Powered By Blogger

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (VI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz

[Tr.33] (2) Trong đoạn De libertate7 Leibniz nói: Videbam autem commune esse omni propositioni verae affirmativae universali et singulari, necessariae vel contingenti, ut praedicatum insit subjecto, seu ut pmedicati notio in notione subjecti aliqua mtione involvatur; idque esse principium infallibilitatis in omni veritatum genere, apud eum qui omnia a priori cognoscit. “Vì tôi nói rằng trong mọi mệnh đề khẳng định thực sự, dù phổ quát hay cụ thể, cần thiết hay ngẫu nhiên, vị ngữ đều gắn liền với [inesse] chủ ngữ, và khái niệm vị ngữ theo một cách nào đó đều liên quan [involvatur] đến khái niệm chủ thể. Tôi cũng thấy rằng đây là nguyên tắc không thể sai lầm trong mọi loại chân lý đối với người biết mọi thứ theo cách thức tiên nghiệm.” [L. 263-4]            

(3) Sau đó có hai đoạn trích từ thư trao đổi của Leibniz với Antoine Arnauld nhân dịp Arnauld nhận được cuốn Discours. Arnauld là một người theo chủ nghĩa Descartes và là một nhà thần học của Port Royal, đồng tác giả của cuốn Logique de Port-Royal (1662). Thư từ này có ý nghĩa cơ bản đối với vấn đề về bản chất cá thể. (a) Đầu tiên là một suy nghĩ lặp lại gần như nguyên văn đoạn trích dẫn trên (từ tháng 6 năm 1686): [Tr.34] Cuối cùng, tôi đã đưa ra một lý do quyết định, mà tôi tin rằng có sức mạnh của một Luận chứng. Đó là trong mọi mệnh đề tương quan đúng, dù cần thiết hay ngẫu nhiên, phổ quát hay riêng biệt, khái niệm về vị ngữ bằng cách nào đó luôn luôn được bao hàm trong khái niệm về chủ ngữ. Praedicatum inest subject vị ngữ nằm trong chủ ngữ; nếu không thì tôi không biết chân lý là gì. [Bản Latin. 337; G. II 56] Ở đây rất rõ ràng là việc bao hàm vị ngữ trong chủ ngữ được coi là đúng và việc định nghĩa khái niệm chân lý theo đúng nghĩa là như vậy. (b) Trong chừng mực tôi duy trì khái niệm cá nhân về Adam với mọi thứ sẽ xảy ra với anh ta, ý tôi là không gì hơn những thứ mà mọi triết gia có ý định khi họ nói rằng praedicatum inesse topico verae propositionis [vị ngữ của một mệnh đề chân nằm trong chính chủ ngữ]. June, 1686, G. II, 43) Khái niệm bản thể về chủ ngữ ở đây được xác định rõ ràng bằng mối quan hệ logic chủ ngữ-vị ngữ được coi là một inesse cái bao hàm, thuộc về.              

(4) Omnis propositio vera probari potest, cum enim praedicatum insit topico, ut loquitur Aristoteles, seu notio praedicati in notee owneri Perfecte Intellecta involvatur, utique analyzee terminorum in suos valores seu eos terminos quos Continental, oportet veritatem posse ostendi. (C. 388)8 Mọi mệnh đề chân đều có thể được chứng minh. Bởi vì vị ngữ nằm trong chủ ngữ, như Aristotle đã nói, hoặc khái niệm vị ngữ được hàm ý trong khái niệm chủ ngữ được hiểu một cách hoàn hảo, nên chân lý nhất thiết phải có thể được chứng minh bằng cách phân tích các thuật ngữ chủ ngữ thành những gì chúng chứa đựng. Vì vậy, Leibniz đề cập đến Aristotle liên quan đến quan niệm của ông về inesse cái bao hàm, cái thuộc về. Ở đây chúng ta nên lưu ý cái cách thức mà hiện hữu-hiện diện của thực thể thực sự tồn tại được hình dung như là chủ ngữ được đồng hóa với khái niệm chủ ngữ. Bằng chứng về tính chân lý của một tuyên bố là kết quả của phân tích, resolutio [từ Latin resolutio, danh cách nghĩa là ‘sự nới lỏng, tháo gỡ hoặc giải thích’; nó bắt nguồn từ động từ resolvere ‘nới lỏng, gỡ bỏ hoặc giải phóng’; trong quá khứ nó có nghĩa là ‘chia thành nhiều phần’ hoặc ‘giản hóa mọi thứ thành các dạng đơn giản hơn’, bắt nguồn từ tiền tố nhấn mạnh re- + solvere ‘nới lỏng’; cách sử dụng hiện đại liên quan đến một quyết định chắc chắn, nghị quyết thì gốc từ cổ điển đề cập đến việc tách rời hoặc tháo gỡ. - HHN] phân tích chủ ngữ thành các yếu tố của nó. Ý tưởng về bằng chứng và khả năng của nó dựa trên cấu trúc của mệnh đề được coi là mối quan hệ bao hàm.                     

(5) Cuối cùng, một trích dẫn từ chuyên luận nhỏ Primae veritates [‘Primae veritates’ tiếng Latin có nghĩa là ‘những chân lý đầu tiên’ hoặc ‘những sự thật nguyên thủy’’ primae là số nhiều, giống cái của primus, nghĩa là đầu tiên, tiên khởi; veritates số nhiều của veritas, nghĩa là sự thật, chân lý; trong triết học cụm từ này thường được dùng để chỉ các nguyên lý cơ bản, tiên đề hoặc các sự thật hiển nhiên mà không cần chứng minh, là nền tảng cho mọi tri thức khác, chẳng hạn như nguyên lý không mâu thuẫn; đây cũng là tiêu đề một tác phẩm nổi tiếng của nhà triết học Gottfried Wilhelm Leibniz] được Couturat xuất bản: Semper igitur praedicatum seu consequens inest subject seu antecedenti; et in hoc ipso consistit natura veritatis in universum seu [tr.35] connexio inter tenninos enuntiationis, ut etiam Aristoteles observavit. (C. 518-19) Do đó vị ngữ hay hệ quả luôn luôn nằm trong chủ ngữ hay tiền đề. Và như Aristotle cũng đã nhận xét, bản chất của chân lý nói chung hay mối liên hệ giữa các khuôn khổ của một mệnh đề nằm ở cái hiện hữu-trong này. [L. 267]

Cần phải ghi nhớ rằng lý thuyết này nói về sự bao hàm của khái niệm vị ngữ trong khái niệm chủ ngữ, cũng như bao hàm cái hiện hữu của thứ được vị ngữ ám chỉ trong hiện hữu của cái được chủ ngữ gọi tên. Cách bao hàm như vậy là bao hàm trong λόγος, một bao hàm logic; và vì nó ám chỉ tự thân hiện hữu, nên nó là một sự bao hàm mang tính bản thể. Điểm đặc biệt là cả hai điều này theo một cách nào đó là trùng khớp. Những lý do cho nó, dù đúng hay sai, chỉ có thể được xác định khi chúng ta tiến sâu hơn vào những nền tảng siêu hình cuối cùng của lý thuyết phán đoán này. Việc so sánh phác thảo tổng quát về lý thuyết phán đoán này với các quan niệm khác về phán đoán sẽ trở nên rất hấp dẫn. Bản thân Leibniz cũng đề cập đến Aristotle, mặc dù không hoàn toàn chính đáng. Sau này, chúng ta sẽ có thể thảo luận kỹ lưỡng về mức độ chính đáng của tham chiếu này và tại sao cuối cùng nó vẫn không được coi là chính đáng.

Descartes tìm kiếm bản chất của phán đoán theo một hướng hoàn toàn khác so với Aristotle hay sau này là Leibniz. Theo Descartes, phán đoán không chỉ đơn thuần là một quá trình tinh thần, một sự kết nối các khái niệm. Thay vào đó, nó là sự tiếp nhận của chủ thể nhận thức về một lập trường đối với những nội dung tinh thần này. Judicare, phán đoán, là assensionem praebere, chấp thuận với một mối quan hệ giữa các khái niệm, assentiri, credere, sibi ipsi affirmare [đồng ý, tin tưởng, tự khẳng định]. Ở đây, sự tương phản giữa khẳng định và phủ định, thừa nhận và bác bỏ, không tương ứng với sự phân chia các phán đoán thành khẳng định và phủ định, phán đoán tích cực và tiêu cực. Đối với Descartes, quan niệm về phán đoán này gắn bó mật thiết nhất với cái cách thức mà ông đặt nền móng cho triết học sơ khai, với việc treo lại đồng thuận, với thái độ nghi ngờ các tri ​​thức trước đó. Quan niệm về phán đoán của Descartes đã được Franz Brentano xem xét lại vào thế kỷ XIX trong Psychologie vom empirischen Standpunkt - Tâm lý học từ góc nhìn Thực nghiệm, 1874, và tiếp tục trong Yom Ursprung sittlicher Erkenntnis - Nguồn gốc của Tri thức đạo đức, 1889. Brentano viện đến sự phân loại ba hoạt động tinh thần, của cogitations – các ý tưởng, mà Descartes đưa ra trong MeditationesTrầm tư (111, 5) bao gồm ideae, voluntates sive affectusjudicia [ý tưởng, ý chí hoặc cảm xúc, và phán đoán].

[Tr.36] Bên cạnh đó, Descartes cũng đưa ra sự phân chia hai loại perception nhận thứcvolition ý chí (Principia Philosophiae Nguyên lý Triết học I. 32 và 34), và ở đây Descartes xếp các hành động phán đoán vào số các hành động ý chí. Một cuộc tranh cãi nảy sinh vì sự mơ hồ này. Brentano cố gắng chứng minh rằng các hành động phán đoán tạo thành một loại riêng biệt. Johann Bergmann theo sau ông trong Reine Logik Logic Thuần túy năm 1879. Wilhelm Windelband cũng xử lý Brentano trong Beitrage zur Lehre vom Negativen Urteil" (trong Strassburger Abhandlungen zur Philosophie. E. Zeller zu seinem 70. Geburtstage, 1884) - Những đóng góp cho học thuyết về phán đoán phủ định (trong Tuyển tập Triết học Strasbourg. E. Zeller nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông, năm 1884, nhưng Windelband khẳng định rằng hành động phán đoán là một hành động của ý chí. Đây cũng là điểm khởi đầu của Heinrich Rickert trong Der Gegenstand der Erkenntnis Đối tượng của Tri ​​thức (Habilitationsschrift Luận án Tiến sỹ Cao cấp), 1892, tái bản lần thứ 6 năm 1928, là nền tảng cho nhận thức luận của Rickert và thậm chí cho toàn bộ triết lý về các giá trị của ông. Cuối cùng, vào năm 1912 Die Lehre vom Urteil - Học thuyết Phán đoán của Emil Lask được xuất bản.

Mặc dù Leibniz đã phát triển tư tưởng của mình theo nhiều cách bằng hành động đối đầu với Descartes và những người theo chủ nghĩa Descartes, nhưng lý thuyết phán đoán của họ không quan trọng đối với ông. Lý thuyết của họ dựa trên giả định về một lập trường của chủ thể chứ không phải dựa trên nội dung của những gì được nêu ra. Điều đó không quan trọng đối với Leibniz, và đúng vậy, bởi vì nó đi chệch khỏi các vấn đề siêu hình trọng tâm. Có giá trị hoàn toàn khác cho một cuộc thảo luận thích hợp về lý thuyết phán đoán của Leibniz là phần trình bày của Kant trong Lời giới thiệu Phê phán Lý tính Thuần túy, nơi ông đề cập đến phán đoán và sự phân chia các phán đoán thành phân tích và tổng hợp. Nếu sự phân biệt của Kant có thể áp dụng để mô tả lý thuyết của Leibniz, thì đối với Leibniz, tất cả các phán đoán đều là phân tích. Tuy nhiên, khái niệm phân tích của Kant không trùng khớp với cái mà Leibniz gọi là analysis notionum khái niệm phân tích. Nếu cần một cuộc đối đầu, thì đó sẽ là với Aristotle và Suarez một bên và với Kant một bên khác. Trong cả hai trường hợp, vấn đề phán đoán, về λόγος, về logic, sẽ phải được quyết định trên cơ sở vấn đề bản thể luận, về siêu hình học, theo đúng nghĩa.

Điều đầu tiên cần thực hiện là phải làm rõ các quan điểm siêu hình trong lý thuyết phán đoán của Leibniz và từ đó làm sáng tỏ chính lý thuyết đó. Chúng ta nhắc lại inesse cái thuộc về, inclusio cái bao hàm, bao gồm, và chúng ta dựa vào một định nghĩa từ Definitiones Logicae Định nghĩa Logic của Leibniz: A includere B, seu B includi A, est: de A, subjecto, universaliter affirmari B. praedicatum, veluti: sapiens includit justum, hoc est, omnis sapiens est (!) justus.9 [Tr.37] Để A bao gồm B, hoặc B được A bao gồm, có nghĩa là: B, vị ngữ, có mối quan hệ phổ quát với A, chủ ngữ. Ví dụ: Người khôn ngoan bao gồm người công chính, tức là mọi người khôn ngoan đều (!) công chính. [E. 100] Ở đây Leibniz chỉ đơn giản đánh đồng việc được khẳng định và việc được bao gồm hoàn toàn; khẳng định chỉ đơn giản có nghĩa là bao gồm. Từ ‘là’ trong mệnh đề mẫu cho thấy mối liên hệ này là một connectio realis mối liên hệ thực sự (Cf. G. VII, 300f.), một sự bao hàm nội dung được nói đến. Theo nghĩa này, thực tại trái ngược với sự phủ định. Liệu include được bao gồminesse thuộc về/bên trong có thể được mô tả chi tiết hơn nữa không? Có một quan niệm cơ bản đặc trưng nào về mối quan hệ này được tìm thấy trong triết học của Leibniz không, và cách giải thích mối quan hệ này liên quan như thế nào đến bản chất thiết yếu của phán đoán, với chân lý hay sai lầm? 

§2. Phán đoán và ý niệm về chân lý.

Các hình thức cơ bản của chân lý

Theo truyền thống, phán đoán được coi là phương tiện chính và đích thực của chân lý, và chân lý nói chung được coi là đặc tính của các mệnh đề, tức là chúng là chân. Về mặt thuật ngữ, chúng ta có thể làm rõ điều này bằng cách phân biệt ba nghĩa của ‘chân lý’: 1) Ý niệm về chân lý, tức là chân theo đúng nghĩa, 2) Cái cụ thể hóa của ý niệm này, các mệnh đề chân được coi là ‘chân lý’ vốn phải được chứng minh; do đó Leibniz thường đề cập đến ‘các chân lý cơ bản’; 3) Chân lý như một lý tưởng, tổng thể tính của các chân lý có thể biết được. Ý nghĩa đầu tiên trên hết là điều mà chúng ta đang xem xét. Chân lý được cho là có vị trí của nó trong các tuyên bố. Chừng nào một tuyên bố là chân, thì bản thân nó là một chân lý, một hiện hữu là chân. Là chân là cái là chân của các mệnh đề. Do đó, bản chất của mệnh đề phải có mối liên hệ thiết yếu với bản chất của chân lý. Khái niệm về mệnh đề, về phán đoán, phải được xác định bằng cách tham chiếu đến ý niệm về chân lý, hoặc ngược lại. Theo Leibniz, mối liên hệ nào tồn tại giữa quan niệm về phán đoán (lý thuyết bao hàm) và quan niệm về bản chất của chân lý? Khi trả lời câu hỏi này, chúng ta bắt gặp một đặc điểm chính của lý thuyết bao hàm.          

Leibniz trả lời câu hỏi về bản chất của chân lý như sau: Ratio autem veritatis consistit in nexu praedicati cum subjecto [Bản chất của chân lý nằm ở mối liên hệ của vị ngữ với chủ ngữ]. (C.11) Trong thư từ trao đổi với Arnauld, Leibniz nói: ‘Praedicatum inest subjecto, Hay tôi không biết chân lý là gì’ (xem 3a ở trên). Tương tự, đoạn văn trong 5 ở trên đồng nhất natura veritatis in universe [Bản chất của chân lý nói chung] với mối liên hệ giữa các thuật ngữ của một mệnh đề. Bản chất, [tr.38] cốt lõi của chân lý, và điều này có nghĩa là sự liên kết của các thuật ngữ mệnh đề, bao gồm inesse cái bao hàm, cái thuộc về. Nguyên tắc bất khả sai lầm được dựa trên inesse cái bao hàm, cái thuộc về này. Là chân lý có nghĩa là được liên kết; một sự xác định được chứa đựng trong những gì đang được xác định. Hơn nữa, phát biểu có nghĩa là connexio liên kết, quan hệ, và điều đó hàm nghĩa là chân. Chẳng phải chúng ta đang đi vòng tròn sao? Verum esse đúng là, sự thật là được đồng nhất với hiện hữu trong của vị ngữ, inesse, là chủ ngữ. Nhưng lại có rất nhiều phát biểu!. Vậy phát biểu nào là hình thức ban đầu, cơ bản của inesse cái bao hàm, thuộc về này được hiểu là nexus, là indusio? Hình thức cơ bản của là chân phải được hiện thân trong các mệnh đề cơ bản nhất, trong các phát biểu chân đơn giản nhất và nguyên thủy nhất, trong các ‘chân lý đầu tiên’.

“Primae veritates sunt quae idem de se ipso enuntiant aut oppositum de ipso opposito negant. Vt A est B, vel A non est non A. Si verum est A esse B, falsum est A non esse B vel A esse non B. Item unumquodque est quale est. Unumquodque sibi ipsi simile aut aequale est. Nihil est majus aut minus se ipso, aliaque id genus, quae licet suos ipsa gradus haheant prioritatis, omnia tamen uno nomine identicorum comprehendi possunt” (C. 518)  “Những chân lý đầu tiên là những chân lý khẳng định cái giống hệt tự thân hoặc phủ định cái đối lập tự thân. Ví dụ A là A, hoặc A không phải là không-A. Nếu A là B là chân thì A không phải là B hoặc A không phải không-B. Tương tự như vậy, mọi thứ đều là cái nó là, mọi thứ đều tương tự hoặc ngang bằng với tự thân; không có gì lớn hơn hay nhỏ hơn tự thân. Các chân lý ấy và chân lý khác thuộc loại này, mặc dù chúng có thể có mức độ ưu tiên khác nhau, nhưng tất cả đều có thể được nhóm lại dưới một tên gọi duy nhất là các ‘đồng nhất tính’. [L. 267].

Những chân lý nguyên thủy đầu tiên là identica đồng nhất, những mệnh đề trong đó một cái gì đó được khẳng định rõ ràng là chính nó trong sự đồng nhất của nó với chính nó và liên quan đến sự đồng nhất đó. Nhưng cần phải lưu ý đến một khía cạnh thiết yếu khác của những chân lý đầu tiên này. Omnes autem reliquae veritates reducuntur ad primas ope definitionum, seu per resolutionem notionum, in qua consistit probatio a priori, independens ab experimento (ibid.). [Tất cả các chân lý khác đều được quy về chân lý đầu tiên với sự trợ giúp của [tr.39] định nghĩa hoặc bằng cách phân tích các khái niệm; trong đó bao gồm bằng chứng tiên nghiệm, độc lập với kinh nghiệm.] Tất cả các phát biểu đúng cuối cùng đều có thể quy về các đồng nhất. Mỗi phát biểu đúng cuối cùng là một đồng nhất, chỉ là đồng nhất đó không nhất thiết phải rõ ràng; nhưng mỗi chân lý đều tiềm ẩn một đồng nhất. Điều này không có nghĩa gì khác ngoài việc bản chất của chân lý theo đúng nghĩa, cái inclusio bao hàm của cái nexus mối liên hệ, nằm ở đồng nhất tính. Là chân có nghĩa là đồng nhất; inesse bao hàm, thuộc về có nghĩa là idem esse [là như nhau]. “Ratio autem veritatis consistit in nexu praedicati cum subjecto, seu ut praedicatum subjecto insit, vel manifeste. ut in identicis,… vel tecte, [C. 1 1]. Et in identicis quidem connexio ilIa atque comprehensio praedicati in subjecto est expressa, in reliquis omnibus implicita, ac per analysin notionum ostendenda, in qua demonstration a priori sita est.” (C. 519) “Bản chất của chân lý nằm ở mối liên hệ giữa vị ngữ và chủ ngữ, hoặc vị ngữ nằm trong chủ ngữ theo cách hiển nhiên, như trong các đồng nhất tính, hoặc ẩn giấu... Trong các đồng nhất tính, mối liên hệ này và sự bao hàm của vị ngữ trong chủ ngữ là rõ ràng; trong tất cả các mệnh đề khác, chúng được ngụ ý và phải được bộc lộ thông qua việc phân tích các khái niệm, vốn cấu thành một luận chứng tiên nghiệm.”

Tất cả các phát biểu đều là đồng nhất tính. Nhưng các đồng nhất tính theo một nghĩa đặc biệt là những phát biểu nào mà đồng nhất tính của chúng ngay lập tức manifeste bày tỏ. [manifeste tiếng Latin có từ gốc là tính từ manifestus, có nghĩa là rõ ràng, hiển nhiên, dễ nhận thấy; ở dạng động từ mang nghĩa bị bắt quả tang, bị phát hiện; từ này có từ nguyên trong danh từ manus ‘bàn tay’ và hậu tố -festus có nghĩa là ‘bị bắt’ hoặc ‘chộp lấy’, mang hàm ý một điều gì đó đã được ‘cầm nắm’ hoặc ‘bắt tận tay’. - HHN] Trong các phát biểu khác, đồng nhất tính tecte bị che giấu, và bằng chứng về tính đúng đắn của chúng nằm ở việc làm rõ đồng nhất ẩn tàng. Bản chất của chân lý là đồng nhất tính, hoàn toàn không liên quan đến câu hỏi liệu tri thức của con người có thể thực sự chứng minh tất cả các chân lý như là các đồng nhất tính hay không. Nhưng chân lý đặc trưng cho bản chất của phán đoán, và natura veritatis bản chất của chân lý. Liệu nó có tương đương với mối liên hệ. Do đó, lý thuyết bao hàm là một lý thuyết về đồng nhất tính. Tại thời điểm này, chúng ta chưa giải thích Leibniz thiết lập lý thuyết đồng nhất tính này như thế nào, nó dựa trên những giả định nào, nó có thể được thực hiện đến mức nào đối với tất cả các phán đoán khả thể, hoặc làm thế nào có thể (AB là B) = A là A (xem C. 369). Tôi chỉ đưa ra một gợi ý để làm rõ rằng với lý thuyết λόγος logos này, với những vấn đề logic này, chúng ta ngay lập tức thấy mình trong những câu hỏi siêu hình học trọng tâm nhất, trong vấn đề bản thể luận, câu hỏi về hiện hữu theo đúng nghĩa.

Mối liên hệ giữa vấn đề phán xét và vấn đề “bản chất cá nhân” đã được chỉ ra một cách tổng quát. Là chân [tr.40] có nghĩa là đồng nhất; inesse bao hàm, thuộc về cũng là idem esse giống nhau. Đồng nhất tính được coi là bản chất của chân lý, và trong nhiều thế kỷ, đồng nhất tính được coi là một đặc điểm của hiện hữu (xem ταὐτότης - đồng nhất tính, tính giống hệt trong tác phẩm Sophist của Plato). Chân lý và hiện hữu được diễn giải dựa trên cùng một hiện tượng về tính giống nhau hoặc đồng nhất tính. Vấn đề về chân lý và vấn đề về hiện hữu có mối liên hệ mật thiết trực tiếp với nhau. Vì lý thuyết này quan trọng đối với toàn bộ triết học của Leibniz, và vì đặc tính siêu hình đồng thời của nó hiện khởi ngay lập tức, nên tốt hơn là nên ghi lại lý thuyết này một cách chặt chẽ hơn:

Nimirum ut Identicae propositiones omnium primae Bunt… atque adeo per se verae….; ita per consequentiam verae sunt virtualiter identicae, quae scilicet per analysin terminorum….ad identicas formales sive expressas reducuntur. Manifestumque est omnes propositiones necessarias sive aetemae veritatis esse virtualiter identicas….Generaliter omnis propositio vera (quae identica sive per se vera non est) potest probari a priori ope Axiomatum seu propositionum per se verarum, et ope definitionum seu idearum. Quotiescunque enim praedicatum vere affirmatur de subjecto, utique censetur aliqua esse connexio realis inter praedictum et subjectum, ita ut in propositione quacunque: A est B…, utique B insit ipsi A, seu notio ejus in notione ipsius A aliquo modo contineatur.” (G. VII, 3(0) “Cũng như các mệnh đề giống hệt nhau là các mệnh đề cơ bản của tất cả,... và do đó tự thân là chân...; vì vậy, kết quả là, các chân lý hầu như giống hệt nhau có thể được quy giản thành các đồng nhất tính hình thức hoặc rõ ràng thông qua việc phân tích các khuôn khổ của chúng....Rõ ràng là tất cả các mệnh đề cần thiết, hoặc các mệnh đề có chân lý vĩnh cửu, đều là các đồng nhất ảo....Nói chung, mọi mệnh đề chân mà không giống hệt nhau hoặc tự thân là chân đều có thể được chứng minh tiên nghiệm với sự trợ giúp của các tiên đề hoặc các mệnh đề tự thân là chân và với sự trợ giúp của các định nghĩa hoặc ý tưởng. Bởi vì cho dù một vị ngữ được khẳng định chân thực về một chủ ngữ bao nhiêu lần đi nữa, thì vẫn phải có một mối liên hệ thực sự nào đó giữa chủ ngữ và vị ngữ, sao cho trong mọi mệnh đề bất kỳ, chẳng hạn như A là B (hoặc B được vị ngữ hóa chân thực về A), thì đúng là B được chứa trong A, hoặc khái niệm của nó bằng cách nào đó được chứa trong khái niệm của tự thân A.” [L. 226]

Một identitas expressa đồng nhất rõ ràng là một veritas per se chân lý tự thân. Chân tính là cái hầu như giống hệt nhau, và các đồng nhất ảo được quy giản thành các đồng nhất hình thức. Nói chung, dù là một đồng nhất tính nguyên gốc hay chỉ là một đồng nhất tính khả thể, thì mọi mệnh đề chân đều có thể chứng minh được một cách tiên nghiệm. Điều đó có nghĩa là tất cả tri thức chân thực cuối cùng đều là tri thức tiên nghiệm. Khẳng định này có những hàm ý vô cùng sâu rộng. Lý thuyết đồng nhất tính của phán đoán được cho là để xác định bản chất của phán đoán và do đó xác định bản chất của mọi [tr.41] hình thức mệnh đề. Giờ đây, vì Leibniz phân biệt hai loại mệnh đề cơ bản, đồng thời, theo những gì đã được tìm thấy trước đó, có hai hình thức ‘chân lý’ cơ bản, nên học thuyết chung về bản chất của phán đoán có thể được kiểm chứng trên hai hình thức chân lý này. Chính tại điểm này, các khó khăn sẽ trở nên rõ ràng.

Khi mô tả đặc điểm nhận dạng của phán đoán, chúng ta đã thấy rằng Leibniz phân biệt hai loại chân lý, chân lý hiển hiện và chân lý ngầm ẩn. Nhưng sự khác biệt này đòi hỏi phải có sự xác định rõ hơn, được nhận xét như sau: His attentius consideratis, patuit intimum inter veritates necessarias contingentesque discrimen. Nempe omnis veritas vel originaria est, vel derivativa. Veritates originariae sunt quarum ratio reddi non potest, et tales sunt identicae sive immediatae….Veritates derivativae rursus duorum sunt generum: aliae enim resolvendi in infinitum admittunt. Illae sunt necessariae, hae, contingentes.” (F. 181)

“Việc xem xét kỹ lưỡng những vấn đề này đã cho thấy một sự khác biệt rất cơ bản giữa chân lý tất yếu và chân lý ngẫu nhiên. Mỗi chân lý hoặc là nguyên gốc hoặc là phái sinh. Chân lý nguyên gốc là những chân lý không thể đưa ra lý do; đó là những đồng nhất tính hoặc chân lý trực tiếp... Ngược lại, có hai loại chân lý phái sinh: một số có thể được quy giản thành chân lý đầu tiên; những chân lý khác có thể được quy giản bằng một chuỗi vô hạn. Loại thứ nhất là tất yếu; loại thứ hai là ngẫu nhiên.” [L. 264]. Tất cả các chân lý đều được chia thành chân lý nguồn cội và chân lý phái sinh. Sự phân biệt này không hoàn toàn giống với sự phân biệt giữa chân lý hiển nhiên và chân lý ẩn tàng. Chân lý nguồn cội là những chân lý không thể đưa ra lời biện minh, không thể chứng minh được. Chúng hiển nhiên ngay lập tức trong chính bản thân chúng. Tuy nhiên, chân lý phái sinh được chia thành chân lý tất yếu và chân lý ngẫu nhiên. Chân lý tất yếu phải được quy về chân lý nguồn cội. Không phải mọi chân lý tất yếu đều là chân lý nguồn cội, nhưng một số có năng lực và đòi hỏi sự suy luận. Các chân lý phái sinh khác về bản chất cũng là những đồng nhất tính, nhưng việc phân tích, chứng minh của chúng không bao giờ kết thúc đối với sự hiểu biết hữu hạn. Luận điểm này cũng ngầm khẳng định rằng mọi tri thức đều là tri thức tiên nghiệm. Các chân lý tự thân là nguồn cội và các chân lý có thể quy giản thành các chân lý nguồn cội, các chân lý tất yếu, được các nhà triết học kinh viện gọi là veritates aeternae chân lý vĩnh cửu.      

Rõ ràng, việc phân chia thành các loại chân lý cơ bản này cũng có nền tảng siêu hình, bản thể luận của nó. Sự phân biệt giữa chân lý vĩnh cửu và chân lý ngẫu nhiên tương ứng với sự phân chia các hiện hữu: ens per se necessarium thực thể tất yếu tự thân entia contingentia thực thể ngẫu nhiên, ens increatum - hữu thể không được tạo ra, tức là Thiên Chúa ens creatum - hữu thể được tạo ra, tức là vạn vật. Chân lý vĩnh cửu ‘chủ yếu’ liên quan đến tư duy-tự thân [tr.42] của thực thể chưa được tạo ra. Theo truyền thống của chủ nghĩa Platonism, chúng là những chân lý hình thức của tư duy nói chung và của toán học. ‘Chân lý ngẫu nhiên’ liên quan đến các thực thể được tạo ra, tồn tại trong thời gian, hiện tại, quá khứ hoặc trong tương lai. Các chân lý vĩnh cửu có nguồn gốc vĩnh cửu trong lý tính tuyệt đối của Thượng đế, và do đó Leibniz cũng gọi chúng là veritates rationis - verites de raison - các chân lý của lý trí; chân lý ngẫu nhiên, liên quan đến sự kiện, gọi là veritates facti -verites de fait - chân lý của sự kiện: Trong Monadologie - Học thuyết Đơn tử (§33; G. VI, 612; B. II, 443) ông diễn đạt như sau: Có hai loại: chân lý lý trí và chân lý sự kiện. Chân lý Lý trí là tất yếu, và ngược lại là không thể. Chân lý Sự kiện là ngẫu nhiên, và điều ngược lại là có thể. [L. 646]        

Chân lý ngẫu nhiên là chân lý về những điều không tất yếu, cũng là những gì không thể tồn tại. Mục tiêu cơ bản của lý thuyết phán đoán của Leibniz là hiểu ngay cả veritates facti những chân lý sự kiện này như các đồng nhất tính, như những chân lý nguyên thủy, vĩnh cửu [tr.43], và do đó cũng gán cho chúng tính chắc chắn và chân lý tuyệt đối lý tưởng. Vì vậy, trong lý thuyết của ông có xu hướng đồng hóa càng nhiều càng tốt các chân lý sự kiện với chân lý lý trí - mặc dù điều này không được tuyên bố hoàn toàn minh bạch chính xác, vì chân lý sự kiện được coi là vẫn giữ nguyên phẩm chất riêng của chúng, nhưng dù sao thì cũng vẫn mang đặc điểm của các đồng nhất tính. Veritates facti chân lý sự kiện phải mang đặc điểm của các phán đoán mà toàn bộ vị ngữ của chúng có thể được phát triển hoặc giải thích từ chính khái niệm về chủ thể. Nói chính xác hơn, chân lý sự kiện không phải là chân lý tất yếu, mà chúng là chân lý identicae đồng nhất [chân lý về đồng nhất tính].

Dù thoạt nhìn, xu hướng đồng nhất veritates facti chân lý sự kiện với veritates rationis chân lý lý trí có vẻ kỳ lạ (đến mức ngay cả chân lý lịch sử cũng là một chân lý tiên nghiệm?), nhưng nó lại không hoàn toàn lạ lẫm nếu chúng ta không quên hai điều sau: 1) Xu hướng tổng thể của Leibniz, theo một nghĩa nào đó, là xu hướng ‘hợp lý hóa’. Ông cố gắng hình dung sự tồn tại từ quan điểm của ratio lý trí và hình dung esse facti tồn tại thật từ quan điểm của lý trí; 2) hơn nữa, đằng sau xu hướng này là truyền thống Kinh viện, chính trong vấn đề đó, truyền thống này đã có tác động ảnh hưởng trọng yếu. Lý tưởng về nhận thức được nhìn thấy trong scientia Dei Tri thức Thượng đế. Chúng ta sẽ bắt đầu với những mối liên hệ sau. Đối với chủ nghĩa Kinh viện, trí tuệ tuyệt đối của Thượng đế đóng vai trò là veritas prima chân lý đầu tiên và là nguồn gốc của mọi chân lý (xem thêm Quaestiones disputatae de veritate – Những câu hỏi luận về Chân lý của Aquinas, q. I). Chân lý nguồn cội, toàn bộ tri thức chân thực, là tuyệt đối và được tìm thấy trong tri thức của Thượng đế. Aquinas đã đề cập chi tiết đến vấn đề này trong Summa Theologica Thần học Tổng luận (I, q. XIV; cũng xem thêm Quaest. disp. de ver., q.). II).

Những vấn đề cơ bản của triết học hiện đại vẫn hoàn toàn khó hiểu đối với người không quen thuộc và không hiểu rõ những mối liên hệ này. Học thuyết Kinh viện về Thượng đế không chỉ là chìa khóa cho logic của Leibniz. Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant cũng như Logic của Heger trở nên dễ hiểu hơn trong những luận điểm đích thực của chúng từ quan điểm của học thuyết Kinh viện về Thượng đế. Điều này không có nghĩa là triết học hiện đại đã mô phỏng và vay mượn các luận điểm từ thần học. Ý nghĩa triết học của định hướng về scientia Dei Tri Thức Thượng đế là tri thức về Thượng đế hoạt động như một cấu trúc của nhận thức tuyệt đối, trên cơ sở đó cần phải đo lường nhận thức hữu hạn của con người. Tuy nhiên ở đây chưa thể thảo luận các mức độ và nguyên do mà một cấu trúc như vậy thuộc về bản chất của triết học, cũng chưa thể thảo luận các mức độ mà tri thức triết học là một cấu trúc theo đúng nghĩa.

Lưu ý: Chúng ta phải đề cập đến các mối liên hệ siêu hình học với chủ nghĩa Kinh viện, nhưng chắc chắn không phải để hạ thấp [tr.44] tính độc đáo của Leibniz. Câu hỏi, ông ấy có được điều đó từ đâu? Xuất phát từ tư duy của một gã bán hàng. Hoặc, cũng nông cạn không kém, khi hỏi rằng, phức cảm tâm lý nào đã khiến ý tưởng đó nảy sinh trong đầu ông ta? Ưu quyền của năng xuất nằm ở chỗ nó phụ thuộc một cách độc đáo và cốt lõi, mà kẻ bắt chước không bao giờ có thể làm được bởi vì kẻ bắt chước không muốn phụ thuộc, trong khi bản thân gã lại bận tâm đến tính độc đáo. Do đó, định hướng về triết học kinh viện có liên quan đến một điều hoàn toàn khác. Và chúng ta hoàn toàn không rơi vào bế tắc nếu thấy mình ngạc nhiên một cách thích đáng trước khóa học logic này, khóa học đề cập đến khái niệm về Thượng đế trong triết học của Thomas Aquinas.

Tuy nhiên, ở đây tôi phải bỏ qua phần giới thiệu chi tiết về những vấn đề này, vì thực sự [về phương diện khách quan] là điều cần thiết. Chỉ những yếu tố cần thiết nhất mới có thể được đề cập. Tri thức thuộc về Thượng đế, Đấng biết một cách tuyệt đối, bao gồm cả những gì khả thể cũng như những gì hiện thực. Cần có sự phân biệt đối với cả hai khái niệm này. ‘Khả thể’ đồng thời có nghĩa là những possibilia khả năng thuần túy, những khả năng cốt yếu trong các hiện hữu, những ý niệm về sự vật, bất kể ý niệm đó có được hiện thực hóa hay không. Để trở thành hiện thực, một điều gì đó phải khả thể về bản chất, nhưng không phải mọi thứ khả thể về bản chất đều nhất thiết phải trở thành hiện thực. Thượng đế có tri thức về những khả năng thuần túy này (cái lý tưởng siêu việt về omnitudo realitatis toàn thể thực tại trong triết học Kant). Hay nói đúng hơn, bản chất của Thượng đế chỉ đơn giản là suy nghĩ về toàn bộ những gì khả thể. Thứ scientia simplicis intelligentiae tri thức hiểu biết đơn giản này, là scientia necessaria naturalis thứ tri thức tự nhiên cần thiết, vì nó thuộc về ‘bản chất’ của Thượng đế hệt như νόησις νοήσεως nóesis noésios tư duy về bản thân tư duy vậy. Trong tri thức về tư duy của Ngài, Thượng đế biết những gì được suy ngẫm trong tư duy tuyệt đối này, tức là omnitudo realitatis toàn thể thực tại, những khả tính thuần túy. Nhưng ‘khả thể’ còn có nghĩa là những gì trên thực tế chưa tồn tại nhưng sẽ tồn tại, hoặc những gì đã được nói ra từ cõi vĩnh hằng của Thượng đế trước mọi thời gian. Những gì sẽ tự hiện thực hóa từ cái khả thể là tất cả những gì sẽ trở thành một factum sự kiện vào một thời điểm xác định trong tương lai, tất cả những gì không chỉ khả thể nói chung mà còn được xác định. Vì Thượng đế với tư cách tinh thần tuyệt đối không biết trước một sự kiện, theo đúng nghĩa, sau khi xảy ra. Nếu không, về bản chất Ngài sẽ biến đổi và phụ thuộc vào một cái gì đó mà chính Ngài không phải là mình, do đó hữu hạn. Hơn nữa, Thượng đế có khả năng tiên tri về mọi thứ hiện thực, một visio thị kiến, một scientia libera tri thức tự do, vì bất cứ điều gì trở thành hiện thực cuối cùng vẫn là do ý muốn của Ngài quyết định.

Để làm rõ cả hai loại tri thức thần thánh, scientia necessaria tri thức cần thiết và scientia libera tri thức tự do, tôi sẽ tóm tắt ngắn gọn [tr.45] điều khoản liên quan của Quaestio XIV Câu hỏi XIV trong De scientia Dei – Tri thức Thượng đế, ở phần đầu của Summa Theologica Thần học Tổng luận. Trong Điều 9, Utrum Deus habeat scientiam non entium, [Cụm từ ‘Utrum Deus habeat scientiam non entium’ thuộc về ngôn ngữ Latin Kinh viện, thường được dùng làm tiêu đề cho các câu hỏi triết học - thần học trong các tác phẩm nổi tiếng như Summa Theologiae Thần học Tổng luận của Thánh Thomas Aquinas; nghĩa là: Liệu Thiên Chúa có tri thức về những gì không tồn tại hay không? Trong triết học và thần học của Thánh Thomas Aquinas cuốn Summa Theologiae, Phần I, Câu hỏi 14, Điều 9, chủ đề này giải thích về quyền năng toàn tri của Thiên Chúa; vấn đề được đặt ra là liệu Thượng đế có biết đến những thứ chưa từng tồn tại, không còn tồn tại, hoặc những khả thể chưa bao giờ xảy ra hay không. - HHN]. Aquinas phân biệt non entia secundum quid những thứ không tồn tại ở một khía cạnh nào đó, và non entia simpliciter những thứ hoàn toàn không tồn tại. Loại thứ nhất là những thứ hiện không tồn tại in actu thực tế, nhưng có thể tồn tại ở chừng mực chúng đã tồn tại hoặc sẽ tồn tại, tức là, sự không tồn tại của thứ có thể này secundum sau đó được hình dung liên quan đến những gì đã tồn tại. Từ những thứ không tồn tại thuộc loại này, cần phân biệt với non entia simpliciter những thứ hoàn toàn không tồn tại, là những pūrē possibilia khả tính thuần túy. [Pūrē possibilia là một thuật ngữ trong triết học và thần học; trong các cuộc thảo luận về bản thể học và logic học từ thời Trung Cổ đến thời kỳ Cận Đại, thuật ngữ này dùng để chỉ những sự vật, hiện tượng hay ý niệm hoàn toàn có thể xảy ra hoặc tồn tại trong tư duy, nhưng hiện tại không có thật; chúng vốn dĩ trung tính và chỉ tồn tại như những khả tính; thuật ngữ này thường xuất hiện trong các cuộc tranh luận Thần học và Triết học tôn giáo; các nhà triết học như William Ames hay Thomas Twisse đã thảo luận về những điều mà Thượng đế biết đến như là những ‘khả tính thuần túy’ trước khi Ngài thực sự ban cho chúng sự sống hoặc hiện thực hóa chúng; về phương diện Bản thể luận, các học giả như William Ockham từng lập luận phản đối việc thừa nhận sự tồn tại độc lập của pūrē possibilia bên ngoài thế giới thực, vì điều đó có thể đi ngược lại giáo lý sáng tạo từ hư vô. - HHN]. Chúa biết những thứ này với tri thức simplicis intelligentiae trí tuệ đơn thuần, những thứ không tồn tại secundum quid theo một nghĩa nào đó trong scientia visionis tri thức thị kiến. Visio thị kiến là một sự nắm bắt theo cách thức của praesens intuitus trực giác hiện tại. Praesens hiện tại ở đây được hiểu từ quan điểm của aetemitas, quae sine successione existens totum tempus comprehendit cái tồn tại mà không có sự kế tiếp, bao gồm toàn bộ thời gian. Trái ngược với cum Buccessione, praesens có nghĩa là trực giác này không phải là một chuỗi các hành động trực giác, mà thay vào đó tự hiện thực hóa trong ‘Hiện tại’ – Nu của Eckhart. Hiện tại không phải là khoảnh khắc nhất thời của thời gian, nunc fluens lúc trôi chảy, mà là hiện tại vĩnh hằng, nunc stans lúc bất động.

____________________________________________

(Còn nữa) 

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.  

Notes 

7. Nouvellea Lettrea et Opuaculea inedita de Lelbniz, published by L.A. Foucher de Careil (Paris, 1857) [reprint Hildesheim 1971]; p. 179. The passage is also provided in Coutumt; La Logique de Leibniz, p. 208, note 1. 

8. Opuscules et Fragments inedlts de Letbniz., ed. L. Couturat (Paris, 1903) [reprint, Hildesheim, 1961], p. 388. 

9. G. W. Leibniz, Opera philosophica quae existant latina, gallica, germanica omnia, ed. J. E. Erdmann (Berlin, 1840) [reprint, Aalen, I:S9 and 1974], p. l00a. 

* Tôi đã sửa lại bản dịch của Loemker về câu đầu tiên trong các định nghĩa này. Loemker dịch như sau: ‘Chân lý đầu tiên là những chân lý khẳng định một điều gì đó về chính nó hoặc phủ nhận điều ngược lại của điều ngược lại của nó.’ Trong nửa đầu của định nghĩa, Loemker đã bỏ sót từ ‘idem’ của Leibniz và do đó hiểu sai ý nghĩa ở đây. Trong nửa sau, Loemker lại dịch Leibniz định nghĩa một mâu thuẫn thay vì một sự đồng nhất, hoặc ít nhất, theo tôi, nếu người ta hiểu một câu nói theo nghĩa hình thức là ‘phủ nhận điều ngược lại của điều ngược lại của nó’: Tuy nhiên, nếu chúng ta nhớ lại cách dùng từ nego trong tiếng Latin để diễn đạt dico non, [Trong tiếng Latin, dico non có nghĩa là ‘tôi nói không’ - tôi từ chối, và nego có nghĩa là ‘tôi phủ nhận’ hay ‘tôi cự tuyệt’; cả hai cụm từ này đều mang ý nghĩa phản đối hoặc chối bỏ một vấn đề nào đó; từ nego là gốc của từ ‘negotiate’ đàm phán trong tiếng Anh, từ này có nguồn gốc từ tiếng Latin là negotiari nghĩa là tiến hành kinh doanh, được ghép từ tiền tố nec- không, và danh từ otium - sự nhàn rỗi; do đó, nghĩa gốc của nó là ‘không nhàn rỗi’, tức là phải làm việc, bận rộn với công việc kinh doanh.- HHN] chúng ta có thể dịch nửa sau của định nghĩa là ‘phủ nhận điều ngược lại của chính nó.’ Và đây thực sự là cách phủ định mà các sự đồng nhất có thể được diễn đạt một cách hình thức, và nó cũng tương ứng với các ví dụ của Leibniz trong đoạn văn được đề cập. [tr.38]