Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Jacques Derrida và Giải cấu trúc (I)



Jacques Derrida và Giải cấu trúc (I)

 

Jack Reynolds

Người dịch: Hà Hữu Nga

Jacques Derrida là một trong những nhà triết học nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Ông cũng là một trong những người sáng tác nhiều nhất. Đứng tách hẳn ra khỏi các truyền thống và các trào lưu triết học đi trước ông trong nền cảnh trí thức Pháp (hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh, và cấu trúc luận), ông đã phát triển một chiến lược gọi là “giải cấu trúc” vào giữa những năm 1960. Mặc dù không thuần túy mang tính phủ định, nhưng giải cấu trúc chủ yếu vẫn liên quan đến một cái gì đó có giá trị tương đương với một sự phê phán truyền thống triết học phương Tây. Giải cấu trúc được thể hiện một cách khái quát thông qua việc phân tích các văn bản cụ thể. Nó tìm cách bóc trần, và sau đó lật nhào nhiều đối lập nhị nguyên khác nhau vẫn là giá đỡ cho những cách thức tư duy chủ đạo của chúng ta – hiện diện/vắng mặt; nói/viết, ...v.v.

Giải cấu trúc tối thiểu liên quan đến hai phương diện: văn chương và triết học. Phương diện văn chương liên quan đến việc diễn giải văn bản, trong đó hoạt động sáng tạo về cơ bản là phát hiện ra các nghĩa ẩn dấu trong văn bản. Phương diện triết học quan tâm đến mục tiêu chủ yếu của giải cấu trúc: “siêu hình học của sự hiện diện”, hoặc đơn giản chỉ là siêu hình học. Bắt đầu từ một quan điểm của Heidegger, Derrida cho rằng siêu hình học tác động đến toàn bộ triết học từ Plato trở đi. Siêu hình học tạo ra các đối lập nhị nguyên và cài đặt một hệ thống thứ bậc không may là lại chỉ dành ưu quyền cho một phương diện của mỗi hệ thống phân đôi (hiện diện trước vắng mặt, nói trước viết, ...vv.).

Chiến lược giải cấu trúc là lột trần mặt nạ của các cách thức quá cặn lắng của tư duy, và nó chủ yếu vận hành thông qua hai bước – đảo ngược các phân đôi và cố gắng làm rã hủy bản thân các phân đôi đó. Chiến lược ấy còn chỉ rõ là có những yếu tố không thể quyết định được, có nghĩa là có một cái gì đó không thể tương thích với mặt này hoặc mặt kia của một phân đôi hoặc đối lập. Tính chất không thể quyết định được phản hồi vào giai đoạn sau của phản ánh Derrida, khi nó được áp dụng để vén mở các nghịch lý gia nhập vào các quan niệm chẳng hạn như quà biểu hoặc lòng hiếu khách, mà các điều kiện của chúng về tính khả thể đồng thời cũng chính là các điều kiện của chúng về tính bất khả thể. Vì vậy nó không thể quyết định được liệu hành động biếu tặng đích thực hoặc lòng hiếu khách là khả thể hay bất khả thể. 

Trong giai đoạn này, cha đẻ của giải cấu trúc chú ý đến các chủ đề đạo đức. Đặc biệt là chủ đề về trách nhiệm đối với kẻ khác (chẳng hạn Chúa hoặc một người yêu thương nào đó) đã khiến cho Derrida rời bỏ tư tưởng cho rằng trách nhiệm gắn liền với một hành vi mang tính công khai và có thể được biện minh một cách có lý bằng các nguyên tắc phổ quát. Bằng việc suy ngẫm về các tích truyện thuộc truyền thống Do Thái, ông đã làm sáng tỏ được tính độc nhất tuyệt đối của trách nhiệm với kẻ khác. 

Giải cấu trúc có một tác động to lớn đến tâm lý, lý thuyết văn chương, văn hóa học, ngôn ngữ học, xã hội học, nữ quyền luận và nhân học. Lơ lửng ở các khoảng cách giữa triết học và phi triết học (hoặc triết học và văn học), không khó để nhận ra tại sao vấn đề lại như vậy. Tuy nhiên mục đích của bài viết này là cố gắng giới thiệu được ý nghĩa triết học của tư tưởng Derrida.

 

1. Cuộc đời và Tác phẩm


Derrida sinh ra trong một gia đình Do Thái tại Algiers năm 1930, trong môi trường có phân biệt đối xử. Trong thực tế ông đã phải rời bỏ hoặc bị buộc phải rời bỏ ít nhất là hai trường học trong độ tuổi đến trường chỉ đơn giản vì ông là người Do Thái. Ông đã bị loại khỏi một trường học vì trường đó chỉ được nhận hạn chế 7% người Do Thái, và sau đó ông rời bỏ một trường học khác vì phong trào bài Semite, gồm cả người Do Thái và Ả Rập. Trong khi Derrida từ chối bất cứ nhận thức quy giản nào về công trình của ông dựa trên tiểu sử của bản thân ông thì người ta vẫn có thể cho rằng chính kinh nghiệm cuộc đời ông đã có vai trò to lớn trong sự kháng cự của ông đối với tầm quan trọng của kẻ ngoài lề, và kẻ khác trong tư tưởng sau này của ông.

Đã hai lần Derrida bị người ta từ chối một vị trí công việc tại ngôi trường Ecole Normale Superieure danh giá (nơi Sartre, Simone de Beauvoir và đa số trí thức và các học giả nổi tiếng người Pháp bắt đầu sự nghiệp), nhưng cuối cùng ông cũng được chấp nhận vào thể chế ở độ tuổi 19. Vì vậy, ông rời khỏi Algiers để đến Pháp, và ngay sau đó ông đã có vai trò chính yếu trong tờ tạp chí cánh tả Tel Quel. Công trình triết học đầu tiên của Derrida là về hiện tượng học nói chung, và quá trình ông được đào tạo để trở thành nhà triết học chủ yếu là thông qua lăng kính Husserl. Những nguồn cảm hứng quan trọng khác cho các tư tưởng buổi đầu của ông còn bao gồm Nietzsche, Heidegger, Saussure, Levinas và Freud. Derrida thừa nhận món nợ với tất cả các nhà tư tưởng đó trong quá trình xây dựng cách tiếp cận của ông đối với các văn bản, sau đó đã trở nên nổi tiếng là “giải cấu trúc”.

Năm 1967, Derrida đã thực sự trở thành triết gia quan trọng của thế giới. Ông công bố ba văn bản trọng yếu là De la Grammatologie, L'écriture et la différence, và La Voix et le phénomène. Tất cả các công trình này đều có ảnh hưởng vì những lý do khác nhau, nhưng nối tiếng nhất vẫn là De la Grammatologie (sẽ được phân tích kỹ hơn trong bài viết này). Trong De la Grammatologie, Derrida đã khai mở và sau đó đào sâu vào sự đối lập nói/viết mà ông cho là một nhân tố có ảnh hưởng lớn trong tư tưởng phương Tây. Mối bận tâm của ông với ngôn ngữ trong văn bản này rất điển hình cho các công trình ban đầu của ông, và kể từ khi công bố các văn bản này và các văn bản chủ yếu khác, gồm có La Carte postale. Paris: Flammarion; Spectres de Marx. Paris: Galilée; Politiques de l'amitié. Paris: Galilée), giải cấu trúc đã dần dần vận động từ việc đóng vai trò chủ yếu ở Châu Âu lục địa đến việc trở thành một tay chơi quan trọng trong bối cảnh triết học Anglo – American. Đặc biệt là trong lĩnh vực phê bình văn chương, và nghiên cứu văn hóa, phương pháp phân tích văn bản của giải cấu trúc đã gợi hứng cho các lý thuyết gia như Paul de Man. Derrida cũng đã từng giảng dạy tại nhiều đại học trên khắp thế giới. Ông mất năm 2004.

Giải cấu trúc thường xuyên là chủ đề của một cuộc tranh luận nào đó. Khi Derrida được trao học vị tiến sĩ danh dự tại Cambridge năm 1992, đã có những tiếng gào rú phản đối của nhiều nhà triết học “phân tích”. Từ đó Derrida cũng có nhiều cuộc đối thoại với các nhà triết học như John Searle [Derrida J. 1998], trong đó giải cấu trúc đã bị chỉ trích thẳng thừng, mặc dù đôi khi thật không công bằng. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng từ ác cảm của các nhà tư tưởng ấy là giải cấu trúc đã thách thức triết học truyền thống ở một số cách thức quan trọng, và phần sau của bài viết này sẽ làm sáng tỏ lý do tại sao lại như vậy.

 

2. Chiến lược giải cấu trúc


Derrida, giống như nhiều lý thuyết gia Châu Âu đương đại luôn bận tâm với việc đào sâu vào các khuynh hướng đối lập đã xuất hiện rất nhiều trong truyền thống triết học phương Tây. Trong thực tế, nhị nguyên luận chính là thực đơn chính của giải cấu trúc, vì không có các hệ thống phân cấp và trật tự phụ thuộc thì có lẽ nó chẳng còn đất mà len vào. Giải cấu trúc là ký sinh ở chỗ thay vì tán thành một đại tự sự khác, hoặc lý thuyết về bản chất của thế giới trong đó chúng ta tham dự thì nó lại tự gò mình vào việc vặn vẹo các đại tự sự đã có, và vào việc vạch trần các hệ thống thứ bậc nhị nguyên luận mà người ta che đậy. Trong khi yêu sách của Derrida về việc ai đó đơn độc nói bên lề triết học bị đặt vấn đề nghi ngờ thì việc xem xét các yêu sách này lại rất quan trọng. Giải cấu trúc, một thứ gì đó bỉ ổi, là loại triết học chẳng nói về điều gì. Ở mức độ nhất định, có thể thấy rằng các mối quan tâm của Derrida thường mang tính triết học, thì rõ ràng chúng lại không phải là hiện tượng học (ông đảm bảo với chúng ta rằng công trình của ông được đọc đặc biệt chống Husserl, Sartre, và Merleau – Ponty) và chúng cũng không mang tính hữu thể học.

Giải cấu trúc, và nhất là giải cấu trúc sớm, vận hành bằng việc dấn thân vào các phân tích bền bỉ về các văn bản riêng biệt. Nó cam kết với việc phân tích ngặt nghèo nghĩa đen của một văn bản, nhưng cũng vẫn cam kết với việc phát hiện, trong đó nghĩa, có lẽ ở những góc khuất của văn bản (kể cả các chú thích), các vấn đề nội tại thực sự hướng đến các nghĩa thay thế. Vì vậy, giải cấu trúc phải thiết lập một phương pháp luận soi xét kỹ càng đến những vấn đề đáng chú ý mang tính mâu thuẫn rõ ràng (tính tương đồng và khác biệt) và một cách đọc về bất cứ văn bản derridienne nào có thể chỉ tái xác nhận khía cạnh nhị nguyên này. Derrida nói về khía cạnh đầu của chiến lược giải cấu trúc như là cái gì đó na ná với tính trung thực và một “khát vọng trở nên trung thực đối với các chủ đề và những đức tính táo gan của một suy tưởng” [Derrida J. (1967) 1978, p.84]. Tuy nhiên, đồng thời, giải cấu trúc cũng nổi tiếng vay nợ từ quan niệm “destruktive retrieve” – phục hủy của Martin Heidegger, và tìm cách khai mở các văn bản cho các nghĩa thay thế và thường bị kìm nén, tối thiểu thì cũng ngoại cư bộ phận đối với truyền thống siêu hình (cho dù cũng luôn luôn đính hôn bộ phận với nó). Khía cạnh bạo lực và tràn lấn của giải cấu trúc được minh họa bằng sự thúc đẩy nhất quán của Derrida để “sáng tạo bằng ngôn ngữ riêng của bạn nếu bạn có thể, hoặc muốn nghe ngôn ngữ của tôi; hãy sáng tạo nếu bạn có thể, hoặc muốn làm cho ngôn ngữ của tôi hiểu được” [Derrida J. 1996, p. 57]. Khi gợi ý rằng một diễn giải đáng tin cậy về ông phải vượt khỏi ông, Derrida đã cài đặt để sự sáng tạo thành một khía cạnh cực kỳ quan trọng của bất cứ cách đọc giải cấu trúc nào. Ông thiên về việc đưa ra những gợi ý hiểm hóc như “hãy đến đó, nơi bạn không thể đến, với cái bất khả, đó thực sự là cách duy nhất để đến hoặc đi” [Derrida J. 1995, p.75], và cuối cùng, công lao của một cách đọc giải cấu trúc bao gồm trong việc tiếp xúc sáng tạo với một văn bản khác không thể được coi là chỉ có tính trung thực hoặc là một sự vượt lấn tuyệt đối, mà đúng ra thì nó dao động giữa các nhu cầu nhị nguyên này. Tuy nhiên điều hấp dẫn về giải cấu trúc là ở chỗ mặc dù sự thật thì các diễn giải của Derrida về các văn bản cụ thể hoàn toàn triệt để, nhưng vẫn thường khó định vị được chính xác việc bình giải một văn bản kết thúc ở đâu, và đâu là nơi bắt đầu của khía cạnh quyết liệt hơn của giải cấu trúc. Derrida luôn luôn ngang ngạnh áp đặt những cách gọi “văn bạn của tôi”, “văn bản của anh” một cách quá lố trong các “văn bản” của ông. Đó một phần là vì thậm chí sẽ là có vấn đề khi nói về một “công trình” giải cấu trúc, vì giải cấu trúc chỉ làm sáng tỏ cái đã được bộc lộ trong chính văn bản đó rồi. Toàn bộ các yếu tố của một can thiệp giải cấu trúc cư ngụ trong “các nền tảng bị lờ đi” của một hệ thống vẫn đang tồn tại [Derrida J. 1989, p.72], và phương trình này không bị thay đổi bằng bất cứ một phương cách quan trọng nào cho dù “hệ thống” đó, cái hệ thống phải chứa đựng cái dấu vết phi-siêu hình của nó, hoặc các văn bản của một nhà tư tưởng cụ thể nào đó, cái hệ thống phải luôn luôn chứng thực về cái mà người ta đang cố loại trừ ấy có được hiểu là siêu hình học nói chung hay không [Derrida J. 1989, p.73].
________________________

Nguồn: Reynolds J. (2002) 2010. Jacques Derrida (1930—2004), Internet Encyclopedia of Philosophy, A Peer-reviewed Academic Resource. 

Tác giả: TS. Jack Reynolds là Phó Khoa, Phó Giáo sư và Điều phối viên Chương trình Triết học tại Đại học La Trobe, Melbourne, Victorya, Australia. Ông đã viết bốn cuốn sách: Chronopathologies: Chính trị của Thời gian trong Deleuze, Derrida, Triết học Phân tích Hiện tượng học (Lexington Books 2012), Triết học Phân tích so với Triết học Châu Âu: Luận chứng về các Phương pháp và Giá trị của Triết học (Acumen 2010, với James Chase), Merleau-Ponty và Derrida: gắn liền với tri giác cơ thểdị tính (Ohio năm 2004), Tìm hiểu về Chủ nghĩa hiện sinh (Acumen 2006). Ông cũng đồng chủ biên bốn bộ tuyển tập: Liên tục đồng hành với Chủ thuyết Hiện sinh (2011), Hậu Phân tích Siêu châu lục: Xuyên vượt Phân chia Triết học (liên tục năm 2010), Merleau-Ponty: Các khái niệm chủ chốt (Acumen 2008) và Nhận biết Derrida (Continuum 2004). Ông hiện đang nghiên cứu về liên chủ thể và nhận thức về những kẻ khác, dựa trên truyền thống hiện tượng cũng như các phát hiện về tâm lý học phát triển và khoa học nhận thức.

Tài liệu dẫn

Derrida J. 1962, 1978. Edmund Husserl’s ‘Origin of Geometry’: An Introduction, trans. Leavey, Pittsburgh: Duquesne University Press.

Derrida J. 1967, 1973. Speech and Phenomena’ and Other Essays on Husserl’s Theory of Signs, trans. Allison, Evanston: Northwestern University Press.

Derrida J. 1970. Ousia and Gramme: A Note to a Footnote in Being and Time, trans. Casey in Phenomenology in Perspective, ed. Smith, The Hague: Nijhoff.

Derrida J. 1974, 1986, 1995. Parages, Paris: Galilée, 1986. Points… Interviews, 1974-1995, ed. Weber, trans. Kamuf et al, Stanford: Stanford University Press.

Derrida J. 1972, 1981. Positions, trans. Bass, London: Athlone Press.

Derrida J. 1976, 1994. Nietzsche and the Machine: Interview with Jacques Derrida, (interviewer Beardsworth) in Journal of Nietzsche Studies, Issue 7, Spring 1994. Of Grammatology, trans. Spivak, Baltimore: John Hopkins University Press.

Derrida J. 1967, 1978. Writing and Difference, trans. Bass, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1981. Dissemination, trans. Johnson, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1982. Margins of Philosophy, trans. Bass, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1985. The Ear of the Other: Otobiography, Transference, Translation, trans. Kamuf, ed. McDonald, New York: Schocken Books.

Derrida J. 1986. Fors: The Anglish Words of Nicolas Abraham and Maria Torok, trans. Johnson, in The Wolfman’s Magic Word: A Cryptonomy, Abraham, N., & Torok, M., trans. Rand, Minneapolis: University of Minnesota Press.

Derrida J. 1989a. Memoires: for Paul de Man, trans. Lindsay, Culler, Cadava, & Kamuf, New York: Columbia University Press.

Derrida J. 1989b. Psyche: Inventions of the Other, in Reading De Man Reading, eds. Waters & Godzich, Minneapolis: University of Minnesota Press.

Derrida J. 1991. Eating Well or the Calculation of the Subject: An Interview with Jacques Derrida, in Who Comes After the Subject? eds. Cadava, Connor, & Nancy, New York: Routledge.

Derrida J. 1991-1995. The Gift of Death, trans. Wills, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1992a. Acts of Literature, ed. Attridge, New York: Routledge.

Derrida J. 1992b. Deconstruction and the Possibility of Justice, (inc. “Force of the Law”), eds. Cornell, Carlson, & Benjamin, New York: Routledge.

Derrida J. 1992c. Given Time: i. Counterfeit Money, trans. Kamuf, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1993a. Circumfessions: Fifty Nine Periphrases, in Bennington, G., Jacques Derrida, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1993b. Le Toucher: Touch/to touch him”, in Paragraph, trans. Kamuf.

Derrida J. 1993c. Memoirs of the Blind: The Self-Portrait and Other Ruins, trans. Brault & Naas, Chicago: University of Chicago Press.

Derrida J. 1994. Spectres of Marx: The State of the Debt, the Work of Mourning and the New International, trans. Kamuf, New York: Routledge.

Derrida J. 1995. On the Name (inc. “Passions”), ed. Dutoit, Stanford: Stanford University Press.

Derrida J. 1996. Monolingualism of the Other or the Prosthesis of Origin, trans. Mensh, Stanford: Stanford University Press.

Derrida J. 1997. Politics of Friendship, trans. Collins, New York: Verso.

Derrida J. 1998. Limited Inc. (inc. “Afterword”), ed. Graff, trans. Weber, Evanston: Northwestern University Press.

Derrida J. 1999. Adieu to Emmanuel Lévinas, trans. Brault & Naas, Stanford, California: Stanford University Press.

Derrida J. 2000a. Hostipitality in Angelaki: Journal of the Theoretical Humanities, Vol. 5, Number 3, Dec 2000.

Derrida J. 2000b. Le Toucher: Jean-Luc Nancy, Paris: Galilée.

Derrida, J., & Dufourmantelle, A. 2000. Of Hospitality, trans. Bowlby, Stanford: Stanford University Press.

Derrida J. 2001a. On Cosmopolitanism and Forgiveness, London: Routledge.

Derrida J. 2001b. The Work of Mourning, eds. Brault & Naas, Chicago: University of Chicago Press.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét