Powered By Blogger

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXXIII)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần III. Hiện-hữu-Tự-thân và Hiện-hữu-trong-Thế-giới 

1. Cái Tôi Tư duy

Ngôn ngữ vượt xa chúng ta, không chỉ vì việc sử dụng ngôn ngữ luôn hàm chứa một số lượng lớn những suy nghĩ không hiện diện trong tâm trí và bị che khuất bởi mỗi từ, mà còn vì một lý do khác, và sâu sắc hơn: đó là, chính những suy tư này, khi hiện diện, cũng không bao giờ là những suy tư ‘thuần túy’, bởi vì trong chúng đã có sự dư thừa của cái được biểu nghĩa so với cái biểu nghĩa, cùng một nỗ lực của tư duy đã được suy nghĩ để cân bằng với tư duy đang được suy nghĩ, cùng một cách kết hợp tạm thời của cả hai tạo nên toàn bộ bí ẩn của sự biểu đạt. Cái được gọi là ý tưởng nhất thiết phải gắn liền với một hành động biểu đạt, và nhờ đó mà nó có diện mạo tự chủ. Nó là một [tr.454] đối tượng văn hóa, giống như nhà thờ, đường phố, bút chì hay Giao hưởng Số 9. Có thể đáp lại rằng nhà thờ có thể bị thiêu rụi, đường phố và bút chì có thể bị phá hủy, và nếu tất cả các bản tổng phổ của Giao hưởng Số 9 và tất cả các nhạc cụ bị thiêu rụi thành tro, chúng cũng chỉ tồn tại trong ký ức của những người đã từng nghe trong vài năm ngắn ngủi, trong khi đó, ý niệm về tam giác và các thuộc tính của nó lại bất diệt. Trên thực tế, ý niệm về tam giác với các thuộc tính của nó, và về phương trình bậc hai, đều có phạm vi lịch sử và địa lý riêng, và nếu truyền thống mà chúng được truyền lại cho chúng ta, cùng với các công cụ văn hóa mang chúng, bị phá hủy, thì cần phải có những hành động sáng tạo mới để hồi sinh chúng trên thế giới. Tuy nhiên, điều chắc chắn là, một khi chúng đã xuất hiện lần đầu, thì những lần xuất hiện tiếp theo, nếu thành công, cũng không thêm gì và nếu không thành công, cũng không khấu trừ điều gì, đối với phương trình bậc hai, vốn vẫn là một tài sản vô tận giữa chúng ta. Nhưng điều tương tự cũng có thể nói về Giao hưởng Số 9, tác phẩm vẫn tồn tại trong cõi khả tri của nó, như Proust đã nói, dù được chơi hay hoặc dở; hay đúng hơn là nó tiếp tục tồn tại trong một thời gian huyền bí hơn thời gian tự nhiên. Thời gian của ý tưởng không nên bị nhầm lẫn với thời gian mà các cuốn sách xuất hiện rồi biến mất, và các tác phẩm âm nhạc được in hoặc bị thất lạc: một cuốn sách luôn được tái bản một ngày nào đó sẽ không còn được đọc nữa, một tác phẩm âm nhạc mà chỉ có một vài bản sao còn tồn tại lại đột nhiên được săn đón nhiều. Sự tồn tại của ý tưởng không được nhầm lẫn với sự tồn tại thực nghiệm của phương tiện biểu đạt, vì ý tưởng tồn tại hoặc rơi vào quên lãng, và bầu trời khả tri thay đổi màu sắc một cách tinh tế. Chúng ta đã phân biệt giữa ngôn ngữ thực nghiệm—từ ngữ như một hiện tượng âm thanh, thực tế là một từ nhất định được phát âm vào một thời điểm nhất định bởi một người nhất định, điều này có thể xảy ra độc lập với suy tư—và ngôn ngữ siêu nghiệm hay ngôn ngữ đích thực, nhờ đó mà một ý tưởng bắt đầu tồn tại. Nhưng nếu không có loài người với các cơ quan phát âm hoặc cấu âm, và bộ máy hô hấp—hoặc ít nhất là với một cơ thể và khả năng tự di chuyển—thì sẽ không có ngôn ngữ và không có ý tưởng. Thực tế vẫn đúng là trong ngôn ngữ, ở mức độ lớn hơn so với âm nhạc hay hội họa, tư tưởng dường như có thể tách rời khỏi các công cụ vật chất của nó và đạt được một giá trị vĩnh cửu. Có một ý nghĩa nào đó mà tất cả các tam giác sẽ tồn tại thông qua hoạt động của nhân quả vật lý sẽ luôn có các góc có tổng bằng hai góc vuông [tr.455], ngay cả khi đến một thời điểm nào đó con người đã quên đi môn hình học của họ, và không còn một kẻ nào biết đến bất kỳ một loại hình học nào nữa. Nhưng trong trường hợp này, đó là bởi vì ngôn ngữ được áp dụng cho tự nhiên, trong khi âm nhạc và hội họa, giống như thơ ca, tạo ra đối tượng của riêng chúng, và ngay khi nhận thức đầy đủ về bản thân, thì chúng vẫn cố tình tự giới hạn mình trong thế giới văn hóa.

Ngôn từ văn xuôi, và đặc biệt là khoa học, là một thực thể văn hóa đồng thời tuyên bố phiên dịch một chân lý liên quan đến tự nhiên trong tự thân nó. Giờ đây chúng ta biết rằng điều đó không đúng, vì cách phê phán hiện đại về khoa học đã chỉ ra rõ ràng yếu tố kiến tạo trong chúng. Các tam giác ‘thực’, tức là được tri giác, không nhất thiết phải có tổng các góc vĩnh viễn bằng hai góc vuông, nếu đúng là cái không gian mà chúng ta sống cũng phù hợp với hình học phi Euclid như hình học Euclid. Do đó, không có sự khác biệt cơ bản giữa các phương thức biểu đạt khác nhau, và không thể dành vị trí ưu tiên nào cho bất kỳ phương thức nào dựa trên lý do cho rằng nó tự thể hiện một chân lý trong tự thân. Lời nói câm lặng như âm nhạc, âm nhạc cũng hùng hồn hệt như lời nói vậy. Biểu đạt ở khắp mọi nơi đều mang tính sáng tạo, và những gì được biểu đạt luôn không thể tách rời khỏi nó. Không có phân tích nào có năng lực làm cho ngôn ngữ trở nên minh bạch như pha lê và bày biện trước mắt chúng ta hệt như nó là một vật thể vậy. Hành động nói chỉ rõ ràng đối với kẻ thực sự nói hoặc nghe; nó trở nên mơ hồ ngay khi chúng ta cố gắng làm sáng tỏ một cách rõ ràng những lý do đã dẫn chúng ta đến hiểu theo cách này chứ không phải cách khác. Chúng ta có thể nói về nó những gì chúng ta đã nói về tri giác, và những gì Pascal nói về các ý kiến: trong cả ba trường hợp, chúng ta đều có cùng một phép màu của sự rõ ràng được nắm bắt ngay lập tức, là thứ biến mất ngay khi chúng ta cố gắng phân tích nó thành những gì chúng ta tin là các yếu tố cấu thành của nó. Tôi nói, tôi hiểu bản thân mình và được kẻ khác hiểu một cách hoàn toàn rõ ràng; tôi nắm bắt cuộc sống của mình theo một cách mới, và những kẻ khác cũng vậy. Tôi có thể nói rằng ‘Tôi đã chờ đợi rất lâu rồi’, hoặc rằng ai đó ‘đã chết’, và tôi nghĩ rằng tôi biết mình đang nói gì. Tuy nhiên, nếu tôi tự hỏi mình về thời gian hoặc trải nghiệm về cái chết, những điều được hàm chứa trong ngôn từ của tôi, thì trong tâm trí tôi lại không có gì rõ ràng. Điều này là bởi vì tôi đã cố gắng nói về lời nói, để tái hiện lại hành động biểu đạt đã mang lại ý nghĩa cho các từ ‘chết’ và ‘thời gian’, để kéo dài sự nắm giữ ngắn ngủi đối với trải nghiệm của tôi thứ mà chúng đảm bảo cho tôi. Những hành động biểu đạt bậc hai hoặc bậc ba này, cũng như những hành động khác, thực sự trong mỗi trường hợp đều có tính minh bạch đầy thuyết phục, tuy nhiên, lại không bao giờ cho phép tôi xua tan được tính mơ hồ cơ bản [tr.456] của những gì được biểu đạt, hoặc xóa bỏ khoảng cách ngăn cách tư tưởng của tôi với chính nó. Vậy thì liệu từ đó chúng ta có phải kết luận28 rằng, được sinh ra và phát triển trong tính mơ hồ, nhưng vẫn có năng lực về tính minh bạch, ngôn ngữ không có gì khác hơn ngoài mặt trái của một Tư tưởng vô hạn, và cái thông điệp của Tư tưởng đó như được truyền đạt cho chúng ta? Điều này có nghĩa là mất liên lạc với phân tích mà chúng ta vừa thực hiện, và đi đến một kết luận mâu thuẫn với những gì đã được thiết lập trong quá trình chúng ta tiến hành. Ngôn ngữ vượt lên trên chúng ta, tuy nhiên chúng ta vẫn nói. Nếu từ đó dẫn ta đến kết luận cho rằng việc tồn tại một tư tưởng siêu việt được diễn đạt bằng ngôn từ của chúng ta, thì chúng ta đang giả định rằng một nỗ lực biểu đạt được hoàn thành, sau khi nói rằng điều đó không bao giờ có thể xảy ra, và viện dẫn một tư tưởng tuyệt đối, trong khi chúng ta vừa chứng minh rằng bất kỳ tư tưởng nào như vậy đều vượt khỏi quan niệm của chúng ta. Đó là nguyên tắc biện hộ của Pascal; nhưng càng chứng tỏ rằng con người không có quyền lực tuyệt đối, thì bất kỳ khẳng định nào về một cái gì đó tuyệt đối càng trở nên bất khả thể, và tiếc thay, lại rất đáng ngờ. Thực tế phân tích cho thấy, không phải đằng sau ngôn ngữ có một tư tưởng siêu việt, mà ngôn ngữ tự vượt lên chính nó trong lời nói, chính lời nói mang lại sự hòa hợp giữa tôi và bản thân mình, giữa tôi và kẻ khác, trên đó người ta đang cố gắng xây dựng tư tưởng đó. Hiện tượng ngôn ngữ, theo cả hai nghĩa là sự kiện cơ bản và sự kiện đáng chú ý, không được giải thích mà bị loại bỏ nếu chúng ta sao chép nó bằng một tư tưởng siêu việt nào đó, bởi vì nó bao gồm điều này: một hành động tư tưởng, một khi đã được diễn đạt, có sức mạnh tồn tại lâu hơn chính nó. Không phải, như người ta thường cho rằng, công thức khẩu ngữ chỉ phục vụ chúng ta như một phương tiện ghi nhớ: chỉ được ghi lại bằng văn bản hoặc thuật nhớ, nó sẽ vô dụng nếu chúng ta không có được sức mạnh nội tại để diễn giải nó. Việc diễn đạt không phải là thay thế cho tư tưởng mới một hệ thống các dấu hiệu ổn định mà các tư tưởng bất biến được liên kết, mà để, bằng cách sử dụng những từ ngữ đã được sử dụng, đảm bảo rằng ý hướng mới tiếp nối di sản của quá khứ, là ngay lập tức kết hợp quá khứ vào hiện tại, và hàn gắn hiện tại đó với tương lai, để mở ra một chu kỳ thời gian tổng thể trong đó tư tưởng ‘đã đạt được’ sẽ vẫn hiện diện như một chiều kích, mà không cần chúng ta phải triệu hồi hay tái tạo nó nữa. Cái được gọi là phi thời gian trong tư tưởng là cái mà, sau khi đã mang quá khứ tiến lên và cam kết tương lai, [tr.457] được cho là thuộc về mọi thời gian và do đó không hề siêu việt so với thời gian. Phi thời gian là cái đã đạt được. Bản thân thời gian cung cấp cho chúng ta mô hình chính của cái vĩnh viễn đạt được này. Nếu thời gian là chiều kích mà theo đó các sự kiện lần lượt đẩy nhau ra khỏi hiện trường, thì đó cũng là chiều kích mà theo đó mỗi sự kiện giành được vị trí không thể thách thức của nó. Nói rằng một sự kiện diễn ra có nghĩa là sẽ luôn luôn đúng là nó đã diễn ra. Mỗi khoảnh khắc thời gian, nhờ chính bản chất của nó, đều khẳng định một sự tồn tại mà các khoảnh khắc thời gian khác không thể nào chống lại. Sau khi kết cấu được vạch ra, thì mối quan hệ hình học được thiết lập; sau đó, ngay cả khi tôi quên đi các chi tiết của bằng chứng, thì động thái toán học vẫn thiết lập nên một truyền thống. Tranh của Van Gogh sẽ mãi mãi có vị trí trong tôi, một bước đã được thực hiện mà tôi không thể rút lui, mặc dù tôi không còn nhớ rõ những bức tranh mình đã xem, thì toàn bộ trải nghiệm thẩm mỹ sau này của tôi sẽ là của một kẻ đã quen thuộc với tranh Van Gogh, giống như một gã đàn ông trung lưu trở thành công nhân thì luôn luôn vẫn vậy, ngay cả trong cách thức làm công nhân của gã, một kẻ trung lưu, hoặc như một hành động ban tặng cho chúng ta một phẩm chất nhất định mãi mãi, ngay cả khi sau đó chúng ta có thể từ bỏ nó và thay đổi niềm tin của mình.       

Tồn tại luôn mang theo quá khứ của nó, dù là bằng cách chấp nhận hay từ chối nó. Như Proust đã nói, chúng ta đang đứng trên một kim tự tháp của quá khứ, và nếu chúng ta không nhận ra điều này, đó là vì chúng ta bị ám ảnh bởi tư duy khách quan. Chúng ta tin rằng quá khứ của mình, đối với bản thân, có thể được quy giản về những ký ức rõ ràng mà chúng ta có thể chiêm nghiệm. Chúng ta tách rời sự tồn tại của mình khỏi chính quá khứ, và chỉ cho phép nó nắm bắt những sợi dây của quá khứ hiện diện. Nhưng làm thế nào để những sợi dây này được nhận ra là sợi dây của quá khứ nếu chúng ta không có được một cách nào đó để trực tiếp tiếp cận quá khứ đó? Sự tiếp thu phải được chấp nhận như một hiện tượng không thể quy giản. Những gì chúng ta đã trải nghiệm là, và vẫn mãi mãi là của chúng ta; và khi về già, con người vẫn còn liên hệ với tuổi trẻ của mình. Mỗi hiện tại khi nó xuất hiện đều được găm vào thời gian như một cái nêm và khẳng định vị thế của nó trong cõi vĩnh hằng. Vĩnh hằng không phải là một trật tự khác của thời gian, mà là bầu không khí của thời gian. Đúng là một suy nghĩ sai lầm, cũng như một suy nghĩ đúng đắn, đều sở hữu loại vĩnh hằng này: nếu tôi sai lầm vào lúc này, thì mãi mãi sự thật là tôi đã sai lầm. Do đó, dường như cần thiết phải có một phồn sinh lực khác biệt trong tư tưởng chân chính, và điều đó phải luôn đúng không chỉ như một quá khứ đã thực sự được trải nghiệm [tr.458] mà còn như một hiện tại vĩnh cửu được tiếp nối trong dòng chảy thời gian. Tuy nhiên, điều này không đảm bảo bất kỳ sự khác biệt thiết yếu nào giữa chân lý thực tế và chân lý lý trí. Bởi vì không có một hành động nào của tôi, thậm chí không một suy nghĩ sai lầm nào của tôi, một khi đã được chấp nhận, lại không hướng tới một giá trị hay một chân lý nào đó, và do đó, không giữ được sự liên quan lâu dài của nó trong suốt cuộc đời tôi sau này, không chỉ như một sự thật không thể xóa nhòa, mà còn như một giai đoạn cần thiết trên con đường dẫn đến những chân lý hay giá trị hoàn thiện hơn mà tôi đã nhận ra sau này. Chân lý của tôi được xây dựng từ những sai lầm này, và mang chúng theo suốt chiều dài vĩnh cửu. Ngược lại, không có chân lý nào của lý tính mà không lưu giữ cái hệ số hiện thực của nó: tính minh bạch được gán cho hình học Euclid một ngày nào đó được chứng minh là có hiệu lực trong một giai đoạn nhất định trong lịch sử tư duy con người, và đơn giản chỉ có nghĩa là, trong một thời gian, con người đã có thể lấy một không gian ba chiều đồng nhất làm ‘nền tảng’ cho tư duy của họ, và chấp nhận một cách không nghi ngờ điều mà khoa học tổng quát sau này sẽ coi là một mô tả ngẫu nhiên về không gian. Như vậy, mọi chân lý của sự thật đều là chân lý của lý tính, và vice versa ngược lại. Mối quan hệ giữa lý tính và sự thật, hay giữa vĩnh hằng và thời gian, giống như mối quan hệ giữa phản tư và phi phản tư, giữa tư tưởng và ngôn ngữ, hay giữa tư tưởng và tri giác, chính là mối quan hệ hai chiều mà hiện tượng học gọi là Fundierung: thuật ngữ nền tảng, hay kẻ khơi nguồn—thời gian, phi phản tư, cái thật, ngôn ngữ, tri giác—là cơ bản theo nghĩa cái được tạo ra được trình bày như một hình thức minh xác hoặc rõ ràng của kẻ khơi nguồn, điều này ngăn cản kẻ khơi nguồn tái hấp thụ cái trước, nhưng kẻ khơi nguồn lại không phải là cơ bản theo nghĩa kinh nghiệm luận và cái được khơi nguồn không chỉ đơn thuần được suy ra từ nó, bởi vì chính thông qua cái được khơi nguồn mà kẻ khơi nguồn được làm cho hiện thân. Chính vì lý do này mà việc chúng ta nói rằng hiện tại báo trước vĩnh hằng hay cái vĩnh hằng của chân lý chỉ là sự thăng hoa của hiện tại đều không quan trọng. Tính mơ hồ này không thể được giải quyết, nhưng nó có thể được hiểu là tối thượng, nếu chúng ta nắm bắt lại trực giác về thời gian thực tại bảo tồn mọi thứ, và là cốt lõi của cả bằng chứng và biểu đạt. Brunschvicg nói,29 ‘Suy ngẫm về sức mạnh sáng tạo của tâm trí, hàm chứa trong mọi tính chắc chắn của kinh nghiệm, cái cảm giác rằng, trong bất kỳ chân lý xác định nào mà người ta có thể chứng minh được, [tr.459] thì đều tồn tại một linh hồn của chân lý vượt lên trên nó và tự giải phóng khỏi nó, một linh hồn có thể tách rời khỏi cái biểu hiện cụ thể của chân lý đó để phác họa một biểu hiện sâu sắc hơn và toàn diện hơn, mặc dù động lực tiến lên này không hề làm suy giảm tính vĩnh cửu của cái chân thực.’

Chân lý vĩnh cửu mà không ai sở hữu này là gì? Điều được diễn đạt vốn nằm ngoài mọi biểu đạt này là gì, và nếu chúng ta có quyền đặt ra nó, tại sao mối quan tâm thường xuyên của chúng ta lại là đạt được một biểu đạt chính xác hơn? Cái Một này là gì mà tâm trí và chân lý được sắp xếp xung quanh, như thể chúng hướng tới nó, trong khi đồng thời người ta vẫn khẳng định rằng chúng không hướng tới một khuôn khổ nào được thiết lập trước? Ý niệm về một Hữu thể siêu việt ít nhất cũng có ưu điểm là không làm tê liệt những hành động mà qua đó, trong một quá trình tiến lên không ngừng đầy khó khăn, mỗi ý thức và liên chủ thể tính tự tạo nên nhất tính của chính mình. Thật vậy, nếu những hành động này thuộc về phần thân mật nhất của bản thân mà chúng ta có thể tiếp cận, thì việc đặt định Chúa lại không đóng góp gì vào việc làm sáng tỏ cuộc sống của chúng ta. Chúng ta không trải nghiệm một sự vĩnh hằng đích thực và sự tham gia vào cái Một, mà là những hành động cụ thể của việc tiếp nhận và tiến lên, nhờ đó, thông qua những biến cố của thời gian, chúng ta được liên kết trong các mối quan hệ với chính mình và với những kẻ khác. Tóm lại, chúng ta trải nghiệm tham gia vào thế giới, và ‘hiện-hữu-trong- chân-lý’ không thể phân biệt được với hiện-hữu-trong-thế-giới. Giờ đây, chúng ta có thể tự quyết định về vấn đề bằng chứng và mô tả trải nghiệm về chân lý. Có những chân lý cũng như có những tri giác: không phải là chúng ta có thể bày đặt đầy đủ trước mắt mình những lý do cho bất kỳ khẳng định nào—chỉ có những động cơ, chúng ta chỉ nắm giữ thời gian chứ không hoàn toàn sở hữu nó—nhưng bởi vì bản chất của thời gian là tự tiếp nhận chính nó khi nó tự bỏ lại phía sau, và tự tập hợp lại thành những sự vật khả kiến, thành bằng chứng trực tiếp. Tất cả ý thức, ở một mức độ nào đó, đều là ý thức tri giác. Nếu có thể làm sáng tỏ và mở ra tất cả những tiền đề trong cái mà tôi gọi là lý trí hoặc ý tưởng của tôi ở mỗi thời điểm, thì chúng ta sẽ luôn tìm thấy những trải nghiệm chưa được làm sáng tỏ, những đóng góp quy mô lớn từ quá khứ và hiện tại, một ‘lịch sử trầm tích’30 tổng thể không chỉ liên quan đến cuộc tạo sinh tư tưởng của tôi mà còn quyết định cả ý nghĩa của nó. Để có được bằng chứng tuyệt đối, không bị ràng buộc bởi bất kỳ giả định nào [tr.460], và để tư tưởng của tôi có thể xuyên thấu vào chính nó, nắm bắt được chính nó trong hành động, và đạt đến một ‘đồng thuận thuần túy của tự ngã với tự ngã’, thì theo ngôn ngữ của những người Kantians, nó phải thôi là một sự kiện và trở thành một hành động triệt để: theo ngôn ngữ của các nhà Kinh viện, thực tại hình thức của nó phải bao gồm trong thực tại của nó; theo ngôn ngữ của Malebranche, nó phải thôi là ‘tri giác’, ‘cảm xúc’ hay ‘tiếp xúc’ với chân lý, để trở thành ‘ý niệm’ và ‘tầm nhìn’ thuần túy về chân lý.

Nói cách khác, điều cần thiết là thay vì là chính mình, tôi phải trở thành một kẻ thuần túy, đơn giản là người biết bề bản thân mình, và thế giới phải ngừng tồn tại xung quanh tôi để trở thành một đối tượng thuần túy, đơn giản trước mặt tôi. Liên quan đến bản chất của chúng ta do những gì chúng ta đạt được và cái thế giới tiền-tồn tại này, chúng ta có năng lực tạm treo lại, và điều đó đủ để đảm bảo sự tự do của chúng ta khỏi quyết định luận. Tôi có thể nhắm mắt và bịt tai lại, nhưng tôi vẫn không ngừng nhìn thấy, dù chỉ toàn bóng tối trước mắt, hoặc ngừng nghe, dù chỉ là thinh lặng, và theo cách tương tự, tôi có thể ‘tạm gác’ những ý kiến ​​hoặc niềm tin mà tôi đã có được, nhưng bất kể tôi nghĩ gì hay quyết định điều gì, thì nó vẫn luôn dựa trên nền tảng của những gì tôi đã tin tưởng hoặc làm trước đó. Habemus ideam veram, - Habemus enim ideam veram - Chúng ta quả thật có một ý niệm chân thực là câu nói nổi tiếng của Baruch Spinoza trong Luận văn về việc cải thiện trí tuệ. Nó khẳng định verum index sui chân lý tự chứng, và ý niệm chân thực không cần tiêu chuẩn ngoại tại, mà tự nó là chuẩn mực để nhận biết chân lý và tạo ra các ý niệm đúng đắn khác. Nó giống như ánh sáng: tự nó cho thấy chính nó và bóng tối. Tầm quan trọng của ‘enim’ quả thật: Trọng tâm không chỉ là ‘chúng ta có ý niệm chân thực’, mà là bởi vì enim chúng ta có nó, chúng ta mới có thể xây dựng hệ thống tri thức. Không phụ thuộc vào phương pháp: Idea vera Ý niệm chân thực là nền tảng, còn phương pháp chỉ là sự phản chiếu lại ý niệm chân thực đó - HHN] chúng ta sở hữu một chân lý, nhưng trải nghiệm về chân lý này sẽ chỉ là tri thức tuyệt đối nếu chúng ta có thể khái quát hóa mọi động cơ, nghĩa là, nếu chúng ta không còn ở trong một tình huống nào nữa. Do đó, việc thực sự nắm giữ ý niệm chân thực không cho phép chúng ta khẳng định một nơi cư ngụ khả tri của tư tưởng đầy đủ và năng suất tuyệt đối, nó chỉ thiết lập một ‘mục đích luận’31 của ý thức mà từ công cụ đầu tiên này sẽ tạo ra những công cụ hoàn hảo hơn, và những công cụ này đến lượt mình lại tạo ra những công cụ hoàn hảo hơn nữa, cứ thế tiếp diễn vô tận. „Nur in eidetischer Intuition kann das Wesen der eidetischen Intuition geklärt werden.“ ‘Chỉ có thông qua trực giác eidetic thị kiến thì bản chất trực giác eidetic thị kiến mới có thể được làm sáng tỏ’, Husserl nói.32

[Chú thích dài về eidetischer Intuition Trực giác thị kiến từ nguyên bản tiến Đức của Husserl: [P.220] Schließlich sieht man, zur weitesten, der analytisch-formalen Allgemeinheit aufsteigend, daß jeder noch so unbestimmt, ja inhaltlich leer gedachte Gegenstand, gedacht als ein „ganz beliebiges" Etwasüberhaupt, nur denkbar ist als Korrelat einer von ihm unabtrennbaren intentionalen Konstitution, die unbestimmt-leer und doch nicht ganz beliebig ist; die nämlich mit jeder Besonderung des —Etwas" und mit jeder hierbei substituierten ontischen Kategorie (dem durch ontische Variation eines entsprechenden Exempels herauszustellenden Eidos) sich korrelativ besondern muß. Danach ist jede an faktischen Gegebenheiten zu vollziehende intentionale und konstitutive Analyse von vornherein, auch wenn dafür das Verständnis fehlt, als eine exemplarische anzusehen. Alle ihre Ergebnisse, von der Faktizität befreit und so in das Reich freier Phantasie-Variation versetzt, warden zu wesensmäßigen, zu solchen, welche ein Universum der Erdenklichkeit (eine „reine" Allheit) in apodiktischer Evidenz beherrschen, derart daß jede Negation so viel besagt, wie intuitiveidetische Unmöglichkeit, Unausdenkbarkeit. Das betrifft also auch diese ganze soeben durchgeführte Betrachtung. Sie ist selbst eine eidetisch durchgeführte. Die eidetische Methode auslegen, heißt nicht ein empirisches, empirisch-beliebig zu wiederholendes Faktum beschreiben. Ihre Allgemeingültigkeit ist eine unbedingt notwendige, eine von jedem erdenklichen exemplarischen Gegenstande aus durchführbare, und so ist sie von uns gemeint worden. Nur in eidetischer Intuition kann das Wesen der eidetischen Intuition geklärt werden. Es ist sehr notwendig, sich dieses echten Sinnes und dieser Universalität des Apriori zu bemächtigen und dabei insbesondere der beschriebenen Rückbezogenheit jedes geradehin geschöpften Apriori auf das seiner Konstitution, also auch der apriorischen Faßbarkeit der Korrelation von Gegenstand und konstituierendem Bewußtsein. Das sind Erkenntnisse von beispielloser philosophischer Bedeutung. Sie schaffen einen wesentlich neuen und streng wissenschaftlichen Stil [p.221] der Philosophie, und das selbst gegenüber der Kantischen Transzendentalphilosophie„ so viel in dieser sonst an großen Anschauungen beschlossen ist. Eröffnen sieh hier durch die konstitutiven Probleme, die allen Regionen der Gegenständlichkeit zugehören, ungeheure Felder apriorischer und dabei subjektiver Forschung, so ist schon vorauszusehen, daß sie sich in noch größere Weiten erstrecken müssen, als welche zunächst das Blickfeld der methodischen Analyse ausmachen. Nämlich wenn alles faktische Subjektive seine immanent zeitliche Genesis hat, so ist zu erwarten, daß auch diese Genesis ihr Apriori hat. Dann entspricht der „statische n", auf eine schon „entwickelte" Subjektivität bezogenen Konstitution von Gegenständen die apriorische genetische Konstitution, aufgestuft auf jener notwendig vorangehenden. Erst durch dieses Apriori erweist sich, und in einem tieferen Sinne, was im voraus schon gesagt worden '), daß in dem, was die Analyse als intentional Impliziertes der lebendigen Sinnkonstitution enthüllt, eine sedimentierte „Geschichte" liege.” Edmund Husserl (1929). Formale und transzendentale Logik Versuch Einer Kritik der Logischen Vernunft. Max Niemeyer Verlag, Halle (Saale), 1929, pp. 220-221. [Tr.220] Cuối cùng, khi đi đến giới hạn xa nhất của tính khái quát phân tích-hình thức, người ta thấy rằng mọi đối tượng, dù không xác định, thậm chí trống rỗng về nội dung, đều được hình dung như một-cái- gì-đó-hoặc-một-thứ-khác ‘hoàn toàn võ đoán’, chỉ có thể được hình dung như một tương quan của một cấu trúc có chủ đích không thể tách rời khỏi nó, cấu trúc này trống rỗng-không xác định nhưng không hoàn toàn võ đoán; cụ thể là, nó phải tương quan với mọi cụ thể hóa của ‘cái gì đó’ và với mọi phạm trù bản thể luận được thay thế trong quá trình này (cái eidos thị kiến được làm nổi bật thông qua biến đổi bản thể luận của một ví dụ tương ứng). Theo đó, mọi phân tích có tính ý hướng và cấu thành được thực hiện trên các dữ kiện thực tế ngay từ đầu phải được coi là mang tính điển hình, ngay cả khi thiếu sự hiểu biết về điều này. Tất cả các kết quả của nó, được giải phóng khỏi tính hiện thực và do đó được đặt trong lĩnh vực biến thể tưởng tượng tự do, trở nên thiết yếu, chúng trở thành những thứ chi phối một vũ trụ có thể hình dung (một tổng thể tính ‘thuần túy’) với bằng chứng chắc chắn, đến mức mọi phủ định đều biểu thị bất khả tính trực-giác-thị-kiến, tính bất khả hình dung. Điều này cũng áp dụng cho toàn bộ sự xem xét vừa được thực hiện. Bản thân nó là một sự xem xét thị kiến. Diễn giải phương pháp thị kiến không có nghĩa là mô tả một sự kiện thực nghiệm có thể được lặp lại một cách thực nghiệm tùy ý. Tính giá trị phổ quát của nó là hoàn toàn cần thiết, có thể đạt được từ bất kỳ đối tượng mẫu mực nào có thể hình dung được, và đó là điều chúng ta đã dự định. Chỉ thông qua trực giác thị kiến mới có thể làm sáng tỏ bản chất của trực giác thị kiến. Điều cần thiết là phải nắm bắt được ý nghĩa đích thực và tính phổ quát này của cái tiên nghiệm, và khi làm như vậy, đặc biệt là tính tương hỗ được mô tả của mọi tiên nghiệm mới được tạo ra với tiên nghiệm cấu thành của nó, và do đó cũng là khả tính nắm bắt tiên nghiệm về mối tương quan giữa đối tượng và ý thức cấu thành. Đây là những hiểu biết có ý nghĩa triết học vô song. Chúng tạo ra một phong cách triết học hoàn toàn mới và mang phong cách khoa học nghiêm ngặt [tr.221], ngay cả khi so sánh với triết học siêu nghiệm Kantian, ‘cho dù nó chứa đựng bao nhiêu ý tưởng lớn lao khác đi nữa.’ Nếu, thông qua các vấn đề cấu thành thuộc về tất cả các lĩnh vực khách quan tính, chúng mở ra những lĩnh vực nghiên cứu tiên nghiệm và đồng thời mang tính chủ thể rộng lớn, thì có thể dự đoán được rằng những lĩnh vực này phải mở rộng ra phạm vi lớn hơn cả những lĩnh vực ban đầu được bao hàm bởi phạm vi phân tích phương pháp luận. Cụ thể, nếu mọi thứ mang thực sự mang tính chủ thể đều có genesis tạo sinh thời gian nội tại của nó, thì có thể dự đoán rằng genesis tạo sinh này cũng có tiên nghiệm của nó. Khi đó, cái cấu thành tạo sinh tiên nghiệm, được chồng lên cấu thành tất yếu có trước, tương ứng với cấu thành ‘tĩnh’ của các đối tượng, có liên quan đến một chủ thể tính đã ‘phát triển’. Chỉ thông qua cái tiên nghiệm này, thì điều đã được nói trước đó mới trở nên rõ ràng, và theo nghĩa sâu sắc hơn, đó là trong những gì mà phân tích bộc lộ như những khía cạnh được hàm ngụ có tính ý hướng cái cấu thành sống động của ý nghĩa, ẩn chứa một ‘lịch sử’ đã được tích tụ. Edmund Husserl (1929). Formale und transzendentale Logik Versuch Einer Kritik der Logischen Vernunft. Max Niemeyer Verlag, Halle (Saale), 1929, pp. 220-221.] Trong kinh nghiệm của chúng ta, trực giác về một bản chất cụ thể nào đó nhất thiết phải đi trước bản chất của trực giác. Cách duy nhất để suy tư về tư tưởng trước hết là nghĩ về một cái gì đó, và do đó, điều thiết yếu đối với tư tưởng đó là không được coi bản thân nó như một đối tượng. Nghĩ về tư tưởng là áp dụng đối với nó một thái độ mà chúng ta đã học được ban đầu đối với các ‘sự vật’; nó không bao giờ là loại bỏ, mà chỉ là đẩy lùi thêm tính mờ đục mà tư tưởng tự thể hiện [tr.461] cho chính nó. Mỗi bước dừng lại trong vận động tiến lên của ý thức, mỗi cú tập trung vào đối tượng, mỗi diện mạo của một ‘cái gì đó’ hay một ý niệm đều giả định một chủ thể đã tạm treo lại tự-vấn, ít nhất là về khía cạnh cụ thể đó. Chính vì vậy, như Descartes đã khẳng định, đúng là một số ý tưởng nhất định trình hiện với tôi như là de facto hiển nhiên không thể cưỡng lại được trên thực tế, và cái thực tế này không bao giờ có giá trị de jure hợp thức, và nó không bao giờ loại bỏ cái khả tính nghi ngờ nảy sinh ngay khi trong chúng ta không còn hiện diện ý tưởng đó nữa. Không phải ngẫu nhiên mà chính tự-chứng lại có thể bị đặt câu hỏi, bởi vì tính chắc chắn là đáng nghi ngờ, là tiếp nối của một truyền thống tư tưởng không thể cô đọng thành một ‘chân lý’ hiển nhiên nếu tôi không từ bỏ mọi nỗ lực làm cho nó trở nên rõ ràng. Cũng vì những lý do tương tự mà một chân lý hiển nhiên lại không thể cưỡng lại được, nhưng luôn đáng ngờ, nghĩa là có hai cách nói về cùng một sự vật: nó không thể cưỡng lại bởi vì tôi coi tiếp nhận một kinh nghiệm nhất định, một lĩnh vực tư duy nhất định là hiển nhiên, và chính vì lý do này mà nó xuất hiện với tôi như một chân lý hiển nhiên đối với một bản chất tư duy nhất định, thứ bản chất mà tôi tận hưởng và duy trì, nhưng là thứ vẫn mang tính ngẫu nhiên và được trao cho tự thân.

Tính nhất quán của một sự vật được tri giác, của một mối quan hệ hình học hay của một ý niệm, chỉ đạt được khi tôi từ bỏ việc cố gắng bằng mọi cách để làm cho nó rõ ràng hơn, và thay vào đó cho phép bản thân mình an nghỉ trong đó. Một khi đã bắt đầu và cam kết với một tập hợp tư tưởng nhất định, chẳng hạn như không gian Euclid, hoặc các điều kiện chi phối sự tồn tại của một xã hội nhất định, thì tôi lại khám phá ra những chân lý hiển nhiên; nhưng những chân lý này không phải là không thể thách thức, vì có lẽ không gian này hay xã hội này không phải là những khả năng duy nhất. Do đó, bản chất của tính chắc chắn chỉ được thiết lập với những dè dặt; có một quan điểm không phải là một hình thái tri thức tạm thời được định sẵn để sau này nhường chỗ cho một hình thức tuyệt đối, mà ngược lại, vừa là hình thái tri thức lâu đời nhất hay cơ bản nhất, vừa là hình thái tri thức có ý thức nhất hay trưởng thành nhất – một quan điểm mang tính sơ đẳng theo cả hai nghĩa là ‘nguyên gốc’ và ‘cơ bản’. Đây là điều gợi lên trước mắt chúng ta một cái gì đó nói chung, mà tư duy đặt ra* – nghi ngờ hay chứng minh – sau đó có thể liên hệ để khẳng định hoặc phủ nhận. Có ý nghĩa, một cái gì đó chứ không phải hư vô, có một chuỗi trải nghiệm nhất quán không xác định, mà chiếc gạt tàn này trong sự trường tồn của nó làm chứng, hoặc [tr.462] thứ chân lý mà tôi đã tình cờ phát hiện ra ngày hôm qua và tôi nghĩ rằng hôm nay tôi có thể quay lại với nó. Tính hiển nhiên này của hiện tượng, hay của ‘thế giới’, cũng bị hiểu sai không kém khi chúng ta cố gắng đạt đến hiện hữu mà không tiếp xúc với hiện tượng, tức là khi chúng ta coi hiện hữu là tất yếu, cũng như khi chúng ta tách rời hiện tượng khỏi hiện hữu, hạ thấp nó xuống trạng thái chỉ là sự xuất hiện hoặc khả tính. Quan niệm đầu tiên là của Spinoza.

Quan điểm chính ở đây bị lệ thuộc vào tính hiển nhiên tuyệt đối, và khái niệm ‘có cái gì đó’, là sự kết hợp giữa hiện hữu và hư vô vào khái niệm ‘Hữu thể tồn tại’. Người ta bác bỏ mọi nghi vấn về hiện hữu như là vô nghĩa: không thể hỏi tại sao lại có cái gì đó chứ không phải là hư vô, và tại sao lại là thế giới này chứ không phải một thế giới khác, vì hình dạng của thế giới này và chính tồn tại của một thế giới chỉ là hệ quả của hiện hữu tất yếu. Quan niệm thứ hai quy giản tính tự-chứng thành vẻ bề ngoài: tất cả mọi chân lý của tôi, xét cho cùng, chỉ hiển nhiên đối với tôi và đối với một tư tưởng được hình thành giống như của tôi; chúng gắn liền với cấu thành tâm sinh lý của tôi và sự tồn tại của thế giới này. Các hình thức tư duy khác hoạt động theo các quy tắc khác, và các thế giới khả thể khác, có thể được hình dung là có cùng khẳng định thực tại như thế giới này. Và ở đây, câu hỏi tại sao lại có cái gì đó chứ không phải là không có gì dường như thích hợp, và tại sao thế giới cụ thể này lại hiện hữu, nhưng câu trả lời nhất thiết nằm ngoài tầm với của chúng ta, vì chúng ta bị giam cầm trong cấu tạo tâm sinh lý của mình, đó là một sự thật đơn giản như hình dạng khuôn mặt hay số lượng răng của chúng ta. Quan niệm thứ hai này không khác biệt nhiều so với quan niệm thứ nhất như nó thể hiện: nó ngụ ý một tham chiếu ngầm đến một tri thức tuyệt đối và một hiện hữu tuyệt đối mà so với đó, những tính hiển nhiên thực tế, hay những chân lý tổng hợp của chúng ta, được coi là không đầy đủ. Theo quan niệm hiện tượng học, một mặt cả chủ nghĩa giáo điều và mặt khác, chủ nghĩa hoài nghi đều bị bỏ lại phía sau. Các quy luật của tư duy và những chân lý hiển nhiên của chúng ta chắc chắn là sự thật, nhưng chúng không thể tách rời khỏi chúng ta, chúng được hàm chứa trong bất kỳ khái niệm nào mà chúng ta có thể hình thành về hiện hữu và cái khả thể. Vấn đề không phải là tự giới hạn bản thân vào các hiện tượng, giam cầm ý thức trong trạng thái của chính nó, trong khi vẫn duy trì cái khả tính về một hiện hữu khác vượt ra ngoài hiện hữu hiển nhiên, cũng không phải là coi tư duy của chúng ta như một sự thật trong số nhiều sự thật, mà là định nghĩa hiện hữu là cái xuất hiện, và ý thức là một sự thật phổ quát. Tôi nghĩ, và suy nghĩ này hay suy nghĩ kia [tr.463] xuất hiện với tôi như là đúng; tôi nhận thức rõ rằng nó không phải là đúng một cách vô điều kiện, và quá trình làm cho nó hoàn toàn rõ ràng sẽ là một nhiệm vụ vô tận; nhưng sự thật vẫn là vào thời điểm tôi nghĩ, tôi nghĩ về một điều gì đó, và bất kỳ chân lý nào khác, mà nhân danh nó tôi có thể muốn bác bỏ chân lý này, nếu nó được gọi là chân lý đối với tôi, thì phải phù hợp với tư duy ‘đúng’ mà tôi đã trải nghiệm. Nếu tôi cố gắng tưởng tượng ra người Sao Hỏa, hoặc thiên thần, hoặc một số tư tưởng thần thánh nằm ngoài phạm vi logic của tôi, thì tư tưởng Sao Hỏa, thiên thần hoặc thần thánh này phải xuất hiện trong vũ trụ của tôi mà không làm nó xáo trộn hoàn toàn.33 Tư tưởng của tôi, chân lý hiển nhiên của tôi không phải là một sự kiện trong số những sự kiện khác, mà là một giá trị-sự kiện bao trùm và chi phối mọi sự kiện khả thể khác. Không có thế giới nào khác khả thể theo nghĩa mà thế giới của tôi tồn tại, không phải vì thế giới của tôi là tất yếu như Spinoza đã nghĩ, mà vì bất kỳ ‘thế giới khác’ nào mà tôi có thể cố gắng hình dung cũng sẽ đặt ra giới hạn cho thế giới này, sẽ được tìm thấy trên ranh giới của nó, và do đó sẽ chỉ đơn thuần hòa nhập với nó. Ý thức, nếu không là α-λεθεια aletheia chân lý tuyệt đối, thì ít nhất cũng loại trừ mọi sai lầm tuyệt đối. Những sai lầm, ảo tưởng và câu hỏi thực sự là những sai lầm, ảo tưởng và các câu hỏi. Sai lầm không phải là ý thức về sai lầm; nó thậm chí còn loại trừ cả ý thức đó. Các câu hỏi của chúng ta không phải lúc nào cũng có câu trả lời, và nói như Marx là con người chỉ đặt ra cho mình những vấn đề mà họ có thể giải quyết là khôi phục lại chủ nghĩa lạc quan thần học và giả định sự hoàn thiện của thế giới.

____________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

28 As does B. Parain, Recherches sur la nature et les fonctions du langage, Chap. XI.

29 Les Progrès de la Conscience dans la Philosophie occidentale, p. 794.

30 Husserl, Formale und transzendentale Logik, p. 221.

31 This notion recurs frequently in the later writings of Husserl.

32 Formale und transzendentale Logik, p. 220.

* I.e. ‘thetic’ (Translator’s note).

33 See Logische Untersuchungen, I, p. 117. What is sometimes termed Husserl’s rationalism is in reality the recognition of subjectivity as an inalienable fact, and of the world to which it is directed as omnitudo realitatis.



 

 

 

 

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXXII)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần III. Hiện-hữu-Tự-thân và Hiện-hữu-trong-Thế-giới 

1. Cái Tôi Tư duy

Chúng ta hãy quay lại ví dụ về người mắc chứng cuồng. Thật dễ dàng để coi anh ta như một kẻ giả tạo, nhưng trước hết chính anh ta đang tự lừa dối mình, và sự bất ổn này một lần nữa đặt ra vấn đề mà chúng ta đang cố gắng giải quyết; làm thế nào mà nạn nhân của chứng cuồng lại không cảm nhận được những gì anh ta cảm nhận, và cảm nhận được những gì anh ta không cảm nhận? Anh ta không giả vờ đau đớn, buồn bã hay tức giận, nhưng những cơn ‘đau đớn’, ‘buồn bã’ hay ‘giận dữ’ của anh ta có thể phân biệt được với những trường hợp ‘thực sự’mắc phải chứng bệnh này, bởi vì anh ta không hoàn toàn bị chúng chi phối: cốt lõi của anh ta vẫn còn một vùng bình yên. Những cảm xúc ảo tưởng hoặc tưởng tượng được trải nghiệm một cách chân thực, nhưng được trải nghiệm, có thể nói, ở rìa ngoài của chính chúng ta.17 Trẻ em và nhiều người lớn chịu ảnh hưởng của ‘giá trị tình huống’, che giấu khỏi họ những cảm xúc thực sự của họ—họ vui mừng vì được tặng quà, buồn bã vì đang ở đám tang, vui vẻ hay buồn bã tùy thuộc vào khung cảnh xung quanh, và, ở phía bên kia của bất kỳ cảm xúc nào như vậy, thờ ơ và trung lập. ‘Chúng ta trải nghiệm cảm giác ấy một cách mãnh liệt, nhưng [tr.442] lại không chân thực. Nó cứ như thể cái bóng của một tình cảm chân thực.’

Thái độ tự nhiên của chúng ta không phải là trải nghiệm cảm xúc của chính mình hay bám víu vào những thú vui của riêng mình, mà là sống theo những phạm trù cảm xúc của môi trường. ‘Cô gái được yêu không phóng chiếu cảm xúc của mình như Isolde [Isolde là nhân vật chính trong Tristan und Isolde, là một vở nhạc kịch của Richard Wagner, dựa trên cuốn tiểu thuyết lãng mạn thời trung cổ thế kỷ 12 của Gottfried von Strassburg, Tristan và Iseult; được hình thành lần đầu tiên vào năm 1854, âm nhạc được sáng tác từ năm 1857 đến năm 1859 và được công diễn lần đầu tại Königliches Hoftheater und Nationaltheater ở Munich vào ngày 10 tháng 6 năm 1865, với sự tham gia của Hans von Bülow; Tristan und Isolde phần nào khai thác cảm hứng từ quan niệm triết học của Arthur Schopenhauer và từ mối quan hệ của Wagner với nàng thơ Mathilde Wesendonck; tác phẩm khám phá các chủ đề hiện sinh như sự nỗ lực không ngừng của loài và bản chất siêu việt của tình yêu vượt qua cái chết, đồng thời kết hợp tâm linh từ chủ nghĩa thần bí cũng như siêu hình học Vedanta và Phật giáo , những chủ đề mà Schopenhauer quan tâm; Wagner là một trong những nghệ sĩ phương Tây đầu tiên sử dụng các khái niệm từ các tôn giáo धर्म dharma Pháp trong tác phẩm của mình. HHN] hay Juliet, [Giulietta Capuleti là nhân vật nữ chính trong vở bi kịch lãng mạn Romeo và Juliet của William Shakespeare, một cô gái 13 tuổi, là con gái duy nhất của tộc trưởng nhà Capulet; nàng đem lòng yêu Romeo, một thành viên của nhà Montague, gia tộc có mối thù truyền kiếp với nhà Capulet; câu chuyện có một lịch sử lâu đời, thậm chí còn trước cả thời Shakespeare - HHN] mà cảm nhận cảm xúc của những bóng ma thi ca này và truyền chúng vào cuộc sống của chính mình. Có lẽ đến một thời điểm sau đó, một cảm xúc cá nhân và chân thực mới phá vỡ mạng lưới ảo tưởng tình cảm của cô ấy.’18 Nhưng cho đến khi cảm xúc này xuất hiện, cô gái không có cách nào khám phá ra yếu tố ảo tưởng và văn chương trong tình yêu của mình. Chính sự thật về những cảm xúc tương lai của cô ấy mới được định sẵn để tiết lộ sự sai lầm của những cảm xúc hiện tại, những cảm xúc được trải nghiệm một cách chân thực. Cô gái ‘mất đi thực tại của mình’19 trong đó, cũng như diễn viên mất đi vai diễn mà anh ta thể hiện, vì vậy chúng ta không đối mặt với những hình ảnh hay ý tưởng tạo ra cảm xúc thực sự, mà là những cảm xúc nhân tạo và tình cảm tưởng tượng. Do đó, chúng ta không phải lúc nào cũng làm chủ được bản thân trong toàn bộ thực tại của mình, và chúng ta có quyền nói về một nhận thức nội tâm, một giác quan bên trong, một ‘bộ phân tích’ hoạt động từ chúng ta đến chính mình, không ngừng cung cấp kiến ​​thức về cuộc sống và sự tồn tại của chúng ta, nhưng không phải tất cả. Những gì còn lại ở phía bên kia của nhận thức nội tâm và không gây ấn tượng với giác quan bên trong không phải là vô thức. ‘Cuộc sống của tôi’, ‘toàn bộ hiện hữu của tôi’ không phải là những cấu trúc mơ hồ, giống như cái ‘tự ngã sâu thẳm’ của Bergson, mà là những hiện tượng chắc chắn được tiết lộ cho phép phản tư. Đó chỉ đơn giản là vấn đề về những gì chúng ta đang làm. Tôi phát hiện ra mình đang yêu. Có thể không một sự kiện nào trong số những sự kiện mà giờ đây tôi nhận ra là bằng chứng cho tình yêu của mình lại không bị tôi chú ý; không phải là sự thúc đẩy nhanh chóng của hiện tại hướng tới tương lai của tôi, không phải là cảm xúc khiến tôi không nói nên lời, cũng không phải là sự sốt ruột chờ đợi ngày chúng tôi gặp nhau. Tuy nhiên, tôi đã không nhìn nhận toàn bộ sự việc, hoặc nếu có, tôi đã không nhận ra rằng đó là một vấn đề của một cảm xúc quan trọng đến vậy, bởi vì giờ đây tôi nhận ra rằng mình không thể hình dung cuộc sống lại thiếu đi tình yêu này nữa. Nhìn lại những ngày tháng trôi qua, tôi nhận ra rằng suy nghĩ và hành động của mình bị phân cực, tôi nhận ra quá trình tổ chức, một sự tổng hợp đang hình thành. Tuy nhiên, không thể giả vờ rằng tôi luôn biết những gì tôi biết bây giờ, và coi [tr.443] như một quá trình tự nhận thức đã tồn tại trong những ngày tháng đã trôi qua, một loại tự nhận thức mà chỉ gần đây tôi mới có được. Nói chung, không thể phủ nhận rằng tôi còn nhiều điều phải học hỏi về bản thân, cũng như không thể đặt trước, ngay trong sâu thẳm trái tim mình, một cách hiểu về bản thân chứa đựng tất cả những gì tôi biết về chính mình, sau khi đã đọc sách và trải nghiệm mà hiện tại tôi chưa hề hay biết. Ý niệm về một hình thái ý thức trong suốt với chính nó, tồn tại của nó có thể đồng nhất với nhận thức về tồn tại của nó, không khác biệt nhiều so với khái niệm vô thức; trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có cùng một ảo tưởng hồi tưởng, bởi vì, được đưa vào tôi như một đối tượng rõ ràng, tất cả những gì sau này tôi sẽ hiểu về bản thân mình.

Tình yêu đã vận dụng phép biện chứng của nó thông qua tôi, và điều mà tôi vừa mới nhận thức được, ngay từ đầu không phải là một thứ ẩn giấu trong vô thức của tôi, cũng không phải là một đối tượng trước ý thức của tôi, mà là xung lực đưa tôi đến với một kẻ nào đó, cuộc biến đổi trong suy nghĩ và hành vi của tôi—tôi không hề không nhận thức được điều đó vì chính tôi là kẻ đã chịu đựng những giờ phút buồn chán trước cuộc gặp gỡ, và là kẻ cảm thấy hân hoan khi ả đến gần—nó đã được nghiệm sinh, chứ không phải được biết đến, từ đầu chí cuối. Kẻ yêu cũng chẳng mấy khác kẻ mơ. ‘Nội dung tiềm ẩn’ và ‘ý nghĩa tình dục’ của giấc mơ chắc chắn hiện diện đối với kẻ mơ vì chính gã là kẻ mơ giấc mơ của mình. Nhưng, chính vì tình dục là bầu không khí chung của giấc mơ, nên những yếu tố này không được khái quát hóa thành tình dục, vì thiếu bất kỳ bối cảnh phi tình dục nào để chúng có thể nổi bật. Khi chúng ta tự hỏi liệu kẻ mơ có ý thức được nội dung tình dục trong giấc mơ của mình hay không, thực ra chúng ta đang đưa ra câu hỏi sai. Nếu tình dục, như chúng ta đã giải thích ở trên, thực sự là một trong những cách chúng ta thiết lập mối quan hệ với thế giới, thì bất cứ khi nào cái hiện hữu siêu tình dục của chúng ta cũng bị phủ bóng, như xảy ra trong giấc mơ, tình dục hiện diện ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả; về bản chất, nó mơ hồ và không thể hiện rõ ràng như chính nó. Ngọn lửa xuất hiện trong giấc mơ không phải là cách để kẻ mơ che giấu ham muốn tình dục dưới một biểu tượng dễ chấp nhận, vì nó chỉ xuất hiện như một biểu tượng khi tỉnh thức; trong ngôn ngữ của giấc mơ, lửa là biểu tượng của bản năng tình dục bởi vì kẻ mơ, khi tách rời khỏi thế giới vật chất và bối cảnh cứng nhắc của cuộc sống thức tỉnh, chỉ sử dụng hình ảnh theo tỷ lệ giá trị tình cảm của nó. Ý nghĩa tình dục của giấc mơ không phải là vô thức cũng không phải là ‘hữu thức’, [tr.444] bởi vì giấc mơ không ‘biểu nghĩa’, như cuộc sống thức tỉnh, bằng cách liên hệ một chuỗi sự kiện này với một chuỗi sự kiện khác, và thật sai lầm khi coi tình dục được kết tinh trong ‘những tái hiện vô thức’ cũng như khi coi trong sâu thẳm kẻ mơ là một ý thức gọi nó bằng tên thật của nó vậy. Tương tự, đối với kẻ yêu mà trải nghiệm đó là của gã, thì tình yêu là vô danh; nó không phải là một thứ có năng lực giới hạn và chỉ định, cũng không phải là tình yêu được nói đến trong sách báo, bởi vì đó là cách gã thiết lập mối quan hệ của mình với thế giới; nó là một biểu nghĩa hiện sinh. Kẻ phạm tội không nhận ra tội lỗi, và kẻ phản bội không nhận ra sự bội phản của mình, không phải vì chúng tồn tại sâu thẳm trong hắn như những biểu hiện hay khuynh hướng vô thức, mà vì chúng là quá nhiều thế giới khép kín, quá nhiều tình huống. Nếu ở trong một tình huống, ta bị bao vây và không thể minh bạch với chính mình, do đó tiếp xúc với bản thân chỉ có thể đạt được trong phạm vi mơ hồ.

Nhưng chẳng phải chúng ta đã đi quá xa rồi sao? Nếu ảo tưởng có thể tồn tại trong ý thức vào một số thời điểm, thì chẳng phải nó sẽ không tồn tại trong mọi thời điểm sao? Chúng ta đã nói rằng có những cảm xúc tưởng tượng mà chúng ta đủ gắn bó để trải nghiệm chúng, nhưng chưa đủ để chúng trở nên chân thực. Vậy liệu có bất kỳ sự cam kết tuyệt đối nào không? Chẳng phải bản chất của cam kết là giữ nguyên tính tự chủ của kẻ cam kết, theo nghĩa nó không bao giờ hoàn toàn, và do đó chẳng phải chúng ta không còn phương tiện nào để mô tả một số cảm xúc nhất định là chân thực nữa sao? Định nghĩa chủ thể bằng khuôn viên tồn tại, tức là theo một quá trình mà trong đó gã vượt lên chính mình, thì chắc chắn bằng chính hành động đó tuyên án gã là ảo tưởng, vì gã sẽ không bao giờ có thể bất cứ điều gì. Thông qua kiềm chế trong ý thức, để không định nghĩa thực tại theo vẻ bề ngoài, chẳng phải chúng ta đã cắt đứt những mối liên kết ràng buộc chúng ta với chính mình, và quy giản ý thức xuống trạng thái chỉ là vẻ bề ngoài của một thực tại vô hình nào đó sao? Một mặt chẳng phải chúng ta đang đối diện với tình thế tiến thoái lưỡng nan của một ý thức tuyệt đối và mặt khác là mối nghi ngờ vô tận sao? Và chẳng phải bằng việc bác bỏ giải pháp đầu tiên, chúng ta đã khiến cái Cogito Tôi Tư duy trở nên bất khả thể sao? Lời phản bác này đưa chúng ta đến điểm mấu chốt. Sẽ là không đúng khi nói rằng sự tồn tại của tôi hoàn toàn làm chủ chính nó, cũng không đúng khi nói rằng nó hoàn toàn xa lạ với chính nó, bởi vì nó là hành động hay việc làm, và bởi vì hành động, theo định nghĩa, là sự chuyển đổi mạnh mẽ từ những gì tôi có sang những gì tôi muốn có, từ những gì tôi là sang những gì tôi có ý hướng trở thành. Tôi có thể hoàn thành cái Cogito Tôi Tư duy và có sự đảm bảo về ý chí, tình yêu hoặc niềm tin chân thành, miễn là trước hết tôi thực sự có ý chí, tình yêu hoặc niềm tin, và do đó hoàn thành sự tồn tại của chính mình. Nếu không phải vậy, thì mối ngờ vực không thể xóa bỏ sẽ lan rộng khắp thế giới, và cả trong suy nghĩ của chính tôi. Tôi sẽ mãi mãi tự hỏi liệu ‘sở thích’, ‘ý chí’, ‘mong muốn’ và ‘dự án’ của tôi có thực sự là của tôi hay không, bởi vì chúng sẽ luôn có vẻ giả tạo, không có thật và không được hoàn thành. Nhưng rồi mối ngờ này, vốn không phải là một mối ngờ thực sự, thậm chí không còn đủ sức mang lại sự chắc chắn tuyệt đối của việc nghi ngờ nữa.20 Cách duy nhất để thoát ra và bước vào sự ‘chân thành’ là ngăn chặn những do dự như vậy và lao mình vào ‘hành động’ một cách mù quáng. Do đó, không phải tôi nghĩ tôi tồn tại mà tôi chắc chắn về sự tồn tại của mình: ngược lại, tính chắc chắn mà tôi có được về những suy nghĩ của mình bắt nguồn từ sự tồn tại thực sự của chúng. Tình yêu, lòng căm thù và ý chí của tôi không chắc chắn chỉ với tư cách là những suy nghĩ về việc yêu, ghét và mong muốn: ngược lại, toàn bộ tính chắc chắn của những suy nghĩ này là nhờ vào tính chắc chắn của những hành động yêu thương, căm ghét hoặc ý chí mà tôi hoàn toàn chắc chắn vì tôi thực hiện chúng. Mọi nhận thức nội tại đều không đầy đủ bởi vì tôi không phải là một đối tượng có thể được tri giác, bởi vì tôi tạo ra thực tại của mình và chỉ tìm thấy chính mình trong hành động. ‘Tôi nghi ngờ’: không có cách nào để dập tắt mọi nghi ngờ liên quan đến mệnh đề này ngoài việc thực sự nghi ngờ, tham gia vào trải nghiệm nghi ngờ, và do đó đưa sự nghi ngờ này vào tồn tại như là tính chắc chắn của nghi ngờ. Nghi ngờ luôn là nghi ngờ điều gì đó, ngay cả khi ‘nghi ngờ mọi thứ’. Tôi chắc chắn về mối ngờ của mình bởi vì tôi coi điều này hay điều kia, thậm chí mọi thứ và cả tồn tại của chính tôi nữa là đáng ngờ. Chính thông qua mối quan hệ của tôi với ‘sự vật’ mà tôi biết bản thân mình; tri giác nội tâm theo sau, và sẽ không thể có được nếu tôi không tiếp xúc với mối ngờ của mình ngay trong chính đối tượng của nó. Điều đã nói về tri giác bên ngoài cũng có thể nói về tri giác bên trong: nó bao hàm vô hạn, và là một tổng hợp không bao giờ kết thúc, mặc dù luôn không hoàn chỉnh, nhưng vẫn tự khẳng định. Nếu tôi cố gắng xác minh tri giác của mình về cái gạt tàn thuốc, thì nhiệm vụ của tôi sẽ là vô tận, bởi vì tri giác này coi nhiều hơn những gì tôi có thể biết một cách rõ ràng là điều hiển nhiên.

[Tr.446] Tương tự, nếu tôi cố gắng xác minh thực tại của sự nghi ngờ của mình, tôi sẽ lại bị cuốn vào một vòng xoáy vô tận, bởi vì tôi sẽ cần phải đặt câu hỏi đối với suy nghĩ của mình về sự nghi ngờ, sau đó là suy nghĩ về suy nghĩ đó, và cứ thế tiếp diễn. Tính chắc chắn bắt nguồn từ chính sự nghi ngờ như một hành động, chứ không phải từ những suy nghĩ này, cũng giống như tính chắc chắn về sự vật và thế giới có trước bất kỳ tri thức lý thuyết nào về các thuộc tính của chúng. Thật vậy, như đã nói, biết là biết rằng mình biết, không phải vì bậc tri thức thứ hai này đảm bảo chính tri thức, mà ngược lại. Tôi không thể tái tạo lại sự vật, nhưng vẫn có những sự vật được tri giác. Tương tự như vậy, tôi không bao giờ có thể trùng khớp với cuộc sống của mình, vốn luôn trốn chạy khỏi chính nó, bất chấp điều đó vẫn có những tri giác nội tâm. Vì lý do tương tự, tôi mở lòng đón nhận cả ảo tưởng và sự thật về bản thân: nghĩa là, có những hành động mà trong đó tôi tự tập hợp lại để vượt qua chính mình. Cái Cogito Tôi Tư duy là nhận thức về thực tế cơ bản này. Trong mệnh đề: ‘Tôi Tư duy nên tôi tồn tại’, thì hai khẳng định này phải được coi là ngang bằng nhau, nếu không sẽ không có cái Cogito Tôi Tư duy. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của sự tương đương này: không phải cái ‘Tôi là’ được chứa đựng một cách nổi bật trong cái Tôi Tư duy, không phải tồn tại của tôi được thu gọn lại thành thứ ý thức mà tôi có về nó, mà ngược lại, chính cái Tôi Tư duy được tái hòa nhập vào quá trình siêu việt của cái ‘Tôi là’, và ý thức vào tồn tại. Thật vậy, dường như cần phải thừa nhận sự trùng khớp tuyệt đối của tôi với chính mình, nếu không phải trong trường hợp ý chí và cảm xúc, thì ít nhất là trong các hành động của ‘tư duy thuần túy’. Nếu đúng như vậy, tất cả những gì chúng ta đã nói sẽ bị thách thức, do đó, thay vì chỉ là một cách tồn tại đơn thuần, tư tưởng sẽ thực sự độc chiếm chúng ta. Vì vậy, bây giờ chúng ta phải xem xét đến sự hiểu biết. Tôi nghĩ về hình tam giác, không gian ba chiều mà tam giác là thuộc về nó, phần kéo dài của một trong các cạnh của nó, và đường thẳng có thể được vẽ qua đỉnh của nó song song với cạnh đối diện, và tôi nhận thấy rằng đường thẳng này, cùng với đỉnh, tạo thành ba góc có tổng bằng tổng các góc của tam giác, và hơn nữa, bằng hai góc vuông. Tôi chắc chắn về cái kết quả mà tôi coi là đã được chứng minh; điều đó có nghĩa là cấu trúc sơ đồ của tôi không giống như những nét vẽ được đứa trẻ tùy ý thêm vào bức vẽ của nó, mà mỗi nét vẽ đều hoàn toàn biến đổi ý nghĩa (‘đó là một ngôi nhà; không, đó là một chiếc thuyền; không, đó là một người đàn ông’), một tập hợp các đường thẳng được vẽ ngẫu nhiên bằng bàn tay tôi. Quá trình từ đầu đến cuối đều hướng đến một hình tam giác. Sự hình thành của [tr.447] hình vẽ không chỉ là hình thành thực sự, mà còn là một sự hình thành có thể hiểu được; tôi xây dựng cấu trúc của mình theo các quy tắc, và khiến các thuộc tính xuất hiện trong hình vẽ—các thuộc tính là các mối quan hệ thuộc về bản chất của hình tam giác. Giống hệt đứa trẻ, tôi không tái tạo lại những gì được gợi ý bởi hình vẽ không rõ ràng thực sự có trên giấy. Tôi nhận thức được việc trình bày một bằng chứng, bởi vì tôi tri giác một mối liên hệ cần thiết giữa tập hợp dữ liệu tạo thành giả thuyết và cái kết luận mà tôi rút ra từ chúng. Chính sự cần thiết này đảm bảo rằng tôi có thể lặp lại thao tác với vô số số liệu thực nghiệm, và bản thân sự cần thiết này bắt nguồn từ thực tế là ở mỗi bước trong việc chứng minh của tôi, và mỗi lần tôi đưa ra các mối quan hệ mới, tôi vẫn ý thức được cái tam giác kia như một cấu trúc ổn định được điều kiện hóa và được chúng giữ nguyên vẹn. Đó là lý do tại sao nếu muốn, chúng ta có thể nói rằng việc chứng minh bao gồm cả việc đưa tổng các góc được tạo dựng thành hai nhóm khác nhau, và xem tổng đó luân phiên bằng tổng các góc của tam giác, và bằng hai góc vuông,21 nhưng cần phải nói thêm22 rằng ở đây chúng ta không chỉ có hai cấu hình kế tiếp nhau, cấu hình đầu tiên loại bỏ cấu hình thứ hai (như trường hợp đứa trẻ phác họa trong mơ); cấu hình đầu tiên tồn tại đối với tôi trong khi cấu hình thứ hai đang trong quá trình hình thành, tổng các góc mà tôi đồng nhất với hai góc vuông cũng giống như ở nơi khác tôi đồng nhất với tổng các góc của tam giác, tất cả điều này chỉ có thể thực hiện được miễn là tôi vượt ra ngoài cái trật tự của hiện tượng hoặc vẻ bề ngoài và tiếp cận được trật tự của eidos [Ghi chú Eidos tiếng Hy Lạp εἶδος eîdos, nghĩa là ‘cái được nhìn thấy, hình thức’, từ ngôn ngữ Nguyên Ấn-Âu ‘weyd’ ‘nhìn thấy’, so sánh với dạng hoàn thành trong tiếng Hy Lạp ‘οἶδα’ oîda ‘Tôi đã thấy’ = ‘Tôi biết’ biểu thị hình thức, hình dạng hoặc vẻ bề ngoài; thuật ngữ này đã có thể được tìm thấy trong các cuộc đối thoại Cratylus Parmenides của Plato, nơi nó thường được dịch là ‘ý niệm’; đối với Aristotle, nó trái ngược với ὕλη hýlē vật chất; trong hiện tượng học của Edmund Husserl, thuật ngữ này đại diện cho bản chất; đối với Aristotle, eidos có hai nghĩa chính: theo nghĩa phân loại logic hoặc khoa học, là loại của một chi theo nghĩa hình thức, chẳng hạn như một quả cầu bằng đồng hoặc hướng dẫn xây dựng một ngôi nhà, đối lập với vật chất, là bản chất, là hýlē của quả cầu bằng đồng này, của các thành phần xây dựng của ngôi nhà này; Eidos là một khái niệm trung tâm đối với Aristotle; trong tác phẩm Siêu hình học của mình, ông định nghĩa eidos τὸ εἶδος τὸ ἐνόν to eidos to enon ‘hình thức nội tại’ của bản chất sơ cấp hay ουσία ousia (Met. VII 11, 1037a 29-30); hình thức và vật chất là hai quan điểm về một σύνολον synolon tổng thể; không có vật thể riêng lẻ nào tồn tại mà không có vật chất; nhưng nó không thể được định nghĩa nếu không có hình thức, cái phổ quát bên trong; Frede/G. Patzig: Aristoteles Metaphysik Z, Text, Übers. und Kommentar, 2 Bde., München 1988, hier Bd. II, S. 211–214. HHN] hoặc của hiện hữu. Chân lý có vẻ bất khả trừ khi người ta có được sự tự chủ tuyệt đối trong tư duy chủ động, nếu không, nó sẽ không thể diễn ra trong một chuỗi các thao tác liên tiếp và tạo ra một kết quả có giá trị vĩnh viễn.

Sẽ không có cả tư tưởng lẫn chân lý nếu không có một hành động mà nhờ đó tôi chế ngự được sự phân tán về mặt thời gian của các giai đoạn tư duy, và sự tồn tại de facto thực tế đơn thuần của các sự kiện tinh thần của tôi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu đầy đủ bản chất của hành động này. Sự cần thiết về bằng chứng không phải là sự cần thiết phân tích: cấu trúc cho phép đạt được kết luận không thực sự nằm trong bản chất của tam giác, mà chỉ có thể thực hiện được khi bản chất đó đóng vai trò là điểm khởi đầu [tr.448]. Không có định nghĩa nào về tam giác bao gồm trước các thuộc tính sẽ được chứng minh sau đó và các bước trung gian dẫn đến chứng minh đó. Kéo dài một cạnh, vẽ một đường thẳng song song với cạnh đối diện qua đỉnh, giới thiệu định lý liên quan đến các đường thẳng song song và cát tuyến của chúng, những bước này chỉ có thể thực hiện được nếu tôi xem xét chính tam giác như nó được vẽ trên giấy, trên bảng đen hoặc trong trí tưởng tượng, với physiognomy tướng diện học của nó, sự sắp xếp cụ thể của các đường thẳng, nói tóm lại là Gestalt hình thái của nó. Phải chăng chính xác đây là bản chất hay ý tưởng về một tam giác? Ngay từ đầu, chúng ta hãy bác bỏ bất kỳ ý tưởng nào về bản chất hình thức của tam giác. Cho dù người ta có ý kiến ​​​​gì về những nỗ lực hình thức hóa, thì trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng chúng không thể cung cấp một logic sáng tạo, và không có định nghĩa logic nào về một tam giác có thể sánh được về tính phong phú với tầm nhìn về hình học, hoặc cho phép chúng ta đạt được, thông qua một loạt các thao tác hình thức, những kết luận chưa được thiết lập bằng trợ giúp trực giác. Có lẽ sẽ có người phản đối rằng điều này chỉ đề cập đến các khía cạnh tâm lý của sự khám phá, sao cho nếu sau sự kiện người ta có thể thiết lập được mối liên hệ giữa giả thuyết và kết luận mà không dựa vào trực giác, thì đó là vì trực giác không phải là trung gian tất yếu của tư duy và không có chỗ đứng trong logic. Nhưng thực tế là quá trình hình thức hóa luôn mang tính hồi tưởng chứng tỏ rằng nó không bao giờ thực sự hoàn chỉnh, và tư duy hình thức nuôi dưỡng tư duy trực giác. Nó bộc lộ những tiên đề chưa được hình thành mà người ta cho rằng lý trí dựa vào, và dường như mang lại cho lý trí một sự chặt chẽ nhất định và khám phá ra nền tảng tính chắc chắn của chúng ta; nhưng trên thực tế, nơi mà tính chắc chắn nảy sinh và nơi mà một chân lý xuất hiện luôn là tư duy trực giác, mặc dù, hay đúng hơn là chính vì, các nguyên tắc được ngầm giả định ở đó. Sẽ không có kinh nghiệm về chân lý, và không gì có thể dập tắt ‘hoạt ngôn tinh thần’ của chúng ta nếu chúng ta vi formae suy nghĩ bằng sức mạnh của hình thức, và nếu các mối quan hệ hình thức không được trình hiện cho chúng ta trước tiên dưới dạng kết tinh trong một sự vật cụ thể nào đó. Thậ chí chúng ta sẽ không thể đưa ra được một giả thuyết để suy luận các hệ quả, nếu trước hết chúng ta không coi nó là đúng. Giả thuyết là điều được cho là đúng, do đó tư duy giả thuyết giả định một số kinh nghiệm về chân lý de facto thực tế. Vậy là cấu trúc này liên quan đến cấu hình của tam giác, đến cách nó chiếm không gian, đến các mối quan hệ được thể hiện bởi các từ ‘trên’, ‘bên cạnh’, ‘đỉnh’ và ‘mở rộng’. Liệu những mối quan hệ này có cấu thành một loại bản chất vật chất của tam giác không? Nếu các từ [tr.449] ‘trên’, ‘xuyên qua’, v.v., vẫn giữ được bất kỳ ý nghĩa nào, thì đó là nhờ tôi đang làm việc trên một tam giác hữu hình hoặc tưởng tượng, nghĩa là, một tam giác ít nhất có tiềm năng nằm trong trường tri giác của tôi, được xác định theo các hướng ‘trên’ và ‘dưới’, ‘phải’ và ‘trái’, hoặc một lần nữa, như chúng ta đã chỉ ra trước đó, được ngụ ý trong sự nắm bắt chung của tôi về thế giới. Cấu trúc này làm rõ các khả tính của tam giác, được xem xét không phải dưới ánh sáng của định nghĩa, như một ý niệm thuần túy, mà như một cấu hình và với tư cách là cực mà các chuyển động của tôi hướng tới. Kết luận tất yếu xuất phát từ giả thuyết bởi vì, trong hành động xây dựng, nhà hình học đã trải nghiệm khả năng chuyển đổi. Chúng ta hãy thử mô tả hành động này rõ hơn. Chúng ta đã thấy rằng điều xảy ra rõ ràng không phải là một thao tác hoàn toàn bằng tay, sự chuyển động thực tế của bàn tay và cây bút trên giấy, bởi vì trong trường hợp đó sẽ không có sự khác biệt giữa một cấu trúc và bất kỳ tập hợp nét vẽ tùy ý nào, và sẽ không có sự chứng minh nào. Cấu trúc là một cử chỉ, có nghĩa là các nét vẽ thực tế là biểu hiện bên ngoài của một ý hướng. Nhưng ý hướng đó là gì? Tôi ‘xem xét’ hình tam giác, đối với tôi đó là một tập hợp các đường thẳng có một hướng nhất định, và nếu các từ như ‘góc’ hay ‘hướng’ có bất cứ ý nghĩa gì đối với tôi, thì đó là ở chỗ tôi đặt mình ở một điểm, và từ đó hướng tới một điểm khác, ở chỗ hệ thống các vị trí không gian cung cấp cho tôi một trường chuyển động khả thể. Như vậy, tôi nắm bắt được bản chất cụ thể của hình tam giác, không phải là một tập hợp các ‘đặc điểm’ khách quan, mà là công thức của một thái độ, một phương thức nhất định về sự nắm giữ thế giới của tôi, tóm lại là một cấu trúc. Khi tạo dựng, tôi gắn cấu trúc đầu tiên với cấu trúc thứ hai, cấu trúc ‘song song và cát tuyến’. Làm sao điều đó có thể xảy ra? Đó là bởi vì tri giác của tôi về hình tam giác không phải là cố định và chết cứng, bởi vì hình vẽ tam giác trên giấy chỉ là lớp vỏ bên ngoài của nó; nó được xuyên suốt bởi các đường sức, [lines of force là các đường cong tưởng tượng được vẽ trong không gian để minh họa hình ảnh trực quan về hướng và độ mạnh của trường lực - điện trường hoặc từ trường - tại bất kỳ điểm nào; chúng cho biết lực tác dụng lên một điện tích hoặc nam châm thử đặt trong trường - HHN] và ở khắp mọi nơi trong đó, những hướng đi mới chưa được vạch ra nhưng đã được hé lộ là khả thể. Trong chừng mực mà hình tam giác liên quan đến sự nắm giữ thế giới của tôi, nó tràn đầy những khả tính vô định mà cấu trúc thực sự được vẽ chỉ là một trong số đó. Cấu trúc này có giá trị minh chứng bởi vì tôi khiến nó xuất hiện từ công thức năng động của hình tam giác. Nó thể hiện sức mạnh của tôi để làm rõ các biểu tượng hữu hình của một sự nắm giữ nhất định đối với mọi thứ, đó là tri giác của tôi về cấu trúc của hình tam giác. Đó là một hành động của trí tưởng tượng sáng tạo chứ không phải là sự trở lại với ý tưởng vĩnh cửu [tr.450] về hình tam giác. Hệt như việc định vị các vật thể trong không gian, theo Kant, không chỉ đơn thuần là một thao tác tinh thần, mà còn là một thao tác sử dụng khả tính vận động của cơ thể,23 chuyển động tạo ra cảm giác tại điểm cụ thể trên quỹ đạo của nó, thì nhà hình học, nói chung là kẻ nghiên cứu các quy luật khách quan về vị trí, chỉ biết được các mối quan hệ mà gã quan tâm bằng cách mô tả chúng, ít nhất là về mặt tiềm năng, bằng cơ thể của mình. Chủ thể của hình học là một chủ thể vận động. Điều này có nghĩa là trước hết, cơ thể chúng ta không phải là một vật thể, cũng không phải chuyển động của nó chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian khách quan, nếu không thì vấn đề sẽ chỉ bị chuyển đổi, và chuyển động của chính cơ thể mình sẽ không làm sáng tỏ vấn đề về vị trí của sự vật, vì bản thân nó sẽ không là gì khác ngoài một vật thể. Như Kant thừa nhận, phải có một ‘chuyển động tạo ra không gian’24 đó là chuyển động có ý hướng của chúng ta, khác với ‘chuyển động trong không gian’, đó là chuyển động của sự vật và của cơ thể thụ động của chúng ta. Nhưng còn nhiều điều cần nói thêm: nếu chuyển động tạo ra không gian, chúng ta phải loại trừ khả tính mà sự vận động của cơ thể chỉ là một ‘công cụ’25 cho ý thức cấu thành. Nếu có một ý thức cấu thành, thì chuyển động của cơ thể chỉ là chuyển động khi ý thức đó nghĩ về nó xét theo khía cạnh đó;26 sức mạnh kiến tạo chỉ tái khám phá trong nó những gì nó đã đặt vào đó, và cơ thể thậm chí không phải là một công cụ theo nghĩa này: nó là một vật thể giữa các vật thể. Không có tâm lý học nào trong triết học về ý thức cấu thành. Hoặc ít nhất là không thể có điều gì hợp lệ để một tâm lý học như vậy lên tiếng, vì nó không thể làm gì khác ngoài việc áp dụng kết quả của sự phản tư phân tích vào từng nội dung cụ thể, đồng thời bóp méo chúng, vì nó tước đoạt ý nghĩa siêu nghiệm của chúng. Chuyển động của cơ thể chỉ có thể đóng một vai trò trong tri giác về thế giới nếu bản thân nó là một ý hướng tính nguyên gốc, một cách thức liên hệ chính nó với đối tượng tri thức riêng biệt. Thế giới xung quanh chúng ta không phải là một hệ thống các đối tượng mà chúng ta tổng hợp, mà là một tổng thể các sự vật, mở ra cho chúng ta, mà chúng ta tự phóng chiếu bản thân mình tới đó. “Chuyển động tạo ra [tr.451] không gian’ không triển khai quỹ đạo từ một điểm siêu hình nào đó không có vị trí trong thế giới thực, mà từ một nơi nào đó ở đây đến một nơi nào đó ở xa, những nơi này nhất thiết phải hoán đổi cho nhau. Cái dự phóng hướng tới chuyển động là một hành động, có nghĩa là nó vạch ra khoảng cách không gian-thời gian bằng cách thực sự bao phủ nó. Do đó, tư duy của nhà hình học, trong chừng mực nó nhất thiết được duy trì bởi hành động này, không trùng khớp với chính nó: nó hoàn toàn và đơn giản là siêu việt. Trong chừng mực mà, bằng cách thêm một kết cấu, tôi có thể làm sáng tỏ các thuộc tính của một tam giác, và vẫn thấy rằng hình được biến đổi như vậy không ngừng là hình ban đầu, và hơn nữa, trong chừng mực mà tôi có thể thực hiện một sự tổng hợp vẫn giữ được đặc tính tất yếu, điều này không phải vì cái kết cấu của tôi được nâng đỡ bởi một khái niệm về tam giác bao gồm tất cả các thuộc tính của nó, hoặc vì, bắt đầu từ ý thức tri giác, tôi đạt đến cái eidos thị kiến: đó là vì tôi thực hiện sự tổng hợp thuộc tính mới bằng cơ thể của mình, điều này ngay lập tức đưa tôi vào không gian, trong khi chuyển động tự chủ của nó cho phép tôi, thông qua một loạt quy trình nhất định, một lần nữa đạt đến một cái nhìn toàn diện về không gian. Tư duy hình học không hề vượt lên trên ý thức tri giác, nhưng chính từ thế giới tri giác mà tôi mượn được khái niệm bản chất. Tôi tin rằng tam giác luôn luôn đã có, và luôn luôn sẽ có, các góc có tổng bằng hai góc vuông, cũng như tất cả các thuộc tính ít rõ ràng hơn mà hình học gán cho nó, bởi vì tôi đã có trải nghiệm về một tam giác thực sự, và bởi vì, với tư cách là một vật thể vật lý, nó nhất thiết phải chứa đựng trong mình tất cả những gì nó đã từng có khả năng, hoặc sẽ có khả năng thể hiện. Trừ khi vật thể được tri giác đã mãi mãi gieo vào ta khái niệm lý tưởng về một hiện hữu đó chính là nó, thì sẽ không có hiện tượng hiện hữu, và tư duy toán học sẽ xuất hiện như một sự sáng tạo đơn thuần. Thứ mà tôi gọi là bản chất của tam giác không gì khác ngoài giả định về một sự tổng hợp hoàn chỉnh, mà chúng ta đã định nghĩa sự vật theo khuôn khổ của nó.

Cơ thể chúng ta, ở mức độ nó tự vận động, tức là ở mức độ nó không thể tách rời khỏi quan điểm về thế giới và chính là quan điểm đó được hiện thực hóa, là điều kiện của khả tính, không chỉ của sự tổng hợp hình học, mà còn của tất cả các vận hành biểu đạt và tất cả các quan điểm thu được cấu thành nên thế giới văn hóa. Khi chúng ta nói rằng tư tưởng là tự phát, điều này không có nghĩa là nó trùng khớp với chính nó; [tr.452] ngược lại, điều đó có nghĩa là nó vượt lên chính nó, và ngôn ngữ chính là hành động mà qua đó nó bất tử hóa chính nó như là chân lý. Thật vậy, rõ ràng ngôn ngữ không thể được coi là một lớp vỏ bọc cho tư tưởng, hoặc biểu đạt như là cách phiên dịch thành một hệ thống ký hiệu võ đoán, của một ý nghĩa đã rõ ràng đối với chính nó. Người ta nói đi nói lại rằng âm thanh và âm vị không có ý nghĩa tự thân, và tất cả những gì ý thức của chúng ta có thể tìm thấy trong ngôn ngữ là những gì nó đã đặt vào đó. Nhưng từ đó sẽ suy ra rằng ngôn ngữ không thể dạy chúng ta điều gì, và cùng lắm nó chỉ có thể khơi gợi trong chúng ta các cách kết hợp mới của những ý nghĩa mà chúng ta đã có. Nhưng đây chính là điều mà kinh nghiệm về ngôn ngữ bác bỏ. Đúng là giao tiếp giả định một hệ thống tương ứng như từ điển cung cấp, nhưng nó còn vượt xa hơn thế, và điều mang lại ý nghĩa cho mỗi từ chính là câu. Chính vì được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau mà từ ngữ dần dần tích lũy một ý nghĩa không thể xác định một cách tuyệt đối. Một câu nói sâu sắc hay một cuốn sách hay áp đặt ý nghĩa của chúng lên chúng ta. Do đó, chúng mang ý nghĩa đó trong mình theo một cách nào đó. Còn đối với chủ thể nói, gã cũng phải có khả năng vượt qua những gì mình đã nghĩ trước đó, và tìm thấy trong chính lời nói của mình nhiều suy tư hơn những gì mà gã đã gửi gắm vào đó, nếu không chúng ta sẽ không thấy suy tư, ngay cả những suy tư đơn độc, tìm cách thể hiện với đức kiên trì đến vậy. Do đó, lời nói là một hoạt động nghịch lý mà qua đó, bằng cách sử dụng các từ có nghĩa nhất định và những nghĩa đã có sẵn, chúng ta cố gắng theo đuổi một ý định nhất thiết phải vượt qua, sửa đổi, và cuối cùng, tự nó ổn định ý nghĩa của các từ phiên dịch ý nghĩa đó. Ngôn ngữ được cấu thành đóng vai trò hạn chế tương tự trong công cuộc biểu đạt như màu sắc trong hội họa: nếu chúng ta không có mắt, hay nói chung là các giác quan, thì sẽ không có hội họa nào cả, nhưng bức tranh ‘nói’ với chúng ta nhiều hơn việc chỉ sử dụng các giác quan có thể làm được. Do đó, bức tranh, vượt qua và vượt lên trên dữ liệu giác quan, lời nói, dữ liệu ngôn ngữ, tự bản thân nó phải sở hữu một giá trị biểu nghĩa, độc lập của bất kỳ ý nghĩa nào tồn tại cho chính nó, trong tâm trí của người xem hoặc kẻ nghe. “Bằng cách sử dụng từ ngữ như họa sĩ sử dụng màu sắc và nhạc sĩ sử dụng nốt nhạc, chúng ta đang cố gắng cấu thành, từ một cảnh tượng, một cảm xúc, hoặc thậm chí một ý tưởng trừu tượng, một loại tương đương hoặc specie loại hình có thể hòa tan trong tâm trí. Ở đây, biểu đạt trở thành điều chính yếu. Chúng ta nhào nặn và làm sống động người đọc, chúng ta khiến họ tham gia vào thế giới thi ca, sáng tạo của chúng ta, đặt vào khuôn miệng ẩn giấu trong tâm trí họ [tr.453] thông điệp về một đối tượng hoặc một cảm xúc nhất định.”27 Bên trong họa sĩ hoặc chủ thể nói, bức tranh và lời nói tương ứng không minh họa một suy tư có sẵn, mà biến suy tư đó thành của riêng họ. Đây là lý do tại sao chúng ta được dẫn dắt để phân biệt giữa một lời nói thứ cấp, diễn đạt lại một tư tưởng đã được tiếp thu, và một lời nói khởi nguồn, đưa tư tưởng đó vào tồn tại, trước hết là cho chính chúng ta, và sau đó là cho những kẻ khác. Giờ đây, tất cả những từ ngữ đã trở thành những dấu hiệu đơn thuần cho một tư tưởng duy nhất chỉ có thể làm được điều đó bởi vì trước hết chúng đã đóng vai trò là những từ ngữ khởi nguồn, và chúng ta vẫn còn nhớ được tính phong nhiêu mà chúng ta cảm nhận được, và chúng giống như một phong cảnh mới mẻ đối với chúng ta, trong khi chúng ta đang tham gia vào việc ‘tiếp thu’ chúng, và trong khi chúng vẫn còn thực hiện chức năng biểu đạt nguyên thủy. Do đó, tự chủ và sự trùng hợp với tự ngã không dùng để định nghĩa tư tưởng, trái lại, tư tưởng là kết quả của biểu đạt và luôn luôn là một ảo ảnh, bởi vì tính minh bạch của những gì được tiếp thu dựa trên hoạt động mơ hồ cơ bản đã cho phép chúng ta bất tử hóa trong chính mình một khoảnh khắc của cuộc sống thoáng qua. Chúng ta được mời gọi để nhận ra bên dưới lối tư duy đắm chìm trong những thành tựu đã đạt được, và chỉ mang lại một chỗ nghỉ ngơi ngắn ngủi trong quá trình biểu đạt bất tận, một lối tư duy khác đang tranh đấu để tự khẳng định mình, và chỉ thành công bằng cách uốn nắn các nguồn lực của ngôn ngữ đã thành tạo để sử dụng theo một cách mới mẻ nào đó. Cách vận hành này phải được coi là một thực tế tối thượng, bởi vì bất kỳ lời giải thích nào về nó—cho dù là theo chủ nghĩa kinh nghiệm, bằng cách quy giản những ý nghĩa mới thành những ý nghĩa đã cho; hay theo chủ nghĩa duy tâm, giả định một tri thức tuyệt đối tiềm ẩn trong những hình thái tri thức sơ khai nhất—đều sẽ tương đương với việc phủ nhận nó.

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

17 Scheler, Idole der Selbsterkenntis, pp. 63 and ff.

18 Scheler, Idole der Selbsterkenntis, pp. 89–95.

19 J. P. Sartre, L’Imaginaire, p. 243.

20 "....In which case, that too, that cynical distaste at her own persona, was deliberately put on! And that scorn for the distaste which she was busy contriving, was so much playacting too! And her doubt about her scorn...it was maddening. Once you started being sincere, was there no end to it?" S. de Beauvoir, L’Invitée, p. 232.

21 Wertheimer, Drei Abhandlungen zur Gestalttheorie: die Schluszprozesse im produktiven Denken.

22 A. Gurwitsch, Quelques aspects et quelques développements de la théorie de la Forme, p. 460.

23 P. Lachièze-Rey, Utilisation possible du schématisme kantien pour une théorie de la perception and Réflexions sur l’activité spirituelle constituante.

24 Lachièze-Rey, Réflexions sur l’activité spirituelle constituante, p. 132.
25 Lachièze-Rey, Utilisation possible….., p. 7.

26 ‘It must disclose intrinsically the immanence of a spatial trajectory, which alone can enable it to be thought of as motion’. Lachièze-Rey, ibid., p. 6.

27 Claudel, Réflexions sur le vers français, Positions et propositions, pp. 11–12.