Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở
§ 12. Siêu việt và Thời tính (Hư vô Nguồn cội)
[Tr.208] Thời gian hóa là sự dao động tự do của toàn bộ thời tính nguyên thủy; thời gian tự vươn tới và co lại chính nó. Và chỉ vì động lượng/đà mà có Geworfen cú ném, Faktizität thực tính, Geworfenheit tính bị ném; và chỉ vì sự dao động mà có phóng chiếu. Xem: So sánh vấn đề thời gian và Hữu thể được đề cập trong Hữu thể và Thời gian. Do đó, điều thiết yếu, khi lần đầu tiên định nghĩa cái die Einheit der Zeitlichkeit nhất tính của thời tính, là phải loại bỏ khái niệm về bất cứ thứ gì Dingähnlichkeit giống như vật thể, Gegenwart hiện hữu trong tay, Gewesensein nằm giữa, như thể, trạng thái Gewesensein đã-từng-là và Zukunft tương lai. Cũng không nên lén lút đưa vào bất kỳ trung tâm nào, hạt nhân cái tôi, mà bản chất thời gian nằm ở ekstatischen unitären Schwingung dao động nhất tính xuất thân. Nhất tính của chân trời thuộc về nhất tính này của thời gian.
[Ghi chú về ekstatischen unitären Schwingung Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm dao động nhất tính xuất thân mô tả cách thức năng động, nguyên thủy mà Thời gian/thời tính và Hữu thể khai mở. Các hiện hữu Dasein không chỉ đơn thuần ở trong thời gian, mà còn tồn tại như chính nhất tính này. Ba thành phần cốt lõi của khái niệm này có thể được phân tích như sau: Ekstatisch - Die Zeitigung Xuất thân - Thời gian hóa: Heidegger gọi Thời tính Zeitlichkeit là ekstatisch ‘xuất thân’ từ tiếng Hy Lạp ekstasis - bởi vì Dasein không chỉ dừng lại ở bây giờ. Nó luôn đồng thời hướng ra ngoài từ chính nó về phía tương lai (Vorlaufen Ưu tiên), Gewesenheit Cái-đã-từng-là (Wiederholung Lặp lại) và Gegenwart Bây giờ (Begegnenlassen cho phép gặp gỡ). Ba chiều này cùng nhau cấu thành không gian của thế giới. Unitär Tính duy nhất (Die Einheit Nhất tính): Ba chiều thời gian này không phải là những phần riêng biệt, mà là một sự kiện thống nhất, mạch lạc. Heidegger gọi nhất tính của cấu trúc này là ursprüngliche Zeitlichkeit thời tính nguyên thủy, tạo nền tảng hiểu biết của chúng ta về Sein Hữu thể và Welt Thế giới. Schwingung Rung động/Erschwingung Cộng hưởng - Heidegger sử dụng phép ẩn dụ âm nhạc hoặc sóng để mô tả cách thức mà Hữu thể và Thời gian không phải thứ tĩnh tại. Chúng ‘rung động’ hay ‘xuất hiện’ trong một quá trình liên tục Wurf ném ra, Entwurf phóng chiếu, và Rückzug rút lui. Dasein rung động trong mối liên hệ với Sein Hữu thể - cái gọi là Kehre bước ngoặt.- HHN]
Về điểm 2. Chúng ta hiểu thế nào về tính chất chân trời/bình tuyến của các trạng thái xuất thân? Chúng ta hiểu ‘chân trời’ là chu vi của trường thị giác. Nhưng ὁρίζειν horízein chân trời, lại chủ yếu không hoàn toàn liên quan đến việc nhìn và trực giác, mà tự nó chỉ đơn giản có nghĩa là cái giới hạn, cái bao lại, cái bao trùm. Và các trạng thái xuất thân, dĩ nhiên, không phải là nhận thức về, không phải là ý thức, và càng không phải là việc nhìn. Vậy là chúng ta nói mỗi trạng thái xuất thân tự bao lấy chính nó và làm như vậy chính xác với tư cách ἔκστασις ekstasis xuất-thân. Người ta có thể tin điều ngược lại là đúng, và việc bị-cuốn-đi chính là bước nhảy vọt qua mọi rào cản. [Ghi chú về tình trạng weggetragen warden bị-cuốn-đi: Trong bài giảng ‘Logic như là câu hỏi về bản chất của ngôn ngữ’ của Heidegger (Học kỳ hè năm 1934), cụm từ ‘bị cuốn đi’ (hay ‘bị cuốn đi qua chúng ta’) mô tả trải nghiệm về việc truyền thống (lịch sử) nắm bắt sự tồn tại của chúng ta và đẩy vận mệnh của chúng ta vượt ra ngoài ý chí thường nhật vào tương lai. Những điểm chính của khái niệm logic và ngôn ngữ: Heidegger lập luận rằng bản chất của ngôn ngữ không nằm ở logic của tư duy đơn thuần, mà nằm ở tính lịch sử của chúng ta. Nó kéo chúng ta ra khỏi ‘công việc hiện tại’ tầm thường. Thông qua di sản lịch sử, vận mệnh của chính chúng ta bị ‘cuốn trôi qua chúng ta’, và chúng ta được giao phó vào tay tương lai. Cái cốt yếu đến với chúng ta từ tương lai, miễn là chúng ta có thể tuân theo truyền thống.- HHN] Chắc chắn, tự nó, không có gì xác định trong tự thân mong đợi; nó không thể tự quyết định, và chắc hẳn không bao giờ một cách rõ ràng, trên cơ sở của nó, là điều gì có thể được mong đợi và làm thế nào nó có thể được mong đợi.
Nhưng trạng thái bị-cuốn-đi như vậy vẫn mang lại một điều gì đó, chỉ là một điều gì đó có tính tương lai theo đúng nghĩa, tương lai tính theo đúng nghĩa, tức là khả tính thuần túy và đơn giản. Tự bản thân trạng thái xuất thân không tạo ra một khả thể xác định, nhưng nó tạo ra chân trời khả tính nói chung, trong đó người ta mong đợi một khả thể xác định. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng trạng thái xuất thân vượt qua mọi hiện hữu và chân trời đó không nằm trong phạm vi của chủ thể. Do đó, chân trời này cũng không ở đâu cả, vì nó không thể hiện một Hữu thể xác định: nó không được định vị về không gian hay thời gian, theo nghĩa thông thường. Nó không ‘là’ theo đùng nghĩa, nhưng nó tự thời gian hóa chính nó. Chân trời biểu hiện trong và cùng với trạng thái xuất thân; đó là trạng thái xuất thân của nó (được hình thành một cách tương tự như, chẳng hạn, σύστημα sýstema hệ thống tương ứng với σύστασις systasis cấu thành hoặc σύνθημα synthema phương châm tương ứng với σύνθησις liên kết/tổng hợp). Và, tương ứng với nhất tính của các trạng thái xuất thân trong quá trình thời gian hóa của chúng, cái nhất tính của các chân trời là một nhất tính nguyên thủy. Nhất tính xuất thân này của chân trời thời tính không gì khác hơn là điều kiện thời gian cho khả tính của thế giới và hành động thuộc về thiết yếu của thế giới đối với siêu việt. Bởi vì siêu việt có khả tính của nó trong nhất tính của động lượng/đà xuất thân.
Sự dao động của các trạng thái xuất thân tự thời gian hóa này, như vậy, là [tr.209] khởi dựng, được coi là [dao động] hướng tới tất cả mọi hiện hữu khả thể thực sự gia nhập một thế giới ở đó. Trạng thái xuất thân tự thời gian hóa, dao động như một cuộc Welten hình thành thế giới. Việc gia nhập thế giới chỉ xảy ra khi một thứ gì đó giống như dao động xuất thân tự thời gian hóa thành một thời tính cụ thể. Việc gia nhập thế giới dựa trên thời gian hóa của thời tính. Sự kiện cơ bản, theo nghĩa siêu hình, là tình trạng có đó của bất cứ thứ gì giống như thời tính. Sự gia nhập thế giới của các hiện hữu là Urgeschichte nguyên sử thuần túy và đơn giản. Từ cái nguyên sử này, một vùng vấn đề phải được phát triển mà ngày nay chúng ta đang bắt đầu tiếp cận với sự rõ ràng hơn, vùng thần thoại. Siêu hình học của thần thoại phải được hiểu từ cái nguyên sử này, và điều đó có thể được thực hiện với sự trợ giúp của một cấu thành siêu hình về thời gian nguyên khởi, tức là thời gian mà tự thân nguyên sử bắt đầu. Bằng cách chỉ ra cấu thành-bản chất xuất thân và bình tuyến của thời gian với tư cách thời tính, mục đích của chúng ta là gợi ý khả tính siêu việt nội tại. Chỉ thông qua việc trình bày hiện tượng chăm bẵm, tại thời điểm này, chúng ta mới có thể đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về siêu việt. Chúng ta sẽ phải chỉ ra cách thức mà thực tính và cá nhân hóa được dựa trên thời tính, mà với tư cách thời gian hóa, tự thống nhất trong chính nó và cá thể hóa theo nghĩa siêu hình, với tư cách principium individuationis nguyên tắc cá thể hóa. Nhưng cách cá thể hóa này lại là tiền đề cho Umgang giao tiếp nguyên thủy giữa Dasein và Dasein.
Giờ đây ta thấy một sự tương ứng rõ ràng giữa điều này và thuyết đơn tử luận của Leibniz, nhưng cũng thấy những điểm khác biệt giữa chúng. Việc trình bày của chúng ta về đơn tử luận đã được hướng dẫn bởi cách diễn giải Dasein như là thời tính, đặc biệt là bởi một cái nhìn sâu sắc về bản chất của siêu việt. Tại thời điểm này, chúng ta có thể nói rằng cách diễn giải đơn tử luận mà tôi đã trình bày đã được phóng đại một cách có chủ đích, và phóng đại ở hai khía cạnh: 1) trong chừng mực chúng ta hình dung các yếu tố xác định cơ bản của cái đơn tử, repraesentatio tri giác và appetitus tổng giác, chủ yếu là các cấu trúc ý hướng tính; 2) trong chừng mực chúng ta làm rõ những yếu tố cấu trúc ý hướng tính là các cấu trúc siêu việt, tức là, trong mối liên hệ của chúng với vũ trụ, ‘thế giới’; vì lý do này, cái đơn tử có thể được định nghĩa là một mundus concentratus. [Tổ hợp từ mundus concentratus nghĩa là ‘thế giới tập trung’ chủ yếu gắn liền với quan điểm triết học của Gottfried Wilhelm Leibniz. Tuy nhiên, Martin Heidegger đã sử dụng khái niệm này một cách cụ thể trong Cơ sở Siêu hình của Logic để phê phán quan điểm của Leibniz, đối lập nó với khái niệm năng động của riêng ông về vị thế-thế giới của thế giới. Trong triết học của Heidegger, Weltlichkeit vị thế-thế giới đề cập đến cấu trúc nền tảng của ý nghĩa, các mối quan hệ và bối cảnh tạo nên trải nghiệm về một ‘thế giới’ ngay từ đầu. Nó không phải là vũ trụ vật chất hay một tập hợp các đối tượng, mà là khuôn khổ ý nghĩa mà qua đó con người hiểu và định hướng hiện hữu của mình. Cấu trúc của Weltlichkeit vị thế-thế giới trong tác phẩm kinh điển Hữu thể và Thời gian, đối với Heidegger là Dasein người về cơ bản là ‘hiện-hữu-trong-thế giới’. Weltlichkeit Thế giới cấu thành là điều kiện tiên nghiệm ràng buộc con người và môi trường của họ lại với nhau. Nó được chia thành ba khái niệm cốt lõi: Công cụ, và Cái sẵn có Zuhanden và Ý nghĩa: Chúng ta không trải nghiệm thế giới chủ yếu như một tập hợp các đối tượng khoa học, mà như một mạng thực tiễn các công cụ và tiện ích. Ví dụ, một cái búa chỉ được trải nghiệm trong mối quan hệ với đinh, gỗ và mục tiêu xây dựng. Những thực thể này là ‘sẵn có’. Thế giới cấu thành được dệt nên bởi ý nghĩa; tính đồng nhất và giá trị của một vật thể xuất phát từ vị trí của nó trong một mạng mục đích và tham chiếu bao quát. Vorhanden vật hiện diện - Khi một công cụ bị hỏng, nó mất đi giá trị ‘công cụ’ thực dụng và trở thành một vật thể đơn thuần, tách rời. Sự thay đổi này hé lộ thế giới ẩn sau sự hấp thụ thực tiễn hàng ngày của chúng ta. Tại sao điều này quan trọng? Khái niệm thế giới của Heidegger bác bỏ phân chia truyền thống của Descartes - coi con người là chủ thể tư duy biệt lập, tách rời khỏi thế giới vật chất. Thay vào đó, mối liên hệ của chúng ta với thế giới là trực tiếp, thực tiễn và có ý nghĩa. Thế giới là một quá trình tạo ra và tiết lộ ý nghĩa năng động, liên tục - không phải là sân khấu vật chất tĩnh tại.- HHN]
Khác biệt cơ bản giữa cách diễn giải đơn tử luận của Leibniz và cách diễn giải của tôi về Dasein như là thời tính là như sau: ở Leibniz, việc hiện thực hóa ý nghĩa siêu hình thực sự của quan niệm của ông bị cản trở bởi thực tế là về nguyên tắc, ông đặt ego cogito cái tôi tư duy của Descartes làm nền tảng cho quan niệm của ông về đơn tử, về Cái Tôi; còn là việc ông cũng coi đơn tử như một thực thể được bao bọc trong phạm vi của nó, mặc dù ông tích hợp [tr.210] toàn bộ thế giới trong tính nội tại này và nội dung [của đơn tử] của nó. Do đó, Leibniz mới có thể nói rằng: Các đơn tử không cần cửa sổ, bởi vì chúng đã có mọi thứ bên trong. Ngược lại, có thể nói rằng chúng không có cửa sổ, không phải vì chúng có mọi thứ bên trong, mà vì không có bên trong cũng như bên ngoài - bởi vì thời gian hóa (động lực) tự nó hàm chứa sự kiện xuất-thân của việc gia nhập thế giới, trong chừng mực siêu việt tự nó đã là bước nhảy khả thể vượt qua các hiện hữu khả thể có thể gia nhập một thế giới. Vì vậy, thời gian không phải là một mundus concentratus thế giới tập trung mà là ngược lại. Thời gian về bản chất là tự-khai-mở và mở rộng vào một thế giới.
Tôi sẽ không đi sâu hơn vào sự so sánh này, đặc biệt là câu hỏi về mức độ mà người ta có thể hình dung việc diễn giải Dasein như là thời tính theo cách Hữu thể luận phổ quát – hệt như đơn tử luận được trình bày như một phô diễn về toàn bộ vũ trụ của các hiện hữu. Đây là một câu hỏi mà chính tôi cũng không thể quyết định, một câu hỏi mà đối với tôi vẫn hoàn toàn không rõ ràng. Cũng cần phải làm rõ hơn xem là chúng ta có thể nói về thế giới rằng nó là hư vô đến mức độ nào. Hư vô kiểu gì vậy? Chừng nào ta còn xem xét thế giới, biến nó thành một vấn đề và cố gắng chứng minh nó là thiết yếu, thì đối với siêu việt tính, nó phải là một cái gì đó. Nếu nó là hư vô, thì nó không được là nihil negativum hư vô phủ định, tức là không phải là sự phủ định trống rỗng thuần túy đơn giản của một cái gì đó. Thế giới là hư vô theo nghĩa nó không phải cái gì đó ‘là’. Nó là hư vô nhưng lại là cái gì đấy ‘có đó’. Cái ‘có đó’ ‘es’ của ‘es gibt’ vốn là cái đây không phải-một-hiện-hữu tự nó không hiện hữu, mà là thời tính tự-thời gian hóa. Và cái mà thời tính thời gian hóa này, với tư cách là một nhất tính xuất-thân, thời gian hóa chính là nhất tính chân trời của nó – là thế giới. Thế giới là hư vô tự thân thời gian hóa theo cách nguyên thủy, là cái đơn giản phát sinh trong và cùng với thời gian hóa. Vì vậy, chúng ta gọi nó là nihil originarium hư vô nguồn cội.
Tuy nhiên, nguồn gốc của siêu việt chính là tự thân thời tính, và nó là nguồn cội theo cái cách mà siêu việt cũng vậy, và điều đó có nghĩa là gia nhập thế giới, xảy ra cùng với thời gian hóa. Thời gian, theo nghĩa thông thường, chỉ có đó cùng thời gian hóa của thời tính, khi xuất hiện sự gia nhập thế giới. Và cũng có những hiện hữu nội-thời gian tính, những thực thể xuất hiện ‘trong thời gian’ chỉ khi sự gia nhập thế giới xảy ra và những hiện hữu nội-thế gian bắt đầu hiển hiện đối với Dasein. Khi đó, chúng ta thấy được tính năng suất đặc biệt vốn có của thời tính, theo nghĩa sản phẩm chính xác là một hư vô đặc biệt, thế giới. Kant, lần đầu tiên, đã khám phá ra điều này. Năng suất nguyên thủy của ‘chủ thể’ trong học thuyết về trí tưởng tượng sản sinh siêu nghiệm của ông. Tất nhiên, ông đã không thành công trong việc đánh giá tri thức này trong những hệ quả triệt để của nó, mà theo đó ông sẽ phải, như thể, phá bỏ chính tòa nhà của mình với sự trợ giúp của cái nhìn mới [tr.211]. Ngược lại, trực giác tuyệt vời này về nguyên tắc đã bị bỏ mất. Tuy nhiên, bước tiến đầu tiên này vào trí tưởng tượng siêu nghiệm, mà đối với Kant chỉ được kết nối một cách mơ hồ với thời gian, là khoảnh khắc đầu tiên trong lịch sử triết học mà siêu hình học đã cố gắng giải phóng mình khỏi logic, và khỏi một logic đã không tìm thấy và chưa bao giờ tìm thấy bản chất của chính nó trong siêu hình học, mà vẫn là một sự đào tạo trở nên hời hợt và hình thức. Có lẽ sự kiện thực sự trong lịch sử triết học luôn chỉ là Zeitigung thời gian hóa của những ‘khoảnh khắc’ như vậy trong những khoảng thời gian và nét vẽ xa xôi, những khoảnh khắc không bao giờ được biểu lộ với tư cách bản chất thực sự của chúng. Nhưng năng suất của chủ thể này - theo nghĩa siêu nghiệm, như thường lệ đối với một điều gì đó trọng tâm về mặt triết học, đã xuất hiện ở đâu đó trong tất cả thực tại triết học. Ví dụ, tôi xin dẫn lời Heraclitus (Đoạn 115): ψυχῆς ἐστι λόγος ἑωυτὸν αὔξων psyches esti logos heauton auxon Linh hồn chính là Lý trí tự Trưởng thành; Dasein là thứ hiện hữu tự làm giàu cho chính mình theo cách hiểu biết. Trong tự thân Dasein về bản chất là khả tính nội tại nguyên thủy làm giàu; Dasein luôn mang đặc tính là-giàu-hơn, đặc tính của sự vượt trội.
§ 13. Siêu việt Thời gian hóa trong Thời tính và Bản chất của Cơ sở
Thời tính tự thời gian hóa chủ yếu từ tương lai. Điều này có nghĩa là toàn thể xuất-thân của thời tính, và do đó nhất tính của chân trời, được xác định chủ yếu từ tương lai. Đó là cách nói siêu hình rằng thế giới, vốn không có gì khác hơn là chỉ dựa trên toàn thể tính xuất-thân của chân trời thời gian, tự thời gian hóa chủ yếu từ cái ‘vì-lợi-ích-của’. Cái ‘vì-lợi-ích-của’ này, trong mỗi trường hợp, là cái ‘vì-lợi-ích-của’ của ý chí, của tự do, tức là của sự siêu việt hướng tới chính mình. Nhưng cái ‘vì-lợi-ích-của’ này chỉ có khả tính nội tại của sự hướng tới chính mình theo phương thức ràng buộc chỉ trong thời gian hóa xuất-thân của việc làm-cho-hiện-diện nguyên thủy, tức là trong tương lai mà trong đó, hay nói đúng hơn, với tư cách là cái mà sự vận động ngược chiều của Dasein tự cấu thành. Nhưng về bản chất, tương lai không phải là một xuất-thân cô lập hay thậm chí tự cô lập. Ngược lại, càng mang tính tương lai nguyên thủy hơn, thì thời tính càng mang tính hồi quy hơn, và bằng cách này toàn bộ thời tính và cái thời gian hóa của chân trời xuất-thân của nó diễn ra. Hiện-hữu-trong-thế-giới, siêu việt hướng tới thế giới, tự thời gian hóa chính nó với tư cách thời tính và chỉ khả thể theo cách này. Điều đó ngụ ý rằng gia nhập-thế giới chỉ xảy ra nếu thời tính tự thời gian hóa chính nó.
[Tr.212] Và chỉ khi điều này xảy ra thì các hiện hữu mới có thể tự hiện thân như là cách hiện hữu. Nhưng chừng nào điều này chỉ khả thể trên cơ sở hiểu-biết-về-hiện-hữu, thì khả tính hiểu-biết-về-hiện-hữu phải nằm trong thời gian hóa của thời tính. Các hiện hữu gia nhập vào ‘thời gian’ trong và cùng với thời gian hóa của thời tính và sự gia-nhập-thế-giới của các hiện hữu; các hiện hữu được lý giải và xác định là mang tính nội-thời gian. Bởi vì sự kiện gia-nhập-thế-giới của các hiện hữu là sự kiện nguyên thủy và về bản chất là thời gian hóa, nên ngay cả trong thái độ tiền triết học đối với các hiện hữu và trong sự xác định tiền Hữu thể luận thông thường về Hữu thể, vẫn có xu hướng xác định Hữu thể bằng cách quy chiếu vào thời gian. Trong xu hướng bí ẩn và không hề tùy tiện để lý giải các hiện hữu với tư cách là nội thời gian, ngoại-thời gian và siêu-thời gian, chúng ta có bằng chứng về nguyên sử siêu hình của Dasein như là thời tính. Dasein như là thời tính do đó tự đặt ra nhiệm vụ lý giải chính mình trong thời gian hóa của nó.
Nói cách khác, siêu hình học thuộc về bản chất của các hiện hữu người. Và vì lý do này, Dasein con người, về bản chất, có Vor-liebe xu hướng thiên về siêu hình học. Chúng ta cũng có thể nói rằng, tất cả những gì tồn tại đều đã là một quá trình triết học hóa. Triết học, như người ta vẫn luôn được biết, không nên bắt nguồn từ nơi khác, mà phải tự đặt cơ sở cho chính nó. Cái ‘tự’ này phát sinh bởi vì triết học về bản chất thuộc về Selbstsein Vị thế Tự ngã của Dasein. [Trong triết học của Martin Heidegger đặc biệt là trong tác phẩm Hữu thể và Thời gian, Selbstsein Vị thế Tự ngã không phải là một hiện hữu cố định hay một linh hồn bất biến. Đó là cách thức cụ thể mà Dasein chủ động nắm lấy Hữu thể của chính mình và định hình nó thông qua những ý định và hành động của riêng họ. Heidegger chia Selbstsein Vị thế Tự ngã thành hai phương thức hiện hữu cơ bản: 1). Selbstsein Vị thế Tự ngã không chân thực cái ‘chúng/họ’ - trong cuộc sống hàng ngày, Dasein thường lạc lối trong thế giới sự vật và trong các tương tác với kẻ khác. cái ‘chúng/họ’ - chúng ta định hướng bản thân theo các quy ước, kỳ vọng và xu hướng xã hội ‘Đứa làm thế này’, ‘Kẻ nói thế kia’; Entfremdung Sự tha hóa - Dasein vô thức chấp nhận các tiêu chuẩn ngoại lai. Selbstsein Vị thế Tự ngã chân thực vẫn ẩn giấu; trong cuộc sống hàng ngày, cá nhân bị tha hóa ‘với chính mình’. 2). Selbstsein Vị thế Tự ngã chân thực Die Entschlossenheit Quyết tính: Bản ngã chân thực không đạt được thông qua việc rút lui khỏi thế giới, mà thông qua một lập trường có ý thức trong thế giới. Das Gewissen Lương tâm và die Schuld Tội lỗi: Lương tâm kêu gọi Dasein từ cái ‘chúng/họ’ và đối mặt với nó bằng chính Schuldhaftigkeit Tính Tội lỗi của mình: Schuldhaftigkeit im Sinne des Nicht-aus-sich-selbst-sei-Könnens - Tội lỗi theo nghĩa Không-thể-tự-tồn-tại. Entschlossenheit Quyết tính: Dasein nhận ra tình trạng bị ném vào hoàn cảnh của chính mình - hoàn cảnh không thể thay đổi - và chủ động nắm bắt Möglichkeiten các Khả tính. Nó gánh vác Verantwortung trách nhiệm cho sự tồn tại của chính mình. Der Tod Cái chết như một Khả tính: Bằng cách dự đoán sự kết thúc den Tod của chính mình như một khả tính không thể tránh khỏi, Dasein bị ném trở lại chính mình. Điều này giải phóng nó khỏi những ràng buộc hời hợt và cho phép hành động chân thực, tự chịu trách nhiệm. Tóm lại, đối với Heidegger, Selbstsein Vị thế Tự ngã không phải là một trạng thái mà người ta chỉ đơn thuần sở hữu, mà là một nhiệm vụ liên tục. Đó là quá trình Sich-selbst-Entwerfens ‘tự thiết kế’, trong đó cá nhân phải tự do lựa chọn giữa việc chỉ tuân theo số đông hoặc một cuộc sống chân thực, tự quyết định. HHN] Trên thực tế, không có nghĩa đào tạo triết học là hoàn toàn cần thiết, cũng như ngược lại, nghiên cứu triết học hay xuất hiện một khối văn liệu tự xưng triết học, khác với việc triết lý hóa, không đảm bảo cho sự tồn tại của triết học. Nhưng, để tồn tại, mọi thứ chân chính đều cần có hình thức. Không có một triết học thuần túy nào, cũng không có một thứ ngụy biện nào độc quyền hoàn toàn. Cả hai cùng thuộc về một ‘nền văn hóa’ lịch sử cụ thể, có thể tồn tại theo nhiều cách khác nhau.
Cách thức mà chúng tôi đề xuất về sự tự khẳng định cơ sở của triết học không thể được tiếp tục ở đây. Mục đích của chúng tôi lại khác, mặc dù không kém phần quan trọng. Cuối cùng, chúng tôi đã làm sáng tỏ mối liên hệ thiết yếu giữa siêu việt và thời tính, mà chúng tôi đã tìm kiếm những đặc điểm chính. Các hiện hữu bước-vượt-lên trong siêu việt, được thực hiện hướng tới mọi chiều kích, được đặt nền tảng trong cấu thành xuất-thân của thời tính. Bước-sang-thế giới không có nghĩa gì khác ngoài việc nhất tính xuất-thân của thời tính, với tư cách nhất tính của hiện-hữu-bị-cuốn-đi, có một chân trời được thời gian hóa chủ yếu từ tương lai, cái vì-lợi-ích-của: thế giới. Siêu việt là hiện-hữu-trong-thế-giới. Nhưng chúng ta đã nỗ lực minh định về phương diện siêu hình về siêu việt tính nhằm mục đích tiết lộ bản chất của cơ sở. Tuy nhiên, bản chất của cơ sở [tr.213] là cả một vấn đề, bởi vì việc đưa ra Begründung und Begründbarkeit các lý tính và tính hợp lý lại thuộc về chân lý. Nhưng, nếu hiểu đúng đắn và xem xét một cách phổ quát, thì chân lý là chủ đề của logic. Làm rõ bản chất của cơ sở, hoặc con đường dẫn đến đó, không chỉ cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về bản chất này, mà đồng thời còn giúp chúng ta nhận ra rằng logic không gì khác ngoài siêu hình học của chân lý.
Vậy thì bản chất của cơ sở là gì? Điều quan trọng không kém, thậm chí còn quyết định hơn cả một câu trả lời thẳng thắn, có vẻ trấn an và dễ hiểu cho câu hỏi này, là sự quen thuộc với cách thức nó được hình thành. Đó là vì câu trả lời chỉ có thể được đưa ra bằng cách đi qua và lặp lại con đường của câu hỏi. Tuy nhiên, giờ đây, cần phải cố gắng trả lời câu hỏi về bản chất của cơ sở, nói cách khác, với tất cả mọi dè dặt mà bất kỳ câu trả lời nào như vậy đều chứa đựng khi được coi là một định nghĩa và một tuyên bố riêng lẻ. Khi tìm hiểu về bản chất của cơ sở, chúng ta không tìm kiếm những cơ sở cụ thể cho một điều gì đó, mà đang tìm kiếm sự thấu hiểu về ý nghĩa của cơ sở nói chung, về cách thức mà cơ sở theo đúng nghĩa vốn dĩ khả thể, và điều đó có nghĩa là nó cần thiết về mặt siêu hình như thế nào. Việc tìm hiểu về bản chất của cơ sở có thể được đưa vào một công thức, trong đó vấn đề được hình thành như sau: Không chỉ về mặt thực tế mà còn về bản chất, với tư cách Dasein, tại sao chúng ta lại hỏi về lý do? Tại sao lại có bất cứ điều gì như lý do tại sao và bởi vì sao? Bởi vì Dasein tồn tại, tức là bởi vì sự siêu việt trở nên thời gian hóa. Tuy nhiên, siêu việt là hiện-hữu-hướng-về-tự-thân mang tính xuất-thân theo phương thức ‘vì-mục-đích-của-tự-thân. Cái vì-mục-đích-của, như một đặc tính cơ bản của thế giới, tức là của sự siêu việt, là hiện tượng nguyên thủy của cơ sở theo đúng nghĩa. Bởi vì chúng ta tồn tại theo cách thức của một tồn tại siêu việt, theo cách thức hiện-hữu-trong-thế-giới, và cái cách thức đó là thời gian hóa, do đó chúng ta đặt câu hỏi về lý do tại sao. Nhưng tuyên bố này vẫn còn gây hiểu lầm. Điều đó không có nghĩa là, bởi vì chúng ta thực sự tồn tại, nên chúng ta cũng quan tâm đến nguồn cội và đích đến của mình. Hơn nữa, câu hỏi là: Về mặt siêu hình, mối quan tâm này nảy sinh từ đâu, mối quan tâm mà trong mọi trường hợp đều liên quan đến tất cả các hiện hữu chứ không chỉ riêng đối với bản thân ta? Nguồn cội của bất cứ điều gì giống như cơ sở đều nằm ở bản chất của tồn tại được xác định là siêu nghiệm, tức là ở tình trạng bị-cuốn-vào cái vì-lợi-ích-của-tự-thân của Dasein. Nếu vì-lợi-ích-của, theo đúng nghĩa, là hiện tượng nguyên thủy của cơ sở, thì cơ sở vượt lên trên tất cả mọi hiện hữu theo tất cả các modi essentiae phương thức tồn tại và existentiae mọi tồn tại khác nhau của chúng.
Cái vì-lợi-ích-của không phải là thứ trôi nổi, mà nó tự thời gian hóa trong tự do. Với tư cách tự-phóng-chiếu mang tính xuất-thân lên năng lực cho-hiện-hữu của chính nó [tr.214], thì tự do hiểu chính nó từ năng lực này và đồng thời coi năng lực này như một trách nhiệm. Do đó, tự do là nguồn cội của bất cứ thứ gì giống như cơ sở. Chúng ta có thể tóm gọn điều này bằng cách nói rằng tự do là bản chất siêu hình của Dasein siêu việt, đang tồn tại. Nhưng tự do với tư cách là tự do siêu việt hướng tới cơ sở. Là tự do là hiểu chính mình từ năng-lực-là của chính mình; nhưng ‘chính mình’ và ‘của riêng mình’ không được hiểu theo cách cá nhân hay vị kỷ, mà là phương diện siêu hình. Chúng được hiểu trong những khả tính cơ bản của Dasein siêu việt, trong năng-lực-tồn-tại-với với những kẻ khác, trong năng-lực-tồn-tại bởi những sự vật vẫn tồn tại, trong năng-lực –tồn-tại thực tế hiện sinh hướng tới chính mình trong mỗi trường hợp.
Lý giải bản thân từ cái vì-lợi-ích-của có nghĩa là hiểu bản thân từ nền tảng. Cách thức tự lý giải này hẳn đã tự biến đổi thành nhiều khả tính cơ bản của chính nó theo cái mà tôi gọi là sự lan tỏa nội tại của Dasein (§ 10). Bản chất của cơ sở tự phân hóa thành nhiều loại ‘nền tảng’ khác nhau (ví dụ: bốn nguyên nhân), không phải vì có những hiện hữu khác nhau, mà vì bản chất siêu hình của Dasein với tư cách là siêu việt có khả tính trước tiên thiết lập khả năng tiếp cận-thế giới cho các hiện hữu khác nhau. Và bởi vì Dasein siêu việt chính nó, Dasein có thể được đặt nền tảng tự lý giải của chính nó theo những hướng khả thể khác nhau có thể theo những cách khác nhau, mà không bao giờ theo một cách duy nhất. Với tư cách là một hiện hữu, Dasein thực tế có nhiều khả tính khác nhau để hiểu và nhận thức mang tính ontic thực hữu (lịch sử, sinh học, tâm lý học, vũ trụ học). Nhưng đa tính của nền tảng khả thể, tính đa dạng của các cách lý giải khả thể về Dasein, thực sự phải được diễn giải tự thân như một tính đa dạng và như một tính đa dạng mạch lạc. Cần phải chỉ ra cách thức mà bản chất của Dasein với tư cách là Dasein thực tế đòi hỏi, không chỉ đối với chính nó mà còn trong toàn bộ phạm vi siêu việt khả thể của nó, một loạt các cách thức tìm tòi, nhận thức, đặt nền tảng và chứng minh. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ có manh mối dẫn đường khi nó trở nên rõ ràng về nguồn gốc bản chất của cơ sở, cụ thể là trong sự tự do của Dasein với tư cách tự do hướng tới cơ sở. Và chỉ có loại tự do này mới ‘là’ và tự hiểu mình như là nguồn cội của trách nhiệm. Bởi vì cái ‘vì-lợi-ích-của’ là sự phản kháng vì-lợi-ích-của-tự-thân, nên tự do, do nhu cầu thiết yếu, cuối cùng là cơ sở của cơ sở.
Thậm chí chúng ta còn hỏi về lý do tại sao theo chính hình thức này: Tại sao lại là lý do tại sao? Và vì vậy, dường như người ta có thể hỏi thêm về lý do tại sao của lý do tại sao, v.v. Bản thân việc đặt câu hỏi thêm như vậy có vẻ như là một sự triệt để không bao giờ dừng lại, nhưng đó chỉ là một hình thức bề ngoài và thực chất là tình trạng thiếu suy nghĩ. Bởi vì trong câu hỏi về lý do tại sao của [tr.215] lý do tại sao, không chỉ đơn giản là hai lý do tại sao cùng nhau trong sự kết hợp hình thức, mà sau đó sự kết hợp này có thể được lặp lại theo một cách hình thức tương ứng. Thay vào đó, lý do tại sao đặt câu hỏi, tức là lý do tại sao đầu tiên hỏi về lý do tại sao thứ hai, được đặt nền tảng như vậy trong cái được hỏi, tức là trong lý do tại sao mà nó đặt ra câu hỏi. Do đó, cuối cùng, chính lý do tại sao đặt câu hỏi mới là điều cần được định nghĩa, và định nghĩa đó không gì khác hơn là bản chất của lý do tại sao được đưa ra câu hỏi. Trong việc làm rõ bản chất của cơ sở nói chung, chúng ta đã nêu ra hai vùng vấn đề: 1) Làm rõ nguồn cội đa tính của cơ sở, các hình thức của cơ sở, tức là sự phân bố của cơ sở; 2) Diễn giải về sự co rút thiết yếu của cơ sở trở lại một cơ sở duy nhất (tình trạng bị ném vào chính nó). Trình trạng co rút của cơ sở này, tức là sự quay vòng của Dasein, là một vấn đề liên quan mật thiết nhất với vấn đề thứ nhất, như được thể hiện bởi ‘vòng tròn’ lý giải (xem Hữu thể và Thời gian). Chúng ta không thể đi sâu hơn vào cả hai nhóm vấn đề ở đây. Hơn nữa, chúng ta đang cố gắng làm rõ bản chất của cơ sở bằng một bước nữa, để đạt được mục tiêu của khóa học, đó là thấu hiểu logic như là siêu hình học của chân lý.
Hiện tượng nguyên thủy của cơ sở là cái vì-lợi-ích-của, vốn thuộc về siêu việt. Duy trì bản thân trong cái vì-lợi-ích-của và ràng buộc bản thân với nó, tự do là tự do hướng tới cơ sở. Tuy nhiên, hiện hữu-tự do là hiểu bản thân từ khả tính. Như đã nói trong phân tích về khái niệm thế giới, trong hiện tượng thế giới có cái mà chúng ta gọi là ‘vượt quá giới hạn’. Tự do, với tư cách là trạng thái xuất-thân hiện-hữu-hướng-tới-các-khả-tính, tự nó là một sự chuyển mình sang các khả tính. Vì vậy, chừng nào tự do -hiểu theo nghĩa siêu nghiệm - cấu thành bản chất của Dasein, thì Dasein, với tư cách đang tồn tại, về bản chất luôn luôn ‘vượt qua’ bất kỳ hiện hữu hiện thực nào. [Ghi chú về Die Überschreitung des Transzendentalen Tính Vượt qua của cái siêu nghiệm trong triết học của Martin Heidegger biểu thị sự chuyển hướng từ nhận thức luận Kant cổ điển sang Hữu thể luận. Thay vì hỏi chủ thể nhận thức xây dựng các đối tượng như thế nào, Heidegger hỏi làm thế nào Sein selbst das Dasein transzendiert (übersteigt) Hữu thể tự nó siêu việt Dasein, từ đó cho phép nó hiểu thế giới. 1). Dasein như là sự siêu việt Trong Hữu thể và Thời gian, Dasein con người về bản chất được đặc trưng bởi sự siêu việt. Nó liên tục ‘vượt qua’ sự tồn tại đơn thuần (vật chất) để hướng tới chính Bản thể. Tính siêu việt này là điều kiện cơ bản để chúng ta có thể gặp gỡ thế giới và vạn vật. 2). Die Überwindung des Subjekt-Objekt Vượt qua khoảng cách Chủ thể-Khách thể: Trái ngược với triết học siêu nghiệm truyền thống như của Kant hay Husserl, vốn giả định một chủ thể lý thuyết, Heidegger bắt đầu với beim In-der-Welt-sein hiện-hữu-trong-thế giới. Die Transzendenz ist kein theoretischer Erkenntnisakt, sondern eine praktische, existenziale Grundverfassung Siêu việt không phải là một hành động nhận thức lý thuyết, mà là một điều kiện cơ bản thực tiễn, hiện sinh. Con người luôn luôn tham gia vào thế giới theo một cách siêu việt. 3). Zeitlichkeit als Horizont Thời tính như là Chân trời, Die eigentliche Dimension dieser Überschreitung ist die Zeitlichkeit Chiều kích thực sự của sự siêu việt này là Thời tính. Die Transzendenz des Daseins auf das Sein geschieht primär durch die Zeit Sự siêu việt từ các Daseins/Hiện hữu đến Hữu thể diễn ra chủ yếu thông qua Thời gian. Die Zeitlichkeit - Ekstasen der Zeit: Zukunft, Gewesenheit, Gegenwart) bildet den transzendentalen Horizont, von dem her wir überhaupt Sein verstehen können Thời tính: Xuất-thân của Thời gian: tương lai, quá khứ, hiện tại - tạo thành chân trời siêu việt mà từ đó chúng ta có thể hiểu được Hữu thể. 4). Die Ontologische DifferenzDie Überschreitung gipfelt in der ontologischen Differenz – der strikten Unterscheidung zwischen dem Seienden (den Dingen) und dem Sein selbst. Die Transzendenz zielt auf das Sein, das jedoch kein weiteres Seiendes ist, sondern den Grund der Möglichkeit von Seienden darstellt Khác biệt Hữu thể luận - Siêu việt đạt đến đỉnh điểm trong sự khác biệt Hữu thể luận—sự phân biệt nghiêm ngặt giữa các thực thể sự vật và tự thân Hữu thể. Siêu việt hướng đến Hữu thể, tuy nhiên, Hữu thể không phải là một hiện hữu khác, mà đúng hơn là đại diện cho Cơ sở/Nền tảng của khả tính tồn tại của các Hiện hữu. 5). Die Kehre und das SeinsschicksalIm späteren Denken (der sogenannten "Kehre") ändert sich die Perspektive: Nicht mehr primär das Dasein transzendiert zum Sein, sondern das Sein selbst ereignet sich und schickt sich dem Menschen zu (Geschichte des Seyns). Die Überschreitung wird hier zu einem vom Sein selbst initiierten Geschehen. Bước ngoặt và số phận của Hữu thể, trong tư tưởng sau này, cái gọi là ‘bước ngoặt’, quan điểm thay đổi – Dasein/Hiện hữu không còn chủ yếu siêu việt đến Hữu thể nữa, mà chính Hữu thể xuất hiện và hướng đến con người - lịch sử của Hữu thể, siêu việt trở thành một sự kiện được khởi xướng bởi chính Hữu thể. HHN]
Trên cơ sở sự chuyển mình này, Dasein, trong mỗi trường hợp, đều vượt ngoài các hiện hữu, như chúng ta nói, nhưng nó vượt ngoài theo cách mà trước hết, nó trải nghiệm các hiện hữu trong sự kháng cự của chúng, mà Dasein siêu việt lại bất lực trước điều đó. Trạng thái bất lực này mang tính siêu hình, tức là phải được hiểu là có tính bản chất; nó không thể được xóa bỏ bằng cách viện dẫn sự chinh phục thiên nhiên, bằng công nghệ, thứ đang hoành hành trong ‘thế giới’ ngày nay như một con thú không bị ràng buộc; bởi vì sự thống trị thiên nhiên này là bằng chứng thực sự cho sự bất lực siêu hình của Dasein, thứ chỉ có thể đạt được tự do trong lịch sử của nó. (Lưu ý: Chắc chắn rằng, khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn không phải là hai nhóm khoa học khác nhau, khác biệt ở sự phát triển các khái niệm và phương pháp chứng minh, hay khác biệt ở chỗ nhóm này chuyên về axit sulfuric còn nhóm kia chuyên về thơ ca. Thay vào đó, chúng [tr.216] khác nhau như những khả tính cơ bản của sự gặp gỡ tự do giữa bản chất siêu hình của Dasein với thế giới của nó, mà tự bản thân nó là một và giống nhau. Chỉ vì, trong hành vi ý hướng tính thực tế của chúng ta đối với các hiện hữu thuộc mọi loại, chúng ta vượt lên trước, quay trở lại và tiếp cận các hiện hữu từ những khả tính, chỉ vì lý do này mà chúng ta mới có thể để cho bản thân các hiện hữu là những gì và như thế nào mà chúng vốn có. Và điều ngược lại cũng đúng. Bởi vì, với tư cách là tồn tại thực tế, đã siêu việt, trong mỗi trường hợp, gặp gỡ các hiện hữu, và bởi vì, với sự siêu việt và gia nhập thế giới, tình trạng bất lực, được hiểu theo nghĩa siêu hình, được biểu lộ, vì lý do này Dasein, chỉ có thể bất lực về phương diện siêu hình khi tự do, phải giữ mình trong điều kiện khả tính của tình trạng bất lực của nó, trong tự do để tạo dựng cơ sở. Và chính vì lý do này mà về cơ bản chúng ta đặt mọi hữu thể, với tư cách hữu thể, vào vòng nghi vấn về nguồn cội của nó.
Chúng ta tìm hiểu lý do tại sao trong cách ứng xử của mình đối với mọi hiện hữu, bởi vì trong chính bản thân chúng ta, khả tính cao hơn hiện thực, bởi vì với chính Dasein, cái hữu thể cao hơn này trở nên tồn tại. Cái Hữu-thể-cao-hơn của cái khả thể này, so với hiện thực, chỉ tồn tại khi thời tính tự thời gian hóa chính nó. Tuy nhiên, nếu người ta nhìn thấy trong thời gian hóa của thời tính cái Hữu thể của cái gì đó hữu thể hơn những hữu thể khác, thì đúng là πρότερον ἐνέργεια δυνάμεώς ἐστιν (Aristotle, Siêu hình học e 8, 1049 b 5): ‘Hiện thực có trước khả tính’ - tức là, chính xác bởi vì khả tính cao hơn hiện thực. Xét về bản chất siêu hình, Dasein là kẻ tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi ‘tại sao’. Con người không phải là kẻ chỉ biết phủ định (như Scheler đã nói trong một trong những tác phẩm cuối cùng của ông), nhưng cũng không phải là kẻ chỉ biết khẳng định. Con người đúng hơn là kẻ đặt câu hỏi ‘tại sao’. Nhưng chính vì con người vốn dĩ như vậy, nên họ mới có thể và phải, trong mỗi trường hợp, không chỉ nói là có hoặc không, mà về bản chất phải là có và không. Trong logic học thuật truyền thống, những điều tầm thường tưởng chừng vô hại được tìm thấy dưới các thuật ngữ ‘phán đoán khẳng định và phủ định’ cuối cùng đều vận hành trong chiều kích này.
__________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét