Powered By Blogger

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN I: DIỄN GIẢI DASEIN - THỜI GIAN: CHÂN TRỜI SIÊU VIỆT CỦA HỮU THỂ

MỤC I: PHÂN TÍCH CƠ BẢN CHUẨN BỊ VỀ DASEIN

 [Tr.66] Trong câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, điều được đặt ra chủ yếu là những hiện hữu có đặc tính của Dasein. Phân tích hiện sinh chuẩn bị về Dasein, phù hợp với đặc điểm riêng của nó, phải được trình bày một cách khái quát và phân biệt với các loại nghiên cứu khác dường như song hành (Chương 1). Tuân thủ quy trình mà chúng ta đã xác định để bắt đầu công cuộc nghiên cứu, chúng ta phải phơi bày một cấu trúc cơ bản trong Dasein: Hữu-thể-trong-thế-giới (Chương 2). Trong việc diễn giải về Dasein, cấu trúc này là một cái gì đó a priory ‘tiên nghiệm’; nó không được ghép lại với nhau, mà là một chỉnh thể nguyên thủy và liên tục. Tuy nhiên, nó cung cấp cho chúng ta nhiều cách nhìn khác nhau về các yếu tố cấu thành nên nó. Toàn bộ cấu trúc này luôn luôn xuất hiện trước tiên; nhưng nếu chúng ta thường xuyên ghi nhớ điều này, thì các hạng mục ấy, với tư cách là hiện tượng, sẽ được làm nổi bật. Và như vậy, chúng ta sẽ có các đối tượng để phân tích: thế giới trong Weltlichkeit Thế gian tính của nó (Chương 3), Hiện-hữu-trong-Thế-gian là Hiện-hữu-với và Hiện-hữu-của-Tự-ngã (Chương 4), và Hiện-hữu-trong đúng nghĩa (Chương 5). Bằng cách phân tích cấu trúc cơ bản này, Hữu thể của Dasein có thể tạm thời được chỉ ra. Ý nghĩa hiện sinh của nó là sự quan tâm (Chương 6).

[Chen ngang về Weltlichkeit/Worldhood Thế gian: Trong triết học của Martin Heidegger, Thế gian đề cập đến cấu trúc nền tảng, mạng lưới ý nghĩa và bối cảnh tạo nên một ‘Thế gian’ khả thể ngay từ đầu. Thay vì là một vật chứa vật lý của các đối tượng, nó là bối cảnh của các quy chiếu và thực tiễn xã hội mà qua đó con người tồn tại và điều hướng cuộc sống hàng ngày. Heidegger giới thiệu khái niệm này trong Hữu thể và Thời gian (1927), để cách mạng hóa phương thức hiểu và lý giải của chúng ta về sự tồn tại của con người mà ông gọi là Dasein, Có đó hay ‘hiện hữu’. Lý giải về thế gian liên quan đến việc khám phá một số ý tưởng cốt lõi: 1. Thế gian như một mạng lưới các mối quan hệ; Heidegger cho rằng chúng ta không gặp gỡ các đối tượng như những thứ riêng lẻ, hình học, thứ mà ông gọi là vorhanden hiện-diện-trong-tầm-tay. Thay vào đó, chúng ta gặp chúng như những Zeug - công cụ có mục đích trong một mạng lưới rộng lớn hơn. Ví dụ, một cái búa chỉ tồn tại trong mối liên hệ với một cái đinh, gỗ và hành động xây dựng. Do đó, thế giới là toàn bộ mạng lưới các nhiệm vụ và quy chiếu này. Sẵn-sàng-trong-tầm-tay: Chúng ta tương tác với môi trường xung quanh một cách thực tế hơn là lý thuyết. Khi sử dụng búa một cách thành thạo, ta không hề ý thức về hình dạng hay trọng lượng của nó. Heidegger gọi trạng thái này là Zuhandenheit trạng thái sẵn sàng trong tay. Bản chất thực sự của một ‘Thế giới’ được bộc lộ không phải khi chúng ta đứng lại và quan sát vũ trụ một cách khoa học, mà là khi chúng ta đắm mình trong các hoạt động thực tiễn, thường nhật của mình. Trong khi đó cái Weltlichkeit/Worldhood Thế gian như một Thế gian Hiện sinh lại không phải là một thuộc tính của Thế giới vật chất, mà là một Hiện sinh—một đặc điểm cơ bản của Dasein/Tồn tại người. Con người vốn dĩ là In-der-Welt-sein ‘Hiện-hữu-trong-thế-giới. Ta không thể tách rời sự tồn tại của con người khỏi bối cảnh tạo-ý-nghĩa mà nó hoạt động; làm người là tích cực sống trong một Thế gian được cấu trúc. Tình trạng đổ vỡ: Khi Thế gian Tự Bộc lộ chúng ta thường coi đó là cái thế giới hiển nhiên. Tuy nhiên, thế gian trở nên rõ nét hơn khi một công cụ bị hỏng. Nếu đầu búa văng ra, chiếc búa đột nhiên chuyển từ trạng thái ‘sẵn sàng sử dụng’ [vô hình và hữu dụng] sang trạng thái ‘hiện-diện-trong –tay’ [một vật thể vô dụng, bị hỏng chiếm chỗ]. Trong khoảnh khắc đổ vỡ này, toàn bộ mạng lưới quy chiếu được soi sáng, và chúng ta nhận thức rõ ràng về cái Weltlichkeit Thế gian làm nền tảng cho hành động của mình. Thế gian là Thế gian kiến tạo nên - trong các tác phẩm sau này, Heidegger mở rộng tư tưởng này bằng cách chủ động sử dụng thuật ngữ die Welt weltet ‘Tạo thế’. Thay vì là một giai đoạn tĩnh, thế giới là một quá trình năng động, gerundive liên tục. Đó là hoạt động tạo ra ý nghĩa, thông qua đó con người mang bối cảnh, chân lý và ý nghĩa vào cuộc tồn tại.- HHN]

I. MÔ TẢ NHIỆM VỤ PHÂN TÍCH CHUẨN BỊ CỦA DASEIN

9. Chủ đề Phân tích Dasein

[Tr.67] Chính chúng ta là những hiện hữu cần được phân tích. Hữu thể của bất kỳ hiện hữu nào như vậy trong mỗi trường hợp đều là của tôi.1 Những hiện hữu này, trong Hữu thể của chúng, tự hướng tới Hữu thể của mình. Là những hiện hữu có Hữu thể như vậy, chúng được giao phó cho Hữu thể của chính chúng.2 Hữu thể là vấn đề của mọi thực thể như vậy.3 Cách mô tả này về Dasein có hệ quả kép:

I. Cái Wesen ‘bản chất’ của hiện hữu này nằm ở cái Zu-sein ‘là’ của nó. Was-sein essentia Bản-hữu-là-cái-nó-là của nó, nếu chúng ta có thể nói đến, phải được hình dung trong khuôn khổ Hữu thể existentia của nó. Nhưng ở đây, nhiệm vụ bản thể luận của chúng ta là chỉ ra rằng khi chúng ta chọn gọi Hữu thể của hiện hữu này là Existenz tồn tại, thì thuật ngữ này lại không thể có ý nghĩa bản thể luận của thuật ngữ truyền thống existentia; về mặt bản thể học, existentia tương đương với Hữu-thể-hiện-diện-trong-tầm-tay, một loại Hữu thể về cơ bản lại không phù hợp với các hiện hữu có đặc tính của Dasein. Để tránh nhầm lẫn, chúng ta sẽ luôn sử dụng cách diễn đạt diễn giải ‘hiện-diện-trong-tay’ cho thuật ngữ existentia, trong khi thuật ngữ ‘sự tồn tại’, như một chỉ định về Hữu thể, sẽ chỉ được dành riêng cho Dasein. Bản chất của Dasein nằm ở sự tồn tại của nó. Theo đó, những đặc điểm có thể được phô bày trong hiện hữu này lại không phải là các ‘thuộc tính’ hiện-diện-trong-tay của một hiện hữu nào đó ‘trông’ như thế này thế kia và bản thân nó cũng hiện-diện-trong-tay; trong mỗi trường hợp chúng là những cách thức khả thể để nó tồn tại, và không hơn thế nữa. Toàn bộ cái Hữu-thể-như-nó-vốn-có mà hiện hữu này sở hữu chủ yếu là Hữu thể. Vì vậy, khi gọi hiện hữu này bằng ‘Dasein’, có nghĩa là chúng ta không diễn tả ‘cái gì’ của nó (như thể nó là một cái bàn, một ngôi nhà hay một cái cây) mà là Hữu thể của nó. 

2. Hữu thể đó vốn là một vấn đề đối với hiện hữu này trong chính Hữu thể của nó, trong mỗi trường hợp đều là của tôi. Do đó, về mặt bản thể luận Dasein không bao giờ được coi như một [tr.68] trường hợp cụ thể hoặc trường hợp đặc biệt của một giống loài hiện hữu như những sự vật hiện-diện-trong-tay.4 Đối với những hiện hữu như vậy, Hữu thể của chúng là ‘một vấn đề không quan trọng’;5 hay nói chính xác hơn, chúng ‘là’ ở mức Hữu thể của chúng không thể là một vấn đề không quan trọng đối với chúng, cũng không phải là cái trái ngược. Bởi vì trong mỗi trường hợp Dasein đều có Jemeinigkeit tính của tôi của nó, nên người ta luôn phải sử dụng đại từ nhân xưng khi xưng hô với nó: ‘Tôi là’, ‘Anh là’. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Jemeinigkeit ‘Tính của tôi’ mô tả bản chất không thể tránh khỏi, mang tính cá nhân sâu sắc của sự tồn tại của con người. Nó có nghĩa là sự tồn tại của tôi về cơ bản và luôn luôn là của riêng tôi. Nó làm nổi bật một số ý tưởng nền tảng về cách con người trải nghiệm thực tại, ở ngôi thứ nhất sự tồn tại của Dasein con người là nghiệm sống từ bên trong ra ngoài; tôi không thể coi sự tồn tại của mình như một sự thật khách quan, xa vời; tôi là người đang sống, cảm nhận và đưa ra lựa chọn. Vì vậy không có con người chung chung; tôi không là một thành viên có thể thay thế của một loài hoặc một đối tượng chung chung; cuộc sống của tôi là độc nhất và cá nhân; quyền sở hữu Hữu thể - cho dù tôi đang sống một cách chân thực - trung thực với chính mình - hay không chân thực - làm theo những gì xã hội mong đợi; cả hai cách sống này về cơ bản vẫn thuộc về tôi để tôi tự giải quyết; vì vậy Jemeinigkeit biểu thị rằng tồn tại là thứ gì đó mà tôi phải chịu trách nhiệm cá nhân và liên tục can dự.-HHN]

Hơn nữa, trong mỗi trường hợp, Dasein đều thuộc về tôi theo cách này hay cách khác. Dasein luôn đưa ra một quyết định nào đó về cách thức mà nó thuộc về tôi trong mỗi trường hợp. Cái hiện hữu mà trong Hữu thể của nó có chính cái Hữu thể này như một vấn đề, tự cư xử hướng tới Hữu thể của nó như là khả tính tối thượng của chính nó. Trong mỗi trường hợp, Dasein là khả tính của nó, và nó ‘có’ cái khả tính này, nhưng không chỉ như một thuộc tính, như một thứ gì đó hiện-diện-trong-tay. Và bởi vì Dasein trong mỗi trường hợp về bản chất là cái khả tính của chính nó, nên trong chính Hữu thể của nó, nó có thể ‘lựa chọn’ chính mình và chiến thắng chính mình; nó cũng có thể đánh mất chính mình và không bao giờ chiến thắng chính mình; hoặc chỉ ‘có vẻ’ là như vậy. Nhưng chỉ khi về bản chất, nó là một thứ gì đó có thể là chân thực - tức là, một thứ thuộc về chính nó6 - thì nó mới có thể tự đánh mất chính mình và chưa chiến thắng chính mình. Với tư cách là các phương thức Hữu thể, tính chân thực và tính không chân thực (những thuật ngữ này được lựa chọn một cách nghiêm ngặt) đều dựa trên thực tế là bất kỳ Dasein nào cũng được đặc trưng bởi Jemeinigkeit tính của tôi.7 Nhưng tính không chân thực của Dasein không có nghĩa là Hữu thể ‘kém hơn’ hoặc ở mức độ Hữu thể ‘thấp hơn’. Thay vào đó, ngay cả trong sự cụ thể hóa đầy đủ nhất, Dasein vẫn có thể được đặc trưng bởi tính không chân thực - khi bận rộn, khi phấn khích, khi quan tâm, khi sẵn sàng tận hưởng. 

Hai đặc điểm của Dasein mà chúng ta đã phác thảo – ưu quyền của existentia tồn tại so với essentia bản chất, và thực tế là Dasein trong mỗi trường hợp đều là die Jemeinigkeit tính của tôi – đã chỉ ra rằng trong phân tích hiện hữu này, chúng ta đang đối mặt với một lĩnh vực hiện tượng đặc biệt. Dasein không có loại Hữu thể vốn thuộc về một thứ gì đó chỉ hiện-diện-trong-tay trong Thế gian, và nó cũng không bao giờ có loại Hữu thể đó. Vì vậy, nó cũng không được trình bày theo chủ đề như một cái gì đó bắt gặp theo cùng một cách như [tr.69] bắt gặp cái hiện-diện-trong-tay. Cách trình bày đúng đắn về nó còn xa mới đạt đến hiển nhiên đến nỗi là việc xác định hình thức mà nó có được là một phần thiết yếu của phân tích bản thể học về hiện hữu này. Chỉ bằng việc trình bày đúng cách cái hiện hữu này, mới có thể hiểu được Hữu thể của nó. Cho dù phân tích của chúng ta có mang tính tạm thời đến đâu, thì nó vẫn luôn đòi hỏi phải đảm bảo rằng chúng ta đã bắt đầu đúng hướng.    

Trong việc tự xác định mình như một hiện hữu, Dasein luôn làm như vậy dưới ánh sáng của một khả tính mà chính nó là và mà, trong chính Hữu thể của nó, nó bằng cách nào đó nó hiểu rõ. Đây là ý nghĩa hình thức của cấu thành hiện sinh của Dasein. Nhưng điều này cho chúng ta biết rằng nếu chúng ta muốn Diễn giải hiện hữu này về mặt bản thể luận, thì vấn đề về Hữu thể của nó phải được phát triển từ tính hiện sinh của sự tồn tại của nó. Tuy nhiên, điều này không thể có nghĩa là ‘Dasein’ được hiểu theo một khuôn khổ ý niệm khả thể cụ thể nào đó về tồn tại. Ngay từ đầu phân tích, điều đặc biệt quan trọng là Dasein không nên được Diễn giải với đặc tính khác biệt của một cách tồn tại nhất định, mà nó nên được khám phá trong đặc tính không phân biệt mà nó có một cách gần gũi và phần lớn là như vậy. Đặc tính thường nhật không phân biệt này của Dasein không phải là hư vô, mà là một đặc điểm hiện tượng tích cực của hiện hữu này. Từ loại Hữu thể này - và trở lại với nó - mà tất cả mọi tồn tại, như nó vốn có.8 Chúng ta gọi tính thường nhật không phân biệt này của Dasein là ‘trạng thái trung bình’ Durchschnittlichkeit.

[Chen ngang: Durchschnittlichkeit des Daseins Khái niệm ‘Trạng thái trung bình của Daseins của Martin Heidegger mô tả cách con người trong cuộc sống thường nhật có xu hướng sống không chân thực, mà theo lối sống tuân thủ và hời hợt. Dasein bị lạc lối trong các quy ước, trong đám đông và trong các hoạt động thường nhật, thay vì sống cuộc đời của chính mình một cách có ý thức và tự chủ. Những điểm cốt lõi quan trọng nhất của khái niệm này có thể được chia thành các phần sau: i) Alltägliche Durchschnittlichkeit Trạng thái trung bình thường nhật’ Trong giai đoạn không chân thực, con người không sống như những cá nhân đích thực, mà là một phần của khối lượng vô danh, mà Heidegger gọi là Das Man ‘Chúng/Họ’. Trong trạng thái này chúng ta suy nghĩ, phán xét và hành động wie man es eben macht ‘như người ta vẫn thường làm’. Chúng ta chấp nhận các ý kiến ​​và xu hướng một cách thiếu phê phán, mà không đặt câu hỏi về chúng, vì vậy tính độc đáo cá nhân và sự tự hiểu biết đích thực bị mất đi; ii) Verfallenheit Hiện tượng sa ngã  và Heidegger cũng gọi trạng thái này là ‘Sa ngã’ vào Thế giới. Điều này có nghĩa là con người quá bận tâm đến những hoạt động bề ngoài của thế giới như công việc, tiêu dùng, chuyện phiếm, những thứ gây xao nhãng, đến nỗi họ quên mất câu hỏi cơ bản về ý nghĩa của Hữu thể; iii) Sự trốn chạy khỏi Tồn tại của chính mình; tính tầm thường về mặt tâm lý hoạt động như một cơ chế bảo vệ. Nhận thức về sự hữu hạn của bản thân và sự tự do tuyệt đối và trách nhiệm phải tự định hình cuộc sống của mình có thể gây ra lo lắng. Để thoát khỏi gánh nặng hiện sinh này, Dasein chạy trốn vào Durchschnittlichkeit des Alltags Tính trung bình thoải mái và an toàn của cuộc sống hàng ngày; iv) Con đường đến Eigentlichkeit (Authentizität) Tính chân thực: Tính Trung bình không phải là số phận không thể tránh khỏi, mà chỉ đơn thuần là một phương thức cụ thể của Dasein. Cách thoát khỏi sự tha hóa này nằm ở việc nhận ra tính bề ngoài này và "phấn đấu hướng tới cái chết và sự tự do của chính mình" - nghĩa là, có ý thức và chân thực chịu trách nhiệm về sự tồn tại của chính mình.-HHN]

Và bởi vì Durchschnittlichkeit Trạng thái trung bình thường nhật này tạo nên những gì gần gũi về mặt ontic thực hữu đối với hiện hữu này, nên nó đã nhiều lần bị bỏ qua trong việc giải thích Dasein. Cái gần gũi nhất và được biết đến nhất về phương diện ontic thực hữu, lại là cái xa nhất và hoàn toàn không được biết đến về mặt bản thể luận; và ý nghĩa bản thể luận của nó thường xuyên bị bỏ qua. Khi Augustine hỏi: ‘Quid autem propinquius meipso mihi?Nhưng liệu còn gì gần với tôi hơn bản thân tôi? Thì cũng chính ông đã tự trả lời: ‘ego certe laboro hic et laboro in meipso: factus sum mihi terra difficultatis et sudoris nimii’ ‘Ở đây tôi chắc chắn đã làm lụng chăm chỉ và làm lụng không ngừng: Tôi đã trở thành một vùng đất đầy gian khó và đã đổ biết bao mồ hôi trên cánh đồng cuộc đời mình.”,9 [Chen ngang: Quid autem propinquius meipso mihi? … Ego certe laboro hic et laboro in meipso: factus sum mihi terra difficultatis et sudoris nimii. Quyển X của công trình Confessions Tự thú của Thánh Augustine nhà triết học - thần học thế kỷ thứ 4). Nghịch lý của Tự ngã: Augustine đang vật lộn với sự trớ trêu tột cùng về phương diện triết học. Về mặt logic và trải nghiệm hiện sinh, thật không có gì  gần gũi hoặc được tôi biết rõ hơn chính bản thân mình. Tuy nhiên, việc hiểu được tâm trí, linh hồn và động cơ của chính mình lại vô cùng gian khổ. Đó thực sự chẳng khác nào gã nông phu còng lưng cày cuốc trên ‘cánh đồng’ cuộc đời mình: Augustine so sánh tâm trí và ý thức của mình với terra difficultatis đất đai chưa được canh tác trên một địa hình khắc nghiệt. Cần rất nhiều nỗ lực về tinh thần và tâm linh—được biểu thị bằng sudoris nimii ‘vô vàn mồ hôi’)—để xem xét những suy nghĩ, cám dỗ và sự phức tạp bên trong của chính mình. Trong lịch sử tự nghiệm sinh triết học, đoạn văn này sâu sắc đến nỗi Martin Heidegger đã sử dụng nó để làm nổi bật tình trạng của con người: mặc dù chúng ta tồn tại với tư cách là chính mình, nhưng Hữu thể của chúng ta thường mờ mịt, khó hiểu vì vậy phải đòi hỏi cả đời tự vật lộn khám phá để lý giải.-HHN] điều này không chỉ áp dụng cho hiện trạng mờ ảo về mặt thực hữu và tiền-bản thể luận của Dasein mà còn hơn thế nữa đối với nhiệm vụ bản thể luận đang chờ đợi phía trước; bởi vì hiện hữu này không chỉ không được bỏ sót trong loại Hữu thể mà nó gần gũi nhất về mặt hiện tượng, mà còn phải làm sao cho dễ tiếp cận bằng một quá trình đặc trưng hóa tích cực. Tuy nhiên, cái hiện trạng trung bình thường nhật của Dasein không nên được coi là một ‘khía cạnh’ đơn thuần. Ở đây, ngay cả trong trạng thái không chân thực, thì cái cấu trúc của tính hiện sinh vẫn còn tồn tại a priori tiên nghiệm. Và ở đây, cũng chính Hữu thể của Dasein lại là một vấn đề đối với nó theo một cách nhất định; và Dasein cư xử với nó theo cách thức bình thường hàng ngày, ngay cả khi đây chỉ là cách thức trốn tránh đối mặt và quên lãng nó.10   

[Tr.70] Nhưng việc giải thích về Dasein trong trạng thái trung bình thường nhật của nó không chỉ mang lại cho chúng ta những cấu trúc trung bình theo nghĩa bất minh mơ hồ. Bất cứ điều gì, với nó xét về mặt ontic thực hữu cũng chỉ ở mức trung bình, đều có thể được nắm bắt rất tốt về mặt bản thể học trong những cấu trúc đầy ý nghĩa, có thể không thể phân biệt được về mặt cấu trúc với một số đặc điểm bản thể học nhất định của một Hữu thể đích thực của Dasein. Tất cả explicata những điều đã được giải thích mà phân tích về Dasein tạo ra đều có được bằng cách xem xét cấu trúc-tồn tại của Dasein. Bởi vì các đặc điểm Hữu thể của Dasein được định nghĩa theo khuôn khổ trạng thái hiện sinh, chúng ta gọi chúng là existentialia phương thức hiện hữu. [Chen ngang: existentialia của Martin Heidegger đề cập đến các cấu trúc nền tảng định nghĩa sự tồn tại của con người, hay Dasein; phái sinh từ gốc Latin existere ‘nổi bật’ nó mô tả cách con người tồn tại về cơ bản trong thế giới—thay vì mô tả các đặc điểm vật lý; cách hiểu Existentialia tốt nhất là đối sánh nó với Categories và để nắm bắt được existentialia, điều hữu ích là hiểu chúng không phải là gì: Heidegger chia thế giới thành hai loại mô tả: i) Categories được sử dụng để mô tả các thuộc tính của các vật thể vật lý - những thứ chỉ đơn thuần là cái gì đó; chúng định nghĩa các đặc điểm có thể đo lường được như trọng lượng, hình dạng và thành phần hóa học; ii) còn Existentialia được độc quyền sử dụng để mô tả sự tồn tại của Dasein con người; thay vì các thuộc tính cố định, chúng đại diện cho các cách tồn tại năng động, chẳng hạn như tính hữu hạn của chúng ta như Being-toward-death Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, những lo lắng, tâm trạng, các mối quan tâm của Dasein. Cấu trúc hiện sinh cơ bản này được chia thành một số đặc điểm chính: Trạng thái tâm trí/Sự hòa hợp: Thực tế là con người luôn bị đặt vào một hoàn cảnh cụ thể, không do lựa chọn  - chẳng hạn như một thời đại lịch sử hoặc một cơ thể vật lý - và trải nghiệm điều này thông qua tâm trạng; Verstehen - hiểu biết là năng lực bẩm sinh của chúng ta để tự hình dung về những khả tính trong tương lai và điều hướng Thế gian một cách thực tế; Ngôn ngữ - diễn đạt khả năng hiểu biết; cách chúng ta tạo ra ý nghĩa cho thế giới của mình và giao tiếp thông qua ngôn ngữ; In-der-Welt-sein Hiện-hữu-trong-thế-giới, điều kiện cơ bản là con người không phải là những tâm trí cô lập, mà luôn luôn gắn bó một cách thực tế theo phương thức xã hội với môi trường xung quanh.-HHN]. Đó là những thứ cần được phân biệt rõ ràng với những gì chúng ta gọi là categories ‘các phạm trù’ - những đặc trưng của Hữu thể dành cho các hiện hữu có đặc điểm không phải là các đặc điểm của Dasein.11

Ở đây, chúng ta đang sử dụng thuật ngữ ‘phạm trù’ theo nghĩa bản thể luận cơ bản của nó và tuân theo nó. Trong bản thể luận của người cổ xưa, các hiện hữu mà chúng ta gặp trong thế giới12  được coi là những ví dụ cơ bản để giải thích về Thực thể. νοεῖν (hoặc λόγος, tùy trường hợp) được chấp nhận như một cách tiếp cận chúng.13 [Chen ngang: νοεῖν noein là một động từ Hy Lạp cổ thường được dịch sang tiếng Anh là ‘tư duy’, ‘nhận thức’; Heidegger bác bỏ cách dịch thông thường này, cho rằng nó làm giảm đi một trải nghiệm phong phú, mang tính tiếp nhận ban đầu thành logic phân tích hiện đại. Heidegger phân tích νοεῖν theo nghĩa Apprehension lưu tâm: Trong những nghiên cứu hiện tượng học ban đầu về Aristotle, Heidegger định nghĩa νοεῖν là sự nhận thức trực tiếp, không qua trung gian về một điều gì đó. Đó là sự nhận thức đơn giản, phi lý thuyết về một hiện tượng chính xác như nó thể hiện trước khi chúng ta hình thành những khẳng định hoặc phán đoán phức tạp về nó. Trong những lần tiếp xúc sau này với các triết gia tiền Socrates như Parmenides (cụ thể là trong loạt bài giảng ‘Tư duy là gì?’), Heidegger định nghĩa νοεῖν là in-die-Acht-nehmen—chú ý, để ý hoặc quan sát. Nó không chỉ đơn thuần là sự tiếp nhận dữ liệu giác quan một cách bản năng hay máy móc. Thay vào đó, nó đòi hỏi chúng ta phải cởi mở và sẵn sàng đón nhận Sự tồn tại, bảo vệ những gì hiện hữu bằng cách chăm sóc nó và để nó bộc lộ bản chất thực sự của mình. Νoεῖν gắn liền với εἶναι tồn tại. Heidegger diễn giải đoạn văn nổi tiếng của Parmenides ‘το γαρ αυτό νοείν εστίν τε και είναι’ - το ίδιο είναι η νόηση και το Είναι. ‘Cái tư duy là bản thân nó và là tồn tại’ - ‘Tư duy cũng chính là Hữu thể’ - có nghĩa là νοεῖν ‘tư duy’ đích thực của con người không phải là một hoạt động tinh thần biệt lập, mà là một sự cởi mở đáp lại sự hiện diện tự khải lộ của Hữu thể. - HHN]. Các hiện hữu được tìm thấy trong đó. Nhưng Hữu thể của các hữu thể này phải là thứ có thể được nắm bắt trong một loại λέγειν - cho phép nhìn thấy cái gì đó - đặc biệt, sao cho Hữu thể này trở nên dễ hiểu trước như chính nó - và như chính nó đã có trong mọi hiện hữu. Trong bất kỳ cuộc thảo luận (λόγος) nào về các hiện hữu, chúng ta trước đây đã hướng đến Hữu thể; sự hướng đến này là κατηγορεῖσθαι.14 [Κατηγορεῖσθαι là dạng bị động hiện tại của động từ κατηγορέω kategoreo, có nghĩa là ‘bị buộc tội’, ‘bị cáo buộc’ hoặc ‘bị phản đối’. -HHN]

Điều đó, trước hết, có nghĩa là đưa ra lời buộc tội công khai, khiển trách ai đó về điều gì đó trước mặt mọi người. Khi được sử dụng theo nghĩa bản thể luận, thuật ngữ này có nghĩa là đưa một hiện hữu ra xem xét, chất vấn, như thể, vì bất cứ điều gì nó là một hiện hữu - nghĩa là, để mọi người nhìn thấy nó trong Hữu thể của nó. Cái κατηγορίαι chất vấn, cáo buộc là những gì được nhìn thấy và những gì có thể nhìn thấy trong quá trình nhìn thấy đó.15  Chúng bao gồm nhiều cách khác nhau mà bản chất của những hiện hữu có thể được đề cập và thảo luận trong một λόγος –trật tự, lý trí, diễn ngôn - có thể được xác định trước. [Tr.71 Existentialia các phương thức hiện hữu và categories các phạm trù là hai khả tính cơ bản cho các đặc điểm của Hữu thể. Các hiện hữu tương ứng đòi hỏi các chất vấn sơ cấp: bất kỳ hiện hữu nào hoặc là một ‘ai’ (tồn tại) hoặc là một ‘cái gì’ (hiện diện trong tầm tay theo nghĩa rộng nhất). Mối liên hệ giữa hai phương thức các đặc điểm này của Hữu thể không thể được xử lý cho đến khi chân trời cho câu hỏi về Hữu thể được làm rõ.

Trong phần giới thiệu, chúng ta đã gợi ý rằng trong phân tích hiện sinh về Dasein, chúng ta cũng tiến tới một nhiệm vụ không kém phần cấp bách so với câu hỏi về Hữu thể – nhiệm vụ làm sáng tỏ nền tảng tiên nghiệm cần phải được nhìn thấy trước khi câu hỏi “con người là gì” có thể được thảo luận về mặt triết học. Phân tích hiện sinh về Dasein xuất hiện trước bất kỳ tâm lý học hay nhân học nào, và chắc chắn trước bất kỳ sinh học nào. Mặc dù đây cũng là những cách thức để nghiên cứu Dasein, chúng ta có thể xác định chủ đề phân tích của mình chính xác hơn nếu chúng ta phân biệt nó với những cách thức này. Và đồng thời, tính cần thiết của phân tích đó có thể được chứng minh một cách sắc bén hơn.

10. Phân biệt Phân tích Hiện sinh về Dasein với Nhân học, Tâm lý học và Sinh học

Sau khi một chủ đề nghiên cứu đã được phác thảo ban đầu bằng những khuôn khổ thực chứng, điều quan trọng là phải chỉ ra những gì cần phải loại trừ, mặc dù việc thảo luận về những gì sẽ không xảy ra có thể dễ dàng trở nên vô ích. Chúng ta phải chứng minh rằng những nghiên cứu và cách đặt câu hỏi về Dasein từ trước đến nay đã bỏ sót vấn đề triết học thực sự (mặc dù chúng có tính phồn sinh khách quan cao), và chừng nào còn tiếp tục bỏ sót vấn đề đó, chúng không có quyền tuyên bố có thể hoàn thành mục tiêu cơ bản mà chúng đang hướng tới. Khi phân biệt phân tích hiện sinh với nhân học, tâm lý học và sinh học, chúng ta sẽ chỉ giới hạn bản thân vào vấn đề về nguyên tắc là bản thể học. Sự phân biệt của chúng ta nhất thiết sẽ không đầy đủ từ quan điểm của ‘lý thuyết khoa học’ đơn giản vì cấu trúc khoa học của các ngành nói trên (không phải là ‘thái độ khoa học’ của những người đang nỗ lực phát triển chúng) ngày nay hoàn toàn đáng nghi vấn và cần được giải quyết theo những cách thức mới, bắt nguồn từ các vấn đề bản thể học.

Về mặt sử luận, mục tiêu của phân tích hiện sinh có thể được làm rõ hơn bằng cách xem xét Descartes, người được ghi nhận là đã đặt nền móng cho nghiên cứu triết học hiện đại bằng khám phá ra ‘cogito sum’ - tôi tư duy vì vậy tôi tồn tại. Ông nghiên cứu ‘cogitare’ tôi tư duy của cái  ‘ego’ bản ngã, ít nhất là trong một số giới hạn nhất định. Mặt khác, ông hoàn toàn không thảo luận về ‘sum’ ‘là’, mặc dù nó được coi là không kém phần nguyên thủy so với ‘cogito’. Phân tích của chúng tôi [tr.72] đặt ra câu hỏi bản thể học về Hữu thể của ‘sum’. Không phải cho đến khi bản chất của Hữu thể này được xác định, chúng ta mới có thể nắm bắt được loại Hữu thể nào thuộc về cogitationes các tư duy nào. [Chen ngang: Động từ Latin sum có nghĩa là ‘Tôi là’ - dạng hiện tại chỉ định ngôi thứ nhất số ít của động từ esse ‘là’; động từ này có từ thời cổ đại: es-, có nghĩa ‘là’ hoặc ‘tồn tại’; trong tiếng Phạn ásmi ‘Tôi là’, tiếng Hy Lạp eimí ‘Tôi là’. Đây là loại động từ bất quy tắc, bởi vì ‘là’ là một động từ lâu đời nhất và được sử dụng thường xuyên nhất trong ngôn ngữ loài người, nên nó rất bất quy tắc. Trong ngôn ngữ Latin có các dạng quen thuộc như sum ‘Tôi là’, es ‘anh/chị là’, est ‘Anh ấy/Cô ấy/Nó là’, và sunt ‘Họ là’.-HHN.]

Đồng thời, tất nhiên là việc minh họa mục đích của phương pháp lịch sử phân tích của chúng ta theo cách này là không chính xác. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta sẽ là chứng minh rằng nếu chúng ta coi một ‘cái tôi’ hay chủ thể là cái được cho sẵn một cách gần gũi, chúng ta sẽ hoàn toàn bỏ sót nội dung hiện tượng của Dasein. Về phương diện bản thể luận, mọi ý niệm về một ‘chủ thể’ - trừ khi được tinh chỉnh bởi một xác định bản thể luận trước đó về đặc tính cơ bản của nó - vẫn luôn đặt ὑποκείμενον subjectum chất nền đi kèm với nó, bất kể sự phản đối mạnh mẽ đến đâu về mặt thực hữu đối với ‘bản chất linh hồn’ hay ‘sự vật hóa của ý thức’. Dinglichkeit Bản tính sự vật đó hàm chứa phải được chứng minh nguồn gốc bản thể học của nó nếu muốn đặt câu hỏi về điều chúng ta cần hiểu một cách tích cực khi nghĩ về Hữu thể không bị vật hóa của chủ thể, linh hồn, ý thức, tinh thần, con người.

[Chen ngang: Dinglichkeit Thinghood Bản tính sự vật với Heidegger là bản chất của cái làm cho một thực thể vật lý trở thành một das Ding ‘vật’ chứ không chỉ đơn thuần là một đối tượng toán học hoặc sản xuất hàng loạt. Ông lập luận rằng một vật thực sự là một thực thể độc lập, giàu ý nghĩa, là điểm tựa cho thực tại của một cộng đồng, chứ không phải là một nguồn lực thụ động để được đo lường, kiểm soát hoặc tiêu thụ. Để hiểu điều này, Heidegger đã đưa ra một sự tương phản rõ nét giữa cách chúng ta tương tác với các vật dụng hàng ngày so với cách chúng ta nhìn nhận các vật thể công nghệ hiện đại: Gegenstand đối tượng, thường được gọi là ‘hiện-diện-trong-tầm-tay’, đây là một vật thể bị tước bỏ bối cảnh của nó và được xử lý hoàn toàn như một khối vật lý; đó là thứ mà chúng ta đứng đối diện, quan sát một cách khoa học hoặc tính toán như một nguồn lực. Das Ding Sự vật trong triết học sau này của ông chẳng hạn một chiếc bình gốm, Heidegger khám phá cách thức một đối tượng được chế tác thủ công, có ý nghĩa trở thành ‘vật thể’. Thay vì chỉ là một vật chứa vật lý, chiếc bình tập hợp đất, trời, con người và thần thánh, đóng vai trò là điểm tập trung cho một thế giới văn hóa chung. Heidegger lập luận rằng tư duy công nghệ hiện đại, chẳng hạn như chỉ nhìn vào một dòng sông như một nguồn năng lượng cần được khai thác, làm chúng ta mù quáng trước tính vật thể thực sự của thế giới, làm giảm đi sự kỳ diệu và ý nghĩa của môi trường xung quanh chúng ta thành những vật thể có thể tính toán được.- HHN]. Tất cả những khuôn khổ này đều đề cập đến các lĩnh vực hiện tượng xác định có thể được ‘hình thành’: nhưng chúng không bao giờ được sử dụng mà không kèm theo một sự thất bại đáng chú ý trong việc nhận ra nhu cầu tìm hiểu về Hữu thể của các hiện hữu được chỉ định như vậy. Do đó, chúng ta không tùy tiện về mặt thuật ngữ khi tránh sử dụng những thuật ngữ này - hoặc những biểu hiện như ‘cuộc sống’ và ‘con người’ - khi chỉ định những hiện hữu là bản thân chúng ta.

Mặt khác, nếu hiểu đúng, trong bất kỳ ‘triết học về sự sống’ nghiêm túc và có tư duy khoa học nào (cách biểu hiện này nói lên nhiều điều tương tự như ‘thực vật học về thực vật’) đều có một xu hướng không được thể hiện hướng tới hiểu biết về Hữu thể của Dasein. Điều đáng chú ý trong triết học như vậy (và có khiếm khuyết về nguyên tắc) là ở đây ‘sự sống’ tự nó như một loại Hữu thể không trở thành một vấn đề về mặt bản thể luận. Các nghiên cứu của Wilhelm Dilthey được thúc đẩy bởi câu hỏi muôn thuở về ‘sự sống’. Bắt đầu từ ‘sự sống’ như một tổng thể, ông đã cố hiểu các ‘Trải nghiệm’16 về nó trong mối liên hệ cấu trúc và phát triển của chúng. ‘Tâm lý học nhân văn’ của ông không còn hướng đến các yếu tố và tử tâm lý hay việc ghép nối đời sống tâm hồn lại với nhau, mà hướng đến Gestalten cấu hình và ‘cuộc sống như một tổng thể’.       

Tuy nhiên, ý nghĩa triết học của nó không nằm ở đây, mà nằm ở chỗ trong tất cả những điều này, trên hết, ông đang hướng tới câu hỏi về ‘cuộc sống’. Chắc chắn, chúng ta cũng có thể thấy rất rõ ở đây vấn đề của ông và tập hợp các khái niệm mà ông phải diễn đạt bằng lời [tr.73] đều bị hạn chế như thế nào. Tuy nhiên, những hạn chế này không chỉ được tìm thấy ở Dilthey và Bergson mà còn ở tất cả các phong trào ‘nhân cách luận’ mà họ đã định hướng và trong mọi xu hướng hướng tới một nhân học triết học. Diễn giải hiện tượng học nhân cách về nguyên tắc là triệt để hơn và minh bạch hơn; nhưng câu hỏi về Hữu thể của Dasein có một chiều kích mà điều này cũng không thể chạm tới. Dù Husserlii và Scheler có khác nhau đến đâu trong các nghiên cứu, phương pháp tiến hành và định hướng đối với thế giới nói chung, họ vẫn hoàn toàn nhất trí về khía cạnh phủ định trong các Diễn giải về nhân cách. Vấn đề về ‘Hữu thể cá nhân’ tự thân là một vấn đề mà họ không còn đặt ra nữa. Chúng tôi đã chọn Diễn giải của Scheler làm ví dụ, không chỉ vì nó dễ tiếp cận qua bản in,iii mà còn vì ông nhấn mạnh Hữu thể cá nhân một cách rõ ràng và cố gắng xác định đặc điểm của nó bằng cách định nghĩa Hữu thể cụ thể của các hành động trái ngược với bất cứ điều gì ‘thuộc về tâm lý’. Đối với Scheler, con người không bao giờ được coi là một Vật thể hay một bản chất; con người ‘đúng hơn là nhất tính của sống-trải được nghiệm sinh trực tiếp trong và cùng với Kinh nghiệm của chúng ta - không phải là một Vật thể chỉ được nghĩ đến đằng sau và bên ngoài những gì được Trải nghiệm trực tiếp";iv Con người không phải là một Hữu thể Giống-Vật thể và có bản chất. Hữu thể của ai đó cũng không hoàn toàn bị hấp thụ vào việc là chủ thể của các hành động lý tính tuân theo các quy luật nhất định.

Con người không phải là một Sự vật, không phải là một chất, không phải là một khách thể. Ở đây, Scheler nhấn mạnh điều mà Husserlv  gợi ý khi ông kiên định rằng nhất tính của con người phải có một Cấu thành khác biệt về bản chất so với cấu thành cần thiết cho nhất tính của các Sự vật thuộc Tự nhiên.16 Những gì Scheler nói về con người, ông cũng áp dụng cho các hành động: ‘Nhưng một hành động không bao giờ đồng thời là một khách thể; vì điều thiết yếu đối với Hữu thể của các hành động là ở chỗ chúng chỉ được Trải nghiệm trong chính quá trình thực hiện và được đem cho trong sự phản chiếu.'vi Hành động là một cái gì đó phi tâm lý. Về bản chất, con người chỉ tồn tại trong việc thực hiện các hành động có ý hướng tính, và do đó về bản chất nó không phải là một khách thể. Bất kỳ sự Khách thể hóa tâm lý nào đối với các hành động, và do đó bất kỳ cách nào coi chúng là một cái gì đó thuộc về tâm lý, đều tương đương với việc phi nhân cách hóa. Trong mọi trường hợp, một cá nhân được đưa ra như một người thực hiện các hành động có ý hướng tính được ràng buộc với nhau bởi nhất tính của một ý nghĩa. Do đó, Hữu thể tâm lý không liên quan gì đến Hữu thể cá nhân. Các hành động được thực hiện; con người là kẻ thực hiện các hành động. Tuy nhiên, ý nghĩa bản thể luận của ‘việc thực hiện’ là gì? Làm thế nào để xác định một cách tích cực về mặt bản thể luận loại Hữu thể nào thuộc về một người? Nhưng câu hỏi quan trọng không thể dừng lại ở đây. Nó phải đối mặt với Hữu thể của toàn bộ con người, kẻ thường được coi là một nhất tính của thân thể, [tr.74] linh hồn và tinh thần. Đến lượt mình, ‘thân thể’, ‘linh hồn’ và ‘tinh thần’ có thể chỉ định các lĩnh vực hiện tượng có thể được tách ra làm chủ đề cho các nghiên cứu cụ thể; trong một số giới hạn nhất định, tính không xác định về mặt bản thể luận của chúng có thể không quan trọng. . Tuy nhiên, khi chúng ta đến với câu hỏi về Hữu thể của con người, đây không phải là điều chúng ta có thể đơn giản tính toán17 bằng cách cộng lại những loại Hữu thể mà thân thể, linh hồn và tinh thần lần lượt sở hữu - những loại Hữu thể mà bản chất của chúng vẫn chưa được xác định. Và ngay cả khi chúng ta cố gắng thực hiện một quy trình bản thể luận như vậy, thì một số ý niệm về Hữu thể của cái toàn thể phải được giả định trước.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘Das Seiende, dessen Phân tích zur Aufgabe steht, sind wir je selbst. Das Sein chết Seienden ist je meines.' Người đọc không được có ấn tượng rằng có điều gì duy ngã trong câu thứ hai trong số những câu này. Vấn đề chỉ là loại Sinh vật thuộc về Dasein là loại mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể gọi là của riêng mình.

2 'Als Seiendes diees Seins ist es seinem eigenen Sein überantwortet.'

Các phiên bản trước đó có nội dung '. . . seinem eigenen Zu-sein….’

3 Xem ghi chú 2, tr. 28, H. 8 ở trên. [tr.67]

4 ‘….als Vorhandenem’. Các phiên bản trước có tính từ 'vorhandenem' thay vì tính từ thực chất.

5 ‘gleichgültig’. Tính từ này phải được phân biệt với tính từ ‘thờ ơ’ trong tiếng Đức, mặc dù cả hai đều có thể được dịch thông thường bằng từ ‘thờ ơ’ trong tiếng Anh mà chúng ta sẽ dành riêng cho tính từ ‘thờ ơ’ trong tiếng Anh. Trong hầu hết các đoạn văn, từ sau được dịch xuôi nhất là ‘không phân biệt’ hoặc ‘không có sự phân biệt thêm’; Tuy nhiên, đôi khi, có vẻ xuôi hơn là nên dịch nó bằng ‘Infamous’ với số vốn ban đầu. Chúng ta sẽ tuân theo những quy ước tương tự với danh từ ‘Gieichgültigkeit’ và ‘Indifferenz’.

6 ‘Und weil Dasein wesenhaft je seine Moglichkeit ist, kann dieses Seiende in seinem Sein sich selbst ‘wählen’, gewinnen, es kann sich verlieren, bzw. không có "scheinbar" của chúng tôi. Verloren habenkann es sich our und noch nicht sich gewonnen haben kann es nur, sofern es seinem. Yesen nach mogliches eigentliches, das heisst sich zueigen ist.'

Các phiên bản cũ hơn có 'je wesenhaft' và 'zueigenes'. Mối liên hệ giữa 'eigentlich' ('xác thực', 'thực') và 'eigen' ('riêng') bị mất trong bản dịch.

7. ‘….dass Dasein überhaupt durch Jemeini _g_kc;it bestimmt ist.’ [tr.68]

8 'A us dieer Seinsart heraus und in sie zurck ist alles Existieren, wie est ist.'

9 'Auch in ihr geht es dem Dasein in bestimmter Weise urn sein Sein, zu dem es sich im Modus der durchschnittlichen Alltaglichkeit verhalt und sei es auch nur im Modus der Flucht davor und des Vergessens seiner.' Để thảo luận thêm, xem Phần 40 bên dưới. [tr.69]

10 'Weil sie sich aus der Existenzialitat bestimmen, nennen wir die Seinscharaktere des Daseins Existenzialien. Sie sind scharf zu trennen von den Seinsbestimmungen des nicht daseinsmiissigen Seienden, die wir Kategorien nennen.'

11 '….das Innerhalb der Welt begegnende Seiende.' Nghĩa đen hơn: 'thực thể gặp gỡ trong thế giới.' Trong khi Heidegger thường sử dụng động từ 'begegnen' theo nghĩa chủ động nội động từ này, thì cấu trúc tương tự với từ 'encounter' trong tiếng Anh lại không tự nhiên và thô cứng. Theo quy tắc, chúng ta sẽ sử dụng hoặc cấu trúc bị động (như trong 'entities encountered') hoặc cấu trúc chủ động ngoại động từ (như trong 'entities we encounter').

12 ‘Als Zugangsart zu ihm gilt das νοεῖν bzw. der λόγος.’ Ở đây chúng ta tuân theo cách đọc của các ấn bản trước đó. Trong các ấn bản sau này, ‘Zugangsart’, được sử dụng khá thường xuyên, ở đây được thay thế bằng ‘Zugangsort’, xuất hiện rất hiếm và có lẽ là một lỗi in. Phiên bản sau này có thể được dịch như sau: νοεῖν (hoặc λόγος, tùy trường hợp) được chấp nhận là nơi tiếp cận các thực thể đó.’ Về νοεῖν và λόγος xem Phần 7 ở trên, đặc biệt là H. 32-34.

13 ‘Dasje schon vorgiingige Ansprechen des Seins im Besprechen (λόγος) des Seienden ist das κατηγορεῖσθαι.’

14 ‘Das in solchem ​​Sehen Gesichtete und Sichtbare….’ Về ‘Sehen’ và ‘Sicht’ xem H. 147 [p.70]

15 “Chết ‘Erlebnisse’ chết ‘Lebens’….” Mối liên hệ giữa ‘Leben’ (cuộc sống) và ‘Erlebnisse (Trải nghiệm) bị mất khi dịch. Một 'Erlebnis' không chỉ là bất kỳ 'trải nghiệm' nào (Erfahrung), mà là thứ mà chúng ta cảm nhận sâu sắc và 'sống trải'. Chúng ta sẽ dịch 'Erlebnis' và 'erleben' thành 'Experience' với chữ 'E' viết hoa, dành ‘experience’ cho 'Erfahrung' và 'erfahren'. [tr.72]

16 ‘….wenn er fur die Einheit der Person eine wesentlich andere Konstitution fordert als flir die der Naturdinge.' Chữ 'der' thứ hai chỉ xuất hiện trong các phiên bản sau. [tr.73]

17 Đọc 'errechnet'. Các ấn bản đầu tiên có 'verrechnet', với cách đọc chính xác được cung cấp trong danh sách lỗi. [tr.74]

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (V)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

7. Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận

C. Sơ bộ Khái niệm Hiện tượng luận

Khi chúng ta hình dung một cách cụ thể những gì đã trình bày trong phần Diễn giải về ‘hiện tượng’ và ‘logos’, chúng ta sẽ nhận thấy một mối quan hệ nội tại giữa những sự vật được hiểu bởi các thuật ngữ này. Từ ‘hiện tượng học’ có thể được diễn đạt bằng tiếng Hy Lạp là λέγειν τὰ φαινόμενα, [Chen ngang: Cụm từ tiếng Hy Lạp λέγειν τὰ φαινόμενα légein tà phainómena theo nghĩa đen là ‘nói về hiện tượng’ hoặc ‘nêu rõ những gì xuất hiện’. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, nó đề cập đến việc mô tả mọi thứ chính xác như chúng hiện diện trước sự quan sát, kinh nghiệm hoặc ý thức của con người, mà không áp đặt những lý thuyết chưa được chứng minh lên chúng. Ý nghĩa và cách sử dụng của cụm từ này phụ thuộc vào các bối cảnh triết học khác nhau: đối với Martin Heidegger cụm từ này được dùng để định nghĩa cốt lõi của hiện tượng học: λέγειν legein có nghĩa là ‘để cho cái gì đó được nhìn thấy’ hoặc ‘làm cho hiển lộ’, xuất phát từ ἀποφαίνεσθαι apophainesthai có nghĩa là ‘xuất hiện’, ‘đưa ra ánh sáng’, hoặc ‘trình bày’. Về phương diện ngữ pháp, nó là dạng động từ trung gian của động từ ἀποφαίνω apophaino với các nghĩa ‘trình bày’, ‘tuyên bố’, ‘tiết lộ’ hoặc ‘chứng minh’ đây là một động từ ghép giữa ἀπό apo- nghĩa là ‘từ’ hoặc ‘xa’ và φαίνω phaino là ‘trình bày’ hoặc ‘xuất hiện’.

Trong đời sống hàng ngày của người Hy Lạp cổ đại, nó thường có nghĩa là trưng ra để khoe khoang, hoặc đưa ra một tuyên bố/khẳng định điều gì đó. Về phương diện hiện tượng luận, trong triết học, đặc biệt là trong các tác phẩm của Aristotle và Martin Heidegger, nó thường được dịch là diễn ngôn mặc khải, đề cập đến việc để cho những gì tự hiển lộ được nhìn thấy từ chính nó, đưa sự thật hoặc một hiện tượng ra khỏi sự che giấu và vào ánh sáng ban ngày. Các từ τὰ φαινόμενα ta phainomena có nghĩa là ‘các hiện tượng’ — theo nghĩa đen là ‘những thứ xuất hiện’ hoặc ‘các hiện tượng’. Xuất phát từ động từ φαίνω phaino tỏa sáng, hiển hiện, xuất hiện, thuật ngữ này đề cập đến thế giới hữu hình được cảm nhận thông qua các giác quan của con người. Thời Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học tự nhiên và thiên văn học đã sử dụng cụm từ σῴζειν τὰ φαινόμενα sōdzein ta phainomena là một cụm từ triết học và khoa học cổ đại của Hy Lạp, có nghĩa là ‘bảo tồn hiện tượng’ hoặc ‘bảo tồn vẻ bề ngoài’. Trong tiếng Hy Lạp cổ đại, σῴζειν bảo tồn có nghĩa là giữ gìn, cứu vãn hoặc giữ vững. ‘Bảo tồn hiện tượng’ là một lý thuyết khoa học phải tôn trọng, giải thích và không mâu thuẫn với các sự kiện có thể quan sát được. τὰ φαινόμενα đề cập đến dữ liệu hoặc vẻ bề ngoài có thể quan sát được. Đối với Martin Heidegger cụm từ λέγειν τὰ φαινόμενα nói về các hiện tượng được coi là mệnh lệnh của triết học: để cho mọi vật tự bộc lộ như chúng vốn có mà không áp đặt những định kiến ​​bên ngoài hay các giả định siêu hình, trong đó λέγειν có nghĩa là απόφαίνεσθαι. HHN] Như vậy, ‘hiện tượng học/luận’ có nghĩa là απόφαίνεσθαι τὰ φαινόμενα - để cho cái tự biểu hiện được nhìn thấy từ chính nó theo đúng cách mà nó tự biểu hiện. Đây là ý nghĩa hình thức của ngành nghiên cứu tự gọi mình là ‘hiện tượng học/luận’. Ở đây ta không nói gì khác ngoài châm ngôn nêu trên: ‘Hướng đến chính bản thân sự vật!’ Do đó, thuật ngữ ‘hiện tượng học’ hoàn toàn khác về ý nghĩa so với các thuật ngữ như ‘thần học’ và tương tự. Những thuật ngữ đó chỉ định [tr.59] các đối tượng của các ngành khoa học tương ứng theo chủ đề mà chúng bao gồm tại thời điểm đó [trong ihrer jeweiligen Sachhaltigkeit các sự thật tương ứng của chúng].

‘Hiện tượng học’ không chỉ định đối tượng nghiên cứu của nó, vì vậy cũng không mô tả chủ đề được bao gồm trong nó. Từ này chỉ đơn thuần cho chúng ta biết ‘cách thức’ mà với nó những gì được xử lý trong khoa học này được thể hiện và vận dụng. Có một khoa học 'về' hiện tượng có nghĩa là nắm bắt các đối tượng của nó theo cách mà mọi thứ về chúng được đưa ra thảo luận phải được xử lý bằng cách thể hiện trực tiếp và chứng minh trực tiếp.1  Thuật ngữ ‘hiện tượng học mô tả’, về cơ bản là trùng lặp, có cùng ý nghĩa. Ở đây ‘mô tả’ không có nghĩa là một quy trình như chúng ta thấy, chẳng hạn, trong hình thái học thực vật; thuật ngữ này mang ý nghĩa của một sự cấm đoán – tránh việc mô tả bất cứ điều gì mà không có sự chứng minh như vậy. Đặc tính của chính sự mô tả này, ý nghĩa cụ thể của λόγος logos, trước hết có thể được xác định dựa trên Sachheit ‘tính sự vật’  của cái cần được ‘mô tả’ – nghĩa là, của cái cần được xác định rõ ràng về mặt khoa học khi chúng ta chạm trán với nó về phương diện hiện tượng. Ý nghĩa của ‘hiện tượng’, được hiểu cả về mặt hình thức lẫn cách hiểu thông thường, là bất kỳ sự trình bày nào về một thực thể như nó tự thể hiện mình, đều có thể được gọi là ‘hiện tượng học’ với sự biện minh về mặt hình thức.

Vậy cần phải xem xét điều gì nếu khái niệm hình thức về hiện tượng phải được giải hình thức hóa thành quan niệm hiện tượng học, và làm thế nào để phân biệt quan niệm hiện tượng học này với quan niệm thông thường? Hiện tượng học ‘cho chúng ta thấy’ điều gì? Điều gì phải được gọi là ‘hiện tượng’ theo một nghĩa riêng biệt? Điều gì mà bản chất của nó nhất thiết là chủ đề mỗi khi chúng ta trình bày điều gì đó một cách rõ ràng? Rõ ràng, đó là điều gì đó gần gũi và phần lớn không tự biểu hiện ra: đó là điều gì đó nằm ẩn giấu, trái ngược với điều gần gũi và phần lớn biểu hiện ra; nhưng đồng thời đó là điều thuộc về những gì biểu hiện ra, và nó thuộc về điều đó một cách thiết yếu đến mức cấu thành ý nghĩa và nền tảng của nó. Tuy nhiên, điều gì vẫn ẩn giấu một cách nghiêm trọng, hoặc điều gì tái phát và bị che đậy lại, hoặc điều gì chỉ biểu hiện ra ‘dưới vỏ bọc’, không chỉ là hiện hữu này hay thực thể kia, mà đúng hơn là Hữu thể của các hiện hữu, như những quan sát trước đây của chúng ta đã chỉ ra. Hữu thể này có thể bị che giấu đến mức bị lãng quên và không còn nghi ngờ gì về nó hay về ý nghĩa của nó. Như vậy, cái đòi hỏi nó phải trở thành một hiện tượng, và đòi hỏi điều này theo một nghĩa đặc biệt và xét về nội dung cốt lõi nhất của nó như một sự vật, chính là điều mà hiện tượng học đã nắm bắt về mặt chủ đề như là đối tượng nghiên cứu của nó.

[Tr.60] Hiện tượng học là cách chúng ta tiếp cận chủ đề của bản thể học, và đó cũng là cách chúng ta mang lại sự chính xác mang tính chứng minh cho nó. Chỉ với tư cách là là hiện tượng học thì bản thể luận mới trở nên khả thể. Trong quan niệm hiện tượng học về ‘hiện tượng’, điều người ta nghĩ đến như là cái tự biểu hiện chính là Hữu thể của các hiện hữu, ý nghĩa của nó, các biến thể và dẫn xuất của nó.2 Cái tự-biểu hiện này không chỉ là bất kỳ tự-biểu hiện nào, cũng không phải là thứ gì đó xuất hiện. Trên hết, Hữu thể của các hiện hữu không bao giờ có thể là bất cứ thứ gì mà ‘đằng sau nó’ là một thứ gì đó khác ‘không xuất hiện’. ‘Đằng sau’ các hiện tượng của hiện tượng học về cơ bản không có gì khác; cái sẽ trở thành một hiện tượng có thể bị che giấu. Chính vì các hiện tượng gần gũi và phần lớn không được cho sẵn, nên mới cần đến hiện tượng học. Tình-trạng-che-giấu là khái niệm đối lập với ‘hiện tượng’.         

[Chèn nguyên bản Đức văn: C. Der Vorbegriff der Phänomenologie Bei einer konkreten Vergegenwärtigung des in der Interpretation von »Phänomen« und »Logos« Herausgestellten springt ein innerer Bezug zwischen dem mit diesen Titeln Gemeinten in die Augen. Der Ausdruck Phänomenologie läßt sich griechisch formulieren: λέγειν τὰ φαινόμενα; λέγειν besagt aber ἀποφαίνεσθαι. Phänomenologie sagt dann: ἀποφαίνεσθαι τὰ φαινόμενα: Das was sich zeigt, so wie es sich von ihm selbst her zeigt, von ihm selbst her sehen lassen. Das ist der formale Sinn der Forschung, die sich den Namen Phänomenologie gibt. So kommt aber nichts anderes zum Ausdruck als die oben formulierte Maxime: »Zu den Sachen selbst!« (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.34– HHN] Tạm dịch nghĩa: C. Khái niệm sơ bộ về hiện tượng học: Khi xem xét cụ thể những gì được nhấn mạnh trong cách diễn giải ‘hiện tượng’ và ‘logos’, mối liên hệ nội tại giữa ý nghĩa của các thuật ngữ này trở nên rõ ràng. Thuật ngữ hiện tượng học có thể được diễn đạt bằng tiếng Hy Lạp: λέγειν τὰ φαινόμενα nói về các sự vật xuất hiện; tuy nhiên, λέγειν legein nói có nghĩa là ἀποφαίνεσθαι apophainesthai có nghĩa là ‘xuất hiện’, ‘đưa ra ánh sáng’, hoặc ‘trình bày’. Do đó hiện tượng học cho rằng: ἀποφαίνεσθαι τὰ φαινόμενα apophainesthai ta phainomena: Để cho cái tự bộc lộ được nhìn thấy từ chính nó, giống như cách nó tự bộc lộ. Đây là ý nghĩa hình thức của nghiên cứu tự gọi là hiện tượng học. Điều này không gì khác ngoài châm ngôn đã nêu ở trên: ‘Hãy hướng đến chính bản thân sự vật!’

Der Titel Phänomenologie ist demnach hinsichtlich seines Sinnes ein anderer als die Bezeichnungen Theologie u. dgl. Diese nennen die Gegenstände der betreffenden Wissenschaft in ihrer jeweiligen Sachhaltigkeit. »Phänomenologie« nennt weder den Gegenstand ihrer Forschungen, noch charakterisiert der Titel deren Sachhaltigkeit. Das Wort gibt nur Aufschluß über das Wie der Aufweisung und Behand-lungsart [p.35] dessen, was in dieser Wissenschaft abgehandelt warden soll. Wissenschaft »von« den Phänomenen besagt: eine solche Erfassung ihrer Gegenstände, daß alles, was über sie zur Erörterung steht, in direkter Aufweisung und direkter Ausweisung abgehandelt werden muß. Denselben Sinn hat der im Grunde tautologische Ausdruck »deskriptive Phänomenologie«. Deskription bedeutet hier nicht ein Verfahren nach Art etwa der botanischen Morphologie – der Titel hat wieder einen prohibitiven Sinn: Fernhaltung alles nichtausweisenden Bestimmens. Der Charakter der Deskription selbst, der spezifische Sinn des λóγος, kann allererst aus der »Sachheit« dessen fixiert werden, was »beschrieben«, d. h. in der Begegnisart von Phänomenen zu wissenschaftlicher Bestimmtheit gebracht werden soll. Formal berechtigt die Bedeutung des formalen und vulgären Phänomenbegriffes dazu, jede Aufweisung von Seiendem, so wie es sich an ihm selbst zeigt, Phänomenologie zu nennen. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.34-35.–HHN] Tạm dịch nghĩa: Do đó, thuật ngữ ‘hiện tượng học’ khác về nghĩa với các thuật ngữ như ‘thần học’ và những thuật ngữ tương tự. Những thuật ngữ này gọi tên các đối tượng của khoa học tương ứng bằng nội dung thực tế tương ứng của chúng. ‘Hiện tượng học’ không nêu tên đối tượng nghiên cứu cũng không mô tả nội dung thực tế của nó. Từ này chỉ cung cấp thông tin về cách thức chứng minh và xử lý [tr.35] những gì cần được nghiên cứu trong khoa học này. Khoa học ‘về’ các hiện tượng có nghĩa là: nắm bắt các đối tượng của chúng đến mức mọi thứ liên quan đến chúng phải được xử lý thông qua chứng minh trực tiếp và minh chứng trực tiếp. Cách diễn đạt mang tính lặp thừa ‘hiện tượng học mô tả’ có cùng ý nghĩa. Ở đây mô tả không có nghĩa là một quy trình giống như hình thái học thực vật - thuật ngữ này lại có một ý nghĩa cấm đoán: loại trừ mọi xác định không mang tính mô tả. Đặc tính của chính sự mô tả, ý nghĩa cụ thể của λóγος logos, chỉ có thể được xác định từ ‘tính khách quan’ của cái cần được ‘mô tả’, tức là được đưa đến việc xác định khoa học theo phương thức tiếp cận với các hiện tượng. Về mặt hình thức, ý nghĩa của khái niệm hiện tượng, cả chính thức lẫn thông thường, cho phép gọi bất kỳ sự chứng minh nào về các hiện hữu khi nó tự biểu hiện là ‘hiện tượng học’.

Mit Rücksicht worauf muß nun der formale Phänomenbegriff zum phänomenologischen entformalisiert werden und wie unterscheidet sich dieser vom vulgären? Was ist das, was die Phänomenologie »sehen lassen« soll? Was ist es, was in einem ausgezeichneten Sinne »Phänomen« genannt werden muß? Was ist seinem Wesen nach notwendig Thema einer ausdrücklichen Aufweisung? Offenbar solches, was sich zunächst und zumeist gerade nicht zeigt, was gegenüber dem, was sich zunächst und zumeist zeigt, verborgen ist, aber zugleich etwas ist, was wesenhaft zu dem, was sich zunächst und zumeist zeigt, gehört, so zwar, daß es seinen Sinn und Grund ausmacht. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.35–HHN] Tạm dịch nghĩa: Vậy thì, khái niệm hình thức về hiện tượng cần được giải-hình thức hóa thành khái niệm hiện tượng học như thế nào, và khái niệm này khác với khái niệm thông thường ra sao? Hiện tượng học có nhiệm vụ ‘làm cho hiển lộ’ điều gì? Điều gì cần được gọi là ‘hiện tượng’ theo nghĩa đặc biệt? Theo bản chất của nó, điều gì nhất thiết phải là đối tượng của sự chứng minh rõ ràng? Rõ ràng, đó là những gì ban đầu và phần lớn không tự biểu hiện, những gì bị che giấu khỏi những gì ban đầu và phần lớn tự biểu hiện, đồng thời lại là những gì về bản chất thuộc về những gì ban đầu và phần lớn tự biểu hiện, theo cách cấu thành ý nghĩa và nền tảng của nó.

Was aber in einem ausnehmenden Sinne verborgen bleibt oder wieder in die Verdeckung zurückfällt oder nur »verstellt« sich zeigt, ist nicht dieses oder jenes Seiende, sondern, wie die voranstehenden Betrachtungen gezeigt haben, das Sein des Seienden. Es kann so weitgehend verdeckt sein, daß es vergessen wird und die Frage nach ihm und seinem Sinn ausbleibt. Was demnach in einem ausgezeichneten Sinne, aus seinem eigensten Sachgehalt her fordert, Phänomen zu werden, hat die Phänomenologie als Gegenstand thematisch in den »Griff« genommen. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.35– HHN] Tạm dịch nghĩa: Nhưng điều vẫn còn ẩn giấu theo một nghĩa đặc biệt, hoặc quay trở lại trạng thái che đậy, chỉ tự bộc lộ kiểu ‘ngụy trang’, không phải là hiện hữu này hay thực thể kia, mà, như trước đó đã chỉ ra, là Hữu thể của các hiện hữu. Nó có thể bị che giấu triệt để đến mức bị lãng quên, và câu hỏi về nó và ý nghĩa của nó vẫn chưa được giải đáp. Do đó, cái đòi hỏi phải trở thành một hiện tượng theo nghĩa đặc biệt, từ bản chất cốt lõi của nó, chính là chủ đề mà hiện tượng học đã chọn làm đối tượng nghiên cứu.

Phänomenologie ist Zugangsart zu dem und die ausweisende Bestimmungsart dessen, was Thema der Ontologie werden soll. Ontotogie ist nur als Phänomenologie möglich. Der phänomenologische Begriff von Phänomen meint als das Sichzeigende das Sein des Seienden, seinen Sinn, seine Modifikationen und Derivate. Und das Sichzeigen ist kein beliebiges noch gar so etwas wie Erscheinen. Das Sein [p.36] des Seienden kann am wenigsten je so etwas sein, »dahinter« noch etwas steht, »was nicht erscheint«. »Hinter« den Phänomenen der Phänomenologie steht wesenhaft nichts anderes, wohl aber kann das, was Phänomen warden soll, verborgen sein. Und gerade deshalb, weil die Phänomene zunächst und zumeist nicht gegeben sind, bedarf es der Phänomenologie. Verdecktheit ist der Gegenbegriff zu »Phänomen«.  (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.35-36.–HHN] Tạm dịch nghĩa: Hiện tượng học là phương thức tiếp cận và phương thức xác định cái sẽ trở thành chủ thể của bản thể luận. Bản thể luận chỉ có thể tồn tại với tư cách hiện tượng học. Khái niệm hiện tượng trong hiện tượng học, như là cái tự bộc lộ, biểu thị Hữu thể của các hiện hữu, ý nghĩa của chúng, sự biến đổi và các dẫn xuất của chúng. Và sự tự bộc lộ này không phải là tùy tiện, thậm chí cũng không giống như sự xuất hiện. Hữu thể [tr.36] của các hiện hữu không bao giờ có thể là một cái gì đó ‘đằng sau’ nó mà ‘không xuất hiện’. Về bản chất, không có gì khác đứng ‘đằng sau’ các hiện tượng của hiện tượng học, cái trở thành một hiện tượng chắc chắn có thể bị che giấu. Chính vì các hiện tượng ban đầu và hầu hết không được cho sẵn, nên cần thiết phải có hiện tượng học. Sự che giấu là trái ngược với ‘hiện tượng’. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.35-36. – HHN]

Có nhiều cách mà các hiện tượng có thể bị che lấp. Trước hết, một hiện tượng có thể bị che giấu theo nghĩa là nó vẫn còn hoàn toàn chưa được khám phá. Nó không được biết đến cũng không phải không được biết đến.3 Hơn nữa, một hiện tượng có thể verschütten bị chôn vùi. Điều này có nghĩa là nó đã từng được khám phá nhưng đã bị xuống cấp đến mức lại bị che giấu. Sự che giấu này có thể trở nên hoàn toàn; hay nói đúng hơn - và theo quy luật - những gì đã được khám phá trước đó vẫn có thể nhìn thấy được, mặc dù chỉ còn là một dáng vẻ mờ nhạt. Tuy nhiên, càng nhiều dáng vẻ, càng nhiều ‘Hữu thể’.4 Sự che giấu như một cách ‘ngụy trang’ này vừa là thường xuyên nhất vừa là nguy hiểm nhất, bởi vì ở đây khả tính lừa dối và gây hiểu lầm đặc biệt khó lường. Trong một ‘hệ thống’, có lẽ, những cấu trúc của Hữu thể - và các khái niệm của chúng - vẫn còn có đó nhưng bị che khuất trong bản tính vốn có của chúng, có thể đòi quyền của mình. Bởi vì khi chúng được liên kết với nhau theo cách tạo dựng trong một hệ thống, thì chúng tự thể hiện mình như một cái gì đó ‘rõ ràng’, không cần thêm sự biện minh nào nữa, và do đó có thể đóng vai trò là điểm khởi đầu cho một quá trình diễn dịch.

Bản thân sự che đậy, dù theo nghĩa giấu giếm, chôn vùi hay ngụy trang, lại có hai khả tính. Có những sự che đậy là ngẫu nhiên; cũng có những sự che đậy là cần thiết, dựa trên der Bestandart des Entdeckten cái mà sự vật được phát hiện bao gồm trong nó. Bất cứ khi nào một khái niệm hiện tượng học được rút ra từ các nguồn gốc nguyên thủy, [tr.61] thì đều có một khả tính là nó sẽ bị thoái hóa nếu được truyền đạt dưới dạng một khẳng định. Nó được hiểu một cách trống rỗng và do đó được truyền đi, mất đi đặc tính bẩm sinh của nó, và trở thành một luận điểm trôi nổi tự do. Ngay cả trong công trình cụ thể của bản thân hiện tượng học cũng tiềm ẩn cái khả tính là những gì đã từng ‘nằm trong nắm tay chúng ta’ từ nguyên thủy có thể trở nên cứng rắn đến mức chúng ta không còn nắm bắt được nó nữa. Và khó khăn của loại nghiên cứu này nằm ở việc làm cho nó tự phê phán theo nghĩa tích cực. Cách thức mà Hữu thể và các cấu trúc của nó được tiếp cận trong phương thức hiện tượng là một cách thức trước hết phải được giành lấy từ các đối tượng của hiện tượng học. Do đó, điểm xuất phát cho phân tích của chúng ta đòi hỏi phải được xác định bằng phương pháp thích hợp, cũng giống như việc tiếp cận hiện tượng, hay vượt qua bất cứ điều gì đang che khuất nó. Ý tưởng nắm bắt và giải thích các hiện tượng theo cách originaren ‘độc đáo’ và intuitiven ‘trực quan’ hoàn toàn trái ngược với sự ngây thơ của một sự ‘quan sát’ ngẫu nhiên, ‘ngay lập tức’ và Schauen thiếu suy xét.

Giờ đây, khi chúng ta đã xác định được khái niệm sơ bộ về hiện tượng học, thì các thuật ngữ ‘hiện tượng' và ‘thuộc về hiện tượng học’ cũng có thể được định nghĩa rõ ràng. Cái được cho sẵn và có thể giải thích được theo cách thức chạm trán hiện tượng được gọi là có ‘tính hiện tượng’; đây là điều chúng ta nghĩ đến khi nói về ‘cấu trúc hiện tượng’. Mọi thứ thuộc loại phô bày, giải thích, và góp phần tạo nên cách thức nhận thức mà nghiên cứu này đòi hỏi, được gọi là có ‘tính hiện tượng học’. Bởi vì các hiện tượng, khi được hiểu theo hiện tượng học, không bao giờ là gì khác ngoài những gì tạo nên Hữu thể, trong khi Hữu thể trong mọi trường hợp đều là Hữu thể của một hiện hữu nào đó, trước tiên chúng ta phải đưa ra chính các hiện hữu đó nếu mục đích của chúng ta là làm sáng tỏ Hữu thể; và chúng ta phải làm điều này theo đúng cách. Các hiện hữu này cũng phải tự thể hiện mình với kiểu tiếp cận thực sự thuộc về chúng. Và bằng cách này, khái niệm thông thường về hiện tượng trở nên có ý nghĩa về mặt hiện tượng học. Nếu phân tích của chúng ta muốn đạt được tính xác thực, thì mục tiêu của nó là phải xác định trước nhiệm vụ tự đảm bảo về phương diện ‘hiện tượng học’ của hiện hữu được dùng làm ví dụ, đã được ấn định như một điểm xuất phát của chúng ta.

Về chủ đề nghiên cứu, hiện tượng học là khoa học về Hữu thể của các hiện hữu – là Ontology Hữu thể luận. Trong việc giải thích các nhiệm vụ của Hữu thể luận, chúng ta thấy cần thiết phải có một Hữu thể luận cơ bản lấy hiện hữu mang tính Hữu thể luận-thực hữu đặc trưng, ​​Dasein, làm chủ đề, để đối mặt với vấn đề cốt lõi - câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Bản thân nghiên cứu của chúng ta sẽ cho thấy rằng ý nghĩa của việc mô tả hiện tượng luận như một phương pháp nằm ở việc diễn giải. Cái λόγος [tr.62] logos của hiện tượng luận về Dasein có đặc tính của một ἑρμηνεύείν hemeneuin hành động tường giải, [Ἐρμηνεύειν là động từ nguyên mẫu trong tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là ‘giải thích’, ‘diễn giải’ hoặc ‘dịch’; là gốc của từ ‘hermeneutics’ phép tường giải, dùng để chỉ việc nghiên cứu và lý thuyết về diễn giải, đặc biệt là đối với văn bản và triết học; ý nghĩa gốc là từ Ἑρμῆς Hermes, vị thần đưa tin, cai quản các ranh giới giao thoa giữa thế giới thần linh và phàm trần; giống như Hermes phải hiểu và phiên dịch ý chí của các vị thần cho người phàm, động từ ἑρμηνεύειν được dùng để mô tả việc làm sáng tỏ điều gì đó vốn dĩ bị che giấu hoặc xa lạ; ý nghĩa cốt lõi tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng, động từ này bao gồm một vài hành động có liên quan như giải thích làm bộc lộ ý nghĩa của thông điệp, giấc mơ hoặc dấu hiệu; phiên dịch - thu hẹp khoảng cách giữa hai ngôn ngữ khác nhau; tường giải - nói hoặc trình bày rõ ràng chi tiết một chủ đề khiến nó trở nên dễ hiểu. HHN] thông qua đó ý nghĩa đích thực của Hữu thể, cấu trúc cơ bản của Hữu thể mà chính Dasein sở hữu, được làm sáng tỏ cho hiểu biết của Dasein về Hữu thể. Hiện tượng luận về Dasein là một phép tường giải theo nghĩa nguyên thủy của từ này, nơi nó chỉ định công việc diễn giải này.

[Chen ngang nguyên bản Đức văn: Sachhaltig genommen ist die Phänomenologie die Wissenschaft vom Sein des Seienden – Ontologie. In der gegebenen Erläuterung der Aufgaben der Ontologie entsprang die Notwendigkeit einer Fundamentalontologie, die das ontologisch-ontisch ausgezeichnete Seiende zum Thema hat, das Dasein, so zwar, daß sie sich vor das Kardinalproblem, die Frage nach dem Sinn von Sein überhaupt, bringt. Aus der Untersuchung selbst wird sich ergeben: der methodische Sinn der phänomenologischen Deskription ist Auslegung. Der λόγος der Phänomenologie des Daseins hat den Charakter des ἑρμηνεύειν, durch das dem zum Dasein selbst gehörigen Seinsverständnis der eigentliche Sinn von Sein und die Grundstrukturen seines eigenen Seins kundgegeben werden. Phänomenologie des Daseins ist Hermeneutik in der ursprünglichen Bedeutung des Wortes, wonach es das Geschäft der Auslegung bezeichnet. Sofern nun aber durch die Aufdeckung des Sinnes des Seins und der Grundstrukturen des Daseins überhaupt der Horizont herausgestellt wird für jede weitere ontologische Erforschung des nicht daseinsmäßigen Seienden, wird diese Hermeneutik zugleich »Hermeneutik« im Sinne der Ausarbeitung der Bedingungen der Möglichkeit jeder ontologischen Untersuchung. Und sofern schließlich das Dasein den ontologischen Vorrang hat vor allem Seienden – als Seiendes in der Möglichkeit der Existenz, erhält die Hermeneutik als Auslegung des Seins des Daseins einen spezifischen dritten – den, philosophisch verstanden, primären Sinn einer Analytik der Existenzialität der Existenz erhält die Hermeneutik als Auslegung des Seins des Daseins einen spezifischen dritten – den, philosophisch verstanden, primären Sinn einer Analytik der Existenzialität der Existenz. In dieser Hermeneutik ist dann, sofern sie die Geschichtlichkeit des Daseins ontologisch ausarbeitet als die ontische Bedingung der Möglichkeit der Historie, das verwurzelt, was nur abgeleiteterweise »Hermeneutik« genannt werden kann: die Methodologie der historischen Geisteswissenschaften. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.37-38. – HHN] Tạm dịch nghĩa: Nói về bản chất, hiện tượng học là khoa học về Hữu thể của các hiện hữu—Bản thể luận. Trong giải thích đã cho về nhiệm vụ của bản thể luận, nảy sinh nhu cầu về một bản thể luận cơ bản lấy đối tượng là Dasein, một hiện hữu được phân biệt về mặt Bản thể luận và thực hữu, theo cách mà nó đối mặt với vấn đề cốt lõi, câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Từ tự thân quá trình nghiên cứu, sẽ thấy rõ rằng mục đích phương pháp luận của mô tả hiện tượng luận là việc diễn giải. Cái λόγος của hiện tượng luận về Dasein mang đặc tính của ἑρμηνεύειν dấu hiệu của Hữu thể, thông qua đó ý nghĩa thực sự của Hữu thể và các cấu trúc cơ bản của chính Hữu thể của nó được tiết lộ cho sự hiểu biết về Hữu thể thuộc về Dasein. Hiện tượng học về Dasein là hermeneutics phép tường giải theo nghĩa gốc của từ, biểu thị công việc diễn giải. Tuy nhiên, trong chừng mực việc khám phá ý nghĩa của Hữu thể và các cấu trúc cơ bản của chính tồn tại thiết lập chân trời cho bất kỳ khảo sát bản thể học nào sâu hơn về các hiện hữu phi-tồn tại, thì phép tường giải này đồng thời trở thành ‘phép tường giải’ theo nghĩa làm rõ các điều kiện khả tính cho bất kỳ nghiên cứu bản thể luận nào. Trong chừng mực Dasein cuối cùng có ưu quyền bản thể luận đối với tất cả các hiện hữu—như những hiện hữu trong khả tính tồn tại—thì phép tường giải - một diễn giải về Hữu thể của các Daseins, có được một ý nghĩa thứ ba cụ thể— hiểu về phương diện triết học, đó là ý nghĩa chính yếu của một phân tích về tính hiện sinh của sự tồn tại. Bằng phép tường giải này, trong chừng mực nó làm rõ bản thể luận cái sử tính của Daseins như là điều kiện bản thể luận của khả tính lịch sử, nằm ở cái chỉ có thể gọi là ‘phép tường giải’ theo nghĩa phái sinh: phương pháp luận của các nhân văn học lịch sử. (Heidegger M. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.37-38.–HHN]

Nhưng ở mức độ mà bằng cách khám phá ra ý nghĩa của Hữu thể và các cấu trúc cơ bản của Dasein nói chung, chúng ta có thể mở ra chân trời cho bất kỳ nghiên cứu Hữu thể luận nào sâu hơn về những hiện hữu không có đặc tính của Dasein, thì hermeneutic phép tường giải này cũng trở thành một ‘phép tường giải’ theo nghĩa tìm ra các điều kiện mà các khả tính của bất kỳ nghiên cứu Hữu thể luận nào cũng đều phụ thuộc vào đó. Và cuối cùng, ở mức độ mà Dasein, với tư cách là một hiện hữu có khả tính tồn tại, có ưu quyền bản thể luận so với mọi hiện hữu khác, thì ‘phép tường giải’, như một cách diễn giải về Hữu thể của Dasein, lại mang ý nghĩa thứ ba và đặc thù là phân tích về tính hiện sinh của sự tồn tại; và đây là ý nghĩa mang tính triết học cơ bản. Vì vậy, chừng nào phép tường giải này làm rõ được sử tính của Dasein về phương diện bản thể luận như là điều kiện ontic thực hữu cho cái khả tính của môn historiology sử luận, thì nó chứa đựng các nguồn cội của cái chỉ có thể được gọi là ‘hermeneutic’ phép tường giải theo nghĩa phái sinh: phương pháp luận của các ngành khoa học nhân văn mang đặc tính sử luận.

Hữu thể, với tư cách là chủ đề cơ bản của triết học, không phải là một lớp hay giống của các hiện hữu; tuy nhiên nó liên quan đến mọi hiện hữu. Tính ‘phổ quát’ của nó cần được tìm kiếm ở cấp độ cao hơn. Hữu thể và cấu trúc của Hữu thể nằm ngoài mọi hiện hữu và mọi đặc tính khả thể mà một hiện hữu có thể sở hữu. Hữu thể là transcendens cái siêu việt thuần túy và đơn giản.5 Và siêu việt thế Hữu thể của Dasein là đặc biệt ở chỗ nó hàm chứa cái khả tính và sự cần thiết của cái cá nhân hóa triệt để nhất. Mỗi sự tiết lộ về Bản thể như là transcendens cái siêu việt đều là tri thức tiên nghiệm. Chân lý hiện tượng luận (trạng thái bộc lộ của Hữu thể) là veritas transcendentalis chân lý tiên nghiệm. Hữu thể luận và hiện tượng luận không phải là hai ngành triết học riêng biệt trong số những ngành khác. Các thuật ngữ này đặc trưng cho chính triết học về đối tượng và cách thức xử lý đối tượng đó.

Triết học là bản thể học hiện tượng luận phổ quát, và xuất phát từ phép tường giải của Dasein, với tư cách là một phân tích về sự tồn tại, đã trở thành kim chỉ nam cho mọi nghiên cứu triết học tại điểm mà nó phát sinh và quay về. Nghiên cứu tiếp theo đã có thể thực hiện được nếu nền tảng không được Edmund Husserl chuẩn bị với tác phẩm Logische Untersuchungen Khảo sát Logic của ông, hiện tượng học lần đầu tiên xuất hiện. Những bình luận của chúng tôi về quan niệm sơ bộ đối với hiện tượng học đã chỉ ra rằng điều cốt yếu trong đó [tr.63] không nằm ở tính hiện thực của nó như một Richtung phong trào triết học. Cao hơn tính hiện thực lại chính là khả tính.v Chúng ta chỉ có thể hiểu hiện tượng học bằng cách nắm bắt nó như một khả tính.

Về sự vụng về và ‘thiếu tinh tế’ trong cách diễn đạt của các phân tích sắp tới, chúng ta có thể nhận xét rằng việc đưa ra một báo cáo về các hiện hữu là một chuyện, nhưng nắm bắt được các hiện hữu trong Hữu thể của chúng lại là chuyện khác. Đối với nhiệm vụ thứ hai, chúng ta không chỉ thiếu hầu hết ngôn từ mà trên hết, còn thiếu cả ‘ngữ pháp’. Nếu chúng ta có thể đề cập đến một số nhà nghiên cứu trước đây về phân tích Hữu thể, những người không thể so sánh được ở cấp độ của họ, thì chúng ta có thể so sánh các phần về bản thể luận trong tác phẩm Parmenides của Plato hoặc Chương Thứ tư của cuốn Thứ bảy trong tác phẩm Siêu hình học của Aristotle với một đoạn văn tự sự từ Thucydides; khi đó chúng ta có thể thấy tính chất hoàn toàn chưa từng có của những công thức mà các triết gia Hy Lạp đã áp đặt lên người Hy Lạp. Và ở những nơi mà năng lực của chúng ta yếu hơn về bản chất, và hơn nữa, nơi mà lĩnh vực Hữu thể cần được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận khó khăn hơn nhiều so với những gì đã được trình bày cho người Hy Lạp, thì sự khắc nghiệt trong cách diễn đạt của chúng ta sẽ được tăng cường, và cả sự tỉ mỉ đến từng chi tiết trong việc hình thành các khái niệm của chúng ta cũng vậy.

8. Thiết kế Luận thuyết

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể là câu hỏi phổ quát nhất và trống rỗng nhất, nhưng đồng thời cũng có thể cá nhân hóa nó một cách rất chính xác cho bất kỳ Dasein cụ thể nào. Nếu chúng ta muốn đi đến khái niệm cơ bản về ‘Hữu thể’ và phác thảo các quan niệm bản thể luận mà nó đòi hỏi và những biến thể mà nó nhất thiết phải trải qua, thì chúng ta cần một manh mối cụ thể. Chúng ta sẽ tiến tới khái niệm Hữu thể thông qua một cách Diễn giải về một hiện hữu đặc biệt nào đó, Dasein, trong đó chúng ta sẽ đạt đến cái chân trời để hiểu về Hữu thể và khả tính diễn giải nó; tính phổ quát của khái niệm Hữu thể không bị phủ nhận bởi đặc tính tương đối ‘đặc biệt’ trong nghiên cứu của chúng ta. Nhưng chính cái hiện hữu Dasein này, tự nó lại mang tính ‘lịch sử’, do đó việc minh định bản thể học sâu xa nhất của nó nhất thiết trở thành một Diễn giải mang tính ‘sử luận’. Theo đó, cách tiếp cận của chúng ta đối với vấn đề Hữu thể được chia thành hai nhiệm vụ riêng biệt, và do đó Luận thuyết của chúng ta sẽ có hai phần: 1. Phần Một: Diễn giải Dasein trong khuôn khổ thời tính, và lý giải thời gian như là chân trời siêu nghiệm cho câu hỏi về Hữu thể; 2. Phần Hai: Các đặc điểm cơ bản của việc giải gỡ hiện tượng luận về lịch sử bản thể học, với vấn đề Thời tính với tư cách manh mối của chúng ta. Phần Một có ba Mục: 1) Phân tích cơ bản chuẩn bị về Dasein; 2) Dasein và Thời tính; 3) Thời gian và Hữu thể. Phần Hai cũng có ba Mục:6 1) Học thuyết về lược đồ và thời gian của Kant, như một giai đoạn sơ bộ trong vấn đề Thời tính; 2) Nền tảng bản thể luận ‘cogito sum’ của Descartes, và cách thức mà bản thể luận Trung cổ đã được chuyển sang vấn đề ‘res cogitans’ thực thể tư duy; iii) Luận văn của Aristotle về thời gian, như một cách để phân biệt cơ sở hiện tượng và các giới hạn bản thể luận cổ đại.

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ….in direkter Aufweisung und direkter Ausweisung….’ [p.59]

2 ‘Der phänomenologische Begriff von Phänomen meint als das Sichzeigende das Seindes Seienden, seinen Sinn, seine Modifikationen und Derivate.' [p.60]

3 ' Über seinen Bestand gibt es weder Kenntnis noch Unkenntnir. TJ:ie các ấn bản trước đó có ‘Erkenntnis’ trong khi các ấn bản sau này có ‘Unkenntnis’. Từ ‘Bestand’ luôn gây khó khăn trong triết học của Heidegger; ở đây nó cho phép một trong hai cách hiểu, mà chúng tôi đã cố tình lựa chọn giữa hai cách hiểu này: ‘Liệu có tồn tại thứ như vậy hay không, thì không được biết cũng không được biết’, và ‘Cái mà nó bao gồm là thứ mà chúng ta không có kiến ​​thức cũng không có sự thiếu hiểu biết.’. [tr.60]

4 “Wieviel Schein jedoch, soviel ‘Sein’.” [p.60]

5 ‘Sein und Seinsstruktur liegen über jedes Seiende and jede mögliche seiende Bestimmtheit eines Seienden hinaus. Sein i.st das transcendens schlechthin.' [p.62]

6 Part Two and the third division of Part One have never appeared [p.64]