Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Phép tường giải về Thực tính (II)



Phép tường giải về Thực tính (II)

Martin Heidegger

Người dịch: Hà Hữu Nga

Giới thiệu [1]

Việc đưa ra các câu hỏi; các câu hỏi không phải là các tư tưởng; các câu hỏi cũng không phải là “các vấn đề” của đời thường hàng ngày thu lượm được từ các cuộc truyện trò, từ các cuốn sách, hoặc được phú bẩm với một suy tư sâu xa. Các vấn đề nảy sinh từ cuộc đối đầu với Sachen “vấn đề chủ đề”. Mà vấn đề chủ đề thì lại chính là da “ở đó” nơi con mắt thấy.

Theo cách đó thì trong khóa giảng này cần phải “đặt ra” một số câu hỏi, và càng cần phải thấy rằng ngày nay, việc đặt câu hỏi đã bỏ qua được thói thời thượng của cái tuyệt kỹ với “các vấn đề”. Hơn nữa, trong thực tế người ta kín đáo hủy bỏ hoàn toàn việc đặt vấn đề và dốc lòng gieo trồng đức tính khiêm cung của một niềm tin mù quáng. Người ta tuyên bố cái linh thánh là luật cơ bản và vì vậy phải được chăm bẵm nghiêm cẩn vì tuổi tác làm cho nó trở nên mong manh, và bất lực nên mới cần phải như vậy. Người ta không ủng hộ cái gì khác hơn là vận hành trơn tru một “tuyệt kỹ”! Đã bắt đầu chín muồi cho việc tổ chức sự dối trá. Triết học diễn giải tình trạng tha hóa này là “cuộc hồi sinh của siêu hình học”.

Những người đồng hành trong cuộc kiếm tìm của tôi là Luther thời trẻ và Aristotle mực thước, là người mà Luther rất ghét. Những cú não xung Kierkegaard giáng thẳng vào tôi, còn Husserl thì làm tôi sáng mắt. Người ta chỉ “hiểu rõ” về một sự vật khi họ gộp nó vào khuôn khổ của các tác động lịch sử, giả-nhận thức của một lối tò mò diệu nghệ, tức là việc làm lệch khỏi vấn đề duy nhất được bàn đến trong khóa học này với tư cách là mục đích cuối cùng cần đạt được. Người ta cần phải làm cho “khuynh hướng nhận thức” của mình càng dễ càng tốt, để sao cho họ sẽ có thể tự lụi tàn. Chẳng có gì đáng phải mong đợi ở họ cả. Họ chỉ chăm bẵm cho cái giả trá. 

Phần I. Cách diễn giải Dasein hiện hữu trong tính đặc thù của nó

Faktizität Thực tính là một từ đặc định cho Dasein hiện hữu của “chúng ta”, của “riêng ta”. Chính xác hơn, cách thể hiện ấy có nghĩa là: trong mọi trường hợp thì cái Dasein hiện hữu-ở đó ấy trong một khoảng thời gian vào một thời điểm cụ thể (hiện tượng “mang tính một lúc” cụ thể về thời gian, giống như “nấn ná” “thêm một lúc”, kẻ kia có đó, ở đó) miễn là thể hiện được đặc trưng “có đó” theo cách seinsmäßig đang là. Dasein hiện hữu ở chừng mực đang là có nghĩa là: không hề, không bao giờ tồn tại ở đó với tư cách là đối tượng của một quan niệm và xác định trực quan, đơn thuần bằng nhận thức và am hiểu, mà là tự thân Dasein hiện hữu đó “Như thế nào” [bằng cách thức nào] của chính Hữu thể. Cái cách thức “Như thế nào” ấy của Hữu thể đã khải hiện và xác định cái khả thể tương ứng Hữu thể-chuyển hiện “ở đó”: để trở thành cuộc sống thực!. Bản  thân Hữu thể không bao giờ là đối tượng khả thể của một cái có nào cả, bởi vì nó ở trong chính nó, cái Hữu thể ấy, tự thân khởi hiện.

Giống như mọi trường hợp của riêng mỗi chúng ta, Hiện hữu “Dasein” không có nghĩa là việc tách biệt quá trình tương đối hóa khải hiện thành các cá thể và vì vậy tự mình salus ipse trở thành cái cá nhân, trong khi đó “tính đặc thù” lại chính là phương thức của tồn tại, hiển thị những cách thức trưởng thành khả thể. Nhưng nó lại không phải là một sự phân biệt phạm vi trong khuôn khổ của sự tách biệt trái ngược nhau.  

Và vì vậy thực có nghĩa là một cái gì đó tự khớp nối bằng đặc trưng Hữu thể hiện tồn, và tự khớp nối bằng phương cách “là”. Nếu chúng ta coi “sống” là một phương thức của “Hữu thể” thì “sống thực” có nghĩa là Dasein hiện hữu của riêng ta với tư cách là ở đó bằng bất kỳ một Ausdrücklichkeit hiển tính đang là nào của đặc trưng hữu thể.  

Chương I. Phép tường giải

§2. Phép tường giải với các khái niệm truyền thống: Thuật ngữ Hermeneutik Phép tường giải là để biểu thị một cách sử dụng thống nhất việc cam kết, cách tiếp cận, thâm nhập, tra vấn, và diễn giải thực tính. Từ ερμηνευτική hermeneutiké (επιστήμη epistemé khoa học, τέχνη téchné nghệ thuật) trong tiếng Hy Lạp cổ được cấu tạo bằng danh động từ έρμηνεὐειν giải thích, danh từ έρμηνεἰα sự giải thích, danh từ έρμηνεὐς người giải thích. Cho đến nay, từ nguyên của ερμηνευτική hermeneutiké vẫn còn mơ hồ. [2] Người ta biết rằng nó liên quan đến vị thần có tên Έρμης Hermes, truyền lệnh sứ của thế giới thần linh.

Một số tài liệu tham khảo có thể giúp thu gọn phạm vi xác định nghĩa gốc của từ này và cũng giúp hiểu rõ thêm cách thức thay đổi nghĩa của từ.

Theo Plato thì: οί δ ποιηταὶ οδν άλλ' έρμηνής εἰσίν των θεών Chỉ có các thi nhân mới là truyền lệnh sứ của Thần linh. Đó chính là trường hợp của rhapsodes các khúc cuồng tưởng được các thi sĩ dẫn lại như: Οκον έρμηνέων έρμηνής γίγνεσθε Vậy ra các ngươi sẽ không được là truyền lệnh sứ của các truyền lệnh sứ? Một έρμηνεὐς truyền lệnh sứ là một người truyền đạt, tuyên thuyết và tường giải cho ai đó về những gì mà người khác “muốn nói”, hoặc một ai đó đến lượt mình phải chuyển tải, phục hồi sự truyền đạt, tuyên thuyết và tường giải điều người khác muốn nói ấy. Xem thêm Sophistes 248a5, 246e3: άφερμήνευε, “truyền đạt về” việc tường giải điều mà những người khác “muốn nói”.  

Theaetetus 209a5: Λόγος = ή της σης διαφορότητος ἑρμηνεία Ngôn trí = cách thể hiện những khác biệt. Tường giải là làm hiển lộ những khác biệt, và những gì liên quan đến cái chung, [Theaetetus 163c: những gì mà chúng ta nhận thức được về các từ và những gì mà người diễn giải về chúng truyền đạt] – không phải là nhận thức mang tính lý thuyết, mà là “ý nguyện”, khát vọng và những thứ tương tự, Hữu thể, tồn tại, tức là Phép tường giải chính là làm hiển lộ Hữu thể như một hiện hữu cho - [tôi].

Aristoteles: τη γλώττη (καταχρήται ή φύσις) πί τε την γεσιν και την διάλεκτον, ών ή μἑν γεσις ναγκαον (διό και πλείοσιν ῠπἀρχει), ή δ’ ἑρμηνεία ενεκα το ε [4]: Chúng hữu sinh sử dụng lưỡi để nếm cũng như để chuyện trò, trong đó hành vi nếm là cách xử lý cần thiết, vì vậy mà hầu hết chúng hữu sinh đều có), việc quần tụ và trao đổi với nhau về một điều gì đó là để gìn giữ sự tồn tại  đích thức của chúng hữu sinh trong thế giới của mình, và bằng cách thức của mình. Ở đây Ερμηνεία chỉ là để thể hiện διάλεκτος cuộc chuyện trò nhẹ nhàng, nhưng lại là cách thức thể hiện thực sự về ngôn trí và câu truyện ấy lại liên quan đến δηλοΰν [.] τ συμφέρον κα τ βλαβερόν [5] thứ diễn ngôn “làm cho các hiện hữu khải hiện, dễ tiếp cận đối với việc nhìn nhận và có được chúng theo thiện tính và bất thiện tính của chúng” [5].

Xem thêm έρμηνεύειν; Philostratus [6]. Simplicii in Aristotelis Phýicorum Commentaria [7]. Pericles in Thucydides: καίτοι έμο τοιούτω νδρργίξεσθε δς οδενς οΐομαι σσων εναι γνναί  τε τά δέοντα καί φιλόπολίς τε καί ἑρμηνεσαι τατα, φιλόπολίς τε καί χρημάτων κρείσσωνa Nhưng còn ta, người mà ngươi tức giận, ta cũng sành sỏi như bất cứ kẻ nào mà ta cho là có biết và tuyên thuyết được về các cách thức đúng đắn, và ta còn vừa là một đồng bào thiện hảo, lại vừa vượt lên trên tác động của đồng tiền [8]. Aristoteles:  λέγω δέ,.., λέξιν εναι την δι της ονομασίας ἑρμηνείαν Ta muốn nói rằng ... chính ngôn ngữ đó làm cho một điều gì đó trở nên hiển hiện với các từ [9].

Trong số các “văn bản” của Aristotle, có một tác phẩm đã được lưu truyền với tiêu đề Περί ἑρμηνείας [On Interpretation] Về Diễn giải. Nó giải quyết vấn đề λόγος ngôn trí trong việc thực hiện cơ bản hành động khai mở và tìm hiểu chúng hữu sinh. Tiêu đề của văn bản này hoàn toàn phù hợp với những gì đã được lưu ý ở trên. Tuy nhiên văn bản thì được giới thiệu dưới tiêu đề trên, nhưng cả Aristotle lẫn các môn đệ trực tiếp của ông trong nhóm Peripatos* thì lại không được đề cập. Nó được lưu truyền với tư cách là một “bản thảo chưa hoàn thiện” và “không có tiêu đề” của Aristotle cho các môn đệ của ông. Vào thời Ανδρονικος ο Ροδιος** Andronicus οf Rhodes, năm 60 TCN, thì tiêu đề trên đã được sử dụng. Khi khẳng định tính đáng tin cậy của văn bản dựa trên những cơ sở vững chắc, H. Meier cho rằng tiêu đề trên xuất hiện sớm nhất ở thế hệ môn đệ đầu tiên của trường phái sau Theophrastus and Eudemus [10].

Trong bối cảnh hiện nay thì cái từ làm tiêu đề công trình nghiên cứu của chính Aristotle chỉ có tầm quan trọng về phương diện ý nghĩa lịch sử mà thôi. Quyền lực của diễn ngôn luôn là thứ để mở cho đến khi hiện hữu hiển lộ. Theo nghĩa đó, λόγος ngôn trí liên quan đến cái mà nó thực hiện thì lại có khả tính riêng của άληθεύειν khải tính, vốn bị che đậy, đã được làm hiển lộ, có mặt ở đó. Vì văn bản của Aristotle giải quyết toàn bộ vấn đề này, nên nó đã được gọi một cách chính xác là Περί ἑρμηνείας [On Interpretation] Về Diễn giải.

Đối với người Byzantines thì nghĩa ấy của άληθεύειν đã trở nên phổ biến và nó cũng tương hợp với động từ “nghĩa là, có nghĩa là” ngày nay, một từ, hoặc một tập hợp từ muốn nói về một cái gì đó, “có nghĩa”. [Platonism về nghĩa có nguồn gốc từ đây]   
     
Philo mô tả Moses là έρμηνεύς θεο truyền lệnh sứ của Thượng đế [11].

Aristeas Ἀριστέας, thi sĩ nửa phần huyền thoại Hy Lạp, khoảng thế kỷ 7 TCN viết: τὰ των  Ἰουδαίων  γράμματα “έρμηνεἰας προσδεῖται” Các văn bản của người Do Thái “cần phải được dịch”, “diễn giải” [12]. Dịch có nghĩa là làm cho cái được thể hiện bằng một ngôn ngữ kẻ ngoại có thể tiếp cận được bằng ngôn ngữ của kẻ nội ta, vì lợi ích của kẻ nội ta. Sau đó trong các nhà thờ Thiên chúa giáo thì έρμηνεἰα việc diễn giải nghĩa đã trở thành công việc chú giải enarratio tối đa: ερμηνεία εις την ὀκτἀτευχον - chú giải về Tám bộ kinh. Bình chú, diễn giải là theo đuổi việc phát hiện nghĩa đáng tin cậy trong một văn bản và mở đường cho việc tiếp cận dễ dàng với nghĩa của văn bản, theo nghĩa đó ερμηνεία = ἐξήγησις diễn giải có nghĩa là bình chú.

Thánh Augustine đã đưa ra phép tường giải đầu tiên bằng một phong cách lớn: Homo timens Deum, voluntatem ejus in Scripturis sanctis diligenter inquirit. Et ne amet certamina, pietate mansuetus; praemunitus etiam scientia linguarum, ne in verbis locutionibusque ignotis haereat; praemunitus etiam cognitione quarumdam rerum necessariarum, ne vim naturamve earum quae propter similitudinem adhibentur, ignoret; adjuvante etiam codicum veritate, quam solers emendationis diligentia procuravit: veniat ita instructus ad ambigua Scripturarum discutienda atque solvenda [13].  

"Con người cần phải diễn giải được các đoạn Kinh thánh kín nhiệm bằng các điều khoản sau: trong niềm kính sợ Chúa, bằng cách chú mục khải huyền ý Chúa trong Kinh thánh; giáo dục thấu triệt lòng sùng mộ Chúa vì sợ rằng kẻ kia sẽ lấy làm thích thú với việc tranh cãi bằng từ ngữ; phải được trang bị tri thức ngôn ngữ vì sợ rằng kẻ kia sẽ lấp lửng với những từ ngữ xa lạ; phải được cung cấp tri thức về các đối tượng, sự kiện tự nhiên làm minh họa, vì sợ rằng kẻ kia sẽ phán quyết sai trái sức mạnh của bằng chứng; phải được gia hộ bằng chân lý chứa trong các Kinh văn...” [13].

Vào thế kỷ 17, chúng ta bắt gặp cái tiêu đề Hermeneutica sacra – Phép tường giải linh thánh cho cái được gọi bằng cách khác là Clavis Scripturae sacrae [14] [Chià khóa Kinh thánh, Isagoge ad sacras literas [15] Nhập môn Kinh thánh, Tractatus de interpretatione [l6] Chuyên luận về Diễn giải, Philologia sacra [l7] [Triết học Linh thánh].
________________________________________

Nguồn: Heidegger M.1923. Ontologie (Hermeneutik der Faktizität), Gesamtausgabe, Abteilung: Vorlesungen, Band 63, Frühe Freiburger Vorlesung Sommersemester, Herausgegeben von Käte Bröker-Oltmanns, Vittorio Klostermann Frankfurt Am Main, Germany. 

Tác giả: Martin Heiderger, triết gia lỗi lạc của Đức, sinh ngày 26/9/1889, mất ngày 26/5/1976. Là học trò của Husserl và chịu ảnh hưởng của triết học Brentano, kế tục Husserl giảng dạy triết học tại đại học Freiburg, và trở thành hiệu trưởng của đại học này năm 1933-1934. Các tác phẩm tiêu biểu của ông là Hữu thể và Thời gian xuất bản năm 1927; Kant và vấn đề siêu hình học, Nhập môn siêu hình học năm 1935, Học thuyết Plato về chân lý, 1942; Thư về chủ nghĩa nhân đạo, 1947…vv.

Ghi chú của người dịch:

* Peripatos περίπατος là tên gọi trường phái triết học của Aristotle, được đặt theo tên địa điểm mà người sáng lập trường phái truyền dạy tri thức, trong trường hợp này thì περίπατος  có nghĩa là Phòng giải lao, mà từ nguyên là peripatoi περίπατοι những chiếc cột trong sảnh đường của Trường Λύκειον Lykeion - Lyceum ở Athens, nơi các thành viên trường phái gặp gỡ. Sau đó các môn đệ của trường phái này bị gán cho cái tên sai lệch là peripatetikos περιπατητικός trong khi đó nguyên nghĩa của từ chỉ trường phái trên là περιπατεῖν peripatein có nghĩa là du tưởng. [Stattdessen müsse es vom Substantiv (περίπατος) abgeleitet werden. Vgl. A. Busse: Peripatos und die Peripatiker. In: Hermes. Zeitschrift für klassische Philologie. Bd. 61, 1929, S. 335–342].

** Ανδρονικος ο Ροδιος Andronicus ο Rhodes [Ρόδος], năm 60 TCN, là một triết gia Hy Lạp người đảo Rhodes, ông cũng là người đứng đầu trường phái Peripatos, và nổi tiếng nhất với việc công bố một tuyển tập mới các công trình của Aristotle, làm cơ sở cho các văn bản còn lại đến ngayfd nay.

Ghi chú

[1] Titel von Heidegger. Das »Vorwort« wurde im Kolleg nicht vorgetragen.

[2] Vgl. É. Boisacq, Dictionnaire estymologique. Heidelberg – Paris 1916, S.282 f.

[3] Ion 534 e, Oxford (Burnet) 1904.
                                                                         
[4] a.a.O., 535 a.

[4] De Anima Β 8, 420 b 18 sqq.

[5] Politik A 2, 1253 a 14 sq.

[6] De Vitis Sophistarum ed. C. L. Kayser. Leipzig 1871, Vol. II, S. 11, Z. 29. In: H. Diel, Die Fragmente der Vorsokratiker. Berlin 1912, Bd. II, S. 235, Z. 19.


[7]. Ed. H. Diels. Commentaria in Aristotelem Graeca. Berlin 1882, S. 329, Z.20.


[8]. De bello Peloponnesiaco, ed. G. Boehme. Leipzig 1878, Bd. II, 60 (5), S. 127.

[9]. Poetik 6, 1450 b 13 sq.

[10] Die Echtheit der Aristotelischen Hermeneutik. In: Archiv für Geschichte der Philosophie 13, NF. 6 (1900), S. 23-72.

[11] De vita Mosis III, 23 (II, 188). Opera IV, ed. L. Cohn. Berlin 1902, S. 244.

[12] Ad Philocratem epistula, ed. P. Wendland. Leipzig 1890, S. 4, Z. 3.

[13] De doctrina christiana. Patrologia latina,  ed. Migne (i. w. zit.: Migne) XXXIV. Paris 1845, Liber III, cap 1,1, S. 65.

[14] M. Flacius IIyricus, Clavis scripturae sanctae seu de sermone sacrarum literarum. Basel 1567.

[15] S. Pagnino, Isagogae ad sacras literas Liber unicus. Köln 1540 u. 1542.

[16] W. Frantze, Tractatus theologicus novus et perspicuus de interpretatione sacrarum macxime legitima scripturarum Wittenberg 1619.

[17] S. Glass, Philologia sacra, qua totius V. et Ν. T. scripturae tum stylus et genuinae interpretationis litteratura, tum sensus et ratio expenditur. Jena 1623.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét