Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Các vùng đô thị toàn cầu (I)



Các vùng đô thị toàn cầu (I)

Allen J. Scott, John Agnew, Edward W. Soja, and Michael Storper

Người dịch: Hà Hữu Nga

Cho đến nay đã có hơn 300 vùng đô thị trên thế giới, với dân số hơn 1 triệu người trở lên. Tối thiểu cũng có tới 20 vùng đô thị có dân số vượt khỏi 10 triệu người. Các vùng đô thị này trải từ các quần đô chi phối bởi một vùng lõi đã phát triển mạnh chẳng hạn như vùng London hoặc Thành phố Mexico cho đến nhiều đơn vị địa lý đa trung tâm như trường hợp các mạng đô thị Randstad* hoặc Emilia-Romagna**. Ở bất cứ nơi đâu thì các vùng đô thị này cũng đều mở rộng một cách sôi động, và chúng đưa đến rất nhiều thách thức sâu sắc cho các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách khi chúng ta đã bước vào thế kỷ 21. Các quá trình tích hợp kinh tế toàn thế giới và sự phát triển đô thị ngày càng tăng tốc đã làm cho các chiến lược chính sách và quy hoạch đô thị truyền thống trong vùng này ngày càng trở nên có vấn đề, trong khi đó nhiều cách tiếp cận thích hợp vẫn còn đang ở giai đoạn thử nghiệm. Các phương thức tư duy mới về các quá trình này và những cách thức hành động mới để khai thác các lợi ích và kiểm soát các tác động tiêu cực của chúng đã trở thành nhu cầu cấp bách.

Có thể tìm lại nguồn gốc của khái niệm các vùng đô thị toàn cầu từ tư tưởng về các “thành phố thế giới” của Hall [1966] và Fiedmann và Wolff [1982], và tư tưởng về các thành phố toàn cầu của Sassen [1991]. Ở đây, dựa trên các nỗ lực tiên phong này, chúng ta xây dựng không phải theo cách thức cố để mở rộng nghĩa của khái niệm bằng các thuật ngữ kinh tế, chính trị và lãnh thổ, mà trên hết, bởi một nỗ lực chỉ ra cái cách thức để cho các vùng đô thị toàn cầu ngày càng vận hành như những điểm nút không gian thiết yếu của nền kinh tế toàn cầu và như những tác nhân chính trị riêng biệt trên sân khấu thế giới. Thực ra khi các đối tượng xã hội và địa lý đang bắt đầu rã hủy trong quá trình toàn cầu hóa, thì các “vùng đô thị toàn cầu” lại ngày càng trở thành trung tâm của cuộc sống hiện đại, và càng ngày càng như vậy, bởi vì quá trình toàn cầu hóa, kết hợp với rất nhiều thay đổi công nghệ, đã tái tác động đến tầm quan trọng của nó với tư cách là các cơ sở của toàn bộ các loại hình hoạt động sản xuất; không còn vấn đề liệu đó là trong các khu vực gia công hay dịch vụ, trong khu vực công nghệ cao hay công nghệ thấp nữa. Khi các thay đổi này bắt đầu quá trình vận hành của chúng thì ngày càng rõ ràng là thành phố theo nghĩa hẹp là một đơn vị tổ chức xã hội ít phù hợp hoặc ít có khả năng đứng vững hơn là các vùng đô thị hoặc các mạng lưới vùng đô thị toàn cầu. Có thể quan sát được một cách thể hiện hữu hình ý tưởng này dưới các dạng hợp nhất bắt đầu xuất hiện với tư cách là các đơn vị liền kề về tổ chức chính trị địa phương (các tỉnh, Länder, các hạt, các vùng đại đô thị, các vùng đô thị tự trị, các départements tỉnh vùng (Pháp) v.v...) tìm kiếm các liên minh vùng như là loại phương tiện giải quyết các mối đe dọa và tận dụng các cơ hội trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình này, chúng tôi cho rằng, các vùng đô thị toàn cầu đã xuất hiện trong những năm gần đây như là một loại hiện tượng địa lý và thể chế mới, cực kỳ quan trọng trên sân khấu kinh tế, chính trị và địa lý thế giới.

Trong phần tiếp theo, chúng tôi cố gắng đưa các nhận xét này tới gần hơn với tâm điểm khái niệm. Chúng tôi sẽ thảo luận dựa trên năm câu hỏi chủ yếu sau:

1. Tại sao các vùng đô thị toàn cầu lại phát triển nhanh vào đúng một thời điểm trong lịch sử khi một số nhà phân tích khẳng định rằng chung cục của địa lý đang hiện diện, và thế giới đang chuyển mình sang một loại không gian phi nơi chốn của các luồng vật chất?.

2. Các loại hình tổ chức kinh tế xã hội trong các vùng đô thị đã phản ứng như thế nào với quá trình toàn cầu hóa, và đã xuất hiện các vấn đề mới nào với tư cách là hệ quả của quá trình đó?

3. Các vùng đô thị toàn cầu phải đối mặt với các nhiệm vụ quản lý chủ yếu nào khi chúng tìm cách để bảo tồn và củng cố sự thịnh vượng và phúc lợi của chúng?

4. Liệu các vùng ít tiên tiến về phương diện kinh tế trên thế giới có thể khai thác được các lợi ích tiềm tàng của sự phát triển vùng đô thị toàn cầu đối với lợi thế riêng của chúng và những gì là những bất lợi chủ yếu của sự phát triển như vậy cho chúng?.    

5. Chúng ta làm thế nào để xác định được lợi ích công cộng trong các vùng đô thị toàn cầu đồng nhất về phương diện văn hóa? Đặc biệt là các khái niệm truyền thống về dân chủ và quyền công dân đang phải chịu thách thức như thế nào bởi sự xuất hiện của các vùng đô thị toàn cầu và bằng cách nào để có thể làm cho chúng trở nên hiệu quả hơn trong bối cảnh mới này?

Liên quan đến toàn bộ các câu hỏi trên là những khẳng định mang tính cạnh tranh về hai hệ tư tưởng chính trị chủ yếu dường như rõ ràng là lơ lửng để giả định về các vai trò nổi bật trong các xã hội tư bản hiện đại trong các thập kỷ tới đây, cụ thể là một thứ chủ thuyết tân tự do đang thống trị, và ngày nay đã trở nên rõ ràng hơn hết trong bất cứ nơi nào tại Liên minh Châu Âu - một viễn cảnh dân chủ xã hội (hoặc thị trường xã hội) mới. Hai hệ tư tưởng xã hội này xuất trình trong những tầm nhìn về tương lai của các vùng đô thị toàn cầu hoàn toàn trái ngược nhau về phương diện lý thuyết và thực tiễn.

Trào lưu vùng mới trong bối cảnh toàn cầu

Trong những thập kỷ ngay sau Thế chiến II, hầu như toàn bộ các quốc gia tư bản chủ nghĩa chủ yếu đã được đặc trưng bởi các chính phủ trung ương mạnh và các nền kinh tế được phân ranh giới quốc gia chặt chẽ. Các quốc gia này đã tạo ra một khối chính trị trong khuôn khổ của một Pax America, Hòa bình kiểu Mỹ, bản thân nó được củng cố bằng một mạng lưới thể chế quốc tế (Hệ thống Bretton Woods, WB Ngân hàng Thế giới, IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế, GATT Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại), thông qua đó họ tìm cách điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế. Mặc dù thương mại quốc tế và các dòng đầu tư mở rộng nhanh chóng sau thời kỳ hậu chiến, chúng vẫn phá vỡ khả năng của các nhà nước-dân tộc để thực hiện các chính sách kinh tế quốc nội. Một hệ quả của tình trạng này là ở chỗ mỗi nước đều có cấu trúc thể chế quốc gia riêng ở mức độ lớn hay nhỏ đều tạo ra các quá trình xã hội và dân số và duy trì một hệ thống đô thị dân tộc khác biệt.

Ngày nay  toàn cầu hóa đã đưa đến những chuyển biến trọng đại đối với trật tự thế giới cũ. Giờ đây có nhiều thử nghiệm thể chế đang dẫn đạo định hướng về một cách thức tổ chức chính trị và xã hội mới về phương diện không gian. Tổ chức mới mẻ này bao gồm toàn bộ hệ thống phân cấp thấm nhập vào các hoạt động kinh tế và các mối quan hệ quản trị của các quy mô lãnh thổ, trải từ toàn cầu đến địa phương và trong hệ thống các vùng đô thị toàn cầu đang xuất hiện đó thì loại tổ chức này đã hiện hình một cách nổi bật. Dưới đây là 4 vấn đề cần phải được thực hiện về hệ thống thứ bậc này: 

1. Các khối lượng hoạt động kinh tế khổng lồ đang tăng lên hàng ngày (các chuỗi đầu vào – đầu ra, các luồng di cư lao động, thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hoạt động thương mại quốc tế, các dòng tiền, v.v...) giờ đây đã xuất hiện trong mạng lưới xuyên quốc gia ngày càng mở rộng. Khi toàn cầu hóa vận động về phía trước thì nó gây ra các xung đột và các tình trạng khó xử, và đến lượt mình, nó lại tác động tới hàng loạt phản ứng chính trị và các nỗ lực xây dựng thể chế liên quan đến các mạng lưới này. Các ví dụ về lĩnh vực này bao gồm hàng loạt định chế thương mại và tài chính quốc tế đã có, chẳng hạn như nhóm G7/G8, OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế, và Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại, giờ đây đổi thành Tổ chức Thương mại Thế giới. Trong khi các ứng phó chính trị đặc biệt này đối với các sức ép của toàn cầu hóa vẫn bị hạn chế về phạm vi và thẩm quyền thực tế, thì chúng lại có khả năng mở rộng và củng cố khi chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục toàn cầu hóa.

2. Một phần với tư cách là hệ quả tất yếu của các sức ép này, trong mấy thập kỷ qua đã có một sự gia tăng nhanh chóng của các khối đa quốc gia chẳng hạn như EU Liên Minh châu Âu, NAFTA Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, MERCOSUR Hiệp định Thương mại Tự do Nam Mỹ, ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á, APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, CARICOM Cộng đồng Caribe, và nhiều tổ chức khác nữa. Các khối này cũng thể hiện các phản ứng thể chế đối với các áp lực tạo ra bởi hiệu ứng tràn ổn định của chủ nghĩa tư bản quốc gia vượt khỏi các ranh giới chính trị truyền thống của chúng. Các quốc gia này thuộc nhiều cấp độ phát triển khác nhau trong hiện tại, với EU rõ ràng vẫn là đội quân tiên phong. Tuy nhiên vì họ chỉ tham gia thành một số nhỏ, nên rõ ràng là họ có thể quản lý như là những đơn vị chính trị, tức là các vấn đề chi phí giao dịch quốc tế tương đối hạn chế và vẫn dễ dàng duy trì sự đồng thuận, so với các tổ chức được coi là toàn cầu thực sự.

3. Các quốc gia có chủ quyền và các nền kinh tế dân tộc vẫn có những yếu tố thống trị của khung cảnh kinh tế, chính trị đương đại, mặc dù rõ ràng là họ đang trải qua một quá trình chuyển đổi sâu sắc. Các nhà nước riêng rẽ không còn được hưởng cấp độ chính trị có chủ quyền mà họ đã từng có nữa, và trong các điều kiện toàn cầu hóa ngày càng tăng họ tự thấy ngày càng ít có khả năng hoặc ý chí bảo vệ toàn bộ các lợi ích vùng và khu vực trong phạm vi quyền hạn của họ. Nhiều khu vực kinh tế đã bị phụ thuộc vào quá trình giải biên giới ồ ạt trong vài thập kỷ qua, đến mức là tình hình ngày càng trở nên khó, nếu không muốn nói là không thể chỉ ra một cách chính xác, chẳng hạn như nền kinh tế Bắc Mỹ sẽ kết thúc ở đâu và các nền kinh tế Đức và Nhật sẽ bắt đầu từ đâu. Kết quả là một số hoạt động thường xuyên trước đây đã được thực hiện dưới sự bảo hộ của nhà nước trung ương nay đang bị đồng hóa vào các thể chế ở các cấp độ siêu quốc gia; đồng thời các chức năng khác đã bị thả nổi cho các thể chế vùng hoặc địa phương vận hành.

4. Vì vậy, và quan trọng nhất đối với mục đích của phần bài viết này là sự trỗi dậy của các loại hình tổ chức kinh tế, chính trị trên cơ sở vùng , với việc thể hiện rõ ràng nhất của khuynh hướng này trong các vùng đô thị toàn cầu. Vậy là các quỹ đạo kinh tế và chính trị của các vùng đô thị này chỉ có thể được nhận thức một cách đầy đủ trong mối quan hệ với hệ thống phân cấp phức tạp của các quy mô lãnh thổ đan xen thâm nhập đã được đề cập ở trên.

Khái niệm về sự trỗi dậy của các tổ chức kinh tế chính trị dựa trên cơ sở vùng đòi hỏi phải được chi tiết hóa hơn nữa. Thiên hướng về bất cứ loại hình hoạt động kinh tế nào – các khu vực gia công hoặc dịch vụ chẳng hạn – đều tập trung thành các cụm địa điểm dày đặc dường như ngày càng tăng mạnh trong mấy thập kỷ gần đây. Vấn đề về sự kề cận của các tác nhân kinh tế hiện tại, ở một mức độ đáng kể, là một phản ứng mang tính chiến lược đối với sự cạnh tranh kinh tế tăng cường, trong nhiều tiết đoạn của nền kinh tế đều ngày càng trở nên bất chắc và đã đặt tầm quan trọng đặc biệt vào quá trình học tập và đổi mới. Việc tập trung thành cụm đã tạo điều kiện cho các công ty phản ứng với các thách thức này bằng cách tạo ra những cấp độ vận hành linh hoạt hơn và bằng cách củng cố các năng lực đổi mới của họ. Toàn cầu hóa đã nhấn mạnh vào quá trình này, mặc dù nó không hề là nguyên nhân độc nhất, vì vậy mà với quá trình quốc tế hóa của các thị trường thì các nền kinh tế của các vùng đô thị toàn cầu cũng đã phát triển theo. Vì vậy các vùng đô thị toàn cầu rộng lớn bắt đầu vận hành như là các bệ đỡ lãnh thổ để từ đó các nhóm hoặc các mạng công ty tập trung tranh giành nhau các thị trường toàn cầu. Đồng thời giờ đây nhiều vùng đã trở nên phụ thuộc vào các sức ép cạnh tranh xuyên biên giới ngày càng trở nên quyết liệt. Vì vậy chúng phải đối mặt với việc lựa chọn hoặc quy phục các áp lực này một cách thụ động hoặc tham gia năng động vào việc xây dựng thể chế và hoạch định chính sách bằng nỗ lực xoay chuyển quá trình toàn cầu hóa đến hết mức để có thể được hưởng lợi. Đó là một lựa chọn đặc biệt mang tính quyết định đối với các vùng đô thị vì giờ đây các chính phủ trung ương đã biết rất rõ rằng nó ngày càng khó đáp ứng được mọi nhu cầu ngày càng tăng của mọi địa phương khác nhau dưới quyền giám sát của nó, đặc biệt là các địa phương thường có các vấn đề hoàn toàn mang tính đặc ứng. Để làm rắc rối thêm tình trạng này, nhiều vùng đô thị cũng đã tự thấy rất rõ rằng nó đang ngày càng phải đối mặt với các nhiệm vụ mới hệ trọng của quá trình tích hợp và đại diện của nền chính trị địa phương. Các nhiệm vụ này trở nên đặc biệt khẩn cấp khi các vùng đô thị toàn cầu càng ngày càng vận hành với tư cách là các cực hấp dẫn lao động di cư tiền công thấp từ khắp mọi nẻo của thế giới đến mức là hầu như ở khắp nơi các nhóm cư dân ngày càng trở thành các nhóm đa ngôn ngữ và bị xé lẻ thành các nhóm xã hội ngoài lề. Hệ quả của tình trạng này là nhiều vùng đô thị ngày nay đang phải đối mặt với các vấn đề cấp bách liên quan đến quá trình tham gia chính trị và các quá trình tái cấu trúc địa phương về bản sắc chính trị và quyền công dân.

Bản đồ thế giới mới, xoay chuyển theo khuynh hướng này, ở một cấp độ lớn, có thể được thể hiện trong khuôn khổ của 4 quy mô lãnh thổ xen cài của các mối quan hệ chính trị và kinh tế đã được mô tả ở trên cùng với hàng loạt loại hình quan hệ đan chéo nhau từ các thể chế dân sự quốc tế đến các hoạt động trải rộng bao la của các công ty đa quốc gia. Một thể khảm hoặc một quần thể các vùng đô thị lớn tạo thành một mạng cấu trúc chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu đã hiện diện trên cơ tầng địa lý của toàn bộ hệ thống [Veltz 1996]. Đó chính là tâm điểm chú ý của chúng ta đối với các chức năng kinh tế của các hệ thống kinh tế địa phương hóa này.
____________________________________

Nguồn: Allen J. Scott (Eds.) 2002. Global City-Regions – Trends, Theory, Policy. Oxford University Press.

Tác giả:

 Allen J. Scott: giáo sư địa lý và chính sách công Đại học California, Los Angeles, sinh năm 1938 tại Liverpool, Anh quốc, tốt nghiệp St John's College, Oxford University năm 1961. Nhận học vị Tiến sỹ tại Đại học Northwestern năm 1965. Ông giảng dạy tại các Đại học Pennsylvania, Đại học College London, Đại học Toronto, Đại học Paris, Đại học Hong Kong, và từ 1981 là Đại học California, Los Angeles, nơi ông được vinh phong là giáo sư kiệt xuất.

John A. Agnew: sinh năm 1949, là một nhà địa chính trị lỗi lạc của thế giới Anh-Mỹ, tốt nghiệp Đại học Exeter và Liverpool, Anh quốc và Đại học Ohio Hoa Kỳ. Ông được vinh phong giáo sư kiệt xuất về địa lý của Đại học California, Los Angeles, UCLA. Ông giảng dạy về địa chính trị, lịch sử địa lý, các đô thị Châu Âu và Thế giới Địa Trung Hải. Từ 1998 – 2002 ông là chủ nhiệm Khoa Địa lý tại UCLA. Hiện nay ông là tổng biên tập của Tạp chí Territory, Politics, Governance của Routledge.

Edward W. Soja: sinh năm 1940 tại Bronx, New York City, là một nhà địa chính trị hậu hiện đại và nhà quy hoạch đô thị tại UCLA. Ông được vinh phong giáo sư kiệt xuất về quy hoạch đô thị của Đại học California, Los Angeles, UCLA và của Đại học Kinh tế London. Ông có những đóng góp to lớn về lý thuyết không gian và địa văn hóa theo quan điểm của nhà xã hội học đô thị Marxist Pháp Henri Lefebvre, tác giả của công trình Sản xuất Không gian 1974. Soja tập trung chủ yếu vào việc phân tích phê phán hậu hiện đại về không gian và xã hội, mà ông gọi là không gian tính đối với con người và các vị trí của Los Angeles.

Michael Storper: là giáo sư quy hoạch đô thị của Đại học California, Los Angeles, UCLA, chuyên về địa kinh tế như là những lực lượng tác động đến cách thức tổ chức kinh tế theo không gian địa lý; toàn cầu hóa với tư cách là quy mô của các quá trình kinh tế và những quá trình biến đổi kèm theo trong quản lý công ty, các thị trường và các thể chế vận hành; công nghệ như là một lực lượng cấu trúc đại kinh tế và toàn cầu hóa, thay đổi công nghệ là động cơ chủ chốt của địa lý, vì nó làm thay đổi cấu trúc chi phí giao thông và chi phí thương mại; các vùng đô thị toàn cầu, nơi tập trung các hoạt động về phương diện địa lý, là động cơ chủ chốt cho các cấu thể và vận hành các nền kinh tế các vùng đô thị; phát triển kinh tế trên cơ sở địa lý là cách kiểm soát mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế. Ông là Tiến sỹ danh dự của Đại học Utrecht, Hà Lan năm 2008, và Viện sĩ Viện Hàn lâm Anh quốc năm 2012.

Ghi chú của người dịch:

* Randstad: là một quần đô ở Hà Lan, gồm 4 thành phố lớn nhất là Amsterdam, Rotterdam, Den Haag, Utrecht và các vùng xung quanh. Với dân số khoảng 7.100.000 người, đây là một quần đô lớn nhất Châu Âu, kích cỡ ngang với Milan hoặc vùng Vịnh San Francisco, với diện tích khoảng 8287 km². Randstad là một quần thể đô thị và công nghiệp trải trên vùng đất thấp trung tây Hà Lan, với 4 đô thị công nghiệp chủ yếu trải từ Utrecht ở phía đông đến Dordrecht ở miền nam, rồi đến Lelystad ở miền bắc. Đây là một trong những quần thể đô thị quan trọng nhất về phương diện kinh tế, văn hóa, dân cư vùng tây bắc Âu. Vùng đô thị toàn cầu này tạo thành một vòng tròn gồm 4 quần đô lớn Amsterdam, Rotterdam, Den Haag, và Utrecht cũng như một số đô thị cỡ trung bình và nhỏ hơn như Almere, Delft, Leiden và Haarlem. Các quần đô này được xây dựng xung quanh vùng trung tâm xanh của Hà Lan, vùng trung tâm xanh này không chỉ cung cấp cho các quần đô không khí trong lành, mà còn là các vùng nông nghiệp sinh thái, nghỉ ngơi và giải trí. Thiết kế tổng thể các quần đô Hà Lan là sự kết hợp hài hòa giữa thế giới tự nhiên và các hoạt động sôi nổi nhất của con người, làm cho Randstad trở thành một trong những vùng đô thị toàn cầu hấp dẫn nhất thế giới.    

** Emilia-Romagna là một vùng hành chính Bắc Italia, gồm hai vùng Emilia và Romagna, với thủ đô là Bologna, là một vùng có diện tích lên đến 22.446 km2 với khoảng 4.4 triệu dân. Gần ½ (48%) vùng đô thị này là đồng bằng, còn lại 27% là đồi và 25% là vùng núi non. Các dãy núi trải dài hơn 300 km từ phía bắc đến vùng đông nam, với ba ngọn cao trên 2000 m là Monte Cimone, 2165m, monte Cusna 2121m, và Alpe di Succiso 2017m, càng làm cho cảnh sắc vùng này thêm ngoạn mục. Đây là một vùng đô thị toàn cầu giàu có và phát triển vào bậc nhất châu Âu, và Bologna là đô thị có chỉ số chất lượng sống vào loại cao nhất thế giới, với các dịch vụ xã hội tiên tiến nhất. Emilia-Romagna còn là một trung tâm văn hóa và du lịch và tri thức nổi tiếng, với đại học Bologna, một trong số những đại học lâu đời nhất thế giới. Đặc biệt vùng này là quê hương sản sinh ra các công ty xe hơi danh giá như Ferrari, Lamborghini, Maserati, Pagani, De Tomaso và Ducati. Đây là một đơn vị hành chính, có chính phủ vùng do một vị chủ tịch đứng đầu, được bàu 5 năm một khóa, dưới ông là một phó chủ tịch và 10 vị bộ trưởng và một bí thư phụ trách văn phòng chủ tịch. Về phương diện lịch sử, đây đã từng là vùng nổi tiếng với cuộc kháng chiến chống phát xít trong Thế chiến II, là nơi đầu não của đảng cộng sản Italia, và ngày nay là trung tâm của các liên minh cánh tả với Tuscany, Umbria và Marche  tạo thành một Tứ giác Đỏ nổi tiếng trên chính trường Italia. Nơi đây còn nổi tiếng với truyền thống chống giáo quyền từ thế kỷ 19, khi một phần của Emilia-Romagna thuộc về các thành bang độc lập.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét