Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Ký hiệu học văn hóa (II)



Ký hiệu học văn hóa (II)

Roland Posner

Người dịch: Hà Hữu Nga

Khái niệm các phương tiện [media] chức năng đặc trưng hóa quá trình dấu hiệu theo mục đích thông điệp được truyền đi bằng các phương tiện đó. Ở đây, chúng ta phải giải quyết một hình thái được tổng quát hóa với những gì được gọi là "phong cách", "thể loại", hoặc "các loại diễn ngôn" trong văn học, nghệ thuật, và âm nhạc học (xem Morris 1946 = 1971: 203-232). Mục đích của giao tiếp cung cấp cho thông điệp những cấu trúc tương tự bất kể sinh học, vật lý, kỹ thuật, hoặc phương tiện xã hội để thông điệp được thực hiện trong các cấu trúc đó. Không chỉ trên báo chí, mà còn trên đài phát thanh và trên truyền hình, người ta phân biệt giữa tin tức, bình luận, phê bình, phóng sự, những câu chuyện nổi bật, và quảng cáo. Sự khác biệt giữa sản phẩm nghệ thuật và giải trí hàng loạt xuất hiện trong điện ảnh như phim nhiều tập so với phim của Hollywood, trong âm nhạc như nhạc cổ điển so với nhạc pop, và trong tiểu thuyết như tiểu thuyết văn học so với tiểu thuyết sân bay. Trong lĩnh vực vui chơi giải trí một lần nữa lại vô số phân chia song hành, ví dụ như khi một cuốn sách được trình bày như một cuốn tiểu thuyết truyện tranh, một cuốn tiểu thuyết trinh thám, hay một cuốn tiểu thuyết lịch sử; khi một bộ phim được thể hiện như một bộ phim hài, phim trinh thám, hoặc một phim truyện lịch sử; và khi một chương trình truyền hình được trình bày như một phim sit-com [hài kịch tình huống], một chương trình thám tử, hay một "chân dung lịch sử". Điều này đặt ra câu hỏi tổng quát hơn về việc là các hạn chế vào một loại thông điệp được đưa ra khác nhau như thế nào khi người ta công bố nó trong bối cảnh của một bản tin, một bài bình luận, phê bình, một phóng sự, một câu chuyện, hoặc một quảng cáo. Cái sự thật là những hạn chế như vậy khá ổn định lại biện minh cho việc nói về tin tức, bình luận, phê bình, phóng sự, bản tin đặc biệt,quảng cáo, và vv như là các phương tiện chức năng (xem Hempfer 1973 và Rolf 1996).

Khái niệm phương tiện dựa trên mã đặc trưng hóa các hệ thống dấu hiệu theo các loại quy tắc bằng phương tiện mà người sử dụng dấu hiệu cố gắng gán thông điệp cho dấu hiệu. Chúng ta đang gặp phải một phân chia liên quan đến khi một thể chế như một mạng lưới radio phân biệt giữa bộ phận để phát sóng văn bản nói so với âm nhạc, hoặc khi một nhà xuất bản quốc tế tự tổ chức ra các bộ phận tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha. Một sự khác biệt liên quan đến trong âm nhạc phương Tây là sự khác biệt giữa phát thanh đơn âm sắc và phát thanh đa âm sắc, cũng như giữa nhạc có âm điệunhạc không âm điệu vậy; trong nghệ thuật, sự khác biệt giữa bức tranh tượng trưngnhững bức không phải tượng trưng; trong kiến trúc, sự phân loại của một tòa nhà là Romantic hay tân-Romantic so với Gothic hay tân-Gothic hoặc Công năng hay tân-Công năng, vv. Quyết định của một nhà xuất bản để xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Anh, Pháp, Đức, hoặc tiếng Tây Ban Nha, quyết định của một nhạc sĩ sáng tác có âm điệu hay phi âm điệu, quyết định của một họa sĩ vẽ theo trường phái tượng trưng hoặc không tượng trưng, hoặc quyết định của kiến ​​trúc sư xây dựng một ngôi nhà theo phong cách tân-Romantic, tân-Gothic, hoặc tân- Công năng có thể được hiểu như là một sự lựa chọn giữa các phương tiện xuất bản, âm nhạc, hội họa, hoặc xây dựng, khác nhau.

Mỗi
phương tiện xác định các loại thông điệp có thể được truyền đi bằng phương tiện đó. Vì vậy, nó thường được gọi là một "kênh": Nó cho phép mỗi loại thông điệp riêng được truyền đi và bao gồm cả những thông điệp khác (xem Posner 1985: 257 và 264, lưu ý 32). Tuy nhiên, các giới hạn sinh học, vật lý, kỹ thuật, xã hội, chức năng, và mã liên quan thường vận hành với nhau. vậy, một buổi hòa nhạc pop đồng thời sử dụng các phương thức cảm nhận của mắt và tai, kênh tiếp xúc không khí, thiết bị kỹ thuật của đèn sân khấu và các màn hình cũng như nhạc cụ, micro và bộ khuếch đại, thể chế xã hội là tác nhân xúc tiến cũng như địa điểm hoặc sân khấu, bộ định dạng văn bản các bài hát nhạc pop, và là mã ngôn ngữ tiếng Anh, cử chỉ của phương Tây, và âm nhạc có âm sắc. Chùm phương tiện đặc biệt này ảnh hưởng đến nó, vì một thông điệp chất chứa cảm xúc, thường dễ hiểu, có thể cung cấp cho mỗi cá nhân t một lượng lớn khán giả với một cảm giác thuộc về nhau. Mặt khác, một người nào đó, quan tâm nhiều hơn đến việc ủng hộ, từ một khoảng xa, cho một nhóm nhỏ thảo luận về các vấn đề nghiêm túc, thay vì tham dự một buổi hòa nhạc, nên lắng nghe một cuộc tranh luận trên Đài phát thanh Quốc gia. Các ví dụ như vậy cho thấy sự khôn ngoan của việc áp dụng thuật ngữ phương tiện được trích dẫn trong việc mô tả một quá trình dấu hiệu. Một phương tiện theo nghĩa toàn diện này là một hệ thống ký hiệu được phú bẩm một loạt thuộc tính trong các nhân tố cấu thành của nó qua một khoảng thời gian cụ thể, do đó buộc quá trình dấu hiệu diễn ra trong khoảng thời gian đó phải chịu các hạn chế hằng xuyên. Mối quan tâm đến lý thuyết văn hóa thuộc về cấp độ chuyên môn hóa cao, là khác biệt quan trọng về uy tín của các loại phương tiện khác nhau, và quá trình phân công lao động của họ trong việc tổ chức quá trình dấu hiệu trong một nền văn hóa (xem §4 dưới đây). Những vấn đề nhất định ấy cũng tạo hình tính năng động của sự thay đổi phương tiện trong lịch sử văn hóa (xem, Böhme-Durr 1997 và Threadgold năm 1997, cũng như Gumperz và Hymes 1972).

3. Văn hóa với tư cách các hệ thống dấu hiệu: xã hội, văn minh, và tâm tính

Việc nghiên cứu văn hóa truyền thống trong các trường đại học và học viện của phương Tây đã được tổ chức theo cách thức là việc nghiên cứu của họ bị hạn chế vào phương tiện cụ thể:

- Ngữ văn học và lịch sử tập trung vào các phức hợp dấu hiệu được truyền bằng quang học, có thể tiếp nhận bằng thị giác, chứa trong văn bản giấy và được sử dụng trong các thể chế tôn giáo và / hoặc chính trị (tác phẩm văn học và các nguồn lịch sử);

-
Các nghiên cứu lịch sử nghệ thuật và nghiên cứu kiến ​​trúc tập trung vào phức hợp dấu hiệu được trải nghiệm về phương diện không gian và được truyền bằng phương tiện quang học và xúc giác, có thể tiếp nhận bằng thị giác, chứa trong hình ảnh, tác phẩm điêu khắc, công trình xây dựngđược sử dụng trong các thể chế tôn giáo và / hoặc chính trị (hội họa và khảm, đài tưởng niệm, nhà thờ, lâu đài, cung điện);

- Âm nhạc học tập trung vào
phức hợp dấu hiệu âm thanh được truyền bằng âm thanh, có thể tiếp nhận bằng thính giác, được sản xuất với giọng điệu của con người và / hoặc dụng cụ âm nhạc và được biểu diễn trong các thể chế tôn giáo và / hoặc chính trị (các bản nhạc).

Việc tổ chức lấy phương tiện làm trung tâm này chỉ tăng trưởng mạnh mẽ hơn với sự xuất hiện của các phương tiện kỹ thuật mới trong thế kỷ 19, 20  (nhiếp ảnh, điện ảnh, truyền hình, video, máy tính) và việc cho ra mắt các chương trình nghiên cứu về các loại phương tiện đó. Môn học duy nhất, thậm chí trước khi ký hiệu học hiện đại được tăng tốc hướng tới nghiên cứu có hệ thống về các nền văn hóa trong tính tổng thể của là nhân học (xem, Herder 1784-1791, 1843-1852 và 1854-1855 Klemm, Tylor 1871, Boas 1908, Kroeber 1923, Thurnwald 1936-1937 và năm 1950, Bidney 1953, Turner 1967, Harris 1968, Geertz 1973, Leach 1976, Vivelo 1978, Moore năm 1997, và một cuộc điều tra chung trong Kroeber và Kluckhohn 1952) và khảo cổ học (xem Leroi-Gourhan 1964, Chang 1967, Binford 1972, Renfrew 1973, Schiffer 1976, Clarke năm 1972 và 1978, Frerichs năm 1981 và 2003). Rất xứng đáng để nhà ký hiệu học văn hóa xem xét các vấn đề nghiên cứu do nhân học và khảo cổ học đặt ra và trình bày lại bằng hệ thống thuật ngữ ký hiệu học, vì những câu hỏi này đưa ra một quan điểm liên phương tiện về các nền văn hoá thế giới.

Trong nửa sau của thế kỷ 20, một thỏa thuận lớn đã đạt được trong hai ngành trên về lĩnh vực chủ đề trung tâm, có thể được khảo sát và về các câu hỏi quan trọng nhất phải được đặt ra trong nghiên cứu văn hóa (Xem Singer 1978 và 1980). Dựa trên lĩnh vực ch đề ấy, nhân học có thể được cấu trúc (Xem Posner 1989: 249ff và Hansen 1993) thành các phụ môn: nhân học xã hội (Xem, Alfred Weber 1920 và 1935, Radcliffe-Brown năm 1940 và 1952, Evans-Pritchard năm 1962, và Cohen 1971); nhân học vật chất (xem, Thurnwald 1932, Bidney 1953, và Clarke 1978); và nhân học văn hóa (xem, Kroeber năm 1923 và 1952, Kluckhohn 1951 và 1962, và Lévi-Strauss năm 1949 và 1958).

a)
Lĩnh vực chủ đề về nhân học xã hội là văn hóa xã hội, tức là, xã hội tổng thể. Mỗi xã hội bao gồm các thể chế và các nghi lễ được xã hội thực hiện. Những ví dụ bao gồm các thể chế tôn giáo, chẳng hạn như một nhà thờ Kitô giáo và hệ thống nghi lễ của nhà thờ.

b)
Lĩnh vực chủ đề về nhân học vật chất là văn hóa vật chất của một xã hội, tức là, trình độ văn minh của nó. Trình độ văn minh của một xã hội bao gồm hiện vật và các kỹ năng sản xuất và sử dụng chúng. Ví dụ về các hiện vật được sử dụng trong tổ chức tôn giáo là những loại chữ thập, bánh thánh, tràng hạt, thánh ca, và kinh bổn.

c) Lĩnh vực chủ đề của nhân học văn hóa là văn hóa tinh thần của một xã hội, trong chừng mực nó được thể hiện trong cấp độ văn minh của mình, tức là, tâm tính của nó. Tâm tính của một xã hội gồm các sự kiện tâm lý (có nghĩa là, những ý tưởng và các giá trị) và các quy ước chi phối việc sử dụng và biểu hiện của các sự kiện đó (để biết thêm định nghĩa về "tâm lý", xem Raulff 1987: 11 và Posner 1991: 68, lưu ý 2; khái niệm này có thể được truy ngược trở lại với truyền thống của tạp chí Annales ESC của Pháp, được L. Febvre và M. Bloch thành lập năm 1929 tại Paris; cũng có thể xem Duby 1961, Le Goff 1974, Tellenbach 1974, Hutton 1981, Sellin 1985, Dinzelbacher 1993 và Werlen 1998). Ví dụ về các sự kiện tâm lý tôn giáo là các vị thánh Công giáo và các biểu tượng của họ, việc phân loại tội lỗi với các thuật ngữ tương ứng ("tội trọng", "tội nhẹ", vv), và các mã cử chỉ của các linh mục.

Lĩnh vực ch
ủ đề của các phụ bộ môn nhân học này không chỉ được nghiên cứu riêng rẽ với nhau, mà còn được nghiên cứu liên quan đến nhau. Do đó, người ta có thể hỏi về một xã hội nhất định là loại văn minh và tâm tính nào nó có khả năng phát triển, người ta có thể hỏi về một nền văn minh nhất định là loại cấu trúc xã hội và tâm tính nào mà nó chấp nhận, và người ta có thể hỏi về một tâm tính nhất định là cấu trúc xã hội và lọai văn minh nào được tạo điều kiện phát triển.

Đều liên quan
đến cả ba lĩnh vực chủ đề là câu hỏi: văn hóa xã hội (thể chế và lễ thức), văn hóa vật chất (hiện vật và kỹ năng), và văn hóa tinh thần (các sự kiện tâm lýcác quy ước) được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như thế nào. Chính cơ chế trao truyền này (xem Mead 1912, Thurnwald 1936-1937 và 1950, Lotman và Uspenskij 1971 cũng như Lotman et al. 1975), thường được gọi là "truyền thống". Để tóm tắt, có thể nói rằng một nền văn hóa theo nghĩa nhân học và khảo cổ học không có gì khác hơn là một xã hội đã phát triển một nền văn minh đặc biệt phù hợp với một tâm tính nhất định.

Câu hỏi
về mối quan tâm chính đối với nhà ký hiệu học văn hóa bây giờ là: Một mặt, những mối quan hệ nào tồn tại giữa xã hội, nền văn minh, và tâm tính, và mặt khác giữa các hệ thống dấu hiệu? Các khái niệm về thể chế, hiện vật, sự kiện tâm lý, và việc trao truyền văn hóa có thể được diễn giải với sự trợ giúp của các khái niệm ký hiệu học như "dấu hiệu", "thông điệp", "người diễn giải", "", và "phương tiện" không? Nói cách khác: Có thể hiểu đối tượng được nhà nhân học và nhà khảo cổ học nghiên cứu ấy như là các yếu tố của những hình thái tượng trưng theo nghĩa của Cassirer không?

3.1 Văn hóa xã hội (xã hội
tổng thể): người sử dụng dấu hiệu

Một xã hội là một tập hợp của các cá nhân. Cấu trúc của nó được xác định bởi các nhóm cá nhân thường xuyên được kết nối bởi quá trình dấu hiệu. Các nhóm này chính là những gì chúng ta thường gọi "thể chế". Các thể chế tồn tại trong xã hội tổng thể là đặc trưng của văn hóa xã hội của họ (xem, Homans 1950, Bourdieu 1970, Lehmann 1984, Smuts 1987, Giesecke 1988, Alexander và Seidmann 1990, Cole năm 1996, Kashima năm 2001, và Baltzer 2001).

Mỗi xã hội đều phát triển nền văn hóa vật chất và tinh thần của riêng mình. Nhưng ranh giới địa lý giữa hai xã hội không nhất thiết trùng với ranh giới giữa các nền văn hóa vật chất tương ứng và giữa các nền văn hóa tinh thần của họ (Xem Clarke 1978, Posner 1990, và Berry et al 1997) :

- Các cá nhân từ một xã hội
này có thể được chấp nhận trong bối cảnh xã hội của một xã hội khác và họ mang theo đồ vật, tưởng và các giá trị của mình. Điều này xảy ra trong các cuộc hôn nhân liên văn hóa cũng như trong việc nhập cư các kỹ năng bên ngoài vào (ví dụ, thợ thủ công, thương nhân, người thu thuế).

-
Đồ vật từ các nền văn hóa vật chất của một xã hội có thể được mua lại bởi thành viên của xã hội khác; chúng có thể được đưa vào sử dụng và được bắt chước mà không thay đổi bất cứ điều gì trong các mối quan hệ xã hội. Việc mua lại, sử dụng, và bắt chước đồ sứ Trung Quốc của người châu Âu và việc mua lại, sử dụng, và bắt chước công nghệ ô tô châu Âu của người Nhật thường được công nhận là những ví dụ về sự chồng chéo về phương diện văn minh như vậy.

- Các sự kiện tâm lý xác định hành vi của cá nhân trong một xã hội có thể được được các thành viên của xã hội khác chấp nhận và có thể bắt đầu quyết định hành vi của họ. Một trường hợp như vậy là việc người Đức chấp nhận âm nhạc của người Mỹ gốc Phi (lúc đầu được gọi là "Negergedudel", "tiếng ò è của mọi đen") sau Thế chiến II và phát triển độc lập thành các hình thức âm nhạc địa phương, ví dụ, krautrock (nghĩa đen có tính chế riễu do người Anh đặt là - rock - hòn đá nén, kraut - dưa cải bắp, để chế riễu món ăn phổ biến của người Đức - nghĩa thông dụng là nhạc rock điện tử - HHN) trong những thập kỷ tiếp theo: Tâm tính của người hâm mộ nhạc jazz hiện nay kết nối các cá nhân từ các xã hội và các nền văn minh rất khác nhau. Vậy thì, đó là ai trong một xã hội quyết định văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của nó? Ai là người mang văn hóa của mình? Một câu trả lời giải thích cho những chồng chéo phác thảo trên là như sau:

1. Mỗi cá nhân trong một xã hội có một tập các hiện vật và
các sự kiện tâm lý riêngdo đó có thể được coi là một vật mang văn hóa.

2. Mỗi xã hội như một t
ổng thể có một tập các hiện vật và các sự kiện tâm lý và do đó có thể được coi là một vật mang văn hóa tập thể.

3.
Các nhóm cá nhân nhất định (một lần nữa, có thể chồng chéo) trong một xã hội được đặc trưng bởi các hiện vật và các sự kiện tâm lý, và vì vậy cũng có thể được coi là những vật mang văn hóa tập thể. Ví dụ: các thể chế như Hội Thánh Công giáo, Giáo hội Tin lành và các cộng đồng tôn giáo khác.

Giờ đây, thực tế là các cá nhân, các xã hội và các thể chế cũng hành động như là những người sử dụng dấu hiệu. Liên quan đến các cá nhân, người ta có thể đặt câu hỏi liệu họ không được gọi là "các cá nhân" (theo nghĩa ‘những gì không thể phân chia’) chính là vì họ có khả năng đóng vai trò của một người gửi, người nhận, người ngoài cuộc, hoặc người nhận các thông điệp thông thường: Các cá nhân có chức năng như những người sử dụng dấu hiệu thông thường, và họ bị mất khả năng này khi họ bị chia thành các mảnh rời rạc.

Hệt như vậy đối với một xã hội như một tổng thể: Trong hình thức của một nhà nước chính trị nó có thể tiến hành các đàm phán, tuyên bố chiến tranh hay hòa bình, và phê chuẩn hoặc phá vỡ các hiệp ước.

cũng tổ chức các thể chế, chẳng hạn như nhà thờ, bệnh viện, trường học, nhà hát, hoặc cơ quan hành chính: Ví dụ, bất cứ ai cũng có thể gửi thư, tin đến một trường đại học của Đức như là một đơn vị thể chế, và nó sẽ trả lời như sau ("Thay mặt Chủ tịch Đại học, Smith"). Nó tuân thủ một điều là các vật mang văn hóa là những người sử dụng dấu hiệu. Khi phong tục học đã được xác lập, thì các xem xét ở trên cũng được áp dụng cho cả các loài động vật nữa. Không chỉ riêng các loài linh trưởng mà còn toàn bộ các nhóm động vật linh trưởng có thể khớp nối ý muốn của chúng bằng cách sản xuất ra và gửi các dấu hiệu thông thường đến (chẳng hạn như, các nhóm con cái trong một bầy tinh tinh, mà bằng hành động tập thể có thể chỉ cho một con đực về vai trò xã hội của trong bầy đàn; xem de Waal 1982 và 1989).

Ngay cả trong quan niệm vẫn còn không tưởng (hoặc
phản-không tưởng) về các máy móc như là những vật mang văn hóa, dường như rõ ràng máy móc sẽ tạo hình các xã hội và được chấp nhận là các thành viên của cùng một xã hội trong phạm vi mà chúng sẽ phát triển các mã tập thể thông thường, sản xuất các dấu hiệu có thể diễn giải với sự trợ giúp của các mã này, và gửi cho  nhau (xem Posner 1993: 262-267 và 2000).

3.2
Văn hóa vật chất (văn minh): các văn bản

Một nền văn minh đã được đặc trưng trên là toàn bộ các đồ tạo tác của một xã hội, bao gồm cả các kỹ năng sản xuất và sử dụng chúng. Nền văn minh t
heo nghĩa này làm phát sinh nhiều loại quá trình dấu hiệu. Trong khi tìm cách để mô tả chúng, ta cần phải xác định xem một hiện vật cần được hiểu như thế nào (xem Folsom 1928, pp. 15, Bernard 1942, pp. 699, và Kluckhohn 1951, pp. 86, Thompson 1979 và Warnier 1999).

3.2.1 Hiện vật

"
Hiện vật" có thể dễ dàng xác định nếu ta thừa nhận rằng hành vi của một cá nhân có thể được phân biệt với các kết quả của mình và hành vi có chủ đích có thể được phân biệt với hành vi không chủ đích. Vậy là, một hiện vật là bất cứ một thứ gì là kết quả của hành vi có chủ ý, cho dù kết quả đặc biệt này có chủ đích hay không (xem Herskovits 1948, Rossi-Landi Năm 1968 và 1975, Becker năm 1993, và Scholz 2002).

Các hiện vật có thể thuộc loại ngắn hạn, ví dụ như các âm thanh một người phụ nữ tạo ra khi gót giày của ấy gõ trên vỉa hè, hoặc chúng có thể kéo dài hơn, chẳng hạn như những vết giày của người phụ nữ để lại trên đất ướt. Vì thế cần phải phân biệt giữa hiện vật tức thời và hiện vật lâu bền.

Các hiện vật được sản xuất thường xuyên nhất để thực hiện một chức năng cụ thể. Hiện vật lâu bền có chức năng thì được gọi là "công cụ". Trong một nền văn hóa, một cái gì đó có thể là một công cụ còn một hiện vật khác lại phi chức năng (xem Posner 1989: 255). Tất cả các nền văn hóa của con người đều phân loại các công cụ theo chức năng của chúng, được minh họa bởi phần lớn các từ tiếng Anh: một "cái búa" là một thiết bị để đập, một "cái khoan" là một thiết bị để khoan, và như vậy có thể nói về một "chiếc đục", một "cái bào", một "cái cưa", một "cái cuốc", một "cái tời", một "cái bơm", một "cục tẩy", một "cái đột", một "cái máy chữ", vv.

3.2.2 Các
văn bản

Khi một vật không chỉ có một chức năng trong một nền văn hóa mà còn là một dấu hiệu mang một thông điệp được mã hóa,
thì nó được môn ký hiệu học văn hóa xác định là một "văn bản của nền văn hóa đó". Các văn bản luôn luôn là một kết quả của hành vi có chủ đích, ngay cả nếu không phải tất cả các đặc điểm của cần phải được dự định (xem Beardsley và Wimsatt, 1946, Hirsch 1967, Grice năm 1975, và Danneberg và Müller 1983). Vì chúng là những hiện vật, nên các văn bản có thể không chỉ được sản xuất mà còn được tái sản xuất. Bằng cách này, con người đạt được một số biểu hiện của cùng một loại hiện vật. Các sản phẩm công nghiệp, chẳng hạn như các bộ phận của một đồ nội thất bằng nhựa, những chiếc váy để mặc, những chiếc xe sản xuất trên dây chuyền lắp ráp chính là trường hợp đó. Khi một văn bản được tái sản xuất như vậy, các thuộc tính của nó đã được mã hóa (những cái biểu đạtnhững cái được biểu đạt của nó) vẫn không thay đổi. Điều này đặc biệt đúng đối với các văn bản khẩu ngữ. Đó là lý do tại sao tôi có thể nói rằng cuốn Kinh Thánh của bạn cũng một văn bản hệt như cuốn Kinh Thánh của tôi (nếu cả hai đều là kết quả của một bản in, chẳng hạn, lần xuất bản Uỷ quyền đầu tiên của King James Version). Trong trường hợp này, chúng ta phân biệt giữa dấu hiệu văn bản của bạn và dấu hiệu văn bản của tôi rồi đối chiếu chúng với loại văn bản của phiên bản này (xem Posner 1989: 284, lưu ý 16).
__________________________________________

Nguồn: Posner, Roland 2004. Basic Tasks of Cultural Semiotics. In: Gloria Withalm and Josef Wallmannsberger (eds.) (2004), Signs of Power – Power of Signs. Essays in Honor of Jeff  Bernard. Vienna: INST, p. 56-89. 

Tác giả: Roland Posner là Chủ tịch của Hiệp hội Quốc tế Ký hiệu học (IASS) 1994-2004. Ông nghiên cứu triết học, văn học so sánh, ngôn ngữ học và lý thuyết giao tiếp tại các trường đại học Bonn, Munich và Berlin. Năm 1972, ông tốt nghiệp cử nhân [summa cum laude] các môn Ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ Đức và triết học tại Đại học Kỹ thuật Berlin với luận án về "Lý thuyết chú giải: Nghiên cứu cơ bản về ngữ nghĩa và ngữ dụng". Năm 1973, ông là giảng viên về ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học và triết học ngôn ngữ tại Đại học Kỹ thuật Berlin. Từ năm 1975 ông là giáo sư về "Ngôn ngữ học Đại cương và Ngôn ngữ học Đức" của Đại học Kỹ thuật Berlin. Từ năm 1975 đến 1980, ông là giám đốc của Viện Ngôn ngữ học tại Đại học Kỹ thuật Berlin. Từ năm 1980, ông là Giám đốc "Trung tâm Nghiên cứu Ký hiệu học" tại Đại học Kỹ thuật Berlin. Năm 1975, ông cũng là chủ tịch sáng lập của Hiệp hội Ký hiệu học Đức (DGS). R. Posner Giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Hamburg (1973) và tại Université de Montréal (1977). Ông cũng là giảng viên tại Học viện Ngôn ngữ học và Ký hiệu học mùa hè ở Salzburg (1977), Tunis (1979), Toronto (1982), Lisbon (1983), Mysore (1984-1985), São Paulo (1985) và Lund (1992) . Posner là thành viên của năm Hàn lâm 1986/1987 của Viện nghiên cứu Cao cấp Hà Lan tại Wassenaar. Quan tâm nghiên cứu chính của ông là Triết học Khoa học, ngữ dụng ngôn ngữ, Ký hiệu học văn hóa, thơ ca và thẩm mỹ, nghiên cứu Dấu hiệu.

References

Alexander,  Jeffery  C./Seidmann,  Steven  (eds.):    Culture  and  Society.  Contemporary Debates.  Cambridge:  Cambridge UP 1990.
Appadurai, Arjun (ed.):  The Social Life of Things.  Commodity in Cultural Perspective. Cambridge:  Cambridge UP 1986.
Assmann, Jan/Hölscher, Tonio (eds.):  Kultur und Gedächtnis.  Frankfurt a.M.: Suhrkamp 1988.
Bal, Mieke:  “Visual Readers and Textual Viewers”.  In:  Versus.  Quaderni di studi semiotici 52-53 (1989), p. 133-150.
Ball, John A.:  “Memes as Replicators”.  In:  Ethology and Sociobiology 5 (1984), p. 145-161.
Baltzer, Ulrich (ed.):  Semiotik der Institutionen.  Special issue of Zeitschrift für Semiotik 23, 3 (2001).
Barthes, Roland:  Le degré zéro de l’écriture.  Paris:  Seuil 1953.  English translation: Writing Degree Zero.  New York:  Hill and Wang 1968.
Barthes, Roland:  Eléments de sémiologie.  Paris:  Seuil 1964.  English translation:  Elements of Semiology.  London:  Cape 1967.
Baumann, Gerd:  Multicultural Riddle.  Rethinking National, Ethnic, and Religious Identities.  London:  Routledge 1999.
Beardsley, Monroe C./Wimsatt, William K.:  “The Intentional Fallacy”.  In: William K. Wimsatt (ed.):  The Verbal Icon [1954].  Lexington: University of Kentucky Press 1967, p. 1-20.
Beck, Ulrich:  Perspektiven der Weltgesellschaft.  Frankfurt a.M.:  Suhrkamp 1998.
Becker, Peter-René:  Werkzeuggebrauch im Tierreich.  Wie Tiere hämmern, bohren, streichen.  Stuttgart:  Hirzel 1993.
Bernard, Luther L.:  An Introduction to Sociology.  New York:  Crowell 1942.
Berry, John W. et al.:  Handbook of Cross-Cultural Psychology [1980].  Boston: Allyn and Bacon, 1997.
Bidney, David:  Theoretical Anthropology.  New York:  Cambridge UP 1953. 32
Binford, Lewis R.:  An Archaeological Perspective.  London/New York: Seminar Press 1972.
Blanke, Börries/Posner, Roland:  “La pragmatique implicite dans l’œuvre de Luis J. Prieto”.  In:  Semiotica 122, 3-4 (1998), p. 257-278.
Boas, Franz:  Anthropology.  New York:  Columbia UP 1908.
Böhme-Dürr, Karin:  “Technische Medien der Semiose”.  In: Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 1 (1997), p. 357-384.
Bonner, John T.:  The Evolution of Culture in Animals.  Princeton NJ:  Princeton UP 1980.
Bourdieu, Pierre:  Zur Soziologie der symbolischen Formen.  Frankfurt a.M.: Suhrkamp 1970.
Buyssens, Eric:  Les langages et le discours.  Brussels :  Office de la Publicité 1943.
Cassirer, Ernst A.:  Philosophie der symbolischen Formen.  3 vols. Berlin: Bruno Cassirer 1923-29.  English translation:  The Philosophy of Symbolic Forms.  3 vols.  New Haven CT:  Yale UP 1953-57.
Cavalli-Sforza, Luigi L./Feldman, Marcus W.: Cultural Transmission and Evolution. A  Quantitative Approach.  Princeton NJ:  Princeton UP 1981.
Chang, Kwang-Chih:  Rethinking Archaeology.  New York:  Random House 1967.
Clarke, David L. (ed.):  Models in Archaeology.  London:  Methuen 1972.
Clarke, David L.:  Analytical Archaeology [1968].  New York:  Columbia UP 1978.
Cole, Michael:  Cultural Psychology.  A Once and Future Discipline. Cambridge MA:  Belknap Press of Harvard UP 1996.
Danneberg, Lutz/Müller, Hans-Harald: “Der ‘intentionale Fehlschluß’ – ein Dogma? Systematischer Forschungsbericht zur Kontroverse um eine intentionalistische Konzeption der Textwissenschaften“.  In:  Zeitschrift für allgemeine Wissenschaftstheorie 14 (1983), p. 103-137 und 376-411.
Dawkins, Richard:  The Selfish Gene.  Oxford:  Oxford UP 1976.
Dawkins,  Richard:    The  Extended  Phenotype.    The  Gene  as  the  Unit  of  Selection. Oxford/San Francisco:  Oxford UP 1982.
Deely, John N.:  Basics of Semiotics.  Bloomington:  Indiana UP 1990.
Dinzelbacher, Peter (ed.):  Europäische Mentalitätsgeschichte.  Stuttgart: Kröner 1993.
Duby, Georges:  “Histoire des mentalités”.  In :  Charles Samaran (ed.): L’histoire et ses méthodes.  Paris :  Gallimard 1961, p. 937-966.
Dusi, Nicola/Nergaard, Siri (eds.):  Sulla traduzione intersemiotica.  Special issue of Versus. Quaderni di studi semiotici 85-87 (2000).
Eco, Umberto:  A Theory of Semiotics.  Bloomington:  Indiana UP 1976. 33
Eibl-Eibesfeldt, Irenäus:  “Ritual and Ritualization from a Biological Perspective”.  In: Mario von Cranach et al. (eds.):  Human Ethology. Claims and Limits of a New Discipline. Cambridge:  Cambridge UP 1979, p. 3-55.
Elias, Norbert:  Über den Prozeß der Zivilisation.  2 vols.  Basel:  Haus zum Falken 1939.  English translation:  The Civilization Process.  New York:  Urizon Books 1971.
Erikson, Erik H.:  “Ontogeny of Ritualization In Man”.  In:  Rudolph M. Lowenstein et al. (eds.):  Psychoanalysis.  A General Psychology. Essays in Honor of Heinz Hartmann.  New York:  International Universities Press 1966, p. 601-621.
Erll, Astrid:  “Kollektives Gedächtnis und Erinnerungskulturen“.  In:  Ansgar Nünning/Vera Nünning (eds.):  Konzepte der Kulturwissenschaften.  Stuttgart:  Metzler 2003, p. 156-185.
Evans-Pritchard, Edward E.:  Social Anthropology and other Essays.  New York:  Free Press 1962.
Even-Zohar, Itamar:  “Polysystem Theory”.  In:  Poetics Today 1 (1979), p. 287-310.
Even-Zohar, Itamar:  “Literature. Literary Dynamics”.  In:  Thomas A. Sebeok (ed.):  Encyclopedic Dictionary of Semiotics.  Berlin/New York:  Walter de Gruyter 1986, p. 459-466.
Febvre, Lucien:  “La sensibilité et l’histoire.  Comment reconstituer la vie d’autrefois?” In:  Annales d’histoire sociale 3 (1941), p. 5-20.
Fine, Elizabeth C.:  The Folklore Text.  From Performance to Print.  Bloomington: Indiana UP 1984.
Fokkema, Douwe W.:  “The Canon as an Instrument for Problem Solving”.  In:  János Riesz/Peter  Boerner/Bernhard  Scholz (eds.): Sensus  Communis. Contemporary Trends in Comparative Literature.  Festschrift für Henry Remak.  Tübingen:  Narr 1986, p. 245-254.
Folsom, Joseph K.:  Culture and Social Progress.  New York:  Longmans 1928.
Frerichs, Klaus:  Begriffsbildung und Begriffsanwendung in der Vor- und Frühgeschichte.  Zur logischen Analyse archäologischer Aussagen.  Frankfurt a.M.:  Lang 1981.
Frerichs, Klaus:  “Semiotische Aspekte der Archäologie”.  In:  Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 3 (2003), p. 2977-2998.
Galaty, John G.:  “Models and Metaphors.  On the Semiotic Explanation of Segmentary Systems”.  In:  Ladislav Holy/Milan Stuchlik (eds.):  The Structure of Folk Models.  London:  Academic Press 1981, p. 63-92.
Gandelman, Claude:  Reading Pictures, Viewing Texts.  Bloomington:  Indiana UP 1991. 34
Geertz, Clifford:  The Interpretation of Cultures.  Selected Essays.  New York:  Basic Books 1973.
Geiger, Theodor:  Die soziale Schichtung des deutschen Volkes.  Stuttgart:  Enke 1932.
Giesecke, Michael:  Die Untersuchung institutioneller Kommunikation. Opladen: Westdeutscher Verlag 1988.
Goodman, Nelson:  Languages of Art.  An Approach to a Theory of Symbols.  Indianapolis: Bobbs-Merrill 1968.
Gould, Stephen J.:  The Panda’s Thumb.  More Reflections in Natural History.  New York:  Norton 1980.
Grice, H. Paul:  “Logic and Conversation”.  In:  Peter Cole/Jerry Morgan (eds.):  Syntax and Semantics. Vol. 3: Speech Acts.  New York/San Francisco: Academic Press 1975, p. 41-58.
Gülich, Elisabeth/Raible, Wolfgang (eds.):  Textsorten. Differenzierungskriterien aus linguistischer Sicht.  Frankfurt a.M.:  Athenäum 1972.
Gumperz, John/Hymes, Dell H. (eds.):  Directions in Sociolinguistics.  The Ethnography of Communication.  New York:  Holt, Rinehart and Winston 1972.
Hall, Stuart/Gay, Paul du:  Questions of Cultural Identity.  London:  Sage 1996.
Hansen, Klaus P. (ed.):  Kulturbegriff und Methode.  Der stille Paradigmenwechsel in den Geisteswissenschaften.  Tübingen:  Narr 1993.
Harrris, Marvin:  The Rise of Anthropological Theory.  New York:  Routledge and Kegan Paul 1968.
Heelas, Paul/Lash, Scott/Morris, Paul:  Detraditionalization.  Critical Reflections on Authority and Identity.  Cambridge MA/Oxford:  Blackwell 1996.
Hempfer, Klaus W.:  Gattungstheorie.  Information und Synthese.  Munich:  Fink 1973.
Henkel, Arthur/Schöne, Albrecht (eds.):  Emblemata.  Handbuch zur Sinnbildkunst des 16. und 17. Jahrhunderts.  Stuttgart:  Metzler 1967.
Herder, Johann Gottfried:  Ideen zur Philosophie der Geschichte der Menschheit [1784-91].  In:  Bernhard Suphan (ed.):  Herder.  Sämtliche Werke. Vols. 13 and 14.  Berlin:  Weidmann 1887.  English translation:  Reflections on the Philosophy of the History of Mankind.  Chicago: Chicago UP 1968.
Herskovits, Melville:  Man and His Works.  The Science of Cultural Anthropology.  New York:  Knopf 1948.
Hirsch, Eric D.:  Validity in Interpretation.  New Haven/London:  Yale UP 1967.
Homans, George C.:  The Human Group.  New York:  Harcourt and Brace 1950.
Hülser, Karlheinz:  “Zeichenkonzeptionen in der Philosphie der griechischen und römischen Antike”.  In:  Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 1 (1997), p. 837-861. 35
Hutton, Patrick H.:  “The History of Mentalities.  The New Map of Cultural History”. In:  History and Theory 20 (1981), p. 237-259.
Jakobson, Roman:  Coup d’œil sur le développement de la sémiotique.  Bloomington: Indiana UP 1975.
Johansen, Jørgen D./Larsen, Svend E.:  Signs in Use.  An Introduction to Semiotics. London:  Routledge 2002.
Kashima, Yoshihisa:  “Culture and Social Cognition.  Towards a Social Psychology of Cultural Dynamics”.  In:  David Matsumoto (ed.):  The Handbook of Culture and Psychology.  New York:  Oxford UP 2001, p. 325-360.
Keller, Rudi/Lüdtke, Helmut:  “Kodewandel“.  In:  Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 1 (1997), p. 414-435.
Klemm, Gustav E.:  Allgemeine Culturgeschichte der Menschheit.  10 vols.  Leipzig:  Teubner 1843-52.
Klemm, Gustav E.:  Allgemeine Culturwissenschaft.  2 vols.  Leipzig:  Romberg 1854-55.
Kluckhohn, Clyde:  “The Study of Culture”.  In:  Daniel Lerner/Harold D. Lasswell (eds.):  The Policy Sciences.  Stanford:  Stanford UP 1951, p. 86-101.
Kluckhohn, Clyde:  Culture and Behavior.  New York:  Free Press 1962.
Koch, Walter A.:  “System and the Human Sciences”.  In:  Gabriel Altmann/W.A. Koch (eds.):  Systems.  New Paradigms for the Human Sciences.  Berlin/New York:  Walter de Gruyter 1998, p. 671-755.
Krampen, Martin et al. (eds.):  Die Welt als Zeichen.  Klassiker der modernen Semiotik. Berlin:  Severin and Siedler 1981.  English translation:  Classics of Semiotics.  New York:  Plenum 1986.
Kroeber, Alfred L.:  Anthropology.  New York:  Harcourt and Brace 1923.
Kroeber, Alfred L.:  The Nature of Culture.  Chicago:  University of Chicago Press 1952.
Kroeber, Alfred L./Kluckhohn, Clyde:  Culture.  A Critical Review of Concept and Definition.  Cambridge MA:  Peabody Museum 1952.
Kull, Ulrich:  Evolution des Menschen.  Biologische, soziale und kulturelle Evolution. Stuttgart:  Metzler 1979.
Leach, Edmund R.:  Culture and Communication.  The Logic by Which Symbols Are Connected.  Cambridge:  Cambridge UP 1976.
Le Goff, Jacques:  “Les mentalités.  Une histoire ambiguë”.  In :  Jacques Le Goff/Pierre Nora (eds.) :  Faire de l’histoire.  Vol. 3.  Paris :  Gallimard 1974, p. 76-94.
Leroi-Gourhan, André :  Le geste et la parole.  2 vols.  Paris:  Michel 1964.  English translation:  Gesture and Speech.  Cambridge MA:  MIT Press 1993. 36
Lévi-Strauss, Claude:  Anthropologie structurale.  Paris:  Plon 1958.  English translation:  Structural Anthropology.  New York:  Basic Books 1963.
Lévi-Strauss, Claude:  Les structures élémentaires de la parenté.  Paris:  Presses Universitaires de France 1949.  English translation:  The Elementary Structures of Kinship. London:  Eyre and Spottiswoode 1969.
Lotman, Jurij M.:  Stat’i po tipologii kul’tury.  Materialy k kursu teorii literatury.  Vol. 1. Tartu:  Tartuskii Gos. Universitet 1970.
Lotman, Jurij M.:  Kunst und Sprache.  Untersuchungen zum Zeichencharakter von Literatur und Kunst.  Ed.  Klaus Staedtke.  Leipzig:  Reclam 1981.
Lotman, Jurij M./Uspenskij, Boris A.:  “O semiotičeskom mechanisme kul’tury”.  In:  Trudy po Znakovym Sistemam 5 (1971), p. 144-166.
Lotman, Jurij M. et al.:  “Theses on the Semiotic Study of Cultures (as Appliedto Slavic Texts)”.  In:  Thomas A Sebeok (ed.):  The Tell-Tale Sign.  A Survey of Semiotics.  Lisse:  Peter de Ridder 1975, p. 57-83.
Lotman, Jurij M.:  “Über die Semiosphäre“.  In:  Zeitschrift für Semiotik 12 (1990), p. 287-305.
Luhmann, Niklas :  Soziale Systeme.  Grundriß einer allgemeinen Theorie.  Frankfurt a.M.:  Suhrkamp 1984.
Lumsden, Charles J./Wilson, Edward O.:  Genes, Mind, and Culture.  The Coevolutionary Process.  Cambridge MA:  Harvard UP 1981.
Lumsden, Charles J./Wilson, Edward O.:  Promethean Fire.  Reflections on the Origin of Mind.  Cambridge MA:  Harvard UP 1983.
Manetti, Giovanni:  “Sign Conceptions in Natural History and Natural Philosphy in Ancient Greece and Rome”.  In:  Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 1 (1997), p. 922-939.
Mannheim, Karl:  Ideologie und Utopie [1929].  Frankfurt a.M.:  Schulte-Bulmke 1965.
Mead, George H.:  “The Mechanism of Social Consciousness”.  In:  Journal of Philosophy 9 (1912), p. 401-406.
Moore, Jerry D.:  Visions of Culture.  An Introduction to Anthropological Theories and Theorists.  Walnut Creek:  Alta Mira Press 1997.
Morris, Charles W.:  Foundations of the Theory of Signs.  Chicago:  The University of Chicago Press 1938.
Morris, Charles W.:  Signs, Language, and Behavior.  New York:  Prentice-Hall 1946.
Mounin, Georges:  Introduction à la sémiologie.  Paris:  Minuit 1970.
Mühlhäusler,  Peter:    “Universal  Languages  and  Language  Planning”.    In:    Posner/ Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 4 (2004), Art. 175. 37
Müller,  Jürgen  E.:    Intermedialität.    Formen  moderner  kultureller  Kommunikation.  Münster:  Nodus 1996.
Nöth, Winfried:  Handbuch der Semiotik [1985].  Stuttgart:  Metzler 2000. English translation:  Handbook of Semiotics.  Bloomington:  Indiana UP 1990.
Nyíri, J. Kristof:  “Tradition and Related Terms.  A Semantic Survey”.  In:  Semiotische Berichte 12, 1-2 (1988), p. 113-134.
Parmentier,  Richard  J.  (ed.) :    Signs  in  Society.    Studies  in  Social  Anthropology.  Bloomington:  Indiana UP 1994.
Peirce, Charles S.:  Collected Papers.  8 vols. Vols 1-6 ed. Charles Hartshorne/Paul Weiss, vols. 7-8 ed. Arthur W. Burks.  Cambridge MA:  Harvard UP 1931-58.
Pieterse, Jan Nederveen:  “Globalization as Hybridization”.  In:  Mike Featherstone/ Scott Lash/Roland Robertson (eds.):  Global Modernities.  London:  Sage 1996, p. 45-68.
Ponzio, Augusto:  “Ideology”.  In:  Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 4 (2004), Art 167.
Posner, Roland:  Rational Discourse and Poetic Communication.  Methods of Linguistic, Literary, and Philosophical Analysis.  Berlin/New York:  Mouton de Gruyter 1982.
Posner, Roland:  “Mitteilungen an die ferne Zukunft”.  In:  Zeitschrift für Semiotik 6 (1984), p.195-228.
Posner, Roland:  “Nonverbale Zeichen in öffentlicher Kommunikation“.  In:  Zeitschrift für Semiotik 7 (1985), p. 235-271.
Posner, Roland:  “Syntactics”.  In:  Thomas A. Sebeok (ed.):  Encyclopedic Dictionary of Semiotics.  Berlin/New York:  Walter de Gruyter 1986, p. 1042-1061.
Posner, Roland:  “Gesellschaft, Zivilisation und Mentalität.  Vorüberlegungen zu einer Sprachpolitik für Europa“.  In:  Ernest W.B. Hess-Lüttich/Jan Papiór (eds.):  Dialog.  Interkulturelle Verständigung in Europa:  ein deutsch-polnisches Gespräch.  Saarbrücken: Breitenbach 1990, p. 23-42.  English translation:  “Society, Civilization, Mentality:  Prolegomena to a Language Policy for Europe”.  In:  Florian Coulmas (ed.):  A Language Policy for the European Community.  Berlin/New York:  Mouton de Gruyter 1991, p. 121-137.
Posner, Roland: “Kultur als Zeichensystem. Zur semiotischen Explikation kulturwissenschaftlicher Grundbegriffe“.  In:  Aleida Assmann/Dietrich Harth (eds.):  Kultur als Lebenswelt und Monument.  Frankfurt a.M.:  Fischer 1991, p. 37-74.
Posner, Roland:  “Was ist Kultur?  Zur semiotischen Explikation anthropologischer Grundbegriffe“.  In:  Marlene Landsch et al. (eds.):  Kultur-Evolution.  Fallstudien und Synthese.  Frankfurt a.M.:  Lang 1992, p. 1-65. 38
Posner, Roland:  “Believing, Causing, Intending.  The Basis for a Hierarchy of Sign Concepts in the Reconstruction of Communication”.  In:  René J. Jorna/Barend van Heusden/Roland Posner (eds.):  Signs, Search, and Communication.  Semiotic Aspects of Artificial Intelligence.  Berlin/New York:  Walter de Gruyter 1993, p. 215-270.
Posner, Roland:  “Sprachphilosophie und Semiotik”.  In:  Marcelo Dascal et al. (eds.):  Sprachphilosophie.  Ein internationales Handbuch zeitgenössischer Forschung.  Vol. 2.  Berlin/New York:  Walter de Gruyter 1996, p. 1658-1685.
Posner, Roland:  “Semiotische Umweltverschmutzung.  Vorüberlegungen zu einer Ökologie der Zeichen“.  In:  Günter Lobin et al. (eds.):  Europäische Kommunikationskybernetik heute und morgen.  Munich:  KoPäd 1998, p. 141-158.  English translation:  “Semiotic Pollution.  Towards an Ecology of Signs”.  Sign Systems Studies 28 (2000), p. 290-307.
Posner, Roland:   “Im Zeichen der Zeichen.  Sprache als semiotisches System“.  In:  Oswald Panagl/Hans Goebl/Emil Brix (eds.):  Der Mensch und seine Sprache(n). Vienna:  Böhlau 2001, p. 77-107.  English translation:  “Sign Economy in Language and Related Sign Systems”.  Distributed by LAUD:  Linguistic Agency.  Essen 2003,  p. 1-25.
Posner,  Roland:    “Alltagsgesten  als  Ergebnis  von  Ritualisierung”.    In:    Hartmut Schröder/Matthias Rothe (ed.):  Ritualisierte Tabuverletzung, Lachkultur und das Karnevaleske.  Frankfurt a.M.:  Lang 2002, p. 395-421.  English translation:  “Everyday Gestures  as a Result of Ritualization”.  In:  Monica Rector/Isabella Poggi/ Nadine Trigo (eds.):  Gestures.  Meaning and Use.  Porto:  Edições Universidade Fernando Pessoa  2003, p. 217-230.
Posner, Roland/Reinecke, Hans-Peter (eds.):  Zeichenprozesse.  Semiotische Forschung in
den Einzelwissenschaften.  Wiesbaden:  Athenaion 1977.
Posner, Roland/Robering, Klaus/Sebeok, Thomas A. (eds.):  Semiotics.  A Handbook on the Sign-theoretic Foundations of Nature and Culture.  4 vols.  Berlin/New York: Walter de Gruyter.  Vol. 1 1997;  vol. 2 1998; vol. 3 2003; vol. 4 2004.
Prieto, Luis J.:  Messages et signaux.  Paris:  Presses Universitaires de France 1966.
Prieto,  Luis  J.:    “La  sémiologie”.    In:    André  Martinet  (ed.):    Le  langage.    Paris:  Gallimard 1968, p. 93-144.
Radcliffe-Brown,  Alfred  R.:    “On  Social  Structure”.    In:    Journal  of  the  Royal Anthropological Institute 70 (1940), p. 1-12.
Radcliffe-Brown, Alfred R.:  Structure and Function in Primitive Society.  London: Cohen and West 1952. 39
Raulff, Ulrich (ed.):  Mentalitäten-Geschichte.  Zur historischen Rekonstruktion geistiger Prozesse.  Berlin:  Wagenbach 1987.
Reckwitz, Andreas:  Die Transformation der Kulturtheorien.  Zur Entwicklung eines Theorieprogramms.  Weilerswist:  Velbrück 2000.
Renfrew,  Colin  (ed.):    The  Explanation  of Culture  Change.    Models  in Prehistory.
London:  Duckworth 1973.
Robertson, Roland:  Globalization.  Social Theory and Global Culture.  London:  Sage 1992.
Rolf, Eckhard:  Die Funktion der Gebrauchstextsorten.  Berlin/New York:  Walter de Gruyter 1993.
Rossi-Landi, Ferruccio:  Il linguaggio come lavoro e come mercato.  Milan:  Bompiani 1968.
Rossi-Landi, Ferruccio:  Linguistics and Economics.  The Hague:  Mouton 1975.
Saussure, Ferdinand de:  Cours de linguistique générale.  Lausanne/Paris:  Payot 1916.  English translation:  Course in General Linguistics.  La Salle IL:  Open Court 1986.
Schiffer, Michael B.:  Behavioral Archeology.  New York/London:  Academic Press 1976.
Schmidt, Siegfried J.:  Texttheorie.  Probleme einer Linguistik der sprachlichen Kommunikation.  Munich:  Fink 1973.
Schönrich, Gerhard:  Semiotik zur Einführung.  Hamburg:  Junius 1999.
Scholz, Oliver R.:  “Was heißt es, ein Artefakt zu verstehen?”  In:  Mark Siebel (ed.): Kommunikatives Verstehen.  Leipzig:  Leipziger Universitätsverlag 2002, p. 220-239.
Schramm, Wilbur (ed.):  The Science of Communication.  New York:  Basic Books 1963.
Schwemmer, Oswald:  Die kulturelle Existenz des Menschen.  Berlin:  Akademie-Verlag 1997.
Schwimmer, Eric:  “Culture”.  In:  Thomas A. Sebeok (ed.):  Encyclopedic Dictionary of Semiotics.  Berlin/New York:  Mouton de Gruyter 1986, p. 163-166.
Sebeok, Thomas A.:  Theorie und Geschichte der Semiotik.  Reinbek:  Rowohlt 1979.
Segre, Cesare:  Avviamento all’analisi del testo letterario.  Turin:  Einaudi 1985.  English translation:  Introduction to the Analysis of the Literary Text.  Bloomington:  Indiana UP 1988.
Sellin, Volker:  “Mentalität und Mentalitätsgeschichte”.  In:  Historische Zeitschrift 241 (1985), p. 555-598.
Silverman, Hugh J. (ed.):  Cultural Semiosis.  Tracing the Signifier.  New York/London: Routledge 1998. 40
Singer, Milton:  “For a Semiotic Anthropology”.  In:  Thomas A. Sebeok (ed.):  Sight, Sound, and Sense.  Bloomington:  Indiana UP 1978, p.202-232.
Singer, Milton:  “Signs of the Self.  An Exploration in Semiotic Anthropology”.  In: American Anthropologist 32 (1980), p. 411-413.
Smuts, Barbara et al. (eds.) :  Primate Societies.  Chicago:  University of Chicago Press 1987.
Tellenbach, Gerd:  “Mentalität”.  In:  Erich Hassinger/Joseph H. Müller/Hugo Ott (eds.):  Geschichte, Wirtschaft, Gesellschaft.  Festschrift für Clemens Bauer zum 75. Geburtstag.  Berlin:  Duncker and Humblot 1974, p. 11-30.
Thompson, Michael:  Rubbish Theory.  The Creation and Destruction of Value.  Oxford:  Oxford UP 1979.
Threadgold, Terry:  “Social Media of Semiosis”.  In Posner/Robering/Sebeok 1997-2004, Vol. 1 (1997), p. 384-404.
Thurnwald, Richard C.:  Economics in Primitive Communities.  Oxford:  Oxford UP 1932. 
Thurnwald, Richard C.:  “Contributions to the Analysis of the Cultural Mechanism”.  In:  American Sociological Review 1 (1936), p. 387-395 and 604-613; 2 (1937), p. 26-42.
Thurnwald, Richard C.:  Der Mensch geringer Naturbeherrschung.  Sein Aufstieg zwischen Vernunft und Wahn.  Berlin:  Walter de Gruyter 1950.
Turner, Victor W.:  The Forest of Symbols.  Ithaca NY:  Cornell UP 1967.
Tylor, Edward B.:  Primitive Culture.  2 vols. London:  Murray 1871.
Vivelo, Frank R.:  Cultural Anthropology Handbook.  A Basic Introduction.  New York: McGraw-Hill 1978.
Waal, Frans de:  Chimpanzee Politics.  London:  Cape 1982.
Waal, Frans de:  Peacemaking among Primates.  Cambridge MA: Harvard UP 1989.
Warnier, Jean-Pierre:  Construire la culture matérielle.  Paris:  Presses Universitaires de France 1999.
Weber, Alfred:  “Prinzipielles zur Kultursoziologie”.  In:  Archiv für Sozialwissenschaft und Sozialpolitik 47 (1920), p. 1-49.
Weber, Alfred:  Kulturgeschichte als Kultursoziologie.  Munich:  Piper 1950 [1935]. 
Wefelmeyer, Fritz:  “Glück und Aporie des Kulturtheoretikers.  Zu Johann Gottfried Herder und seiner Konzeption der Kultur“.  In:  Helmut Brackert/Fritz Wefelmeyer (eds.):    Naturplan  und  Verfallskritik.    Zu  Begriff  und  Geschichte  der  Kultur. Frankfurt a.M.:  Suhrkamp 1984, p. 94-121. 41
Werlen, Erika:  Sprache, Kommunikationskultur und Mentalität.  Tübingen:  Niemeyer 1998.
White, Michael J.D.:  Modes of Speciation.  San Francisco:  Freeman 1978.
Winner, Irene Portis:  “Ethnicity, Modernity, and the Theory of Culture Texts”.  In:  Winner/Umiker-Sebeok 1979, p. 103-148.
Winner, Irene Portis/Umiker-Sebeok, Jean (eds.):  Semiotics of Culture.  The Hague/ New York:  Mouton 1979.
Winter, K. Willem de:  “Biological and Cultural Evolution.  Different Manifestations of the Same Principle – A Systems-Theoretical Approach”.  In:  Journal of Human Evolution 13 (1984), p. 61-70.

2 nhận xét:

  1. Rất mong được đọc phần tiếp theo bản dịch "Những nhiệm vụ cơ bản của kí hiệu học văn hóa" (W. Posner) của dịch giả nhưng chưa thấy. Xin cảm ơn rất nhiều và chúc anh sức khỏe

    Trả lờiXóa
  2. Xin lỗi vì trả lời muộn, rất cảm ơn Minh Nguyễn đã quan tâm đến bản dịch; chắc chắn sẽ dịch những phần tiếp theo khi làm xong vài việc gấp hiện nay.

    Trả lờiXóa