Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Việt, “Hán”, Man và Trống đồng



Việt, “Hán”, Man và Trống đồng

Le Minh Khai

Người dịch: Hà Hữu Nga

Ở bài viết trước, khi nói về trống đồng không quan trọng đối với người Việt trong quá khứ, có một trường hợp trong đó trống đồng lại quan trọng, và đó là trường hợp liên quan đến một ngôi đền được gọi là Đồng Cổ Thần Từ 銅鼓神祠 trên núi Đan Nê [đúng ra là núi Đồng Cổ, còn gọi là núi Khả Lao sơn 可牢山, hay Tam Thái Sơn, làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định - HHN], còn gọi là núi Khả Lao  thuộc tỉnh Thanh Hóa.

Trong sách Đại Nam nhất thống chí 大南一統志 biên soạn vào thế kỷ XIX, có một đoạn nói về ngôi đền này. Đoạn đó một chút khó hiểu ngoài ngôi đền trên núi Đan , sau đó tại Kinh đô cũng có một đền thờ dành riêng cho vị thần này. Vì vậy, thông tin này cho thấy một vị thần được thờ ở hai địa điểm.

Dưới đây tôi dịch đọan này và sau đó có một vài bình luận về đoạn đó.

[17 hạ/5a] Đồng Cổ Thần từ 銅鼓神祠] trên núi Đan Nê (còn gọi là núi Khả Lao) thuộc huyện An Định. Ngày xưa, khi vua Hùng [17 hạ/5b] đi đánh quân Chiêm Thành 占城, đã từng đóng quân trên núi Khả Lao. Nửa đêm nhà vua mộng thấy thần nhân 神人 nói rằng “Thần sẽ đưa cho nhà vua một chiếc trống đồng và một dùi trống đặng giúp nhà vua chiến thắng”. Khi hai bên xung trận, tiếng trống đồng rền vang không trung, và đúng như thần nhân tiên báo, vua Hùng đã đại thắng. Sau này nhà vua phong cho thần nhân là Đồng Cổ Đại Vương 銅鼓大王.

Khi còn là Thái tử, Lý Thái Tông vâng mệnh đi đánh Chiêm Thành. Nửa đêm nằm mộng thấy một người mặc áo giáp, tay cầm gươm báu tâu rằng: “Thần là thần Đồng Cổ, xin được theo đi đánh giặc lập công”. Sau khi dẹp yên Chiêm Thành, Lý Thái Tông đã cho dựng đền thờ cúng tế.

Sau khi kế vị ngai vàng, nhà vua mộng thấy thần Đồng Cổ đem đến một bài thơ báo về việc ba vị vương công âm mưa làm phản. Hóa ra điều đó đã trở thành sự thật. Sau đó nhà vua gia phong cho thần là Thiên Hạ Minh Chủ 天下盟主, Thượng đẳng thần. Hàng năm đều cho lập đàn treo cờ tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội".  

Đầu đời Lê Trung Hưng, quân Mạc vào xâm lấn các huyện Vĩnh Ninh (nay là Vĩnh Lộc) và Yên Định, nhà Lê đóng châu sư ở thượng lưu sông Mã. Nửa đêm nghe thấy ba tiếng trống nổi lên cách xa đến vài trăm dặm. Viên tướng nhà Lê cử người đi do thám mới hay rằng đó là tiếng trống đồng từ núi Khả Lao. Sáng hôm sau quan quân đuổi đánh quân Mạc, gặp được gió mạnh nước cường, châu sư thuận gió giương buồn, khí thế hăng hái gấp bội, quân Mạc phải thua.

Đời Lê Hoằng Định, trong sắc phong cho thần có câu: [17 hạ/6a] “Giang thượng phong trào, đại trợ tam quân chí thắng”, nghĩa là: gió nước trên sông giúp sức lớn để tam quân thắng trận.

Đời Cảnh Hưng thường có tàn vàng xuất hiện ở quán Triều Thiên 朝天館, ba ngày mới tan, quan địa  phương bèn đến nơi tế lễ; lại một hôm, trời sắp tối trong miếu có mây mù bao bọc, tiếp đến gió lớn mưa to, người địa phương đứng xa trông thấy một con rồng đen từ trên không hiện xuống ngôi đền [thờ thần Đồng Cổ]. Đến sáng ra xem thì thấy dấu vảy rồng và móng rồng vẫn còn in ở mặt sân đền.

Trải các đời Lý, Trần, Lê, hàng năm cứ đến mùa xuân, nhằm ngày xuất quân, tướng sĩ phải đến miếu hội thề, mong quỷ thần soi xét. Quan Thái phó triều Lê là Nguyễn Văn Khải nhân đó có làm một bài thơ. [Tôi [Le Minh Khai] chưa thấy bản dịch tiếng Việt nào của bài thơ này. Vì dịch thơ mất nhiều thời gian, nên tôi [Le Minh Khai] chỉ dịch hai dòng liên quan đến vấn đề được đề cập: [壇上翻瓢消旱魃 - Đàn thượng phiên biều tiêu hạn bạt: The overturned ladle on the alter eradicates the drought demon - i môi úp trên bàn thờ diệt trừ quỷ hạn hán, 空中敲鼓走狂蠻 - Không trung xao cổ tẩu cuồng man The sounding of the drum drives away the mad savages - Âm thanh của tiếng trống đuổi cổ những kẻ man rợ], [Còn tôi, Hà Hữu Nga thì cố liều chết dịch ý hết cả bài] như sau:

台峰拱炤水灣環
毓秀鐘靈在此閒
壇上翻瓢消旱魃
空中敲鼓走狂蠻
龜碑石篆經霜綠
鳳札金章炤日丹
今古迭更棋幾局
凛然正氣舊江山

Đài phong củng chiếu thủy loan hoàn
Dục tú chung tinh tại thử gian
Đàn thượng phiên biều tiêu hạn bạt
Không trung xao cổ tẩu cuồng man
Qui bi thạch triện kinh sương lục
Phượng trát kim chương chiếu nhật đan
Kim cổ điệt canh kỳ kỷ cục
Lẫm nhiên chính khí cựu giang sơn.

Thái sơn quần tụ soi đầm ngọc
Anh linh chung đúc đất thiêng này
Gáo trời gội sạch ngày nắng hạn
Trống rung tan tác lũ cuồng man
Kinh đá bia rùa sương khói biếc
Chương vàng thẻ phượng rạng chiếu ban
Kim cổ cuộc cờ luôn đắp đổi
Lẫy lừng chính khí cựu giang san

Trong đền có một trống đồng nặng khoảng 100 cân; đường kính khoảng một xích và năm thốn, cao hơn hai xích. Bên trong rỗng, và không có đáy. Rìa cạnh bị hư hại nhẹ. Trên mặt trống có chín vòng tròn đồng tâm. Eo trống được thắt [hay bọc bằng một thứ gì đó?] vì vậy bụng trống được che kín. Trên bốn cạnh được cột bằng dây thừng. Có hình chữ vạn [vạn tự 卍 字] viết bằng loại chữ khoa đẩu - hình con nòng nọc. Qua thời gian nó bị mòn đi và bây giờ không thể đọc được. Người ta nói rằng loại chữ này đã được làm ra trong thời đại của các vị vua Hùng.

Vào cuối thời Lê, cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn đã xâm phạm nơi đây và lấy mất [trống] đem về Phú Xuân. Sau đó, một người dân huyện Hậu Lộc [17 hạ/6b] đã tìm thấy một chiếc trống khác trên bờ sông, trình nộp lên quan trấn rồi đem về để trong đền. Đến nay vẫn còn.

Đoạn văn trên bắt đầu bằng c
huyện kể về một vị vua Hùng đi đánh quân Chiêm Thành. Trong khi tôi nghĩ rằng rõ ràng không có vị vua Hùng nào, thậm chí nếu chúng ta tin đã có, thì đoạn này vẫn còn có vấn đề không hề có bất cứ ghi chép nào trong biên niên sử về điều này, và trong thời gian đó (thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên) Chiêm Thành vẫn chưa tồn tại.

Sẽ không có vấn đề gì với ý tưởng chung cho rằng một vị vua đã mơ thấy một vị thần hiện về trợ giúp cho mình. Đây là một ngụ ý hoặc chủ đề mà chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều tích truyện khác từ quá khứ do các tầng lớp có học tất cả các vùng thuộc "thế giới Hoa hóa" tạo ra, kể từ đồng bằng sông Hồng đến bán đảo Triều Tiên. Một lần nữa, chúng ta lại thấy nó ở đây liên quan đến Lý Thái Tông.

Vị thần này đã giúp nhà vua những? Hỗ trợ trong việc tấn công những kẻ khác với người Việt. Ở đây tôi thấy rất thú vị là vị trí đền thờ nằm Núi Đan Nê [thật ra là làng Đan Nê - HHN], hay núi Khả Lao. Đan NêKhả Lao không phải là tên Việt, và điều này cho thấy rằng những người, ít nhất ban đầu, sống ở đó là khác với người Việt. Trong khi đó, như tôi đã đề cập trong bài viết dưới đây, những người Việt có học trong quá khứ đều liên hệ trống đồng với những kẻ khác với họ.

Vì vậy, những người sử dụng trống đồng là nhóm khác với người Việt, và người Việt tạo dựng một ngôi đền trên núi Đan Nê / Khả Lao (một nơi chí ít về nguồn gốc, cũng là quê hương của những người khác với người Việt) đã được dành riêng để thờ vị thần Đồng Cổ. Sau đó vị thần ấy đã giúp người Vit chiến đấu chống lại những người khác với họ -Trống rung tan tác lũ cuồng man”.

Đối với tôi, điều này có vẻ là người Việt đã nắm lấy một thứ đầy sức mạnh (tức là, trống đồng) từ những “nguời man” và sau đó cố gắng sử dụng nguồn sức mạnh kết hợp với vật đó để giúp họ đánh bại “người man”. Trong thế kỷ thứ nhất SCN, viên tướng “người Hán” Mã Viện được sử chép là đã cướp toàn bộ trống đồng khu vực này nung chảy đúc thành ngựa đồng. Hành động này có thể đã được thực hiện, một phần nhằm triệt bỏ sức mạnh từ các tầng lớp tinh hoa cầm quyền trong vùng mà Mã Viện coi là “man di”.

Khoảng 1.000 năm sau, chúng ta lại thấy người Việt làm điều tương tự. Vậy thì, mối quan hệ giữa người man với trống đồng mà Mã Viện tấn công và những người man với đồng trống 1.000 năm sau mà người Việt tấn công là gì vậy? Và người Việt là ai tại thời điểm đó (khoảng 1100 SCN)? Tại sao họ lại quá giống với một tên tướng người “Hán” như Mã Viện, mà lại không hề giống với những người mà Mã Viện đã đánh bại? Tại sao họ lại coi những người có trống đồng là lũ “cuồng man”?
_____________________________________________

Nguồn: Le Minh Khai, Vịêt, “Chinese,” Savages and Bronze Drums, bài viết được công bố trên trang mạng https://leminhkhai.wordpress.com/2013/09/15/viet-chinese-savages-and-bronze-drums/



4 nhận xét:

  1. Xung quanh về đền Trống Đồng ở Thanh Hóa (1)

    1/ Các bản chuyển ngữ

    Bài viết của ông Le Minh Khai liên quan đến đề mục Từ Miếu 祠廟 thuộc tỉnh Thanh Hóa, tức quyển thứ VI trong bộ Đại Nam Nhất thống chí. Đến nay có ít nhất hai bản dịch Việt ngữ về sách Đại Nam Nhất Thống chí (từ đoạn này sẽ viết tắt là ĐNNTC):

    a/ Bản dịch của Nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế) liên kết với Viện Sử học, phát hành năm 1992, gồm 5 quyển. Bản dịch này nêu tên người phiên dịch là Phạm Trọng Điềm và người hiệu đính là Đào Duy Anh; căn cứ trên bản Hán văn chép tay có ký hiệu HV. 140 và A. 69. Bản dịch này tái bản lần thứ hai vào năm 2006.

    Trong phần ‘Lời nói đầu’, những người phụ trách biên tập thông báo là đã “bỏ bớt một số thơ văn không có nghĩa lý gì về mặt địa lý”; nhưng ở đây, không thấy các vị ấy đưa ra các tiêu chí nào khi làm công việc loại bỏ này. Dựa vào ngữ cảnh toàn bài ‘Lời nói đầu’, tôi hiểu những người thực hiện việc cắt-xén-không-ghi-chú này không phải là các ông Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh. Như vậy là làm việc thiếu chuyên nghiệp, ắt gây nhiều nhầm lẫn cho người đọc.

    Trong bản dịch của Nxb Thuận Hóa (ĐNNTC 1992: 288–289), tôi không thấy chép bài thơ của ông Thái phó Nguyễn Văn Khải thuộc triều Lê.

    b/ Bản dịch của Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục (Sài Gòn), phụ trách phiên dịch tập Thượng và Hạ của địa bàn Nam Kỳ Lục Tỉnh là ông Nguyễn Tạo, phụ trách nhuận chính gồm ông Trần Tuấn Khải và nhiều người khác, xuất bản năm 1959. Phụ trách phiên dịch Tập Thượng và Hạ của địa bàn Thanh Hóa là ông Trần Tuấn Khải, xuất bản năm 1960. Bản dịch này không thấy các dịch giả nêu ra bản Hán văn gốc.

    Trong bản dịch của Nha Văn hóa (ĐNNTC 1960: 107–108), tôi thấy có chép bài thơ của ông Thái phó Nguyễn Văn Khải, kèm bản dịch thơ sang Việt ngữ của ông Trần Tuấn Nam. Tôi chép lại ở đây như một bằng chứng sống động về những nỗ lực đáng kính của các bậc tiền bối đối với nền sử học Việt (và không có ý so sánh với bản chuyển ngữ xuất sắc của ông Hà Hữu Nga):

    Non Đài quay lại, nước bao vây,
    Chung đúc anh linh ở chốn này.
    Bầu giốc đàn trên mưa dưới khắp,
    Trống khua tầng thẳm giặc tan bay.
    Bia rùa truyện đá ngàn sương phủ,
    Trát phượng niêm vàng ánh nắng gay.
    Câm cổ cuộc cờ bao xóa đổi,
    Vẫn lừng chính khí nước non đây.

    Ngoài một vài chữ khác như tinh (靈), triện (篆), sương (霜)… so với bản dịch của Le Minh Khai, trong bản dịch của ông Trần Tuấn Khải có một chi tiết thú vị như sau. Câu thứ 7 của bài thơ Kim cổ điệt canh kỳ kỷ cục 今古迭更棋幾局, trong phần phiên âm lẫn phần tạm dịch Việt văn, ông Trần Tuấn Khải đều dùng chữ “câm” chứ không phải là “kim”; trong khi ở nguyên bản chữ Hán vẫn viết là 今. Có lẽ dịch giả chọn âm này cho đúng với cách đọc biên soạn sách của các sử quan có liên quan đến lệ kỵ húy của triều đình nhà Nguyễn chăng, bởi tên người sáng lập nhà Nguyễn là ông Nguyễn Kim chăng?

    (Còn tiếp)

    Trả lờiXóa
  2. Xung quanh về đền Trống Đồng ở Thanh Hóa (2)

    2/ Các địa danh

    2.1/ Địa danh “Khả Lao”(可牢)

    Trong ĐNNTC chỉ nói thoáng qua tên núi Khả Lao, và chuyên chú vào địa danh Đồng Cổ (銅 皷) để chỉ núi này, với giải thích do “đền thờ nơi đây có cái trống bằng đồng nên lấy tên Trống Đồng đặt cho tên núi.” Từ lời giải thích này khiến nảy lên thắc mắc, vậy trước khi phát hiện ra trống đồng thì ngọn núi ở huyện Yên Định vốn có tên là gì?

    Ứng dụng quan điểm của ông Đào Duy Anh (2005: 31-33): địa danh “Khả Lũ” của thành Cổ Loa vốn là Kẻ Lũ, tôi cho rằng địa danh “Khả Lao” vốn là “Kẻ Lao”. Đồng thời chữ Lao 牢 còn có âm Nôm là “lao xao”. Vậy “Khả Lao” có thể hiểu vốn trong dân gian được gọi là Kẻ Lao xao – chỉ về một cộng đồng/một làng có nhiều cư dân. Sau đó, tên làng Kẻ Lao xao được dùng chỉ quả núi kế cận: núi Kẻ Lao/Khả Lao.

    Kẻ Lao ở hữu ngạn sông Mã thuộc huyện Yên Định xuất hiện cùng thời với địa danh một số làng khác thuộc tỉnh Thanh Hóa, như Kẻ Bôn (huyện Thiệu Hóa), Kẻ Nưa (huyện Nông Cống)… hay Kẻ Lũ (Khả Lũ/Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội). Vùng đồng bằng sông Mã còn bảo lưu được khoảng gần 120 làng có tên “Kẻ”, chiếm 24% trong tổng số 1,792 làng được điều tra (Lê Kim Lữ 1990).

    Ngoài ra núi Trống Đồng (Khả Lao) có 3 ngọn liền lạc trông giống hình 3 ngôi sao, nên còn gọi là Tam Thai (còn đọc là Đài) sơn (三台山) – chứ không phải là Tam Thái sơn (Đại Nam Nhất thống chí 1960: 60).

    2.2/ Địa danh “Đan Nê”:

    Giải thích một cách đơn giản về địa danh này, đã có ý kiến cho rằng: để giải thích ý nghĩa về “bùn đỏ”, người ta có thể tìm thấy đất màu đỏ ở những khu vực gần làng Đan Nê hiện nay. Tuy nhiên tôi không tán thành ý kiến này. “Đan Nê” có lẽ xuất phát từ một địa danh có nguồn gốc xưa hơn, đó là Đản Nải 但 乃.

    Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Kỷ nhà Lê, trang 16b, có chép một sự kiện xảy ra vào năm 983 (Quý Mùi):

    帝 征 占 時 歷 銅 皷 山 至 婆 和 江 山 路 險 難 人 馬 困 憊 海 道 波 濤 又 難 往 來 乃 使 人 開 港 .
    Đế chinh Chiêm thời, lịch Đồng Cổ sơn, chí Bà Hoà giang, sơn lộ hiểm nan, nhân mã khốn bị, hải đạo ba đào hựu nan vãng lai, nãi sử nhân khai cảng.
    至 是 成 舟 楫 所 至 皆 得 其 便 .
    Chí thị thành, chu tiếp sở chí giai đắc kì tiện.

    Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hoà, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây đào xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện.

    Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Thái tông Hoàng Đế, trang 19b, có chép một sự kiện xảy ra vào năm 1029 (Kỷ Tỵ):

    州 但 乃 甲 叛 .
    Châu Đản Nãi Giáp phản.
    夏 四 月 朔 帝 親 征 但 乃 甲 以 東 宫 太 子 監 國 .
    Hạ, tứ nguyệt, sóc, Đế thân chinh Đản Nãi Giáp, dĩ Đông cung Thái tử giám quốc.
    但 乃 甲 既 扳 遣 中 使 督 但 乃 人 開 但 乃 港 至 自 但 乃 .
    Đản Nãi Giáp ký ban, khiển Trung sứ đốc Đản Nãi nhân khai Đản Nãi cảng, chí tự Đản Nãi.

    Giáp Đản Nãi ở châu Ái làm phản. Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua thân đi đánh giáp Đản Nãi, cho Đông cung thái tử ở lại Kinh sư làm Giám quốc. Khi đánh được giáp Đản Nãi rồi, sai Trung sứ đốc suất người Đản Nãi đào kênh Đản Nãi. Vua từ Đản Nãi trở về Kinh sư.

    Kênh Đản Nãi 但 乃 còn được viết như các ông (Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn, 2000), (Hà Mạnh Khoa, 2004) là sông Đan Nãi. Kênh Đan Nãi là sông mà Lê Hoàn đã khơi đào xong năm 983, bắt đầu từ núi Đồng Cổ đi qua địa phận huyện Yên Định và Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. (Hà Mạnh Khoa, 2004).

    (Còn tiếp)

    Trả lờiXóa
  3. Xung quanh về đền Trống Đồng ở Thanh Hóa (3)

    Trên cùng một vùng đất được đặt tên nhiều địa danh là một hiện tượng bình thường. Trong trường hợp này, tôi cho rằng địa danh Kẻ Lao/Khả Lao (hay làng Lao xao) thuần Việt cổ có trước địa danh Đản Nãi/Đan Nê xuất hiện khoảng thế kỷ X - XI.

    Trong đoạn viết ngắn này, tôi muốn giới hạn vấn đề trong việc đề cập đến những địa danh xưa hơn của các vùng đất có đền thờ thần Đồng Cổ. Qua ý kiến cho rằng: “Đan Nê” và “Khả Lao” không phải là tên Việt”, tôi hiểu tác giả Le Minh Khai muốn đề cập đến những địa danh Việt thuần túy dân giã – hơn là xác định một địa danh dân giã Việt được viết bằng chữ Hán. Bởi nếu chỉ thừa nhận là các địa danh thuần Việt thì mới thừa nhận là tên Việt trong các thư tịch cổ (viết bằng chữ Hán) thì sẽ là một yêu cầu không khả thi.

    Tôi không cho rằng “những người sử dụng trống đồng là nhóm khác với người Việt”, đồng thời không nên vội vàng kết luận Khả Lao xưa là vùng đất chỉ có cư dân Việt - hiểu theo nghĩa là người Kinh thuần túy, một khi chưa đưa ra được những bằng chứng xác đáng hơn. Bởi cũng có ý kiến cho rằng địa danh xuất phát từ tộc danh, trong trường hợp này là tộc danh Đản Nãi lưu thành tên sông Đản Nãi và địa danh Đan Nê (Tạ Đức 2013); ông Tạ Đức đã đưa ra quan điểm Đản Nãi là một tộc người xưa thuộc nhóm Đan Lai ngày nay, có gốc Lê Quảng Đông hay Hải Nam. Thời Bắc thuộc, khi các cuộc khởi nghĩa dành độc lập thất bại, bị đàn áp, các lực lượng khởi nghĩa thuộc đại tộc Lạc Việt từ Bắc bộ và đảo Hải Nam đã di tản tới vùng Thanh-Nghệ. Và ông Tạ Đức cũng dẫn chứng người tộc Đản vốn biết thổi khèn bầu, đánh trống đồng.

    Tài liệu trích dẫn

    1. Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán 1960, Đại Nam nhất thống chí 大南一統志. Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, (Bản tiếng Việt của Trần Tuấn Khải).

    2. Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán 1992, 2006, Đại Nam nhất thống chí 大南一統志. Nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế), Viện Sử học. Bản tiếng Việt của Phạm Trọng Điềm (phiên dịch), Đào Duy Anh (hiệu đính).

    3. Đào Duy Anh 2005. Đất nước Việt Nam qua các đời – Nghiên cứu Địa lý học lịch sử Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội.

    4. Hà Mạnh Khoa 2004. Quá trình phát triển sông đào ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ hai. Thành phố HCM 14-16 tháng 7 năm 2004.

    5. Tạ Đức 2013. Nguồn gốc người Việt - người Mường. Nxb. Tri thức. Hà Nội.

    Trả lờiXóa
  4. Khâm phục tri thức và công khảo cứu kỹ lưỡng của ông Davis Huynh.

    Thật thú vị về thông tin bản dịch bài thơ mà GS. Le Minh Khai chưa thấy có bản tiếng Việt nào.

    Cảm ơn ông đã đọc và đưa ra những nhận xét xác đáng với các bằng chứng thuyết phục về nhiều vấn đề liên quan đến một số địa danh ở Thanh Hóa.

    Những tư liệu và đánh giá về người Đản của ông đã giúp giải tỏa những thắc mắc nhiều năm của một người làm khảo cổ học là tôi về người xứ Thanh, tiếng xứ Thanh và các địa danh xứ Thanh.

    Một lần nữa cảm ơn ông.

    Hà Hữu Nga

    Trả lờiXóa