Powered By Blogger

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

III. TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CHÂN THỰC CỦA DASEIN, VÀ THỜI GIAN TÍNH NHƯ LÀ Ý NGHĨA BẢN THỂ LUẬN CỦA CHĂM LO

[Tr. 368] Khi nói ‘Tôi’, Dasein tự biểu đạt mình như là Hữu-thể-trong-thế-giới. Nhưng liệu việc nói ‘Tôi’ theo cách thức thường nhật có bao hàm sự tự nhận thức về chính mình như là một ‘hiện-hữu-trong-thế-giới’ hay không? Ở đây, chúng ta cần phân biệt rõ. Khi nói ‘Tôi’, Dasein chắc chắn đang hướng đến cái thực thể mà trong mọi trường hợp, chính là bản thân nó. Tuy nhiên, cách diễn giải thường nhật về cái Tự ngã lại có xu hướng tự lý giải trong khuôn khổ cái ‘thế giới’ mà nó đang bận tâm. Khi Dasein tự nhìn nhận bản thân ở bình diện thực hữu, nó lại bỏ lỡ việc nhìn nhận chính mình trong mối tương quan với loại Hữu thể của chính cái thực thể là bản thân nó. Điều này đặc biệt đúng đối với trạng thái cơ bản của Dasein, Hữu-thể-trong-thế-giới.xxi

Động cơ nào dẫn đến cách nói ‘Tôi’ mang tính ‘trốn chạy’ này? Nó bắt nguồn từ tình trạng ‘sa ngã’ của Dasein; bởi lẽ, trong trạng thái sa ngã, Dasein trốn chạy khỏi chính mình để ẩn náu vào cái gọi là das Man cái ‘họ’.1  Khi cái ‘Tôi’ được thốt lên theo cách thức ‘tự nhiên’, thì nó được trình diễn bởi cái Tự-ngã-họ.2 Điều được biểu đạt qua cái ‘Tôi’ chính là cái Tự-ngã mà, trong phần lớn các trường hợp và ở giai đoạn đầu, tôi không hiện hữu một cách đích thực. Khi một kẻ đắm chìm trong vô vàn sự vật thường nhật cùng chuỗi biến chuyển dồn dập của những gì mà kẻ đó bận tâm, thì cái Tự-ngã của cái tự ngã lãng quên ‘Tôi đang bận tâm’ kia – lại tự hiện ra như một thực thể giản đơn, luôn đồng nhất với chính nó nhưng lại mơ hồ và trống rỗng. Tuy nhiên, kẻ kia lại chính là kẻ tự bận tâm về bản thân. Trong cung cách mang tính thực hữu ‘tự nhiên’ mà ở đó cái ‘Tôi’ trò chuyện thì nội dung hiện tượng về cái Dasein vốn nhắm đến cái ‘Tôi’ lại thường bị bỏ qua; nhưng đó không phải là lý do chính đáng để chúng ta cùng can dự vào việc tiếp tục lờ nó đi, hay áp đặt một chân trời ‘phạm trù’ không phù hợp lên vấn đề về cái Tự ngã khi ta Diễn giải cái ‘Tôi’ về phương diện bản thể luận. Tất nhiên, việc từ chối đi theo cách thức mà trong đó [tr.369] cái ‘Tôi’ trò chuyện thì cách Diễn giải bản thể luận của chúng ta về cái ‘Tôi’ vẫn hoàn toàn chưa giải quyết được vấn đề; song, cách tiếp cận này đã vạch ra phương hướng cho các nghiên cứu sâu hơn. Bằng cái ‘Tôi’, chúng ta hướng đến chính cái kẻ vẫn ‘hiện hữu-trong-thế-giới’ đó.

Tuy nhiên Hữu-thể-đã-ở-trong-một-thế-giới, với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh-cái-sẵn-có-để-dùng-trong-thế-giới, về phương diện đồng bản nguyên có nghĩa là kẻ kia luôn vượt trước chính mình. Với cái ‘Tôi’, chúng ta đang nhắm đến cái thực thể mà đối với nó, vấn đề chính là cái Hữu-thể của bản thân thực thể đó. Bằng cái ‘Tôi’, Sorge/ care chăm lo tự thể hiện, dù ban đầu và phần lớn chỉ xuất hiện bằng cách thức ‘lảng tránh’ trong đó cái ‘Tôi’ trò chuyện khi tự bận tâm về một điều gì đó. Cái tự-ngã-họ liên tục thốt lên ‘Tôi’ một cách ồn ào và thường xuyên nhất, bởi lẽ về cơ bản, nó không đích thực là chính nó và đang né cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của mình. Nếu cấu thành bản thể luận của Tự ngã không thể quy về một Ichsubstanz/I-substance ‘Tôi’-thực thể hay một Subjekt/Subject ‘chủ thể’ nào đó, mà ngược lại, cách thức ‘lảng tránh’ thường nhật kia, trong đó chúng ta luôn nói ‘Tôi’ phải được thấu hiểu bằng khuôn khổ của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chúng ta, thì mệnh đề mà cái Tự ngã là cơ sở của chăm lo và hiện-diện-vô-tri, thì điều đó vẫn không hợp lý.

[Chen ngang: Ichsubstanz/ I-substance ‘Tôi’-thực thể được Heidegger sử dụng để: i) Bác bỏ quan điểm siêu hình học truyền thống bắt nguồn từ Descartes cho rằng Ego cái Tôi của con người là một Die denkende Substanz thực thể Tư duy, một res cogitans ‘vật tư duy’, hay một điểm tựa cố định kiểu như Ichsubstanz cái ‘Tôi’-thực thể; ii) Trong tiếng Đức, từ chỉ ‘chủ thể’ là das Subjekt (số nhiều: die Subjekte), còn ‘chủ thể tính’ là die Subjektivität. Tuy nhiên, trong tác phẩm của Heidegger, khái niệm này có một vị trí đặc biệt: i) Từ chối quan niệm truyền thống - Heidegger chủ động tránh hoặc phê phán khái niệm Subjekt chủ thể theo kiểu Descartes [đối lập với Objekt khách thể]; ii) Thay thế bằng Dasein - thay vì dùng ‘con người’ hay ‘chủ thể’, Heidegger đưa ra thuật ngữ Dasein hiện hữu người ‘có-đó’ để chỉ cách thức Hữu thể đặc thù của con người trong-thế-giới; iii) Bản chất của Dasein - Dasein không phải là một ‘chủ thể nhận thức’ khép kín, mà là một hiện hữu người đang diễn ra, luôn gắn liền và vướng mắc trong thế giới cùng với những sự vật và những Kẻ khác; iv) Dasein không phải là một Chất thể, mà là Sorge/care Chăm lo và Temporality thời gian tính: Heidegger lập luận rằng sự Xuất-hiện của Dasein hiện hữu người không thể bị quy giản thành một chủ thể biệt lập hay một Ichsubstanz ‘Tôi-chất thể’ chỉ đơn thuần hiện diện trong thời điểm hiện tại; thay vào đó, cái ‘Tôi’ được hình thành thông qua Sorge/care Chăm lo, thông qua In-der-Welt-sein quá trình cấu thành/ khai mở bản thể với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới với các mối quan hệ, và thông qua Zeitlichkeit thời gian tính — tức là sự phóng chiếu về phía các khả tính tương lai trong khi vẫn kế thừa quá khứ; v) Cách nói ‘Tôi’ đầy tính ‘thoáng qua’ - khi thốt lên cái ‘Tôi’ trong giao tiếp thường ngày, chúng ta không hề ám chỉ đến một Ichsubstanz Tôi-chất-thể tĩnh tại hay một đối tượng tinh thần nào đó; thay vào đó, cái tự ngã tính được hiện thực hóa một cách năng động thông qua các tiềm-năng-cho-Hữu-thể dù là Eigentlichkeit chân thực hay Uneigentlichkeit không chân thực —chứ không phải thông qua một thực thể cố định, vĩnh viễn.-HHN]

[Chen ngang tiếp: Sorge/ Care - Sự chăm sóc/Ưu tư) và Zeitlichkeit/ Temporality/ Thời gian tính là hai khái niệm nền tảng gắn bó mật thiết với nhau: Thời gian tính chính là ý nghĩa bản thể luận (ontological meaning) của Chăm lo với Ý nghĩa sau: 1. Sorge/ carea Chăm lo: i) Chăm lo không phải là một cảm xúc tâm lý nhất thời, cũng không phải là sự lo âu vặt vãnh; nó là cấu trúc bản thể luận cơ bản của Dasein hiện hữu người ở-trong-thế-giới; ii) Dasein luôn ‘bị ném vào’ thế giới, luôn bận tâm đến sự tồn tại của chính mình, gắn bó với Mitsein Kẻ khác và tương tác với các Besorgen công cụ/đồ vật – lo toan đối với sự vật; Fürsorge quan tâm đến Kẻ khá; bản chất của Dasein hiện hữu người là hướng về phía trước, bị chi phối bởi các khả tính của chính mình. 2. Thời gian tính Zeitlichkeit và Temporalität/ Temporality - Heidegger phân biệt hai thuật ngữ gốc thời gian: i) Zeitlichkeit Thời gian tính của Dasein - Chỉ cấu trúc thời gian thuộc về Dasein; thời gian ở đây không phải là một chuỗi các ‘khoảng khắc’ vật lý trôi qua một cách khách quan trên đồng hồ như giờ, phút, giây, mà là tính chất ecstatic xuất thân gồm ba chiều kích liên kết chặt chẽ với nhau: - Tương lai (Zu-künftige): Sự phóng chiếu (projection) – Dasein luôn vượt trước chính mình, sống hướng tới những khả thể tương lai; - Quá khứ / Đã-là (Gewesenheit): Sự bị ném (thrownness) – Dasein luôn mang theo lịch sử, xuất thân và những gì đã xảy ra với mình; - Hiện tại (Gegenwart): Sự cận hiện (making-present) – Dasein dấn thân, đối diện và "bắt gặp" các sự vật, hiện thể trong hiện tại; ii) Temporalität Thời gian tính nói chung của Sein/ Being được Heidegger dùng để chỉ chân trời rộng lớn hơn – nơi thức nhận và điều kiện hóa quá trình cấu thành/ khai mở Bản thể nói chung. 3. Mối liên hệ giữa Temporality (Zeitlichkeit) và Care (Sorge): i) Temporality là ‘chìa khóa’ mở ra Sorge/ care Chăm lo: Heidegger chứng minh rằng toàn bộ cấu trúc của Sorge (Sự ưu tư) có nền tảng vững chắc từ Zeitlichkeit (Tính thời gian); ii) Cụ thể hóa cấu trúc ba chiều của Care qua lăng kính thời gian: Sich-vorweg-sein/ Being-ahead-of-oneself Luôn đi trước chính mình/phóng chiếu tương ứng với chiều kích Tương lai; schon-sein-in/ Being-already-in Đã ở trong thế giới/bị ném vào hoàn cảnh - tương ứng với chiều kích Quá khứ; Sein-bei Being-alongside Hữu-thể-bên-cạnh tương ứng với chiều kích Hiện tại; Tóm lại Dasein chăm sóc, lo toan, vướng mắc vào cuộc sống bởi vì nó là thực thể ‘có tính thời gian’ – bị kéo đi giữa quá khứ đã định hình và tương lai đang vươn tới.- HHN]

Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính chỉ có thể được nhận diện về phương diện hữu thể/cấu thành bản thể thông qua tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-kẻ-nào-đó đích thực— nghĩa là, trong tính đích thực của của Dasein với tư cách Sorge/care Chăm lo. Trong khuôn khổ Chăm lo, tính ổn định của Selbst cái Tự ngã — vốn thường bị hiểu lầm là sự tồn tại dai dẳng của một subjectum chủ thể — được minh định. Tuy nhiên, hiện tượng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực này cũng giúp ta nhìn nhận tính ổn định của Selbst cái Tự ngã theo nghĩa nó đã đạt đến một vị thế nhất định.3 Tính ổn định của Selbst cái Tự ngã, hiểu theo cả hai nghĩa là trạng thái ổn định và trạng thái kiên định chính là cái khả tính đối lập đích thực với trạng thái ổn-định-phi-Tự-ngã, vốn là đặc trưng của tình trạng sa ngã do thiếu quyết đoán.4 Xét về mặt hữu thể/cấu thành bản thể, trạng thái ổn-định-Tự-ngã không gì khác hơn là tính quyết đoán mang tính dự liệu. Cấu trúc bản thể luận của tính quyết đoán như vậy bộc lộ tính hữu thể/cấu thành bản thể của cái Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính của Tự ngã.

Dasein đạt đến tính đích thực của chính mình thông qua quá trình cá nhân hóa mang tính bản nguyên của trạng thái quyết đoán tĩnh lặng — một trạng thái đòi hỏi chính bản thân nó phải đối diện với nỗi lo âu (anxiety/Angst). Với tư cách là một thực thể [tr.370] nín lặng, Hữu-thể-Tự-ngã-của-kẻ-nào-đó đích thực không nằm ở việc liên tục thốt lên ‘Tôi’; thay vào đó, khi nín lặng, nó ‘là’ chính thực thể đã ‘bị ném’ vào thế giới — một thực thể có thể hiện hữu một cách đích thực. Selbst/ Self cái Tự ngã được mở ra qua nín lặng của một sự Xuất-hiện đầy quyết đoán chính là nền tảng hiện tượng bản nguyên để đặt câu hỏi về Hữu thể [Cấu thành/Khai mở bản thể] của cái ‘Tôi’. Chỉ khi chúng ta định hướng về phương diện hiện tượng bằng ý nghĩa về cái Hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-kẻ-nào-đó đích thực thì chúng ta mới có thể thảo luận về cơ sở bản thể luận cho việc coi các khái niệm như Substanzialität/ substantiality thực thể tính, tính đơn giản và nhân cách là những đặc tính của Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính.

Trong cách nói thịnh hành ‘Tôi’, người ta thường mặc định rằng ngay từ đầu đã tồn tại một Selbst-Ding/ Self-Thing ‘Vật-Tự-thân’ luôn hiện-diện-vô-tri; tuy nhiên, câu hỏi bản thể luận về Hữu thể của cái Selbst/ Self Tự ngã phải loại bỏ mọi gợi ý như vậy. Chăm lo không cần phải được tạo dựng dựa trên một cái Tự ngã. Tuy nhiên, tính cấu thành/khai mở bản thể — với tư cách là yếu tố cấu thành nên Sorge/care Chăm lo — tạo nên cấu thành bản thể luận cho Selbstkonstanz Tự-ngã-kiên-định của Dasein; trong đó, xét theo toàn bộ nội dung cấu trúc của Sorge/care Chăm lo, cái Hữu-thể của nó thực sự rơi vào trạng thái kiên-định-phi-Tự-ngã. Khi được hiểu một cách trọn vẹn, cấu-trúc-chăm-lo bao hàm cả hiện tượng Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính. Hiện tượng này được làm sáng tỏ thông qua việc Diễn giải ý nghĩa của chăm lo; và chính với tư cách chăm lo mà tổng thể tính Hữu thể của Dasein đã được xác định.

65. Thời gian tính với tư cách Ý nghĩa Bản thể luận Chăm lo

Khi mô tả mối ‘kết nối’ giữa Sorge/ care chăm lo và Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính, mục tiêu của chúng tôi không chỉ là làm sáng tỏ vấn đề đặc thù về cái Ichheit/ I-hood ‘Tôi’-tính, mà còn là chuẩn bị bước cuối cùng để nắm bắt, về phương diện hiện tượng, cái tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc của Dasein. Chúng ta cần một kỷ luật kiên định trong cách đặt vấn đề mang tính cấu thành bản thể; nếu không, từ quan điểm bản thể luận, loại Hữu thể của Dasein có nguy cơ bị biến thành một phương cách Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri, ngay cả khi đó là một phương cách hiện diện hoàn toàn không được phân biệt. Dasein trở thành Dasein ‘một cách cốt yếu’ bằng cách Eigentlichkeit tồn tại đích thực, vốn tự cấu thành như một trạng thái vorlaufende Entschlossenheit ‘quyết đoán dự liệu’.5  Trạng thái quyết đoán này, với tư cách là một phương thức đích thực tính của chăm lo, bao hàm Selbstkonstanz Tự-ngã-kiên-định và tống thể tính bản nguyên của Dasein. Chúng ta phải quan sát những yếu tố này một cách tập trung và thấu hiểu chúng theo phương diện hữu thể/cấu thành bản thể, nếu muốn làm sáng tỏ ý nghĩa bản thể luận về Hữu thể của Dasein. Xét về mặt bản thể luận, chúng ta đang tìm kiếm điều gì khi nói đến ý nghĩa của chăm lo? ‘Ý nghĩa’ ở đây biểu thị điều gì? Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã bắt gặp hiện tượng này khi phân tích về sự thấu hiểu và diễn giải.xxii Theo phân tích đó, ý nghĩa chính là cái mà nhờ đó, Verstehbarkeit tính có thể-thấu-hiểu của một sự vật được duy trì — ngay cả [tr.371] đối với những sự vật không xuất hiện một cách tường minh và theo chủ đề. ‘Ý nghĩa’ biểu thị cái das Woraufhin cái hướng-tới-cái-mà của Entwurf/ projection phóng chiếu khởi nguyên, thông qua đó, một sự vật có thể được hình dung trong cái khả tính của chính nó: là cái gì thì nó được hiểu như thế ấy; phóng chiếu mở ra các khả tính, nghĩa là mở ra chính cái yếu tố tạo nên khả tính đó.

[Chen ngang: Theo Heidegger, ‘das Woraufhin’ cái hướng-tới-cái-mà là một khái niệm mang tính kỹ thuật cao, để chỉ chân trời, khuôn khổ hoặc nền tảng cơ sở mà thông qua đó Dasein hiện hữu người thấu hiểu và nắm bắt ý nghĩa của các sự vật; thuật ngữ này có hai phương diện liên hệ với nhau: 1). Ý nghĩa của Sinn Ý nghĩa và Phóng chiếu: i) Đối với Heidegger, các sự vật không tự thân mang ý nghĩa một cách biệt lập; thay vào đó, con người phóng chiếu các khả tính lên thế giới; das Woraufhin cái hướng-tới-cái-mà chính là cơ sở khả tri mà trên đó chúng ta phóng chiếu các khả tính ấy; ii) Trong một đoạn văn nổi tiếng định nghĩa về ý nghĩa, Heidegger viết rằng Sinn ý nghĩa chính là das Woraufhin ‘cái hướng tới’ hoặc ‘cái dựa trên đó’ của một dự phóng, được cấu trúc bởi những tiền-hiểu biết của chúng ta, giúp một sự vật trở nên dễ hiểu với tư cách là một cái gì đó cụ thể; iii) Có thể minh định bằng ví dụ sau: Khi nhìn vào một thanh ván và hiểu nó như một chiếc kệ, nghĩa là Tôi đã phóng chiếu cái khả tính ‘đặt để’ lên nó; khuôn khổ bao quát như ‘nghề mộc’ hay ‘xắp xếp đồ đạc trong nhà’ chính là das Woraufhin — hệ thống nền tảng tạo nên ý nghĩa cho chiếc kệ đó. 2. die Weltlichkeit der Welt/ Worldhood of the World Thế gian tính của Thế giới - Heidegger cũng dùng das Woraufhin để giải thích cách thức ‘thế giới’ vận hành đối với con người: i) Chúng ta liên tục đặt mình vào các mục tiêu và nhiệm vụ das Worumwillen/ for-the-sake-of-which/ hành động ‘vì mục đích nào đó’, thông qua việc sử dụng các công cụ và thực thể thường nhật - những thứ Zuhandenheit/ ‘sẵn-có-để-dùng’; ii) Cấu trúc nền tảng hay mạng quan hệ từ trước của Dasein trong ngữ cảnh này chính là das Woraufhin - hiện tượng ‘thế giới’, một ma trận các mối quan hệ ý nghĩa đã tồn tại từ trước, cho phép tiếp cận và nhận thức các đối tượng có ý nghĩa ngay từ đầu.- HHN]

[Chen ngang: Từ nguyên của das Woraufhin: das Woraufhin - trạng từ đại từ được danh từ hóa, đóng vai trò trung tâm trong quá trình khám phá về ý nghĩa và tính ý hướng. Cụm từ das Woraufhin có thể được dịch là ‘cái-mà-trên-đó-hướng-tới’, ‘cái-hướng-tới’, hay ‘điểm-hướng-đến’ của một phóng chiếu. Heidegger đã sử dụng thuật ngữ này để định nghĩa chính khái niệm ý nghĩa: “Ý nghĩa là ‘cái-mà-trên-đó-hướng-tới’ của một phóng chiếu...”. Xét về từ nguyên và cơ chế ngôn ngữ, từ này được phân tách thành ba thành tố riêng biệt trong tiếng Đức: 1. Phân tích cấu trúc: i) wo- ở đâu/nơi - một thành tố quan hệ hoặc nghi vấn; trong các trạng từ đại từ tiếng Đức như womit [Bằng cái gì? / Với cái gì?], wovon [Từ cái gì? / Về cái gì?], worauf [Vào cái gì? / Trên cái gì?]), wo- đóng vai trò là từ thay thế cho một đối tượng, chức năng hoặc ngữ cảnh, thay vì chỉ một vị trí vật lý cụ thể; nó tương tự như tiền tố ‘where-‘ trong các từ cổ của tiếng Anh như ‘whereupon’ [ngay sau đó/trên cơ sở đó] hay ‘whereby’ [bằng cách đó]; ii) -rauf- trên/phía trên: Một dạng rút gọn của darauf hoặc herauf; phụ âm -r- ở đây là một epenthetic consonant phụ âm chêm, được thêm vào thuần túy để tạo sự thuận tiện trong phát âm, giúp tách biệt hai nguyên âm (wo + auf). ‘Auf’ biểu thị một bề mặt nâng đỡ hoặc một nền tảng; iii)-hin hướng về/về phía đó - một thành tố chỉ phương hướng, biểu thị sự chuyển động rời xa người nói hoặc hướng về một đích đến cụ thể, hay một chân trời tương lai; iv) Trong cách dùng thông thường của tiếng Đức, trạng từ woraufhin mang nghĩa ‘ngay sau đó’ hoặc ‘kéo theo đó’, ví dụ ‘Hắn xúc phạm cô ấy,’ woraufhin ngay sau đó cô ấy bỏ đi’). 2. Cách Heidegger khai thác từ nguyên - Ông đã lấy một từ nối thông thường trong ngôn ngữ tự sự này rồi danh từ hóa nó bằng cách thêm mạo từ trung tính das để tạo thành das Woraufhin, qua đó biến một từ nối trạng từ thành một đích đến mang tính cấu trúc của ý thức con người; bằng cách phân tích các gốc từ theo nghĩa đen (nơi-trên-đó-nó-hướng-tới), Heidegger làm nổi bật hai chiều kích triết học quan trọng: i) ‘Auf’ Nền tảng/Cơ sở - đòi hỏi một khung tham chiếu đã tồn tại sẵn; Dasein hiện hữu người tự phóng chiếu mình lên một bối cảnh nền tảng, vốn đóng vai trò nâng đỡ cho khả tính hiểu được; ii) ‘Hin’ vectơ hướng tới - Dasein về căn bản mang tính mục đích luận và hướng về tương lai; chúng ta không chỉ quan sát sự vật một cách thụ động; sự hiểu biết của chúng ta luôn vận động hướng về phía trước [hin] – hướng tới một mục đích, một cái đích, hay một chân trời tối hậu; iii) Do đó, sự tinh tế từ nguyên ‘das Woraufhin’ là nó bao hàm cả khía cạnh nền tảng [auf] lẫn khía cạnh định hướng [hin]; đó chính là chân trời cấu trúc mà sự hiểu biết của con người phóng chiếu tới, nhờ đó mà các sự vật mới có thể trở nên có ý nghĩa ngay từ đầu.-HHN]

Việc làm sáng tỏ ‘cái-hướng-tới-cái-gì-đó’ của một sự phóng chiếu cũng chính là làm lộ diện nền tảng tạo nên khả tính cho những gì đã được phóng chiếu.6 Để thực hiện điều này, về mặt phương pháp luận, chúng ta cần nghiên cứu sự phóng chiếu (thường là ngầm ẩn) nằm bên dưới một diễn giải; đồng thời, phải thực hiện sao cho những gì đã được phóng chiếu có thể được khai mở và nắm bắt liên quan đến ‘hướng-tới-cái-mà’ của chính nó. Như vậy, việc trình bày ý nghĩa của Sorge/ care chăm lo đồng nghĩa với việc theo dõi phép phóng chiếu vốn định hướng và làm nền tảng cho cách diễn giải hữu thể/cấu thành bản thể bản nguyên về Dasein; đồng thời lần theo nó sao cho, trong nội dung được phóng chiếu đó, ta có thể nhận ra cái ‘hướng-tới-cái-mà’ của chính nó. Cái đã được phóng chiếu chính là Hữu thể của Dasein, và nó được bộc lộ thông qua những yếu tố cấu thành nên cái Hữu thể đó với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực.7 Cái trên đó loại Hữu thể vốn đã được khai mở và vì vậy được cấu thành chính là cái tự thân làm cho cái Cấu thành của Hữu thể với tư cách Chăm lo trở nên khả thể. Khi truy vấn về ý nghĩa của chăm lo, chúng ta đang hỏi điều gì đã làm cho tổng thể tính của chỉnh thể cấu trúc Sorge/care Chăm lo đã được khớp nối trong nhất tính khớp nối của nó, như chúng ta đã bộc lộ, trở nên khả thể.

Xem xét chặt chẽ, ‘ý nghĩa’ chính là ‘cái-dựa-vào-nó’ của sự phóng chiếu sơ khởi trong việc thấu hiểu Hữu thể. Khi In-der-Welt-sein/ ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ đã tự bộc lộ với chính mình và thấu hiểu Hữu thể của thực thể là chính bản thân nó, thì nó cũng thấu hiểu theo cách đồng bản nguyên cái Hữu thể của các thực thể được khám phá bên-trong-thế-giới – ngay cả khi Hữu thể đó chưa trở thành một chủ đề, hay chưa được phân biệt thành các phương thức hiện hữu và Thực tại cơ bản. Mọi trải nghiệm thực hữu về các thực thể – dù là sự tính toán mang tính bao quát đối với cái sẵn-có-để-dùng, hay nhận thức khoa học thực chứng về cái hiện-diện-vô-tri – đều dựa trên những phóng chiếu về cái Hữu thể của các thực thể tương ứng –những phóng chiếu trong mọi trường hợp vốn đều ít nhiều minh bạch. Nhưng, ẩn sâu trong các phóng chiếu đó chính là cái ‘dựa-vào-cái-mà’ của sự phóng chiếu; và chính nhờ đó mà sự thấu hiểu về Hữu thể được tự thân nuôi dưỡng. Khi ta nói các thực thể ‘có ý nghĩa’, điều đó có nghĩa là chúng đã trở nên có thể tiếp cận bằng Hữu thể của chính chúng; và cái Hữu thể này – khi được phóng chiếu lên [tr.372] ‘cái-mà-dựa-vào-đó’ của nó – mới là thứ ‘thực sự’ ‘có ý nghĩa’ ngay từ đầu. Các thực thể chỉ ‘có’ ý nghĩa vì, với tư cách là Hữu thể đã được bộc lộ từ trước, chúng trở nên dễ hiểu thông qua sự phóng chiếu của chính Hữu thể đó – nghĩa là, thông qua ‘cái-mà-dựa-vào-đó’ của sự phóng chiếu ấy. Chính sự phóng chiếu chủ đạo của thấu hiểu về Hữu thể đã ‘đưa lại’ ý nghĩa. Câu hỏi về ý nghĩa Hữu thể của một thực thể lấy ‘cái-mà-dựa-vào-đó’ của sự thấu hiểu về loại Hữu thể đó của nó — vốn nằm bên dưới mọi Hữu thể của các thực thể — làm chủ đề cho mình.8

Dasein tự bộc lộ với chính mình — xét trên phương diện sự xuất-hiện của nó — theo cách thức đích thực hoặc không đích thực. Trong hành động xuất hiện, Dasein tự thấu hiểu chính mình; sự thấu hiểu này không chỉ đơn thuần là việc nắm bắt một đối tượng nào đó, mà nó còn cấu thành nên chính cái Hữu thể thực hữu cụ thể của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể có thật của nó. Hữu thể được bộc lộ ở đây chính là Hữu thể của một thực thể mà đối với nó thì Hữu thể đó là một vấn đề cốt yếu. Ý nghĩa của Hữu thể này — tức là ý nghĩa của Sorge/care Chăm lo— chính là cái làm cho chăm lo trở nên khả thể trong Cấu thành của nó; đồng thời, nó cũng là cái về phương diện bản nguyên cấu thành nên chính Hữu thể của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này. Ý nghĩa Hữu thể của Dasein không phải là một thứ gì đó trôi nổi tự do, tách biệt hay nằm ‘bên ngoài’ chính nó, mà chính là tự-thấu hiểu bản thân Dasein. Điều gì làm cho Hữu thể của Dasein trở nên khả thể, và cùng với nó là faktische Existenz sự xuất-hiện đúng thực tính của nó?

[Chen ngang: Heidegger dùng faktische Existenz/ factical existence sự xuất-hiện đúng thực tính để chỉ cách thức con người không phải hiện-diện-vô-tri như một sự vật khách quan, mà là một thực thể luôn gắn liền với Faktizität thực tính của nó - một hoàn cảnh lịch sử và cụ thể. 1. Faktizität thực tính phân biệt Dasein với sự vật: i) Tatsächlichkeit/ Factuality Thực tế tính - đây là cách mà các sự vật vô tri vô giác tồn tại. Ví dụ một hòn đá hiện diện ở đó với các thuộc tính vật lý cố định như cân nặng 2kg, màu xám, hình dáng gồ ghề; nó chỉ đơn thuần là một vật thể trong thế giới; ii) Faktizität/ Facticity Thực tính - là cách Dasein hiện hữu người xuất-hiện: Dasein hiện hữu người không bao giờ là một vật thể cố định; sự xuất-hiện của nó luôn đi kèm với việc Dasein đang sống và đang trải nghiệm trong một hoàn cảnh cụ thể. 2. Các đặc điểm cốt lõi của faktische Existenz/ factical existence sự xuất-hiện đúng thực tính: i) Geworfenheit / Thrownness Tính ‘bị ném vào’ thế giới - Tôi không tự chọn nơi mình sinh ra, thời đại mình sống, ngôn ngữ mình nói hay cơ thể của mình; Tôi ‘bị ném vào’ một bối cảnh có sẵn – đây chính là faktisch ‘đúng thực tính’ mà Tôi không thể thay đổi; ii) Existenz xuất-hiện luôn có xu hướng dự phóng tương lai - Dù bị ràng buộc bởi hoàn cảnh bị ném vào, Dasein luôn phải tự đưa ra lựa chọn và quyết định xem mình sẽ sống như thế nào tiếp theo; iii) Mối quan hệ gắn kết: Dasein không đứng tách biệt để quan sát thế giới như một chủ thể nhìn khách thể; Dasein luôn In-der-Welt-sein cấu thành/ khai mở bản thể trong-thế-giới, luôn bận rộn, quan tâm và gắn liền với môi trường xung quanh.-HHN]. Những gì được phóng chiếu trong sự phóng chiếu hữu thể/ cấu thành bản thể bản nguyên về sự xuất-hiện đã tự bộc lộ như là trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu. Điều gì làm cho cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực này của Dasein trở nên khả thể, liên quan đến cái nhất tính trong cấu trúc chỉnh thể của nó?9 Trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu, khi xét về mặt hình thức và hữu thể/cấu thành bản thể, mà không cần liên tục định rõ toàn bộ nội dung cấu trúc của nó — chính là Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù và cốt yếu nhất của một kẻ nào đó.

Loại trạng thái này chỉ trở nên khả thể khi Dasein thực sự có thể tiến về phía chính mình trong cái khả tính cốt yếu nhất của bản thân, đồng thời chấp nhận khả tính đó như một khả tính để cho chính mình tiến về phía chính mình; nói cách khác, đó chính là nó xuất-hiện. Việc ‘để-cho-chính- mình-tiến-về-phía-chính-mình’ trong cái khả tính đặc thù mà nó chấp nhận, chính là hiện tượng bản nguyên của tương lai với tư cách là sự ‘tiến về phía trước’.10 Nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết dù ở dạng đích thực [tr.373] hay không đích thực, thuộc về Hữu thể của Dasein, thì cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đó chỉ trở nên khả thể như một điều gì đó mang tính tương lai, theo nghĩa mà chúng ta vừa chỉ ra và sẽ còn cần định nghĩa rõ ràng hơn nữa. Với thuật ngữ ‘tính tương lai’, ở đây chúng ta không ám chỉ một ‘bây giờ’ chưa trở thành ‘có thật’ và sẽ xuất hiện lần đầu tiên vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Thay vào đó, chúng ta đang nói về cái Kunft/ coming ‘tiến đến’, mà trong đó Dasein, trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình, tiến về phía bản thân nó. Dự liệu làm cho Dasein có tính tương lai đích thực; và dự liệu này chỉ khả thể chừng nào Dasein, với tư cách một hiện hữu, vẫn luôn tiến về phía chính mình - nghĩa là, chừng nào Hữu thể của nó cũng có tính tương lai.

Tính quyết đoán tiên liệu thấu hiểu Dasein trong chính cái Hữu-thể-tội-lỗi của nó. Sự thấu hiểu này có nghĩa là, trong quá trình xuất-hiện, kẻ kia tiếp nhận Hữu-thể-tội-lỗi của chính mình; có nghĩa là nó chấp nhận mình là nền tảng hư vô bị ném vào thế giới. Việc tiếp nhận trạng thái bị ném vào này đồng nghĩa với việc hiện hữu như một Dasein đích thực, như nó vốn có.11 Tuy nhiên, sự tiếp nhận trạng thái ‘bị ném vào’ chỉ có thể xảy ra khi Dasein—với tư cách là một thực thể hướng về tương lai—có thể nắm bắt được cái sein ‘Gewesen’ ‘đã từng là’ – (đã từng xuất-hiện) của chính mình. [Chen ngang: Heidegger dùng cụm từ ‘sein Gewesen’ hoặc Gewesenheit để biểu thị một ý nghĩa đặc thù về mặt hữu thể/cấu thành bản thể và thời gian tính. 1. Ý nghĩa cơ bản của từ Gewesen/ Gewesenheit: i) Không phải là Vergangenheit ‘Quá khứ’ tĩnh - Heidegger phân biệt rất sắc bén giữa die Vergangenheit - quá khứ theo nghĩa thông thường, tức là những gì đã trôi qua, đã chấm dứt, đằng sau lưng chúng ta - và die Gewesenheit có tính chất ‘đã-là-như-vậy’ hay ‘được-sinh-ra-từ-quá-khứ’; ii) Gewesen là phân từ hoàn thành của động từ ‘sein’; trong tiếng Đức, nhiều động từ chỉ trạng thái hoặc sự vận động dùng trợ động từ sein thay vì haben, ví dụ ‘ich bin gewesen’ - tôi đã là/đã ở. 2. Ý nghĩa triết học mà Heidegger muốn biểu thị: i) Thực chất ‘đã-từng-là’ của Dasein - Dasein hiện hữu người không đơn thuần sống trong hiện tại rồi đẩy quá khứ ra sau lưng; thay vào đó, Dasein mang theo quá khứ của chính mình như một chiều kích đang hiện diện; ii) Zukunft Quá khứ xuất phát từ Tương lai - Heidegger có một luận điểm nổi tiếng Eigentlich zukünftig ist das Dasein eigentlich gewesen ‘Dasein thực sự hướng tới tương lai thì cũng thực sự là đã-từng-là’; iii) Điều này có nghĩa là Tôi chỉ thực sự hiểu và nắm giữ cái ‘quá khứ/đã-từng-là’ của mình khi Tôi phóng chiếu chính mình về tương lai, rồi từ tương lai đó, Tôi quay trở lại tiếp thu và định hình lại quá khứ của mình; iv) Trạng thái Geworfenheit ‘bị ném vào’ - cụm từ này mô tả cái thực tính Dasein bị ném vào thế giới mà không do mình lựa chọn; cái Gewesen ‘đã từng là’ nhắc nhở Dasein về nguồn gốc, về gánh nặng của lịch sử cá nhân và bối cảnh mà nó không tự tạo ra, nhưng nó phải gánh vác để hướng tới tương lai.-HHN]

Chỉ khi Dasein hiện hữu với tư cách là một thực thể ‘Tôi-đang-là-kẻ-đã-từng-là’, nó mới có thể hướng về phía chính mình từ tương lai, đồng thời quay trở lại với chính mình.12  Với tư cách là có tính tương lai một cách đích thực, Dasein cũng đồng thời xuất-hiện với tư cách đích thực ‘đã-từng-là’.13 Việc dự liệu tới cái khả tính tận cùng và riêng biệt nhất của chính mình cũng là sự quay trở lại đầy thấu hiểu với cái đích thực ‘đã-từng-là’ của Dasein. Cái đặc tính ‘đã-từng-là’ nảy sinh một cách chắc chắn này, chính là từ tương lai.14 Trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu làm bộc lộ cái Tình thế hiện tại của cái ‘có-đó’, sao cho trong hành động, sự xuất-hiện ấy luôn quan tâm bao quát thận trọng đến những gì sẵn-có-để-dùng theo đúng thực tế của môi trường xung quanh. Cái Hữu-thể-bên-cạnh [tr.374] mang tính quyết đoán với những gì sẵn-có-để-dùng trong một ‘Tình thế’—tức là hành động theo cách cho phép kẻ kia chạm trán với cái hiện diện trong môi trường xung quanh—chỉ trở nên khả thể thông qua việc làm cho thực thể đó trở nên hiện diện. Chỉ với tư cách cái Gegenwart/ Present/ Hiện diện15—hiểu theo nghĩa làm cho một thực thể trở nên hiện diện—thì trạng thái quyết đoán mới có thể là chính nó: cụ thể là cho phép những gì mà nó nắm bắt trong hành động được bộc lộ một cách chân thực, không che đậy. Bằng cách quay trở lại với chính mình từ tương lai, trạng thái quyết đoán đưa bản thân vào ‘Tình thế’ bằng cách làm cho các thực thể trở nên hiện diện. Tính chất ‘đã từng là’ nảy sinh từ tương lai, theo cách thức mà tương lai ‘đã từng là’ (hay đúng hơn là tương lai ‘đang trong quá trình trở thành cái đã từng là’) giải phóng cái Hiện tại từ chính nó.16 Hiện tượng này chứa đựng cái nhất tính của một tương lai vốn làm cho hiện diện ngay trong quá trình của cái đã từng là; chúng ta gọi đó là ‘thời gian tính’.17 Chỉ khi Dasein mang đặc tính xác định là thời gian tính, thì cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu, như chúng ta đã mô tả, mới trở nên khả thể đối với chính Dasein. Thời gian tính tự bộc lộ là ý nghĩa chăm lo đích thực. [Chen ngang: Thời gian tính mô tả cái die ekstatische Zeitlichkeit Thời gian tính xuất-thân của Dasein hiện hữu người; nó khác hoàn toàn với thời gian đồng hồ tuyến tính quá-khứ-hiện-tại-tương-lai thông thường. Ý nghĩa của Thời gian tính này bao gồm: i) Tương lai là động lực tiên khởi - con người luôn sống hướng về phía trước, bằng phóng chiếu, mong đợi, lo âu hoặc quyết đoán về những gì mình sẽ trở thành; nhưng tương lai lại không nằm sau lưng chúng ta mà đang kéo chúng ta đi; ii) Quá khứ không phải là ‘đã qua’ mà là ‘đang trong quá trình đã-là’ - nó không phải là thứ chết cứng ở đằng sau; Dasein bị ném  vào một hoàn cảnh có sẵn, và quá khứ ấy luôn hiện diện, tác động và tái cấu trúc liên tục trong Hữu thể của Dasein; iii) Hiện tại được sinh ra từ sự kết nối đó - Hiện tại không phải là một điểm dừng cô lập giữa quá khứ và tương lai; Hiện tại thực chất được ‘giải phóng’ từ sự giao thoa giữa việc hướng về tương lai và việc gánh vác quá khứ; iv) Nhất tính của cả ba chiều kích tương lai, quá khứ, và hiện tại – Chúng không tách rời nhau mà quyện vào nhau thành một thực thể duy nhất; chính cấu trúc năng động này là ý nghĩa bản thể luận của Sorge/care chăm lo là cách Dasein hiện hữu người xuất-hiện trong thế giới của chính mình.-HHN]

Nội dung mang tính hiện tượng của ý nghĩa này, được rút ra từ trạng thái Hữu thể của tính quyết đoán tiên liệu, điền đầy thêm cho cách biểu thị ý nghĩa của thuật ngữ ‘thời gian tính’. Việc sử dụng mang tính thuật ngữ của cách biểu đạt này, chúng ta phải tách biệt khỏi mọi cách biểu thị ý nghĩa đó về ‘tương lai’, ‘quá khứ’ và ‘Hiện tại’ vốn thường áp đặt cho chúng ta từ cách quan niệm thông thường về thời gian. Điều này cũng áp dụng cho các quan niệm về một ‘thời gian’ mang tính ‘chủ quan’ hay ‘Khách quan’, ‘nội tại’ hay ‘siêu việt’. Trong phạm vi mà Dasein thường tự thấu hiểu bản thân theo cách thức không đích thực, nên có thể cho rằng ‘thời gian’ theo cách hiểu thông thường quả thực tái hiện một hiện tượng có thật, nhưng là một hiện tượng phái sinh. Nó nảy sinh từ thời gian tính không đích thực — vốn có nguồn gốc riêng của nó. Các khái niệm ‘tương lai’, ‘quá khứ’ và ‘Hiện tại’ ban đầu xuất hiện từ chính cách hiểu không đích thực về thời gian. Khi cố gắng xác định thuật ngữ cho những hiện tượng bản nguyên và đích thực tương ứng với các khái niệm này, chúng ta phải đối mặt với cùng một khó khăn vốn luôn bao trùm mọi thuật ngữ bản thể luận. Nếu có những ‘cưỡng bách’ nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu này, thì đó không phải mang tính võ đoán, mà là một tất yếu bắt nguồn từ chính các sự thật. Tuy nhiên, nếu muốn chỉ ra một cách mạch lạc, không khiếm khuyết rằng thời gian tính không đích thực bắt nguồn từ một thời gian tính vốn [tr.375] mang tính bản nguyên và đích thực, thì trước hết, ta cần phải làm sáng tỏ một cách chính xác hiện tượng bản nguyên ấy, thứ mà trước đó chúng ta mới chỉ mô tả một cách sơ lược.

Nếu tính quyết đoán tạo nên phương thức chăm lo đích thực, và nếu bản thân điều này chỉ khả thể thông qua thời gian tính, thì cái hiện tượng mà chúng ta đạt được khi xem xét tính quyết đoán phải hiện ra trước chúng ta chỉ bằng một dạng thức của thời gian tính, mà trên hết bằng chính thời gian tính đó thì chăm lo theo đúng nghĩa mới trở nên khả thể. Tính toàn vẹn Hữu thể của Dasein với tư cách chăm lo có nghĩa là: vốn đã-ở-trước-chính-mình trong một thế giới với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh (các thực thể được bắt gặp trong-thế-giới). Khi lần đầu xác định cấu trúc được khớp nối này, chúng ta đã gợi ý rằng liên quan đến kiểu khớp nối này thì câu hỏi mang tính bản thể luận cần phải được truy vấn xa hơn nữa cho đến khi làm lộ rõ ​​được cái nhất tính của toàn bộ cái đa tạp cấu trúc này. xxiii Nhất tính bản nguyên trong cấu trúc chăm lo nằm ở chính thời gian tính.

Cái ‘vượt-trước-chính-mình’ có nền tảng vững chắc từ tương lai. Trong cái ‘Hữu-thể-đã-ở-trong…’, thì đặc tính ‘đã-từng-là’ luôn được làm rõ. Còn ‘Hữu-thể-bên-cạnh…’ trở nên khả thể bằng cách làm cho hiện diện. Mặc dù cái ‘vượt trước’ bao hàm cả khái niệm ‘trước đó’,18 nhưng cả ‘trước đó’ trong ‘vượt trước’ lẫn cái ‘đã’ đều không nên được hiểu theo khuôn khổ thông thường về thời gian; điều này đã được tự động loại trừ bởi gì đã nói đến ở trên. Với cái ‘trước đó’ này, chúng ta không ám chỉ ‘đi trước một điều gì đó’ theo nghĩa ‘chưa phải bây giờ mà là sau này’; tương tự, cái ‘đã’ cũng không có nghĩa là ‘không còn là bây giờ nữa mà là trước đấy’. Nếu các cách biểu đạt ‘trước đó’ và ‘đã’ được hiểu theo nghĩa thời gian thông thường như vậy (dù chúng vẫn có thể mang nghĩa đó trong các ngữ cảnh khác), thì việc nói rằng chăm lo có thời gian tính sẽ đồng nghĩa với việc coi nó như một thứ gì đó thuộc về ‘trước đây’ hay ‘sau này’, ‘chưa tới’ hay ‘đã qua’. Khi đó, chăm lo sẽ được xem là một thực thể xuất hiện và diễn tiến ‘trong thời gian’. Cái Hữu thể của một thực thể mang đặc tính Dasein sẽ trở thành một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri. Nếu loại sự vật này là bất khả thể, thì bất kỳ ý nghĩa định-hướng-thời- gian nào mà các cách biểu đạt trên đã đề cập cũng phải khác biệt với cách hiểu đó. Các biểu đạt ‘trước đó’ và ‘vượt trước’ chỉ ra một kiểu tương lai – một tương lai trở nên khả thể cho Dasein để tồn tại theo cách mà cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính nó trở thành một vấn đề cốt yếu.19 Phép tự-phóng-chiếu hướng tới cái ‘vì-mục-đich-của-chính-mình’ có cơ sở vững chắc ở [tr.376] tương lai và là một đặc tính thiết yếu của Existenzialität hữu thể tính/cấu thành bản thể tính. Ý nghĩa chủ đạo của Existenzialität hữu thể tính/cấu thành bản thể tính chính là tương lai.

_______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Durch das Verfallen des Daseins, als welches es vor sich selbst jlieht in das Man.’ Chữ ‘es’ chỉ xuất hiện trong những lần xuất bản sau này. [tr.368]

2 ‘Die “natürliche” Ich-Rede vollzieht das Man-selbst.’ [tr.368]

3 ‘…, für die Ständigkeit des Selbst in dem Sinn des Standgewonnenhabens.’ Ở đây cách dịch thông thường của chúng ta về 'Ständigkeit' là 'không đổi' có vẻ không đầy đủ; có thể 'sự ổn định' sẽ gần với ý nghĩa hơn. [tr.369]

4 ‘Die Ständigkeit des Selbst im Doppelsinne der beständigen Standfestigkeit ist die eigentlicM Gegenmoglichkeit zur Unselbst-standigkeit des unentschlossenen Verfallens.’ Việc in nghiêng những từ mở đầu của câu này chỉ xuất hiện trong những lần xuất bản sau này. Ở đây, cũng như H. 117 và 303, Heidegger khai thác nhiều ý nghĩa khác nhau của tính từ ‘standig’ và các từ khác bắt nguồn từ gốc ‘sta-’, với nghĩa gốc là ‘đứng’. Danh từ 'Unselbständigkeit' thường có nghĩa là không có khả năng tự đứng trên đôi chân của mình hoặc đưa ra quyết định một cách độc lập. Nhưng Heidegger mở rộng nó thành 'Unselbst-ständigkeit', điều này không chỉ gợi ý sự bất ổn và sự thất bại trong việc đứng một mình, mà còn cả sự bất biến hay ổn định của cái không phải là Bản ngã, phi-Bản ngã, hay cụ thể hơn, bản thân chúng. Trong câu tiếp theo, danh từ Selbstständigkeit, thường tượng trưng cho sự tự chủ, độc lập hoặc tự cung tự cấp, cũng được mở rộng tương tự thành 'Selbstständigkeit' - 'Tự kiên định'. [tr.369]

5 ‘Das Dasein wird “wesentlich” in der eigentlichen Existenz, die sich als vorlaufende Entschlossenheit konstituiert.' [tr.370]

6 ‘Das Woraufhin eines Entwurfs freilegen, besagt, das erschliessen, was das Entworfene ermoglicht.’ Câu này mơ hồ ở chỗ ‘das Entworfene’ (‘cái gì được chiếu’) có thể là chủ ngữ hoặc tân ngữ trực tiếp của ‘ermoglicht’ (‘có thể thực hiện được’). [tr.371]

7 ‘Das Entworfene ist das Sein des Daseins und zwar erschlossen m dem, was es als eigentliches Ganzseinkonnen konstituiert.’ Câu này cũng có cấu trúc mơ hồ; chúng tôi đã chọn cách giải thích có vẻ hợp lý nhất cho nội dung của câu tiếp theo. [tr.371]

8 ‘Die Frage nach dem Sinn des Seins eines Seienden macht das Woraufhin des allem Sein von Seiendem zugrundeliegenden Seinsverstehens zum Thema.' Các ấn bản trước đó đọc’…des allem ontischen Sein zu Seiendem…’ (‘…tất cả các thực thể Bản thể đều hướng tới các thực thể…’) [tr.372]

9 ‘Có phải ermoglicht diees eigentliche Ganzsein des Daseins hinsichtlich der Einheit seines gegliederten Strukturganzen?’ [tr.372]

10 ‘Das die ausgezeichnete Moglichkeit aushaltende, in ihr sich auf sich Zukommenlassen ist das ursprüngliche Phanomen der Zu-kunft.’ Trong khi dấu gạch nối trong ‘Zukommenlassen’ chỉ xuất hiện trong các ấn bản sau, dấu gạch nối quan trọng hơn trong ‘Zu-kunft’ xuất hiện trong cả các ấn bản sau và trước đó. Tuy nhiên, trong các phiên bản sau này, nó xuất hiện ở cuối dòng, do đó lực lượng được cho là đã bị mất đi. Không có dấu gạch nối, 'Zukunft' là từ thông thường để chỉ 'tương lai'; với dấu gạch nối, rõ ràng Heidegger mong muốn thu hút sự chú ý đến mối quan hệ họ hàng của nó bằng cách diễn đạt 'zukommen Auf…' ('tiến tới...' hoặc 'tiến tới...') và nguồn gốc của nó từ 'zu' ('đến' hoặc 'hướng tới') và 'kommen' ('đến'). Do đó hendiadys của chúng tôi. (Việc sử dụng 'zukommen' với giới từ 'auf' cần được phân biệt với việc sử dụng cùng động từ này với tặng cách mà chúng ta đã gặp ở các chương trước theo nghĩa 'thuộc về...', 'đang trở thành...', hoặc 'đã đến...'.) [tr.372]

11 ‘Dbernahme der Geworfenheit aber bedeutet, das Dasein in dem, wie esje schon war, eigentlich sein.’ [tr.373]

12 ‘Nur sofern Dasein überhaupt ist als ich bin-gewesen, kann es zukiinftig aufsich selbst 10 zukommen, dass es zurück-kommt.' Nhiều động từ tiếng Đức hình thành thì hoàn thành với sự trợ giúp của trợ từ 'sein' ('to be') thay cho 'haben' ('have') thông thường hơn, giống như đôi khi chúng ta nói trong tiếng Anh 'anh ấy đã biến mất' thay vì 'anh ấy đã đi'. Trong số những động từ như vậy có chính 'sein'. 'Tôi đã từng' này được thể hiện bằng 'ich bin gewesen'; điều này có thể được dịch là “Tôi đã từng”, nhưng trong bối cảnh này, chúng tôi đã mạo hiểm dịch nó là “Tôi như đã từng”. [tr.373]

13 ‘Eigentlich zukünftig ist das Dasein eigentlich gewesen.’ [tr.373]

14 'Die Gewesenheit entspringt in gewisser Weise der Zukunft.' Ở đây 'Nhân vật đã từng' đại diện cho 'Die Gewesenheit' (nghĩa đen là 'thời kỳ đã qua'). Heidegger phân biệt rõ ràng điều này với 'die Vergangenheit' ('quá khứ'). Chúng ta sẽ thường xuyên dịch 'Gewesenheit' đơn giản là 'đã từng'. [tr.373]

15 Về cách diễn đạt của chúng tôi 'có sự hiện diện', 'có mặt' và 'Hiện tại', hãy xem ghi chú 1 và 2, trang 1 của chúng tôi. 47, và 2, tr. 48 trên H. 25 ở trên. [tr.374]

16 ‘Die Gewesenheit entspringt der Zukunft, so zwar, dass die gewesene (besser gewesende) Zukunft die Gegenwart aus sich entlässt.’ Heidegger đã tạo ra dạng ‘gewesend’ bằng cách kết hợp phân từ quá khứ ‘gewesen’ với hậu tố của hiện tại phân từ ‘-end’, như thể trong tiếng Anh người ta viết 'đang'. [tr.374]

17 ‘Dies dergestalt als gewesend-gegenwärtigende Zukunft einheitliche Phänomen nennen wir die Zeitlichkeit.’ [tr.374]

18 Chúng tôi đã nội suy mệnh đề này trong bản dịch của mình để đưa ra quan điểm cho nhận xét của Heidegger về ‘cái “trước” trong “phía trước” ' ('das “Vor” im “Vorweg”'), điều này đủ hiển nhiên trong tiếng Đức nhưng lại có vẻ rất xa vời trong tiếng Anh. Tất nhiên, chúng ta đã gặp biểu thức 'vor' trong nhiều bối cảnh - trong 'Vorhabe', 'Vorsicht' và 'Vorgriff' như 'cấu trúc tiền đề' của sự hiểu biết (H. 150), và trong những biểu thức như khi đối mặt với nó' ('das “Wovor”') người ta sợ hãi, chạy trốn hoặc lo lắng (H. 140, 184, 25 1, v.v.). Tuy nhiên, ở đây cách dịch ‘trước’ có vẻ phù hợp hơn. [tr.375]

19 ‘Das “vor” und “vorweg” zeigt die Zukunft an, als welche sie uberhaupt erst ermoglicht, dass Dasein so sein kann, dass es ihm um sein Seinkonnen geht.’ Đại từ ‘sie’ chỉ xuất hiện trong các phiên bản sau này. [tr.375]