Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
[Tr.231] Theo đó, khi một điều gì đó đe dọa tiến lại gần, nỗi lo âu không ‘nhìn thấy’ bất kỳ vị trí ‘ở đây’ hay ‘đằng kia’ cụ thể nào mà từ đó mối đe dọa xuất phát. Đối tượng gây lo âu có đặc điểm là: cái đe dọa đó không nằm ở đâu cả. Nỗi lo âu ‘không biết’ đối tượng gây lo âu là gì. Tuy nhiên, ‘không đâu cả’ không có nghĩa là hư vô: đó là nơi trú ngụ của mọi vùng không gian, và cũng là nơi diễn ra sự hiển lộ của thế giới đối với loại Hữu-thể-trong vốn mang bản chất không gian. Do đó, tác nhân đe dọa không thể tiến lại gần từ một hướng cụ thể nào đó trong phạm vi lân cận; nó đã ‘ở đó’ rồi, nhưng lại chẳng ở đâu cả; nó gần gũi đến mức gây ngột ngạt và làm ta khó thở, nhưng đồng thời nó lại chẳng ở đâu cả. Chính trong cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện, thì cái ‘không là gì và chẳng ở đâu cả’ ấy mới bộc lộ rõ rệt. Tính dai dẳng của cái ‘không là gì và chẳng ở đâu cả’ ngay trong lòng thế giới này, theo đúng nghĩa một hiện tượng, chính là thế giới — với tư cách là thế giới — mới là cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện. Tình trạng vô nghĩa tuyệt đối bộc lộ qua cái ‘không là gì và chẳng ở đâu cả’ ấy không có nghĩa là thế giới vắng mặt; trái lại, nó biểu thị các thực thể trong thế giới tự thân chẳng có mấy ý nghĩa, đến mức chính trên nền tảng vô nghĩa của những gì ở trong-thế-giới ấy, chỉ còn lại thế giới — với tính chất là thế gian của nó — là thứ vẫn cứ áp đặt hiện diện lên ta.
Điều gây cho ta cảm giác ngột ngạt không phải là cái này hay cái kia, cũng chẳng phải là tổng hòa của mọi sự vật hiện-diện-vô-tri; mà đó chính là khả tính của những gì sẵn-có-để-dùng nói chung — hay nói cách khác, đó chính là bản thân thế giới. Khi cơn lo âu đã lắng xuống, theo thói quen ngôn ngữ thường nhật, ta quen miệng nói rằng ‘thực ra chẳng có gì cả’. Và quả thực, cách nói ấy đã chạm đúng vào bản chất của sự vật về phương diện thực hữu. Các diễn ngôn thường ngày có xu hướng tập trung vào những gì sẵn-có-để-dùng và bàn luận về chúng. Cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện không phải là bất kỳ vật thể nào sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tuy nhiên, [tr.232] cái ‘không-gì-sẵn-có-để-dùng’ này — thứ mà chỉ lối diễn ngôn thường ngày với cái nhìn bao quát cẩn trọng mới hiểu được — lại không hoàn toàn là hư vô.1 Cái ‘không-gì’ của tình trạng-sẵn-có-để-dùng ấy lại bắt rễ từ một ‘cái gì đó’ bản nguyên nhất — trong thế giới. Tuy nhiên, về phương diện hữu thể luận, thế giới thuộc về Hữu thể của Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Do đó, nếu cái ‘không-có-gì’ ấy — tức là thế giới the đúng nghĩa — tự bộc lộ mình như là cái ngay trước mặt đối tượng lo âu, thì điều này có nghĩa là chính Hữu-thể-trong-thế-giới mới là cái mà ta cảm thấy lo âu khi đối diện. Hữu-thể- lo-âu bộc lộ thế giới — với tư cách là thế giới — một cách bản nguyên và trực tiếp. Đó không phải là thế giới được hình dung trước tiên thông qua việc suy tư về nó một cách tách biệt—không màng đến các hiện hữu bên-trong-thế-giới —rồi sau đó nỗi lo âu mới nảy sinh khi đối diện với thế giới ấy; trái lại, thế giới với tư cách là thế giới được bộc lộ trước hết và chủ yếu thông qua nỗi lo âu, như một phương thức của tâm thế. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là trong nỗi lo âu, cái thế gian của thế giới mới được khái niệm hóa.
Lo âu không chỉ là lo âu khi đối mặt với điều gì đó, mà, với tư cách là một tâm thế, nó còn là lo âu về điều gì đó. Điều mà lo âu vô cùng quan tâm không phải là một loại Hữu thể nhất định nào đó cho Dasein hay một khả tính nhất định nào đó cho nó. Thật vậy, bản thân mối đe dọa là không xác định, và do đó không thể xâm nhập một cách đe dọa vào tiềm-năng-cho-Hữu-thể cụ thể nào đó. Điều mà nỗi lo âu quan tâm chính là Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong nỗi lo âu, những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường sẽ biến mất, và nói chung, các thực thể trong-thế-giới cũng vậy. ‘Thế giới’ không thể cung cấp thêm gì nữa, và cái Dasein-với của những Kẻ Khác cũng vậy. Do đó, lo âu tước đoạt khỏi Dasein khả tính tự thấu hiểu chính mình, khi nó sa ngã, trong khuôn khổ của ‘thế giới’ và cách thức mà mọi thứ đã được diễn giải công khai. Lo âu đẩy Dasein trở lại với điều là nó lo lắng - tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới đích thực của nó. Lo âu cá nhân hóa Dasein thành Hữu-thể-trong-thế-giới tối thượng của chính nó, mà với tư cách là một thứ có khả năng thấu hiểu, nó tự phóng chiếu một cách cơ bản vào các khả tính. Do đó, cùng với điều làm nó lo âu, thì chính lo âu lại bộc lộ Dasein như là Hữu-thể-khả-thể, và thực sự là loại sự vật duy nhất mà nó có thể tự mình trở thành như một thứ vereinzeltes in der Vereinzelung được cá nhân hóa bằng cá nhân hóa.
Nỗi lo âu làm hiển lộ ở Dasein cái Hữu-thể hướng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó—tức là cái Hữu-thể-tự-do cho tự do của nó để chọn lựa và nắm bắt chính mình. Nỗi lo âu đặt Dasein đối diện với cái Hữu-thể-tự-do cho (propensio in…hướng đến…) tính đích thực Hữu thể của nó, và hướng tới tính đích thực này như một khả tính luôn luôn là chính nó.2 Tuy nhiên, đồng thời, đây cũng chính là [tr.233] cái Hữu thể mà Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —đã được chuyển giao cho nó. Cái làm nên lo âu lại tự bộc lộ chính là cái đối diện với nó là lo âu—cụ thể là Hữu-thể-trong-thế-giới. Tính tự đồng nhất giữa cái làm ta lo âu và cái mà ta lo âu về nó còn mở rộng đến cả chính trạng thái lo âu ấy. Bởi lẽ, với tư cách là một tâm thế, trạng thái lo âu chính là một loại cơ bản của Hữu-thể-trong-thế-giới. Ở đây, cuộc khai mở và cái được khai mở đồng nhất với nhau về phương diện hữu thể theo cách mà trong đó, thế giới được khai mở với tư cách thế giới, và Hữu-thể-trong được khai mở như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính cá biệt hóa, thuần túy và bị-ném-vào; điều này cho thấy rõ rằng với hiện tượng lo âu, một trạng thái tâm thức đặc thù đã trở thành chủ đề cho phép tường giải. Nỗi lo âu cá biệt hóa Dasein và vì vậy mà khai mở nó như là ‘solus ipse’ chỉ có bản thân mình. Nhưng cái ‘thuyết duy ngã’ mang tính hữu thể này hoàn toàn khác biệt với việc tách biệt một chủ thể-Vật thể đơn độc và đặt nó vào khoảng trống vô hại của một sự kiện diễn ra không-có-thế-giới; trái lại, theo một nghĩa cực đoan, điều mà nó thực hiện chính là đặt Dasein đối diện với cái thế giới của nó với tư cách là thế giới, và qua đó đặt nó đối diện với chính mình như là Hữu-thể-trong-thế-giới.
Một lần nữa, lối diễn ngôn thường nhật và phép tường giải thường nhật của Dasein cung cấp bằng chứng khách quan nhất cho thấy nỗi lo âu—với tư cách là một tâm thế cơ bản—có tính chất khai mở theo cách thức mà chúng ta đã trình bày. [Chen ngang: Heidegger sử dụng thuật ngữ Befindlichkeit/state-of-mind ‘tâm thế’ nghĩa đen là - tình trạng của bản thân, hay ‘cách thức thấy mình đang hiện hữu’, nhằm mô tả sự hòa điệu mang tính cảm xúc và nền tảng của chúng ta với thế giới. Các khía cạnh chính của tâm thế: i) Không phải là trạng thái tinh thần nội tại - nó không phải là cảm giác riêng tư bị giam hãm trong tâm trí, mà là điều kiện mang tính hữu thể của phương thức Hữu-thể-trong-thế-giới, nơi ta luôn thấy mình đã bị ném vào một tình huống cụ thể; ii) Trạng thái bộc lộ thông qua các Stimmung tâm trạng hay tính cảm xúc có trước tư duy khách quan: các tâm trạng như lo âu, vui sướng hay chán nản bộc lộ cho ta thấy ý nghĩa của sự vật đối với bản thân ngay cả trước khi ta kịp suy ngẫm về chúng; iii) Trạng thái thụ động và tình trạng ‘bị ném vào’ - ta không chọn tâm trạng của mình; thay vào đó, tâm trạng ập đến và bộc lộ thực tính của ta—tức thực tế hiện hữu đầy gánh nặng và đã được định sẵn mà ta buộc phải đối diện và xoay xở; iv) Khả năng định hình thế giới - tâm thế quyết định tầm nhìn hay cách ta cảm nhận về vạn vật xung quanh: một thiết bị hay một căn phòng sẽ mang lại vẻ ngoài và cảm giác hoàn toàn khác biệt tùy thuộc vào việc ta đang vui vẻ, bình thản, hay sợ hãi.- HHN] Như đã nói trước đó, một tâm thế làm hiển lộ ‘tình trạng của chủ thể’. Trong nỗi lo âu, người ta cảm thấy ‘xa lạ/bất an’.3 Ở đây, tính bất định đặc thù của cái mà Dasein thấy mình đang trong nỗi lo âu bắt đầu được diễn tả: đó là das Nichts ‘cái hư vô’ và das Nirgends ‘chốn hư vô’.
Nhưng ở đây, ‘tính chất lạ lẫm’ [uncanniness] cũng có nghĩa là ‘trạng thái không-ở-nhà’ [das Nichtzuhause-sein]. [Chen ngang: 1) das Nichts/Nothing của Martin Heidegger không phải là một khoảng trống rỗng hay sự vắng mặt đơn thuần của các sự vật, mà chính là nền tảng cho phép các hiện hữu xuất hiện và được thấu hiểu. Các ý nghĩa then chốt của ‘Cái hư vô’: I) Không phải là một khách thể hay sự vật trong vũ trụ; nếu cố coi nó như một ‘sự vật’, ta sẽ bỏ lỡ bản chất của nó, bởi nó là sự phủ định hoàn toàn đối với mọi hiện hữu; ii) Bộc lộ các Hữu thể - Heidegger cho rằng ta thậm chí không thể nắm bắt được các ‘sự vật’ hay các ‘hiện hữu’ là gì nếu không có cái tương phản với cái hư vô; nó định hình thực tại của chúng ta, mang lại hình hài và ý nghĩa cho thế giới thông qua việc đóng vai trò là mặt đối lập của thế giới ấy; iii) Được chạn trán trong lo âu - ta không trải nghiệm cái hư vô thông qua quan sát khoa học hay tư duy logic thông thường; thay vào đó, ta bắt gặp nó trong những khoảnh khắc lo âu hiện sinh sâu sắc—chẳng hạn khi những ý nghĩa quen thuộc về thế giới dần tan biến, để lại ta đối diện với sự thật trần trụi là mọi thứ đang tồn tại; iv) Không thể tách rời khỏi Hữu thể - cái hư vô không chỉ nằm bên ngoài tồn tại như một khái niệm đối lập; nó còn thuộc về chính bản chất của tự thân Hữu thể, định hình cách thức mà Dasein tồn tại người thấu hiểu vị thế hữu hạn của chính mình trong vũ trụ. 2) das Nirgends/Nowhere/ Không ở đâu cả của Martin Heidegger dùng để mô tả sự sụp đổ gây mất phương hướng của thế giới quen thuộc trong trạng thái lo âu mang tính hữu thể. Thay vì ‘hư vô’ hay sự thiếu vắng không gian theo nghĩa đen, Không ở đâu cả biểu thị bối cảnh đầy ý nghĩa của cuộc sống thường nhật đã hoàn toàn tuột mất. Các ý nghĩa chính của Không ở đâu cả bao gồm: i) Mất đi ý nghĩa thế gian - trong đời sống thường nhật, vạn vật đều có vị trí xác định dựa trên tính hữu dụng của chúng ví dụ vị trí của cây bút là ở trên mặt bàn; khi rơi vào trạng thái lo âu, các vật thể này mất đi ý nghĩa và sự liên quan của chúng; ii) Cảm giác lo âu đầy đe dọa không ập đến từ một hướng cụ thể nào; nó hiện diện ở khắp mọi nơi nhưng cũng chẳng ở đâu cả; iii) Trạng thái Unheimlichkeit Không như ở nhà - Heidegger gắn kết khái niệm Nirgends với Unheimlichkeit theo nghĩa đen là ‘không-giống-như-ở-nhà’; khi thế giới mất đi ý nghĩa, Dasein hiện hữu người nhận ra rằng nó không thực sự ‘ở nhà’ theo những khuôn mẫu xã hội thường nhật; iv) Sự phơi bày của Không gian - Heidegger lưu ý rằng Không ở đâu cả không có nghĩa là hư vô; trái lại, chính ‘vùng’ hay ‘miền’ nói chung lại nằm trong đó. Khi các khách thể cụ thể mất đi tầm quan trọng gắn liền với vị trí của chúng, thì cái nền tảng nguyên sơ, chưa được phân định của không gian và toàn bộ thế giới sẽ khải lộ; v) Khái niệm Holzwege - theo nghĩa đen là đường vận chuyển gỗ hoặc lối mòn khai thác gỗ trong rừng, nhưng lại đột ngột kết thúc giữa bụi rậm; trong thành ngữ tiếng Đức, cụm từ ‘auf dem Holzweg sein’ có nghĩa là ‘đi sai đường’ hoặc ‘lầm lạc’; Heidegger sử dụng thuật ngữ này để chỉ những con đường dường như ‘dẫn đến hư vô’ - không tới đâu cả, nhưng thực chất lại đưa người tư duy đi sâu vào trung tâm của ‘khu rừng’ - bí ẩn của sự Hiện hữu. -HHN]. Khi đầu tiên chỉ ra đặc tính hiện tượng trạng thái cơ bản của Dasein, cũng như khi làm rõ ý nghĩa mang tính hữu thể của Hữu-thể-trong – để phân biệt với ý nghĩa phạm trù của ‘trạng thái bên trong’ – thì Hữu-thể-trong đã được định nghĩa là ‘cư trú bên cạnh…’, ‘Hữu-thể-quen-thuộc với…’ii. Đặc tính này của ‘Hữu-thể-trong’ sau đó được làm sáng tỏ qua tính công cộng thường nhật của cái ‘họ’; vốn mang lại sự tự tin an nhiên – tức ‘Hữu-thể-ở-nhà’ với tất cả tính hiển nhiên của nó – vào trong đời sống thường nhật của Dasein.iii
Mặt khác, khi Dasein rơi vào trạng thái sa ngã, nỗi lo âu kéo nó trở lại khỏi tình trạng đắm chìm vào ‘thế giới’. Tính quen thuộc thường nhật sụp đổ. Dasein bị cá biệt hóa, nhưng là cá biệt hóa với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Hữu-thể-trong bước vào ‘phương thức’ mang tính hữu thể của tình trạng ‘không-ở-nhà’. Cái ‘trạng thái lạ lẫm’ của chúng ta không mang ý nghĩa nào khác ngoài điều đó ra. Đến lúc này, xét về mặt hiện tượng, ta có thể thấy rõ thứ mà cú sa ngã – với tư cách là sự trốn chạy – đang cố tránh phải đối mặt với nó. Nó không trốn tránh các thực thể nằm-trong-thế-giới; trái lại, đó chính là những thứ mà nó hướng tới với tư cách là các thực thể bên cạnh mà mối bận tâm của ta, [tr.234] vốn đã lạc lối trong cái ‘họ’, có thể trú ngụ trong sự quen thuộc đầy an nhiên. Chính khi sa đà và trốn chạy vào trạng thái ‘ở-nhà’ của tính chất công cộng, ta lại đang trốn chạy khỏi trạng thái ‘không-ở-nhà’; nghĩa là, ta trốn chạy khỏi tính chất lạ lẫm vốn nằm ngay trong Dasein – trong Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới bị ném vào, kẻ đã bị phó mặc cho chính mình trong Hữu thể của nó. Tính chất lạ lẫm này liên tục đeo bám Dasein và đe dọa sự lạc lối thường nhật của nó trong cái ‘họ’, mặc dù mối đe dọa này không lộ diện một cách tường minh. Trên thực tế, mối đe dọa này có thể song hành cùng sự tự tin và cảm giác tự tại hoàn toàn trong những bận tâm thường nhật của ai đó. Nỗi lo âu có thể nảy sinh ngay cả trong những tình huống vô hại nhất. Nó cũng chẳng cần đến bóng tối – nơi mà người ta thường dễ cảm thấy càng lạ lẫm hơn. Trong bóng tối, quả thực là ‘không có gì’ để nhìn thấy, mặc dù chính thế giới vẫn ‘ở đó’, và hiện diện ở đó một cách đầy áp đảo.
Nếu ta diễn giải tính chất xa lạ của Dasein từ quan điểm hữu thể-bản thể luận như một mối đe dọa tác động trực tiếp lên chính Dasein và khởi phát từ chính Dasein, thì điều đó không có nghĩa là trong trạng thái lo âu xác thực, nó luôn được hiểu theo nghĩa này. Khi Dasein ‘hiểu’ về tính chất xa lạ theo cách thức thường nhật, thì nó thực hiện điều đó bằng cách quay lưng lại với nó trong sa ngã; trong sự quay lưng này, cảm giác ‘không-ở-nhà’ bị làm cho mờ nhạt đi. Tuy nhiên, tính chất thường nhật của sự lẩn tránh này, về phương diện hiện tượng cho thấy lo âu, với tư cách là một tâm thế cơ bản, thuộc về trạng thái cốt yếu Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein; vốn với tư cách là một cấu trúc mang tính hữu thể, không bao giờ hiện-diện-vô-tri mà tự nó luôn ở trong phương thức của một Hữu-thể-ở-đó thực tính4—tức là, trong phương thức của một tâm thế. Loại Hữu-thể-trong-thế-giới vốn an tịnh và thân thuộc thực chất là một phương thức biểu hiện trạng thái xa lạ nơi Dasein, chứ không phải ngược lại. [Chen ngang: Unheimlichkeit trạng thái xa lạ/Không phải ở nhà của Heidegger là tình cảnh không thuộc về nơi chốn nà trong thế giới; đó là khi thực tại quen thuộc thường ngày bị phá vỡ, để lộ ra bản chất kỳ lạ và thiếu vắng nền tảng vững chắc của Dasein hiện hữu người. Un-heimlich - theo nghĩa đen là ‘không mang tính nhà cửa’ hay ‘không giống như ở nhà’. Nó mô tả cảm giác sâu sắc về việc không thuộc về nơi chốn nào hoặc cảm thấy như một kẻ xa lạ ngay tại nơi mà lẽ ra ta phải cảm thấy an toàn và thoải mái. Không chỉ là một cảm xúc: Khác với Sigmund Freud – coi tình trạng không-nhà là một tâm thế hoặc phản ứng rợn ngợp trước sự trở lại của những điều quen thuộc – Heidegger lập luận rằng đây là một trạng thái mang tính bản thể luận; nó mô tả chính bản chất hiện hữu của chúng ta. Đối diện với nỗi lo âu, tâm thế ‘không-nhà’ trỗi dậy mạnh mẽ trong trạng thái lo âu sâu sắc; đó là khi những ý nghĩa thực tiễn của thế giới thường nhật sụp đổ, khiến Dasein hiện hữu người rơi vào trạng thái bàng hoàng và mất phương hướng. Đối với Heidegger, việc gắn liền với nỗi lo âu và sự đứt gãy trong trạng thái đắm mình vào các hoạt động thường nhật, qua đó phơi bày tính chất ‘bị ném vào’ và tính hữu tử của con người. Về sau ông mở rộng thành một đặc tính cơ bản thuộc về bản chất con người; điều này được thể hiện rõ nét qua cách ông diễn giải vở kịch Antigone của Sophocles. Dasein hiện hữu người mang tính ‘không-nhà’ bởi nó tồn tại ngay ở ranh giới giữa che giấu và bộc lộ—tức là đưa sự vật bước ra từ trạng thái vắng mặt tiềm tàng để hiện diện minh nhiên.-HHN] Từ quan điểm hữu thể-bản thể luận, trạng thái ‘không-như-ở-nhà’ cần được xem là hiện tượng mang tính bản nguyên hơn. Chỉ vì nỗi lo âu luôn tiềm ẩn trong Hữu-thể-trong-thế-giới, nên Hữu-thể-trong-thế-giới ấy—với tư cách là một Hữu thể hiện diện bên cạnh ‘thế giới’ và mang tính quan tâm trong tâm thế, nên mới nảy sinh sợ hãi. Sợ hãi chính là lo âu đã sa ngã vào ‘thế giới’, trở nên không-chân-thực, và do đó, tự che giấu chính mình.
Suy cho cùng, xét về mặt thực tính, tâm thế về cái Unheimlichkeit trạng thái xa lạ/không như ở nhà vẫn là điều mà phần lớn chúng ta không có sự thấu hiểu ở cấp độ existentiell thực hữu-cụ thể. [Chen ngang: Heidegger dùng thuật ngữ existentiell thực hữu-cụ thể thuộc về những cách thức cụ thể, mang tính cá nhân và thực tiễn mà một người thực sự sống, lựa chọn và trải nghiệm sự tồn tại của chính mình. Các ý nghĩa và sự phân biệt chính: Thực hữu Ontic (thuộc về thực thể/sự kiện cụ thể) so với Ontological (thuộc về bản thể luận) - existentiell thực hữu-cụ thể là một vấn đề thuộc phạm vi ontic thực hữu: i) Nó đề cập đến các sự kiện thực tế, cụ thể và những lựa chọn thường ngày của các Dasein hiện hữu người —chẳng hạn như cảm thấy hạnh phúc, lựa chọn nghề nghiệp hay đối mặt với một cuộc khủng hoảng cá nhân; ii) Cái ‘Cái gì’ của Cuộc sống - mô tả thực tại cụ thể, sống động của một cuộc đời cá nhân, thay vì các quy tắc trừu tượng; iii) Sự khác biệt với existential/mang tính hữu thể - trong khi tính thực hữu-cụ thể đề cập đến những lựa chọn cá nhân mà tôi thực hiện, thì existential/ existenzial mang tính hữu thể là việc nghiên cứu mang tính bản thể luận về các cấu trúc phổ quát, nền tảng tạo nên khả năng hiện hữu của con người như bản chất cơ bản của thời gian, sự quan tâm/lo âu, hay tính hữu tử; iv) Cách chúng tương tác – existentiell thực hữu-cụ thể với tư cách một ví dụ cụ thể hoặc hành động thực tế, còn existential/mang tính hữu thể là quy luật tổng quát nằm bên dưới nó. Ví dụ, cảm giác lo âu hay vui vẻ vào một ngày thứ Ba là một trải nghiệm thực hữu-cụ thể, trong khi khả năng phổ quát của con người trong việc bị chi phối hoặc ảnh hưởng bởi các tâm thế lại là một cấu trúc mang tính hữu thể. Tôi không cần phải là một triết gia mới có thể hiểu được cuộc đời mình theo nghĩa thực hữu-cụ thể, nhưng tôi phải cần đến phép phân tích mang tính hữu thể để nghiên cứu triết học về nó.- HHN]. Hơn nữa, dưới sự chi phối của tình trạng sự ngã và tính công cộng, nỗi lo âu ‘đích thực’ là điều hiếm gặp. Lo âu thường bị quy định bởi các yếu tố ‘sinh lý học’. Sự kiện này, trong thực tính của nó, đặt ra một vấn đề mang tính bản thể luận, chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề về nguyên nhân và quá trình phát triển ở cấp độ thực hữu.
Chỉ vì Dasein mang nỗi lo âu ngay trong chiều sâu Hữu thể của mình, nên mới có khả năng nỗi lo âu đó được khơi dậy thông qua các yếu tố sinh lý. Hiếm gặp hơn cả cái Sự thật thực hữu-cụ thể về nỗi lo âu ‘hiện thực’ là những nỗ lực [tr.235] diễn giải hiện tượng này dựa trên các nguyên tắc về Cấu thành và chức năng hữu thể-bản thể luận của nó. Các nguyên do cho vấn đề này một phần nằm ở sự thờ ơ chung đối với việc phân tích hữu thể về Dasein, nhưng cụ thể hơn là do thất bại trong việc nhận diện hiện tượng ‘tâm thế’.iv Tuy nhiên, tình trạng hiếm gặp thực tế của lo âu với tư cách một hiện tượng không thể tước bỏ khả năng đảm nhận một chức năng phương pháp luận mang tính nguyên tắc của nó đối với phép phân tích hữu thể. Trái lại, tình trạng hiếm gặp của hiện tượng này lại là dấu hiệu cho thấy Dasein—vốn phần lớn vẫn bị che giấu khỏi chính mình trong tính chân thực do cách thức sự vật được diễn giải công khai bởi das Man cái ‘họ’—lại có thể được bộc lộ theo nghĩa bản nguyên trong tâm thế cơ bản này. Tất nhiên, yếu tố cốt yếu của mọi tâm thế là việc Hữu-thể-trong-thế-giới luôn được bộc lộ trọn vẹn trong tất cả các thành tố cấu thành nên nó: thế giới, Hữu-thể-trong, và Tự ngã. Nhưng trong lo âu lại tiềm ẩn khả tính bộc lộ một cách vô cùng đặc biệt; bởi lẽ lo âu trở nên cá nhân hóa. Cái cá nhân hóa này đưa Dasein trở về từ trạng thái sa ngã, đồng thời làm hiển lộ cho nó thấy rằng tính chân thực và tính không chân thực đều là những khả tính thuộc về Hữu thể của nó. Những khả tính cơ bản này của Dasein (và Dasein trong mỗi trường hợp đều là của tôi) tự bộc lộ trong nỗi lo âu đúng như bản chất tự thân của chúng—không bị che đậy bởi các thực thể trong-thế-giới, những thứ mà thoạt đầu và phần lớn, Dasein thường bám víu vào. Liệu cách diễn giải hữu thể về nỗi lo âu này đã đạt đến mức độ nào trong việc thiết lập một cơ sở hiện tượng học để trả lời câu hỏi chủ đạo về Hữu thể của tổng thể cấu trúc Dasein?
41. Hữu thể của Dasein với tư cách Quan tâm
Vì mục tiêu của chúng ta là nắm bắt toàn bộ cấu trúc này dưới góc độ bản thể luận, nên trước hết ta phải tự hỏi liệu hiện tượng lo âu và những gì được bộc lộ trong đó có thể mang lại cho ta cái tổng thể về Dasein theo một cách thức có tính chất đồng bản nguyên về phương diện hiện tượng hay không [Chen ngang: gleichursprünglich/equiprimordial Heidegger sử dụng thuật ngữ ‘đồng bản nguyên’ - có ‘cùng nguồn gốc ban đầu/ hoặc ‘đồng khởi thủy’ để mô tả hai hay nhiều hiện tượng, cấu trúc hoặc khái niệm có tính chất nền tảng ngang nhau, phụ thuộc lẫn nhau, và không cái nào có thể được suy ra hay quy giản về cái kia. Các ý nghĩa cốt lõi bao gồm: i) Tính đồng bản nguyên - cùng xuất hiện ở cùng một cấp độ nền tảng, không có sự phân cấp về mặt thời gian hay logic giữa chúng; ii) Tính phụ thuộc lẫn nhau - chúng cần có nhau để tồn tại và mang lại ý nghĩa; nếu loại bỏ một yếu tố, tính toàn vẹn cấu trúc của toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ; iii) Tính bất khả quy giản - không thể giải thích một yếu tố bằng cách quy giản nó thành sản phẩm phụ của yếu tố kia. Heidegger thường sử dụng khái niệm này để bác bỏ các cách giải thích mang tính tuyến tính hoặc quy giản về Dasein hiện hữu người: i) Các cấu trúc cốt lõi của Hữu-thể-trong-thế-giới: theo Heidegger befindlichkeit tâm thế/tâm trạng, verstehen thấu hiểu, và rede diễn ngôn/lời nói là đồng bản nguyên; ii) Tâm thế luôn đi kèm sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu luôn được cảm nhận trong một tâm trạng; không yếu tố nào cơ bản hơn yếu tố kia; ii) Sự sa ngã, tình trạng bị ném vào thế giới, và sự phóng chiếu – cuộc dấn thân của Dasein vào thế giới, trạng thái ‘bị ném vào’ (quá khứ) và sự phóng chiếu (hướng về tương lai) của nó là những đặc điểm đồng bản nguyên của tồn tại mang tính thời gian của nó.-HHN]; và liệu chúng có thể thực hiện điều đó theo cách mà khi ta khảo sát kỹ lưỡng toàn thể này, cái nhìn của ta về nó sẽ được lấp đầy bởi những gì đã được hiển lộ hay không. Toàn bộ nội dung hàm chứa trong đó có thể được liệt kê và ghi nhận một cách hình thức như sau: trạng thái lo âu với tư cách một tâm thế là một cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới; đối tượng khiến ta lo âu chính là Hữu-thể-trong-thế-giới trong tính chất ‘bị ném vào’; và điều mà ta lo âu hướng tới chính là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới của bản thân ta. Như vậy, toàn bộ hiện tượng lo âu cho thấy Dasein là một Hữu-thể-trong-thế-giới đang hiện hữu một cách thực sự; các đặc tính bản thể luận cơ bản của nó là tính hữu thể, thực tính và Hữu thể-sa ngã. Những đặc tính hữu thể này không phải là các mảnh ghép rời rạc của một chỉnh thể tổng hợp—nơi mà đôi khi một mảnh có thể bị thiếu hụt—mà thay vào đó, chúng đan kết với nhau tạo thành một mối liên hệ bản nguyên, cấu thành nên [tr.236] tổng thể cấu trúc mà ta đang tìm kiếm. Trong cái nhất tính các đặc tính thuộc về Hữu thể của Dasein mà ta đã đề cập, thì Hữu thể này trở thành một cái gì đó mà ta có thể nắm bắt được dưới góc độ bản thể luận. Vậy, bản thân nhất tính này cần được đặc tả như thế nào?
Dasein là một hiện hữu mà đối với nó, ngay trong chính Hữu thể của mình, thì Hữu thể ấy cũng là một vấn đề. Cụm từ ‘là một vấn đề’ đã được làm sáng tỏ qua trạng-thái-Hữu-thể của sự thấu hiểu về thấu hiểu với tư cách là Hữu thể tự-phóng-chiếu hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình. Tiềm năng này chính là thứ vì-mục-đích-của-cái-mà bất kỳ Dasein nào cũng hiện hữu như cách nó vốn vậy. Trong mỗi trường hợp, Dasein đã tự so sánh chính mình—trong Hữu thể của nó—với một khả tính của chính mình. Hữu thể-tự do hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình —và qua đó hướng tới cái khả tính đích thực và không đích thực—được bộc lộ một cách cụ thể, nguyên thủy và căn bản trong trạng thái lo âu. Tuy nhiên, về phương diện bản thể luận, việc Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình có nghĩa là trong mỗi trường hợp, Dasein luôn ‘đi trước chính mình’ ngay trong Hữu thể của nó. Dasein luôn ‘vượt ra ngoài chính mình’—không phải theo cách ứng xử với các hiện hữu khác không phải là nó, mà là Hữu thể hướng tới chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn là bản thân nó. Chúng ta sẽ gọi cấu trúc Hữu thể này—vốn thuộc về cái bản chất ‘là một vấn đề’ nêu trên—với tư cách ‘Being-ahead-of-itself’ ‘Hữu-thể-đi-trước-chính-mình’ của Dasein.
Song, cấu trúc này gắn liền với tổng thể cấu thành của Dasein. ‘Hữu thể-đi-trước-chính-mình’ không biểu nghĩa bất kỳ một khuynh hướng biệt lập nào ở một ‘chủ thể’ phi thế giới, mà nó đặc trưng cho chính Hữu-thể-trong-thế-giới. Tuy nhiên, thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới lại là sự thật ở chỗ Dasein đã bị phó mặc cho chính mình—và trong mỗi trường hợp, nó đã ‘bị ném’ vào một thế giới. Sự phó mặc của Dasein cho chính nó được bộc lộ một cách cụ thể và nguyên thủy trong trạng thái lo âu. Nếu hiểu một cách trọn vẹn hơn, ‘Hữu-thể-đi-trước-chính-mình’ có nghĩa là ‘đi-trước-chính-mình trong-khi-đã-hiện-hữu-trong-thế-giới’. Ngay khi cấu trúc về bản chất là đơn nhất này được nhìn nhận như một hiện tượng, thì những gì chúng ta đã trình bày trước đó trong phần phân tích về thế gian tính cũng trở nên sáng tỏ. Kết quả của sự phân tích đó là: tổng thể tính quy chiếu về ý nghĩa (vốn đúng nghĩa cấu thành nên tính-thế-gian) đã được ‘gắn kết’ với một cái vì-mục-đích-của-cái-mà’, cái Sự thật mà tổng thể tính quy chiếu này— bao gồm đa tạp các mối quan hệ ‘để-mà’—đã gắn liền với cái vốn là một vấn đề đối với Dasein, không có nghĩa là một ‘thế giới’ các Đối tượng, vốn hiện-diện-vô-tri đã bị gắn kết với một chủ thể. Thay vào đó, đây là sự biểu hiện mang tính hiện tượng cho thấy cái cấu thành của Dasein—vốn được làm sáng tỏ một cách tường minh qua đặc tính ‘vượt-trước-chính-mình-trong-Hữu-thể-đã-hiện-hữu-trong...’—về căn bản là một chỉnh thể bản nguyên. Nói cách khác, tồn tại luôn mang là thực tính. Existentiality Hữu thể tính về bản chất được quy định bởi thực tính. Hơn nữa, hiện hữu thực tính của Dasein không chỉ đơn thuần là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới trong trạng thái bị ném vào; nó còn [tr.237] luôn đắm mình trong thế giới của những mối quan tâm. Trong trạng thái Hữu-thể-bên-cạnh sa ngã này, việc trốn chạy khỏi tình trạng xa lạ không như ở nhà (vốn thường bị che giấu bởi nỗi lo âu tiềm tàng do tính công khai của cái ‘họ’ luôn kìm hãm mọi thứ xa lạ—sẽ tự bộc lộ, bất kể có tường minh hay không, và bất kể có được thấu hiểu hay không.
Cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình-trong-khi-đã-hiện-hữu-trong-thế-giới về bản chất bao hàm cả tình trạng sa ngã và cái Hữu-thể-bên-cạnh những sự vật sẵn-có-để-dùng trong-thế-giới mà ta bận tâm đến. Do đó, cái tổng thể tính mang tính hữu thể về mặt hình thức thuộc chỉnh thể cấu trúc bản thể luận của Dasein cần được nắm bắt qua cấu trúc sau: cái Hữu thể của Dasein có nghĩa là vượt-trước-chính-mình-Hữu-thể-trong-khi-đã-ở-trong-(thế-giới) với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh (các thực thể bắt gặp trong-thế-giới). Hữu thể này thay thế ý nghĩa của thuật ngữ ‘quan tâm’—vốn được sử dụng hoàn toàn theo ontologicoexistential manner cung cách thuần túy hữu thể-bản thể luận. Từ ý nghĩa này, mọi khuynh hướng Hữu thể vốn có thể được hình dung theo nghĩa thực hữu—chẳng hạn như nỗi lo lắng hay sự vô tư lự—đều bị loại trừ. Vì Hữu-thể-trong-thế-giới về bản chất là ‘quan tâm’, nên cái Hữu-thể-bên-cạnh các sự vật sẵn-có-để-dùng có thể được hiểu trong các phân tích trước đây của chúng ta với tư cách quan tâm, và Hữu thể với cái Dasein-với của những Kẻ Khác—khi ta bắt gặp nó trong-thế-giới có thể được hiểu là ‘ân cần’5. Hữu-thể-bên-cạnh một sự vật chính là quan tâm, bởi vì nó được xác định như một cách thức của Hữu-thể-trong thông qua cấu trúc cơ bản của nó—tức là chăm lo. Chăm lo không chỉ đặc trưng cho tính hữu thể—như khi tách biệt khỏi tính hành động và trạng thái sa ngã—mà trái lại, còn bao nhất tính của các cách thức mà qua đó Hữu thể được đặc trưng hóa.
Do đó, ‘chăm lo’ không đại diện chủ yếu và duy nhất cho một thái độ biệt lập của cái ‘Tôi’ đối với chính nó. Nếu ta tạo ra cụm từ Selbst-Sorge ‘chăm lo cho bản thân’ theo lối tương tự như Besorgen ‘quan tâm’ và Fürsorge ‘ân cần’, thì đó sẽ là một sự lặp thừa. ‘Chăm lo’ không thể đại diện cho một thái độ đặc biệt nào đó đối với cái Tự ngã; bởi vì Tự ngã đã được đặc trưng hóa về mặt bản thể luận bởi cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình—một đặc tính mà trong đó hai yếu tố còn lại của cấu trúc ‘chăm lo’—là Hữu-thể-đã-ở-trong...và Hữu-thể-bên-cạnh...—đã cùng được đặt định. Trong cái Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình—với tư cách là Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình—chính là điều kiện hữu thể-bảnthể luận cho khả tính của Hữu thể-tự do lựa chọn các khả tính thực hữu-cụ thể đích thực. Vì lợi ích của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình, bất kỳ Dasein nào cũng tồn tại đúng như thực tế mà nó đang tồn tại. Tuy nhiên, chừng nào cái Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể này còn được đặc trưng bởi sự tự do, thì Dasein vẫn có thể định hướng bản thân tới các khả tính của mình, ngay cả khi không tự nguyện; nó có thể hiện hữu một cách không-đích-thực; và trên thực tế, phần lớn thời gian và ngay từ bước đầu, nó hiện hữu một cách không-đích-thực. Cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ mang tính đích thực vẫn chưa được [tr.238] nắm bắt; sự phóng chiếu của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình đã bị phó mặc cho sự định đoạt của das Man cái ‘họ’. Do đó, khi nói đến Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình, thì cái ‘chính-mình’ mà ta đang nghĩ đến, trong mỗi trường hợp, chính là cái Tự ngã theo nghĩa cái Tự ngã của Cái họ. Ngay cả trong trạng thái không-đích-thực, Dasein về bản chất vẫn luôn vượt trước chính mình; cũng như việc trốn chạy khỏi chính mình khi sa ngã vẫn cho thấy nó mang trạng thái-Hữu-thể của một thực thể mà Hữu thể của nó vẫn là một vấn đề.
Chăm lo, với tư cách là một chỉnh thể cấu trúc bản nguyên, nằm ‘trước’ mọi ‘thái độ’ và ‘tình huống’ thực tế của Dasein, và nó hiện hữu mang tính hữu thể tiên nghiệm; điều này có nghĩa là nó luôn hiện diện trong chính những thái độ và tình huống đó. Vì vậy, hiện tượng này hoàn toàn không biểu thị sự ưu tiên của thái độ ‘thực tiễn’ so với thái độ lý thuyết. Khi ta xác định một sự vật hiện-diện-vô-tri chỉ bằng cách quan sát nó, thì hoạt động này cũng mang tính chất chăm lo y hệt như một ‘hành động chính trị’ hay việc nghỉ ngơi và tận hưởng thú vui vậy. ‘Lý thuyết’ và ‘thực hành’ là những khả tính của Hữu thể cho một thực thể mà Hữu thể của nó phải được định nghĩa là ‘chăm lo’. Hiện tượng chăm lo xét trong tổng thể tính của nó về bản chất là một điều không thể bị chia cắt; do đó, mọi nỗ lực quy nó về các hành động hay thúc đẩy đặc biệt—như ý chí và ước muốn, hay sự thôi thúc và thói nghiện ngập6—hoặc xây dựng nó từ những yếu tố này, đều sẽ thất bại. Ý chí và ước muốn bắt rễ—với tính tất yếu về mặt bản thể luận—nơi Dasein với tư cách chăm lo; chúng không chỉ đơn thuần là những Trải nghiệm chưa được phân biệt về mặt bản thể luận, diễn ra trong một ‘dòng chảy’ hoàn toàn bất định về ý nghĩa Hữu thể của nó. Điều này cũng đúng với sự thôi thúc và thói nghiện ngập. Chúng cũng có nền tảng là chăm lo, chừng nào chúng còn có thể biểu hiện ở Dasein. Điều này không ngăn cản chúng đóng vai trò cấu thành về mặt bản thể luận, ngay cả đối với những hiện hữu chỉ đơn thuần ‘sống’. Tuy nhiên, trạng thái bản thể luận cơ bản của hành động ‘sống’ là một vấn đề tự thân và chỉ có thể được giải quyết theo hướng quy giản và xác định dù còn thiểu khuyết dựa trên nền tảng bản thể luận về Dasein. Chăm lo có vị thế bản thể luận ‘sớm hơn’ các hiện tượng vừa nêu—mà ta vốn thừa nhận là có thể, trong những giới hạn nhất định, luôn được ‘mô tả’ một cách thỏa đáng mà không cần phải nhìn thấy toàn bộ chân trời bản thể luận, hay thậm chí không cần phải thân thuộc với nó. Từ quan điểm của cuộc khảo sát hiện tại về bản thể luận nền tảng — vốn không đặt mục tiêu xây dựng một bản thể luận trọn vẹn về phương diện chủ đề đối của Dasein thậm chí cũng không phải là một nhân học cụ thể — thì phải chỉ ra được cách thức mà các hiện tượng này được đặt nền tảng về phương diện hữu thể trong Sorge ‘chăm lo’.
Chính cái Seinkönnen tiềm năng-cho-Hữu thể —vì mục đích của cái mà Dasein hiện hữu — lại có Hữu-thể-trong-thế-giới với tư cách là loại Hữu thể của nó. Do đó, về mặt bản thể luận, nó hàm ý một mối liên hệ với các thực thể ở-trong-thế-giới. Chăm lo luôn bao hàm cả Besorgen quan tâm Fürsorge ân cần, [tr.239] ngay cả khi còn thiểu khuyết. Trong ý chí, một thực thể đã được thấu hiểu — tức là nó đã được phóng chiếu vào khả tính của chính nó — sẽ được nắm bắt; nó được nắm bắt hoặc như một đối tượng để ta quan tâm, hoặc như một đối tượng cần được đưa vào Hữu thể của nó thông qua thái độ ân cần. Vì thế, bất kỳ ý chí nào cũng gắn liền với một đối tượng được mong muốn; đối tượng này đã được xác định rõ ràng trong khuôn khổ yếu tố ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’. Nếu ý chí là khả thể về phương diện bản thể luận, thì các yếu tố sau đây đóng vai trò cấu thành: (1) Trạng thái được bộc lộ trước của cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ nói chung (Hữu-thể-đi-trước-chính-mình’); (2) Trạng thái được bộc lộ của một điều gì đó mà ta có thể quan tâm đến (thế giới với tư cách là ‘nơi-mà-trong-đó’ của Hữu- thể-đã); 7 (3) Sự phóng chiếu tự thấu hiểu của Dasein —lên một tiềm-năng-cho-Hữu-thể hướng tới một khả tính của cái thực thể ‘được ý chí cấu thành’. Trong hiện tượng ‘ý chí’, tổng thể tính nền tảng của ‘chăm lo’ được bộc lộ rõ ràng.
_______________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 'Allein dieses Nichts von Zuhandenem, das die alltiigliche umsichtige Rede einzig versteht, ist kein totales Nichts.' This sentence is grammatically ambiguous.
2 'Die Angst bringt das Dasein vor sein Freiseinfür…(propensio in…) die Eigentlichkeit seines Seins als Maglichkeit, die es immer schon ist.
3 'Befindlichkeit, so wurdefriiher gesagt, macht offenbar, "wie einem ist". In der Angst ist einem "unheimlich".' The reference is presumably to H. 134 above. While 'unheimlich' is here translated as 'uncanny', it means more literally'unhomelike', as the author proceeds to point out.
4 Here we follow the earlier editions in reading 'Da-seins'. In the later editions the hyphen appears ambiguously at the end of a line.
5 Cf. H. 121 and 131 above.
6 …besondereAkte oder Triebe wie Wollen und Wiinschen oder Drang und Hang…’ cf. H. 182.
7 ‘…(Welt als das Worin des Schon-seins)…’
