Powered By Blogger

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

[Tr.204] Diễn ngôn hay trò chuyện là phương thức chúng ta khớp nối một cách ‘ý nghĩa’ tính khả tri của Hữu-thể-trong-thế-giới. Hữu-thể-với là một phần của Hữu-thể-trong-thế-giới; trong mọi trường hợp, nó luôn duy trì chính mình thông qua một cách thức cụ thể nào đó của Hữu-thể-với-nhau đầy quan tâm. Cái Hữu-thể-với-nhau như vậy mang tính diễn ngôn: thể hiện qua việc tán thành hay từ chối, đòi hỏi hay cảnh báo, tuyên bố, tham vấn hay biện hộ, ‘đưa ra các khẳng định’, và trò chuyện theo kiểu ‘thuyết trình’.1 Trò chuyện là nói về một điều gì đó. Cái mà diễn ngôn hướng tới không nhất thiết—hay thậm chí phần lớn là không đóng vai trò là chủ đề cho một sự khẳng định, [tr.205] tức là kiểu phát ngôn gán cho sự vật một đặc tính xác định. Ngay cả một mệnh lệnh cũng hướng về một điều gì đó; một lời ước nguyện cũng hướng về một điều gì đó. Và lời cầu khẩn cũng vậy. Cái mà diễn ngôn hướng tới là một yếu tố cấu trúc tất yếu của nó; bởi lẽ diễn ngôn góp phần cấu thành cái trạng thái được bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới, và tự thân cấu trúc của nó được định hình dựa trên trạng thái cơ bản này của Dasein. Điều được bàn luận trong cuộc trò chuyện luôn được ‘nhắm đến’ dưới một khía cạnh xác định và trong những giới hạn nhất định. Trong bất kỳ cuộc trò chuyện hay diễn ngôn nào, luôn có một cái gì đó được-nói-ra-trong-cuộc-trò-chuyện theo đúng nghĩa —một cái gì đó được nói ra như chính bản thân nó mỗi khi ta ước nguyện, yêu cầu, hay bày tỏ bản thân về một điều gì đó. Chính trong ‘cái được nói ra’ này, diễn ngôn thực hiện sự truyền đạt. Như đã chỉ ra trong phân tích khẳng định,2 hiện tượng giao tiếp cần được hiểu theo nghĩa rộng về bản thể luận. ‘Giao tiếp’ theo nghĩa thực hiện các khẳng định—ví dụ cung cấp thông tin chỉ là một trường hợp đặc biệt của kiểu giao tiếp được nắm bắt theo nguyên tắc về phương diện hiện sinh.

Chính trong kiểu giao tiếp tổng quát hơn này, việc Khớp nối nên Hữu-thể-với-nhau dựa trên sự thấu hiểu mới được cấu thành. Thông qua đó, Mitbefindlichkeit một tâm thế chung được ‘chia sẻ’, và sự thấu hiểu về Hữu-thể-với cũng vậy. Giao tiếp không bao giờ là việc truyền tải các trải nghiệm—chẳng hạn như quan điểm hay mong muốn—từ nội tâm của chủ thể này sang nội tâm của chủ thể khác. Dasein-với vốn đã hiển lộ một cách cốt yếu trong tâm thế chung và thấu hiểu chung. Trong diễn ngôn, Hữu-thể-với được chia sẻ một cách ‘tường minh’; nghĩa là, nó vốn đã hiện hữu, nhưng lại ở trạng thái chưa được chia sẻ do chưa được nắm bắt và chiếm lĩnh.3 Bất cứ khi nào có điều gì đó được truyền đạt trong cái được-nói-trong-câu-chuyện, thì mọi cuộc trò chuyện về bất cứ chủ đề nào cũng đồng thời mang tính chất Sichaussprechens tự-biểu-đạt]. [Chen ngang: ‘Tự biểu đạt’ hay ‘bộc lộ bản thân qua lời nói’ Sichaussprechen của Martin Heidegger chỉ phương thức mà sự hiện hữu của Dasein con người khớp nối và ngoại tại hóa tâm thế cũng như sự hiểu biết về thế giới của mình thông qua ngôn ngữ. Ý nghĩa cốt lõi là không phải sự chuyển động từ ‘trong’ ra ‘ngoài’ - Heidegger nhấn mạnh rằng Sichaussprechen không có nghĩa là một tâm trí hay linh hồn nội tại biệt lập đẩy những suy nghĩ từ không gian riêng tư ‘bên trong’ ra một thế giới ‘bên ngoài’ tách biệt. Vốn dĩ đã là Hữu-thể-trong-thế-giới - vì Dasein bản chất là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới, nên về cơ bản, nó đã luôn ở ‘bên ngoài’ giữa các sự vật và hòa điệu với môi trường xung quanh thông qua Befindlichkeit tâm thế. Việc Khớp nối cái Mở ngỏ - khi Dasein cất lời hay spricht sich aus tự biểu đạt, nó diễn giải trạng thái ‘ở-bên-ngoài’ vốn có này, đồng thời bộc lộ cho kẻ khác thấy sự thấu hiểu chung và sự hòa điệu về mặt cảm xúc của mình thông qua giọng điệu, nhịp phách và ngôn từ.-HHN]. Khi trò chuyện, Dasein tự bộc lộ không phải vì trước tiên nó bị phong bao như một cái gì đó ‘bên trong’ đối lập với cái bên ngoài, mà bởi vì với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, nó vốn đã ở ‘bên ngoài’ ngay khi nó thấu hiểu. Cái được biểu đạt chính là cái Hữu-thể-bên-ngoài này [Chen ngang: Draußen-sein/ das Außer-sich-sein Khái niệm Hữu-thể-bên-ngoài của Martin Heidegger dùng để bác bỏ quan điểm cho rằng con người là những tâm trí khép kín bên trong, nhìn ra thế giới bên ngoài. Thay vào đó, Dasein hiện hữu người vốn dĩ mang tính ‘hướng ngoại’ xuất-thân, vượt qua các ranh giới và luôn luôn đã hiện diện bên ngoài thế giới, giữa các sự vật và những người khác. [Chen ngang của chen ngang: Heidegger sử dụng thuật ngữ exzentrisch/ ekstatisch xuất-thân để mô tả Dasein hiện hữu người như một trạng thái ‘đứng bên ngoài chính mình’ – tức là sự phóng chiếu từ một trung tâm nội tại khép kín nào đó ra phía chân trời của thời gian - quá khứ, hiện tại và tương lai - cũng như ra khoảng không mở của Hữu thể. Khi đọc các bài bình giải của ông về nhà thơ Friedrich Hölderlin, có thể thấy xuất-thân mang ý nghĩa cụ thể là sự bị tách rời khỏi cái trung tâm đời thường, quen thuộc của cuộc sống để hướng về một nền tảng bên ngoài. Thuật ngữ tiếng Đức Exzentrisch - theo nghĩa đen là ‘lệch tâm’ hay ‘ra khỏi tâm’ - được dùng để chỉ trạng thái mà ở đó, trung tâm đích thực của Dasein hiện hữu người hoặc trải nghiệm thi ca lại nằm bên ngoài bản thân chủ thể. Ekstatisch - Xuất thân/Vươn ra ngoài – có gốc từ ek-stasis trong tiếng Hy Lạp nghĩa là bước ra khỏi chính mình. Heidegger thường đồng nhất ekstatisch với exzentrisch khi mô tả cách thực tại con người vượt thoát khỏi cái tôi biệt lập. Ekstatisch-horizontale Verfassung – Trạng thái-Chân trời-Xuất thân của tính thời gian; nghĩa là thời gian của con người tự thân nó vươn tới tương lai và quay về quá khứ thay vì bị giam hãm trong một khoảnh khắc hiện tại tĩnh tại do Cấu trúc Dasein hiện hữu người – Hiện hữu không phải là một chiếc hộp khép kín rồi sau đó mới hé nhìn ra bên ngoài; bản chất đích thực của nó chính là ex-sistence hiện-hữu-như-là-vươn-ra-ngoài – tức là đứng vươn ra khoảng sáng mở của Hữu thể. Trong các Tường giải về những bài thánh ca của Hölderlin như Nước Đức hay Sông Rhine, con đường ‘lệch tâm/xuất thân’ này lôi cuốn con người rời bỏ trạng thái an toàn thường nhật để bước vào cuộc đối diện đầy lạ lẫm và chấn động với định mệnh, lịch sử và cõi linh thánh.- HHN]. Thuật ngữ Immer schon draußen Luôn luôn đã ở bên ngoài đối với Heidegger là Dasein không bị giam hãm bên trong một Gehäuse ‘cái vỏ’ hay ‘hộp chứa’ tinh thần nào đó để rồi cố gắng tìm một chiếc cầu nối tới thực tại bên ngoài. Ngay từ cái Seinsart Hữu thể cốt lõi của mình, nó đã luôn hiện diện bên ngoài cùng với các sự vật và thực thể mà nó bắt gặp trong thế giới. Das Außer-sich Trạng thái bên-ngoài-chính-mình/Xuất-thân đối với Heidegger Zeitlichkeit Thời tính thông qua Ekstasen trạng thái xuất-thân, theo nghĩa đen là das Außer-sich đứng bên ngoài chính mình. Các chiều kích thời gian của quá khứ, hiện tại và tương lai kéo Dasein ra khỏi khoảnh khắc hiện tại cứng nhắc, biệt lập, và phóng chiếu nó về phía những khả tính. In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới - tiền đề nền tảng cho việc làm người là một trạng thái thống nhất của sự cởi mở và kết nối với một môi trường đầy ý nghĩa, khiến cho bất kỳ sự phân chia rạch ròi nào giữa bên trong và bên ngoài đều trở nên lỗi thời.-HHN] —tức là cách thức mà một người đang có một trạng thái tâm thế (tâm trạng) cụ thể; điều mà chúng ta đã chứng minh là gắn liền với sự hiển lộ trọn vẹn của Hữu-thể-trong. Hữu-thể-trong và trạng thái tâm thế của nó được bộc lộ qua diễn ngôn và được biểu thị trong ngôn ngữ thông qua ngữ điệu, sự biến đổi giọng nói, nhịp điệu lời nói, hay ‘cách thức nói’. Trong diễn ngôn mang tính ‘thi ca’, việc truyền đạt các khả tính hiện sinh của trạng thái tâm thế có thể trở thành mục đích tự thân, và điều này tương đương với sự hiển lộ của chính tồn tại.

[Tr. 206] Trong diễn ngôn, tính khả tri của Hữu-thể-trong-thế-giới (một tính khả tri gắn liền với một tâm thế) được khớp nối thông qua các ý nghĩa; và bản thân diễn ngôn chính là cách khớp nối này. Các yếu tố cấu thành diễn ngôn bao gồm: cái mà diễn ngôn hướng tới (cái được nói đến); cái được-nói-ra-trong-câu-chuyện, như là chính nó; sự giao tiếp; và cái làm cho được biết đến. Đây không phải là những thuộc tính có thể được thu thập bằng thực nghiệm từ ngôn ngữ. Chúng là những đặc tính hiện sinh bắt rễ từ trạng thái Hữu-thể của Dasein, và chính chúng là những yếu tố tiên quyết tạo nên khả năng hiện hữu về phương diện bản thể luận cho bất cứ thứ gì giống như ngôn ngữ. Trong hình thức ngôn ngữ thực tế của một trường hợp diễn ngôn cụ thể, một số yếu tố này có thể bị thiếu vắng hoặc không được chú ý tới. Việc chúng thường không được diễn đạt bằng lời nói chỉ là dấu hiệu cho thấy một kiểu diễn ngôn cụ thể nào đó; tuy nhiên, chừng nào còn là diễn ngôn, thì trong mọi trường hợp, nó vẫn phải nằm trong tổng thể các cấu trúc mà chúng ta đã đề cập. Những nỗ lực nắm bắt ‘bản chất của ngôn ngữ’ luôn định hướng theo một hoặc vài yếu tố trong số này; và manh mối cho các quan niệm về ngôn ngữ thường là những ý tưởng như ‘biểu đạt’, ‘hình thức biểu tượng’, như giao tiếp với tư cách ‘khẳng định’, 4 việc ‘làm cho được biết đến’ về các trải nghiệm, hay ‘tạo mô thức’của đời sống. Ngay cả khi tập hợp các định nghĩa rời rạc này lại theo lối chiết trung, ta vẫn không thể đạt tới cái cách thức định nghĩa đầy đủ và thỏa đáng về ‘ngôn ngữ’. Chúng ta phải thực hiện cái quyết định – đó là vạch ra từ trước toàn thể cấu trúc bản thể luận-hiện sinh của diễn ngôn, dựa trên cơ sở phép phân tích về Dasein.

Chúng ta có thể làm sáng tỏ mối liên hệ giữa diễn ngôn với hiểu biết và tính khả tri bằng cách xem xét một khả tính hiện sinh vốn thuộc về việc nói cái tự-lắng nghe được. Nếu ta không nghe ‘đúng cách’, thì việc ta nói mình chưa ‘thấu hiểu’ không phải là chuyện ngẫu nhiên. Lắng nghe cấu thành nên diễn ngôn. Và cũng như việc phát ngôn ngôn ngữ học, thì tri giác thính giác cũng dựa trên sự lắng nghe. Lắng nghe chính là phương thức hiện sinh của Dasein về Hữu-thể-mở với tư cách là Hữu-thể-với cho những Kẻ Khác. Quả thực, lắng nghe cấu thành cách thức chủ yếu và đích thực để Dasein mở ra với khả-năng-cho-Hữu-thể-như-là của chính nó—trong việc lắng nghe tiếng nói của người bạn mà mỗi Dasein đều mang theo cùng mình. Dasein nghe bởi vì nó thấu hiểu. Là một Hữu-thể-trong-thế-giới với những Kẻ-Khác, một Hữu-thể thấu hiểu, Dasein bị ‘ràng buộc’ vào Dasein-với cũng như vào chính bản thân nó; và trong sự ràng buộc này, nó ‘thuộc về’ những thực thể đó.5 Hữu-thể-với phát triển thông qua hành động lắng nghe lẫn nhau—một hành động có thể diễn ra theo nhiều cách: tuân theo,6 đồng hành, [tr.207] và các phương thức mang tính phủ định như không-nghe, kháng cự, chống đối và quay lưng lại.

Chính trên cơ sở khả năng nghe này—vốn mang tính bản nguyên về phương diện hiện sinh—mà bất kỳ một hành động nào như ‘chú tâm lắng nghe’ mới trở nên khả thể. Về mặt hiện-tượng, sự chú tâm lắng nghe còn mang tính bản nguyên hơn cả cái được định nghĩa ‘trước tiên’ là ‘nghe’ trong tâm lý học—tức là việc cảm nhận các âm sắc và tri giác về âm thanh. Chú tâm lắng nghe cũng có loại Hữu thể của kiểu nghe vốn thấu hiểu. Những gì chúng ta nghe thấy ‘trước tiên’ không bao giờ là những tiếng ồn hay các tổ hợp âm thanh, mà là tiếng cọt kẹt của chiếc xe ngựa, tiếng xe máy. Chúng ta nghe thấy tiếng đoàn quân đang hành quân, tiếng gió bấc, tiếng chim gõ kiến ​​đang mổ, tiếng lửa cháy lách tách. Cần phải có một tâm thế rất gượng ép và phức tạp mới có thể ‘nghe’ được một ‘thuần túy tiếng ồn’. Sự thật thì xe máy và xe ngựa là những thứ chúng ta nghe thấy ngay từ đầu chính là bằng chứng hiện tượng cho thấy rằng, trong mọi trường hợp, Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới—đã luôn hiện diện bên cạnh những gì sẵn-có-để-dùng trong-thế-giới; chắc chắn nó không hiện diện trước tiên bên cạnh các ‘cảm giác’; cũng không cần phải định hình mớ hỗn độn các cảm giác để tạo ra bàn đạp cho chủ thể nhảy vọt tới và cuối cùng chạm đến một ‘thế giới’. Dasein, với bản chất thấu hiểu, luôn hiện diện từ đầu bên cạnh những gì được thấu hiểu.

Tương tự như vậy, khi thực sự lắng nghe lời nói của kẻ khác, chúng ta hiểu ngay những gì được nói, hay nói chính xác hơn chúng ta đã hiện diện cùng kẻ đó từ trước, ngay bên cạnh cái thực thể mà diễn ngôn đang đề cập đến. Mặt khác, điều mà ta nghe thấy một cách trực tiếp không phải là nội dung được diễn đạt trong phát ngôn. Ngay cả trong những trường hợp lời nói không rõ ràng hoặc bằng một ngôn ngữ xa lạ, cái ta nghe thấy trực tiếp vẫn là những từ ngữ không thể hiểu được, chứ không phải là một đa tạp các dữ liệu âm thanh.7 Tất nhiên, khi nội dung của diễn ngôn được lắng nghe một cách ‘tự nhiên’, ta đồng thời có thể nghe thấy cả ‘cách diễn tả’—tức là cái cách thức mà nội dung ấy được nói ra—nhưng điều này chỉ xảy ra nếu đã có sẵn sự hiểu biết chung về nội dung được nói đến; bởi lẽ, chỉ khi đó ta mới có thể đánh giá liệu cách thức diễn đạt ấy có phù hợp với chủ đề của diễn ngôn hay không. Hệt như vậy, bất kỳ diễn ngôn đối đáp nào cũng nảy sinh một cách trực tiếp và gần gũi từ việc thấu hiểu nội dung của diễn ngôn—điều vốn đã được ‘chia sẻ’ trong Hữu-thể-với. Chỉ khi việc nói và nghe trở nên khả thể về phương diện hiện sinh thì người ta mới có thể thực sự lắng nghe. Người ‘không thể nghe’ mà ‘buộc phải cảm nhận’8 có lẽ lại chính là người có khả năng lắng nghe rất tốt, và điều này xảy ra chính vì lý do đó. Việc chỉ [tr.208] nghe những gì ‘xung quanh’ đơn thuần là sự thiếu hụt của kiểu nghe mang tính thấu hiểu. Cả nói và nghe đều dựa trên sự thấu hiểu. Và thấu hiểu không nảy sinh từ việc nói huyên thuyên hay từ việc bận rộn nghe ngóng những điều ‘xung quanh’. Chỉ có ai đã thấu hiểu thì mới có thể thực sự lắng nghe. Im lặng là một khả tính thiết yếu khác của diễn ngôn, và nó cũng có cùng nền tảng hiện sinh như vậy. Trong cuộc đối thoại, người giữ im lặng có thể ‘làm cho kẻ khác hiểu’ (tức là khơi dậy sự thấu hiểu), và họ có thể làm điều đó một cách đích thực hơn so với người lúc nào cũng nói không ngớt. Việc nói dài dòng về một điều gì đó không hề đảm bảo rằng sự thấu hiểu sẽ được nâng cao. Trái lại, việc nói quá nhiều về một vấn đề lại che đậy nó và khoác lên những gì được hiểu một vẻ sáng tỏ giả tạo—sự khó hiểu của những điều tầm thường. Tuy nhiên, im lặng không có nghĩa là câm. Ngược lại, ngay cả người câm cũng vẫn có khuynh hướng muốn ‘nói’. Người như vậy chưa chứng tỏ được rằng mình có thể im lặng; thực ra, họ hoàn toàn thiếu khả tính chứng minh bất cứ điều gì tương tự. Và người có bản tính ít nói cũng không thể chứng tỏ tốt hơn rằng mình đang im lặng hay mình là kiểu người có khả năng làm điều đó. Kẻ không bao giờ nói gì cả thì cũng không thể thực sự im lặng vào bất kỳ thời điểm nào.

Việc im lặng một cách đích thực chỉ khả thể trong một diễn ngôn chân chính. Để có thể im lặng, Dasein phải có điều gì đó để nói—nghĩa là, nó phải sở hữu tính tự bộc lộ đích thực và phong phú về chính mình. Khi đó, sự kín tiếng của một ai đó sẽ làm hiển lộ một điều gì đó và loại bỏ những ‘phiếm đàm’. Là một phương thức của diễn ngôn, tính kiệm lời khớp nối tính khả tri của Dasein theo một cách thức nguyên thủy đến mức nó khơi dậy một tiềm-năng-để-lắng nghe đích thực và khơi dậy một Hữu-thể-với-nhau rất minh bạch. Bởi vì diễn ngôn mang tính cấu thành cho Hữu thể của cái ‘ở đó’ (tức là đối với các tâm thái và sự thấu hiểu), trong khi ‘Dasein’ có nghĩa là Hữu-thể-trong-thế-giới, nên Dasein — với tư cách là một Hữu-thể-trong mang tính diễn ngôn — đã tự biểu đạt chính mình; Dasein sở hữu ngôn ngữ. Đối với người Hy Lạp, hành động tồn tại thường nhật của họ phần lớn hướng vào việc trò chuyện với nhau, song đồng thời họ cũng ‘có cặp mắt’ để nhìn nhận sự vật. Liệu có phải là ngẫu nhiên chăng khi trong cả cách diễn giải tiền-triết học lẫn diễn giải triết học về Dasein, họ đều định nghĩa bản chất con người là ζῷον λόγον ἔχον zōon logon ekhon? [Chen ngang: Cụm từ ζῷον λόγον ἔχον zōon logon ekhon là một cách diễn đạt triết học Hy Lạp cổ đại nổi tiếng được cho là của Aristotle, mang nghĩa ‘sinh vật có ngôn ngữ/lý trí/trật tự’, thường được dịch là ‘động vật có lý trí’ hoặc ‘động vật biết nói’. Trong đó ζῷον Zoon - Sinh vật sống, động vật hoặc tạo vật; λόγον Logon - dạng biến cách/đối cách của từ λόγος logos, nghĩa là lời nói, ngôn ngữ, lý trí, tính toán, lý giải, trật tự; ἔχον Echon - phân từ hiện tại của động từ ἔχω echō, nghĩa là có, sở hữu hoặc nắm giữ. Aristotle sử dụng khái niệm này để phân biệt con người với các loài động vật khác. Trong khi các loài vật khác có tiếng kêu phone để biểu lộ nỗi đau hay niềm khoái lạc, thì con người sở hữu logos – năng lực độc đáo về tư duy lý trí và khả năng sử dụng ngôn ngữ có cấu trúc, giàu ý nghĩa. Martin Heidegger đã xem xét lại định nghĩa này để nhấn mạnh rằng bản chất con người gắn liền với khả năng giao tiếp, đối thoại và cùng chia sẻ một thế giới thông qua ngôn ngữ, thay vì chỉ đơn thuần là xử lý các logic trừu tượng.-HHN]

Cách diễn giải ấy về định nghĩa con người như là animal rationale — động vật có lý trí — tuy không hẳn là ‘sai’, nhưng nó lại che khuất cơ sở hiện tượng học cho định nghĩa này về ‘Dasein’. Con người tự bộc lộ mình là thực thể nói năng. Điều này không có nghĩa là khả tính phát âm là đặc tính riêng biệt của con người, mà đúng hơn, con người là loại thực thể theo đúng nghĩa là khám phá thế giới và  [p.209] khám phá bản thân nó. Người Hy Lạp không có từ nào tương đương với khái niệm language ‘ngôn ngữ’; họ hiểu hiện tượng này — trước hết — như là sự diễn ngôn. Tuy nhiên, vì cái λόγος logos đi vào tầm nhìn triết học của họ chủ yếu dưới dạng sự khẳng định, nên chính loại λόγος logos này đã trở thành manh mối để họ xây dựng các cấu trúc cơ bản của các hình thức diễn ngôn và các thành phần của chúng. Ngữ pháp đã tìm kiếm nền tảng của mình trong ‘logic’ của cái λόγος logos này. Song, logic đó lại dựa trên bản thể luận về cái hiện-diện-vô-tri. Hệ thống cơ bản các Grundbestand der Kategorien und Bedeutungslehre ‘phạm trù về ý nghĩa’ [Chen ngang: Cụm từ ‘der Grundbestand der Kategorien und Bedeutungslehre’ có nghĩa là ‘kho thành phần cơ bản’ hay ‘cốt lõi nền tảng’ của học thuyết về ‘phạm trù và ý nghĩa’. Martin Heidegger dùng thuật ngữ này đặc biệt ám chỉ khung cấu trúc nền tảng của bản thể luận và logic học mà ông đã khảo sát trong luận văn nghiên cứu đầu tay của mình Die Kategorien- und Bedeutungslehre des Duns Scotus - Học thuyết về phạm trù và ý nghĩa của Duns Scotus, 1916). Bối cảnh của thuật ngữ này trong triết học Heidegger đã quy một văn bản nổi tiếng về speculative grammar ngữ pháp suy biện cho Duns Scotus - mặc dù sau này văn bản đó được xác định là của Thomas xứ Erfurt: i) Kategorienlehre - Học thuyết về Phạm trù - Khảo sát các phương thức tổng quát nhất mà qua đó các đối tượng và thực thể được xác định trong hiện thực khách quan của chúng - cách thức cấu trúc của Hữu thể; ii) Bedeutungslehre - Học thuyết về Ý nghĩa - Khảo sát mối tương quan giữa các phạm trù khách quan này với các diễn đạt ngôn ngữ, các hình thức logic và modis significandi các phương thức biểu đạt ý nghĩa; iii) Grundbestand - Tập hợp cốt lõi, không thể quy giản gồm các khái niệm nền tảng hoặc các thành phần cấu trúc tạo nên hệ thống tổng hòa giữa logic, ngôn ngữ và Hữu thể; iv) Các chủ đề chính của cái Kho Cơ bản này bao gồm mối liên hệ giữa ngôn ngữ và Hữu thể- Heidegger xem xét cách thức mà các hình thái sinh động của lời nói và các mệnh đề logic phản ánh những đặc tính nền tảng của thực tại; v) Chuyển hướng sang hiện tượng học - Heidegger thời trẻ sử dụng khung lý thuyết trung cổ này để kiểm nghiệm cách thức các phạm trù gắn kết năng động với chủ thể có ý thức và đang sống, thay vì tồn tại như những sự vật trừu tượng, vô hồn. Việc khảo sát sớm về cơ chế vận hành của ý nghĩa và phạm trù ấy đã đặt nền móng cho những truy vấn sau này của ông về ý nghĩa của Hữu thể và sự diễn đạt bằng ngôn ngữ về Dasein hiện hữu người. - HHN] — vốn được chuyển giao cho ngôn ngữ học sau này và về nguyên tắc vẫn được chấp nhận như là chuẩn mực ngày nay — được định hướng theo lối xem diễn ngôn như là khẳng định. Nhưng ngược lại, nếu ta coi hiện tượng này mang tính nguyên thủy và có phạm vi rộng lớn của một existentiale cấu trúc hiện sinh cơ bản, thì sẽ nảy sinh nhu cầu tái thiết lập ngôn ngữ học trên những nền tảng có tính nguyên thủy hơn về mặt bản thể luận.   

Nhiệm vụ giải phóng ngữ pháp khỏi logic đòi hỏi trước hết phải có sự hiểu biết thực chứng về cấu trúc a priori tiên nghiệm cơ bản của diễn ngôn nói chung như là một existentiale cấu trúc hiện sinh. Đây không phải là nhiệm vụ có thể hoàn tất sau này chỉ bằng cách cải thiện hay bổ sung cho những gì đã được truyền lại. Với tinh thần đó, ta phải khảo sát các hình thức cơ bản cho phép khớp nối bất cứ điều gì có thể hiểu được, và thực hiện điều đó dựa trên các ý nghĩa; việc khớp nối này không được phép giới hạn vào các thực thể ‘trong-thế-giới’ mà ta nhận thức thông qua việc xem xét lý thuyết và diễn đạt bằng các câu cú. Một học thuyết về ý nghĩa sẽ không tự nhiên xuất hiện ngay cả khi ta thực hiện so sánh toàn diện giữa càng nhiều ngôn ngữ càng tốt, kể cả những ngôn ngữ khác biệt nhất. Chẳng hạn, việc chấp nhận chân trời triết học mà trong đó W. von Humboldt đặt vấn đề về ngôn ngữ cũng sẽ không thỏa đáng. Học thuyết về ý nghĩa bắt rễ sâu xa trong bản thể luận về Dasein. Việc nó hưng thịnh hay suy tàn phụ thuộc vào vận mệnh của bản thể luận này. x

Suy cho cùng, nghiên cứu triết học phải đi đến chỗ đặt câu hỏi: ngôn ngữ nói chung phù hợp với loại Hữu thể nào? Phải chăng nó là một loại thiết bị sẵn-có-để-dùng nằm-trong-thế-giới, hay nó có loại Hữu thể của Dasein, hoặc cũng không thuộc về cả hai? Ngôn ngữ mang loại Hữu thể nào nếu quả thực tồn tại cái gọi là ngôn ngữ ‘chết’? Xét về mặt bản thể luận, cuộc ‘hưng thịnh’ và ‘suy tàn’ của một ngôn ngữ có ý nghĩa gì? Chúng ta sở hữu một ngành khoa học về ngôn ngữ, nhưng cái Hữu thể của các thực thể vốn là đối tượng nghiên cứu của nó lại còn mơ hồ. Ngay cả chân trời cho bất kỳ câu hỏi khảo cứu nào về nó cũng đang bị che khuất. Liệu có phải là ngẫu nhiên khi mà, trước hết và phần lớn, các ý nghĩa đều mang tính ‘thế gian’ — được phác thảo từ trước bởi cái ý nghĩa của thế giới — và thực tế là chúng thường mang đậm tính ‘không gian’ hay không? Hoặc ‘sự kiện’ này mang tính tất yếu về mặt hiện sinh-bản thể luận? Và nếu nó là tất yếu, thì tại sao lại như vậy? Nghiên cứu triết học sẽ phải gạt bỏ ‘triết học ngôn ngữ’ sang một bên nếu muốn truy vấn [tr.210] về ‘bản thân các sự vật’ và đạt tới vị thế của một vấn đề đã được làm sáng tỏ về mặt khái niệm. Việc chúng ta diễn giải ngôn ngữ chỉ nhằm mục đích chỉ ra ‘vị trí’ bản thể luận của hiện tượng này trong trạng thái Hữu thể của Dasein, và đặc biệt là để dọn đường cho phần phân tích tiếp theo; trong đó, lấy một loại Hữu thể nền tảng thuộc về diễn ngôn làm manh mối — kết hợp với các hiện tượng khác — chúng ta sẽ bộc lộ cái thường nhật Dasein theo một cách thức bản nguyên hơn về mặt Hữu thể luận.

B. Hữu thể Thường nhật của cái ‘Ở-đó’ và Cú ngã của Dasein

Khi quay trở lại với các cấu trúc hiện sinh về tình trạng bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới, Diễn giải của chúng ta phần nào đã bỏ qua tính thường nhật của Dasein. Trong quá trình phân tích, giờ đây chúng ta cần khôi phục lại cái phänomenaler Horizont chân trời hiện tượng [Chen ngang: Thuật ngữ phänomenaler Horizont -hoặc chỉ đơn giản là Horizont của Martin Heidegger, chỉ nền tảng hoặc ranh giới mang tính trực giác và đầy ý nghĩa, nơi các Seiende hiện hữu tự bộc lộ, thể hiện ý nghĩa của mình và trở nên dễ hiểu đối với Dasein hiện hữu người. Horizont có gốc từ ὁρισμός horismos trong tiếng Hy Lạp nghĩa là ranh giới hoặc giới hạn, Heidegger sử dụng từ này không phải như một đường biên tĩnh tại giam hãm chúng ta, mà như một Lichtung khoảng trống mở ra đầy tính kiến​​tạo, nơi vạn vật bước ra để hiển lộ. Phänomenal/ phänomenologisch - Liên quan đến các hiện tượng—những gì tự bộc lộ chính nó theo cách thức nó hiển hiện trong trải nghiệm của con người. Chân trời tối hậu Thời gian - Heidegger định nghĩa Zeit thời gian như là ‘chân trời khả thể cho bất kỳ hiểu biết nào về tồn tại: Môi trường thực tiễn thường nhật của chúng ta được cấu trúc bởi một mạng lưới mạch lạc gồm các mối liên hệ, công cụ và ý nghĩa. Tổng thể cấu trúc này tạo nên chân trời sống của chúng ta: i) Sự sụp đổ trong Angst trạng thái lo âu - khi Dasein trải nghiệm nỗi lo âu sâu sắc, mạng lưới quen thuộc này sụp đổ; toàn bộ cấu trúc đầy ý nghĩa của phänomenaler Horizont mất đi ý nghĩa của nó, khiến vạn vật trở nên đơn điệu và kỳ quái; ii) Phóng chiếu theo thời gian - Chân trời về cơ bản mang tính động và hướng về tương lai. Nó được định hình bởi cách thức mà tồn tại người phóng chiếu chính mình về phía các khả tính của bản thân, trên nền tảng của tình trạng Geworfenheit ‘bị ném vào’ và thời gian tính. -HHN] vốn là điểm khởi đầu mang tính chủ đề của chúng ta. Câu hỏi đặt ra: đâu là những đặc tính hiện sinh của tình trạng bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới, xét trong bối cảnh nó—với tư cách là một cái gì đó thường nhật—duy trì sự tồn tại của mình trong phương thức Hữu thể của cái ‘họ’? Liệu cái ‘họ’ có một tâm thế đặc thù, hay một cách thức đặc biệt để thấu hiểu, trò chuyện và diễn giải hay không? Việc giải đáp những câu hỏi này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết khi ta nhớ rằng, trước hết và phần lớn thời gian, Dasein bị cuốn vào và bị chi phối bởi cái ‘họ’. Chẳng phải Dasein—với tư cách là một Hữu-thể-trong-thế-giới bị ném vào đời—ngay từ đầu đã bị ném thẳng vào tính công khai của cái ‘họ’ hay sao? Và tính công khai này có ý nghĩa gì khác ngoài việc là tình trạng bộc lộ đặc thù của chính cái ‘họ’?

Nếu sự thấu hiểu cần được quan niệm trước hết như là tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein, thì chính từ việc phân tích cách thức thấu hiểu và diễn giải thuộc về cái ‘họ’, chúng ta mới có thể xác định được những khả tính Hữu thể nào đã được Dasein—với tư cách là ‘họ’—khai mở và tiếp nhận. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, chính những khả tính này lại hiển hiện một khuynh hướng Hữu-thể-một vốn thuộc về tính thường nhật. [Chen ngang: Khái niệm das Man/ Being-one Hữu-thể-một của Martin Heidegger cũng được dịch là ‘the they’ cái họ’ mô tả tiếng nói tập thể, vô danh và mang tính công cộng, vốn chi phối các chuẩn mực xã hội, thị hiếu và hành vi tuân thủ thường nhật; tại đó, bản sắc cá nhân bị hòa tan vào sự đồng thuận chung của đám đông vô diện. Các ý nghĩa cốt lõi của Das Man - Trong ngữ pháp tiếng Đức, man là đại từ ngôi thứ ba bất định mang nghĩa là ‘người ta’ hay ‘họ’. Heidegger đã nâng tầm đại từ này thành một danh từ das Man để đại diện cho một ‘kẻ-không-là-ai’ trong xã hội – thực thể chi phối đời sống thường ngày theo nghĩa: i) Tính trung bình - Das Man thiết lập những tiêu chuẩn khắt khe về cái được coi là bình thường, qua đó san phẳng tiềm năng cá nhân xuống mức trung bình và thiếu tư duy phản biện; ii) Trút bỏ gánh nặng - việc tuân theo ‘họ’ giúp con người trút bỏ gánh nặng của việc phải đưa ra những lựa chọn cá nhân đích thực, thay vào đó để xã hội định đoạt cách suy nghĩ và hành động; iii) Tính không chân thực - việc hành xử dưới ảnh hưởng của das Man ngăn cản con người đối diện một cách trung thực với sự hiện hữu độc đáo và tính hữu hạn (cái chết) của chính mình.-HHN]. Và cuối cùng, khi khuynh hướng này được lý giải một cách thỏa đáng về mặt bản thể luận, nó sẽ hé lộ một phương thức Hữu thể bản nguyên của Dasein; theo đó, từ phương thức Hữu thể này9, hiện tượng ‘bị ném vào’—điều mà chúng ta đã từng lưu ý—có thể được phơi bày trong tính cụ thể mang tính hiện sinh của nó. Trước hết, yêu cầu đặt ra là tình trạng bộc lộ của cái ‘họ’—tức là phương thức Hữu thể thường nhật của diễn ngôn, nhãn quan và diễn giải—cần phải được làm sáng tỏ thông qua những hiện tượng cụ thể xác định. Liên quan [tr. 211] đến những hiện tượng này, có lẽ không thừa khi lưu ý rằng Diễn giải của chính chúng ta hoàn toàn mang tính bản thể luận về mặt mục đích, và hoàn toàn tách biệt khỏi bất kỳ sự phê phán mang tính đạo đức nào đối với Dasein thường nhật, cũng như khỏi những tham vọng của một ‘triết học văn hóa’.

35. Phiếm đàm

Thuật ngữ Gerede ‘phiếm đàm’ ở đây không được dùng với nghĩa ‘miệt thị’10. Xét về mặt thuật ngữ, nó biểu thị một hiện tượng tích cực, cấu thành nên phương thức Hữu thể trong hiểu biết và diễn giải của Dasein thường nhật. Phần lớn, diễn ngôn được biểu đạt thông qua việc nói ra, và luôn luôn được biểu đạt như vậy; đó chính là ngôn ngữ11. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, hiểu biết và diễn giải đã nằm ngay trong những gì được biểu đạt như thế. Trong ngôn ngữ—với tư cách là phương thức mà sự vật được biểu đạt hoặc nói ra—ẩn chứa một cách thức mà theo đó hiểu biết của Dasein đã được diễn giải. Cách thức diễn giải này không đơn thuần chỉ là hiện-diện-vô-tri giống như ngôn ngữ; trái lại, Hữu thể của nó là tự thân đặc tính của Dasein. Trước hết, và trong những giới hạn nhất định, Dasein liên tục bị phó mặc cho trạng thái đã được diễn giải này, vốn chi phối và phân phối các khả tính hiểu biết ở mức trung bình cũng như tâm thế gắn liền với nó. Cái cách thức mà sự vật được biểu đạt hay nói ra có đặc điểm là trong tổng thể các bối cảnh ý nghĩa mà nó được khớp nối lại, nó bảo tồn các hiểu về thế giới đã được khai mở, và cùng với nó—một cách đồng bản nguyên—bảo tồn hiểu biết về cái Dasein-với của những Kẻ Khác cũng như của chính Hữu-thể-trong của bản thân. Hiểu biết vốn đã được ‘lắng đọng’ theo cách thức biểu đạt sự vật như vậy, liên quan mật thiết đến cả tình trạng được khám phá các thực thể theo truyền thống đã đạt được, lẫn hiểu biết hiện thời của ai đó về Hữu thể, cũng như mọi khả tính và chân trời cho việc diễn giải mới và việc Khớp nối bằng khái niệm. Tuy nhiên, cần vượt qua việc đề cập đơn thuần đến Sự kiện đã được diễn giải này của Dasein, và phải truy vấn về loại Hữu thể hiện sinh của chính diễn ngôn vốn được biểu đạt và tự biểu đạt. Nếu điều này không thể được quan niệm như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, thì Hữu-thể của nó là gì, và về mặt nguyên tắc, điều đó cho ta biết gì về loại Hữu thể thường nhật của Dasein?

Diễn ngôn tự biểu đạt chính là sự giao tiếp. Khuynh hướng của [tr.212] Hữu thể là đưa người nghe tham dự vào cái Hữu thể được bộc lộ hướng về điều được nói đến trong diễn ngôn. Trong ngôn ngữ được sử dụng khi ta tự biểu đạt bản thân, luôn tồn tại một mức độ dễ hiểu thông thường; và dựa trên mức độ dễ hiểu này, diễn ngôn được truyền đạt có thể được hiểu biết ở một chừng mực đáng kể, ngay cả khi người nghe không tự đặt mình vào loại Hữu thể tương ứng với chủ đề của diễn ngôn để có được sự thấu hiểu bản nguyên về nó. Chúng ta không thực sự thấu hiểu các hiện hữu được nói đến; thay vào đó, chúng ta chỉ đang lắng nghe chính cái được-nói-ra theo đúng nghĩa. Cái được-nói-ra thì được thấu hiểu, nhưng điều mà cuộc chuyện trò hướng tới lại chỉ được hiểu một cách áng chừng và hời hợt. Chúng ta có cùng một sự vật trong tầm nhìn, bởi chính trong trạng thái thông thường đó mà chúng ta có chung sự hiểu biết về những gì được nói ra.

Việc nghe và hiểu đã gắn liền từ trước với nội dung được nói đến trong cuộc đối thoại. Quan-hệ-Hữu-thể bản nguyên đối với cái thực thể được bàn luận không phải là thứ được ‘truyền đạt’ qua giao tiếp;12 thay vào đó, Hữu-thể-với-nhau diễn ra trong quá trình trò chuyện và trong sự quan tâm đến cái được-nói-ra ấy. Đối với cái Hữu-thể-với-nhau này, thì cuộc trò chuyện đang diễn ra là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng.13 Cái Hữu-thể-được-nói-ra, lời tuyên bố, hay phát ngôn – tất cả những điều này giờ đây đóng vai trò bảo chứng cho tính xác thực của diễn ngôn và sự thấu hiểu gắn liền với nó, cũng như sự phù hợp của nó với các sự kiện có thật. Và bởi vì lối diễn ngôn này đã đánh mất quan-hệ-của-Hữu-thể nguyên thủy với cái thực thể được bàn luận – hoặc chưa bao giờ đạt được mối quan hệ như vậy – nên nó không giao tiếp theo cách cho phép thực thể này được lĩnh hội bằng cách thức bản nguyên, mà lại giao tiếp thông qua con đường phiếm đàm và sang tai.14 Nội dung được nói ra lan rộng trong những phạm vi ngày càng lớn và mang lấy tính chất của một thẩm quyền xác thực: sự việc là như vậy đơn giản vì người ta nói thế. ‘Phiếm đàm được hình thành chính từ kiểu tán gẫu và sang tai như vậy – một quá trình mà trong đó tình trạng thiếu vắng nền tảng vững chắc ban đầu bị trầm trọng hóa thành tình trạng hoàn toàn vô căn cứ. Và quả thực, kiểu phiếm đàm này không chỉ giới hạn ở những lời tán gẫu bằng miệng, mà còn lan sang cả những gì chúng ta viết, nơi nó mang hình thức của lối ‘viết lách hời hợt’. Trong trường hợp đó, phiếm đàm không dựa nhiều vào tin đồn nghe được, mà nuôi dưỡng bản thân bằng việc đọc một cách hời hợt. Sự hiểu biết thông thường của độc giả sẽ không bao giờ có thể phân định được đâu là điều được đúc kết từ các nguồn nguyên sơ qua quá trình nỗ lực, và đâu chỉ là tán gẫu. Hơn nữa, cấp độ hiểu biết thông thường ấy cũng chẳng muốn có sự phân biệt như vậy, và cũng chẳng cần đến nó, bởi lẽ, dĩ nhiên, nó cho rằng mình hiểu thấu mọi sự.

[Tr. 213] Việc thiếu cơ sở xác thực không phải là trở ngại khiến ‘phiếm đàm’ không thể lan truyền rộng rãi; trái lại, chính điều đó lại thúc đẩy sự lan truyền ấy. Phiếm đàm là khả năng hiểu được mọi sự mà không cần thực sự thấu hiểu hay chiếm lĩnh bản chất của sự vật đó. Nếu việc thấu hiểu thực sự diễn ra, thì phiếm đàm sẽ sụp đổ; và bản thân nó luôn tự bảo vệ mình khỏi nguy cơ đó. Phiếm đàm là thứ mà bất kỳ ai cũng có thể khơi dậy; nó không chỉ giải phóng con người khỏi nhiệm vụ thấu hiểu đích thực, mà còn tạo ra một kiểu hiểu biết chung chung, không phân biệt rạch ròi, nơi mà không còn điều gì bị coi là bí ẩn hay khép kín nữa. Diễn ngôn — vốn thuộc về trạng thái bản chất của Hữu thể Dasein và góp phần kiến ​​tạo nên trạng thái ‘được bộc lộ’ của Dasein — luôn tiềm ẩn nguy cơ biến thành phiếm đàm. Và khi điều đó xảy ra, nó không còn đóng vai trò duy trì sự mở ngỏ của ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ thông qua sự thấu hiểu tường minh, mà thay vào đó lại khép kín thế giới ấy và che đậy các thực thể trong-thế-giới. Để làm điều này, người ta không nhất thiết phải có ý định lừa dối. Phiếm đàm không có loại Hữu thể nằm ở hành động cố ý biến cái này thành cái khác. Việc một điều gì đó được nói ra mà thiếu cơ sở xác thực, rồi lại tiếp tục được lan truyền qua những lần kể lại sau đó, thực chất là sự biến đổi hành động phơi bày thành hành động khép kín. Bởi lẽ, điều được nói ra luôn được hiểu ngay lập tức như là hành động ‘nói’ về một điều gì đó — tức là hành động phơi bày một điều gì đó. Vì vậy, về bản chất, phiếm đàm chính là một cách khép kín, vì nó bỏ qua việc truy nguyên cơ sở của vấn đề đang được bàn luận.

Sự khép kín này càng trở nên trầm trọng hơn bởi lầm tưởng rằng người ta đã thực sự hiểu được vấn đề khi tham gia vào các cuộc phiếm đàm. Chính vì thế, phiếm đàm ngăn trở mọi sự tìm tòi hay tranh luận mới, đồng thời kìm hãm và triệt tiêu chúng theo một cách thức đặc thù. Cách diễn giải sự vật thông qua phiếm đàm đã định hình sâu sắc trong Dasein. Có rất nhiều điều mà chúng ta biết đến lần đầu tiên theo cách này, và không ít sự vật chẳng bao giờ vượt qua được mức độ hiểu biết thông thường, hời hợt đó. Cách diễn giải sự vật thường nhật này là môi trường mà Dasein đã gắn bó ngay từ đầu, và dường như không có khả tính nào để thoát khỏi nó. Bên trong nó, bên ngoài nó và đối lập với nó, mọi thấu hiểu, diễn giải và giao tiếp đích thực—cũng như mọi sự tái khám phá và lĩnh hội theo cách thức mới—đều được thực hiện. Không bao giờ có chuyện một Dasein—vốn chưa hề bị tác động hay lôi cuốn bởi cách thức diễn giải sự vật nói trên—lại đứng trước không gian rộng mở của một ‘thế giới tự thân’ để rồi chỉ đơn thuần chiêm ngưỡng những gì mình bắt gặp. Sự chi phối của cách thức diễn giải sự vật đại chúng này đã mang tính quyết định ngay cả đối với các khả tính về tâm trạng—tức là đối với phương thức cơ bản mà qua đó Dasein để cho thế giới trở nên ‘có ý nghĩa’ đối với chính mình.15  Cái ‘họ’ quy định tâm thế của cá nhân, đồng thời xác định cái được nhìn nhận và cách thức nhìn nhận sự vật.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Dieses ist redend als zu- und absagen, auffordern, Warnen, als Aussprache, Rucksprache, Fursprache, ferner als ‘Aussagen machen’ và als reden in der Weise des ‘Redenhaltens’.

2 Đọc ‘…bei der Analyser der Aussage…’ với các ấn bản cũ hơn. Từ 'der Aussage' đã bị lược bỏ trong các phiên bản mới hơn.

3 'Das Mitsein wird in der Rede ‘ausdriicklich’ geuilt, das heisst es ist schon, nur ungeteilt als nicht ergriffenes und zugeeignetes.

4 ‘…der Mitteilung als ‘Aussage’…. ‘Dấu ngoặc kép xung quanh 'Aussage' chỉ xuất hiện trong các phiên bản mới hơn.

5 'Als verstehendes In-dcr-Welt-sein mit den Andcren ist es dem Mitdasein und ihm selbst "hörig" và in dieer Horigkcit zugehörig.' Trong câu này Heidegger sử dụng một số từ cùng gốc của 'hören' ('nghe') mà mối quan hệ qua lại biến mất trong phiên bản của chúng tôi.

6 ‘…des Folgens… Trong các phiên bản trước đó có dấu ngoặc kép xung quanh 'Folgens'.

7 Ở đây chúng ta theo dõi cách đọc của các ấn bản mới hơn: ‘…nicht eine Mannigfaltigkeit von Todaten.' Các phiên bản cũ hơn có 'reine' thay vì 'eine'.

8 Ở đây tác giả đang ám chỉ đến câu tục ngữ Đức, 'Wer nicht horen kann, muss fuhlen.' (tức là ai không chú ý thì phải chịu khổ.)

9 Đọc ‘…von ihr aus…’. Các ấn bản đầu tiên bỏ sót 'aus'; việc sửa chữa được thực hiện trong danh sách lỗi.

10 Dấu ngoặc kép này chỉ được thêm vào trong các ấn bản cũ hơn. (Không dễ để dịch 'Gerede' theo cách không mang hàm ý miệt thị. May mắn thay, Heidegger đã làm rõ nghĩa của mình.)

11 'Die Rede spricht sich zumeist aus und hat sich schon immer ausgesprochen. Sie ist Sprache.' Như chúng tôi đã chỉ ra trước đó (xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 190 H. 149 ở trên), thường thì chỉ cần dịch 'aussprechen' là 'express'. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, hàm ý 'nói ra' hoặc 'phát ngôn' dường như đặc biệt quan trọng; chúng tôi sẽ thỉnh thoảng làm rõ điều đó trong bản dịch của mình bằng cách sử dụng các phép lặp từ hoặc các biện pháp khác.

12 'Die Mitteilung "teilt" nicht den prim.iiren Seinsbezug zum beredeten Seienden…’

13 'Ibm liegt daran, dass geredet wird.' Chúng tôi đã giải thích 'lhm' là ám chỉ đến 'das Miteinandersein', nhưng có thể có những cách hiểu khác về mặt ngữ pháp.

14 ‘…sondem auf dem Wege des Weittr- und Na&hredms.'

15…tiber die Moglichkeiten des Gestimmtseins entschieden, das heisst tiber die Grundart, in der sich das Dasein von der Welt angehen liisst.' 'Tiber' thứ hai chỉ được tìm thấy trong các phiên bản sau.

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

[Tr.195] Cái vòng tròn tường giải thuộc về cấu trúc của ý nghĩa, và hiện tượng này bắt rễ từ cấu trúc hiện sinh của Dasein—tức là bắt rễ từ chính sự thấu hiểu mang tính tường giải. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Hermeneutische Zirkel/ Hermeneutic Circle ‘Vòng tròn Tường giải’ có nghĩa là mọi sự hiểu biết của con người đều mang tính chất vòng tròn: chúng ta chỉ có thể hiểu một đối tượng khi dựa vào những giả định nền tảng có sẵn, và chính những giả định đó lại được kiểm chứng cũng như định hình lại thông qua những gì chúng ta học hỏi được. Heidegger lập luận rằng vòng tròn này không phải là một sai lầm logic cần tránh né. Nó là điều kiện cơ bản, tất yếu của Dasein hiện hữu người trong đó có: i) Tiền-cấu trúc của tri thức - chúng ta không bao giờ tiếp cận thế giới với một tâm trí trống rỗng, mà luôn bắt đầu với Vorhabe trạng thái chuẩn bị nền tảng trước, một Vorsicht cái nhìn định hướng trước, và Vorgriff những khái niệm có trước; ii) Chuyển biến bản thể luận - Trước Heidegger, các nhà tư tưởng coi vòng tròn này chỉ đơn thuần là một thủ pháp văn chương để đọc văn bản nhằm hiểu rõ các bộ phận thông qua tổng thể. Heidegger đã biến nó thành một chân lý hiện sinh - chúng ta thấu hiểu Hữu thể của chính mình bằng cách sống trong vòng lặp này.- HHN]. Một thực thể mà đối với nó—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới—chính Hữu thể của nó là một vấn đề cần giải quyết, thì thực thể đó, xét về mặt bản thể luận, mang một cấu trúc vòng tròn. Tuy nhiên, nếu ta lưu ý rằng ‘tính vòng tròn’ về phương diện bản thể luận thuộc một loại Hữu thể vốn là hiện-diện-vô-tri (cụ thể là thuộc Bestand nguồn tồn tại) [Chen ngang: Đối với Heidegger, thuật ngữ Bestand - nguồn dự trữ sẵn sàng/kho dự trữ - mô tả cách công nghệ hiện đại biến mọi thứ—từ thiên nhiên, động vật cho đến chính con người—thành những nguyên liệu thô, vật tư và tài nguyên đơn thuần; chúng luôn ở trạng thái sẵn sàng để được huy động, sử dụng và tối ưu hóa bất cứ lúc nào. Đó là hệ quả cốt lõi của cái mà Heidegger gọi là Gestell Khung quy định/Cơ chế định hình. Các ý nghĩa cốt lõi của Bestand: i) Mất đi giá trị tự thân - sự vật không còn được nhìn nhận theo bản chất vốn có của chúng, mà chỉ được đánh giá dựa trên tính hữu dụng và hiệu quả; ii) Trạng thái sẵn sàng theo yêu cầu - một vật thể ở dạng Bestand không tồn tại độc lập hay tự do; nó chỉ tồn tại để được khai thác, lưu trữ và thay thế; iii). Quy giản con người - con người cũng bị cuốn vào hệ thống này, biến thành ‘nguồn nhân lực’, ‘đơn vị lao động’ hay các ‘điểm dữ liệu’ thay vì là những cá thể sống động với giá trị tự thân; iv) Ví dụ minh họa, chẳng hạn ‘Dòng sông’ - thay vì là một kỳ quan thiên nhiên hay một hệ sinh thái sống động, dòng sông chỉ được xem thuần túy là ‘nguồn dự trữ’ năng lượng nước để vận hành nhà máy thủy điện; Khu rừng - thay vì là môi trường sống hoang dã, khu rừng bị coi như kho dự trữ gỗ hoặc nguồn dự trữ để bù đắp lượng khí thải carbon; Người lao động - con người bị quản lý như những hồ sơ nhân sự hay các chỉ số năng suất thay vì là những cá nhân độc đáo.-HHN], thì ta phải hoàn toàn tránh dùng hiện tượng này để mô tả bất cứ điều gì tương tự như Dasein xét về mặt bản thể luận. 

33. Khẳng định - Phương thức Phái sinh của Diễn giải

Mọi sự diễn giải đều dựa trên sự thấu hiểu. Cái được diễn đạt1 thành hình trong sự diễn giải, và được phác thảo trước trong sự thấu hiểu nói chung như một điều có thể diễn đạt được, chính là ý nghĩa. Vì sự khẳng định hay ‘phán đoán’2 dựa trên sự thấu hiểu và thể hiện một dạng thức phái sinh của quá trình diễn giải, nên bản thân nó cũng ‘có’ một ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa này không thể được định nghĩa như một thứ gì đó xuất hiện ‘trong’ một phán đoán cùng với tự thân hành vi phán đoán. Trong bối cảnh [tr.196] hiện tại, chúng ta sẽ phân tích tường tận về sự khẳng định, và phân tích này sẽ phục vụ nhiều mục đích. Thứ nhất, thông qua việc xem xét sự khẳng định, ta có thể chứng minh được các cách thức mà cái cấu trúc ‘như là’ vốn mang tính cấu thành đối với hiểu biết và diễn giải có thể bị biến đổi. Khi thực hiện điều này, cả hiểu biết lẫn diễn giải sẽ được làm sáng tỏ hơn. Thứ hai, việc phân tích khẳng định giữ một vị trí đặc biệt trong vấn đề bản thể luận nền tảng; bởi lẽ, vào giai đoạn then chốt khi bản thể luận cổ đại mới hình thành, cái λόγος logos đã đóng vai trò là manh mối duy nhất để tiếp cận cái zum eigentlich Seienden thực sự hiện hữu và để định nghĩa Hữu thể của các hiện hữu đó. Cuối cùng, từ thời cổ đại, sự khẳng định đã được thừa nhận là ‘nơi chốn’ bản nguyên và đích thực của chân lý. Hiện tượng chân lý gắn bó mật thiết với vấn đề Hữu thể đến mức khi tiến trình nghiên cứu đi xa hơn, chúng ta chắc chắn sẽ chạm trán vấn đề chân lý; và thực tế là nghiên cứu này đã nằm trong chiều kích của vấn đề đó, dù chưa được nêu rõ ràng. Đồng thời, việc phân tích khẳng định cũng sẽ dọn đường cho vấn đề này.

1). Ý nghĩa cơ bản của "sự khẳng định" (assertion) là "chỉ ra" [Aufzeigen]. Ở đây, chúng ta bám sát vào ý nghĩa nguyên thủy của λόγος logos – ngôn trí/trật tự/lý tính/ với tư cách là ἀπόφασις apophasis bộc lộ/phơi bày – tức là để cho một thực thể tự nhìn thấy từ bản thân nó. Trong lời khẳng định ‘Cái búa quá nặng’, thì cái được phơi bày cho nhãn quan thấy không phải là một ‘ý nghĩa’, mà là một hiện hữu ở trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’. Ngay cả khi thực thể này không ở đủ gần để có thể nắm bắt và ‘nhìn thấy’, thì hành động chỉ ra vẫn nhắm đến chính thực thể đó chứ không phải, chẳng hạn, một Vorstellung ‘trình hiện’ đơn thuần về nó—không phải là thứ gì đó ‘chỉ được tái hiện’ cũng không phải là trạng thái tâm lý mà trong đó người đưa ra cái khẳng định ‘tái hiện’ nó. 2). ‘Khẳng định’ có nghĩa không khác gì ‘phán đoán vị ngữ’. Chúng ta ‘khẳng định’ một ‘vị ngữ’ về một ‘chủ ngữ’, và ‘chủ ngữ’ đó được ‘vị ngữ’ xác định một tính chất cụ thể. Theo nghĩa này của từ ‘khẳng định’, cái được đưa ra trong khẳng định không phải là vị ngữ, mà là ‘chính cái búa’. Mặt khác, cái thực hiện hành động khẳng định (nói cách khác, cái gán cho một vật đặc tính xác định) lại nằm ở cái đặc tính ‘quá nặng’. Cái được đưa ra trong khẳng định theo nghĩa thứ hai của từ ‘khẳng định’ (cái được gán đặc tính xác định, theo đúng nghĩa) đã bị thu hẹp về nội dung so với cái được đưa ra trong khẳng định theo nghĩa thứ nhất [tr.197] của khuôn khổ này. Mọi phán đoán vị từ chỉ là chính nó khi nó đóng vai trò là một hành động chỉ-ra. Nghĩa thứ hai của từ ‘khẳng định’ có nền tảng từ nghĩa thứ nhất. Chính trong hành động chỉ ra này, các yếu tố được khớp nối trong phán đoán vị ngữ— chủ ngữ và vị ngữ— mới nảy sinh. Không phải nhờ việc gán cho một vật đặc tính xác định mà lần đầu tiên ta khám phá ra cái tự nó bộc lộ—cái búa—với tư cách là chính nó; mà khi ta gán cho nó đặc tính như vậy, thì tầm nhìn của ta trước hết bị hạn chế vào nó, để nhờ sự hạn chế rõ rệt3 này của tầm nhìn, mà cái vốn đã bộc lộ có thể được làm cho bộc lộ một cách tường minh trong đặc tính xác định của nó. Khi gán cho một vật một đặc tính xác định, trước hết ta phải lùi lại một bước khi đối diện với cái vốn đã bộc lộ—cái búa quá nặng kia. Khi ‘đặt ra chủ ngữ’, ta làm mờ đi các thực thể khác để tập trung vào ‘cái búa đằng kia’, sao cho nhờ việc làm mờ chúng đi, ta có thể để cho cái đang bộc lộ được nhìn thấy trong đặc tính xác định của chính nó—một đặc tính có thể được xác định.4 Việc đặt ra chủ ngữ, đặt ra vị ngữ, và đặt ra cả hai khi kết hợp lại, chúng hoàn toàn mang tính ἀποφαντικός ‘apophantical’ - tính chất bộc lộ/khẳng định - theo đúng nghĩa chặt chẽ của từ này. 3) ‘Khẳng định’ có nghĩa là Mitteilung ‘thông báo’, là Heraussage nói ra/bộc lộ ra. Với tư cách là thông báo, nó liên hệ trực tiếp với ‘khẳng định’ theo nghĩa thứ nhất và thứ hai. Đó là việc để người khác cùng nhìn thấy với ta điều mà ta đã chỉ ra bằng cách gán cho nó một đặc tính xác định. Việc để kẻ khác cùng nhìn thấy với ta chính là hành động ‘chia sẻ’ với Kẻ Khác cái thực thể đã được chỉ ra cùng với đặc tính xác định của nó. Điều được ‘chia sẻ’ ở đây chính là cái Hữu-thể-hướng-tới của chúng ta đối với cái đã được chỉ ra—một Hữu thể mà trong đó chúng ta cùng nhìn thấy nó. Cần lưu ý rằng cái Hữu-thể-hướng-tới này chính là Hữu-thể-trong-thế-giới, và chính từ trong thế giới này, điều được chỉ ra mới được bắt gặp. Bất kỳ sự khẳng định nào, với tư cách là thông báo được hiểu theo phương diện hiện sinh này, đều phải được diễn đạt.5 Là một nội dung được thông báo, điều được đưa ra trong khẳng định là thứ mà Kẻ Khác có thể ‘chia sẻ’ với kẻ đưa ra khẳng định, ngay cả khi thực thể được chỉ ra và được gán đặc tính xác định đó không ở đủ gần để họ có thể nắm bắt và nhìn thấy nó. Cái được đưa ra trong khẳng định là thứ có thể được truyền tải tiếp qua việc ‘kể lại’.  

Phạm vi chia sẻ lẫn nhau đó luôn được mở rộng. Tuy nhiên, đồng thời, cái đã được chỉ ra có thể lại bị che khuất trong quá trình kể lại đó; mặc dù vậy, ngay cả loại hiểu biết nảy sinh từ sự nghe kể lại (cho dù là tri thức [tr.198] về một Wissen [sự việc, thông tin, số liệu, sự kiện] hay chỉ đơn thuần là Kennen [quen biết ai đó, hoặc quen thuộc, có trải nghiệm thực tế (với một địa điểm, đồ vật, con người cụ thể] thì vẫn luôn hướng tầm nhìn vào chính thực thể đó chứ không phải là ‘tán thành’ một ‘ý nghĩa có giá trị’ nào đó đang được lan truyền. Ngay cả việc nghe kể lại cũng là một loại Hữu-thể-trong-thế-giới, và là một Hữu-thể-hướng-tới điều nghe được. Ngày nay, có một lý thuyết về ‘phán đoán’ đang thịnh hành, vốn định hướng theo hiện tượng Geltung ‘tính giá trị’.6 [Chen ngang: Geltung ‘tính hiệu lực’/ ‘giá trị hiệu lực’ của Martin Heidegger đề cập đến một khái niệm logic và nhận thức luận truyền thống—bắt nguồn từ Rudolf Hermann Lotze và được các nhà triết học Tân-Kantian phát triển thêm—nhằm chỉ cách thức mà các chân lý, ý nghĩa hoặc giá trị lý tưởng ‘có hiệu lực’ hay tồn tại độc lập với hiện hữu vật chất thực tế hoặc các quá trình tâm lý chủ quan. Heidegger nổi tiếng với việc bác bỏ Geltung, coi đó là một Wortgötze ‘ngẫu tượng ngôn từ’ vô bổ, tách rời chân lý và ý nghĩa khỏi Dasein/hiện hữu người  và thực tại mang tính thời gian. Trong các tác phẩm sơ kỳ hiện tượng học, Heidegger đã sử dụng khái niệm tính hiệu lực logic để giải thích tính khách quan lý tưởng của các phán đoán (ví dụ: các chân lý toán học như 2+2=4). Đến giai đoạn chín muồi trong Hữu thể và Thời gian này, Heidegger bác bỏ Geltung. Tại Mục 44, ông lập luận rằng việc đặt chân lý vào một phạm vi trừu tượng của ‘tính hiệu lực’ sẽ bỏ qua câu hỏi nguyên thủy về Sein Hữu thể. Các chỉ trích chính đối với Geltung: i) Trừu tượng hóa tách biệt - nó coi chân lý và ý nghĩa như những ‘thực thể’ lơ lửng, không diễn ra trong thế giới vật lý cũng không thuộc về trải nghiệm sống của con người; ii) Che đậy tình trạng thiếu hiểu biết về Bản thể luận - việc gọi một điều gì đó là ‘có hiệu lực’ không giải thích được cách thức nó được tiếp nhận hay loại Hữu thể của nó là gì; nó đóng vai trò như một khái niệm thay thế nhằm che đậy sự thiếu vắng một cuộc truy vấn thực sự về Bản thể luận; iii) Sự suy tàn của chân lý - đối với Heidegger, việc quy giản chân lý thành vấn đề về tính hiệu lực logic hay Cấu thành-giá trị Wertphilosophie triết học về giá trị - đánh dấu sự suy tàn tột cùng của quan niệm Hy Lạp nguyên thủy về chân lý như là aletheia - tính không bị che giấu hay trạng thái bộc lộ).- HHN] Chúng ta sẽ không thảo luận sâu về nó ở đây. Chỉ cần đề cập đến tính chất rất đáng ngờ của hiện tượng Geltung ‘tính giá trị' này là đủ, mặc dù kể từ thời Lotze, người ta vẫn coi nó như một ‘hiện tượng nguyên thủy’ không thể truy nguyên bất cứ điều gì. Việc nó có thể đóng vai trò này chỉ là nhờ vào việc chưa làm sáng tỏ được về mặt bản thể luận của nó. Những vấn đề nảy sinh xoay quanh từ ngữ được tôn sùng này cũng mơ hồ không kém.

Trước hết, tính hiệu lực được xem là ‘hình thức’ của Wirklichkeit tính hiện thực [Chen ngang: Wirklichkeit tính hiện thực Trong triết học Đức và trong các tác phẩm của Martin Heidegger chỉ những gì có hiệu lực, có thực hoặc đang vận hành. Thay vì coi đây là một trụ cột kỹ thuật cốt lõi trong hệ thống bản thể luận của riêng mình, Heidegger chủ yếu sử dụng thuật ngữ này khi phê phán siêu hình học truyền thống hoặc khi diễn giải lại triết học Aristotle. Các ý nghĩa và bối cảnh cốt lõi: i) Nguồn gốc từ nguyên: Wirklichkeit bắt nguồn từ wirken—nó mang nghĩa là ‘thứ tạo ra tác động’ hoặc ‘thứ đang vận hành’, chứ không phải là một trạng thái tồn tại tĩnh tại; ii) Phê phán siêu hình học - Heidegger cho rằng siêu hình học truyền thống đã sai lầm khi coi das Wirkliche cái ‘hiện thực’ hay das Seiende cái hiện hữu là điểm khởi đầu tối hậu để thấu hiểu về Hữu thể, qua đó bỏ quên một chiều kích sâu sắc hơn của Hữu thể; iii) Đề cao khả tính - Heidegger nổi tiếng với việc đảo ngược các ưu tiên cổ điển - như cặp khái niệm tiềm năng và hiện thực của Aristotle, - khẳng định rằng Möglichkeit Khả tính mang tính bản nguyên và cao hơn so với Wirklichkeit tính hiện thực đơn thuần. Đối với Heidegger, sự tồn tại đích thực của Dasein hiện hữu người được định nghĩa bởi chân trời các khả tính thay vì bởi những sự kiện hiện thực cố định.- HHN] vốn gắn liền với nội dung của phán đoán, xét trong chừng mực nội dung đó vẫn bất biến, trái ngược với quá trình phán đoán mang tính ‘tâm lý’ vốn có thể thay đổi. Khi xét đến cách thức mà vấn đề Hữu thể nói chung đã được mô tả trong phần giới thiệu của chuyên luận này, ta khó có thể kỳ vọng rằng ‘tính hiệu lực’ – với tư cách là ‘Hữu thể lý tưởng’ – lại được phân biệt bởi một trạng thái minh bạch đặc biệt về bản thể luận. Thứ hai, ‘tính hiệu lực’ đồng thời mang nghĩa là tính hiệu lực của ý nghĩa phán đoán – một ý nghĩa có giá trị đối với cái ‘Khách thể’ mà nó hướng tới; và do đó, nó đạt được ý nghĩa về một ‘đặc tính có giá trị khách quan’ cũng như về tính khách quan nói chung. Thứ ba, ý ​​nghĩa vốn ‘có giá trị’ đối với một thực thể, và tự thân nó ‘có giá trị’ một cách ‘phi thời gian’, cũng được coi là ‘có giá trị’ theo nghĩa nó có giá trị đối với bất kỳ kẻ nào phán đoán một cách duy lý.     

‘Tính hiệu lực’ giờ đây mang nghĩa tính ràng buộc, hay đặc tính ‘có hiệu lực phổ quát’.7 Ngay cả khi ta ủng hộ một lý thuyết nhận thức luận mang tính ‘phê phán’ — theo đó chủ thể không ‘thực sự’ ‘công khai’ với Khách thể — thì đặc tính hiệu lực này, với tư cách là tính hiệu lực của một Khách thể (Khách thể tính), vẫn dựa trên kho tàng các ý nghĩa chân thực (!) vốn tự thân đã có hiệu lực. Ba nghĩa của cụm từ ‘có hiệu lực’ mà chúng ta đã nêu — cách thức Hữu thể của cái lý tưởng, Khách thể tính, và tính ràng buộc — không chỉ tự thân chúng vốn mơ hồ mà còn thường xuyên bị nhầm lẫn với nhau. Viễn kiến về mặt phương pháp luận [tr.199] đòi hỏi chúng ta không được chọn những khái niệm thiếu ổn định như vậy làm manh mối cho việc Tường giải. Chúng ta không đặt ra hạn chế tiên khởi nào đối với ‘ý nghĩa’ chỉ giới hạn vào biểu thị ‘nội dung của phán đoán’; mà chúng ta hiểu nó như một hiện tượng hiện sinh đã được xác định đặc tính, nơi mà cái khuôn khổ hình thức của những gì có thể được bộc lộ trong sự thấu hiểu và được tường giải sẽ trở nên hiển lộ.

Nếu tập hợp ba nghĩa của ‘khẳng định’ đã phân tích và có cái nhìn thống nhất về toàn bộ hiện tượng này, ta có thể định nghĩa ‘khẳng định’ là ‘một hành động chỉ ra, mang lại cho sự vật một đặc tính xác định và mang tính thông báo’. Vấn đề còn lại là phải đặt câu hỏi: dựa trên cơ sở nào mà ta lại coi khẳng định là một phương thức của tường giải? Nếu nó thực sự thuộc loại hình này, thì các cấu trúc cốt yếu của tường giải hẳn phải tái hiện trong đó. Hành động chỉ ra của khẳng định được thực hiện dựa trên những gì đã được bộc lộ trong thấu hiểu hoặc được khám phá thông qua cái nhìn cẩn trọng bao quát. Khẳng định không phải là một loại hành vi tách biệt, tự thân có khả năng bộc lộ các thực thể nói chung theo một cách thức bản nguyên; trái lại, nó luôn duy trì sự tồn tại của mình trên nền tảng của Hữu-thể-trong-thế-giới. Những gì chúng ta đã trình bày trước đóix liên quan đến việc nhận biết thế giới cũng hoàn toàn đúng với khẳng định. Bất kỳ khẳng định nào cũng đòi hỏi phải có sự nắm bắt trước về những gì đã được bộc lộ; và đây chính là điều mà khẳng định chỉ ra thông qua việc gán cho sự vật một đặc tính xác định. Hơn nữa, trong bất kỳ cách tiếp cận nào, khi gán cho sự vật một đặc tính xác định, thì ta đã hướng cái nhìn của mình về phía điều sẽ được trình bày trong sự khẳng định đó. Khi một thực thể đã được trình diện được gán cho một đặc tính xác định, thì chức năng gán đặc tính đó được đảm nhận bởi chính cái mà ta hướng tầm nhìn của mình về phía thực thể ấy.8 Do đó, bất kỳ khẳng định nào cũng đòi hỏi một Vorsicht fore-sight viễn kiến [Chen ngang: Vorsicht của Martin Heidegger chỉ chân trời cấu trúc hoặc quan điểm có sẵn mà qua đó chúng ta tiếp cận và diễn giải bất kỳ điều gì. Thay vì mang nghĩa ‘thận trọng’, nó là một thành phần cốt lõi trong ‘Tiền-cấu trúc fore-structure của thấu hiểu; Heidegger cho rằng diễn giải không bao giờ là hành động nắm bắt đối tượng mà không có tiền giả định hay thực hiện trên một ‘tờ giấy trắng’. 1). Bất cứ khi nào Dasein hiện hữu người diễn giải một điều gì đó như là một điều gì đó, hành động ấy đều dựa trên một bộ ba yếu tố: i) Vorhabe - Cái đã có sẵn - những gì chúng ta đã nắm giữ từ trước như một tổng thể bối cảnh hoặc sự quen thuộc nền tảng; ii) Vorsicht - Tầm nhìn trước/Cái nhìn định hướng trước/ Quan điểm, góc độ hoặc giới hạn khái niệm cụ thể mà qua đó chúng ta nhìn nhận những gì đã có sẵn trong cái Vorhabe của mình; iii) Vorgriff - Khái niệm dự kiến/Tiền khái niệm: Sự nắm bắt mang tính dự đoán hoặc vốn từ vựng khái niệm mà chúng ta sử dụng để diễn đạt điều đang được diễn giải. 2). Các khía cạnh chính của Vorsicht: i) Không phải sự cẩn trọng - Mặc dù trong tiếng Đức hiện đại thông thường, Vorsicht có nghĩa là ‘thận trọng/ cẩn trọng’, nhưng Heidegger sử dụng nó theo nghĩa từ nguyên và triết học là Vor-sicht—nghĩa đen là ‘nhìn thấy trước’; ii) Cái nhìn định hướng: Vorsicht xác định điểm nhìn hoặc chân trời cụ thể để từ đó một thực thể được thấu hiểu. Nó thu hẹp Vorhabe nhận thức nền tảng bao quát của chúng ta thành một bối cảnh tập trung cho một hành động diễn giải cụ thể; iii) Những định kiến ​​nội tại - Vì diễn giải luôn vận hành dưới sự dẫn dắt của Vorsicht, nên bất kỳ hành động thấu hiểu nào cũng tất yếu mang theo những giả định và lập trường có sẵn, vốn thuộc về trạng thái chúng ta ‘bị ném’ vào thế giới.-HHN]; trong quá trình này, vị ngữ mà ta định gán và làm cho nổi bật sẽ được tách ra—có thể nói là vậy—khỏi sự bao hàm chưa được diễn đạt vốn nằm ngay trong bản thân thực thể đó. Hơn nữa, gắn liền với mọi khẳng định—vốn là một lối thông báo gán cho cái gì đó một đặc tính xác định—là khớp nối cái được chỉ ra, và khớp nối này diễn ra theo các ý nghĩa. Một sự khẳng định như vậy sẽ vận hành dựa trên một cách thức quan niệm xác định: ‘Cái búa thì nặng’, ‘Tính nặng thuộc về cái búa’, ‘Cái búa có thuộc tính nặng’. Khi một sự khẳng định được đưa ra, một sự ‘quan-niệm-trước’ nào đó luôn được ngầm định; song nó thường không lộ rõ, bởi lẽ bản thân ngôn ngữ đã ẩn chứa sẵn một cách thức quan niệm đã phát triển hoàn chỉnh. Giống như bất kỳ sự diễn giải nào, việc khẳng định tất yếu là ‘có-trước’, ‘thấy-trước’ và ‘quan-niệm-trước’ làm các nền tảng tồn tại của nó.

[Tr.200] Nhưng đến mức độ nào nó trở thành một phương thức diễn giải phái sinh? Điều gì đã được sửa đổi trong đó? Chúng ta có thể chỉ ra sự sửa đổi nếu chúng ta bám vào một số trường hợp giới hạn của khẳng định hoạt động trong logic như những trường hợp bình thường và như những ví dụ về hiện tượng khẳng định ‘đơn giản nhất’. Trước mọi phân tích, logic đã hiểu ‘một cách logic’ những gì nó coi là chủ đề dưới tiêu đề ‘tuyên bố phạm trù’ - ví dụ, ‘Cái búa nặng’. Giả định không được giải thích là ‘ý nghĩa’ của câu này được hiểu là: ‘Vật này - một cái búa - có thuộc tính nặng’. Trong sự thận trọng có trách nhiệm, ban đầu không có những khẳng định như vậy. Nhưng sự thận trọng như vậy tất nhiên có những cách diễn giải cụ thể của nó, và những cách này, so với ‘phán đoán lý thuyết’ vừa đề cập, có thể mang một số hình thức như ‘Cái búa quá nặng’, hoặc đúng hơn là chỉ ‘Quá nặng!’, ‘Đưa cho tôi cái búa khác!’ Việc diễn giải trước hết không được thực hiện bằng một tuyên bố lý thuyết mà bằng một hành động quan tâm thận trọng – gạt bỏ công cụ không phù hợp, hoặc thay thế nó, ‘mà không lãng phí lời nói’. Từ việc thiếu vắng ngôn từ, không thể kết luận rằng việc diễn giải cũng không tồn tại. Mặt khác, loại diễn giải được thể hiện một cách thận trọng không nhất thiết đã là một khẳng định theo nghĩa mà chúng ta đã định nghĩa. Khẳng định nảy sinh từ diễn giải bằng những sửa đổi hiện sinh-bản thể học nào?

Thực thể được nắm giữ trong trạng thái có-trước-cho của chúng ta – ví dụ, cái búa – là một công cụ sẵn-có-để-dùng ngay với tư cách là một thiết bị. Nếu thực thể này trở thành ‘khách thể’ của một khẳng định, thì ngay khi chúng ta bắt đầu khẳng định này, đã có một sự thay đổi trong trạng thái có-trước đó. Một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng mà chúng ta phải dùng để làm hoặc thực thi một việc gì đó, biến thành một thứ ‘mà về nó’ cái khẳng định chỉ rõ nó đã được đưa ra. Viễn kiến của chúng ta hướng đến một thứ hiện-diện-vô-tri trong những gì sẵn-có-để-dùng. Cả bằng và vì cách nhìn nhận này, mà cái sẵn-có-để-dùng trở nên bị che khuất với tư cách sẵn-có-để-dùng. Trong việc khám phá cái hiện-diện-vô-tri này, vốn đồng thời là sự che đậy trạng thái sẵn-có-để-dùng, thì một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri mà chúng ta gặp phải được gán cho một đặc tính xác định trong cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-theo-cách-thức-này-hay-cách-thức-khác của nó. Chỉ đến lúc này, chúng ta mới có thể tiếp cận các thuộc tính hoặc những thứ tương tự. Khi một khẳng định đã gán cho một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri một đặc tính xác định, thì nó lại nói một điều gì đó về nó như một ‘cái gì’; và ‘cái gì’ này được rút ra từ cái hiện-diện-vô-tri theo đúng nghĩa. Cấu trúc-như là của diễn giải đã trải qua một sự thay đổi. Trong chức năng chiếm hữu những gì được hiểu, cái ‘như là’ không còn vươn tới tổng thể các can dự nữa. Về các khả tính Khớp nối các mối quan hệ-tham chiếu, nó đã bị tách rời khỏi ý nghĩa mà, theo đúng nghĩa, cấu thành nên tính môi trường. Cái ‘như là’ bị đẩy lùi vào [tr.201] mặt phẳng đơn dạng của cái chỉ hiện-diện-vô-tri. Nó thu hẹp lại thành thứ cấu trúc chỉ cho phép người ta nhìn thấy cái hiện-diện-vô-tri, và cho phép người ta nhìn thấy nó theo một cách xác định. Sự san bằng cái ‘như là’ bản nguyên thủy của diễn giải có viễn kiến với cái ‘như là’ mà nhờ đó cái hiện-diện-vô-tri được gán cho một đặc điểm xác định là đặc tính của khẳng định. Chỉ bằng cách đó, nó mới có được khả tính thể hiện một cái gì đó theo cách mà chúng ta chỉ nhìn vào nó. Do đó, khẳng định không thể chối bỏ nguồn gốc bản thể luận của nó từ một diễn giải hiểu biết. Cái ‘như là’ bản nguyên của một ἑρμηνεία cách diễn giải hiểu theo một tần viễn kiến, chúng ta gọi là cái ‘như là’ hiện sinh-tường giải, ‘khác với cái ‘như là’ ἀποφαντικός ‘apophantical’ – mang tính bộc lộ/khẳng định của cái khẳng định. Giữa loại giải thích vẫn còn hoàn toàn gắn liền với sự hiểu biết quan tâm và trường hợp cực đoan đối lập của một khẳng định lý thuyết về một điều gì đó hiện-diện-vô-tri, có nhiều cấp độ trung gian: những khẳng định về các sự kiện xảy ra trong môi trường, các tường trình về cái hiện-diện-vô-tri, ‘báo cáo về Tình hình’, việc ghi chép và xác định ‘sự thật của vụ việc’, mô tả một trạng thái sự việc, tường thuật về một điều gì đó đã xảy ra. Chúng ta không thể truy ngược những ‘câu’ này về các tuyên bố lý thuyết mà không làm sai lệch ý nghĩa của chúng một cách cơ bản. Giống như chính các tuyên bố lý thuyết, chúng có ‘nguồn gốc’ trong cách giải thích mang tính viễn kiến. Tiến bộ của tri ​​thức cấu trúc λόγος, hiện tượng ἀποφαντικός – mang tính bộc lộ ‘như là’ này là điều không thể tránh khỏi. Từ ‘như là’ cần phải xuất hiện dưới một hình thức nào đó. Cái cách thức mà nó được nhìn nhận một cách gần gũi không phải là ngẫu nhiên, và nó đã được chứng minh rõ ràng trong lịch sử logic sau này.

Khi được xem xét dưới góc độ triết học, bản thân λόγος logos là một hữu thể, và theo định hướng của bản thể luận cổ đại, nó là một cái gì đó Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri. Các từ ngữ, xét về mặt trực tiếp, cũng là những cái hiện-diện-vô-tri; nghĩa là, ta bắt gặp chúng cũng giống như cách ta bắt gặp các Sự vật; và điều này đúng với bất kỳ chuỗi từ ngữ nào – tức là cái khuôn khổ mà trong đó λόγος logos tự biểu hiện. Trong bước tìm kiếm ban đầu về cấu trúc của λόγος logos như một cái hiện-diện-vô-tri như vậy, thì cái được phát hiện chính là cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-cùng-nhau của nhiều từ ngữ. Điều gì tạo nên cái nhất tính của cái ‘cùng nhau’ này? Như Plato đã nhận thấy, cái nhất tính này nằm ở sự thật là cái λόγος logos luôn luôn là cái λόγος logos. Trong cái λόγος logos, một thực thể được hiển hiện, và hướng về thự thể này, các từ ngữ được kết hợp lại thành một chỉnh thể ngôn từ. Aristotle đã nhìn nhận vấn đề này một cách triệt để hơn: mọi λόγος logos đều vừa là σύνθεσις synthesis tổng hợp/kết hợp vừa là σύνθεσις diaeresis sự phân rẽ/chia tách, chứ không chỉ là cái này (gọi là ‘phán đoán khẳng định’) hay cái kia (gọi là ‘phán đoán phủ định’). Thay vào đó, mọi sự xác quyết – dù là khẳng định hay phủ định, dù đúng hay sai – đều đồng thời và bình đẳng là σύνθεσις synthesisσύνθεσις diaeresis. Việc phô bày bất cứ điều gì cũng đồng nghĩa với việc vừa quy tụ nó lại vừa tách nó ra. Tất nhiên, đúng là Aristotle đã không đi sâu vào câu hỏi phân tích để giải quyết vấn đề: hiện tượng nào trong cấu trúc của λόγος logos cho phép và thậm chí buộc chúng ta phải mô tả mọi phát ngôn như là sự tổng hợp và phân tách?

Cùng với các cấu trúc hình thức của sự ‘gắn kết’ và ‘chia tách’ – hay chính xác hơn là cùng với nhất tính của chúng – ta sẽ bắt gặp hiện tượng ‘cái gì đó như là cái gì đó’, và ta sẽ bắt gặp nó như một hiện tượng thực thụ. Theo cấu trúc này, một cái gì đó được thấu hiểu trong mối tương quan với một cái gì đó khác: nó được quy tụ cùng với cái kia, nhưng theo cách mà sự đối diện mang tính thấu hiểu này đồng thời lại tách rời những gì đã được quy tụ, và thực hiện điều đó bằng cách khớp nối chúng lại theo lối diễn giải. Nếu hiện tượng cái ‘như là’ vẫn bị che khuất, và trên hết, nếu nguồn gốc hiện sinh của nó ở cái ‘như là’ thuộc phép tường giải học bị che đậy, thì cách tiếp cận hiện tượng luận của Aristotle đối với việc phân tích λόγος logos sẽ suy giảm thành một ‘lý thuyết phán đoán’ hời hợt; trong đó, phán đoán trở thành sự kết nối hoặc phân tách các biểu tượng và khái niệm. Sự kết nối và phân tách này thậm chí có thể được hình thức hóa hơn nữa thành một sự ‘thiết lập quan hệ’. Phán đoán bị phân rã theo lối logic hình thức thành một hệ thống mà ở đó các sự vật được ‘phối hợp’ với nhau; nó trở thành đối tượng của một phép ‘tính toán’, nhưng lại không trở thành chủ đề cho sự diễn giải mang tính bản thể luận. Khả tính cũng như bất khả tính trong hiểu biết mang tính phân tích về σύνθεσις synthesis tổng hợp và σύνθεσις diaeresis phân tách—tức là về ‘quan hệ’ trong phán đoán nói chung—gắn bó chặt chẽ với vị thế hiện thời của vấn đề bản thể luận và các nguyên lý của nó.        

Hiện tượng copula từ nối cho thấy vấn đề này đã thâm nhập sâu đến mức nào vào Diễn giải về cái λόγος logos, và ngược lại, khái niệm ‘phán đoán’ (thông qua một tác động ngược chiều đáng kể) đã thâm nhập sâu đến mức nào vào vấn đề bản thể luận. Khi xem xét ‘mối liên kết’ này, ta thấy rõ rằng ban đầu, cấu trúc tổng hợp được coi là điều hiển nhiên, và nó cũng vẫn giữ vai trò làm chuẩn mực cho Diễn giải. Tuy nhiên, nếu các đặc tính hình thức của việc ‘thiết lập quan hệ’ và ‘kết nối’ không đóng góp được gì về mặt hiện tượng học cho việc phân tích cấu trúc của cái λόγος logos như là chủ đề-nghiên cứu, thì xét về lâu dài, hiện tượng mà ta gọi là copula ‘từ nối’ chẳng liên quan gì đến một mối liên kết hay sự kết nối cả. Do đó, việc diễn giải từ ‘là’—dù nó được diễn đạt độc lập trong ngôn ngữ hay được biểu thị qua đuôi động từ—sẽ dẫn chúng ta vào phạm vi các vấn đề thuộc về sự phân tích hiện sinh, nếu như sự khẳng định và hiểu biết về Hữu thể là những khả tính hiện sinh đối với chính Hữu thể của Dasein. Khi đi vào giải quyết vấn đề về Hữu thể (xem Phần I, Mục 3), chúng ta sẽ lại bắt gặp hiện tượng đặc thù này của Hữu thể mà ta đã thấy bên trong cái λόγος logos.

Thông qua việc chứng minh rằng sự khẳng định bắt nguồn từ diễn giải và thấu hiểu, chúng ta đã làm sáng tỏ rằng cái ‘logic’ của cái λόγος logos bắt rễ từ sự phân tích hiện sinh về Dasein; và ở mức độ sơ bộ, điều này là đủ. Đồng thời, khi nhận thấy rằng cái λόγος logos đã được diễn giải theo một cách thức khiếm khuyết về mặt bản thể luận, thì chúng ta có được cái nhìn sâu sắc hơn về thực tế là cơ sở phương pháp luận làm nền tảng cho sự hình thành bản thể luận cổ đại không phải là một cơ sở bản nguyên. Cái λόγος logos được trải nghiệm như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri và được diễn giải như vậy, trong khi đồng thời các hữu thể mà nó chỉ ra cũng mang ý nghĩa của sự hiện-diện-vô-tri. Ý nghĩa này của Hữu thể không được phân biệt hay đối chiếu với các khả tính khác của Hữu thể; hệ quả là, Hữu thể theo nghĩa về một Hữu thể hình thức – một cái gì đó bị hòa lẫn vào ý nghĩa kia, khiến chúng ta thậm chí không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa hai phạm vi này.

34. Hữu-thể-ở-đó và Diễn-ngôn. Ngôn ngữ

Các cấu trúc hiện sinh nền tảng cấu thành nên Hữu thể của cái ‘ở đó’ — tức là trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới — chính là tâm thể và thấu hiểu. Trong thấu hiểu luôn tiềm ẩn khả tính diễn giải, tức là cái khả tính chiếm lĩnh/tiếp nhận cái đã được thấu-hiểu. Vì tâm thế có tính đồng bản nguyên với hành vi thấu hiểu, nên nó luôn duy trì trong một sự thấu hiểu nhất định; do đó, tương ứng với nó là một năng lực nhất định để được diễn giải. Chúng ta đã thấy rằng khẳng định bắt nguồn từ diễn giải và là một trường hợp thái cực của nó. Khi làm rõ ý nghĩa thứ ba của khẳng định với tư cách là thông báo (lên tiếng/bày tỏ), chúng ta đã đi đến các khái niệm saying ‘lời nói’ và speaking ‘hành động nói’ — những khái niệm mà cho đến thời điểm đó, chúng ta đã cố ý chưa chú trọng tới. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Sagen/ Saying Lời nói và Sprechen/ Speaking Hành động nói có sự khác biệt sâu sắc và rõ rệt về mặt bản thể luận. Sprechen/ Speaking Hành động nói là hành động vật lý hoặc hành động của con người trong việc phát âm từ ngữ, trong khi Sagen/ Saying Lời nói là sự vận động bản nguyên, nền tảng của việc phô bày, khai mở và để cho các thực thể xuất hiện trong Hữu thể. Das Sagen/ Saying có nguồn gốc tiếng Đức cổ sagan có nghĩa là ‘phô bày’, ‘làm cho xuất hiện’ và ‘để cho điều gì đó được nhìn thấy’. Heidegger cho rằng Sagen/ Saying không chỉ là chuyện tán gẫu của con người; đó còn là hoạt động của tự thân Hữu thể biểu hiện thế giới. Con người có thể nói chỉ vì họ lắng nghe và đáp lại cái Sagen/ Saying sâu xa này. Das Sprechen/ Speaking - tạo ra âm thanh và ngôn ngữ về phương diện vật lý và chủ động; Sprechen/ Speaking là công cụ hoặc tiếng nói của con người. Heidegger từng đưa ra nhận định nổi tiếng rằng ta có thể nói rất nhiều mà không thực sự Sagen/ Saying ‘nói’ ra bất cứ điều gì – đó là cái dẫn đến những lời bàn tán phiếm hoặc chuyện tán gẫu vô bổ.-HHN] Cái sự thật là ngôn ngữ lần đầu tiên trở thành chủ đề nghiên cứu cho thấy hiện tượng này bắt rễ sâu xa trong cấu thành hiện sinh thuộc trạng thái bộc lộ của Dasein. Nền tảng bản thể luận hiện sinh của ngôn ngữ chính là diễn ngôn hay trò chuyện.10 Đây là hiện tượng mà chúng ta đã liên tục sử dụng trong phần Diễn giải trước đó về tâm thế, thấu hiểu, diễn giải và khẳng định; tuy nhiên, trong quá trình phân tích chuyên đề, chúng ta dường như đã tạm gác nó lại. Về phương diện hiện sinh, diễn ngôn có tính đồng bản nguyên với tâm thế và sự thấu hiểu.

Tính khả-tri của một sự vật luôn được khớp nối ngay cả trước khi có bất kỳ diễn giải thích hợp nào về nó. Diễn ngôn chính là Khớp nối [tr.204] của tính khả tri. Do đó, nó là nền tảng cho cả diễn giải lẫn khẳng định. Cái có thể được Khớp nối trong diễn giải — và do đó, được Khớp nối một cách bản nguyên hơn nữa trong diễn ngôn — chính là điều mà chúng ta gọi là ‘ý nghĩa’. Cái được khớp nối theo đúng nghĩa trong sự Khớp nối mang tính diễn ngôn được chúng ta gọi là Bedeutungsganze ‘tổng-thể-ý-nghĩa’. Tổng thể này có thể được phân rã hoặc chia tách thành các ý nghĩa. Các ý-niệm — với tư cách là những gì đã được khớp-nối từ cái có thể được khớp-nối — luôn mang trong mình ý-nghĩa. Nếu diễn ngôn—với tư cách là sự khớp nối tính khả tri của cái ‘ở đó’—là một cấu trúc hiện sinh  bản nguyên của trạng thái bộc lộ, và nếu trạng thái bộc lộ được cấu thành chủ yếu bởi Hữu-thể-trong-thế-giới, thì bản thân diễn ngôn cũng phải mang một kiểu Hữu thể mang tính thế gian đặc thù. Tính khả tri của Hữu-thể-trong-thế-giới —một tính khả tri luôn đi kèm với một tâm thế—tự biểu hiện thành diễn ngôn. Tổng-thể-ý-nghĩa của tính khả tri được diễn đạt thành ngôn từ. Ngôn từ gắn kết với các ý nghĩa; tuy nhiên, các ‘Sự-vật-ngôn-từ’ lại không được cung cấp ý nghĩa.

Phương thức biểu hiện của diễn ngôn chính là ngôn ngữ.11 Ngôn ngữ là một tổng thể các từ ngữ—một tổng thể mà trong đó diễn ngôn sở hữu một Hữu thể ‘thế gian’ của riêng mình; và với tư cách là một thực thể trong-thế-giới, tổng thể này trở thành một thứ mà ta có thể bắt gặp như một thứ sẵn-có-để-dùng. Ngôn ngữ có thể bị phân rã thành các ‘Vật-thể-từ-ngữ’ vốn hiện-diện-vô-tri. Về mặt hiện sinh, diễn ngôn chính là ngôn ngữ, bởi vì cái thực thể mà diễn ngôn khớp nối trạng thái bộc lộ của nó theo các ý nghĩa lại mang kiểu Hữu thể là Hữu-thể-trong-thế-giới—một Hữu thể vốn đã ‘bị ném’ vào và phục tùng ‘thế giới’. Là một trạng thái hiện sinh trong đó Dasein được bộc lộ, diễn ngôn cấu thành nên sự tồn tại của Dasein. Việc lắng nghe và giữ im lặng là những khả tính thuộc về kỹ năng mang tính diễn ngôn. Chính trong các hiện tượng này, lần đầu tiên chức năng cấu thành của diễn ngôn đối với hiện sinh tính của sự tồn tại mới trở nên hoàn toàn rõ ràng. Tuy nhiên, trước hết, vấn đề cốt yếu là phải làm sáng tỏ cấu trúc của diễn ngôn theo đúng nghĩa.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 'Gegliederte'. Cả hai động từ 'artikulieren' và 'gliedem' đều có thể được dịch là 'articulate' trong tiếng Anh; ngay cả trong tiếng Gennan, chúng gần như đồng nghĩa, nhưng ở dạng trước, trọng âm có lẽ là ở 'các khớp' nơi một thứ gì đó được chia ra, trong khi ở dạng sau, trọng âm có lẽ là ở 'các bộ phận' hoặc 'các thành phần'. Chúng tôi đã phân biệt giữa chúng bằng cách dịch 'artikulieren' là 'Articulate' (viết hoa chữ 'A') và 'gliedern' là 'articulate' (viết thường chữ cái đầu).

2…die Aussage (das ‘Urteil’ )…

3 ‘Einschriinkung’. Các ấn bản cũ hơn có ‘Entschriinkung’.

4 ‘…die ‘Subjektsetzung’ blendet das Seiende auf ‘der Hammer da’, urn durch den Vollzug der Entblendung das Offenbare in seiner bestirnrnbaren Bestirnmtheit aehen zu lassen.’

5 ‘Zur Aussage als der so exenzial verstandenen Mit-teilung gehort die Ausges- prochenheit.’

6 Heidegger sử dụng ba từ có thể được dịch một cách tiện lợi là “tính hợp lệ”: “Geltung” (‘tính hợp lệ’ của chúng ta), ‘Giiltigkeit’ (‘ký tự hợp lệ của chúng ta’), và ‘Gelten’ (‘sự hợp lệ’ của chúng ta, v.v.). Người đọc nào đã học logic bằng tiếng Anh và do đó coi 'tính hợp lệ' chỉ đơn thuần là một thuộc tính của các lập luận trong đó tiền đề hàm ý kết luận, cần nhớ rằng trong tiếng Đức, động từ 'gelten' và các từ phái sinh của nó được sử dụng rộng rãi hơn nhiều, để áp dụng cho hầu hết mọi thứ được chấp nhận rộng rãi (hoặc thậm chí là riêng tư), đến nỗi người ta có thể nói về 'tính hợp lệ' của tiền tệ hợp pháp, 'tính hợp lệ' của vé trong một số tuần hoặc tháng nhất định, 'tính hợp lệ' của những gì 'đúng' đối với tôi hoặc đối với bạn, 'tính hợp lệ' của bất cứ điều gì đang xảy ra. Mặc dù cuộc thảo luận của Heidegger không bao gồm nhiều nghĩa này như được liệt kê trong bất kỳ từ điển tiếng Đức tốt nào, nhưng ông đã vượt xa cách sử dụng hẹp hơn của các nhà logic học nói tiếng Anh. Tất nhiên, chúng ta sẽ thường xuyên dịch 'gelten' theo những cách khác.

7 ‘…Verbindlichkeit, ‘Allgemeingiiltigkeit’.’

8 ‘Woraufhin das vorgegebene Seiende anvisiertwird, dasiibernimmt im Bestimmungsvollzug die Funktion des Bestimmenden.’

9 Phân chia này chưa từng xuất hiện.

10 ‘Rede’. Như chúng tôi đã chỉ ra trước đó (xem chú thích 3, trang 47, H. 25 ở trên), chúng tôi đã dịch từ này là ‘discourse’ hoặc ‘talk’, tùy theo ngữ cảnh, đôi khi kết hợp với cặp từ ‘diễn ngôn hay chuyện trò’. Nhưng trong một số ngữ cảnh, ‘discourse’ quá trang trọng trong khi ‘chuyện trò’ quá thông tục; người đọc cần nhớ rằng không có từ tương đương nào trong tiếng Anh cho ‘Rede’. Để thảo luận trước đó, xem Phần 7 B ở trên (H. 32-34).

11 'Die Hinausgesprochenheit der Rede ist die Sprache.'