Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực
Theo quan điểm này, trong mỗi trường hợp toàn bộ vũ trụ đều được nhìn nhận, như thể trong một viễn cảnh xác định về các hiện hữu và về cái khả thể. Nhưng quan điểm này bị khúc xạ theo một cách xác định, cụ thể là, trong mỗi trường hợp theo giai đoạn động lực của đơn tử. Nghĩa là, nó bị khúc xạ trong mỗi trường hợp theo khả tính tự thân thống nhất của đơn tử trong đa tính của nó. Sau đó cái ‘tự thân’ này trong ‘thống nhất tự thân’ thể hiện một thực tế là tình trạng đồng-hiện diện nhất định của chính nó được tìm thấy trong đơn tử như một prehensive drive động lực bao quát. Giờ đây, sự bộc lộ bản thân này có thể có nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn minh bạch đến vô cảm và bị cuốn hút bởi sự xao nhãng. Không đơn tử nào thiếu perceptio tri giác và [tr.96] appetitus khát vọng, do đó có một sự cởi mở nhất định đi kèm với chính nó, mặc dù điều này không nhất thiết phải là hoàn toàn tự-nhận thức. Mỗi đơn tử đều mở ngỏ với chính nó, cho dù ở mức độ mở ngỏ thấp nhất có thể. Theo đó, quan điểm cụ thể và khả tính thống nhất tương ứng, nhất tính của nó, tạo nên tính độc nhất của mỗi đơn tử. Bởi vì nó thống nhất—và đó là bản chất của nó—nên đơn tử tự cá thể hóa chính nó. Khả tính cá thể hóa vốn có dựa trên bản chất của nó với tư cách động lực. Tuy nhiên, trong quá trình cá thể hóa, trong động lực từ viễn cảnh riêng của nó, đơn tử thống nhất vũ trụ được nhận thức trước, chỉ theo khả tính của viễn cảnh đó. Do đó mỗi đơn tử tự nó là một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ (Thư gửi de Voider, ngày 20 tháng 6 năm 1703, G. II, 252) [L. 530]. Mỗi động lực tập trung vào chính nó, trong động lực của nó, thế giới trong mỗi trường hợp theo cách riêng của nó.
Theo quan điểm này, trong mỗi trường hợp toàn bộ vũ trụ đều được nhìn nhận, như thể trong một viễn cảnh xác định về các hiện hữu và về cái khả thể. Nhưng quan điểm này bị khúc xạ theo một cách xác định, cụ thể là, trong mỗi trường hợp theo giai đoạn động lực của đơn tử. Nghĩa là, nó bị khúc xạ trong mỗi trường hợp theo khả tính tự thân thống nhất của đơn tử trong đa tính của nó. Sau đó cái ‘tự thân’ này trong ‘thống nhất tự thân’ thể hiện một thực tế là tình trạng đồng-hiện diện nhất định của chính nó được tìm thấy trong đơn tử như một prehensive drive động lực bao quát. Giờ đây, sự bộc lộ bản thân này có thể có nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn minh bạch đến vô cảm và bị cuốn hút bởi sự xao nhãng. Không đơn tử nào thiếu perceptio tri giác và [tr.96] appetitus khát vọng, do đó có một sự cởi mở nhất định đi kèm với chính nó, mặc dù điều này không nhất thiết phải là hoàn toàn tự-nhận thức. Mỗi đơn tử đều mở ngỏ với chính nó, cho dù ở mức độ mở ngỏ thấp nhất có thể. Theo đó, quan điểm cụ thể và khả tính thống nhất tương ứng, nhất tính của nó, tạo nên tính độc nhất của mỗi đơn tử. Bởi vì nó thống nhất—và đó là bản chất của nó—nên đơn tử tự cá thể hóa chính nó. Khả tính cá thể hóa vốn có dựa trên bản chất của nó với tư cách động lực. Tuy nhiên, trong quá trình cá thể hóa, trong động lực từ viễn cảnh riêng của nó, đơn tử thống nhất vũ trụ được nhận thức trước, chỉ theo khả tính của viễn cảnh đó. Do đó mỗi đơn tử tự nó là một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ (Thư gửi de Voider, ngày 20 tháng 6 năm 1703, G. II, 252) [L. 530]. Mỗi động lực tập trung vào chính nó, trong động lực của nó, thế giới trong mỗi trường hợp theo cách riêng của nó.
Nhưng bởi vì mỗi đơn tử, theo một cách riêng của nó, là ‘thế giới’, nên mỗi động lực đều đồng thuận với vũ trụ, chừng nào nó còn trình hiện thế giới. Bởi vì sự hòa hợp mà mỗi prehensive drive động lực toàn diện có với vũ trụ, nên bản thân các đơn tử cũng được kết nối với nhau. Ý tưởng về đơn tử như một động lực toàn diện hướng tới sự chuyển đổi ngụ ý rằng thế giới trong mỗi trường hợp đều thuộc về đơn tử trong một sự khúc xạ mang tính viễn cảnh, và tất cả các đơn tử như những đơn vị động lực đều được định hướng trước về một sự hài hòa đã được định sẵn, harmonia praestabilita hài hòa tiền định của toàn thể các hiện hữu. Trong mỗi đơn tử, toàn bộ vũ trụ đều hiện diện tiềm ẩn. Tuy nhiên, với tư cách là cấu trúc của thế giới hiện thực, the actualia các sự kiện hiện tại thì hài hòa tiền định là cái mà khi bị tác động, lại đối lập với đơn tử trung tâm, tức là Thiên Chúa. Động lực của Thiên Chúa là ý chí của Ngài. Nhưng cái tương quan của ý chí linh thiêng là sự tối ưu. Distinguendum inter ea, quae Deus potest, et quae vult: potest omnia, vult optima.-Actualia nihil alium sunt, quam possibilium (omnibus comparatis) optima. - Possibilia sunt quae non implicant contradictionem. (Letter to John Bernoulli, February 21, 1699; Math. Schr. 11112, 574) “Chúng ta phải phân biệt giữa những điều Chúa có thể làm và những điều Ngài muốn làm; Ngài có thể làm tất cả mọi việc, nhưng Ngài muốn điều tốt nhất. Những điều hiện thực không gì khác ngoài điều tốt nhất trong số những điều có thể, xét trên mọi khía cạnh. Những điều khả thể là những điều không hàm chứa mâu thuẫn.” (Thư gửi John Bernoulli, ngày 21 tháng 2 năm 1699; Math. Schr. 11112, 574) [L. 513]
Sự cá thể hóa diễn ra trong động lực với tư cách thống nhất luôn là thứ cá thể hóa của một hiện hữu thuộc về thế giới. Các đơn tử không phải là những mảnh miếng biệt lập tạo ra thế giới bằng cách cộng chúng lại, mà mỗi đơn tử, như một động lực, theo cách riêng của nó, tự thân là vũ trụ [tr.97]. Mỗi đơn tử trình hiện thế giới từ một quan điểm. Nói về đơn tử như một ‘thế giới nhỏ’, như một tiểu vũ trụ, không chạm đến cái bản chất, chừng nào mỗi đơn tử trong vận động lực đều nắm bắt toàn bộ thế giới trong nhất tính của nó, mặc dù đơn tử không bao giờ bao quát nó hoàn toàn. Mỗi đơn tử, tùy thuộc vào mức độ nhận thức riêng của nó, là một lịch sử thế giới làm cho thế giới hiện diện. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, vũ trụ được nhân lên nhiều lần bằng số lượng đơn tử có đó, cũng giống như cùng một thành phố được thể hiện khác nhau bởi mỗi tình huống khác nhau của từng người quan sát riêng biệt (Discours. §9)
Từ những điều đã nói, chúng ta có thể làm sáng tỏ hình ảnh mà Leibniz thường xuyên sử dụng để mô tả bản chất toàn diện của đơn tử: đơn tử là một tấm gương sống động của vũ trụ. Một trong những đoạn quan trọng nhất có trong Thư gửi de VoIder ngày 20 tháng 6 năm 1703 có viết: Entelechias Differentre necesse est, seu non esse penitus similes inter se, imo principia esse diversitatis, nam aliae aliter exprimunt universum ad suum quaeque Spectandi modum, idque ipsarum officium est ut sint totidem specula Vitalia rerum seu totidem Mundi concentrati. (C. II, 251/52) Điều cần thiết là các ἐντελέχεια entelechies (đơn tử) phải khác nhau hoặc không hoàn toàn giống nhau; trên thực tế, chúng là những nguyên tắc của đa tính, vì mỗi nguyên tắc thể hiện vũ trụ một cách khác nhau theo pre-hending cách nhìn riêng của nó. Và chính xác đây là nhiệm vụ đặc biệt của chúng, chúng phải là rất nhiều tấm gương sống hoặc rất nhiều thế giới tập trung. [L. 530]
Tuyên bố này chứa đựng nhiều điều: 1) Sự phân hóa của các đơn tử là cần thiết. Bản chất của chúng, với tư cách thống nhất, thuộc về mỗi đơn tử thống nhất từ quan điểm riêng của nó, và do đó chúng tự thân cá nhân hóa. 2) Do cách nhìn nhận tri giác-khát vọng của chúng, bản thân các đơn tử là nguồn gốc của sự đa tính đặc thù của chúng. 3) Việc trình bày thống nhất này của vũ trụ trong mỗi quá trình cá nhân hóa chính xác là điều liên quan đến mỗi đơn tử trong hiện hữu của nó, động lực của nó. 4) Mỗi đơn tử là vũ trụ ở dạng cô đọng, concentrationes universi các vũ trụ kết hợp lại (Thư gửi de VoIder, 1705; G. II, 278) [L. 530]. Trung tâm của sự cô đọng là động lực được xác định từ một quan điểm cụ thể. 5) Đơn tử là một speculum vitale [tấm gương sống] (cf. Principes de la Nature et de la Grace., §3; Mondalogie, §63 và 77; Thư gửi Remond từ tháng 7 năm 1714) [L. [637, 649, 651, 656, tương ứng]. Monad là một miroir acti tấm gương sống, không thể phân chia, một sự phản chiếu chủ động, không thể phân chia, đơn giản. Gương, speculum (cùng gốc với từ Latin spectare, loài), có nghĩa là làm cho trở nên khả kiến. Nhưng đơn tử làm cho trở nên khả kiến với tư cách động lực. Nghĩa là, nó phản chiếu như một sự nắm bắt trước, [tr.98] và chỉ trong hoạt động này, sự hiện thân cụ thể của thế giới mới xuất hiện. Phản chiếu không phải là một sự sao chép cố định, mà là động lực hướng tới những khả tính mới được định trước của chính nó. Tấm gương đơn giản bởi vì sự sở hữu trước đó của vũ trụ duy nhất từ một quan điểm mà từ đó chính sự đa dạng lần đầu tiên trở nên khả kiến.
Giờ đây chúng ta có thể nắm bắt rõ hơn bản chất của thực thể hữu hạn từ một khía cạnh chưa xem xét. Leibniz đã viết (trong Thư gửi de VoIder ngày 20 tháng 6 năm 1703; G. II, 249): Omnis substantia est activa, et omnis substantia finita est passiva, passioni autem connexa resistentia est [Mọi thực thể hữu hạn đều hoạt động, mọi thực thể hữu hạn cũng đều thụ động, và gắn liền với tính thụ động này là sự kháng cự, L. 528]. Điều này có nghĩa là gì? Thực thể là hoạt động, là động lực. Trong mọi động lực hữu hạn xảy ra trong một viễn cảnh cụ thể, luôn luôn và nhất thiết phải có một cái gì đó kháng cự chống lại động lực đó. Bởi vì, khi hướng ra khỏi một quan điểm cụ thể về phía toàn bộ vũ trụ, có rất nhiều thứ không phải là động lực đó. Nó bị biến đổi bởi quan điểm. Bởi vì động lực có thể là toàn bộ vũ trụ theo cách tiềm tang, nhưng trên thực tế lại không phải, nên vì lý do này, động lực có liên quan đến sự kháng cự trong quá trình vận hành của nó. Chừng nào đơn tử luôn là toàn thể từ một quan điểm, thì chính xác là nó hữu hạn khi nó được sắp xếp trật tự theo vũ trụ. Nghĩa là, đơn tử liên quan đến sự kháng cự, đến một cái gì đó không phải là nó, nhưng cũng hoàn toàn có thể là nó. Tính thụ động này, theo nghĩa là cái mà động lực không thúc đẩy, thuộc về tính hữu hạn của động lực.
Khía cạnh phủ định này, thuần túy như một khoảnh khắc cấu trúc của động lực hữu hạn, đặc trưng cho bản chất của cái mà Leibniz hiểu là materia prima vật chất nguyên thủy. Materia prima cuilibet Entelechiae est essentialis, neque unquam ab ea separatur, cum earn compleat et sit ipsa potentia passiva totius substantiae completae. Neque enim materia prima in mole seu impenetrabilitate et extensione consistit. (Letter to des Bosses, October 16, 1706; G. II, 324) “Vật chất nguyên thủy là thiết yếu đối với bất kỳ ἐντελέχεια entelechia cái hoàn thành nào, và nó không bao giờ có thể tách rời khỏi nó vì nó hoàn thiện cái entelechia và là sức mạnh thụ động của toàn bộ thực thể hoàn chỉnh. Bởi vì vật chất nguyên thủy không bao gồm khối lượng cũng không bao gồm tính bất khả nhập thấu và sự mở rộng.” (Thư gửi des Bosses, 16/10/1706; G. II, 324)
Do tính thụ động nguyên thủy thiết yếu này, nên đơn tử có khả năng nội tại kết nối với materia secunda vật chất thứ cấp, tức là với massa, với sức kháng cự nhất định theo nghĩa khối lượng và trọng lượng vật chất. (Xem thêm về điều này trong thư từ của Leibniz với nhà toán học John Bernoulli và với tu sĩ dòng Tên des Bosses, giáo sư triết học và thần học tại trường dòng Tên ở Hildesheim.) Khoảnh khắc cấu trúc này [tr.99] cung cấp cho Leibniz nền tảng làm cho việc kết nối đơn tử với một vật thể vật chất (materia secunda, vật chất thứ cấp, massa) trở nên dễ hiểu về mặt siêu hình và chứng minh khẳng định tại sao extensio sự mở rộng không thể cấu thành bản chất của thực thể. Ở đây chúng ta không thể tiếp tục điều này, cũng như không thể đi sâu hơn vào sự phát triển của thuyết đơn tử và các nguyên tắc siêu hình liên quan đến nó.
Vấn đề có tính dẫn dắt của chúng ta là cái cách mà logic bắt nguồn từ siêu hình học, cái cách mà học thuyết phán đoán bắt nguồn từ học thuyết về thực thể, và lý thuyết đồng nhất tính trong đơn tử luận. Đơn tử luận định nghĩa tính thực thể của thực thể, nhất tính của một hiện hữu với tư cách một hiện hữu. Do đó, nhất tính được hình dung như là thống nhất nguyên thủy. Nghĩa là, ‘monas’ đơn tử chứng tỏ là động lực. Động lực ấy là một xu hướng bao quát hướng tới sự chuyển đổi. Động lực thống nhất như thế nào, và nó được cá thể hóa như thế nào trong sự thống nhất? Động lực thống nhất như một sự nắm bắt trước. Do đó, nó thống nhất với một cái nhìn hướng tới nhất tính, bên trong một quan điểm. Trong mỗi trường hợp mỗi quan điểm đều mang tính dẫn dắt, và trong mỗi trường hợp cái toàn bộ đều được nhận thức từ quan điểm này. Do đó, mỗi đơn tử đều là một viễn cảnh của vũ trụ hay một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ, và trong chừng mực một đơn tử, nó đồng thuận với các đơn tử khác. Do đó, các đơn tử ‘không có cửa sổ’, bởi vì chúng không cần cửa sổ nào (Monadologie, §7, G. VI, 607) [L. 643]. Không có dòng chảy vào, không phải vì nó không thể giải thích được, mà vì nó sẽ trở nên dư thừa.
Tóm tắt, Leibniz viết: Non credo systema esse possibile, in quo Monades in se invicem agent, quia non videtur possibilis explicandi modus. Addo, et superfluum esse influxum, cur enim det monas monadi quod jam habet? Nempe haec ipsa natura substantiae est, ut praesens sit gravidum futuro et ut ex uno intelligi possint omnia, saltern ni Deus miraculo intercedat. (Letter to des Bosses, August 19, 1715; G. II, 503). “Tôi không tin rằng có một hệ thống nào mà trong đó các đơn tử tác động lẫn nhau, vì dường như không có cách nào giải thích được hành động như vậy. Tôi nói thêm rằng ảnh hưởng là dư thừa, vì sao một đơn tử lại phải cho một đơn tử khác những gì nó đã sở hữu? Bản chất của thực thể là ở chỗ hiện tại là lớn lao với tương lai và mọi thứ có thể được hiểu từ một thứ, ít nhất là nếu Thiên Chúa không can thiệp bằng một phép màu. (Thư gửi des Bosses, ngày 19 tháng 8 năm 1715; G. II, 503) [L. 613]
Cần phải diễn giải đơn tử luận để làm sáng tỏ nền tảng siêu hình thực sự của logic Leibniz. Chúng ta đã đạt được nền tảng này trong cấu trúc đơn tử của ens qua substantia tồn tại với tư cách thực thể. Đồng thời, kết quả của chúng ta [tr.100] cần một nền tảng sâu sắc hơn nữa: vấn đề về ens qua essentia tồn tại với tư cách bản chất và tồn tại với tư cách existential tồn tại, tồn tại như một cái gì đó khả thể, tức là một thực tại tính khả thể. Nhưng để đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ loạt bài giảng, chúng ta phải bỏ qua mục 16, “Cấu trúc cơ bản của tồn tại nói chung - essentia bản chất và conatus existentiae nỗ lực tồn tại.” Hãy xem lại các cuộc thảo luận về ‘Bản chất và tồn tại: những cấu trúc cơ bản của hiện hữu’ trong các bài giảng từ học kỳ hè năm 1927.13 Cuộc thảo luận về quan niệm của Leibniz về bản chất và tồn tại, dự kiến được thực hiện trong mục 16, đòi hỏi những cân nhắc tương đối sâu rộng và một sự giải thích văn bản kỹ lưỡng, đặc biệt là vì Leibniz chỉ đề cập đến những vấn đề này trong rất ít đoạn văn. (§6 không được xây dựng cho Khóa học này).
§7. Lý thuyết Phán đoán và Quan niệm về Hiện hữu. Logic và bản thể luận
Để mô tả logic của Leibniz, chúng ta bắt đầu với học thuyết phán đoán của ông. Khi làm như vậy, chúng ta đã theo đuổi một mối liên hệ được thiết lập trong triết học từ thời cổ đại, cụ thể là phán đoán như là phương tiện và vị trí thực sự của chân lý. Chính xác hơn, mệnh đề là cái có thể chân hoặc giả khi nói về một cái gì đó. Mặt khác, việc chỉ đơn thuần trình bày một cái gì đó bằng trực giác trực tiếp đơn giản, chẳng hạn như tri giác, được cho là không chân cũng không giả; một cái gì đó hoặc được trực giác hoặc không. Nếu, trái ngược với phán đoán ‘chiếc bảng thì đen’, tôi chỉ đơn giản nghĩ: bảng-đen, không ‘khẳng định’ bất cứ điều gì, và do đó không tuyên bố rõ cái gì là ‘chân’ hay ‘giả’. Giờ đây, vì đặc điểm riêng biệt của tri thức theo đúng nghĩa chân lý - tri thức giả không phải là tri thức về một cái gì đó - tuy nhiên vì chân lý nằm trong mệnh đề, trong phán đoán, nên việc biết đồng nghĩa với phán đoán. Nhận thức luận đương đại là logic. Việc tìm hiểu bản chất của chân lý chuyển sang lý thuyết về phán đoán.
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tổ chức và tiếp cận một học thuyết về bản chất của phán đoán như vậy. Giải thích ‘phán đoán’ trong bản chất của nó có nghĩa là gì? Phán đoán là một hoạt động của con người. Với tư cách là một phán đoán về các hiện hữu, phán đoán-về tự nó có [tr.101] liên quan đến các hiện hữu. Chúng ta gọi mối quan hệ này với các hiện hữu là ‘ý hướng tính’. ‘Phán đoán về’ tự nó là có tính ý hướng. Tuy nhiên, ngay cả việc chỉ nhìn vào một thứ gì đó, ví dụ như tri giác bức tường, cũng có liên quan đến một thứ gì đó. Vậy điều gì đầu tiên đặc trưng cho tính ý hướng của phán đoán? ‘Phán đoán về’, đưa ra tuyên bố về, tự nó là một sự xác định, và một sự xác định trong đó cái được phán đoán được xác định trong quá trình phán đoán. Trong phán đoán về bảng đen với tư cách màu đen, thì màu đen được đặt trong mối quan hệ với bảng. Do đó, vẫn còn một mối quan hệ khác. Và mối quan hệ này bây giờ xác định cái mà phán đoán được đưa ra. Không chỉ có mối quan hệ mà Dasein phán đoán có với cái mà phán đoán được đưa ra, mà phán đoán được đưa ra tự nó lại được diễn đạt theo mối quan hệ, được diễn đạt bằng một mối quan hệ. Như vậy, mối quan hệ có tính ý hướng của việc đưa ra tuyên bố tự nó là một mối quan hệ liên hệ. Việc có mối quan hệ có tính ý hướng, như một cách có chủ đích, tạo ra một sự liên hệ bổ sung, theo nghĩa xác định một cái gì đó là một cái gì đó. Mối quan hệ có tính ý hướng mà mệnh đề có với cái mà phán đoán được đưa ra tự nó được phân nhánh, có thể biểu diễn một cách thô sơ, không đầy đủ như sau: Dasein – Phán đoán – sự vật hiện diện – sự xác định.
Lời tuyên bố sở hữu một ý hướng tính tham chiếu. Nó là một mối quan hệ phân nhánh duy nhất ban đầu (nhất tính của tổng hợp và phân nhánh) chứ không phải là hai hoặc nhiều mối quan hệ không phân nhánh nằm cạnh nhau hoặc nối tiếp nhau. Trước hết tôi không tri giác bảng rồi đến đen và sau đó kết hợp cả hai tri giác đó. Trong từ ‘là’ của phán đoán ‘A là B’, có cả từ ‘là’ của mối quan hệ với một hiện hữu và sự phân nhánh. Câu hỏi về bản chất của chân lý, chân lý được hiểu là nằm trong phán đoán, đã trở thành câu hỏi về bản chất của phán đoán. Vậy là trước hết phán đoán cho thấy cấu trúc của ý hướng tính cùng sự phân nhánh, và cả hai đều là cấu trúc của phán đoán Dasein. Dasein là gì, làm thế nào nó có thể đưa ra tuyên bố và phải đưa ra theo cách thức ý hướng tính bị phân nhánh? Khả tính nội tại của phán đoán được đặt nền tảng ở đâu với tư cách là phương thức hoạt động đặc trưng của Dasein? Chúng ta cần làm sáng tỏ cấu trúc hiện hữu của Dasein, trước hết là ở khía cạnh xác định này, sau đó cuối cùng liên quan đến một bản thể luận, một siêu hình học của Dasein.
[Ghi chú về ‘Metaphysics of Dasein’: Ngay sau khi Heidegger hoàn thành tác phẩm kinh điển Sein und Zeit Hữu thể và Thời gian vào khoảng mùa thu năm 1926, đã có sự thay đổi trong cách ông sử dụng thuật ngữ ‘siêu hình học’. Cần nhớ rằng Sein und Zeit được viết để phản đối ‘siêu hình học’. Dòng đầu tiên của cuốn sách không để lại chút nghi ngờ nào: ‘Vấn đề [về tồn tại] ngày nay đã bị lãng quên—mặc dù thời đại của chúng ta tự coi mình là tiến bộ khi khẳng định lại ‘siêu hình học’’’ (Heidegger, 2001a: tr. 2/1). Ở đây Heidegger ở đây đề cập đến một ‘sự hồi sinh của siêu hình học’ đã trở nên phổ biến vào đầu thế kỷ 20 với các tác giả như Georg Simmel, Nicolai Hartmann hoặc Peter Wust (ông đã viết một cuốn sách có tên Die Auferstehung der Metaphysik Cuộc hồi sinh của Siêu hình học vào năm 1920). Theo Sein und Zeit, siêu hình học ‘mới’ này đã sai lầm khi tin rằng nó ‘không cần phải nỗ lực khơi lại γιγαντομαχία περὶ τῆς οὐσίας gigantomachia peri tēs ousias’ ‘cuộc chiến của những gã khổng lồ về bản thể’ vốn ‘đã duy trì sự nghiên cứu hăng say của Plato và Aristotle’. Nhưng trong khi viết cuốn sách của mình, Heidegger bắt đầu suy ngẫm về khả năng của một thứ mà ông mô tả là ‘siêu hình học khoa học’. Vào mùa đông năm 1926/27, trong khóa giảng dành cho ‘Lịch sử Triết học từ Thomas Aquinas đến Kant’, Heidegger đã nói về bản thể luận hiện tượng học của mình như một siêu hình học khoa học và mô tả câu hỏi về tồn tại của ông như một câu hỏi siêu hình. Những năm tiếp theo đã cho Heidegger cơ hội để phát triển một dự án triết học mới không hoàn toàn giống với bản thể luận nền tảng và ông đặt tên cho nó là „Metaphysik des Daseins“ Siêu hình học về Dasein. Trong nhiều năm, dự án siêu hình học này có thể được coi là một điều kỳ lạ mà Heidegger chỉ đề cập đến vào năm 1929, trong phần thứ tư của tác phẩm Kant und das Problem der Metaphysik Kant và Vấn đề Siêu hình học. Nhưng với việc xuất bản gần đây các bài giảng được tổ chức vào cuối những năm 1920 trong Gesamtausgabe Toàn tập Heidegger, người ta không thể không xem xét Heidegger thực sự đang cố gắng đặt nền móng cho một siêu hình học mới—thực sự cố gắng để trở thành một nhà siêu hình học. Tất nhiên, điều này không kéo dài. Chúng ta biết rằng vào giữa những năm 1930, Heidegger đã bắt đầu một con đường mới, bỏ lại siêu hình học phía sau. Nhưng trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến năm 1930, chúng ta phải thừa nhận rằng Heidegger đã cố gắng đưa ra một câu trả lời siêu hình học cho câu hỏi về sự tồn tại. Và đây phải là một khám phá đáng ngạc nhiên nếu chúng ta xét thấy Heidegger thường được coi là ‘Đại Phán quan’ đã loại bỏ siêu hình học khỏi triết học Lục địa Đương đại một cách dứt khoát. Nhưng vào cuối những năm 1920, Heidegger không bao giờ nói về việc vượt qua, mà đúng hơn là về việc khôi phục lại những câu hỏi cơ bản của siêu hình học. Theo Jaran, François (2010). Toward a Metaphysical Freedom: Heidegger’s Project of a Metaphysics of Dasein. In International Journal of Philosophical Studies, vol. 18, no. 2, 2010, pp. 205–227. - HHN]
[Tr.102] Nhưng bây giờ chúng ta hãy đi sâu hơn vào câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa phán đoán và chân lý. Nói rằng chân lý có vị trí của nó trong mệnh đề có nghĩa là gì? Chân lý có phải là một ‘thuộc tính’ của phán đoán, giống như màu sắc là thuộc tính của một sự vật vật chất không? Điều này cũng chỉ có thể được quyết định sau khi chúng ta làm rõ cách thức chân lý liên quan đến Dasein phán đoán và đến Dasein nói chung. Chỉ khi nào khả tính nội tại của chân lý trở nên rõ ràng thì khả tính tri thức, và do đó cả khả tính phán đoán và tư duy, mới trở nên dễ hiểu, chứ không phải ngược lại! Hàm ý của điều này đối với khái niệm logic là ở chỗ nhiệm vụ của logic, nói một cách tổng quát, là làm sáng tỏ bản chất của chân lý. Tuy nhiên, nếu việc làm sáng tỏ bản chất của chân lý chỉ có thể được thực hiện với tư cách một siêu hình học, một bản thể luận, thì logic phải được hình dung như là siêu hình học của chân lý.
Do đó, chúng ta đã lần theo những đặc điểm học thuyết phán đoán của Leibniz theo một con đường mà trên đó chúng ta bắt gặp đặc tính của ‘chân lý’: Phán đoán là sự kết nối, chính xác hơn là sự bao hàm; đặc điểm chính của mối quan hệ chủ ngữ-vị ngữ là đồng nhất tính, nhưng đối với Leibniz, tự nó là chân không có gì khác hơn là có tính đồng nhất. Sự biện minh, làm rõ và chứng thực tính đúng đắn được thực hiện bằng cách quy giản về các đồng nhất tính và được biến thành khả thể bởi sự nhất quán lẫn nhau của các xác định được coi là tương thích trong nhất tính của cái mà phán đoán được đưa ra, trong nhất tính của chủ thể. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng quan niệm về phán đoán và chân lý ở đây không chỉ đề cập đến những chân lý bản chất mà còn cả những chân lý hiện sinh. Và điều này có nghĩa là tất cả các mệnh đề khả thể xác định một hiện hữu cá nhân nhất định phải được quy giản một cách lý tưởng thành một sự kết nối của các đồng nhất tính thuần túy. Theo cách này, chúng là các xác định của những gì thuộc về nhau.
Đa tính của những gì thuộc về nhau, để có thể trở thành một chỉnh thể nhất quán khả thể, đòi hỏi một nhất tính của tình trạng thuộc về nhau. Tuy nhiên, đây phải là một nhất tính có trước, bởi chỉ bằng cách đó nó mới có thể hoạt động như một tiêu chuẩn cho sự mạch lạc của vạn vật hoặc cho tính không mạch lạc của những gì được cho là mạch lạc. Sự mạch lạc của một đa tính, như là trạng thái thuộc về nhau một cách thích hợp, đòi hỏi một nhất tính điều chỉnh trước. Việc quy giản về nhất tính, như một tổng thể của các xác định tương thích và tương thích mạch lạc, như một phương thức phán đoán về các hiện hữu, chỉ khả thể về phương diện siêu hình học nếu bản thân hiện hữu đó được cấu thành bởi một nhất tính nguyên thủy. Leibniz nhìn thấy nhất tính này trong cấu trúc đơn tử của thực thể. Do đó, cấu trúc đơn tử của các hiện hữu là nền tảng siêu hình cho lý thuyết phán đoán và cho lý thuyết đồng nhất tính về chân lý. Việc chúng ta phân tích học thuyết phán đoán của Leibniz xuống các vấn đề siêu hình cơ bản [tr.103] được hoàn thành ở đây. Chúng ta đặc biệt phải ghi nhớ rằng mỗi đơn tử là một tấm gương, là vũ trụ tiềm tàng. Do đó, nó được phối hợp một cách lý tưởng với vũ trụ như là đối tượng của tri thức linh thánh tuyệt đối. Bằng cách này, chúng ta đã có được cơ sở siêu hình cho ý niệm về tri thức như là intuitus trực giác, cho cái lý tưởng về tri thức như là cognito adaequata intuitive tri thức trực giác đầy đủ, như là tính minh bạch tuyệt đối, nhận thức thuần túy và giản phác của đơn tử.
Do đó, logic chân lý của Leibniz chỉ có thể khả thể trên cơ sở siêu hình học đơn tử về thực thể. Logic này về cơ bản có các nền tảng siêu hình. Thật vậy, như sự xem xét triệt để có thể chứng minh, nó không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý. Đúng là bản thân Leibniz không hề trình bày rõ ràng về vấn đề các nền tảng siêu hình học của logic. Ngược lại, khuynh hướng phát triển logic từ chính nó và siêu hình học, như thể, từ logic của ông được thể hiện nhiều lần. Và trong nỗ lực này, các khái niệm về siêu hình học và logic được bảo tồn trong các đặc điểm cơ bản của chúng, bất chấp mọi sự biến đổi của các vấn đề cụ thể của chúng. Định hướng của chúng ta đối với logic của Leibniz và mối liên hệ của nó với siêu hình học có nhiệm vụ trước hết là làm cho chân trời của các vấn đề khả thể trong lĩnh vực này trở nên khả kiến ngay từ đầu, để loại bỏ bớt tính xa lạ khỏi các cuộc thảo luận thuần túy mang tính hệ thống sẽ diễn ra sau đó. Nhưng đặc biệt hơn, chúng ta đã cố gắng bác bỏ giả định rằng logic là một thứ gì đó trôi nổi tự do, một thứ gì đó chỉ thu lu bên trong bản thân nó.
Tất nhiên, vẫn có lập luận cho rằng tính ưu việt của logic so với siêu hình học có thể được chứng minh một cách thuyết phục. Lập luận này có thêm lợi thế là có khả năng giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa chúng dựa trên các khái niệm khá tổng quát về logic và siêu hình học, mà không cần đi sâu vào các vấn đề cụ thể thuộc về nội dung của logic hay siêu hình học. Trong khi luận điểm của chúng ta là: a) Logic được đặt nền tảng trong siêu hình học, và b) Logic không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý; thì lập luận khác lại dựa trên 1) Giả định cho rằng logic trôi nổi tự do, một thứ tư duy nào đó cứ như thể tối thượng vậy, và 2) Lập luận chung rằng logic có tính ưu việt hơn tất cả các ngành khoa học, một lập luận bắt nguồn từ giả định đầu tiên. Lập luận này có ưu điểm là a) Được duy trì một cách tổng quát, về hình thức, mà không đi sâu vào nội dung của các ngành siêu hình học và logic, và b) Dễ hiểu ngay lập tức ở cấp độ thông thường. Người ta cho rằng siêu hình học, với tư cách là một khoa học, hiểu biết, và do đó nó là một loại tư duy; với tư cách là tư duy, nó [tr.104] giả định khoa học về tư duy, và do đó giả định logic. Lập luận khẳng định rằng logic là tiền đề của siêu hình học, vì nếu không có nó thì ngay cả siêu hình học cũng không thể được biện minh hoặc thực hiện. Giờ đây, bởi vì lập luận này có giá trị đối với mọi ngành khoa học, đối với mọi hiểu biết và tư duy, do đó ‘logic’ giả định logic! Một kết luận được rút ra nhất quán như vậy đương nhiên khiến người ta phải suy nghĩ, đặc biệt là liệu lập luận đó có giải thích được điều gì về mối quan hệ giữa logic và siêu hình học hay không. Bởi vì lập luận này áp dụng như nhau cho cả logic và siêu hình học. Nếu đúng như vậy, thì lập luận này cuối cùng phải được kiểm chứng bằng những hệ quả của nó.
Lập luận cho rằng siêu hình học, với tư cách là tri thức triết học và hiểu biết, chính là một dạng tư duy. Tư duy đòi hỏi logic, và trước khi có thể đặt nền móng cho siêu hình học, thì logic phải được thiết lập làm nền tảng cho siêu hình học, chứ không phải ngược lại. Dễ dàng nhận thấy rằng lập luận này có thể được áp dụng cho mọi ngành khoa học, với kết luận rằng logic phải cung cấp tiền đề cho tất cả các ngành khoa học. Nhưng cuối cùng, chính khả tính áp dụng lập luận này cho bất kỳ ngành khoa học nào lại phản bác tuyên bố cho rằng logic là tiền đề của tất cả các ngành khoa học, và do đó đặc biệt là của siêu hình học. Vì ở đây ‘tiền đề’ có nghĩa là gì? Mọi ngành khoa học, bao gồm cả siêu hình học, và mọi hình thức tư duy tiền khoa học đều sử dụng, như một dạng tư duy, các quy tắc hình thức của tư duy. Việc sử dụng các quy tắc của tư duy trong quá trình tư duy là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta hãy tạm thời bỏ ngỏ câu hỏi tại sao lại như vậy. Nhưng liệu từ tính chất không thể tránh khỏi của việc sử dụng các quy tắc trong quá trình tư duy có suy ra được rằng khoa học có cơ sở trong logic hay không? Hoàn toàn không. Tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc tự nó không nhất thiết ngụ ý tính không thể tránh khỏi của logic. Việc sử dụng quy tắc không nhất thiết đòi hỏi một khoa học về các quy tắc tư duy và chắc chắn không phải là một tri thức lý luận về các quy tắc này theo nghĩa của logic truyền thống. Bởi vì nếu không, sự biện minh có suy nghĩ cho chính logic về bản chất sẽ là không thể hoặc trở nên dư thừa.
Ngay cả khi người ta muốn thừa nhận rằng tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc trong tư duy khoa học ngụ ý tính không thể tránh khỏi của logic đối với khoa học và siêu hình học, điều này đồng nghĩa với việc logic là nền tảng của khoa học. Quá trình tư duy và việc sử dụng các quy tắc, trong số những điều khác, là những yêu cầu xuất phát từ bản chất của khoa học, nhưng bản chất của khoa học lại không có khả tính nội tại trong quá trình tư duy và việc sử dụng các quy tắc. Hơn nữa, điều ngược lại cũng đúng. Tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc chỉ có thể được thiết lập từ khả tính nội tại [tr.105] thiết yếu của khoa học, và chỉ có thể được biện minh về mặt siêu hình học. Không chỉ việc sử dụng quy tắc, mà chính các quy tắc cũng cần đến siêu hình học để biện minh. Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng sự biện minh siêu hình học này đối với các quy tắc logic lại giả định tư duy khoa học, giả định chính các quy tắc và tất yếu sử dụng chúng.
Vì vậy, tính ưu việt của các quy tắc tư duy, dù có quanh co khúc khuỷu thế nào đi nữa, cũng không thể bị bác bỏ. Trên thực tế, lập luận này không thể né tránh. Nhưng đặc biệt không thể né tránh câu hỏi liệu các điều kiện cần thiết cho hoạt động của tư duy có được định trước đối với bản chất của tư duy và trước cái mà tư duy như một hoạt động của Dasein dựa trên đó, hay ngược lại, bản chất của Dasein và tư duy trước tiên làm cho các điều kiện hoạt động của tư duy và cách thức mà chúng nhất thiết phải được sử dụng trở nên khả thể. Tư duy và việc sử dụng quy tắc có thể là không thể tránh khỏi đối với hoạt động của mọi tư duy, và do đó cũng là để thiết lập siêu hình học, nhưng điều này không có nghĩa là nền tảng nằm ở việc sử dụng các quy tắc. Ngược lại, điều đó chỉ đơn giản dẫn đến thực tế là việc sử dụng quy tắc tự nó cần được biện minh. Và điều đó càng củng cố kết luận cho rằng lập luận có vẻ hợp lý này hoàn toàn không có cơ sở để thiết lập một nền tảng nào cả. Lập luận từ tính tất yếu của việc sử dụng quy tắc chỉ có thể dựa vào thực tế này, cái thực tế về tính tất yếu của nó, nhưng nó thậm chí không thể biến thực tế này, trong khả tính nội tại của nó, thành một vấn đề, chứ đừng nói đến việc giải quyết nó.
Do đó: 1) Logic thậm chí không phải là điều kiện hoạt động cho tư duy mà chỉ là một khoa học về các quy tắc theo đúng nghĩa được lưu giữ trong một truyền thống. 2) Nhưng nếu nó là một khoa học về quy tắc, thì rõ ràng logic, ở dạng truyền thống của nó, không thể làm sáng tỏ hay biện minh cho chính những quy tắc này trong bản chất của chúng. 3) Trong chừng mực khả tính nội tại của một cái gì đó cung cấp nền tảng phải có trước đối với hoạt động thực tế và các điều kiện của tư duy, thì việc giải thích khả tính nội tại của tư duy, theo đúng nghĩa, lại là tiền đề của ‘logic’ như một khoa học về các quy tắc của tư duy. 4) Toàn bộ vấn đề về tính ưu tiên khả thể của siêu hình học so với logic hoặc logic so với siêu hình học không thể được đặt ra, thảo luận và giải quyết bằng logic, trừ khi logic được coi là siêu hình học của chân lý. Nếu có thể thảo luận những vấn đề này theo cách thức của siêu hình học, thì việc sử dụng các quy tắc logic chắc chắn là một trong những điều kiện để nó hoạt động.
Những điều đã nói ở trên đủ để chứng minh luận điểm ưa thích về tính ưu việt của logic. Đây là một luận điểm kinh điển - đối với tất cả các ngụy biện. Nó khơi gợi ảo tưởng, và có thể làm như vậy bất cứ lúc nào, và nó đang [tr.106] thúc đẩy một nền tảng tối thượng mà không dựa vào bất kỳ cơ sở áp chót nào. Mọi sự biện minh thấu triệt đều bị bác bỏ bởi thực tế là, với tư cách biện minh, nó thậm chí còn tư duy. Mặc dù, trong ảo tưởng này, nó viện dẫn đến một điều gì đó mà nó không thể đưa ra lời biện minh, tuy nhiên - và đây là điều ngụy biện - nó tạo ra vẻ ngoài rằng lập luận hình thức này là chặt chẽ nhất và mọi sự biện minh chỉ thỏa đáng trong phương thức lập luận hình thức. Sẽ là sai lầm nếu tin rằng, bởi vì mang tính hình thức và trống rỗng, nên luận điểm này có thể bị bác bỏ theo cùng một cách, về mặt hình thức. Thay vào đó, sự bác bỏ chỉ bao gồm việc chỉ ra tại sao luận điểm này là khả thể và tại sao nó thậm chí là cần thiết trong một số tiền đề nhất định. Ngay từ bước đầu tiên đưa ra lý lẽ biện minh cho lập luận, ta thấy rõ rằng lập luận này sống và nuôi dưỡng dựa trên một điều gì đó, điều mà chính lập luận đó không những không thể tạo ra mà thậm chí nó còn tin rằng mình phải phủ nhận!
Lập luận này không phải là tùy tiện. Nó có nguồn gốc siêu hình và do đó xuất hiện lặp đi lặp lại, đặc biệt là ở bất cứ nơi nào người ta tìm kiếm một nền tảng triệt để. Và vì vậy, Leibniz hết lần này đến lần khác tiến gần đến việc đặt nền móng cho siêu hình học trên cơ sở logic, có lẽ rõ ràng và nhấn mạnh nhất trong cái luận thuyết đã được đề cập nhiều lần, Primae veritates Chân lý Đầu tiên (C. 581-23) [L. 267]. Logic đương đại cho thấy một sự bóp méo mới về vấn đề này. Siêu hình học không chỉ bị quy giản thành logic, mà bản thân logic cũng bị quy giản thành toán học. Logic đương đại là logic tượng trưng, logic toán học, và do đó là một logic tuân theo phương pháp toán học. Ngay cả khi, thông qua những suy ngẫm trước đây về Leibniz, và có thể sử dụng các thuật ngữ ‘siêu hình học’ cùng ‘logic’ với nội dung xác định hơn, nhưng chúng ta vẫn không thể giải quyết được vấn đề về mối quan hệ giữa siêu hình học và logic thông qua những thảo luận chung chung như vậy. Điều này đặc biệt đúng bởi vì trước chúng ta không có hai ngành học vững chắc, ổn định có thể đơn giản được đặt đối lập với nhau. Thay vào đó, điều quan trọng là phải nêu ra một vấn đề trung tâm của logic trên nền tảng của những suy tư trước đó, chủ yếu hướng về lịch sử, và làm rõ vấn đề theo phương thức cho thấy một cung cách cụ thể logic chỉ có thể khả thể như là siêu hình học về chân lý. Cũng như trong tất cả các nhiệm vụ triết học đặt nền móng, điều quan trọng hàng đầu là phải lưu ý rằng việc đặt nền móng không có nghĩa là đặt thêm một nền tảng khác dưới một ngành học đã hoàn thiện. Việc đặt nền móng luôn hàm ý một bản phác thảo mới. Mỗi nền tảng cho triết học phải biến đổi chính triết học, nhưng sự biến đổi chỉ có thể thực hiện được khi nắm bắt và duy trì những gì là thiết yếu.
Để kết thúc phần chính đầu tiên của loạt bài giảng, cần nhắc lại [tr.107] rằng mục tiêu của chúng ta, nói chung, là một logic triết học. Nghĩa là, chúng ta đang tìm kiếm nền tảng siêu hình học của logic. Như một lời giới thiệu cụ thể về vấn đề siêu hình học cơ bản, chúng ta đã sử dụng việc tháo dỡ logic của Leibniz - về nguyên tắc điều này cũng có thể thực hiện được với Plato hoặc Aristotle. Mối liên hệ giữa lý thuyết đồng nhất tính và đơn tử luận vậy là đã trở nên rõ ràng. Mối liên hệ này chứng minh cho khẳng định của chúng ta cho rằng logic được xây dựng trên cơ sở siêu hình học và không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý. Một cuộc thảo luận sơ bộ quan trọng đã được dành cho lời phản bác thường thấy duy trì tính ưu việt của logic. Điều kiện cần thiết để làm một việc gì đó là không thể được đồng nhất với lý do cho cái khả tính nội tại của những gì có thể được thực hiện. Việc viện dẫn điều kiện cần thiết này không tạo ra nền tảng nào; ngược lại, nó thu hẹp câu hỏi và cản trở con đường tìm tòi. Tính mù quáng đặc trưng của lập luận này được thể hiện qua việc nó xuất hiện lặp đi lặp lại. Và với điều này, chúng ta sẽ bước vào phần thứ hai của Khóa học.
_____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes
Notes
13. [Published as volume 24 of the Gesamtausgabe: Die Grundprobleme der Phenomenologie, ed. F.-W. von Herrmann (Frankfurt a.M., 1975)] [The Basic Problems of Phenomenology, translation, introduction and lexicon by Albert Hofstadter (Bloomington: Indiana University Press, 1982).]

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét