Hà Hữu Nga
Các mô hình tự quản ở cấp cơ sở thôn bản của chúng ta hiện nay hầu hết được xây dựng dựa trên các đồng thuận cộng đồng dưới hình thức các quy ước, hương ước, khoán ước mang nặng tính hai mặt và chứa đựng các mối mâu thuẫn cả về hình thức lẫn nội dung: giữa truyền thống và hiện đại; giữa tính chất chính thức và phi chính thức; giữa tuân thủ pháp luật và chưa tuân thủ pháp luật; giữa tính chất địa phương và tính chất quốc gia. Cơ sở luật tục và pháp lý của các mô hình tự quản ấy vừa có những đóng góp tích cực cho việc quản lý xã hội nông thôn, nhưng lại chứa đựng không ít các hạn chế cần phải được khắc phục, cải thiện, đặc biệt ở các vùng DTTS. Bên cạnh đó, vùng DTTS và vùng biên giới phía Bắc hiện nay xuất hiện rất nhiều nhân tố mới, kể cả môi trường, kinh tế, xã hội phức tạp như thiên tai, buôn lậu, buôn bán người, lừa đảo trên không gian mạng, đòi hỏi các mô hình tự quan DTTS cần tham gia và cập nhập phương thức hoạt động. Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng các DTTS khu vực Miền núi phía Bắc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận rất lớn.
English Summary
Most of our current grassroots self-governance models are built on community consensus in the form of conventions, village covenants, and contracts that are heavily dual-sided and contain contradictions in both forms and contents: between tradition and modernity; between formality and informality; between compliance with the law and non-compliance with the law; between locality and nationality. The customary and legal basis of the community self-governance models has made positive contributions to rural social management, but also contains different limitations that need to be overcome and improved, especially in ethnic minority areas. In addition, ethnic minority areas and the northern border area currently have many new factors, including the complex changes of environments, economies, and societies such as natural disasters, smuggling, human trafficking, and cyber fraud, requiring ethnic minority self-governance models to participate and update their methods of operation. Therefore, the research and evaluation of the self-management model of participating in organizing the implementation of socio-economic development policies in the ethnic minority communities in the Northern mountainous region today has great practical and theoretical significance.
1. Khái niệm và mô hình tự quản cộng đồng
1.1. Khái niệm cộng đồng
Về mặt danh pháp học, “cộng đồng” là một từ tiếng Pháp cổ “comunité” có nguồn gốc Latin “communitas” có nghĩa là tinh thần chung, có chung một cái gì, một điều gì đó, chẳng hạn như các chuẩn mực, tôn giáo, các giá trị hoặc bản sắc (Turner, Victor W., 1977). Thông thường các cộng đồng có chung ý thức về một khu vực địa lý nhất định, ví dụ một quốc gia, vùng, thị trấn, khu phố, làng thôn, hàng xóm. Các cộng đồng người có thể có chung ý hướng, niềm tin, nguồn lực, sở thích, nhu cầu ảnh hưởng đến tính đồng nhất vẫn được gọi là bản sắc, và mức độ gắn kết của các thành viên (James, Paul 2006). Việc sử dụng thuật ngữ cộng đồng ở một mức độ nào đó liên quan đến niềm hy vọng và mong muốn khôi phục lại một cách gần gũi hơn, ấm áp hơn, hài hòa hơn giữa những người gắn bó mơ hồ với các thế hệ trong quá khứ” (Elias N. 1974; Hoggett P. 1997: 5). Định nghĩa cộng đồng đầu tiên được xây dựng liên quan đến việc mô tả các cộng đồng nông thôn trong khuôn khổ các khu thương mại và dịch vụ xung quanh một làng trung tâm (Galpin C. J. 2015; Harper và Dunham 1959: 19). Một số định nghĩa khác coi cộng đồng như là một khu vực địa lý, với một nhóm người sống ở một nơi cụ thể, một khu vực cùng chung sống. Trước hết cần lưu ý rằng cộng đồng có thể được tiếp cận như một giá trị (Frazer 1999: 76). Theo cách đó, cộng đồng có thể được sử dụng để nhóm lại một số yếu tố, ví dụ như sự đoàn kết, cam kết, sự phụ thuộc lẫn nhau, tin tưởng nhau. Cộng đồng cũng có thể được tiếp cận như là một loại mô tả hoặc tập hợp các biến, hai phạm trù này xoắn xuýt lấy nhau và thường khó tách rời (Frazer 1999: 76).
Nhưng phổ biến nhất vẫn là bốn biến sau (Willmott 1989; Lee and Newby 1983; Crow and Allen 1995): Địa điểm: là nơi mọi người có những điểm chung, và yếu tố chung này được hiểu về phương diện địa lý, còn có một cách gọi khác là “tính địa phương”. Sở thích: còn gọi là cộng đồng “tự chọn”, mọi người có chung một đặc điểm không phải là đặc điểm địa phương. Người ta gắn bó với nhau bằng các yếu tố như niềm tin tôn giáo, khuynh hướng tình dục, nghề nghiệp hoặc nguồn gốc tộc thuộc. Sự phát triển của xã hội học về bản sắc và bản ngã đã đóng một vai trò quan trọng để có thể hiểu được các hình thức cộng đồng phi địa phương tính này. “Các cộng đồng tự chọn và cộng đồng có chủ đích là một đặc điểm chính của cuộc sống đương đại” (Hoggett 1997). Cộng cảm: là cảm giác gắn bó với một địa điểm, nhóm hay ý tưởng; hình thức mạnh mẽ nhất là “cộng cảm” không chỉ với người khác mà còn với các ý niệm như Thiên Chúa, thượng đế, sáng tạo. Willmott (1989) cho rằng cần phải bổ sung thêm một cách hiểu biết thứ ba về cộng đồng – là cộng đồng gắn bó - vì các cộng đồng địa phương hoặc cộng đồng sở thích có thể không có ý thức về bản sắc chung. Công trình của Anthony P. Cohen (1982, 1985) đề cập đến sự gắn bó hay “tính thuộc về”. Nói cách khác, “cộng đồng” đóng một vai trò tượng trưng quan trọng trong việc tạo ra cảm giác thuộc về ai, cái gì hoặc ý niệm nào đó (Crow and Allan 1994: 6), một yếu tố quan trọng mà Putnam gọi là “vốn xã hội” (Cohen 1985: 118). Lợi ích: đây có lẽ là một biến số quan trọng nhất nhưng khi nói về ‘cộng đồng’ mang thiên hướng chủ đạo là ‘cộng cảm’ người ta rất dễ quên đi hoặc dễ che lấp đi. Trong thực tế nếu không có yếu tố lợi ích thì sẽ không có cái gọi là ‘cộng đồng’, vì thực tế lịch sử cho thấy mỗi nhóm người khi cố kết thành cộng đồng đều có chung lợi ích về các nguồn lực tự nhiên và các nguồn vốn xã hội được tích lũy qua quá trình lịch sử mà họ phải sống chết để bảo vệ, chống lại sự xâm nhập, tàn phá của tự nhiên và các nhóm, các cộng đồng khác. Nói một cách chung rộng nhất thì biến số này bao gồm các lợi ích môi trường (đất, nước, không khí, khoáng vật, sản vật tự nhiên, v.v…); lợi ích kinh tế (các nguồn lực tự nhiên, tài chính, nhân lực, vật lực, v.v…); lợi ích chính trị (các quyền lợi chính đáng, hợp pháp về chính trị và tham gia sinh hoạt chính trị); lợi ích xã hội (các nguồn vốn xã hội và giá trị xã hội của cộng đồng); lợi ích văn hóa (các nguồn vốn văn hóa và giá trị văn hóa của cộng đồng); lợi ích an ninh v.v…, mà mỗi thành viên trong cộng đồng cùng thụ hưởng và chia sẻ.
Đối với các học giả phương Tây thì các khái niệm tự quản (self-governance), tự trị (autonomy), hoặc chính quyền tự trị (self-government), có chung một số nội hàm áp dụng cho những quy mô tổ chức quản lý xã hội nhất định. Nó có thể đề cập đến hành vi cá nhân hoặc các đơn vị gia đình hoặc với các hoạt động quy mô lớn hơn bao gồm nghề nghiệp, cơ sở công nghiệp, tôn giáo, đơn vị chính trị- hành chính, thường được gọi là chính quyền địa phương, bao gồm các khu tự trị hoặc những hình thức tự quản lý khác trong một quốc gia. Theo Bird, một chuyên gia nghiên cứu tự quản thì: “Quyền tự quản của các quốc gia được gọi là chủ quyền quốc gia - một khái niệm quan trọng trong luật pháp quốc tế. Tuy nhiên ở cấp cộng đồng hoặc tổ chức chính trị- xã hội, tự quản chính là những hoạt động hoặc sự kiểm soát được áp đặt bởi các thể chế quản lý có nguồn gốc từ bên trong cộng đồng hoặc tổ chức đó, và nó luôn dựa trên nền tảng dân chủ (Bird C., 2000, tr.12).
Ngày nay quan niệm phổ biến cho rằng dân chủ ở cấp địa phương tùy thuộc vào những bối cảnh khác nhau, và không có khái niệm, hoặc mô hình duy nhất nào về vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn có sự hiểu biết chung về những quá trình thiết yếu của đời sống dân chủ được áp dụng rộng rãi, bao gồm: i) Cần phải có các cuộc bầu cử định kỳ hoặc thường xuyên, và quyền lực phải được chuyển giao thông qua bầu cử phổ thông; ii) Trong môi trường dân chủ, các nhóm thiểu số có quyền thể hiện quan điểm của mình và tạo ảnh hưởng trong quá trình hoạch định mọi chính sách liên quan; khi quan điểm của các nhóm thiểu số không được chấp nhận, thì việc thể hiện ý kiến khác hoặc ý kiến đối lập phải được tiến hành bằng cách thức tôn trọng và hợp pháp chứ không được sử dụng những phương thức bạo lực, vượt ngoài khuôn khổ thể chế; iii) Người dân cần có cơ hội đi bỏ phiếu để có thể lựa chọn các đại diện mà họ mong muốn; iv) Dân chủ nghĩa là tôn trọng và bảo đảm các quyền dân sự và chính trị cơ bản; v) Dân chủ bao hàm cả những đòi hỏi cụ thể về các quyền phát triển, kinh tế và môi trường như nước sạch, nhà ở và các cơ hội việc làm (Sisk, Timothy D., và cộng sự 2014). Việc thảo luận về nội hàm của dân chủ ở cấp địa phương cần tính đến ảnh hưởng của văn hóa đối với cách suy nghĩ về dân chủ. Một số nền văn hóa có truyền thống tham gia của người dân, trong khi một số nơi khác lại coi trọng hơn đối với các chính quyền được bổ nhiệm hay bầu cử. Vấn đề cơ bản là ở cấp độ địa phương, những tập quán văn hóa truyền thống đã ăn sâu bén rễ trong cộng đồng, chẳng hạn như vai trò truyền thống của những người đứng đầu, những người có vai vế trong cộng đồng phải được dung hợp một cách thận trọng để tiến tới quản trị dân chủ.
1.3. Mô hình tự quản cộng đồng
Về phương diện lý thuyết thì mô hình là sự đơn giản hóa một hệ thống cấu trúc chức năng bằng một loại hình công cụ hiện thực, được coi là hình mẫu để xem xét đánh giá sự vận hành và hiệu quả của nó. Mô hình luôn gắn liền với quá trình thực nghiệm và tìm ra các quy luật hoạt động tối ưu của hệ thống nhằm áp dụng vào đời sống, cải thiện các hiệu quả hoạt động thực tiễn (Achinstein P.. 1965). Xây dựng mô hình là quá trình làm mới hoặc cải biến, thay thế các hệ thống cấu trúc chức năng đã có bằng một hình mẫu đã được cải thiện để tiến hành nhân rộng trong đời sống, sau khi đã xem xét đánh giá sự vận hành và hiệu quả của nó. Đặc biệt ngày nay nhờ có sự trợ giúp của các phương pháp khoa học đa dạng người ta có thể phát triển và nhân rộng các mô hình tốt, vận hành hiệu quả, nhờ việc thu nhận lựa chọn, xử lý các thông tin về mô hình rất thuận tiện, nhanh chóng và chính xác. Chính vì vậy, xây dựng mô hình là một phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm ứng dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn hoạt động của một chương trình, kế hoạch, dự án nào đó (Morton, A. and M. Suarez., 2001). Căn cứ vào các cơ sở lý luận trên thì một mô hình tự quản cộng đồng, chính là sự đơn giản hóa một hệ thống quản lý xã hội trong các quy mô tự tổ chức quản lý nhất định ở quy mô cộng đồng. Trong thực tế có vô số loại hình hành động công quyền và hành động xã hội cụ thể được xây dựng thành hình mẫu tự quản để thực nghiệm, xem xét, đánh giá cấu trúc, chức năng, quá trình tham gia tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động thực tiễn của nó nhằm áp dụng rộng rãi vào việc cải thiện mọi mặt đời sống xã hội (Hà Hữu Nga 2020a).
1.4. Vai trò của các bên liên quan trong mô hình tự quản cộng dồng
Việc tạo dựng các mô hình tự quản cộng đồng, chính là tạo dựng một nhóm xã hội bao gồm các cá nhân với những vị trí, vai trò nhất định cùng nhau hoàn thành những nhiệm vụ hoặc mục tiêu cụ thể của nhóm. (Sunstein C. R.,1996) Lý thuyết vai trò trong xã hội học và khoa học tổ chức xã hội đã xác lập các định đề sau đây về vai trò của các cá nhân trong các nhóm xã hội: i) Trong mọi nhóm xã hội, sự phân chia công việc là quá trình tương tác qua lại giữa các vị trí chuyên môn không đồng nhất được gọi là vai trò; ii) Vai trò xã hội bao gồm các hình thức hành động “phù hợp” và “được phép”, được các chuẩn mực xã hội hướng dẫn, và được các thành viên của nhóm xã hội biết đến và kỳ vọng; iii) Các vai trò do các cá nhân, hoặc “các bên liên quan” nắm giữ; iv) Khi các cá nhân chấp thuận một vai trò xã hội tức là họ coi vai trò đó là “hợp thức/ hợp pháp” và “mang tính xây dựng”, và họ sẽ chấp nhận mọi điều kiện để phù hợp với các chuẩn mực vai trò và cũng sẽ chấp nhận trừng phạt những người vi phạm các chuẩn mực vai trò đó; v) Các điều kiện thay đổi có thể làm cho vai trò xã hội trở nên lỗi thời hoặc không hợp thức/ hợp pháp, trong trường hợp đó, áp lực xã hội có thể dẫn đến thay đổi vai trò; vi) Dự liệu trước về thưởng và phạt, cũng như sự hài lòng khi hành xử vì lợi ích của nhóm xã hội, chính là lý do để các bên liên quan tuân thủ các yêu cầu về vai trò. (Dozier, D. M., 1984, 2007)
Về phương diện cấu trúc thì các bên liên quan bao gồm các ‘cấu phần’ là những thành viên tham gia vào mô hình thuộc các nhóm nhất định trong cộng đồng. Họ luôn luôn là các cá nhân có ý thức về mục đích, ý nghĩa hành động của mình, nằm trong mối tương quan với các cá nhân khác, tạo nên tính xã hội của hành động (Weber M., 1991. Hành động tham gia của họ thể hiện ý chí riêng của nhóm cũng như ý nguyện chung của cộng đồng, trung thành với quan điểm của cộng đồng xã hội đó (Bird C. 2000, tr. 568). Khái niệm “các bên liên quan”, “các bên tham gia” trong tự quản cũng đồng nghĩa với khái niệm “tác nhân” trong lý thuyết hành động xã hội ở quy mô cộng đồng, và bao gồm ba thành phần sau: i) Bên liên quan chủ chốt; ii) Bên liên quan chủ yếu; và iii) Bên liên quan thứ yếu. (Mitchell, R.K. Bradley, R.A. and Wood, D.J. 1997: 853-885) Trong mỗi mô hình thì “người dân” luôn là bên liên quan chủ yếu, và khái niệm “người dân” không đơn giản là các cá nhân đơn độc, mà là các nhóm tập hợp nhau lại xung quanh các tiêu chí gắn liền với cộng đồng. Đó là tiêu chí: “địa điểm”, “cộng cảm”, “sở thích” và “lợi ích” của mỗi nhóm, các tiêu chí này đặc biệt phù hợp với các nhóm hoặc các mô hình tự quản cộng đồng DTTS, vì trong thực tế, so với các nhóm đa số thì các cộng đồng này vẫn bảo lưu được nhiều đặc trưng truyền thống.
Ứng dụng lý thuyết các bên liên quan vào việc xem xét mô hình tự quản cộng đồng tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển KT-XH, chúng ta có được một khung cấu trúc mô hình tự quản như sau: i) Bên liên quan chủ chốt là những người có thể tác động đáng kể hoặc có vai trò quan trọng đối với mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển KT-XH, theo các mục tiêu ưu tiên của mô hình; đó chính là các lãnh đạo Đảng ủy, Chi ủy, Uỷ ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân xã, Ban Mặt trận Tổ quốc thôn bản; ii) Bên liên quan chủ yếu là những người tham gia, chịu tác động cơ bản kể cả tích cực, và tiêu cực (nếu có) của mô hình; đó chính là những người dân, hộ gia đình, dòng họ, liên gia, và các nhóm xã hội trong cộng đồng tham gia mô hình; iii) Bên liên quan thứ yếu là các cá nhân, nhóm, thể chế trung gian, bao gồm các cá nhân, tổ chức chuyên môn, chuyên gia tư vấn, các hội, đoàn thể chính trị - xã hội xã thôn, nhưng không trực tiếp là thành viên của mô hình. (Hà Hữu Nga, 2010; 2014)
2. Tự quản Cộng đồng ở Miền núi phía Bắc
2.1. Các nhóm DTTS ở Miền núi phía Bắc
Khu vực vùng núi phía Bắc có nhiều cộng đồng DTTS sinh sống chủ yếu bao gồm các tỉnh mới là Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Bắc Ninh (khu vực Bắc Giang cũ). Các tỉnh này có 29 DTTS cư trú thành các cộng đồng lâu đời. Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2019 các tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều dân tộc, chủ yếu là dân tộc sống theo cộng đồng làng và dân tộc chỉ có một vài người mới di cư trong vài thập kỷ qua. Vì vậy khái niệm cộng đồng DTTS trong bài viết này chủ yếu dùng để chỉ những nhóm cư trú theo cộng đồng, mà không tính những cá nhân hoặc hộ đơn lẻ. Theo tiêu chí đó, chúng ta có các số liệu sau: i) Cao Bằng có 46 thành phần DTTS, trong đó có 7 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng gồm: Tày, Hoa, Mông, Nùng, Dao, Sán Chay, Lô Lô; ii) Lai Châu có 49 thành phần DTTS, trong đó có 16 dân tộc thiểu số sống theo quy mô cộng đồng gồm Thái, Mông, Hoa, Dao, Khơ Mú, Giáy, Hà Nhì, Kháng, La Ha, Lào, Lự, Lô Lô, Mảng, Cống, Si La, La Hủ; iii) Lạng Sơn có 49 thành phần DTTS, trong đó có 7 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng gồm: Tày, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu; iv). Sơn La có 50 thành phần DTTS, trong đó có 10 dân tộc thiểu số sống theo cộng đồng gồm Thái, Hoa, Mông, Dao, Khơ Mú, Xing Mun, Lào, Kháng, La Ha, Mường; v) Điện Biên có 49 thành phần DTTS, trong đó có 14 dân tộc thiểu số sống theo quy mô cộng đồng gồm Tày, Thái, Mông, Hoa, Nùng, Dao, Khơ Mú, Xing Mun, Hà Nhì, Kháng, Phù Lá, Lào, Cống, Si La.; vi) Tuyên Quang 50 thành phần DTTS, trong đó có 14 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng làng bản, gồm: Tày, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay, Giáy, La Chí, Pà Thẻn, Lô Lô, Cơ Lao, Bố Y, Pu Péo, Phù Lá. ; vii) Lào Cai có 50 thành phần DTTS, trong đó có 12 dân tộc thiểu số sống theo quy mô cộng đồng gồm Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Giáy, Hà Nhì, La Chí, Phù Lá, Bố Y; viii) Thái Nguyên có 50 thành phần DTTS, nhưng chỉ có 8 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng gồm Tày, Thái, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu; ix) Phú Thọ có 51 thành phần DTTS, nhưng chỉ có 9 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng gồm Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu; x) Bắc Ninh có 48 thành phần DTTS nhưng chỉ có 6 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng gồm Tày, Hoa, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu; xi) Quảng Ninh có 49 thành phần DTTS, nhưng cũng chỉ có 7 dân tộc sống theo quy mô cộng đồng gồm Tày, Nùng, Hoa, Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu.
Trong các cộng đồng DTTS ở trên, tại nhiều địa phương, có những cá nhân, gia đình, nhóm người do điều kiện công việc, do di cư, hoặc những lý do khác nên không sống trong cộng đồng làng bản gốc của dân tộc mình, mà sống trong những cộng đồng đan xen với các DTTS khác, tạo thành các cộng đồng hỗn hợp, hoặc đa dân tộc. Ngoài ra, do nhiều tỉnh miền núi phía Bắc giáp giới với các nước láng giềng (Lào, Trung Quốc) nên có những cá nhân, gia đình, nhóm người có các mối quan hệ gia đình, họ hàng, tộc thuộc, quan hệ kinh tế, xã hội xuyên biên giới. Đây là một trong những đặc trưng rất quan trọng của các cộng đồng DTTS miền núi phía Bắc.
Bảng 1: Dân số DTTS các tỉnh miền núi phía Bắc
|
STT |
Tỉnh |
Tổng số dân (người) |
Dân số DTTS (người) |
Tỷ lệ dân số DTTS |
|
1 |
Cao Bằng |
530.341 |
503.167 |
94,88 |
|
2 |
Lai Châu |
460.196 |
386.960 |
84,09 |
|
3 |
Lạng Sơn |
781.655 |
655.896 |
83,91 |
|
4 |
Sơn La |
1.248.415 |
1.045.400 |
83,74 |
|
5 |
Điện Biên |
598.856 |
494.786 |
82,62 |
|
6 |
Tuyên Quang |
1.639.490 |
1.194.850 |
72.87 |
|
7 |
Lào Cai |
1.551.451 |
954.012 |
61.49 |
|
8 |
Thái Nguyên |
1.600.656 |
660.632 |
41.27 |
|
9 |
Phú Thọ |
2.317.857 |
884.285 |
38.15 |
|
10 |
Bắc Ninh |
1.803.950 |
257.258 |
14,26 |
|
11 |
Quảng Ninh |
1.320.324 |
162.493 |
12,31 |
|
Σ |
11 Tỉnh |
13.852.201 |
7.199.639 |
51.97% |
2.2. Tự quản cộng đồng DTTS ở Miền núi phía Bắc trong bối cảnh mới
Các mô hình tự quản của các cộng đồng truyền thống trong đó có các nhóm DTTS Miền núi phía Bắc về cơ bản được xây dựng trên nền tảng của bốn biến số: i) Địa điểm; ii) Cộng cảm; iii) Sở thích; và iv) Lợi ích, trong đó biến số ‘lợi ích’ thực tế là nền tảng vững chãi nhất, đặc biệt so với ba biến số kia, thì lợi ích là biến số có tính chất ‘vượt thời gian’ (Weber M., 1991); địa điểm, tình cảm, sở thích có thể thay đổi và phai mờ, nhưng lợi ích thì dường như muôn thuở vẫn nguyên vẹn và không ngừng được củng cố. Nếu như trong các xã hội đơn giản của quá khứ ba biến số địa điểm, tình cảm, và sở thích có thể kiểm soát một cách hiệu quả bằng tập tục, quy ước, hương ước thì riêng biến số lợi ích luôn đòi hỏi phải có yếu tố luật pháp chi phối, và đối với các xã hội phức tạp ngày nay, càng ngày điều đó lại càng trở nên hiển nhiên.
Khác với xã hội truyền thống, các nhân tố tạo nên bối cảnh mới của tự quản cộng đồng DTTS Miền núi phía Bắc xuất hiện toàn diện trong tất cả các lĩnh vực môi trường, công nghệ, kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, và thể chế. Tất cả các nhân tố đó đều tác động ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt tổ chức đời sống của các cộng đồng DTTS nơi đây, trong đó có hoạt động tự quản cộng đồng. Có thể kê ra một số nhân tố nổi bật sau: i) Về môi trường không thể không nói đến tình trạng mất đất, mất rừng, hệ thống thủy văn bị thay đổi do biến đổi khí hậu, do công nghiệp hóa, đô thị hóa, hạ tầng giao thông, di dân, thay đổi phương thức canh tác nông-lâm nghiệp, v.v…; ii) Về công nghệ, tác động dễ thấy nhất và trên quy mô rộng lớn nhất là công nghệ hồ đập, điển hình là hệ thống thủy điện, tiếp đó là phức hợp công nghệ phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hạ tầng giao thông, khai thác rừng, khai thác khoáng sản, sử dụng hóa chất trong nông-lâm nghiệp; đặc biệt phải kể đến công nghệ điện tử viễn thông góp phần làm biến đổi vĩnh viễn, đến tận gốc rễ các cộng đồng dân cư, trong đó có các cộng đồng DTTS; iii) Về kinh tế, tác động dễ thấy nhất là quá trình chuyển đổi từ phương thức sản xuất tự cấp tự túc cung cấp sản phẩm cho gia đình và cộng đồng nhỏ sang kinh tế hàng hóa, không chỉ cung cấp sản phẩm cho thị trường địa phương, vùng, quốc gia, mà còn mở rộng thành liên quốc gia, và cho cả thị trường toàn thế giới; iv) Về xã hội, tác động nổi bật nhất là quá trình thay đổi cấu trúc thống trị của quan hệ gia đình nhiều thế hệ, quan hệ gia tộc, quan hệ cộng đồng, và tộc người của xã hội nông nghiệp, thành quan hệ cá nhân, gia đình một vợ một chồng với các nhóm xã hội lớn với lối sống phổ cập của xã hội hiện đại, gắn liền với đô thị hóa, di cư, thay đổi việc làm, hôn nhân ngoài cộng đồng, hôn nhân dị tộc, thậm chí đang phổ biến hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia; v) Về văn hóa, tác động nổi bật nhất là sự ‘cạnh tranh’ quyết liệt của văn hóa phi truyền thống, ngoại nhập và hiện đại với văn hóa truyền thống thân thuộc của gia đình và tộc người; bên cạnh đó là xu hướng ‘kinh tế hóa văn hóa' (economization of culture), muốn biến mọi thứ thành hàng hóa vì mục tiêu kinh tế đang ngày càng trở nên thịnh hành; vi) Về thể chế, các tục lệ, quy ước bất thành văn tồn tại hàng ngàn đời giữa các nhóm xã hội nhỏ gồm gia đình, cộng đồng, tộc người DTTS đã dần dần được thay thế bằng hệ thống luật pháp quốc gia trên cơ sở quan hệ xã hội rộng lớn của mỗi cá nhân trong một bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập và hiện đại.
2.3. Thiên tai và Tự quản cộng đồng DTTS Miền núi phía Bắc
Cho đến nay các cộng đồng DTTS Miền núi phía Bắc đã xây dựng được hàng trăm mô hình tự quản cộng đồng liên quan đến các vấn đề về kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật tự, con người và thể chế, v.v…Nhưng kinh nghiệm trong những năm gần đây cho thấy những biến động khó lường của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu là nguyên nhân gây ra vô vàn mất mát tai họa cho các cộng đồng dân cư nói chung và các cộng đồng dân cư DTTS nói riêng. Một ví dụ điển hình nhất là thảm họa lũ quét xảy ra với Làng Nủ, xã Phúc Khánh, huyện Bảo Yên, Lào Cai cũ, vào sáng ngày 10 tháng 9 năm 2024, xóa sổ cả một ngôi làng, 60 người chết và 7 người mất tích. Từ kinh nghiệm đó đòi hỏi các cộng đồng DTTS Miền núi phía Bắc phải có những tổ chức Tự quản Cộng đồng chuyên ứng phó với các sự cố thiên tai tương tự. Cụ thể, các tổ chức tự quản cộng đồng ứng phó với thảm họa phải chủ động phân loại đối phó với các tình huống căn cứ trên các cơ sở về tính dễ tổn thương đối với thảm họa; cần được phân biệt theo độ tuổi, tình trạng khuyết tật, giới tính, dân tộc và các bộ phận xã hội khác, kể cả các cấp độ đói nghèo; đưa họ tham gia vào các chinh sách và các sáng kiến đối phó với thiên tai thông qua các cuộc vận động, xây dựng mạng lưới, hợp tác trợ giúp từ nhiều bên.
Sáng kiến đối phó với thảm họa và thiên tai nói chung cần lường trước các tình trạng dễ bị tổn thương căn cứ vào: i) Lớp tuổi: Lớp tuổi là một khía cạnh quan trọng của tình trạng dễ bị tổn thương xã hội ảnh hưởng đến trẻ em, thanh niên và người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ; ii) Người khuyết tật: là một nguồn dễ bị tổn thương về phương diện xã hội, có nguy cơ tử vong cao hơn rất nhiều so với người không bị khuyết tật; Vì vậy cần có các sáng kiến giảm nhẹ, phòng ngừa, cứu trợ, phục hồi, tái thiết và hỗ trợ thảm họa lâu dài để giải quyết những vấn đề liên quan đến người khuyết tật, và cần đưa người khuyết tật trở thành một nhóm ưu tiên; iii) Các vấn đề giới: So với nam giới, phụ nữ ít được đại diện trong các cơ cấu lãnh đạo và ra quyết định trong thảm họa; vì vậy cần hỗ trợ tâm lý, duy trì các vai trò đảm bảo sinh kế; lồng ghép các mối quan tâm về giới có liên quan; đặc biệt là các bé trai và bé gái ở tất cả các khía cạnh giảm thiểu rủi ro thảm họa; iv) Người nghèo: là nhóm khá lớn những người dễ bị tổn thương trong thảm họa; tình trạng dễ bị tổn thương của nhóm này thường gắn liền với thiếu đói; nhà cửa tạm bợ; điều kiện nước sạch, vệ sinh, điện, giao thông và hệ thống thông tin liên lạc thiếu thốn; khả năng tiếp cận các nguồn lực bao gồm đất đai, chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ chăm sóc xã hội và giáo dục thấp; vì vậy ở quy mô cộng đồng đây là nhóm ưu tiên hàng đầu trong đối phó với thảm họa; Các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người và sống phân tán: so với các nhóm đa số thì hầu hết DTTS này thuộc về nhóm yếu thế hơn, vì các lý do bị cách biệt về địa lý và hạn chế trong tiếp cận thị trường; bị cô lập về mặt xã hội, văn hóa và ngôn ngữ; hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực; tỷ lệ di cư đến nơi sinh sống thuận lợi thấp, và trình độ học vấn thấp; trong thảm họa thì các nhóm xã hội này lại càng là những nhóm dễ bị tổn thương và có tỷ lệ tổn thương cao; vì vậy cũng phải coi đây là nhóm ưu tiên trong ứng phó thảm họa tự nhiên.
2.4. Khái quát bước đầu về mô hình tự quản cộng đồng DTTS ở Miền núi phía Bắc
- Vấn đề trọng tâm trong xây dựng mô hình Tự quản cộng đồng DTTS ở Miền núi phía Bắc là phải làm rõ các khái niệm và các vấn đề cơ bản có liên quan; xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn; làm rõ khung lý thuyết; xác lập khung tiêu chí chính xác, khoa học. Trên cơ sở đó đánh giá đúng thực trạng, kết quả, hiệu quả, tác động; phân tích, đánh giá thấu đáo các giải pháp, các cơ chế, chính sách; xác định rõ các nhu cầu, yêu cầu, điều kiện hình thành, duy trì hoạt động của mô hình tự quản; phát hiện ra các mô hình tự quản hiệu quả; đề xuất được các giải pháp hoàn thiện mô hình và kiến nghị cơ chế, chính sách nhằm phát triển mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển KT-XH trong cộng đồng các DTTS khu vực miền núi phía Bắc trong bối cảnh tình hình mới.
- Khái niệm tự quản của phương Tây bao gồm cả quyền tự quản và tự trị, cả chính quyền tự quản và chính quyền tự trị ở cấp cộng đồng hoặc tổ chức chính trị- xã hội, và tự quản là những hoạt động hoặc sự kiểm soát được áp đặt bởi các thể chế quản lý có nguồn gốc từ bên trong cộng đồng hoặc tổ chức đó. Đối với thực tiễn Việt Nam, đặc biệt là thực tiễn các DTTS miền núi Phía Bắc thì nội hàm khái niệm tự quản không hoàn toàn đồng nghĩa với khái niệm tự trị, và hoạt động tự quản cũng không đồng nghĩa với những hoạt động hoặc kiểm soát được áp đặt từ bên trong cộng đồng hoặc các sức ép từ những tổ chức chính trị - xã hội. Ở Việt Nam – kể cả trong lịch sử cũng như trong hiện tại, tự quản luôn luôn là sự kết hợp hài hòa giữa hệ thống luật tục (lệ làng) và hệ thống pháp luật quốc gia (phép nước). Tuy nhiên riêng trong các cộng đồng DTTS vùng núi phía Bắc tồn tại truyền thống tự quản lâu đời do ảnh hưởng của thể chế Ki Mi (Đào Duy Anh, 2005) và thể chế Thổ ty đề cao vai trò của các tầng lớp chúa đất, các dòng họ lớn, được cả nhà nước Phong kiến Việt Nam, cũng như trước đó các triều đại phong kiến Trung Quốc và sau đó là Thực dân Pháp áp dụng hoặc lợi dụng để cai quản các khu vực này bằng cách bỏ qua hoàn toàn vai trò của người dân (Đàm Thị Uyên, 2006). Còn hiện nay các cơ cấu bộ máy quản lý hành chính Việt Nam được thiết kế thống nhất trên toàn bộ đất nước theo bốn cấp: trung ương, tỉnh, huyện, và xã, lấy người dân là trung tâm – để xây dựng một xã hội thực sự của dân, do dân, vì dân. Do đó chúng ta không dập khuôn lý thuyết phương Tây để nói về thẩm quyền của một chính quyền tự quản, để sử dụng nó xem xét về thẩm quyền của một cơ cấu tự quản nào đó trong hệ thống chính trị tại Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua đặc trưng có tính nguyên tắc trên.
- Về mối quan hệ giữa tự quản và dân chủ, khác với quan niệm phương Tây, mục đích của chúng ta không phải là xây dựng một “xã hội tự quản” trong đó tất cả các công dân đều đương nhiên có quyền tham gia vào mọi quá trình chính trị của xã hội đó. Ngược lại, trong hệ thống chính trị của mình, chúng ta sử dụng các cơ cấu tự quản nhất định nhằm phấn đấu xây dựng một “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” với nguyên tắc dân chủ cơ sở: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng. Đây là khác biệt mang tính nguyên tắc trong quan niệm về mối quan hệ giữa tự quản và dân chủ giữa Việt Nam và phương Tây.
- Về tính tự quản và vai trò của chính quyền địa phương, theo quan niệm phương Tây thì cộng đồng dân cư địa phương được tự quyết định một cách thực chất mọi công việc chung của cộng đồng địa phương, chủ yếu nằm ở 4 khía cạnh: i) Cách thức tổ chức ra bộ máy quản trị địa phương; ii) Loại công việc mà cộng đồng địa phương được giải quyết; iii) Tài chính (thuế địa phương và chi tiêu); iv) Nhân sự. Trong khi đó, ở Việt Nam, việc tổ chức bộ máy chính quyền địa phương là thống nhất trên phạm vi toàn quốc; việc thu chi của địa phương cũng có sự can thiệp của các cấp cao hơn thông qua hệ thống chỉ tiêu, kế hoạch về thuế, về cấp vốn, đặc biệt là thông qua các chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Về nhân sự thì không thể tách rời khỏi hệ thống tổ chức nhân sự, đặc biệt là nhân sự do Đảng chỉ đạo điều hành thống nhất từ trung ương đến địa phương.
- Về phân quyền và chính quyền tự quản địa phương, theo quan niệm phương Tây, phân quyền là việc ủy quyền và trao quyền ra quyết định chính trị cho các cấp vùng, tỉnh, huyện, và các cấp chính trị thấp hơn như chính quyền cấp xã cùng các chi nhánh ở cấp thôn bản. Phân quyền và việc thành lập chính quyền tự quản địa phương là một phần không thể tách rời; và các cấu trúc hành chính hiệu quả được coi là những yếu tố chủ chốt tạo nên sự thành công của chính quyền tự quản. Trong khi đó ở Việt Nam, chúng ta không sử dụng khái niệm phân quyền mà thay bằng khái niệm phân cấp quản lý; chúng ta không chủ trương có các cấp chính quyền tự quản từ vùng, tỉnh, huyện đến xã. Để đảm bảo tính chất thống nhất và vững mạnh của chính quyền nhân dân từ trung ương đến địa phương, chúng ta chỉ chủ trương sử dụng một số cơ cấu tự quản nhất định trong phạm vi các tổ chức quần chúng cấp làng xã nhằm giúp cho việc quản lý xã hội được hiệu quả hơn. (Hà Hữu Nga 2017, 2020a,b)
- Liên quan đến thể chế tự quản vùng đồng bào DTTS biên giới và vùng núi phía Bắc, trước hết cần nói đến tình trạng phức tạp của các mối quan hệ liên tộc người, xuyên biên giới, trong đó có vô vàn hình thức phạm pháp: buôn bán hàng cấm, hàng giả, đặc biệt là nạn buôn bán người giả danh tìm lao động với hứa hẹn việc làm dễ dàng, nhẹ nhàng, tiền công cao. Một trong những bài học có giá trị nhất cho người dân đó là việc giáo dục pháp luật cho đồng bào DTTS thông qua hoạt động của các tổ tự quản kết hợp với hình thức sử dụng mạng xã hội, mà xã Mù Cang Chải là một trường hợp điển hình. Xã Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai được thành lập dựa trên cơ sở sáp nhập 3 xã Mồ Dề, Kim Nọi, Chế Cu Nha và thị trấn Mù Cang Chải với gần 3 nghìn hộ, trên 14 nghìn nhân khẩu, trong đó, đồng bào dân tộc Mông chiếm 82%. Do điều kiện đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí và nhận thức pháp luật còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo vào các hành vi vi phạm pháp luật. Xác định rõ nguyên nhân đó, Công an xã Mù Cang Chải đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể tổ chức và đặc biệt là các nhóm tự quản An ninh Trật tự đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại 22/22 thôn trên địa bàn xã với nhiều nội dung thiết thực, trong đó có cảnh báo phương thức, thủ đoạn, hoạt động của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm mạng, tội phạm ma túy, trộm cắp tài sản; buôn bán hàng cấm, buôn bán người, vận động nhân dân tích cực chủ động tham gia các mô hình tự quản về ANTT, nâng cao tinh thần cảnh giác, tự phòng, tự quản, tự bảo vệ trong cộng đồng. Đặc biệt, hiện nay các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo được người dân sử dụng phổ biến. (Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương (2024) Công an và chính quyền đoàn thể giúp các nhóm soạn thảo quy ước tham gia rất cụ thể. Do đó, việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên mạng xã hội là một hình thức phù hợp với thực tiễn và xu hướng tiếp cận thông tin của các nhóm cộng đồng tự quản thôn bản. Công an xã đã giúp xây dựng, quản lý các trang fanpage facebook tự quản, 1 nhóm Zalo tự quản thu hút nhiều lượt like và theo dõi; các nhóm Zalo liên quan đến ANTT do các thôn triển khai được kiểm soát chặt chẽ, tương tác, hoạt động 24/24 với lực lượng Công an. Vì vậy mọi thắc mắc và các vấn đề mà người dân gặp phải đã được tương tác trực tiếp, kịp thời và xử lý nhanh chóng, hiệu quả. (Tống Huệ - Cảnh Toàn 2025).
Tạm kết
Có thể nói các mô hình tự quản ở cấp cơ sở thôn bản của chúng ta hiện nay hầu hết được xây dựng dựa trên các đồng thuận cộng đồng dưới hình thức các quy ước, hương ước, khoán ước mang nặng tính hai mặt và chứa đựng các mối mâu thuẫn cả về hình thức lẫn nội dung: giữa truyền thống và hiện đại; giữa tính chất chính thức và phi chính thức; giữa tuân thủ pháp luật và chưa tuân thủ pháp luật; giữa tính chất địa phương và tính chất quốc gia. Cơ sở luật tục và pháp lý của các mô hình tự quản ấy vừa có những đóng góp tích cực cho việc quản lý xã hội nông thôn, nhưng lại chứa đựng không ít các hạn chế cần phải được khắc phục, cải thiện, đặc biệt ở các vùng DTTS. Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng các DTTS khu vực Miền núi phía Bắc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận rất to lớn.
______________________________________
Ghi chú:
* Bài viết được rút gọn, đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 630, tháng 1 năm 2026, tr.23-28.
Tài liệu dẫn
Cohen, A. P. (1985) The Symbolic Construction of Community, London: Tavistock.
Crow, Graham and Allen, Graham (1994). Community life: an introduction to local social relations, New York, USA. Harvester-Wheatsheaf.
Crow, Graham and Allan, Graham (1995). Community Types, Community Typologies and Community Time. In Journal Time & Society, Volume 4, Issue 2, pp. 147–166
Đàm Thị Uyên (2006). Tầng lớp Thổ ty người Tày ở Cao Bằng đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu lịch sử, số 4 (360)/2006.
Đào Duy Anh (2005). Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Elias, N. (1974). Towards a theory of communities. In C. Bell & H. Newby (Eds.), The sociology of community (pp. ix–xli). London, UK: Frank Cass.
Frazer, E. (1999). The Problems of Communitarian Politics. (pp. 279). Cambridge: Cambridge University Press.
Galpin, C.J. (1915). The Social Anatomy of an Agricultural Community. Agricultural Experiment Station of the University of Wisconsin. Madison.
Hà Hữu Nga (2010). Phân tích các bên liên quan trong các Dự án lớn và các Chương trình Trợ giúp Phát triển. Tài liệu Hướng dẫn được chuẩn bị theo yêu cầu của World Bank - Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, và tác giả trực tiếp tham gia tập huấn điểm cho các bên liên quan tại các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Hải Phòng, Quảng Nam, Gia Lai, Kiên Giang năm 2010. Lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Phát triển (DRCC) thuộc VUSTA.
Hà Hữu Nga (2014). Mối tương tác giữa các thể chế chính thức và phi chính thức ở Tây Nguyên. Bài viết cho Đề tài cấp Nhà nước: Xây dựng luận cứ khoa học cho việc bổ sung và đổi mới hệ thống thể chế phát triển bền vững vùng Tây Nguyên. Mã số TN3/X09. 2013-2014.
Hà Hữu Nga (2017). Nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách huy động đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tham gia chuyển giao khoa học công nghệ trong xây dựng Nông thôn mới. Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ Đề tài cấp Nhà nước, Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020. Do tác giả làm Chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển chủ trì.
Hà Hữu Nga (2020a). Nghiên cứu đề xuất quan điểm, định hướng xây dựng các mô hình tự quản của cộng đồng cư dân làng – xã trong xây dựng Nông thôn mới bền vững. Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ Đề tài cấp Nhà nước, Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016 –2020. Do tác giả làm Chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu và Hỗ trợ Phát triển chủ trì.
Hà Hữu Nga (2020b). Tự quản cộng đồng như một loại hình hành động xã hội trong xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 2 (107) 2020, tr. 40-51.
Harper, E. H. and Dunham, A. (1959). Community Organization in Action. Basic literature and critical comments, New York: Association Press.
Heberle, Rudolf (1955a). Das Theorem Gemeinschaft und Gesellschaft in der Soziologie der Politischen Parteien, Kölner Zeitschrift für Soziologie und Sozialpsychologie. 7: 426-442.
Heberle, Rudolf (1955b). Ferdinand Tönnies’ Contribution to the Sociology of Political Parties, The American Journal of Sociology. 61: 213-221.
Hoggett, P. (1997). Contested communities, in P. Hoggett (ed.) Contested Communities. Experiences, struggles, policies, Bristol: Policy Press.
James Paul (2006). Globalism, Nationalism, Tribalism: Bringing Theory Back In. Publisher Sage, January 2006.
Lee David, Howard Newby (1983). The Problem of Sociology, Edition 1st Edition, First Published 1983. Routledge.
Loomis, Charles P., McKinney, John C. (1957). The Application of Gemeinschaft and Gesellschaft as Related to Other Typologies, S. 12-29 in: Tönnies, Ferdinand: Community & Society: Gemeinschaft und Gesellschaft. Edited and translated by Charles P. Loomis. New York.
Tống Huệ - Cảnh Toàn (2025). Lào Cai đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. https://tuyengiaodanvan.laocai.gov.vn/. Ngày 11/08/2025
Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương (2024). Hiện tượng mới trong mô hình tự quản cộng đồng các dân tộc trên không gian mạng. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Những vấn đề lý thuyết về mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng dân tộc thiểu số (Đề tài do Uỷ ban Dân tộc là cơ quan chủ quản, Mã số: ĐTCB.UBND.02.25.-25), Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức, Hà Nội tháng 9 năm 2024.
Turner, Victor W. (1977). Ritual Process: Structure and Anti-Structure. Cornell University Press.
Willmott, P. (1989). Community Initiatives. Patterns and prospects, London: Policy Studies Institute.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét