Powered By Blogger

Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2021

Biểu tượng học So sánh về Ngưỡng trong Lễ thức, Trò chơi, và Dòng đời (I)

Victor Turner

Người dịch: Hà Hữu Nga

Trước tiên, tôi sẽ mô tả quan niệm của tôi về “biểu tượng học so sánh” và theo một cách rộng rãi, nó khác với các chuyên ngành như “ký hiệu học” (hoặc tín hiệu học) và “nhân học biểu tượng,” cũng liên quan đến việc nghiên cứu các thuật ngữ, chẳng hạn như các biểu tượng, ký hiệu, tín hiệu, ý nghĩa, chỉ mục, hình tượng, cái biểu đạt, cái được biểu đạt, phương tiện-ký hiệu, cái được biểu thị, v.v. Thay vào đó, tôi muốn thảo luận về một số loại quá trình và bối cảnh văn hóa-xã hội trong đó các biểu tượng mới, bằng lời nói và không bằng lời nói, có xu hướng được tạo ra. Điều này sẽ dẫn đến việc so sánh các hiện tượng liminal ngưỡng [xã hội bộ lạc - HHN] và liminoid ngưỡng [xã hội hiện đại - HHN], những thuật ngữ mà tôi sẽ xem xét ngay sau đây.

Theo Từ điển Thế giới Mới của Webster, biểu tượng học là “nghiên cứu hoặc diễn giải các biểu tượng”; nó cũng là “sự trình bày hoặc biểu hiện bằng các biểu tượng.” Thuật ngữ “so sánh” chỉ đơn thuần có nghĩa là nhánh nghiên cứu này liên quan đến việc so sánh như một phương pháp, chẳng hạn như ngôn ngữ học so sánh. Biểu tượng học so sánh hẹp hơn “ký hiệu học semiotics và “tín hiệu học semiology” sử dụng thuật ngữ của Saussure và Roland Barthes), và rộng hơn “nhân học biểu tượng” trong lĩnh vực và phạm vi của dữ liệu và vấn đề. “Ký hiệu học”, như mọi người đều biết, là “một lý thuyết chung về các ký hiệu và biểu tượng, đặc biệt là phân tích bản chất và mối quan hệ của các ký hiệu trong ngôn ngữ, thường bao gồm ba nhánh: cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.” (1) Cú pháp là: các mối quan hệ hình thức của các ký hiệu và biểu tượng với nhau ngoài người dùng chúng hoặc tham chiếu bên ngoài; tổ chức và mối quan hệ của các nhóm, cụm từ, mệnh đề, câu và cấu trúc câu; (2) Ngữ nghĩa là: các mối quan hệ của các ký hiệu và biểu tượng với sự vật mà chúng đề cập đến, nghĩa là ý nghĩa quy chiếu của chúng; (3) Ngữ dụng là: các mối quan hệ của các ký hiệu và biểu tượng với người sử dụng chúng. Trong phân tích của riêng tôi về các biểu tượng lễ thức, thì “cú pháp” gần giống với cái mà tôi gọi là “ý nghĩa vị trí”; còn “ngữ nghĩa” tương tự như “nghĩa chú giải”; và “ngữ dụng” thì tương tự như “ý nghĩa thao tác.” Tín hiệu học dường như có khát vọng rộng hơn so với ký hiệu học, vì nó được định nghĩa là “khoa học về các ký hiệu nói chung” trong khi ký hiệu học tự giới hạn trong các ký hiệu ngôn ngữ, mặc dù giờ đây Roland Barthes vẫn đang giữ lập trường cho rằng “ngôn ngữ học không phải là một bộ phận của khoa học tổng quát về các ký hiệu… mà tín hiệu học mới là một bộ phận của ngôn ngữ học” (Elements of Semiology, p. 11).

Biểu tượng học so sánh không liên quan trực tiếp đến các khía cạnh kỹ thuật của ngôn ngữ học, mà chủ yếu liên quan đến nhiều loại biểu tượng phi ngôn ngữ trong lễ thức và nghệ thuật, mặc dù phải thừa nhận rằng tất cả các ngôn ngữ văn hóa đều có các thành phần ngôn ngữ học quan trọng, các thay thế, hoặc những “cái được biểu đạt”. Tuy nhiên, nó có liên quan đến các mối quan hệ giữa các biểu tượng và các khái niệm, cảm giác, giá trị, quan niệm, v.v. được người dùng, người thông dịch hoặc nhà chú giải liên kết với chúng: nói tóm lại, nó có các chiều kích ngữ nghĩa, liên quan đến ý nghĩa trong ngôn ngữ và ngữ cảnh. Dữ liệu của nó chủ yếu được rút ra từ các thể loại văn hóa hoặc các hệ thống con của văn hóa biểu đạt. Chúng bao gồm cả thể loại truyền khẩu và văn học, và người ta có thể dự tính trong số đó có các hoạt động kết hợp các hành động biểu tượng bằng khẩu ngữ và phi khẩu ngữ, chẳng hạn như các thể loại lễ thức và kịch nghệ, cũng như các thể loại tự sự, chẳng hạn như thần thoại, sử thi, thơ ca, truyện kể và các hệ tư tưởng. Chúng cũng sẽ bao gồm các hình thức không lời, chẳng hạn như kịch câm, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa ba lê và kiến ​​trúc. Và nhiều thứ khác nữa.

Nhưng biểu tượng học so sánh không chỉ đơn thuần khảo sát các thể loại văn hóa trong sự trừu tượng hóa từ hoạt động xã hội của con người. Nó sẽ trở thành tín hiệu học nếu đúng như vậy, thì kho dữ liệu của nó “phải loại bỏ tối đa các yếu tố lịch đại” và phải trùng khớp với “trạng thái của hệ thống, một mặt cắt của lịch sử” (Barthes, 1967: 98). Năm 1958 (Forest of Symbols, p. 20), khi xem xét dữ liệu lễ thức được thu thập trong quá trình thực địa của tôi ở người Ndembu tây bắc Zambia, tôi đã viết rằng “Tôi không thể phân tích [những] biểu tượng lễ thức này nếu không nghiên cứu chúng trong một chuỗi thời gian trong mối quan hệ với các “sự kiện” khác [cũng liên quan đến biểu tượng, như một “sự kiện”, chứ không phải là một “vật”], vì các biểu tượng về cơ bản có liên quan đến các quá trình xã hội [và, giờ đây tôi cũng sẽ nói thêm là, đến cả các quá trình tâm lý nữa]. Tôi đến xem các buổi thực hành lễ thức như là các giai đoạn khác biệt trong các quá trình xã hội, theo đó các nhóm được điều chỉnh theo những thay đổi bên trong (cho dù là thay đổi cá nhân đưa đến hoặc thích nghi với môi trường bên ngoài của họ (các môi trường xã hội và văn hóa, cũng như môi trường vật lý và sinh học). Từ quan điểm này, biểu tượng nghi lễ trở thành một nhân tố trong hành động xã hội, một động lực tích cực trong một lĩnh vực hoạt động. Các biểu tượng cũng có liên quan thiết yếu đến các tình huống thay đổi của xã hội - biểu tượng trở nên gắn liền với lợi ích, mục đích, kết cục cũng như phương tiện, nguyện vọng và lý tưởng của con người, kể cả cá nhân và tập thể, cho dù chúng được tạo dựng một cách rõ ràng hay phải được suy ra từ hành vi quan sát được. Vì những lý do này, mà cấu trúc và các thuộc tính của một biểu tượng lễ thức trở thành các cấu trúc và thuộc tính của một thực thể động, ít nhất là trong bối cảnh hoạt động thích hợp của nó. Chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn một số “thuộc tính” này sau. Nhưng ở đây tôi muốn nhấn mạnh điều đó vì ngay từ đầu tôi đã tạo dựng các biểu tượng như những hệ thống xã hội và văn hóa năng động, khi bộc lộ và tập hợp ý nghĩa theo thời gian và thay đổi về hình thức, tôi không thể coi chúng chỉ đơn thuần là các thuật ngữ trong các hệ thống nhận thức logic hoặc nguyên logic phi thời gian. Không nghi ngờ gì nữa, trong các thể loại chuyên biệt của các xã hội phức tạp như các hệ thống triết học, thần học và hệ thống logic hình thức, thì các biểu tượng, và các ký hiệu bắt nguồn từ sự phân hủy của chúng, thực sự có được phẩm chất “đại số” hoặc logic này, và có thể được xử lý một cách hiệu quả trong các quan hệ “đối lập nhị phân” là những “kẻ hòa giải”, và phần còn lại, bị biến chất bởi tính ưu trội của hoạt động nhận thức chuyên môn. Nhưng Ies symboles sauvages các biểu tượng hoang dã, vì chúng không chỉ xuất hiện trong các nền văn hóa “bộ lạc” truyền thống, mà còn xuất hiện trong các thể loại “văn hóa tươi khỏe” như thơ ca, kịch nghệ và hội họa, của xã hội hậu công nghiệp, có đặc trưng của các hệ thống ngữ nghĩa năng động, các ý nghĩa được và mất - và ý nghĩa trong bối cảnh xã hội luôn luôn có các chiều kích cảm xúc và ý chí - khi chúng “trải qua” một lễ thức hoặc tác phẩm nghệ thuật đơn lẻ, huống hồ qua hàng thế kỷ thực hành, và nhằm mục đích tạo ra những tác động lên trạng thái tâm lý và hành vi của những người bộc lộ chúng hoặc nhờ sử dụng chúng mà giao tiếp được với những người khác. Tôi luôn cố gắng gắn công việc của mình vào phân tích quá trình, chẳng hạn như các nghiên cứu về quá trình liên tục của nền chính trị thôn làng trong Phân ly và Liên tục, với công việc của tôi trong phân tích các thực hành lễ thức.

Đây có lẽ là lý do tại sao tôi thường tập trung vào việc nghiên cứu các biểu tượng riêng lẻ, vào các trường ngữ nghĩa và số phận quá trình của chúng khi chúng chuyển qua kịch bản của một thực hành lễ thức cụ thể và tái xuất hiện trong các loại lễ thức khác, hoặc thậm chí chuyển từ thể loại này sang thể loại khác, chẳng hạn, từ lễ thức thành chu kỳ thần thoại, thành sử thi, thành truyện cổ tích, thành châm ngôn trong một án lệ. Mức độ tập trung như vậy để lại tương lai ngữ nghĩa cho mỗi biểu tượng, vì nó được kết-mở, nơi phân tích hình thức về toàn bộ tập biểu tượng, được giả định tiên nghiệm là một hệ thống hoặc một cấu trúc hình thức, được coi là đóng, phi thời gian và đồng đại, một “kho dữ liệu” hoặc tập hợp tư liệu hữu hạn, có xu hướng nhấn mạnh các thuộc tính và các mối liên hệ hình thức của một biểu tượng nhất định và có xu hướng chọn ra từ vô số ý nghĩa của nó duy nhất thứ chỉ định cụ thể làm cho nó trở thành một thuật ngữ thích hợp trong một đối lập nhị phân nào đó, mà bản thân nó là một khối quan hệ hợp nhất của một hệ thống nhận thức giới hạn. Tính nhị phân và tính võ đoán có xu hướng đi đôi với nhau, và cả hai đều thuộc về thế giới phi thời tính của những “cái biểu đạt”. Một cách xử lý như vậy, trong khi thường mang tính thanh lịch đầy quyến rũ, cú rùng mình ớn lạnh cho năng lực nhận thức của chúng ta, lại loại bỏ toàn bộ tập biểu tượng khỏi đời sống xã hội phức tạp, liên tục thay đổi, âm u hoặc lấp lánh với khát vọng và cảm giác, là môi trường và bối cảnh riêng biệt của nó, và truyền đạt cho nó một trạng thái nhị nguyên luận rigor mortis chết cứng. Các biểu tượng, cả với tư cách là những phương tiện có thể nhận biết bằng giác quan (signifiants - cái biểu đạt) và như là các tập “ý nghĩa” (signifiés - cái được biểu đạt), về cơ bản liên quan đến tính đa biến thể, tính biến đổi của các sinh vật về cơ bản là sống, có ý thức, có cảm xúc và ý chí, những kẻ sử dụng chúng không chỉ để tạo ra trật tự cho vũ trụ mà bọn đó cư sinh, mà còn sáng tạo tận dụng sự rối loạn, cả bằng cách vượt qua hoặc quy giản nó trong những trường hợp cụ thể và bằng cách đặt câu hỏi về các nguyên tắc tiên đề trước đây đã trở thành gông cùm đối với sự hiểu biết và thao túng những sự vật đương thời. Ví dụ, việc chất đống các hình thức biểu tượng trần tục, lộn xộn của Rabelais đại diện cho những hành động và thuộc tính lộn xộn của Gargantua và Pantagruel đã thách thức tính ngăn nắp của các hệ thống thần học và triết học kinh viện - kết quả, nghịch lý thay, lại làm tiêu tan chính sách ngu dân kín nước về mặt logic. Khi các biểu tượng bị cứng nhắc thành các toán tử logic và bị phụ thuộc vào các quy tắc ngầm tợ-cú pháp, bởi một số nhà nghiên cứu hiện đại của chúng ta, thì những kẻ quá coi trọng chúng sẽ trở nên mù quáng trước tiềm năng sáng tạo hoặc đổi mới của các biểu tượng với tư cách là các nhân tố trong hành động của con người. Các biểu tượng có thể “xúi giục” cách hành động như vậy và trong các tình huống kết hợp khác nhau sẽ chuyển hướng đi của nó bằng các mục tiêu và phương tiện bão hòa với ảnh hưởng và khát vọng. Biểu tượng học so sánh thực sự cố gắng duy trì cái năng lực chơi này, tóm bắt các biểu tượng đang chuyển động, có thể nói như vậy, và “chơi” với các khả tính về dạng thức và ý nghĩa của chúng. Nó thực hiện điều này bằng cách bối cảnh hóa các biểu tượng trong các lĩnh vực lịch sử, cụ thể mà “những kẻ còn sống” sử dụng chúng khi họ hành động, phản ứng, giao dịch và tương tác xã hội. Ngay cả khi biểu tượng là sự đảo ngược của hiện thực thực dụng, thì nó vẫn liên hệ mật thiết với đảo ngược đó, tác động và bị tác động bởi nó, cung cấp cho hình tượng tích cực cái nền tảng tiêu cực của nó, do đó phân định từng thứ, và giành cho “vũ trụ” một lãnh thổ mới.

Hẹp hơn phạm vi ký hiệu học, biểu tượng học so sánh rộng hơn nhân học biểu tượng, vì nó đề xuất tính đến không chỉ các tài liệu “dân tộc chí”, mà còn cả các thể loại biểu tượng của cái gọi là các nền văn minh “tiên tiến”, các xã hội công nghiệp quy mô lớn, phức tạp. Không nghi ngờ gì nữa, viễn kiến rộng rãi này buộc nó phải chấp nhận các phương pháp, lý thuyết và phát hiện của các chuyên gia và những người tinh thông trong nhiều ngành học mà hầu hết các nhà nhân học đều biết quá ít, chẳng hạn như lịch sử, văn học, âm nhạc học, lịch sử nghệ thuật, thần học, lịch sử tôn giáo, triết học, v.v. Tuy nhiên, khi nỗ lực nghiên cứu hành động biểu tượng trong các nền văn hóa phức tạp, các nhà nhân học, những người hiện chủ yếu nghiên cứu các biểu tượng trong thần thoại, lễ thức và nghệ thuật “bộ lạc” hoặc nông nghiệp giản đơn, sẽ chẳng biết làm gì hơn là quay trở về với truyền thống đáng kính của những tiền nhân, chẳng hạn như Durkheim và trường phái Année Sociologique Xã hội học Biên niên, cũng như Kroeber, Redfield, và những người kế nhiệm họ, chẳng hạn như Giáo sư Singer, người đã kiểm tra các tiểu-hệ thống văn hóa trong các oikoumenes  (nghĩa đen là các “vùng sinh cư”, được Kroeber sử dụng để chỉ các phức hợp văn minh, chẳng hạn như Kitô giáo, Hồi giáo, Ấn Độ và nền văn minh Trung Quốc, v.v.) và các Đại Truyền thống. [Chen ngang: οἰκουμένη oikoumene thuật ngữ Hy Lạp này là phân từ trung gian hiện tại bất định giống cái của động từ οἰκέω – [tôi] cư trú) và là dạng cắt cụt của οἰκουμένη γῆ oikouménē gē - thế giới có người ở) - HHN].

Trong trường hợp của riêng mình, tôi tự thúc ép nghiên cứu các thể loại biểu tượng trong các xã hội quy mô-lớn bởi một số hàm ý trong các công trình của Arnold van Gennep (chủ yếu dựa trên dữ liệu của các xã hội quy mô nhỏ) trong cuốn Rites de PassageLễ thức Chuyển qua, được xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1908. Mặc dù bản thân van Gennep dường như đã có ý định rằng thuật ngữ “lễ thức chuyển qua” của ông cần phải được sử dụng cho cả các lễ thức đi kèm với sự thay đổi vị thế xã hội của một cá nhân hoặc một nhóm họ hàng và cho những gì liên quan đến những thay đổi theo mùa cho toàn bộ một xã hội, nhưng cuốn sách của ông lại chỉ tập trung vào loại hình một cá nhân hoặc một nhóm họ hàng; và thuật ngữ này hầu như chỉ được sử dụng liên quan đến những lễ thức “khủng hoảng-cuộc sống” này. Tôi đã cố gắng quay lại cách với sử dụng trước đây của van Gennep liên quan đến hầu hết tất cả các loại lễ thức với tư cách có hình thái quá trình của tình trạng “chuyển qua”. Thuật ngữ này có nghĩa là gì?

Van Gennep, như mọi người đều biết, phân biệt ba giai đoạn trong một lễ thức chuyển qua: tách biệt, chuyển tiếp, và tích hợp. Giai đoạn đầu tiên của tình trạng tách biệt phân định rõ ràng không gian và thời gian thiêng với không gian và thời gian tục hoặc trần tục (Đó không chỉ là vấn đề tham gia vào một đền miếu - mà còn phải có một lễ thức làm biến đổi chất lượng thời gian, hoặc tạo dựng một lĩnh vực văn hóa được xác định là “ngoài thời gian”, tức là vượt quá hoặc ở ngoài thời gian vốn vẫn đo lường các quy trình và thói quen thế tục). Nó bao gồm hành vi biểu tượng - đặc biệt là các biểu tượng về sự hoán vị hoặc nghịch đảo các sự vật, các mối quan hệ và các quá trình thế tục - đại diện cho sự tách rời các đối tượng lễ thức (kẻ học đạo, ứng viên, người mới vào nghề hoặc “kẻ khai tâm”) khỏi các vị thế xã hội trước đây của họ. Trong trường hợp là các thành viên của một xã hội, điều đó ẩn ý là dịch chuyển tập thể khỏi toàn bộ những gì có liên quan về phương diện xã hội và văn hóa trong một mùa vụ nông nghiệp, hoặc khỏi một giai đoạn hòa bình khi phải đối mặt với một cuộc chiến, khỏi bệnh dịch sang trạng thái khỏe mạnh của cộng đồng, khỏi một trạng thái hoặc cảnh huống văn hóa xã hội trước đó, sang trạng thái hoặc cảnh huống mới, một vòng quay mới của bánh xe mùa vụ. Trong giai đoạn chuyển tiếp xen kẽ, được van Gennep gọi là “lề” hoặc limen tiếng Latin là “ngưỡng”, các chủ thể lễ thức vượt qua một giai đoạn và lĩnh vực mơ hồ, một loại lấp lửng về phương diện xã hội, có rất ít (mặc dù đôi khi những điều này lại quan yếu nhất) của các thuộc tính vị thế xã hội hoặc trạng thái văn hóa trần tục trước hoặc sau đó. Chúng ta sẽ xem xét giai đoạn liminal ngưỡng này kỹ hơn nhiều ở phần sau. Giai đoạn thứ ba, được van Gennep gọi là “tái tổ hợp” hay “tích hợp” bao gồm các hiện tượng và hành động mang tính biểu tượng thể hiện sự trở lại của các đối tượng với vị trí mới, tương đối ổn định, được xác định rõ ràng của họ trong xã hội tổng thể. Đối với những người trải qua lễ thức vòng đời, điều này thường đại diện cho một vị thế được nâng cao, một giai đoạn tiến xa hơn dọc theo con đường đời được lát sẵn về phương diện văn hóa; đối với những người tham gia lễ thức theo lịch pháp hoặc mùa vụ, thì không có biến đổi nào về vị thế, nhưng về phương diện lễ thức họ đã được chuẩn bị cho một loạt thay đổi về bản chất của các hoạt động văn hóa và sinh thái sẽ được thực hiện và các mối quan hệ mà họ sẽ có với những người khác - tất cả những điều này đều tốt cho mỗi quý cụ thể của chu kỳ sản xuất hàng năm. Nhiều lễ thức chuyển qua là bất khả nghịch đảo (với các đối tượng riêng lẻ) chỉ một lần duy nhất, trong khi các lễ thức theo lịch pháp được tất cả mọi người lặp lại hàng năm, mặc dù, tất nhiên, người ta có thể tham dự lễ thức chuyển qua của người thân hoặc bạn bè vô số lần, cho đến khi người ta biết dạng thức của họ  rõ hơn bản thân những kẻ khai tâm, giống như những bà già “không bao giờ bỏ lỡ đám cưới nào” so với những cặp vợ chồng lo lắng trong cuộc hôn nhân đầu tiên của họ. Tôi đã cho rằng các lễ thức chuyển qua mang tính khai tâm có xu hướng “hạ thấp mọi người” trong khi một số lễ thức mùa vụ lại có xu hướng “nâng cao mọi người”, tức là, các lễ thức khai tâm hạ thấp con người trước khi vĩnh viễn nâng họ lên, trong khi một số lễ thức mùa vụ (mà những tàn tích của nó là đình đám và lễ hội) nhất thời nâng cao những kẻ có vị thế thấp kém trước khi đưa họ trở lại vị thế thấp kém vĩnh viễn. Arnold van Gennep cho rằng ba giai đoạn trong lược đồ của ông khác nhau về độ dài và mức độ chi tiết trong các loại lễ thức chuyển qua khác nhau: ví dụ: “các lễ thức tách biệt nổi bật trong lễ tang, lễ thức tích hợp trong hôn nhân. Các lễ thức chuyển tiếp có thể đóng một vai trò quan trọng, ví dụ, khi mang thai, đính hôn và khai tâm.” Tình hình còn phức tạp hơn nữa do những khác biệt về vùng miền và sắc tộc cắt qua các yếu tố loại hình học. Tuy nhiên, hiếm khi không tìm thấy dấu vết của lược đồ ba-phần trong các lễ thức “bộ lạc” và “nông nghiệp”.

Lễ thức chuyển qua từ vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác thường đi kèm với lễ thức chuyển qua song hành trong không gian, sự di chuyển địa lý từ nơi này đến nơi khác. Lễ thức chuyển qua này có thể lấy dạng thức của một cánh cửa mở ra hoặc việc bước qua ngưỡng cửa theo nghĩa đen, tách biệt hai khu vực riêng rẽ, một khu vực gắn liền với vị thế tiền-lễ thức hoặc pre-liminal trước-ngưỡng của đối tượng, và khu vực kia gắn với vị thế sau-lễ thức hoặc post-liminal sau-ngưỡng của hắn. (“Tiến tới hai bước” của lính nghĩa vụ quân sự khi anh ta tuân theo mệnh lệnh quân sự đầu tiên của đời mình có thể đóng vai trò như một ví dụ hiện đại của một dịch chuyển được lễ thức hóa thành ngưỡng.) Mặt khác, lễ thức chuyển qua trong không gian có thể liên quan đến một cuộc hành hương dài, đầy nỗ lực và vượt qua nhiều biên giới quốc gia trước khi chủ thể đạt tới mục tiêu của hắn, ngôi đền linh thiêng liêng - nơi hành động phụ lễ có thể tái tạo trong tiểu vũ trụ của lược đồ ba-phần tại chính ngôi đền. Đôi khi, biểu tượng không gian này có thể là tiền thân của sự thay đổi thực sự và vĩnh viễn nơi cư trú hoặc phạm vi địa lý của hành động, chẳng hạn như khi một cô gái Nyakusa hoặc Ndembu Châu Phi, sau các lễ thức dậy thì, rời bỏ ngôi làng quê hương để đến sống ở ngôi làng người chồng, hoặc trong một số xã hội săn bắn nhất định, các chàng trai trẻ sống với mẹ của họ cho đến khi thực hành lễ thức khai tâm, sau đó họ bắt đầu sống với những thợ săn khác của bộ lạc. Có lẽ điều gì đó của lối suy nghĩ này vẫn tồn tại trong xã hội của chúng ta, khi trong các tổ chức quan liêu lớn trên quy mô quốc gia, chẳng hạn như chính phủ liên bang hoặc một tập đoàn công nghiệp lớn, hệ thống đại học, v.v., thăng tiến về vị thế và tiền lương thường liên quan đến sự di chuyển trong không gian từ thành phố này đến thành phố khác, một quá trình được William Watson mô tả trong một bài viết cho cuốn Closed Systems to Open Minds Hệ thống Khép kín đến Tư duy Cởi mở (do Max Gluckman biên tập, 1965) là “thuyết xoắn ốc”. Giai đoạn liminoid ngưỡng giữa việc rời khỏi một vị trí và đảm nhận một vị trí khác sẽ hoàn trả cho công việc nghiên cứu bằng những thuật ngữ biểu tượng học so sánh, liên quan đến cả chủ đề (ước mơ, tưởng tượng, việc đọc và giải trí yêu thích của ông) lẫn những gì mà ông bỏ lại và tham gia (các huyền thoại về ông, cách xử lý với ông, v.v.). Nhưng sau này vẫn sẽ còn nhiều thứ để nói về điều đó và về sự phân biệt giữa ngưỡng liminal và ngưỡng liminoid.

Theo van Gennep, một giai đoạn liminal ngưỡng kéo dài trong các lễ thức khai tâm của các xã hội bộ lạc thường được đánh dấu bằng sự tách biệt vật lý của các đối tượng lễ thức khỏi phần còn lại của xã hội. Do đó, ở một số bộ lạc Úc, Melanesia và Châu Phi, một cậu bé trải qua quá trình khai tâm phải có một thời gian dài sống ngoài bờ bụi, cắt đứt các tương tác xã hội bình thường trong làng và gia đình. Các biểu tượng lễ thức của giai đoạn này, mặc dù một số thể hiện tình trạng nghịch đảo của thực tại bình thường, được đặc trưng bằng hai loại: các biểu tượng cho sự xóa bỏ và các biểu tượng cho tính mơ hồ hoặc ngược đời. Do đó, trong nhiều xã hội, các đối tượng khai tâm đương ngưỡng (liminal initiands) thường được coi là tối tăm, vô hình, giống như mặt trời nhật thực hoặc mặt trăng nguyệt thực hoặc mặt trăng giữa các tuần trăng, ở phía “bóng tối của mặt trăng”; chúng bị lột bỏ tên gọi lẫn quần áo, bị trát bùn đất khiến không thể phân biệt được với động vật. Chúng được liên tưởng với những cặp đối lập chung như sống / chết, nam / nữ, thức ăn / phân; đồng thời vì chúng lập tức hấp hối vì vị thế cũ hoặc chết để trở lại vị thế và cuộc sống cũ, và được sinh ra và lớn lên thành những vị thế mới. Sự đảo ngược biểu tượng rõ ràng của các thuộc tính xã hội có thể đặc trưng cho sự tách biệt; việc làm mờ và hợp nhất các khác biệt có thể mô tả rõ đặc tính ngưỡng. Do đó, các đối tượng lễ thức trong các lễ thức này trải qua một quá trình “san bằng”, trong đó các dấu hiệu của vị thế trước ngưỡng của họ bị hủy bỏ và các dấu hiệu của tình trạng phi-vị thế liminal đương ngưỡng của họ được áp dụng. Tôi đã đề cập đến một số chỉ báo nhất định về tình trạng ngưỡng của họ - vắng mặt quần áo và tên gọi - các dấu hiệu khác bao gồm việc ăn hoặc không ăn các loại thực phẩm cụ thể, không quan tâm đến ngoại hình cá nhân, mặc đồng phục, đôi khi không phân biệt giới tính. Ở giữa quá trình chuyển đổi, các đối tượng khai tâm được đẩy ngày càng xa về phía đồng dạng, vô hình về phương diện cấu trúc và càng vô danh càng tốt.

Bằng cách đền bù, các đối tượng khai tâm có được một loại tự do đặc biệt, một “linh năng” của bọn nhu mì, yếu đuối và thấp kém. Như van Gennep giải thích: “Trong toàn bộ giai đoạn khai tâm, các mối quan hệ kinh tế và luật lệ thông thường được sửa đổi, đôi khi bị phá vỡ hoàn toàn. Những kẻ đương khai tâm ở ngoài xã hội, và xã hội cũng không có quyền lực nào đối với họ, đặc biệt là vì họ thực sự [về mặt tín ngưỡng bản địa] thiêng liêng, thánh thiện, và do đó không thể chạm tới và nguy hiểm, hệt như các vị thần vậy. Vì thế, dẫu sao các cấm kỵ, với tư các là các lễ thức phủ định, vẫn dựng lên một rào cản giữa các đối tượng khai tâm và xã hội, còn xã hội thì vẫn bất lực trước những bổn phận của bọn đương khai tâm. Đó là cách giải thích - đơn giản nhất trên thế giới - cho một thực tế đã được ghi nhận ở rất nhiều nhóm người và khiến cho giới quan sát vẫn không thể nào hiểu được. Trong thời gian khai tâm, bọn thiếu niên có thể ăn trộm và cướp bóc tùy ý hoặc nuôi sống và trang hoàng cho bản thân bằng chi phí của cộng đồng” (1960: 114).

Trên thực tế, bọn đương khai tâm tạm thời chưa được xác định, nằm ngoài cấu trúc xã hội chuẩn thường. Điều này làm họ yếu đi, vì họ không có quyền đối với kẻ khác. Nhưng nó cũng giải phóng họ khỏi các nghĩa vụ mang tính cấu trúc, và còn đặt họ vào mối gắn kết chặt chẽ với những quyền năng phi xã hội hoặc không mang tính xã hội của sự sống và cái chết. Do đó, người ta thường xuyên so sánh giữa bọn đương khai tâm, một mặt, với ma quỷ, thần thánh, hoặc tổ tiên, và mặt khác, với động vật hoặc chim chóc. Đối với thế giới xã hội bọn đó đã chết, nhưng đối với thế giới phi xã hội thì chúng lại đang sống. Nhiều xã hội làm cho phép phân đôi, rõ ràng hay ngầm ẩm, giữa thiêng và tục, giữa vũ trụ và hỗn độn, giữa trật tự và rối loạn. Trong tình trạng ngưỡng (liminality), các quan hệ xã hội trần tục có thể bị đứt đoạn, các quyền và nghĩa vụ cũ bị đình chỉ, trật tự xã hội dường như đã bị đảo lộn, nhưng theo cách bù trừ của các hệ thống vũ trụ (với tư cách là các đối tượng nghiên cứu nghiêm túc) có thể có được tầm quan trọng trung tâm đối với bọn đương khai tâm, phải đối mặt với bọn tuổi tác, về lễ thức, thần thoại, thi ca, việc hướng dẫn bằng mật ngữ và các thể loại biểu tượng không lời khác nhau, chẳng hạn như nhảy múa, vẽ vời, nặn đất sét, khắc gỗ, làm mặt nạ, v.v., với các mô thức và cấu trúc biểu tượng chẳng khác gì những bài giảng về cấu trúc của vũ trụ và văn hóa của họ như một bộ phận và sản phẩm của nó trong chừng mực chúng được xác định và lĩnh hội, dù ẩn ý hay rõ ràng. Đặc tính ngưỡng có thể liên quan đến một chuỗi các tình tiết phức tạp trong không-thời gian thiêng liêng, và cũng có thể bao gồm các sự kiện có tính chất gây bất ổn, giải trí hoặc vui tươi). Các yếu tố của văn hóa bị biệt lập, trong chừng mực có thể làm được điều này với các biểu tượng đa nghĩa (tức là với sự trợ giúp của các phương tiện biểu tượng - các dạng thức dễ nhận biết bằng giác quan) như cây cối, hình ảnh, tranh vẽ, các hình thức nhảy múa, v.v., mà mỗi dạng thức đều có thể có không phải chỉ một nghĩa đơn mà là nhiều nghĩa. Sau đó, các nhân tố hoặc yếu tố của văn hóa có thể được tái kết hợp theo nhiều cách, thường là kỳ cục, kỳ cục bởi vì chúng được sắp xếp theo khuôn khổ có thể hoặc tưởng tượng hơn là những kết hợp được trải nghiệm - do đó, việc cải trang quái vật có thể kết hợp các đặc điểm của con người, động vật và thực vật theo cách “quái dị”, mặc dù các đặc điểm giống nhau có thể được kết hợp khác nhau, nhưng đều “quái dị” như nhau trong một bức tranh hoặc được mô tả trong một câu chuyện. Nói cách khác, trong tình trạng ngưỡng, người ta “chơi” với các yếu tố của cái thân thuộc và lạ hóa chúng. Tính mới lạ xuất hiện từ những kết hợp chưa từng có của các yếu tố quen thuộc.

Trong các Cuộc họp của Hiệp hội Nhân học Hoa Kỳ năm 1972 tại Toronto, Brian Sutton-Smith đã mượn một thuật ngữ mà tôi đã áp dụng trước đó cho “tình trạng ngưỡng” (cùng các hiện tượng và các sự kiện xã hội khác), cụ thể là, “phản cấu trúc - anti-structure” (nghĩa là tình trạng rã hủy của cấu trúc xã hội định chuẩn, với các tập-vai trò, vị thế, quyền và nghĩa vụ pháp lý, v.v.) cũng như việc liên kết nó với một loạt các nghiên cứu thử nghiệm mà ông đã thực hiện về các trò chơi của trẻ em (và một số người lớn) cả trong các xã hội bộ lạc lẫn các xã hội công nghiệp. Phần lớn những gì ông nói, mutatis mutandis đã thay đổi những gì cần phải thay đổi, có thể được chuyển trở lại cho việc nghiên cứu về tình trạng ngưỡng trong lễ thức bộ lạc. Ông viết: “Cấu trúc định chuẩn đại diện cho trạng thái cân bằng hoạt động, còn ‘phản- cấu trúc’ đại diện cho hệ thống ẩn tàng của các lựa chọn thay thế tiềm năng mà từ đó tính mới sẽ phát sinh khi các sự kiện ngẫu nhiên trong hệ thống định chuẩn đòi hỏi nó. Chúng ta có thể gọi một cách chính xác hơn hệ thống thứ hai này là hệ thống nguyên cấu trúc [ông nói] bởi vì nó là tiền thân của những hình thái định chuẩn đổi mới. Nó là cội nguồn của văn hóa mới” (tr. 18-19).  Sutton-Smith, gần đây vẫn đang khảo sát tình trạng trật tự-mất trật tự liên tục trong các trò chơi (chẳng hạn như trò chơi trẻ em Anh ring-a-ring-a-rose), vừa nói rằng “chúng ta có thể mất trật tự trong các trò chơi [và, tôi sẽ nói thêm, về trong tình trạng ngưỡng của các lễ thức, cũng như trong các hiện tượng liminoid ngưỡng như charivaris (khua gõ ầm ĩ bằng cách đập chảo, ấm đun nước), fiestas (lễ hội), mặt nạ Halloween và ướp xác, v.v.] hoặc bởi vì chúng ta bị tình trạng quá liều về trật tự và muốn xả hơi [đây có thể được gọi là “quan điểm bảo thủ” về rối loạn lễ thức, chẳng hạn như các dạng đảo ngược lễ thức, đình đám ầm ĩ, và những thứ tương tự], hoặc bởi vì chúng ta có điều gì đó để học hỏi thông qua tình trạng mất trật tự” (tr. 17). Điều khiến tôi thích thú nhất về các phát biểu của Sutton-Smith là ông coi các tình huống liminalliminoid [Chen ngang: Cả hai tính từ liminal liminoid có gốc Latin limen đều chuyển tải nghĩa ngưỡng, nhưng sự phân biệt giữa hai thuật ngữ này của Turner không được phổ biến rộng rãi, tình trạng ngưỡng được thấy và được sử dụng cho tất cả các vị thế xã hội ‘trung gian’ – không phải thế này, cũng chẳng phải thế kia; tuy nhiên, sự phân biệt của Turner, khi được sử dụng một cách thích hợp, lại đem đến một phương tiện thuật ngữ có tính sắc thái để hiểu rõ hơn những tình huống như vậy; các tiêu chí mà Turner sử dụng ban đầu để phân biệt đã tạo ra xu hướng sử dụng nó để duy trì sự đối lập giữa các kiểu loại xã hội thô sơ và giờ đây đã trở nên lỗi thời với các kiểu loại xã hội văn minh / hiện đại; mới đây người ta đã đề xuất một cách khác để hiểu sự khác biệt đó - coi liminal liminoid là hai giới hạn đối lập của một liên tục kéo căng giữa hai tình huống xã hội kiểu lý tưởng, và cho rằng tất cả các tình huống xã hội hiện thực như vậy đều thể hiện các khía cạnh của cả liminalliminoid bên trong chúng, mà mức độ tình trạng ngưỡng của mỗi tình huống đều là cái phân biệt giữa chúng. (Xem Spiegel, Andrew D. (2015). Categorical difference versus continuum: Rethinking Turner's liminal - liminoid distinction, H. Wels, C.S. van der Waal, A. Spiegel, and F. Kamsteeg, Series Editor (2011). Thinking Victor Turner's 'liminality' from southern Africa today. Anthropology Southern Africa, Volume 34, Issue 1-2) -HHN] là những bối cảnh trong đó các mô hình, biểu tượng, hệ mẫu mới, v.v., xuất hiện - thực tế đã vun luống cho việc gieo trồng tính sáng tạo văn hóa. Những biểu tượng và kiến tạo mới này sau đó được đưa trở lại các lĩnh vực và vũ đài kinh tế và chính trị-pháp lý “trung tâm”, đem lại cho chúng những mục tiêu, nguyện vọng, động lực, mô hình cấu trúc và raisons d'etre lý do tồn tại.

Một số người, đặc biệt là các nhà cấu trúc luận xứ Gaul của Pháp, đã cho rằng trạng thái ngưỡng, cụ thể hơn là các hiện tượng liminal “ngưỡng” như thần thoại và nghi lễ trong xã hội bộ lạc, được đặc trưng rõ ràng nhất bởi việc thiết lập “các quy tắc tợ-cú pháp ngầm ẩn” hoặc bởi “các cấu trúc nội tại của các quan hệ logic đối lập và trung gian giữa các yếu tố tượng trưng rời rạc” của thần thoại hoặc nghi lễ. Claude Levi-Strauss có lẽ cũng theo quan điểm này. Nhưng đối với tôi, đó là việc phân tích văn hóa thành các nhân tố và sự tái kết hợp tự do hoặc “chơi” của chúng trong mọi mô thức khả thể, dù kỳ lạ đến đâu, thì đó đều là bản chất của trạng thái ngưỡng, trạng thái ngưỡng thượng hạng. Điều này có thể thấy được khi người ta nghiên cứu các giai đoạn liminal ngưỡng của các nghi lễ chính mang tính liên-văn hóa và xuyên-thời gian. Khi các quy tắc ngầm bắt đầu xuất hiện, giới hạn sự kết hợp khả thể của các nhân tố đối với một số mô thức, thiết kế hoặc cấu hình thông thường nhất định, thì theo tôi, chúng ta đang tận mắt thấy được sự xâm nhập của cấu trúc xã hội định chuẩn vào những gì có khả năng và về nguyên tắc là một vùng văn hóa tự do và mang tính thử nghiệm, một vùng mà ở đó không chỉ các yếu tố mới mà cả các quy tắc tổ hợp mới cũng có thể được đưa vào - dễ dàng hơn nhiều so với trường hợp ngôn ngữ. Năng lực biến đổi và thử nghiệm này bắt đầu chiếm ưu thế rõ ràng hơn trong các xã hội mà ở đó, giải trí được phân biệt rõ ràng với công việc, và đặc biệt là trong tất cả các xã hội đã được cuộc Cách mạng Công nghiệp định hình. Các mô hình Levi-Straussien khác nhau, chẳng hạn như mô hình xử lý các mối quan hệ logic ẩn dụ, đối lập, và sự chuyển đổi thành con người, từ tự nhiên thành văn hóa, và mô hình hình học sử dụng hai tập hợp đối lập trong việc kiến tạo “tam giác ẩm thực”, sống / chín: sống / lên men đối với tôi dường như chủ yếu áp dụng cho các xã hội bộ lạc hoặc các xã hội nông nghiệp sơ khai, mà ở đó công việc và cuộc sống có xu hướng bị chi phối bởi nhịp điệu sinh thái, theo mùa, và nơi mà các quy tắc cơ bản hình thành các mô thức văn hóa có xu hướng tìm kiếm hệ nhị phân “Âm-Dương”, các dạng thức gợi đến các phép đối lập “tự nhiên” đơn giản, chẳng hạn như nóng / lạnh, ẩm / khô, trồng trọt / hoang dã, nam / nữ, hè / đông, phong nhiêu / khan hiếm, phải / trái, trời / đất, trên / dưới và tương tự như vậy. Các cấu trúc xã hội và văn hóa chính có xu hướng được mô hình hóa dựa trên các nguyên tắc vũ trụ ấy và các nguyên tắc tương tự, thậm chí các nguyên tắc ấy còn quyết định cả cách bố trí đô thị, làng mạc, thiết kế nhà ở, hình dạng và vị trí không gian của các loại đất canh tác khác nhau. Phân tích hệ biểu tượng không gian trong mối quan hệ với các mô hình vũ trụ và huyền thoại gần đây đã thực sự trở thành một ngành công nghiệp cấu trúc luận-Xứ-Gaul rất thịnh hành. Không có gì ngạc nhiên là bản thân tình trạng ngưỡng không thể thoát khỏi sự kìm kẹp của những nguyên tắc cấu trúc mạnh mẽ này. Chỉ một số loại đồ chơi và trò chơi của trẻ em mới được phép tự do ở một mức độ nào đó vì chúng được xác định là “không liên quan”, không “quan trọng” về phương diện cấu trúc. Tuy nhiên, khi trẻ em bắt đầu bước vào những lớp đầu của tuổi trưởng thành, các biến đổi và các trách nhiệm pháp lý của hành vi xã hội bị hạn chế và kiểm soát một cách đáng kể. Các trò chơi dành cho trẻ em không còn mang tính trò trẻ nữa mà trở thành trò chơi sư phạm. Luật pháp, đạo đức, lễ nghi, thậm chí phần lớn đời sống kinh tế, đều chịu ảnh hưởng cấu trúc của các nguyên lý vũ trụ. Vũ trụ trở thành một thể dệt phức tạp của những “tương ứng” dựa trên phép loại suy, ẩn dụ và hoán dụ. Ví dụ, nghệ thuật khắc gỗ Dogon Tây Phi, theo Marcel Griaule, Genevieve Calame Griaule và Germaine Dieterlen, tạo lập sự tương ứng giữa các loại khoáng chất khác nhau và các cơ quan của cơ thể. Các loại đất khác nhau được coi là các bộ phận “bên trong dạ dày”, đá được coi là “xương” của khung xương cơ thể, và nhiều màu sắc khác nhau của đất sét đỏ được ví như “máu”. Tương tự như vậy, ở Trung Quốc thời Trung cổ, những cách vẽ cây và mây khác nhau có liên quan đến các nguyên lý vũ trụ học khác nhau.

Do đó, các biểu tượng thấy trong các lễ thức chuyển qua trong các xã hội này, mặc dù có sự hoán vị và biến đổi các mối quan hệ của chúng, chỉ liên quan đến những biểu tượng này trong các hệ thống tương đối ổn định, có tính chu kỳ và lặp đi lặp lại. Đúng là thuật ngữ “tình trạng ngưỡng” thuộc về những loại hệ thống này. Khi sử dụng các quá trình, hiện tượng và các cá nhân trong các xã hội phức tạp quy mô-lớn, thì việc sử dụng nó về cơ bản phải là phép ẩn dụ. Nghĩa là, từ “tình trạng ngưỡng”, được sử dụng chủ yếu cho một giai đoạn trong cấu trúc mang tính quá trình của một rite de passage lễ thức chuyển qua, được áp dụng cho các khía cạnh khác của văn hóa - ở đây trong các xã hội có quy mô và độ phức tạp lớn hơn nhiều. Điều đó đưa tôi đến một phân chia lưu vực trong biểu tượng học so sánh. Việc không phân biệt được các hệ thống biểu tượng và các thể loại thuộc các nền văn hóa đã phát triển trước và sau Cách mạng Công nghiệp có thể dẫn đến nhiều nhầm lẫn cả về việc xử lý lý thuyết lẫn hệ phương pháp thao tác.

______________________________________

Còn nữa…

Nguồn: Turner, Victor (1982). Liminal to Liminoid, in Play, Flow, and Ritual - An Essay in Comparative Symbology, Published in From Ritual to Theatre: The Human Seriousness of Play. PAJ Publications A Division of Performing Arts Journal, Inc. New York, pp. 20-60.

Tác giả: Victor Witter Turner (1920 - 1983) là nhà nhân học văn hóa người Anh nổi tiếng với công trình nghiên cứu về các biểu tượng, nghi lễ và lễ thức chuyển qua. Công trình của ông, cùng với công trình của Clifford Geertz và những người khác, thường được coi là nhân học biểu tượng và diễn dịch. Năm 1941 Turner đi lính, trở thành phi công chiến đấu cho đến năm 1944. Các người con ông gồm nhà khoa học Robert Turner, nhà thơ Frederick Turner, và Rory Turner, một giáo sư nhân học tại Đại học Goucher. Turner trở lại trường Đại học năm 1946 làm việc tại Zambia (sau đó là Bắc Rhodesia) với tư cách là cán bộ nghiên cứu của Viện Rhodes-Livingstone. Ông hoàn thành chương trình Tiến sĩ tại Đại học Manchester vào năm 1955. Là một giáo sư tại Đại học Chicago vào cuối những năm 1950, Turner bắt đầu nghiên cứu các nghi lễ và lễ thức chuyển qua trong các tôn giáo thế giới và đã khám phá cấu trúc cặp ba của Arnold van Gennep về các lễ thức chuyển qua và mở rộng các lý thuyết về giai đoạn ngưỡng. Công trình của Turner về ngưỡng và trình diễn đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc phát triển lĩnh vực Nghiên cứu Trình diễn. Giải thưởng Victor Turner về Văn phẩm Dân tộc chí được Hiệp hội Nhân học Nhân văn (SHA) trao thưởng hàng năm. Các tác phẩm đủ điều kiện là “sách được xuất bản ở nhiều thể loại khác nhau bao gồm chuyên khảo dân tộc chí, tự sự, tiểu luận, tiểu sử, hồi ký, thơ và kịch.”

Tài liệu dẫn

Abrahams, Roger, and Richard Bauman. “Ranges of Festival Behavior.” Paper presented to Symposium on “Forms of Symbolic Inversion.” American Anthropological Association, Toronto, December 1, 1972.

Barthes, Roland. Elements of Semiology. London: Jonathan Cape, 1967.

Beal, Samuel. Travels of Fah-Hian and Sung-Yun. London: Susil Gupta, 1964. First published 1869.

Csikszentmihalyi, Mihaly. Flow: Studies of Enjoyment. University of Chicago, PHS Grant Report, 1974.

---------. “Play and Intrinsic Rewards,” Journal of Humanistic Psychology, 1915. Page references from unpublished manuscript, 1972.

---------. Beyond Boredom and Anxiety: The Experience of Play in Work and Games. San Francisco: Jossey-Bass, 1975.

Danielou, Alain. Hindu Polytheism. New York: Bollinger Foundation, 1964

Dumazedier, Joffre. Le Loisir et la ville. Paris: Editions du Seuil, 1962.

---------. Article on “Leisure,” in David Sills, ed., Encyclopedia of the Social Sciences. New York: Macmillan and Free Press, pp. 248-253, 1968.

Gennep, Arnold van. The Rites of Passage. London: Routledge and Kegan Paul, 1960. First published 1909.

Grazia, Sebastian de. Of Time, Work, and Leisure. New York: Twentieth Century Fund, 1962.

Gurvitch, Georges. “Mass, Community, Communion.” Journal of Philosophy. August, 1941.

Nikhilananda, Swami. The Bhagavad Gita. New York: Ramakrishna-Vivekananda Center, 1969.

Norbeck, Edward. “Man at Play,” in Play, a Natural History Magazine Supplement, pp. 48-53, December, 1971.

Piaget, Jean. Play, Dream, and Imitation. New York: Norton, 1962.

Singer, Milton. When a Great Tradition Modernizes. New York: Praeger, 1972.

Sutton-Smith, Brian. “Games of Order and Disorder.” Paper presented to Symposium on “Forms of Symbolic Inversion.” American Anthropological Association, Toronto, December 1, 1972.

Turner, Victor. Schism and Continuity. Manchester: Manchester University Press, 1957.

---------. The Forest of Symbols. Ithaca: Cornell University Press, 1967.

---------. The Ritual Process. Chicago: Aldine, 1969.

---------. Dramas, Fields, and Metaphors. Ithaca: Cornell University Press, 1974.

Watson, William. “Social Mobility and Social Class in Industrial Communities,” in Max Gluckman, ed., Closed Systems and Open Minds. Edinburgh: Oliver and Boyd, 1965.

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

Phép phân tích của Alan Dundes (I)

Simon J. Bronner

Người dịch: Hà Hữu Nga

Trong một khoảnh khắc suy tư khi tròn bốn mươi tuổi, Alan Dundes đã giới thiệu bộ sưu tập tiểu luận đầu tiên của mình bằng tuyên bố sau: “Mối quan tâm nghiên cứu chính của tôi tập trung vào phân tích tri thức dân gian” (1975g, xi). Việc ông nhấn mạnh vào phân tích báo hiệu một mục đích trí tuệ khác thường. Hầu hết các học giả trả lời câu hỏi về các mối quan tâm nghiên cứu là một thể loại, thời kỳ hoặc địa điểm. Tuy nhiên, Dundes đã cam kết thực hiện sứ mệnh rộng lớn là khám phá và nhận thức về ý nghĩa. Ông nhận xét rằng tri thức dân gian rất quan trọng đối với tri ​​thức về kinh nghiệm của con người, bởi vì “với tư cách là dân tộc chí tự truyện”, nó đem đến một cái nhìn “từ trong ra ngoài chứ không phải từ bên ngoài vào trong”. Có nghĩa là, ưu thế của tri thức dân gian là nó truyền tải những gì con người nghĩ bằng lời nói và hành động của họ, và những gì họ nói hoặc hát trong tri thức dân gian thể hiện những gì có lẽ họ không thể làm được trong cuộc trò chuyện hàng ngày. Dundes lập luận rằng trong tri thức dân gian, chứ không phải là trong các dạng thức bằng chứng khác của con người, “người ta tìm được bức tranh không tự ý thức của chính họ” (xi). Bức tranh đó không phải lúc nào cũng đẹp, như Dundes đã phơi bày trong các nghiên cứu về tri thức dân gian bài-Do Thái, những lời gièm pha mang tính sắc tộc và những khởi đầu đầy lăng mạ. Ông nhấn mạnh rằng học thuật không bị kiểm duyệt, không bị ràng buộc rất cần thiết để vượt khỏi ham muốn lãng mạn hóa cái tri thức của nhân quần. Nguyên do của ông là việc đối mặt với những hiện thực khắc nghiệt trong các truyền thống biểu đạt, hướng tới mục tiêu kép là tự thấu hiểu mang tính nội tại (nghĩa là, về mặt tâm lý) cũng như mang tính ngoại tại (hoặc về xã hội và chính trị), và uốn nắn lại những sai trái trên thế giới.

Dundes không coi truyền thống là di tích của quá khứ, và thường lên bục giảng để chứng tỏ rằng tri thức dân gian là một phần đáng kể của thế giới công nghệ hiện đại. Khi được yêu cầu phát biểu, ông đã đưa ra một tiêu đề chung là “Tri thức Dân gian trong Thế giới Hiện đại” để bao gồm cả các mốt bông đùa, phong tục đương thời, và bài phát biểu phản ánh các vấn đề và cảnh huống hiện tại. Trong mối bận tâm ấy đối với bản chất nổi bật của tri thức dân gian, Dundes là người bênh vực quan điểm hiện đại cho rằng tri thức dân gian là một quá trình nghệ thuật hơn là một tạo tác bụi bặm, vì theo cách nói của ông, nó là “một cái gì đó sống động” chứ không phải là “chết cứng.” Nó không phải là thứ bị hạ cấp thành những thứ khác được ưu đãi - về mặt lịch sử hay xã hội - mà là một mô thức hành vi mà mọi người đều thể hiện.

Mắng té tát lối mô tả tri thức dân gian theo phong cách tinh hoa thời Victoria là “những tàn dư vô nghĩa”, ông nhấn mạnh rằng “tri thức dân gian là một nguồn phong phú và đầy ý nghĩa cho việc nghiên cứu nhận thức và các giá trị” (1975g, xi – xii). Sau đó, ông liên kết một cách hùng hồn hoạt động phân tích với việc khám phá ra những thứ mà mọi người không thể nhìn thấy - tâm trí và niềm tin - để “tìm ra được sự hiểu biết đầy ý nghĩa về “bản thân chúng ta”. Phát biểu một cách cô đọng trong tuyển tập tiểu luận đầu tiên của mình, mục tiêu của ông là “đưa nội dung vô thức vào ý thức” (xi).

Ba mươi năm sau, ông vẫn thúc đẩy phân tích và nâng cao ý thức. Trong thời gian đó, ông đã thu hút được rất nhiều sinh viên, đồng nghiệp và các môn đồ - cùng một số lượng lớn những người gièm pha. Nhưng có một điều chắc chắn, ông không thể bị bỏ qua. Những phân tích đầy tính khiêu khích của ông buộc các học giả từ nhiều lĩnh vực phải suy nghĩ cũng như các học giả thuộc lĩnh vực tri thức dân gian. Đó là, hết lần này đến lần khác, Dundes đã chỉ ra rằng ngoài việc tri thức dân gian là bằng chứng đặc biệt, thì công việc nghiên cứu thuộc lĩnh vực này còn triệt để liên quan đến những vấn đề của ngày hôm nay. Ông giảng, để hiểu được tri thức dân gian, người ta không chỉ cần biết các chất liệu của truyền thống, mà còn phải nắm được di sản tri thức lâu đời của học thuật tri thức dân gian quốc tế. Vì nỗ lực của mình, ông đã tạo nên sự khác biệt khi thu hút được một số lượng đáng kinh ngạc festschriften các tuyển tập kỷ niệm, hoặc các tập sách của các cộng sự tôn vinh ông (Boyer, Boyer, và Sonnenberg 1993; Mieder 1994b; Bendix và Zumwalt 1995; Lawless 2005; Gürel, 2007). Trong những lời tri ân chân thành đó, chắc chắn sẽ tìm thấy những đánh giá về sự nghiệp và những đóng góp của ông cho các thể loại (tục ngữ, hài hước, phong tục, truyền thuyết và thần thoại), các phương pháp (cấu trúc luận, phân tâm học), và các nghiên cứu theo nhóm (người Mỹ, người Mỹ bản địa, người Nam Á, người Mỹ gốc Phi , Do Thái và Đức).

Giới thiệu này bao gồm phần đánh giá tiểu sử, nhưng tôi cho rằng nên bỏ qua việc kể lại những lời ca ngợi để giải thích những ý tưởng của ông trong bối cảnh di sản trí tuệ của các nhà tri thức dân gian và các vấn đề trong thời ông. Do đó, tôi không chỉ quan tâm đến việc đọc các tác phẩm của ông, mà còn quan tâm đến những phản hồi đối với những ý tưởng của ông như những dấu hiệu của một lối diễn ngôn trí tuệ lâu đời về truyền thống và hiện đại. Với tư cách là một cái nhìn tổng quan về các bài luận trong tập sách này, tôi chú ý đến phép tu từ đặc biệt của ông - dựa trên các lý thuyết tâm lý và nhân học, truyền đạt các khái niệm cấu trúc và biểu trưng, các cơ sở triết học, và mượn một trong những thuật ngữ yêu thích của Dundes - thế giới quan của ông. Câu chuyện của tôi được dẫn dắt theo trật tự thời gian từ những đóng góp đầu tiên trong những năm 1960 cho đến những dự án cuối cùng của ông vào thời điểm Dundes qua đời năm 2005. Tôi bắt đầu với sự phát triển sớm binary rhetoric phép tu từ nhị phân của ông, mà tôi coi đó là dấu ấn của “quan điểm Dundesian” về việc phát hiện ra những ý nghĩa tiềm ẩn hoặc sâu xa thông qua phân tích cấu trúc và biểu trưng. Tôi theo dõi phần này, trong “Đó không thể là Alan Dundes!” với câu hỏi tại sao Dundes, khi vẫn còn là một học giả trẻ, đã trở nên được huyền thoại hóa, được tôn vinh và đôi khi bị quỷ ám vì quan điểm này. Trong phần “Dân gian và Nhà tri thức dân gian”, tôi chuyển sang đóng góp lâu dài của Dundes cho một định nghĩa “hiện đại” về dân gian và quan niệm đầy ảnh hưởng của ông về tầm quan trọng của nhà tri thức dân gian trong sự nghiệp văn hóa. Lấy cảm hứng từ tri thức nổi bật WWDS What Would Dundes Say? Dundes sẽ nói gì? lưu truyền về Dundes vào giai đoạn muộn trong sự nghiệp của ông, tôi suy ngẫm về đỉnh cao của sứ mệnh tường giải học của ông và lòng sùng mộ tôn giáo mà ông đã khơi dậy. Tóm lại, tôi phân tích ý thức phân tích của Dundes để làm sáng tỏ công cuộc tìm kiếm ý nghĩa trong tri thức dân gian của ông và của chúng ta.

Nhị phân luận và Ý nghĩa Sâu

Một cách mà Dundes ấn định mục tiêu phân tích của mình là phân biệt giữa tri thức dân gian với tư cách là chất liệu của tri thức dân gian, và Tri thức dân gian học (Folkloristics) là nghiên cứu lý thuyết của nó. Về mặt lịch sử, ông đã chỉ ra những tiền lệ của cách sử dụng này trong học thuật tri thức dân gian thế kỷ 19, và về phương diện tu từ học, chỉ ra sự phân đôi giữa ngôn ngữ với tư cách là vật chất và ngôn ngữ học với tư cách là công việc nghiên cứu của nó (2002a, vii; 2005c, 385–86). Sức hấp dẫn của môn tri thức dân gian học, được ông nhấn mạnh, không phải là một tân dụng ngữ khác của ông, mà chính là xu hướng phân tích của nó (1965d, 3; 1970, 324; 2005c, 385–86).

Những phân đôi giữa bên trong và bên ngoài, tài liệu và việc nghiên cứu nó, dân gian và tri thức, cũng như ý thức và vô thức xuyên thấm các công trình của Dundes, đến mức là nhị phân luận xứng đáng được công nhận là quan điểm của Dundes. Khi giới thiệu tập hợp các tiểu luận đầu tiên của ông, người thầy của Dundes là Richard Dorson đã phác thảo khung trí tuệ này, nhưng lại không làm rõ ý nghĩa cho nó. Ông viết, “Đối với từ vựng của nhà tri thức dân gian, ông đã bổ sung thêm các thuật ngữ ngôn ngữ học như đơn vị “etic” và “emic”, các khái niệm hình thái học như “thiếu” và “thiếu bị loại trừ”, các loại hình học của những người sưu tập như  “giữ lại bằng hậu môn và “tống ra bằng hậu môn”. Trong hết bài viết này đến bài viết khác, ông đã chỉ ra hoặc gợi ý những cách thức mà tri thức dân gian phản ánh những suy nghĩ có ý thức và vô thức của chúng ta” (Dorson 1975, vii). Với danh mục này, tôi sẽ bổ sung thêm “xác định và diễn giải” (trong “Nghiên cứu Tri thức Dân gian trong Văn học và Văn hóa” [1965c]), “chơi sâu và nông” (trong “Gallus as PhallusGà như là Dương vật” [1994]), “dân gian và siêu dân gian” (Trong “Siêu dân gian và Phê bình Văn chương Truyền khẩu - Metafolklore and Oral Literary Criticism” [1966c]), “truyền khẩu và văn chương” (trong “Folklore as a Mirror of Culture” – Tri thức Dân gian như một Tấm gương Văn hóa” [1969a]), và “nghĩa đen và biểu trưng” (trong “Getting the Folk and the Lore Together - Kết hợp Dân gian và Tri thức” [1976a]), được nêu bật trong tập sách này để minh chứng cho phép tu từ phân đôi của ông. Thường thì một phạm trù đối lập luôn căng thẳng với phạm trù kia, mặc dù có thể có sự thống nhất hoặc giải pháp. Ví dụ tối hậu của Dundes là Tri thức Dân gian học, được ông mô tả như một sự thống nhất nảy sinh từ cuộc đấu tranh ở thế kỷ 19 giữa “các phe” tri thức dân gian và nhân học (1975a, 10; 1988b, ix).

Dundes giải thích mối bận tâm của ông với việc phân tích là cần thiết để khắc phục “khuynh hướng coi ‘tri thức’ như thể nó hoàn toàn tách biệt với ‘dân gian’,” là cái có thể được giải quyết bằng cách nhấn mạnh “thực tế là nó được kẻ này kể cho kẻ khác” (1980e, viii). Ông cho rằng “kết hợp dân gian (folk) và tri thức (lore)”, một cụm từ mà ông sử dụng làm tiêu đề của một bài viết trong tập này, có nghĩa là sự liên kết giữa hành vi ứng xử và khung cảnh xã hội (dân gian) của câu chuyện với nội dung (tri thức). Vì vậy, theo quan điểm của ông, việc tìm được cội nguồn ý nghĩa của tri thức dân gian đòi hỏi nhiều hơn là đọc văn bản theo nghĩa đen; nó yêu cầu việc bối cảnh hóa các biểu hiện trong các cảnh huống hành vi và xã hội. Ông nhấn mạnh điều này bằng cách coi tri thức dân gian như một hình thức thăng hoa: “Tri thức dân gian cung cấp một phương tiện được xã hội công nhận cho việc thể hiện những hành vi cấm kỵ và gây xao xuyến. Mặt khác, bằng hình thái tri thức dân gian, người ta có thể làm hoặc nói những điều bị cấm đoán trong cuộc sống hàng ngày” (2005a, 359). Do đó, việc hiểu tại sao tri thức dân gian lại cần thiết như một phương tiện biểu đạt, người ta cần biết các giá trị văn hóa, những cấm kỵ, âu lo và tín ngưỡng của xã hội mà những người mang truyền thống cá nhân vận hành trong cuộc sống hàng ngày.

“Bằng cách phân tích tri thức dân gian,” Dundes viết, học giả khám phá ra “những mô thức chung của văn hóa” và nâng cao “cấp độ ý thức” (2005a, 359). Giả định trong tuyên bố này không chỉ là tri thức dân gian có thể được sắp xếp trật tự theo hình thức, mà còn phải được mô thức hóa về mặt nhận thức (ví dụ, thông qua tư duy tuyến tính, vòng tròn hoặc nhị phân). Một giả định khác là sự tồn tại của vô thức — một phần của tư duy chứa đựng những bản năng bị kìm nén và những mong muốn, ý tưởng và hình ảnh đại diện của chúng mà không thể tiếp cận được khi xem xét trực tiếp. Mặc dù một số nhà phê bình cho rằng hoạt động tinh thần chỉ có thể là có ý thức, nhưng lý thuyết của Freud lại cho rằng những ý tưởng vô thức có thể được nhận ra khi sự phản kháng và đàn áp, các quá trình nội tại hóa những suy nghĩ rối loạn, được khắc phục, để các ý tưởng trở nên có ý thức, tức là được ngoại tại hóa.

Tri thức dân gian có ý nghĩa tâm lý và văn hóa bởi vì, với tư cách là một phương tiện biểu đạt thường mang tính thời điểm và được xã hội chấp nhận, nó sử dụng các biểu trưng trong các tự sự chi tiết và trong các nghi lễ để gói ghém (hoặc tăng cường) kinh nghiệm và đem đến sự giải thoát khỏi thực tại. Bằng chứng tri thức dân gian khác với bằng chứng tư liệu lịch sử bởi vì nó thường cấu thành hình ảnh tưởng tượng, nhưng điều đó không làm giảm đi tính trung thực hoặc ý nghĩa của nó. “Tính phi lý rõ ràng của nhiều tri thức dân gian,” Dundes chỉ ra, “đặt ra vấn đề cho các nhà nghiên cứu tri thức dân gian định hướng lịch sử, tư duy-theo nghĩa đen. Thật không dễ dàng để tìm ra một cơ sở lý luận cho cái phi lý, tạo ra ý nghĩa của “vô nghĩa”, nhưng đó là cái mà các nhà nghiên cứu tri thức dân gian quan tâm đến việc diễn giải phải cố gắng thực hiện” (1980e, viii). Tuyên bố này thoảng vị quá trình mâu thuẫn và phủ định Hegelian dẫn đến nhất tính hợp lý, và người ta có thể đi xa hơn để thấy mối liên hệ giữa việc kiến tạo các biểu trưng trong suy tư của Dundes như là nguồn biểu đạt tối hậu và sự nhấn mạnh của Hegel vào tính nhị phân trong các hoạt động tinh thần để biểu thị quá trình lĩnh hội của tâm trí. Mặc dù các học giả đã so sánh quan niệm của Hegel và Freud về ý thức và sự phát triển của con người, Dundes đã viện dẫn Freud hơn là Hegel vì mối quan thiết trung tâm trong các công trình của Freud - một mối quan thiết đậm tính tri thức dân gian, Dundes nói - để giải thích cái phi lý và cái trác tuyệt trong hành vi biểu đạt (Dundes 1987i , 4–5; Butler 1976; Eecke 2006).

Freud đã mở rộng khái niệm phủ định thành sự kết nối giữa biểu hiện bằng lời nói và ý thức (Freud 1961; Eecke 2006). Theo quan điểm này, nguy cơ vật chất bị kìm nén trở nên có ý thức thông qua câu chuyện được giảm thiểu bởi sự từ chối của người nói chuyện. Khi đó, xuất hiện tình trạng căng thẳng giữa vô thức và ý thức, giữa suy nghĩ bị kìm nén và được nói ra. Phân tích giải quyết xung đột, và đối với nhà phân tích, có thể được xác nhận bằng lời đáp của người kể “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó.” Dundes khẳng định rằng tri thức dân gian đặc biệt quan trọng trong việc làm cho vô thức trở thành có ý thức, bởi vì dường như đó là một không gian nghi lễ hoặc hư cấu “an toàn” được sử dụng để biểu trưng hóa, và do đó để kiểm soát âu lo hoặc tình trạng mơ hồ, nhưng nếu cơ sở hiện thực của biểu tượng được phơi bày, thì sự đàn áp tái diễn ở dạng khác. Sự chuyển hóa này giải thích nguyên do Dundes nhấn mạnh đến thái độ mang tính “phân tích” của người quan sát thay vì thái độ bản địa trong việc đánh giá ý nghĩa, mặc dù ông đã thúc giục các nhà phân tích thu thập các nhận xét “siêu-tri thức dân gian” của những người mang-truyền thống về các truyền thống của riêng họ. Bản thân những nhận xét này là một phần của niềm tin, ông nhận xét, hoặc là những giải thích duy lý khác cần thiết cho sự biểu đạt (1966c, 1975d). Nhà phân tích có vai trò thiết yếu trong quá trình tìm kiếm cội nguồn ý nghĩa của tri thức dân gian theo phương pháp Dundesian; cần phải có một cái nhìn từ bên ngoài để phân biệt các mã ý nghĩa bên trong, hoặc ẩn giấu. Dundes hiểu rằng một số nhà tri thức dân gian sẽ có cách giải thích của những người mang- truyền thống về một sự kiện là đủ, bằng cách xem vai trò của nhà tri thức dân gia là tạo điều kiện cho người bản xứ tự phản ánh. Nhưng theo quan điểm Dundesian, nhà phân tích cần phải duy trì một lợi thế tách biệt hơn là một lập trường tích cực ủng hộ, chính xác là vì tài liệu dân gian liên quan đến những xao xuyến cá nhân và xã hội bị kìm nén hoặc tránh né và khi được thể hiện, thì thường được ngụy trang. Chẳng hạn, khi thảo luận về tri thức sao chụp đầy những tham chiếu mang tính tục tĩu và tình dục, Dundes nhận thấy rằng “hài hước là một tấm màn che gần như không giấu nổi biểu hiện của hầu hết các vấn đề lớn mà xã hội Mỹ đương đại đang phải đối mặt” (Dundes và Pagter 1978, xviii, nhấn mạnh thêm). Do đó, ý nghĩa nằm ngoài nhận thức của tự ngã, đòi hỏi nhà phân tích phải nhận ra nó. Điều đó không có nghĩa là các nhà nghiên cứu tri thức dân gian, thậm chí khác với các loại nhà phân tích khác, không thể dựa vào kinh nghiệm hoặc sự tham gia để có được một cái nhìn “từ trong ra ngoài” về tài liệu. Ví dụ, Dundes đã đề cập đến bổn phận Hải quân cụ thể của mình, đóng quân tại Ý vào năm 1955, khi ông phân tích điều cấm kỵ đối với các thủy thủ huýt sáo trên tàu. Sử dụng nguyên tắc “gieo nhân nào gặt quả ấy” [Chen ngang: Γαλάτας 6:6-10 (Grec): 6κοινωνείτω δὲ ὁ κατηχούμενος τὸν λόγον τῷ κατηχοῦντι ἐν πᾶσιν ἀγαθοῖς. 7μὴ πλανᾶσθε, θεὸς οὐ μυκτηρίζεται: γὰρ ἐὰν σπείρῃ ἄνθρωπος, τοῦτο καὶ θερίσει: 8ὅτι ὁ σπείρων εἰς τὴν σάρκα ἑαυτοῦ ἐκ τῆς σαρκὸς θερίσει φθοράν, ὁ δὲ σπείρων εἰς τὸ πνεῦμα ἐκ τοῦ πνεύματος θερίσει ζωὴν αἰώνιον. 9τὸ δὲ καλὸν ποιοῦντες μὴ ἐγκακῶμεν, καιρῷ γὰρ ἰδίῳ θερίσομεν μὴ ἐκλυόμενοι. 10ἄρα οὖν ὡς καιρὸν ἔχομεν, ἐργαζώμεθα τὸ ἀγαθὸν πρὸς πάντας, μάλιστα δὲ πρὸς τοὺς οἰκείους τῆς πίστεως. Galatins (Latin): 6:6-10: 6Communicet autem is qui catechizatur verbo, ei qui se catechizat, in omnibus bonis. 7Nolite errare: Deus non irridetur. Quæ enim seminaverit homo, hæc et metet. 8Quoniam qui seminat in carne sua, de carne et metet corruptionem: qui autem seminat in spiritu, de spiritu metet vitam æternam. 9Bonum autem facientes, non deficiamus: tempore enim suo metemus non deficientes. 10Ergo dum tempus habemus, operemur bonum ad omnes, maxime autem ad domesticos fidei. Galatins: 6:6-10: 6Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của-cải mình mà chia cho người dạy đó. 7Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh-dể đâu; vì kẻ gieo giống chi, đặng gặt giống nấy. 8Kẻ gieo cho xác-thịt sẽ bởi xác-thịt mà gặt sự hư-nát; song kẻ gieo cho Thánh-Linh sẽ bởi Thánh-Linh mà gặt sự sống đời đời. 9Chớ mệt-nhọc vì sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ-nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. 10Vậy đương lúc có dịp-tiện, hãy làm đều thiện cho mọi người, nhứt là cho anh em chúng ta trong đức tin.” (Đoạn dịch tiếng Việt trên chép từ: GA-LA-TIN 6: 6-10, tr. 235, Kinh-Thánh, Tân ước, United Bible Societies, Vietnamese 53V-UBS-1990-18.1M Printed in Korea)-HHN] từ định luật phương thuật vi lượng đồng căn của James Frazer [Chen thêm: Có lẽ với cái châm ngôn “nhân nào quả nấy” quá phổ cập kia, Simon J. Bronner nên chú dẫn thêm căn cội Kinh thánh như đoạn dẫn trên - HHN], ông kết luận rằng huýt sáo thể hiện cho một trận “cuồng phong”. Và ông đã gợi đến việc tham gia của mình vào các nhóm toàn-nam giới để giải thích về gốc rễ của chiến tranh trong việc phô bày dương vật-trung tâm mang tính cạnh tranh nhằm nữ giới hóa đối thủ (2005c, 389; 1997e, 27). Ông cũng đề cập đến kinh nghiệm của mình như một nhà tri thức dân gian, và phân tích tri thức dân gian của các nhà nghiên cứu tri thức dân gian, như đã được trình bày trong chương cuối của tập này, trong đó ông tìm thấy mối liên hệ giữa việc thu thập các vật phẩm và việc lưu giữ bằng hậu môn.

Mặc dù mong muốn trở thành những người quan sát khách quan, các nhà tri thức dân gian phải tuân theo những thành kiến ​​của cái xã hội mà họ làm việc và truyền thống của họ như một phụ nhóm, Dundes nhắc đi nhắc lại (1966a, 227, 245). Chẳng hạn, ông đã chỉ ra tư duy tiến hóa làm cơ sở cho nhận xét của Dorson: “Cái ý tưởng cho rằng tri thức dân gian đang chết dần thì tự thân nó đã là một loại tri thức dân gian rồi” (Dundes 2005c, 406). Phép phủ định trong tuyên bố liên quan của Barbara Kirshenblatt-Gimblett cho rằng bộ môn tri thức dân gian “được dự đoán dựa trên một chủ thể đang biến mất” là ở chỗ tri thức dân gian liên tục xuất hiện, điều mà Dundes xác nhận trong tuyên bố, “tri thức dân gian vẫn tiếp tục sống và sống ổn trong thế giới hiện đại, một phần là do mức độ gia tăng truyền tải qua e-mail và Internet” (Kirshenblatt-Gimblett 1996, 249; Dundes 2005c, 406). Niềm tin vào một chủ thể đang biến mất dẫn đến nỗi ám ảnh về việc sưu tập và phân loại như một tự thân chung cục, thì một dự án phục hồi lại có thể biện minh cho việc lao vào lĩnh vực này để thu thập tri thức dân gian trước khi cả tri thức lẫn lĩnh vực đều biến mất. Bằng khuôn khổ lịch sử tự nhiên, Dundes dè bỉu nhà cổ vật học “săn lùng của lạ hoặc chỉ… tò mò” là “sưu tầm bướm”: “Các vật phẩm tri thức dân gian được coi như một vật quý lạ hiếm hoi, nói một cách ẩn dụ, phải có một chiếc ghim cắm qua chúng và gắn vào một trường hợp lưu trữ trưng bày đến mức gần như không thể tưởng tượng được các vật phẩm tri thức dân gian đã từng tồn tại (tức là đã được thực hành). Bối cảnh thường bị bỏ qua, và chỉ có văn bản được nhà sưu tập địa phương trân trọng” (2005c, 388).

Một ý nghĩa của động lực chuyển giao để “có được tri thức trước khi nó biến mất” là nhu cầu chứng kiến tri thức cho chính mình, một giả định kinh nghiệm luận dẫn đến tôn vinh việc khám phá tri thức thông qua việc ghi chép tri thức kinh nghiệm hơn là diễn giải dữ liệu tổng hợp hoặc các văn bản / ngữ cảnh riêng lẻ. Hàm ý là một ngành học đang gặp khó khăn hoặc sa sút có thể dự phóng nỗi sợ của nó vào một thói quen sưu tập và việc quan sát một chủ thể “đang phát triển”. Việc phủ nhận tính bền bỉ của tri thức dân gian như một quá trình tự nhiên của văn hóa khẳng định nỗi lo “sa sút”. Hoặc niềm tin chuyển giao có thể che giấu nỗi sợ hãi sâu sắc hơn liên quan đến động cơ quan tâm đến tài liệu của các nhà tri thức dân gian, theo Dundes, được liên kết với việc lưu giữ bằng hậu môn trong hành vi ám ảnh thu thập, xếp thứ tự và chất chứa (1975c; 1975e). Suy luận là một cách để đối phó với một vấn đề của tự ngã là gán vấn đề cho người khác hoặc cho một cái gì đó bên ngoài tự ngã.

Một giải pháp thay thế cho sự chuyển giao và nỗi ám ảnh sưu tầm, một giải pháp được Dundes thúc đẩy để “hiện đại hóa” chủ đề, đang thừa nhận rằng bản thân việc nghiên cứu tri thức dân gian đã xuất hiện ở châu Âu thế kỷ 19, nảy sinh từ những xung đột được nhận thức giữa cuộc sống nông thôn và công nghiệp hóa, chủ nghĩa dân tộc dựa vào-văn hóa, các chế độ quân chủ đế quốc, cũng như chủ nghĩa thực dân và tương đối luận văn hóa (1965c, 1982b). Đối với Dundes, tri thức dân gian đòi hỏi một dự án phân tích để giải thích sự xuất hiện và có mặt khắp nơi của nó. Các vấn đề nhị phân cần phải được giải quyết bắt nguồn từ các đặc trưng xác quyết của nó về tính đa dạng và biến đổi, dẫn đến chất lượng của nó luôn thay đổi nhưng vẫn nguyên vẹn, được định vị cụ thể và mang tính phổ quát, cũ nhưng vẫn mới (Dundes 1989c, 193–94). Thay vì bị níu kéo bởi tính khăng khăng hạn hẹp đối với truyền thống truyền khẩu, trong thế kỷ XXI, khoa học về truyền thống bừng nở, bành trướng và lan rộng bởi vì nó - nếu ý nghĩa phải được tạo lập bằng văn hóa trung gian-đại chúng và xa hơn nữa - phải làm sao cho tri thức này có thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề xã hội trên thế giới (1965c, 1980h).

Dundes đã liên kết nhị nguyên luận (đặc biệt là tầm quan trọng của “ý nghĩa kép”) trong phân tâm học với cơ sở nhị phân của cấu trúc luận. Các phương pháp tiếp cận cấu trúc luận then chốt của Vladimir Propp (mang tính ngữ đoạn, liên quan đến một mô thức tuần tự của các chức năng cốt truyện) và Claude Lévi-Strauss (mang tính hệ mẫu, liên quan đến một tập hợp chủ đề về các mối quan hệ tương phản), trong khi thường đặt đối lập với nhau trong các khảo sát về cách tiếp cận cấu trúc luận, được Dundes thống nhất để bộc lộ các quá trình tinh thần làm cơ sở cho các mô thức cấu trúc của các biểu đạt tưởng tượng. Ví dụ, trong bài viết “Đối lập Nhị phân trong Thần thoại,” được tái bản trong tập này, Dundes kết luận, “Trong khuôn khổ  cuộc tranh luận giữa Propp và Lévi-Strauss tự nó tạo thành một loại đối lập nhị phân học thuật, chúng tôi thực lòng tin rằng tiểu luận này sẽ được hiểu như một hình thức hòa giải mang tính xây dựng” (1997a, 48). Vấn đề ở chỗ cấu trúc nhị phân là cơ bản, cho dù là cơ sở của một câu chuyện (thiếu hoặc thiếu bị loại trừ), phương pháp (đồng nhất hóa và diễn giải), hình thành nhóm (đòi hỏi ít nhất hai người), tính xác thực của một hạng mục (được xác nhận bởi hai hoặc nhiều phiên bản), hoặc thực sự ở khái niệm tri thức dân gian (hợp nhất cái “dân gian” mang tính xã hội và “tri thức” mang tính biểu đạt). Theo quan điểm này, hệ nhị phân có ý nghĩa quan trọng không chỉ như một khuôn khổ, mà còn là đại diện cho cách thức hoạt động của tâm trí - như một khái niệm tâm lý - và còn là cơ sở xã hội của việc truyền tải, hoặc chia sẻ, tri thức dân gian. Do đó, nhị nguyên luận cấu thành ngữ pháp nhận thức của bản thân sự biểu đạt, và cấu trúc nhị phân của một câu chuyện hoặc sự kiện bao gồm kịch tính hoặc trạng thái căng thẳng thu hút sự chú ý vào biểu đạt, ngoài các hình thức giao tiếp khác. Do đó, phân tích là sự phân biệt nguồn này - trong tâm trí, nhóm và biểu đạt.

Nhị phân luận với tư cách là một triết học, thậm chí còn hơn cả một phương pháp, được kết nối với phân tích cấu trúc thường được cho là của Ferdinand de Saussure, một người Thụy Sĩ cùng thời với Freud. Điểm gắn kết giữa hai người là mối quan tâm chung của họ đối với các quá trình tinh thần được bộc lộ bằng ngôn ngữ. Saussure ít quan tâm đến các quy luật của một ngôn ngữ cụ thể, mà quan tâm đến các quy tắc chi phối tất cả các ngôn ngữ, vốn liên quan đến cách thức mà con người sắp xếp trật tự nhận thức hiện thực và sáng tạo ra văn hóa. Cấu trúc luận của Saussure, được các học giả nổi tiếng chấp nhận lại quan tâm đến tri thức dân gian chẳng hạn như Lévi-Strauss, Roman Jakobson, Petr Bogatyrev, và Dell Hymes, là sự khác biệt giữa ngôn từ (parole được dịch từ tiếng Pháp là cả “từ” và “lời nói”) và ngôn ngữ. (“Ngôn ngữ” hoặc “tiếng nói”; được các nhà tri thức dân gian theo Noam Chomsky tóm tắt là “năng lực”) trong đó ngôn từ thể hiện cách nói của các thành viên trong một cộng đồng ngôn ngữ (trong các hành vi nói, hoặc “trình diễn”), biểu hiện một cấu trúc cơ bản, còn ngôn ngữ là cấu trúc tạo sinh (Hymes 1972, 47). Điều quan trọng đối với lý thuyết ký hiệu học ý nghĩa của Dundes là kết luận cho rằng các từ không nhất thiết phải có ý nghĩa nội tại hoặc nổi bật về mặt lịch sử. Nếu langue tiếng nói là tổng thể tính của ngôn ngữ, thì các bộ phận của cấu trúc đó có các mối quan hệ với nhau có thể độc lập với lời nói bằng các liên tưởng tự nhiên trong thế giới bên ngoài. Các mối quan hệ như vậy là những mối quan hệ khác biệt, bởi vì chúng đề cập đến, thực sự tạo ra, các phạm trù phân biệt các dấu hiệu với những bộ phận khác, chẳng hạn như chó không phải là mèo, ngựa hoặc lợn. Thái độ khinh bỉ của Dundes đối với các nhà tri thức dân gian tư duy-nghĩa đen bắt nguồn từ việc họ coi lời nói là hiện thực, thay vì phân tích các mối quan hệ làm cơ sở và tạo ra những lời nói đó và sắp xếp trật tự hiện thực. Trong mô hình này, ngôn ngữ luôn thay đổi, nhưng nó phụ thuộc vào các quy ước xã hội được thiết lập trong một cộng đồng những người nói chứ không phải ý chí cá nhân của người nói.

Trong Châm ngôn và Dân tộc chí về Lời nói, Dundes đã sử dụng sự phân biệt giữa lời nói (parole) và tiếng nói (langue) để khẳng định rằng mục tiêu dân tộc chí của nghiên cứu tri thức dân gian là hướng tới giao tiếp hoặc bối cảnh. Theo Dundes, tri thức dân gian học “không chỉ đơn giản là việc mô tả cấu trúc của ngôn ngữ như một mã hoặc hệ thống biểu trưng biệt lập, mà là nỗ lực khám phá chính xác cách thức sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống cụ thể… Trong loại nghiên cứu này, người ta không chỉ quan tâm đến các quy tắc của một ngôn ngữ, mà còn các quy tắc sử dụng ngôn ngữ nữa” (Arewa và Dundes 1964, 71; xem thêm Dundes 1966a. 242; 1976b, 1504; Ben-Amos 1972). Tuyên bố phương pháp luận này đã dẫn đến sự khẳng định của ông về tầm quan trọng của cơ sở xã hội hoặc bối cảnh của tri thức dân gian ở phần kết của bài viết: “Hãy đưa dân gian trở lại với tri thức dân gian!” (về phương diện ngôn ngữ phỏng theo cấu trúc “Hãy đưa Chúa Kitô trở lại vào Giáng sinh”, ông nói). Tuy nhiên, tách mình khỏi những người ngữ cảnh luận khác, Dundes cảnh báo sự lẫn lộn về việc sử dụng bề mặt và ý nghĩa ngụy tạo. Ông suy ra ý nghĩa từ các manh mối biểu trưng có thể nằm ngoài nhận thức của người nói và không rõ ràng từ ngữ cảnh. “Việc sử dụng được quan sát hoặc thu thập từ người bản ngữ, trong khi việc diễn giải” ý nghĩa, ông suy tưởng, chắc chắn được thực hiện từ quan điểm của nhà phân tích (Dundes 1975c, 52).

Nếu Dundes ngụ ý rằng nhị nguyên luận của Saussure, làm nổi bật việc sử dụng mang tính phân tích bối cảnh văn hóa và giao tiếp, là giải phóng, thì nhiều nhà hậu-cấu trúc luận đã khó chịu với “hệ thống phân cấp giá trị” trong các cấu trúc nhị phân của một / hoặc các tuyên bố. Các nhà phê bình cho rằng sự chi phối không thể tránh khỏi của cực này đối với cực khác là kết quả của giả định rằng một phía của sự phân đôi, như nhà ngôn ngữ học Katharina Barbe đã viết, “được coi là thuần khiết hơn, tích cực hơn và cơ bản hơn so với phía kia” (2001, 89). Đánh giá về việc ông không tán thành tinh hoa luận và sự hòa giải cặp phân đôi khách quan / chủ quan của mình, Dundes có thể đã đồng ý ở một mức độ nào đó, nhưng các diễn giải của ông cho thấy ông vẫn cam kết với ý tưởng rằng hệ nhị phân là cơ bản vì nó đại diện cho quá trình nhận thức. Sự khác biệt về ký hiệu học của Saussure giữa “cái biểu đạt” (một hình ảnh âm thanh) và cái “được biểu đạt” (một khái niệm) thể hiện rõ ràng trong sự khác biệt mang tính Dundesian giữa cách sử dụng và ý nghĩa. Trong bài viết của Dundes, tôi không phát hiện được quan điểm hậu cấu trúc cho rằng các khác biệt nhị phân nhất thiết được thúc đẩy bởi mong muốn thống trị, mặc dù Dundes, khi phơi bày việc tạo dựng “phía kia” và “chủ nghĩa sô-vanh” trong tự sự và lời nói, đã nhận thức rất rõ về logic của chủ nghĩa đế quốc trong các cấu trúc trí tuệ của phương Tây / phương Đông, văn minh / nguyên thủy, da trắng / da đen, đa số / thiểu số, nam / nữ và thực sự gồm cả khoa học / dân gian (Dundes 1980h, 2; Dundes 1980a; Ashcroft, Griffiths, và Tiffin 2000, 24–25). Dundes đưa vào ý thức sự ưa chuộng vô thức đối với các cặp nhị phân để bình luận về các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng.

Người ta thường cho rằng Dundes đã chỉ ra mô thức nhận thức nổi bật về phép tam phân trong văn hóa Mỹ, vốn đặt ra câu hỏi về vai trò phổ quát hơn của hệ nhị phân. Bài luận thường xuyên được trích dẫn của ông, “Con số Ba trong Văn hóa Mỹ” [1980d], rút ​​ra ý nghĩa từ một mô thức thịnh hành nhưng không được công nhận; thực sự, lời đề dẫn của ông là một đoạn trích từ công trình A Scientific Theory of CultureLý thuyết Khoa học về Văn hóa (1944) của Bronislaw Malinowski: “Không có gì khó thấy như là cái hiển nhiên” (Dundes 1980d, 134). “Tri thức dân gian,” Dundes khẳng định trong bài tiểu luận này, “là dữ liệu chính cho các cuộc điều tra về mô hình nhận thức” (137). Đúng như phong cách của mình, Dundes đã đưa ra một loạt bằng chứng, chẳng hạn như: “Trong cách nói dân gian, người ta có thể đưa ra ba lời cổ vũ cho ai đó, chứ không phải hai hoặc bốn. (Và mỗi lần cổ vũ có thể bao gồm “Hoan hô, Hoan hô, Hoan hô!”) Người phát lệnh cuộc đua sẽ hô “Một, hai, ba, xuất phát!” Gã không bao giờ đếm đến hai hoặc bốn. (Ví dụ: ba lệnh “Vào vạch xuất phát, tập hợp, xuất phát!.”) Bảng chữ cái được gọi là ABC và trong cách ví von dân gian thông thường, một cái gì đó dễ dàng như ABC; người ta không nói đến việc học AB hay ABCD của mình” (136). Điểm cốt yếu của ông là số ba dường như mang đặc trưng-văn hóa, nhất là khi so sánh với “số ám” mà người Mỹ bản địa sử dụng số bốn như một nghi lễ hoặc số thiêng (135).

Mặc dù Dundes không tiến xa thêm khi giải thích việc sử dụng số bốn trái ngược nhau trong nhiều nhóm người Mỹ bản địa, tôi vẫn đề xuất đi theo cách tiếp cận phân tích này để chứng minh rằng ý nghĩa của bốn trong mối quan hệ với vũ trụ học là tự nhiên; số bốn đại diện cho một vòng tròn thiêng liêng, hoặc trạng thái trọn vẹn một cách tượng trưng, ​​bởi vì nó đại diện cho bốn điểm cốt yếu tạo thành đường kính và bán kính của không gian hình tròn. Số bốn đại diện cho mọi nơi, nghĩa là, xa hết mức mà con mắt có thể thấy. Từ quan điểm này, việc người châu Á sử dụng số năm như một số mẫu trong các nghi lễ và các tự sự cho biết thêm cái tự nội, hay trung tâm, như một điểm mà các hướng giao nhau trong vòng tròn, cho thấy tầm quan trọng của việc phép nội quan. Phép tam phân, trong phân tích của tôi, ngụ ý đại diện cho cơ thể, ngoài tư duy nhị phân, đặc biệt là trong tầm quan trọng có tính tam giác của đầu (với tư cách là cội nguồn trí tuệ và nhân tính) và hai vai (đại diện cho sự gánh vác và sức mạnh của cơ thể) (Bronner 1986b, 15–16; xem thêm Lease 1919, 72). Khám phá tính đa dạng của các ý nghĩa có thể có, Dundes gợi ý rằng phép tam phân liên quan đến sự hợp nhất là cơ sở của xã hội - người mẹ, người cha và kết quả là đứa con - trước khi đưa ra một cách diễn giải thích phân tâm học. Dundes đã sử dụng Freud để vẽ biểu trưng tương đương của số ba là “biểu tượng nam tính, dương vật kiêm tinh hoàn” và khiêu khích thêm rằng sự phổ biến của nó trong nền văn minh phương Tây do nam giới thống trị biểu thị “hoạt động bù đắp cho việc không thể sinh con như phụ nữ.” “Kiểu giải thích này,” ông suy tưởng, “có lẽ cũng làm rõ lý do tại sao các khía cạnh của văn hóa Mỹ lại chỉ dành cho nam giới, chẳng hạn như quân đội, Hướng đạo sinh, bóng chày, đặc biệt là môn đua ngựa ba vòng. (Cũng lưu ý rằng Chúa Ba Ngôi đều là nam tính. Đây sẽ là bằng chứng nữa cho thấy số ba là sự sáng tạo của nam giới, phủ nhận hoặc thay thế tính sáng tạo của nữ giới.)” (1980d, 158).

Nhị nguyên luận, Dundes nhận xét, “có lẽ mang tính toàn thế giới” và “được cho là có giá trị phổ quát khách quan” (1965a, 186). Ông triết học hóa về “các đối cực” phổ biến, “bao gồm: sự sống / cái chết, thể xác / linh hồn và nam / nữ.” Ông chỉ ra rằng sự mở rộng mang tính xã hội của phép phân đôi nhận thức được chỉ ra bằng các khái niệm “bản thân / kẻ khác” và “ta / chúng”, gợi ý rằng cái đơn lẻ đòi hỏi phải có cặp để có cảm giác về đồng nhất tính, để không chỉ khẳng định một là cái gì, mà cũng còn khẳng định một không phải là gì (Dundes 1980d, 135). Ông cũng kiên trì cho rằng cặp đôi là đơn vị cơ bản của việc “chia sẻ” và “truyền tải” tri thức dân gian. Với tư cách là bằng chứng ngôn ngữ học, ông có thể đã đề cập đến việc biểu đạt thông tục khái niệm cơ bản về cái xã hội trong cách nói dân gian, “Hai là bầu bạn, còn ba là đám đông.” Mặc dù Dundes không tiến xa thêm với tuyến suy lý này, nhưng có thể mở rộng mối quan hệ của hệ nhị phân với hệ đơn. Liên quan đến cách nói dân gian “hai là bầu bạn” là biểu tượng tương đương giữa một với sự trống rỗng trong những câu nói như “Một là không có, hai là nào đó, ba là một loại, bốn là đám đông”, “Một thân là không thân,” và “Một tốt như không” (Stevenson 1948, 1717–18). Sống một mình là chống lại xã hội, hoặc phi đạo đức, vì “chỉ chăm sóc cho bản thân” ngụ ý một chủ trương duy ngã độc tôn thái quá hoặc tính ích kỷ (như trong “tìm kiếm số một”). Độc thân phải là không bị ràng buộc – có chút “thui thủi” hoặc kỳ quặc (được ngụ ý trong “lánh đời” hoặc “ẩn dật”), đôi khi bông đùa là theo chủ nghĩa “tầm chương trích cú mèo” (wellerism), “Mỗi người đều có sở thích riêng, bà già vừa nói vừa hôn con bò cái”; - và phi truyền thống, chống đối-xã hội, hoặc dị thường, được diễn đạt bằng cụm từ “going it alone - tự mình.” Dundes đã kết nối một cách suy nghĩ khoa học hoặc tinh hoa độc quyền với khái niệm độc nhất về đơn nguyên luận khi ông viết, “cho dù các nhà tri thức dân gian, tuy thực tế là họ đã quen với việc suy nghĩ về sự biến đổi trong các văn bản tri thức dân gian, nhưng vẫn thường cho rằng chỉ có một ý nghĩa hoặc cách diễn giải chính xác. Không có cách diễn giải đúng nào về một hạng mục tri thức dân gian hơn là chỉ có một phiên bản đúng của trò chơi hoặc bài hát. (Cần phải vượt qua cái thiên hướng đối với các quan điểm đơn nhất như đã được minh chứng trong độc thần luận, chế độ một vợ một chồng, và những thứ tương tự)” (1975d, 51–52).

Tôi muốn nói thêm, tự ngã là một điểm tham chiếu mà từ đó các kết nối lịch sử cũng như xã hội được tạo ra, đặc biệt là các tham chiếu đến việc ai đó là “nguyên bản” (đầu tiên), theo nghĩa chịu trách nhiệm về một sáng tạo (với những ý nghĩa phụ thêm mang tính Adamic của Sáng thế) chưa từng xảy đến và sau đó đã được sao chép. Liên tưởng nhận thức với “hình thức-nguyên thủy” của sáng tạo đưa đến giả định thường xuyên cho rằng một nguồn sáng tạo duy nhất có thể được tìm thấy cho tri thức dân gian, chứ không phải là sự giải thích xuyên-văn hóa hoặc tâm lý về các biểu hiện truyền thống như là các “phản ứng”. Không phải Dundes không quan tâm đến nguồn gốc, nhưng ông có xu hướng định vị các biểu hiện liên-văn hóa, thường là trong các môi trường xa xôi, và đề xuất các phản ứng tâm lý thay vì truyền bá để giải thích các tương đồng.

Phân đoạn nhị phân của tự ngã (chẳng hạn trong các khái niệm phân tâm học về bản ngã [id] và tự ngã [ego]), được thể hiện trong cách diễn đạt bản ngữ lưỡng phân về “một mình với suy nghĩ của mình” hoặc “tự mình trò chuyện”, mà ngôn ngữ học xã hội ngụ ý một tác nhân cùng kẻ tiếp nhận thông điệp, và đề cập đến một cuộc trò chuyện giữa “giọng nói bên ngoài” và “giọng nói bên trong” (xem Mechling 2006). Cấu trúc nhị phân khác với các khái niệm cấu trúc khác ở chỗ nó có xu hướng biểu thị các quá trình tâm lý và xã hội, trong khi đơn nguyên luận và phép tam phân lại thường có các liên kết cụ thể.1

Bằng cách đưa ra một gợi ý từ nhị nguyên luận giữa các ý nghĩa hiển lộ và tiềm ẩn trong tâm lý học “chiều sâu”, phân tích của Dundes khám phá ra ý nghĩa “sâu” theo nghĩa một cái gì đó nói về một cái gì đó, hóa ra lại là một cái gì đó khác. Quan điểm này có lẽ là rào cản lớn nhất đối với việc chấp nhận các diễn giải của Dundes, vì thường có giả định trong các cách diễn giải của ông cho rằng thông điệp mà nhà tri thức dân gian nghe hoặc thấy là một sự ngụy tạo hoặc bóp méo ý nghĩa chứ không phải là loại sự thật “trông mặt mà bắt hình dong” (xem Dundes 1976b; Cohen 1980, 47–50; Oring 1975b; Oring 2003; Koven 2005). Ngay cả cách nói tu từ “người cấp tin”, được sử dụng trong việc thu thập dữ liệu, cũng gợi ý rằng điều gì đó được bộc lộ thay vì cần “diễn giải” (tức là, cứ như thể thông điệp đã được mã hóa vậy). Cái cách để đi đến cấu trúc “cơ bản”, nghĩa “ẩn” hoặc lý do “không xác định” - dẫn theo một phép tu từ nào đó trong phân tích chiều sâu - là thông qua việc xác định và so sánh các mã số. Thay vì được bộc lộ trong hành vi có thể quan sát (cái mà Dundes gọi là “dữ liệu mô tả”) trên thực địa, ý nghĩa biểu trưng được phân biệt rõ ràng “bên dưới” bề mặt và được ghi vào tâm trí. Một câu hỏi quan trọng trong cách tiếp cận này là liệu ý nghĩa có thể được “chứng minh” không. Dundes đã giải quyết vấn đề này bằng cách nhấn mạnh giá trị của việc diễn giải, vốn cho rằng chủ đề hoặc văn bản phân tích là đa nghĩa, thay vì bị hiểu sai là có một nghĩa riêng đúng, theo cách nói của ông, là có tính “nguyên khối” (1975d, 52; 1980e, ix).

Tuy Dundes đã sử dụng “diễn giải” như Freud đã sử dụng nó trong Diễn giải Giấc mơ ([1900] 1999) để biểu thị kết quả của một quá trình phân tích, tức là những khả tính được nhà phân tích gợi ý từ sự chú ý đến các văn bản đã được nói đến, và những điều nằm ngoài nhận thức của bệnh nhân. Freud nghiên cứu cả giấc mơ và tri thức dân gian, và trên thực tế có liên quan đến cả hai (Freud và Oppenheim 1958). Cả hai lĩnh vực thường bị coi là “khó hiểu và vô lý,” và ít ý nghĩa, mặc dù Freud đã mạo hiểm chứng tỏ rằng chúng rất quan trọng về mặt tâm lý (Freud [1900] 1999, 128). Trong tiểu luận “Phương pháp Diễn giải Giấc mơ: Phân tích Giấc mơ mẫu”, Freud đã cần đến “cách xử lý khoa học về chủ đề” liên quan đến việc hiện thực hóa nội dung của một giấc mơ thành các văn bản có thể so sánh được (132). Freud cảnh báo rằng “đối tượng quan tâm của chúng ta không phải là toàn bộ giấc mơ mà là những phần riêng biệt trong nội dung của nó” (136). Ông mô tả việc phân tích các phần như là một “phương pháp giải mã, vì phải coi những giấc mơ như một loại mật mã trong đó mỗi dấu hiệu có thể được dịch thành một dấu hiệu khác” (130). Việc diễn giải đưa ra những ý nghĩa “ẩn giấu” mà kẻ mơ không nhận thức được. Chúng được suy ra từ những nguyên tắc chung, chẳng hạn như “giấc mơ là thực hiện một điều ước” (154). Freud đã phác thảo hiển thị nội dung giấc mơ (manifester Trauminhalt), hoặc “các đối tượng, hành động, khung cảnh và từ ngữ xuất hiện trong giấc mơ và được lưu lại trong ký ức” và nội dung tiềm ẩn của giấc mơ (latenter Trauminhalt), “các chỉ vật vô thức của hiển thị nội dung giấc mơ” ( Oring 1993, 279). Các thử nghiệm có thể được áp dụng để xác nhận giá trị của kết luận biểu trưng về những suy nghĩ, động cơ hoặc khuôn mẫu vô thức (Traumgedanken) - thông qua việc chứng thực bằng các “trường hợp” khác, và đọc các văn bản đã phân tích để có tính nhất quán (xem Sherwood 1969, 196–202; Fine 1992 ; Oring 2003, 58–70).

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu bệnh nhân hoặc người mang-truyền thống phủ nhận ý nghĩa phân tích, cho dù mục tiêu của việc làm cho nội dung vô thức trở thành có ý thức là để “có được cái nhìn sâu sắc” và cuối cùng là sự tái hòa nhập (hoặc cơ sở lý luận cho) nhân cách hoặc văn hóa? Dundes coi phủ định như một sự xác nhận, vì như ông đã viết, “nếu những người tham gia nhận ra một cách có ý thức những gì họ đang làm, thì rất có thể họ sẽ không sẵn sàng tham gia. Đó chính xác là biểu tượng mặt tiền khiến mọi người có thể tham gia vào một hoạt động mà không có ý thức để hiểu được ý nghĩa của việc tham gia đó” (2005a, 357). Nói cách khác, nếu những người mang truyền thống nhận thức được ý nghĩa “sâu”, thì họ sẽ không cần đến truyền thống.

Phân tích của Dundes xác định các mô thức hoặc khái niệm cơ bản, và do đó đi đến cách diễn giải các liên tưởng của chúng thông qua các tương đương biểu trưng allomotifs: “Nhờ Propp, mà chúng ta biết rằng các câu chuyện dân gian bao gồm các bộ chức năng tuần tự (mà tôi đã tái dán nhãn là motifemes); mặc dù Propp không quan tâm đến việc đặt tên cho các mô típ khác nhau có thể thực hiện một chức năng nhất định (motifeme), tôi đã đề nghị gọi các motifs đó là allomotifs; [Chen ngang: allomotifs là từ ghép của άλλο - tiếng Hy Lạp: thêm nữa, khác nữa - và motif - gốc Latin: motivus – xung lực kích thích hành động, thay đổi - nghĩa đen là các motif khác nữa - HHN] vì vậy, đối với bất kỳ cốt truyện có các chức năng nhất định nào trong truyện dân gian, có lẽ sẽ có hai hoặc nhiều motifs thay thế, tức là các allomotifs” (Dundes, Alan 1962. From Etic to Emic Units in the Structural Study of Folktales, In Journal of American Polklore, Vol. 75, pp. 95–105.)] và các quan điểm xã hội (thế giới quan). Luận điểm của tôi liên quan đến phép phân tích của Dundes là ở chỗ dự án khám phá “ý nghĩa” của ông phụ thuộc về mặt cấu trúc vào các giả định nhị phân, và về ngữ cảnh vào việc tái tạo “hiện đại” của tri thức dân gian học để “diễn giải”. Mục tiêu của ông là tập trung nghiên cứu tri thức dân gian như một bộ môn học thuật, và phá vỡ hệ thống phân cấp xã hội bằng cách quan niệm truyền thống là nhu cầu thiết yếu của con người. Ý nghĩa và cách diễn giải trong phép phân tích Dundesian thường được nhân đôi. Ý nghĩa chia thành các lớp nghĩa đen (hiển lộ) và nghĩa bóng (tiềm ẩn), trong khi diễn giải có văn chương (văn bản / ngữ cảnh) và tôn giáo (tường giải học / thần thoại) cũng như các nội hàm tâm lý và xã hội. Với ý nghĩ này, trong các phần tiếp theo, tôi sẽ xem xét các ví dụ về phép phân tích của ông để trả lời câu hỏi nhân đôi về ý nghĩa của tri thức dân gian và ý của Dundes là gì.

_______________________________________________

Còn nữa….

Nguồn: Bronner, Simon J. (2007). The Analytics of Alan Dundes. In Dundes, A., & Bronner, S. J. (2007). The meaning of folklore: The analytical essays of Alan Dundes. Logan: Utah State University Press, pp. 1-50.

Tác giả: Simon J. Bronner (sinh ngày 7 tháng 4 năm 1954 tại Haifa, Israel) là một nhà tri thức dân gian, dân tộc học, nhà sử học, nhà xã hội học, nhà giáo dục và tác giả người Mỹ. Cha mẹ ông là những người Do Thái Ba Lan sống sót sau thảm họa Holocaust, từ Israel di cư đến Hoa Kỳ vào năm 1960. Thời thơ ấu ông sống ở Chicago và New York. Ông học khoa học chính trị, lịch sử và tri thức dân gian tại Đại học Binghamton (BA, 1974) và sau đó ông nhận bằng Thạc sĩ về Tri thức Dân gian Hoa Kỳ tại Chương trình Sau đại học Cooperstown của Đại học Bang New York (1977), nơi ông cũng nghiên cứu lịch sử xã hội, dân tộc học và nghiên cứu bảo tàng. Ông ở lại Cooperstown để làm việc cho Hiệp hội Lịch sử Tiểu bang New York với tư cách là giám đốc Cơ quan Lưu trữ Đời sống Dân gian Tiểu bang New York, trước khi chuyển đến Đại học Indiana, Bloomington, nơi ông hoàn thành luận ánTiến sĩ về Tri thức Dân gian và Nghiên cứu Hoa Kỳ (1981) và làm việc cho Bảo tàng Lịch sử, Nhân học và Tri thức Dân gian của Đại học Indiana (nay là Bảo tàng Văn hóa Thế giới Mathers). Năm 1981, ông trở thành trợ lý giáo sư về Nghiên cứu Hoa Kỳ và Tri thức Dân gian tại Đại học Bang Pennsylvania trong Chương trình Nghiên cứu Hoa Kỳ sau đại học tại Harrisburg, và được phong Giáo sư Đại học Xuất sắc vào năm 1991. Ông cũng đã giảng dạy với tư cách là Chủ nhiệm Xuất sắc Walt Whitman về Nghiên cứu Văn hóa Hoa Kỳ tại Đại học Leiden, Hà Lan (2006), Giáo sư thỉnh giảng về Tri thức Dân gian và Lịch sử Văn minh Hoa Kỳ tại Đại học Harvard (1997-1998), Giáo sư Fulbright về Nghiên cứu Hoa Kỳ tại Đại học Osaka, Nhật Bản (1996-1997), và Giáo sư Thỉnh giảng Xuất sắc về Nghiên cứu Hoa Kỳ, Đại học California tại Davis (1991). Năm 2018-2019, ông giữ chức giáo sư xuất sắc Maxwell C. Weiner về khoa học nhân văn tại Đại học Khoa học và Công nghệ Missouri, một bộ phận của hệ thống Đại học Missouri.

Chú thích

1. Dundes không nhất quán trong việc kết nối tâm trí với hệ nhị phân và cơ thể với hệ tam phân. Trong Con số 3 trong Văn hóa Mỹ, ông trích dẫn tiền lệ mẫu của Emory Lease, người đã đề xuất rằng “các bộ phận chính của cánh tay và cẳng chân con người, chưa kể đến ngón tay, có xu hướng hỗ trợ cho tư duy tam phân,” nhưng lại suy tư rằng “dữ liệu giải phẫu dường như lại củng cố cho “số hai” thay vì “số ba”. Ông lập luận, “Có hai giới tính, hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, hai tay, hai chân, v.v. Những cặp được công nhận rộng rãi này sẽ giúp giải thích tại sao nhị nguyên luận lại có thể phổ biến toàn thế giới.” Tuy nhiên, sau đó ông tiếp tục trình bày nhị nguyên luận như một khái niệm dựa trên nhận thức bằng cách đề cập đến sự phân đôi cơ bản của “bản thân / kẻ khác” và “ta / chúng” để nhấn mạnh rằng “dường như khó mà nghi ngờ rằng “hai” được phân phối rộng rãi hơn trên toàn thế giới hơn là “ba” (1980e, 135).

* Ghi chú của người dịch: Giống như trường hợp Ecce Homo, chẳng nghĩ là dịch, mà chỉ là đọc và làm tư liệu về hai món trên đây, trộm gọi là Tri thức Dân gian (Folklore) và Tri thức Dân gian học (Folkloristics) để thử nghiệm một hướng tiếp cận tri thức luận thay cho thứ văn hóa luận [đối với kẻ dịch ngồi dịch giữa mùa dịch vừa dịch vừa hóng mọi thông tin dịch trong phòng dịch né dịch bất di bất dịch] đã trở nên kiệt lả sau một thời dài được kêu bằng Văn hóa Dân gianNghiên cứu Văn hóa Dân gian, với hy vọng rằng biết đâu đến thế kỷ XXII bên nước [N]ào người ta lại chẳng đổi Bộ (Sở, Phòng) Văn hóa thành Bộ (Sở, Phòng) Tri thức; Đại học (Học viện) Văn hóa thành Đại Học (Học viện) Tri thức.