Powered By Blogger

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN I: DIỄN GIẢI DASEIN - THỜI GIAN: CHÂN TRỜI SIÊU VIỆT CỦA HỮU THỂ

MỤC I: PHÂN TÍCH CƠ BẢN CHUẨN BỊ VỀ DASEIN

[Tr.74] Nhưng điều cản trở câu hỏi cơ bản về Hữu thể của Dasein (hay dẫn nó đi chệch hướng) là một định hướng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi nhân học của Kitô giáo và thế giới cổ đại, mà nền tảng bản thể học không đầy đủ của nó đã bị bỏ qua bởi cả triết học về sự sống và nhân cách luận. Có hai yếu tố quan trọng trong nhân học truyền thống này:

1. ‘Con người’ ở đây được định nghĩa là ζῷον λόγον ἔχον (zoon logon echon), và điều này được Diễn giải là một lý trí động vật, một thứ gì đó sống có lý tính. Nhưng loại Hữu thể thuộc về ζῷο zoo được hiểu theo nghĩa xảy ra và Hiện-hữu-trong-tầm-tay. [Chen ngang: Vorhandenheit ‘hiện hữu trong tầm tay’ là một khái niệm triết học mô tả cách chúng ta nhận thức một đối tượng khi chúng ta loại bỏ công dụng thực tiễn của nó và xem nó thuần túy như một đối tượng lý thuyết, độc lập với các thuộc tính vật lý. Để hiểu khái niệm ‘hiện hữu trong tầm tay’, Heidegger đối lập nó với khái niệm Zuhandenheit ‘Sẵn sàng trong tầm tay’, đề cập đến cách chúng ta tương tác thông thường với thế giới. Sẵn sàng trong tầm tay là khi sử dụng một cái búa, tôi không suy nghĩ một cách có ý thức về hình dạng, trọng lượng hoặc màu sắc của nó. Nó chỉ là một phần mở rộng của cơ thể tôi, một công cụ tôi sử dụng để hoàn thành một công việc. Ý nghĩa của nó nằm hoàn toàn ở công dụng thực tiễn của nó. Trong khi đó Vorhandenheit Hiện hữu trong tầm tay sẽ rõ nghĩa khi cái búa đột nhiên bị gãy, công dụng thực tiễn của nó biến mất, tôi không thể sử dụng chiếc búa gãy, mà bắt đầu nhìn nhận nó như một vật thể đơn thuần. Tôi quan sát các thuộc tính vật lý của nó, chẳng hạn như chất liệu, trọng lượng và vết gãy. Sự thay đổi về góc nhìn này biến đổi đối tượng từ trạng thái sẵn có để dùng sang trạng thái hiện diện trước mặt, điều này quan trọng vì nó đại diện cho cái nhìn khách quan, khoa học hoặc tách biệt mà con người dùng để quan sát thế giới; Heidegger cho rằng trạng thái hiện diện mang tính phái sinh; chúng ta chỉ gặp các đối tượng như những thứ mang tính lý thuyết sau khi sự tương tác thực tiễn, hàng ngày của chúng ta với thế giới bị phá vỡ hoặc bị gián đoạn một cách có chủ ý.-HHN] còn λόγος là một năng lực cao hơn; tuy nhiên, loại Hữu thể thuộc về nó vẫn còn khá mơ hồ hệt như toàn bộ hiện hữu được cấu thành như vậy.

2. Yếu tố thứ hai để xác định Hữu thể và bản chất của con người lại là một manh mối thần học: καὶ εἶπεν ὁ θεός Ποιήσωμεν ἄνθρωπον κατ' εἰκόνα ἡμετέραν καὶ καθ' ὁμοίωσιν· - ‘faciamus hominem ad imaginem nostram et similitudinem’.vii ‘Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta’ [Chen ngang: Đoạn trên được trích từ Sáng Thế ký của Cựu ước 1:26 đến 1:31: Gen 1:26 nguyên văn được viết bằng tiếng Hy Lạp cổ như sau: καὶ εἶπεν ὁ θεός Ποιήσωμεν ἄνθρωπον κατ' εἰκόνα ἡμετέραν καὶ καθ' ὁμοίωσιν· καὶ ἀρχέτωσαν τῶν ἰχθύων τῆς θαλάσσης καὶ τῶν πετεινῶν τοῦ οὐρανοῦ καὶ τῶν κτηνῶν καὶ πάσης τῆς γῆς καὶ πάντων τῶν ἑρπετῶν τῶν ἑρπόντων ἐπὶ τῆς γῆς. 1:27 καὶ ἐποίησεν ὁ θεὸς τὸν ἄνθρωπον, κατ' εἰκόνα θεοῦ ἐποίησεν αὐτόν· ἄρσεν καὶ θῆλυ ἐποίησεν αὐτούς. 1:28 καὶ ηὐλόγησεν αὐτοὺς ὁ θεὸς λέγων Αὐξάνεσθε καὶ πληθύνεσθε, καὶ πληρώσατε τὴν γῆν καὶ κατακυριεύσατε αὐτῆς, καὶ ἄρχετε τῶν ἰχθύων τῆς θαλάσσης καὶ τῶν πετεινῶν τοῦ οὐρανοῦ καὶ πάντων τῶν κτηνῶν καὶ πάσης τῆς γῆς καὶ πάντων τῶν ἑρπετῶν τῶν ἑρπόντων ἐπὶ τῆς γῆς. 1:29 καὶ εἶπεν ὁ θεός Ἰδοὺ δέδωκα ὑμῖν πᾶν χόρτον σπόριμον σπεῖρον σπέρμα, ὅ ἐστιν ἐπάνω πάσης τῆς γῆς· καὶ πᾶν ξύλον, ὃ ἔχει ἐν ἑαυτῷ καρπὸν σπέρματος σπορίμου· [ὑ]μῖν ἔσται εἰς βρῶσιν, 1:30 καὶ πᾶσι [τοῖ]ς θηρίοις τῆς γῆς καὶ πᾶσι [τοῖ]ς πετεινοῖς τοῦ οὐρανοῦ [καὶ π]αντὶ ἑρπετῷ τῷ ἕρπον[τι ἐπὶ τῆς] γῆς, ὃ ἔχει ἐν ἑαυτῷ [ψυχὴ]ν ζωῆς· καὶ πάντα χόρ[τον χλ]ωρὸν εἰς βρῶσιν. καὶ [ἐγένετ]ο οὕτως. 1:31 [καὶ ἴδεν ὁ] θεὸς τὰ πάντα ὅσα ἐποίη[σεν, καὶ] ἰδοὺ καλὰ λίαν. καὶ ἐγέ[νετο ἑσ]πέρα καὶ ἐγένετο πρωί, [ἡμέρα ἕ]κτη. Bản dịch tiếng Việt: 1:26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. 1:27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. 1:28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. 1:29 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi. 1:30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy. 1:31 Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu. (Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, United Bible Societies, Vietnamese 53V-ubs 1990-18.1M Printed in Korea, Sáng Thế ký, tr.2)-HHN]

Với xuất phát điểm này, nhân học của thần học Kitô giáo, cùng với định nghĩa cổ xưa, đi đến một cách diễn giải về cái hiện hữu mà chúng ta gọi là ‘con người’. Nhưng cũng giống như Hữu thể của Thiên Chúa được Diễn giải về phương diện bản thể luận thông qua bản thể luận cổ đại, thì cái Hữu thể của cái ens finitum hiện hữu giới hạn cũng vậy, và ở mức độ thậm chí còn lớn hơn. Trong thời hiện đại, định nghĩa của Kitô giáo đã bị tước bỏ đặc tính thần học của nó. Nhưng ý tưởng về ‘siêu việt’ – cho rằng con người là một cái gì đó vượt lên chính mình - bắt nguồn từ giáo lý Kitô giáo, vốn khó có thể nói là đã biến Hữu thể của con người thành một vấn đề bản thể luận. Ý tưởng về siêu việt, theo đó con người không chỉ đơn thuần là một thứ gì đó được ban cho trí tuệ, đã tự phát triển với nhiều biến thể khác nhau. Các trích dẫn sau đây sẽ minh họa những điều này có nguồn gốc như thế nào: ‘His praeclaris dotibus excelluit prima hominis conditio, ut rate, Intellectia, Prudential, Judicium non modo ad terrenae vitae gubernationem suppeterent, sed quibus superiorere tusque ad Deum et aeternam felicitatem.’viii “Trạng thái nguyên thủy của loài người vượt trội về những năng khiếu ưu tú này, đến nỗi lý trí, trí tuệ, tính cẩn trọng và năng lực phán đoán không chỉ đủ để cai quản cuộc sống trần thế, mà nhờ đó, [con người] có thể siêu thoát đến với Thượng đế và hạnh phúc vĩnh cửu.” “Denn dass der Mensch sein Aufsehen hat auft und [p.75] sein Wort, zeigt er klarlich an, dass er nach seiner Natur etwas Gott näher anerborn [angeboren], etwas mehr nachschlägt [ihm ähnlicher ist], etwas Zuzug zu ihm hat, das alles ohn' Zweifel darus [daraus] flüsst, dass er nach dem Bildnis Gottes geschaffen ist.”ix  “Vì con người có ánh mắt hướng lên và có tiếng nói của mình, điều đó rõ ràng cho thấy rằng theo bản chất của mình, con người gần gũi với Chúa hơn, giống Ngài hơn, có mối liên hệ nào đó với Ngài, tất cả điều này chắc chắn xuất phát từ việc con người được tạo ra theo hình ảnh của Chúa.” ix

Hai nguồn tư liệu có liên quan đến nhân học truyền thống—định nghĩa của người Hy Lạp và manh mối mà thần học đã cung cấp—chỉ ra rằng, ngoài nỗ lực xác định bản chất của ‘con người’ như một hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể của con người vẫn bị lãng quên, và cái Hữu thể này được hình dung như một điều hiển nhiên hoặc ‘tự-chứng’ theo nghĩa Vorhandenheit Hiện-hữu-trong-tầm-tay của những Vật thể khác đã được tạo ra. Hai manh mối này trở nên đan xen trong nhân học thời hiện đại, nơi mà res cogitans vật tư duy, ý thức và tính liên kết của Kinh nghiệm đóng vai trò là điểm xuất phát cho công việc nghiên cứu có phương pháp. Nhưng vì ngay cả những cogitations suy tư [cogitations: quá trình suy nghĩ sâu sắc và cẩn thận về một vấn đề, hoặc suy tư được cân nhắc kỹ lưỡng; từ này có gốc động từ Latin cogitate - suy ngẫm hoặc nghiền ngẫm - và thường được sử dụng trong các ngữ cảnh trang trọng, văn chương hoặc triết học.-HHN] cũng ở trong tính trạng hoặc bị bỏ ngỏ về mặt bản thể học, hoặc được ngầm định như một điều gì đó ‘tự-chứng’ mà ‘Hữu thể’ của nó không cần phải đặt câu hỏi, nên nền tảng bản thể học quyết định của các vấn đề nhân học vẫn chưa được xác định. 

Điều này cũng đúng với ‘tâm lý học’, mà ngày nay thường trở thành các khuynh hướng nhân học là điều không thể nhầm lẫn. Chúng ta cũng không thể bù đắp cho sự thiếu hụt nền tảng bản thể luận bằng cách lấy nhân học và tâm lý học để đắp bồi vào khuôn khổ của một ngành sinh học tổng quát. Theo thứ tự mà bất kỳ sự hiểu biết và diễn giải nào cũng phải tuân theo, sinh học với tư cách là một ‘khoa học về sự sống’ được xây dựng trên nền tảng bản thể học về Dasein, dù không hoàn toàn. Sự sống, tự thân nó, là một loại Hữu thể; nhưng về bản chất, nó chỉ có thể tiếp cận được trong Dasein. Bản thể luận của sự sống được hoàn thành thông qua một Diễn giải phủ định; nó xác định điều gì phải xảy ra nếu có thể có bất cứ thứ gì giống như sự sống đơn thuần [Nur-noch-leben]. Sự sống không chỉ đơn thuần là một Hiện-hữu-hiện-diện, cũng không phải là Dasein. Do đó, Dasein không bao giờ được định nghĩa về mặt bản thể luận bằng cách coi nó là sự sống (theo cách không xác định về mặt bản thể luận) cộng với một cái gì đó khác.

Khi cho rằng nhân học, tâm lý học và sinh học đều không thể đưa ra câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về mặt bản thể luận cho câu hỏi về loại Hữu thể thuộc về những hiện hữu vốn là chính chúng ta, chúng ta không hề phán xét công việc nghiên cứu tích cực của các ngành này. Tuy nhiên, chúng ta luôn phải ghi nhớ rằng những nền tảng bản thể luận này không bao giờ có thể được làm sáng tỏ bởi các giả thuyết tiếp theo được rút ra từ dữ liệu thực nghiệm, mà chúng luôn ‘có đó’ ngay cả khi dữ liệu thực nghiệm đó chỉ đơn giản được thu thập. Nếu nghiên cứu thực chứng không nhận thấy những nền tảng này và coi là hiển nhiên, thì vẫn không có nghĩa là chúng không phải là nền tảng cơ bản hoặc không có vấn đề theo nghĩa triệt để hơn bất kỳ luận điểm nào của khoa học thực chứng.X

[Chèn nguyên bản Đức văn để đối sánh với bản dịch Anh văn): Dasselbe gilt nicht minder von der »Psychologie«, deren anthropologische Tendenzen heute unverkennbar sind. Das fehlende ontologische Fundament kann auch nicht dadurch ersetzt werden, daß man Anthropologie und Psychologie in eine allgemeine Biologie einbaut. In der Ordnung des möglichen Erfassens und Auslegens ist die Biologie als »Wissenschaft vom Leben« in der Ontologie des Daseins fundiert, wenn auch nicht ausschließlich in ihr. Leben ist eine eigene Seinsart, aber wesenhaft nur zugänglich im Dasein. Die Ontologie des Lebens vollzieht sich auf dem Wege einer privativen Interpretation; sie bestimmt das, was sein muß, daß so etwas wie Nur-noch-leben sein kann. Leben ist weder pures Vorhandensein, noch aber auch Dasein. Das Dasein wiederum ist ontologisch nie so zu bestimmen, daß man es ansetzt als Leben – (ontologisch unbestimmt) und als überdies noch etwas anderes. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.49-50–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Điều tương tự cũng áp dụng ngay cả đối với ‘tâm lý học’, mà ngày nay những khuynh hướng nhân học của nó là không thể nhầm lẫn. Nền tảng bản thể học còn thiếu không thể được thay thế bằng cách kết hợp nhân học và tâm lý học vào một ngành sinh học đại cương. Theo trật tự khả năng hiểu và diễn giải, sinh học, với tư cách là ‘khoa học về sự sống’, được đặt nền tảng trên bản thể luận của Dasein, mặc dù không hoàn toàn chỉ dựa vào nó. Sự sống là một phương thức hiện hữu riêng biệt, nhưng về bản chất chỉ có thể tiếp cận được trong phạm vi Dasein. Bản thể luận của sự sống hé mở từ diễn giải phủ định; nó xác định điều gì phải có để một cái gì đó ‘chỉ-để-sống’ tồn tại. Sự sống không phải là hiện diện thuần túy cũng không phải là Dasein. Ngược lại, Dasein không bao giờ có thể được định nghĩa về mặt bản thể luận - đặt để nó là sự sống—(không xác định về mặt bản thể luận) và hơn nữa, là một cái gì đó khác.”

Mit dem Hinweis auf das Fehlen einer eindeutigen, ontologisch zureichend begründeten Antwort auf die Frage nach der Seinsart dieses Seienden, das wir selbst sind, in der Anthropologie, Psychologie und Biologie, ist über die positive Arbeit dieser Disziplinen kein Urteil gefällt. Andrerseits muß aber immer wieder zum Bewußtsein gebracht werden, daß diese ontologischen Fundamente nie nachträglich aus dem empirischen Material hypothetisch erschlossen werden können, daß sie vielmehr auch dann immer schon »da« sind, wenn empirisches Material auch nur gesammelt wird. Daß die positive Forschung diese Fundamente nicht sieht und für selbstverständlich hält, ist kein Beweis dafür, daß sie nicht zum Grunde liegen und in einem radikaleren Sinne problematisch sind, als es je eine These der positiven Wissenschaft sein kann. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.50–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Bằng cách chỉ ra sự thiếu vắng một câu trả lời rõ ràng, có cơ sở bản thể luận đầy đủ trong nhân học, tâm lý học và sinh học đối với câu hỏi về bản chất hiện hữu của chính chúng ta, lại không hề có sự phán xét nào về công trình nghiên cứu thực chứng của các ngành này. Mặt khác, cần phải nhấn mạnh nhiều lần rằng những nền tảng bản thể luận này không bao giờ có thể được suy luận theo cách giả thuyết từ dữ liệu thực nghiệm; thay vào đấy, chúng luôn luôn ‘có đó’ ngay cả khi dữ liệu thực nghiệm chỉ được thu thập. Việc nghiên cứu thực chứng không nhận ra những nền tảng này và coi chúng là điều hiển nhiên không phải là bằng chứng cho thấy chúng không mang tính nền tảng và có vấn đề theo nghĩa triệt để hơn bất kỳ luận điểm nào của khoa học thực chứng.”

11. Phân tích Hiện sinh và Diễn giải về Dasein Nguyên thủy. Những khó khăn trong việc đạt được ‘Quan niệm Tự nhiên về Thế giới'

[Tr.76] Tuy nhiên, Diễn giải Dasein trong đời sống thường nhật không đồng nhất với việc mô tả một giai đoạn nguyên thủy nào đó của Dasein mà chúng ta có thể làm quen bằng thực nghiệm thông qua phương tiện nhân học. Đời sống thường nhật không trùng khớp với tính nguyên thủy, mà đúng hơn là một phương thức Hữu thể của Dasein, ngay cả khi Dasein đó hoạt động trong một nền văn hóa phát triển cao và khác biệt - và chính xác là khi đó. Hơn nữa, ngay cả Dasein nguyên thủy cũng có những khả tính của một Hữu thể không thuộc loại thường nhật, và nó có một đời sống thường nhật đặc thù của riêng nó. Việc định hướng phân tích Dasein hướng tới ‘đời sống của các dân tộc nguyên thủy’ có thể có ý nghĩa tích cực [Bedeutung] như một phương pháp bởi vì ‘các hiện tượng nguyên thủy’ thường ít bị che giấu và ít phức tạp hơn bởi sự tự diễn giải rộng rãi từ phía Dasein được đề cập. Khái niệm Dasein nguyên thủy thường nói với chúng ta trực ti ếp hơn trong khuôn khổ của sự hấp thụ nguyên thủy vào các ‘hiện tượng’ (theo nghĩa tiền-hiện tượng luận). Một cách nhận thức mọi thứ, có lẽ từ quan điểm của chúng ta, có thể khá vụng về và thô thiển, lại có thể hữu ích trong việc làm sáng tỏ cấu trúc bản thể luận của các hiện tượng một cách chân thực.

Nhưng cho đến nay, thông tin của chúng ta về các nhóm nguyên thủy được ngành dân tộc học cung cấp. Và ngành dân tộc học hoạt động với những quan niệm và diễn giải sơ bộ nhất định về Dasein con người nói chung, ngay cả khi lần đầu tiên ‘tiếp nhận’ tài liệu, sàng lọc và xử lý nó. Liệu tâm lý học thường nhật hay thậm chí tâm lý học và xã hội học khoa học mà nhà dân tộc học mang theo có thể cung cấp bất kỳ sự đảm bảo khoa học nào giúp chúng ta có thể tiếp cận đúng đắn các hiện tượng mà chúng ta đang nghiên cứu, có thể diễn giải và truyền đạt chúng một cách chính xác hay không, thì lại vẫn chưa được xác định. Ở đây, chúng ta cũng phải đối mặt với tình trạng tương tự như trong các ngành khác mà chúng ta đã thảo luận. Bản thân dân tộc học đã giả định một phân tích Dasein không đầy đủ như là manh mối của nó. Nhưng vì các khoa học thực chứng vừa ‘không thể’ và cũng không nên chờ đợi những công trình triết học về bản thể luận được hoàn thành, nên hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ không mang hình thức ‘tiến bộ’ mà sẽ được thực hiện bằng cách tóm tắt những gì đã được khám phá về mặt bản thể luận, và bằng cách thanh lọc nó theo cách minh bạch hơn về mặt bản thể luận.xi

Cho dù việc chỉ ra sự khác biệt về hình thức giữa vấn đề bản thể luận và nghiên cứu ontic thực hữu có dễ dàng đến đâu, vẫn còn những khó khăn trong việc thực hiện phân tích hiện sinh, đặc biệt là trong việc bắt đầu. Nhiệm vụ này bao gồm một mong muốn mà triết học từ lâu đã thấy khó khăn nhưng liên tục từ chối đạt được: đó là xây dựng ý tưởng về một ‘quan niệm tự nhiên về thế giới’. Kho tàng thông tin phong phú hiện có về nhiều nền văn hóa và hình thức Dasein kỳ lạ nhất [tr.77] dường như lại thuận lợi cho việc chúng ta bắt tay vào nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Nhưng đây chỉ là vẻ ngoài. Về cơ bản, sự phong phú của thông tin này có thể khiến chúng ta không nhận ra vấn đề thực sự. Chúng ta sẽ không thể có được tri ​​thức đích thực về bản chất chỉ bằng hoạt động tổng hợp của việc so sánh và phân loại phổ quát. Việc lập bảng biểu cho sự đa dạng không đảm bảo bất kỳ cách hiểu biết thực sự nào về những gì nằm trước mắt chúng ta khi được sắp xếp theo trật tự như vậy. Nếu một nguyên tắc sắp xếp là chân thực, nó có nội dung riêng của nó với tư cách một Sachgehalt sự vật, vốn không bao giờ được tìm thấy bằng phương pháp sắp xếp như vậy, mà đã được giả định trước trong đó. Vì vậy, nếu muốn sắp xếp các hình ảnh khác nhau về thế giới theo thứ tự, người ta phải có một ý niệm rõ ràng về thế giới theo đúng nghĩa. Và nếu chính ‘thế giới’ là thứ cấu thành nên Dasein, thì cần phải có cái nhìn sâu sắc về các cấu trúc cơ bản của Dasein để có thể xử lý hiện tượng thế giới về khái niệm.

Trong chương này, chúng ta đã mô tả một số điều theo hướng khẳng định và đưa ra quan điểm phủ định đối với những điều khác; trong cả hai trường hợp, mục tiêu của chúng ta là thúc đẩy hiểu biết đúng đắn về xu hướng tiềm ẩn trong phần Diễn giải sau đây và loại câu hỏi mà nó đặt ra. Bản thể luận chỉ có thể đóng góp một cách gián tiếp vào việc phát triển các ngành khoa học thực chứng như chúng ta thấy ngày nay. Nó có mục tiêu riêng, ngay cả khi, ngoài thu thập thông tin về các hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể là động lực thúc đẩy mọi hoạt động tìm kiếm khoa học.

[Chèn nguyên bản Đức văn Mục 11. “Phân tích Hiện sinh và Diễn giải về Dasein Nguyên thủy…” (để đối sánh với bản dịch Anh văn): Die Interpretation des Daseins in seiner Alltäglichkeit ist aber nicht identisch mit der Beschreibung einer primitiven Daseinsstufe, deren Kenntnis empirisch durch die Anthropologie vermittelt sein kann. Alltäglichkeit deckt sich nicht mit Primitivität. Alltäglichkeit ist vielmehr ein Seinsmodus des Daseins auch dann und gerade dann, wenn sich das Dasein in einer hochentwickelten und differenzierten [p.51] Kultur bewegt. Andrerseits hat auch das primitive Dasein seine Möglichkeiten des unalltäglichen Seins, es hat seine spezifische Alltäglichkeit. Die Orientierung der Daseinsanalyse am »Leben der primitiven Volker« kann positive methodische Bedeutung haben, sofern »primitive Phänomene« oft weniger verdeckt und kompliziert sind durch eine schon weitgehende Selbstauslegung des betr. Daseins. Primitives Dasein spricht oft direkter aus einem ursprünglichen Aufgehen in den »Phänomenen« (im vorphänomenologischen Sinne genommen). Die, von uns aus gesehen, vielleicht unbeholfene und grobe Begrifflichkeit kann positiv förderlich sein für eine genuine Heraushebung der ontologischen Strukturen der Phänomene. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.50-51–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Việc Diễn giải Daseins trong đời sống thường nhật của nó không đồng nhất với việc mô tả một giai đoạn nguyên thủy nào đó của Dasein, mà tri ​​thức về giai đoạn này có thể được truyền đạt một cách thực nghiệm thông qua nhân học. Tính đời thường không đồng nghĩa với tính nguyên thủy. Thay vào đó, tính đời thường là một phương thức tồn tại của Dasein ngay cả và đặc biệt là khi Dasein vận động trong một nền văn hóa phát triển và phân hóa cao [tr. 51]. Mặt khác, Dasein nguyên thủy cũng có những khả tính hiện hữu phi-thường nhật; nó có tính thường nhật đặc thù của nó. Việc định hướng phân tích Dasein hướng tới ‘cuộc sống của các dân tộc nguyên thủy’ có thể có ý nghĩa phương pháp luận tích cực, bởi vì ‘các hiện tượng nguyên thủy’ thường ít bị che khuất và phức tạp hơn bởi tự-diễn-giải mở rộng về Dasein được đề cập. Dasein nguyên thủy thường nói trực tiếp hơn từ sự hấp thụ nguyên thủy vào ‘các hiện tượng’ (theo nghĩa tiền-hiện tượng học). Thuật ngữ, với chúng ta có vẻ vụng về và thô thiển, thực sự lại có lợi cho việc làm nổi bật chân thực các cấu trúc bản thể luận của các hiện tượng.”

Aber bislang wird uns die Kenntnis der Primitiven durch die Ethnologie bereitgestellt. Und diese bewegt sich schon bei der ersten »Aufnahme« des Materials, seiner Sichtung und Verarbeitung in bestimmten Vorbegriffen und Auslegungen vom menschlichen Dasein überhaupt. Es ist nicht ausgemacht, ob die Alltagspsychologie oder gar die wissenschaftliche Psychologie und Soziologie, die der Ethnologe mitbringt, für eine angemessene Zugangsmöglichkeit, Auslegung und Übermittelung der zu durchforschenden Phänomene die wissenschaftliche Gewähr bieten. Auch hier zeigt sich dieselbe Sachlage wie bei den vorgenannten Disziplinen. Ethnologie setzt selbst schon eine zureichende Analytik des Daseins als Leitfaden voraus. Da aber die positiven Wissenschaften auf die ontologische Arbeit der Philosophie weder warten »können« noch sollen, wird sich der Fortgang der Forschung nicht vollziehen als »Fortschritt«, sondern als Wiederholung und ontologisch durchsichtigere Reinigung des ontisch Entdeckten.1 (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.51–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Nhưng cho đến nay, tri ​​thức của chúng ta về các nền văn hóa nguyên thủy chủ yếu được môn dân tộc học cung cấp. Và lĩnh vực này, ngay từ khâu ‘ghi chép’ đầu tiên về tư liệu—việc xem xét và xử lý—đã hoạt động trong khuôn khổ những định kiến ​​và cách diễn giải nhất định về Dasein con người nói chung. Không chắc chắn liệu tâm lý học thường nhật, hay thậm chí cả tâm lý học và xã hội học khoa học mà các nhà dân tộc học mang đến, có cung cấp sự đảm bảo khoa học cho một phương tiện thích hợp để tiếp cận, diễn giải và truyền đạt các hiện tượng đang được nghiên cứu hay không. Ở đây, tình huống tương tự cũng nảy sinh như với các ngành khoa học đã đề cập. Bản thân dân tộc học đã giả định một phân tích đầy đủ về Daseins như một nguyên tắc dẫn đường. Nhưng vì khoa học thực chứng ‘không thể’ và không nên chờ đợi công trình triết học bản thể luận, nên bước tiến nghiên cứu sẽ không diễn ra với tư cách ‘tiến bộ’, mà với tư cách lặp lại và thanh lọc minh bạch hơn về bản thể luận đối với cái đã được khám phá ontisch về thực hữu.

Notes (Đức văn) 1 Neuerdings hat E. Cassirer das mythische Dasein zum Thema einer philosophischen Interpretation gemacht, vgl. »Philosophie der symbolischen Formen«. Zweiter Teil: Das mythische Denken. 1925. Der ethnologischen Forschung werden durch diese Untersuchung umfassendere Leitfäden zur Verfügung gestellt. Von der philosophischen Problematik her gesehen bleibt die Frage, ob die Fundamente der Interpretation hinreichend durchsichtig sind, ob insbesondere die Architektonik von Kants Kritik d. r. V. und deren systematischer Gehalt überhaupt den möglichen Aufriß für eine solche Aufgabe bieten können, oder ob es hier nicht eines neuen und ursprünglicheren Ansatzes bedarf. Cassirer sieht selbst die Möglichkeit einer solchen Aufgabe, wie die Anmerkung S. 16 f. zeigt, wo C. auf die von Husserl erschlossenen phänomenologischen Horizonte hinweist. In einer Aussprache, die der Verf. gelegentlich eines Vortrags in der Hamburgischen Ortsgruppe der Kantgesellschaft im Dezember 1923 über »Aufgaben und Wege der phänomenologischen Forschung« mit C. pflegen konnte, zeigte sich schon eine Übereinstimmung in der Forderung einer existenzialen Analytik, die in dem genannten Vortrag skizziert wurde. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, Note 1, p.51–HHN] Tạm dịch nghĩa: Gần đây, E. Cassirer đã đưa Dasein thần thoại trở thành đối tượng của một diễn giải triết học; xem Triết học Hình thức Biểu tượng, Phần hai: Tư tưởng thần thoại, 1925. Nghiên cứu này cung cấp những hướng dẫn toàn diện hơn cho nghiên cứu dân tộc học. Từ góc độ triết học, câu hỏi đặt ra là liệu nền tảng của diễn giải có đủ minh bạch hay không, liệu, đặc biệt, tri ​​trúc Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant và nội dung hệ thống của nó thậm chí có thể cung cấp một khuôn khổ khả thi cho nhiệm vụ như vậy hay không, hay liệu cần một cách tiếp cận mới và độc đáo hơn. Bản thân Cassirer cũng nhận thấy khả năng của nhiệm vụ này, như ghi chú ở trang 16-17 cho thấy, nơi Cassirer đề cập đến những chân trời hiện tượng học được Husserl mở ra. Trong một cuộc thảo luận của Tác giả [Heidegger] với Cassirer nhân dịp một bài giảng tại nhóm địa phương Hamburg của Hội Kant vào tháng 12 năm 1923 về ‘Nhiệm vụ và Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận’, đã có sự đồng thuận về đòi hỏi một phân tích hiện sinh, được nêu trong bài giảng nói trên.-HHN]

[P.52] So leicht die formale Abgrenzung der ontologischen Problematik gegenüber der ontischen Forschung sein mag, die Durchführung und vor allem der Ansatz einer existenzialen Analytik des Daseins bleibt nicht ohne Schwierigkeiten. In ihrer Aufgabe liegt ein Desiderat beschlossen, das seit langem die Philosophie beunruhigt, bei dessen Erfüllung sie aber immer wieder versagt: die Ausarbeitung der Idee eines »natürlichen Weltbegriffes«. Einer fruchtbringenden Inangriffnahme dieser Aufgabe scheint der heute verfügbare Reichtum an Kenntnissen der mannigfaltigsten und entlegensten Kulturen und Daseinsformen günstig zu sein. Aber das ist nur Schein. Im Grunde ist solche überreiche Kenntnis die Verführung zum Verkennen des eigentlichen Problems. Das synkretistische Allesvergleichen und Typisieren gibt nicht schon von selbst echte Wesenserkenntnis. Die Beherrschbarkeit des Mannigfaltigen in einer Tafel gewährleistet nicht ein wirkliches Verständnis dessen, was da geordnet vorliegt. Das echte Prinzip der Ordnung hat seinen eigenen Sachgehalt, der durch das Ordnen nie gefunden, sondern in ihm schon vorausgesetzt wird. So bedarf es für die Ordnung von Weltbildern der expliziten Idee von Welt überhaupt. Und wenn »Welt« selbst ein Konstitutivum des Daseins ist, verlangt die begriffliche Ausarbeitung des Weltphänomens eine Einsicht in die Grundstrukturen des Daseins. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.52– HHN] Tạm dịch nghĩa: [Tr.52] Dù việc phân định ranh giới hình thức giữa các vấn đề bản thể học và nghiên cứu ontischen thực hữu có vẻ dễ dàng, nhưng việc thực hiện và trên hết là cách tiếp cận của một phân tích hiện sinh về Daseins vẫn không phải là không gặp khó khăn. Nhiệm vụ của nó chứa đựng một điều mong muốn đã làm đau đầu triết học từ lâu, nhưng lại liên tục thất bại trong thực hiện điều đó: việc hoàn thiện ý tưởng về một ‘khái niệm tự nhiên về thế giới’. Ngày nay sự phong phú của tri ​​thức sẵn có về các nền văn hóa cùng các hình thái đa dạng và xa xôi nhất do Dasein tạo dựng dường như lại rất thuận lợi cho việc tiếp cận với nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Nhưng đây chỉ là một ảo tưởng. Về bản chất, sự phong phú của tri ​​thức như vậy là một cám dỗ dẫn đến việc hiểu sai vấn đề thực sự. Việc so sánh tổng hợp và phân loại mọi thứ tự nó không mang lại sự thấu hiểu thực sự về bản chất của sự vật. Năng lực quản lý sự đa dạng trong một bảng biểu không đảm bảo sự hiểu biết chân thực về những gì được trình bày ở đó một cách có trật tự. Nguyên tắc chân thực của trật tự có nội dung riêng của nó, vốn không bao giờ được khám phá thông qua việc sắp xếp trật tự, mà đã được giả định sẵn trong đó. Do đó, việc sắp xếp thế giới quan đòi hỏi ý tưởng rõ ràng về tự thân thế giới. Và nếu ‘thế giới’ tự nó là yếu tố cấu thành của Dasein, thì việc hoàn thiện khái niệm về hiện tượng thế giới lại đòi hỏi thấu hiểu cấu trúc cơ bản của Dasein.

Die positiven Charakteristiken und negativen Erwägungen dieses Kapitels hatten den Zweck, das Verständnis der Tendenz und Fragehaltung der folgenden Interpretation in die rechte Bahn zu lenken. Zur Förderung der bestehenden positiven Disziplinen kann Ontologie nur indirekt beitragen. Sie hat für sich selbst eine eigenständige Abzweckung, wenn anders über eine Kenntnisnahme von Seiendem hinaus die Frage nach dem Sein der Stachel alles wissenschaftlichen Suchens ist. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.52– HHN] Tạm dịch nghĩa: [Tr.52] Những đặc điểm khẳng định và những cân nhắc phủ định của Chương này nhằm mục đích hướng dẫn hiểu biết về xu hướng và cách tiếp cận đặt câu hỏi của phần Diễn giải tiếp theo một cách đúng hướng. Bản thể luận chỉ có thể đóng góp gián tiếp vào sự tiến bộ của các ngành khoa học thực chứng hiện có. Nó có mục đích độc lập của riêng mình, nếu, vượt ra ngoài nhận thức đơn thuần về các hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể là động lực thúc đẩy mọi nghiên cứu khoa học.–HHN]

__________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 Neuerdings hat E. Cassirer das mythische Dasein zum Thema einer philosophischen Interpretation gemacht, vgl. »Philosophie der symbolischen Formen«. Zweiter Teil: Das mythische Denken. 1925. Der ethnologischen Forschung werden durch diese Untersuchung umfassendere Leitfäden zur Verfügung gestellt. Von der philosophischen Problematik her gesehen bleibt die Frage, ob die Fundamente der Interpretation hinreichend durchsichtig sind, ob insbesondere die Architektonik von Kants Kritik d. r. V. und deren systematischer Gehalt überhaupt den möglichen Aufriß für eine solche Aufgabe bieten können, oder ob es hier nicht eines neuen und ursprünglicheren Ansatzes bedarf. Cassirer sieht selbst die Möglichkeit einer solchen Aufgabe, wie die Anmerkung S. 16 f. zeigt, wo C. auf die von Husserl erschlossenen phänomenologischen Horizonte hinweist. In einer Aussprache, die der Verf. gelegentlich eines Vortrags in der Hamburgischen Ortsgruppe der Kantgesellschaft im Dezember 1923 über »Aufgaben und Wege der phänomenologischen Forschung« mit C. pflegen konnte, zeigte sich
schon eine Übereinstimmung in der Forderung einer existenzialen Analytik, die in dem genannten Vortrag skizziert wurde. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, Note 1, p.51–HHN]

Tạm dịch nghĩa: “Gần đây, E. Cassirer đã đưa Dasein thần thoại trở thành đối tượng của một diễn giải triết học; xem Triết học Hình thức Biểu tượng, Phần hai: Tư tưởng thần thoại, 1925. Nghiên cứu này cung cấp những hướng dẫn toàn diện hơn cho nghiên cứu dân tộc học. Từ góc độ triết học, câu hỏi đặt ra là liệu nền tảng của diễn giải có đủ minh bạch hay không, liệu, đặc biệt, tri ​​trúc Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant và nội dung hệ thống của nó thậm chí có thể cung cấp một khuôn khổ khả thi cho nhiệm vụ như vậy hay không, hay liệu cần một cách tiếp cận mới và độc đáo hơn. Bản thân Cassirer cũng nhận thấy khả năng của nhiệm vụ này, như ghi chú ở trang 16-17 cho thấy, nơi Cassirer đề cập đến những chân trời hiện tượng học được Husserl mở ra. Trong một cuộc thảo luận của Tác giả [Heidegger] với Cassirer nhân dịp một bài giảng tại nhóm địa phương Hamburg của Hội Kant vào tháng 12 năm 1923 về ‘Nhiệm vụ và Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận’, đã có sự đồng thuận về đòi hỏi một phân tích hiện sinh, được nêu trong bài giảng nói trên.”

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét