Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở
§ 14. Bản chất của Cơ sở/Nền tảng và Ý niệm về Logic
Logic, như chúng ta đã nói ở đầu các bài giảng này, là tri thức về λόγος, tức là phát biểu. Đặc điểm cơ bản của nó là chân lý. Hơn nữa, người ta nhận thấy rằng chân lý của các phát biểu chủ yếu dựa trên những ứng xử không mang tính chất của phát biểu, chẳng hạn như trực giác và những thứ tương tự. Những hành vi ấy mang tính chất [tr.217] bộc lộ và với tư cách là ontic truth chân lý thực hữu về các hiện hữu, chúng được đặt nền tảng trong hiểu-biết-về-hữu-thể, tức là trong những gì làm cho khả tính bộc lộ về các hiện hữu thể trở nên khả thể. Tuy nhiên, đó là gia nhập thế giới, và điều đó có nghĩa là cuộc nảy sinh của một hiện-hữu-trong-thế-giới. Hiểu-biết-về-Hữu-thể là siêu việt; toàn bộ hiểu-biết-về-hữu-thể, dù mang tính tiền-hữu thể luận phi chủ đề, hay mang tính chủ đề và mang tính hữu thể luận về phương diện khái niệm, đều là tiên nghiệm/siêu việt. Cái hiểu-biết-về-hữu-thể này và các phương thức cơ bản thiết yếu của nó là sự tiết lộ nằm trong nhất tính xuất-thân của thời tính, trong sự phá vỡ mang tính thời gian hóa của các chân trời. Sự bộc lộ này là cái là chân nguyên thủy về mặt siêu hình, là chân lý, chính là tự thân siêu việt, veritas transcendentalis chân lý tiên nghiệm. Die Bedingung für die Möglichkeit jeder ontisch-intentionalen Wahrheit Nó là điều kiện cho cái khả tính của mọi chân lý thực hữu-ý hướng tính. Với sự xuất hiện của siêu việt, của chân lý tiên nghiệm, các hiện hữu cũng đã được khám phá, mặc dù chúng ta thấy, từ bản chất của chân lý theo đúng nghĩa và sự khởi đầu siêu hình của sự xuất hiện của siêu việt, và các hiện hữu, trong trường hợp đầu tiên và cuối cùng, bị che giấu và chân lý phải được gọi là trạng thái không che giấu khi đề cập đến trạng thái che giấu ban đầu này.
Các hiện hữu nói chung bị che giấu, chừng nào vẫn không có sự kiện gia nhập thế giới. Do đó, có một ý tứ sâu xa trong từ Hy Lạp chỉ chân lý ἀ-λήθεια. Trước hết, các hiện hữu phải được xé toang khỏi mọi che giấu; tình trạng che giấu phải được loại bỏ khỏi các hiện hữu, và nó được loại bỏ khi thời tính thời gian hóa tạo cơ hội cho sự gia-nhập-thế-giới. Có thể thấy ở khắp mọi nơi trong triết học tiền Socrates, trong triết học của Plato và Aristotle cách diễn giải này về đặc tính phủ định đặc biệt của quan niệm về chân lý trong triết học Hy Lạp không phải là chuyện nhỏ nhặt về mặt từ nguyên học. Hãy lấy một câu nói của Heraclitus làm ví dụ (Đoạn 123): φύσις κρύπτεσθαι φιλεῖ Physis kryptesthai philei, Tự nhiên thích che giấu chính mình. Chân lý nằm ở bản chất của sự siêu việt; nó là chân lý tiên nghiệm nguyên thủy. Nhưng nếu chủ đề cơ bản của logic là chân lý, thì chính logic lại là siêu hình học nếu vấn đề siêu việt trình bày theo một cách khác cái chủ đề cơ bản của siêu hình học, như tôi đã cố gắng chứng minh. Giờ đây chỉ có một điều đúng trong sự nhấn mạnh truyền thống và thường thấy về hình thức phán đoán như là trung tâm của logic, đó là chân lý được chuyển thành trung tâm. Nhưng sau đó phải có một cuộc khảo sát triệt để về bản chất của chân lý. Siêu hình học không nên được chuyển vào logic, hoặc ngược lại. Vấn đề không phải là sự phân chia thành các ngành, mà hơn nữa, chính các ngành đó lại là vấn đề. Giờ đây chúng ta đã thấy rằng logic truyền thống là khoa học về mệnh đề, về tư duy, và mục đích chính của nó là định nghĩa các quy luật của tư duy [tr.218] và phát ngôn. Bản chất của những quy luật này (cho dù là quy luật tự nhiên, các chuẩn mực, hay quy luật thuộc loại hoàn toàn khác) vẫn còn đáng ngờ. Các quy luật thông thường theo trình tự thông thường là: nguyên tắc đồng nhất, nguyên tắc không mâu thuẫn, nguyên tắc căn cứ [Grund]. Và chúng ta đã thấy rằng, đối với Leibniz, chân lý tối thượng là identitas đồng nhất A=A, bởi vì ông thấy bản chất của chân lý nằm ở đồng nhất tính. Luận điểm của chúng ta là Grundsatzprinciple nguyên tắc nền tảng đầu tiên của logic là mệnh đề căn cứ. Tuy nhiên, luận điểm này không chỉ đơn thuần là sự đảo ngược trật tự truyền thống, mà nó được nói ra từ cấp tiến hóa của logic hướng tới siêu hình học. Mệnh đề căn cứ không phải là một quy tắc và chuẩn mực để đưa ra các khẳng định; hơn nữa, nó là Grundsatz mệnh đề căn cứ đầu tiên của logic với tư cách siêu hình học. Giờ đây chúng ta đã thấy rằng chủ đề chính của logic là chân lý tiên nghiệm, sự siêu việt. Việc viện dẫn đến mệnh đề căn cứ này có ý nghĩa gì? Và tương ứng, bản chất của những ‘mệnh đề’ mà chúng ta gọi là mệnh đề căn cứ [Grund-satze] là gì?
Những câu hỏi này chỉ có thể được trả lời bằng cách tham chiếu đến bản chất của cơ sở/nền tảng. Hiện tượng nguyên thủy của nền tảng là cái vì- lợi-ích-của. Nguồn gốc của ‘cơ sở/nền tảng’ nằm ở tự do với tư cách là tự do cho nền tảng. Tuy nhiên, cái vì-lợi-ích-của là đặc tính chính của thế giới. Phóng-chiếu-thế-giới trong tự do không gì khác hơn là thời gian hóa của việc lý-giải-về-hữu-thể. Nếu nền tảng với tư cách là cái vì-lợi-ích-của là đặc tính chính của thế giới, và tuy nhiên nếu thế giới là Hữu thể, như nó được hiểu trong sự hiểu biết về hữu thể, và nếu hữu thể thiết lập sự gia nhập vào thế giới cho các hiện hữu, tức là cho phép các hiện hữu được hiểu là các hiện hữu, thì ‘nền tảng’ về bản chất thuộc về hữu thể. Từ đó suy ra ý nghĩa siêu hình thực sự của nguyên tắc nền tảng. Nguyên tắc này khẳng định rằng đặc tính cơ bản, Grundcharacter đặc tính nền tảng của nền tảng theo đúng nghĩa thuộc về bản chất của hữu thể theo đúng nghĩa. Do vậy, từ đó quy tắc được suy ra, qua nhiều giai đoạn hình thành, là việc đưa ra các tuyên bố về các hiện hữu phải cung cấp cơ sở cho chính nó bởi vì các tuyên bố là những khẳng định tiết lộ về các hiện hữu. Chuỗi chứng minh trong lập luận ontic thực hữu không chủ yếu cấu thành bối cảnh chứng minh trong các khoa học thực chứng, mà đúng hơn là chúng có nền tảng trong Hữu thể luận. Các cơ sở chính, hay chính xác hơn là xu hướng thiết lập cơ sở, ở đây nằm ở hiểu-biết-về-hữu-thể. Khoa học phải đưa ra cơ sở vì nó mang tính ontic thực hữu (xử lý về các hiện hữu). Một khi tuyên bố về cơ sở đã được trình bày bằng một diễn giải siêu nghiệm, thì nội dung siêu hình của nó có thể dễ dàng được đọc ra theo cách hồi tưởng từ công thức thông thường của nguyên tắc lý tính, nihil est sine ratione: omne ens habet ratioem. ‘Mọi [tr.219] tồn tại đều có cơ sở/nền tảng/nguyên do của nó’ có nghĩa là các hiện hữu, trong chừng mực chúng tự bộc lộ mình là các hiện hữu, đều phải tự tạo nền tảng cho chính mình, bởi vì nền tảng thuộc về hữu thể của các hiện hữu. Tuy nhiên, ‘nền tảng’ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn và triệt để hơn nhiều so với khái niệm truyền thống về ratio lý trí/nguyên do. Giờ đây, cái đặc tính-phát biểu của phát biểu này cũng xuất hiện từ đó. Nó đơn giản là phát biểu-nền tảng đầu tiên [Grund-satz, nguyên tắc], bởi vì nó là phát biểu về nền tảng. Điều này có nghĩa là tất cả các phát biểu nền tảng cơ bản [Grund-sätze] đều được đặt nền tảng trong phát biểu về nền tảng, và điều này đúng theo những cách hoàn toàn khác nhau và không chỉ vì chúng chia sẻ đặc điểm hình thức với nguyên tắc nền tảng. Nhưng đặc biệt, ở đây không thể có bất kỳ suy nghĩ nào về kiểu suy luận tuyến tính từ một nguyên tắc duy nhất (chẳng hạn như suy luận mà Fichte đã cố gắng thực hiện từ nguyên tắc đồng nhất). Thay vào đó, nếu những nguyên tắc này được đặt nền tảng trong nguyên tắc về nền tảng, thì những nguyên tắc nền tảng này cũng chỉ có thể được diễn giải từ nền tảng của nền tảng, tức là từ tự do, và điều đó có nghĩa là từ thời tính.
Ngay từ đầu, khi mô tả ý nghĩa thực sự của nguyên tắc lý tính trong triết học của Leibniz, chúng ta đã cố gắng chỉ ra rằng công thức thông thường nhấn mạnh một điều quan trọng, đó là potius quam hơn là. Có một đặc tính ưu tiên trong nguyên tắc lý tính. Những gì chúng ta đã chứng minh được một cách thực chứng về bản chất và nguồn gốc của nền tảng từ tự do, từ siêu việt, cho thấy mức độ mà sự ưu tiên thực sự thuộc về bản chất của nền tảng. Bởi vì cái potius thà này chỉ là biểu hiện của sự vượt trội của thế giới, sự khởi lên của tự do thành khả tính. Vậy thì cái đặc tính potius thà của nền tảng trông như thế nào trong thực tế và các phương thức của nền tảng, nền tảng hóa và đem cho nền tảng mỗi thứ trở nên đa dạng ra sao đều đòi hỏi những cân nhắc khó khăn. Nền tảng về bản chất thuộc về bản chất của Hữu thể. Với cái nhìn sâu sắc cụ thể vào mối liên hệ siêu hình này, tôi chỉ dẫn mọi người trở lại nơi mà Plato đã trụ lại khi ông viết những câu trong Republic Cộng hòa (Politeia VI, 509b 6- 10), mà tôi dùng làm kết luận: “Καὶ τοῖς γιγνωσκομένοις τοίνυν μὴ μόνον τὸ γιγνώσκεσθαι φάναι ὑπὸ τοῦ ἀγαθοῦ παρεῖναι, ἀλλὰ καὶ τὸ εἶναί τε καὶ τὴν οὐσίαν ὑπ’ ἐκείνου αὐτοῖς προσεῖναι, οὐκ οὐσίας ὄντος τοῦ ἀγαθοῦ, ἀλλ’ ἔτι ἐπέκεινα τῆς οὐσίας πρεσβείᾳ καὶ δυνάμει ὑπερέχοντος” “Vì vậy, tri thức không chỉ hiện diện đối với và cùng với chúng sinh được biết đến, hiện diện cụ thể trên cơ sở của cái thiện (cái thiện thiết lập cho chúng sinh không chỉ điều được biết đến và do đó gia nhập-thế giới) mà còn được ‘là’ và là/hữu thể-một-cái-gì được gán cho chúng sinh/hiện hữu từ đó (cụ thể là cái thiện). Tuy nhiên, cái vì-lợi-ích-của (sự siêu việt) không phải tự thân ‘là/hữu thể’, mà vượt lên trên ‘là/hữu thể’, và làm như vậy bởi vì nó vượt trội hơn chúng sinh/hiện hữu về phẩm giá và quyền năng.”
Phần bổ sung: Khoảng cách và Sự gần gũi
Suy ngẫm triết học có nghĩa là tồn tại từ nền tảng. Triết học không phải là một khoa học trong số những khoa học khác, cũng không phải là sản phẩm của các thế giới quan; nó nguyên thủy hơn mọi khoa học và đồng thời, nguyên thủy hơn mọi thế giới quan. Điều quan trọng là chúng ta phải làm điều đó một cách đúng đắn, nghĩa là, khi suy ngẫm triết học, chúng ta luôn luôn biến đổi mọi thứ trong chính mình và đối với chính mình. Chừng nào chúng ta còn dao động qua lại trên bề mặt bằng cách lặp lại các nguyên tắc lý thuyết và thực tiễn, thì chúng ta vẫn chưa thực sự ở trong triết học. Logic và siêu hình học được đặt nền tảng trên lý-giải-hữu-thể được xác định bởi sự khác biệt về hữu thể luận. Sự khác biệt này đối với chúng ta có vẻ trừu tượng, khô khan và trống rỗng, nhưng chúng ta vẫn phải hỏi: hiểu-biết-về-hữu-thể là gì? Tự do hướng tới nền tảng là sự vượt lên, trong sự khởi lên ấy, của những thứ cuốn chúng ta đi và tạo ra khoảng cách. Hiện hữu người là một loại tạo vật của khoảng cách. Và chỉ bằng khoảng cách nguyên thủy thực sự mà con người trong sự siêu việt của mình thiết lập đối với mọi hiện hữu, sự gần gũi thực sự với mọi thứ mới bắt đầu nảy nở trong hắn. Và chỉ năng lực lắng nghe từ xa mới khơi dậy sự thức tỉnh câu trả lời của những con người đáng lẽ phải ở gần.
Lời kết của biên tập viên
Loạt bài giảng được biên tập ở đây do Martin Heidegger trình bày, dưới tiêu đề ‘Logik’, vào mùa hè năm 1928, học kỳ cuối cùng của ông tại Đại học Marburglähn. Heidegger giảng bốn giờ một tuần, vào các ngày thứ Hai, thứ Ba, thứ Năm và thứ Sáu. Bài giảng đầu tiên diễn ra vào ngày 1 tháng 5, và bài giảng cuối cùng, kéo dài hai tiết, vào thứ Bảy, ngày 28 tháng 7. Vào thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 1928, Heidegger đã đọc bài tưởng niệm Max Scheler (trang 50-56), người đã qua đời vào ngày 19 tháng 5. Ông đã đọc phần ‘Tóm tắt’ (trang 56-56) sau giờ nghỉ Lễ Ngũ Tuần. Phần bổ sung ‘Khoảng cách và Sự gần gũi’ (tr.220), không được trình bày, là một văn bản để kết thúc khóa học. Bản thảo các bài giảng của Heidegger và các bản chép tay của các học trò cũ của ông, Hermann Morchen và Helene Weiss, đã có sẵn cho ấn bản này. Bản thảo gốc có 73 (hoặc, thông qua cách đánh số kép, 74) trang theo định dạng folio, viết ngang. Khoảng ba phần tư trong đó, ở phía bên trái, chứa văn bản liên tục được cấu trúc thành câu, với nhiều đoạn chèn vào được lồng ghép một phần với nhau và không phải lúc nào cũng được diễn đạt hoàn chỉnh. Nửa bên phải của trang có nhiều ghi chép bên lề, chủ yếu là dạng chú thích; kèm theo đó là một loạt các phần ghi chú và bổ sung. Bản sao đầu tiên, vốn đã được chỉnh sửa về mặt văn phong, do Hildegard Feick biên soạn. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với văn bản của bà, vì nó đã giúp ích rất nhiều trong việc nắm bắt khó khăn khi giải mã chữ viết tay của Heidegger, vốn khá nhỏ vào thời điểm đó.
Bản thảo của Hermann Morchen bao gồm các ghi chú chú thích về toàn bộ khóa học. Văn bản của Helene Weiss chỉ bắt đầu sau phần về Leibniz, gần cuối § 9; ngoại trừ những trang đầu tiên là trình bày sự phát triển của các ghi chú dạng chú thích của bà. Cả hai bản ghi chép đều phản ánh rất chính xác dòng chảy và nội dung khái niệm của khóa học, như được thể hiện bằng cách so sánh với các đoạn văn bản thảo mà Heidegger đã trình bày không thay đổi. Đồng thời, vì là ghi chú không phải tốc ký, chúng chỉ tái hiện lại các mạch suy nghĩ một cách rời rạc. Do đó, không thể tránh khỏi thiếu đi sự cô đọng của bản thảo viết tay. Một phần lớn sự căng thẳng trong dòng chảy tư tưởng, nơi mà ở những điểm cao trào của văn bản gốc, Heidegger đã phải vật lộn để tìm ra những suy nghĩ quyết định, cũng bị mất đi. Thường thì, bài giảng khi thuyết trình cũng đơn giản hơn nhiều so với bản viết. Do đó, nỗ lực lớn nhất của chúng tôi là tập trung vào việc bảo toàn toàn bộ nguồn lực của bản thảo viết; từ bản thảo gốc, chúng tôi đã xem xét [tr.223] mọi chú thích và mọi gợi ý về một suy nghĩ chứa đựng nhiều hơn là sự lặp lại đơn thuần. Xét đến tình trạng của văn bản, việc dựa vào các đoạn trích từ bản ghi chép hoặc các phần chèn vào văn bản thay vì dựa vào từ ngữ gốc cũng là điều bất khả. Nhưng từ các bản ghi chép, chúng tôi đã sử dụng những thứ sau: tất cả các suy nghĩ từ bản thảo được mở rộng hoặc phát triển thêm trong các bài giảng; các phần tóm tắt lặp lại trong chừng mực chúng chứa đựng các khái niệm mới hoặc các bước ngoặt tư duy mới; tất cả các công thức hoàn chỉnh của các phần bổ sung và ghi chú bên lề chỉ được đề cập trong các chú thích trong bản thảo; cũng như các biến thể đặc biệt phù hợp của một công thức. Nhìn chung, nhiệm vụ của chúng tôi là chọn lọc những nội dung cần xem xét từ các bài giảng và điều chỉnh chúng cho phù hợp với phong cách trình bày chặt chẽ hơn của văn bản viết.
Văn bản cuối cùng được biên soạn theo chỉ thị của chính Heidegger. Điều này có nghĩa là các phần chèn thêm, ghi chú bên lề và ghi chú bổ sung từ bản thảo, các phần được chọn lọc từ các bản sao, cũng như các cách diễn đạt khác nhau từ các tóm tắt bài giảng trong phần bổ sung hoặc các bản sao, đều được tích hợp vào văn bản chính một cách cẩn thận, phù hợp với phong cách Heideggerian của những năm đó, để sự thống nhất trong sự phát triển tư tưởng được tái hiện ở mức độ tối đa. Các bài giảng do chính tay Heidegger biên tập là hình mẫu cho chúng tôi về tính dễ đọc và sự rõ ràng liên quan đến mạch tư tưởng. Về mặt phong cách, chúng tôi đã hạn chế việc làm mượt văn bản của bản thảo nhiều hơn mức cần thiết để đảm bảo việc đọc không bị gián đoạn và tránh hiểu lầm.
Các từ đệm như ‘vậy là’, ‘cũng vậy,’ ‘tuy nhiên,’ v.v., phần lớn phải được giữ lại, cùng với một số lối diễn đạt và tính không đồng đều đặc trưng của Heidegger, trong khi phong cách bài giảng đặc trưng của ông vẫn được thể hiện rõ trong văn bản viết. Heidegger tự mình thực hiện việc chia văn bản thành các đoạn. Tôi chịu trách nhiệm về các phần chia trong phần giới thiệu và các phần nhỏ hơn của các mục 5, 9 và 11. Việc đặt tiêu đề cho mục 10 phù hợp với việc thực hiện thực tế của phần này. Việc chia văn bản thành các phần và dấu câu phần lớn được giao cho biên tập viên, vì trong bản thảo, Heidegger chỉ giới hạn mình ở việc chia văn bản chủ yếu thành các phần lớn và chỉ gợi ý các điểm ngắt cú pháp trong từng câu bằng cách sử dụng các dấu gạch ngang ngắn giữa các ý tưởng. Các trích dẫn bằng tiếng nước ngoài chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo trong bản thảo của Heidegger đã không được dịch ra. Khi cách diễn đạt của một trích dẫn có vẻ đặc biệt quan trọng đối với mạch tư tưởng, Heidegger cung cấp ít nhất một đoạn dịch, thường là đoạn dịch có thêm phần bình luận [tr.225], nhưng ngoài ra ông thường cung cấp cả trích dẫn bằng tiếng nước ngoài. Những quy tắc này đã được áp dụng trong ấn bản này liên quan đến bản thảo và bản sao chép. Dấu ngoặc đơn chỉ những phần bổ sung của Heidegger trong các trích dẫn và bản dịch trong văn bản chính; chú thích cuối trang chứa các ghi chú của biên tập viên [trong ngoặc đơn in nghiêng] liên quan đến các tài liệu tham khảo. Các phần trong văn bản chính được giới thiệu bởi N.B. [Lưu ý] là những nhận xét bên lề, mà chính Heidegger đã chỉ định như vậy trong bản thảo.
Các bài giảng không trình bày logic truyền thống hay hiện đại, mà theo đuổi ‘nền tảng siêu hình của logic’ dưới ánh sáng của câu hỏi về Hữu thể. Đây là tiêu đề mà bản thân Heidegger đã chọn cho phần chính của khóa học. Do đó, cách diễn đạt này đã được chọn làm tiêu đề của tập sách này. Để khám phá những nền tảng đó, trong nửa đầu các bài giảng, Heidegger đưa ra một cách diễn giải về siêu hình học của Leibniz, trải rộng trong nhiều văn bản và tuyên bố riêng lẻ, một cách diễn giải liên quan đến chức năng của siêu hình học này như là nền tảng cho logic của Leibniz và cho logic truyền thống nói chung. Cách diễn giải lớn đầu tiên này về Leibniz của Heidegger đặc biệt quan trọng đối với sự trình bày của ông về siêu hình học hiện đại của Leibniz về chủ thể tính. Định nghĩa về bản chất như là lực lượng và về lực lượng như là sự biểu hiện (hai chiều) dường như rất quyết định đối với Heidegger đến nỗi ông đã nhiều lần diễn giải Leibniz, cũng như Kant, trong các bài giảng này, trong một chuyên luận trong tập thứ hai của cuốn sách về Nietzsche, và trong các bài giảng Der Satz vom Grund Nguyên lý Lý do Đầy đủ. Heidegger đã xuất bản một phần diễn giải được đưa ra ở đây (xem § 5) trong Festschrift Tuyển tập dành cho Rudolf Bultmann nhân dịp sinh nhật lần thứ 80 của ông (Zeit und Geschichte Thời gian và Lịch sử, do E. DinkIer biên tập, Tübingen 1964, trang 491-507). Văn bản được in vào thời điểm đó chứa một số đoạn văn mà Heidegger đã chọn từ bản sao của Hildegard Feick, mà ông đã sửa chữa nhỏ và có giới thiệu ngắn gọn. Đối với ấn bản hiện tại, văn bản đó một lần nữa được hiệu đính so với bản thảo. Khi làm như vậy, tất cả các phần chèn, ghi chú bên lề và ghi chú còn lại chưa được Feick sao chép, và tất cả các tài liệu hỗ trợ có trong sao chép Mörchen [Thuật ngữ ‘Mörchen transcription’ là các bản chép tay và phụ lục chú thích của nhà triết học người Đức Frank-Otto Mörchen; các tài liệu này ghi lại những bài giảng và các văn bản gốc (Gesamtausgabe Tuyển tập) chưa xuất bản của Martin Heidegger], mà bà Feick chưa có được, đã được sử dụng để hoàn thiện câu chữ, sửa chữa các lỗi đọc riêng lẻ và sắp xếp một số câu và đoạn văn thành một trình tự tương ứng với mạch tư tưởng ban đầu mà Heidegger đã dự định. Có thể nói rằng, vào thời điểm này, chúng ta thực sự đang có trước mắt toàn bộ văn bản chính của bản diễn giải Leibniz đầu tiên của Heidegger.
Bài tưởng niệm Max Scheler, được Heidegger rút gọn [tr.226] và in trong Max Scheler im Gegenwartsgeschehen der Philosophie Diễn ngôn Triết học Đương đại do P. Good biên tập, (Bern và Munich, 1975, trang 9), cũng phụ thuộc vào bản ghi chép của Feick. Văn bản này cũng được trình bày đầy đủ ở đây. Bên cạnh việc diễn giải Leibniz, văn bản những bài giảng này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xem xét lại con đường tư tưởng của Heidegger, điều mà Gesamtausgabe Tuyển tập nên tạo điều kiện thuận lợi. Đặc biệt quan trọng trong nửa sau là các cuộc thảo luận về siêu việt và ý hướng tính, và cuộc đối đầu với Max Scheler, những tuyên bố hướng dẫn để hiểu về Hữu thể và Thời gian, phần giới thiệu về vấn đề thời gian, thông báo về sự chuyển đổi từ Hữu thể luận cơ bản sang Metontology Siêu-Hữu thể luận, và những nghiên cứu đặc biệt chi tiết về khái niệm thế giới kết hợp với vấn đề nền tảng. Luận thuyết Yom Wesen des Grundes Luận về Bản chất của các Nền tảng được phát triển từ những nghiên cứu này. Tập sách này sẽ không thể ra đời nếu không có sự hợp tác của T.S. Heinrich Hüni đã cùng tôi đối chiếu văn bản và đã thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết trước và sau đó với thái độ cẩn trọng và tận tâm. Để có thể hoàn thiện được văn bản cuối cùng, thường khá cam go, nên sự am hiểu sâu sắc của ông về tư tưởng và ngôn ngữ của Heidegger là điều may mắn lớn. Tôi vô cùng biết ơn ông. Tôi cũng xin cảm ơn bà Magdalena Prause đã giúp đánh máy. Wuppertal, nhân kỷ niệm một năm ngày mất của Martin Heidegger. Klaus Held
Lời bạt của người dịch ra tiếng Anh
Lời bạt của biên tập viên ghi lại lời kể của biên tập viên người Đức về quá trình biên soạn văn bản và các nguyên tắc được sử dụng trong việc biên tập ấn bản Gesamtausgabe Tuyển tập các tác phẩm của Martin Heidegger bằng tiếng Đức. Trong lời bạt này, tôi sẽ thông báo cho người đọc về cách tiếp cận của tôi đối với một số vấn đề đặc thù của tác phẩm ‘Cơ sở Siêu hình của Logic’. Có thể sớm dịch được các văn bản của Heidegger sang tiếng Anh bằng cách sử dụng các hệ thống truy xuất dữ liệu điện tử. Máy tính sẽ có thể phân loại các giải pháp dịch thuật trước đó và áp dụng chúng vào văn bản hiện tại một cách nhất quán về mặt kỹ thuật. Tính chính xác về mặt học thuật cũng có thể đòi hỏi chúng ta phải chờ đợi việc tiếp cận toàn bộ kho lưu trữ các bài báo, ghi chú và thư từ của Heidegger; một vốn từ vựng kỹ thuật chính xác về mặt ngữ văn học cho triết học của Heidegger có thể được đảm bảo khi dịch sang tiếng Anh. Tuy nhiên, bản dịch hiện tại không chờ đợi những khả năng đó. Quyết định xuất bản phiên bản tiếng Anh càng sớm càng tốt sau khi công bố bản tiếng Đức xuất phát từ quan niệm của Heidegger về Tuyển tập các tác phẩm của ông bằng tiếng Đức, trong đó văn bản hiện tại là Tập 26 trong kế hoạch tổng thể của bộ sưu tập. Heidegger tin rằng các tác phẩm của ông có tính thời sự đặc biệt đối với thời điểm lịch sử hiện tại của chúng ta, và với suy nghĩ đó, ông đã mô tả Tuyển tập là ‘những con đường - chứ không phải tác phẩm’ (Wege-nicht Werke); ông đã tránh sử dụng khái niệm đồ sộ về ‘Tuyển tập Tác phẩm’. Những con đường tư duy cho những lựa chọn mang tính lịch sử cần được làm sáng tỏ một cách kịp thời, điều này loại trừ sự chính xác hoàn hảo của một công trình vượt thời gian. Một công trình học thuật đồ sộ có thể cần thêm nửa thế kỷ nữa - nếu thực sự có một công trình như vậy.
Tính cấp bách mà Heidegger cảm nhận về Tuyển tập của mình được thể hiện trong lời tựa chưa hoàn chỉnh, được trích dẫn trong Lời bạt của Biên tập viên của Gesamtaugabe Tuyển tập, tập 1: Tuyển tập này cần phải thể hiện bằng nhiều cách khác nhau một quá trình đang diễn ra trong lĩnh vực tìm tòi tự chuyển hóa về nhiều ý nghĩa của câu hỏi về Hữu thể. Do đó, Tuyển tập này cần dẫn dắt người ta tiếp nhận và đặt ra câu hỏi [về Hữu thể], đặc biệt là đặt ra theo cách chất vấn nhiều hơn. Việc chất vấn nhiều hơn có nghĩa là lùi lại một bước, lùi lại trước khi dè dặt, lùi vào một cách nói gọi tên (‘lùi lại’ không phải theo nghĩa thời gian-lịch sử, mà ‘lùi lại’ như là đặc tính của cách tư duy). Mục đích là khơi gợi thảo luận về vấn đề tư duy (với tư cách là mối quan hệ [tr.227] với Hữu thể như là Hiện diện tính; Pannenides, Heraclitus: νοεῖν nhận thức, λόγος Ngôn trí, Lý tính, Trật tự) chứ không phải để truyền đạt ý kiến của tác giả, không phải để mô tả quan điểm của người viết, và không phải để xếp ông ta vào chuỗi các quan điểm khác có thể xác định được trong lịch sử. Tất nhiên, những nỗ lực sau này có thể được thực hiện bất cứ lúc nào, đặc biệt là trong thời đại thông tin, nhưng chúng hoàn toàn không liên quan đến việc chuẩn bị một cách tiếp cận mang tính chất chất vấn đối với vấn đề tư duy.
Số lượng lớn các tập sách chứng tỏ tính chất đáng nghi vấn còn tồn tại của câu hỏi về Hữu thể và cung cấp nhiều cơ hội để tự kiểm nghiệm. Mặt khác, nỗ lực được tập hợp trong ấn bản này chỉ còn là một tiếng vọng yếu ớt của sự khởi đầu ngày càng xa vời: sự tự rút lui của ἀλήθεια aletheia chân lý. Ở một khía cạnh nào đó, sự tự phủ nhận của aletheia chân lý được thể hiện rõ ràng và liên tục được trải nghiệm; tuy nhiên, tính đặc thù của nó vẫn không được nhận ra ngay từ đầu, và tình trạng này đặt ra một sự hạn chế độc nhất vô nhị đối với mọi suy nghĩ sau này. Sẽ là một ảo tưởng nếu bây giờ muốn diễn giải những gì ban đầu được nhận ra thành những gì chúng ta biết hiện nay. Những nhận xét trước đó về tính cấp bách không hề được đưa ra như một lời bào chữa cho những sai sót trong dịch thuật hoặc sự cẩu thả về văn phong. Thay vào đó, chúng nhằm mô tả tinh thần mà bản dịch được thực hiện, không có sự hỗ trợ của máy tính, không có nhóm nghiên cứu, và với mức độ học tập hoặc thời gian rảnh rỗi tối thiểu. Sản phẩm cuối cùng chỉ có mức độ hoàn chỉnh mà một cá nhân hữu hạn có thể thiết kế; tác phẩm hoàn chỉnh không phải là một ‘ấn bản phê bình ngữ văn’ theo nghĩa của các thuật ngữ đó trong văn học Châu Âu. Do đó, mục tiêu của tôi là đưa ra một bản dịch sao cho chính xác nhất có thể nội dung của ấn bản tiếng Đức năm 1978 đến với độc giả nói tiếng Anh. Tôi đã để chú thích ở mức tối thiểu, ngoài một vài lỗi nhỏ do in ấn xác nhận và biên tập viên người Đức kiểm tra, tôi không cố cải thiện ấn bản tiếng Đức bằng cách đối chiếu với các bản thảo và bản sao được thảo luận trong Lời bạt của Biên tập viên ấn bản gốc.
Trong ấn bản gốc tiếng Đức, các đoạn dẫn dài bằng tiếng Pháp, Latin và Hy Lạp thường được trích trực tiếp trong văn bản mà không có dấu ngoặc kép hoặc chữ in nghiêng, một thủ tục phù hợp với thói quen của các giáo sư đại học Đức khi trích dẫn tác giả bằng ngôn ngữ gốc trong các bài giảng trên lớp. Để tránh gây nhầm lẫn cho người đọc nói tiếng Anh, các trích dẫn bằng tiếng Latin và tiếng Pháp đã được in nghiêng. Thỉnh thoảng, khi bản gốc sử dụng lặp đi lặp lại một từ hoặc cụm từ tiếng Latin, thì từ tương đương trong tiếng Anh sẽ được sử dụng thay thế. Ví dụ, một từ Latin thường dùng là propositio trở thành từ tiếng Anh đơn giản là ‘proposition’: Bản thảo tiếng Hy Lạp phân biệt [tr.229] các trích dẫn bằng ngôn ngữ đó, giống như trong văn bản tiếng Đức. Dấu ngoặc vuông được dành riêng cho các phần thêm vào của người dịch hoặc cho các bản dịch tiếng Anh của tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Latin. Các ký hiệu “( )” được sử dụng để phân biệt các phần thêm vào và nhận xét của Heidegger trong các bản dịch của chính ông hoặc trong các trích dẫn của tác giả khác. Các phần thêm vào của các dịch giả khác được trích dẫn và của biên tập viên của ấn bản Tiếng Đức được đặt trong ngoặc vuông in nghiêng. Chú thích cuối trang nằm ở cuối trang và được đánh số liên tiếp từ đầu mỗi phần chính; ghi chú của người dịch nằm ở cuối trang và được đánh dấu bằng dấu hoa thị hoặc dấu thập. Cần lưu ý rằng các trích dẫn từ tiếng Hy Lạp và Latin đã được dịch từ bản tiếng Đức của chính Heidegger thực sự đã tự dịch văn bản; ở những chỗ Heidegger không đưa ra bản dịch tiếng Đức, tôi tự dịch từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, tuy nhiên, luôn kiểm tra và đối chiếu với các bản dịch tiếng Anh chính của văn bản đang được đề cập. Tên các tác phẩm của tiếng Đức được nhắc đến trong văn bản thường được ghi bằng tiếng Đức, ngoại trừ những tác phẩm được nhắc đến thường xuyên có vị thế kinh điển, chẳng hạn như Phê phán Lý tính Thuần túy hay Hữu thể và Thời gian.
Trong trường hợp các từ ngữ tiếng Đức rất khó dịch, tôi đã đưa tiếng Đức vào trong ngoặc đơn hoặc ghi chú những khó khăn trong lựa chọn dịch thuật của mình ở cuối trang. Một số thuật ngữ vẫn còn phức tạp trong tiếng Đức của Heidegger, và nhiều sách và bài báo đã được viết nhằm cố gắng làm sáng tỏ cách sử dụng ngôn ngữ sáng tạo của ông. Ví dụ, từ ngữ Grund gợi ý các từ tiếng Anh như ‘reason’ lý tính/trí, ‘ground’ cơ sở/nền tảng, ‘cause’ nguyên nhân, ‘basis’ cơ sở, ‘fundament’ nền tảng, v.v. Vì văn bản hiện tại chứa nhiều đoạn văn liên quan đến der Satz vom Grund (nguyên tắc ‘lý trí’), điều tốt nhất tôi có thể làm là giới thiệu người đọc đến phần ghi chú và lời tựa dài dòng và sáng tỏ của Terrence Malick cho bản dịch Yom Wesen des Grundes của Heidegger, Luận về Bản chất của Lý trí, (Evanston: Nhà xuất bản Đại học Northwestern, 1969).
Nhìn chung, chiến lược của tôi là để ngữ cảnh quyết định một khía cạnh cụ thể của ý nghĩa của một từ, và do đó tôi không hề tìm cách khái quát hóa bằng cách dịch tương đương từ-ra-từ trong hai ngôn ngữ; cần có một chút tự do nghệ thuật ở đây nếu tiếng Anh thực sự muốn là tiếng Anh trong khi vẫn ‘chuyển ngữ’ được bản gốc tiếng Đức. Số trang tiếng Đức, được ghi ở đầu trang, cho phép người đọc tham khảo bản gốc để kiểm tra sự phù hợp của sắc thái mà tôi đã chọn hoặc để học giả có thể tìm thấy các khía cạnh ngữ nghĩa khác đáng quan tâm. Tôi nghĩ rằng người đọc có chút kiến thức về tiếng Đức, tôi hy vọng sẽ thấy [tr.230] rằng bản dịch có thể được theo dõi từng từ một trong những bản gốc mà không cần bất kỳ sự lược bỏ hoặc bổ sung nào. Khó khăn chính trong việc đối chiếu với bản gốc sẽ xảy ra ở những đoạn văn mà cú pháp và nhịp điệu câu tiếng Anh chiếm ưu thế hơn so với cấu trúc câu phức tạp của tiếng Đức. Trong bản dịch này, tôi đã áp dụng cách tiếp cận của Albert Hofstadter trong việc dịch thuật ngữ trung tâm ‘being’ das Sein Hữu thể. Như Hofstadter đã làm trong bản dịch cuốn ‘Những vấn đề cơ bản của hiện tượng học’ (Bloomington: Nhà xuất bản Đại học Indiana, 1982), từ ‘being’ Hữu thể không được viết hoa. Tôi làm điều này không chỉ đơn thuần vì mục đích nhất quán trong một loạt các bản dịch. Hơn nữa, lý do của tôi dựa trên nhu cầu thay đổi của người đọc và nguồn lực ngôn ngữ thay đổi. Có thể phân biệt das Seiende với das Sein bằng cách dịch từ trước với dạng số nhiều ‘beings’ ‘các Hiện hữu’ và từ sau với dạng ‘being’ ‘Hữu thể’ (không viết hoa). Trước đây, trong tiếng Anh, cần phải lưu ý đến dạng nguyên thể tiếng Đức được sử dụng như một danh từ, das Sein, và việc viết hoa ‘Being’ nhằm cảnh báo người đọc về một cách diễn đạt không thể dịch chính xác trong tiếng Anh mà không ép buộc das Sein vào dạng ‘the to-be’. Nhưng giờ đây, khi sự tập trung đặc biệt của Heidegger vào vấn đề ‘being’ Hữu thể đã trở nên quen thuộc, thậm chí có lẽ là quá quen thuộc, dường như việc cho phép thuật ngữ này trở nên tự nhiên trong tiếng Anh là điều thích hợp, từ đó làm giảm bớt vị thế huyền thoại, xa vời của thuật ngữ này. Việc giải huyền thoại hóa the question of being vấn đề về Hữu thể cũng ngụ ý rằng vấn đề về sự khác biệt hữu thể luận, sự khác biệt giữa ‘being’ và các ‘beings’, sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và là vấn đề cần suy ngẫm nhiều hơn, một khi hào quang huyền thoại của từ ‘Being’ viết hoa đã bị loại bỏ và gợi ý rằng ‘being’ là một tên gọi khác cho vị thế riêng biệt của một Being thần thánh - một gợi ý mà tiếng Anh, vốn rất tiết kiệm trong việc viết hoa, chắc chắn sẽ nảy sinh khi từ ‘being’ được viết hoa. Khi bất kỳ cách biểu đạt nào cũng dễ bị tầm thường hóa thành huyền thoại, thì nhiệm vụ của tư duy dường như nằm ở việc nghĩ ra các chiến lược để giúp chúng ta tránh xa mọi-thứ-quá-quen-thuộc.
Trong số các tổ chức đã hỗ trợ cho việc xuất bản kịp thời tập sách này, trước hết tôi phải kể đến Quỹ Quốc gia về các Khoa Nhân văn (National Endowment for the Humanities - NEH); trong bảy tháng, NEH đã cho phép tôi tạm ngừng nhiều nhiệm vụ giảng dạy để tôi có thể dành toàn bộ thời gian hoàn thành dự án này. Bộ phận Nghiên cứu của Quỹ Quốc gia cũng yêu cầu tôi viết lời giới thiệu cho người dịch dành cho độc giả nói tiếng Anh, và lời giới thiệu này đã được cung cấp riêng. Inter Nationes, một quỹ của Đức, cũng đã hỗ trợ cho việc dịch thuật. Tôi xin cảm ơn ban quản lý tại Missouri Western State College, những người đã cho tôi được nghỉ phép [tr.231] để có thể dành toàn thời gian cho dự án. Tôi cũng phải bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với các tổ chức tài trợ đã tạo điều kiện cho ba năm học tập nâng cao tại các trường đại học Freiburg và Berlin của Đức; bao gồm Ủy ban Fulbright Hoa Kỳ, Chương trình Trao đổi Học thuật Đức (DAAD) và chương trình trao đổi trực tiếp của Văn phòng Hiệu trưởng Đại học Freie Universitat Berlin. Các giáo sư đã giúp đỡ tôi ngay lập tức bao gồm John Sallis, người có những nhận xét và đề xuất sâu sắc và dựa trên nền tảng học vấn đáng ngưỡng mộ; Joseph Kockelmans, người đã hào phóng xem xét kỹ lưỡng các bản thảo đầu tiên của toàn bộ bản dịch và đưa ra những nhận xét hữu ích; và Theodore Kisiel, người đã xem xét một bản thảo ban đầu và đưa ra nhiều gợi ý có giá trị. Albert Hofstadter, Manfred Frings và David Lachterman mỗi người đều đưa ra lời khuyên về các vấn đề học thuật. Friedrich-Wilhelm von Herrmann của Đại học Freiburg đã cung cấp sự giúp đỡ vô giá mười năm trước khi tôi nghiên cứu tác phẩm của Heidegger tại Freiburg. Alphonso Lingis là người đầu tiên đề nghị tôi thực hiện dự án này. Susan Mango tại Quỹ Quốc gia về Nhân văn đã đưa ra những lời khuyên quý giá trong giai đoạn lập kế hoạch của dự án. Các đồng nghiệp của tôi tại Missouri Western, James Mehl, Phil Mullins và John Tapia, đã luôn quan tâm và ủng hộ dự án một cách thân thiện; Gary Shapiro của Đại học Kansas đã nhắc nhở tôi một cách thân thiện rằng triết học, chứ không phải đàn cello, mới là tình yêu đầu tiên của tôi. Điều quan trọng nhất đối với cá nhân tôi là sự hiện diện của Joanna Popdan Heim và Michael Junior.
__________________________________________
(Hết)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét