Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

Khoa học vùng và Lý thuyết vùng Kinh tế (I)*



Khoa học vùng và Lý thuyết vùng Kinh tế (I)*

Hà Hữu Nga

1. Các nhân tố tạo vùng

Chúng tôi quan niệm rằng muốn có được một hệ mẫu lý thuyết thực sự khoa học về vùng thì trước hết khoa học vùng cần phải phân biệt rõ ràng và minh bạch năm nhóm nhân tố tạo vùng, mà mỗi nhóm bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, hay còn gọi là nhiều biến thể khác nhau, tổng hợp lại tạo thành một cấu trúc vùng, và  một bản sắc vùng. Các nhóm đó là:

Nhóm nhân tố tự nhiên: i) môi trường - cảnh quan với các yếu tố tạo thành không gian gồm: địa hình, địa mạo (núi, rừng, sông, suối, hồ nước, thung lũng, biển, đảo, vũng vịnh, cửa sông, v.v...tạo thành một lưu vực sông; một hòn đảo, bán đảo hoặc quần đảo; một dải ven biển; một bồn địa; một khu vực cao nguyên, v.v...); ii) các nguồn tự nhiên trong một môi trường cảnh quan nhất định, gồm có khí hậu, thời tiết, đất, nước, khoáng sản, lâm thổ sản, các sản phẩm đa dạng sinh học trên mặt đất, trong lòng đất, trong không trung, trong nước, v.v...; ii) vị trí địa lý cũng là một trong số các yếu tố tạo vùng rất quan trọng, đặc biệt là khi vị trí đó hội tụ đầy đủ các nhân tố thời cơ tập trung các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, v.v...trong nước, khu vực và quốc tế.

Nhóm nhân tố xã hội: i) tạo thành không gian xã hội với các yếu tố dân số, dân cư, mật độ dân số, cách thức cư trú, các công trình dân sinh và công cộng; ii) tạo thành không gian xã hội với các hệ thống canh tác, các khu vực chuyên môn hoá về lao động, sản xuất; iii) tạo thành không gian văn hoá, lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng bằng các di sản vật thể: các công trình xây dựng, điêu khắc, kiến trúc, các không gian vật chất như khu di sản, khu lăng tẩm, khu đất thiêng, v.v...; iv) tạo thành không gian văn hoá, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng bằng các di sản phi vật thể như các sinh hoạt thể thao, văn hoá, văn nghệ dân gian, các lễ hội mang tính tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc tổng thể các tính chất đó; v) tạo thành không gian xã hội với các yếu tố dân tộc, sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, các nhóm thiểu số, các cộng đồng di dân, các nhóm lợi ích và sở thích, v.v...;

Nhóm nhân tố kinh tế và hạ tầng cơ sở: Thời đại ngày nay có hai đặc trưng làm cho kinh tế và hạ tầng cơ sở trở thành yếu tố trung tâm tạo vùng: i) sản xuất hiện đại đã làm cho thời gian trở thành một trong những nguồn lực quan trọng nhất, vì vậy một vùng kinh tế hoặc một khu vực sản xuất có hạ tầng cơ sở tốt, không làm tốn phí thời gian của con người chính là một thị trường cung cấp nguồn lực thời gian tốt; ii) hạ tầng cơ sở tốt làm tăng tính di động của các yếu tố sản xuất chính là một trong số các lợi thế của đô thị, vì nó đảm bảo nguồn cung các đầu vào sản xuất, làm giảm giá các đầu vào sản xuất và giảm các chi phí biên; iii) hạ tầng cơ sở tốt cũng tạo điều kiện tăng hiệu suất thị trường của các sản phẩm được sản xuất ra. Vì vậy ngày nay, một vùng kinh tế không thể không có các trung tâm vùng với các hệ thống hạ tầng sản xuất gồm có các xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty và các hệ thống dịch vụ cơ bản gồm: giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng tài chính, y tế - giáo dục và nghỉ ngơi giải trí.

Nhóm nhân tố con người: đóng vai trò quyết định tạo vùng và được coi là tác nhân vùng theo ba nghĩa: i) con người với cấu trúc xã hội, với di sản văn hoá, lịch sử, với ký ức và truyền thống của nó chính là các yếu tố tạo nên bản sắc vùng, bởi vì không có bản sắc vùng thì sẽ không thể có vùng theo đúng nghĩa của nó; ii) con người với kỹ năng lao động, sản xuất và giao dịch của nó chính là yếu tố quyết định sự phát triển và thịnh vượng của vùng; iii) con người với cá tính, gia đình, cộng đồng, xã hội, với hệ thống trang trại, hợp tác xã, xí nghiệp, doanh nghiệp và các công ty của nó tạo thành mạng lưới các mối quan hệ nội vùng và ngoại vùng chính là chất keo gắn kết tạo nên vùng.

Nhóm nhân tố thể chế và chính sách: có thể nói thể chế và chính sách vùng là những loại nguồn lực đặc biệt tạo nên vùng. Yếu tố con người, các kỹ năng và các mối quan hệ của nó thông qua các trang trại, hộ gia đình, hợp tác xã, các xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty, v.v...của nó chỉ có thể phát huy được tác dụng và sức mạnh khi thể chế cho phép nó, chính sách tạo thuận lợi cho nó. Không có thể chế vùng và không có chính sách vùng thì không thể có vùng theo đúng nghĩa của khái niệm đó. Đằng sau nhân tố thể chế, và chính sách vùng chính là vai trò của nhà nước trong việc tạo vùng.

2. Khái niệm vùng kinh tế

Khái niệm vùng kinh tế hiện đại có một lịch sử phát triển hàng thập kỷ, với rất nhiều thay đổi, tuỳ từng điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. Liên Xô và hầu hết các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây vẫn coi định nghĩa vùng kinh tế của Alaev là một định nghĩa mang tính kinh điển: “Vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ nguyên vẹn của nền kinh tế quốc dân, có những dấu hiệu sau: chuyên môn hoá những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản; tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của vùng..., coi vùng như là hệ thống toàn vẹn, một đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nền kinh tế quốc dân” [Dẫn theo: Nguyễn Xuân Thu, Nguyễn Văn Phú (Đồng chủ biên) 2006: 20]. Kể từ khi Liên Xô tan vỡ, quan niệm về vùng kinh tế và cấu trúc vùng kinh tế của nước Nga đã có rất nhiều thay đổi. Hiện nay người Nga chia đất nước thành 12 vùng kinh tế và đó cũng chính là các nhóm đơn vị hành chính, có chung các đặc trưng sau: i) có các mục đích kinh tế và xã hội chung và đều tham gia vào các chương trình phát triển; ii) có các điều kiện và tiềm năng kinh tế tương đối giống nhau; iii) có các điều kiện địa chất, sinh thái và khí hậu tương đồng; iv) tương đồng về các phương pháp thanh tra kỹ thuật xây dựng mới; v) có các phương pháp giám sát hải quan tương đồng; vi) tương đồng tổng thể về các điều kiện sống của dân cư. Không có bất cứ một chủ thể nào của Liên bang có thể vừa thuộc về vùng kinh tế này lại vừa thuộc về một vùng kinh tế khác. Các vùng kinh tế còn được chia thành các khu kinh tế (còn gọi là các vùng vĩ mô “macrozones”). Một vùng kinh tế hoặc các bộ phận của nó có thể thuộc về các vùng vĩ mô khác nhau. Việc thành lập mới hoặc huỷ bỏ các vùng, các vùng vĩ mô, hoặc bất cứ thay đổi nào về cấu trúc của chúng cũng đều do chính phủ Liên bang quyết định [Russian Government 1997]. 

Các nước Đông Âu mới cũng đã không ngừng cải cách cấu trúc kinh tế của mình, trong đó có việc tái cấu trúc các vùng kinh tế thích hợp với những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập với các nước thuộc Liên minh Châu Âu, trong đó Ba Lan có thể được coi là một trường hợp điển hình cho một cách tiếp cận mới đối với khái niệm vùng kinh tế. Theo họ “Một vùng kinh tế là một lĩnh vực xã hội tổng thể được tạo bởi các công ty, các thể chế cũng như­ các bản sắc và các tác nhân trong vùng. Trong một khuôn khổ  chung nhất, các lĩnh vực nh­ư vậy đ­ược tạo bởi: i) các tổ chức tìm cách cấu trúc các môi trư­ờng của chúng; ii) các đạo luật và các thể chế đã có từ trước, vận hành để vừa hạn chế vừa tạo điều kiện cho các tác nhân trong vùng; và iii) các tác nhân chiến l­ược có kỹ năng điêu luyện làm việc trong các tổ chức, giúp duy trì sự hợp tác giữa các nhóm và các lợi ích khác nhau” [Fligstein and Stone Sweet 2002: 1211)]. Các năng lực vùng đ­ược gắn chặt với năng lực tổ chức của các công ty, cấu trúc công nghiệp, các mô hình chuyên môn hóa, và trong cấu trúc thể chế của nó. “Đặc trưng này gắn liền với các khái niệm thuộc các hệ thống đổi mới vùng định danh mục tiêu, và các cụm vùng. Về cơ bản hệ thống đổi mới vùng bao gồm hai loại tác nhân chính và các tư­ơng tác giữa các tác nhân đó. Những tác nhân đầu tiên là các công ty trong cụm công nghiệp chủ yếu trong một vùng, bao gồm cả các ngành công nghiệp hỗ trợ của chúng. Tiếp đó, cần phải có một hạ tầng thể chế, tức là các viện nghiên cứu, các cơ sở giáo dục cấp cao, các cơ sở chuyển giao công nghệ, các tổ chức đào tạo nghề, các hội kinh doanh, các thể chế tài chính, v.v... có đủ năng lực để hỗ trợ cho quá trình đổi mới vùng” [Asheim and Isaksen 2002: 83].

Ng­ược lại với khái niệm cụm đ­ược định nghiã là “các công ty gần gũi về phương diện địa lý theo mối quan hệ dọc hoặc quan hệ ngang liên quan đến một hạ tầng cơ sở hỗ trợ công ty đ­ược địa phư­ơng hóa có một tầm nhìn phát triển chung cho tăng trư­ởng kinh doanh dựa trên cạnh tranh và hợp tác trong một khu vực thị trư­ờng cụ thể” [Cooke 2002: 121] – tầm quan trọng t­ương đối của các cấu trúc thể chế hỗ trợ là rất cao. Các cấu trúc đó chính là “ký ức” của vùng, là kết quả của những kinh nghiệm hợp tác và xung đột trong vùng. Các cấu trúc thể chế này đ­ược Salais và Storper [1997] mô tả là các trật tự vùng, chẳng hạn nh­ư các truyền thống, các mong muốn cố kết lẫn nhau, các thói quen, và các cách thức hành động trong vùng. Các thể chế, hoặc các cấu trúc hành chính, các truyền thống, các thói quen đó đư­ợc tạo ra và đư­ợc tái tạo theo cách cởi mở, nh­ưng lại phụ thuộc vào những cách thực hiện bởi: i) các chiến lư­ợc tối thiểu hóa chi phí giao dịch của công ty; ii) các nhà chức trách vùng (đặc biệt là nhà n­ước liên bang) và; iii) các tác nhân phi chính phủ (chẳng hạn nh­ư các công đoàn, các hội kinh doanh, hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoặc đôi khi là các tác tố cá nhân). Các cấu trúc hành chính đóng vai trò quyết định cho tiềm năng đổi mới của các vùng và các công ty trong vùng, vì chúng liên quan đến các mô hình tổ chức họat động, quản lý và đổi mới, luôn tạo ra các mô thức liên tổ chức hợp tác, cạnh tranh, và còn vì chúng điều chỉnh các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, khoa học, công nghệ, giáo dục và chính trị [Cooke 1998].

Khác với các định nghĩa tương đối phức tạp trên, người Canada lại quan niệm rất đơn giản: “Một vùng kinh tế là một cách nhóm các đơn vị dân cư nguyên vẹn để tạo thành một đơn vị địa lý chuẩn phục vụ cho việc phân tích các hoạt động kinh tế vùng”. Trong tỉnh Quebec, các vùng kinh tế còn được gọi là các vùng hành chính (régions administratives) và việc phân vùng được tuân thủ theo pháp luật. Trong tất cả các tỉnh và các vùng lãnh thổ khác, các vùng kinh tế được tạo bởi sự thoả thuận giữa Cục thống kê Canada và tỉnh/lãnh thổ liên quan. Đảo Prince Edward Island và ba vùng lãnh thổ khác mỗi vùng đều được coi là một vùng kinh tế. Riêng Ontario có một ngoại lệ vì ở đó ranh giới vùng kinh tế không tuân thủ theo các ranh giới đơn vị dân cư: đơn vị dân cư Halton bị chia tách bởi vùng kinh tế Hamilton – Bán đảo Niagara và vùng kinh tế Toronto.

Còn đối với người Mỹ thì quan niệm về vùng kinh tế đã có những thay đổi đáng kể. Từ giữa thế kỷ 19, Văn phòng Dân số đã tập hợp dữ liệu các bang thành các vùng gốm nhiều bang. Gần đây Văn phòng này đã chia 50 bang thành 4 vùng kinh tế và bốn vùng đó lại được chia thành 9 phân vùng. Không kể việc bổ sung Alaska và Hawaii vào phân vùng Thái Bình Dương vào những năm 1950 thì việc chia thành 9 phân vùng vẫn không thay đổi kể từ năm 1910. Tuy nhiên, sau cuộc tổng điều tra dân số năm 1950, một Uỷ ban Liên cơ quan thuộc Bộ thương mại đã xem xét lại định nghĩa về vùng và phân vùng bằng tiêu chuẩn đồng nhất kinh tế - xã hội. Cuối cùng các bang đã được phân chia lại, nhưng Văn phòng Dân số Mỹ đã không chấp nhận. Trong khi đó thì Văn phòng Phân tích Kinh tế Liên bang lại chấp nhận việc nhóm nhiều bang thành một vùng kinh tế, và việc chia toàn Liên bang thành 8 vùng đã được chấp nhận kể từ những năm 1950. Ngoại trừ khuynh hướng chia theo thu nhập đầu người (từ 1929 – 1950), các biến kinh tế được Uỷ ban Liên cơ quan thuộc Bộ Thương mại sử dụng đều mô tả các dữ liệu kinh tế theo thời điểm. Các nhân tố kinh tế khác được xem xét trong định nghĩa vùng đều được cấu trúc bởi thu nhập theo các nguồn dữ liệu năm 1950. Các nhân tố phi kinh tế được sử dụng để nhóm các bang thành vùng bao gồm mật độ dân số và mức tăng trưởng, các cấu trúc tộc người, chủng tộc, tỷ lệ chết của trẻ em năm 1949, số máy điện thoại trên đầu người năm 1950. Cơ sở cuối cùng để phân vùng bao gồm cả các nhân tố kinh tế và phi kinh tế. Các nhà kinh tế học Mỹ đã có ý định sử dụng các vùng của Văn phòng Phân tích Kinh tế Liên bang để phân tích vì việc nhóm các bang thành các vùng kinh tế rất thuận lợi cho việc phân tích. Một số nghiên cứu mới đây về khuynh hướng và chu kỳ xác định vùng kinh tế vẫn dựa trên các vùng do Văn phòng Phân tích Kinh tế Liên bang xác định, ngay cả khi các bang đã được phân vùng dựa trên cơ sở các tương đồng theo thời điểm. Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các vùng kinh tế theo cách phân chia của Văn phòng Phân tích Kinh tế Liên bang đã được sử dụng để kiểm tra các hiệu ứng vùng về phương diện chính sách tài chính và tiền tệ. Kể từ cuối những năm 1990 người ta vẫn sử dụng các vùng kinh tế của Văn phòng Phân tích Kinh tế Liên bang. Và hiện nay đang có khuynh hướng sử dụng phương pháp phân tích cụm kinh tế để xác định các vùng, và người ta đã phân 48 bang thành 8 vùng kinh tế khác nhau căn cứ vào cách phân tích cụm [Crone 2003: 1-2].

3. Khái niệm cực tăng trưởng

Cực tăng trưởng - một trong những khái niệm cốt lõi tạo thành vùng kinh tế - được nhà kinh tế học Pháp François Perroux đưa ra năm 1949. Ông và những người khác đã mở rộng thêm khái niệm này, nhưng vẫn không có nhiều sự đồng thuận trong giới nghiên cứu, cho dù nó có sức hấp dẫn trực cảm đặc biệt, vì vậy nó đã tác động rất mạnh tới các nhà làm chính sách. Họ cho rằng các nhà kinh tế học có thể đưa ra một kỹ thuật phân tích cần thiết để tăng thêm ý nghĩa cho các chính sách dựa trên khái niệm cực tăng trưởng. Quan niệm trực cảm về khái niệm cực tăng trưởng coi một cực tăng trưởng như một ngành công nghiệp hoặc có lẽ là một nhóm công ty thuộc một ngành công nghiệp. Ở mức độ tối đa, một cực tăng trưởng có thể chỉ là một công ty hoặc có thể là một nhóm ngành công nghiệp. Tuy nhiên Perroux cũng đã định nghĩa các cực tăng trưởng  là “không gian kinh tế trừu tượng”. Đối với ông, không gian kinh tế trừu tượng có ba loại: i) một kế hoạch kinh tế; ii) một trường lực hoặc tác động; iii) một tổng thể đồng nhất. Vì quan niệm trừu tượng về cực tăng trưởng nên ông dứt khoát từ chối quan niệm cho rằng không gian kinh tế lại có thể tương hợp với một khu vực địa lý như một vùng hoặc một thành phố chẳng hạn.

Đối với Perroux, thuộc tính ưu thống của một cực tăng trưởng là rất quan trọng. Một công ty hoặc một ngành công nghiệp A được coi là ưu thống  đối với B nếu dòng hàng hoá và dịch vụ từ A đến B là phần đầu ra của A lớn hơn luồng hàng hoá dịch vụ từ B đến A so với phần đầu ra của B. Một công ty hoặc một ngành công nghiệp lớn có mức độ tác động qua lại cao với các công ty hoặc các ngành khác thì là công ty hoặc ngành ưu thống, trong đó tác động qua lại được coi là tương tác đẩy. Quá trình phát triển của một công ty hoặc ngành công nghiệp có lực đẩy được gọi là quá trình hình thành cực. Perroux và các tác giả khác về cực tăng trưởng cố gắng đặt cơ sở cho khái niệm này trên các quan niệm về các lợi thế kinh tế ngoại ứng, mức độ tập trung và các liên kết kinh tế. Có được một lợi thế kinh tế ngoại ứng khi sự thay đổi đầu ra của một công ty hoặc một ngành công nghiệp tác động đến chi phí ở các công ty khác. Các lợi thế qui mô kinh tế ngoại ứng có thể là âm như trong trường hợp các chi phí ô nhiễm, hoặc chúng có thể là dương như trong trường hợp phát triển công nghệ mạch tích hợp trong công nghiệp điện tử. Cùng với các khái niệm cực tăng trưởng là những khái niệm về tầm quan trọng biên duy nhất trong việc phân tích các vấn đề kinh tế vùng. Vì vậy thì ý tưởng về các cực tăng trưởng đã đóng một vai trò chủ chốt trong việc xây dựng chính sách phát triển vùng [Darwent, David 1969: 5-32].

Nhà kinh tế học vùng nổi tiếng J. Parr cho rằng: “Một trong những thuộc tính sâu sắc của việc phân tích và thực hiện kế hoạch hoá kinh tế vùng trong mấy thập kỷ qua đã làm thay đổi thái độ của chúng ta đối với chiến lược cực tăng trưởng. Chiến lược này hoặc tập hợp các chiến lược này đã được đưa ra trong rất nhiều môi trường khác nhau, vì vậy mà không dễ khái quát. Tuy nhiên vẫn có thể khái quát những đặc điểm chung. Chiến lược cực tăng trưởng đã tham gia một cách tích cực vào việc tập trung đầu tư ở một số địa phương nhất định (thường là một phần nỗ lực để thay đổi cấu trúc không gian vùng) mong cố gắng để cổ vũ hoạt động kinh tế và vì vậy mà phát triển các cấp độ phúc lợi trong một vùng” [Parr 1999: 1195-1215]. Vào giữa những năm 1960, chiến lược cực tăng trưởng đã nổi bật như một đối tượng hâm mộ nhiệt thành và đã được coi là một ý tưởng thời thượng. Và các kế hoạch kinh tế được tái chế theo khuôn khổ của chiến lược cực tăng trưởng. Kuklinski [1978: 21] cũng đã khẳng định vai trò của lý thuyết cực tăng trưởng với tư cách là một bộ phận của kinh tế học vùng: “...lý thuyết cực tăng trưởng là gần gũi nhất với lý thuyết tổng quát về phát triển vùng”.

Chiến lược cực tăng trưởng, hoặc các biến thể của nó, các cực phát triển hoặc các trung tâm tăng trưởng, được thảo luận và được thực hiện trong tất cả các chiến lược phát triển vùng khác nhau. Darwent [1969]; Isard, W. [1960]; Isard, W & Schooler, E. W. [1959]; và Friedmann, JR. [1966, 1967, 1968] đều cho rằng công trình của Perroux đã gây ra một sự lầm lẫn lớn một phần là vì sự mập mờ của hệ thống tri thức ban đầu của ông, một phần vì việc dịch nhầm từ tiếng Pháp ra tiếng Anh và ngược lại, và một phần vì sự lẫn lộn ngữ nghĩa của các tác giả sau này. Quan niệm gốc về cực tăng trưởng thực sự độc lập với một bối cảnh không gian hoặc một không gian địa lý học kinh tế, hoặc không gian địa lý. Hơn nữa các cực tăng trưởng chỉ liên quan và đặc biệt liên quan đến không gian kinh tế trừu tượng. Vì vậy mà ông đã xác định các cực tăng trưởng là: “các trung tâm, hoặc các cực, các tâm điểm, toả ra các lực ly tâm và hút vào các lực hướng tâm. Mỗi trung tâm hút và đẩy đều có một trường lực chính xác tạo ra trong trường lực của các trung tâm khác”. Vì vậy các cực có thể là các công ty, các ngành công nghiệp hoặc các nhóm công ty có thể là những “lực đẩy” nếu nó có mối tương tác cao với nhiều công ty khác, mức độ ưu trội cao và có qui mô lớn. Darwent [1969] đã giải thích rằng sự khác biệt rất cơ bản và quan trọng giữa không gian kinh tế và không gian địa lý đã bị bỏ qua, vì vậy đã gây ra những quan niệm lầm lẫn to lớn.

Tuy nhiên các tác giả sau này đã cố mở rộng khái niệm cực tăng trưởng mà không qui chiếu vào không gian địa lý hoặc cố gán ghép không gian kinh tế và không gian địa lý với nhau. Khi mở rộng khái niệm cực tăng trưởng các học giả Mỹ đã  phát triển các khái niệm hoàn toàn khác và rộng hơn quan niệm cực tăng trưởng gốc nhiều. Trong số các công trình liên quan đến lĩnh vực này nổi bật có công trình của Hirschman [1958]. Chính ông là người đã đưa ra khái niệm tăng trưởng bất cân bằng. Khi việc xác định vị trí xuất hiện trong phát triển vùng thì các nhà qui hoạch phát triển đặc biệt quan tâm đến lý thuyết tăng trưởng vùng và các khái niệm liên quan đến khái niệm cực tăng trưởng trong không gian địa lý. Chính điều đó đã kích thích các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến việc phát triển khái niệm “các trung tâm tăng trưởng”, ngược lại với các cực tăng trưởng, đã qui chiếu vào các vị trí trong không gian địa lý. Quan niệm về trung tâm tăng trưởng cho rằng sự phát triển kinh tế và xã hội được khởi đầu và lan truyền đến các vùng xung quanh; theo đó đầu tư tốt nhất là tập trung vào các trung tâm tăng trưởng chứ không phải là phân tán ra xung quanh bằng một quan niệm mơ hồ “cân bằng” hoặc “bình đẳng”. Nhiều nghiên cứu về các trung tâm tăng trưởng đã dựa trên công trình của Boudeville [1966], đặc biệt là quan niệm của ông về ba loại vùng: vùng đồng nhất, vùng phân cực và vùng kế hoạch. Quan niệm này đã được đưa vào kế hoạch hoá vùng ở Pháp là nơi xác định các vùng là những khu vực để đầu tư. Vùng phân cực của Boudeville tương tự như mô hình trung tâm - ngoại vi của Friedmann, vì nó tương hợp với cấu trúc vị trí trung tâm của sự phân cấp các thành phố về việc nâng cấp qui mô và chức năng, với các “trung tâm tăng trưởng” thường là những thành phố lớn hơn trong vùng.

4. Trung tâm tăng trưởng

Các trung tâm tăng trưởng thường được coi là đồng nghĩa với các thành phố hoặc các khu vực đô thị. Điều đó là phổ biến vì trong hầu hết các trường hợp, các tiêu chuẩn được đưa ra để xác định một trung tâm tăng trưởng đều là các đặc trưng của vùng đô thị. Cũng có một số người chỉ giới hạn các trung tâm tăng trưởng vào các khu vực đô thị. Chẳng hạn Fox [1966] đã xác định trung tâm tăng trưởng là “một vị trí đô thị có thể hoạt động như một tâm điểm cho việc xây dựng kế hoạch phát triển”. Ông đề xuất các tiêu chuẩn phân biệt giữa các khu vực đô thị là các cực tăng trưởng và các vùng không phải cực tăng trưởng như sau: liên kết mạnh với nền kinh tế quốc gia; là trung tâm thị trường lao động; là một khu vực thương mại bán lẻ chủ yếu; các chức năng phân cấp cao; một khối lượng thương mại bán buôn lớn; và là các đầu mối giao tiếp thuận lợi. Còn Darwent [1969] thì lại cho rằng những tiêu chuẩn đó vẫn còn quá ít, không đủ để tạo điều kiện phân biệt vì chúng là những đặc điểm mô tả chung của các khu vực đô thị.

Friedmann được coi là một trong số những người đã vượt khỏi các quan niệm bị đơn giản hoá về cực tăng trưởng và trung tâm tăng trưởng. Khái niệm trung tâm - ngoại vi của ông đã vượt khỏi sự phân bổ các nguồn theo phương thức liên khu vực. Theo ông cực tăng trưởng phải cố gắng hướng tới giới hạn  các vấn đề hiện thực của phát triển vùng trong không gian địa lý. Bối cảnh ông sử dụng để đưa ra quan niệm của mình là các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ thuộc địa thành các nền kinh tế độc lập. Ông cho rằng các nền kinh tế này thường có một trung tâm duy nhất và một khu vực ngoại vi gắn kết lỏng lẻo với trung tâm. Trung tâm và vùng ngoại vi của nó có những mối quan hệ tối thiểu và nếu đã phát triển thì nó thường phiến diện, trong đó vùng ngoại vi vẫn ở tình trạng lạc hậu và bị bóc lột, không thể phát triển vì nó chỉ hỗ trợ cho sự phát triển của trung tâm mà thôi. Friedmann cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ xuất hiện thông qua sự xuất hiện của một hệ thống phân cấp chức năng kết nối và phát triển cao của các thành phố và các thị trấn và sự phát triển như vậy tương ứng với mức độ tập trung cao. Hệ thống phân cấp đô thị này là một phương tiện thống nhất ngoại vi với trung tâm và với vùng lõi [Friedmann, JR. 1968].

Chịu ảnh hưởng đáng kể từ các lý thuyết và khái niệm của Perroux và Boudeville, Friedmann đã đưa ra thêm các khái niệm “vùng đồng nhất” và “vùng độc lập”. Trong đó vùng độc lập mang đặc trưng các vùng phân cực, còn khu vực ngoại vi của một vùng phân cực có thể được chia thành bốn phần: i) các vùng chuyển tiếp lên; ii) các vùng chuyển tiếp xuống; iii) các vùng ranh giới nguồn lực; và iv) các vùng có vấn đề đặc biệt. Các vùng chuyển tiếp lên là những vùng tăng trưởng bằng tiềm năng tăng trưởng cao nhưng lại hạn chế vốn. Các vùng chuyển tiếp xuống là những khu vực kinh tế nông nghiệp, hoặc công nghiệp cũ suy thoái và hiện tượng di cư là chỉ báo rõ ràng nhất. Các vùng ranh giới nguồn lực là những vùng định cư mới trong đó có nhiều tiềm lực cho tăng trưởng. Các vùng có vấn đề đặc biệt là những vùng cần các biện pháp can thiệp về chính sách nhiều hơn các vùng khác vừa được dẫn. Vì vậy phân loại này cho phép phân biệt các vùng theo các hoạt động chính sách cần thiết và việc xử lý các vấn đề vùng không tách biệt mà là cùng với sự xem xét tổng thể hệ thống vùng. Khái niệm của Friedmann đã được coi là một bước tiến vượt khỏi quan niệm gốc về cực tăng trưởng và trung tâm tăng trưởng và nó đã đưa ra được một mô hình tổng quát về các thuộc tính không gian của tăng trưởng kinh tế vùng. Vào thời gian đó, khái niệm cực tăng trưởng và trung tâm tăng trưởng ngày càng được giải thích gắn liền với sự phát triển của một trung tâm đô thị có thể thu hút được các hoạt động kinh tế thông qua hạ tầng cơ sở và việc khuyến khích trực tiếp tạo ra “hiệu ứng hấp dẫn” (theo thuật ngữ của Perroux là effets d’entrainment) trong vùng ngoại vi của trung tâm đô thị dưới hình thức tăng công ăn việc làm và tăng thu nhập. Người ta hy vọng rằng mô thức phát triển vùng như vậy kéo theo sự tăng trưởng của phân cấp đô thị, nhờ thế mà khoảng cách vùng có thể giảm đi bằng cách thay đổi cấu trúc tăng trưởng đô thị.

5. Khái niệm cụm kinh tế

Trong mấy thập kỷ qua đã xuất hiện các khái niệm cụm hoặc hợp thành cụm, các mạng lưới và các khái niệm liên quan khác. Việc sử dụng thuật ngữ cụm đã trở nên phổ biến bắt đầu từ khi Porter [1998] đặt khái niệm này trong bối cảnh cạnh tranh của các công ty và các địa điểm phát triển kinh tế. Ông định nghĩa cụm là “một nhóm công ty kề cận về địa lý có mối liên hệ qua lại và các thể chế kèm theo trong một lĩnh vực riêng biệt liên kết với nhau bằng những tương đồng và bổ sung”. Ông chỉ rõ tầm quan trọng của các liên kết liên công nghiệp đó trong tính cạnh tranh của các khu vực kinh tế vùng và quốc gia. Tuy nhiên theo Stohr [1998] thì các quan niệm này không hoàn toàn mới mà được phát triển từ các khái niệm đã được sử dụng trước đó. Stohr đã xác định nguồn gốc của các khái niệm này là các cực tăng trưởng liên khu vực của Perroux [1955] “các trung tâm tăng trưởng” được xác định về không gian của Boudeville [1966] và các “quận công nghiệp” của  Marshall [1890, 1920].

Có hai cách sử dụng cụm trong các chiến lược phát triển vùng. Trước hết là chiến lược truyền thống xác định một “cụm tăng trưởng” dựa trên hệ qui chiếu cực tăng trưởng hoặc trung tâm tăng trưởng. Một cụm tăng trưởng là việc tập hợp thành cụm của các khu vực (các đơn vị chính thể nhỏ, chẳng hạn như các đô thị độc lập) dựa trên các tiêu chuẩn chẳng hạn như các hoạt động kinh tế, các tiềm năng tăng trưởng, và các liên kết vật chất chung. Một cụm tăng trưởng có một trung tâm đưa ra các cấp dịch vụ cao và đa dạng hoá hơn những cách thức đang có trong khu vực ảnh hưởng có thể thực hiện bất cứ vai trò nào sau đây: trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại, trung tâm hành chính, trung tâm giải trí và các vai trò chức năng khác. Mới đây người ta còn sử dụng khái niệm cụm để phục vụ cho việc quản lý môi trường và phát triển đô thị bền vững. Ở đây một cụm được xác định là một khu vực phát triển ở qui mô tiểu vùng trong đó các ranh giới được xác định bằng cách sử dụng ranh giới liên địa phương bao gồm ít nhất hai khu vực hoặc các đơn vị chính thể. Một cụm như vậy là một tiểu vùng phát triển, thích hợp cho việc quản lý và qui hoạch đất theo các đặc trưng kinh tế, không gian, dân số và vật chất của nó. Các tiêu chuẩn để xác định các ranh giới của một cụm bao gồm: i) tiêu chuẩn kinh tế (sự tồn tại một cơ sở kinh tế chung, các nguồn lực bổ sung, những tiềm năng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế cao); ii) tiêu chuẩn xã hội (có cơ sở văn hoá chung, và sử dụng cùng một ngôn ngữ hoặc phương ngữ); iii) tiêu chuẩn vật chất (liên tục về mặt địa lý, và được liên kết bởi các mạng lưới hạ tầng cơ sở); iv) tiêu chuẩn không gian (tính chất bổ sung của các vai trò chức năng trong cấu trúc đô thị); v) tiêu chuẩn chính thể (việc vạch ranh giới cụm phải trùng hợp với các ranh giới hành chính của các cấp chính quyền địa phương; vi) và tiêu chuẩn môi trường (trải nghiệm các vấn đề môi trường như nhau, và hiện có hoặc sử dụng các nguồn chung chẳng hạn như nước, đất đai, rừng, quặng mỏ...vv.)  [Mercado R.G. 2003]. 

Các lý thuyết cụm nhằm giải thích các khác biệt vùng trong hoạt động kinh tế về phương diện địa lý đã dẫn đến nảy sinh các khác biệt chính sách phát triển kinh tế quốc gia, vùng, và địa phương. Theo Maskell và Kebir thì có bốn vấn đề cơ bản liên quan đến khái niệm cụm kinh tế: i) các lợi ích kinh tế và xã hội mà các xí nghiệp được hưởng khi hình thành cụm hoặc các xí nghiệp cùng xây dựng liền kề nhau về phương diện địa lý; ii) những bất lợi về kinh tế mà các xí nghiệp phải đối mặt khi việc tập trung thành cụm đã vượt quá các ngưỡng khu vực kinh tế hoặc ngưỡng địa lý; iii) những lợi thế có được bằng cách khai thác các đồng hợp nội cụm hơn là việc cam kết tương tác ngoại cụm; và iv) khả năng sói mòn các lợi thế kinh tế và sự lấn át của các bất lợi thế kinh tế đối với vòng đời của cụm. Mỗi vấn đề đều được xem xét trong khuôn khổ của ba khung lý thuyết chủ chốt tương ứng có thể được đưa vào khái niệm cụm [Maskell, Peter & Leïla Kebir, 2005]. Vì vậy có thể xem xét các cách tiếp cận này dựa trên ý tưởng về các ngoại ứng địa phương (được Marshall minh hoạ trong công trình về “các quận công nghiệp”); về vấn đề cạnh tranh (được lý thuyết tăng trưởng cụm của Michael Porter minh hoạ); và về viễn cảnh lãnh thổ (được minh hoạ bằng cách tiếp cận xuất hiện trong nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Châu Âu về Môi trường Đổi mới).

6. Khái niệm công viên công nghiệp

Một công viên công nghiệp (industrial park hoặc industrial estate) là một khu vực diện tích đất được giành cho phát triển công nghiệp. Công viên công nghiệp thường đặt gần các phương tiện giao thông, đặc biệt là nơi có nhiều loại phương tiện giao thông khác nhau như đường cao tốc, đường sắt, sân bay, cảng sông biển. Một phiên bản của công viên công nghiệp là công viên văn phòng, là nơi có các văn phòng và các cơ sở công nghiệp nhẹ chứ không phải là công nghiệp nặng. Việc xây dựng một công viên công nghiệp theo kiểu các khu (công nghiệp, chế xuất, đặc khu kinh tế, vv...) dựa trên một số cơ sở sau: i) có khả năng tập trung được một hạ tầng cơ sở riêng biệt trong một diện tích đất được phân định ranh giới rõ ràng để giảm bớt các chi phí doanh vụ của hạ tầng cơ sở đó. Loại hạ tầng cơ sở đó bao gồm đường sắt, cảng, trạm cung cấp điện loại ba pha, hệ thống cáp truyền thông đầu cuối cao, phương tiện cung cấp nước với khối lượng lớn, đường cung cấp khí đốt dung lượng cao; ii) có khả năng thu hút ngành kinh doanh mới bằng cách cung cấp một hạ tầng cơ sở tổng hợp trong một vị trí; iii) là những khu đất đô thị riêng biệt để giảm thiểu tác động đến môi trường và xã hội trong quá trình hoạt động; iv) có năng lực kiểm soát môi trường thích hợp với một khu vực công nghiệp. 

Mỗi loại công viên công nghiệp có những tiêu chuẩn khác nhau, có những cộng đồng nhỏ thành lập các công viên công nghiệp chỉ với một phương tiện giao thông duy nhất là gần đường cao tốc, hoặc đường sắt và với những phương tiện thuộc hạ tầng cơ bản nhất, thậm chí còn không có bất cứ một đảm bảo nào cho môi trường. Từ những năm 1970  đến những năm 1990 người ta đã được chứng kiến vô số công viên công nghiệp được phát triển tại Mỹ và cho đến bây giờ thì nhiều công viên công nghiệp đã trở nên vô ích, không biết sử dụng vào việc gì. Khuynh hướng này đã bị chỉ trích là loại “bái vật giáo hàng hoá” vì một suy nghĩ lạc quan là cứ có công viên công nghiệp là sẽ có lợi nhuận. Mỹ đã phải gánh chịu một hậu quả của các công viên văn phòng là một số lượng người rất đông sống biệt lập tại các công viên văn phòng vùng ngoại ô không còn tiếp xúc với đời sống đô thị nữa. Các công viên công nghiệp còn bị chỉ trích vì đặt cách biệt khỏi các khu vực đô thị, là một trong những đặc trưng mà người ta vẫn quảng cáo là một loại lợi ích. Một trong những lý do để người ta phê phán thực tế này là ở chỗ các công viên công nghiệp thường phá huỷ các vùng đất nông nghiệp có giá trị và có năng suất cao. Còn một vấn đề nữa là các công viên công nghiệp ngày càng trở nên xa cách đối với thị trường lao động, càng ngày người ta càng phải đi làm xa hơn và làm hạn chế khả năng tiếp cận việc làm của người nghèo. Một lý do khác nữa là nhiều vùng đô thị vẫn để giành riêng những vùng đất màu mỡ làm cho nhiều người có cảm giác là dùng để ưu tiên phát triển các khu công viên công nghiệp.

Ngoài ra mới đây người ta còn đề xuất khái niệm công viên công nghiệp sinh thái. Nó được xác định là loại hình công viên công nghiệp tuân thủ các nguyên tắc sinh thái học công nghiệp trong đó các hoạt động công nghiệp được gắn kết với nhau và chúng hỗ trợ chứ không phá huỷ hệ sinh thái. Người ta cho rằng các công ty riêng rẽ có thể được hưởng các lợi ích tiềm tàng về xã hội, kinh tế và môi trường bằng cách cùng hoạt động tập thể trong các công viên công nghiệp sinh thái. Đây là khái niệm còn tương đối mới cho nên chưa có một định nghĩa chuẩn và được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên người ta chấp nhận những đặc điểm chung của một khu sinh thái công nghiệp là: một cộng đồng các doanh nghiệp cộng tác với nhau và với cộng đồng địa phương để chia sẻ một cách hiệu quả các nguồn (thông tin, nguyên vật liệu, nước, năng lượng, hạ tầng cơ sở và nơi sinh cư tự nhiên), bằng cách hướng đến các kết quả kinh tế, chất lượng môi trường, và củng cố các nguồn lực con người cho các doanh nghiệp và cộng đồng địa phương. 

7. Khái niệm quận công nghiệp

Lần đầu tiên khái niệm quận công nghiệp (Industrial District) được dùng để miêu tả một khu vực trong đó công nhân của một ngành công nghiệp nặng duy nhất chẳng hạn như đóng tàu, khai thác than, chế tạo thép, làm gạch ngói, v.v...) sinh sống ngay trong khu vực làm việc của họ, và có thể đi bộ đến nơi làm việc. Ở Anh những khu vực như vậy thường được đặc trưng bởi các khối phố với các nhà giống hệt nhau với những cấu trúc công nghiệp đồ sộ lừng lững phía trên các dãy nhà. Giờ đây nhiều quận công nghiệp như vậy đã bị phá bỏ hoặc trở thành nơi vui chơi tự do của trẻ em. Thuật ngữ quận công nghiệp lần đầu tiên được Marshall [1890, 1922] sử dụng trong cuốn sách Các nguyên tắc kinh tế học của ông. Trong kinh tế học, thuật ngữ này đã phát triển và ngày nay nó có nghĩa là quá trình chuyên môn hoá kinh tế xuất hiện thông qua việc tập hợp thành cụm công nghiệp tại các vùng đô thị. Từ những năm 1980 thuật ngữ này đã hàm nghĩa là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển công nghiệp một cách năng động, đặc biệt bắt đầu với Bắc Ý, là nơi có các cụm công nghiệp với các xí nghiệp vừa và nhỏ phát triển rất mạnh. Các cụm công nghiệp này có vị trí gần kề và chuyên môn hoá hẹp và sâu, chẳng hạn như Prato chuyên dệt len, Sassuolo chuyên làm ngói còn Brenta chuyên dệt tất phụ nữ. Thành công của các quận công nghiệp Ý dựa trên cơ sở các xí nghiệp vừa và nhỏ là một trong những nhân tố kích thích các tổ chức phát triển kinh tế trên toàn thế giới trong việc chấp nhận thúc đẩy phát triển cụm như một cách tiếp cận kích thích tăng trưởng và tạo thêm việc làm. Các quận công nghiệp Bắc Ý cũng đã tự tổ chức một Viện nghiên cứu cạnh tranh của riêng họ. Mới đây các quận công nghiệp Ý đã liên kết với hoạt động phát triển các khu vực nghèo khổ của thế giới. Các xí nghiệp trong các quận công nghiệp Ý đã ra sức quốc tế hoá việc sản xuất và họ chỉ giới hạn các nguồn vào việc đầu tư nghiên cứu và triển khai [Alberti 2005: 2-5].
_____________________________________

Còn nữa...

* Ghi chú: Bài viết được hoàn thành năm 2007 cho đề tài cấp Bộ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết cho việc xác định các ưu tiên trong phát triển bền vững vùng kinh tế, Viện Phát triển Bền vững vùng Bắc Bộ, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, do tác giả làm Chủ nhiệm.

Tài liệu tham khảo

Alberti, M. 2005. The Effects of Urban Patterns on Ecosystem Function. International Regional Science Review.  28(2):169-192.

Asheim, Bjørn T. and Lars Coenen 2004. The Role of Regional innovation systems in A globalizing Economy: Comparing knowledge bases and Institutional Frameworks of Nordic Lusters. Paper presented at the DRUID Summer Conference 2004 on Industrial Dynamics, Innovation and Development, Elsinore, Denmark, June 14-16, 2004.

Boudeville J.R. 1966. Problems of Regional Development Planning, Edinburgh University Press, Edinburgh, 192 p.

Cook, G.R. 1967. Canadian Centennial Cerebrations. In International Journal 22 (Autumn 1967).

Ebihara, Shigeru. 2002. “Raosu no kaihatsu to kokusai kyoryoku: Toshi no jittai to kongo no tembo” [Development in Laos and international cooperation: Status quo of investment and perspective], Syoho (Bangkok Japanese Chamber of Commerce). December.

Fligstein, Neil and Alec Stone Sweet 2002. Constructing Polities and Markets: An Institutionalist Account of European Integration. In The American Journal of Sociology, Vol. 107, No. 5. (Mar., 2002), pp. 1206-1243.

Fox, Jonathan 2002. Ethnic Minorities and the Clash of Civilization: A quantitative analysis of Huntington’s Thesis. In British Journal of Political Science 32(3), pp. 415-434

Friedman, M. 1995. From outcomes to budgets: An approach to outcome based budgeting for family and children s services. Washington, DC: Center for the Study of Social Policy.

Friedmann, JR. 1966. Regional Development Policy – A Case Study of Venezuela. MIT Press, Cambridge;

Friedmann, JR 1967. A General Theory of Polarized Development, mimeo, Santiago, Chile, August;

Friedmann, JR 1968. The Role of Cities in National Development, mimeo, Santiago, Chile, February.

Friedmann, John 1986. The World City Hypothesis. In Development and Change 17:69-83

Friedmann, John, and Michael Douglass 1978. Agropolitan Development: Towards a New Strategy for Regional Planning in Asia. In Fu-chen Lo and Kamal Salih (eds.) Growth Pole Strategy and Regional Development Policy, New York: Pergamon Press.

Hirschman A.O. 1957. The Strategy of Economic Developmen.  London: Duckworth, 1957. 

Hirschman A.O. 1958. The strategy of economic development. Yale University Press. New Haven.

Isard, W. 1960. Industrial Complex Analysis, in Methods of Regional Analysis. MIT Press, Cambridge.

Isard, W and Schooler, E. W. 1959. Industrial Complex Analysis: Agglomeration, Economics and Regional Development, Journal of Regional Science, Spring;

Kuklinski, A. 1978.  Industrialisation, location and regional development, In F. E. Hamilton (Ed.) Contemporary Industrialisation. pp. 20, 24. London: Longman.

Marshall A. 1920. Principles of Economics. London: Macmillan and Co., Ltd., 1920. Eighth edition. 

Maskell, Peter & Leïla Kebir, 2005. What qualifies as a Cluster Theory? In DRUID Working Papers 05-09, DRUID, Copenhagen Business School, Department of Industrial Economics and Strategy/Aalborg University, Department of Business Studies.

Mercado R.G. 2003. Regional Development in the Philippines: A Review of Experience, State of the Art and Agenda for Research and Action. Philippines Institute for Development Studies – Discussion Paper Series No. 2002 – 2003.

Nguyễn Xuân Thu - Nguyễn Văn Phú (Đồng chủ biên) 2006. Phát triển kinh tế vùng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Sách chuyên khảo). Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006.

Parr, John B. 1999. Growth-pole Strategies in Regional Economic Planning: A Retrospective View. Part 1. Origins and Advocacy. Urban Studies, Vol. 36, No. 7, 1195 – 1215.

Perroux F. 1955. Note sur la notion de pôle de croissance. Economie Appliqueé, 8, pp. 307-320.

Perroux F. 1964. La notion de pole de croissance. En L’economie du X Xeme Siecle, 2nd ed. (Paris: Presses Universitaries de France, 1964), pp. 142-154

Perroux, F. 1968.  Les Investissements multinationaux et l’analyse des poles de developpement d’integration, Revue Tiers-Monde, IX, 34.

Porter, Michael 1998. On Competition. Boston: Harvard Business School Press.

Portes, A. 1998. Social Capital: its origins and applications in modern sociology.  In Annual Review of Sociology, 24, 1-24.

Russian Government 1997. Russian Classificaton of Economic Regions (OK 024-95) of January1, 1997 as amended by the Amendments in January 1998 through May 2001. Section II. Economic Regions.

Salais and Storper 1997. Worlds of Production: the Action Frameworks of the Economy, Cambridge, MA, Harvard University Press.

Stohr W. 1981. Development from below: The Bottom Up and Periphery-Inward Development Paradigm. In Stohr and Taylor, eds, Development from Above or Below? The Dialectics of Regional Planning in Developing Countries (London: Wiley, 1981) as quoted in Stohr “ Another” Regional Development? In Changing Perception of Development Problems, Regional Development Series Volume 1.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét