đặc biệt đến appetitus chỉ vì bản thân ông chưa nắm bắt ngay lập tức bản chất của vis activa lực hành động/chủ động một cách triệt để - mặc dù ông đã rõ ràng đối lập nó với potentia active tiềm năng hành động và actio hành động. Sức mạnh dường như vẫn tự nó là một cái gì đó mang tính thực thể, một cốt lõi được ban tặng khả năng tri giác và nỗ lực, trong khi trên thực tế, động lực tự nó đã là một nỗ lực tri giác hoặc một tri giác nỗ lực. Chắc chắn, đặc tính của khao khát, cho dù có một ý nghĩa đặc biệt nhưng lại không có ý nghĩa giống như động lực. Hơn nữa, khao khát đề cập đến một khoảnh khắc cụ thể, thiết yếu, cấu thành của động lực, cũng như tri giác. Bởi vì động lực thống nhất một cách nguyên thủy, nên nó phải dự đoán trước mọi đa tính có thể, phải có khả năng xử lý mọi sự đa bội tính trong khả tính của nó. Nghĩa là, động lực phải đã vượt qua và chế ngự đa tính. Do đó, động lực phải mang đa tính trong chính nó và cho phép nó được sinh ra trong quá trình vận hành. Đây là đặc tính ‘thế giới’ của nó. Điều quan trọng là phải thấy nguồn gốc thiết yếu của đa tính trong động lực như vậy.
[Tr.92] Chúng ta hãy nhớ rằng động lực, với tư cách là vượt lên trước, là nhất tính thống nhất nguyên thủy, và theo cách này, đơn tử được hình dung như là substantia thực thể. Substantiae non tota sunt (không phải là những ‘toàn thể’ như vậy) quae contineant partes fonnaliter, sed res totales quae partiales continent eminenter “Thực thể không phải là những toàn thể chứa các bộ phận theo nghĩa đen mà chúng là những thực tại toàn thể chứa các bộ phận cụ thể một cách rõ ràng nổi bật]. Động lực là ‘bản chất’, cốt lõi của thực thể. Thực thể với tư cách là động lực theo một cách nào đó là năng động, nhưng với tư cách là năng động, nó luôn luôn bao hàm một cách nguyên thủy (Principes de la Nature…., §2) [L. 636]. Trong bức thư gửi de VoIder được trích dẫn ở trên, Leibniz tiếp tục: Si nihil sua natura activum est, nihil omnino activum erit; quae enim tandem ratio actionis si non in natura rei? Limitationem tamen adjicis, ut res sua natura activa esse possit, si actio semper se habeat eodem modo. Sed cum omnis actio mutationem contineat, ergo habemus quae negare videbaris, tendentiam ad mutationem internam, et temporale sequens ex rei natura. “Nếu không có gì hoạt động tự bản chất của nó thì sẽ không có gì hoạt động cả, vì lý do gì mà lại có hoạt động nếu không nằm trong bản chất của sự vật? Tuy nhiên, nên có thêm thứ hạn chế mà ‘một vật có thể hoạt động theo bản chất riêng, nếu hành động của nó luôn duy trì cùng một phương thức.’ Nhưng vì mọi hành động đều chứa thay đổi, nên chính trong đó phải có thứ dường như bị phủ nhận, đó là xu hướng thay đổi nội tại cùng chuỗi thời gian theo sau sự thay đổi nội tại, và chuỗi thời gian phát sinh từ bản chất của sự vật.” [L. 534]
Ở đây, người ta nói rất rõ ràng rằng hoạt động của đơn tử như một động lực là eo ipso tự thân động lực hướng tới sự thay đổi. Động lực, về bản chất, thúc đẩy tới một cái gì đó; có sự tự vượt lên trong nó. Điều đó có nghĩa là đa tính phát sinh trong chính vật thể tạo động lực, với tư các tạo động lực. Bản chất được trao cho successioni obnoxia tình trạng chịu trách niệm kế thứa, tính kế tiếp (cùng chữ cái). Động lực tự hiến mình, như một động lực, cho sự kế tiếp đa tính - không phải như thể cho một cái gì đó khác với chính nó, vì nó là cái mà chính nó, với tư cách là động lực, tìm cách thúc đẩy. Động lực tự phục tùng sự kế tiếp về thời gian, không phải như thể cho một cái gì đó xa lạ với nó, mà chính nó là đa tính này. Từ chính động lực mà thời gian phát sinh. Trong động lực tồn tại một xu hướng hướng tới sự chuyển đổi, một xu hướng vượt qua bất kỳ giai đoạn nhất thời nào. Và xu hướng chuyển đổi này là điều mà Leibniz muốn nói đến bằng appetitus khao khát/ham muốn. Nên nhớ rằng perceptio tri giác, theo nghĩa đã mô tả, là một đặc điểm nguyên thủy của đơn tử. Bản thân xu hướng đã có trước, và điều đó có nghĩa là nó hợp nhất từ sự thống nhất vượt trước. Cái mà nó hợp nhất bằng cách đó không gì khác ngoài những chuyển đổi von Vorstellen zu Vor-stellen từ sự nắm bắt này sang sự nắm bắt khác, những chuyển đổi được thúc đẩy trong động lực và tự thúc đẩy chính chúng.
[Tr.93] Về định nghĩa cuối cùng của các đơn tử, Leibniz viết cho de VoIder: Imo rem accurate considerando dicendum est nihil in rebus esse nisi substantias simplices et in his perceptionem atque appetitum… Revera igitur (principium mutationis) est internum omnibus substantiis simplicibus, cum ratio non sit cur uni magis quam alteri, consistitque in progressu perceptionum Monadis cujusque, nec quicquam ultra habet tota rerum natura. (June 30, 1704; G. II, 270f.) “Thật vậy, khi xem xét vấn đề một cách cẩn thận, có thể nói rằng trên thế giới không có gì ngoại trừ những thực thể đơn giản và trong chúng là tri giác và khát thèm…. (Nguyên lý thay đổi) do đó thực sự có tính nội tại đối với mọi thực thể đơn giản, vì không có lý do gì nó phải ở trong cái này mà không ở trong cái khác, và nó bao gồm trong sự tiến bộ tri giác của từng đơn tử, ngoài ra toàn bộ bản chất của sự vật không bao chứa gì khác. [L. 538] Progressus perceptionum tiến trình tri giác ấy là những gì nguyên thủy trong đơn tử; đó là xu hướng chuyển tiếp nắm bắt, động lực. Porro ultra haec progredi et quaerere cur s it in substantiis simplicibus perceptio et appetitus, est quaerere aliquid ultramundanum ut ita dicam, et Deum ad rationes vocare cur aliquid eorum esse voluerit quae a nobis concipiuntur. (Ibid.) “Vượt xa hơn những nguyên tắc này và hỏi tại sao lại có tri giác và khát thèm đối với những thực thể đơn giản, có thể nói là tìm hiểu về một điều gì đó ultramundane siêu trần thế và yêu cầu Chúa lý giải tại sao Ngài lại muốn mọi thứ phải như chúng ta quan niệm.”
Đoạn văn sau đây từ bản thảo đầu tiên của bức thư ngày 19 tháng 1 năm 1706 gửi de VoIder đang làm sáng tỏ nguồn gốc của học thuyết về động lực và xu hướng chuyển đổi: Mihi tamen sufficit sumere quod concedi solet, esse quandam vim in percipiente sibi formandi ex prioribus novas perceptiones, quod idem est ac si dicas, ex priore aliqua perceptione sequi interdum novam. Hoc quod agnosci solet alicubi a philosophis veteribus et recentioribus, nempe in voluntariis animae operationibus, id ego semper et ubique locum habere censeo, et omnibus phaenomenis sufficere, magna et uniformitate rerum et simplicitate. (G. II, 282) “Nhưng đối với tôi, chỉ cần chấp nhận điều thường được thừa nhận là đủ, đó là có một sức mạnh nhất định trong việc kẻ tri giác tự hình thành những tri giác mới từ những tri giác trước đó, điều này cũng giống như việc ai đó nói rằng một tri giác mới đôi khi xuất phát từ một tri giác trước đó. Điều mà các nhà triết học ở khắp mọi nơi, cả cổ đại lẫn hiện tại, thường công nhận trong các hoạt động tự nguyện của tâm hồn, tôi cho rằng lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy đều có chỗ đứng và đủ cho mọi hiện tượng trong cả tính quy luật và tính đơn giản tuyệt vời của vạn vật.
[Tr.94] Lời đáp cho câu hỏi, Động lực với tư cách động lực thống nhất đến mức độ nào? đòi hỏi sự thấu hiểu cấu trúc cốt lõi của động lực: 1) Động lực mang tính thống nhất nguyên thủy: nó không thống nhất nhờ vào cái mà nó thống nhất. Nó không phải là sự tập hợp của những gì được thống nhất. Nó là sự vươn tới và nắm bắt, nhận thức, và tri giác. 2) Nhưng percipere [nắm bắt, hiểu] tri giác này bao gồm và hướng tới một đa dạng mà bản thân nó đã tham gia vào động lực và bắt nguồn từ nó. Động lực tự vượt lên, thúc đẩy. Nó là một đa tính của các giai đoạn mà bản thân chúng luôn bao hàm-trước. 3) Động lực là một progressus perceptionum sự tiến bộ tri giác. Là sự thúc đẩy, tự vượt lên, động lực là khát thèm, một xu hướng chuyển đổi, một tendentia interna ad mutationem xu hướng nội tại hướng tới sự thay đổi. Chúng ta hãy nhanh chóng nhớ lại những gì đã nói về thực thể tính của thực thể. Thực thể là cái cấu thành nên nhất tính của một hiện hữu. Cái thống nhất là động lực, và động lực được hiểu theo nghĩa chính xác mà chúng ta vừa trình bày, như là sự nắm bắt và xu hướng chuyển đổi. Nghĩa là, động lực phát triển cái đa dạng trong chính nó. Với tư cách là cái thống nhất, động lực là bản chất của một hiện hữu. Đồng thời, mỗi đơn tử đều có cấu trúc nguyên thủy riêng của nó. Cấu trúc nguyên thủy này được ban cho cùng với sự sáng tạo. Vậy điều gì khiến mỗi đơn tử tối hậu thực sự là đơn tử đặc biệt này? Sự cá thể hóa này được cấu thành như thế nào? Việc viện dẫn đến sự sáng tạo dĩ nhiên chỉ là cách giải thích giáo điều về nguồn gốc của cái được cá thể hóa, chứ không phải là cách minh định về tư thân quá trình cá thể hóa. Điều gì tạo nên sự cá thể hóa đó? Lời đáp cho câu hỏi này phải làm sáng tỏ hơn nữa bản chất của cái đơn tử.
Rõ ràng, quá trình cá thể hóa cũng phải diễn ra, như thể, trong thứ cơ bản cấu thành bản chất của đơn tử, trong động lực. Vậy thì nền tảng của tính độc nhất vô nhị của đơn tử nằm ở đâu? Đặc điểm thiết yếu nào trong cấu trúc của động lực làm cho một quá trình cá thể hóa cụ thể trở nên khả thể? Đến mức độ nào mà quá trình tự-cá thể hóa thống nhất nguyên thủy diễn ra trong quá trình thống nhất của nó? Trước đó, khi gạt bỏ mối liên hệ với sự sáng tạo, chúng ta chỉ làm như vậy vì đó là một cách giải thích giáo điều. Tuy nhiên, ý nghĩa siêu hình được thể hiện khi mô tả đơn tử được tạo ra, chính là tính hữu hạn của nó. Xét về mặt hình thức, tính hữu hạn có nghĩa là tính hạn chế. Động lực có thể bị hạn chế đến mức độ nào? Nếu tính hữu hạn với tư cách là tính hạn chế thuộc về bản chất của động lực, thì tính hữu hạn phải được định nghĩa trong đặc điểm siêu hình cơ bản của động lực. Nhưng đặc điểm cơ bản này là sự thống nhất, và sự thống nhất với tư cách nắm bắt trước, vượt lên trước. Trong sự thống nhất mang tính bao hàm, có một sự sở hữu nhất tính từ trước mà động lực hướng tới, như là sự nắm bắt và hướng tới [tr.95] chuyển đổi. Trong động lực với tư cách khao khát nắm bắt trước, cứ như thể có một ‘điểm’ mà sự chú ý được hướng tới trước. Điểm này chính là tự thân nhất tính mà từ đó động lực thống nhất. Điểm chú ý này, hay điểm nhìn này, là yếu tố cấu thành nên động lực. Cái được nhận thức trước trong quan điểm này cũng chính là cái điều chỉnh trước toàn bộ động lực. Vì động lực với tư cách một chuyển động bao hàm luôn là cái được nắm bắt trước trong vận động tự do của nó, nên động lực không bị thúc đẩy từ bên ngoài. Do đó, perceptio tri giác và appetitus khao khát được xác định trong động lực của chúng chủ yếu từ quan điểm này.
Nhưng ở đây có một điều chưa được hình dung một cách rõ ràng, một điều mà, giống như động lực, tự nó là một sự vươn tới, và nó vươn tới để nó tồn tại và duy trì chính nó trong sự vươn tới này, một điều tự nó có khả tính nắm bắt chính nó. Trong quá trình hướng tới, cái có động lực luôn luôn vượt qua một chiều kích. Nghĩa là, cái có động lực tự vượt qua chính nó và bằng cách này mở ra với chính nó. Và nó mở ra bởi chính bản chất của nó. Bởi vì tính tự khai mở theo chiều kích này, nên cái có động lực có thể nắm bắt chính mình, do đó ngoài việc tri giác, nó còn có thể hiện diện đồng thời với tri giác. Nó có thể đồng thời tự tri giác chính nó; nó có thể tổng giác… Trong Principes de la Nature et de la Grace – Nguyên lý Tự nhiên và Ân sủng…., §4, Leibniz nói: Ainsi il est bon de faire distinction entre la Perception qui est retat interieur de la Monade representant les choses externes, et l’Apperception qui est la Conscience, ou la connoissance reflexive de cet etat interieur, laquelle n'est point donnee a toutes les Ames, ny toujours a la meme Ame. (G. VI, 600; cf. Monadologie §21 fT.) “Vì vậy, tốt nhất là nên phân biệt giữa Tri giác, là trạng thái bên trong của Đơn tử đại diện cho những sự vật bên ngoài, và Tổng giác, là ý thức hoặc tri thức phản ánh về chính trạng thái bên trong ấy, vốn không phải lúc nào cũng được trao cho tất cả các Linh hồn cũng như cho cùng một Linh hồn.” [L. 637]
______________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992. Notes
* Trong các bản dịch triết học Đức, cách dịch thông thường từ Vorstellung là ‘(sự) biểu hiện tinh thần’, mặc dù đôi khi người ta cũng sử dụng ‘khái niệm’ hoặc ‘ý tưởng’. Tuy nhiên, khi thảo luận về phương thức nhận thức về đơn tử, Heidegger đã chơi chữ với ý nghĩa thời gian, vươn ra của ‘vor-stellend’ và do đó gợi ý cần có một cách dịch tiếng Anh khác. ‘Pre-hend’ không có cùng nghĩa gốc với ‘stellen’ (đặt để) mà bắt nguồn từ tiếng Latin premIere ‘nắm bắt, với tới’. Tuy nhiên, ‘prehension’ vẫn có liên quan đến ‘apprehension’ và đã được sử dụng một cách khéo léo trong triết học tiếng Anh chịu ảnh hưởng của Leibniz, cụ thể là trong tư tưởng suy đoán của Alfred North Whitehead.
11. Leibnizens Mathematische Schriften, ed. C.1. Gerhardt, 7 volumes (in 8) (Berlin and Halle, 1849-63) [reprint, Hildesheim, 1962].
12. Compare with D. Mahnke, Leibnizen Synthese van Universalmathematik und Individualmetaphysik, p. 104, and further passages in note 125. Here, also, being and subjectivity are linked-through a misunderstanding, however.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét