Powered By Blogger

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

A. Phân tích về Vị thế Môi trường và Thế gian

17. Tham chiếu và Dấu hiệu

Tính chất đặc biệt của các dấu hiệu với tư cách một công cụ trở nên rõ ràng nhất trong việc ‘thiết lập một dấu hiệu’. Hoạt động này được thực hiện trong một tầm nhìn dự đoán thận trọng mà từ đó nó phát sinh, và tầm nhìn đó đòi hỏi môi trường cụ thể của một kẻ phải có khả năng tự bộc lộ để được quan sát thận trọng bất cứ lúc nào bằng một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, và khả tính này tự thân cũng phải sẵn-có-để-dùng. Nhưng cái Hữu thể của những gì sẵn-có-để-dùng gần nhất bên-trong-thế-giới lại sở hữu đặc tính tự-kìm-nén-bên-trong chứ không nổi lên, vốn đã được mô tả ở trên.1 Do đó, các giao dịch thận trọng của chúng ta trong môi trường đòi hỏi một số thiết bị sẵn-có-để-dùng mà về đặc tính của nó là thiết bị đảm nhận ‘công việc’ làm cho một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trở nên dễ thấy. Vì vậy, khi thiết bị như vậy (dấu hiệu) được tạo ra, thì tính dễ thấy của nó phải được ghi nhớ. Nhưng cả khi các dấu hiệu dễ thấy như vậy, cũng không để chúng hiện-diện-vô-tri một cách ngẫu nhiên; chúng được ‘thiết lập’ theo một cách nhất định nhằm mục đích dễ dàng tiếp cận.

Tuy nhiên, khi thiết lập một dấu hiệu, người ta không nhất thiết phải tạo ra thiết bị chưa sẵn-có-để-dùng. Các dấu hiệu cũng xuất hiện khi người ta lấy một thứ gì đó đã sẵn-có-để-dùng làm dấu hiệu. Theo cách này, các dấu hiệu ‘được thiết lập’ theo một nghĩa thậm chí còn nguyên thủy hơn. Khi chỉ ra, tổng thể tính thiết bị sẵn-có-để-dùng, và thậm chí cả môi trường nói chung, có thể được cung cấp một lượng sẵn có được định hướng một cách thận trọng; và không chỉ có vậy: trên hết, việc thiết lập một dấu hiệu có thể tiết lộ. Cái được lấy làm dấu hiệu chỉ trở nên dễ tiếp cận thông qua trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó. Ví dụ, nếu người nông dân ‘chấp nhận’ gió nam như một dấu hiệu của mưa, thì sự ‘chấp nhận’ này - hay cái ‘giá trị’ mà thực thể được ‘đặt tâm huyết’ vào - không phải là một loại phần thưởng vượt quá những gì trong tự thân đã hiện-diện-vô-tri – cụ thể là, luồng không khí theo một hướng địa lý nhất định. Gió nam có thể được tiếp cận về mặt khí tượng như một hiện tượng tự nhiên; nhưng nó không bao giờ hiện-diện-vô-tri [p.112] một cách trực tiếp như vậy, mà chỉ thỉnh thoảng mới đảm nhận chức năng của một tín hiệu cảnh báo. Ngược lại, chỉ bằng sự thận trọng mà người ta xem xét mọi việc trong nông nghiệp, thì gió nam mới được phát hiện trong chính Hữu thể của nó.

Nhưng, người ta sẽ phản đối, thứ vốn được coi là một dấu hiệu trước hết phải trở nên dễ tiếp cận trong tự thân và được thấu hiểu trước khi dấu hiệu đó được thiết lập. Chắc chắn trong mọi trường hợp, nó phải như vậy để bằng cách nào đó chúng ta có thể bắt gặp nó. Câu hỏi đặt ra đơn giản là các hiện hữu được phát hiện như thế nào trong lần chạm trán trước đó, liệu chúng chỉ đơn thuần là những Sự vật xuất hiện, hay đúng hơn là những thiết bị chưa được hiểu rõ – như là những thứ nào đó sẵn-có-để-dùng mà cho đến nay chúng ta chưa biết ‘bắt đầu từ đâu’, và do đó chúng vẫn ẩn mình khỏi phạm vi xem xét cẩn trọng. Và một lần nữa, khi đặc tính thiết bị của những thứ sẵn-có-để-dùng vẫn chưa được khám phá một cách cẩn trọng, thì chúng không được Diễn giải là Dinghaftigkeit Trạng thái Sự vật đơn thuần được trình bày để nắm bắt những gì chỉ hiện-diện-vô-tri không hơn không kém. [Chen ngang: Dinghaftigkeit đối với Martin Heidegger – Vị thế Sự vật, hay trạng thái sự vật - là phẩm chất thiết yếu làm cho sự vật là sự vật, chứ không chỉ đơn thuần là một đối tượng khoa học hay một công cụ/thiết bị hữu dụng. Heidegger cho rằng tư duy hiện đại đã mắc phải chứng bệnh Seinsvergessenheit - Quên lãng Hữu thể, coi các vật thể hoặc là dữ liệu cơ học cần đo lường hay chỉ đơn thuần là công cụ phục vụ con người. Để hiểu về Dinghaftigkeit tính sự vật, ông khám phá cách thức tồn tại cơ bản của sự vật và cách chúng ‘tập hợp’ thế giới xung quanh mình. Cách tiếp cận của Heidegger đối với Vị thế Sự vật, hay trạng thái sự vật phát triển trong suốt sự nghiệp của mình - Ông tiếp cận Sự vật thông qua các tương tác thực tiễn của chúng ta. Một công cụ chẳng hạn cái búa được định nghĩa bởi Zuhandenheit trạng-thái-sẵn-có-để-dùng của nó - chúng ta sử dụng nó một cách thực tiễn, chứ không phải như một vật thể riêng lẻ. Khi nó bị hỏng, nó mất đi tính hữu dụng và chỉ còn là một vật thể vật lý. Đối với ông, một tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như bức tranh vẽ đôi giày của người nông dân, không phục vụ chức năng hàng ngày, cũng không chỉ đơn thuần là một bức tranh trên vải. Thay vào đó, ‘vị thế sự vật’ của nó tạo ra sự căng thẳng giữa Thế gian - lĩnh vực chung của ý nghĩa con người - và Trái đất - nền tảng vật chất, tự che giấu của tự nhiên trở nên hiện thân. Heidegger đã loại bỏ các định nghĩa siêu hình truyền thống về Sự vật, đối với ông ‘vị thế Sự vật’ của một vật, chẳng hạn một chiếc bình đất sét - nằm ở khả năng tập hợp bốn chiều kích ‘Tứ diện’ của ông, gồm Đất, Trời, Thần thánh và loài Hữu tử/con người. Vật thể vẫn độc lập với sự thao túng của con người và thay vào đó tạo Thế gian cho ý nghĩa con người.-HHN]

Cái Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng của các dấu hiệu trong các giao dịch thường nhật của chúng ta, và tính nổi bật vốn có của các dấu hiệu, và cái có thể được tạo ra cho nhiều mục đích và bằng nhiều cách khác nhau, không chỉ đơn thuần dùng để ghi lại tính không nổi bật cấu thành nên những gì sẵn-có-để-dùng gần gũi nhất; bản thân dấu hiệu có được tính nổi bật từ tính không nổi bật của tổng thể tính thiết bị, vốn sẵn-có-để-dùng và ‘hiển nhiên’ trong tính thường nhật của nó. Ví dụ điển hình là nút thắt mà người ta buộc trên khăn tay với tư cách là dấu hiệu để đánh dấu một điều gì đó. Cái mà một dấu hiệu như vậy biểu thị luôn là một điều gì đó mà người ta phải quan tâm trong sự thận trọng thường nhật. Một dấu hiệu như vậy có thể biểu thị nhiều thứ, và nhiều loại sự vật khác nhau. Phạm vi biểu nghĩa càng rộng, thì khả năng hiểu và tính hữu dụng của nó càng hẹp. Về đa phần, nó không chỉ là thứ sẵn-có-để-dùng với tư cách là dấu hiệu chỉ cho riêng kẻ ‘thiết lập’ nó, mà thậm chí nó còn có thể trở nên không thể tiếp cận được đối với kẻ kia, đến nỗi cần phải có một dấu hiệu khác nếu có chút muốn sử dụng dấu hiệu đầu tiên một cách thận trọng. Vì vậy, khi nút thắt không thể được sử dụng như một dấu hiệu, thì nó vẫn không mất đi đặc tính dấu hiệu của mình, nhưng nó lại mang tính chất gây khó chịu và phô trương của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng gần gũi nhất.

Người ta có thể bị cám dỗ để viện dẫn vô số cách sử dụng các ‘dấu hiệu’ trong Dasein nguyên thủy, như trong tín ngưỡng vật linh và ma thuật, để minh họa vai trò to lớn của chúng trong mối quan tâm hàng ngày khi nói đến hiểu biết của chúng ta về thế giới. Chắc chắn việc thiết lập các dấu hiệu làm nền tảng cho cách sử dụng này không được thực hiện với bất kỳ mục đích lý thuyết hoặc trong quá trình suy đoán lý thuyết nào. Cách sử dụng này luôn luôn hoàn toàn nằm trong một Hữu-thể-trong-thế-giới vốn mang tính ‘tức thì’. Nhưng khi xem xét kỹ hơn [tr.113], thì rõ ràng là việc diễn giải tín ngưỡng vật linh và ma thuật bằng cách lấy manh mối từ ý tưởng về các dấu hiệu nói chung vẫn không đủ để giúp chúng ta nắm bắt được loại ‘Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng’ thuộc về các hiện hữu gặp được trong thế giới nguyên thủy. Liên quan đến hiện tượng dấu hiệu, có thể đưa ra Diễn giải sau: đối với người nguyên thủy, dấu hiệu trùng khớp với cái được chỉ ra. Dấu hiệu không chỉ có thể đại diện cho điều này theo nghĩa đóng vai trò thay thế cho cái mà nó chỉ ra, nhưng nó còn có thể làm như vậy theo cách mà tự thân dấu hiệu luôn là cái mà nó chỉ ra. Tuy nhiên, sự trùng hợp đáng chú ý này không có nghĩa là Sự vật-dấu hiệu đã trải qua một sự ‘Khách thể hóa’ nhất định – là điều mà nó đã được trải nghiệm như một Sự vật đơn thuần và bị đặt nhầm vào cùng một cõi Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri với tư cách là cái mà nó biểu thị. Sự ‘trùng hợp’ này không phải là cách đồng nhất hóa những vật thể cho đến nay vẫn bị tách biệt với nhau: nó nằm ở chỗ dấu hiệu vẫn chưa thoát khỏi cái mà nó là một dấu hiệu. Việc sử dụng dấu hiệu như vậy vẫn hoàn toàn bị hấp thụ hoàn toàn vào Hữu-thể-hướng-tới những gì được biểu thị, do đó một dấu hiệu đúng nghĩa không thể tách rời khỏi chính nó. Sự trùng hợp này không dựa trên quá trình Khách thể hóa trước đó mà dựa trên thực tế là quá trình Khách thể hóa như vậy vẫn còn hoàn toàn thiếu vắng. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là các dấu hiệu không được phát hiện như là thiết bị - và cuối cùng những gì ‘sẵn-có-để-dùng’ bên-trong-thế-giới thực sự không có loại Hữu thể nào thuộc về thiết bị. Có lẽ ngay cả trạng-thái-sẵn-có-để-dùng và thiết bị cũng không đóng góp được gì với tư cách là những manh mối bản thể học trong việc Diễn giải thế giới nguyên thủy; và chắc chắn thứ bản thể luận về Dinghaftigkeit Vị thế sự vật còn đóng góp ít hơn. Nhưng nếu hiểu biết về Hữu thể là cấu thành nên Dasein nguyên thủy và thế giới nguyên thủy, thì việc nghiên cứu ý tưởng ‘hình thức’ về Weltlichkeit Thế gian trở nên cấp bách - hoặc ít nhất là ý tưởng về một hiện tượng có thể thay đổi theo cách mà mọi khẳng định bản thể luận cho rằng trong một bối cảnh hiện tượng nhất định, một cái gì đó chưa phải là cái này cái kia hoặc không còn là cái này cái kia nữa, có thể có được một ý nghĩa hiện tượng tích cực về những gì không phải là bản thân nó.2

Diễn giải về dấu hiệu nêu trên chỉ nhằm cung cấp sự hỗ trợ hiện tượng cho đặc điểm của chúng ta về các tham chiếu hoặc các nhiệm vụ được ấn định. Mối quan hệ giữa dấu hiệu và tham chiếu có ba khía cạnh. 1). Việc chỉ dẫn, như một cách mà cái ‘hướng-tới-cái-mà’ của một khả năng phục vụ có thể trở nên cụ thể, được xây dựng dựa trên cấu trúc- thiết bị theo đúng nghĩa, dựa trên cái ‘để-làm/cho’ (nhiệm vụ được ấn định). 2). Việc chỉ dẫn mà dấu hiệu thực hiện là một đặc tính thiết bị của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, và theo đúng nghĩa, nó thuộc về tổng thể tính thiết bị, thuộc về bối cảnh của các nhiệm vụ hoặc tham chiếu. 3). Dấu hiệu không chỉ sẵn-có-để-dùng với thiết bị khác, mà trong trạng-thái-sẵn-có-để-dùng của nó, trong mỗi trường hợp, môi trường lại trở nên rõ ràng [tr.114] có thể tiếp cận để xem xét cẩn trọng. Một dấu hiệu là một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng về mặt ontic thực hữu, hoạt động vừa như một thiết bị nhất định này lại vừa như một thứ gì đó chỉ ra cái cấu trúc bản thể luận của trạng-thái-sẵn-có-để-dùng, của các tổng thể tính tham chiếu và của Weltlichkeit Thế gian. Ở đây khởi nguồn cái vị thế đặc biệt của dấu hiệu như một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trong môi trường mà chúng ta quan tâm một cách cẩn trọng. Do đó, bản thân tham chiếu hoặc nhiệm vụ không thể được coi là một dấu hiệu nếu về mặt bản thể luận nó được dung làm nền tảng thiết lập nên các dấu hiệu. Tham chiếu không phải là một đặc tính ontic thực hữu của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, mà đúng hơn nó là thứ mà nhờ đó trạng-thái-sẵn-có-để-dùng tự thân được cấu thành. Vậy thì, xét về mặt bản thể luận, tham chiếu được ‘giả định’ như thế nào trong cái sẵn-có-để-dùng, và ở mức độ nào, theo đúng nghĩa, một nền tảng bản thể luận như vậy, đồng thời lại cấu thành nên cái Weltlichkeit Thế gian nói chung?

18. Can dự và Ý nghĩa – Cái Thế gian

Cái sẵn-có-để-dùng luôn bắt gặp bên-trong-thế-giới. Hữu thể của hiện hữu này, do đó trạng-thái-sẵn-có-để-dùng, tồn tại trong một mối quan hệ bản thể luận nào đó với thế giới và với Weltlichkeit Thế gian. Trong bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng, thì thế giới luôn luôn ‘có đó’. Bất cứ khi nào chúng ta gặp bất cứ điều gì, thì thế giới đã được khám phá trước đó, mặc dù không phải theo chủ đề. Nhưng nó cũng có thể được soi sáng theo những cách nhất định khi tương tác với môi trường của chúng ta. Thế giới là cái mà trong đó cái sẵn-có-để-dùng luôn sẵn-có-để-dùng. Làm thế nào thế giới có thể cho phép cái sẵn-có-để-dùng được tìm thấy? Cho đến nay phân tích của chúng ta đã chỉ ra rằng những gì chúng ta bắt gặp bên-trong-thế-giới, trong chính Hữu thể của nó, thì đều đã được tự do3 cho sự quan tâm thận trọng của chúng ta, cho việc xem xét. Tình trạng giải phóng trước này có ý nghĩa gì, và làm thế nào để hiểu điều này như một đặc điểm bản thể luận riêng biệt của thế giới? Câu hỏi về cái Weltlichkeit Thế gian của thế giới đặt ra cho chúng ta những vấn đề gì? Chúng ta đã chỉ ra rằng cái trạng thái vốn cấu thành nên cái sẵn-có-để-dùng với tư cách thiết bị chính là trạng thái tham chiếu hoặc nhiệm vụ được ấn định. Làm thế nào mà các hiện hữu có loại Hữu thể này lại có thể được thế giới giải phóng liên quan đến Hữu thể của chúng?

Tại sao đây lại là những hiện hữu đầu tiên gặp được? Là những loại tham chiếu xác định, chúng ta đã đề cập đến khả tính phục vụ-cho-, tính bất lợi, khả tính sử dụng, và những thứ tương tự. Cái ‘hướng-tới-cái-mà’ của khả tính phục vụ và cái ‘vì-cái mà’ của khả tính sử dụng đã quy định các cách thức mà một tham chiếu hoặc nhiệm vụ được ấn định như vậy có thể trở nên cụ thể. Nhưng cái ‘chỉ ra’ của dấu hiệu và cú ‘đập’ của chiếc búa không phải là các thuộc tính của các hiện hữu. Thật vậy, chúng hoàn toàn không phải là các thuộc tính, nếu cấu trúc bản thể luận được chỉ định bởi thuật ngữ ‘thuộc tính’ là một số [tr.115] đặc điểm xác định nào đó mà Sự vật có thể sở hữu. Bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng, trong trường hợp xấu nhất, đều phù hợp với một số mục đích và không phù hợp với những mục đích khác; và ‘các thuộc tính’ của nó, nói cách khác, vẫn bị ràng buộc bởi những cách thức mà nó phù hợp hoặc không phù hợp,4 cũng giống như tình trạng hiện-diện-vô-tri, như một loại Hữu thể khả dĩ cho một thứ sẵn-có-để-dùng nào đó, bị ràng buộc bởi trạng-thái-sẵn-có-để-dùng. Tuy nhiên, khả tính sử dụng, như một trạng thái cấu thành của thiết bị (và khả tính sử dụng là một tham chiếu), không phải là trạng thái phù hợp của một hiện hữu nào đó; đúng hơn, nó là điều kiện (trong chừng mực Hữu thể được đề cập) vốn tạo khả thể cho đặc điểm của một hiện hữu như vậy được xác định bằng trạng thái phù hợp của nó. Nhưng vậy thì, ‘tham chiếu’ hay ‘nhiệm vụ’ được ấn định có nghĩa là gì? Việc nói rằng Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng có cấu trúc của nhiệm vụ được ấn định hoặc tham chiếu có nghĩa là trong tự thân nó có đặc điểm của nhiệm vụ đã được ấn định hoặc được tham chiếu. Một hiện hữu được phát hiện khi nó đã được ấn định hoặc được tham chiếu đến một cái gì đó, và được  tham chiếu như chính cái hiện hữu đó. Với bất kỳ hiện hữu nào như vậy, đều có hành động can dự vào một cái gì đó.5 Đặc tính của Hữu thể thuộc về cái sẵn-có-để-dùng chính là một hành động can dự như vậy. Nếu một cái gì đó có hành động can dự, thì điều này ngụ ý cho phép nó can dự vào một cái gì đó. Mối quan hệ của ‘với…trong…’ sẽ được chỉ ra bằng thuật ngữ ‘nhiệm vụ’ được ấn định hoặc ‘tham chiếu’.6

[Tr.116] Khi một hiện hữu bên-trong-thế-giới đã được giải phóng gần gũi đối với Hữu thể của nó, thì Hữu thể đó là hành động ‘can dự’ của nó. Với bất kỳ hiện hữu nào như vậy, đều có một hành động can dự nào đó. Việc nó can dự như vậy là mang tính bản thể luận xác định cho cái Hữu thể của hiện hữu như vậy, và không phải là một khẳng định ontic thực hữu về nó. Cái mà nó can dự là cái ‘hướng-đến-cái-mà’ của khả tính phục vụ, và cái ‘cho-cái-mà’ của khả tính sử dụng.7 Với cái ‘hướng-đến-cái-mà’ của khả tính phục vụ, lại có thể có hành động can dự: ví dụ, với sự vật này, vốn sẵn-có-để-dùng, và do đó chúng ta gọi là một ‘cái búa’, có hành động can dự bằng việc đóng búa; với việc đóng búa có hành động can dự vào việc tạo ra thứ gì đó nhanh chóng; với việc tạo ra thứ gì đó nhanh chóng cũng có hành động can dự vào việc bảo vệ khỏi thời tiết xấu; và việc bảo vệ này ‘là’ vì mục đích cung cấp nơi nương náu cho Dasein - nghĩa là, vì mục đích của một khả tính Hữu thể của Dasein. Bất cứ khi nào một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng có sự can dự với nó, dù hành động can dự đó là gì, thì trong mỗi trường hợp đều đã được xác định trước dựa trên tổng thể tính của các hành động can dự đó. Ví dụ, trong một công xưởng, tổng thể tính các can dự cấu thành nên cái sẵn-có-để-dùng trong trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó, là ‘sớm hơn’ bất kỳ hạng mục thiết bị đơn lẻ nào; cũng vậy đối với trang trại với tất cả các dụng cụ và vùng đất ngoại vi của nó. Nhưng bản thân tổng thể tính các can dự cuối cùng lại quay trở lại việc ‘hướng-tới-cái-mà’ vốn trong đó không có bất cứ can dự nào khác: việc ‘hướng-tới-cái-mà’ này không phải là một hiện hữu có loại Hữu thể thuộc về cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-một-thế-giới; đúng hơn nó là một hiện hữu mà Hữu thể của nó được định nghĩa là Hữu-thể-trong-thế-giới, và tự thân cái Weltlichkeit Thế gian thuộc về trạng thái Hữu thể của nó. Thứ ‘hướng-tới-cái-mà’ chủ đạo này không chỉ đơn thuần là một cái ‘hướng-tới-cái-này’ khác như một điều gì đó mà sự can dự vào đó là có thể. Thứ ‘hướng-tới-cái-mà’ chủ đạo đó chính là một thứ ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’.8 Nhưng thứ ‘vì-lợi-ích-của’ lại luôn liên quan đến Hữu thể của [p.117] Dasein, mà đối với nó, trong Hữu thể của nó, chính Hữu thể đó về bản chất lại là một vấn đề. Như vậy, chúng ta đã chỉ ra mối liên hệ mà qua đó cái cấu trúc của một can dự dẫn đến chính Hữu thể của Dasein với tư cách là ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ đích thực duy nhất; tuy nhiên, hiện tại, chúng ta sẽ không đi sâu hơn vào vấn đề này. Trước hết, ‘việc cho phép một điều gì đó được can dự’ phải đủ rõ ràng để đem đến cho hiện tượng Thế gian loại tính xác định khiến có thể hoạch định bất cứ điều gì về nó.

Về mặt ontic thực hữu, ‘cho phép một cái gì đó can dự’ có nghĩa là trong mối quan tâm thực tế của chúng ta, chúng ta cho phép một cái gì đó sẵn-có-để-dùng được như vậy và để nó được như vậy.9 Cái cách mà chúng ta hiểu nghĩa thực hữu này của ‘cho phép tồn tại’ về nguyên tắc là mang tính bản thể luận. Và với điều đó, chúng ta Diễn giải ý nghĩa của việc giải phóng trước đó những gì đã sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới. Việc cho phép một cái gì đó ‘tồn tại’ trước đó không có nghĩa là chúng ta phải đưa nó vào Hữu thể của nó và tạo ra nó trước; mà đúng hơn là một cái gì đó đã là một ‘hiện hữu’ phải được khám phá trong trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó, và do đó chúng ta phải cho phép cái hiện hữu có Hữu thể này được gặp gỡ. Việc cho-phép-một-cái-gì-đó-can-dự ‘tiên nghiệm’ này là điều kiện cho khả tính gặp gỡ bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng, sao cho Dasein, trong các giao dịch thực hữu của nó với cái hiện hữu được gặp gỡ như vậy, có thể cho phép nó can dự theo nghĩa ontic thực hữu.10 Mặt khác, nếu việc cho phép một cái gì đó can dự được hiểu theo nghĩa bản thể luận, thì điều quan trọng là việc giải phóng mọi thứ sẵn-có-để-dùng với tư cách sẵn-có-để-dùng, bất kể xét về mặt thực hữu, nó có can dự bằng cách đó hay không, hoặc liệu nó có phải là một hiện hữu thuộc loại mà xét về mặt thực hữu nó không can dự bằng cách đó hay không. Những hiện hữu như vậy, gần gũi nhất và phần lớn, là những hiện hữu mà tự thân chúng ta quan tâm khi chúng ta không để chúng ‘tồn tại’ như chúng ta đã khám phá ra chúng tồn tại, mà lại tác động lên chúng, cải thiện chúng, hoặc đập vỡ chúng thành từng mảnh. Khi chúng ta nói về việc đã để cho một cái gì đó can dự, để nó được giải phóng cho cuộc can dự đó, thì chúng ta đang sử dụng thì hoàn thành tiên nghiệm đặc trưng cho loại Hữu thể thuộc về chính bản thân Dasein.11 Việc để cho một hiện hữu can dự, nếu chúng ta hiểu điều này về phương diện bản thể luận, bao gồm việc giải phóng nó trước đó cho trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó trong môi trường. Khi chúng ta để cho một cái gì đó can dự, thì nó phải can dự vào một cái gì đó; và xét về khía cạnh ‘trong-cái-mà’, ‘với-cái-mà’ của cuộc can dự này [tr.118] được giải phóng.12 Mối quan tâm của chúng ta bắt gặp nó như một thứ này sẵn-có-để-dùng.

Trong chừng mực mà bất kỳ hiện hữu nào tự thể hiện ra với mối quan tâm13 - tức là, trong chừng mực mà nó được phát hiện trong Hữu thể của nó – thì nó đã là một cái gì đó sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường; nó chỉ không phải là một ‘vật chất-thế giới’ ‘gần gũi’ mà chỉ đơn thuần hiện-diện-vô-tri. Với tư cách là Hữu thể của một cái gì đó sẵn-có-để-dùng, một cuộc can dự tự nó chỉ được khám phá trên cơ sở khám phá trước đó về một tổng thể tính các cuộc can dự. Vì vậy, trong bất kỳ cuộc can dự nào đã được khám phá (tức là, trong bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng mà chúng ta gặp phải), cái mà chúng ta gọi là ‘đặc tính thế gian’ của cái sẵn-có-để-dùng đó đã được khám phá từ trước. Trong tổng thể tính của các cuộc can dự đã được khám phá từ trước này, ẩn chứa một mối quan hệ bản thể luận với thế giới. Khi cho phép các hiện hữu can dự để chúng được giải phóng cho một tổng thể tính các cuộc can dự, người ta hẳn đã phải tiết lộ điều mà vì nó chúng đã được giải phóng. Nhưng điều mà vì nó một cái gì đó sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường đã được giải phóng như vậy (và thực sự theo cách mà nó trở nên có thể tiếp cận được như một hiện hữu bên-trong-thế-giới trước hết), bản thân nó không thể được hình dung như một hiện hữu với loại Hữu thể đã được khám phá này. Về bản chất, nó không thể được khám phá, nếu dành ‘trạng thái được khám phá’ như một khuôn khổ cho một khả tính của Hữu thể mà mọi hiện hữu không có đặc tính của Dasein có thể sở hữu.

Nhưng nói rằng những gì mà nhờ đó14 các hiện hữu bên-trong-thế-giới được giải phóng một cách gần gũi phải được tiết lộ trước đó thì có nghĩa là gì? Một hiểu biết về Hữu thể luôn thuộc về Hữu thể của Dasein. Bất kỳ hiểu biết nào cũng đều có Hữu thể của nó trong một hành động hiểu biết. Nếu Hữu-thể-trong-thế-giới là một loại Hữu thể về bản chất phù hợp với Dasein, thì việc hiểu rõ Hữu-thể-trong-thế-giới lại thuộc về nội dung thiết yếu của sự hiểu biết của nó về Hữu thể. Sự tiết lộ trước đó về những gì mà nhờ đó những gì chúng ta gặp phải bên-trong-thế-giới sau đó đều được giải phóng,15 thì không gì khác hơn là hiểu thế giới – cái thế giới mà Dasein với tư cách là một hiện hữu luôn tự thân xử sự. Bất cứ khi nào chúng ta cho phép có cuộc can dự vào một cái gì đó trong một cái gì đó trước đấy, thì hành động của chúng ta được dựa trên hiểu biết của chúng ta về những sự vật như cho phép một cái gì đó can dự, và những sự vật như ‘với-cái-mà’ và ‘trong-cái-mà’ của những can dự. Bất cứ điều gì thuộc loại này, và bất cứ điều gì khác [tr.119] cơ bản đối với nó, chẳng hạn như cái ‘hướng-tới-cái-này’ như là cái mà trong đó có can dự, hoặc chẳng hạn như cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ mà mọi ‘hướng-tới-cái -mà’ cuối cùng đều quay trở lại với nó16 - tất cả những điều này phải được tiết lộ trước với một trạng thái dễ hiểu nhất định. Và cái mà trong đó Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới tự hiểu mình về phương diện tiền-bản thể luận là gì? Trong việc hiểu biết bối cảnh của các mối quan hệ như chúng ta đã đề cập, Dasein đã tự gán cho mình một cái ‘để-làm’, và nó đã làm như vậy theo khuôn khổ của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vì lợi ích của cái là chính bản thân nó - một tiềm năng mà nó có thể đã nắm bắt một cách rõ ràng hoặc ngầm định, và tiềm năng đó có thể là xác thực hoặc không xác thực. Cái ‘để-làm’ này quy định một loại ‘hướng-tới-điều-này’ như một loại ‘trong-cái-mà’ khả thể để cho một cái gì đó được can dự; và cái cấu trúc của việc cho phép nó được can dự ngụ ý rằng đây là một cuộc can dự mà một cái gì đó có - một cuộc can dự cùng với một cái gì đó. Dasein luôn tự ấn định cho mình nhiệm vụ từ một cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ đến cái ‘với- cái-mà’ của một cuộc can dự; nghĩa là, trong chừng mực nó tồn tại, nó luôn cho phép các hiện hữu được gặp gỡ với tư cách sẵn-có-để-dùng.17 Cái mà trong đó Dasein tự thân hiểu trước trong phương thức tự ấn định cho mình nhiệm vụ là cái mà đối với nó nó đã cho phép các hiện hữu được gặp gỡ trước đó. Cái ‘mà trong đó’ của một hành động hiểu biết vốn ấn định nhiệm vụ hoặc quy chiếu chính nó, là cái mà người ta cho phép các hiện hữu được gặp gỡ trong loại Hữu thể thuộc về các cuộc can dự; và cái ‘trong đó’ này chính là cái hiện tượng của thế giới.18 Và cấu trúc của cái mà Dasein tự ấn định nhiệm vụ cho chính nó là cái tạo nên Weltlichkeit Thế gian của thế giới. 

Cái mà trong đó Dasein đã tự hiểu theo cách này luôn là thứ mà nó đã quen thuộc từ thuở ban đầu. Sự quen thuộc với thế giới này không nhất thiết đòi hỏi các mối quan hệ cấu thành nên thế giới phải minh bạch về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, khả tính đưa ra một Diễn giải bản thể luận-hiện sinh rõ ràng cho những mối quan hệ này được đặt nền tảng trên sự quen thuộc với thế giới; và sự quen thuộc này, đến lượt nó, là cấu thành nên Dasein, và góp phần tạo nên sự hiểu biết của Dasein về Hữu thể. Khả tính này là một thứ có thể được nắm bắt một cách rõ ràng khi Dasein đã tự đặt ra cho mình nhiệm vụ đưa ra một Diễn giải nguyên thủy cho Hữu thể của chính nó và cho những khả tính của Hữu thể đó, hoặc thực sự cho ý nghĩa của Hữu thể nói chung. [Tr.120] Nhưng cho đến nay, các phân tích của chúng ta mới chỉ làm sáng tỏ được cái chân trời mà trong đó những thứ như thế giới và thế gian tính cần được tìm kiếm. Nếu muốn xem xét những điều này sâu hơn, trước hết, cần làm rõ hơn nữa cách hiểu về bản thể luận của việc Dasein tự ấn định nhiệm vụ cho chính mình.

Trong hành động hiểu biết, mà chúng ta sẽ phân tích kỹ lưỡng hơn sau này (So sánh Phần 31), các mối quan hệ được chỉ ra ở trên hẳn đã được tiết lộ trước đó; hành động hiểu biết kìm giữ chúng trong trạng thái tiết lộ này. Nó tự kìm nén chính mình trong chúng với trạng thái quen thuộc; và khi làm như vậy, nó nắm giữ chúng trước chính mình, bởi vì chính trong những mối quan hệ này mà việc ấn định nhiệm vụ của nó vận hành.19 Sự hiểu biết cho phép chính nó thực hiện các ấn định nhiệm vụ cả trong chính những mối quan hệ này và về chúng.20 Tính chất quan hệ mà những mối quan hệ ấn định nhiệm vụ này sở hữu, chúng ta coi là tính chất biểu thị.21 Trong tính thân thuộc với những mối quan hệ này, Dasein ‘biểu thị’ chính nó: theo một cách nguyên thủy, nó tự cho mình cả Hữu thể và cái tiềm năng-cho-Hữu-thể của nó như một điều gì đó mà nó cần hiểu liên quan đến Hữu-thể-trong-thế-giới của nó. Cụm từ ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ biểu thị một kiểu ‘để-làm-’; điều này, đến lượt nó, lại là một loại ‘hướng-tới-cái-này’; mà cái này ấy lại là một ‘trong-cái-mà’ của việc cho phép một cái gì đó can dự; và điều đó, đến lượt nó, là cái ‘với-cái-mà’ của một cuộc can dự. Những mối quan hệ này gắn bó với nhau như một tổng thể tính nguyên thủy; chúng là cái là chính bản thân chúng với tư cách là biểu thị này trong đó Dasein tự cho mình cái Hữu-thể-trong-thế-giới như một cái gì đó cần phải được hiểu. Cái tổng thể tính quan hệ của sự biểu thị này chúng ta gọi là ‘ý nghĩa’. Đây là cái tạo nên cấu trúc của thế giới – cái cấu trúc mà trong đó Dasein theo đúng nghĩa đã tồn tại. Dasein, trong sự quen thuộc với ý nghĩa, là điều kiện thực hữu cho khả tính khám phá các hiện hữu được gặp trong một thế giới có can dự (trạng thái sẵn-có-để-dùng) như là loại Hữu thể của chúng, và do đó cái có thể tự làm cho mình được biết đến như trong chính bản thân chúng. Dasein theo đúng nghĩa luôn là một cái gì đó thuộc loại này; cùng với Hữu thể của nó, một bối cảnh của cái sẵn-có-để-dùng đã được khám phá: Dasein, trong chừng mực [tr.121] tồn tại, vẫn luôn tự quy phục22 trước một 'thế giới' mà nó gặp phải, và quy phục22 này về bản chất thuộc về Hữu thể của nó.

Nhưng trong chính tự thân ý nghĩa, điều mà Dasein luôn quen thuộc, vẫn ẩn chứa điều kiện bản thể luận làm cho Dasein, với tư cách là một cái gì đó hiểu và diễn giải, có thể tiết lộ những thứ như ‘ý nghĩa’; đến lượt nó, trên cơ sở của những điều này hình thành nên cái Hữu thể của ngôn từ và của ngôn ngữ. Ý nghĩa được tiết lộ như vậy là một trạng thái hiện sinh của Dasein - của cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó; và như vậy, nó là điều kiện thực hữu cho cái khả tính mà một tống thể tính của các can dự có thể được khám phá. Nếu như vậy, chúng ta đã xác định rằng cái Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng (sự can dự) có thể được định nghĩa như một bối cảnh của các nhiệm vụ được ấn định hoặc các tham chiếu, và ngay cả Weltlichkeit Thế gian cũng có thể được định nghĩa như vậy, thì chẳng phải cái ‘Hữu thể bản chất’ của các hiện hữu bên-trong-thế-giới đã bị biến thành một hệ thống các Quan hệ hay sao?. Và bởi vì các mối Quan hệ luôn là ‘cái gì đó được suy nghĩ’, thì chẳng phải Hữu thể của các hiện hữu bên-trong-thế-giới đã được hòa tan thành ‘tư duy thuần túy’ hay sao? Trong lĩnh vực nghiên cứu hiện tại của chúng ta, như chúng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, về nguyên tắc phải giữ cho các cấu trúc và chiều kích sau đây của vấn đề bản thể luận được phân biệt rõ ràng: 1). Hữu thể của những hiện hữu bên-trong-thế-giới mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi - trạng thái sẵn-có-để-dùng; 2). Hữu thể của những hiện hữu mà chúng ta có thể bắt gặp và có thể xác định bản chất của chúng nếu chúng ta khám phá ra chúng một cách độc lập bằng cách xem xét các hiện hữu đã gặp gỡ một cách gần gũi - hiện-diện-vô-tri; 3) Hữu thể của điều ontic thực hữu cho phép các hiện hữu bên-trong-thế-giới được phát hiện – Weltlichkeit cái Thế gian của thế giới. Loại Hữu thể thứ ba này đem lại một cách thức hiện sinh để xác định bản chất của Hữu-thể-trong-thế-giới, tức là của Dasein. Hai khái niệm Hữu thể khác là các phạm trù, và liên quan đến các hiện hữu mà Hữu thể của chúng không thuộc loại Dasein sở hữu.

Bối cảnh của các nhiệm vụ được ấn định hoặc tham chiếu, xét về ý nghĩa, ‘mang tính cấu thành nên Thế gian’, có thể được hiểu một cách hình thức theo nghĩa của một hệ thống các Quan hệ. Nhưng người ta phải lưu ý rằng trong những hình thức hóa như vậy, các hiện tượng bị cào bằng đến mức nội dung hiện tượng thực sự của chúng có thể bị mất đi, đặc biệt là trong trường hợp các mối quan hệ ‘đơn giản’ như những mối quan hệ ẩn chứa trong ý nghĩa. Nội dung hiện tượng của các ‘Quan hệ’ và ‘Relata’ hiện hữu có quan hệ này [tr.122] - cái ‘để-làm’, cái ‘vì-mục-đích-của’ và cái ‘với-cái-mà’ của một can dự - chính là cái mà chúng chống lại bất kỳ hình thức chức năng hóa toán học nào; chúng cũng không chỉ đơn thuần là điều gì đó được nghĩ đến, lần đầu tiên được đặt ra trong một ‘hành động tư duy’. Đúng ra chúng là những mối quan hệ trong đó sự thận trọng quan tâm theo đúng nghĩa đã cư ngụ. ‘Hệ thống các Quan hệ’ này, như một cái gì đó cấu thành nên Thế gian, không hề làm tan biến cái Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới, mà chính cái Thế gian của thế giới cung cấp cơ sở mà dựa vào đó lần đầu tiên các hiện hữu như vậy có thể được khám phá với tư cách ‘thực chất’ ‘trong tự thân chúng’. Và chỉ khi các hiện hữu bên-trong-thế-giới có thể được bắt gặp, thì trong lĩnh vực của các hiện hữu đó, mới có thể tạo ra khả tính tiếp cận cho những gì chỉ hiện-diện-vô-tri không hơn. Do bởi Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-và-không-hơn của chúng, mà các hiện hữu này có thể có các ‘thuộc tính’ được định nghĩa về phương diện toán học trong các ‘khái niệm chức năng’. Về phương diện bản thể luận, những khái niệm như vậy chỉ khả thể trong mối quan hệ với các hiện hữu mà Hữu thể của chúng mang đặc tính thuần túy thực thể tính. Khái niệm chức năng không bao giờ khả thể, trừ khi được hình thức hóa như những khái niệm mang tính thực thể. Để làm nổi bật hơn nữa vấn đề bản thể luận đặc thù của Thế gian, chúng ta sẽ không tiếp tục phân tích cho đến khi làm rõ được cách Diễn giải của chúng ta về Thế gian bằng một trường hợp ở cực đối lập.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 Xem H. 75-76 ở trên. [tr.111]

2 ‘…aus dem, was es nicht ist.’ Các ấn bản cũ hơn viết ‘was’ thay cho ‘was’. [tr.113]

3 ‘freigegeben’. Ý tưởng dường như là những gì chúng ta gặp phải, như thể, đã được giải phóng, được trả tự do, được trao quyền tự do, hoặc được tự do hành động, để sự thận trọng của chúng ta có thể tính đến nó. [tr.114]

4 Các từ ‘property’ và ‘appropriateness’ phản ánh mối liên hệ từ nguyên của [từ ‘Eigenschaft’ của Eidegger và “Geeignetheit’. [tr.115]

5 ‘Es hat mit ihm bei etwas sein Bewenden.’ Các thuật ngữ 'Bewenden' và 'Bewandtnis' nằm trong số những thuật ngữ khó dịch nhất. Nghĩa gốc của chúng liên quan đến cách một sự việc đã 'diễn ra' khi người ta để nó 'tự đi theo con đường của nó', 'hoàn thành lộ trình của nó', theo 'khuynh hướng' hoặc 'xu hướng', hoặc kết thúc 'những gì nó đang làm', 'những gì nó đang hướng tới' hoặc 'những gì nó tham gia'. Tuy nhiên, các biểu thức tiếng Đức này không có từ tương đương đơn giản trong tiếng Anh, mà chỉ giới hạn trong một nhóm thành ngữ khá đặc biệt, chẳng hạn như những ví dụ sau đây, được chúng tôi trích từ cuốn từ điển Anh-Đức, Đức-Anh đáng ngưỡng mộ của Wildhagen và Heraucourt (Tập II, Wiesbaden 1953): 'es dabei bewenden lassen' - 'để yên đó, buông bỏ nó, để nó dừng lại ở đó'; 'und dabei hatte es sein Bewenden' - 'và [vấn đề đã kết thúc]'; 'dabei muss es sein Bewenden' 'haben' - 'there the matter must est' - 'that must suffice'; 'die Sache hat eine ganz andere Bewandtnis' - 'the case is tuite different'; 'damit hat es seine besondere Bewaridtnis' - 'there is something peculiar about it; thereby hangs a tale'; 'damit hat est folgende Bewandtnis' - 'the matters as follows'. Chúng tôi đã cố gắng dịch cả 'Bewenden' và 'Bewandtnis' bằng các cụm từ bao gồm 'involve' hoặc 'involvement'. Nhưng ngữ cảnh mà những từ này có thể dễ dàng được sử dụng trong tiếng Anh thông thường lại không tương ứng lắm với ngữ cảnh có thể có đối với 'Bewenden' và 'Bewandtnis'. Nhiệm vụ của chúng tôi càng trở nên phức tạp hơn bởi sự nhấn mạnh mà Heidegger dành cho các giới từ 'mit' và 'bei' liên quan đến 'Bewenden' và 'Bewandtnis'. Trong những đoạn văn như đoạn hiện tại, sẽ tự nhiên hơn nếu giữ nguyên chúng. Các giới từ không được dịch và chỉ đơn giản viết: 'Bất kỳ thực thể nào như vậy đều tham gia vào việc làm điều gì đó', hoặc 'Bất kỳ thực thể nào như vậy đều tham gia vào một số hoạt động'. Nhưng 'mit' và 'bei' nhận được rất nhiều sự chú ý trong mối liên hệ này đến nỗi trong những ngữ cảnh như thế này, đôi khi chúng ta sẽ dịch chúng là 'với' và 'trong', mặc dù ở những nơi khác, chúng ta sẽ xử lý 'bei' rất khác. (Người đọc phải ghi nhớ rằng loại 'sự tham gia' mà chúng ta quan tâm ở đây luôn là sự tham gia vào một số hoạt động mà người ta đang thực hiện, chứ không phải sự tham gia vào những hoàn cảnh mà người ta bị 'mắc kẹt' hoặc 'vướng vào'.) [tr.115]

6 'In Bewandtnis liegt: bewenden lassen mit etwas bei etwas. Der Bezug des "mit …bei…" soil durch den Terminus Verweisung angezeigt werden.' Ở đây, vấn đề dường như là nếu một cái gì đó có 'sự tham gia' theo nghĩa 'Bewandtnis' (hay đúng hơn, nếu có một sự liên quan như vậy 'với' nó), thì vật có sự liên quan này đã được 'chỉ định' hoặc 'được giới thiệu' cho một hoạt động hoặc mục đích nhất định 'trong' mà nó có thể được cho là có liên quan. [tr.115]

7 'Bewandtnis ist das Sein des Innerweltlichen Seienden, darauf es je schon zunachst freigegeben ist. Tôi cũng vậy Seiendem hat es je eine Bewandtnis. Dieses, class es eine Bewandtnis hat, ist die ontologische Bestimmung des Seins diees Seienden, nicht eine ontische Aussage tiber das Seiende. Das Wobei es die Bewandtnis hat, ist das Wozu der Điềnlichkeit, das Wofiir der Verwendbarkeit.' Đoạn văn này và những đoạn tiếp theo rất khó dịch vì Heidegger đang sử dụng ba giới từ được phân biệt cẩn thận ('zu', 'fur' và 'auf') trong khi cách diễn đạt tiếng Anh chỉ cần 'for'. Chúng ta có thể nói rằng một cái gì đó có thể sử dụng được, có thể dùng được hoặc có thể áp dụng 'cho' một mục đích nào đó, và rằng nó có thể được giải phóng hoặc được tự do 'cho' một loại hoạt động nào đó. Tuy nhiên, trong tiếng Đức, người ta sẽ nói là có 'Dienlichkeit zu…', 'Verwendbarkeitfur…'; và nó sẽ là 'freigegeben arif…'. Trong phần còn lại của phần này, chúng ta sẽ sử dụng 'for' cho cả 'fiir' và 'auf' khi chúng xuất hiện trong các biểu thức này; tuy nhiên, chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng 'towards-which' cho 'Wozu' của 'Dienlichkeit'. Xem chú thích 1, trang 109, H. 78 ở trên. [tr.116]

8 ‘Dieses primare Wozu ist kein Dazu als mogliches Wobei einer Bewandtnis. Das primare "Wozu" ist ein Worum-willen.' [tr.116]

9 'Bewendenlassen bedeutet ontisch; Innerhalb eines faktischen Besorgens ein Zuhandenes so und so sein lassen, wie es Numehr ist und damit es so ist.' [tr.117]

10 ‘…es im ontischen Sinne dabei bewenden lassen kann.' Mặc dù chúng tôi đã dịch 'dabei' đơn giản là 'do đó' trong ngữ cảnh này, nhưng có thể nó nên được hiểu là một ví dụ về cách sử dụng đặc biệt của cá cược với bewenden lassen. Một sự mơ hồ tương tự xảy ra trong câu sau đây. [tr.117]

11 'Das auf Bewandtnis hin freigebende Je-schon-haben-bewenden-lassen ist ein apriorisches Perfekt, das die Seinsart des Daseins selbst charakterisiert. [117]

12 'Aus dem Wobei des Bewendenlassens her ist das Womit der Bewandtnis freigegeben.' [tr.118]

13 Ở đây chúng ta theo dõi các ấn bản mới hơn trong phần đọc: 'Sofern sich ihm iiberhaupt ein Seiendes zeigt…'. Các ấn bản cũ hơn ghi 'Sofern sich mit ihm…', hơi mơ hồ nhưng gợi ý rằng chúng ta nên viết: 'Trong chừng mực mà với những gì có sẵn thì bất kỳ toàn bộ nội dung nào cũng hiển thị chính nó...'. [tr.118]

14 'Worauf'. Các phiên bản cũ hơn có 'woraufhin'. [tr.118]

15 'Das vorgangige Erschliessen dessen, woraufhin die Freigabe des Innerweltlichen Begegnenden erfolgt…'. [tr.118]

16 ‘…wie das Dazu, als wobei es die Bewandtnis hat, dasWorum-willen, darauf letztlich alles Wozu zuriickgeht.' Các phiên bản cũ hơn có ‘…als wobei es je die Bewandtnis hat…’ và bỏ dấu gạch nối trong 'Worum-willen'. [tr.119]

17 'Dieses zeichnet ein Dazu vor, als mogliches Wobei eines Bewendenlassens, das strukturmiissig mit etwas bewenden !asst. Dasein verweist sich je schon immer aus einem Worum-willen her an das Womit einer Bewandtnis, d. h. es liisst je immer schon, sofern es ist, Seiendes als Zuhandenes begegnen.' [tr.119]

18 'Das Worin des sichverweisenden Verstehens als Woraufhin des Begegnenlassens von Seiendem in der Seinsart der Bewandtnis ist das Phiinomen der Welt.' [tr.119]

19 'Das…Verstehen…ngừng chết angezeigten Bezlige in einer vorgangigen Erschlossenheit. Tôi hoàn toàn có thể tạm dừng Sich-darin-halten es sich diese vor als das, worin sich sein Verweisen bewegt.' Bối cảnh gợi ý rằng ‘diese’ của Heidegger đề cập đến các mối quan hệ (Bezlige) hơn là đến tính bộc lộ (Erschlossenheit), mặc dù cách giải thích sau này có vẻ hợp lý hơn một chút về mặt ngữ pháp. [tr.120]

20 'Das Verstehen llisst sich in und von diesen Bezligen selbst verweisen.' Không hoàn toàn rõ ràng liệu 'von' nên được dịch là 'của', 'từ' hay 'bởi'. [tr.120]

21 'he-deuten'. Trong khi Heidegger thường viết từ này không có dấu gạch ngang (ngay cả, ví dụ, trong câu tiếp theo), ở đây ông ấy đã cố gắng đặt dấu gạch ngang để gợi ý rằng về mặt từ nguyên, nó bao gồm tiền tố nhấn mạnh 'be-' theo sau là động từ 'deuten' - 'giải thích', 'giải thích' hoặc 'chỉ ra' điều gì đó. Chúng ta sẽ tiếp tục tuân theo quy ước của mình là thường dịch 'bedeuten' và 'Bedeutung' lần lượt là 'biểu thị' và 'ý nghĩa', dành 'ý nghĩa' cho 'Bedeutsamkeit' (hoặc, trong một vài trường hợp, cho 'Bedeutung'). Nhưng những bản dịch này che khuất ý nghĩa cơ bản mà Heidegger đang nhấn mạnh trong đoạn văn này. [tr.120]

22 'angewiesen'; 'Angewiesenheit'. Động từ 'anweisen', giống như 'verweisen', thường có thể được dịch là 'giao', đặc biệt là theo nghĩa giao hoặc phân bổ một vị trí cho cái gì đó, hoặc theo nghĩa giao 'nhiệm vụ' cho ai đó bằng cách hướng dẫn họ cách tiến hành. Do đó, phân từ quá khứ 'angewiesen' có thể có nghĩa là 'được giao' theo một trong hai nghĩa này; nhưng nó thường mang hàm ý 'phụ thuộc vào' cái gì đó hoặc thậm chí 'bị lệ thuộc' vào cái gì đó. Trong đoạn văn này, chúng tôi đã cố gắng dung hòa bằng cách sử dụng động từ 'phụ thuộc'. Các đoạn văn khác yêu cầu các cách diễn đạt khác, và dường như không có bản dịch tiêu chuẩn nào khả thi. [tr.121]

23 Phần này của Being and Time chưa bao giờ được xuất bản. [tr.123]

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

A. Phân tích về Tính Môi trường và Tính Thế giới nói chung

17. Tham chiếu và Dấu hiệu

[Tr.99] Hành vi ‘thực tiễn’ không phải là ‘phi lý thuyết’ theo nghĩa ‘mù quáng’.1 Sự khác biệt giữa hành vi thực tiễn và hành vi lý thuyết không chỉ nằm ở chỗ trong hành vi lý thuyết người ta quan sát, trong khi ở hành vi thực tiễn người ta hành động, và hành động phải sử dụng nhận thức lý thuyết nếu không muốn bị mù quáng; bởi vì việc quan sát là một loại mối quan tâm cũng quan trọng như việc hành động có tầm nhìn riêng của nó. Hành vi lý thuyết chỉ là nhìn xem, không có sự thận trọng. Nhưng việc nhìn xem mà không thận trọng này không có nghĩa là nó không tuân theo bất kỳ quy tắc nào: nó tự tạo dựng một chuẩn mực dưới dạng phương pháp. Zuhandenheit tình trạng sẵn có để dùng không hề được nắm bắt về mặt lý thuyết, và bản thân nó cũng không phải là loại sự vật mà sự thận trọng coi là chủ đề thận trọng gần gũi nhất. Điểm đặc biệt của ready-to-hand tình trạng sẵn có để dùng ngay lập tức là, trong trạng thái sẵn sàng sử dụng đó, nó phải, như thể, rút ​​lui để sẵn sàng sử dụng một cách hoàn toàn xác thực. Những thứ mà chúng ta giao dịch hàng ngày một cách gần gũi nhất không phải là bản thân các công cụ. Ngược lại, điều mà chúng ta quan tâm chủ yếu là công việc - thứ cần được tạo ra vào thời điểm đó; và do đó, nó cũng sẵn có để dùng. Công việc mang trong mình tính toàn thể tham chiếu mà trong đó chạm trán với thiết bị.Công việc cần được tạo ra, như là việc ‘hướng đến-cái mà’ của những thứ như búa, bào và kim, cũng có loại Hữu thể thuộc về thiết bị. Chiếc giày cần được sản xuất là để mang vào chân; chiếc đồng hồ được chế tạo để chỉ giờ. Công việc mà chúng ta chủ yếu gặp phải trong các giao dịch mà mình quan tâm - công việc được tìm thấy khi người ta ‘đang làm’ một điều gì đó - có tính hữu dụng về cơ bản thuộc về nó; trong tính hữu dụng này, nó cho phép chúng ta gặp ngay cái ‘hướng đến-cái mà’ mà nó có thể được sử dụng. Một công việc mà ai đó đã đặt hàng chỉ tồn tại nhờ vào việc sử dụng nó và bối cảnh gán ghép của các hiện hữu được phát hiện khi sử dụng nó.

Nhưng công việc phải được làm không chỉ đơn thuần là có thể sử dụng cho một điều gì đó. Bản thân quá trình sản xuất [tr.100] là việc sử dụng một cái gì đó cho một cái gì đó. Trong công việc cũng có một sự tham chiếu hoặc gán ghép cho ‘vật liệu’: công việc phụ thuộc vào da, kim, chỉ, và những thứ tương tự. Hơn nữa, chất liệu da được sản xuất từ ​​động vật. Chúng có nguồn gốc từ các đàn vật nuôi. Động vật cũng tồn tại trong thế giới mà không cần được nuôi dưỡng; và theo một cách nào đó, những thực thể này vẫn tự sản xuất ra chính chúng ngay cả khi chúng đã được nuôi dưỡng. Vì vậy, trong môi trường, một số thực thể trở nên dễ tiếp cận, luôn ready-to-hand sẵn có để dùng, nhưng bản thân chúng không cần phải được sản xuất. Búa, kìm và kim, tự bản thân chúng liên quan đến thép, sắt, kim loại, khoáng chất, gỗ, bởi vì chúng được cấu tạo từ những vật liệu này. Trong các dụng cụ được sử dụng, ‘Tự nhiên’ được khám phá cùng với chúng thông qua việc sử dụng đó – thứ ‘Tự nhiên’ mà chúng ta tìm thấy trong các sản phẩm tự nhiên. Tuy nhiên, ở đây, ‘Tự nhiên’ không được hiểu là thứ chỉ đơn thuần present-at-hand hiện-diện-vô-tri, cũng không phải là sức mạnh của Tự nhiên. Gỗ là rừng cây lấy gỗ, núi là mỏ đá; sông là sức nước, gió là gió ‘đẩy buồm’. Khi ‘môi trường’ được khám phá, thì cái ‘Tự nhiên’ được khám phá cũng được bắt gặp. Nếu bỏ qua loại Hữu thể với tư cách Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng, thì tự thân cái ‘Tự nhiên’ này cũng có thể được khám phá và định nghĩa một cách đơn giản trong present-at-hand hiện-diện-vô-tri thuần túy của nó. Nhưng khi điều này xảy ra, Thiên nhiên vốn ‘rung động và phấn đấu’, vốn tấn công và mê hoặc chúng ta như một cảnh quan, vẫn ẩn giấu. Thực vật của nhà thực vật học không phải là những bông hoa ven đường; cái ‘nguồn’ mà nhà địa lý xác định cho một con sông không phải là ‘đầu nguồn trong thung lũng’.

Sản phẩm được tạo ra không chỉ quy chiếu về cái ‘hướng-đến-cái-mà’ mang tính sử dụng và cái ‘của cái mà’ mà từ đó nó cấu thành nên: trong bối cảnh thủ công đơn giản, nó còn có một nhiệm vụ dành cho người sẽ sử dụng hoặc mặc/đeo/khoác/đội nó. Sản phẩm được cắt may theo vóc dáng của kẻ đó; kẻ đó ‘’có’ đó cùng với nó khi sản phẩm hình thành. Ngay cả khi hàng hóa được sản xuất hàng loạt, thì nhiệm vụ cấu thành này không hề vắng mặt; nó chỉ đơn giản là không xác định, và chỉ ra mức độ ngẫu nhiên, trung bình. Do đó, cùng với tác phẩm, chúng ta không chỉ gặp những hiện hữu Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng mà còn gặp những hiện hữu có loại Hữu thể của Dasein – mà đối với nó, trong mối quan tâm của chúng/họ, sản phẩm trở nên Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng; và cùng với những điều này, chúng ta khám phá thế giới mà kẻ mặc/đeo/khoác/đội và kẻ sử dụng đang sống, đồng thời cũng là thế giới của chúng ta. Bất kỳ công việc nào mà ta quan tâm đều ready-to-hand sẵn có để dùng không chỉ trong thế giới nội tại của công xưởng mà còn trong thế giới công cộng nữa. Cùng với thế giới công cộng, thiên nhiên xung quanh được khám phá và mọi người đều có thể tiếp cận. Trên những con đường, phố xá, cầu cống, các tòa nhà, mối quan tâm của chúng ta khám phá ra Thiên nhiên đều có những định hướng nhất định nào đó. Sân ga có mái che tính đến thời tiết xấu; hệ thống chiếu sáng công cộng tính đến đêm tối, hay đúng hơn là những thay đổi cụ thể về sự hiện diện hoặc vắng mặt của ánh sáng ban ngày - [tr.101] ‘vị trí của mặt trời’. Trong một chiếc đồng hồ, người ta tính đến một chòm sao nhất định nào đó trong hệ thống thế giới. Khi chúng ta nhìn vào đồng hồ, chúng ta ngầm sử dụng ‘vị trí của mặt trời’, theo đó việc đo thời gian được điều chỉnh theo cách thức thiên văn chính thức. Khi chúng ta sử dụng thiết bị đồng hồ, vốn ở gần và kín đáo, ready-to-hand sẵn có để dùng, thì Thiên nhiên xung quanh cũng ready-to-hand sẵn có để dùng cùng với nó. Niềm say mê quan tâm của chúng ta vào bất kỳ thế giới công việc nào gần gũi nhất với chúng ta cũng đều có chức năng khám phá; và điều thiết yếu đối với chức năng này là, tùy thuộc vào cách chúng ta đắm chìm vào đó, những hiện hữu bên trong thế giới được mang theo trong sản phẩm và cùng với nó (tức là, trong các nhiệm vụ hoặc tham chiếu cấu thành nên nó) vẫn có thể được khám phá ở các mức độ rõ ràng khác nhau và với sự thâm nhập thận trọng khác nhau.

Loại Hữu thể thuộc về những hiện hữu này là Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng. Nhưng đặc điểm này không nên được hiểu đơn thuần là một cách tiếp nhận chúng, như thể chúng ta đang nói về những ‘khía cạnh’ như vậy vào những ‘hiện hữu’ mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi, hoặc như thể một loại vật chất-thế giới nào đó tự thân hiện-diện-vô-tri3 được ‘tô vẽ chủ quan’ theo cách này. Một cách diễn giải như vậy sẽ bỏ qua thực tế là trong trường hợp này, những hiện hữu ấy phải được hiểu và khám phá trước đó như một thứ gì đó thuần túy hiện-diện-vô-tri, và phải có ưu quyền và dẫn đầu trong chuỗi các tương tác với ‘thế giới’ mà trong đó một thứ gì đó được khám phá và trở thành của riêng của ai đó. Nhưng điều này đã đi ngược lại ý nghĩa bản thể luận của nhận thức, mà chúng ta đã trình bày như một phương thức của Hữu-thể-trong-thế-giới đã được thiết lập.4 Để làm sáng tỏ những gì chỉ hiện-diện-vô-tri và không hơn, thì nhận thức trước hết phải thâm nhập vượt ra ngoài những gì ready-to-hand sẵn có để dùng trong mối quan tâm của chúng ta. Trạng thái sẵn có để dùng là cách mà các hiện hữu như chúng vốn có ‘tự thân’ được định nghĩa về mặt bản thể học-phạm trù. Tuy nhiên, chỉ vì có cái gì đó hiện-diện-vô-tri, 'mới có' bất cứ thứ gì ready-to-hand sẵn có để dùng. Tuy nhiên, nếu tạm thời chấp nhận luận điểm này, thì liệu có thể suy ra rằng trạng thái sẵn có để dùng có được đặt nền tảng về mặt bản thể luận trên sự hiện-diện-vô-tri không?

Nhưng ngay cả khi, khi Diễn giải bản thể luận của chúng ta tiến xa hơn, thì Zuhandenheit readness-to-hand trạng thái sẵn có để dùng nên tự chứng tỏ là loại Hữu thể đặc trưng của những hiện hữu được phát hiện gần gũi trong-thế-giới, và ngay cả khi tính nguyên thủy của nó so với sự hiện-diện-vô-tri thuần túy có thể được chứng minh, thì liệu tất cả những giải thích này có giúp ích gì dù chỉ một chút trong việc hiểu hiện tượng thế giới về phương diện bản thể luận hay không? Tuy nhiên, khi Diễn giải những thực thể này trong-thế-giới, chúng ta luôn luôn [tr.102] ‘giả định’ thế giới. Ngay cả khi kết hợp chúng lại với nhau, vẫn không có được bất cứ thứ gì giống như cái ‘thế giới’ với tư cách là tổng của chúng. Nếu vậy, chúng ta bắt đầu với Hữu thể của những hiện hữu này, liệu có con đường nào dẫn đến việc thể hiện hiện tượng của thế giới hay không?5  

16. Thế gian tính của Môi trường ở các Hiện hữu bên-trong-Thế giới5

Bản thân thế giới không phải là một hiện hữu bên-trong-thế-giới; thế nhưng nó lại có tính quyết định đối với những hiện hữu như vậy đến nỗi chỉ khi nào ‘có đó’ một thế giới thì chúng mới có thể được gặp gỡ và tự biểu hiện, trong Hữu thể của chúng, như những hiện hữu đã được khám phá. Nhưng liệu bằng cách nào để ‘có đó’ một thế giới? Nếu Dasein được cấu thành về mặt ontic thực hữu bởi Hữu-thể-trong-Thế-giới, và nếu sự hiểu biết về Hữu thể của cái Tự ngã của nó thuộc về Hữu thể của nó một cách thiết yếu, bất kể sự hiểu biết đó mơ hồ đến mức nào, thì chẳng phải Dasein có một sự hiểu biết về thế giới - một sự hiểu biết tiền-bản thể luận, vốn thực sự có thể và hòa hợp mà không cần những thấu hiểu bản thể học rõ ràng? Với những thực thể được gặp gỡ bên-trong-thế giới - nghĩa là, với đặc tính của chúng như là bên-trong-thế-giới - chẳng phải một cái gì đó giống như thế giới tự biểu hiện cho Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính quan tâm hay sao? Chẳng phải chúng ta có một cái nhìn thoáng qua mang tính tiền-hiện tượng luận về hiện tượng này hay sao? Chẳng phải chúng ta luôn có cái nhìn thoáng qua về điều đó, mà không cần phải coi nó như một chủ đề để Diễn giải bản thể luận hay sao? Bản thân Dasein, trong phạm vi sự tập trung quan tâm vào những trang thiết bị sẵn có để dùng, thì liệu có một khả tính của Hữu thể nào mà trong đó Tính thế gian của những hiện hữu bên-trong-thế-giới mà nó quan tâm, theo một cách nào đó, lại được soi sáng cho nó, cùng với chính những hiện hữu đó? Nếu những khả tính như vậy của Hữu thể đối với Dasein thể hiện bên trong những giao dịch quan tâm của nó, thì sẽ mở ra cho việc nghiên cứu hiện tượng được soi sáng đó, và cứ như thể để cố gắng ‘kiềm chế nó’, và để thẩm vấn nó về những cấu trúc tự thể hiện trong đó.

Có một số phương thức quan tâm nhất định lại thuộc về tính thường nhật của Hữu-thể-trong-thế-giới. Những phương thức này cho phép các hiện hữu mà chúng ta quan tâm được chạm trán theo cách mà tính chất thế gian của những gì bên-trong-thế-giới được làm nổi bật. Khi chúng ta quan tâm đến một điều gì đó, thì các hiện hữu gần gũi nhất và sẵn có để dùng có thể lại trở nên vô dụng, không phù hợp với mục đích sử dụng mà chúng ta đã quyết định. Công cụ hóa ra bị hỏng, hoặc vật liệu không phù hợp. Trong mỗi trường hợp này, thiết bị đều ở đây, sẵn có để dùng. Tuy nhiên, chúng ta phát hiện ra tính vô dụng của nó không phải bằng cách nhìn vào nó và xác định các đặc tính của nó, mà là bằng sự thận trọng trong các giao dịch mà chúng ta sử dụng nó. Khi tính vô dụng của nó được phát hiện như vậy, thiết bị trở nên dễ nhận thấy. Tình trạng dễ nhận thấy này [tr.103] cho thấy thiết bị sẵn có để dùng lại đang ở trong một trạng thái không sẵn có để dùng nhất định nào đó. Nhưng điều này ngụ ý rằng những gì không thể sử dụng chỉ nằm đó; nó tự thể hiện mình như một Vật dụng trang thiết bị trông như thế này thế kia, và trong trạng thái trông như thế sẵn có để dùng đó của nó, nó cũng hằng xuyên hiện-diện-vô-tri. Tình trạng hiện-diện-vô-tri thuần túy tự tuyên bố trong những thiết bị như vậy, nhưng chỉ để rồi rút lui về trạng thái sẵn có để dùng của thứ gì đó mà ta quan tâm – nghĩa là, loại vật thể mà ta tìm thấy khi đem đi sửa chữa. Tình trạng hiện-diện-vô-tri của thứ gì đó không thể sử dụng này vẫn không hoàn toàn thiếu đi trạng thái sẵn có để dùng nào đó; thứ thiết bị hiện-diện-vô-tri theo cách này vẫn không chỉ là một Sự vật xuất hiện ở đâu đó. Tình trạng hỏng hóc của thiết bị vẫn không chỉ là sự thay đổi đơn thuần của một Sự vật – không phải là sự thay đổi thuộc tính chỉ xảy ra ở cái gì đó hiện-diện-vô-tri.

Tuy nhiên, trong những giao dịch quan tâm của mình, chúng ta không chỉ gặp phải những thứ không thể sử dụng được trong số những thứ đã sẵn có để dùng: chúng ta còn nhận thấy những thứ bị thiếu – những thứ không chỉ không ‘tiện dụng’ mà còn hoàn toàn không ‘có sẵn’. Một lần nữa, việc thiếu sót thứ gì đó theo cách này đồng nghĩa với việc gặp phải thứ gì đó không sẵn có để dùng. Khi ta nhận thấy những gì không sẵn có để dùng, thì những gì sẵn có để dùng lại trở thành cách thức phô trương. Ta càng khẩn cấp cần những gì đang thiếu, và càng nhận ra tình trạng không sẵn có của nó một cách chân thực, thì những gì sẵn có để dùng lại càng trở nên phô trương hơn—đến mức nó dường như mất đi đặc tính sẵn có để dùng của mình. Nó tự bộc lộ như một thứ gì đó chỉ hiện-diện-vô-tri không hơn, không thể lay chuyển nếu thiếu thứ đang thiếu. Tư thế bất lực mà ta đứng trước nó là một phương thức quan tâm thiếu sót, và theo đúng nghĩa, nó phơi bày cái Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri và không hơn của một thứ sẵn có để dùng. Trong các giao dịch của chúng ta với thế giới6 mà chúng ta quan tâm, có thể bắt gặp trạng huống không sẵn có để dùng không chỉ theo nghĩa những thứ không thể sử dụng được hoặc đơn giản là thiếu, mà còn là những thứ không sẵn để dùng nhưng không hề thiếu và cũng không phải là không sử dụng được, mà lại ‘ngáng đường’ quan tâm của chúng ta. Những thứ mà mối quan tâm của chúng ta từ chối hướng đến, những thứ ‘chẳng rảnh’ để quan tâm, là những thứ không sẵn có để dùng theo cách của những thứ không thuộc về nơi này, của những thứ chưa được chú ý đến. Bất cứ thứ gì không sẵn có để dùng theo cách này đều gây khó chịu cho chúng ta, và cho phép chúng ta thấy được tính ngoan cố của thứ mà với nó chúng ta phải quan tâm trước tiên trước khi làm bất cứ điều gì khác. Với tính ngoan cố này, tình trạng hiện-diện-vô-tri của những thứ sẵn có để dùng lại tự bộc lộ theo một cách mới [tr.104] với tư cách là Hữu thể của những thứ vẫn còn ở trước mắt chúng ta và kêu gọi sự chú ý của chúng ta đến nó.7

Các phương thức lộ liễu, phô trương và ngoan cố đều có chức năng làm nổi bật đặc điểm hiện-diện-vô-tri của những gì sẵn có để dùng. Nhưng những thứ sẵn có để dùng không chỉ được quan sát và nhìn chằm chằm như một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri; tình trạng hiện-diện-vô-tri tự bộc lộ vẫn gắn liền với trạng thái sẵn có để dùng của thiết bị. Thiết bị đó vẫn không che giấu mình trong lớp ngụy trang của những Vật thể đơn thuần. Nó trở thành ‘thiết bị’ theo nghĩa của một cái gì đó mà người ta muốn gạt bỏ.8 Nhưng trong Xu hướng gạt bỏ mọi thứ như vậy, thì những thứ sẵn có để dùng vẫn thể hiện là sẵn có để dùng của mình trong sự hiện-diện-vô-tri kiên định của nó. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta đã gợi ý rằng những thứ sẵn có để dùng được bắt gặp dưới những biến đổi trong đó sự hiện-diện-vô-tri của nó được bộc lộ, vậy điều này làm sáng tỏ hiện tượng của thế giới đến mức nào? Ngay cả khi phân tích những thay đổi này, chúng ta vẫn chưa vượt ra khỏi Hữu thể của những gì nằm-trong-thế-giới, và chúng ta cũng không đến gần hiện tượng thế giới hơn trước. Nhưng mặc dù chưa nắm bắt được nó, nhưng chúng ta đã tự đưa mình đến một điểm mà chúng ta có thể nhìn thấy nó. Trong trạng thái lộ liễu, phô trương và ngoan cố, cái sẵn có để dùng lại mất đi tính sẵn có của nó theo một cách nào đó. Nhưng trong giao dịch của chúng ta với những gì sẵn có, chính tính sẵn có để dùng này lại được hiểu rõ, mặc dù không theo chủ đề. Nó không biến mất một cách đơn giản, mà như thể nói lời tạm biệt trong trạng thái lộ liễu của cái không thể sử dụng được. Tính sẵn có để dùng vẫn thể hiện ra, và chính ở đây, cái đặc tính thế gian của tính sẵn có để dùng cũng tự thể hiện mình.

[Tr.105] Cấu trúc Hữu thể của cái sẵn có để dùng với tư cách thiết bị được xác định bởi các tham chiếu hoặc các nhiệm vụ được giao. Bằng một phương thức kỳ lạ và hiển nhiên, các ‘Sự vật’ gần gũi nhất với chúng ta theo cách ‘tự thân’; và chúng được chạm trán với tư cách ‘tự thân’ trong mối quan tâm, vốn sử dụng chúng mà không nhận ra chúng một cách rõ ràng - mối quan tâm có thể gặp phải một thứ gì đó không thể sử dụng được. Khi thiết bị không thể được sử dụng, điều này ngụ ý rằng nhiệm vụ cấu thành của cái ‘để-làm’ đối với việc ‘hướng tới-cái này’ đã bị xáo trộn. Bản thân các nhiệm vụ không được quan sát; đúng hơn, chúng ‘có đó’ khi chúng ta quan tâm và tự mình tuân theo chúng. Nhưng khi một nhiệm vụ bị xáo trộn - khi một thứ gì đó không thể sử dụng được cho một mục đích nào đó - thì nhiệm vụ được ấn định lại trở nên rõ ràng. Thậm chí giờ đây, đương nhiên, nó vẫn chưa trở nên rõ ràng như một cấu trúc bản thể luận; nhưng nó đã trở nên rõ ràng về phương diện ontic thực hữu đối với sự thận trọng gặp phải khi công cụ bị hư hại. Khi một nhiệm vụ ấn định cho một mục đích ‘hướng-tới-cái-này’ cụ thể nào đó được khơi gợi thận trọng, thì tự thân cái ‘hướng-tới-cái-này’ đó, và cùng với nó là mọi thứ liên quan đến công việc - toàn bộ ‘công xưởng’ – với tư cách là nơi mà mối quan tâm luôn cư ngụ. Bối cảnh của thiết bị được làm sáng tỏ, không phải như một thứ gì đó chưa từng thấy trước, mà như một tổng thể tính luôn thấy từ trước một cách thận trọng. Tuy nhiên, với toàn thể tính này, thế giới lại tự loan báo bản thân mình.

Tương tự, khi một thứ gì đó sẵn có để dùng bị mất đi, mặc dù Zugegensein sự hiện diện thường nhật của nó rõ ràng đến nỗi chúng ta chưa bao giờ để ý đến nó, thì điều này lại tạo ra một sự phá vỡ trong những bối cảnh tham chiếu mà sự thận trọng khám phá ra. Sự thận trọng của chúng ta đối mặt với tính trống rỗng, và giờ đây lần đầu tiên nhìn thấy Phần viết còn thiếu chính là cái sẵn có để dùng, và nó là loại sẵn có để dùng cho cái gì. Môi trường tự bộc lộ một cách mới mẻ. Cái được làm sáng tỏ như vậy không chỉ là cái sẵn có để dùng trong số những thứ khác; nó càng không phải là thứ hiện-diện-vô-tri mà dựa trên đó các thiết bị sẵn có để dùng được tạo ra bằng cách nào đó: nó đã ở ‘có đó’ trước khi bất kỳ ai quan sát hoặc làm sang tỏ được nó. Bản thân nó không thể tiếp cận được bằng sự thận trọng, ở chừng mực mà sự thận trọng luôn hướng tới các hiện hữu; nhưng trong mỗi trường hợp, nó đã được tiết lộ để có thể thận trọng. ‘Bộc lộ’ và ‘trạng thái bị bộc lộ’ sẽ được sử dụng như các thuật ngữ chuyên môn trong các đoạn tiếp theo, và sẽ mang nghĩa ‘làm sáng tỏ’ và ‘đặc điểm của việc đã được làm sáng tỏ’. Do đó, ‘bộ lộ’ không bao giờ là ‘thu được một cách gián tiếp bằng suy luận’.9

[Tr.106] Việc thế giới không ‘bao gồm’ cái sẵn có để dùng được thể hiện ở thực tế (gồm cả những thực tế khác) là bất cứ khi nào thế giới được soi sáng theo các phương thức quan tâm mà chúng ta đã Diễn giải, thì những thứ sẵn có để dùng sẽ bị tước bỏ tính thế gian của nó, do đó Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri sẽ bắt đầu nổi lên. Nếu, trong mối quan tâm thường nhật của chúng ta với ‘môi trường’, có thể bắt gặp thứ thiết bị sẵn có để dùng trong ‘Hữu-thể-trong-tự-thân’ của nó, thì các nhiệm vụ và các tổng thể tính tham chiếu mà sự thận trọng của chúng ta ‘bị hấp thụ’ không thể nào trở thành chủ đề cho sự thận trọng đó, cũng như chúng không thể nắm bắt mọi thứ ‘theo chủ đề’ nhưng không mang tính thận trọng. Nếu những thứ sẵn có để dùng không xuất hiện lên từ trạng thái không dễ nhận thấy của nó, thì thế giới không được tự tuyên xưng về bản thân nó. Chính trong đó mà cái Hữu-thể-trong-tự-thân của các hiện hữu vốn sẵn có để dùng lại có cấu trúc hiện tượng được cấu thành.                   

Trong những biểu hiện phủ định như ‘trạng thái không dễ nhận thấy’, ‘tính không phô trương’ và ‘tính không ngoan cố’, thì cái mà chúng ta đang đề cập đến là đặc tính hiện tượng tích cực của Hữu thể của cái sẵn có để dùng gần gụi. Với những tiền tố phủ định này, chúng ta đang đề cập đến đặc tính của cái sẵn có để dùng như là ‘tự kìm nén’; đây là cái chúng ta đang nhắm đến trong ‘Hữu-thể-trong-tự-thân’ của một cái gì đó,10 mặc dù tính ‘gần gụi’ mà chúng ta gán nó cho cái hiện-diện-vô-tri vào cái hiện-diện-vô-tri với tư cách là cái có thể được xác định theo chủ đề. Chừng nào chúng ta còn lấy định hướng chủ yếu và độc quyền từ cái hiện-diện-vô-tri, thì cái ‘trong-tự-thân’ hoàn toàn không thể được làm rõ về mặt bản thể luận. Tuy nhiên, nếu việc nói về cái ‘trong-tự-thân’ này có bất kỳ tầm quan trọng nào về mặt bản thể luận, thì vẫn cần phải có một số Diễn giải. Cái ‘trong-tự-thân’ ấy của Hữu thể là một cái gì đó được viện dẫn với sự nhấn mạnh đáng kể, chủ yếu theo cách thực hữu, và đúng như vậy từ quan điểm hiện tượng. Nhưng nếu một số khẳng định bản thể học được đưa ra khi điều này được viện dẫn về phương diện thực hữu, thì các yêu cầu của nó lại không được đáp ứng bởi quy trình như vậy. Như phân tích trên đã làm rõ, chỉ trên cơ sở hiện tượng của thế giới, thì Hữu-thể-trong-tự-thân của các hiện hữu bên-trong-thế-giới mới có thể được nắm bắt về phương diện bản thể luận.

Nhưng nếu thế giới có thể, theo một cách nào đó, được soi sáng, thì chắc chắn nó phải được tiết lộ. Và nó đã được tiết lộ từ trước bất cứ khi nào cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới có thể tiếp cận được cho mối quan tâm một cách thận trọng. Do đó, thế giới là một cái gì đó ‘trong đó’ Dasein với tư cách là một hiện hữu đã tồn tại, và nếu bằng bất kỳ cách nào nó tách rời khỏi bất cứ điều gì một cách rõ ràng, thì nó không bao giờ có thể làm gì hơn ngoài việc quay trở lại thế giới. Cho đến nay, theo cách hiểu của chúng ta, Hữu-thể-trong-thế giới tương đương với sự hấp thụ thận trọng phi-chủ đề vào các tham chiếu hoặc nhiệm vụ cấu thành cho trạng thái sẵn-có-để-dùng của tổng thể tính của thiết bị. Bất kỳ mối quan tâm nào cũng đã tồn tại như vậy, bởi vì nó có sự thân thuộc nhất định với thế giới. Trong trạng thái thân thuộc này, Dasein có thể tự lạc lối trong những gì nó gặp phải bên-trong-thế-giới và bị thế giới mê hoặc. Dasein quen thuộc với điều gì? Tại sao tính chất thế gian của những gì tồn tại bên-trong-thế-giới lại có thể được làm sáng tỏ? Trạng thái hiện-diện-vô-tri11 của các hiện hữu được đẩy lên hàng đầu bởi những đứt đoạn khả thể trong tổng thể tính tham chiếu mà trong đó sự thận trọng ‘vận hành’; làm thế nào chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tổng thể tính này? Những câu hỏi này nhằm mục đích làm sáng tỏ cả hiện tượng và các vấn đề của thế gian tính, và chúng đòi hỏi một cuộc khảo sát về các mối liên hệ mà một số cấu trúc nhất định được xây dựng nên. Để trả lời, chúng ta phải phân tích các cấu trúc này một cách cụ thể hơn.

17. Tham chiếu và Dấu hiệu

Trong Diễn giải tạm thời của chúng ta về cấu trúc của Hữu thể thuộc về cái sẵn-có-để-dùng (thuộc về ‘thiết bị’), hiện tượng tham chiếu hay gán ghép đã trở nên rõ ràng; nhưng chúng ta chỉ đưa ra một dấu hiệu về nó, và ở dạng phác thảo đến mức chúng ta ngay lập tức nhấn mạnh sự cần thiết phải làm sáng tỏ nó liên quan đến nguồn gốc bản thể học của nó.12 Hơn nữa, rõ ràng là các gán ghép và các tổng thể tính tham chiếu, theo một nghĩa nào đó có thể trở thành yếu tố cấu thành cho tự thân thế gian. Cho đến nay, chúng ta chỉ thấy thế giới được soi sáng theo và vì những cách thức nhất định mà về phương diện môi trường chúng ta quan tâm đến trạng thái sẵn-có-để-dùng, và thực sự nó chỉ được soi sáng bằng trạng thái sẵn-có-để-dùng của mối quan tâm đó. Vì vậy, càng tiến xa hơn trong việc hiểu cái Hữu thể của các hiện hữu bên-trong-thế-giới, thì cơ sở hiện tượng mà trên đó hiện-tượng-thế-giới có thể được làm sáng tỏ càng trở nên rộng lớn và vững chắc hơn.

Chúng ta sẽ lại lấy Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng làm điểm xuất phát, nhưng lần này với mục đích nắm bắt hiện tượng tham chiếu hoặc tự ấn định nhiệm vụ một cách chính xác hơn. Theo đó, chúng ta sẽ cố gắng phân tích bản thể luận về một loại thiết bị mà trong đó người ta có thể bắt gặp những ‘tham chiếu’ như vậy theo nhiều nghĩa khác nhau. Chúng ta bắt gặp ‘thiết bị’ trong các dấu hiệu. Từ ‘dấu hiệu’ chỉ định nhiều loại sự vật: nó không chỉ có thể đại diện cho các loại dấu hiệu khác nhau, mà Hữu-thể-một-dấu-hiệu-cho có thể tự nó được [tr.108] hình thức hóa như một loại quan hệ phổ quát, do đó cấu-trúc-dấu-hiệu tự nó cung cấp một manh mối bản thể luận để ‘đặc trưng hóa’ bất kỳ hiện hữu nào. Nhưng trước hết, bản thân các dấu hiệu là các hạng mục thiết bị mà đặc điểm cụ thể của chúng với tư cách là thiết bị nằm ở việc hiển thị hoặc chỉ ra.13 Chúng ta tìm thấy những dấu hiệu như vậy trong các biển báo, cột mốc ranh giới, quả cầu cảnh báo bão cho thủy thủ, tín hiệu, biểu ngữ, dấu hiệu tang lễ, và những thứ tương tự. Việc chỉ ra có thể được định nghĩa là một ‘loại’ tham chiếu. Nếu ta hiểu theo nghĩa hình thức nhất có thể, thì tham chiếu là một quan hệ. Nhưng mối quan hệ không hoạt động như một loại hình chung cho các ‘loại’ hay ‘loài’ của các tham chiếu vốn có thể được phân biệt thành dấu hiệu, biểu tượng, biểu đạt hoặc ý nghĩa của chúng. Một mối quan hệ là một cái gì đó hoàn toàn hình thức, có thể được đọc trực tiếp thông qua ‘hình thức hóa’ từ bất kỳ loại ngữ cảnh nào, bất kể chủ đề hay cách thức Hữu thể của nó là gì.i

Mọi tham chiếu đều là một mối quan hệ, nhưng không phải mọi mối quan hệ đều là một tham chiếu. Mọi ‘chỉ dẫn’ đều là một tham chiếu, nhưng không phải mọi tham chiếu đều là chỉ dẫn. Điều này đồng thời ngụ ý rằng mọi ‘chỉ dẫn’ đều là một mối quan hệ, nhưng không phải mọi mối quan hệ đều là một chỉ dẫn. Do đó tính chất tổng quát về mặt hình thức của mối quan hệ được làm sáng tỏ. Nếu chúng ta nghiên cứu những hiện tượng như tham chiếu, dấu hiệu, hoặc thậm chí là ý nghĩa, thì việc mô tả chúng như các mối quan hệ sẽ không mang lại lợi ích gì. Thật vậy, cuối cùng chúng ta sẽ phải chứng minh rằng chính ‘các mối quan hệ’, do tính chất tổng quát về mặt hình thức của chúng, có nguồn gốc bản thể luận trong một tham chiếu. Nếu phân tích hiện tại chỉ giới hạn trong việc Diễn giải dấu hiệu như một hiện tượng khác biệt với hiện tượng tham chiếu, thì ngay cả trong giới hạn này, chúng ta cũng không thể nghiên cứu đầy đủ tính đa dạng của các dấu hiệu khả thể. Trong số các dấu hiệu có các triệu chứng, thì tín hiệu cảnh báo, dấu hiệu của những điều đã xảy ra, dấu hiệu để đánh dấu một cái gì đó, dấu hiệu mà nhờ đó sự vật được nhận biết; chúng có những cách biểu thị khác nhau, bất kể cái gì có thể đóng vai trò theo đúng nghĩa dấu hiệu. Từ những ‘dấu hiệu’ như vậy, chúng ta phải phân biệt dấu vết, tàn dư, tượng đài tưởng niệm, tài liệu, lời chứng, biểu tượng, biểu hiện, hình thức, ý nghĩa. Những hiện tượng này có thể dễ dàng được hình thức hóa vì tính chất quan hệ hình thức của chúng; ngày nay chúng ta thấy đặc biệt hấp dẫn khi coi ‘mối quan hệ’ như vậy như một manh mối để áp đặt một loại ‘diễn giải’ nào đó lên mọi thực thể, loại diễn giải này luôn ‘phù hợp’ bởi vì về bản chất nó không nói lên điều gì, không hơn gì một sơ đồ đơn giản về nội dung và hình thức.

Ví dụ về một dấu hiệu mà chúng ta đã chọn là một dấu hiệu mà chúng ta sẽ sử dụng lại trong một phân tích sau này, mặc dù ở một khía cạnh khác. Ô tô đôi khi được trang bị một mũi tên màu đỏ có thể điều chỉnh, vị trí của nó cho biết [tr.109] hướng xe sẽ đi - ví dụ như tại một giao lộ. Vị trí của mũi tên được điều khiển bởi người lái xe. Biển báo này là một thiết bị luôn sẵn sàng cho người lái xe trong quá trình lái xe, và không chỉ riêng người lái xe: những người không đi cùng anh ta - và đặc biệt là họ - cũng sử dụng nó, bằng cách nhường đường ở đúng làn đường hoặc bằng cách dừng lại. Biển báo này luôn sẵn sàng trong toàn bộ bối cảnh thiết bị của xe cộ và các quy định giao thông. Nó là thiết bị để chỉ dẫn, và với tư cách là thiết bị, nó được cấu thành bởi sự tham chiếu hoặc sự chỉ định. Nó có đặc tính của cái ‘để-’, khả tính phục vụ xác định của riêng nó; nó dùng để chỉ dẫn.14 Việc chỉ dẫn của dấu hiệu có thể được coi là một loại ‘tham chiếu’. Nhưng cần lưu ý rằng ‘tham chiếu’ này với tư cách là chỉ dẫn không phải là cấu trúc bản thể luận của biển báo với tư cách là thiết bị.

Thay vào đó, ‘tham chiếu’ như một sự chỉ dẫn có cơ sở dựa trên Cấu trúc-Hữu thể của thiết bị, trên khả tính sử dụng cho…. Nhưng một thực thể có thể có khả tính sử dụng mà không nhất thiết trở thành một dấu hiệu. Với tư cách là một thiết bị, một ‘cái búa’ cũng được cấu thành bởi khả tính sử dụng, nhưng điều này không làm cho nó trở thành một dấu hiệu. Sự chỉ dẫn, như một ‘tham chiếu’, là một cách mà cái ‘hướng tới – cái mà’ của một khả tính sử dụng trở nên cụ thể về phương điện thực hữu; nó xác định một hạng mục thiết bị như là cái ‘hướng tới – cái mà’. Mặt khác, loại tham chiếu mà chúng ta có được trong ‘khả năng sử dụng cho’, là một thuộc tính bản thể luận-phạm trù của thiết bị với tư cách một thiết bị. Việc cái ‘hướng tới – cái mà’ của khả năng sử dụng có được tính cụ thể của nó trong sự chỉ dẫn, là một sự ngẫu nhiên của cấu thành thiết bị của nó theo đúng nghĩa. Trong ví dụ về một dấu hiệu này, sự khác biệt giữa tham chiếu của khả năng sử dụng và tham chiếu của sự chỉ dẫn trở nên rõ ràng một cách thô ráp và tức thời. Những điều này khác xa nhau đến mức chỉ khi chúng được kết hợp lại thì tính cụ thể của một loại thiết bị nhất định mới trở nên khả thể. Giờ đây, chắc chắn là về nguyên tắc, việc chỉ ra khác với tham chiếu với tư cách là một trạng thái cấu thành của thiết bị; cũng không thể phủ nhận rằng dấu hiệu, đến lượt nó, có liên hệ một cách đặc biệt và thậm chí khác biệt với loại Hữu thể vốn thuộc về bất kỳ tổng thể tính thiết bị nào sẵn-có-để-dùng trong môi trường, và với đặc tính thế gian của nó. Trong các giao dịch quan tâm của chúng ta [tr.110], thiết bị để chỉ ra được sử dụng theo một cách rất đặc biệt. Nhưng chỉ đơn giản thiết lập Sự thật này là chưa đủ về mặt bản thể luận. Cơ sở và ý nghĩa của vị thế đặc biệt này phải được làm rõ.

Chúng ta muốn nói gì khi nói rằng một dấu hiệu ‘chỉ ra’? Chúng ta chỉ có thể trả lời điều này bằng cách xác định loại giao dịch nào là phù hợp với thiết bị để chỉ ra. Và chúng ta phải làm điều này theo cách mà trạng thái sẵn-có-để-dùng của thiết bị đó có thể được nắm bắt một cách thực sự. Cách thức phù hợp để sử dụng các dấu hiệu là gì? Quay trở lại ví dụ về mũi tên, chúng ta phải nói rằng kiểu hành vi (Hữu thể) tương ứng với dấu hiệu mà chúng ta gặp phải, hoặc là ‘nhường đường’ hoặc là ‘đứng yên’ so với chiếc xe có mũi tên. Việc nhường đường, như việc đi theo một hướng, về bản chất thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein. Dasein luôn luôn được định hướng và đang trên đường đi; đứng yên và chờ đợi chỉ là những trường hợp giới hạn của trạng thái ‘trên-đường-đi’ có hướng này. Dấu hiệu tự thân hướng đến một Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính ‘không gian’ cụ thể. Dấu hiệu không được ‘nắm bắt’ một cách đích thực nếu chúng ta chỉ nhìn chằm chằm vào nó và xác định nó như một vật chỉ báo đang xảy ra. Ngay cả khi chúng ta hướng ánh mắt về phía mũi tên chỉ thị và nhìn vào một cái gì đó hiện-diện-vô-tri trong vùng được chỉ định, thì ngay cả khi đó, dấu hiệu vẫn không được chạm trán một cách đích thực. Dấu hiệu như vậy tự thân hướng đến sự thận trọng trong các giao dịch quan tâm của chúng ta, và nó làm như vậy theo cách mà sự thận trọng đi kèm với nó, theo hướng nó chỉ, đưa vào một cuộc ‘khảo sát’ rõ ràng bất kỳ phạm vi nào mà môi trường có được vào thời điểm đó. Cuộc khảo sát thận trọng này không nắm bắt cái sẵn-có-để-dùng; cái mà nó đạt được là việc định hướng trong môi trường của chúng ta. Cũng có một cách khác để chúng ta trải nghiệm thiết bị: chúng ta có thể bắt gặp mũi tên đơn giản như một thiết bị thuộc về chiếc xe. Chúng ta có thể thực hiện điều đó mà không cần khám phá ra đặc điểm cụ thể của nó với tư cách một thiết bị: mũi tên chỉ ra điều gì và nó làm như thế nào, có thể vẫn hoàn toàn không xác định; tuy nhiên, những gì chúng ta đang gặp phải không chỉ là một Sự vật đơn thuần. Trải nghiệm một Sự vật đòi hỏi một trạng thái xác định riêng của nó, và phải được đối lập với việc chạm trán một loạt thiết bị, thường có thể khá mơ hồ, ngay cả khi người ta bắt gặp nó ở khoảng cách đặc biệt gần.

Những dấu hiệu thuộc loại chúng ta đã mô tả cho phép chạm trán cái sẵn-có-để-dùng; chính xác hơn, chúng cho phép một bối cảnh nào đó của nó trở nên dễ tiếp cận theo cách mà các giao dịch quan tâm của chúng ta có được định hướng và giữ vững nó. Một dấu hiệu không phải là một Vật thể đứng đối diện với một Vật thể khác trong mối quan hệ chỉ dẫn; đúng hơn, nó là một hạng mục thiết bị thực sự làm nổi bật tổng thể tính thiết bị vào sự thận trọng của chúng ta để cùng với nó, đặc tính thế gian của cái sẵn-có-để-dùng tự bộc lộ. Trong một triệu chứng hoặc một tín hiệu cảnh báo, ‘những gì sắp xảy ra’ ‘tự chỉ ra’, nhưng không phải theo nghĩa của một điều gì đó [tr111] chỉ đơn thuần xảy ra, vốn xuất hiện như một sự bổ sung cho những gì đã hiện-diện-vô-tri; ‘những gì sắp xảy ra’ là loại sự vật mà chúng ta đã sẵn sàng, hoặc cái mà chúng ta ‘chưa sẵn sàng’ nếu chúng ta đang chú ý đến điều gì đó khác.15 Trong các dấu hiệu của một điều gì đó đã xảy ra, những gì đã xảy ra và diễn ra theo đúng tiến trình của nó trở nên có thể tiếp cận một cách thận trọng. Một dấu hiệu dùng để đánh dấu một điều gì đó cho biết là ai đó đang ở đâu vào thời điểm bất kỳ nào đó. Dấu hiệu chủ yếu luôn chỉ ra nơi ai đó sinh sống, mối quan tâm của kẻ đó hướng đến điều gì, và kẻ đó có liên quan đến điều gì.16

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘…im Sinne der Sichtlosigkeit…’ Ý nghĩa của câu này sẽ rõ ràng với người đọc nào nhớ rằng động từ Hy Lạp 8£wp£<v, từ đó các từ 'theoretical' và 'atheoretical' được bắt nguồn, ban đầu có nghĩa là 'nhìn thấy'. Heidegger đang chỉ ra rằng đây không phải là điều chúng ta nghĩ đến trong sự tương phản truyền thống giữa 'lý thuyết' và 'thực tiễn'. [tr.99]

2 'Das Werk triigt die Verweisungsganzheit, innerhalb derer das Zeug begegnet.' Trong chương này, từ 'Werk' ('công việc') thường đề cập đến sản phẩm đạt được bằng công việc hơn là quá trình làm việc. Chúng ta thường sẽ dịch 'Verweisungsganzheit' là 'tổng thể tham chiếu', mặc dù đôi khi cụm từ vụng về hơn 'tổng thể các nhiệm vụ'

có thể truyền đạt ý tưởng hiệu quả hơn. (Bản cũ đọc là 'deren' thay vì 'derer'.) [tr.99]

3 ‘…ein ziinachst an sich vorhandener Weltstoff…’ Các ấn bản trước đó có’…unachst ein an sich vorhandener Weltstoff…’ [p.101]

4 giây H. 61 ở trên. [tr.101]

5 ‘Die am Innerweltlich Seierukn sich meldende Weltmiissigkeit d-.r Umwelt.’ [p.102]

6 Trong các phiên bản trước, 'Welt' xuất hiện với dấu ngoặc kép. Những điều này được bỏ qua trong các phiên bản sau. [trang 103]

7 Sự phân biệt của Heidegger giữa 'sự nổi bật' (Auffalligkeit), 'sự phô trương' (Aufdringlichkeit) và 'sự ngoan cố' (Aufsiissigkeit) rất khó trình bày một cách rõ ràng trong bản dịch. Ông dường như đang nghĩ đến ba tình huống khá giống nhau. Trong mỗi tình huống này, chúng ta đều đối mặt với một số vật dụng sẵn có. Trong tình huống đầu tiên, chúng ta muốn sử dụng một trong những vật dụng này cho một mục đích nào đó, nhưng chúng ta thấy rằng nó không thể được sử dụng cho mục đích đó. Khi đó, nó trở nên 'nổi bật' hoặc 'ấn tượng', và theo một cách nào đó là 'không sẵn có' - ở chỗ chúng ta không thể sử dụng nó. Trong tình huống thứ hai, chúng ta có thể có chính xác những vật dụng tương tự trước mặt, nhưng chúng ta muốn một vật dụng không có ở đó. Trong trường hợp này, vật dụng bị thiếu cũng là 'không sẵn có', nhưng theo một cách khác - ở chỗ nó không có ở đó để được sử dụng. Điều này thật khó chịu, và những vật dụng vẫn sẵn có trước mặt chúng ta lại tự hiện ra một cách khó coi, khiến chúng trở nên "phiền phức" hoặc thậm chí "đáng ghét". Trong trường hợp thứ ba, một số vật dụng sẵn có trước mặt chúng ta được coi là trở ngại cho việc đạt được một mục đích nào đó; chúng là những trở ngại "cứng đầu", "ngoan cố", "bất trị", và chúng ta phải chú ý đến chúng hoặc loại bỏ chúng bằng cách nào đó trước khi có thể hoàn thành những gì mình muốn làm. Ở đây, những vật thể cứng đầu lại không sẵn có, mà chỉ đơn giản là cản trở sự cứng đầu của chúng. Trong cả ba trường hợp, những vật dụng sẵn có trước mặt chúng ta có xu hướng mất đi sự sẵn có của chúng theo cách này hay cách khác và bộc lộ sự hiện diện của chúng; tuy nhiên, chỉ trong trường hợp thứ hai, chúng ta mới gặp chúng "chỉ hiện diện trước mặt và không hơn" ("nur nocb Vorhandenes"). [trang 104]

8 Ở đây, 'Zeug' được sử dụng theo nghĩa tiêu cực là 'đồ đạc'. Xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 97 về H. 68. [trang 104]

9 Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, động từ 'erschliessen' không chỉ có nghĩa là 'tiết lộ' mà còn - trong một số cấu trúc nhất định - là 'suy luận' hoặc 'kết luận' theo nghĩa mà người ta 'rút ra' một kết luận từ các tiền đề. Heidegger cố tình loại trừ cách giải thích sau này, mặc dù trong một vài trường hợp rất hiếm hoi ông có thể sử dụng từ này theo nghĩa đó. Ông giải thích ý nghĩa của mình bằng động từ cùng gốc 'aufschliessen', 'mở ra'. Nói rằng điều gì đó đã được 'tiết lộ' hoặc 'được phơi bày' trong senae của Heidegger, không có nghĩa là người ta có nhận thức chi tiết về nội dung được 'tiết lộ' như vậy, mà đúng hơn là chúng đã được 'phơi bày' cho chúng ta như là tiềm ẩn trong những gì đã cho, để chúng có thể được làm rõ ràng hơn đối với nhận thức của chúng ta bằng cách phân tích hoặc phân biệt thêm về những gì đã cho, chứ không phải bằng bất kỳ suy luận nào từ đó. [tr.105-106]

10 'Diese "Un" meinen den Charakter des Ansichhaltens des Zuhandenen, das, was wir mit dem An-sich-sein im Auge haben . . .' Điểm mấu chốt dường như là khi chúng ta nói về điều gì đó 'như nó vốn có' hoặc 'theo đúng nghĩa của nó', chúng ta nghĩ về nó như 'tự giữ mình' hoặc 'tự kìm hãm mình' - chứ không phải 'bước ra' hoặc làm điều gì đó 'trái với bản chất'. [tr.106]

11 Ở đây các ấn bản cũ hơn có 'Zuhandenheit' trong khi các ấn bản mới hơn có 'Vorhandenheit'. [tr.107]

12 Cf. H. 68 ở trên. [tr.107]

13 ‘…deren spezifischer Zeugcharakter im <;eigen besteht.' Mặc dù chúng ta thường sử dụng 'show' và 'indicate' để dịch 'zeigen' và 'anzeigen' tương ứng, nhưng trong phần còn lại của phần này, có vẻ thích hợp hơn nếu dịch 'zeigen' bằng 'indicate', hoặc dùng đến hendiadys như trong đoạn văn hiện tại. [tr.108]

14 'Es hat den Charakter des Um-zu, seine bestimmte Dienlichkeit, es ist zum Zeigen.' Động từ 'dienen' thường được theo sau bởi một cấu trúc nguyên thể được giới thiệu bởi giới từ 'zu'. Tương tự, động từ 'serve' trong tiếng Anh có thể được theo sau bởi một nguyên thể trong các biểu thức như 'it serves to indicate…'. Trong tiếng Đức của Heidegger, cấu trúc 'zu' được chuyển sang danh từ 'Dienlichkeit'; tuy nhiên, danh từ tương ứng 'serviceability' thường không được theo sau bởi một nguyên thể, mà là bởi một biểu thức được giới thiệu bởi 'for', ví dụ: 'serviceability for indicating…'. Vì giới từ 'zu' đóng vai trò quan trọng trong phần này và phần tiếp theo, nên việc cung cấp một bản dịch thống nhất cho nó là điều cần thiết. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ dịch nó là 'cho' trong các cách diễn đạt như 'Dienlichkeit zu', nhưng là 'hướng tới' trong các cách diễn đạt như 'Wozu' ('hướng tới cái nào') và 'Dazu' ('hướng tới cái này'), giữ lại 'theo thứ tự' cho 'Um-zu'. [tr.109]

15 ‘…das "was kommt" ist solches, daraufwir uns gefasst machen, bzw. "nicht gefasst waren", sofern wir uns mit anderem befassten.' [tr.111]

16 'Das Merkzeichen zeigt, người đàn ông "côn" đồ trang sức. Die Zeichen zeigen zeigen immer das, "worin" man lebt, wobei das Besorgen sich aufhaJ.t, welche Bewandtnis es damit hat.' Về 'Bewandtnis', xem ghi chú 2, tr. 1 15 H. 84 bên dưới. [tr.111]