Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT
53. Phóng chiếu hữu thể: Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực
[P.309] Khả năng này được bộc lộ bởi vì nó trở nên khả thể thông qua Vorlaufen tiên liệu. Việc duy trì bản thân trong chân lý này—tức là xác tín về điều đã được bộc lộ—đòi hỏi con người càng phải tiên liệu nhiều hơn nữa. Chúng ta không thể tính toán sự xác thực của cái chết bằng cách xác định số lượng các trường hợp tử vong mà ta bắt gặp. Sự xác thực này hoàn toàn không thuộc loại xác thực tự duy trì trong chân lý của cái ‘hiện-diện-vô-tri’. Khi một sự vật ‘hiện-diện-vô-tri’ được phơi bày, ta bắt gặp nó một cách thuần khiết nhất nếu chỉ nhìn vào thực thể đó và để nó tự bộc lộ chính nó. Dasein trước hết phải đánh mất chính mình trong các sự kiện thực tế [Sachverhalte] (đây có thể là một trong những nhiệm vụ và khả năng của chính cấu trúc chăm lo [Sorge/ Care] nếu muốn đạt được tính khách quan thuần khiết—tức là sự vô tư/bàng quan—của bằng chứng hiển nhiên tất yếu (apodictic evidence). [Chen ngang: Sorge/ Care chăm lo - Trong triết học của Martin Heidegger, chăm lo không phải là một hoạt động thể chất đơn thuần hay một thái độ tâm lý, mà là cấu trúc bản thể luận nền tảng của Dasein hiện hữu người. 1). Chăm lo không đơn thuần là một hoạt động, vì: i) Hoạt động là điều bạn thực hiện (như sửa chữa công cụ hay giúp đỡ bạn bè; ii) Nó là nền tảng của hành động - đối với Heidegger, chăm lo chính là yếu tố tiên quyết cho phép mọi hoạt động hay tương tác với thế giới diễn ra. Tôi chỉ có thể tương tác với sự vật hay con người vì chính phương thức Hữu thể của tôi đã được định hình bởi cấu trúc chăm lo này; iii) Chăm lo không đơn thuần là một thái độ vì nó không phải là trạng thái tinh thần - thái độ là cảm xúc, tâm trạng hoặc lập trường tâm lý chủ quan mà bạn có thể chọn có hoặc bỏ đi; chăm lo là điều kiện của hiện hữu - Sorge/chăm lo có trước tâm lý học. Nó mô tả cách con người ‘bị ném’ vào thế giới, phóng chiếu bản thân về phía tương lai, và thấy mình gắn kết với các sự vật cũng như những người khác; iii) Thực tại bản thể luận: Hữu-thể-trong-thế-giới: chăm lo nghĩa là các sự vật có ý nghĩa đối với chúng ta. Dù là khi ta xử lý các công cụ/vật dụng hay khi tương tác với người khác, toàn bộ sự hiện hữu của ta đều được định hình qua cấu trúc toàn vẹn này: luôn hướng về phía trước, vượt trước chính mình, đã ở sẵn trong thế giới, và bị cuốn hút bởi các thực thể bên trong thế giới đó. 3) Ba thành phần tạo nên tính toàn vẹn về mặt cấu trúc của Sorge của chăm lo được Diễn giải như sau: i) Hữu-thể-hướng-về-phía-trước-chính-mình: Heidegger gọi đây là Existenzialität trạng thái hiện hữu của Dasein. Nó đề cập đến định hướng của Dasein đối với tương lai. Con người không phải là những vật thể tĩnh tại; chúng ta liên tục phóng chiếu bản thân vào những khả tính trong tương lai, đưa ra các lựa chọn và thấu hiểu bản thân dựa trên đích đến mà mình đang hướng tới; ii) Định nghĩa cấu trúc: Sich-vorweg ‘Hướng về phía trước chính mình’; iii) Tình trạng bị ném vào thế giới. Khái niệm: Heidegger gọi đây là Faktizität thực tính. Nó đề cập đến quá khứ. Chúng ta không chọn sự tồn tại của mình, cũng không chọn thời đại lịch sử, nền văn hóa, gia đình hay cơ thể mà mình sinh ra trong đó. Chúng ta thấy mình đã ‘bị ném’ vào một thế giới có sẵn, với những giới hạn và bối cảnh mà ta buộc phải đối mặt; iv) Định nghĩa cấu trúc: Schon-sein-in-einer-Welt ‘Đã-hiện-diện-trong-một-thế-giới’. 4) Verfallensein Sự sa ngã: Nó đề cập đến hiện tại. Đó là khuynh hướng con người đánh mất chính mình trong thế giới thường nhật, tức thời. Thay vì sống một cách đích thực, chúng ta thường bị cuốn vào những xao nhãng thường ngày, chuyện phiếm và những kỳ vọng của xã hội - điều mà Heidegger gọi là Das Man hay cái ‘họ’.- HHN] Nếu Hữu-thể-chắc-chắn về cái chết không mang đặc tính này, thì điều đó không có nghĩa là nó ở cấp độ thấp hơn, mà là nó hoàn toàn không thuộc về trật tự phân cấp của các loại bằng chứng mà ta có thể có đối với cái ‘hiện-diện-vô-tri’.
Việc công nhận cái chết là chân (cái chết là của riêng mỗi người) cho thấy một loại xác thực khác, và mang tính bản nguyên hơn bất kỳ sự xác thực nào liên quan đến các thực thể được bắt gặp trong thế giới, hay các khách thể hình thức; bởi vì nó xác tín về Hữu-thể-trong-thế-giới. Như vậy, việc công nhận cái chết là chân không chỉ đòi hỏi một kiểu hành xử nhất định ở Dasein, mà đòi hỏi chính Dasein [tr.310] trong hiện hữu đích thực trọn vẹn của nó.xviii Thông qua tiên liệu, Dasein mới có thể xác tín về cái Hữu thể cốt yếu nhất của chính mình trong tính toàn vẹn—một tổng thể tính không thể bị vượt qua hay bỏ lại phía sau. Do đó, tính chất hiển nhiên thuộc về trạng thái cho sẵn trực tiếp của các Trải nghiệm, của cái ‘Tôi’, hay của ý thức, tất yếu phải xếp sau tính chắc chắn bao hàm trong tiên liệu. Tuy nhiên, điều này không phải do phương thức nắm bắt chúng thiếu đi tính chặt chẽ, mà bởi vì về nguyên tắc, phương thức nắm bắt ấy không thể xác nhận là chân (được khai mở) mà về cốt lõi vốn vẫn kiên định đòi hỏi phải ‘có ở đó’ với tư cách là chân: đó chính là bản thân Dasein—mà chính là tôi—và là thứ hiện hữu với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, tôi chỉ có thể hiện hữu một cách đích thực thông qua tiên liệu.
Khả năng riêng biệt nhất—vốn không mang tính tương quan, không thể bị vượt qua và mang tính chắc chắn—lại bất định về mặt tính chắc chắn của chính nó. Phép tiên liệu khai mở đặc điểm này của khả tính đặc thù của Dasein như thế nào? Sự thấu hiểu mang tính tiên liệu phóng chiếu chính nó lên một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vừa chắc chắn vừa thường trực, theo cách mà yếu tố ‘khi nào’—thời điểm mà bất khả tính tuyệt đối của hiện hữu trở thành khả thể—vẫn luôn bất định? Khi tiên liệu trạng thái chắc chắn bất định của cái chết, Dasein mở lòng mình ra trước một mối đe dọa thường trực nảy sinh từ chính cái ‘có-đó’ của nó. Ngay trong mối đe dọa này, trạng thái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục phải duy trì chính nó. Nó không những không thể làm giảm nhẹ mối đe dọa này, mà trái lại, còn phải nuôi dưỡng trạng thái bất định của tính chắc chắn đó. Làm thế nào để mối đe dọa thường trực này có thể được bộc lộ một cách đích thực về phương diện hữu thể? Mọi sự thấu hiểu đều đi kèm với một tâm thế. Tâm trạng của Dasein đưa nó đối diện với trạng thái bị-ném-vào của ‘trạng thái nó vẫn có đó’. Tuy nhiên, cái tâm thế kia có thể giữ cho mối đe dọa tuyệt đối và thường trực—vốn nảy sinh từ chính cái Hữu thể cá nhân hóa cao độ của Dasein—chính là nỗi lo âu.xx1 Trong tâm thế này, Dasein thấy mình đối diện với ‘cái hư vô’ của cái bất khả tính khả thể của hiện hữu bản thân nó. Nỗi lo âu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của cái thực thể mang định mệnh như thế, và qua đó, nó khai mở cái khả tính tột cùng này. Phép tiên liệu cá nhân hóa Dasein một cách triệt để, và cho phép nó—ngay trong cái cá nhân hóa bản thân ấy—trở nên chắc chắn về tổng thể tính tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình.
Vì lý do này, nỗi lo âu—với tư cách là một tâm thế cơ bản—thuộc về sự tự thấu hiểu như vậy của Dasein, dựa trên chính bản thân Dasein.2 Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, về bản chất, chính là nỗi lo âu. Điều này được minh chứng một cách không thể chối cãi—dù chỉ là gián tiếp—thông qua Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như chúng ta đã mô tả: [p.311] khi nó biến đổi nỗi lo âu thành nỗi sợ hèn nhát, và trong quá trình vượt qua nỗi sợ ấy, nó lại chỉ bộc lộ chính tâm trạng hèn nhát của mình khi đối diện với nỗi lo âu. Giờ đây, ta có thể tóm tắt lại những đặc điểm của Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực theo cách mà ta đã phác họa trên bình diện hữu thể: phép tiên liệu phơi bày cho Dasein thấy tình trạng đánh mất chính mình trong cái they-self ‘tự ngã họ’, đồng thời đặt Dasein đối diện với cái khả tính tự-là-chính-mình—một trạng thái không dựa vào sự quan tâm lo lắng của người khác, mà thay vào đó là tình trạng tự-là-chính-mình trong một sự tự do đầy nhiệt huyết hướng về cái chết; đó là loại tự do đã thoát khỏi những ảo tưởng của cái ‘họ’, một sự tự do mang tính hiện thực, tự xác tín và đầy lo âu.
Tất cả các mối liên hệ thuộc về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết — xét đến toàn bộ nội dung của khả tính tột cùng của Dasein như chúng ta đã mô tả — đều cấu thành nên một tiên liệu; chúng cùng nhau bộc lộ, khai mở và nắm giữ khả tính này như chính cái làm cho khả tính ấy trở nên khả thể. Existential projection Phép phóng chiếu hữu thể — trong đó tiên liệu đã được xác định giới hạn — đã làm hiển lộ cái khả tính bản thể luận về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết mang tính thực hữu, cá nhân, cụ thể vốn đích thực. Tuy nhiên, cùng với nó, cái khả tính để Dasein đạt tới một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực cũng xuất hiện, nhưng chỉ như một khả tính bản thể luận mà thôi. Trong quá trình phóng chiếu hữu thể của tiên liệu, tất nhiên chúng ta vẫn bám sát các cấu trúc của Dasein đã được xác lập trước đó; và chúng ta để cho chính Dasein tự phóng chiếu bản thân mình vào cái khả tính này, thay vì áp đặt một lý tưởng hiện hữu với bất kỳ ‘nội dung’ cụ thể nào đó hay cưỡng ép Dasein phải theo một lý tưởng như vậy ‘từ bên ngoài’. Tuy nhiên, thứ Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ‘khả thể’ về phương diện existentially cấu thành hữu thể này — khi xét từ góc độ existentiell thực hữu cá nhân cụ thể — vẫn chỉ là eine phantastische Zumutung một đòi hỏi mang tính viển vông. [Chen ngang: eine phantastische Zumutung là một thuật ngữ quan trọng của Heidegger. Ý nghĩa của thuật ngữ: Trong ngữ cảnh của Heidegger: Cụm từ này được dùng để chỉ việc Dasein hiện hữu người bị ‘đòi hỏi’ phải phản diện và dự phần trước cái Hữu thể hướng đến cái chết của chính mình một cách chân thực. Thuật ngữ này giúp thừa nhận một vấn đề: Về phương diện bản thể luận, việc con người hướng tới cái chết là một khả tính; nhưng từ góc độ thực hữu cá nhân cụ thể, đó lại là một ‘đòi hỏi bất kỳ ảo’ hay một yêu cầu hoang đường – bởi vì trong cuộc sống thường nhật, không ai thực sự tỉnh táo, sẵn sàng hay chứng minh được công việc của mình liên tục sống trong sự đối diện với cái chết.-HHN] Việc một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực là khả thể về mặt bản thể luận đối với Dasein sẽ chẳng có ý nghĩa gì, chừng nào một tiềm-năng-cho-Hữu-thể tương ứng ở bình diện ontish thực hữu chưa được chứng minh ngay trong chính Dasein. Liệu Dasein có bao giờ thực sự tự ném mình vào một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy hay không? Liệu Dasein có đòi hỏi — ngay từ chính bản chất Hữu thể cốt lõi của mình — một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực được quyết định bởi tiên liệu hay không? Trước khi giải đáp những câu hỏi này, ta cần xem xét liệu Dasein có đưa ra bất kỳ sự chứng thực nào — xuất phát từ chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt lõi của nó — về khả năng đạt tới trạng thái đích thực trong hiện hữu của nó hay không; sao cho nó không chỉ cho thấy trạng thái đích thực đó là khả thể về phương diện cấu thành hữu thể, mà còn tự mình đòi hỏi điều đó. Câu hỏi về Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein và về các cấu thành hữu thể của nó vẫn còn treo trong không trung. Vấn đề này chỉ có thể được đặt trên một nền tảng hiện tượng vững chắc nếu nó có thể bám vào tính chân thực khả thể thuộc về Hữu thể của chính nó, một tính chân thực được chính Dasein xác chứng. Nếu thành công trong việc làm sáng tỏ sự chứng thực đó về hiện tượng học, cùng với nội dung được chứng thực, thì sẽ nảy sinh một vấn đề mới: việc tiên liệu về cái chết—điều mà cho đến nay chúng ta mới chỉ phác thảo dưới khía cạnh khả tính bản thể luận—có mối liên hệ thiết yếu nào với tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn đã được kiểm chứng hay không.
II SỰ CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN
[Chen ngang: Tính Quyết đoán Entschlossenheit/ resoluteness của Heidegger - Từ gốc động từ erschließen, có nghĩa là ‘mở ra’, ‘mở khóa’ hoặc ‘phơi bày/hé lộ’. Theo nghĩa đen Entschlossenheit mang ý nghĩa là ‘trạng thái không còn bị đóng kín’ hay được hé lộ, chứ không đơn thuần là sự bướng bỉnh, quyết tâm hay ý chí mạnh mẽ theo nghĩa tâm lý học thông thường. Heidegger định nghĩa lại trạng thái/tính quyết đoán, tách biệt nó khỏi ý chí đạo đức hay sự quyết định cứng nhắc thường thấy trong đời sống thường nhật. Thay vào đó, đây là một khái niệm mang tính hữu thể: i) Tách khỏi Das Man cái họ - Sự quyết đoán có nghĩa là để bản thân được đánh thức và quay trở về từ trạng thái bị cuốn vào những lời bàn tán nơi công cộng, tuân theo đám đông và các chuẩn mực xã hội vô danh của das Man; ii) Trạng thái khai mở, đó là khi Dasein hiện hữu người mở lòng đón nhận khả tính hữu thể cốt lõi nhất của chính mình; quyết đoán nghĩa là Dasein tự làm cho mình trở nên minh bạch và sẵn sàng đón nhận sự thật về hoàn cảnh của chính mình; iii) Trạng thái quyết đoán mang tính dự phóng vorwegnehmende Entschlossenheit - Quyết đoán đích thực là việc đối diện với tính hữu hạn của con người—cụ thể là ‘Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết’—nhận lãnh tình trạng ‘bị ném vao’ của mình - những điều kiện cụ thể, không do ta chọn lựa trong cuộc đời - và phóng chiếu bản thân vào hành động đích thực ngay trong ‘khoảnh khắc của sự thấu thị’ Augenblick ở hiện tại; iv) Mở ra cho Kẻ Khác - nghịch lý là sự quyết đoán đích thực không cô lập cái tôi; trái lại, nó giải phóng Dasein, cho phép Kẻ khác được là chính họ một cách đích thực thay vì lôi kéo họ vào sự tuân theo các chuẩn mực das Man cái họ nông cạn. - HHN]
54. Vấn đề Cách thức một Khả tính Thực hữu Cá nhân Cụ thể đích thực được chứng thực.
[Tr.312] Điều chúng ta đang tìm kiếm là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein, một khả tính sẽ được chính Dasein chứng thực là Existenziell/ existenzielle Möglichkeit/ existentiell possibility khả tính thực hữu cá nhân cụ thể của nó. Tuy nhiên, bản thân sự chứng thực này trước hết phải ở dạng thức mà chúng ta có thể nhận diện được. Nếu thông qua sự chứng thực này, chính Dasein—với tư cách là thực thể có khả năng hiện hữu đích thực—được ‘ban cho’ Dasein để ‘thấu hiểu’,3 thì sự chứng thực đó phải bắt rễ từ chính Hữu thể của Dasein. Do đó, khi trình bày nó về phương diện hiện tượng học, chúng ta cũng đồng thời chứng minh rằng nó có nguồn gốc từ trạng thái Hữu thể của Dasein. Trong sự chứng thực này, một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó đích thực được trao cho chúng ta để thấu hiểu. Câu hỏi về cái ‘ai’ của Dasein đã được giải đáp bằng khái niệm Self ‘Tự Ngã’.4 Selbstheit Vị thế Tự ngã của Dasein đã được định nghĩa một cách hình thức như là một cách thức hiện hữu, và do đó không phải là một thực thể hiện-diện-vô-tri. Phần lớn thời gian, bản thân tôi không phải là cái ‘ai’ của Dasein; mà ‘Tự-ngã-cái-họ mới chính là cái ‘ai’ của nó. Cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó đích thực có hình thức xác định của một existentiell modification biến đổi thực hữu cá nhân cụ thể từ cái họ; và sự biến đổi này cần được định nghĩa về existentially phương diện cấu thành hữu thể.ii Sự biến đổi này hàm ý điều gì, và cái gì là các điều kiện bản thể luận cho khả tính của nó?.
[Chen ngang: Selbstheit/Selfhood của Heidegger, Vị thế Tự ngã của Dasein không phải là một thực thể tĩnh tại, một tâm trí hay một cái ‘tôi’ (ego), mà là một phương thức hiện hữu đầy tính động, trong đó chủ thể tự chịu trách nhiệm về sự tồn tại của chính mình. Heidegger bác bỏ dứt khoát quan điểm của Descartes về cái tôi (coi cái tôi là một chủ thể biệt lập hay một ‘vật tư duy’ quan sát thế giới khách quan). Thay vào đó, vì bản chất của Dasein là Hữu-thể-trong-thế-giới, nên tính tự thân được định hình bởi cách Dasein tương tác với các khả tính, thời gian và thực tại xã hội của chính mình. Các khía cạnh cốt lõi của Vị thế Tự ngã ở Dasein: 1) Tự ngã Động Dynamic Self so với Cái Tôi Descartes Cartesian Ego - Triết học truyền thống thường coi cái tôi như một đối tượng hoặc một chiếc bình chứa đầy những suy nghĩ. Đối với Heidegger, cái tôi là một ‘cách thức Hữu thể’ chứ không phải là một ‘vật thể’ hay ‘cái gì đó’ cụ thể. Dasein luôn trải dài theo dòng thời gian (bao gồm quá khứ, hiện tại và các dự phóng tương lai) và gắn liền với một môi trường sống. Tính tự thân chính là quá trình không ngừng định hướng trong trường hành động này và kiến tạo nên bản sắc của chúng ta thông qua những lựa chọn; 2) Hai phương thức của Vị thế Tự ngã được Heidegger giải thích rằng Vị thế Tự ngã tồn tại trong trạng thái căng thẳng thường trực giữa hai phương thức cấu trúc: i) Das Man-Selbst/ the ‘They-Self’ Tự ngã Không-đích-thực hay ‘Tự-ngã-cái-họ’): Trong đời sống thường nhật, Dasein thường tồn tại trong trạng thái ‘sa ngã’. Chúng ta không hành động dựa trên lựa chọn của chính mình; thay vào đó, ta hành động theo cách cái ‘họ’ thường làm, nói theo cách cái ‘họ’ thường nói và tin vào những điều mà cái ‘họ’ tin. Ở phương thức này, tính tự thân của Dasein bị phân tán, thiếu phản tư và bị chi phối bởi sự tuân theo các chuẩn mực xã hội; ii) Eigentlichkeit/ The Authentic Self/ Ownedness Tự ngã Đích thực hay ‘Tính-thuộc-về-chính-mình’: Vị thế Tự ngã đích thực xuất hiện khi Dasein giành lại hiện hữu của mình từ ‘Tự-ngã-của-cái-họ. Điều này không có nghĩa là tìm kiếm một bản sắc nội tại thuần khiết hay ẩn giấu nào đó. Thay vào đó, nó có nghĩa là làm chủ các lựa chọn của mình, thừa nhận những giới hạn của bản thân và nhận thức rằng cuộc đời này là của riêng mình để sống. 3. Cách thức hiện thực hóa Tự ngã đích thực - Dasein chuyển từ trạng thái từ They-Self ‘Tự ngã Cái họ’ vô danh sang Tự ngã đích thực thông qua một số trải nghiệm khai mở/cấu thành hữu thể mang tính đột phá: i) Trạng thái lo âu: Một tâm thế nền tảng giúp gạt bỏ những xao nhãng thường nhật, qua đó phơi bày cho Dasein thấy rằng nó bị ném vào thế giới một mình và buộc phải tự chọn lấy ý nghĩa cho chính mình; ii) Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết: Việc đối diện với giới hạn tột cùng của sự tồn tại—tính hữu tử—đã phá vỡ ảo tưởng về ‘Tự ngã-Cái họ’. Nó buộc Dasein phải nhận thức rằng thời gian của mình là hữu hạn và mọi lựa chọn đều quan trọng; iii) Entschlossenheit Trạng thái quyết đoán là cam kết tập trung, tĩnh tại để hành động một cách đích thực và làm chủ hoàn cảnh của chính mình, ngay cả khi phải đối mặt với cảm giác tội lỗi và sự bất định.-HHN]
Với tình trạng Dasein bị mất hút vào das Man cái ‘họ’, thì cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể thực tính gần gũi nhất với nó—tức là các nhiệm vụ, quy tắc, chuẩn mực, cũng như tính cấp bách và phạm vi của cái Hữu-thể-trong-thế-giới đầy quan tâm lo lắng—đã được định đoạt từ trước. Cái ‘họ’ luôn ngăn cản Dasein nắm bắt những khả tính Hữu-thể này. Cái ‘họ’ thậm chí còn che giấu cách thức mà nó đã âm thầm gánh thay cho Dasein cái gánh nặng phải đích thân lựa chọn những khả tính ấy. Rốt cuộc, chẳng ai xác định được ai là kẻ ‘thực sự’ đã đưa ra lựa chọn. Vì thế, Dasein không tự mình lựa chọn gì cả, mà cứ để cho cái ‘không-ai-cả’ cuốn đi, và do đó tự giam hãm mình trong trạng thái phi-chân-thực. Quá trình này chỉ có thể đảo ngược nếu Dasein chủ động đưa bản thân trở về với chính mình từ trạng thái mất hút trong cái ‘họ’. Tuy nhiên, việc đưa trở về này phải có một loại Hữu thể mà chính việc bỏ lơ nó đi [tr.313] đã khiến Dasein đánh mất bản thân trong trạng thái phi-chân thực. Vì vậy khi Dasein tự đưa mình trở lại từ cái ‘họ’ như vậy, thì Tự-ngã-cái-họ sẽ được biến đổi theo phương thức thực hữu cá nhân cụ thể, để rồi trở thành Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó chân thực. Điều này phải được thực hiện thông qua Nachholen einer Wahl ‘lựa chọn lại một lựa chọn’. Nhưng việc ‘tái lựa chọn’ ấy lại mang ý nghĩa là: lựa chọn thực hiện chính sự lựa chọn này—tức là quyết định chọn một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, và đưa ra quyết định đó từ chính cái Tự ngã của mình. Khi thực hiện việc lựa chọn này, Dasein—trước hết và quan trọng nhất—đã mở ra tiềm-năng-cho-Hữu-thể chân thực của chính nó. Song, vì Dasein đang lạc lối trong cái ‘họ’, nên trước tiên nó phải tìm lại được chính mình. Để có thể tìm thấy bản thân, nó cần được tự ‘phơi bày’ về tính chân thực khả thể của mình. Xét về mặt khả tính, Dasein vốn dĩ đã là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó, nhưng nó cần được xác chứng cho tiếm năng này.
Trong Diễn giải tiếp theo, chúng tôi sẽ khẳng định rằng tiềm năng này được minh chứng bởi điều mà, trong phép tự diễn giải thường nhật của Dasein, vốn quen thuộc với chúng ta như là Stimme des Gewissens ‘tiếng nói của lương tâm’.iii Chính cái ‘sự thật’ lương tâm bị tranh cãi, mà chức năng của nó như một tòa án tối cao đối với hiện hữu của Dasein được đánh giá theo nhiều cách khác nhau, và sự thật ‘cái mà lương tâm lên tiếng’ bị diễn giải theo vô số kiểu—tất cả những điều này có thể dễ dàng khiến ta gạt bỏ hiện tượng này, nếu như chính ‘tính đáng ngờ’ của Sự thật đó—hoặc của cái cách thức mà nó được diễn giải—lại không chứng minh rằng ở đây ta đang đối diện với một hiện tượng bản nguyên của Dasein. Trong phần phân tích sau đây, lương tâm sẽ được xem như một cái gì đó mà ta đã nắm bắt được về mặt lý thuyết từ trước, và nó sẽ được khảo sát purely existential manner theo phương thức thuần túy cấu thành hữu thể, nhằm hướng tới bản thể học nền tảng của chúng ta.
Trước hết, chúng tôi sẽ truy nguyên lương tâm về các nền tảng và cấu trúc existential cấu thành hữu thể của nó, đồng thời làm hiển lộ nó như một hiện tượng của Dasein, trong khi vẫn kiên định với những gì ta đã xác định được về trạng thái Hữu thể của thực thể này. Phép phân tích bản thể luận về lương tâm mà chúng tôi đang tiến hành có vị thế ưu tiên so với bất kỳ sự mô tả hay phân loại nào về các Trải nghiệm lương tâm, đồng thời nằm ngoài bất kỳ ‘giải thích’ mang tính sinh học nào về hiện tượng này (là cái vốn có nghĩa là tình trạng phân hủy của nó). Tuy nhiên, nó cũng hoàn toàn tách biệt khỏi việc diễn giải lương tâm theo thần học hay việc sử dụng hiện tượng này để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế hoặc để thiết lập một ý thức ‘trực tiếp’ về Thượng đế. Dẫu vậy, ngay cả khi phạm vi khảo sát về lương tâm bị giới hạn như thế, chúng ta cũng không được phép phóng đại kết quả đạt được hay đưa ra những khẳng định sai lệch làm giảm giá trị của nó. Là một hiện tượng của Dasein, lương tâm không chỉ đơn thuần là một sự thật xảy ra và đôi khi hiện-diện-vô-tri. Nó chỉ ‘có’ trong loại Hữu thể của Dasein, và chỉ bộc lộ mình như một Sự thật cùng với và ngay trong sự hiện hữu thực tính. Cái yêu cầu phải đưa ra một ‘bằng chứng thực nghiệm quy nạp’ cho ‘thực tính khách quan’ của lương tâm và cho tính chính đáng của ‘tiếng nói’ của nó, thực chất dựa trên một cách hiểu sai lệch về mặt bản thể học đối với [tr.314] hiện tượng này. [Chen ngang: ‘Thực tính’ của lương tâm được định danh chính xác bằng thuật ngữ Faktizität/Facticity, vẫn được dịch là ‘kiện tính’, còn với chúng tôi nó là Thực tính [hiện hữu người]. 1). Thuật ngữ tiếng Đức: Faktizität đối lập với Tatsächlichkeit - Heidegger phân biệt rất nghiêm ngặt giữa hai trạng thái mang nghĩa thực tính: i) Tatsächlichkeit/ Factuality/ Thực tại tính [khách quan]: Đây là thuộc tính của những vật thể ở trạng thái Vorhandenheit hiện diện vô tri, như hòn đá, cái bàn. Chúng chỉ đơn thuần hiện diện như những dữ kiện vật lý hay đối tượng kiểm nghiệm khoa học; ii) Faktizität/ Facticity/ Thực tính - Đây là thực tính độc quyền của Dasein hiện hữu người. Bản chất sự thực của con người không phải là một đồ vật tĩnh tại, mà là sự thực rằng chúng ta luôn luôn thấy mình đã bị ném vào một thế giới (Geworfenheit) có sẵn. Chúng ta không tự chọn thời đại, ngôn ngữ, hay cái chết của chính mình, nhưng chúng ta buộc phải gánh vác và sống với những thực tế đó. 2). Ý nghĩa của Faktizität/ Facticity/ Thực tính trong Lương tâm - Khi Heidegger phân tích về Lương tâm (Gewissen) thì Thực tính của nó mang những ý nghĩa cốt lõi sau: i) Đột phá khỏi đạo đức luận truyền thống - Lương tâm theo Heidegger không phải là một thực thể tâm lý hay ‘tiếng nói của Chúa’ phán xét đúng sai. Thực tính của lương tâm có nghĩa nó là một cấu trúc hữu thể có sẵn mang tính nền tảng của con người. Dù bạn có muốn hay không, lương tâm luôn ở đó như một sự thực tất yếu của Hữu thể; ii) Der Ruf der Geworfenheit Tiếng gọi của Trạng thái ‘bị ném vào’: Lương tâm hoạt động như một Ruf Tiếng gọi. Ai gọi? Chính Dasein trong sự bất an cô độc đang gọi chính nó. Tiếng gọi này có ‘Thực tính’ vì nó lay tỉnh con người ra khỏi sự lặn ngụp vô định trong das Man/ Cái họ. Nó gọi con người quay về đối diện trực tiếp với thực tính tối hậu của mình: một hiện hữu thể bị ném vào thế giới, giới hạn và Sein-zum-Tode hướng đến cái chết; iii) Lương tâm và Schuld Sự mắc nợ cấu thành hữu thể: Trong tiếng Đức, từ Schuld vừa có nghĩa là tội lỗi/mắc nợ đạo đức, vừa mang nghĩa gốc bản thể luận là ‘hư vô/ thiếu hụt’. Thực tính của lương tâm phơi bày cho con người thấy một Sự thật’ gốc rễ: Bản chất con người là một khoảng trống tự do, chúng ta phải tự lựa chọn số phận của mình dựa trên những gì có sẵn. Việc không thể tự làm chủ gốc rễ của tình trạng ‘bị ném vào đời’ chính là faktische Schuldigsein sự Mắc nợ thực tính. Lương tâm gọi ta gánh vác trách nhiệm đó; iv) Tóm lại Faktizität/ Facticity của lương tâm đối với Heidegger nghĩa là: Lương tâm không phải một lý thuyết hay một tòa án đạo đức do xã hội dựng lên, mà là một cấu thành hữu thể nền tảng. Nó là tiếng gọi thực tế, thầm lặng buộc con người phải thức tỉnh khỏi sự tha hóa thường nhật để tự quyết định và chịu trách nhiệm về sự tồn tại hữu hạn của chính mình.- HHN] Tuy nhiên, cách hiểu sai lệch kia lại là đặc điểm chung của mọi lối phê phán mang tính ‘thượng đẳng’, trong đó lương tâm bị xem như một điều gì đó chỉ xuất hiện chốc lát thay vì là một ‘Sự thật được xác lập và có thể xác định một cách phổ quát’. Giữa những lập luận chứng minh và phản chứng như vậy, cái Sự thật lương tâm lại hoàn toàn không thể tự hiện diện.
Đây không phải là khiếm khuyết của chính nó, mà chỉ là dấu hiệu để ta nhận ra rằng, xét về mặt bản thể luận, nó thuộc một loại hình khác biệt so với những gì hiện-diện-vô-tri trong môi trường xung quanh. Lương tâm mang đến cho ta ‘một điều gì đó’ để thấu hiểu; nó thực hiện sự khai mở. Khi mô tả hiện tượng này theo cách thức hình thức như vậy, ta thấy mình được thôi thúc phải quy chiếu nó trở lại trạng thái khai mở của Dasein. Trạng thái khai mở này—vốn là trạng thái cơ bản của cái mà cái thực thể vốn là bản thân chúng ta—được cấu thành bởi tâm thế, sự thấu hiểu, tình trạng sa ngã và diễn ngôn. Nếu phân tích lương tâm một cách sâu sắc hơn, ta sẽ thấy nó hiện ra như một Ruf tiếng gọi. Việc cất tiếng gọi chính là một phương thức của diễn ngôn. Tiếng gọi của lương tâm mang tính chất của một lời kêu gọi hướng tới Dasein, triệu gọi nó về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-chính-nó đích thực nhất; và điều này được thực hiện thông qua việc triệu gọi vời nó về với cái Hữu-thể-tội-lỗi đích thực nhất của chính nó.5
Cách diễn giải mang tính cấu thành hữu thể này tất yếu khác xa với lẽ thường tình ontish thực hữu trong đời sống thường nhật, mặc dù nó trình bày các nền tảng bản thể luận cho những gì mà cách diễn giải thông thường về lương tâm vẫn luôn hiểu trong những giới hạn nhất định và khái niệm hóa thành một ‘lý thuyết’ về lương tâm. Theo đó, cách diễn giải mang tính cấu thành hữu thể của chúng ta cần được xác nhận thông qua việc phê phán cách thức mà lương tâm thường được diễn giải. Khi hiện tượng này đã được phơi bày, chúng ta có thể làm rõ mức độ mà nó chứng thực cho một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein. Tương ứng với tiếng gọi của lương tâm là một khả năng lắng nghe. Sự thấu hiểu của chúng ta về lời kêu gọi này bộc lộ chính nó như là Gewissenhabenwollen mong muốn có lương tâm. Nhưng ẩn chứa trong hiện tượng này chính là cách lựa chọn existentiell mang tính thực hữu cá nhân cụ thể mà chúng ta đang tìm kiếm—kiểu lựa chọn để chọn lấy một loại Hữu-thể-Tự-ngã-của-mình mà, xét theo cấu trúc cấu thành hữu thể của nó, chúng ta gọi là Entschlossenheit ‘tính quyết đoán’.6 Như vậy, ta có thể thấy cách phân chia các nội dung phân tích trong chương này: các nền tảng hữu thể luận-cấu thành hữu thể [tr.315] của lương tâm (Mục 55); tính chất của lương tâm như một tiếng gọi (Mục 56); lương tâm như là tiếng gọi của quan tâm/lo âu (Mục 57); sự thấu hiểu tiếng gọi và tình trạng tội lỗi (Mục 58); cách diễn giải cấu thành hữu thể về lương tâm và cách lương tâm thường được diễn giải (Mục 59); cấu trúc cấu thành hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực được chứng thực trong lương tâm (Mục 60).
55. Nền tảng Hữu thể luận-Cấu thành hữu thể của Lương tâm
Trong hiện tượng lương tâm, chúng ta nhận thấy—mà chưa cần đến sự phân biệt chi tiết hơn là — bằng cách nào đó, nó mang lại cho chúng ta điều gì đó để thấu hiểu. Phép phân tích của chúng ta bắt đầu từ cách phát hiện này. Lương tâm khai mở, và do đó thuộc về phạm vi các hiện tượng cấu thành hữu thể cấu thành nên Hữu-thể của cái ‘có-đó’ như là trạng thái khai mở.iv Chúng ta đã phân tích các cấu trúc phổ quát nhất của tâm thế, sự thấu hiểu, diễn ngôn và tình trạng sa ngã. Nếu đưa lương tâm vào bối cảnh hiện tượng này, thì đó không phải là vấn đề áp dụng một cách máy móc các cấu trúc này vào một ‘trường hợp’ phơi bày đặc biệt của Dasein. Ngược lại, phép Diễn giải về lương tâm không chỉ phát triển thêm phép phân tích trước đó về tình trạng khai mở của cái ‘có-đó’, mà còn nắm bắt nó một cách bản nguyên hơn liên quan đến cái Hữu thể đích thực của Dasein.
Thông qua tình trạng khai mở, cái thực thể mà chúng ta gọi là ‘Dasein’ luôn ở trong cái khả tính là chính cái ‘có-đó’ của nó. Cùng với thế giới của mình, nó có đó cho chính nó—và quả thực, trước hết và phần lớn là theo cách thức mà nó đã tự khai mở cho chính mình cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó trong khuôn khổ của cái ‘thế giới’ quan tâm của nó. Dasein tồn tại như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà, trong mỗi trường hợp, đã tự phó mặc cho những khả tính xác định.7 Và nó tự phó mặc cho những khả tính này bởi vì nó là một thực thể đã bị ném vào, và là một thực thể mà trạng thái bị ném đó được bộc lộ rõ ràng và ấn tượng hơn hay kém tùy thuộc vào tâm trạng của nó. Sự thấu hiểu luôn gắn liền một cách bình đẳng và đồng bản nguyên với bất kỳ tâm thế hay tâm trạng nào. Theo cách này, Dasein ‘biết’ bản chất và khả năng của chính mình, tùy thuộc vào việc nó đã tự phóng chiếu bản thân vào các khả tính của chính mình hay đã bị cuốn vào das Man cái ‘họ’ đến mức để cho những khả tính đó được trình ra trước nó thông qua cách thức mà cái ‘họ’ diễn giải sự vật một cách công khai. Tuy nhiên, việc đưa trình các khả tính này trở nên khả thể existentially về phương diện cấu thành hữu thể nhờ vào cái sự thật là Dasein—với tư cách là một Hữu-thể-với vốn thấu hiểu—có thể lắng nghe những Kẻ Khác. Khi đánh mất chính mình trong tính công khai và phiếm đàm của cái ‘họ’, nó đã không nghe thấy cái Tự ngã của chính mình vì mải lắng nghe das Man-Selbst tự-ngã-của-cái-họ.
Nếu Dasein muốn được đưa trở lại từ trạng thái đánh mất bản thân do không nghe thấy chính mình, và nếu điều này phải được thực hiện bởi chính nó, thì trước hết nó phải có khả tính tìm thấy chính mình—tìm thấy [tr.316] chính mình như một thực thể đã không nghe thấy bản thân, và thực thể đó không nghe thấy chính mình vì mải hướng sự lắng nghe ra bên ngoài về phía cái ‘họ’.8 Sự lắng nghe hướng ra bên ngoài này cần phải bị cắt đứt; nói cách khác, cái khả tính về một kiểu lắng nghe khác—kiểu lắng nghe sẽ làm gián đoạn sự lắng nghe hiện tại—phải do chính Dasein đưa cho.9 Cái khả tính bị ngắt quãng như vậy bắt nguồn từ việc Dasein được kêu gọi một cách trực tiếp, không qua trung gian. Dasein thường không nghe thấy chính mình mà lại hướng sự chú ý ra bên ngoài, lắng nghe das Man cái ‘họ’; và sự lắng nghe hướng ngoại này bị phá vỡ bởi tiếng gọi, nếu tiếng gọi ấy—đúng với bản chất của nó—khơi dậy một kiểu lắng nghe khác; kiểu lắng nghe này, khi đặt trong tương quan với kiểu lắng nghe đã bị đánh mất kia,10 lại mang đặc tính hoàn toàn trái ngược. Nếu trong kiểu lắng nghe đã bị đánh mất đó, người ta từng bị mê hoặc bởi cuồn cuộn thanh âm ‘om sòm’ của vô vàn những điều mơ hồ—thứ vốn hiện diện trong những cuộc phiếm đàm với vẻ ‘mới mẻ’ thường nhật—thì tiếng gọi kia phải cất lên mà không hề om sòm và đầy dứt khoát, không để lại bất kỳ kẽ hở nào cho sự tò mò bám víu. Thứ mang lại cho ta sự thấu hiểu thông qua cách thức kêu gọi như vậy, chính là lương tâm.
Chúng ta coi tiếng gọi như một phương thức của diễn ngôn. Diễn ngôn làm sáng tỏ tính khả tri. Việc mô tả lương tâm như một tiếng gọi không chỉ đơn thuần là đưa ra một ‘hình ảnh’, chẳng hạn như cách Kant hình dung lương tâm như một tòa án công lý. Tuy nhiên, việc phát âm thành tiếng không phải là yếu tố cốt yếu của diễn ngôn, và do đó cũng không phải của tiếng gọi; điều này không được phép bỏ qua. Diễn ngôn vốn đã được tiền giả định trong bất kỳ sự biểu đạt hay Ausrufen ‘lên tiếng’ nào. Nếu cách hiểu thông thường thừa nhận một ‘tiếng nói’ của lương tâm, thì người ta không thực sự nghĩ đến một lời phát ngôn (vì trên thực tế, ta không bao giờ bắt gặp điều đó); ‘tiếng nói’ ấy được hiểu đúng hơn là một sự truyền đạt để ta thấu hiểu. Trong khuynh hướng bộc lộ vốn thuộc về tiếng gọi, ẩn chứa động lực của một sự thúc đẩy—một sự đánh thức đột ngột. Tiếng gọi vang lên từ xa và hướng về phía xa. Nó chạm đến kẻ đang muốn được đưa trở lại. Nhưng với cách mô tả lương tâm này, chúng ta mới chỉ phác thảo chân trời hiện tượng để phân tích cấu trúc cấu thành hữu thể của nó. Chúng ta không [tr.317] so sánh hiện tượng này với một tiếng gọi thông thường; chúng ta hiểu nó như một dạng diễn ngôn—trong khuôn khổ của trạng thái khai mở vốn cấu thành nên Dasein. Khi xem xét điều này, ngay từ đầu chúng ta đã tránh con đường đầu tiên thường được chọn cho một phép Diễn giải lương tâm—đó là quy nó về một năng lực tâm lý nào đó như sự hiểu biết, ý chí, hay cảm xúc, hoặc giải thích nó như một sự pha trộn giữa các yếu tố này. Khi đối diện với một hiện tượng như lương tâm, ta nhận thấy sự bất cập—xét về mặt bản thể luận-nhân học của một khuôn khổ các năng lực tâm lý hay hành động cá nhân thả nổi và chỉ được phân loại một cách máy móc.vi
___________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘Die Befindlichkeit aber, welche die ständige und schlechthinnige, aus dem eigensten vereinzelten Sein des Dasiens aufsteigende Bedrohung seiner selbst offen zu stopen vermag, ist die Angst.’ Lưu ý rằng ‘welche’ có thể được hiểu là chủ ngữ hoặc tân ngữ trực tiếp của mệnh đề quan hệ. [tr.310]
2 ‘… gehört zu dieem Sichverstehen des Daseins aus seinem Grunde die Grund-. befindlichkeit der Angst.’ Không rõ về mặt ngữ pháp liệu 'seinem' ám chỉ 'Sichverstehen' hay 'Daseins' [tr.310].
3 ‘…wenn sie dem Dasein es selbst in seiner moglichen eigentlichen Existem; “zu verstehen geben”…' [p.312]
4 'Der Gewissensruf hat den Charakter des Anrufs des Daseins auf sein eigenstes Selbstseinkonnen und das in der Weise des Aufrufs zum eigensten Schuldigsein.' Bản dịch của chúng tôi về 'Anruf' là 'sự kêu gọi' và 'Aufruf' là 'sự triệu tập' đã che giấu mối liên hệ từ nguyên của những cách diễn đạt này với 'Ruf', mà ở đây chúng tôi dịch là 'gọi' - một từ mà chúng tôi đã sử dụng khi dịch các cách diễn đạt như 'nennen', 'heissen', và một số từ khác. Động từ 'anrufen' ('khiếu nại') có nghĩa đen là 'gọi đến'; 'einen auf etwas anrufen' có nghĩa là 'gọi ai đó và gọi anh ta đến điều gì đó'. Tương tự 'aujrufen' ('triệu tập') có nghĩa là 'gọi lên' ; 'einen zu etwas aufrufen' có nghĩa là 'kêu gọi ai đó làm việc gì đó mà anh ta phải làm', theo nghĩa thách thức anh ta hoặc 'kêu gọi' anh ta đạt đến mức hiệu suất cao hơn. [tr.314]
5 ‘…das gesuchte exenzielle Wahlen der Wahl cines Se!bstseins, das wir, seiner tồn tại Struktur entsprechend, die Entschlossenheit nennen.' Mặc dù bản dịch của chúng tôi vẫn giữ lại sự mơ hồ về mặt ngữ pháp của nguyên bản tiếng Đức, nhưng từ đoạn H. 298, có thể thấy rõ rằng từ quy chiếu (tiền ngữ) của mệnh đề quan hệ thứ hai là 'Selbstsein' ('một dạng thức của việc-là-chính-mình'), chứ không phải 'Wahlen' ('việc lựa chọn'). [tr.314]
6 'Das Seinkonnen, als welches das Dasein existiert, hat sich je schon bestimmten Moglichkeiten iiberlassen.’ [tr.315]
7 ‘…sich selbst, das sich iiberhort hat und iiberhort im Hinhiiren auf das Man.’ Trong đoạn này, Heidegger khai thác ba biến thể của động từ ‘horen’ (nghe/lắng nghe): ‘horen auf…’ (tương đương với ‘lắng nghe...’ trong tiếng Anh), ‘iiberhoren’ (‘không nghe thấy’ hoặc ‘bỏ qua không nghe’), và 'hinhoren' ('hướng sự chú ý lắng nghe ra bên ngoài'). Động từ 'iiberhoren' có hai cách dùng khá khác biệt. Nó có thể mang nghĩa là hành động 'nghe' của một giáo viên khi họ 'nghe' học sinh đọc thuộc lòng bài học; nhưng nó cũng có thể mang nghĩa là 'không nghe thấy', thậm chí là 'phớt lờ' điều gì đó. Đây dường như là ý nghĩa mà Heidegger chú trọng nhất; tuy nhiên, có lẽ ông cũng muốn ám chỉ rằng khi một người bị cuốn vào cái "họ" (das Man), người đó chỉ 'nghe' thấy Bản thân mình theo kiểu một giáo viên làm việc chiếu lệ: 'nghe' học sinh đọc bài mà không 'thực sự lắng nghe' nội dung đó. Trong tiếng Đức thông thường, động từ 'hinhoren' hầu như chỉ có nghĩa đơn thuần là 'lắng nghe'; nhưng Heidegger lại nhấn mạnh vào tiền tố 'hin-', gợi ý rằng người ta đang lắng nghe một điều gì đó khác biệt với chính mình—tức là hướng sự chú ý lắng nghe ra bên ngoài, và trong trường hợp này là lắng nghe cái 'họ'. Các động từ khác liên quan đến nghe và lắng nghe, xem Mục 34 ở trên, đặc biệt là từ đoạn H. 163 trở đi. [tr.316]
8 ‘Dieses Hinhoren muss gebrochen, das heisst es muss vom Dasein selbst die Moglichkeit eines Horens gegeben werden, das jenes unterbricht.’ [tr.316]
9 ‘…zum verlorenen Horen…’ Người ta có thể nghi ngờ rằng 'mất thính lực' là khả năng nghe mà người ta 'mất' do 'không nghe được' ; nhưng Heidegger có thể muốn nói đúng hơn là kiểu nghe mà người ta thực hiện khi người ta lạc vào “họ”-‘Uberhoren’ của Bản ngã của chính mình và ‘Hinhoren’ đối với ‘họ’. [tr.316]
10 'Bạn có đang tức giận không?' [tr.217]
