Maurice Merleau-Ponty
Người đọc: Hà Hữu Nga
[Tr.161] Do đó, chúng ta phải tránh nói rằng cơ thể chúng ta ở trong không gian, hoặc trong thời gian. Nó cư ngụ trong không gian và thời gian. Nếu bàn tay tôi vạch ra một đường đi phức tạp trong không khí, để biết vị trí cuối cùng của nó, tôi không cần phải cộng tất cả các chuyển động được thực hiện cùng hướng và trừ đi những chuyển động được thực hiện theo hướng ngược lại. ‘Mọi thay đổi có thể nhận dạng đều chạm đến ý thức đã được chất chứa các mối quan hệ của nó với những gì đã xảy ra trước đó, giống như trên đồng hồ tính tiền taxi, khoảng cách đã được quy đổi thành shilling và pence.97 Ở mỗi thời điểm, các tư thế và chuyển động trước đó cung cấp một tiêu chuẩn đo lường luôn sẵn có. Đó không phải là vấn đề về ‘bộ nhớ’ thị giác hay vận động về vị trí bắt đầu của bàn tay: tổn thương não có thể giữ nguyên bộ nhớ thị giác trong khi phá hủy nhận thức về chuyển động. Còn về ‘bộ nhớ vận động’, rõ ràng là nó khó có thể xác định được vị trí hiện tại của bàn tay, trừ khi tri giác tạo ra nó không lưu trữ trong đó một nhận thức tuyệt đối về ‘ở đây’, vì nếu không có điều này, chúng ta sẽ bị đẩy lùi từ ký ức này sang ký ức khác [tr.162] và không bao giờ có tri giác hiện tại. Cũng như nó nhất thiết phải ‘ở đây’, cơ thể nhất thiết phải tồn tại ‘ngay bây giờ’; nó không bao giờ có thể trở thành ‘quá khứ’, và nếu khi khỏe mạnh chúng ta không thể giữ lại ký ức sống động về bệnh tật, hoặc khi trưởng thành không thể giữ lại ký ức về cơ thể mình khi còn nhỏ, thì những ‘khoảng trống trong ký ức’ này chỉ đơn thuần thể hiện cấu trúc thời gian của cơ thể chúng ta. Ở mỗi khoảnh khắc kế tiếp của một chuyển động, khoảnh khắc trước đó không bị mất đi. Nó như thể được lồng ghép vào hiện tại, và tri giác hiện tại nói chung bao gồm việc kết hợp, dựa trên vị trí hiện tại của một người, chuỗi các vị trí trước đó, bao trùm lẫn nhau. Nhưng vị trí sắp tới cũng được bao phủ bởi hiện tại, và thông qua đó là tất cả những gì sẽ xảy ra trong suốt chuyển động. Mỗi khoảnh khắc của chuyển động bao trùm toàn bộ phạm vi của nó, và đặc biệt là khoảnh khắc đầu tiên, là sáng kiến chủ động, thiết lập mối liên hệ giữa ở đây và ở đằng kia, giữa hiện tại và tương lai mà các khoảnh khắc còn lại chỉ đơn thuần phát triển. Chừng nào tôi còn có một thân thể để hoạt động trong thế giới, thì không gian và thời gian, đối với tôi, không phải là một tập hợp các điểm liền kề, cũng không phải là một số lượng vô hạn các mối quan hệ được tổng hợp bởi ý thức của tôi, và nó kéo thân thể tôi vào đó. Tôi không ở trong không gian và thời gian, cũng không hình dung ra không gian và thời gian; tôi thuộc về chúng, thân thể tôi kết hợp với chúng và bao gồm chúng. Phạm vi bao gồm này là thước đo sự tồn tại của tôi; nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, nó cũng không bao giờ có thể bao trùm tất cả. Không gian và thời gian mà tôi cư ngụ, luôn luôn theo những cách khác nhau, là những chân trời không xác định chứa đựng những quan điểm khác. Việc tổng hợp cả thời gian và không gian là một nhiệm vụ luôn phải được thực hiện lại từ đầu. Kinh nghiệm chuyển động của cơ thể chúng ta không phải là một trường hợp tri thức đặc biệt; nó cung cấp cho chúng ta một cách tiếp cận thế giới và đối tượng, với một ‘praktognosia’,98 [Praktognosia là một thuật ngữ do Maurice Merleau-Ponty tạo ra để mô tả ‘kiến thức thể hiện’ hay sự hiểu biết tiền phản tư, kết hợp các gốc từ tiếng Hy Lạp: praktós (đã làm/đã hành động) và gnôsis (kiến thức). Nó biểu thị rằng cơ thể "biết" cách hành động hoặc điều hướng môi trường thông qua chuyển động và nhận thức, chứ không phải là sự biểu hiện trí tuệ. Từ nguyên và nguồn gốc tiếng Hy Lạp πρᾶξις praxis: Xuất phát từ πράσσειν prássein ‘làm’, ‘hành động’ hoặc ‘quản lý’ là một động từ tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa là ‘làm’, ‘thực hiện’, ‘hành động’ hoặc ‘xử lý’. Nó là nguyên gốc của các từ liên quan đến thực tiễn, thực hành và hành động, bao gồm cả pragmatic ‘thực dụng’ và practice ‘thực hành’ trong tiếng Anh hiện đại, đề cập đến hành động hoặc thực hành vật lý. Tiếng Hy Lạp γνῶσις gnôsis ‘tri thức’ hoặc ‘nhận thức’, đề cập đến sự hiểu biết hoặc nhận thức. Merleau-Ponty đã sử dụng thuật ngữ này để diễn đạt rằng ‘làm là biết’. Nó đề cập đến khả năng ‘Tôi có thể’ của cơ thể, một phản xạ trước khi suy nghĩ, phân biệt nó với khả năng ‘Tôi nghĩ’ của trí tuệ. Các khái niệm chính của Praktognosia: Tri thức thể hiện: Cơ thể hiểu thế giới bằng cách hiện hữu trong đó, thường hành động trước khi suy nghĩ (ví dụ: bắt một quả bóng). Sơ đồ cơ thể: Một nhận thức tự động, vô thức về tư thế và chuyển động của cơ thể trong mối quan hệ với môi trường. Vượt lên trên thuyết nhị nguyên: Nó thu hẹp khoảng cách giữa tâm trí và cơ thể, coi cơ thể như một chủ thể có tri thức, hành động trực tiếp trong môi trường của nó. HHN] cần được công nhận là nguyên bản và có lẽ là sơ cấp. Thân thể tôi có thế giới của nó, hoặc hiểu thế giới của nó, mà không cần phải sử dụng ‘chức năng biểu tượng’ hay ‘chức năng khách thể hóa’ của tôi. Một số bệnh nhân có thể bắt chước cử động của bác sĩ và đưa tay phải lên tai phải, tay trái lên mũi, miễn là họ đứng cạnh bác sĩ và theo dõi cử động của bác sĩ qua gương, nhưng không thể làm được nếu họ đối diện với bác sĩ. Head giải thích sự thất bại của bệnh nhân là do ‘cách diễn đạt’ không đầy đủ của anh ta: theo [tr.163] anh ta, việc bắt chước hành động phụ thuộc vào việc phiên dịch bằng lời. Trên thực tế, cách diễn đạt có thể đúng mặc dù việc bắt chước không thành công, hoặc ngược lại, việc bắt chước có thể thành công mà không cần bất kỳ cách diễn đạt nào. Anh ta viết về chủ đề này99 sau đó giới thiệu, nếu không phải là biểu tượng bằng lời nói một cách chính xác, thì ít nhất cũng là một chức năng biểu tượng tổng quát, một khả năng ‘chuyển đổi’, trong đó việc bắt chước, giống như nhận thức hoặc tư duy khách quan, chỉ là một trường hợp cụ thể. Nhưng rõ ràng là chức năng tổng quát này không giải thích được hành động thích ứng. Bởi vì bệnh nhân không chỉ có khả năng diễn đạt hành động cần thực hiện, mà còn có thể hình dung nó cho chính mình. Họ hoàn toàn nhận thức được những gì mình phải làm, thế nhưng, thay vì đưa tay phải lên tai phải và tay trái lên mũi, họ lại dùng cả hai tay chạm vào một tai, hoặc chạm vào mũi và một mắt, hoặc chạm vào một tai và một mắt.100
Thứ trở nên bất khả thi là việc áp dụng và thích nghi tính đặc thù khách quan của hành động vào chính cơ thể họ. Nói cách khác, tay phải và tay trái, mắt và tai vẫn trình bày cho họ như những vị trí tuyệt đối, chứ không được đưa vào bất kỳ hệ thống tương quan nào liên kết chúng với các bộ phận tương ứng trên cơ thể bác sĩ, và khiến chúng có thể được sử dụng để bắt chước, ngay cả khi bác sĩ đối mặt trực tiếp với bệnh nhân. Để bắt chước hành động của người đang đối diện với tôi, tôi không cần phải biết rõ ràng rằng ‘bàn tay xuất hiện ở phía bên phải tầm nhìn của tôi là tay trái của kẻ kia’. Giờ đây, chính nạn nhân của những rối loạn mới phải viện đến những lời giải thích này. Trong việc bắt chước bình thường, bàn tay trái của chủ thể ngay lập tức được đồng nhất với bàn tay của kẻ kia, hành động của anh ta ngay lập tức mô phỏng theo hành động của kẻ kia, và chủ thể tự phóng chiếu mình hoặc đánh mất thực tại riêng biệt của mình trong kẻ kia, trở nên đồng nhất với kẻ đó, và sự thay đổi tọa độ được thể hiện rõ nét trong quá trình tồn tại này. Sở dĩ như vậy là vì chủ thể bình thường không chỉ có cơ thể như một hệ thống các vị trí hiện tại, mà còn như một hệ thống mở gồm vô số vị trí tương đương hướng đến các mục đích khác. Cái mà chúng ta gọi là hình ảnh cơ thể lại chính là hệ thống tương đương này, là bất biến được cho sẵn ngay lập tức, nhờ đó các nhiệm vụ vận động khác nhau có thể được chuyển giao tức thì. Từ đó suy ra rằng đó không chỉ là trải nghiệm về cơ thể tôi, mà còn là [tr.164] trải nghiệm về cơ-thể-tôi-trong-thế-giới, và đây là điều mang lại ý nghĩa vận động cho các mệnh lệnh bằng lời nói. Do đó, chức năng bị phá hủy trong các rối loạn mất khả năng vận động là một chức năng vận động. ‘Trong những trường hợp như thế này, không phải chức năng biểu tượng hay chức năng tạo-ý-nghĩa nói chung bị ảnh hưởng: mà là một chức năng cơ bản hơn nhiều, về bản chất là vận động, nói cách khác, là năng lực phân biệt vận động trong hình ảnh cơ thể năng động’.101 Không gian mà sự bắt chước bình thường hoạt động không phải là ‘không gian khách quan’ hay ‘không gian đại diện’ dựa trên hành động tư duy, trái ngược với không gian cụ thể với các vị trí tuyệt đối của nó. Nó đã được tích hợp vào cấu trúc cơ thể của tôi và là mối tương quan không thể tách rời của nó. ‘Ngay cả khả năng vận động, ở trạng thái thuần túy của nó, đã sở hữu sức mạnh cơ bản để Sinngebung mang lại ý nghĩa’.102 Ngay cả sau đó, tư duy và tri giác về không gian được giải phóng khỏi khả tính vận động và hiện hữu trong không gian, để có thể hình dung về không gian, trước hết chúng ta cần phải được cơ thể của mình đưa vào đó, và nó phải cung cấp cho chúng ta mô hình đầu tiên về những chuyển đổi, tương đương và đồng nhất đó biến không gian thành một hệ thống khách quan và cho phép trải nghiệm của chúng ta là về các đối tượng, mở ra trên một ‘vật-tự-nó’. ‘Khả tính vận động là lĩnh vực chính mà ban đầu der Sinn aller Signifikationen ý nghĩa của tất cả các ý nghĩa được tạo ra trong phạm vi không gian được tái hiện.’103
Việc hình thành thói quen như một sự sắp xếp lại và đổi mới sơ đồ cơ thể đặt ra những khó khăn lớn cho các loại triết học truyền thống, vốn luôn có xu hướng coi sự tổng hợp như là sự tổng hợp trí tuệ. Thực tế là, trong thói quen, điều kết hợp các hành động, phản ứng và ‘kích thích’ thành phần không phải là một quá trình liên kết bên ngoài nào đó.104 Bất kỳ lý thuyết cơ học nào cũng gặp phải thực tế là quá trình học tập mang tính hệ thống; chủ thể không kết hợp các chuyển động riêng lẻ và các kích thích riêng lẻ mà có được khả năng phản ứng bằng một loại giải pháp nhất định đối với các tình huống có hình thức tổng quát nhất định. Các tình huống có thể khác nhau rất nhiều tùy từng trường hợp, và các chuyển động phản ứng đôi khi có thể được giao cho một cơ quan thao tác, [tr.165] đôi khi cho một cơ quan khác, cả tình huống và phản ứng trong các trường hợp khác nhau đều có điểm chung không phải là tính đồng nhất bộ phận của các yếu tố như là một ý nghĩa chung. Vậy chúng ta có nhất thiết phải xem nguồn gốc của thói quen nằm ở một hành động hiểu biết, vốn sắp xếp các yếu tố rồi sau đó lại rút lui không?105 Ví dụ, chẳng phải việc hình thành thói quen nhảy múa là việc khám phá, bằng phân tích, công thức của chuyển động được đề cập, và sau đó tái cấu trúc nó trên cơ sở đường nét lý tưởng bằng cách sử dụng các chuyển động đã được tiếp thu trước đó, chẳng hạn như đi bộ và chạy sao? Nhưng trước khi công thức của điệu nhảy mới có thể kết hợp một số yếu tố của vận động tổng quát, thì trước hết nó phải, như vốn thế, mang dấu ấn của chuyển động. Người ta thường nói, chính cơ thể là thứ kapiert ‘nắm bắt’ và ‘hiểu’ chuyển động. Việc tiếp thu một thói quen thực sự là việc nắm bắt một ý nghĩa, nhưng đó là nắm bắt vận động của một ý nghĩa vận động. Vậy chính xác điều này có nghĩa là gì? Một người phụ nữ có thể, mà không cần tính toán, giữ khoảng cách an toàn cho chiếc lông vũ trên mũ của mình tránh những thứ có thể làm gãy nó. Cô ấy cảm nhận được vị trí của chiếc lông vũ giống như cách chúng ta cảm nhận vị trí của bàn tay mình.106 Nếu tôi quen lái xe, tôi đi vào một lối hẹp và thấy rằng mình có thể ‘lách qua’ mà không cần so sánh chiều rộng của lối đi với chiều rộng mở ra của hai biên, giống như khi tôi đi qua một cánh cửa mà không cần kiểm tra chiều rộng của cánh cửa so với chiều rộng cơ thể mình.107 Chiếc mũ và cái xe đã không còn là những vật thể có kích thước và thể tích được xác định bằng cách so sánh với các vật thể khác. Chúng đã trở thành những tiềm năng về thể tích, là nhu cầu về một lượng không gian trống nhất định. Tương tự như vậy, cánh cổng sắt của sân ga tàu điện ngầm và con đường đã trở thành những tiềm năng hạn chế và ngay lập tức xuất hiện là có thể đi qua hoặc không thể đi qua đối với cơ thể tôi cùng với các phụ kiện của nó. Cây gậy của người mù đã không còn là một vật thể đối với anh ta, và không còn được nhận thức cho chính nó nữa; đầu nhọn của nó đã trở thành một vùng nhạy cảm, mở rộng phạm vi và bán kính hoạt động của xúc giác, và cung cấp một sự tương đồng với thị giác. Trong quá trình khám phá sự vật, chiều dài của cây gậy không được sử dụng rõ ràng như một yếu tố trung gian: người mù nhận thức được nó thông qua vị trí của các vật thể [tr.166] hơn là vị trí của các vật thể thông qua nó.
Vị trí của sự vật được xác định ngay lập tức thông qua phạm vi tầm với, bao gồm cả tầm với của cánh tay và phạm vi hoạt động của cây gậy. Nếu tôi muốn làm quen với một cây gậy, tôi sẽ thử bằng cách dung nó chạm vào một vài vật, và cuối cùng tôi sẽ ‘cầm nắm tốt’, tôi có thể thấy những vật nào ‘trong tầm với’ hoặc ngoài tầm với của cây gậy. Ở đây không có chuyện ước lượng nhanh chóng hay so sánh giữa chiều dài khách quan của cây gậy và khoảng cách khách quan đến mục tiêu cần đạt được. Các điểm trong không gian không nổi bật như những vị trí khách quan so với vị trí khách quan mà cơ thể chúng ta chiếm giữ; chúng đánh dấu, trong vùng lân cận của chúng ta, phạm vi khác nhau của mục tiêu và cử chỉ của chúng ta. Làm quen với một chiếc mũ, một chiếc xe hơi hay một cây gậy là được cấy ghép vào chúng, hoặc ngược lại, kết hợp chúng vào khối cơ thể của chính chúng ta. Thói quen thể hiện khả năng mở rộng hiện-hữu-trong-thế-giới của chúng ta, hay thay đổi sự tồn tại của chúng ta bằng cách chiếm hữu những công cụ mới.108 Có thể biết cách đánh máy mà không cần biết vị trí của các chữ cái tạo nên từ ngữ trên các phím. Biết cách đánh máy không phải là biết vị trí của từng chữ cái trên các phím, cũng không phải là có phản xạ có điều kiện đối với mỗi chữ cái, phản xạ này được kích hoạt bởi chữ cái khi nó xuất hiện trước mắt ta. Nếu thói quen không phải là một hình thức tri thức cũng không phải là một hành động không tự nguyện, vậy thì nó là gì? Đó là tri thức nằm trong đôi tay, chỉ xuất hiện khi có sự nỗ lực của cơ thể, và không thể được hình thành một cách tách rời khỏi nỗ lực đó. Kẻ đánh máy biết vị trí của các chữ cái trên máy đánh chữ giống như chúng ta biết vị trí chân tay của mình, thông qua một tri thức được hình thành từ sự quen thuộc mà không cho chúng ta một vị trí trong không gian khách quan. Chuyển động của các ngón tay không được kẻ đánh máy nhìn thấy như một đường đi trong không gian có thể mô tả, mà chỉ đơn thuần là một sự điều chỉnh nhất định về khả năng vận động, có thể phân biệt về mặt hình thái học với bất kỳ chuyển động nào khác. Câu hỏi thường được đặt ra như thể tri giác về một chữ cái viết trên giấy gợi lên hình ảnh của chính chữ cái đó, từ đó gợi lên hình ảnh về chuyển động cần thiết để gõ nó trên máy. Nhưng [tr.167] đây lại là ngôn ngữ thần thoại. Khi tôi lướt mắt qua văn bản đặt trước mặt, không có tri giác nào khơi gợi các hình tượng tái hiện, mà các mô thức được hình thành khi tôi nhìn, và những mô thức này được ban cho một hình thái điển hình hoặc thân thuộc. Khi tôi ngồi vào máy đánh chữ, một không gian vận động mở ra dưới tay tôi, trong đó tôi sắp sửa ‘chơi’ những gì tôi đã đọc. Việc đọc từ là sự điều chỉnh của không gian hữu hình, việc thực hiện chuyển động là sự điều chỉnh của không gian thao tác, và toàn bộ câu hỏi là làm thế nào một hình thái ngu ngốc của các mô thức ‘thị giác’ có thể gợi lên một loại phản ứng vận động nhất định, làm thế nào mỗi cấu trúc ‘thị giác’ cuối cùng tự cung cấp cho nó bản chất chuyển động của nó mà không cần phải đánh vần từ hoặc chỉ định chuyển động một cách chi tiết để dịch từ này sang từ khác. Nhưng sức mạnh của thói quen này không khác gì sức mạnh chung mà chúng ta thực hiện đối với cơ thể mình: nếu tôi được lệnh chạm vào tai hoặc đầu gối, tôi sẽ di chuyển tay đến tai hoặc đầu gối theo con đường ngắn nhất, mà không cần phải suy nghĩ về vị trí ban đầu của bàn tay, hay của tai, hoặc đường đi giữa chúng. Chúng ta đã nói trước đó rằng chính cơ thể là thứ ‘hiểu’ trong việc hình thành thói quen. Cách diễn đạt này có vẻ phi lý, nếu hiểu là việc gộp một dữ liệu cảm giác vào một ý niệm, và nếu cơ thể là một vật thể. Nhưng hiện tượng thói quen chính là điều thúc đẩy chúng ta xem xét lại khái niệm ‘hiểu’ và khái niệm về cơ thể. Hiểu là trải nghiệm sự hài hòa giữa những gì chúng ta hướng tới và những gì được cho sẵn, giữa ý định và hành động - và cơ thể là điểm neo đậu của chúng ta trong thế giới này. Khi đặt tay lên đầu gối, ở mỗi giai đoạn của chuyển động, tôi cảm nhận được sự hoàn thành của một ý định không hướng vào đầu gối như một ý niệm hay thậm chí là một vật thể, mà như một phần hiện diện và thực sự cơ thể sống của tôi, nghĩa là, cuối cùng, như một giai đoạn trong chuyển động không ngừng của tôi hướng tới một thế giới. Khi người đánh máy thực hiện các chuyển động cần thiết trên máy đánh chữ, những chuyển động này được điều khiển bởi một ý định, nhưng ý định đó không coi các phím là những vị trí khách quan. Thực tế là người học đánh máy đã tích hợp không gian bàn phím vào không gian cơ thể của mình.
Ví dụ về những người chơi nhạc cụ cho thấy rõ hơn nữa thói quen không nằm trong suy nghĩ cũng không nằm trong cơ thể khách quan, mà nằm trong cơ thể như một trung gian của thế giới. Người ta biết rằng109 một nghệ sĩ organ giàu kinh nghiệm [tr.168] có thể chơi một cây đàn organ mà anh ta không quen thuộc, có nhiều hoặc ít bàn phím hơn, và các nút bấm được sắp xếp khác nhau so với cây đàn mà anh ta thường chơi. Anh ta chỉ cần một giờ luyện tập để sẵn sàng biểu diễn chương trình của mình. Thời gian chuẩn bị ngắn ngủi như vậy loại trừ giả thuyết rằng các phản xạ có điều kiện mới đã được thay thế cho các tập hợp hiện có, ngoại trừ trường hợp cả hai tạo thành một hệ thống và sự thay đổi là toàn diện, điều này đưa chúng ta ra khỏi lý thuyết cơ học, vì trong trường hợp đó, các phản ứng được điều hòa bởi sự nắm bắt toàn diện về nhạc cụ. Liệu chúng ta có nên khẳng định rằng nghệ sĩ organ phân tích cây đàn organ, và anh ta hình dung và lưu giữ một hình ảnh về các nút bấm, bàn đạp và bàn phím cũng như mối quan hệ của chúng với nhau trong không gian? Nhưng trong buổi diễn tập ngắn trước buổi hòa nhạc, anh ấy không hành động như một người sắp lập kế hoạch. Anh ấy ngồi vào ghế, điều khiển bàn đạp, kéo các nút điều chỉnh, cảm nhận nhạc cụ bằng cơ thể, ghi nhớ các hướng và kích thước cần thiết, ổn định vị trí trên đàn organ như thể đang ở trong một ngôi nhà. Anh ấy không học thuộc lòng vị trí không gian cụ thể cho từng nút điều chỉnh và bàn đạp, cũng không găm chúng vào ‘ký ức’. Trong suốt buổi diễn tập, cũng như trong buổi biểu diễn, các nút điều chỉnh, bàn đạp và bàn phím được trao cho anh ấy như những khả năng để đạt được những giá trị cảm xúc hoặc âm nhạc nhất định, và vị trí của chúng chỉ đơn giản là nơi mà qua đó giá trị này xuất hiện trong thế giới. Giữa bản chất âm nhạc của tác phẩm như được thể hiện trong bản nhạc và các nốt nhạc thực sự vang lên quanh đàn organ, một mối quan hệ trực tiếp được thiết lập đến mức cơ thể của người chơi organ và nhạc cụ của anh ta chỉ là phương tiện của mối quan hệ này. Từ đó trở đi, âm nhạc tồn tại độc lập và thông qua nó mà tất cả mọi thứ khác tồn tại.110 Ở đây không có chỗ cho bất kỳ ‘ký ức’ nào về vị trí của các nút bấm, và người chơi đàn organ thực sự không chơi trong không gian khách quan. Trên thực tế, các chuyển động của anh ấy trong quá trình diễn tập là những cử chỉ mang tính dâng hiến: chúng vẽ ra các vectơ cảm xúc, khám phá các nguồn cảm xúc và tạo ra một không gian biểu cảm giống như các chuyển động của kẻ tiên tri xác định ranh giới của một templum linh địa vậy. [Templum là một thuật ngữ tiếng Latinh chỉ một không gian linh thiêng được các tu sĩ La Mã cổ đại làm lễ thánh hiến, thường có nghĩa là thánh địa hơn là một tòa nhà mang tính vật chất cụ thể. Khái niệm này ban đầu ám chỉ vùng không gian được đánh dấu riêng rẽ cho các nghi lễ tiên tri augury điềm báo, khác với aedes tòa thờ. Các ý nghĩa chính: trong tôn giáo La Mã cổ đại Templum là khu vực được phân định rõ ràng, thường là hình chữ nhật, đã được thông qua bằng các điềm báo. Nó bao gồm không gian bầu trời được các augur tu sĩ quan sát để xem điềm báo, không chỉ giới hạn ở mặt đất. Từ nguyên liên quan đến hành động ‘cắt bỏ’ hoặc ‘phân tách’ một khu vực khỏi phần đất còn lại. HHN] Toàn bộ vấn đề về thói quen ở đây là việc biết cách tập trung ý nghĩa [tr.169] âm nhạc của một hành động vào một vị trí nhất định đến mức, khi hoàn toàn cống hiến cho âm nhạc, người chơi đàn organ với tới chính xác những nút bấm và bàn đạp sẽ tạo ra nó. Giờ đây, cơ thể về bản chất là một không gian biểu cảm. Nếu tôi muốn nắm lấy một vật thể, ngay tại một điểm trong không gian mà tôi hoàn toàn không để ý đến, thì sức mạnh nắm bắt được tạo thành bởi bàn tay của tôi sẽ di chuyển lên trên về phía vật đó. Tôi di chuyển đôi chân của mình không phải như những vật thể trong không gian cách đầu tôi khoảng trên dưới 1m, mà như một sức mạnh vận động mở rộng ý định vận động của tôi xuống dưới. Các vùng chính trên cơ thể tôi dành cho hành động và tham gia vào giá trị của chúng, và việc hỏi tại sao lẽ thường lại coi đầu là nơi trú ngụ của tư duy cũng đặt ra vấn đề tương tự như việc hỏi người chơi đàn organ phân bổ ý nghĩa âm nhạc như thế nào thông qua ‘không gian đàn’. Nhưng cơ thể chúng ta không chỉ đơn thuần là một không gian biểu đạt trong số những không gian khác, vì đó chỉ đơn giản là cơ thể được cấu thành. Nó là nguồn gốc của phần còn lại, chính là chuyển động biểu đạt, thứ khiến chúng bắt đầu tồn tại như những sự vật, dưới bàn tay và đôi mắt của chúng ta. Mặc dù cơ thể chúng ta không áp đặt những bản năng nhất định lên chúng ta từ khi sinh ra, như nó làm với động vật, nhưng ít nhất nó cũng mang lại cho cuộc sống của chúng ta hình thức tổng quát và phát triển các hành động cá nhân của chúng ta thành những khuynh hướng ổn định. Theo nghĩa này, bản tính của chúng ta không phải là tập quán lâu đời, vì tập quán giả định hình thức thụ động bắt nguồn từ tự nhiên. Cơ thể là phương tiện tổng thể của chúng ta để có một thế giới. Đôi khi nó bị giới hạn ở những hành động cần thiết cho việc bảo tồn sự sống, và do đó nó đặt xung quanh chúng ta một thế giới sinh học; đôi khi, bằng cách phát triển những hành động cơ bản này và chuyển từ nghĩa đen sang nghĩa bóng, nó thể hiện qua chúng một cốt lõi của ý nghĩa mới: điều này đúng với các thói quen vận động như khiêu vũ. Đôi khi, cuối cùng, ý nghĩa hướng đến không thể đạt được bằng các phương tiện tự nhiên của cơ thể; khi đó nó phải tự xây dựng một công cụ, và nhờ đó nó tạo ra xung quanh mình một thế giới văn hóa. Ở mọi cấp độ, nó thực hiện cùng một chức năng là ban cho những biểu hiện tức thời của tính tự phát một ‘hành động nhỏ có thể tái tạo và sự tồn tại độc lập’.111 Thói quen chỉ đơn thuần là một hình thức của sức mạnh nền tảng này. Chúng ta nói rằng cơ thể đã hiểu và thói quen đã được vun trồng khi nó tiếp thu được một ý nghĩa mới và đồng hóa được một cốt lõi ý nghĩa mới.
[Tr.170] Tóm lại, điều chúng ta khám phá được thông qua nghiên cứu về vận động là một ý nghĩa mới của từ ‘ý nghĩa’. Sức mạnh to lớn của tâm lý học tri thức luận và triết học duy tâm xuất phát từ việc chúng không gặp khó khăn gì trong việc chứng minh rằng tri giác và tư duy có ý nghĩa nội tại và không thể được giải thích bằng sự liên kết bên ngoài của các nội dung được tập hợp một cách ngẫu nhiên. Cái Cogito Tôi tư duy [The Cogito viết tắt của cụm từ tiếng Latin: Cogito, ergo sum nghĩa là ‘Tôi tư duy, nên tôi tồn tại’. Đây là câu châm ngôn nổi tiếng của René Descartes, khẳng định rằng hành động nghi ngờ hay tư duy là bằng chứng không thể phủ nhận về sự tồn tại của chính bản thân, đặt nền móng cho triết học phương Tây hiện đại. Nguyên lý này được René Descartes đưa ra trong tác phẩm Discours de la méthode Luận về Phương pháp (1637) viết bằng tiếng Pháp Je pense, donc je suis. Ý nghĩa của nguyên lý là dù có nghi ngờ tất cả mọi thứ trên thế giới, Descartes vẫn khẳng định rằng ông không thể nghi ngờ mình đang tư duy. Vì có tư duy/nghi ngờ, nên chắc chắn phải có một ‘bản ngã’ hay một cái ‘Tôi’ tồn tại để thực hiện hành động tư duy đó. Đây chính là ‘nguyên tắc đầu tiên’ của Descartes, tạo ra một tri thức chắc chắn, không thể nghi ngờ, làm nền tảng vững chắc để xây dựng lại các tri thức khác. Cogito không chỉ là một lập luận logic mà còn là một trực giác - nhận thức về tồn tại của chính mình được nhìn nhận rõ ràng và minh bạch ngay khi tâm trí chú ý đến nó. Câu nói này khẳng định sự ưu việt của tư duy và trí tuệ trong việc khẳng định sự tồn tại của con người. NNH] là sự nhận thức về bản chất cốt lõi bên trong này. Nhưng tất cả ý nghĩa đều ipso facto tự thân được coi là một hành động của tư duy, là tác phẩm của một cái Tôi thuần túy, và mặc dù chủ nghĩa duy lý dễ dàng bác bỏ chủ nghĩa kinh nghiệm, nhưng bản thân nó lại không thể giải thích được tính đa dạng của kinh nghiệm, cho yếu tố vô nghĩa trong đó, cho tính ngẫu nhiên của nội dung. Kinh nghiệm cơ thể buộc chúng ta phải thừa nhận một sự áp đặt ý nghĩa không phải là tác phẩm của một ý thức cấu thành phổ quát, một ý nghĩa bám vào những nội dung nhất định. Cơ thể tôi là cốt lõi có ý nghĩa đó, hoạt động như một chức năng tổng quát, và dù vậy vẫn tồn tại, và dễ bị bệnh tật. Trong nó, chúng ta học cách nhận biết sự hợp nhất giữa bản chất và tồn tại mà chúng ta sẽ tìm thấy lại trong nhận thức nói chung, và là thứ mà chúng ta sẽ phải mô tả đầy đủ hơn.
________________________________
(Còn nữa…)
Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.
Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.
Notes
95 Lhermitte, G. Lévy and Kyriako, Les Perturbations de la représentation spatiale chez les apraxiques, p. 597.
96 Lhermitte and Trelles, Sur l’apraxie constructive, les troubles de la pensée spatiale et de la somatognosie dans l’apraxie, p. 428. Cf. Lhermitte, de Massary and Kyriako, Le Rôle de la pensée spatiale dans I’apraxie.
97 Head and Holmes, Sensory disturbances from cerebral lesions, p. 187.
98 Grünbaum, Aphasie und Motorik.
99 Goldstein, Van Woerkom, Bouman and Grünbaum.
100 Grünbaum, op, cit., pp. 386–92.
101 Grünbaum, op. cit., pp. 397–98.
102 Ibid., p. 394.
103 Ibid., p. 396.
104
See, on this point, La Structure du Comportement, pp. 125 and ff.
105 As Bergson, for example, thinks when he defines habit as ‘the fossilized
residue of a spiritual activity’.
106 Head, Sensory disturbances from cerebral lesion, p. 188.
107 Grünbaum, Aphasie und Motorik, p. 395.
108 It thus elucidates the nature of the body image. When we say that it presents us immediately with our bodily position, we do not mean, after the manner of empiricists, that it consists of a mosaic of ‘extensive sensations’. It is a system which is open on to the world, and correlative with it.
109 Cf. Chevalier, L’Habitude, pp. 202 and ff.
110 ‘As though the musicians were not nearly so much playing the little phrase as performing the rites on which it insisted before it would consent to appear.’ (Proust, Swann’s Way, II, trans. C. K. Scott Moncrieff, Chatto & Windus, p. 180.) ‘Its cries were so sudden that the violinist must snatch up his bow and race to catch them as they came.’ (Ibid., p. 186.)
111
Valéry, Introduction à la Méthode de Léonard de Vinci, Variété, p. 177.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét