Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
26. Dasein-với của những Kẻ khác và Hữu-thể-với Thường nhật.
[Tr.155] Kiểu chạm trán mang tính thế gian, cơ bản này—vốn thuộc về Dasein và gần gũi nhất với nó—đáng ngạc nhiên đến mức ngay cả Dasein của chính mình cũng trở thành một cái gì đó chỉ có thể được ‘bắt gặp’ khi nó rời mắt khỏi những ‘Trải nghiệm’ và cái ‘trung tâm hành động’ của nó, hoặc khi nó chưa hề ‘nhìn thấy’ những thứ đó. Dasein tìm thấy ‘chính mình’ trước hết trong những gì nó làm, sử dụng, mong đợi, hay né tránh—trong những sự vật có-sẵn-để-dùng thuộc môi trường xung quanh mà nó quan tâm đến. Và ngay cả khi Dasein tự gọi mình một cách tường minh là ‘Tôi ở đây’, thì cách định danh vị trí này phải được hiểu theo khuôn khổ không gian tính hiện sinh của Dasein. Khi diễn giải điều này (Mục 23), chúng tôi đã gợi ý rằng ‘Tôi-ở-đây’ không có nghĩa là một điểm đặc quyền—như kiểu một ‘Sự vật-Tôi’—mà phải được hiểu là ‘Hữu-thể-trong’ theo khuôn khổ của cái ‘đằng kia’ của thế giới có-sẵn-để-dùng —cái ‘đằng kia’ chính là nơi cư ngụ của Dasein với tư cách quan tâm. 1
W. von Humboldtii từng đề cập đến một số ngôn ngữ diễn đạt cái ‘Tôi’ bằng từ chỉ ‘ở đây’, từ ‘bạn’ bằng từ chỉ ‘ở đó’, và từ ‘anh ấy/cô ấy’ bằng từ chỉ ‘đằng kia’—tức là chuyển đổi các đại từ nhân xưng thành các trạng từ chỉ vị trí (xét về mặt ngữ pháp). Vẫn còn nhiều tranh cãi về việc liệu ý nghĩa nguyên thủy của các cách diễn đạt chỉ vị trí này thực chất là trạng từ hay đại từ. Tuy nhiên, cuộc tranh luận này sẽ mất đi cơ sở nếu ta nhận thấy rằng các trạng từ chỉ nơi chốn có mối liên hệ với cái ‘Tôi’ với tư cách là Dasein. Các từ ‘ở đây’, ‘ở đó’ và ‘đằng kia’ về cơ bản không chỉ đơn thuần là những cách xác định vị trí của các thực thể ‘hiện-diện-vô-tri’ bên-trong-thế-giới tại các vị trí không gian; thay vào đó, chúng là những đặc tính thuộc về tính không gian [tr.156] nguyên thủy của Dasein. Những trạng từ mang tính chỉ vị trí này thực chất là các định danh cho Dasein; ý nghĩa của chúng mang tính hiện sinh là chủ yếu, chứ không phải tính phạm trù. Song, chúng cũng không phải là đại từ; ý nghĩa của chúng có trước sự phân biệt giữa trạng từ chỉ nơi chốn và đại từ nhân xưng: những cách diễn đạt này mang ý nghĩa Dasein vốn dĩ mang tính không gian, và là minh chứng cho thấy khi ta diễn giải Dasein mà không bị bóp méo bởi các lý thuyết, ta có thể nhận thấy ngay nó như là ‘Hữu-thể-kề-bên’ cái thế giới mà nó tự thân quan tâm, và với tư cách ‘Hữu-thể-kề-bên’ nó về phương diện không gian—nghĩa là, với tư cách ‘xóa bỏ khoảng cách’ và đem lại phương hướng tính. Trong cái ‘ở đây’, Dasein—vốn đang đắm mình vào thế giới của nó—không hướng lời nói về phía chính mình mà hướng ra xa khỏi bản thân để nhắm tới cái ‘đằng kia’ của một sự vật đang ‘sẵn-có-để-dùng’ được nhận biết qua sự quan sát trong không gian tính hiện sinh của nó; tuy nhiên, nó vẫn giữ được sự tự-ý-thức về bản thân trong tính không gian hiện sinh của mình. Dasein tự thấu hiểu bản thân mình trước hết và phần lớn là thông qua thế giới của nó; và cái Dasein-với của những Kẻ-khác thường được bắt gặp thông qua những gì sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tuy nhiên, ngay cả khi những Kẻ-khác trở thành đối tượng—chẳng hạn như nghiên cứu chính Dasein của họ—thì họ cũng không bị bắt gặp như những ‘Sự-vật-người’ hiện-diện-vô-tri: ta gặp họ ‘đang làm việc’, nghĩa là, gặp họ chủ yếu trong cái ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ của họ. Ngay cả khi thấy Kẻ khác ‘chỉ đứng đó’, thì hắn cũng không bị nắm bắt như một Sự-vật-người’ hiện-diện-vô-tri; trái lại, hành động ‘đứng đó’ của kẻ ấy là một phương thức Hữu thể hiện sinh – một sự nấn ná không cẩn trọng, không bận tâm, bên cạnh mọi sự vật và hư vô. Kẻ khác kia được bắt gặp trong Dasein-với của hắn ngay trong thế giới.
Tuy nhiên, thuật ngữ ‘Dasein’ cho thấy rõ ràng rằng, ‘trước hết’, hiện hữu này không liên quan đến những Kẻ khác, và tất nhiên, sau đó nó vẫn có thể ‘cùng’ với những Kẻ khác. Dẫu vậy, ta không được bỏ qua việc thuật ngữ ‘Dasein-với’ được dùng để chỉ định cái Hữu thể mà nhờ đó, những Kẻ khác - những kẻ thực sự hiện hữu - được giải phóng bên-trong-thế- giới. Cái ‘Dasein-với’ này của những Kẻ-khác được bộc lộ bên-trong-thế- giới đối với một Dasein—và cũng đối với những kẻ cùng là các Daseins như chúng ta — những Mitdaseienden—chỉ bởi vì Dasein trong tự thân chính là Hữu-thể-với. Khẳng định mang tính hiện tượng luận cho rằng ‘Dasein về bản chất là Hữu-thể-với’ mang ý nghĩa hữu-thể-luận hiện sinh. Nó không nhằm xác lập trên bình diện ontic thực hữu rằng, trên thực tế, tôi không đơn độc hiện-diện-vô-tri mà có tồn tại những Kẻ khác cùng loại với tôi. Nếu đó là ý nghĩa của mệnh đề cho rằng Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein được cấu thành về mặt bản chất bởi Hữu-thể-với, thì Hữu-thể-với sẽ không còn là một thuộc tính hiện sinh mà Dasein tự mình có được từ chính phương thức kiểu Hữu thể của mình nữa. Thay vào đó, nó sẽ trở thành một điều gì đó nảy sinh trong từng trường hợp cụ thể chỉ vì sự xuất hiện của những Kẻ-khác. Hữu-thể-với là một đặc tính hiện sinh của Dasein ngay cả khi, trên thực tế, không có Kẻ khác nào đang hiện-diện-vô-tri hay được tri giác. Ngay cả trạng thái Alleingsein ‘Hữu-thể-độc’ của Dasein cũng là một dạng Mitsein Hữu-thể-với [tr.157] trong thế giới. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, đặc biệt là trong ‘Hữu thể và Thời gian’, cả Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ và Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với đều thuộc về bình diện bản thể luận - cụ thể là các existentialia – những đặc tính cấu trúc thuộc về Hữu thể của Dasein. Heidegger cho rằng Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với là a priori điều kiện tiên nghiệm nền tảng của tồn tại người, còn Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ chỉ là một phương thức khiếm khuyết hoặc thiếu hụt của trạng thái Hữu-thể-với nguyên thủy đó, chứ không phải là một trạng thái ontic thực hữu cụ thể biệt lập. Về vị thế bản thể luận: Đây là cấu trúc hiện sinh: Hữu-thể-với và ‘Hữu-thể-độc’ định nghĩa bản chất của chúng ta, cấu trúc Hữu thể của ta, chứ không phải cách thức mà một cá nhân cụ thể hành động hay tương tác trong một ngày nhất định. Đây không phải là sự tích tụ ở bình diện ontic Thực hữu cụ thể: Hiện diện vật lý hay việc thiếu vắng những Kẻ khác xung quanh ta (những hiện hữu hiện-diện-vô-tri không tạo ra hay triệt tiêu các cấu trúc này. Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ là phương thức khiếm khuyết – việc ở một mình không có nghĩa là người khác vắng mặt trong thực tại của ta; trái lại, nó chứng minh rằng trạng thái nền tảng của ta mang tính chất tương quan, bởi lẽ ta chỉ có thể cảm thấy hoặc thực sự ‘cô độc’ khi đặt trong bối cảnh của Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với. HHN]
‘Kẻ khác’ chỉ có thể vắng mặt trong2 và đối với2 một phương thức Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với. Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ là một phương thức khiếm khuyết của Hữu-thể-với; chính khả tính của nó là bằng chứng cho điều này. Mặt khác, phương thức ‘Hữu-thể-độc’ thực sự không bị triệt tiêu bởi sự xuất hiện của một hiện hữu người thứ hai ‘bên cạnh’ tôi, hay thậm chí mười cá thể như vậy. Ngay cả khi những cá thể này (và nhiều hơn nữa) hiện-diện-vô-tri, thì Dasein vẫn có thể cô độc. Do đó, Hữu-thể-với và thực tính của Hữuthể với nhau không dựa trên sự xuất hiện đồng thời của một số ‘chủ thể’. Tuy nhiên, Hữu-thể-độc ‘giữa’ đám đông, xét về mặt Hữu thể không có nghĩa là họ chỉ đơn thuần là những kẻ hiện-diện-vô-tri ở đó bên cạnh chúng ta. Ngay cả khi Hữu thể của chúng ta ‘ở giữa họ’, thì họ vẫn có đó cùng chúng ta; cái Dasein-với của họ được bắt gặp theo một phương thức mà ở đó họ tỏ ra thờ ơ và xa lạ. Sự vắng mặt và trạng thái ‘đi vắng’ [Chen ngang: Das Fehlen und ‘Fortsein’ của Martin Heidegger mô tả những cách thức khiếm khuyết hoặc phái sinh mà trong đó tồn tại con người liên hệ với những kẻ khác, nằm trong cấu trúc nền tảng của Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với. Heidegger cho rằng Dasein/ tồn tại người không bao giờ bị cô lập; về bản chất, nó là ‘Hữu-thể-với-kẻ-khác’ ngay từ đầu. Ngay cả khi tôi hoàn toàn ở một mình trong phòng hay tại một nơi hẻo lánh, thì những kẻ khác vẫn có ý nghĩa đối với tôi. Các phương thức khiếm khuyết - Das Fehlen (kẻ khác bị thiếu khuyết hoặc vắng mặt) và ‘Fortsein’ (kẻ khác mất đi hoặc vắng mặt) không phải là sự phá hủy của Mitsein Hữu-thể-với. Thay vào đó, chúng là những biến thể mang tính phủ định hoặc trống rỗng của cấu trúc này. Minh chứng cho thực tại xã hội: Một người vắng mặt hay thiếu vắng chỉ có thể được cảm nhận là ‘thiếu vắng’ bởi vì bản chất tồn tại của con người được định hình để kỳ vọng và gặp gỡ những kẻ khác. Nếu cốt lõi tự nhiên của chúng ta không mang tính xã hội, thì sự vắng mặt sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với chúng ta cả. HHN] là các phương thức của Hữu-thể-với, và chúng chỉ xảy ra vì Dasein—với tư cách là Hữu-thể-với —cho phép Dasein của những kẻ khác được bắt gặp trong thế giới của chính nó. Hữu-thể-với luôn là một đặc tính thuộc về Dasein của ai đó; Dasein-với đặc trưng cho Dasein của nhửng Kẻ khác ở mức độ mà Dasein ấy được thế giới của nó giải phóng để bước vào trạng thái Hữu-thể-với. Chỉ khi Dasein riêng mang cấu trúc cốt yếu của Hữu-thể-với, thì nó mới trở thành Dasein-với có thể được những Kẻ khác bắt gặp. 3
Nếu Dasein-với đóng vai trò cấu thành về mặt hiện sinh đối với trạng thái Hữu-thể-trong-thế-gới, thì cũng giống như những tương tác mang tính quan sát bao quát của chúng ta với các thực thể ‘sẵn-có-để-dùng’ trong thế giới (cái mà ta đã gọi trước là ‘quan tâm’), nó phải được diễn giải dựa trên hiện tượng ‘chăm sóc’; bởi vì ‘chăm sóc’ chính là khái niệm dùng để định nghĩa4 cái Hữu thể của Dasein nói chung. (Hãy so sánh với Chương 6 của Phần này.) ‘Quan tâm’ là một đặc-tính-của-Hữu-thể mà Hữu-thể-với không thể sở hữu như của riêng mình, mặc dù Hữu-thể-với—giống như quan tâm—cũng là một dạng Hữu thể hướng về các thực thể được bắt gặp trong-thế-giới. Tuy nhiên, những thực thể mà Dasein – với tư cách là Hiện-hữu-với hướng tới lại không có loại Hữu thể vốn thuộc về các thiết bị sẵn-có-để-dùng; bản thân chúng cũng chính là Dasein. Những hiện hữu này không phải chỉ là đối tượng quan tâm, mà còn là đối tượng quan tâm ở cấp độ ân cần (solicitude).5
[Tr. 158] Ngay cả việc ‘quan tâm’ đến chuyện ăn mặc hay chăm sóc thân xác ốm đau cũng là những hình thức của thái độ ân cần. Tuy nhiên, chúng ta hiểu thuật ngữ thái độ ‘ân cần’ theo cách tương ứng với cách ta dùng từ concern ‘quan tâm’ như một thuật ngữ chỉ một existentiae đặc tính hiện sinh. Ví dụ, Fürsorge ‘công tác phúc lợi xã hội’ — với tư cách là một sự sắp đặt xã hội mang tính thực tế — vốn bắt rễ từ trạng thái Hữu thể của Dasein với tư cách là Hữu-thể-với. Tính cấp bách thực tế của nó nảy sinh từ việc Dasein thường duy trì sự hiện hữu của mình — trước hết và phần lớn — trong các phương thức khiếm khuyết của cấp độ ân cần. Thái độ vì nhau, chống lại nhau, hay không màng đến nhau, lướt qua nhau, hay tâm thế không ‘có ý nghĩa’ gì với nhau — đó đều là những cách thức khả thể của cấp độ ân cần. Và chính những phương thức khiếm khuyết hay thờ ơ kể trên mới là nét đặc trưng cho lối Hữu-thể-với-nhau thường nhật và bình thường. Những phương thức hiện hữu này lại bộc lộ các đặc tính như trạng thái không nổi bật và tính hiển nhiên — những đặc tính vốn thuộc về lối Dasein-với thường nhật của những Kẻ khác trong-thế-giới, cũng giống như đặc tính sẵn-có-để-dùng của các thiết bị mà ta quan tâm trong cuộc sống hàng ngày. Những phương thức Hữu-thể-với-nhau mang tính Thờ ơ này có thể dễ dàng khiến việc diễn giải mang tính bản thể luận lầm tưởng rằng kiểu Hữu thể này chỉ đơn thuần là ‘Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của vài chủ thể. Dường như chỉ có những biến thể không đáng kể của cùng một loại Hữu thể trước mắt ta; tuy nhiên, xét về mặt bản thể luận, có một sự khác biệt cốt yếu giữa cách thức ‘thờ ơ’ khi các Sự vật ngẫu nhiên xuất hiện cùng nhau và cách thức mà các thực thể đang hiện hữu cùng nhau lại không ‘có ý nghĩa’ gì với nhau.
Xét về các phương thức thực chứng, thái độ ân cần có hai khả tính cực đoan. Nó có thể, theo một nghĩa nào đó, gánh vác thay mối ‘quan tâm’ của Kẻ khác và tự đặt mình vào vị trí của kẻ đó trong việc quan tâm: nó có thể ‘nhảy vào’ làm thay cho kẻ kia.6 Kiểu ân cần này thay cho Kẻ khác tiếp nhận công việc mà lẽ ra kẻ kia phải tự mình bận tâm thực hiện. Theo đó, Kẻ khác bị đẩy ra khỏi vị trí của chính hắn; kẻ kia lùi lại để rồi sau đó, khi công việc đã được hoàn tất, hắn có thể tiếp nhận nó như một thứ đã xong xuôi và sẵn sàng sử dụng,7 hoặc trút bỏ hoàn toàn gánh nặng về nó. Bằng cấp độ ân cần đến như vậy, Kẻ khác có thể trở thành kẻ bị chi phối và lệ thuộc, ngay cả khi sự chi phối này diễn ra ngầm và bản thân hắn không nhận ra. Cấp độ ân cần này—vốn nhảy vào và tước bỏ gánh nặng ‘lo âu’ của kẻ khác—đóng vai trò quyết định lớn đối với ‘Hữu-thể-với-nhau’, và phần lớn liên quan đến mối bận tâm của chúng ta đối với những gì ‘sẵn-có-để-dùng’. Trái lại, còn có một khả tính của loại quan tâm lo lắng khác: thay vì nhảy vào thay cho Kẻ khác, hắn lại ‘nhảy vọt lên trước’ họ [tr.159] trong chính tiềm tính existenzielles Seinkönnen hiện-sinh-vì-Hữu-thể của hắn; [Chen ngang: Với Martin Heidegger, tiềm-tính-hiện-sinh-vì-Hữu-thể ám chỉ những lựa chọn cụ thể, mang tính cá nhân và những khả năng được thực thi trong đời sống, qua đó một Dasein chủ động định hình và xác định cuộc đời mình, thay vì chỉ chạy theo đám đông vô danh. Ý nghĩa cốt lõi: Hiện sinh thuần túy Existentiell (cấp độ ontological – bản thể luận) trái ngược với - ontic thuộc cấp độ thực hữu: đề cập đến những lựa chọn thực tế, thường nhật và mang tính cá nhân của tôi; đó là những gì tôi thực sự làm, cảm nhận và quyết định trong cuộc đời độc nhất của chính mình. Trong khi đó Existentiell thuộc về bản thể luận - Đề cập đến khuôn khổ cấu trúc mang tính phổ quát của sự hiện hữu con người—những quy luật tiềm ẩn tạo nên nền tảng cho sự tồn tại của con người. Seinkönnen Tiềm-tính-hiện-sinh-vì-Hữu-thể: nghĩa là con người không bao giờ là những thực thể cố định; chúng ta luôn là một tập hợp mở của các khả tính, không ngừng hướng bản thân về phía tương lai. Các đặc điểm chính của khái niệm này: Làm chủ Cá nhân: Tôi phải sống cuộc đời của chính mình, không ai khác có thể đưa ra những lựa chọn mang tính existentiell hiện sinh thay cho tôi. Điều quan trọng khác, đó là Eigentlichkeit Tính chân thực so với Uneigentlichkeit Tính không chân thực: Bạn có thể trôi dạt theo những gì ‘người ta’ thường làm (Uneigentlichkeit không chân thực), hoặc nắm lấy các lựa chọn của đời mình trong khi đối diện trực tiếp với những giới hạn của bản thân (Eigentlichkeit chân thực). Endlichkeit Tính hữu hạn và der Tod cái chết: Khả năng này gắn liền với khả tử tính của con người. Việc nhận thức được rằng cuộc sống sẽ kết thúc khiến cho những lựa chọn cá nhân của chúng ta thực sự trở nên quan trọng. HHN] mục đích không phải là tước bỏ gánh nặng ‘lo âu’ của hắn, mà là trả lại nó cho hắn một cách đích thực theo đúng nghĩa đối với lần đầu tiên. Kiểu quan tâm lo lắng ở cấp độ ân cần này gắn liền cốt yếu với ‘lo âu’ đích thực—tức là hướng về tồn tại của Kẻ khác, chứ không phải hướng về một ‘cái gì’ mà hắn đang bận tâm; nó giúp Kẻ khác trở nên sáng tỏ với bản thân hắn trong ‘lo âu’ của hắn và đạt được sự tự do đối với nó.
Thái độ ân cần bộc lộ thành một trạng thái thuộc về Hữu thể của Dasein—một trạng thái mà, tùy theo các khả tính khác nhau, gắn kết chặt chẽ với cái Hữu thể hướng về thế giới mà nó bận tâm, cũng như với cái Hữu thể đích thực của nó đối với chính mình. Hữu-thể-với-nhau thường dựa vào—và đôi khi chỉ dựa vào—những mối bận tâm chung bằng loại Hữu thể như vậy. Một loại Hữu-thể-với-nhau nảy sinh từ việc cùng làm một công việc giống như kẻ khác, không chỉ phần lớn duy trì trong phạm vi giới hạn bên ngoài, mà còn bước vào trạng thái giữ khoảng cách và sự dè dặt. Cái Hữu-thể-với-nhau của những kẻ cùng được thuê làm một công việc thường chỉ tồn tại dựa trên sự ngờ vực lẫn nhau. Ngược lại, khi họ cùng dấn thân vào một công việc chung, hành động đó được định hình bởi cách thức mà Dasein của mỗi người—theo cách riêng của mình—được khơi dậy và nắm bắt.8 Nhờ đó, họ gắn kết với nhau một cách đích thực, tạo điều kiện cho một kiểu khách thể tính đúng đắn—vốn giúp giải phóng Kẻ khác, để họ được tự do là chính mình. Cái Hữu-thể-với-nhau thường nhật luôn duy trì trạng thái nằm giữa hai thái cực của trạng thái quan tâm lo lắng ân cần: một bên là kiểu ân cần nhảy vào và chi phối, và bên kia là kiểu ân cần nhảy vọt lên trước và giải phóng. Nó đưa nhiều dạng thức hỗn hợp đến độ chín muồi;9 việc mô tả và phân loại chúng sẽ vượt quá phạm vi của cuộc khảo sát này. Cũng như thái độ cẩn trọng thuộc về lối quan tâm như một phương thức khám phá cái sẵn-có-để-dùng, thì kiểu ân cần đối với kẻ khác lại được dẫn dắt bởi tính chu đáo và lòng khoan dung.10 Giống như kiểu ân cần đối với kẻ khác, các phương thức này có thể biến chuyển từ những trạng thái khiếm khuyết và thờ ơ tương ứng của chúng, cho đến mức độ thiếu chu đáo hoặc trạng thái làm cho có lệ mà thái độ thờ ơ chính là khởi nguồn.11
[Tr.160] Thế giới không chỉ giải phóng cái ‘sẵn-có-để-dùng’ như những thực thể có thể bắt gặp ngay trong-thế-giới; nó còn giải phóng cả Dasein, cũng như những ‘Kẻ khác’ trong cái Dasein-với của họ. Tuy nhiên, ý nghĩa hiện hữu cốt yếu nhất trong Hữu thể của Dasein là ở chỗ: thực thể này (vốn đã được giải phóng về phương diện môi trường) lại chính là Hữu-thể-trong ngay trong cùng cái thế giới mà ở đó, với tư cách có thể gặp được đối với những Kẻ khác, nó lại có đó cùng họ. Chúng ta đã diễn giải tính thế gian như là một tổng thể tính quy chiếu vốn cấu thành nên ý nghĩa (Mục 18). Trong Hữu thể-thân thuộc với ý nghĩa này và sự thấu hiểu từ trước về nó, Dasein để cho cái sẵn-có-để-dùng được bắt gặp như một thực thể đã được khai mở trong các can dự của nó. Trong Hữu thể của Dasein, bối cảnh của các quy chiếu hay các nhiệm vụ mà tính ý nghĩa hàm chứa lại gắn liền với chính cái Hữu thể của Dasein— một loại Hữu thể về bản chất không có sự can dự, mà trái lại, là cái Hữu thể vì mục đích của cái mà tự thân Dasein hiện hữu là chính nó.
Theo phân tích mà chúng ta vừa hoàn tất, cái Hữu-thể-với những Kẻ khác thuộc về cái Hữu thể của Dasein—vốn là một vấn đề đối với Dasein trong chính Hữu thể của nó.12 Như vậy, với tư cách là Hữu-thể-với, Dasein về cơ bản ‘là’ vì lợi ích của những Kẻ khác. Điều này cần được hiểu như một khẳng định mang tính hiện sinh về bản chất của nó. Ngay cả khi một Dasein cụ thể thực tại không hướng về những Kẻ khác, và cho rằng nó không cần đến họ hay có thể xoay xở mà không cần họ, thì nó vẫn đang hiện hữu theo phương thức của Hữu-thể-với. Trong Hữu-thể-với—với tư cách là cấu trúc hiện sinh ‘vì-lợi-ích-của’ của những Kẻ khác—thì chính những Kẻ khác ấy đã được bộc lộ trong cái Dasein của họ. Cùng với Hữu-thể-với của họ, trạng thái được bộc lộ của họ đã được xác lập từ trước; do đó, trạng thái được bộc lộ này cũng góp phần tạo nên ý nghĩa—tức là cái thế gian. Và ý nghĩa—với tư cách là cái thế gian—gắn liền với yếu tố hiện sinh ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’.13 Vì tính thế gian của cái thế giới mà trong đó mỗi Dasein về bản chất đã hiện hữu vốn được cấu thành như vậy, nên nó cho phép ta bắt gặp những gì sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường như là một cái gì đó mà ta quan tâm một cách cẩn trọng; và nó thực hiện điều này theo cách mà cùng với nó, ta cũng bắt gặp sự cái Dasein-với của những Kẻ khác. Cấu trúc tính thế gian của thế giới là ở chỗ những Kẻ khác không hiện-diện-vô-tri ngay từ đầu như những chủ thể lơ lửng tách biệt cùng với các Sự-vật khác, mà tự bộc lộ trong thế giới qua Hữu-thể đặc biệt trong môi trường của họ; điều này diễn ra theo những gì sẵn-có-để-dùng trong thế giới đó.
Hữu-thể-với là ở chỗ trạng thái bộc lộ của cái Dasein-với của những Kẻ khác [p.161] thuộc về nó; điều này có nghĩa là, vì Hữu thể của Dasein chính là Hữu-thể-với, nên sự thấu hiểu về Hữu thể của nó đã bao hàm sẵn sự thấu hiểu về những Kẻ khác. Sự thấu hiểu này—cũng như mọi sự thấu hiểu khác—không phải là sự quen biết nảy sinh từ tri thức về họ, mà là một loại Hữu thể mang tính hiện sinh nguyên thủy; chính nó, hơn bất cứ điều gì khác, tạo điều kiện cho tri thức và sự quen biết như vậy trở nên khả thể.14 Việc quen biết nhau bắt rễ từ Hữu-thể-với — vốn thấu hiểu nguyên thủy. Nó vận hành trước hết phù hợp với loại Hữu thể gần gũi nhất với chúng ta: Hữu-thể-trong-thế-giới với tư cách Hữu-thể-với; và nó thực hiện điều này thông qua sự quen thuộc với những gì mà Dasein—cùng với những Kẻ khác bắt gặp trong sự cẩn trong về môi trường và tự quan tâm đến — một sự quen thuộc mà trong đó Dasein thấu hiểu. Mối quan tâm mang tính ân cần được hiểu trong khuôn khổ của những gì ta quan tâm và gắn liền với hiểu biết của ta về nó. Do đó, chính trong trạng thái ân cần này mà Kẻ khác được bộc lộ ngay từ đầu. Tuy nhiên, vì sự ân cần thường hiện diện trước hết và chủ yếu ở những phương thức khiếm khuyết hoặc ít nhất là các phương thức thờ ơ (sự thờ ơ khi lướt qua nhau), nên loại quen biết bản thân mang tính cốt yếu và gần gũi nhất đòi hỏi ai đó phải làm quen với chính mình.15 Và khi việc tự-biết-mình bị lạc lối trong trạng thái xa cách, tự giấu mình, hay khoác lớp vỏ ngụy trang, thì cái Hữu-thể-với-nhau buộc phải đi theo những lộ trình riêng biệt để có thể đến gần Kẻ khác, hay thậm chí là ‘nhìn thấu’ họ.
Song, cũng như việc tự bộc lộ hay tự khép kín bản thân vốn bắt rễ từ việc ai đó có thứ Hữu-thể-với-nhau như là một loại Hữu thể tại thời điểm đó—và thực chất không gì khác hơn điều đó—thì sự bộc lộ tường minh về Kẻ khác trong trạng thái ân cần cũng chỉ nảy sinh từ Hữu thể của kẻ nào đó với hắn trong từng trường hợp cụ thể. Sự bộc lộ về Kẻ khác như vậy (vốn mang tính chủ đề, nhưng không theo kiểu tâm lý học lý thuyết) dễ dàng trở thành hiện tượng xuất hiện trước tiên khi ta xem xét vấn đề lý thuyết về việc thấu hiểu ‘đời sống tâm hồn của Kẻ khác’. Theo cách thức ‘gần gũi’ về mặt hiện tượng học này, nó thể hiện một phương thức Hữu thể với nhau đầy thấu hiểu; nhưng đồng thời, nó lại được coi là yếu tố cấu thành nên—một cách nguyên thủy và ‘ngay từ khởi đầu’—loại Hữu thể hướng về những Kẻ khác và làm cho mối quan hệ đó trở nên khả thể.
[Tr. 162] Hiện tượng này—vốn được gọi bằng cái tên không mấy vui vẻ là ‘thấu cảm’—sau đó được cho là sẽ tạo ra chiếc cầu nối bản thể luận đầu tiên từ chủ thể của chính mình vốn ban đầu được nhận biết như thể đang đơn độc sang chủ thể khác vốn ban đầu hoàn toàn khép kín. Tất nhiên, Hữu thể hướng về Kẻ khác về mặt bản thể luận khác biệt với Hữu thể hướng về Sự vật vốn hiện-diện-vô-tri. Cái Thực thể vốn ‘khác’ đó tự nó mang cùng một loại Hữu thể như Dasein. Do đó, trong Hữu thể với và Hữu thể hướng về Kẻ khác tồn tại một Seinsverhältnis mối quan hệ Hữu thể từ Dasein này sang Dasein kia. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Seinsverhältnis Quan hệ hữu thể chỉ định phương thức chủ động và mang tính kiến tạo mà qua đó hiện hữu người Dasein quan hệ với Hữu thể và các thực thể khác. Thay vì là một đối tượng tĩnh tại, Dasein được xác định bởi sự gắn kết đầy năng động và tất yếu này với tồn tại. Các khía cạnh cốt lõi của Seinsverhältnis bao gồm: Thái độ ứng xử chủ động: Dasein không chỉ tồn tại một cách thụ động; nó luôn có một thái độ, sự thấu hiểu hoặc cách ứng xử có chủ đích đối với Hữu thể. Vượt qua sự cô lập: Khái niệm này bác bỏ quan niệm về một chủ thể tách biệt, thay vào đó khẳng định rằng con người gắn kết mật thiết với thế giới và vạn vật thông qua mối tương quan chủ động này. Mối liên kết bản thể luận nền tảng - đóng vai trò là cầu nối để vạn vật có được ý nghĩa và tự bộc lộ bản chất của mình trong chân trời nghiệm sống của chúng ta. HHN] Tuy nhiên, có thể lập luận rằng mối quan hệ này vốn đã mang tính cấu thành đối với chính Dasein của mỗi kẻ—một Dasein tự bản thân nó đã có sự thấu hiểu về Hữu thể và nhờ đó tự liên hệ16 hướng tới Dasein. Khi ấy, mối quan hệ của Hữu thể mà ta có đối với Kẻ khác sẽ trở thành một sự Phóng chiếu17 của chính Hữu-thể-hướng-về-bản-thân ‘sang một cái gì đó khác’. Kẻ khác khi đó sẽ chỉ là bản sao của cái Tự ngã. Dù những suy luận này có vẻ hiển nhiên, nhưng ta vẫn dễ dàng nhận thấy chúng thiếu cơ sở vững chắc. Cái tiền đề mà lập luận này đòi hỏi—cho rằng Hữu thể hướng về Kẻ khác của Dasein thực chất là Hữu thể hướng về chính mình—là không đứng vững. Chừng nào tính xác đáng của tiền đề này chưa được chứng minh rõ ràng, người ta vẫn có thể băn khoăn về việc làm thế nào mà mối quan hệ của Dasein với chính nó lại có thể được bộc lộ cho Kẻ khác với tư cách là Kẻ khác.Hữu thể hướng về Kẻ khác không chỉ là một mối quan hệ Hữu thể độc lập và không thể quy giản: mối quan hệ này—với tư cách là Hữu-thể-với—là thứ vốn đã hiện hữu ngay trong chính Hữu thể của Dasein.18 Tất nhiên, không thể phủ nhận rằng sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc dựa trên nền tảng Hữu-thể-với thường phụ thuộc vào mức độ mà Dasein của riêng ai đó tự thấu hiểu chính mình tại thời điểm đó; nhưng điều này có nghĩa là nó chỉ phụ thuộc vào cái các thức mà Hữu thể với Kẻ khác đã trở nên minh bạch và không tự che giấu mình.19 Và điều đó chỉ khả thể nếu Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —vốn đã hiện hữu cùng với những Kẻ khác. ‘Thấu cảm’ không phải là yếu tố khởi đầu tạo nên Hữu thể với; chỉ trên cơ sở của Hữu thể với thì ‘thấu cảm’ mới trở nên khả thể: nó lấy động lực từ tính chất phi xã hội tính của các phương thức thống trị của Hữu thể với.20
[Tr.163] Tuy nhiên, việc ‘thấu cảm’ không phải là một hiện tượng hiện sinh nguyên thủy—cũng giống như việc biết nhau nói chung—không có nghĩa là nó không chứa đựng những vấn đề nan giải. Phép tường giải đặc thù về thấu cảm sẽ phải chỉ ra cách thức mà Hữu thể với nhau và việc tự hiểu mình của Dasein bị lạc lối và bị cản trở bởi các khả tính đa dạng của Hữu thể mà chính Dasein sở hữu; hệ quả là một ‘thấu hiểu’ đích thực bị kìm hãm, và Dasein tìm nơi trú ẩn ở những thứ thay thế; cái khả tính hiểu biết đúng đắn về kẻ lạ đòi hỏi phải có một phép tường giải làm điều kiện hiện sinh tích cực của nó.21 Phân tích của chúng tôi đã chỉ ra rằng Hữu thể với là một thành tố hiện sinh của Hữu-thể-trong-thế-giới. Dasein-with Hiện-hữu-với đã được chứng minh là một loại Hữu thể mà các thực thể được bắt gặp trong-thế-giới sở hữu như là cái riêng có của chúng. Chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì Hữu-thể-với-nhau vẫn là loại Hữu thể của nó.
Điều này không thể được quan niệm như là kết quả cộng gộp từ sự xuất hiện của nhiều ‘chủ thể’. Ngay cả việc bắt gặp một số lượng các ‘chủ thể’ cũng chỉ trở nên khả thể nếu những Kẻ khác—vốn hiện diện ngay từ đầu trong Dasein-với của họ—bị đối xử đơn thuần như những ‘con số’. Một số lượng các ‘chủ thể’ như vậy chỉ được phát hiện thông qua một kiểu Hữu-thể-với-và-hướng-về-nhau xác định. Kiểu Hữu-thể-với ‘thiếu quan tâm’ này ‘tính toán’ đến những Kẻ khác mà không thực sự ‘trông cậy vào họ’, hay thậm chí không hề muốn ‘dính dáng’ gì đến họ. Dasein/Hiện hữu của chính ta, cũng như Dasein-với/Hiện-hữu-với của những Kẻ khác, được bắt gặp trước hết và chủ yếu trong khuôn khổ của cái với-thế-giới — với cái mà ta đang bận tâm và tương tác trong môi trường sống. Khi Dasein đắm chìm trong thế giới của những mối bận tâm—tức là đồng thời đắm chìm trong Hữu-thể-với hướng về những Kẻ khác—thì nó không còn là chính nó nữa. Vậy thì, ai là kẻ đã tiếp quản cái Hữu thể với tư cách là Hữu-thể-với-nhau thường nhật?
27. Hữu-thể-Chính-mình Thường nhật và cái ‘Họ’
Kết quả có ý nghĩa về mặt bản thể luận từ sự phân tích của chúng ta về Hữu-thể-với chính là sự thấu hiểu rằng ‘đặc tính chủ thể’ của Dasein/ hiện hữu của chính ta và của những Kẻ khác cần được xác định về phương diện hiện sinh—tức là, trong khuôn khổ của các cách thức mà ai đó có thể hiện hữu. Trong những gì ta bận tâm đến ở môi trường xung quanh, ta bắt gặp những Kẻ khác đúng như bản chất của họ; họ chính là những gì họ đang thực hiện. Khi ta bận tâm đến những gì mình đang nắm bắt—dù là cùng với, vì, hay chống lại những Kẻ khác—luôn có đó một sự quan tâm thường trực về việc ta khác biệt với họ như thế nào: liệu sự khác biệt đó chỉ là điều cần được san bằng, hay Dasein của ta đang tụt hậu so với họ và muốn [tr.164] bắt kịp họ, hay Dasein của ta đã có vị thế ưu trội hơn và tìm cách kìm hãm họ. Sự bận tâm về khoảng cách này gây xáo trộn cho trạng thái Hữu-thể-với-nhau, mặc dù sự xáo trộn ấy lại bị che giấu khỏi chính trạng thái đó. Nếu diễn đạt theo thuật ngữ hiện sinh, thì kiểu Hữu-thể-với-nhau này mang đặc tính của ‘tính khoảng cách’. Kiểu Hữu thể này càng ít gây chú ý đối với chính Dasein thường nhật bao nhiêu, thì nó lại càng vận hành một cách ngoan cố và nguyên thủy bấy nhiêu. Tuy nhiên, tính khoảng cách vốn thuộc về ‘Hữu-thể-với này lại khiến cho Dasein—với tư cách là Hữu-thể-với-nhau thường nhật—rơi vào thế lệ thuộc vào những Kẻ khác. Bản thân nó không còn là chính nó nữa1; Hữu thể của nó đã bị những Kẻ khác tước đoạt. Các khả tính Hữu thể thường nhật của Dasein bị phó mặc cho những Kẻ khác tùy ý định đoạt. Hơn nữa, những Kẻ khác này lại không phải là những Kẻ khác cụ thể nào đó. Trái lại, bất kỳ ai khác cũng có thể đại diện cho họ. Điều mang tính quyết định chính là sự thống trị âm thầm của những Kẻ khác—một sự thống trị mà Dasein với tư cách là Hữu-thể-với đã vô tình chấp nhận từ lúc nào không hay. Bản thân ta thuộc về những Kẻ khác và góp phần củng cố quyền lực của họ. ‘Những Kẻ khác’—cách gọi mà ta dùng để che đậy sự thật rằng về bản chất, chính ta cũng thuộc về họ—là những kẻ hiện diện ngay trước mắt và chiếm ưu thế trong Hữu-thể-với-nhau thường nhật. Cái ‘ai’ ấy không phải là kẻ này, không phải người kia, không phải chính bản thân ta, không phải một nhóm người nào đó, và cũng không phải tổng hòa của tất cả họ. Cái ‘ai’ ấy là một thực thể trung tính, cái ‘họ’.
Trước đó, chúng ta đã chỉ ra rằng trong môi trường gần gũi nhất với ta, ‘môi trường’ công cộng đã sẵn-có-để-dùng và trở thành đối tượng của sự quan tâm. Khi sử dụng các phương tiện giao thông công cộng hay các dịch vụ thông tin như báo chí, mỗi Kẻ khác đều giống hệt như bất kỳ ai. Kiểu Hữu-thể-với-nhau này hòa tan hoàn toàn Dasein/hiện hữu của cá nhân vào loại Hữu thể của ‘những Kẻ khác’, đến mức mà chính những Kẻ khác—vốn có thể phân biệt và xác định rõ ràng—lại ngày càng trở nên mờ nhạt và biến mất. Chính trong sự không nổi bật, không cụ thể đó, nền chuyên chế thực sự của cái ‘họ’ được khai mở. Ta tìm thấy niềm vui và sự thích thú giống như cách ‘họ’ tìm thấy chúng; ta đọc, xem và đánh giá văn học nghệ thuật theo cách ‘họ’ nhìn nhận và đánh giá; ta cũng e ngại ‘đám đông’ theo cách ‘họ’ e ngại; ta coi những gì ‘gây sốc’ giống như cách ‘họ’ nhìn nhận. ‘Họ’—một thực thể không có định nghĩa cụ thể nhưng lại bao hàm tất cả mọi người (dù không phải theo kiểu cộng dồn đơn thuần)—chính là nhân tố quy định loại Hữu thể của đời sống thường nhật.
‘Họ’ có những phương thức hiện hữu riêng biệt. Khuynh hướng ‘Hữu-thể-với-nhau mà ta gọi là ‘tính giãn cách’ [Chen ngang: Abständigkeit tính giãn cách - thường chỉ trạng thái, phẩm chất hoặc điều kiện của việc ở xa, tách biệt hoặc tách rời. Thuật ngữ này mô tả cách con người trong cuộc sống thường nhật liên tục đo lường khoảng cách, sự khác biệt hoặc khe hở giữa bản thân họ và những kẻ khác. Đây là một đặc điểm cơ bản trong cách con người tương tác với đám đông xã hội hay cái gọi là das Man ‘họ’. Con người quan tâm đến tính bình thường và vị thế. Họ cố gắng duy trì một mức độ hoặc khoảng cách tương đối nào đó với kẻ khác—hoặc bằng cách cố gắng bắt chước những gì kẻ khác làm, hoặc bằng cách đảm bảo mình tạo ra sự khác biệt nhỏ nào đó để giữ khoảng cách với đám đông. Khái niệm này góp phần định hình tính chất công cộng và hành vi xã hội thường nhật bằng cách khiến con người luôn ý thức về vị thế và chuẩn mực xã hội. HHN] bắt nguồn từ thực tế là Hữu-thể-với-nhau này luôn hướng tới trạng thái ‘trung bình’—một đặc tính hiện sinh của ‘họ’. Trong Hữu thể của mình, ‘họ’ luôn [tr.165] chú trọng điều này. Do đó, ‘họ’ duy trì sự tồn tại thực tế của mình trong trạng thái trung bình đối với những gì thuộc về nó: những gì nó vốn công nhận là hợp lệ hay không, những gì nó cho phép thành công hay phủ nhận thành công. Trong trạng thái trung bình dùng để quy định những gì có thể và được phép thử nghiệm này, ‘họ’ luôn giám sát mọi điều khác biệt, nổi trội có ý định vươn lên. Mọi hình thức ưu trội đều bị kìm hãm một cách lặng lẽ. Chỉ trong chốc lát, mọi điều nguyên thủy đều bị lướt qua như thể đó là những chuyện đã quá đỗi quen thuộc. Mọi thành quả đạt được qua đấu tranh đều trở thành thứ bị thao túng. Mọi bí mật đều mất đi sức mạnh của mình. Khuynh hướng thiên về trạng thái ‘trung bình’ này bộc lộ một xu hướng cốt yếu của Dasein, mà ta gọi là sự ‘san phẳng’ mọi khả tính của Hữu thể. Tính giãn cách, trạng thái trung bình và sự san phẳng—vốn là các phương thức Hữu thể của cái gọi là ‘họ’—cấu thành nên cái mà ta biết đến là Öffentlichkeit ‘tính công cộng’. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, tính công cộng Öffentlichkeit là phương thức vô danh, thường nhật mà qua đó thế giới xã hội hay das Man cái ‘họ’ định hình tư duy, ngôn ngữ và thực tại của chúng ta. Nó che mờ sự thấu hiểu đích thực của cá nhân bằng cách khiến mọi thứ trở nên đồng nhất, quen thuộc và tầm thường. Các đặc điểm cốt lõi của tính công cộng bao gồm: i) Tính trung bình - mọi người cố gắng hành động, suy nghĩ và cảm nhận giống như một người bình thường; ii) Sự san bằng - những ý tưởng độc đáo và chân lý cá nhân sâu sắc bị xóa nhòa, mọi thứ bị giản lược thành những điều an toàn và dễ nắm bắt; và iii) Tính giãn cách - mọi người liên tục so sánh mình với những kẻ khác trong nhóm, lo lắng về việc hòa nhập và làm những gì mà ‘họ/người ta’ thường làm. Tính công cộng ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày thông qua: i) Những chuyện phiếm - ngôn ngữ trở nên hời hợt, người ta lặp lại ý kiến nghe được từ nơi khác thay vì tự mình khám phá chân lý; ii) Thiếu tính đích thực - thay vì đưa ra những lựa chọn thực sự và có ý thức, con người sống như một das Man-selbst/They-Self ‘Tự ngã-Họ’ và chấp nhận các chuẩn mực chung mà không hề đặt câu hỏi; và iii) Tình trạng che khuất Hữu thể - Heidegger cho rằng tính công cộng che mờ ý nghĩa đích thực và sâu xa của tồn tại, thay thế sự thấu hiểu sâu sắc bằng tính minh bạch hời hợt bề mặt. - HHN]. Tính công cộng chi phối trực tiếp mọi cách thức diễn giải về thế giới và về Dasein, và nó luôn luôn đúng—không phải vì nó có một mối quan-hệ-Hữu-thể đặc thù và nguyên thủy nào đó với các Sự vật, hay vì nó tận dụng được sự minh bạch về phía Dasein mà nó đã chiếm hữu một cách tường minh, mà bởi vì nó hoàn toàn vô cảm trước mọi sự khác biệt về đẳng cấp hay tính đích thực, và do đó, chẳng bao giờ chạm tới được ‘căn cội của vấn đề’. Tính công cộng khiến mọi thứ trở nên lu mờ, và những gì bị che đậy theo cách đó lại được coi là cái gì đó thân thuộc, dễ tiếp cận đối với tất cả mọi người.
Cái ‘họ’ hiện diện ở khắp mọi nơi, nhưng lại luôn lẩn tránh ngay khi Dasein cần đưa ra một quyết định. Tuy nhiên, vì cái "họ" tự nhận mọi phán đoán và quyết định là của chính mình, nó tước đi khả năng chịu trách nhiệm của cá nhân Dasein. Cái ‘họ’ có thể, theo một cách nào đó, khiến người ta phải liên tục viện dẫn đến nó. Nó có thể dễ dàng nhận trách nhiệm về mọi thứ, bởi vì nó không phải là một cá nhân cụ thể cần phải đứng ra bảo đảm cho bất cứ điều gì. Luôn là cái ‘họ’ đã thực hiện hành động đó, nhưng đồng thời cũng có thể nói rằng ‘không ai cả’ đã làm điều đó. Trong đời sống thường nhật của Dasein, tác nhân đứng sau hầu hết các sự việc lại là cái mà ta buộc phải nói là ‘không ai cả’. Như vậy, cá nhân Dasein trong đời sống thường nhật được cái ‘họ’ gánh vác, giảm gánh nặng. Không chỉ có vậy; bằng cách giảm gánh nặng Hữu thể này, cái ‘họ’ chiều theo Dasein nếu nó có khuynh hướng muốn mọi việc trở nên dễ dàng và nhẹ nhàng. Và vì cái ‘họ’ liên tục chiều theo cá nhân Dasein bằng cách gánh vác bớt trách nhiệm về Hữu thể của nó, nên cái ‘họ’ càng củng cố và gia tăng quyền thống trị đầy ngoan cố của mình. Ai cũng là kẻ khác, và chẳng ai là chính mình. Cái ‘họ’ – thứ đưa ra [tr.166] lời đáp cho câu hỏi về cái ‘ai’ trong đời sống thường nhật của Dasein – chính là ‘không ai cả’, cái mà mọi Dasein đều đã phó mặc chính mình vào đó trong trạng thái Untereinandersein ‘Hữu-thể-giữa-mình-và-kẻ-khác.
_________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘…dass dieses Ich-hier nicht einen ausgezeichneten Punkt des Ichdinges meint, sondern sich versteht als In-sein aus dem Dort dcr zuhandenen Welt, bei dem Dasein als Besorgen sich aufhalt.' The older editions have 'In-Sein' for 'ln-sein', and 'dabei' for 'bei dem'.
2 Italics supplied in the later editions.
3 ‘….Mitdasein charakterisiert das Dasein anderer, sofern es für ein Mitsein durch dessen
Welt freigegeben ist. Das eigene Dasein ist, sofern es die Wesensstruktur des
Mitseins hat, als für Andere begegnend Mitdasein.'
4 ‘…als welche das Sein des Daseins überhaupt bestimmt wird.'
The older editions omit 'wird'.
5 'Dieses Seiende wird nicht besorgt, sondern steht in der Fürsorge’. There is no good English equivalent for ‘Fürsorge’, which we shall usually translate by 'solicitude'. The more literal 'caring-for' has the connotation of 'being fond of', which we do not want here; 'personal care' suggests personal hygiene; 'personal concern' suggests one's personal business or affairs. ‘Fürsorge’ is rather the kind of care which we find in 'prenatal care' or 'taking care of the children', or even the kind of care which is administered by welfare agencies. Indeed the word ‘Fürsorge’ is regularly used in contexts where we would speak of 'welfare work' or 'social welfare; this is the usage which Heidegger has in mind in his discussion of ‘Fürsorge’ as 'a factical social arrangement'. (The etymological connection between 'Sorge ('care'), ‘Fürsorge’ ('solicitude'), and 'Besorgen ('concern'), is entirely lost in our translation.)
6 ‘….sich an seine Stelle setzen, für ihn einspringen.’ Here, as on H. 100 (See our note 2, p. 133), 1t would be more idiomatic to translate 'für ihn einspringen' as 'intervene for him', 'stand in for him' or 'serve as deputy for him' ; but since 'einspringcn' is to be contrated with 'vorspringen', 'vorausspringcn' and perhaps even 'entspringen' in the following paragraphs, we have chosen a translation which suggests the etymological connection.
7 ‘…urn nachtraglich das Besorgte als fertig Verfügbares zu übernehmen…’
8 'Umgekehrt ist das gemeinsame Sicheinsetzen für dieselbe Sache aus dem je eigens ergriffenen Dasein bestimmt.'
9 Reading ‘…und zeitigt mannigfache Mischformen…’ with the older editions. The later editions have 'zeigt' ('shows') instead of 'zeitigt' ('brings to maturity'). On 'zeitigen' see H. 304 and our note ad loc.
10 'Wie dem Besorgen als Weise des Entdeckens des Zuhandenen die Umsicht zugehort, so ist die Fürsorg : geleitet durch die Rücksicht und Nachsicht.' Heidegger is here calling attention to the etymological kinship of the three words which he italicizes, each of which stands for a special kind of sight or seeing ('Sicht'). The italicization of 'Umsicht' ('circumspection') is introduced in the newer editions.
11 ‘…bis zur Rücksichtslosigkeit und dem
Nachsehen, das die Gleichgültigkeit leitet.' This passage is
ambiguous both syntactically and semantically. It is not clear, for instance,
whether the subject of the relative clause is 'die Gleichgültigkeit' or the pronoun
'das', though we prefer the former interpretation. 'Nachsehen', which is
etymologically
akin to 'Nachsicht', means to 'inspect' or 'check'
something ; but it often means to do this in a very perfunctory manner, and
this latter sense may well be the one which Heidegger has in mind.
12 ‘…zum Sein des Daseins, urn das es ihm in seinem Sein selbst
geht…’
The older editions have 'darum' instead of'um das'.
13 'Diese mit dem Mitscin vorgiingig konstituierte Erschlossenheit der Anderen macht demnach auch die Bedeutsamkeit, d.h. die Weltlichkeit mit aus, als welche sie im existenzialen Worum-willen festgemacht ist.' The word 'sie' appears only in the later editions.
14 'Dieses Verstehen ist, wie Verstehen iiberhaupt, nicht eine aus
Erkennen erwachsene Kenntnis, sondern eine urspriinglich existenziale Seinsart
die Erkennen und Kenntnis allererst moglich macht'. While we have here
translated 'Kenntnis' as 'acquaintance' and 'Erkennen' as 'knowledge about',
these terms must not be understood in the special
senses exploited by Lord Russell and C. I. Lewis. The 'acquaintance' here
involved is of the kind which may be acquired whenever one is well informed
about something, whether one has any direct contact with it or not.
15 ‘…bedarf das nächste und wesenhafte Sichkennen eines Sichkennenlernens.' 'Sichkennen' ('knowing oneself') is to be distinguished sharply from 'Selbsterkenntnis' ('knowledge of the Self'), which will be discussed on H. 1 46. See our note 1, p. 186.
16 ‘….sich…verhalt…’ We have often translated this expression as 'comports' itself', compromising between two other possible meanings : 'relates itself' and 'behaves or 'conducts itself'. In this passage, however, and in many others where this expression is tied up with 'Verhaltnis' ('relationship') rather than with 'Verhalten' ('behaviour or 'conduct'), only 'relates itself' seems appropriate.
17 'Projektion'. Here we are dealing with 'projection' in the familiar psychological sense, not in the sense which would be expressed by 'Entwurf'. See H. 1 45 ff.
18 'Das Sein zu Anderen ist nicht nur ein eigenstandiger, irreduktibler Seinsbezug, er ist als Mitsein mit dem Sein des Daseins schon seiend.'
19 ‘…wie weit es das wesenhafte Mitsein mit anderen sich durchsichtig gemacht und nicht verstellt hat…’ (The older editions have ‘…sich nicht undurchsichtig gemacht und verstellt hat…’.)
20 ‘Einfühlung’ konstituiert nicht erst das Mitsein, sondem ist auf dessen Grunde erst moglich und durch die vorherrschenden defizienten Modi des Mitseins in ihrer Unumganglichkeit motiviert.’
21 ‘…welche positive existenziale Bedingung rechtes Fremdverstehen fiir seine Miiglichkeit voraussetzt.' We have construed 'welche' as referring back to 'Hermeneutik', though this is not entirely clear.
22 'Das Man kann es sich gleichsam leisten, dass "man" sich stiindig auf es beruft.'
