Powered By Blogger

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

B. Tương phản giữa Phân tích Thế gian của chúng ta và Diễn giải Thế giới của Descartes

Trong tranh luận về các nguyên tắc, người ta không chỉ phải bám vào những luận điểm có thể nắm bắt được bằng doxographic mô tả quan điểm; người ta cũng phải rút ra định hướng của mình từ xu hướng khách quan của vấn đề, ngay cả khi nó không vượt ra ngoài một cách tiếp cận khá thông thường. Trong học thuyết về res cogitans vật tư duy và res extensa vật có quảng tính, Descartes không chỉ muốn tạo dựng vấn đề về cái ‘Tôi’ và thế giới’; ông tuyên bố đã giải quyết nó một cách triệt để. Tác phẩm Trầm tư của ông đã làm rõ điều này. (Đặc biệt là Trầm tư I và VI.) Bằng cách lấy định hướng bản thể học cơ bản của mình từ các nguồn truyền thống và không đưa nó vào phê phán thực chứng, ông ta đã khiến việc làm sáng tỏ bất kỳ vấn đề bản thể học nguyên thủy nào về Dasein trở nên bất khả thi; điều này chắc chắn đã cản trở tầm nhìn của ông về hiện tượng thế giới, và đã khiến cho bản thể luận của ‘thế giới’ bị thu hẹp lại thành bản thể luận của một số thực thể nhất định bên trong thế giới. Phần thảo luận trước đó lẽ ra đã chứng minh điều này.

Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng ngay cả khi trên thực tế cả vấn đề về thế giới và Hữu thể của các thực thể mà chúng ta gặp trong môi trường gần gũi nhất vẫn còn bị che giấu, thì Descartes vẫn đã đặt nền tảng cho việc mô tả về mặt bản thể luận là thực thể bên-trong-thế- giới mà trên đó, trong chính Hữu thể của nó, mọi thực thể khác đều được xây dựng – đó là Bản chất vật chất. Đây sẽ là tầng cơ bản mà trên đó tất cả strata of actuality các tầng hiện thực khác bên-trong-thế-giới được xây dựng. Cái Vật thể có quảng tính như vậy sẽ đóng vai trò, trước hết, là nền tảng cho những đặc điểm xác định vốn chắc chắn thể hiện ra như những phẩm chất, nhưng ‘về bản chất’ lại là những sửa đổi định lượng của các phương thức của chính cái extensio quảng tính đó. Những phẩm chất này, bản thân chúng có thể quy giản, sẽ tạo nền tảng cho những phẩm chất cụ thể như ‘đẹp’, ‘xấu’, ‘phù hợp’, [tr.132] ‘không phù hợp’, ‘hữu ích’, ‘vô ích’. Nếu người ta chủ yếu hướng đến Thinghood/Dinglichkeit Vật tính, thì những phẩm chất vật tính đó phải được coi là những vị ngữ giá trị không thể định lượng, nhờ đó cái mà ban đầu chỉ là một Sự vật vật chất, được đóng dấu là cái gì đó tốt. Nhưng với sự phân tầng này, chúng ta đi đến những thực thể đã mô tả về mặt bản thể học như là thiết bị sẵn có. Do đó phân tích Descartes về ‘thế giới’ sẽ lần đầu cho phép xây dựng một cách chắc chắn cấu trúc của những gì sẵn có để dùng; tất cả những gì cần làm là hoàn thiện cái Sự vật của Tự nhiên cho đến khi nó trở thành một Sự vật hữu ích hoàn chỉnh, và điều này rất dễ thực hiện.

Nhưng hoàn toàn tách biệt khỏi vấn đề cụ thể của chính thế giới, liệu cái Hữu thể của những gì chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi bên-trong-thế-giới có thể được tiếp cận về mặt bản thể học bằng quy trình này hay không? Khi chúng ta nói về tính Vật thể, chẳng phải chúng ta đã ngầm giả định một loại Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri thường trực của Sự vật - thay vì vốn được hoàn thiện về mặt bản thể học sau đó bằng cách gán cho các thực thể những đặc tính giá trị, mà chính những đặc tính-giá trị này lại chỉ là những đặc điểm ontic thực hữu của những thực thể có loại Hữu thể mà Sự vật sở hữu? Việc thêm vào các đặc tính giá trị không thể cho chúng ta biết bất cứ điều gì mới mẻ về Hữu thể của vật chất, mà chỉ đơn thuần giả định rằng vật chất hiện-diện-vô-tri thuần túy với tư cách là loại Hữu thể của chúng. Khi đó, các giá trị sẽ là những đặc điểm xác định mà một Vật sở hữu, và chúng sẽ hiện-diện-vô-tri. Nguồn gốc bản thể học tối thượng duy nhất của chúng sẽ nằm ở việc chúng ta trước đó đã đặt ra tính hiện thực của Sự vật như là tầng nền tảng. Nhưng ngay cả kinh nghiệm tiền hiện tượng luận cũng cho thấy rằng trong một thực thể được cho là một Sự vật, có điều gì đó sẽ không thể hiểu đầy đủ chỉ thông qua Thinghood Vị thế Sự vật. Do đó, Hữu thể của các Sự vật cần phải được làm rõ hơn.

Vậy thì, Hữu thể của các giá trị hay ‘tính hợp lệ’ của chúng (mà Lotze coi là một phương thức ‘khẳng định’) thực sự có ý nghĩa gì về mặt bản thể học? Và việc các Sự vật được ‘đầu tư’ các giá trị theo cách này có ý nghĩa gì về mặt bản thể luận? Chừng nào những vấn đề này còn mơ hồ, thì việc tái cấu trúc Sự vật hữu dụng theo khuôn khổ Sự vật Tự nhiên là một việc làm đáng nghi vấn về mặt bản thể luận, ngay cả khi người ta bỏ qua cách mà vấn đề đã bị xuyên tạc về nguyên tắc. Và nếu chúng ta tái cấu trúc Sự vật hữu dụng này, thứ được cho là đến với chúng ta ngay từ đầu ‘trần trụi’, thì điều này chẳng phải luôn đòi hỏi chúng ta cần có cái nhìn tích cực trước đó về hiện tượng mà toàn bộ tính chất của nó được khôi phục bằng tái cấu trúc này hay sao? Nhưng nếu chúng ta chưa đưa ra lời giải thích thích đáng trước đó về trạng thái Hữu thể tối thượng của nó, thì chẳng phải chúng ta đang xây dựng công cuộc tái cấu trúc của mình mà không có kế hoạch sao? Bởi vì sự tái cấu trúc và ‘hoàn thiện’ bản thể luận truyền thống về ‘thế giới’ này dẫn đến việc chúng ta đạt được những thực thể giống như những thực thể mà chúng ta đã bắt đầu khi phân tích tình-trạng-sẵn-có-để-dùng của thiết bị và tổng thể các mối liên hệ [tr.133], thì dường như Hữu thể của các thực thể này thực sự đã được làm rõ hoặc ít nhất đã trở thành một vấn đề. Nhưng bằng cách coi extensio quảng tính là aproprietas một thuộc tính, Descartes khó có thể đạt được Hữu thể của bản chất; và bằng cách nương náu trong các đặc trưng-‘giá trị’, chúng ta cũng ở cách xa với việc thậm chí chỉ thoáng thấy được Hữu thể như là tình-trạng-sẵn-có-để-dùng, chứ đừng nói đến việc cho phép nó trở thành một chủ đề bản thể luận.

Descartes đã thu hẹp câu hỏi về thế giới xuống còn câu hỏi về Naturdinglichkeit Tình trạng Sự vật Tự nhiên với tư cách là những thực thể trong thế giới có thể tiếp cận gần gũi. Ông đã khẳng định quan điểm là việc nhận biết một thực thể trong cái được cho là cách thức ontic thực hữu nghiêm ngặt nhất là con đường duy nhất có thể để chúng ta tiếp cận với Hữu thể chính yếu của cái thực thể mà tri ​​thức đó tiết lộ. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng phải có sự thấu hiểu để thấy rằng về nguyên tắc, các cách thức ‘hoàn thiện’ Thing-ontology bản thể luận-Sự-vật cũng hoạt động trên cùng một cơ sở giáo điều như thứ mà Descartes đã áp dụng. Chúng ta đã ám chỉ trong Phần 14 rằng việc bỏ qua thế giới và những thực thể mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi không phải là ngẫu nhiên, không phải là một sự sơ suất dễ dàng sửa chữa, mà nó bắt nguồn từ một loại Hữu thể về bản chất thuộc về tự thân Dasein. Khi việc phân tích Dasein của chúng ta đã làm sáng tỏ những cấu trúc chính của Dasein có tầm quan trọng nhất trong khuôn khổ vấn đề này, và khi chúng ta đã gán cho khái niệm Hữu thể nói chung cái chân trời mà trong đó khả năng hiểu biết của nó trở nên khả thi, sao cho tình-trạng-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri cũng trở nên có thể hiểu được về mặt bản thể luận một cách nguyên thủy lần đầu tiên, thì chỉ khi đó, phê phán của chúng ta đối với bản thể luận Cartesian về thế giới (một bản thể luận mà về nguyên tắc vẫn là bản thể luận thông thường ngày nay) mới có thể đạt được giá trị triết học của riêng nó. Để làm được điều này, chúng ta phải chỉ ra một số thứ. (Xem Phần Một, Mục Ba.)1 1) Tại sao hiện tượng thế giới lại bị bỏ qua ở đầu truyền thống bản thể luận có tính quyết định đối với chúng ta (rõ ràng là trong trường hợp của Parmenides), và tại sao thực trạng bỏ qua này lại liên tục lặp lại? 2). Tại sao, thay vì hiện tượng bị bỏ qua như vậy, các thực thể bên trong thế giới lại can thiệp như một chủ đề bản thể luận?2 3) Tại sao những thực thể này lại được tìm thấy đầu tiên trong ‘Tự nhiên’? 4) Tại sao lại phải viện đến hiện tượng giá trị khi dường như cần thiết để hoàn thiện một bản thể luận về thế giới như vậy?

[Tr.134] Trong câu trả lời cho những câu hỏi này, lần đầu tiên chúng ta sẽ đạt được sự hiểu biết tích cực về vấn đề của thế giới, nguồn gốc của việc chúng ta không nhận ra được vấn đề đó sẽ được phơi bày, và cơ sở để bác bỏ bản thể luận truyền thống về thế giới sẽ được chứng minh. Thế giới, Dasein và các thực thể bên-trong-thế-giới là những trạng thái cấu thành bản thể luận gần gũi nhất với chúng ta; nhưng không có gì đảm bảo rằng chúng ta có thể đạt được cơ sở để tiếp cận những điều này như những hiện tượng bằng quy trình có vẻ hiển nhiên là bắt đầu từ các Sự vật của thế giới, càng không phải bằng cách lấy định hướng từ những gì được cho là tri ​​thức chặt chẽ nhất về các thực thể. Những quan sát của chúng ta về Descartes lẽ ra phải mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc này. Nhưng nếu chúng ta nhớ rằng tính không gian rõ ràng là một trong những thành phần cấu tạo của các thực thể trong thế giới, thì cuối cùng phân tích của Descartes về ‘thế giới’ vẫn có thể được ‘cứu vãn’. Khi Descartes cấp tiến đến mức thiết lập extensio quảng tính như là praesuppositum một giả định cho mọi đặc điểm xác định của res corporea ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’, ông đã mở đường cho sự hiểu biết về một cái gì đó tiên nghiệm mà nội dung của nó Kant sẽ thiết lập với sự thấu hiểu sâu sắc hơn. Trong một số giới hạn nhất định, phân tích về extensio quảng tính vẫn độc lập với việc ông bỏ qua việc cung cấp một cách giải thích rõ ràng cho Hữu thể của các thực thể có quảng tính. Có một số lý do hiện tượng học để coi quảng tính là một đặc điểm cơ bản của ‘thế giới’, ngay cả khi bằng cách viện dẫn điều này, cả tính không gian của thế giới lẫn tính không gian của các thực thể mà chúng ta gặp trong môi trường của mình (loại tính không gian được khám phá một cách gần gũi) hay thậm chí cả tính không gian của chính Dasein, đều không thể được hình dung về mặt bản thể học.

C. Hoàn cảnh Môi trường3 và Tính không gian của Dasein

Liên quan đến phác thảo sơ bộ đầu tiên của chúng ta về Hữu thể-trong (Xem Phần 12), chúng ta phải đối chiếu Dasein với một cách tồn tại trong không gian mà chúng ta gọi là Inwendigkeit ‘tính bên trong’. Cách biểu hiện này có nghĩa là một thực thể tự nó được mở rộng thì được bao quanh bởi ranh giới mở rộng của một thứ khác cũng được mở rộng. Das inwendig Seiende Cái thực thể bên trong và thứ bao quanh nó đều hiện-diện-vô-tri trong không gian. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta phủ nhận rằng Dasein có bất kỳ Inwendigkeit ‘tính bên trong’ nào như vậy trong một vật chứa không gian, thì điều này về nguyên tắc không loại trừ việc nó có bất kỳ tính không gian nào cả, mà chỉ đơn thuần giữ cho con đường nhìn thấy loại tính không gian cấu thành nên Dasein luôn rộng mở. Giờ đây cần trình bày rõ về vấn đề này. Nhưng bởi vì bất kỳ thực thể nào bên-trong-thế-giới cũng ở trong không gian, nên tính không gian của nó sẽ có mối liên hệ bản thể học với thế giới. Do đó, chúng ta phải xác định theo nghĩa nào không gian là một thành phần cấu tạo nên thế giới đó, mà thế giới đó lại được đặc trưng như một yếu tố trong cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới. Cụ thể [tr.135], chúng ta phải chỉ ra cái cách thức mà aroundness tình trạng hoàn cảnh của môi trường, tính không gian cụ thể của các thực thể gặp phải trong môi trường, được xây dựng trên worldhood tình trạng thế gian của thế giới, trong khi ngược lại, thế giới, về phần mình, lại không hiện-diện-vô-tri trong không gian. Nghiên cứu của chúng ta về tính không gian của Dasein và cách thức thế giới được xác định về mặt không gian sẽ bắt đầu từ việc phân tích những gì sẵn-có-để-dùng trong không gian bên-trong-thế-giới. Chúng ta sẽ xem xét ba chủ đề: 1. Tính không gian của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới (Mục 22); 2. Tính không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới (Mục 23); 3. Không gian và tính không gian của Dasein (Mục 24).

22. Tính không gian của những thứ Sẵn-có-để-dùng Trong-thế-giới

Nếu không gian cấu thành nên thế giới theo một nghĩa mà chúng ta vẫn chưa xác định được, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi trong đặc điểm bản thể học trước đây về Hữu thể của những gì bên-trong-thế-giới, chúng ta đã phải xem xét điều này như một thứ cũng nằm trong không gian. Tính không gian của những thứ sẵn-có-để-dùng này là một hiện tượng mà chúng ta vẫn chưa nắm bắt được một cách rõ ràng; chúng ta cũng chưa chỉ ra được mối liên hệ của nó với cấu trúc của Hữu thể thuộc về những thứ sẵn-có-để-dùng. Giờ đây đó là nhiệm vụ của chúng ta. Đặc điểm của những thứ sẵn-có-để-dùng mà chúng ta đã đề cập đến đã chạm đến tính không gian của nó đến mức nào? Chúng ta đã nói về những thứ sẵn-có-để-dùng ở gần. Điều này có nghĩa là không chỉ những thực thể mà chúng ta gặp đầu tiên trước bất kỳ thực thể nào khác, mà còn cả những thực thể ‘ở gần’ nữa.4 Những gì sẵn-có-để-dùng trong các giao dịch hàng ngày của chúng ta mang tính chất gần gũi. Nói chính xác hơn, tình trạng gần gũi của thiết bị đã được gợi ý trong thuật ngữ sẵn-có-để-dùng, thể hiện Hữu thể của thiết bị. Mỗi thực thể ‘để-dùng’ đều có một mức độ gần gũi khác nhau, không thể xác định bằng cách đo khoảng cách. Sự gần gũi này tự điều chỉnh theo cách thao tác và sử dụng một cách thận trọng và có ‘tính toán’. Đồng thời, những gì gần gũi theo cách này được thiết lập bởi sự thận trọng trong mối quan tâm, liên quan đến hướng mà thiết bị có thể tiếp cận được bất cứ lúc nào. Khi sự gần gũi của thiết bị được xác định có tính định hướng,5 thì điều này không chỉ có nghĩa là thiết bị có [tr.136] vị trí của nó trong không gian như hiện-diện-vô-tri ở đâu đó, mà còn có nghĩa là với tư cách là thiết bị, về cơ bản nó đã được trang bị và lắp đặt, thiết lập và đặt đúng vị trí. Thiết bị có vị trí của nó, hoặc nó ‘nằm xung quanh’; về nguyên tắc, điều này phải được phân biệt với việc chỉ xuất hiện ngẫu nhiên ở một vị trí không gian nào đó. Khi thiết bị cho một việc gì đó có vị trí của nó, thì vị trí đó tự định nghĩa mình là vị trí của thiết bị đó - như một vị trí trong toàn bộ tổng thể các vị trí được sắp xếp theo hướng với nhau và thuộc về bối cảnh của thiết bị sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường. Vị trí như vậy và đa bội tính của các vị trí như vậy không được hiểu là the where cái ‘ở đâu’ của một Hữu-thể-vô-tri ngẫu nhiên nào đó của các Sự vật. Trong mỗi trường hợp, vị trí là cái ‘ở đó’ hoặc ‘phía xa’ xác định của một thiết bị thuộc về một nơi nào đó. Việc nó thuộc về một nơi nào đó vào thời điểm đó tương ứng với đặc tính thiết bị của những gì sẵn-có-để-dùng; nghĩa là, nó tương ứng với mối quan hệ thuộc về mà những thứ sẵn-có-để-dùng có được đối với toàn bộ thiết bị theo sự liên quan của chúng. Nhưng nhìn chung, cái ‘nơi chốn’ mà toàn bộ các địa điểm cho một bối cảnh thiết bị được phân bổ, là điều kiện cho phép tình trạng thuộc về một nơi nào đó của toàn bộ thiết bị như một thứ có thể được đặt vào. ‘Nơi chốn’ này, thứ cho phép thiết bị thuộc về một nơi nào đó, và thứ mà chúng ta thận trọng giữ trong tầm nhìn phía trước trong các giao dịch quan tâm của mình, chúng ta gọi là ‘vùng’.6

‘Trong vùng của’ không chỉ có nghĩa là ‘theo hướng của’ mà còn nằm trong phạm vi của một thứ gì đó theo hướng đó. Loại địa điểm được cấu thành bởi hướng và khoảng cách7 (và sự gần gũi chỉ là một phương thức của khoảng cách) đã được định hướng về một vùng và được định hướng bên trong nó. Trước tiên, phải khám phá ra một cái gì đó giống như một vùng nếu muốn có bất kỳ khả năng nào để phân bổ hoặc tìm thấy các địa điểm cho toàn bộ thiết bị mà người ta đang có quyền sử dụng một cách thận trọng. Định hướng khu vực của vô số địa điểm thuộc về những thứ sẵn-có-để-dùng tạo nên hoàn cảnh – ‘xung quanh chúng ta’ - của những thực thể mà chúng ta gặp gỡ gần gũi nhất về mặt môi trường. Một đa tính ba-chiều của các vị trí có thể được lấp đầy bằng các Sự vật hiện-hữu-vô-tri thì không bao giờ được đem đến một cách gần gũi. Chiều không gian này vẫn bị che khuất trong không gian của những thứ sẵn-có-để-dùng. Cái ‘ở trên’ là cái ‘trên trần nhà’; cái ‘ở dưới’ là cái ‘trên sàn nhà’; [tr.137] cái ‘ở phía sau’ là cái ‘ở cửa’; tất cả các ‘vị trí’ đều được khám phá và diễn giải một cách thận trọng khi chúng ta thực hiện các giao dịch hàng ngày; chúng không được xác định và phân loại bằng phép đo quan sát không gian. Các vùng không được hình thành đầu tiên bởi các sự vật hiện-diện-vô-tri cùng nhau; chúng luôn luôn sẵn-có-để-dùng ở những vị trí riêng lẻ. Bản thân các vị trí hoặc được phân bổ cho những thứ sẵn-có-để-dùng trong sự quan tâm thận trọng, hoặc chúng ta tình cờ bắt gặp chúng. Do đó, bất cứ thứ gì luôn luôn sẵn-có-để-dùng mà cái Hữu-thể-trong-thế-giới thận trọng tính đến từ trước, đều có vị trí của nó. Cái ‘ở đâu’ của tình trạng sẵn-có-để-dùng đó được xem xét như một vấn đề cần quan tâm, và được định hướng theo phần còn lại của những thứ sẵn-có-để-dùng. Ví dụ, mặt trời, với ánh sáng và hơi ấm được sử dụng hàng ngày, có những vị trí riêng của nó - bình minh, giữa trưa, hoàng hôn, nửa đêm; những vị trí này được phát hiện trong sự quan tâm thận trọng và được xử lý một cách riêng biệt dựa trên những thay đổi về khả năng sử dụng những gì mặt trời ban tặng. Ở đây, chúng ta có một thứ gì đó luôn sẵn-có-để-dùng với tính bất biến đồng nhất, mặc dù nó liên tục thay đổi; các vị trí của nó trở thành những ‘chỉ báo’ nổi bật về các vùng nằm trong đó. Những vùng thiên hà này, dù chưa nhất thiết phải có ý nghĩa địa lý nào, nhưng lại cung cấp trước ‘điểm đến’ cho mọi8 cách thức đặc biệt  để tạo hình cho các vùng mà các địa điểm có thể chiếm giữ. Ngôi nhà có mặt nắng và mặt râm; cách nó được chia thành các ‘phòng’ hướng về những vùng này, và cả sự ‘sắp xếp’ bên trong chúng cũng vậy, theo đặc điểm của chúng như là các trang thiết bị. Ví dụ, nhà thờ và nghĩa trang được bố trí theo hướng mặt trời mọc và lặn - những vùng của sự sống và cái chết, mang tính quyết định đối với chính Dasein về các khả tính Hữu thể tối đa của nó trong thế giới. Dasein, trong chính Hữu thể của nó, có cái Hữu thể này như một kết quả; và mối quan tâm của nó khám phá trước những vùng mà sự tham gia nào đó mang tính quyết định. Việc khám phá trước các vùng này được đồng quyết định bởi toàn bộ các tham gia mà cái sẵn-có-để-dùng, như một thứ được gặp phải, được giải phóng. Tình trạng sẵn-có-để-dùng vốn có của bất kỳ vùng nào như vậy từ trước đều mang tính chất quen thuộc kín đáo, và nó mang tính chất đó theo một nghĩa nguyên thủy hơn cả Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng.9

Bản thân vùng đó chỉ trở nên rõ ràng khi người ta khám phá [tr.138] sự sẵn-có-để-dùng một cách thận trọng và làm như vậy bằng các phương thức quan tâm thiếu sót.10 Thông thường, vùng của một địa điểm không trở nên dễ tiếp cận một cách rõ ràng một cách đúng nghĩa cho đến khi người ta không tìm thấy thứ gì đó ở vị trí của nó. Không gian được khám phá trong Bản thể-trong-thế-giới-thận trọng như tính không gian của tổng thể tính trang thiết bị, luôn thuộc về chính các thực thể như là vị trí của tổng thể tính đó. Bản thân không gian trần trụi vẫn bị che khuất. Không gian đã bị chia thành các nơi trốn. Nhưng tính không gian này có nhất tính riêng của nó thông qua tổng-thể-tính-tham-gia-phù-hợp-với- thế-giới thuộc về cái sẵn-có-để-dùng về mặt không gian. “Môi trường” không tự sắp xếp trong một không gian đã được định sẵn; nhưng cái thế gian cụ thể của nó, trong ý nghĩa của nó, khớp nối bối cảnh của những sự tham gia thuộc về một tổng thể hiện tại của những nơi trốn được phân bổ một cách thận trọng. Thế giới vào thời điểm như vậy luôn bộc lộ tính không gian của không gian thuộc về nó. Việc gặp gỡ cái sẵn-có-để-dùng trong môi trường của nó vẫn khả thi về mặt ontic thực hữu chỉ bởi vì chính Dasein ‘có tính không gian’ liên quan đến Hữu-thể-trong-thế-giới của nó.

23. Tính Không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới

Nếu chúng ta gán tính không gian cho Dasein, thì cái ‘Hữu thể trong không gian’ này rõ ràng phải được hình dung theo loại Hữu thể mà thực thể đó sở hữu. Dasein về bản chất không phải là một Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri; và ‘tính không gian’ của nó không thể biểu thị bất cứ điều gì giống như sự xuất hiện tại một vị trí trong ‘không-gian-thế-giới’, cũng không thể biểu thị cái Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng tại một nơi nào đó. Cả hai đều là những loại Hữu thể thuộc về các thực thể gặp được trong thế giới. Tuy nhiên, Dasein ở ‘trong’ thế giới theo nghĩa nó tương tác với các thực thể gặp được bên-trong-thế-giới, và làm vậy theo cách quan tâm, quen thuộc. Vì vậy, nếu tính không gian thuộc về nó theo bất kỳ cách nào, thì nó chỉ có thể xảy ra nhờ vào cái Hữu-thể-trong ấy. Nhưng tính không gian lại thể hiện các đặc điểm của sự tách rời và tính định hướng.11     

[Tr.139] Khi chúng ta nói về xóa bỏ khoảng cách như một loại Hữu thể mà Dasein có liên quan đến cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó, bằng vào điều đó chúng ta không hiểu bất kỳ điều gì như trạng thái xa cách (hoặc gần gũi) hay thậm chí là một khoảng cách.12 Chúng ta sử dụng thuật ngữ ‘xóa bỏ khoảng cách’* với ý nghĩa vừa chủ động vừa chuyển tiếp. Nó đại diện cho một trạng thái cấu thành Hữu thể của Dasein - một trạng thái mà việc loại bỏ một cái gì đó theo nghĩa cất nó đi chỉ là một phương thức thực tế xác định. ‘Xóa bỏ khoảng cách’* tương đương với việc làm cho sự xa xôi biến mất - tức là làm cho khoảng cách với một thứ gì đó biến mất, đưa nó đến gần.13 Dasein về bản chất là xóa bỏ khoảng cách: nó cho phép bất kỳ thực thể nào được bắt gặp ở gần như chính thực thể đó. Tình trạng xóa bỏ khoảng cách khám phá ra trạng thái xa cách; và khoảng cách, giống như khoảng cách, là một đặc điểm phân loại xác định của các thực thể mà bản chất của chúng không phải là của Dasein. Tuy nhiên, xóa bỏ khoảng cách* là một hiện thực; điều này phải được ghi nhớ. Chỉ khi các thực thể được tiết lộ cho Dasein trong tính xóa bỏ khoảng cách của chúng [Entferntheit], thì ‘tình trạng xa cách’ [Entfernungen] và các khoảng cách liên quan đến những thứ khác mới trở nên có thể tiếp cận được trong chính các thực thể bên-trong-thế-giới. Hai điểm cũng ít tách rời nhau với tư cách hai Sự vật, vì không loại thực thể nào trong đó có loại Hữu thể khiến nó có thể tách rời. Chỉ có một khoảng cách có thể đo được giữa chúng, có thể bắt gặp trong quá trình tách rời của mình.

Về cơ bản và phần lớn, xóa bỏ tách rời14 là một sự thận trọng [tr.140] mang lại sự gần gũi - mang một cái gì đó gần lại, theo nghĩa có được nó, đặt nó vào trạng thái có sẵn, có nó để dùng. Nhưng một số cách thức mà các thực thể được khám phá theo lối thuần túy nhận thức cũng có đặc điểm là đưa chúng gần lại. Ở Dasein có một xu hướng thiết yếu hướng tới trạng thái gần gũi. Tất cả các cách mà chúng ta đẩy nhanh mọi thứ, như ngày nay chúng ta ít nhiều bị buộc phải làm, đều thúc đẩy chúng ta hướng tới việc chinh phục trạng thái xa cách. Ví dụ, với ‘đài phát thanh’, Dasein đã mở rộng môi trường hàng ngày của nó đến mức nó đã thực hiện được việc xóa bỏ tình trạng tách rời của ‘thế giới’ - một sự xóa bỏ tình trạng tách rời mà, theo nghĩa của nó đối với Dasein, vẫn chưa thể hình dung được. Xóa bỏ tình trạng tách rời không nhất thiết ngụ ý bất kỳ sự đánh giá rõ ràng nào về danh tiếng của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trong mối quan hệ với Dasein. Trên hết, trạng thái xa cách* không bao giờ được coi là khoảng cách. Nếu tình trạng vô danh tính cần được ước lượng, thì điều này được thực hiện tương đối so với tình trạng xóa bỏ khoảng cách mà sự tồn tại hàng ngày của Dasein tự duy trì. Mặc dù kiểu ước lượng này có thể không chính xác và thay đổi nếu ta cố gắng tính toán, nhưng trong đời sống thường nhật của Dasein, chúng lại có tính xác định riêng, hoàn toàn dễ hiểu. Ta nói rằng đi đến đằng kia là ‘một quãng đường đi bộ dễ dàng’, ‘một cung đá ném’, hoặc ‘một điếu thuốc tàn’.

Những thước đo này không chỉ thể hiện rằng chúng không nhằm mục đích ‘đo lường’ bất cứ điều gì, mà còn cho thấy khoảng cách* được ước lượng ở đây thuộc về một thực thể nào đó mà ta tiếp cận với sự thận trọng. Nhưng ngay cả khi ta sử dụng một thước đo cố định và nói ‘mất nửa tiếng sẽ đến nhà’, thì thước đo này cũng phải được coi là một ước lượng. ‘Nửa tiếng’ không phải là ba mươi phút, mà là một khoảng thời gian không có ‘độ dài’ nào theo nghĩa của một khoảng cách định lượng. Khoảng thời gian như vậy luôn được hiểu theo những cách thức quen thuộc hàng ngày mà ta Besorgungen ‘chuẩn bị’. Tình trạng xa cách* được ước tính gần bằng sự thận trọng, ngay cả khi người ta khá quen thuộc với các phép đo được tính toán ‘chính thức’. Vì những gì bị tách rời trong các ước tính như vậy là sẵn-có-để-dùng, nên nó vẫn giữ đặc tính của nó như là nằm trong-thế-giới cụ thể. Điều này thậm chí ngụ ý rằng con đường chúng ta đi tới các thực thể bị tách rời trong quá trình giao dịch của mình sẽ thay đổi về độ dài từ ngày này sang ngày khác. Những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường chắc chắn không phải là hiện-diện-vô-tri đối với một người quan sát vĩnh hằng không bị ảnh hưởng bởi Dasein: nhưng nó được bắt gặp trong sự quan tâm thận trọng hàng ngày của Dasein. Khi Dasein di chuyển trên con đường của mình, nó không đo lường một khoảng không gian như một Vật thể hữu hình hiện-diện-vô-tri; nó không ‘nuốt chửng các ki-lô-mét’; việc đưa lại gần hoặc xóa bỏ tình trạng tách rời luôn là một loại Hữu thể quan tâm đối với những gì được đưa lại gần và xóa bỏ tách rời. Một con đường dài ‘về mặt khách quan’ có thể ngắn hơn nhiều so với một con đường ‘về mặt Khách quan’ còn ngắn hơn nữa nhưng có lẽ ‘tình trạng khó khăn’ và hiện ra trước mắt chúng ta [tr.141] như một con đường dài vô tận. Tuy nhiên, chỉ trong "sự hiện diện trước mắt chúng ta15 này, thế giới hiện tại mới thực sự sẵn-có-để-dùng. Khoảng cách Khách quan của những Vật thể hiện-diện-vô-tri không trùng khớp với tình trạng xa cách và gần gũi của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới. Mặc dù chúng ta có thể biết chính xác những khoảng cách này, nhưng tri ​​thức này vẫn mù quáng; nó không có chức năng khám phá môi trường một cách thận trọng và đưa nó lại gần; tri ​​thức này chỉ được sử dụng trong và cho một Hữu thể quan tâm vốn không đo lường khoảng cách - một Hữu thể hướng tới thế giới ‘quan trọng’ đối với Dasein.

Khi một kẻ hướng trước tới ‘Tự nhiên’ và khoảng cách được đo lường ‘Khách quan’ của Sự vật, kẻ đó có xu hướng coi những ước tính và diễn giải về tình trạng xóa bỏ tách rời như vậy là có tính ‘chủ quan’. Tuy nhiên, cái ‘chủ thể tính’ này có lẽ khám phá ra cái ‘Thực tại’ của thế giới ở trạng thái Hiện thực nhất của nó; nó không liên quan gì đến tính tùy tiện ‘chủ quan’ hay ‘cách tiếp nhận’ mang tính chủ thể luận một thực thể mà ‘trong tự-thân’ là trái ngược. Việc xóa bỏ tình trạng tách rời có tính thận trọng thường nhật của Dasein cho thấy Hữu-thể-trong-tự-thân của ‘chân-thế giới’ - của cái thực thể mà Dasein, với tư cách là một cái gì đó đang tồn tại, đã hiện hữu bên cạnh.16 Khi một kẻ chủ yếu và thậm chí chỉ hướng tới những khoảng cách xa xôi như được đo lường, thì tính không gian nguyên thủy của Hữu-thể-trong bị che giấu. Cái được cho là ‘gần nhất’ không có nghĩa là cái ở khoảng cách nhỏ nhất ‘so với chúng ta’. Nó nằm ở cái được xóa bỏ tách rời ở mức độ trung bình khi chúng ta với tới, nắm lấy hoặc nhìn vào nó. Bởi vì Dasein về bản chất là mang tính không gian theo cách xóa bỏ tách rời, nên các giao dịch của nó luôn nằm trong một ‘môi trường’ được xóa bỏ tách rời khỏi nó với một khoảng trống nhất định; do đó, việc nhìn và nghe của chúng ta luôn đi gần hơn so với những gì ngoài xa ‘gần nhất’. Nhìn và nghe là những tri giác khoảng cách không phải vì chúng có tầm với xa, nhưng vì chính trong chúng mà Dasein với tư cách là kẻ xóa bỏ tách rời chủ yếu cư ngụ. Ví dụ, khi một người đàn ông đeo một cặp kính ở rất gần anh ta về mặt khoảng cách chỉ ở mức chúng ‘nằm trên mũi’, thì về mặt môi trường, chúng lại xa anh ta hơn cả bức tranh trên bức tường đối diện. Những thiết bị như vậy có khoảng cách nhỏ đến nỗi thường rất khó để nhận thấy chúng ở gần. Thiết bị để nhìn - và tương tự như vậy đối với việc nghe, chẳng hạn như ống nghe điện thoại - có cái mà chúng ta gọi là sự kín đáo của những thứ sẵn-có-để-dùng ở gần. Tương tự như vậy, chính là con phố, như một thiết bị để bộ hành. Kẻ kia cảm nhận được sự tiếp xúc của nó ở mỗi bước chân khi bộ hành; nó dường như là thứ gần gũi và chân thực nhất trong tất cả những thứ sẵn-có-để-dùng, và nó tự trượt đi, như thể [tr.142], dọc theo một số phần cơ thể của kẻ kia – đôi lòng bàn chân của gã. Tuy nhiên, nó lại xa hơn người quen mà kẻ ấy bắt gặp ‘trên phố’ ở một ‘khoảng xa’ hai mươi bộ khi hắn đang rảo bước như vậy.

Sự quan tâm thận trọng quyết định khoảng cách gần và xa của những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường xung quanh. Bất cứ điều gì mà sự quan tâm này tồn tại trước đó bên cạnh đều là thứ gần nhất, và đây là thứ điều chỉnh những cung cách xóa bỏ tách rời của chúng ta. Nếu Dasein, bằng mối quan tâm của mình, đưa một thứ gì đó đến gần, thì điều này không có nghĩa là nó cố định một thứ gì đó ở một vị trí không gian với khoảng cách tối thiểu từ một điểm nào đó của cơ thể. Khi một thứ gì đó ở gần, điều đó có nghĩa là nó nằm trong phạm vi của những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường xung quanh để quan tâm thận trọng. Việc đưa-đến-gần không hướng tới cái Tôi-Vật thể bị ràng buộc bởi một cơ thể, mà hướng tới Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính quan tâm – tức là hướng tới bất cứ điều gì được gặp gỡ một cách gần gũi trong Hữu thể như vậy. Hơn nữa, điều đó có nghĩa là tính không gian của Dasein không được định nghĩa bằng cách viện dẫn vị trí mà một Vật thể hữu hình nào đó hiện-diện-vô-tri. Tất nhiên, chúng ta nói rằng ngay cả Dasein cũng luôn chiếm một vị trí. Nhưng về nguyên tắc, cách ‘chiếm hữu’ này phải được phân biệt với Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng tại một địa điểm trong một vùng cụ thể nào đó. Việc chiếm hữu một địa điểm phải được hiểu là xóa bỏ tách rời khỏi tình trạng-sẵn-có-để-dùng về mặt môi trường thành một vùng đã được khám phá trước một cách cẩn trọng. Dasein hiểu cái ‘ở đây’ của nó theo khuôn khổ ‘ngoài kia’ về mặt môi trường. Cái ‘Ở đây’ không có nghĩa là cái ‘ở đâu’ của một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri, mà là ‘tại nơi’ mà một Hữu-thể-cùng xóa bỏ tách rời, cùng với sự xóa bỏ tách rời này. Dasein, phù hợp với tính không gian, không bao giờ ở gần đây mà ở đàng kia; từ ‘đàng kia’ ấy nó quay trở lại ‘ở đây’; và nó chỉ quay trở lại ‘ở đây’ theo cách mà nó diễn giải Hữu thể quan tâm của mình theo những gì sẵn-có-để-dùng ở xa kia. Điều này trở nên khá rõ ràng nếu chúng ta xem xét một đặc tính hiện tượng nhất định của cấu trúc xóa bỏ tách rời của Hữu-thể-trong.     

Với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein duy trì bản thân về cơ bản trong trạng thái xóa bỏ tách rời. Tình trạng xóa bỏ tách rời này – khoảng xa của cái sẵn-có-để-dùng so với chính Dasein - là điều mà Dasein không bao giờ có thể vượt qua. Tất nhiên, tình trạng xa cách của một thứ sẵn-có-để-dùng so với Dasein có thể biểu hiện như một khoảng cách với nó,17 nếu tình trạng xa cách này được xác định bởi mối quan hệ với một Sự vật nào đó được coi là hiện-diện-vô-tri tại nơi mà Dasein đã từng chiếm giữ. Sau đó, Dasein có thể đi qua ‘khoảng giữa’ của khoảng cách này, nhưng chỉ theo cách mà chính khoảng cách đó trở thành một thứ đã được xóa bỏ tách rời*. Dasein đã vượt qua sự xóa bỏ tách rời của nó rất ít đến nỗi hắn đã mang theo nó và liên tục làm như vậy; vì [tr.143] Dasein về bản chất là sự xóa bỏ tách rời - nghĩa là, nó mang tính không gian. Nó không thể lang thang trong phạm vi hiện tại của sự xóa bỏ tách rời của nó; nó không bao giờ có thể làm gì hơn ngoài việc thay đổi chúng. Dasein có tính không gian ở chỗ nó khám phá không gian một cách thận trọng, do đó nó liên tục tự hành xử theo cách xóa bỏ tách rời* đối với các thực thể gặp được trong không gian đó.

Là một Hữu-thể-trong mang tính xoa bỏ tách rời, Dasein cũng có đặc tính định hướng. Mỗi sự xích lại gần đều đã định trước việc hướng tới một vùng mà từ đó cái bị xoa bỏ tách rời tự xích lại gần, để người ta có thể bắt gặp nó liên quan đến vị trí của nó. Mối quan tâm cẩn trọng là hành động xóa bỏ tách rời mang lại tính định hướng. Trong mối quan tâm này - tức là, trong Hữu-thể-trong-thế-giới của tự thân Dasein - một nguồn cung cấp ‘dấu hiệu’ đã được trình hiện. Các dấu hiệu, như một thiết bị, đảm nhận việc đưa ra các định hướng một cách rõ ràng và dễ thao tác. Chúng giữ cho những vùng đã được sử dụng một cách thận trọng - những hướng ‘đến đâu’ cụ thể mà một cái gì đó thuộc về hoặc đi đến, hoặc được mang đến hoặc lấy đi - được mở ra một cách rõ ràng. Nếu Dasein tồn tại, với tư cách là hướng dẫn và xóa bỏ tách rời, nó đã có vùng được khám phá của riêng nó. Cả tính định hướng và sự xóa bỏ tách rời, với tư cách là các phương thức của Hữu-thể-trong- thế-giới, đều được hướng dẫn trước bởi sự thận trọng của mối quan tâm. Từ tính định hướng này phát sinh các hướng cố định phải và trái. Dasein liên tục mang theo những hướng này, giống như nó thực hiện xỏa bỏ tách rời của nó. Tình trạng không gian hóa của Dasein trong ‘bản chất thể xác’ của nó cũng được đánh dấu theo những hướng này. (Bản chất thể xác này ẩn chứa cả một vấn đề phức tạp riêng, mặc dù chúng ta sẽ không đề cập đến ở đây.) Do đó, những thứ sẵn-có-để-dùng và được sử dụng cho cơ thể - ví dụ như găng tay, được di chuyển cùng với bàn tay - phải được xác định hướng về bên phải và bên trái. Tuy nhiên, các công cụ của người thợ thủ công, được cầm trong tay và di chuyển cùng với nó, không chia sẻ các chuyển động ‘thủ công’ đặc thù của bàn tay. Vì vậy, mặc dù búa được sử dụng bằng tay giống như găng tay, nhưng không có búa dành cho người thuận tay phải hay thuận tay trái.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 Phần này chưa từng được xuất bản.

2 'Warum springt für das übersprungene Phänomen das innerweltlich Seiende als ontologisches Thema ein ?' Trò chơi chữ giữa 'überspringen' ('vượt qua') và 'einspringen' ('can thiệp' hoặc 'đóng vai trò đại diện') bị mất đi trong bản dịch. Về 'einspringen', xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 158, H. 122 bên dưới.

3 'Das Umhajte der Umwelt'. Xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 93, H. 65 ở trên.

4 'in der Nahe.' Mặc dù danh từ 'Nahe' thường có nghĩa là 'sự gần gũi' hoặc 'sự ở gần' của một thứ gì đó gần chúng ta, nó cũng có thể đại diện cho 'vùng lân cận' trực tiếp của chúng ta, như trong cách diễn đạt hiện tại, và trong nhiều đoạn văn, nó có thể được hiểu theo cả hai cách. Nói chung, chúng ta sẽ dịch nó là 'sự gần gũi', nhưng chúng ta sẽ dịch 'in der Nahe' và các cụm từ tương tự là

'gần đó'.

5 'Die ausgerichtete Nahe des Zeugs…' Động từ 'ausrichten' có nhiều nghĩa chuyên biệt - 'sắp xếp' - một hàng quân, 'thăm dò' một mỏ, 'sắp xếp' cho một việc gì đó, 'thực hiện' một nhiệm vụ, v.v. Tuy nhiên, Heidegger luôn ghi nhớ nghĩa gốc của nó và liên kết nó với từ 'Richtung' ('hướng', 'tuyến đường cần đi', v.v.). Do đó, chúng ta sẽ dịch nó theo quy tắc bằng một dạng nào đó của động từ 'direct' (cũng sẽ được sử dụng đôi khi cho động từ 'richten'), hoặc bằng một số cụm từ ghép liên quan đến từ 'directional'. Để thảo luận thêm, xem H. 1 08 ff. bên dưới.

6 'Gegend'. Không có từ tiếng Anh nào hoàn toàn tương ứng với 'Gegend'. 'Khu vực' và 'nơi ở' có lẽ là gần nhất và chúng tôi đã chọn cái trước là thuận tiện hơn. (Bản thân Heidegger thường xuyên sử dụng từ ‘Khu vực’, nhưng ông làm như vậy trong những bối cảnh mà từ ‘cõi’ có vẻ là cách dịch thích hợp nhất; chúng tôi thường dịch nó như vậy, để lại từ ‘khu vực’ trong tiếng Anh cho ‘Gegend’.)

7 'Entferntheit'. Để thảo luận thêm, xem Phần 23 và ghi chú 2, trang 2 của chúng tôi. 138, H. 105.

8 Đọc 'jede' với các phiên bản sau. Những ấn bản đầu tiên có chữ 'je', đã được sửa trong danh sách lỗi.

9 'Die vorgangige Zuhandenheit der jeweiligen Gegend hat in einem noch ursprüngIicheren Sinne als das Sein des Zuhandenen den Charakter der unauffülligen Vertrautheit.' Ở đây cụm từ 'als das Sein des Zuhandenen' được đặt một cách mơ hồ. Theo Mục 16 ở trên, chúng tôi đã giải thích 'als' là 'than' thay vì 'as' và đã coi 'das Sein' là một cách bổ nhiệm hơn là một cách buộc tội. Nhưng những cách đọc khác thì đúng ngữ pháp nhất có thể.

10 'Sie wird selbst nur sichtbar in der Weise des Auffallens bei einem umsichtigen Entdecken des Zuhandenen und zwar in den defizienten Modi des Besorgens.' Câu này cũng mơ hồ quá. Đại từ 'Sie' có thể ám chỉ khu vực, như chúng tôi đã gợi ý, hoặc ám chỉ sự sẵn sàng của nó. Hơn nữa, trong khi chúng ta lấy 'nur sichtbar in der Weise des Auffallens' làm đơn vị, có thể 'in der Weise des Auffallens' nên được hiểu là đi kèm với các từ theo sau. Trong trường hợp này, chúng ta nên đọc: ‘…chỉ trở nên rõ ràng khi nó trở nên nổi bật trong sự khám phá thận trọng của chúng ta về những thứ sẵn có, và thực sự là trong những phương thức quan tâm thiếu sót.’

11 'Errt-fernung urrdAusrichturrg.' Các danh từ 'Entfernung' và 'Entfernheit' thường có thể được dịch là 'loại bỏ', 'sự loại bỏ', 'sự xa cách', hoặc thậm chí là 'khoảng cách'. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, Heidegger đang lưu ý đến thực tế rằng những từ này được bắt nguồn từ

gốc 'fern-' ('xa' hoặc 'xa xôi') và tiền tố phủ định 'ent-'. Thông thường, tiền tố này sẽ được hiểu là chỉ đơn thuần làm tăng cường khái niệm về sự tách biệt hoặc khoảng cách được thể hiện trong 'fern-'; nhưng Heidegger chọn cách hiểu nó theo nghĩa phủ định nghiêm ngặt hơn, do đó động từ 'entfernen' sẽ được hiểu là xóa bỏ khoảng cách hoặc sự xa xôi chứ không phải là tăng cường nó. Dường như chỉ bằng hành động nhận ra sự ‘xa xôi’ của một điều gì đó, chúng ta đã vô tình đưa nó đến gần hơn và làm cho nó bớt ‘xa xôi’ hơn. Có vẻ như không có từ nào trong tiếng Anh có cấu trúc từ nguyên hoàn toàn song song với từ ‘entfernen’; có lẽ ‘dissever’ là gần nhất, vì đây cũng là một động từ chỉ sự tách rời, trong đó tiền tố phủ định được sử dụng như một từ nhấn mạnh. Chúng tôi đã tạo ra động từ tương tự ‘desever’ với hy vọng rằng điều này sẽ gợi ý ý nghĩa của Heidegger khi ‘remove’ và các từ phái sinh của nó dường như không phù hợp. Nhưng với ‘desever’, người ta không thể dễ dàng chuyển đổi qua lại giữa các nghĩa khác nhau như với ‘entfernen’; vì vậy chúng tôi đã phải dùng đến cách sử dụng cả ‘desever’ và ‘remove’ cùng các từ phái sinh của chúng, tùy thuộc vào nghĩa mà chúng tôi cảm thấy được muốn truyền đạt. Do đó, ‘entfernen’ thường được dịch là ‘remove’ hoặc ‘desever’, ‘entfernt’ là ‘remote’ hoặc ‘desevered’. Vì Heidegger cẩn thận phân biệt giữa 'Entfernung' và 'Entferntheit', nên chúng ta thường dịch chúng lần lượt là 'sự tách rời' và 'sự xa cách'; trong một vài trường hợp hiếm hoi mà những bản dịch này không phù hợp, chúng ta sẽ thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn. Vấn đề của chúng ta càng trở nên phức tạp hơn bởi thói quen của Heidegger là thỉnh thoảng đặt dấu gạch ngang sau tiền tố 'ent-', có lẽ để nhấn mạnh tính chất phủ định của nó. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta sẽ viết 'de-sever', 'de-severance', v.v. Tuy nhiên, thật không may, có những sự khác biệt về mặt in ấn giữa các ấn bản đầu và sau này. Một số dấu gạch ngang trong các ấn bản đầu tiên xuất hiện ở cuối dòng và đã bị bỏ sót một cách cố ý hoặc vô tình khi sắp chữ; một số xuất hiện ở cuối dòng trong các ấn bản sau này, nhưng không có trong các ấn bản đầu tiên; những dấu gạch ngang khác lại có vị trí này trong cả hai ấn bản. Chúng ta sẽ đánh dấu mỗi trường hợp mơ hồ này bằng dấu hoa thị, chỉ thêm dấu gạch ngang nếu có lý do chính đáng để làm như vậy. Về 'Ausrichtung', xem chú thích 2 của chúng tôi, trang 135, H. 102 ở trên.

12 'Abstand'. Heidegger sử dụng ba từ có thể được dịch là 'khoảng cách': 'Ferne' (sự 'xa xôi' của chúng ta), 'Entfernung' (sự 'tách rời' của chúng ta), và 'Abstand' ('khoảng cách' theo nghĩa là một khoảng đo được). Chúng ta sẽ dành từ 'khoảng cách' cho 'Abstand'.

13 'Entfernen* besagt ein Verschwindenmachen der Ferne, d. h. der Entferntheit von etwas, Naherung.'

14 Dấu gạch ngang này chỉ được tìm thấy trong các ấn bản sau này.

15 'vorkommt' ;  ‘Vorkommen’. Nói chung, 'vorkommen' có thể được dịch là 'xảy ra', và được hiểu là chỉ áp dụng nghiêm ngặt cho hiện tại. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, nó được áp dụng cho những thứ sẵn có; và cần một bản dịch lưu ý đến cấu trúc từ nguyên của nó.

16 ‘Das wnsichtige Ent-fernen tkr Alltüglichkeit rks Daseins enttkckt das An-sich-sein tkr ‘wahrm Welt’, des Seientkn, bei dem Dasein als exief'mtksje schon ist.'

17 ‘…kann zwar selbst von dieem als Abstand vorfindlich cai ngục…’

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét