Powered By Blogger

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

Báo cáo Tham vấn Đánh giá Chiến lược Môi trường và Xã hội (SESA)

Báo cáo Tham vấn Đánh giá Chiến lược Môi trường và Xã hội (SESA) tại Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Thanh Hóa (từ ngày 04/11/2015 đến ngày 20/11/2015)

(Dự án Hỗ trợ Chuẩn bị Sẵn sàng Thực hiện REDD+ ở Việt Nam)

TS. Hà Hữu Nga: Chuyên gia tư vấn trong nước về xã hội học - Thời gian huy động: tháng 11/9/2015 đến 25/11/2015

Contract No.:               33/FCPF-ODA-IC (IC-28)

I. MỤC ĐÍCH CỦA CÁC ĐỢT THỰC ĐỊA

Thực hiện nghiên cứu, đánh giá, tham vấn với các bên liên quan cấp tỉnh, huyện, xã, thôn bản và người dân về tác động về kinh tế - xã hội tiềm tàng trong quá trình thực hiện các hoạt động REDD+ trong khuôn khổ Chương trình giảm phát thải (ER-P); trợ giúp đánh giá mức độ tham gia của các cộng đồng DTTS, trợ giúp đánh giá năng lực thể chế; tham vấn phát hiện các vấn đề với các cấp huyện, xã, thôn, các NGO và các bên liên quan; giúp phân tích giới tại ba tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế và Thanh Hóa.

II. VỊ TRÍ VÀ THỜI GIAN ĐI THỰC ĐỊA

1. Thời gian: Thời gian làm việc từ ngày 04 đến ngày 20 tháng 11 năm 2015 (14 ngày kể cả thời gian đi lại và ngày nghỉ - Chương trình chi tiết đính kèm theo báo cáo).

2. Địa điểm làm việc: Ba tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị và Thanh Hóa.

III. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

- Tham vấn, trao đổi có sự tham gia với các bên liên quan các cấp (tỉnh, huyện, xã, thôn) về những nội dung như công tác giao đất giao rừng, tình hình dân tộc thiểu số, tình hình đói nghèo/sinh kế/an ninh lương thực; thực trạng kinh tế-xã hội của cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng; công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; vai trò/chức năng/nhiệm vụ của các BQL rừng phòng hộ/đặc dụng,…

- Tham quan, khảo sát hiện trạng đời sống và hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số ở các thôn bản. Khảo sát các vấn đề về giới trong các cộng đồng DTTS và người Kinh có liên quan.

IV. KẾT QUẢ CHỦ YẾU

- Nắm được tình hình sử dụng đất đai; công tác giao đất giao rừng; công tác quản lý và bảo vệ rừng; chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quản lý của các BQLRPH/KBTTN; hoạt động khai thác và sử dụng rừng và lâm sản;

- Nắm được tổng quan tình hình kinh tế, xã hội, môi trường của cộng đồng thôn bản đến tham quan, khảo sát;

- Hiểu về nguyện vọng về giao đất giao rừng, cấp GCN quyền sử dụng đất, hoạt động phát triển sinh kế,… của đồng bào dân tộc thiểu số;

- Hiểu về những thách thức/nguy cơ trong quá trình thực hiện các hoạt động REDD+ tại địa phương.

- Nắm bắt các vấn đề về thể chế, các vấn đề giới có liên quan.

V. TÓM TẮT CÁC HOẠT ĐỘNG

Làm việc với các bên liên quan ở địa phương về đánh giá tác động về xã hội và môi trường từ việc thực hiện Chương trình giảm phát thải về những nội dung như công tác giao đất giao rừng, tình hình dân tộc thiểu số, tình hình đói nghèo/sinh kế/an ninh lương thực; thực trạng kinh tế-xã hội của cộng đồng người dân (đặc biệt dân tộc thiểu số) sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng; công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; vai trò/chức năng/nhiệm vụ của các BQL rừng phòng hộ/đặc dụng; tham vấn về các vấn đề thể chế, các vấn đề về giới; đánh giá mức độ tham gia của các cộng đồng DTTS và các cộng đồng người Kinh liên quan…Những nội dung tham vấn cụ thể như sau:

1. Làm việc với NGO “Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn quản lý Tài nguyên”

- Trung tâm này có trụ sở tại 38 - Nguyễn Cư Trinh, thành phố Huế. Đây là một NGO đã tham gia nhiều hoạt động liên quan đến đánh giá các rủi ro liên quan đến việc khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên; xây dựng các biện pháp giảm thiểu các rủi ro liên quan đến các nguồn tài nguyên. Trung tâm chủ yếu hoạt động tại các vùng DTTS của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, đặc biệt là các dự án về lâm nghiệp xã hội. Tại các địa phương như Nam Đông, A Lưới (Thừa Thiên Huế), Tây Giang (Quảng Nam), và Đak Rông, Hướng Hóa (Quảng Trị) họ đã xây dựng được các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng người DTTS địa phương.   

2. Xã Hướng Linh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

- Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 11.466,5ha. Toàn xã có 7 thôn với tổng số 464 hộ/2.105 nhân khẩu (trong đó nam giới 1.218 người chiếm 57,86%, nữ giới 887 người chiếm 42,14%). Có 4/7 thôn tái định cư từ công trình thủy điện Rào Quán từ năm 2008. Thành phần dân tộc chính là Vân Kiều 457 hộ/2.082 khẩu, Kinh 6 hộ/20 khẩu, và Thái 1 hộ/3 khẩu.

2.1. Về sinh kế:

- Hầu hết các thôn trong xã là các thôn tái định cư thủy điện Rào Quán từ năm 2006; Thủy điện Rào Quán chi trả dịch vụ môi trường từ năm 2014 với mức giá 400.000 đồng/ ha; tổng số tiền cả xã nhận được là 50 triệu đồng, cho 38 hộ thuộc thôn Xa Bai.

- Các hoạt động chủ yếu là làm lúa nước, chăn nuôi và trồng rừng; việc sống dựa vào rừng bằng khai thác lâm sản ngoài gỗ chỉ ở mức độ thấp với mây, tre, măng, nấm, mật ong, cây thuốc, vỏ cây bời lời đỏ bán làm hương liệu để sản xuất nhang.

2.2. Về sự tham gia của già làng trong giải quyết tranh chấp đất đai:

- Trên địa bàn xã có một vài trường hợp tranh chấp ranh giới đất đai, nhưng đã được giải quyết bằng phương pháp hòa giải, do UBND xã tổ chức, có ghi biên bản cẩn thận; trong hòa giải này già làng không có tiếng nói quyết định như ngày trước; tuy nhiên già làng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục người dân và chính quyền cơ sở.

- Cũng có một cuộc tranh chấp giữa một hộ thuộc thôn Miệt cũ với BQL Rừng phòng hộ Đak Rông; tại khu vực này, hộ gia đình đã sản xuất từ lâu, nhưng BQL Rừng phòng hộ không bóc tách được phần đất của hộ gia đình nên đã gộp chung vào diện tích rừng phòng hộ; gia dình đó không đồng ý; vì vậy hiện BQL vẫn để cho người dân tiếp tục sản xuất, nhưng không cấp sổ đỏ cho họ.  

2.3. Về vấn đề giới:

- Trước đây tình trạng cãi cọ trong các gia đình trung niên xảy ra thường xuyên, nhưng nay các cặp vợ chồng trẻ ít mâu thuẫn, xung đột; tuy vẫn còn hiện tượng say rượu, đánh vợ, nhưng rất ít.

- Trong các gia đình, phụ nữ vẫn phải lao động với lượng thời gian dài hơn: họ thường phải đi ngủ muộn hơn và thức dậy sớm hơn đàn ông hàng tiếng để chuẩn bị các công việc nội trợ, trong khi vẫn là lao động chính như đàn ông.

- Đàn ông ít giúp vợ việc nhà, mà chủ yếu là kiếm tiền bằng cách đi làm thuê cho các gia đình khá giả, chủ yếu là các công việc lien quan đến trồng rừng, khai thác rừng, trồng các hoa màu để bán, nhất là sắn.

- Trẻ em gái trong vùng thường bỏ học sớm, khi chưa kết thúc cấp trung học cơ sở;

- Tỷ lệ mù chữ ở phụ nữ thuộc độ tuổi trung niên (từ 35 - 50 tuổi) rất cao, đến 70%; vì vậy việc tham gia của phụ nữ vào các hoạt động chung trở nên khó khăn, do không đọc được các tài liệu bằng chữ viết.

- Họp hành chủ yếu sử dụng tiếng Vân Kiều, chỉ sử dụng tiếng Kinh khi có sự tham gia của người ngoài cộng đồng. Cán bộ người Kinh trong xã hiểu tiếng Vân Kiều rất hạn chế, chỉ khoảng 15%, đó cũng là một hạn chế cho công tác quản lý của họ;

- Cả xã có 5/23 (21.73%) cán bộ xã là nữ thuộc người Vân Kiều, họ đều ở độ tuổi dưới 30, trong số đó có 3 người tốt nghiệp trung cấp; 2 người đang theo học đại học tại chức.   

 2.4. Sự tham gia của các hội đoàn khác:

- Đoàn thanh niên chỉ có các hoạt động tham gia chung vào công tác trồng rừng; các hoạt động của đoàn trong khuyến nông, khuyến lâm không có vai trò độc lập, mà được lồng ghép vào các hoạt động của hộ gia đình.

2.5. Sự tham gia của người dân vào các hoạt động liên quan đến rừng và dịch vụ:

- Việc tham vấn người dân cho biết: khoảng 20 năm trước, rừng già còn nhiều và đất đai màu mỡ nên người dân không quan tâm nhiều đến việc phải bón phân hoặc các biện pháp công nghệ khác, mà chỉ làm rừng và canh tác theo các phương pháp tham gia truyền thống, nhất là cách làm vần công (đổi công) khi mùa vụ bận rộn;

- Việc tham gia vào các hoạt động kinh doanh của người DTTS Vân Kiều rất yếu, cả xã chỉ có 5 hộ biết làm dịch vụ, thông qua hoạt động buôn bán tạp hóa như kẹo, thuốc lá, bia; trung bình một năm thu được 10 - 15 triệu đồng. Mạng lưới dịch vụ ở xã chủ yếu do người Kinh chi phối; thường có 5 - 7 thương lái Kinh từ Đông Hà vào mua các hàng nông lâm sản của người dân địa phương; không có ép giá hoặc lừa đảo về giá cả.

- Tuy ở gần cửa khẩu Lao Bảo, nhưng người dân không được hưởng lợi từ cửa khẩu này, ngay cả công việc nặng nhọc như làm bốc vác hàng hóa thì người Vân Kiều cũng không thể cạnh tranh được.

- Về vốn xã hội trong tham gia thì người Vân Kiều có mạng lưới xã hội chủ yếu trong cộng đồng tộc người, nhưng cũng khá hạn chế; cả xã chỉ có 3 hộ có họ hàng bên Lào, nhưng họ cũng không có bất cứ hoạt động kinh tế chung nào giữa hai bên.

2.6. Nhu cầu của xã trong các hoạt động liên quan đến rừng:

- Kết quả tham vấn cho biết chính quyền xã và người dân cần có kinh phí cho việc tham gia bảo vệ rừng, mà cụ thể là chi phí cho Tổ bảo vệ rựng;

- Cán bộ và người dân cần được nâng cao năng lực tham gia thông qua tập huấn, hội thảo, tuyên truyền và cung cấp các thông tin liên quan đến việc bảo vệ rừng;

- Đề nghị hỗ trợ phân bón, giống, và nhất là vốn cho các hoạt động trồng rừng;

- Đối với phụ nữ, cần có các lớp tập huấn nhằm thay đổi tập quán, nâng cao kiến thức chăm sóc cây con và quản lý - phát triển kinh tế hộ gia đình dựa vào rừng;

- Mức độ hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ rừng theo người dân nên là 500.000 đồng/ha.

2.7. Thôn Hoong, xã Hướng Linh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

- Cả thôn có 81 hộ với 389 nhân khẩu, trong đó có 3 hộ người Kinh, còn lại là người Vân Kiều. Tỷ lệ đói nghèo chiếm 50% (trong đó 36 hộ nghèo và 5 hộ cận nghèo). Có khoảng 20 hộ thiếu đói 3 tháng/ năm, 2-3 hộ thiếu đói 6 tháng/ năm (là những hộ mới tách không có đất sản xuất). Các hộ này hàng năm được hưởng chế độ cứu đói của Chính phủ 15kg gạo/ khẩu/ năm. Cả thôn có 9 hộ do nữ làm chủ hộ.

- Sinh kế của người dân trong thôn chủ yếu dựa vào trồng keo; cả thôn có 50 hộ đã có sản phẩm keo để bán; được giá thì đến 50 triệu đồng / ha (với trường hợp keo 6-7 tuổi); khi được hỏi thì người dân cho rằng trồng sắn bán vẫn là có lãi nhất, hơn cả chăn nuôi trâu bò, lý do là hiện nay do cấp đất cho các hộ gia đình cho nên không còn diện tích phục vụ cho việc chăn thả nữa;

- Trong thôn vẫn còn 40 hộ làm lúa rẫy, diện tích trung bình là 6 sào/ hộ (1 sào = 500m2), năng suất khoảng 120 kg/sào; bình quân diện tích lúa ruộng cũng khoảng 3000m2/ hộ, năng suất là 200 kg/sào; nói chung người dân hầu như không bón phân cho lúa, vì họ giải thích là không có tiền mua phân bón; hơn nữa, tập quán của người DTTS địa phương là không sử dụng phân bón cho lúa và hoa màu. Các DA đều xây dựng các mô hình tập huấn, nhưng người dân vẫn không từ bỏ tập quán truyền đời này.  

- Nghề thủ công của người DTTS địa phương vẫn còn được giữ gìn, chủ yếu là hoạt động đan lát, cụ thể là đan gùi bán cho nhau và bán cho người Tà Ôi ở A Lưới (Thừa Thiên Huế), hộ đan giỏi nhất là Hồ Bình thì có thể thu được khoảng 4 - 5 triệu đồng/ năm.

- Phụ nữ thôn Hoong còn giữ được nghề thuốc cổ truyền chữa được các bệnh dạ dày, sỏi thận, đó là trường hợp bà Hồ Thị Phần, còn gọi là bà Pỉ Dương, bà chỉ chữa giúp người bệnh, nếu lành bệnh thì mới nhận trả lễ có thể bằng hiện vật (gà, rượu,) hoặc tiền mặt (thường từ 200 đến 500 nghìn đồng); trung bình một năm bà thu được 10 triệu đồng;

- Người dân thôn Hoong cho biết về cơ bản phụ nữ và nam giới đều bình đẳng, vì đã được học tập nhiều về bình đẳng giới; tất cả mọi phụ nữ trong thôn đều thong thạo tiếng Kinh (vì thôn Hoong nằm ở trung tâm xã nên giao thiệp và học hành dễ dàng hơn); tuy nhiên vẫn có đến 50% phụ nữ ở độ tuổi trung niên trở lên mù chữ.

- Người dân thôn Hoong được các dự án hỗ trợ, bao gồm Dự án Tầm nhìn Thế giới hỗ trợ chăn nuôi bò, mở câu lạc bộ đọc sách, câu lạc bộ dinh dưỡng; tập huấn trồng lúa nước; tập huấn chống bão lụt; bên cạnh đó còn có Dự án BCC hỗ trợ trồng rừng theo nhu cầu đăng ký của hộ gia đình, sau đó Dự án xác định bằng cách đo diện tích, để trợ giúp; người dân chủ yếu (100%) đăng ký trồng keo lá tràm.

- Về tranh chấp đất đai ở thôn Hoong: Ở thôn Hoong đã có tình trạng tranh chấp đất rẫy, năm 2008 do có nhà đo đất trước, nhà đo đất sau nên nhà ông Hồ Văn Thật có tranh chấp đất với nhà ông Hồ Bình, hai nhà không thể tự giải quyết, nên đã đưa lên xã giải quyết 2 tháng không xong. Ban đầu dùng tổ hòa giải để giải quyết tranh chấp, tổ gồm có già làng, trưởng thôn, đại diện chi Hội Phụ nữ; hai gia đình không chấp nhận hòa giải; vấn đề tranh chấp đất của ông Thật và ông Bình liên quan đến cách xác định địa giới đất đai của địa chính xã. Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do trước đây không có sổ đỏ, nên khi hộ gia đình này làm rẫy, bỏ hoang thì hộ gia đình khác lại đến phát rẫy mà xảy ra tranh chấp.

- Về vấn đề bảo vệ rừng, kết quả tham vấn người dân cho thấy BQL rừng phòng hộ cần phối hợp chặt chẽ với kiểm lâm đưa người dân (12 hộ gia đình) tham gia thì mới có thể bảo vệ rừng một cách có hiệu quả. Họ cho rằng chỉ khi có sự tham gia thực sự của người dân thì mới giữ được rừng, vì lâu lâu BQL và kiểm lâm mới đi kiểm tra một lần; kinh nghiệm cho thấy tổ quản lý bảo vệ rừng gồm các hộ gia đình người dân là tốt nhất, đó là kinh nghiệm của thôn Xa Bai. Trong khi đó BQL rừng phòng hộ chủ yếu bảo vệ khu vực rừng của họ mà thôi; họ có phối hợp với các kiểm lâm thôn, cán bộ, người dân trong thôn, nhưng cũng chỉ đi tuần được 1 lần/ tuần.

- Bảo vệ rừng theo tập quán người Kinh thì từ năm 2000 thôn có xây dựng hương ước bảo vệ rừng, dán tại nhà cộng đồng, nhưng được một thời gian ngắn thì rách nát hết. Lực lượng bảo vệ rừng thôn hiện nay có: Bí thư chi bộ, công an viên thôn, trưởng thôn; kinh phí được 400.000 đồng/người/năm; nguồn này do lâm trường Hướng Hóa cấp; và thôn mới nhận được từ năm 2014.   

3. Thăm thôn A Đăng, xã Tà Rụt, huyện Đak Rông, tỉnh Quảng Trị

- Thôn A Đăng có tổng số 198 hộ/ 878 nhân khẩu. Trong đó, người Pa Cô 173 hộ, chiếm (87,4%), người Kinh 21 hộ (chiếm 10,6%), người Mường 1 hộ (chiếm 0,5%), người Vân Kiều 3 hộ (chiếm 1,5%). Toàn thôn có 75 hộ nghèo (6 hộ đói), 18 hộ cận nghèo. Hộ đói chủ yếu là các hộ có người già yếu, không có sức lao động; các hộ có người ốm đau; các hộ chủ hộ là nữ; và các hộ đông con (trên 6 con); có 12 hộ có chủ hộ là nữ; 2 người nhiễm chất dioxin (1 Kinh, 1 Pa Cô). Tỷ lệ mù chữ của phụ nữ trong thôn chiếm hơn 50%.

- Diện tích rừng cộng đồng của thôn gồm 296 ha; đất nông nghiệp có lúa nước 0,3ha; đất rẫy trung bình mỗi hộ 4 - 6ha, chủ yếu trồng sắn và cây công nghiệp.

- Sinh kế chủ yếu là trồng sắn, dứa, chuối, lúa rẫy. Chăn nuôi như bò 175 con, trâu 21 con, dên 500 con, gà vịt 1.011 con, lợn 50 con.

- Lao động làm thuê quanh xã cho các chủ người Kinh chủ yếu là bóc vỏ và khai thác keo (trong đó có lao động nữ bóc vỏ), và làm xây dựng, bốc vác. Lao động nữ được trả 80 nghìn đồng/ngày công do nữ chỉ tham gia bóc vỏ keo, nam giới được 120 nghìn/ngày công. Một số lao động vay vốn của ngân hàng để đi xuất khẩu lao động. 10 người đi lao động tại Ả-rập Xê-út làm công nhân xây dựng nhưng đã về sau 3 năm (nếu tính cả xã thì có 26 người, tất cả đều là người Pa Kô). Vay ngân hàng 38 triệu đồng nhưng chưa trả hết -> lâm vào cảnh nợ nần. Ngoài ra cả xã còn có 10 phụ nữ trẻ người Pa Kô đi Đà Nẵng làm thuê bóc vỏ tôm.

- Keo có khoảng 20ha, hiện đã khai thác 7ha (năm 2014). Hoạt động khai thác lâm sản phi gỗ thu hái hoa chuối, măng, rau, củ chủ yếu phục vụ nhu cầu trong gia đình. Hộ nghèo phải phụ thuộc vào các lâm sản phụ nhiều hơn. Thương lái người Kinh thu mua lâm sản phụ có gì mua đó như nấm, lợn rừng, mây (1.200 đồng/kg), đót (5.000 đồng/kg tươi). Cây gỗ có xú (giá bán khoảng 4 triệu đồng/m3), trường, đào, dổi (giá bán khoảng 8 triệu đồng/m3), hương. Thương lái người Kinh thỉnh thoảng cũng hỏi mua nhưng không có bán.

- Người Pa Kô ở đây không biết dệt vải, họ phải mua váy của người Tà Ôi ở A Lưới; việc khai thác lâm sản ngoài gỗ gồm có mây, đót, đọt chuối, măng, rau, môn thục, thịt thú rừng; họ cũng bắt cá ở sông chủ yếu phục vụ cho bữa ăn hang ngày, gồm các loại thủy sản như: ốc bươu, cua suối, các loại cá mát, chép, trê, chờn, choác, bống; cá chép có con nặng đến 3-4kg; việc đánh bắt cá chủ yếu do phụ nữ thực hiện tranh thủ vào buổi trưa, họ đi khoảng 2 - 3 tiếng để chuẩn bị cho bữa ăn tối; dụng cụ đánh bắt thì do họ tự đan lát và làm lấy, còn lưới thì mua ngoài chợ.

- Thôn A Đăng là thôn điểm bảo vệ rừng của Chi cục kiểm lâm với 296ha rừng tự nhiên do thôn quản lý theo hình thức quản lý rừng cộng đồng. Diện tích này đã được giao từ năm 2013 cho 17 hộ tự nguyện đăng ký tham gia. Đến nay chưa được cấp GCN quyền sử dụng đất. Trong đó, 40ha do dự án BCC hỗ trợ đã được thực hiện trồng làm giàu rừng có cây sao đen, lim xanh, lát hoa. Người dân được tập huấn kỹ thuật trồng rừng. Người dân mong muốn được cấp GCN quyền sử dụng đất cho từng hộ nhưng khó thực hiện vì theo Luật Đất đai 2013 không cho phép giao đất rừng tự nhiên cho hộ. Hoạt động giao rừng do kiểm lâm thực hiện, xác định ranh giới vào giao cho các hộ (chưa thực sự có sự tham gia của người dân vào hoạt động xác định ranh giới, đo đạc, lập bản đồ, xác định thửa, xác định trữ lượng,…). Được hỗ trợ 1,3 triệu đồng/ha công trồng cây. Người dân mong muốn được tăng mức hỗ trợ lên khoảng 2 triệu đồng/ha/năm công quản lý bảo vệ và làm giàu rừng. Trên diện tích 296ha này trước đây có nương rẫy của bà con đã sản xuất nay bỏ hóa tự phục hồi. Khi tiến hành giao cho 17 hộ tác động đến cuộc sống của người dân (9 hộ) phải tìm nơi khác để phát rẫy. Nhưng 9 hộ này không nằm trong 17 hộ được nhận giao khoán.

- Thôn chưa được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Lợi ích từ tài nguyên rừng: nguồn nước, lâm sản phụ ngoài gỗ, góp phần phòng chống lụt bão.

- Tập quán của đồng bào có rừng ma (ka nia), rừng thiêng (4 khu), mỗi khu khoảng 4-5 nghìn m2/khu được cộng đồng bảo vệ rất nghiêm ngặt; hàng năm cũng thần vào tháng 4-5; đồ cũng gồm lợn, bò, trâu; tục cúng “yàng” thì thực hiện 5 năm một lần; đối tượng thờ cúng là thần rừng, thần cây cổ thụ, thần đất, thần trời và ma hay còn gọi là người âm.

- Khi chặt cây, phát, đốt rẫy cũng phải cầu xin các thần bằng cách cúng gà, lợn, đầu heo; nhà nào cũng phải cúng; khi ăn mừng lúa mới thì cúng chung cả buôn. Người nơi khác vào chặt phá hoặc khai thác sẽ bị bắt phạt heo, dê. Cúng lúa mới/cúng trỉa lúa chung cho cả thôn.

- Tranh chấp đất đai vẫn tồn tại, chủ yếu liên quan đến hoạt động xâm canh như thôn Tà Rụt 3 tranh chấp với thôn Pi Rao thuộc xã A Ngo, thôn A Vương, xã Tà Rụt tranh chấp với thôn 37 xã Húc Nghì. Hiện các tranh chấp đang được tiến hành hòa giải ở cấp cơ sở.

- Riêng diện tích của toàn xã là hơn 6000 ha, nhưng cán bộ Tài nguyên Môi trường rút gọn lại chỉ còn 6000 ha; xã đã có ý kiến lên cấp huyện, nhưng chưa thống nhất được giữa hai nguồn số liệu đó, vấn đề này chưa gây ra tranh chấp.

- Thôn A Đăng vẫn chưa được đập thủy điện chi trả dịch vụ môi trường rừng.

- Nhu cầu sinh kế của người dân thôn A Đăng: họ cho rằng rừng là nguồn sống chính của người dân, có rừng thì mới có các nguồn sống, bao gồm cả nước và môi trường; bài học này người dân trong buôn đã trải qua, vì đã từng có người phát rẫy trên đầu nguồn làm nước khô kiệt.

- Các đại diện phụ nữ quan niệm rằng rừng đem lại cho người dân mọi thứ, từ vật liệu làm nhà, củi, nước; trong khai thác rừng thì chị em cũng không kém phần vất vả như: kiếm củi, lấy nước; trước đây đàn ông thường say xỉn, nay chỉ uống khi vui, lúc đó thậm chí phụ nữ cũng uống; còn lại chủ yếu là làm việc. Bạo lực gia đình đã giảm nhiều, vì thường xuyên được tuyên truyền bình đẳng giới, xem TV, được bạn bè, người thân tuyên truyền cho. 

4. Họp dân thôn A Vương, xã Tà Rụt, huyện Đắk Rông, tỉnh Quảng Trị

Thôn A Vương có tổng số 96 hộ/416 nhân khẩu. Trong đó người Pa Cô 72 hộ (chiếm 75%), người Vân Kiều 16 hộ (chiếm 16,7%), người Kinh 8 hộ (chiếm 8,3%). Toàn thôn có 42 hộ nghèo, 3 hộ cận nghèo hầu hết đói ăn khoảng 3 tháng/năm; có 5 hộ do nữ làm chủ hộ, có 3 người nhiễm chất độc da cam, 6 hộ neo đơn vì ốm đau, già cả, đơn thân; 30% phụ nữ mù chữ. Toàn xã có 3 người Pa Kô đi làm thuê ở Công ty may mặc tại Sài Gòn; riêng thôn A Đăng có một người đi xuất khẩu lao động ở A Rập Xê Út, nhưng đã thất bại và nay quay về nhà.

- Diện tích trồng săn 75ha, chuối 6ha, dứa 18ha, ngô 75ha, lúa rẫy 9ha, cây hàng năm (mít, cà phê) 70ha. Trong 70ha có 60ha trồng keo/tràm đã khai thác từ năm 2013, thu nhập khoảng 12 triệu đồng/ ha. Trồng lại bằng hạt tự nảy mầm sau khi khai thác, phát đốt, chỗ nào thưa thì trồng xen thêm.

- Rừng cộng đồng (thuộc Chương trình 30a) giao khoán cho cộng đồng bảo vệ 300ha cho 30 hộ; trong số này có hơn 60 ha keo. Kinh phí bảo vệ đã có từ năm 2010, mức 200 nghìn đồng/ha/năm và đối với các hộ nghèo được hỗ trợ thêm 15kg gạo/nhân khẩu. Hoạt động bảo vệ rừng tiến hành 2 lần/tuần đi tuần tra, phát tỉa, và phòng chống cháy rừng. Hiện diện tích rừng này chưa được cấp GCN (Giấy Chứng nhận) quyền sử dụng đất.

- Người dân vẫn lên rừng lấy quả mây về bán cho người làm vườm ươm mây; họ còn lấy một loại cỏ trên rừng về bán với giá 200.000 đồng/kg, nhưng rất hiếm. Nếu cần gỗ để làm nhà cửa chuồng trại thì phải xin phép thôn, xã và kiểm lâm. Các hộ có nhu cầu thì đều được phép khai thác, nhưng tổ và thôn phải xác nhận số lượng cần thiết, không được lấy thừa. Riêng việc săn bắn bẫy thú thì bị cấm và kiểm lâm bắt nếu săn bắn thú lớn.

- Dân đều có vay vốn ngân hàng chính sách xã hội để mua bò, mua cây con giống, phân bón; bình quân mỗi gia đình  vay 20 - 30 triệu đồng; hộ thấp nhất là 8 triệu, hộ cao nhất là 50 triệu.

- Những hộ khó khăn thì còn vay thêm của người thân quen để chi tiêu cho các nhu cầu hàng ngày, chủ yếu là mua lương thực và thức ăn; đến mùa họ thường bán sắn để trả nợ; vay những khoản lớn thì phải thế chấp sổ đỏ. Về việc cấp sổ đỏ thì các diện tích đất rẫy gần thì được cấp còn rẫy xa thì không; trung bình mỗi hộ có từ 1- 2, thâm chí 3 thẻ đỏ.

- Nguyên nhân chính của tình trạng đói nghèo trong thôn là do người dân thiếu đất sản xuất. Vì vậy họ phải đi xa hơn để tìm đất sản xuất phù hợp; tình trạng đó gây áp lực lên diện tích rừng tự nhiên, trong đó có cả việc thu hái lâm sản phụ ngoài gỗ chủ yếu là măng, mật (thu hoạch vào tháng 5-6 hàng năm nhưng còn ít), đót, nấm.

- Về tranh chấp đất đai trong thôn có một trường hợp về ranh giới liên quan đến việc cấp GCN quyền sử dụng đất, và đã được giải quyết thông qua hòa giải, tiến hành kiểm tra GCN quyền sử dụng để xác định ranh giới. Cán bộ thôn và công an viên thôn đã xem xét, xác định lại ranh giới, rồi tiến hành hòa giải thông qua tổ hòa giải gồm có già làng, trưởng thôn, công an viên, phụ nữ, mặt trận. Về tranh chấp vời bên ngoài thì có 6 hộ từ xã Húc Nghì xâm canh đất thôn A Vương làm rẫy, sắn, dứa, keo từ năm 2009 nhưng chưa giải quyết được phải chuyển lên cấp huyện do liên quan đến địa bàn quản lý của 2 xã.

- Các vấn đề xã hội trong thôn gồm: bệnh sốt rét, đau dạ dày, đại tràng; còn có đến 40% số phụ nữ trong thôn tảo hôn; ngày nay đã có tiến bộ trong việc sinh nở, 100% chị em đã sinh con tại trạm xá hoặc bệnh viện, vì cán bộ nhà nước nói là “đẻ ở nhà thì sẽ cấp giấy khai sinh cho đứa trẻ”.

- Rừng ma trong thôn có 5 khu, mỗi khu trung bình khoảng gần 500m2; có 2 nơi để cúng trâu là rừng thiêng; có một rừng thiêng gồm nhiều cây cổ thụ để cầu cũng tập thể của cả buôn, với diện tích khoảng 5000 m2; việc cúng thế tiến hành 5 năm một lần, khi cũng cả làng ngủ đêm tại khu rừng đó, ở đó không được phép sàm sỡ, quan hệ trai gái; nếu làm bậy thì phải cúng trâu; chặt cây nhỏ thì phải cũng gà; nếu không cúng thì cả làm sẽ bị đau ốm.  

5. Làm việc với UBND huyện tại Hạt Kiểm lâm huyện Hướng Hóa

- Hướng Hóa có tổng diện tích tự nhiên 115.283ha, tổng diện tích rừng là 50.090ha (trong đó diện tích rừng tự nhiên là 42.916ha, rừng trồng là 7.175ha). Diện tích phân theo ba loại rừng: rừng tự nhiên là rừng đặc dụng 21.477ha, rừng tự nhiên và rừng phòng hộ 14.022ha, rừng tự nhiên là rừng sản xuất 7.583ha. Rừng tự nhiên phân định theo chủ quản lý: Khu BTTT Bắc Hướng Hóa 21.247ha rừng tự nhiên, BQLRPH Hướng Hóa - Đắk Rông 5.173ha, UBND các xã quản lý 13.159ha. Rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng và hộ gia đình là 3.336ha.

- Đất chưa có rừng là 44.936ha, theo thuật ngữ lâm nghiệp không phải là đất phát triển lâm nghiệp. Người dân đã trồng cây công nghiệp và nông nghiệp (cà phê, cao su, chuối, sắn và rừng trồng như keo, bời lời) vào những diện tích không có gỗ tái sinh (1a, 1b), đất trống còn lại không đáng kể. Không phải chuyển đổi vì đây là diện tích thống kê thực tế.

- Cơ cấu tổ chức của Hạt kiểm lâm Hướng Hóa: tổng số 22 cán bộ kể cả hợp đồng. Trong đó văn phòng (8 người) và ba trạm kiểm lâm khu vực (Hướng Lập 5 người, Hướng Tân 4 người, Lao Bảo 5 người). Trường hợp một số nơi không tổ chức trạm kiểm lâm địa bàn thì mỗi người phụ trách 2-3 xã do không đủ người.

5.1. Các vấn đề DTTS

- Nhóm dân tộc thiểu số: Pa Cô - Vân Kiều 39.872 người, Kinh 15.676 người, Tà Ôi 5.031 người. Chế độ chính sách cho con em dân tộc thiểu số: học trường dân tộc nội trú, hỗ trợ gạo, tiền (90-100 nghìn đồng/em). Tỷ lệ đói nghèo toàn huyện là 23%.

- Tập quán canh tác của đồng bào DTTS còn lạc hậu, sản xuất theo tập tục cũ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật còn hạn chế, thiếu vốn đầu tư vào sản xuất.

- Người DTTS được hưởng Chương trình 135: chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn I (1998-2013) và giai đoạn II (2013-nay). Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản đã hoàn thành; hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: hơn 500 triệu đồng sẽ do UBND huyện làm chủ đầu tư, dưới 500 triệu đồng do UBND xã làm chủ đầu tư, chủ yếu hỗ trợ cây con giống, khuyến nông. Giai đoạn I: nâng cao năng lực cho cán bộ xã. Giai đoạn II có 15 xã thuộc Chương trình Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh, Hướng Tân, Húc, Hướng Lộc, Thuận, Thanh, A Sing, A Túc, A Dơi, Si, Ba Tầng.

- Trên địa bàn huyện Hướng Hóa, 50% là đồng bào DTTS, KBTTT Bắc Hướng Hóa dân sống ven rừng, hai thôn Cựp và Cuôi (thuộc xã Húc Nghì) nằm trong vùng lõi. Tập tục sinh sống phụ thuộc vào rừng gây tác động trực tiếp lên rừng. Vị trí giao rừng cho cộng đồng, hộ gia đình thường cách khá xa khu dân cư nên không thuận tiện trong việc bảo vệ kết hợp sản xuất hàng ngày của bà con. Điều kiện giao thông đi lại khó khăn gây ảnh hưởng nhiều đến công tác tuần tra, bảo vệ rừng.

- Giá trị lâm sản cao, nhất là các loại gỗ vẫn là động cơ của hoạt động chặt phá rừng trái phép. Các lực lượng gồm các ban ngành cùng với chi cục Kiểm lâm thường xuyên tiến hành đấu tranh ngăn chặn (chiến dịch đẩy đuổi, tịch thu phương tiện, thành lập tổ/trạm chốt), đến nay hoạt động khai thác lâm sản trái phép cơ bản đã hạn chế, tuy nhiên còn một số trường hợp nhỏ lẻ. Lực lượng kiểm lâm mỏng nhưng diện tích rừng quản lý lớn cũng bị hạn chế trong công tác quản lý bảo vệ rừng.

- Tập quán của người Việt là ưa thích sử dụng đồ gỗ nhu cầu về gỗ vẫn còn rất lớn cũng đã gây sức ép không nhỏ và áp lực phá rừng. Đồng thời, tập quán của đồng bào DTTS là làm nhà phải dùng gỗ và bà con vào rừng chặt tự nhiên.

- Nhà nước mặc dù đã thực hiện nhiều chương trình/chính sách hỗ trợ đồng bào DTTS như 134, 30a nhưng không thể đến được hết mọi người dân. Hơn nữa, chính sách còn thiếu nhất quán, thay đổi nhiều nhưng không thực tế. Thủ tục hưởng lợi phức tạp. Cộng đồng, hộ gia đình không có chính sách hỗ trợ và hướng dẫn để quản lý sử dụng rừng và đất rừng sau khi giao, chỉ mới được hưởng lợi sau một thời gian dài bảo vệ tốt, rừng không bị tác động và rừng đủ điều kiện khai thác.

- Trữ lượng rừng thấp, chất lượng rừng kém (rừng giao chủ yếu là rừng nghèo và rừng phục hội) nên mất thời gian dài mới phục hồi sinh trưởng tốt (với điều kiện được bảo vệ tốt).

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mặc dù hàng năm ngành kiểm lâm có quy hoạch vùng sản xuất tập trung, ổn định, phối hợp với ngành tài nguyên MT và UBND xã tiến hành cấp GCN quyền sử dụng đất, tuy nhiên vẫn còn có tình trạng xâm canh ở một số nơi.

5.2. Sự tham gia của người dân vào công việc bảo vệ rừng:

- Đã tiến hành giao 3.336ha rừng tự nhiên cho 13 cộng đồng và 50 hộ (trong đó có 42 hộ và 8 nhóm hộ). Trong 13 cộng đồng được giao, đã có 3 cộng đồng được cấp GCN quyền sử dụng đất là thôn Hướng Thượng (294ha), thôn Cựp (180ha), và thôn Cuôi (340ha). Cộng đồng được giao làm chủ rừng thực sự. Còn 50 hộ được giao theo quyết định của UBND huyện Hướng Hóa, chỉ giao đất chứ không cấp đất, không cấp GCN.

- Công tác khoán bảo vệ rừng: Khu BTTN Bắc Hướng Hóa giao khoán 11.000ha, BQLR phòng hộ Hướng Hóa - Đắk Rông giao 8.000ha. Gần 1.000ha thực hiện chính sách đồng quản lý của KBTTN với kinh phí 40 triệu đồng/thôn/năm cho 3 thôn Cuôi, Hồ và thôn Mới. Lực lượng nhận khoán bao gồm người dân và lực lượng vũ trang (đồn biên phòng) cũng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng.

- Mức giao khoán bảo vệ 200 nghìn đồng/ha/năm theo người dân là thấp, cần phải tăng lên, mức 400 nghìn là có thể chấp nhận được. Hiện chính sách đã điều chỉnh lên 400 nghìn đồng/ha/năm sẽ được áp dụng kể từ năm 2016.

13.158ha do UBND các xã được quản lý: (i) diện tích không tập trung theo kiểu da báo; (ii) nghị quyết của Chính phủ đến năm 2015 phải giao hết diện tích xã quản lý cho cộng đồng/hộ gia đình. Nhưng Luật Đất đai 2013 lại không cho phép (Điều 135) nên không thể tiến hành được; (iv) trách nhiệm quản lý địa bàn là xã nhưng chủ yếu là kiểm lâm địa bàn.

- Một mô hình rừng tự nhiên với diện tích 294ha giao cho 112 hộ thôn Húc Thượng (xã Húc), đã cấp GCN quyền sử dụng đất năm 2008. Kinh phí hỗ trợ 1,6 tỷ đồng trong 5 năm. 294ha chia theo trạng thái rừng để dễ làm giàu, quản lý và bảo vệ. Trên cơ sở rừng đã được giao cho cộng đồng thực hiện các hoạt động làm giàu, tuần tra bảo vệ và truyền thông. Người dân hiểu được quyền quản lý của mình đối với tài nguyên rừng, nhận thức được nâng lên, gắn trách nhiệm hơn đối với công tác bảo vệ rừng.

- Mục đích REDD+ cuối cùng là quản lý bảo vệ rừng bền vững, tốt hơn. Ban đầu vấn đề truyền thông là chính, và trong tương lai vẫn cần tiếp tục triển khai truyền thông trực tiếp. Sau đó hỗ trợ phát triển các mô hình/hợp phần thí điểm thực tế quản lý rừng cộng đồng đang triển khai rồi nhân rộng, để người dân nhìn thấy sẽ tin tưởng và làm theo.

- Cần nâng cao năng lực quản lý rừng cho người dân, nâng cao kiến thức bảo vệ rừng (kỹ năng tuần tra, bảo vệ), trồng rừng sinh kế (keo, tràm) gắn với xây dựng các mô hình nông-lâm kết hợp liền kề rừng tự nhiên (mô hình trồng mây), và phát triển các loại cây bản địa để giảm suy thoái rừng.

5.3. Sự tham gia của Phòng Dân tộc vào công tác bảo vệ rừng:

- Về cơ cấu Phòng Dân tộc: phòng thành lập năm 2011, trước đó công việc lien quan đến người DTTS do Phòng Nội vụ quản lý. Việc thành lập phòng Dân tộc cần phải thỏa mãn tiêu chí: tỷ lệ người DTTS trong huyện phải trên 40%, trong khi đó tỷ lệ người DTTS ở Hướng Hóa là 45.6%.

- Theo ông Lê Hữu Tuấn (Phó phòng Dân tộc huyện) thì chính sách dân tộc trong ở địa phương vẫn còn manh mún; Phòng Dân tộc ít có điều kiện tham gia vào các chương trình, dự án phát triển của huyện vì các phân bổ chương trình dự án là theo ngành, ngay cả trong một dự án: ví dụ công việc sản xuất nông nghiệp trong chương trình 135 thì giao cho phòng Nông nghiệp, việc hỗ trợ con em DTTS thì giao cho Phòng Lao động; các vấn đề y tế thì giao cho Phòng Y tế; các vấn đề giáo dục thì giao cho phòng Giáo dục. Trong khi đó các chương trình dự án triển khai tại các xã thì họ thường không mời Phòng Dân tộc tham gia. Như vậy là rất bất hợp lý, ví dụ dự án BCC triển khai ở các xã trên địa bàn huyện là một trường như vậy. Trong khi đó cũng có một số chương trình dự án mời phòng tham gia như dự án Tầm nhìn (2006), Dự án Xóa đói giảm nghèo (từ 2008). Phòng Dân tộc chủ yếu là tổng hợp để báo cáo,và muốn làm được báo cáo đầy đủ thì lại phải chạy đến các phòng chuyên môn đó để xin cung cấp số liệu.

- Gần đây Phòng Dân tộc được giao xác định mục đích, hướng dẫn tổng hợp các mục đích, nhu cầu trình huyện và tỉnh làm chủ đầu tư. Về phương diện này Phòng Dân tộc đề nghị các chương trình mục tiêu liên quan đến người DTTS thì giao cho Phòng Dân tộc quản lý để tránh tình trạng phân tán và manh mún như vừa đề cập ở trên.

- Nhu cầu tham gia của Phòng Dân tộc là: tăng đào tạo tập huấn, vì hầu hết cán bộ của phòng Dân tộc không được đào tạo về chuyên môn dân tộc mà là các chuyên môn khác: trong số 7 cán bộ của Phòng thì 2 người học tài chính, 2 người học nông nghiệp, 1 người học luật, 1 người xây dựng, 1 người sư phạm. Vì vậy phòng có nhu cầu rất cao trong đào tạo tập huấn chuyên môn về dân tộc học.

- Chế độ hỗ trợ người DTTS còn ít, Chương trình 102 từ 2011 đến nay mới trợ cấp được 100.000 đ/ người/ năm cho Khu vực III; 80.000 đ/ người/ năm cho Khu vực II. Việc mua các mặt hàng muối, dầu cho dân thì không thích hợp: muối thừa vì 100.000 đồng tiền muối cấp bằng hiện vật thì một năm mỗi người được 50kg muối/ khẩu, vì giá muối chỉ 200.000 đồng / kg. Trong khi đó việc đề nghị các mặt hàng khác như dầu ăn, bột ngọt thì lại không được cấp (Phòng đã đề nghị bằng văn bản lên UBND tỉnh và Ban Dân tộc Trung ương).

- Chế độ việc làm cho con em người DTTS sau khi tốt nghiệp các trường là rất khó khăn, với tỷ lệ thất nghiệp lên đến 80%. Khó khăn trong xin việc chủ yếu do chính sách: không có bố trí biên chế vì tinh giảm - vốn xã hội, quan hệ xã hội của người DTTS thường rất hẹp; Phòng cũng có kiến nghị bố trí việc làm tại địa phương cho con em người DTTS nhưng chưa được chấp nhận. Phòng cho rằng hướng giải quyết là cần đào tạo nghề, tạo thêm việc làm tại chỗ, và tăng cường xuất khẩu lao động.

- Về vấn đề giới thì phụ nữ DTTS thường chịu đựng vất vả nhiều hơn so với nam giới, họ giống như một cỗ máy làm việc vậy, riêng đàn ông thì có một số đặc quyền được coi là đương nhiên trong gia đình và cộng đồng như chơi bời, nhậu nhẹt, không chia đồ ăn cho phụ nữ, cho vợ con, dù có thịt một con gà thì đàn ông có thể ăn hết mà không giành cho vợ con chút nào, trong khi đó vợ con coi chuyện ấy là bình thường và đương nhiên. Trong bối cảnh đó, bình đẳng giới thực tế còn yếu, dù có tuyên truyền, học tập rất nhiều, và người DTTS cũng học hỏi nhiều ở cách thức ứng xử của người Kinh trong những chuyện tương tự.

- Đáng mừng là trong địa bàn huyện không có trường hợp nào liên quan đến buôn bán phụ nữ; trong quan hệ với Lào, trước năm 1979 khi chưa có hoạch định biên giới thì quan hệ bà con họ hàng đồng tộc là rất phổ biến; nay vẫn duy trì được các quan hệ đó.    

6. Làm việc với Ban Quản lý Rừng phòng hộ Hướng Hóa

- BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đắk Rông tiền thân là Lâm trường Hướng Hóa thành lập từ năm 1973 trên cơ sở đội thanh niên lập nghiệp. Cuối năm 2006 (theo Nghị định 200 của Chính phủ) đã chuyển đổi thành BQLR phòng hộ. Tổng số cán bộ có 26 người, trong đó bộ phận quản lý - hành chính có 11 người, và ba trạm QLBVR (Khe Sanh, Hướng Phùng, và Đắk Rông với khoảng 4-6 người tùy trạm).

- Diện tích quản lý 26.227ha, trong đó địa bàn huyện Đắk Rông 11.811ha, huyện Hướng Hóa 14.415ha. Diện tích rừng tự nhiên là 12.530ha, rừng trồng là 4.740ha, đất trống (chưa có rừng) là 8.600ha, và đất khác (đường, sông suối, núi đá) là 356ha.

- Ba BQLR phòng hộ của tỉnh Quảng Trị: (i) BQL Lưu vực sông Bến Hải (huyện Gio Linh, Vĩnh Linh) có diện tích 23.000ha; (ii) BQL Lưu vực sông Thạch Hãn (huyện Triệu Phong, Hải Lăng, thị xã Quảng Trị) có diện tích 7.500ha; (iii) BQLR phòng hộ Đắk Rông - Hướng Hóa (huyện Đắk Rông và Hướng Hóa) có diện tích 26.200ha. Ba Công ty lâm nghiệp: Công ty Lâm nghiệp Bến Hải, Công ty Lâm nghiệp Triệu Hải, và Công ty Lâm nghiệp đường 9.

- Hoạt động thường xuyên hưởng lương ngân sách: thực hiện quản lý bảo vệ diện tích được giao. Kế hoạch quản lý hơn 26 nghìn ha rừng chưa có kế hoạch mở rộng, đã được cấp GCN quyền sử dụng đất từ năm 2012, căn cứ quy hoạch của UBND tỉnh (rà soát 10 năm) trường hợp cần thiết sẽ đề xuất điều chỉnh tăng hoặc giảm. Ngoài ra, BQLR phòng hộ tham gia các dự án như: DA BVPT rừng (từ 2006), DA JICA, nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) từ Công ty Thủy điện Quảng Trị (Nhà máy thủy điện Rào Quán) từ năm 2014.

- Mặc dù được thành lập từ năm 2006 nhưng đến nay mới tiến hành đóng mốc ranh giới. Sở TNMT đang tiến hành (do Trung tâm kỹ thuật đo đạc địa chính Quảng Trị thực hiện) từ 2014 đến nay, kinh phí từ ngân sách nhà nước, hiện đang tiến hành cắm mốc.

- Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES): 15% quản lý phí giữ lại quỹ Bảo vệ PT rừng (VFF) của tỉnh, còn lại 85% trả trực tiếp cho đơn vị quản lý bảo vệ rừng. Trong 85% trả trực tiếp, 10% được BQLR phòng hộ giữ lại làm quản lý phí, 90% trả trực tiếp cho các hộ nhận giao khoán. Cán bộ BQLR phòng hộ không được nhận giao khoán vì mục đích chính là sinh kế cho cộng đồng.

- Có 1.266ha/6.800ha lưu vực Thủy điện Rào Quán được quỹ VFF của tỉnh chi trả cho BQLR phòng hộ. Trả một lần/năm tùy sản lượng điện sản xuất. Tổng 480 triệu đồng năm 2014, mức bình quân khoảng 400 nghìn đồng/ha/năm trả trực tiếp. Đã tiến hành chi trả cho 30 hộ/tổng số 1.266ha. Bình quân mỗi hộ khoảng 16 triệu đồng/hộ/năm (1,5 triệu đồng/hộ/tháng). Diện tích chi trả trên địa bàn nhiều thôn như Hướng Linh (26 hộ/1.109ha), Hướng Tân (2 hộ/76ha), và Hướng Sơn (2 hộ/81ha). Trung bình mỗi hộ khoảng 40ha được giao khoán, tiến hành mỗi tháng 4-5 đợt tuần tra bảo vệ rừng.

- Hoạt động sinh kế quanh phạm vi quản lý của BQLRPH: Hoạt động sinh kế quanh phạm vi quản lý của BQL rừng phòng hộ chủ yếu là canh tác nương rẫy (trồng sắn là chính). Trong 8.600ha đất trống thì 50% là đất 1c (trảng cỏ) nghèo kiệt, rừng phục hồi, 50% là tre nứa, lau, chít, và nương rẫy. Trong 12.530ha rừng tự nhiên chủ yếu là rừng nghèo (2a, 2b, 3a1) và 293ha rừng trung bình (3a2). Rừng nghèo là do trước đây lâm trường tiến hành khai thác phục vụ phát triển kinh tế, mở rộng dân cư.

- Hoạt động thu hái lâm sản ngoài gỗ là thu lượm hạt trẩu (5.000 đồng/kg hạt tươi, 10.000 đồng/kg hạt khô), gấp đôi giá cà phê nên bà con bỏ cà phê. Mây còn ít, măng tre chủ yếu tiêu dùng trong gia đình.

- Trong phạm vi lâm phần vẫn có người dân sinh sống, tận dụng khu vực sông suối làm lúa nước. Vẫn còn một số trường hợp người dân tiến hành khai thác trái phép. Hoạt động xâm canh của người dân địa phương tương đối phổ biến, dẫn đến xung đột giữa pháp luật quản lý bảo vệ rừng với tập quán canh tác của người dân, không dễ giải quyết một sớm một chiều. Trong tương lai cấm người dân khai thác, hoạt động sinh kế: sẽ phải thực hiện hoạt động trồng rừng có loại cây tạo sinh kế, tuyên truyền giá trị sinh kế và vai trò của bảo vệ rừng, ví dụ trồng cây trẩu để người dân bảo vệ. Nỗ lực của các cấp ban ngành là hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội toàn diện, nâng cao nhận thức của người dân để người dân tự giác bảo vệ rừng.

7. Làm việc với Ban Quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

- Ban Quản lý Khu bào tồn trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh, thành lập năm 2010, với bộ máy gồm 12 người, chia làm ba bộ phận quản lý 35 tiểu khu: i) Hướng Lập gồm 15 tiểu khu, 2 người bảo vệ; Hướng Sơn 12 tiểu khu, 2 người bảo vệ; Hướng Linh - Hướng Việt 9 tiểu khu, 2 người bảo vệ. Nguy cơ mà khu bảo tồn gặp phải là:

- Nhu cầu về lâm sản, cả động thực vật lẫn cây cảnh, hiện nay rừng tự nhiên còn ít, trong khi dân lại ham muốn vào khu bảo tồn để khai thác mọi thứ có thể kiếm ra tiền; Khu bảo tồn nằm giáp nhiều tỉnh, huyện, xã khác nhau nên không dễ bảo vệ; Lực lượng bảo vệ khu bảo tồn quá mỏng, lại chưa thành lập được Hạt kiểm lâm (tối thiểu cần có 46 kiểm lâm viên), mà nay mới chỉ có 12 người.

- Nhu cầu khai thác lâm sản có hai loại: i) người dân sử dụng tại chỗ, do đóng cửa rừng không được khai thác tự nhiên, trong khi đó người DTTS cần gỗ làm nhà và cần củi đốt. Các đối tượng này chỉ sử dụng tại chỗ, đầu nậu gỗ không thể lọt vào khu vực này được; ii) đối tượng từ địa phương khác đến đặt bẫy bắt thú và các loại động vật hoang dã khác nhau; tuy nhiên ở các vùng giáp ranh thì khó quản lý được kẻ gian vào rừng lấy gỗ, mà nơi đây chỉ cách Lào 6 km; iii) dân sống trong cả vùng lõi, gồm có 2 cộng đồng: Thôn Cuôi, xã Hướng Lập, 22 hộ; và thôn Cựp 24 hộ. Tất cả họ đều là người Vân Kiều đã sinh sống từ lâu đời ở đây.

- Trong khu vực vùng đệm thì người dấn đa số vẫn sống bằng phương thức làm rẫy; họ canh tác 1 năm rồi bỏ hóa 2-3 năm mới canh tác lại; vì vậy mỗi gia đình cần nhiều mảnh rẫy khác nhau. Đây gọi là vùng đệm trong, với diện tích đất rẫy tối thiểu là 1-2 ha/hộ.

- Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đang được thực hiện tại hai xã Hướng Linh và Hướng Sơn, cho 42 hộ gia đình tham gia vào tổ bảo vệ. Đã xây dựng hợp đồng cho người dân, với định mức giao khoán là 432.880 đồng/ha/năm. Tổng số diện tích cần bảo vệ là 3352 ha. Xã Hướng Linh có thôn Xa Bai, xã Hướng Sơn có thôn Nguồn Rào và thôn Ping, thôn Hồ, thôn Mới, thôn Chỉa, và thôn Rai Ly. Toàn bộ dân ở đây đều là người Vân Kiều. Thôn nhiều người thì giao số diện tích lớn hơn.

- Dưới đây là các số liệu về diện tích và hộ được hưởng lợi: Xa Bai: 941 ha, 10/80 hộ được hưởng lợi; thôn Ping 433 ha, 6/35 hộ hưởng lợi; thôn Rall Ly: 300 ha, 5/60 hộ hưởng lợi; Trỉa 334 hộ, có 5/35 hộ hưởng lợi; Hồ, có 644 ha, gốm 6/52 hộ hưởng lợi; Mới có 300 hộ, có 5/40 hộ hưởng lợi; Nguồn Rào có 390 ha, với 5/81 hộ hưởng lợi.

- Phương thức là chỉ giao cho những người có nhu cầu, còn người già, trẻ em thì không thể tham gia được; người được giao phải có đủ sức khỏe, năng lực sự hiểu biết, và phải tự nguyện tham gia; muốn được giao thì họ phải viết đơn xin đăng ký bảo vệ rừng, danh sách các hộ do thôn gửi lên.

- Quy trình giao khoán là họp dân trong thôn lấy ý kiến từ đầu năm 2014; trong thời gian này vẫn chưa có thông tin gì về dịch vụ chi trả môi trường rừng; khi họp thì chưa rõ định mức tiền cho dịch vụ chi trả môi trường rừng. Năm 2014 dân được tạm ứng 100.000 đồng/ha để hoạt động và thanh toán các khoản vào cuối năm. Tiền tạm ứng lấy từ Quỹ bảo vệ phát triển rừng của tỉnh; chi trả tiền mặt trực tiếp cho người dân; BQL quan tâm đến chất lượng bảo vệ rừng: sau một năm rút kinh nghiệm thấy các hộ bảo vệ tốt thì chia sẻ lợi ích theo mức sau: người bảo vệ trực tiếp thì nhận được nhiều hơn; người gián tiếp thì nhận được ít hơn, và mức này do thôn tổ chức họp dân bàn phương án chia sẻ; phụ nữ không tham gia bảo vệ vì họ không thể đi rừng như nam giới được.

- Tổ bảo vệ làm lán trong rừng và ở qua đêm tại các lán trại đó. Tuy dân có thấy lợi ích của việc bảo vệ rừng, nhưng số người tham gia bảo vệ của năm sau vẫn ít hơn năm trước. (Theo chuyên gia Ri Ta thì cần phải mở rộng đối tượng tham gia, kể cả người chưa có năng lực để tránh ghen tị giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau; cần quan tâm đến cơ chế khiếu nại giữa những người không được tham gia đối với BQL. Ông Hà Văn Hoan, PGĐ BQL cho rằng cần phải tập huấn cho dân trong cộng đồng cách tính lượng cacbon khu rừng của họ, PGS. Bảo Huy của Đại học Tây Nguyên đã có đề xuất phương án này).

8. Làm việc với Chi cục Kiểm lâm huyện Đắk Rông

- Tổng dân số toàn huyện là 9.023 hộ/40.839 nhân khẩu. Người dân tộc thiểu số có 6.828 hộ người DTTS (chiếm 76%), trong đó người Pa Cô chiếm 21%, người Vân Kiều chiếm 54%, người Kinh chiếm 24%, các dân tộc khác như Thái, Mường chiếm 0,3%. Có 2.339 hộ nghèo (chiếm 26%) trong đó, 2.334 hộ là hộ DTTS và 922 hộ cận nghèo (chiếm 10%) trong đó 822 hộ là hộ DTTS. Toàn huyện có 13 xã và 1 thị trấn, trong đó có 8 xã vùng III gồm A Bung, A Ngo, A Vao, Tà Rụt, Húc Nghì, Tà Long, Ba Nang và Đắk Rông. Đắk Rông là huyện duy nhất trong cả tỉnh là huyện thuộc chương trình 30a.

- Cơ cấu tổ chức Hạt Kiểm lâm: tổng số 18 người, trong đó có 3 trạm kiểm lâm khu vực: La Lay (3 người/4 xã), Đắk Rông (5 người/5 xã) và Ba Lòng (3 người/4 xã).

- Chương trình 30a về hợp phần lâm nghiệp: Chương trình được triển khai thực hiện từ năm 2009, mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững. Hỗ trợ giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng và hộ gia đình. Khoán hỗ trợ hộ gia đình phát triển trồng rừng: đến nay đã giao gần 1.000ha rừng trồng sản xuất (250ha/năm), 6 tỷ đồng hỗ trợ trực tiếp cho 800 hộ (giống, kinh phí lập hồ sơ thiết kế, chuyển giao kỹ thuật, phân bón, giống cây trồng), trung bình 5-6 triệu đồng/ha. Mức cao nhất 10-20ha/hộ nhận giao khoán. Kinh phí lập hồ sơ 200 nghìn đồng/ha, kinh phí bảo vệ 200-300 nghìn đồng/ha/năm. Hộ nghèo được hỗ trợ thêm 15k gạo/khẩu trong không quá 6 tháng (90kg/khẩu/năm). Chủ yếu là các xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên.

- Diện tích trồng lúa: Lúa nước 500ha thấp nhất tỉnh, lúa rẫy 1.000ha có xu hướng giảm (100-150ha/năm) do người dân chuyển sang trồng rừng (keo, bời lời). Trong vòng 3-4 năm trở lại đây cây sắn đang có xu hướng phát triển mạnh (1.700ha) vì đây là vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến tinh bột sắn huyện Hướng Hóa.

- Khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn huyện: Tổng diện tích các KBT là 42.918ha, trong đó KBTTN Đắk Rông chiếm 36.681ha, KBT đường Hồ Chí Minh huyền thoại chiếm 5.237ha. Hiện trạng rừng trong tổng số 42.981ha có 37.470ha có rừng là rừng 2a, 2b đến 3a2, 3a3 từ rừng phục hồi đến rừng giàu; và 5.447ha không có rừng.

- Giao khoán bảo vệ rừng 7.000ha từ dự án bảo vệ rừng nguồn ngân sách cho 66 hộ thuộc 5 xã là Triệu Nguyên, Ba Lòng, Tà Long, Húc Nghì và Hải Phúc. Mức kinh phí là 200 nghìn đồng/ha/năm. 66 hộ hiện đang sinh sống ở vùng đệm, nhạy cảm cao nhằm giúp họ cải thiện sinh kế.

- Có một cộng đồng thôn Cựp (xã Húc Nghì) nằm trong vùng lõi của KBTTN Đắk Rông. Năm thôn nằm trong vùng lõi KBT đường Hồ chí minh huyền thoại là thôn Đá Bàn, Trầm, Cóc (xã Bá Nang), thôn Trai và Xa Ta (xã Tà Rông). Có hai cộng đồng DTTS người Vân Kiều đã sinh sống trong vùng lõi KBT trước khi thành lập KBT là thôn Cuôi (khoảng 22 hộ) và thôn Cựp (khoảng 24 hộ).

- Công tác cấp GCN quyền sử dụng đất cho đất lâm nghiệp: Công tác đo đạc, lập hồ sơ cấp GCN quyền sử dụng đất đối với đất lâm nghiệp được sự hỗ trợ kinh phí của hai dự án là DA cấp GCN đất lâm nghiệp do UBND tỉnh quản lý và Chương trình 30a. Giai đoạn từ 2008-2015 đã cấp được 6.680 GCN cho 4.068 hộ, diện tích 6.382ha. Đất trồng rừng sản xuất (chủ yếu trồng keo) do UBND huyện cấp. Cho đến nay đã cấp được khoảng 65-70% GCN. Kế hoạch từ nay đến năm 2018 mỗi năm có thể giao 300-500ha cho cộng đồng và tiến hành cấp GCN đối với diện tích đất bằng chưa sử dụng (chưa được cấp GCN vì mục đích nào khác, mặc dù người dân đã canh tác trên đất đó rồi).

- Năm 2005 đã cấp GCN cho 3 cộng đồng (cả thôn) thuộc 3 xã Húc Nghì, A Ngo và Triệu Nguyên. Đây là khu vực đầu nguồn sông suối, nguồn nước nên người dân quản lý rất tốt. Tên ghi trên GCN là Cộng đồng dân cư thôn. Đối với các cộng đồng chưa được cấp GCN vẫn chưa có cách giải quyết vì không có kinh phí làm GCN từ 2008. Trường hợp áp dụng Luật Đất đai 2013 sẽ gặp khó khăn. Tuy nhiên, đối với người dân họ không quan tâm có GCN hay không vẫn bảo vệ tốt rừng vì là quyền và lợi ích gắn liền với họ.

- BQL Khu bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa: Thành lập tháng 7/2010, tổng số 12 người. Có 3 bộ phận quản lý thuộc 3 vùng gồm Hướng Lập (2 người/15 tiểu khu), Hướng Sơn (2 người/12 tiểu khu), và Hướng Linh+Hướng Việt (2 người/9 tiểu khu). Năm 2012, UBND tỉnh cấp GCN quyền sử dụng đất cho tổng số 23.456,7ha, trong đó diện tích có rừng là 22.643ha, không có rừng là 778ha, và diện tích khác là 36ha. Trong 778ha không có rừng có 164,4ha rừng trồng.

- Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES): Năm 2014 đã chi trả dịch vụ môi trường rừng từ nguồn thu Thủy điện Rào Quán cho 78 hộ với tổng số 1,5 tỷ đồng trên tổng số 3.352ha. Trong đó, thôn Sa Bai (xã Hướng Linh) được chi trả 400 triệu đồng cho 24 hộ/941ha, thôn Nguồn Rào (xã Hướng Sơn) được chi trả 112 triệu đồng cho 11 hộ/290ha, thôn Pin 187 triệu đồng cho 11 hộ/433ha, thôn Hồ 144 triệu đồng cho 11 hộ/334ha, thôn Mới 273 triệu cho 11 hộ/634ha, thôn Trỉa 277 triệu đồng cho 10 hộ/643ha.

- Quy trình giao khoán: BQL làm việc với UBND hai xãHướng Linh và Hướng Sơn để thống nhất thông qua đề án giao đất giao rừng. Sau đó, tiến hành họp thôn lấy ý kiến/nguyện vọng của người dân. Sau khi thống nhất, BQL làm hợp đồng giao khoán (dựa vào đơn xin bảo vệ rừng của các hộ).

- Quy trình chi trả: định mức 432 nghìn đồng/ha. Từ tháng 7-8/2014, đã tạm ứng trước 100 nghìn đồng/ha từ quỹ VFF từ cho người dân tổ chức quản lý, bảo vệ rừng. Sau khi có quyết định phân bổ, khi chi trả, tổ chức họp và giao trực tiếp tiền mặt cho các hộ, có sự chứng kiến của đại diện UBND xã.

- BQL KBTTT tiến hành giao khoán sẽ quan tâm đến chất lượng bảo vệ rừng, sau một năm sẽ rút kinh nghiệm. Đối với các hộ có đủ năng lực, có đủ nhân lực và bảo vệ rừng có hiệu quả sẽ tiếp tục được giao khoán. Cộng đồng sẽ xây dựng kế hoạch phân chia cho cả thôn kể cả cho người gián tiếp bảo vệ rừng. Luân phiên hưởng lợi 24 hộ năm 2014 năm sau bằng 10 hộ khác.

- Nguy cơ: Nhu cầu lớn về lâm sản (động vật, gỗ) và khai thác lâm sản phụ ngoài gỗ gây áp lực lớn lên khu bảo tồn, rừng phòng hộ. Nạn khai thác lâm sản trái phép: cộng đồng khai thác theo yêu cầu/đặt hàng của đầu nậu từ thị xã/thành phố. Người dân sử dụng tại chỗ theo tập quán của người DTTS (làm nhà cửa, làm củi đốt).

- Ranh giới KBT giáp nhiều huyện, xã khác nhau, do đó vấn đề quản lý theo địa giới hành chính cũng gặp nhiều khó khăn. Lực lượng quản lý bảo vệ rừng quá mỏng. Vùng giáp ranh với tỉnh Quảng Bình nên khó quản lý, còn diễn ra tình trạng chặt phá rừng.

- Nhận thức về REDD+: Người trồng rừng chưa hiểu nhiều về REDD+, vấn đề quan tâm là được hưởng lợi gì khác so với các chương trình/dự án lâm nghiệp khác. Khi đã rõ về quyền lợi người dân cần được biết cách tính toán đường phát thải ví dụ một cách đơn giản, xem cái nào hơn thiệt để tính xem lúc nào nên khai thác rừng lúc nào chưa.

9. Sự tham gia của Phòng Dân tộc Đak Rông vào công tác bảo vệ rừng

- Theo ông Nguyễn Ái Hợi, Trưởng phòng Dân tộc Đak Rông thì Phòng Dân tộc rất ít có cơ hội tham gia vào các chương trình, DA nói chung, kể cả các chương trình, DA bảo vệ rừng hầu hết có liên quan đến người DTTS, và đó là một thiệt thòi của Phòng cũng như của công việc bảo vệ rừng nói chung. Vì vậy Ông Hợi đề xuất một số giải pháp tăng cường tham gia của Phòng như sau:

- Kiện toàn hệ thống công tác tham gia của hệ thống cơ quan chịu trách nhiệm về công tác DTTS từ Trung ương đến cơ sở;

- Tăng cường tiếng nói chung của ngành đối với các chương trình, dự án phát triển người DTTS và vùng DTTS, đặc biệt là các chương trình, dự án liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng;

- Các chương trình, dự án liên quan đến người DTTS thì cần phải giao cho các cơ quan công tác DTTS từ trung ương đến địa phương trực tiếp tham mưu, quản lý, tổ chức thực hiện;

- Các chương trình, dự án liên quan đến người DTTS do các cơ quan, ban ngành và tổ chức khác thực hiện thì cần phải tham vấn và có sự tham gia của các chuyên viên, cán bộ Ban, Phòng Dân tộc, cán bộ phụ trách công tác dân tộc từ trung ướng đến cấp cơ sở ở xã.

- Cần ban hành chính sách đặc thù đối với công tác DTTS, nhất là quan tâm đến phụ cấp đối với cán bộ làm công tác DTTS ở các vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa.

- Cần có chính sách hỗ trợ đào tạo tập huấn cán bộ làm công tác DTTS về các chuyên môn có liên quan, nhất là chuyên môn dân tộc học và chuyên môn phát triển DTTS;

- Về công tác bảo tồn văn hóa cần được cung cấp các nguồn lực, ví dụ ở thôn Ka Hẹp, xã Tà Rút, huyện Đak Rông có ông Mai Hoa Sen (sinh năm 1943), người Pa Kô chuyên chế tác các loại nhạc cụ dân tộc Pa Kô mà chưa được hưởng bất cứ khoản đầu tư hỗ trợ nào.

- Cần đưa đại diện của người DTTS tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội và cấp ủy, nhất là ở những vùng liên quan đến rừng và phát triển rừng, vì rừng chính là nguồn sống của người DTTS.

- Cần đưa các đại diện người có uy tín tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, trong khi đó thành phần này rất phong phú, xã A Bung có 7 người; A Ngo 10 người, Tà Rụt 9 người, A Vao 9 người; Húc Nghì 3 người; Tà Long 9 người; Ba Nang 9 người; Hướng Hiệp 10 người; Đak Rông 11 người; Mò Ó 4 người; Thị trấn Đak Rông 3 người; Ba Làng 1 người; Hải Phúc 2 người.     

10. Làm việc với UBND xã Tà Rụt, huyện Đắk Rông

- Tổng dân số 1.0007 hộ/4.341 nhân khẩu, trong đó 3.687 nhân khẩu là người DTTS. Có 338 hộ nghèo (chiếm 33,6%), trong đó có 6 hộ người Kinh, và 98 hộ cận nghèo (chiếm 10%) trong đó 11 hộ người Kinh. Tỷ lệ mù chữ 47%, trong đó 90% là người DTTS. Tổng diện tích tự nhiên là 6.062ha, trong đó đất lâm nghiệp là 3.780ha (100% là rừng sản xuất). Đất trống có rẫy nhưng không có rừng. Khả năng phát triển rừng: khoảng 500ha phù hợp cho trồng rừng trên cả xã. Không còn nhiều khả năng. PFES: Có 3 thủy điện Đắk Rông 1, 2, 3 nhưng chưa được chi trả.

- UBND xã hiện nay đang quản lý 3.468ha. Thực tế các hộ đã trồng keo, xoan, bời lời khoảng 50%, còn lại 50% để có thể trồng sắn nhưng cũng phụ thuộc nhiều vào thị trường, thương lái. Đã giao rừng cho cộng đồng nhóm hộ có GCN từ năm 2009 (128,5ha cho 167 hộ) cho thôn A Đăng. Hiện nay đang thực hiện công tác tuần tra, bảo vệ vùng rừng đầu nguồn nước (hiện trạng rừng trung bình 3a2). Dự án BCC từ năm 2014 hỗ trợ cây giống (lim xanh, lát hoa, sao đen) trồng làm giàu rừng có khai thác nhỏ phục vụ sửa nhà, làm nhà. Năm 2013 đã giao 194ha cho 17 hộ cho cá nhân hộ theo chủ trương của Chi cục Kiểm lâm phải giao cho hộ nhưng theo kiểm lâm thì giao cho cộng đồng bảo vệ tốt hơn. 9 hộ phải dời bỏ rẫy để giao cho 17 hộ.

- Hiện trạng cấp GCN quyền sử dụng đất: Đất rừng sản xuất: 453 GCN cấp cho 337 hộ trên tổng số 342ha, cấp từ năm 2008-2011. Dự án BCC đang trình 40 hộ, Chương trình 30a đang trình 77 hộ lên UBND huyện để xem xét ra quyết định, dự kiến đến cuối năm 2015.

- Về vấn đề giới, bà Hồ Thị Lan, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã cho biết phụ nữ xã tham gia cuộc vận động 5 không, ba sạch, gồm: i) không đói nghèo; ii) không bạo lực; iii) không tệ nạn xã hội; iv) không sinh con thứ ba; v) không có con bỏ họ; và ba sạch gồm: i) sạch nhà; ii) sạch bếp; iii) sạch ngõ.

- Tỷ lệ mù chữ của phụ nữ trong xã là 47%, trong số đó phụ nữ người Kinh chiếm 10%; 70% phụ nữ trong xã làm nông nghệp; sinh kế bền vững mà chị em tham gia gồm: nuôi lợn địa phương, nuôi gà, và nuôi dê. Tuy nhiên các hoạt động sinh kế cũng gặp nhiều khó khăn: i) nuôi gà không hiệu quả vì dịch bệnh nhiều, hầu hết gà giống đem từ đồng bằng lên, nên không hợp với khí hậu địa phương; ii) trình độ và kiến thức của chị em còn yếu nên khó áp dụng khoa học kỹ thuật, và hiệu quả ứng dụng không cao; iii) nuôi dề thì phù hợp hơn, vì dê là giống địa phương, chịu đựng được miền núi và khí hậu địa phương.   

11. Làm việc với UBND xã Đắk Rông, huyện Đắk Rông

11.1 Thông tin chung

- Tổng dân số 1.096 hộ/5.156 nhân khẩu, trong đó người Kinh 26 hộ/100 nhân khẩu, Vân Kiều 1.070 hộ/5.056 nhân khẩu. Số hộ nghèo là 334 hộ (chiếm 31%), hộ cận nghèo 190 hộ (chiếm 18%) toàn bộ là người Vân Kiều.

- Tổng diện tích 10.930ha, trong đó 10.319ha là đất nông nghiệp và 491ha đất phi nông nghiệp. Trong 10.319ha đất nông nghiệp, có 9.090ha đất lâm nghiệp, 1.227ha đất sản xuất nông nghiệp và 0,74ha thủy sản. Đất chưa sử dụng là 119,8ha. Trong 9.090ha đất lâm nghiệp, có 4.468ha có rừng tự nhiên sản xuất, 4.210ha có rừng tự nhiên phòng hộ, và 412 ha có rừng tự nhiên đặc dụng. Trong 1.227ha đất sản xuất nông nghiệp, có 1.144ha trồng cây hàng năm (36,3ha lúa nước, 1.078ha cây hàng năm khác (chủ yếu là nương rẫy, còn rất ít lúa rẫy mà đã chuyển sang trồng sắn là chính)) và 113ha trồng cây lâu năm (cà phê, chuối). Trong 4.468ha rừng sản xuất có 1.500ha rừng keo (1-2 tuổi) còn lại là chưa sử dụng. Có 3.000ha đã trồng trước đây nhưng giờ bỏ hóa vì bạc màu. Trong đó 3.000ha do UBND xã quản lý, 1.468ha đã được cấp GCN quyền sử dụng đất.

- BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đắk Rông có 4.210ha rừng phòng hộ (theo GCN quyền sử dụng đất được cấp). Chủ trương sẽ bóc tách trả lại cho người dân. 1.300ha dân xâm canh trồng sắn do bà con thiếu đất sản xuất, có xử lý nhưng chỉ mang tính hình thức. Có 10 thôn thì 3 thôn đặc biệt khó khăn là Khe Ngài (49/148 hộ nghèo), Chân Rò (37/107 hộ nghèo), và Cu Pua (20/55 hộ nghèo) không có đường, không có nước, không có điện. Hộ nghèo 31%, thiếu đói từ 1-3 tháng trong năm, bán sắn để mua gạo, thực phẩm. Bình quân mỗi hộ phải vay 10-12 triệu đồng/năm bằng gạo, thực phẩm (60% số hộ phải nợ).

- Xã mất một số diện tích rừng, chủ yếu là do dân khai phá trồng sắn, trong khi đó trước đây thì keo nhiều hơn, nhưng 5-6 năm nay sắn lại đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn; ngay cả đất lúa rẫy cũng gần như được chuyển đổi sang trồng sắn 100% diện tích. 

11.2. Phỏng vấn bà Hồ Thị Thơm (Chủ tịch MTTQ xã)

- Theo bà Thơn thì MTTQ (Mặt trận Tổ quốc) là một tổ chức vận động quần chúng phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể tuyên truyền vận động người DTTS (chủe yếu là người Vân Kiều) tham gia công tác trồng rừng, theo quy chế hàng năm của HĐND và UBND xã.

- Hàng năm tham gia họp HĐND với 4 kỳ tiếp xúc cử tri ở thôn để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của bà con trong thôn; người dân trong các thôn được cấp cây giống, chẳng hạn thôn Xa Lăng được cấp giống keo lá tràm hoa vàng, là loại cây tốt nhất, và kèm theo đó là keo tai tượng.

- Để tránh kiện cáo thì có tổ chức họp dân trong thôn đăng ký và bình xét xem ai có nhu cầu và thực sự tham gia thì mới được cấp giống cây; người dân không phải ai cũng trồng tràm, mà trước hết họ tập trung nhiều vào trồng sắn, sau khi đất trồng sắn đã bạc màu thì người ta mới quay ra trồng tràm. Trung bình mỗi hộ trong xã có từ 3-4 ha để trổng rừng.

- Việc bình xét cũng không phải đơn giản, đối với DA CHF trồng tràm và cỏ voi, đã có trường hợp trưởng thôn Ba Ngào thiên vị bà con anh chị em nhà mình, người dân thắc mắc, khiếu nại vì không công bằng nên đã phải bỏ.

- Rút kinh nghiệm vụ đó, khi triển khai DA BCC, UBND xã phối hợp với trưởng thôn cử cán bộ về cùng họp thôn khi bình xét nên kết quả bình xét công bằng và người dân phấn khởi, tin tưởng tham gia.

11.3.Kiến nghị của MTTQ xã:

-  Vì trồng rừng ngày càng phát triển mạnh, nên cần làm mô hình vườn ươm giống cây tại thôn, xã để tránh phải đi xa mua cây con giống của các địa phương khác;

- Trợ giúp giống, kỹ thuật, phân bón cho các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khan để động viên họ tham gia;

- Cần xây dựng nhiều mô hình, vì nếu mô hình thành công thì người dân sẽ thấy kết quả mà tự nguyện tham gia, vì cây tram có giá trị kinh tế cao;

- Cần giúp đỡ các hộ ít tham gia để học tham gia tích cực hơn; sở dĩ họ ít tham gia là vì: i) thiếu đất; ii) thiếu vốn; iii) thiếu kỹ thuật; (riêng lao động thì không thiếu, xã vẫn có người thiếu việc phải đi xuất khẩu lao động - 5 người đi Malaysia, 20 nguồ phụ nữ đi làm may mặc ở TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng - tất cả đều là người Vân Kiều).   

11.4. Phỏng vấn bà Phạm Thị Huệ (Chủ tịch Hội Phụ nữ xã)

- Bất bình đẳng giới trong xã có giảm, nhưng không phải đã giải quyết được triệt để; người phụ nữ vẫn phải lao động nhiều giờ hơn nam giới; phụ nữ làm rừng vất vả ngang với nam giới, trung bình làm nhiều hơn nam 2-3 tiếng/ngày.

- Tình trạng nghiện rượu và bạo lực nhiều, do có việc làm nhiều hơn, dân lo làm rừng, trồng sắn, hình thức tham gia mang tính truyền thống DTTS: khi mùa vụ, 15 - 20 hộ đổi công lẫn nhau, vì khi gieo trồng hoặc thu hoạch cần nhiều lao động; trung bình mỗi nhà đạt 20-100 triệu đồng/năm nên ngay cả người nghiện rượu cũng ham tham gia để có thu nhập;

- Dân đa số trồng tràm (keo) sau đó lại tự phá bỏ vì 1 ha tram được 15 triệu sau 5-7 năm; trong khi đó 1 ha sắn bán được 15-20 triệu đồng/ năm, năm nào cũng có thu, vì vậy rất dễ hiểu là tại sao từ 4-5 năm nay người dân lại bỏ tràm và lúa rẫy để trồng sắn. Chỉ sau 4 năm trồng sắn, đất nghèo kiệt thì dân mới chuyển sang trồng tràm.

- Lúa rẫy vẫn còn, nhưng rất ít hộ làm, có thể coi là những trường hợp cá biệt, vì muốn làm rẫy thì phải vào rừng sâu, xa nhà, năng xuất lúa rẫy lại thấp, thù rừng, sâu bọ phá hoại, nên làm rẫy dễ bị đói; trong khi đó lám sắn cải thiện điều kiện sống nhanh hơn nhiều.

- Người dân trồng giống sắn MK79 chỉ bán làm bột công nghiệp, các nhà máy chế biến sắn có sẵn ở trong tỉnh như ở Hướng Hóa, Cam Lộ, Hải Lăng đều có, nên việc thu mua sản phẩm cho người dân không gặp khó khăn; giá sắn từ 1400 đến 1500 đồng / kg; thu mua ngay tại dọc đường trong xã; cho đến nay, nhu cầu mua sắn vẫn rất cao.

- Việc trồng sắn không ảnh hưởng đến rừng, vì người ta có thể tận dụng mọi loại đất, kể cả đất xấu cũng có thể trồng được, nên không cần phá rừng; hơn nữa việc khai phá rừng thường phải đi xa, công vận chuyển sắn cao, không có lãi, vả lại việc phá rừng bị nghiêm cấm nên người dân không làm.

- Trước đây người dân bị đói từ 6-9 tháng, ngày nay ít có hộ đói vì họ bán sắn để lấy tiền mua gạo;

- Tình trạng tranh chấp đất giữa các thôn với nhau vẫn còn xảy ra: năm 2014 có 4 hộ thôn Khe Ngài xâm canh đất rừng phòng hộ, sau đó xã vận động và 4 hộ này đã trả lại đất cho BQL rừng. Tại thôn Xa Lăng có một vụ tranh chấp ranh giới đất rẫy; thôn không giải quyết được, sau đó đưa lên xã giải quyết, nhưng vẫn chưa xong; hai bên không chấp nhận rang giới mỗi bên đề xuất, nên phải chuyển đơn lên huyện để giải quyết.

- Hiện nay việc giải quyết tranh chấp bằng thể chế già làng ít có hiệu quả, mà người ta thường mới những người có uy tín trong cộng đồng; đó là những người mà dân làng tín nhiệm, bình chọn mỗi năm một người; nếu năm sau không có uy tín thì dân sẽ chọn người khác; người có uy tín không phải là già làng, vì già làng và người có uy tín có những vai trò, chức năng khác nhau đối với cộng đồng.

- Về lễ hội và tập quán truyền thống thì hang năm người dân vẫn duy trì tục cúng cơm mới, được tổ chức sau khi thu hoạch xong vụ mùa; mỗi nhà đều tự cúng trong phạm vi gia đình mình; việc cúng thần cả làng chỉ diễn ra 2-3 năm một lần; người ta thường tổ chức cúng lễ bằng heo, còn có phong tục lấy dê cúng thay cho trâu, vì dê thì rẻ hơn, chỉ 1 triệu đồng/ con, còn trâu thì hang chục triệu đồng/ con.

- Kể từ 2008 đến nay phụ nữ đã bỏ hẳn tục sinh con tại nhà mà đến trạm xá hoặc bệnh viện để sinh con; những trường hợp không thể đi thì có y tá thôn bản đến tận nhà đỡ đẻ. Trong xã không xảy ra bất cứ vụ lừa đảo buôn bán phụ nữ nào. Tuy nhiên cả xã hiện nay còn 19 người bị nhiễm chất độc da cam.

11.4. Thôn Tà Lềng, xã Đắk Rông, huyện Đắk Rông

- Thôn Tà Lềng được thành lập từ sau năm 1975 là thôn nằm cuối cùng của xã Đắk Rông (giáp xã Tà Long). Toàn thôn có 105 hộ/460 nhân khẩu, trong đó người Kinh 1 hộ/2 nhân khẩu, Vân Kiều 104 hộ. 27 hộ nghèo, còn lại là cận nghèo.

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp chính là canh tác nương rẫy. Lúa rẫy (khoảng 1ha), sắn là chủ yếu (90%) diện tích mỗi hộ khoảng trên dưới 1ha. 9ha lúa nước chia đều cho cả thôn để sản xuất nhưng chỉ canh tác được một vụ do hệ thống đường ống thủy lợi bị hỏng. Hoạt động sinh kế dựa chủ yếu vào cây sắn. Tuy nhiên, trồng sắn chỉ được 2-3 vụ rồi phải bỏ hóa do thoái hóa đất, phải tìm đất khác, sẽ tác động rất tiêu cực đến rừng để đảm bảo sinh kế.

- Có 27 hộ nghèo nguyên nhân vì không có đất, thiếu sức lao động, phụ nữ chủ hộ không có sức lao động, và gia đình đông con. 13 hộ nữ chủ hộ trong đó 4 hộ là hộ nghèo. Tỷ lệ mù chữ cao chủ yếu là người cao tuổi (trên 50 tuổi).

- Ngân hàng CSXH cho vay tối đa mức 35 triệu đồng cho hộ không nghèo, 50 triệu đồng cho hộ nghèo với lãi suất 0,8%/tháng đối với hộ không nghèo và 0,66% đối với hộ nghèo không cần thế chấp GCN quyền sử dụng đất. Các hộ vay vốn chủ yếu mua trâu, bò phát triển chăn nuôi. Có 80 hộ có trâu, với tổng số 120 con, tuy nhiên không có nơi chăn thả tập trung, vẫn theo tập quán thả rông. Nhiều hộ cũng vay nóng từ người mua sắn: 2-3 triệu đồng, còn chủ yếu là mượn của bà con.

- Chưa có GCN quyền sử dụng đất cho đất rẫy và lúa nước, mới chỉ có một số diện tích đất rừng sản xuất (khoảng 20 hộ), sau khi trồng keo và đã khai thác (1-2 năm trước) đã chuyển hết sang trồng sắn. Nhu cầu của người dân được cấp GCN quyền sử dụng đất là rất lớn do họ được pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài và hợp pháp, hạn chế được tranh chấp.

- Lâm sản ngoài gỗ chủ yếu là măng, mây, đót, lá nón, thỉnh thoảng có thú rừng, đôi khi đánh bắt cá nhỏ chủ yếu phục vụ nhu cầu gia đình. Trước đây trong rừng còn nhiều mật, thú rừng, lợn rừng, nai nhưng nay còn ít. Một số sản phẩm như mây, đót, lá nón đôi khi để bán. Thương lái thu mua sú (sú đen 7 triệu đồng/m3, sú mỡ 4-5 triệu đồng/m3), trường, đào, chua,… Dùng làm nhà (sú, trường), người dân thường vào rừng phòng hộ để khai thác gỗ.

- Trong thời gian giữa vụ trồng sắn bà con thường đi làm thuê khai thác keo, bóc vỏ cây, tiền công 80-120 nghìn đồng/ngày công. Ngoài ra còn đi lấy đót, lá nón. Cách đây 4 năm có 6 người vay 23 triệu đồng đi xuất khẩu lao động ở Ả rập và Malaysia, nhưng nay chưa trả được, lâm vào cảnh nợ nần.

- Công tác QLBV rừng: So sánh tầm quan trọng của công tác giao khoán bảo vệ rừng với hoạt động phát triển sinh kế trước tiên người dân phải được đảm bảo có sinh kế ổn định (no bụng) sau đó mới quan tâm đến việc nhận giao khoán bảo vệ rừng. Vì hiện tại các hộ đang trồng sắn thu hoạch trên dưới 10-12 triệu đồng/năm/ha, mức thu nhập khá ổn. Một điều kiện cần thiết là người dân phải được cấp GCN quyền sử dụng đất.

- Có 30 hộ nhận khoán bảo vệ rừng từ BQLR phòng hộ Hướng Hóa - Đắk Rông (120ha). Năm 2013 được 92 triệu đồng được trả bằng tiền mặt. Năm 2014 được 120 triệu đồng cho cả thôn, chia đều với ý thức chia sẻ trách nhiệm bảo vệ và lợi ích cho cả thôn.

- Giao rừng cộng đồng: 130ha rừng phòng hộ thuộc dự án Lâm nghiệp cộng đồng (DA TFF - Trust Fund for Forest). Kinh phí 4.000EUR (pha 1) đã cắt chuyển sang pha 2, 7.000EUR được bổ sung từ năm 2013 trong 5 năm. Cả thôn cùng tham gia. Năm 2013 được hỗ trợ giống mây (vài nghìn cây) để trồng. Năm 2013 thôn đã rút ra 30 triệu đồng mua sắm quần áo, giày dép, dụng cụ… phục vụ công tác tuần tra bảo vệ rừng.

- Người dân mong muốn được tự chọn nhận giao rừng sản xuất những khu rừng phù hợp trước đây bà con đã từng sản xuất nương rẫy, và tiện đường xe đi lại/gần khu dân cư.

- Tranh chấp: Tranh chấp cạnh tranh và xung đột với KBTTN Đắk Rông (5-6 vụ) nguyên nhân là do đất của bà con đã sản xuất nhiều năm trước đây, đã trồng mít, bời lời. Người dân đề nghị KBT bóc tách gần 15ha giao lại cho thôn để bà con tiếp tục sản xuất. Khoảng 10-15 hộ đang xâm canh vào đất của BQLR phòng hộ Đắk Rông - Hướng Hóa để trồng sắn. Người dân cũng đề nghị BQL RPH bóc tách các diện tích này giao lại cho người dân.

- Không có tranh chấp với thôn khác nhưng có một số vụ tranh chấp giữa người dân trong thôn liên quan đến ranh giới vì không có GCN quyền sử dụng đất, nên không rõ ranh giới. Trước đây, nếu có tranh chấp dễ giải quyết vì dân ít, đất rộng, chưa có các BQLR phòng hộ hay KBTTN, đến nay thì khó giải quyết hơn.

- Theo ông Hồ Văn Bút, trưởng thôn thì người dân thôn Tà Lêng theo Tôn giáo với 3 hệ phái: i) Cơ đốc giáo có 30 hộ; ii) Thiên chúa giáo 29 hộ; iii) Tin lành 2 hộ. Người theo Thiên chúa vẫn có thể thắp hương thờ cúng, nhưng người theo Cơ đốc giáo thì không thể; người chết thì bỏ thờ cúng luôn.

- Trong số 9 phụ nữ tham gia họp thôn thì 7 người mù chữ; 13 hộ trong thôn có chủ hộ là nữ; trong đó có 6 người nghe hiểu tiếng Kinh rất hạn chế; thôn có 6 người đi xuất khẩu lao động (4 người đi Malaysia, 2 người đi A Rập Xê Út, mỗi người còn nợ Ngân hàng 23 triệu đồng, dù đã đi được 4 năm rồi).

- Nguyên nhân các hộ bị nghèo là: i) neo đơn, thiếu lao động, hộ có nữ là chủ hộ; ii) hộ đông con; tỷ lệ mù chữ cao (80% cả nam lẫn nữ, chủ yếu rơi vào nhóm lớn tuổi); dân thường vay tiền của thương lái đến mua sắn, trung bình 2-3 triệu đồng/hộ.

- Nghề thủ công kém phát triển hoặc mai một đi nhiều: đồ thổ cẩm và váy đều mua của người Lào, trung bình 150.000 đồng/ váy; người Vân Kiều ở đây không biết dệt thổ cẩm.

11.5. Thôn Cát, xã Đắk Rông, huyện Đắk Rông

- Tổng diện tích 300ha, trong đó 150ha đất rẫy (chủ yếu trồng sắn 90%, 5% trồng lúa, 5% trồng cà phê và cây màu khác), 150ha đất rừng sản xuất (trồng bời lời, keo, và cả sắn (khoảng 35%) ở cả diện tích phòng hộ và sản xuất). Từ năm 2008-2009 nhiều hộ tập trung trồng sắn vì sắn phù hợp nhất đối với đất ở đây. 20 hộ/18ha đã trồng keo nay chuyển sang trồng sắn (thu hoạch bình quân 25-30 triệu đồng/hộ/năm). 40 hộ có diện tích đã trồng sắn nay đã bạc màu muốn chuyển sang trồng lại keo nhưng không có tiền mua cây giống. Điều kiện đất đai thổ nhưỡng chỉ phù hợp với sắn và keo, bời lời không phát triển tốt. Lát hoa và sao đen cũng phù hợp nhưng phải thời gian dài. Người dân thích trồng sắn hơn trồng lúa vì trồng sắn dễ, chỉ có 2 lần làm cỏ trong cả vụ, còn lúa thì phải 3 đợt làm cỏ và lúa thì hay có sâu bệnh (uốn lá, đục thân).

- Diện tích 130ha đất lâm nghiệp: khoảng 10 năm nay gọi là rừng phòng hộ. Giao cho 36 hộ quản lý bảo vệ (trong đó có 10 hộ nghèo và 1 hộ có nữ làm chủ hộ). Kinh phí 200 nghìn đồng/ha/năm, đối với hộ nghèo được hỗ trợ thêm 15kg gạo/khẩu trong không quá 6 tháng. Phương thức tuần tra 1 tháng một lần cả 36 hộ cùng đi trong 1 ngày. Từ năm 2014 đã được trả 2 lần/năm, kiểm lâm trả trực tiếp sau khi đã kiểm tra hiện trạng quản lý bảo vệ rừng. Lý do chọn 36/170 hộ toàn thôn tham gia nhận giao khoán bảo vệ rừng là các hộ này có rẫy ở gần rừng, năng nổ, có khả năng đi tuần tra, và tự nguyện tham gia.

- Có GCN quyền sử dụng đất cho đất ở và đất vườn, nhưng chưa có đối với các loại đất khác. Thôn đề nghị cấp GCN nhưng UBND xã trả lời phải có kinh phí, nếu muốn phải tự bỏ tiền hoặc tìm dự án hỗ trợ làm thủ tục cấp GCN. Nếu được chọn người dân thích được cấp GCN quyền sử dụng đất vì có quyền sử dụng ổn định, lâu dài.

- Tranh chấp xảy ra liên quan đến ranh giới, lấn chiếm, giải quyết bằng hòa giải, còn một trường hợp lên xã nhưng 3 năm nay chưa giải quyết được. Tổ hòa giải gồm thôn trường, công an viên thôn, thôn đội, già làng, cựu chiến binh, mặt trận, thanh niên, phụ nữ, hội nông dân.

- 100% số hộ vay vốn Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp PNTT là hai ngân hàng cho vay. Ngân hàng CSXH cho vay tối đa mức 35 triệu đồng cho hộ không nghèo, 50 triệu đồng cho hộ nghèo với lãi suất 0,8%/tháng đối với hộ không nghèo và 0,66% đối với hộ nghèo không cần thế chấp GCN. Các hộ vay vốn chủ yếu mua trâu, bò chăn nuôi, tuy nhiên không có nơi chăn thả tập trung, vẫn theo tập quán thả rông. Bệnh dịch phổ biến là lở mồm, long móng.

- Lâm sản ngoài gỗ gồm mây, đót, măng. Bán đót là chính cả làng vào mùa đót đều đi lấy, 75% bán tươi, 25% phơi khô làm chổi bán (giá 35 nghìn đồng/cái). DA BCC triển khai khá hiệu quả: cung cấp cho dân giống cây bời lời, lát hoa, sao đen.

- Bệnh phổ biến vẫn còn, chẳng hạn như: sốt rét có lúc đến 80% người trong thôn mắc phải, nguyên nhân sốt rét là do dân không nằm màn, và bị muỗi đốt khi đi rừng; ngoài ra còn có tiêu chảy 50%, chỉ có 11% số hộ có nhà vệ sinh hợp tiêu chuẩn, còn lại vẫn đi vệ sinh xuống các nguồn nước, nhất là suối; nước tự chảy thì khoảng 70% số hộ có, nhưng 30% đã bị hỏng. Đi viện thì 100% số hộ đã có bảo hiểm y tế.

- Các vấn đề tranh chấp trong cộng đồng thường do tổ hòa giải đứng ra giải quyết, tuy nhiên các tranh chấp đất đai thì cả tổ hòa giải thôn và xã đều không giải quyết được; tổ hòa giải gồm: thôn trưởng, cựu chiến binh, công an viên, già làng, đại diện thanh đoàn thanh niên, đại diện hội nông dân, phụ nữ, mặt trận.

12. Làm việc với Ban Dân tộc tỉnh Quảng Trị

- Theo ông Trần Văn Quảng, Phó Ban Dân tộc tỉnh thì DTTS chiếm 12% dân số, trong đó có 15.932 hộ; đói nghèo vùng miền núi là 18.3% (trong khi đó đói nghèo toàn tỉnh là 9.42%); thu nhập bình quân đầu người người núi là 18.2 triệu đồng/người/năm. Riêng 41 xã DTTS thì nghèo đói chiếm 21.57% ; cận nghèo là 10.36%, thậm chí xã Vĩnh Ô (huyện Vĩnh Linh) tỷ lệ nghèo đến 63%.

- Về cơ cấu của Ban Dân tộc thì có 29 cán bộ gồm 1 trưởng Ban và 2 phó Ban; có 5 phòng chức năng, gồm i) Văn phòng; ii) Phòng Kế hoạch Tổng hợp; iii) Phòng Chính sách Dân tộc; iv) Phòng Tuyên truyền Địa bàn; v) Phòng Thanh tra; nhân viên có 3 người DTTS (2 người Pa Kô, 1 người Vân Kiều, tất cả có 8 nữ). Ở cấp huyện thì chỉ có hai huyện Đak Rông và Hướng Hóa mới có Phòng Dân tộc, còn các huyện Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh thì chỉ có 1 chuyên viên của Văn phòng UBND phụ trách mảng công tác này.

- Thế mạnh của người DTTS là tiếng Kinh thì họ vẫn sử dụng bình thường, Sở Nội vụ và Bộ đội Biên phòng có mở lớp, nhưng không thể làm một cách hệ thống. Tiếng Kinh thì người DTTS vẫn sử dụng để giao dịch bình thường

- Chương trình 135 phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn (29 thô, 27 xã) về cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, đào tạo cán bộ, duy tu bảo dưỡng các công trình hạn tầng, trong đó: 1 tỷ đồng/năm/xã cho xây dựng cơ sở hạ tầng; 300 triệu đồng/xã/năm cho sản xuất; 60 triệu đồng/xã/năm cho đào tạo tập huấn; 200 triệu đồng/thôn/năm cho xây dựng cơ sở.

- Thách thức lớn nhất là cấp sổ đỏ cho người DTTS, hầu hết các hộ DTTS chưa được cấp sổ đó đầy đủ chính là nguyên nhân gây ra tranh chấp đất đai; Chương trình 134 đã cấp nhiều đất cho người DTTS, riêng đất rừng thì cấp được rất ít, vì quỹ đất tập trung vào các Lâm trường, và hiện Chính phủ đang rà soát dần dần cấp đất cho người dân.

13. Làm việc với Thanh Hóa

13.1. Làm việc với xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa, Thanh Hóa

- Huyện Quan Hoá có 48.000 dân, khoảng 10.000 hộ. Huyện có 5 dân tộc (Kinh, Thái, Mường, H’Mong, và Hoa), trên 90% là dân tộc khác dân tộc Kinh, đông nhất là dân tộc Thái. Người H’Mông là dân nhập cư, di dời từ Sơn La, Yên Bái đến Quan Hoá 1997 khi xây thuỷ điện vùng Tây Bắc.

- Xã Thanh Xuân có 6 thôn, 680 hộ, 2800 khẩu, người Thái trắng chiếm hơn 70% , Kinh 5%, Mường 25%. Đất tự nhiên có 7805,9ha; 2200 ha là rừng đặc dụng; toàn bộ đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ dân; rừng luồng chiếm 90% đất sản xuất. Rừng phòng hộ 97,3 ha, rừng sản xuất 3400 ha. Diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp là 290 ha, trong đó ruộng nước 73 ha, nương rẫy 110 ha, sắn 105 ha. Đất lâm nghiệp chủ yếu là soan, lát, luồng, keo.

- Trong số lúa nước thì 10 ha bị ảnh hưởng của Thủy điện Hồi Xuân, trong đó 10 ha thuộc 5 thôn. Lúa rẫy thì không bị ảnh hưởng, chỉ có luồng thì bị ảnh hưởng. Số diện tích 10 ha thuộc về 80 hộ gia đình, mỗi hộ có khoảng 1 sào. Thủy điện ảnh hưởng đến an ninh lương thực nên người dân phải đi làm thuê, chủ yếu là làm ở xưởng đũa, làm phụ hồ, vào Tây Nguyên và Đông Nam Bộ làm cà phê.

- Bản Xa Lắng tái định cư 54 hộ, cách bản cũ 500 m, di vén lên cao hơn mực nước hồ; đất trống còn khoảng 300 ha, chủ yếu trồng sắn và ngô.

- Về sổ đỏ có tình trạng đất của người này, nhưng thực tế người khác canh tác, do mua bán chuyển nhượng. Đất rừng đã giao cho khoảng 600 hộ; tất cả các hộ đều có đất rừng, nhà nhiều nhất là 10 ha.

- Cây keo ở đây gần như không có thị trường; xưởng sản xuất đũa là của một hộ gia đình người Kinh, thường có khoảng 25 công nhân, tất cả công nhân đều là người Thái, trong đó có 10 phụ nữ; lương trung bình là 80.000 đồng/ngày.

- Sản phẩm bán ở thị trường chủ yếu là cây luồng, trước bán theo tấn (800.000 đồng/ tấn). Giá luồng thất thường, lúc lên lúc xuống, thấp nhất là 600.000 đồng/ tấn, cao nhất là 900.000 đồng. Thương lái mua luồng thì nhiều, tất cả đều là người Kinh, họ cũng cho người dân ứng trước tiền khoảng 3-4 triệu đồng/hộ. Thường các hộ có người ốm đâu hoặc neo đơn thì xin ứng trước, sau đó trả bằng luồng.

- Nguyên nhân tỷ lệ nghèo của xã giảm vì: i) kết quả chuyển giao khoa học kỹ thuật mới vào vùng này; ii) người dân năng động đi tìm việc làm thuê; iii) phát triển chăn nuôi mạnh hơn; iv) nhà nước cấp bò nuôi sinh sản; v) khoán rừng cho các hộ gia đình là động lực thúc đẩy sản xuất.

- Hiện nay trong xã có 60 hộ đang xin đất bản Vui, năm 1996 đất này đã giao cho các hộ rồi, sau đó Bảo tồn Pù Hu lấy; vì thiếu đất canh tác nên năm 1998 dân xin lại, năm 2013 tiếp tục xin lại, nhưng tỉnh chưa phê duyệt; diện tích xin là 200 ha. Nông dân đã thấy rõ hiệu quả của rừng, con cái tách hộ, nên dân muốn xin lại.

- Dân không lấn chiếm đất của Khu Bảo tồn Pù Hu vì BQL cho người đi tuần tra thường xuyên. Hơn nữa ngày nay rừng đã trao cho các hộ gia đình rồi, nên không có ai lấn chiếm đất của ai cả, và cũng không có tình trạng tranh chấp đất rừng; đôi khi cũng có nhầm lẫn ranh giới, và việc đó đều được xử lý một cách dễ dàng.

- Để phát triển sản xuất, các hộ gia đình đều vay tiền Ngân hang theo ba kênh: i) phụ nữ; ii) hội nông dân; iii) và đoàn thanh niên. Số lượng vay thường từ 10 - 30 triệu/ hộ. Ngoài ra còn có các chương trình hỗ trợ vốn khác nhau: nghèo, cận nghèo, để phát triển sản xuất, kỳ hạn là 3 năm. Mục đích vay chủ yếu là chăn nuôi bò, lợn, dê; lãi xuất cao nhất là 0.8%; hộ nghèo là 0.6%/ tháng. Nếu gặp rủi ro thì Ngân hàng cho gia hạn hoặc vay từ các nguồn khác để trả khoản vay đến hạn.

- Lâm sản ngoài gỗ có nhiều hạng mục như: lấy dây nhớt, hái quả sa nhân, lấy cu ly, bắt dúi, đào giềng, kiếm mật ong, cây thuốc dảo cổ lam, tam thất bán, tháng 12 thì cắt cây chit bán làm chổi; riêng cây chit thì 3000 đồng/1 kg tươi. Trung bình kiếm được 200 - 300.000 đồng/ ngày, nếu làm tích cực thì có thể kiếm được 50 kg/ ngày. Thường trung bình mỗi hộ kiếm được 5 triệu đồng/ năm. Những sản phẩm này được thương lái bên Mai Châu (Hòa Bình) sang mua.

- Nghề dệt thổ cẩm chủ yếu làm để sử dụng trong gia đình, ít bán, vì không có thị trường cho loại sản phẩm này.

- Có khoảng 20 phụ nữ đi Tây Nguyên làm cà phê, gồm cả người Kinh, Thái và Mường, trong đó Thái chiếm khoảng 60%. Thanh niên trong xã hầu hết đi tìm việc làm tại các công ty, kể cả phụ nữ đã có chồng, thường họ ra Hà Nội hoặc đến các thành phố lớn tìm việc làm, trung bình mỗi tháng kiếm được 5-6 triệu đồng/ người.

- Số cán bộ nữ trong xã là 13 người, trong đó có 3 người đã tốt nghiệp đại học; trong xã không xảy ra tình trạng buôn bán phụ nữ; nghiện ma túy nặng có 5 người có đăng ký uống thuốc, còn số con nghiện không đăng ký thì có thể lên đến 50 người; họ có đi cai nghiện, nhưng cả huyện chỉ có 1 trường hợp thành công.  

13.2. Họp dân bản Éo, xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa, Thanh Hóa

- Bản Éo có 97 hộ với 10 hộ Kinh, còn lại là người Thái; số hộ nghèo là 17 hộ (chiếm 17.52%). Số hộ phải di dời do Thủy Điện Hồi Xuân là 20 hộ.

- Người dân trong thôn gặp khó khăn về nước sinh hoạt vì việc thi công đường quốc lộ 15A đã làm hỏng gần hết các đường dẫn nước về thôn. Số hộ đã di dời thì cũng vẫn chưa có có điện có nước.

- Người dân cho biết trong khu vực rừng của bản Éo ít có sản phẩm phi gỗ tự nhiên; chủ yếu chỉ khai thác măng luồng tại khu rừng của từng nhà thôi. Nghề chính của dân bản Éo là trồng luồng và lúa nước; Thủy điện Hồi Xuân thu hồi đất ruộng làm long hồ, nên gần như không còn đất làm lúa nước nữa. Số ruộng ngập dưới long hồ lên đến hơn 2/3 diện tích.

- Sinh kế của xã là trồng rừng - du lịch - nuôi cá lồng. Rừng chủ yếu là luồng, lát, xoan và keo. Lát mất 10 năm mới có thể thu hoạch, luồng thì 3 năm. Keo rất hợp với đất xã Thanh Xuân.

- Các hộ đều vay tiền ngân hàng để phát triển sản xuất, lượng tiền vay từ 10 - 40 triệu đồng/ hộ, chủ yếu dùng để mua trâu bò về nuôi. Trâu mẹ có giá từ 25 - 30 triệu đồng/ con. Sinh kế chủ yếu của người dân vẫn là cây luồng, vì luồng hợp với đất đai, khí hậu và tập quán canh tác của người dân, hơn nữa luồng không phải đầu tư nhiều; vì vậy gần đây, cả thôn đổi từ trồng sắn sang trồng luồng; tuy nhiên luồng của địa phương thường mắc bệnh ra hoa và ra măng tím gây ra chết hàng loạt cây luồng. Trong khi đó trung bình mỗi hộ trong thôn đều có từ vài trăm đến vài nghìn gốc luồng.

- Người dân cho rằng cây luồng chỉ là cây xóa đói giảm nghèo chứ không phải là loại cây có thể giúp người dân làm giàu được; vì vậy cần phải có các chiến lược phát triển lâu dài và bền vững cho kinh tế của bản bằng trồng rừng và kinh tế dịch vụ.

- Ở bản Éo các hộ đều có 2 sổ đỏ: 1 sổ cho đất ở và 1 sổ cho đất rừng; sổ đỏ cấp năm 2004 và 2007, vì vậy hồi đó sổ chỉ ghi tên chủ hộ hầu hết là nam, mà thiếu tên người nữ là vợ, vì vậy điều này gây ra tình trạng bất bình đẳng giới về quyền tài sản giữa nam và nữ. Còn 15 ha rừng phòng hộ thì có 2 hộ đứng tên sổ đỏ cho hai khu đất khác nhau. Sau đó một số hộ có điều kiện thì cũng đăng ký tham gia bảo vệ các khu rừng này. Đây làn biện pháp tốt trong chia sẻ lợi ích giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau.  

- Dân bản Éo chưa được chi trả dịch vụ môi trường rừng, người ta hứa trong tháng 11/2015 sẽ chi trả cho loại dịch vụ này.

- Vì cần việc làm nên trong bản cũng có 6 thanh niên đi kiếm việc ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn; 1 người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc; 3 người đi xuất khẩu Malaysia đã về, nhưng kết quả không được tốt. Ở vùng này, làm động phổ thông được trả công 80.000 đồng/ người/ ngày.

13.3. Làm việc với UBND huyện Lang Chánh, Thanh Hóa

- Huyện Lang Chánh: Tổng diện tích tự nhiên: 58.659,18ha trong đó có 3.945,57ha đất sản xuất nông nghiệp;50.632,5ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng phòng hộ 15.867,5ha; rừng sản xuất 34.765,08ha). BQL Rừng phòng hộ 8.850ha (3.992ha rừng sản xuất và 4.858ha rừng phòng hộ.

- Cả huyện có 11.187 hộ (31/12/2014); 49.311 khẩu. Hộ nghèo: 3.320 hộ, 14.384 khẩu; cận nghèo 2.310 hộ, 10.333 khẩu. Hai xã nghèo nhất là Yên Khương (xã biên giới) và Yên Thắng. Yên Khương: 1.111 hộ trong đó có 624 hộ nghèo (56,17%). Xã Yên Thắng: 1.316 hộ trong đó có 588 nghèo (46,68%). Chủ yếu là người Thái đen, nghèo do vùng biên giới đường xá khó khăn, xa huyện lị (36-37km), diện tích đất nông nghiệp ít, chủ yếu là đất RPH. Dân tộc: Thái (56,7%), Mường (34,1%), Kinh (9,06%) và các dân tộc khác (0,14%).

- Thành phần DTTS trong huyện gồm: Thái (56,7%), Mường (34,1%), Kinh (9,06%), dân tộc khác (0,14%).

13.4. Làm việc với Phòng Dân tộc huyện Lang Chánh, Thanh Hóa

- Có một số DA triển khai trợ giúp nguời DTTS trên địa bàn huyện Lang Chánh như DA Tầm nhìn Thế giới hỗ trợ tại các xã Lâm Phú, Tân Phúc, Quang Hiến, và thị trấn Lang Chánh, Chí Nang, Dao An. Nội dung hỗ trợ gồm thiết bị cơ sở y tế, trường học; làm kênh mương, nhà vệ sinh; hỗ trợ tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình, phục tráng rừng, phòng cháy chữa cháy, tập huấn khuyến nông, bắt đầu từ năm 1999.

- Các chương trình 134, 135, có Ban Dân tộc tập huấn triển khai đến tận người dân, hang năm thực hiện 1 - 2 đợt cho từng xã; về Chương trình Nông thôn mới thì được 1 xã (Dao An) với 15 tiêu chí, địa thế ở đây thuận lợi, gồm 95% là người Mường. Họ chủ yếu trồng cây phát triển rừng keo là chính, mỗi năm có thể thu được 18 triệu đồng/ khẩu.

- Việc tập huấn cho người DTTS thường được lồng ghép, có chia thành các chuyên đề: i) an sinh xã hội; ii) các chương trình mục tiêu quốc gia; iii) các hỗ trợ chế độ chính sách;

- Huyện cũng có nghị quyết của huyện ủy về phát thanh tiếng dân tộc; hỗ trợ kinh phí, loa đài, truyền thanh không dây có điểm thu phát ở xã. Hàng năm có cấp phát thiết bị cho dân, người dân thấy hoạt động này là rất hiệu quả.

- Sự tham gia của Phòng Dân tộc vào công việc phát triển rừng hầu hết liên quan đến phát triển chính sách: hỗ trợ cho các khu vực khó khan, xóa đói giảm nghèo cho người DTTS; các phòng ban chuyên môn như giáo dục, y tế, lao động, thương binh xã hội đều có sự tham gia của Phòng Dân tộc. Ngoài ra Phòng Dân tộc còn có chân rết là những người có uy tín ở các thôn bản, nên Phòng có thể nắm rõ được việc thực hiện chính sách đến tận từng thôn bản.

13.5. Làm việc với BQL rừng phòng hộ huyện Lang Chánh, Thanh Hóa

- BQL rừng phòng hộ Lang Chánh thành lập năm 1963, với tiền thân là đội khai thác lâm nghiệp, chủ yếu là gỗ. Sau đó thành lập Lâm trường Quyết Thắng, rồi đổi thành lâm trường Bù Rinh, và tiếp tục đổi thành lâm trường Lang Chánh. Năm 2006 chuyển thành BQL rừng phòng hộ Lang Chánh. BQL có 1398,75 ha rừng gồm luồng, mỡ, keo lai, bạch đàn. Có 43 lao động, nhận khoán trồng rừng 661 và 5 xuất lương ngân sách. Số còn lại tự sản xuất kinh doanh; từ năm 2012 không được khai thác nữa thì có rừng trồng, sau đó BQL đầu tư máy móc và chế biến sản phẩm.

- Xưởng chế biến lâm sản chủ yếu chế biến sản phẩm từ 1000 ha keo, trong đó có cả mỡ và luồng, diện tích keo gồm 822 ha; còn lại là diện tích rừng phòng hộ. Với 4860 ha rừng phòng hộ thì có 512,65 ha giao khoán cho 275 hộ dân, trong đó rừng tự nhiên không được tác động đến. Còn rừng trồng thì có trồng lại rừng 661, PAM, 327 có trồng luồng, lát hỗ trợ. Hàng năm có khai thác phục hồi luồng.

- Số diện tích giao cho hộ dân bắt đầu từ 2013 cho đến 2020. Năm đầu giao 200.000 đồng/ha, nay chỉ còn 1516,8 đồng/ ha (rừng trồng phòng hộ). Còn rừng tự nhiên khoán cho cộng đồng và hộ dân 531,6 ha, do ở xa khu dân cư, đi lại khó khăn, mức giao khoán công thấp cho nên đơn vị hầu như phải tự tổ chức bảo vệ; chỉ khoán cho dân số diện tích gần khu dân cư mà thôi.

- Trong rừng phòng hộ có trồng xem luồng để khai thác nuôi đội ngũ bảo vệ rừng; có chương trình phục tráng rừng; những người dân được giao khoán sống gần rừng chứ không phải sống trong khu rừng. UBND huyện có đề nghị tỉnh giao 471,8 ha rừng lại cho người dân, nhưng UBND tỉnh chưa thông qua; Sở NN&PTNT có yêu cầu rà soát lại diện tích trên.

13.6. Làm việc với xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, Thanh Hóa

- Xã Tân Phúc (huyện Lang Chánh) có 10 thôn bản, 1.413 hộ, 6.297 khẩu, Mường chiếm 48%, Thái đen 50%, còn lại Kinh 2%. Tày, Thổ, ít. 428 hộ nghèo, chiếm 30,66%, 604 hộ cận nghèo (43%). Dân nghèo do đường xá đi lại khó khăn, đường đất, cụt nên không phát triển hàng hoá, dân số cao. Diện tích đất tự nhiên là 4.406,66 ha, đất nông nghiệp (gồm cả LN): 3.991ha; 3.583ha đất có rừng; đất trồng lúa nước 323,4ha; không có lúa nương vì độ dốc lớn; đất trồng sắn, ngô, mía, hoa màu (cây hàng năm) 77,39ha.

- Nguyên nhân nghèo được giải thích là: i) dân đông; ii) đường xá đi lại khó khan; iii) giao lưu hàng hóa trở ngại, manh mún; iv) thiếu đất sản xuất. Trong số hộ nghèo thì đói ăn có thể kéo dài đến 3 tháng / năm.

- Nguồn thu nập chính là từ cây luồng và gỗ trồng theo các DA. Một phần là sản xuất lúa nước, còn lại chủ yếu trồng keo, soan, lát xem kẽ với nhau. Người Mường và người Thái đều có tập quán canh tác và khai thác rừng tương đối giống nhau.

- Rừng được giao cho dân từ năm 1992- 1995, và sổ đỏ cấp từ năm 1995. Có những khu rừng được giao theo nhóm hộ, nên các hộ đứng tên chung sổ đỏ; năm 2011 mới tách ra. Trung bình mỗi hộ có 1,5 ha chủ yếu là luồng, nên nguồn thu từ cây luồng không đảm bảo cuộc sống cho người dân, khiến cho tỷ lệ hộ nghèo cao.

- Cả xã có 234 hộ còn thiếu đất sản xuất, xã đã đề nghị giao lại cho dân 210 ha từ năm 2012 và đầu năm 2015 lại tiếp tục đề nghị. Trong số hộ trên có một số hộ có tài sản ở trong khu đất lâm trường, chủ yếu là cây luồng.

- Sản phẩm phi gỗ có, nhưng nhỏ lẻ, không đáng kể, gồm măng nứa, mật ong; vì vậy thu nhập không đáng kể từ nguồn này, và hơn 90% số hộ vay vốn ngân hàng, trung bình từ 15 đến 20 triệu đồng, chỉ hơn chục hộ không vay, vì cho rằng không biết vay để làm gì.

- Trong xã có nhiều người đi ra ngoài kiếm việc làm, tổng cộng phải đến 500 lao động, nữ chiếm đến hơn 60%; xuất khẩu lao động của xã Tân Phúc được cho là đông nhất huyện, riêng năm 2015 có 15 người đi, năm 2014 là 18 người. Có 3 trường hợp bị lừa xuất khẩu lao động, mất đến 30 triệu đồng/ hộ.

13.7. Làm việc với thôn Tân Sơn, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, Thanh Hóa

- Thôn Tân Sơn (xã Tân Phúc) có 90 hộ, 420 khẩu, toàn người dân tộc Mường, chỉ có số ít là người Thái đến làm dâu (đến ở nhà chồng). Có 8 hộ hơi khá, 27 hộ nghèo, còn lại là cận nghèo. Dân làm nương rẫy trên đất đồi, trồng luồng, keo. Độ dốc ở đây lớn (>300), đường giao thông xấu nên chỉ trồng luồng là chính. Năm 2007 có trồng keo theo chương trình 661 nhưng không khai thác được vì độ dốc lớn, không có đường vận chuyển ra.

- Sinh kế của người dân trong thôn chủ yếu là cây luồng, làm ruộng và làm nương, canh tác nương rẫy bây giờ chủ yếu là trồng sắn. Ngoài ra có một số DA trồng keo cũng triển khai trên địa bàn thôn, nhưng do đường xấu, khó khai thác và bán sản phẩm nên việc trồng keo chưa có nhiều triển vọng.

- Cả thôn có 6 hộ do nữ làm chủ hộ; có hai hộ già cả, ốm đau, neo đơn. Phụ nữ Tân Sơn thường lao động nhiều thời gian hơn nam giới, họ phải dậy từ 4-5 giờ sang lo cơm nước cho cả nhà, sau đó mới đi làm ruộng, làm nương, đi rừng, v.v…Trưa về nấu cơm cho gia đình, con cái, nghỉ 30 phút rồi lại đi làm;

- Hầu hết các hộ trong thôn (khoảng 90 hộ) có đến 2-3 lao động đi nơi khác kiếm việc làm, chủ yếu là vào Miền Nam.

- Tân Sơn được coi là thôn nghèo nhất vì: i) đất dốc, hầu hết là núi đá, ít ruộng; ii) đường xá đi lại rất khó khan, nhỏ hẹp, lầy lội, bị xe tải cày nát vào mùa mưa; iii) phát triển kinh tế bằng lâm nghiệp thì hiệu quả thấp, vì khó bán sản phẩm, và công chuyên chở rất cao.

- Người dân trong thôn bỏ đi ra ngoài kiếm việc làm rất nhiều, giờ đây ở lại hầu hết là người già và trẻ nhỏ; có đến 150 lao động đi làm quanh năm ở bên ngoài.

- Tỷ lệ mù chữ của phụ nữ tương đối cao, so với các thôn khác, chiếm đến 20%.

- Tài sản trong các gia đình còn thiếu thốn: 30% gia đình chưa có TV, 30% gia đình chưa có xe máy; những gia đình có xe thì hầu hết là xe xấu, không thể chạy làm ăn xa được. Trong thôn duy nhất mới có 2 nhà xây, một nhà của Phó chủ tịch xã, một nhà của cán bộ mặt trận xã. Còn lại hầu hết (70%) đều là nhà tranh tre, nứa lá, thường dột nát ghê gớm khi mùa mưa.

- Trẻ con bỏ học nửa chừng cũng nhiều hơn các thôn khác, vì đường xá đi lại khó khan, vì học không đến nơi đến chốn, khó xin việc làm khi ra trường nên hầu hết cố theo đến gần hết trung học cơ sở là bỏ học đi làm ăn xa.  

VI. PHÁT HIỆN TRÊN THỰC ĐỊA

- Người DTTS là những người hưởng lợi chính và chịu sự tác động liên quan đến việc bảo vệ và phát triển rừng tại các địa bàn mà đoàn công tác tiến hành công việc thực địa. Họ duy trì nhiều phong tục tập quán lâu đời trong khai thác và bảo vệ rừng; đời sống sinh kế của họ phụ thuộc đáng kể vào các nguồn từ rừng, bao gồm: môi trường đất, nước, không khí, thời tiết, mưa gió, hạn hán, bão tố, vv…Rừng đem lại cho họ các nguyên vật liệu để phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của đời sống như: gỗ, tre, nứa, lá cây để làm nhà; củi để đun nấu và sưởi ấm; ngoài ra nhiều loại thực phẩm cũng được khai thác trên rừng để phục vụ cho bữa ăn hang ngày như rau, củ, quả, măng, nấm, thịt thú rừng, các loại dược phẩm phục vụ chữa chạy những căn bệnh, ốm đau thông thường, v.v…

- Đời sống của người DTTS ít được cải thiện vì những khó khăn và thiếu thốn mà họ gặp phải trong môi trường sống hầu hết là biệt lập hoặc cô lập tương đối về phương diện địa lý như: xa đường giao thông, xa các trung tâm đô thị, xa với hệ thống thị trường, đặc biệt là mạng lưới thị trường miền núi chưa phát triển gây nên rất nhiều khóa khăn cho việc phát triển các loại sản phẩm gắn liền với rừng và với ngành lâm nghiệp nói chung. Giá sản phẩm trên thị trường thường thấp, trong khi đó công vận chuyển cao làm cho hang hóa của người DTTS khó cạnh tranh được với các sản phẩm của các cộng đồng người Kinh thường sống ở những nơi thuận tiện hơn.

- Người DTTS còn duy trì nhiều tập quán cổ xưa, không thích hợp với cuộc sống hiện nay, chẳng hạn như lối sống nặng về tự cấp, tự túc, sống phụ thuộc vào các nguồn có sẵn trong tự nhiên, chưa quen với kinh tế thị trường; việc phát triển kinh tế dịch vụ ở vùng người DTTS không dễ dàng, và thường bị cạnh tranh rất mạnh mẽ bởi người Kinh vốn năng động và thạo về thị trường, dịch vụ hơn rất nhiều so với người DTTS, vì vậy người DTTS thường chịu thiệt thòi trong việc nắm bắt và chi phối các thị phần cho sản phẩm lâm nghiệp của mình ngay trên chính mảnh đất của mình.

- Người DTTS còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật, trong chuyển giao công nghệ phát triển kinh tế - xã hôi - văn hóa: họ gặp khó khan hơn người Kinh trong việc giao tiếp trên thị trường cũng như trong mọi phương diện của đời sống. Vốn xã hội của người DTTS nghèo hơn người Kinh rất nhiều, vì mạng lưới quan hệ xã hội của họ hầu hết bó hẹp trong phạm vi cộng đồng thôn bản, buôn làng; khi ra khỏi ranh giới cộng đồng buôn làng họ trở nên bỡ ngỡ, xa lạ, dễ bị thiệt thòi và rất khó cạnh tranh được so với người Kinh có nhiều lợi thế hơn.

- Phụ nữ DTTS là người chịu thiệt thòi nhiều nhất, vì họ ít được học hành, ít ra khỏi ranh giới địa lý buôn làng; họ thường phải chịu đựng nhiều nhất đối với các tập quán của người DTTS như lấy chồng sớm, thậm chí tảo hôn, tỷ lệ không biết chữ còn cao, có nơi đến 50 - 60%; phụ nữ cũng là những người ít có tiếng nói và vị thế trong cộng đồng, vì vậy các chương trình DA liên quan đến phát triển và bảo vệ rừng triển khai ở vùng DTTS thì việc tham gia của phụ nữ sẽ gặp không ít khó khăn với các yếu thế của phụ nữ.

- Một thời gian dài việc cấp sổ đỏ cho đất ở và đất rừng chỉ ghi tên chủ hộ, mà hầu hết là chủ hộ nam đã để lại một di chứng bất bình đẳng giới còn rất nặng nề đối với chị em ở hầu hết các vùng DTTS; hơn nữa cộng với việc ít giao tiếp xã hội, ít có tiếng nói ngoài cộng đồng so với nam giới đã biến phụ nữ trở thành nhóm yếu thế một cách không đáng có từ chính việc cấp đất đai, chỉ với việc ghi tên một chiều như vậy.

- Ở nhiều nơi, đất đai lâu nay thuộc quyền quản lý của các lâm trường hoặc của các ban quản lý rừng phòng hộ, với diện tích đáng kể, cũng phần nào gây nên tình trạng thiếu đất sản xuất cho người dân địa phương, đặc biệt là người DTTS, một số nơi đã kiến nghị lên cấp tỉnh để trao lại đất sản xuất cho người dân; đây là một việc làm cần thiết góp phần cải thiện đời sống của người dân địa phương, nhất là người DTTS vốn là nhóm yếu thế so với nhóm đa số.

- Việc tham gia của các bộ phận có liên quan hoặc đại diện cho người DTTS như hệ thống cán bộ dân tộc tôn giáo xã, Phòng Dân tộc huyện, Ban Dân tộc tỉnh vào các chương trình, dự án liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn thiếu; những bộ phận này hầu hết mới chỉ thực hiện một số chức nghiệp nặng về chính sách chung chung, họ chưa thực sự là các nhà chuyên môn, tham gia một cách hiệu quả, tư vấn một cách hiệu quả cho các chương trình, dự án bảo vệ và phát triển rừng tại các địa phương, đặc biệt là tại các thôn xã, huyện có tỷ lệ người DTTS cao.

- Việc chia sẻ lợi ích giữa nhà nước, các công ty, các cơ quan tổ chức có liên quan đến rừng như ngành lâm nghiệp, nông nghiệp, các lâm trường, kiểm lâm, các công ty kinh doanh rừng và lâm sản, nhất là các ngành thủy điện, tài nguyên, môi trường, v.v…vẫn còn gặp rất nhiều vấn đề vướng mắc khi chia sẻ lợi ích với các cộng đồng địa phương; ở hầu hết các địa phương có rừng, vẫn còn nhiều nhóm người dân thiếu phương tiện sản xuất, đặc biệt là đất rừng; tiền công khoán bảo vệ rừng còn thấp, và phân chia không đồng đều cho mọi người trong cộng đồng vẫn là nguy cơ tiềm ẩm cho nạn thờ ơ với rừng, thậm chí khai thác trái phép hoặc phá rừng.

- Việc chia sẻ lợi ích trong bảo vệ và phát triển rừng trong nội bộ mỗi cộng đồng cũng gặp nhiều khó khan; vì nguồn lực hạn chế, nên một số cơ quan, tổ chức, lâm trường, kiểm lâm chỉ muốn sử dụng một nhóm nhỏ người dân địa phương tham gia các tổ đội bảo vệ rừng để dễ dàng hơn trong việc quản lý, chi trả. Tuy nhiên cách làm đó lại trái ngược với tập quán và truyền thống bình quân tồn tại hàng ngàn đời trong các cộng đồng DTTS. Đó có thể là nguy cơ tiềm ẩn cho tình trạng bất bình đẳng, trong đó có bất bình đẳng giới, vì phụ nữ thường không thể trực tiếp tham gia công việc tuần tra bảo vệ rừng như nam giới.

- Các vướng mắc trong cơ chế tuyển dụng một số nhỏ người dân địa phương vào các tổ nhóm bảo vệ và phát triển rừng chính là nguy cơ tiềm ẩn cho việc gạt ra ngoài lề đa số còn lại, vì vậy tác động không nhỏ đến sự tham gia của đa số người dân; trong khi đó chúng ta đều biết rằng muốn giữ và phát triển được rừng thì không thể thiếu được sự tham gia của đa số người dân, đặc biệt là các cộng đồng DTTS địa phương. Sự tham gia của các tổ chức đại diện cho người DTTS vào công việc bảo vệ và phát triển rừng cũng gặp nhiều vấn đề: các Ban, Phòng, cán bộ làm công tác DTTS hầu hết chỉ thực hiện một số công việc sự vụ liên quan đến các chính sách chung về DTTS. Họ ít có điều kiện tham gia vào các chương trình, DA trồng, chăn sóc, bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy họ hầu như không có tiếng nói có ảnh hưởng đối với lĩnh vực này.

- Ngày nay với sự ra đời của các thể chế mới, nhiều thể chế truyền thống của người DTTS đã bị giải thể, thay thế, hoặc mất đi chức năng vốn có của mình, chẳng hạn như thể chế sở hữu rừng theo cộng đồng buôn làng, thể chế già làng, thể chế chủ làng, các phong tục, tập quán, các lễ nghi mang tính tín ngưỡng liên quan đến việc khai thác, bảo vệ và phát triển rừng. Điều đó tác động không nhỏ đến tâm lý, hành vi thờ ơ với rừng, thậm chí đồng lõa hoặc tham gia phá rừng vì những lợi ích thuần túy vật chất trước mặt. Đây cũng là một trong những lý do sâu xa tác động không nhỏ đến việc bảo vệ và phát triển rừng.

 

Hà Nội, ngày 15  tháng 12 năm 2015

NGƯỜI VIẾT

 

 

           

Hà Hữu Nga

ĐIỀU PHỐI VIÊN DỰ ÁN

Xác nhận

 

 

Vũ Hoài Minh

 

Annexes

DANH SÁCH NGƯỜI THAM DỰ THAM VẤN TẠI THANH HÓA

 

TT

Họ và tên

Giới tính

Dân tộc

Vị trí

Nam

Nữ

UBND xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa (ngày 18/11/2015)

1

Phạm Hồng Tia

X

 

Thái

Chủ tịch UBND xã

2

Phạm Thị Kim

 

X

Thái

Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã

3

Phạm Thị Thu Phương

 

X

Thái

Cán bộ Dân tộc - Tôn giáo xã

4

Phạm Văn Thông

X

 

Thái

Khuyến nông xã

5

Cao Văn Hoanh

X

 

Thái

Nông nghiệp xã

6

Cao Văn Định

X

 

Thái

Địa chính xã

UBND huyện Lang Chánh (ngày 19/11/2015)

1

Lương Đức Thuận

X

 

Thái

Trưởng phòng Dân tộc

2

Mai Văn Nguyên

X

 

Kinh

Cán bộ hạt Kiểm lâm

3

Lê Quang Tùng

X

 

Thái

Cán bộ Phòng Nông nghiệp

4

Nguyễn Viết Thắng

X

 

Kinh

Phó Phòng Nông nghiệp

5

Nguyễn Văn Long

X

 

Kinh

Phó Phòng Tài nguyên Môi trường

BQL Rừng Phòng hộ huyện Lang Chánh

1

Lê Quang Tùng

X

 

Thái

Cán bộ Phòng Nông nghiệp

2

Hoàng Thị Tuyết

 

X

Kinh

Trưởng phòng Hành chính

3

Mai Bá Đính

X

 

Kinh

Phó phòng Kế hoạch

UBND xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh (ngày 20/11/2015)

1

Lê Trung Chớng

X

 

Thái

Chủ tịch HĐND xã

2

Lê Văn Hoàng

X

 

Thái

Phó Chủ tịch xã

3

Lê Văn Thắng

X

 

Thái

Cán bộ Văn hóa xã

4

Lê Văn Phúc

X

 

Thái

Cán bộ Địa chính xã

5

Mai Xuân Thao

X

 

Kinh

Cán bộ Địa chính xây dựng xã

Thôn Tân Sơn, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh (ngày 20/11/2015)

1

Hồ Văn Khéo

X

 

Vân Kiều

Chủ tịch UBND xã

2

Hồ Văn Giang

X

 

Vân Kiều

Phó Chủ tịch UBND xã

3

Hồ Quốc Việt

X

 

Kinh

Kiểm lâm địa bàn

4

Ôn Quốc Sơn

X

 

Kinh

Công chức địa chính xã

5

Nguyễn Văn Hiếu

X

 

Kinh

Công chức văn-xã xã

6

Hồ Văn Tường

X

 

Vân Kiều

Công chức địa chính xã

7

Hồ Thị Nguyệt

 

X

Vân Kiều

Chủ tịch hội Phụ nữ xã

8

Hồ Văn Thết

X

 

Vân Kiều

Phó Bí thư xã Đoàn

 

 

 

 

 

 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét