Powered By Blogger

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Khác biệt giữa Tri giác và Nhận thức (I)

Anders Nes, Kristoffer Sundberg & Sebastian Watzl

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Sự khác biệt giữa perception tri giác và cognition nhận thức dường như hiển nhiên khi được xem xét trong nhiều trường hợp. Tri giác và tư duy cũng được gán cho những vai trò khá khác nhau, trong epistemology nhận thức luận, trong các lý thuyết quy chiếu và nội dung tinh thần, trong triết học tâm lý học, và ở những lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên, bản chất của sự phân biệt này là gì? Tri giác và nhận thức khác nhau ở những điểm nào? Bài viết sẽ xem xét các công trình nghiên cứu gần đây về những câu hỏi ấy và xem xét thảo luận bốn khía cạnh chính được cho là những khác biệt giữa tri giác và nhận thức. Thứ nhất, đặc tính hiện tượng của chúng, chẳng hạn như tính sống động hoặc tính tức thời thường dễ nhận thấy của tri giác. Thứ hai, cách chúng hình dung thế giới, như bản chất phi định đề của nội dung, hoặc đặc tính phi diễn ngôn của phương tiện, được coi là đặc trưng cho việc perceptual representation trình hiện tri giác. Thứ ba, vị trí của chúng trong kiến ​​trúc nhận thức, tức là, nói một cách đại khái, trong dòng chảy thông tin của tâm trí, chẳng hạn như tính (phi-) mô đun thường thấy của chúng. Thứ tư, mối quan hệ tâm trí-thế giới của chúng, ví dụ như cách thức mà các loại tri giác dường như có mối liên hệ nhân quả chặt chẽ với các kích thích ở xa hoặc gần. Trên cơ sở đó, phân biệt một số lựa chọn chính để giải thích sự khác biệt nhận thức và tri giác, đặc biệt là liệu có một, một số, hay không có sự khác biệt đáng chú ý và có nguyên tắc nào cần được rút ra ở đây hay không.

1. Giới thiệu

Tri giác khác với nhận thức như thế nào? Rõ ràng là tri giác và nhận thức là khác nhau; chí ít thì cũng là paradigms các hệ mẫu của mỗi loại – nhìn thấy một cái cây gần đó, suy nghĩ về các lựa chọn cho bữa tối – dường như khác nhau rõ rệt. Nhưng [tr.2] việc đưa ra một lời giải thích về sự khác biệt của chúng, có lẽ thật đáng ngạc nhiên là lại rất khó khăn. Bài viết này sẽ đánh giá các cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa tri giác và nhận thức. Tuy nhiên, tại sao lại phải quan tâm đến sự khác biệt này? Thứ nhất, tri giác và nhận thức đã được gán cho những vai trò khá khác nhau. Ví dụ, tri giác được cho là biện minh cho niềm tin mà bản thân chúng không cần sự biện minh, một đặc quyền hiếm khi được mở rộng cho những niềm tin đơn thuần (xem, ví dụ, Pryor 2000). Tri giác cho phép tham chiếu đến các chi tiết cụ thể (xem Strawson 1959; Campbell 2002), hoặc cung cấp nội dung cho một số khái niệm nhất định, chẳng hạn như khái niệm về màu sắc (Peacocke 1992), theo cách mà tư duy đơn thuần không thể làm được. Mặt khác, nhận thức dường như lại được hưởng sự tự do và linh hoạt liên quan đến các đối tượng mà tri giác không thể tiếp cận, vươn tới quá khứ thẳm sâu và tương lai xa mờ, những điều hoàn toàn trừu tượng, hư cấu và những giả thuyết lý thuyết khó hiểu.

Thứ hai, câu hỏi về điều gì phân biệt tri giác với nhận thức lại liên quan đến câu hỏi về ranh giới giữa chúng. Trong các cuộc tranh luận về tri giác cấp cao, người ta đồng ý rằng những người có kỹ năng tri giác phù hợp có thể nhanh chóng và dễ dàng nhận ra các loại tự nhiên (Siegel 2010), ý nghĩa (xem, ví dụ: Drożdżowicz trong Tập san này), cảm xúc hoặc ý định (xem, ví dụ: Helton 2018), hoặc thậm chí cả các thuộc tính đạo đức (xem, ví dụ: Bergqvist và Cowan 2018) của các đối tượng hoặc sự kiện tri giác thấy. Tuy nhiên, liệu những đối tượng này có thực sự tri giác thấy, hay chỉ đơn thuần là nhanh chóng nhận thức được những thuộc tính này? Để hiểu rõ điều này, chúng ta cần nắm bắt được điều gì phân biệt cái tri giác với cái nhận thức, hoặc ngược lại. Thứ ba, sự phân biệt này cũng rất quan trọng đối với dự án tâm lý học- kiêm-triết học vĩ đại nhằm vạch ra cấu trúc cơ bản của tâm trí. Liệu tri giác so với nhận thức sẽ trở thành một điểm chung về bản chất tâm lý, ví dụ như một điểm uốn trong kiến ​​trúc nhận thức (xem Fodor 1983), một hình thức biểu đạt (xem Block MS), hoặc vấn đề của sự liên tục hơn là sự phân chia (xem, ví dụ, Clark 2016) hay không? Cuối cùng, sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức từ lâu đã là một vấn đề lớn trong triết học phương Tây. Trong tác phẩm Cộng hòa, Plato so sánh các đối tượng tri thức hữu hình một cách bất lợi với các đối tượng tri thức vô hình, và trong tác phẩm Theaetetus, ông lập luận dài dòng rằng tri thức không phải là tri giác.

Trong truyền thống Aristotelian, và sau này là Thomistic, sự phân biệt ấy gắn liền với sự phân chia siêu hình giữa hai hình thức linh hồn: một hình thức cảm giác, được chia sẻ với loài vật, so với một hình thức lý trí, mà có lẽ, một phần, khao khát sự bất tử. Sự phân biệt tri giác/nhận thức trở nên then chốt trong triết học cận đại, với những người duy lý luận và những người kinh nghiệm luận có quan điểm trái ngược nhau về việc nguồn gốc và tài nguyên tri thức nằm ở phía nào của nó. Tuy nhiên, các bên đối lập đôi khi đồng ý trong việc suy nghĩ về sự khác biệt giữa trạng thái cảm giác và trạng thái trí tuệ như những cấp độ trên một thang đo. Leibniz (1982, 81) [tr.3] đối lập các biểu hiện cảm giác bị nhầm lẫn với các biểu hiện trí tuệ là khác biệt, trong khi Hume (1739/2000, SB1-2) so sánh các ấn tượng và ý tưởng trên thang đo sức mạnh và sự sống động. Những quan niệm gradualist tiệm tiến luận như vậy đã bị Kant bác bỏ, vì triết học phê phán của ông được cấu trúc bởi sự khác biệt cơ bản về bản tính giữa khái niệm và trực giác, giữa sự hiểu biết (‘tính tự phát’) và khả tính cảm nhận (‘khả tính tiếp nhận’) với tư cách là những năng lực mà chúng phụ thuộc. Các dòng tư tưởng nổi bật hậu-Kantian, ví dụ như tư tưởng Hegelian, đã nỗ lực để 'vượt qua' loại nhị nguyên luận này.

Mặc dù lịch sử phong phú của nó vẫn khơi gợi mối quan tâm đến sự phân biệt ấy, nhưng việc khảo sát các truyền thống liên quan lại nằm ngoài phạm vi của bài viết này, và chúng tôi sẽ tập trung vào những đóng góp trong khoảng mười lăm năm trở lại đây. Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu các phạm trù “tri giác” và “nhận thức” khi chúng ta bắt đầu khám phá bất kỳ sự khác biệt nào? Các hệ mẫu ở mỗi phía có lẽ đã khá rõ ràng. Từ tri giác: nhìn thấy màu sắc và vị trí của các vật thể ở gần, và loại tri giác cấp-thấp tương tự. Từ nhận thức: suy nghĩ, lập luận, giải quyết-vấn đề và lập kế hoạch. Luôn như vậy, sẽ có những trường hợp phân ranh giới. Tuy nhiên, việc làm rõ hơn các phạm trù tri giác và nhận thức tương ứng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại chúng. Mục tiêu không phải là xem xét xuất phát điểm mà là mô tả rõ ràng về tri giác và nhận thức là gì. Các phần 2-5 xem xét các loại tri giác và nhận thức được cho là khác nhau. Cụ thể, phần 2 xem xét hiện tượng học, phần 3 xem xét sự trình hiện, phần 4 xem xét kiến ​​trúc nhận thức, và phần 5 xem xét mối quan hệ giữa tâm trí và thế giới.1 Dựa trên cơ sở đó, phần 6 tìm ra một số lựa chọn chính cho việc mô tả về sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức.

2. Đặc tính hiện tượng

Một nhập điểm vào sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức là cách mà tri giác và nhận thức được cảm nhận tương ứng đối với chủ thể. Có thể nghĩ rằng, ít nhất trong các trường hợp ở cấp độ paradigm hệ mẫu, có một sự khác biệt về đặc tính ý thức ở đây, điều này thể hiện rõ từ góc nhìn của ngôi thứ nhất. Dù sao thì, Hume dường như đã giả định như vậy, khi cho rằng mọi người “sẽ dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa cảm giác và suy nghĩ” (Hume 1739/2000, SB1). Một quan điểm đơn giản thuộc loại này là trong khi tri giác - dưới hình thức kinh nghiệm tri giác - có đặc tính hiện tượng, thì nhận thức lại thiếu vắng [p.4] bất cứ kiểu loại tương tự nào. Do đó, nhận thức, theo nghĩa kịch tính, sẽ có những đặc điểm của sự thiếu sức mạnh và thiếu sức sống mà Hume gán cho các ý tưởng. Tuy nhiên, hiện nay không hiếm khi người ta chấp nhận rằng nhận thức cũng có một hoặc nhiều hình thức đặc trưng hiện tượng, tức là có cognitive phenomenology hiện tượng học nhận thức, theo một hoặc nhiều nghĩa của thuật ngữ đó (xem, ví dụ, Bayne và Montague 2011). Hơn nữa, ngay cả khi bỏ qua điều đó, thì quan điểm đơn giản hứa hẹn một cách giải thích khá mơ hồ về sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức, không dựa trên bất kỳ đặc điểm tích cực nào của nhận thức, và đề cập đến một đặc điểm dường như khá chung chung của tri giác, người ta có thể nghĩ là được chia sẻ bởi nỗi đau, tâm trạng, cảm xúc, v.v.

Để có một cách giải thích cụ thể hơn về hiện tượng học tri giác hoặc hiện tượng học nhận thức, cho phép có sự phân biệt kể cả trong trường hợp cả hai cùng tồn tại, thì người ta có thể áp dụng một hoặc cả hai chiến lược. Thứ nhất, có thể giả định, các đối tượng hoặc nội dung có ý hướng mang tính hiện tượng học của tri giác (hay của tư duy), hoặc, thứ hai, một cách thức đặc biệt mà các đối tượng được (tái-) trình hiện, hoặc nội dung được tiếp nhận, bằng tri giác (hoặc, một lần nữa, bằng tư duy). Montague (trong Tập san này, §4) có đưa ra một đề xuất thuộc loại thứ nhất, cho rằng trải nghiệm thị giác ‘có nội dung đặc trưng riêng, ví dụ như màu sắc-hình dạng’. Một đề xuất liên quan, được Thau (2002) và Glüer (2009) bảo vệ, cho rằng thị giác trình hiện một cách đặc trưng, ​​không phải màu sắc, mà là một số thuộc tính hình thức hoặc diện mạo chứa đầy tính định tính nhất định. Một đề xuất khác theo mạch phát triển này là tri giác trình hiện một cách đặc trưng các thuộc tính rất chi tiết, hoặc cụ thể, cho dù đó là màu sắc, hình dạng, hay các thuộc tính hình thức tương ứng của những thuộc tính vừa kể (xem Bourget 2017). Các đề xuất này phải đối mặt với sự phản đối cho rằng người ta cũng có thể suy nghĩ về các thuộc tính được cho là đặc trưng đang được đề cập (xem Kriegel 2019). Một câu trả lời ở đây, được Thau và Bourget áp dụng theo nhiều cách khác nhau, là mặc dù thực sự có thể suy nghĩ về các thuộc tính bằng cách mô tả, hoặc bằng cách khái quát hóa, nhưng tư duy hoặc ngôn ngữ không thể đạt được sự tham chiếu trực tiếp đến chúng. Bằng cách đề cập tới một cách tiếp cận khác, gián tiếp, mà tư duy quan tâm đến các mục có liên quan, động thái này ít nhất cũng có mối liên hệ với loại chiến lược thứ hai về vấn đề này, mà chúng ta sẽ đề cập bên dưới.      

Một cách khác để theo đuổi chiến lược đầu tiên là không viện dẫn đến các loại mà là sự phong phú thường được lưu ý của các yếu tố được trình bày bằng tri giác. Kriegel (2019) phản đối bằng cách cho rằng, ngay cả khi nội dung nhận thức của con người chúng ta tương đối thưa thớt, thì vẫn có thể hình dung ra những sinh vật không có những hạn chế nhận thức này nhưng vẫn tồn tại sự tương phản hiện tượng giữa tri giác và nhận thức; hơn nữa, sự khác biệt giữa thưa thớt và phong phú là về mức độ, chứ không phải về kiểu loại. Một tuyến phản hồi ở đây có thể là tranh luận về độ tin cậy của tuyên bố về khả tính hình dung đã nêu [tr.4], hoặc kiên trì rằng, ngay cả khi những sinh vật được hình dung là khả thể, thì sự khác biệt về mức độ phong phú vẫn có thể tạo ra sự khác biệt hiện tượng giữa tư duy và tri giác của con người. Hơn nữa, như cách Hume đối chiếu các ấn tượng và ý tưởng gợi ý, người ta có thể đặt câu hỏi liệu sự khác biệt đó có thể không phải là về mức độ hay không. Chiến lược thứ hai, để tường trình sự khác biệt giữa hiện tượng học tri giác và hiện tượng học nhận thức, đưa ra một cách thức đặc biệt mà các đối tượng được (tái-) hiện, hoặc nội dung được tiếp nhận, bằng tri giác (hoặc tư duy). Chiến lược này phù hợp với ý tưởng cho rằng tri giác và nhận thức khác nhau về mặt hiện tượng học ở chỗ sự hiện diện hiện tượng trực tiếp hơn của một đối tượng (thuộc tính, sự kiện, trạng thái sự việc, v.v.) trong trải nghiệm tri giác. Như đôi khi người ta vẫn nói, tri giác mang tính trình hiện trong khi nhận thức mang tính trình hiện/biểu tượng (xem, ví dụ: Searle 1983; Chudnoff 2018). Hoặc, như Husserl (1973/1997, 14) đã nói, các đối tượng mà người ta hướng đến trong tri giác there ‘in person’ hiện diện “trực tiếp”, không giống như cách chúng xuất hiện trong tư duy, tưởng tượng hoặc hồi ức. Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu chính xác hơn sự khác biệt trong mối quan hệ tinh thần, hay tính trực tiếp, như vậy?

Ở đây có một lựa chọn là chuyển sang quan điểm phản-trình hiện/biểu tượng, mang tính quan hệ về trải nghiệm tri giác. Theo quan điểm này, hiện tượng học tri giác, ít nhất là một phần, được cấu thành hoặc dựa trên mối quan hệ quen thuộc với một số hạng mục nhất định và các phẩm chất của chúng, cho dù đó là sense-data dữ liệu cảm giác riêng tư (xem ví dụ Robinson 1994) hay các đối tượng hoặc cảnh vật công cộng, một quan điểm đôi khi được gọi là “chủ nghĩa hiện thực ngây thơ” (xem ví dụ Brewer 2011; Campbell 2002; Martin 2006; và Travis 2013). Nếu nhận thức mang tính trình hiện/biểu tượng, và bản thân nó không liên quan đến sự quen thuộc với các đối tượng đó, thì hiện tượng học tri giác của nó (nếu có) không thể được cấu thành hoặc dựa trên cùng một cách. Ý tưởng này cũng có thể được hiểu theo cách khác, hoặc có tính bổ sung, được diễn giải là đề cập đến sự khác biệt theo cách thức mà chủ thể liên hệ với thế giới bằng tri giác và nhận thức, chúng ta sẽ quay lại với gợi ý này trong Phần 5 bên dưới. Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ ngụ ý rằng ảo giác, trong đó chủ thể không quen thuộc với các đối tượng hoặc cảnh vật công cộng, không thể có cùng loại hiện tượng học với tư cách các loại tri giác. Theo quan điểm này, ảo giác được hiểu là trạng thái tưởng tượng (xem Allen 2015), hoặc được xác định bằng khuôn khổ tính không thể phân biệt được với tri giác (xem ví dụ Martin 2006). Tất nhiên, thứ phân ly luận này không khỏi gây tranh cãi (xem ví dụ Kriegel 2011).

Một lựa chọn khác, nằm trong khuôn khổ quan điểm trình hiện/biểu tượng, là đặt định một thái độ riêng biệt, ​​hay “phương thức” có tính ý hướng của trải nghiệm tri giác. Do đó, Bach (2007) và Recanati (2007) xem xét một khía cạnh tự quy chiếu mang tính nhân quả nhất định của tri giác, tức là đặc điểm của nó với tư cách [tr.5] là nguyên nhân (và, có lẽ, được duy trì về mặt nhân quả) của những thứ mà người ta đang tri giác, thứ mà Searle (1983) coi là một điều kiện thỏa mãn do nội dung tri giác áp đặt. Bach và Recanati lập luận rằng điều kiện này nên được hiểu là một điều kiện thành công do phương thức tri giác áp đặt (tương tự như cách mà, chẳng hạn, chân lý có thể là một điều kiện thành công, hay ‘mục tiêu’, do phương thức niềm tin áp đặt). Recanati (2007, 133) lập luận rằng thực tế này về phương thức tri giác sẽ làm sáng tỏ cách thức mà các chủ thể nhận thức được bản tính tri giác các trải nghiệm của mình. Giờ đây, người ta có thể đáp lại rằng một điều kiện tự tham chiếu nhân quả dựa-trên-nội-dung, chẳng hạn như một suy nghĩ đơn thuần, chẳng hạn, thác Victoria đang gầm rú và đang gây ra chính suy nghĩ này, thì điều đó cũng không làm cho các đối tượng hiện diện ngay lập tức với một ai đó. Vậy thì, tại sao một điều kiện dựa-trên-phương-thức lại có thể làm được điều đó? Kriegel (2019) nêu lên câu hỏi này, và cũng bày tỏ nghi ngờ về việc liệu các loại yêu cầu nhân quả-chức năng-định chuẩn được đề cập ở đây có khả năng là hiện thân đối với ngôi thứ nhất, theo cách cần thiết hay không. Nếu cả hai chiến lược được nêu ra, nhằm giải thích sự khác biệt được cho là hiển nhiên giữa hiện tượng học tri giác và hiện tượng học nhận thức, đều không mang lại kết quả chắc chắn, thì tư tưởng cho rằng sự khác biệt như vậy thực sự tồn tại vẫn chưa hết hy vọng. Như Kriegel (2019) nhận xét, một lựa chọn còn lại là coi sự khác biệt đó là nguyên thủy – là điều mà chúng ta không thể có thông tin để tường trình trong khuôn khổ của các đặc điểm khác, cụ thể hơn hoặc cơ bản hơn của hiện tượng học. Cách tiếp cận hiện tượng học để phân biệt giữa tri giác và nhận thức sẽ có hạn chế nếu có thể có tri giác vô thức, và theo đúng nghĩa, không thể phân biệt được với nhận thức dựa trên cơ sở hiện tượng học (xem Phillips & Block (2016), và Taylor (2020)).

3. Trình hiện

Các nhận thức theo hệ mẫu, chẳng hạn như niềm tin, thường được coi là minh họa cho một hình thức trình hiện mang tính diễn ngôn, khái niệm và định đề (nói một cách đại khái: giống như ngôn ngữ). Do đó, các loại tri giác sẽ khác với nhận thức – ít nhất là khác với những loại nhận thức theo hệ mẫu như niềm tin – nếu chúng là phi-trình hiện (xem, ví dụ, Travis 2013) hoặc thể hiện một dạng trình hiện mang tính diễn ngôn-khái niệm-phi định đề. Phần này tập trung vào lựa chọn sau. Khái niệm về trình hiện mang tính diễn ngôn-khái niệm-phi định đề, như chúng ta sẽ thấy, là chủ đề của nhiều quan niệm khác nhau trong tài liệu. Việc theo dõi xem những người tham gia thảo luận đang (không) đồng ý hay đang nói chuyện không ăn khớp với nhau thường là một vấn đề tế nhị.

3.1. Tính phi định đề

[Tr. 6] Nếu tri giác mang tính trình hiện/biểu tượng, thì chúng có thể có nội dung định đề, ít nhất là theo một nghĩa đơn giản nào đó. Một mặt, chúng có thể được liên tưởng tới các tập hợp thế giới khả thể trong đó chúng là đúng. Những tập hợp như vậy là các định đề, theo một quan niệm phi cấu trúc (xem Stalnaker 1998). Tuy nhiên, các lập luận gần đây về tính phi-định đề của tri giác, do Burge (2010a, 2010b, 2010c, 2018) và Block (MS) đưa ra, lại giả định một quan niệm khắt khe hơn về việc sở hữu nội dung định đề. Với quan điểm có cấu trúc về định đề, họ nhấn mạnh rằng các định đề có thể có cấu trúc được quy định trong logic định đề và logic bậc nhất, bao gồm phủ định, phân cách, điều kiện, lượng hóa phổ quát, v.v. Họ lập luận rằng có bằng chứng xác đáng để coi các trạng thái tinh thần được phân loại theo nội dung định đề khi có bằng chứng xác đáng cho thấy các trạng thái này là hiện thân của các năng lực tái trình hiện mà kho tàng của nó bao gồm các trạng thái có nội dung phủ định, phân cách, v.v. Bằng chứng xác đáng cho các năng lực có kho tàng như vậy về phương diện hệ mẫu, bao gồm (mặc dù không nhất thiết bị giới hạn ở) các hành vi được giải thích tốt nhất bằng các suy luận mà tính hợp lệ của chúng phụ thuộc vào các cấu trúc logic như vậy. Ví dụ, con chó huyền thoại của Chryssipus, đuổi theo thứ gì đó đến ngã ba đường, ngửi một nhánh cây, rồi lại đuổi theo nhánh cây kia, một hành vi được giải thích tốt nhất bằng một disjunctive syllogism tam đoạn luận phân ly.

Burge và Block lập luận rằng, năng lực trình hiện/biểu tượng hoạt động trong tri giác không cần thiết, và do đó không nên được hiểu là cho phép cấu trúc phủ định, phân ly, có điều kiện, lượng hóa phổ quát, hoặc cấu trúc tương tự. Block (MS) chỉ ra rằng, ngay cả trong trường hợp người ta có thể mong đợi một trình hiện/biểu tượng phân ly, thì tri giác vẫn không mang tính phân ly. Hãy xem xét các kích thích mơ hồ, chẳng hạn như khối lập phương Necker. Tất cả các tín hiệu thị giác trong hình ảnh này đều chỉ ra rằng, một trong hai cạnh vuông của nó vuông góc với đường ngắm (LOS) thì gần hơn. Tuy nhiên, thị giác không trình hiện sự phân ly như vậy; nó chuyển từ việc trình hiện cạnh này gần hơn sang biểu đạt cạnh kia gần hơn. Ai đó sẽ phản đối rằng chúng ta có thể nhận thức được sự vắng mặt, chẳng hạn như, sự vắng mặt của cái máy tính xách tay của tôi trên bàn cà phê (xem Farennikova 2013), và tri giác kiểu như vậy trên thực tế lại sử dụng sự phủ định. Block (MS) trả lời rằng những trường hợp như vậy nên được hiểu là một trình hiện nhất định về sự trống rỗng, thiếu cấu trúc ngữ nghĩa. Một phản đối khác có thể là nội dung tri giác, giả sử quan điểm “tổng quát luận”, được lượng hóa mang tính hiện tồn: nó trình hiện một điều là có những thứ như thế này thế kia ở trước mặt (xem, ví dụ [tr.7] Davies 1992). Nếu lượng hóa phổ quát biểu thị vị thế định đề, thì lượng hóa hiện tồn cũng phải như vậy sao? Tuy nhiên, Burge (2010a) bác bỏ quan điểm tổng quát luận, lập luận rằng điều thiết yếu đối với tri giác là nó nhằm mục đích đề cập đến các đối tượng hoặc sự kiện riêng lẻ. Trong tri giác, các thuộc tính như màu đỏ hoặc hình vuông có chức năng tái trình hiện, giới hạn chúng trong việc trình hiện thuộc tính được đề cập trong ngữ cảnh gán nó cho một đối tượng cụ thể theo cách chỉ định hoặc biểu thị: chúng bị giới hạn trong các cấu trúc cơ bản, giống như cụm danh từ, chẳng hạn như hình vuông màu đỏ đó. Ngược lại, Burge (2010c) lập luận rằng, đặc điểm của trình hiện định đề là một thuộc tính nào đó trong đó không bị giới hạn như vậy, mà có thể, trong số những thứ khác, gán thuộc tính đó cho những thứ được khái quát hóa (một hình vuông màu đỏ nào đó) hoặc trình hiện cái thuộc tính không đưa ra bất kỳ sự gán ghép thực chứng nào (giả như đó không phải là màu đỏ). Một lần nữa, ông cho rằng, không đủ nguyên do để nghĩ rằng các năng lực trình hiện đang hoạt động trong tri giác tạo ra tính linh hoạt cấu trúc như vậy.

3.2. Tính phi khái niệm

Evans (1982) đã đưa thuật ngữ non-conceptual content “nội dung phi khái niệm” vào các cuộc tranh luận gần đây, bằng lập luận cho rằng tri giác và niềm tin lần lượt có nội dung phi khái niệm và nội dung khái niệm. Dựa vào kiểu đặc trưng hóa vẻ như có ảnh hưởng nhất, thì nội dung sẽ mang tính khái niệm nếu việc giải thích nó về mặt tinh thần đòi hỏi phải sở hữu các khái niệm được sử dụng để xác định nội dung đó, nếu không thì sẽ mang tính phi khái niệm.2 Evans liên kết việc sở hữu khái niệm với việc đáp ứng “Ràng buộc Khái quát” (GC-Generality Constraint), tức là với khả năng kết hợp các yếu tố được trình hiện theo những cách có hệ thống nhất định, ví dụ: Có thể trình hiện quả bóng nằm trên viên gạch nếu có thể trình hiện viên gạch nằm trên quả bóng. Việc đáp ứng GC có liên quan chặt chẽ đến việc sở hữu thứ thuộc tính mà Fodor gọi là tính hệ thống (xem, ví dụ: Fodor 2008).  Giờ đây, ít nhất một điều gì đó giống như tính hệ thống dường như có thể áp dụng cho trình hiện tri giác.

Nếu người ta có thể nhìn thấy một hình vuông màu đỏ bên cạnh một hình tam giác màu xanh lá cây, thì chắc chắn, người ta cũng có thể nhìn thấy một hình vuông màu xanh lá cây bên cạnh một hình tam giác màu đỏ. Tuy nhiên, người ta cũng lập luận rằng tri giác có, hoặc ít nhất có thể sẽ có, một số ngoại lệ đáng chú ý đối với tính hệ thống. Heck (2007) gợi ý rằng trình hiện tri giác có thể vận hành sao cho các mối quan hệ không gian chỉ được trình hiện trong số các đối tượng (được trình hiện là tồn tại) khá gần nhau. Bây giờ, giả sử a và b khá gần nhau [tr.8], cả b và c cũng vậy, nhưng a và c thì không. Vậy là, ngay cả khi a và b được trình hiện là tồn tại, chẳng hạn, cách đều bản thân, và b, chẳng hạn, ở phía sau c, thì lại không thể trình hiện bằng tri giác rằng a tự cách đều bản thân nó với c, hoặc a ở phía sau c. Trong một ngữ cảnh khác, Johnson thấy có vi phạm tính hệ thống được cho là khác trong trình hiện tri giác: ‘mặc dù tôi có thể nhìn thấy (tưởng tượng) một hộp đen nhỏ bên trong một quả cầu thủy tinh lớn, nhưng tôi nghĩ rằng tôi không thể nhìn thấy (tưởng tượng) một quả cầu thủy tinh lớn bên trong một hộp đen nhỏ’ (2004, 131).

Những hàm ý của các ví dụ giả định như vậy về sự khác biệt giữa tri giác và tư duy phụ thuộc vào trạng thái và bản chất của khẳng định rằng Ràng buộc Khái quát (GC), hay tính hệ thống, áp dụng cho tư duy. Người ta hiểu rằng Evans coi GC như một ràng buộc tiên nghiệm đối với tư duy; chấp nhận quan điểm đó, Heck bằng lòng với khẳng định rằng trình hiện tri giác có thể bị ràng buộc về mặt không gian theo cách đã chỉ ra. Ngược lại, Fodor cho rằng tính hệ thống là một quy luật thực nghiệm, thừa nhận một số ngoại lệ nhất định, giống như các quy luật khoa học đặc biệt thừa nhận. Theo quan điểm đó, các ví dụ phản bác giả định của Heck và Johnson cần có bằng chứng thực nghiệm, và ngay cả khi đúng, chúng vẫn có thể được coi là những ngoại lệ chứng minh cho quy luật đó. Một bài học khác có thể rút ra từ các ví dụ được Johnson minh họa (2004, 2015), khi nêu ra quan điểm về tri giác như một phần của lập luận cho sự hoài nghi lớn hơn về việc liệu có phải bất kỳ hệ thống trình hiện tự nhiên nào, bao gồm cả tư duy và ngôn ngữ tự nhiên, đều mang tính hệ thống.3 Mandelbaum (2018) lập luận rằng tri giác, ít nhất là một phần, cũng có nội dung khái niệm, dựa trên cơ sở các hạng mục được trình bày về mặt tri giác được phân loại, cực kỳ nhanh chóng, thành các phạm trù cấp độ cơ bản như ô tô, chó, đàn guitar, v.v. Ông trích dẫn, trong số những phát hiện khác, các đối tượng có khả năng cao hơn mức ngẫu nhiên trong việc phân biệt liệu một chuỗi năm hình ảnh, mỗi hình ảnh được trình bày chỉ trong 13 ms (với màn che khuất tiến và lùi, để làm gián đoạn quá trình xử lý tri giác tiếp theo) có bao gồm hình ảnh, chẳng hạn, của một chiếc ô tô hay không. Mandelbaum cho rằng các quá trình nhận thức, từ trên xuống, hoạt động quá chậm để giải thích cho các phân loại như vậy.

3.3. Tính phi-diễn ngôn

Những ứng cử viên hàng đầu cho các hình thức trình hiện phi-diễn ngôn, khi nói đến việc đặc trưng hóa tri giác, là trình hiện analog vật tương tự và trình hiện iconic hình tượng. Mỗi thuật ngữ trong hai thuật ngữ này được hiểu theo những cách khác nhau trong các văn liệu gần đây. [Tr.9] Đối với analog ‘vật tương tự’, người ta có thể phân biệt một quan niệm ‘liên tục tính’, theo đó các hệ thống analog cho phép trình hiện thay đổi (xấp xỉ) liên tục dọc theo một số chiều, và một quan niệm ‘phản chiếu’, theo đó các phương tiện trình hiện analog thể hiện các cấu trúc làm cho chúng đồng dạng với, hoặc ít nhất là những tấm ‘gương’ nhạy cảm-cấu trúc của, lĩnh vực được trình hiện (ví dụ: khoảng cách lớn hơn giữa các điểm trên bản đồ tàu điện ngầm tương quan với khoảng cách lớn hơn giữa các ga – và biểu thị chiều dài tương đối một phần nhờ vào mối tương quan này).4 Ở đây, quan niệm về tính liên tục có thể bị gạt sang một bên.

Một số quan niệm về ‘hình tượng’, ví dụ như của Burge (2018) và Block (MS), làm cho nó thực sự đồng nghĩa với analog theo quan niệm phản chiếu. Một số người khác coi đó là quy ước (Fodor 2007; Clarke 2020), hoặc ít nhất là đúng về mặt tổng quát (Green và Quilty-Dunn 2017; Quilty-Dunn 2020), đó là các trình hiện hình tượng đáp ứng một “Nguyên tắc Hình ảnh” nhất định, không được ngụ ý bởi sự phản chiếu analog, theo đó bất kỳ phần nào của một trình hiện hình tượng đều đại diện cho một phần của cảnh tượng được thể hiện bởi toàn bộ (ví dụ, một phần của bức tranh về một con sư tử sẽ đại diện cho, chẳng hạn, mũi của nó). Cũng có sự bất đồng, như chúng ta sẽ thấy, về việc liệu các trình hiện phi-diễn ngôn có nhất thiết, hoặc thậm chí trình hiện điển hình cho một số chiều góc, chẳng hạn như hình dạng, hướng và màu sắc, một cách toàn diện, gộp lại với nhau hay không.

Beck (2019) lập luận rằng biểu tượng tri giác analog sẽ đưa ra một lời giải thích hấp dẫn cho định luật Weber, tức là định luật, nói một cách đại khái, cho rằng sự khác biệt có thể nhận biết được trong một đại lượng nhất định sẽ tăng lên khi đại lượng đó tăng lên; ví dụ: âm thanh lớn phải khác nhau nhiều hơn về độ lớn để có thể phân biệt được so với âm thanh nhỏ. Nếu độ lớn âm thanh được trình hiện tương tự, thì các trình hiện của hai độ lớn âm thanh sẽ tạo ra sự tương ứng về cấu trúc với các độ lớn âm thanh đó: các phương tiện trình hiện có thể được coi là tương tự nhau hơn khi các độ lớn âm thanh được trình hiện tương tự nhau (hãy so sánh trình hiện diễn ngôn ‘49,9 dB’, thứ có thể coi là tương tự với ‘39,9 dB’ hơn là ‘50 dB’). Vì các quá trình tâm lý tác động lên các trình hiện này có nhiều nhiễu, nên điều đó cho thấy rằng, khi tỷ lệ giữa hai trình hiện giảm đi, thì sự khác biệt giữa các độ lớn âm thanh mà chúng trình hiện sẽ khó phát hiện hơn, như định luật Weber dự đoán. Một lập luận khác ủng hộ trình hiện tri giác analog/tương tự đề cập đến các thí nghiệm ‘xoay hình ảnh trong tâm trí’ (Quilty-Dunn 2020; Block MS). Shepard và Metzler (1971) nhận thấy rằng thời gian cần thiết để phân biệt hai hình vẽ đường thẳng có mô tả các hình trùng khớp hay đảo ngược qua gương thì [tr.10] tỷ lệ thuận với mức độ khác biệt về hướng mô tả của chúng. Nếu quá trình “xoay trong tâm trí” cái hình ảnh tưởng tượng vận hành trên các biểu tượng trình hiện thể hiện sự tương ứng về cấu trúc của khoảng cách góc, thì phát hiện này có vẻ hợp lý. Vì có lý do để cho rằng hình ảnh và tri giác có cùng định dạng trình hiện biểu tượng, nên trình hiện tri giác cũng tương tự, hoặc ít nhất đó cũng là kết luận của tuyến lập luận hiện tại.

Green và Quilty-Dunn (Green và Quilty-Dunn 2017; Quilty-Dunn 2020) cho rằng, mặc dù trình hiện tri giác một phần là analog/tương tự, nhưng các trình hiện đối tượng tri giác (PORs - perceptual object representations) thì lại mang tính diễn ngôn. Họ viện dẫn các nghiên cứu cho thấy kẻ tri giác có thể nhớ lại một chiều góc của một đối tượng vừa biến mất, chẳng hạn như hướng của nó, mà không nhớ lại chiều góc khác, chẳng hạn như màu sắc của nó. Giả sử việc nhớ lại này khai thác PORs, thì PORs sẽ không mang tính biểu tượng, họ lập luận, bởi vì các trình hiện biểu tượng là “toàn diện”, theo nghĩa chúng trình hiện nhiều chiều cùng một lúc, gần giống như một số nét vẽ biểu hiện sắc độ, độ sáng, hình dạng và hướng của một đối tượng được vẽ (ngược lại, từ “xanh lam” chỉ thể hiện màu sắc). Nói một cách đơn giản: nếu các PORs giống như màu vẽ tồn tại để có thể tiếp cận được nhằm khôi phục hướng, thì chúng cũng phải có thể tiếp cận được để khôi phục màu sắc.

Block (MS) đồng ý rằng các trình hiện đối tượng trong một số nghiên cứu được Green và Quilty-Dunn trích dẫn mang tính diễn ngôn, nhưng cho rằng điều đó là do cách các nghiên cứu này đặt ra yêu cầu đối với bộ nhớ làm việc. Trong thị giác, trước khi khái niệm hóa trong bộ nhớ làm việc, thì người ta sử dụng các POR mang tính biểu tượng/tương tự. Block lập luận rằng điều này giải thích cách các khía cạnh hướng đối tượng và hướng không gian của tri giác tương tác theo những cách tinh tế, tỷ lệ thuận, tương tự như những gì được tìm thấy trong các thí nghiệm xoay hình ảnh trong tâm trí. Ví dụ, những kẻ tri giác, nếu các yếu tố khác như nhau, sẽ phản ứng nhanh hơn với các đặc điểm xuất hiện trên một đối tượng được chú ý so với các đặc điểm xuất hiện trên một đối tượng khác (ngay cả khi kiểm soát khoảng cách); tuy nhiên, trong phạm vi của một đối tượng được chú ý, thì sự chú ý vận hành trong không gian theo cách được cho là analog/tương tự: người ta sẽ phản ứng chậm hơn một cách tỷ lệ thuận với một đặc điểm khi nó xuất hiện càng xa trên bề mặt của đối tượng, so với vị trí ban đầu được chú ý trên bề mặt của nó. Theo Block nếu các POR thể hiện sự tương ứng về cấu trúc với sự mở rộng không gian, và các quá trình chú ý nhạy cảm với đặc điểm này của các POR, thì tính tỷ lệ thuận này là hợp lý. Hơn nữa, Block phản đối rằng yêu cầu toàn diện của Green và Quilty-Dunn là quá khắt khe. Mặc dù một số trình hiện biểu tượng đại diện cho nhiều chiều kích một cách toàn diện, gộp lại (như lon sơn), nhưng không phải tất cả đều phải như vậy. Việc chúng có làm như vậy hay không phụ thuộc vào năng lực trình hiện [tr. 11] hoặc các thao tác dựa trên hoặc xử lý các trình hiện được đề cập, đó là vấn đề mà Burge (2018) cũng nhấn mạnh.

____________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Anders Nes, Kristoffer Sundberg & Sebastian Watzl (2021). The perception/cognition distinction, Published in Inquiry, Interdisciplinary Journal of Philosophy.

Notes

1 The review does not purport to be exhaustive. For reasons of space, we set aside, among other things, the view that perception is linked to specific sensory modalities while cognition is amodal (cf, McFarland and Cacace 1999; Burge 2010c, 46–47; Burge 2014, 574; and Phillips 2019 for discussion), and the idea, in McDowell’s influential account, that perceptual experience and thought, whilst both conceptual, differ in being respectively passive and active (McDowell 1994, 10–13; McDowell 2019, 391).

2 For discussion of various conceptions of non-conceptual content, see, e.g., Peacocke 1992; Heck 2000; Speaks 2005.

3 On the role of GC for the attribution of non-conceptual content, and the nature of thought, see also (Beck 2012).

4 For this distinction, and references to leading examples of each conception, see (Beck 2019, 331, nt. 23).

References

Allen, Keith. (2015). “Hallucination and Imagination.” Australasian Journal of Philosophy 93 (2): 287–302.

Bach, Kent. 2007. “Searle Against the World: how Can Experiences Find Their Objects?” In John Searle’s Philosophy of Language, edited by Savas L. Tsohatzidis, 64–78. Cambridge: Cambridge University Press.

Bayne, Tim, and Michelle Montague. 2011. “Cognitive Phenomenology: an Introduction.” In Cognitive Phenomenology, edited by Tim Bayne, and Michelle Montague, 1–34. Oxford: Oxford University Press.

Beck, Jacob. 2012. “The Generality Constraint and the Structure of Thought.” Mind; A Quarterly Review of Psychology and Philosophy 121 (483): 563–600.

Beck, Jacob. 2018. “Marking the Perception–Cognition Boundary: The Criterion of Stimulus-Dependence.” Australasian Journal of Philosophy 2: 319–334.

Beck, Jacob. 2019. “Perception is Analog: The Argument from Weber’s Law.” Journal of Philosophy 116 (6): 319–349.

Beck, Jacob, and Keith. A. Schneider. 2017. “Attention and Mental Primer.” Mind & Language 32 (4): 463–494.

Bergqvist, Anna, and Robert Cowan, eds. 2018. Evaluative Perception. Oxford: Oxford University Press.

Bird, Alexander., and Emma Tobin. 2017. “Natural Kinds.” In The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Spring 2017 Edition), edited by E. N. Zalta.

Block, Ned. 2014. “Seeing-As in the Light of Vision Science.” Philosophy and Phenomenological Research 89 (1): 560–572.

Block, Ned. 2016. “Tweaking the Concepts of Perception and Cognition.” Behavioral and Brain Sciences 39: 21–22. Block, Ned. MS. The Border between Seeing and Thinking.

Bourget, David. 2017. “Why Are Some Phenomenal Experiences ‘Vivid’ and Others ‘Faint’? Representationalism, Imagery, and Cognitive Phenomenology.” Australasian Journal of Philosophy 95 (4): 1–15.

Boyd, Richard. 1999. “Homeostasis, Species, and Higher Taxa.” In Species: New Interdisciplinary Essays, edited by R. A. Wilson, 141–185. Cambridge, MA: MIT Press.

Brewer, Bill. 2011. Perception and its Objects. Oxford: Oxford University Press.

Bruner, J. S. 1957. “On Perceptual Readiness.” Psychological Review 64 (2): 123–152.

Burge, Tyler. 2010a. The Origins of Objectivity. Oxford: Oxford University Press.

Burge, Tyler. 2010b. “Origins of Perception.” Disputatio 4 (29): 1–38.

Burge, Tyler. 2010c. “Steps Toward Origins of Propositional Thought.” Disputatio 4 (29): 39–67.

Burge, Tyler. 2014. “Reply to Block: Adaptation and the Upper Border of Perception.” Philosophy and Phenomenological Research 89 (3): 573–583.

Burge, Tyler. 2018. “Iconic Representation: Maps, Pictures, and Perception.” In The Map and the Territory, edited by Shyam Wuppuluri, and Francisco Antonio Doria, 79–100. Cham: Springer International Publishing.

Camp, E. 2019. “Perspectives and Frames in Pursuit of Ultimate Understanding.” In Varieties of Understanding, edited by S. Grimm, 17–46. Oxford: Oxford University Press.

Campbell, John. 2002. Reference and Consciousness. Oxford: Oxford University Press.

Carey, Susan. 2009. The Origin of Concepts. Oxford: Oxford University Press.

Carranante, Géraldine. 2020. The boundaries of perception: a conceptual engineering perspective. (PhD). PLS Université Paris.

Carrasco, Marrisa, and A. Barbot. 2019. “Spatial Attention Alters Visual Appearance.” Current Opinion in Psychology 29: 56–64.

Carruthers, Peter. 2006. The Architecture of the Mind. Oxford: Oxford University Press.

Chiappe, D. L. 2000. “Metaphor, Modularity, and the Evolution of Conceptual Integration.” Metaphor and Symbol 15 (3): 137–158.

Chisholm, Roderick M. 1957. Perceiving: A Philosophical Study. Ithaca, NY: Cornell University Press.

Chudnoff, Elijah. 2018. “Epistemic Elitism and Other Minds.” Philosophy and Phenomenological Research 2: 276–298.

Churchland, Paul M. 1988. “Perceptual Plasticity and Theoretical Neutrality: A Reply to Jerry Fodor.” Philosophy of Science 55 (June): 167–187.

Clark, Andy. 2016. Surfing Uncertainty: Prediction, Action, and the Embodied Mind. Oxford: Oxford University Press.

Clarke, Sam. 2020. “Beyond the Icon: Core Cognition and the Bounds of Perception.” Mind and Language 1–20. Doi: 10.1111/mila.12315.

Coates, Paul. 2000. “Deviant Causal Chains and Hallucinations: A Problem for the Anti-Causalist.” The Philosophical Quarterly 50 (200): 320–331.

Connolly, K. 2019. Perceptual Learning: The Flexibility of the Senses. Oxford: Oxford University Press.

Currie, G., and K. Sterelny. 2000. “How to Think About the Modularity of Mind-Reading.” The Philosophical Quarterly 50 (199): 145–160.

Davies, Martin. 1983. “Function in Perception.” Australasian Journal of Philosophy 61 (4): 409–426.

Davies, Martin. 1992. “Perceptual Content and Local Supervenience.” Proceedings of the Aristotelian Society 92: 21–45.

Drayson, Z. 2017. “Modularity and the Predictive Mind.” In Philosophy and Predictive Processing, edited by T. K. Metzinger, and W. Wiese, 1–12. Frankfurt am Main: MIND Group. doi:10.15502/9783958573130.

Driver, J., and G. C. Baylis. 1996. “Edge-assignment and Figure–Ground Segmentation in Short-Term Visual Matching.” Cognitive Psychology 31 (3): 248–306.

Drożdżowicz, Anna. this issue. “Do we Hear Meanings? – Between Perception and Cognition.” Inquiry, 1–33. doi:10.1080/0020174x.2019.

Dupré, John. 1993. The Disorder of Things: Metaphysical Foundations of the Disunity of Science. Cambridge: Cambridge University Press.

Evans, Gareth. 1982. Varieties of Reference, edited by John McDowell. Oxford: Oxford University Press.

Farennikova, Anna. 2013. “Seeing Absence.” Philosophical Studies 166 (3): 429–454.

Firestone, Chaz, and Brian J Scholl. 2016. “Cognition Does not Affect Perception: Envaluating the Evidence for “top-Down” Effects.” Behavioral and Brain Sciences 39: 1–7710.1017/S0140525X15000965.

Fish, William. 2013. “High-level Properties and Visual Experience.” Philosophical Studies 162 (1): 43–55.

Fodor, Jerry. 1983. The Modularity of Mind. Cambridge, MA: MIT press.

Fodor, Jerry. 2007. “The Revenge of the Given.” In Contemporary Debates in Philosophy of Mind, edited by Brian P. McLaughlin, and Jonathan Cohen, 105–116. Oxford: Blackwell.

Fodor, Jerry. 2008. LOT 2. The Language of Thought Revisited. Oxford: Oxford University Press.

Glüer, Kathrin. 2009. “In Defence of a Doxastic Account of Experience.” Mind & Language 24 (3): 297–327.

Green, E. J. 2020. “The Perception-Cognition Border: A Case for Architectural Division.” Philosophical Review 129 (3): 323–393.

Green, E. J., and Jake Quilty-Dunn. 2017. “What is an Object File?” British Journal for the Philosophy of Science, axx055, doi:10.1093/bjps/axx055.

Gross, Steven. 2017. “Cognitive Penetration and Attention.” Frontiers in Psychology 8: 1–12.

Hansen, T., M. Olkkonen, S. Walter, and K. R. Gegenfurtner. 2006. “Memory Modulates Color Appearance.” Nature Neuroscience 9 (11): 1367–1368.

Heck, Richard. 2000. “Nonconceptual Content and the “Space of Reasons”.” Philosophical Review 109 (4): 483–523.

Heck, Richard. 2007. “Are There Different Kinds of Content?” In Contemporary Debates in Philosophy of Mind, edited by Brian P. McLaughlin, and Jonathan D. Cohen, 117–138. Oxford: Blackwell.

Helton, Grace. 2016. “Recent Issues in High-Level Perception.” Philosophy Compass 11 (12): 851–862.

Helton, Grace. 2018. “Visually Perceiving the Intentions of Others.” Philosophical Quarterly 68 (271): 243–264.

Hohwy, Jakob. 2013. The Predictive Mind. Oxford: Oxford University Press.

Hume, David. 2000. 1738-9/A Treatise of Human Nature. Oxford: Oxford University Press.

Husserl, Edmund. 1973 /1997. Thing and Space: Lectures of 1907. R. Rojcewicz (Trans.). Dordrecht: Kluwer.

Johnson, Kent. 2004. “On the Systematicity of Language and Thought.” Journal of Philosophy 101 (3): 111–139.

Johnson, Kent. 2015. “Maps, Languages, and Manguages: Rival Cognitive

Architectures?” Philosophical Psychology 28 (6): 815–836.

Johnston, Mark. 2006. “Better Than Mere Knowledge? The Function of Sensory Awareness.” In Perceptual Experience, edited by T. S. Gendler, and John Hawthorne, 260–290. Oxford: Oxford University Press.

Kahan, D. M. 2012. “Ideology, Motivated Reasoning, and Cognitive Reflection: An Experimental Study.” Judgment and Decision Making 8: 407–424.

Kriegel, Uriah. 2011. “The Veil of Abstracta.” Philosophical Issues 21 (1): 245–267.

Kriegel, Uriah. 2019. “The Perception/Cognition Divide: One More Time, with Feeling.” In The Philosophy of Perception and Observation, edited by C. Limbeck-Lilienau, and F. Stadler, 92–103. Berlin: De Gruynter.

Leibniz, Gottfried Wilhelm. 1982. New Essays on Human Understanding, edited by P. Remnant, and J. Bennett. New York: Cambridge University Press.

Levin, D. T., and M. R. Banaji. 2006. “Distortions in the Perceived Lightness of Faces: The Role of Race Categories.” Journal of Experimental Psychology: General 135: 501–512.

Lewis, David. 1980. “Veridical Hallucination and Prosthetic Vision.” Australasian Journal of Philosophy 58 (3): 239–249.

Lewis, David. 2000. “Causation as Influence.” The Journal of Philosophy 97 (4): 182–197.

Ling, S., T. Liu, and M. Carrasco. 2009. “How Spatial and Feature-Based Attention Affect the Gain and Tuning of Population Responses.” Vision Research 49 (10): 1194–1204.

Lupyan, G. 2015. “Cognitive Penetrability of Perception in the age of Prediction: Predictive Systems are Penetrable Systems.” Review of Philosophy and Psychology 6: 547–569.

Macpherson, F. 2012. “Cognitive Penetration of Colour Experience: Rethinking the Issue in Light of an Indirect Mechanism.” Philosophy and Phenomenological Research 84 (1): 24–62.

Macpherson, F. 2017. “The Relationship Between Cognitive Penetration and Predictive Coding.” Consciousness and Cognition 47: 6–16.

Macpherson, Fiona, and Clare Batty. 2016. “Redefining Illusion and Hallucination in Light of New Cases.” Philosophical Issues 26 (1): 263–296. doi:10.1111/phis.12086.

Mandelbaum, Eric. 2018. “Seeing and Conceptualizing: Modularity and the Shallow Contents of Perception.” Philosophy and Phenomenological Research 97 (2): 267–283.

Martin, Michael G. F. 2006. “On Being Alienated.” In Perceptual Experience, edited by Tamar Szabó Gendler, and John Hawthorne, 354–410. Oxford: Oxford University Press.

Martinez-Trujillo, J. C., and S. Treue. 2004. “Feature-based Attention Increases the Selectivity of Population Responses in Primate Visual Cortex.” Current Biology 14 (9): 744–751.

McDowell, John. 1994. Mind and World. Cambridge, MA: MIT Press.

McDowell, John. 2013. Avoiding the Myth of the Given and Other Philosophical Thoughts. John McDowell Interviewed by James O’Shea. Dublin: University College Dublin.

McDowell, John. 2019. “Responses to Brewer, Gupta, and Siegel.” Philosophical Issues 29 (1): 390–402.

McFarland, D., and A. Cacace. 1999. “Defining Perception and Cognition.” Behavioral and Brain Sciences 22 (3): 383–385.

Mole, Christopher. 2015. “Attention and Cognitive Penetration.” In The Cognitive Penetrability of Perception: New Philosophical Perspectives, edited by John Zeimbekis, and Athanasios Raftopoulos, 218–237. Oxford: Oxford University Press.

Montague, Michelle. this issue. “The Sense/Cognition Distinction.” Inquiry, 1–17. doi:10.1080/0020174X.2018.1562371.

O’Shaughnessy, Brian. 1992. “The Diversity and Unity of Action and Perception.” In The Contents of Experience, edited by Tim Crane. 216–266. Cambridge: Cambridge University Press.

Peacocke, Christopher. 1979. Holistic Explanation: Action, Space, Interpretation. Oxford: Clarendon Press.

Peacocke, Christopher. 1992. A Study of Concepts. Cambridge, MA: MIT Press.

Pepp, Jessica. this issue. “On Pictorially Mediated Mind-Object Relations.” Inquiry, 1–29. doi:10.1080/0020174X.2018.1562372.

Phillips, Ben. 2019. “The Shifting Border Between Perception and Cognition.” Noûs 53 (2): 316–346.

Phillips, I., and N. Block. 2016. “Debate on Unconscious Perception.” In Current Controversies in Philosophy of Perception, edited by B. Nanay, 165–192. New York: Routledge.

Price, Carolyn. 1998. “Perception and Normal Causal Chains.” Philosophical Studies: An International Journal for Philosophy in the Analytic Tradition 89 (1): 31–51.

Pryor, James. 2000. “The Skeptic and the Dogmatist.” Noûs 34 (4): 517–549.

Pylyshyn, Z. 1999. “Is Vision Continuous with Cognition?: The Case for Cognitive Impenetrability of Visual Perception.” Behavioral and Brain Sciences 22 (3): 341–365.

Quilty-Dunn, Jake. 2020. “Attention and Encapsulation.” Mind and Language 35 (3): 335–349.

Quilty-Dunn, Jake. 2020. “Perceptual Pluralism.” Noûs 54 (4): 807–838.

Recanati, François. 2007. Perpectival Thought. Oxford: Oxford University Press.

Robinson, Howard. 1994. Perception. London: Routledge.

Samuels, Richard. 2006. “Is the Human Mind Massively Modular?” In Contemporary Debates in Cognitive Science, edited by R. Stainton, 37–56. Oxford: Blackwell.

Schellenberg, Susanna. 2018. The Unity of Perception. Oxford: Oxford University Press.

Searle, John R. 1983. Intentionality. Cambridge: Cambridge University Press.

Serences, J. T., and S. Kastner. 2014. “A Multi-Level Account of Selective Attention.” In The Oxford Handbook of Attention, edited by Kia Nobre and Sabine Kastner, 76–104. Oxford: Oxford University Press.

Shea, N. 2015. “Distinguishing Top-Down from Bottom-Up Effects.” In Perception and Its Modalities, edited by S. Biggs, M. Matthen, and D. Stokes, 73–91. Oxford: Oxford University Press.

Shepard, R. N., and J. Metzler. 1971. “Mental Rotation of Three-Dimensional Objects.” Science 171 (3972): 701–703.

Siegel, S. 2010. The Contents of Visual Experience. Oxford: Oxford University Press.

Speaks, Jeff. 2005. “Is There a Problem About Nonconceptual Content?” Philosophical Review 114 (3): 359–398.

Spelke, E. S. 2003. “Core Knowledge.” In Functional Neuroimaging of Visual Cognition, edited by N. Kanwisher, and J. Duncan, 29–55. Oxford: Oxford University Press.

Sperber, D. 2002. “In Defense of Massive Modularity.” In Language, Brain and Cognitive Development, edited by I. Dupoux, 47–57. Cambridge, MA: MIT Press.

Stalnaker, Robert. 1998. “What Might Nonconceptual Content be?” Philosophical Issues 9: 339–352.

Stokes, D. 2013. “Cognitive Penetrability of Perception.” Philosophy Compass 8 (7): 646–663.

Strawson, Peter F. 1959. Individuals. London: Methuen.

Suchting, W. A. 1969. “Perception and the Time-Gap Argument.” The Philosophical Quarterly (1950-) 19 (74): 46–56. doi:10.2307/2218187.

Sundberg, Kristoffer. 2019. Perceiving properties. (PhD), University of Oslo.

Taylor, H. 2020. “Fuzziness in the Mind: Can Perception be Unconscious?” Philosophy and Phenomenological Research 101 (2): 383–398.

Thau, Michael. 2002. Consciousness and Cognition. Oxford: Oxford University Press.

Travis, Charles. 2013. Perception: Essays After Frege. Oxford: Oxford University Press.

Tye, Michael. 1982. “A Causal Analysis of Seeing.” Philosophy and Phenomenological Research 42 (3) (Mar, 1982): 311–325.

Tye, Michael. 2011. “The Admissible Contents of Visual Experience.” In The Admissible Contents of Experience, edited by Katherine Hawley, and Fiona Macpherson, 172–193. Chichester: Wiley-Blackwell.

Walton, Kendall. 1984. “Transparent Pictures: On the Nature of Photographic Realism.” Critical Inquiry 11 (2) (Dec, 1984): 246–277.

Watzl, Sebastian. 2017. Structuring Mind. The Nature of Attention and How It Shapes Consciousness. Oxford: Oxford University Press.

Webster, M. A. 2015. “Visual Adaptation.” Annual Review of Vision Science 1: 547–567.

Williams, Daniel. this issue. “Hierarchical Minds and the Perception/Cognition Distinction.” Inquiry, 1–23. doi:10.1080/

Wu, W. 2014. Attention: New Problems of Philosophy Series. London: Routledge.

Wu, W. 2017. “Shaking up the Mind’s Ground Floor: the Cognitive Penetration of Visual Attention.” The Journal of Philosophy 114 (1): 5–32.

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét