Powered By Blogger

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

C. Hoàn cảnh Môi trường và Tính không gian của Dasein

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính định hướng thuộc về việc xóa bỏ tách rời được xây dựng trên Hữu-thể-trong-thế-giới. Trái và phải không phải là thứ gì đó có tính ‘chủ quan’ mà chủ thể có cảm giác; chúng là hướng của trạng thái định hướng của ai đó vào một thế giới đã sẵn-có-để-dùng. ‘Chỉ bằng cảm giác về sự khác biệt giữa hai bên của tôi’ xxi, tôi không bao giờ có thể tìm được đường đi trong thế giới. Chủ thể với ‘cảm giác đơn thuần’ về sự khác biệt này là một kiến tạo được dựng đặt mà không xét đến trạng thái thực sự cấu thành nên bất kỳ chủ thể nào - đó là, bất cứ khi nào Dasein có ‘cảm giác đơn thuần’ như vậy, nó đã ở trong một thế giới và phải ở trong đó để có thể tự định hướng. Điều này trở nên rõ ràng từ ví dụ mà Kant cố gắng làm sáng tỏ hiện tượng định hướng. [Tr.144] Giả sử tôi bước vào một căn phòng quen thuộc nhưng tối tăm, và đã được sắp xếp lại trong thời gian tôi vắng mặt, sao cho mọi thứ trước đây ở bên phải tôi giờ đều ở bên trái tôi. Nếu tôi muốn định hướng bản thân, thì ‘cảm giác đơn thuần về sự khác biệt’ giữa hai bên sẽ hoàn toàn vô ích chừng nào tôi chưa nhận thức được một đối tượng cụ thể nào đó ‘mà vị trí của nó’, như Kant nhận xét một cách tình cờ, ‘tôi đang nghĩ đến’. Nhưng điều này có ý nghĩa gì ngoài việc bất cứ khi nào điều này xảy ra, tôi nhất thiết phải định hướng bản thân cả trong và từ sự hiện hữu của mình bên cạnh một thế giới ‘quen thuộc’?1 Bối cảnh-thiết bị của một thế giới hẳn đã được trình hiện cho Dasein.

Việc tôi đã ở trong một thế giới cũng có tính cấu thành đối với khả tính định hướng không kém gì cảm giác về phải và trái. Mặc dù trạng thái Hữu thể này của Dasein là một điều hiển nhiên, nhưng chúng ta không được phép bỏ qua vai trò cấu thành về mặt bản thể luận của nó. Ngay cả Kant cũng không bỏ qua nó, cũng như bất kỳ Diễn giải nào khác về Dasein. Tuy nhiên, thực tế thì đây là một trạng thái mà chúng ta liên tục sử dụng, không miễn trừ chúng ta khỏi việc đưa đến một lời giải thích bản thể luận phù hợp, mà đúng hơn là đòi hỏi một lời giải thích như vậy. Lối Diễn giải tâm lý theo đó cái ‘Tôi’ có cái gì đó ‘trong ký ức’ về bản chất là một cách ám chỉ đến trạng thái cấu thành hiện sinh của Hữu-thể-trong-thế-giới. Vì Kant không nhận ra cấu trúc này, ông cũng không nhận ra tất cả các mối liên hệ mà sự cấu thành của bất kỳ định hướng khả thể nào hàm ý. Trạng thái định hướng đối với phải và trái dựa trên tính định hướng thiết yếu của Dasein nói chung, và tính định hướng này đến lượt nó về cơ bản được đồng xác định bởi Hữu-thể-trong-thế-giới. Tất nhiên, ngay cả Kant cũng không coi định hướng là một chủ đề để Diễn giải. Ông chỉ muốn cho thấy rằng mọi định hướng đều cần một ‘nguyên tắc chủ quan’. Ở đây ‘chủ quan’ có nghĩa là nguyên tắc này là tiên nghiệm.2 Tuy nhiên, tính chất tiên nghiệm của trạng thái định hướng đối với phải và trái dựa trên tính tiên nghiệm ‘chủ quan’ của Hữu-thể-trong-thế-giới, không liên quan gì đến bất kỳ đặc tính xác định nào bị giới hạn trước đó đối với một chủ thể không có thế giới. Việc xóa bỏ tách rời và tính định hướng, với tư cách là những đặc điểm cấu thành của Hữu-thể-trong, mang tính quyết định đối với tính không gian của Dasein - đối với sự hiện hữu theo cách quan tâm và thận trọng của nó trong không gian, trong một không gian được khám phá và bên-trong-thế-giới. Chỉ có lời giải thích mà chúng ta vừa đưa ra về tính không gian của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới và tính không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới mới cung cấp các điều kiện tiên quyết để làm rõ hiện tượng tính không gian của thế giới và hình thành vấn đề bản thể luận về không gian.

24. Không gian và Tính không gian của Dasein

[Tr.145] Với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein đã khám phá ra một ‘thế giới’ bất cứ lúc nào. Khám phá này, được xây dựng trên Weltlichkeit tính thế gian của thế giới, là một khám phá mà chúng ta đã mô tả như là việc giải phóng các thực thể cho một tổng thể Beteiligung các can dự. Việc giải phóng một cái gì đó và cho phép nó can dự được thực hiện bằng cách quy chiếu hoặc tự gán cho mình một cách thận trọng, và điều này đến lượt nó dựa trên ý nghĩa mà kẻ đó đã hiểu trước đó. Giờ đây chúng ta đã chứng minh rằng Hữu-thể-trong-thế-giới thận trọng là có tính không gian. Và chỉ vì Dasein là không gian theo cách xóa bỏ tách rời và tính định hướng nên những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới mới có thể được chạm trán trong không gian của nó. Giải phóng tổng thể tính các can dự, mang tính thiết bị nguyên sơ, là để cho một cái gì đó được tham gia vào một vùng, và làm như vậy bằng cách xóa bỏ tách rời và tạo ra tính định hướng; điều này tương đương với việc giải phóng sự thuộc về không gian ở đâu đó của những thứ sẵn-có-để-dùng. Trong ý nghĩa mà Dasein (với tư cách là Hữu-thể-trong quan tâm) quen thuộc, nằm ở trạng thái đồng tiết lộ thiết yếu của không gian.3

Không gian được bộc lộ cùng với Weltlichkeit tính thế gian của thế giới vẫn thiếu đi tính đa tạp thuần túy của ba chiều. Trong trạng thái bộc lộ gần gũi nhất ấy với chúng ta, không gian, với tư cách là das reine ‘Worin’/ wherein cái trong-đó thuần túy mà trong đó các vị trí được sắp xếp theo phép đo và tình trạng của sự vật được xác định, vẫn còn ẩn giấu. Trong hiện tượng vùng mà chúng ta đã chỉ ra, trên cơ sở đó không gian được khám phá trước trong Dasein. Theo chúng tôi hiểu, ‘vùng’ ở đây được hiểu là wohin/ whither ‘nơi đến’ mà một bối cảnh thiết bị sẵn-có-để-dùng có thể thuộc về, khi bối cảnh đó có tính chất như thể nó được bắt gặp với tư cách xóa bỏ tách rời về hướng - tức là, như thể nó đã được đặt định.4 Trạng thái Gehorigkeit thuộc về này được xác định dựa trên ý nghĩa cấu thành nên thế giới, và nó diễn đạt ‘nơi đến’ và ‘nơi đi’ trong phạm vi ‘nơi đến’ khả thể. Nói chung, ‘nơi đến’ được quy định bởi một tổng thể tham chiếu đã được cố định trong một mối quan tâm ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’, và trong đó việc cho phép một thứ gì đó tham gia bằng cách giải phóng nó, tự gán cho nó. Với bất cứ thứ gì được bắt gặp với tư cách sẵn-có-để-dùng, luôn có sự can dự vào một vùng. Đối với tổng thể tính các can dự tạo nên cái Hữu-thể của cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới, có một sự can dự mang tính không gian vốn có đặc tính của một vùng. Do sự can dự như vậy, nên cái sẵn-có-để-dùng trở thành thứ mà chúng ta có thể bắt gặp và xác định là có hình dạng và phương hướng.5 Với Hữu thể thực sự của [tr.146] Dasein, những gì sẵn-có-để-dùng trong thế giới được Entfernung xóa bỏ khoảng cách* và được xác định hướng, tùy thuộc vào mức độ minh bạch có thể đạt được nhờ sự thận trọng quan tâm.             

Khi chúng ta để cho các thực thể trong-thế-giới được bắt gặp theo cách thức cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế-giới, thì chúng ta ‘trao không gian cho chúng’. Việc ‘trao không gian’ này—điều mà ta cũng gọi là ‘dành chỗ’ cho chúng6—nằm ở việc giải phóng cái ‘sẵn-có-để-dùng’ để nó bộc lộ không gian tính của mình. Là một phương thức khám phá và trình hiện một tổng thể tính không gian khả thể được quy định bởi các cam kết, thì hành động ‘dành chỗ’ này chính là cái tạo điều kiện cho sự định hướng thực sự của một kẻ nào đó tại một thời điểm nhất định trở nên khả thể. Khi quan tâm theo cách sự thận trọng với thế giới, Dasein có thể di chuyển sự vật, dời chúng đi chỗ khác hoặc ‘dành chỗ’ cho chúng, chỉ bởi vì hành động ‘dành chỗ’—vốn được hiểu như một Hữu tính hiện sinh [existentiale số nhiều existentialia - là một cấu trúc hoặc đặc tính bản thể luận xác định phương thức hiện hữu cốt yếu của sự tồn tại người Dasein.]—thuộc về cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó. Tuy nhiên, cả vùng không gian đã được khám phá trước đó lẫn tính không gian hiện tại nói chung đều không phải là đối tượng được nhìn nhận một cách tường minh. Trong tự thân, nó hiện diện đối với sự thận trọng ấy ngay trong trạng thái kín đáo của những cái ‘sẵn-có-để-dùng’—những thứ mà sự thận trọng kia đang mải mê bận tâm tới. Cùng với Hữu-thể-trong-thế-giới, không gian được khám phá trước hết thông qua tính không gian này. Trên cơ sở tính không gian được khám phá như vậy, chính không gian mới trở nên có thể tiếp cận đối với nhận thức.

Không gian không nằm trong chủ thể, và thế giới cũng không nằm trong không gian. Thay vào đó, không gian nằm ‘trong’ thế giới, theo nghĩa không gian đã được bộc lộ bởi chính Hữu-thể-trong-thế-giới—cái cấu thành nên Dasein. Không gian không phải là thứ được tìm thấy trong chủ thể, và chủ thể cũng không quan sát thế giới ‘như thể’ thế giới đó nằm trong một không gian; trái lại, ‘chủ thể’ (Dasein)—nếu được hiểu đúng đắn về phương diện bản thể luận—vốn mang tính không gian. Và bởi vì Dasein mang tính không gian theo cách thức mà chúng ta đã mô tả, không gian tự biểu lộ như một cái gì đó có tính a priori tiên nghiệm. Thuật ngữ này không hàm ý một điều gì đó thuộc về chủ thể ngay từ trước—một chủ thể vốn ban đầu chưa có thế giới và tự mình phát lộ ra không gian. Ở đây, apriority tính ‘tiên nghiệm’ có nghĩa là tính chất ‘có trước’ mà theo đó không gian được bắt gặp (như một vùng) mỗi khi các sự vật ‘sẵn-có-để-dùng’ được bắt gặp về phương diện môi trường.

Tính không gian của những gì ta bắt gặp trước hết thông qua sự thận trọng có thể trở thành chủ đề cho chính sự thận trọng đó, cũng như trở thành nhiệm vụ cho việc tính toán và đo đạc, chẳng hạn như trong các hoạt động xây dựng và trắc địa. Việc chủ đề hóa tính chất không gian của môi trường như vậy, về cơ bản, vẫn là một hành vi của sự thận trọng – qua đó, bản thân không gian đã hiện ra theo một cách thức nhất định. Không gian tự bộc lộ theo cách này có thể được nghiên cứu thuần túy bằng sự quan sát, miễn là ta từ bỏ phương thức tiếp cận duy nhất trước đây: sự tính toán dựa trên quan sát định hướng. Khi không gian được ‘trực giác hóa về phương diện hình thức’, thì các khả tính thuần túy [tr.147] của những mối quan hệ không gian sẽ được khám phá. Tại đây, ta có thể trải qua một loạt các giai đoạn để làm lộ rõ ​​không gian thuần túy đồng nhất: từ hình thái học thuần túy của các dạng thức không gian, chuyển sang analysis situs (phân tích vị trí - mô tả giai đoạn thứ hai trong quá trình không gian thuần túy, đồng nhất được trừu tượng hóa một cách khoa học từ môi trường sống thực tiễn của chúng ta), và cuối cùng là khoa học về không gian thuần túy mang tính đo đạc. Trong nghiên cứu hiện tại, chúng tôi sẽ không xem xét mối liên hệ giữa tất cả các yếu tố này.xxii Vấn đề trọng tâm của chúng tôi chỉ nhằm xác lập – trên bình diện bản thể luận – cơ sở hiện tượng luận để từ đó có thể biến việc khám phá không gian thuần túy thành một chủ đề nghiên cứu và triển khai nó.

Khi không gian được khám phá theo lối phi-cẩn trọng – tức là chỉ thông qua sự quan sát thuần túy – thì các vùng môi trường sẽ bị trung hòa thành những chiều kích thuần túy. Các địa điểm – và thực ra là tổng thể tính các địa điểm thuộc về các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ vốn được định hướng bởi sự quan sát thực tiễn – đều bị quy giản thành vô số vị trí dành cho các Sự vật ngẫu nhiên. Không gian tính của những gì ‘sẵn-có-để-dùng’ bên-trong-thế-giới sẽ mất đi đặc tính ‘can dự’ của nó, và bản thân các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ cũng mất đi tính chất đó. Thế giới mất đi tính chất ‘hoàn cảnh’ đặc thù của nó; môi trường trở thành thế giới của Tự nhiên. ‘Thế giới’ – vốn là tổng thể tính các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ – bị không gian hóa thành một bối cảnh các Sự vật có quảng tính, vốn chỉ đơn thuần ‘hiện-diện-vô-tri’ không hơn. Không gian đồng nhất của Tự nhiên chỉ tự bộc lộ khi các thực thể mà ta bắt gặp được khám phá theo cách thức mà trong đó, tính chất thế gian của các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ bị tước bỏ đi chính cái Weltlichkeit/ Worldhood ‘tính thế gian’ của nó.7

Dựa trên cấu trúc ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ của mình, Dasein luôn thấy không gian hiện ra như một cái gì đó đã được khám phá, mặc dù không phải dưới dạng một chủ đề nghiên cứu tường minh. Mặt khác, bản thân không gian – xét theo khía cạnh nó bao hàm các khả tính thuần túy về Hữu-thể-không-gian của một sự vật – thì thoạt đầu vẫn còn bị che giấu. Việc không gian tự bộc lộ một cách cốt yếu bên trong một thế giới vẫn chưa phải là yếu tố quyết định đối với loại Hữu thể mà nó sở hữu. Không nhất thiết không gian phải mang loại Hữu thể đặc trưng của một vật thể vốn ‘sẵn-có-để-dùng’ hay  ‘hiện-diện-vô-tri’ trong không gian. Kiểu Hữu thể của không gian cũng không phải là kiểu Hữu thể thuộc về Dasein. Mặc dù bản thân Hữu thể của không gian không thể được quan niệm như kiểu Hữu thể thuộc về một res extensa vật thể có quảng tính, nhưng điều đó không có nghĩa là nó phải được định nghĩa về mặt bản thể luận như là một ‘hiện tượng’ của một vật thể như vậy. (Nếu vậy, xét về mặt Hữu thể, nó sẽ không thể phân biệt được với một vật thể như vậy.) Cũng không thể đồng nhất Hữu thể của không gian với Hữu thể của res cogitans thực thể tư duy và coi nó thuần túy là ‘mang tính chủ thể’—chưa kể đến bản chất đầy nghi vấn của Hữu thể của một chủ thể như thế.

Việc diễn giải về Hữu thể của không gian cho đến nay vẫn là một vấn đề gây bối rối; nguyên nhân không hẳn nằm ở chỗ chúng ta chưa am hiểu đầy đủ về nội dung của chính không gian như một sự vật, [tr.148] mà chủ yếu là do các khả tính của Hữu thể nói chung chưa thực sự minh bạch về mặt nguyên tắc, đồng thời còn thiếu vắng một sự diễn giải chúng dựa trên các khái niệm bản thể luận. Để thấu hiểu vấn đề bản thể luận về không gian, thì tầm quan trọng quyết định là phải giải phóng câu hỏi về Hữu thể khỏi sự hạn hẹp của những khái niệm vốn có một cách ngẫu nhiên và phần lớn còn thô sơ; đồng thời, cần định hướng việc khảo sát vấn đề Hữu thể của không gian (xét cả về chính hiện tượng này lẫn các dạng thức không gian tính hiện tượng khác nhau) sao cho làm sáng tỏ được các khả tính của Hữu thể nói chung. Trong hiện tượng không gian, ta không tìm thấy đặc tính bản thể luận tiên khởi cái Hữu thể của các thực thể bên-trong-thế-giới — dù là đặc tính duy nhất hay chỉ là một trong số nhiều đặc tính. Không gian càng không phải là yếu tố cấu thành nên hiện tượng ‘thế giới’. Nếu không quay về với ‘thế giới’, ta không thể quan niệm được không gian. Không gian chỉ trở nên có thể tiếp cận khi môi trường xung quanh bị tước bỏ cái thế-gian của nó; và không gian tính hoàn toàn không thể được khám phá nếu không dựa trên nền tảng của ‘thế giới’. Quả thực, không gian vẫn là một trong những yếu tố cấu thành nên ‘thế giới’, cũng như không gian tính của chính Dasein là thiết yếu đối với trạng thái cơ bản Hữu-thể-trong-thế-giới của nó.8

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’9

[Tr.149] Phân tích của chúng ta về cái thế-gian của thế giới luôn hướng tới việc đưa toàn bộ hiện tượng Hữu-thể-trong-thế-giới vào tầm nhìn, mặc dù không phải tất cả các hạng mục cấu thành của nó đều bộc lộ rõ ​​nét ở cấp độ hiện tượng như tự thân hiện tượng thế giới. Chúng ta đã diễn giải ‘thế giới’ về phương diện bản thể luận thông qua cái ‘sẵn-có-để-dùng’ bên-trong-thế-giới; và cách Diễn giải này được ưu tiên hàng đầu vì Dasein — trong đời sống thường nhật (vốn là chủ đề nghiên cứu xuyên suốt về Dasein) — không chỉ tồn tại trong một thế giới mà còn định hình thái độ của mình đối với thế giới đó bằng một loại Hữu thể chủ đạo. Trước hết và phần lớn, Dasein bị cuốn hút vào thế giới của nó. Do đó, Dasein đắm mình trong thế giới; kiểu Hữu thể mà nó sở hữu theo cách này, và nhìn chung là cái Hữu-thể-trong vốn làm nền tảng cho nó, đóng vai trò thiết yếu trong việc xác định đặc tính của hiện tượng mà chúng ta sắp nghiên cứu. Chúng ta sẽ tiếp cận hiện tượng này bằng cách đặt câu hỏi: Dasein là ai trong đời sống thường nhật của nó? Tất cả các cấu trúc Hữu thể thuộc về Dasein, cùng với hiện tượng vốn cung cấp câu trả lời cho câu hỏi về cái ‘ai’ này, đều là các phương thức của Hữu thể của nó. Việc mô tả các cấu trúc này về phương diện bản thể luận cũng chính là mô tả các cấu trúc đó về phương diện hiện sinh.

Vì vậy, chúng ta phải đặt câu hỏi một cách đúng đắn và phác thảo cái quy trình đưa một phạm vi hiện tượng rộng lớn hơn về đời sống thường nhật của Dasein vào tầm nhìn. Bằng cách định hướng nghiên cứu vào cái hiện tượng mang lại lời đáp cho câu hỏi về cái ‘ai’, chúng ta sẽ được dẫn dắt đến những cấu trúc nhất định của Dasein vốn có tính đồng khởi thủy với Hữu-thể-trong-thế-giới: đó là Mitsein Hữu-thể-với và Mitdasein Dasein-với. Phương thức Hữu-thể-của-ai-đó-Tự-thân hàng ngày này được đặt nền tảng trong loại Hữu thể này; việc lý giải phương thức này sẽ cho phép chúng ta nhận diện cái có thể gọi là ‘chủ thể’ của đời sống thường nhật – tức là cái ‘Chúng/Họ’. Chương bàn về cái ‘ai’ của Dasein ở mức độ trung bình sẽ được chia thành các phần như sau: 1. Tiếp cận câu hỏi hiện sinh về cái ‘ai’ của Dasein (Mục 25); 2. Cái ‘Dasein-với’ của những Kẻ khác và Hữu-thể-với thường nhật (Mục 26); 3. Hữu-thể-của-ai-đó-Tự-thân hàng ngày và cái ‘Chúng/Họ’ (Mục 27).

25. Tiếp cận Câu hỏi Hiện sinh về cái ‘Ai’ của Dasein

Lời đáp cho câu hỏi Dasein là ai dường như đã được đưa ra ở Mục 9, nơi chúng ta đã chỉ ra một cách hình thức các đặc điểm cơ bản của Dasein. Dasein là một thực thể mà trong mỗi trường hợp chính là bản thân Tôi; Hữu thể của nó, trong mỗi trường hợp, là của tôi. Định nghĩa này chỉ ra một trạng thái mang tính cấu thành về mặt bản thể luận, nhưng nó mới chỉ dừng lại ở mức độ chỉ ra trạng thái đó mà thôi. Đồng thời, điều này cho chúng ta biết về mặt ontic thực hữu (dù theo cách thức sơ lược) rằng trong mỗi trường hợp, chính ‘Tôi’ – chứ không phải những Kẻ khác – là thực thể này. Câu hỏi về việc cái ‘ai’ tự tìm thấy lời giải đáp trong khuôn khổ của bản thân cái ‘Tôi’, cái ‘chủ thể’, cái ‘Tự ngã’.10 Cái ‘ai’ ở đây là cái tự duy trì sự đồng nhất của chính mình xuyên suốt những biến đổi trong các trải nghiệm và cách thức hành xử, đồng thời tự liên hệ tính đa tạp luôn biến đổi đó trong quá trình ấy. Về mặt hữu thể luận, ta hiểu nó như một cái gì đó luôn hiện-diện-vô-tri trong mỗi trường hợp – vừa ở trong vừa dành cho một phạm vi khép kín – và đóng vai trò cơ sở, theo một nghĩa rất đặc biệt, với tư cách là cái subjectum chủ thể. Là một cái gì đó đồng nhất giữa muôn vàn sự khác biệt,11 nó mang đặc tính của cái ‘Tự ngã’. Ngay cả khi ta bác bỏ khái niệm ‘bản chất linh hồn’ và cái Dinglichkeit/Thinghood trạng thái Sự vật của ý thức, hay phủ nhận việc coi con người là một khách thể, thì về phương diện bản thể luận, ta vẫn đang mặc nhiên thừa nhận một cái gì đó mà Hữu thể của nó mang ý nghĩa hiện-diện-vô-tri — bất kể điều này có được thừa nhận một cách tường minh hay không. Tính substantiality chất thể chính là manh mối bản thể luận để xác định thực thể nào sẽ đưa ra lời đáp cho câu hỏi cái ‘ai’. Dasein thường được mặc nhiên hình dung từ trước như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri. Ý nghĩa này của Hữu thể luôn tiềm ẩn trong mọi trường hợp mà cái Hữu thể của Dasein chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, hiện-diện-vô-tri lại là kiểu Hữu thể đặc trưng cho những thực thể không mang đặc tính của Dasein.  

Việc khẳng định rằng chính tôi là kẻ hiện hữu trong mỗi trường hợp của Dasein là điều hiển nhiên về mặt ontisch thực hữu; nhưng điều này không được khiến ta lầm tưởng rằng con đường dẫn đến Diễn giải về mặt bản thể luận đối với những gì ‘được cho’ theo cách này đã được vạch ra một cách chắc chắn và không thể nhầm lẫn. Thực ra, vẫn còn một câu hỏi bỏ ngỏ là liệu nội dung thuần túy mang tính thực hữu của khẳng định trên có thực sự phản ánh đúng bản chất của các hiện tượng thuộc về Dasein trong đời sống thường nhật hay không. Có thể cái ‘ai’ của Dasein thường nhật lại không phải là cái ‘bản thân Tôi’. [Tr.151] Nếu việc đưa ra các khẳng định mang tính thực hữu –bản thể luận thì khẳng định đó đòi hỏi phải trình bày các hiện tượng theo khuôn khổ của chính loại Hữu thể mà tự thân các thực thể sở hữu, và nếu cách trình bày này cần giữ được vị thế ưu tiên so với cả những câu trả lời thông thường, hiển nhiên nhất cũng như so với bất kỳ cách đặt vấn đề nào bắt nguồn từ những câu trả lời đó, thì việc Diễn giải hiện tượng luận về Dasein cần phải được bảo vệ trước nguy cơ sai lệch trong cách đặt vấn đề khi chúng ta tiếp cận câu hỏi sắp được nêu ra. Tuy nhiên, chẳng phải là trái với các quy tắc của mọi phương pháp đúng đắn hay sao khi tiếp cận một vấn đề mà không bám sát vào những gì được coi là hiển nhiên trong phạm vi chủ đề của chúng ta? Và còn điều gì chắc chắn hơn cái trạng thái được cho của cái ‘Tôi’? Chẳng phải trạng thái được cho này bảo cho chúng ta rằng nếu muốn làm sáng tỏ vấn đề một cách nguyên thủy, ta phải gạt bỏ mọi thứ khác cũng ‘được cho’ – không chỉ là một ‘thế giới’ đang hiện hữu, mà thậm chí cả cái Hữu thể của những cái ‘Tôi’ khác hay sao? Kiểu ‘cho’ mà chúng ta có ở đây chỉ là nhận thức mang tính phản tư, thuần túy và có tính hình thức về cái ‘Tôi’; và có lẽ cái mà nó cho đó quả thực là hiển nhiên. 12 Sự thấu hiểu này thậm chí còn mở ra một hướng tiếp cận hiện tượng luận theo đúng nghĩa, mà về nguyên tắc, hướng tiếp cận này mang ý nghĩa thiết lập một khuôn khổ như là một ‘hiện tượng học hình thức về ý thức’.

Trong bối cảnh phân tích hiện sinh về Dasein thực tại, nảy sinh câu hỏi liệu việc xác định cái ‘Tôi’ theo cách đã nêu có thực sự là bộc lộ Dasein trong tính thường nhật của nó hay không – hay liệu nó có thực sự bộc lộ Dasein chút nào không. Liệu có hiển nhiên một cách a priori tiên nghiệm rằng việc tiếp cận Dasein chỉ có thể đạt được thông qua nhận thức phản tư thuần túy về cái ‘Tôi’ của các hành động hay không? Điều gì xảy ra nếu kiểu ‘tự-cho' này của Dasein lại dẫn dắt sự phân tích hiện sinh của chúng ta đi chệch hướng, và thực sự lại làm điều đó theo một cách bắt rễ ngay trong chính Hữu thể của tự thân Dasein? Có lẽ khi Dasein tự hướng về chính mình theo cách gần gũi nhất, nó luôn nói ‘Tôi là thực thể này’, và về lâu dài, nó lại nói điều đó to nhất ngay khi nó ‘không’ phải là thực thể này. Dasein trong mỗi trường hợp đều là của tôi, và đây chính là cấu trúc của nó; nhưng sẽ ra sao nếu đây lại chính là lý do khiến cho, ở mức độ trực tiếp và phổ biến nhất, Dasein lại không phải là chính nó? Sẽ ra sao nếu cách tiếp cận đã nêu—vốn bắt đầu với trạng thái đem cho của cái ‘Tôi’ đối với chính Dasein, cùng với một sự tự-diễn-giải khá hiển nhiên về Dasein—lại dẫn dắt phân tích hiện sinh rơi vào một cái bẫy? Nếu những gì có thể tiếp cận được nhờ việc ‘đem cho’ đơn thuần có thể được xác định, thì hẳn phải có một chân trời bản thể luận để xác định nó; nhưng sẽ ra sao nếu chân trời này, về mặt nguyên tắc, vẫn không thể xác định được? Rất có thể việc nói về thực thể này rằng ‘Tôi’ là nó luôn đúng đắn ở bình diện ontic thực hữu. Tuy nhiên, việc phân tích bản thể luận khi sử dụng những khẳng định như vậy, về nguyên tắc vẫn phải đặt ra những dè dặt nhất định về chúng. Từ ‘Tôi’ chỉ nên [tr.152] được hiểu theo nghĩa là một chỉ dấu hình thức không mang tính cam kết, biểu thị một điều gì đó có thể sẽ tự bộc lộ như là ‘cái đối lập’ với chính nó trong một bối cảnh hiện tượng cụ thể nào đó của Hữu thể. Trong trường hợp đó, cái ‘không-Tôi’ hoàn toàn không đồng nghĩa với một thực thể thiếu vắng Ichheit ‘Tôi-tính’, mà đúng hơn là một kiểu Hữu thể xác định mà tự thân cái ‘Tôi’ sở hữu, chẳng hạn như trạng thái Selbstverlorenheit đánh mất chính mình.

[Chen ngang: Ichheit ‘Tính Tôi’ ở Martin Heidegger biểu thị khái niệm siêu hình học truyền thống về Tự ngã, Tự ngã tính, hoặc chủ thể tính vốn hoàn toàn xoay quanh một cái ‘Tôi’ biệt lập. Khi phê phán về cái Tôi và bác bỏ Chủ thể biệt lập Heidegger cho rằng việc khởi đầu triết học từ Ichheit —Tính Tôi thuần túy, có sẵn của Descartes hay của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm—là một sai lầm. Một chủ thể trần trụi hay một cái tôi biệt lập không bao giờ tồn tại độc lập ngay từ đầu. Hữu-thể-trong-thế-giới - Hiện hữu người Dasein luôn gắn liền với thế giới và được chia sẻ cùng Mitsein những kẻ khác. Việc tập trung vào Ichheit khiến ta bỏ lỡ thực tại mang tính tương quan nền tảng này. Heidegger truy nguyên cách triết học hiện đại đề cao Ichheit thành nền tảng tối hậu cho mọi chân lý và thực tại - Đối với Heidegger, sự cố chấp vào Ichheit giam hãm tư duy con người trong khuôn khổ chủ quan, che khuất tầm nhìn của chúng ta trước câu hỏi lớn hơn về chính Hữu thể. Bản chất đích thực của cái tôi được tìm thấy khi ta bước ra khỏi ‘nhà tù’ của cái tôi này để đến với sự cởi mở mang tính tương quan. HHN]

Tuy nhiên, ngay cả Diễn giải tích cực về Dasein mà chúng ta đã đưa ra cho đến nay cũng đã ngăn cản chúng ta bắt đầu với tính cho sẵn hình thức của cái ‘Tôi’, nếu mục đích của chúng ta là trả lời câu hỏi về cái ‘ai’ theo một cách thỏa đáng về mặt hiện tượng. Khi làm sáng tỏ khái niệm Hữu-thể-trong-thế-giới, chúng ta đã chỉ ra rằng một chủ thể trơ trọi, không có thế giới, thì không bao giờ ‘hiện hữu’ theo nghĩa trực tiếp, cũng như không bao giờ được đưa ra như một sự hiện diện được cho sẵn. Như vậy, xét cho cùng, một cái ‘Tôi’ biệt lập – tách rời khỏi những ‘Kẻ khác’ – hoàn toàn không phải là cái được ban cho một cách trực tiếp, gần gũi. Tuy nhiên, nếu những ‘Kẻ khác’ đã hiện diện cùng ta trong cấu trúc Hữu-thể-trong-thế-giới, và nếu điều này được xác nhận về phương diện hiện tượng, thì thực tế đó cũng không được phép khiến ta lầm tưởng rằng cấu trúc bản thể luận của cái được ‘ban cho’ như vậy là điều hiển nhiên, không cần phải khảo sát thêm. Nhiệm vụ của chúng ta là làm bộc lộ về mặt hiện tượng kiểu tồn tại mà ‘Dasein-với’ – trong tính thường nhật gần gũi nhất – thuộc về kiểu tồn tại đó, đồng thời diễn giải nó theo một cách thức thích hợp về mặt bản thể luận. Cũng như tính hiển nhiên về mặt ontic thực hữu của Hữu-thể-trong-tự-thân của các thực thể bên-trong- thế-giới khiến ta lầm tưởng rằng ý nghĩa của cái Hữu thể này là hiển nhiên về mặt bản thể luận, đồng thời làm ta bỏ qua hiện tượng thế giới, thì tính hiển nhiên về mặt thực hữu của sự kiện mà Dasein trong mỗi trường hợp đều là của tôi cũng che giấu cái khả tính là vấn đề bản thể luận vốn thuộc về nó đã bị dẫn đi sai hướng. Trước hết, cái ‘ai’ của Dasein không chỉ là một vấn đề về mặt bản thể luận; ngay cả về mặt thực hữu, nó vẫn bị che giấu. Nhưng liệu điều này có nghĩa là không có bất kỳ manh mối nào để trả lời câu hỏi về cái ‘ai’ bằng cách phân tích hiện sinh? Chắc chắn là không.

Trong số các cách thức mà chúng ta đã chỉ ra một cách hình thức về cấu thành của Hữu thể Dasein ở các Mục 9 và 12 nêu trên, thì cái cách thức mà chúng ta đang thảo luận tất nhiên không đóng vai trò là manh mối hiệu quả bằng cách thức coi ‘Bản chất’ của Dasein được đặt nền tảng trên sự tồn tại của chính nó.13 Nếu cái ‘Tôi’ là một đặc tính cốt yếu của Dasein, thì nó phải được diễn giải về phương diện hiện sinh. Trong trường hợp đó, cái ‘Ai?’ chỉ có thể được giải đáp bằng cách phô bày—về mặt hiện tượng—một loại Hữu thể xác định mà Dasein sở hữu. Nếu Dasein trong mỗi trường hợp chỉ là Tự Ngã của nó đang tồn tại, thì tính nhất quán của cái Tự ngã—cũng như cái [tr.153] khả tính ‘không thể tự đứng vững’14 của nó—đòi hỏi chúng ta phải đặt ra câu hỏi này về phương diện hiện sinh và bản thể luận với tư cách là lối tiếp cận duy nhất thích hợp đối với vấn đề này. Tuy nhiên, nếu cái Tự Ngã chỉ được quan niệm như một cung cách Hữu thể của thực thể này, thì điều đó dường như đồng nghĩa với việc làm tan biến ‘cốt lõi’ thực sự của Dasein. Mọi nỗi e ngại nảy sinh từ quan điểm này đều bắt nguồn từ một giả định sai lầm: cho rằng cái thực thể đang được xét đến—về bản chất— là loại Hữu thể vốn thuộc về cái gì đó hiện-diện-vô-tri, ngay cả khi ai đó không hề gán cho nó tính rắn chắc của một Vật thể hữu hình hiện diện cụ thể. Song, ‘bản chất’ của con người không phải là tinh thần với tư cách là sự tổng hợp giữa linh hồn và thể xác; mà đúng hơn, đó chính là tồn tại.

26. Dasein-với của những Kẻ khác và Hữu-thể-với Thường nhật.

Lời đáp cho câu hỏi về cái ‘ai’ của Dasein thường nhật có thể đạt được thông qua việc phân tích loại Hữu-thể mà trong đó Dasein duy trì chính mình một cách gần gũi và trong phần lớn thời gian. Cuộc khảo sát của chúng ta định hướng từ Hữu-thể-trong-thế-giới — trạng thái cơ bản của Dasein, yếu tố đồng-quyết định mọi phương thức Hữu thể của nó. Nếu nhận định của chúng ta là đúng ở chỗ bằng việc giải thích về thế giới ở trên, các hạng mục cấu trúc còn lại của Hữu-thể-trong-thế-giới đã bắt đầu bộc lộ — thì điều này hẳn cũng đã chuẩn bị cho chúng ta, theo một cách nào đó, để trả lời câu hỏi về cái ‘ai’. Trong phần ‘mô tả’ về môi trường gần gũi nhất với chúng ta — chẳng hạn như thế giới-công việc của người thợ thủ công — kết quả cho thấy rằng, bên cạnh các thiết bị hiện diện khi ta đang làm việc, thì những Kẻ khác — còn ‘bắt gặp’ cả những kẻ mà ‘sản phẩm’ đó hướng tới.15 Nếu các thiết bị đó là ‘sẵn-có-để-dùng’, thì trong loại Hữu thể vốn thuộc về nó (tức là trong sự can dự/tương quan của nó) ẩn chứa một sự quy chiếu hoặc chỉ dấu thiết yếu đến những kẻ có thể sử dụng nó — chẳng hạn như người mà nó cần được ‘may đo cho vừa vặn’. Tương tự, khi sử dụng nguyên liệu, ta bắt gặp người sản xuất hoặc ‘nhà cung cấp’ của nó như một người ‘phục vụ’ tốt hoặc tồi. Ví dụ, khi ta đi dọc theo một cánh đồng nhưng lại ở ‘bên ngoài nó’, cánh đồng đó hiện ra như thuộc về một người nào đó và được họ chăm sóc chu đáo; cuốn sách ta đã dùng được mua tại cửa hàng của một người nào đó và do [tr.154] một người nào đó tặng, v.v. Chiếc thuyền neo đậu bên bờ, trong chính Hữu-thể-tự-thân của nó, được gắn kết với một người quen — người thường thực hiện các chuyến hải trình trên đó; nhưng ngay cả khi đó là một ‘chiếc thuyền xa lạ’ đối với ta thì nó vẫn là dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của những Kẻ-khác. Những Kẻ-khác ‘bắt gặp’ theo cách này — trong bối cảnh môi trường của các công cụ/vật dụng ‘sẵn-có-để-dùng’ — không phải là những thực thể được tư duy thêm vào một Sự vật vốn chỉ đang hiện-diện-vô-tri một cách thuần túy; những ‘Sự vật’ như vậy được bắt gặp từ chính thế giới nơi chúng hiện diện dưới dạng sẵn-có-để-dùng đối với những Kẻ-khác — một thế giới mà ngay từ đầu cũng luôn là thế giới của chính tôi. Trong phần phân tích trước, phạm vi của những gì được bắt gặp bên-trong-thế-giới ban đầu đã được thu hẹp lại thành các thiết bị sẵn-có-để-dùng hoặc Tự nhiên hiện-diện-vô-tri, và do đó là những thực thể có đặc tính khác biệt so với Dasein. Sự hạn chế này là cần thiết không chỉ để đơn giản hóa việc lý giải, mà quan trọng hơn là vì loại Hữu thể thuộc về Dasein của những Kẻ-khác — khi ta bắt gặp họ trong-thế-giới—lại khác biệt so với tính sẵn-có-để-dùng và hiện-diện-vô-tri. Như vậy, thế giới của Dasein giải phóng những thực thể không chỉ hoàn toàn khác biệt với thiết bị và các Sự vật, mà còn phù hợp với loại Hữu thể của chính chúng với tư cách là Dasein— ‘trong’ cái thế giới đồng thời được bắt gặp, và chúng tồn tại ‘trong’ nó bằng phương thức Hiện-hữu-trong-thế-giới.16

Những thực thể này không phải là hiện-diện-vô-tri hay sẵn-có-để-dùng; trái lại, chúng giống như chính Dasein vốn đã giải phóng chúng, ở chỗ chúng cũng có đó, và có đó cùng với Dasein kia. Do đó, nếu muốn đồng nhất thế giới nói chung với các thực thể bên-trong-thế-giới, ta buộc phải nói rằng bản thân Dasein cũng là ‘thế giới’.17 Như vậy, khi mô tả việc bắt gặp những Kẻ-khác, trong mỗi trường hợp ta vẫn luôn định hướng dựa trên Dasein của chính mình. Tuy nhiên, ngay cả trong cách mô tả này, liệu ta có đang bắt đầu bằng việc xác định và tách biệt cái ‘Tôi’ để rồi sau đó phải tìm cách bước sang phía những Kẻ-khác từ chủ thể bị cô lập ấy hay không? Để tránh sự hiểu lầm này, ta cần lưu ý đến ý nghĩa của cụm từ ‘những-Kẻ-khác’. Bằng ‘những-Kẻ-khác’, ta không có ý nói đến tất cả những kẻ khác ngoài tôi—những kẻ mà cái ‘Tôi’ đứng tách biệt đối lập với họ. Thay vào đấy, đó là những kẻ mà ta thường không tách biệt bản thân mình khỏi họ—những kẻ mà ta cũng hiện diện cùng bọn họ. Cái Hữu-thể-có-đó này không mang tính chất bản thể luận của một Hữu-hể-hiện-diện-vô-tri-cùng-với [Vorhandensein] chúng/họ bên trong một thế giới. Từ ‘cùng’ này mang đặc tính của Dasein; còn từ ‘cũng’ biểu thị tính giống hệt của Hữu thể, với tư cách là sự Hữu-thể-trong-thế-giới quan tâm và cẩn trọng. Các từ ‘cùng’ và ‘cũng’ cần được hiểu theo nghĩa existentially bản tính hiện sinh, chứ không phải theo nghĩa categorially phạm-trù-học. Chính vì nguyên do mithaft gắn kết Hữu-thể-trong-thế-giới này mà thế giới luôn là thế giới tôi chia sẻ với những Kẻ-khác. Thế giới của Dasein là một thế-giới-cùng-với [Mitwelt]. Hiện-hữu-trong chính là Hiện-hữu-cùng với Những-người-khác. Cái Hữu-thể-tự-thân của chúng/họ bên-trong-thế-giới chính là Dasein-cùng-với [Mitdasein]. Khi bắt gặp ‘Kẻ khác’, thì đó không phải là trường hợp mà cái chủ thể của chính mình hiện-diện-vô-tri ngay ở đó, và phần còn lại của các chủ thể —vốn cũng là những thực thể hiện hữu—mới được phân biệt và nhận thức; cũng không phải họ được bắt gặp thông qua hành động tiên khởi là nhìn vào bản thân để xác định cực đối lập của một sự phân biệt. Chúng được thấy từ chính thế giới—nơi mà Dasein, với sự quan tâm và cẩn trọng, thực sự cư ngụ. Các ‘giải thích’ lý thuyết dựng đặt về cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của những Kẻ khác rất dễ lấn át tư duy chúng ta; nhưng đối lập với những cách giải thích đó, ta phải kiên định với các sự kiện mang tính hiện tượng đã được chỉ ra, cụ thể là Kẻ khác được bắt gặp trong bối cảnh môi trường xung quanh.

____________________________________
(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes
1 ‘… in und aus einem je schon sein bei einer "bekannten" Welt.' The earlier editions have 'Sein' for 'sein'.

2 Here we follow the later editions in reading ‘…bedeuten woüen : a priori.’ The earlier editions omit the colon, making the passage ambiguous.

3 ‘… die wesenhafte Miterschlossenheit des Raumes.'

4 'Wir verstehen sie als das Wohin der moglichen Zugehorigkeit des zuhandenen Zeugzusammenhanges, der als ausgerichtet entfernter, d. h. platzierter sol! Begegnen konnen.'

5 'Auf deren Grunde wird das Zuhandene nach Form und Rich tung vorfindlich und bestimmbar'. The earliest editions have 'erfindlich', which has been corrected to 'vorfindlich' in a list of errata.

6 Both 'Raum-geben' (our 'giving space') and 'Einriiumen' (our 'making room') are often used in the metaphorical sense of 'yielding', 'granting', or 'making concessions'. 'Einriiumen' may also be used for 'arranging' furniture, 'moving it in', or 'stowing it away'.

7 ‘…die den Charakter einer spezifischen Entweltlichung der Weltmassigkeit des Zuhandenen hat.’

8 ‘…so zwar, class der Raum die Welt doch mitkonstituiert, entsprechend der wesenhaften Riiumlichkeit des Daseins selbst hinsichtlich seiner Grundverfassung des In-derWelt-seins.’

9 ‘The They’ 'Das Man'. In German one may write 'man glaubt' where in French one would write 'on croit', or in English 'they believe', 'one believes', or 'it is believed'. But the German 'man' and the French 'on' are specialized for such construction in a way in which the pronouns 'they', 'one', and 'it' are not. There is accordingly no single idiomatic translation for the German 'man' which will not sometimes lend itself to ambiguity, and in general we have chosen whichever construction seems the most appropriate in its context. But when Heidegger introduces this word with a definite article and writes ‘das Man’, as he does very often in this chapter, we shall translate this expression as the ‘they’, trusting that the reader will not take this too literally.

10 dem ‘Selbst’. While we shall ordinarily translate the intensivt 'selbst' by the corresponding English intensi":es 'itself', 'oneself', 'myself', etc., according to the context, we shall translate the substantwe 'Selbst' by the substantive 'Self' with a capital.

11 ‘…als Selbiges in der vielfaltigen Andersheit…’ While the words 'identisch' and 'selbig' are virtually synonyms in ordinary- German, Heidegger seems to be intimating a d1stmctwn between them. We shall accordmgly translate the former by 'identical' and the latter by 'selfsame' to show its etymological connection with 'selbst'. Cf. H. 130 below.

12 'Vielleicht ist in der Tat das, was diese Art von Gebung, das schlichte, formale, reflektive Ichvemehmen gibt, evident.'

13 'as such a clue' : here we read 'aIs solcher', following the later editions. The earliest editions have 'als solche', which has been corrected in the list oferrata. "Essence " : while we ordinarily use 'ess ence' and 'essential' to translate 'Wesen' and 'wesenhaft', we shall usc ‘Essence’ and Essential' (with initial capitals) to translate the presumably synonymous but far less frequent 'Essenz' and 'essenticll'. The two 'formal indications' to which Hcideggcr refers are to be found on H. 42 above.

14 “…die Standigkeit des Selbst ebensosehr wie seine mogliche ‘Unselbstandigkeit’…” The adjectiw: 'standig', which we have usually translated as 'constant' in the sense of 'permanent' or 'continuing', goes back to the root meaning of 'standing', as do the adjectives 'selbstandig" ('independent') and 'unselbstandig' ('dependent'). These concepts will be discussed more fully in Section 64 below, especially H. 322, where 'Unselbstandigkeit' will be rewritten not as 'Un-selbstandkeit' ('failure to stand by one's Self') but as 'Unsclbst-standigkeit' ('constancy to the Unself'). See also H. 1 28. (The connection with the concept of existence will perhaps be clearer if one recalls that the Latin verb 'existere' may also be derived from a verb of standing, as Heidegger points out in his later writings.)

15 Cf. Section 15 above, especially H. 7of.

16 ‘…sondern gema$ seiner Seinsart als Dasein selbst in der Weise des In-der-Weltseins ‘in’ der Welt ist, in der es zugleich innerweltlich begegnet.’

17 'Dieses Seiende ist weder vorhanden noch zuhanden, sondern ist so, wie das freigebende Dasein selbst-es ist auch und mit da. Wollte man denn schon Welt iiberhaupt mit dem innerweltlich Seienden identifizieren, dann miisste man sagen, "Welt" ist auch Dasein.'

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

B. Tương phản giữa Phân tích Thế gian của chúng ta và Diễn giải Thế giới của Descartes

Trong tranh luận về các nguyên tắc, người ta không chỉ phải bám vào những luận điểm có thể nắm bắt được bằng doxographic mô tả quan điểm; người ta cũng phải rút ra định hướng của mình từ xu hướng khách quan của vấn đề, ngay cả khi nó không vượt ra ngoài một cách tiếp cận khá thông thường. Trong học thuyết về res cogitans vật tư duy và res extensa vật có quảng tính, Descartes không chỉ muốn tạo dựng vấn đề về cái ‘Tôi’ và thế giới’; ông tuyên bố đã giải quyết nó một cách triệt để. Tác phẩm Trầm tư của ông đã làm rõ điều này. (Đặc biệt là Trầm tư I và VI.) Bằng cách lấy định hướng bản thể học cơ bản của mình từ các nguồn truyền thống và không đưa nó vào phê phán thực chứng, ông đã khiến việc làm sáng tỏ bất kỳ vấn đề bản thể học nguyên thủy nào về Dasein trở nên bất khả thi; điều này chắc chắn đã cản trở tầm nhìn của ông về hiện tượng thế giới, và đã khiến cho bản thể luận của ‘thế giới’ bị thu hẹp lại thành bản thể luận của một số thực thể nhất định bên trong thế giới. Phần thảo luận trước đó lẽ ra đã chứng minh điều này.

Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng ngay cả khi trên thực tế cả vấn đề về thế giới và Hữu thể của các thực thể mà chúng ta gặp trong môi trường gần gũi nhất vẫn còn bị che giấu, thì Descartes vẫn đã đặt nền tảng cho việc mô tả về mặt bản thể luận là thực thể bên-trong-thế- giới mà trên đó, trong chính Hữu thể của nó, mọi thực thể khác đều được xây dựng – đó là Bản chất vật chất. Đây sẽ là tầng cơ bản mà trên đó tất cả strata of actuality các tầng hiện thực khác bên-trong-thế-giới được xây dựng. Cái Vật thể có quảng tính như vậy sẽ đóng vai trò, trước hết, là nền tảng cho những đặc điểm xác định vốn chắc chắn thể hiện ra như những phẩm chất, nhưng ‘về bản chất’ lại là những sửa đổi định lượng của các phương thức của chính cái extensio quảng tính đó. Những phẩm chất này, bản thân chúng có thể quy giản, sẽ tạo nền tảng cho những phẩm chất cụ thể như ‘đẹp’, ‘xấu’, ‘phù hợp’, [tr.132] ‘không phù hợp’, ‘hữu ích’, ‘vô ích’. Nếu người ta chủ yếu hướng đến Thinghood/Dinglichkeit Vật tính, thì những phẩm chất vật tính đó phải được coi là những vị ngữ giá trị không thể định lượng, nhờ đó cái mà ban đầu chỉ là một Sự vật vật chất, được đóng dấu là cái gì đó tốt. Nhưng với sự phân tầng này, chúng ta đi đến những thực thể đã mô tả về mặt bản thể học như là thiết bị sẵn có. Do đó phân tích Descartes về ‘thế giới’ sẽ lần đầu cho phép xây dựng một cách chắc chắn cấu trúc của những gì sẵn có để dùng; tất cả những gì cần làm là hoàn thiện cái Sự vật của Tự nhiên cho đến khi nó trở thành một Sự vật hữu ích hoàn chỉnh, và điều này rất dễ thực hiện.

Nhưng hoàn toàn tách biệt khỏi vấn đề cụ thể của chính thế giới, liệu cái Hữu thể của những gì chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi bên-trong-thế-giới có thể được tiếp cận về mặt bản thể học bằng quy trình này hay không? Khi chúng ta nói về tính Vật thể, chẳng phải chúng ta đã ngầm giả định một loại Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri thường trực của Sự vật - thay vì vốn được hoàn thiện về mặt bản thể học sau đó bằng cách gán cho các thực thể những đặc tính giá trị, mà chính những đặc tính-giá trị này lại chỉ là những đặc điểm ontic thực hữu của những thực thể có loại Hữu thể mà Sự vật sở hữu? Việc thêm vào các đặc tính giá trị không thể cho chúng ta biết bất cứ điều gì mới mẻ về Hữu thể của vật chất, mà chỉ đơn thuần giả định rằng vật chất hiện-diện-vô-tri thuần túy với tư cách là loại Hữu thể của chúng. Khi đó, các giá trị sẽ là những đặc điểm xác định mà một Vật sở hữu, và chúng sẽ hiện-diện-vô-tri. Nguồn gốc bản thể học tối thượng duy nhất của chúng sẽ nằm ở việc chúng ta trước đó đã đặt ra tính hiện thực của Sự vật như là tầng nền tảng. Nhưng ngay cả kinh nghiệm tiền hiện tượng luận cũng cho thấy rằng trong một thực thể được cho là một Sự vật, có điều gì đó sẽ không thể hiểu đầy đủ chỉ thông qua Thinghood Vị thế Sự vật. Do đó, Hữu thể của các Sự vật cần phải được làm rõ hơn.

Vậy thì, Hữu thể của các giá trị hay ‘tính hợp lệ’ của chúng (mà Lotze coi là một phương thức ‘khẳng định’) thực sự có ý nghĩa gì về mặt bản thể học? Và việc các Sự vật được ‘đầu tư’ các giá trị theo cách này có ý nghĩa gì về mặt bản thể luận? Chừng nào những vấn đề này còn mơ hồ, thì việc tái cấu trúc Sự vật hữu dụng theo khuôn khổ Sự vật Tự nhiên là một việc làm đáng nghi vấn về mặt bản thể luận, ngay cả khi người ta bỏ qua cách mà vấn đề đã bị xuyên tạc về nguyên tắc. Và nếu chúng ta tái cấu trúc Sự vật hữu dụng này, thứ được cho là đến với chúng ta ngay từ đầu ‘trần trụi’, thì điều này chẳng phải luôn đòi hỏi chúng ta cần có cái nhìn tích cực trước đó về hiện tượng mà toàn bộ tính chất của nó được khôi phục bằng tái cấu trúc này hay sao? Nhưng nếu chúng ta chưa đưa ra lời giải thích thích đáng trước đó về trạng thái Hữu thể tối thượng của nó, thì chẳng phải chúng ta đang xây dựng công cuộc tái cấu trúc của mình mà không có kế hoạch sao? Bởi vì sự tái cấu trúc và ‘hoàn thiện’ bản thể luận truyền thống về ‘thế giới’ này dẫn đến việc chúng ta đạt được những thực thể giống như những thực thể mà chúng ta đã bắt đầu khi phân tích tình-trạng-sẵn-có-để-dùng của thiết bị và tổng thể các mối liên hệ [tr.133], thì dường như Hữu thể của các thực thể này thực sự đã được làm rõ hoặc ít nhất đã trở thành một vấn đề. Nhưng bằng cách coi extensio quảng tính là aproprietas một thuộc tính, Descartes khó có thể đạt được Hữu thể của bản chất; và bằng cách nương náu trong các đặc trưng-‘giá trị’, chúng ta cũng ở cách xa với việc thậm chí chỉ thoáng thấy được Hữu thể như là tình-trạng-sẵn-có-để-dùng, chứ đừng nói đến việc cho phép nó trở thành một chủ đề bản thể luận.

Descartes đã thu hẹp câu hỏi về thế giới xuống còn câu hỏi về Naturdinglichkeit Tình trạng Sự vật Tự nhiên với tư cách là những thực thể trong thế giới có thể tiếp cận gần gũi. Ông đã khẳng định quan điểm là việc nhận biết một thực thể trong cái được cho là cách thức ontic thực hữu nghiêm ngặt nhất là con đường duy nhất có thể để chúng ta tiếp cận với Hữu thể chính yếu của cái thực thể mà tri ​​thức đó tiết lộ. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng phải có sự thấu hiểu để thấy rằng về nguyên tắc, các cách thức ‘hoàn thiện’ Thing-ontology bản thể luận-Sự-vật cũng hoạt động trên cùng một cơ sở giáo điều như thứ mà Descartes đã áp dụng. Chúng ta đã ám chỉ trong Phần 14 rằng việc bỏ qua thế giới và những thực thể mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi không phải là ngẫu nhiên, không phải là một sự sơ suất dễ dàng sửa chữa, mà nó bắt nguồn từ một loại Hữu thể về bản chất thuộc về tự thân Dasein. Khi việc phân tích Dasein của chúng ta đã làm sáng tỏ những cấu trúc chính của Dasein có tầm quan trọng nhất trong khuôn khổ vấn đề này, và khi chúng ta đã gán cho khái niệm Hữu thể nói chung cái chân trời mà trong đó khả năng hiểu biết của nó trở nên khả thi, sao cho tình-trạng-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri cũng trở nên có thể hiểu được về mặt bản thể luận một cách nguyên thủy lần đầu tiên, thì chỉ khi đó, phê phán của chúng ta đối với bản thể luận Cartesian về thế giới (một bản thể luận mà về nguyên tắc vẫn là bản thể luận thông thường ngày nay) mới có thể đạt được giá trị triết học của riêng nó. Để làm được điều này, chúng ta phải chỉ ra một số thứ. (Xem Phần Một, Mục Ba.)1 1) Tại sao hiện tượng thế giới lại bị bỏ qua ở đầu truyền thống bản thể luận có tính quyết định đối với chúng ta (rõ ràng là trong trường hợp của Parmenides), và tại sao thực trạng bỏ qua này lại liên tục lặp lại? 2). Tại sao, thay vì hiện tượng bị bỏ qua như vậy, các thực thể bên trong thế giới lại can thiệp như một chủ đề bản thể luận?2 3) Tại sao những thực thể này lại được tìm thấy đầu tiên trong ‘Tự nhiên’? 4) Tại sao lại phải viện đến hiện tượng giá trị khi dường như cần thiết để hoàn thiện một bản thể luận về thế giới như vậy?

[Tr.134] Trong câu trả lời cho những câu hỏi này, lần đầu tiên chúng ta sẽ đạt được sự hiểu biết tích cực về vấn đề của thế giới, nguồn gốc của việc chúng ta không nhận ra được vấn đề đó sẽ được phơi bày, và cơ sở để bác bỏ bản thể luận truyền thống về thế giới sẽ được chứng minh. Thế giới, Dasein và các thực thể bên-trong-thế-giới là những trạng thái cấu thành bản thể luận gần gũi nhất với chúng ta; nhưng không có gì đảm bảo rằng chúng ta có thể đạt được cơ sở để tiếp cận những điều này như những hiện tượng bằng quy trình có vẻ hiển nhiên là bắt đầu từ các Sự vật của thế giới, càng không phải bằng cách lấy định hướng từ những gì được cho là tri ​​thức chặt chẽ nhất về các thực thể. Những quan sát của chúng ta về Descartes lẽ ra phải mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc này. Nhưng nếu chúng ta nhớ rằng tính không gian rõ ràng là một trong những thành phần cấu tạo của các thực thể trong thế giới, thì cuối cùng phân tích của Descartes về ‘thế giới’ vẫn có thể được ‘cứu vãn’. Khi Descartes cấp tiến đến mức thiết lập extensio quảng tính như là praesuppositum một giả định cho mọi đặc điểm xác định của res corporea ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’, ông đã mở đường cho sự hiểu biết về một cái gì đó tiên nghiệm mà nội dung của nó Kant sẽ thiết lập với sự thấu hiểu sâu sắc hơn. Trong một số giới hạn nhất định, phân tích về extensio quảng tính vẫn độc lập với việc ông bỏ qua việc cung cấp một cách giải thích rõ ràng cho Hữu thể của các thực thể có quảng tính. Có một số lý do hiện tượng học để coi quảng tính là một đặc điểm cơ bản của ‘thế giới’, ngay cả khi bằng cách viện dẫn điều này, cả tính không gian của thế giới lẫn tính không gian của các thực thể mà chúng ta gặp trong môi trường của mình (loại tính không gian được khám phá một cách gần gũi) hay thậm chí cả tính không gian của chính Dasein, đều không thể được hình dung về mặt bản thể học.

C. Hoàn cảnh Môi trường3 và Tính không gian của Dasein

Liên quan đến phác thảo sơ bộ đầu tiên của chúng ta về Hữu thể-trong (Xem Phần 12), chúng ta phải đối chiếu Dasein với một cách tồn tại trong không gian mà chúng ta gọi là Inwendigkeit ‘tính bên trong’. Cách biểu hiện này có nghĩa là một thực thể tự nó được mở rộng thì được bao quanh bởi ranh giới mở rộng của một thứ khác cũng được mở rộng. Das inwendig Seiende Cái thực thể bên trong và thứ bao quanh nó đều hiện-diện-vô-tri trong không gian. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta phủ nhận rằng Dasein có bất kỳ Inwendigkeit ‘tính bên trong’ nào như vậy trong một vật chứa không gian, thì điều này về nguyên tắc không loại trừ việc nó có bất kỳ tính không gian nào cả, mà chỉ đơn thuần giữ cho con đường nhìn thấy loại tính không gian cấu thành nên Dasein luôn rộng mở. Giờ đây cần trình bày rõ về vấn đề này. Nhưng bởi vì bất kỳ thực thể nào bên-trong-thế-giới cũng ở trong không gian, nên tính không gian của nó sẽ có mối liên hệ bản thể học với thế giới. Do đó, chúng ta phải xác định theo nghĩa nào không gian là một thành phần cấu tạo nên thế giới đó, mà thế giới đó lại được đặc trưng như một yếu tố trong cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới. Cụ thể [tr.135], chúng ta phải chỉ ra cái cách thức mà aroundness tình trạng hoàn cảnh của môi trường, tính không gian cụ thể của các thực thể gặp phải trong môi trường, được xây dựng trên worldhood tình trạng thế gian của thế giới, trong khi ngược lại, thế giới, về phần mình, lại không hiện-diện-vô-tri trong không gian. Nghiên cứu của chúng ta về tính không gian của Dasein và cách thức thế giới được xác định về mặt không gian sẽ bắt đầu từ việc phân tích những gì sẵn-có-để-dùng trong không gian bên-trong-thế-giới. Chúng ta sẽ xem xét ba chủ đề: 1. Tính không gian của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới (Mục 22); 2. Tính không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới (Mục 23); 3. Không gian và tính không gian của Dasein (Mục 24).

22. Tính không gian của những thứ Sẵn-có-để-dùng Trong-thế-giới

Nếu không gian cấu thành nên thế giới theo một nghĩa mà chúng ta vẫn chưa xác định được, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi trong đặc điểm bản thể học trước đây về Hữu thể của những gì bên-trong-thế-giới, chúng ta đã phải xem xét điều này như một thứ cũng nằm trong không gian. Tính không gian của những thứ sẵn-có-để-dùng này là một hiện tượng mà chúng ta vẫn chưa nắm bắt được một cách rõ ràng; chúng ta cũng chưa chỉ ra được mối liên hệ của nó với cấu trúc của Hữu thể thuộc về những thứ sẵn-có-để-dùng. Giờ đây đó là nhiệm vụ của chúng ta. Đặc điểm của những thứ sẵn-có-để-dùng mà chúng ta đã đề cập đến đã chạm đến tính không gian của nó đến mức nào? Chúng ta đã nói về những thứ sẵn-có-để-dùng ở gần. Điều này có nghĩa là không chỉ những thực thể mà chúng ta gặp đầu tiên trước bất kỳ thực thể nào khác, mà còn cả những thực thể ‘ở gần’ nữa.4 Những gì sẵn-có-để-dùng trong các giao dịch hàng ngày của chúng ta mang tính chất gần gũi. Nói chính xác hơn, tình trạng gần gũi của thiết bị đã được gợi ý trong thuật ngữ sẵn-có-để-dùng, thể hiện Hữu thể của thiết bị. Mỗi thực thể ‘để-dùng’ đều có một mức độ gần gũi khác nhau, không thể xác định bằng cách đo khoảng cách. Sự gần gũi này tự điều chỉnh theo cách thao tác và sử dụng một cách thận trọng và có ‘tính toán’. Đồng thời, những gì gần gũi theo cách này được thiết lập bởi sự thận trọng trong mối quan tâm, liên quan đến hướng mà thiết bị có thể tiếp cận được bất cứ lúc nào. Khi sự gần gũi của thiết bị được xác định có tính định hướng,5 thì điều này không chỉ có nghĩa là thiết bị có [tr.136] vị trí của nó trong không gian như hiện-diện-vô-tri ở đâu đó, mà còn có nghĩa là với tư cách là thiết bị, về cơ bản nó đã được trang bị và lắp đặt, thiết lập và đặt đúng vị trí. Thiết bị có vị trí của nó, hoặc nó ‘nằm xung quanh’; về nguyên tắc, điều này phải được phân biệt với việc chỉ xuất hiện ngẫu nhiên ở một vị trí không gian nào đó. Khi thiết bị cho một việc gì đó có vị trí của nó, thì vị trí đó tự định nghĩa mình là vị trí của thiết bị đó - như một vị trí trong toàn bộ tổng thể các vị trí được sắp xếp theo hướng với nhau và thuộc về bối cảnh của thiết bị sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường. Vị trí như vậy và đa bội tính của các vị trí như vậy không được hiểu là the where cái ‘ở đâu’ của một Hữu-thể-vô-tri ngẫu nhiên nào đó của các Sự vật. Trong mỗi trường hợp, vị trí là cái ‘ở đó’ hoặc ‘phía xa’ xác định của một thiết bị thuộc về một nơi nào đó. Việc nó thuộc về một nơi nào đó vào thời điểm đó tương ứng với đặc tính thiết bị của những gì sẵn-có-để-dùng; nghĩa là, nó tương ứng với mối quan hệ thuộc về mà những thứ sẵn-có-để-dùng có được đối với toàn bộ thiết bị theo sự liên quan của chúng. Nhưng nhìn chung, cái ‘nơi chốn’ mà toàn bộ các địa điểm cho một bối cảnh thiết bị được phân bổ, là điều kiện cho phép tình trạng thuộc về một nơi nào đó của toàn bộ thiết bị như một thứ có thể được đặt vào. ‘Nơi chốn’ này, thứ cho phép thiết bị thuộc về một nơi nào đó, và thứ mà chúng ta thận trọng giữ trong tầm nhìn phía trước trong các giao dịch quan tâm của mình, chúng ta gọi là ‘vùng’.6

‘Trong vùng của’ không chỉ có nghĩa là ‘theo hướng của’ mà còn nằm trong phạm vi của một thứ gì đó theo hướng đó. Loại địa điểm được cấu thành bởi hướng và khoảng cách7 (và sự gần gũi chỉ là một phương thức của khoảng cách) đã được định hướng về một vùng và được định hướng bên trong nó. Trước tiên, phải khám phá ra một cái gì đó giống như một vùng nếu muốn có bất kỳ khả năng nào để phân bổ hoặc tìm thấy các địa điểm cho toàn bộ thiết bị mà người ta đang có quyền sử dụng một cách thận trọng. Định hướng khu vực của vô số địa điểm thuộc về những thứ sẵn-có-để-dùng tạo nên hoàn cảnh – ‘xung quanh chúng ta’ - của những thực thể mà chúng ta gặp gỡ gần gũi nhất về mặt môi trường. Một đa tính ba-chiều của các vị trí có thể được lấp đầy bằng các Sự vật hiện-hữu-vô-tri thì không bao giờ được đem đến một cách gần gũi. Chiều không gian này vẫn bị che khuất trong không gian của những thứ sẵn-có-để-dùng. Cái ‘ở trên’ là cái ‘trên trần nhà’; cái ‘ở dưới’ là cái ‘trên sàn nhà’; [tr.137] cái ‘ở phía sau’ là cái ‘ở cửa’; tất cả các ‘vị trí’ đều được khám phá và diễn giải một cách thận trọng khi chúng ta thực hiện các giao dịch hàng ngày; chúng không được xác định và phân loại bằng phép đo quan sát không gian. Các vùng không được hình thành đầu tiên bởi các sự vật hiện-diện-vô-tri cùng nhau; chúng luôn luôn sẵn-có-để-dùng ở những vị trí riêng lẻ. Bản thân các vị trí hoặc được phân bổ cho những thứ sẵn-có-để-dùng trong sự quan tâm thận trọng, hoặc chúng ta tình cờ bắt gặp chúng. Do đó, bất cứ thứ gì luôn luôn sẵn-có-để-dùng mà cái Hữu-thể-trong-thế-giới thận trọng tính đến từ trước, đều có vị trí của nó. Cái ‘ở đâu’ của tình trạng sẵn-có-để-dùng đó được xem xét như một vấn đề cần quan tâm, và được định hướng theo phần còn lại của những thứ sẵn-có-để-dùng. Ví dụ, mặt trời, với ánh sáng và hơi ấm được sử dụng hàng ngày, có những vị trí riêng của nó - bình minh, giữa trưa, hoàng hôn, nửa đêm; những vị trí này được phát hiện trong sự quan tâm thận trọng và được xử lý một cách riêng biệt dựa trên những thay đổi về khả năng sử dụng những gì mặt trời ban tặng. Ở đây, chúng ta có một thứ gì đó luôn sẵn-có-để-dùng với tính bất biến đồng nhất, mặc dù nó liên tục thay đổi; các vị trí của nó trở thành những ‘chỉ báo’ nổi bật về các vùng nằm trong đó. Những vùng thiên hà này, dù chưa nhất thiết phải có ý nghĩa địa lý nào, nhưng lại cung cấp trước ‘điểm đến’ cho mọi8 cách thức đặc biệt  để tạo hình cho các vùng mà các địa điểm có thể chiếm giữ. Ngôi nhà có mặt nắng và mặt râm; cách nó được chia thành các ‘phòng’ hướng về những vùng này, và cả sự ‘sắp xếp’ bên trong chúng cũng vậy, theo đặc điểm của chúng như là các trang thiết bị. Ví dụ, nhà thờ và nghĩa trang được bố trí theo hướng mặt trời mọc và lặn - những vùng của sự sống và cái chết, mang tính quyết định đối với chính Dasein về các khả tính Hữu thể tối đa của nó trong thế giới. Dasein, trong chính Hữu thể của nó, có cái Hữu thể này như một kết quả; và mối quan tâm của nó khám phá trước những vùng mà sự tham gia nào đó mang tính quyết định. Việc khám phá trước các vùng này được đồng quyết định bởi toàn bộ các tham gia mà cái sẵn-có-để-dùng, như một thứ được gặp phải, được giải phóng. Tình trạng sẵn-có-để-dùng vốn có của bất kỳ vùng nào như vậy từ trước đều mang tính chất quen thuộc kín đáo, và nó mang tính chất đó theo một nghĩa nguyên thủy hơn cả Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng.9

Bản thân vùng đó chỉ trở nên rõ ràng khi người ta khám phá [tr.138] sự sẵn-có-để-dùng một cách thận trọng và làm như vậy bằng các phương thức quan tâm thiếu sót.10 Thông thường, vùng của một địa điểm không trở nên dễ tiếp cận một cách rõ ràng một cách đúng nghĩa cho đến khi người ta không tìm thấy thứ gì đó ở vị trí của nó. Không gian được khám phá trong Bản thể-trong-thế-giới-thận trọng như tính không gian của tổng thể tính trang thiết bị, luôn thuộc về chính các thực thể như là vị trí của tổng thể tính đó. Bản thân không gian trần trụi vẫn bị che khuất. Không gian đã bị chia thành các nơi trốn. Nhưng tính không gian này có nhất tính riêng của nó thông qua tổng-thể-tính-tham-gia-phù-hợp-với- thế-giới thuộc về cái sẵn-có-để-dùng về mặt không gian. “Môi trường” không tự sắp xếp trong một không gian đã được định sẵn; nhưng cái thế gian cụ thể của nó, trong ý nghĩa của nó, khớp nối bối cảnh của những sự tham gia thuộc về một tổng thể hiện tại của những nơi trốn được phân bổ một cách thận trọng. Thế giới vào thời điểm như vậy luôn bộc lộ tính không gian của không gian thuộc về nó. Việc gặp gỡ cái sẵn-có-để-dùng trong môi trường của nó vẫn khả thi về mặt ontic thực hữu chỉ bởi vì chính Dasein ‘có tính không gian’ liên quan đến Hữu-thể-trong-thế-giới của nó.

23. Tính Không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới

Nếu chúng ta gán tính không gian cho Dasein, thì cái ‘Hữu thể trong không gian’ này rõ ràng phải được hình dung theo loại Hữu thể mà thực thể đó sở hữu. Dasein về bản chất không phải là một Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri; và ‘tính không gian’ của nó không thể biểu thị bất cứ điều gì giống như sự xuất hiện tại một vị trí trong ‘không-gian-thế-giới’, cũng không thể biểu thị cái Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng tại một nơi nào đó. Cả hai đều là những loại Hữu thể thuộc về các thực thể gặp được trong thế giới. Tuy nhiên, Dasein ở ‘trong’ thế giới theo nghĩa nó tương tác với các thực thể gặp được bên-trong-thế-giới, và làm vậy theo cách quan tâm, quen thuộc. Vì vậy, nếu tính không gian thuộc về nó theo bất kỳ cách nào, thì nó chỉ có thể xảy ra nhờ vào cái Hữu-thể-trong ấy. Nhưng tính không gian lại thể hiện các đặc điểm của sự tách rời và tính định hướng.11     

[Tr.139] Khi chúng ta nói về xóa bỏ khoảng cách như một loại Hữu thể mà Dasein có liên quan đến cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó, bằng vào điều đó chúng ta không hiểu bất kỳ điều gì như trạng thái xa cách (hoặc gần gũi) hay thậm chí là một khoảng cách.12 Chúng ta sử dụng thuật ngữ ‘xóa bỏ khoảng cách’* với ý nghĩa vừa chủ động vừa chuyển tiếp. Nó đại diện cho một trạng thái cấu thành Hữu thể của Dasein - một trạng thái mà việc loại bỏ một cái gì đó theo nghĩa cất nó đi chỉ là một phương thức thực tế xác định. ‘Xóa bỏ khoảng cách’* tương đương với việc làm cho sự xa xôi biến mất - tức là làm cho khoảng cách với một thứ gì đó biến mất, đưa nó đến gần.13 Dasein về bản chất là xóa bỏ khoảng cách: nó cho phép bất kỳ thực thể nào được bắt gặp ở gần như chính thực thể đó. Tình trạng xóa bỏ khoảng cách khám phá ra trạng thái xa cách; và khoảng cách, giống như khoảng cách, là một đặc điểm phân loại xác định của các thực thể mà bản chất của chúng không phải là của Dasein. Tuy nhiên, xóa bỏ khoảng cách* là một hiện thực; điều này phải được ghi nhớ. Chỉ khi các thực thể được tiết lộ cho Dasein trong tính xóa bỏ khoảng cách của chúng [Entferntheit], thì ‘tình trạng xa cách’ [Entfernungen] và các khoảng cách liên quan đến những thứ khác mới trở nên có thể tiếp cận được trong chính các thực thể bên-trong-thế-giới. Hai điểm cũng ít tách rời nhau với tư cách hai Sự vật, vì không loại thực thể nào trong đó có loại Hữu thể khiến nó có thể tách rời. Chỉ có một khoảng cách có thể đo được giữa chúng, có thể bắt gặp trong quá trình tách rời của mình.

Về cơ bản và phần lớn, xóa bỏ tách rời14 là một sự thận trọng [tr.140] mang lại sự gần gũi - mang một cái gì đó gần lại, theo nghĩa có được nó, đặt nó vào trạng thái có sẵn, có nó để dùng. Nhưng một số cách thức mà các thực thể được khám phá theo lối thuần túy nhận thức cũng có đặc điểm là đưa chúng gần lại. Ở Dasein có một xu hướng thiết yếu hướng tới trạng thái gần gũi. Tất cả các cách mà chúng ta đẩy nhanh mọi thứ, như ngày nay chúng ta ít nhiều bị buộc phải làm, đều thúc đẩy chúng ta hướng tới việc chinh phục trạng thái xa cách. Ví dụ, với ‘đài phát thanh’, Dasein đã mở rộng môi trường hàng ngày của nó đến mức nó đã thực hiện được việc xóa bỏ tình trạng tách rời của ‘thế giới’ - một sự xóa bỏ tình trạng tách rời mà, theo nghĩa của nó đối với Dasein, vẫn chưa thể hình dung được. Xóa bỏ tình trạng tách rời không nhất thiết ngụ ý bất kỳ sự đánh giá rõ ràng nào về danh tiếng của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trong mối quan hệ với Dasein. Trên hết, trạng thái xa cách* không bao giờ được coi là khoảng cách. Nếu tình trạng vô danh tính cần được ước lượng, thì điều này được thực hiện tương đối so với tình trạng xóa bỏ khoảng cách mà sự tồn tại hàng ngày của Dasein tự duy trì. Mặc dù kiểu ước lượng này có thể không chính xác và thay đổi nếu ta cố gắng tính toán, nhưng trong đời sống thường nhật của Dasein, chúng lại có tính xác định riêng, hoàn toàn dễ hiểu. Ta nói rằng đi đến đằng kia là ‘một quãng đường đi bộ dễ dàng’, ‘một cung đá ném’, hoặc ‘một điếu thuốc tàn’.

Những thước đo này không chỉ thể hiện rằng chúng không nhằm mục đích ‘đo lường’ bất cứ điều gì, mà còn cho thấy khoảng cách* được ước lượng ở đây thuộc về một thực thể nào đó mà ta tiếp cận với sự thận trọng. Nhưng ngay cả khi ta sử dụng một thước đo cố định và nói ‘mất nửa tiếng sẽ đến nhà’, thì thước đo này cũng phải được coi là một ước lượng. ‘Nửa tiếng’ không phải là ba mươi phút, mà là một khoảng thời gian không có ‘độ dài’ nào theo nghĩa của một khoảng cách định lượng. Khoảng thời gian như vậy luôn được hiểu theo những cách thức quen thuộc hàng ngày mà ta Besorgungen ‘chuẩn bị’. Tình trạng xa cách* được ước tính gần bằng sự thận trọng, ngay cả khi người ta khá quen thuộc với các phép đo được tính toán ‘chính thức’. Vì những gì bị tách rời trong các ước tính như vậy là sẵn-có-để-dùng, nên nó vẫn giữ đặc tính của nó như là nằm trong-thế-giới cụ thể. Điều này thậm chí ngụ ý rằng con đường chúng ta đi tới các thực thể bị tách rời trong quá trình giao dịch của mình sẽ thay đổi về độ dài từ ngày này sang ngày khác. Những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường chắc chắn không phải là hiện-diện-vô-tri đối với một người quan sát vĩnh hằng không bị ảnh hưởng bởi Dasein: nhưng nó được bắt gặp trong sự quan tâm thận trọng hàng ngày của Dasein. Khi Dasein di chuyển trên con đường của mình, nó không đo lường một khoảng không gian như một Vật thể hữu hình hiện-diện-vô-tri; nó không ‘nuốt chửng các ki-lô-mét’; việc đưa lại gần hoặc xóa bỏ tình trạng tách rời luôn là một loại Hữu thể quan tâm đối với những gì được đưa lại gần và xóa bỏ tách rời. Một con đường dài ‘về mặt khách quan’ có thể ngắn hơn nhiều so với một con đường ‘về mặt Khách quan’ còn ngắn hơn nữa nhưng có lẽ ‘tình trạng khó khăn’ và hiện ra trước mắt chúng ta [tr.141] như một con đường dài vô tận. Tuy nhiên, chỉ trong "sự hiện diện trước mắt chúng ta15 này, thế giới hiện tại mới thực sự sẵn-có-để-dùng. Khoảng cách Khách quan của những Vật thể hiện-diện-vô-tri không trùng khớp với tình trạng xa cách và gần gũi của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới. Mặc dù chúng ta có thể biết chính xác những khoảng cách này, nhưng tri ​​thức này vẫn mù quáng; nó không có chức năng khám phá môi trường một cách thận trọng và đưa nó lại gần; tri ​​thức này chỉ được sử dụng trong và cho một Hữu thể quan tâm vốn không đo lường khoảng cách - một Hữu thể hướng tới thế giới ‘quan trọng’ đối với Dasein.

Khi một kẻ hướng trước tới ‘Tự nhiên’ và khoảng cách được đo lường ‘Khách quan’ của Sự vật, kẻ đó có xu hướng coi những ước tính và diễn giải về tình trạng xóa bỏ tách rời như vậy là có tính ‘chủ quan’. Tuy nhiên, cái ‘chủ thể tính’ này có lẽ khám phá ra cái ‘Thực tại’ của thế giới ở trạng thái Hiện thực nhất của nó; nó không liên quan gì đến tính tùy tiện ‘chủ quan’ hay ‘cách tiếp nhận’ mang tính chủ thể luận một thực thể mà ‘trong tự-thân’ là trái ngược. Việc xóa bỏ tình trạng tách rời có tính thận trọng thường nhật của Dasein cho thấy Hữu-thể-trong-tự-thân của ‘chân-thế giới’ - của cái thực thể mà Dasein, với tư cách là một cái gì đó đang tồn tại, đã hiện hữu bên cạnh.16 Khi một kẻ chủ yếu và thậm chí chỉ hướng tới những khoảng cách xa xôi như được đo lường, thì tính không gian nguyên thủy của Hữu-thể-trong bị che giấu. Cái được cho là ‘gần nhất’ không có nghĩa là cái ở khoảng cách nhỏ nhất ‘so với chúng ta’. Nó nằm ở cái được xóa bỏ tách rời ở mức độ trung bình khi chúng ta với tới, nắm lấy hoặc nhìn vào nó. Bởi vì Dasein về bản chất là mang tính không gian theo cách xóa bỏ tách rời, nên các giao dịch của nó luôn nằm trong một ‘môi trường’ được xóa bỏ tách rời khỏi nó với một khoảng trống nhất định; do đó, việc nhìn và nghe của chúng ta luôn đi gần hơn so với những gì ngoài xa ‘gần nhất’. Nhìn và nghe là những tri giác khoảng cách không phải vì chúng có tầm với xa, nhưng vì chính trong chúng mà Dasein với tư cách là kẻ xóa bỏ tách rời chủ yếu cư ngụ. Ví dụ, khi một người đàn ông đeo một cặp kính ở rất gần anh ta về mặt khoảng cách chỉ ở mức chúng ‘nằm trên mũi’, thì về mặt môi trường, chúng lại xa anh ta hơn cả bức tranh trên bức tường đối diện. Những thiết bị như vậy có khoảng cách nhỏ đến nỗi thường rất khó để nhận thấy chúng ở gần. Thiết bị để nhìn - và tương tự như vậy đối với việc nghe, chẳng hạn như ống nghe điện thoại - có cái mà chúng ta gọi là sự kín đáo của những thứ sẵn-có-để-dùng ở gần. Tương tự như vậy, chính là con phố, như một thiết bị để bộ hành. Kẻ kia cảm nhận được sự tiếp xúc của nó ở mỗi bước chân khi bộ hành; nó dường như là thứ gần gũi và chân thực nhất trong tất cả những thứ sẵn-có-để-dùng, và nó tự trượt đi, như thể [tr.142], dọc theo một số phần cơ thể của kẻ kia – đôi lòng bàn chân của gã. Tuy nhiên, nó lại xa hơn người quen mà kẻ ấy bắt gặp ‘trên phố’ ở một ‘khoảng xa’ hai mươi bộ khi hắn đang rảo bước như vậy.

Sự quan tâm thận trọng quyết định khoảng cách gần và xa của những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường xung quanh. Bất cứ điều gì mà sự quan tâm này tồn tại trước đó bên cạnh đều là thứ gần nhất, và đây là thứ điều chỉnh những cung cách xóa bỏ tách rời của chúng ta. Nếu Dasein, bằng mối quan tâm của mình, đưa một thứ gì đó đến gần, thì điều này không có nghĩa là nó cố định một thứ gì đó ở một vị trí không gian với khoảng cách tối thiểu từ một điểm nào đó của cơ thể. Khi một thứ gì đó ở gần, điều đó có nghĩa là nó nằm trong phạm vi của những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường xung quanh để quan tâm thận trọng. Việc đưa-đến-gần không hướng tới cái Tôi-Vật thể bị ràng buộc bởi một cơ thể, mà hướng tới Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính quan tâm – tức là hướng tới bất cứ điều gì được gặp gỡ một cách gần gũi trong Hữu thể như vậy. Hơn nữa, điều đó có nghĩa là tính không gian của Dasein không được định nghĩa bằng cách viện dẫn vị trí mà một Vật thể hữu hình nào đó hiện-diện-vô-tri. Tất nhiên, chúng ta nói rằng ngay cả Dasein cũng luôn chiếm một vị trí. Nhưng về nguyên tắc, cách ‘chiếm hữu’ này phải được phân biệt với Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng tại một địa điểm trong một vùng cụ thể nào đó. Việc chiếm hữu một địa điểm phải được hiểu là xóa bỏ tách rời khỏi tình trạng-sẵn-có-để-dùng về mặt môi trường thành một vùng đã được khám phá trước một cách cẩn trọng. Dasein hiểu cái ‘ở đây’ của nó theo khuôn khổ ‘ngoài kia’ về mặt môi trường. Cái ‘Ở đây’ không có nghĩa là cái ‘ở đâu’ của một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri, mà là ‘tại nơi’ mà một Hữu-thể-cùng xóa bỏ tách rời, cùng với sự xóa bỏ tách rời này. Dasein, phù hợp với tính không gian, không bao giờ ở gần đây mà ở đàng kia; từ ‘đàng kia’ ấy nó quay trở lại ‘ở đây’; và nó chỉ quay trở lại ‘ở đây’ theo cách mà nó diễn giải Hữu thể quan tâm của mình theo những gì sẵn-có-để-dùng ở xa kia. Điều này trở nên khá rõ ràng nếu chúng ta xem xét một đặc tính hiện tượng nhất định của cấu trúc xóa bỏ tách rời của Hữu-thể-trong.     

Với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein duy trì bản thân về cơ bản trong trạng thái xóa bỏ tách rời. Tình trạng xóa bỏ tách rời này – khoảng xa của cái sẵn-có-để-dùng so với chính Dasein - là điều mà Dasein không bao giờ có thể vượt qua. Tất nhiên, tình trạng xa cách của một thứ sẵn-có-để-dùng so với Dasein có thể biểu hiện như một khoảng cách với nó,17 nếu tình trạng xa cách này được xác định bởi mối quan hệ với một Sự vật nào đó được coi là hiện-diện-vô-tri tại nơi mà Dasein đã từng chiếm giữ. Sau đó, Dasein có thể đi qua ‘khoảng giữa’ của khoảng cách này, nhưng chỉ theo cách mà chính khoảng cách đó trở thành một thứ đã được xóa bỏ tách rời*. Dasein đã vượt qua sự xóa bỏ tách rời của nó rất ít đến nỗi hắn đã mang theo nó và liên tục làm như vậy; vì [tr.143] Dasein về bản chất là sự xóa bỏ tách rời - nghĩa là, nó mang tính không gian. Nó không thể lang thang trong phạm vi hiện tại của sự xóa bỏ tách rời của nó; nó không bao giờ có thể làm gì hơn ngoài việc thay đổi chúng. Dasein có tính không gian ở chỗ nó khám phá không gian một cách thận trọng, do đó nó liên tục tự hành xử theo cách xóa bỏ tách rời* đối với các thực thể gặp được trong không gian đó.

Là một Hữu-thể-trong mang tính xoa bỏ tách rời, Dasein cũng có đặc tính định hướng. Mỗi sự xích lại gần đều đã định trước việc hướng tới một vùng mà từ đó cái bị xoa bỏ tách rời tự xích lại gần, để người ta có thể bắt gặp nó liên quan đến vị trí của nó. Mối quan tâm cẩn trọng là hành động xóa bỏ tách rời mang lại tính định hướng. Trong mối quan tâm này - tức là, trong Hữu-thể-trong-thế-giới của tự thân Dasein - một nguồn cung cấp ‘dấu hiệu’ đã được trình hiện. Các dấu hiệu, như một thiết bị, đảm nhận việc đưa ra các định hướng một cách rõ ràng và dễ thao tác. Chúng giữ cho những vùng đã được sử dụng một cách thận trọng - những hướng ‘đến đâu’ cụ thể mà một cái gì đó thuộc về hoặc đi đến, hoặc được mang đến hoặc lấy đi - được mở ra một cách rõ ràng. Nếu Dasein tồn tại, với tư cách là hướng dẫn và xóa bỏ tách rời, nó đã có vùng được khám phá của riêng nó. Cả tính định hướng và sự xóa bỏ tách rời, với tư cách là các phương thức của Hữu-thể-trong- thế-giới, đều được hướng dẫn trước bởi sự thận trọng của mối quan tâm. Từ tính định hướng này phát sinh các hướng cố định phải và trái. Dasein liên tục mang theo những hướng này, giống như nó thực hiện xỏa bỏ tách rời của nó. Tình trạng không gian hóa của Dasein trong ‘bản chất thể xác’ của nó cũng được đánh dấu theo những hướng này. (Bản chất thể xác này ẩn chứa cả một vấn đề phức tạp riêng, mặc dù chúng ta sẽ không đề cập đến ở đây.) Do đó, những thứ sẵn-có-để-dùng và được sử dụng cho cơ thể - ví dụ như găng tay, được di chuyển cùng với bàn tay - phải được xác định hướng về bên phải và bên trái. Tuy nhiên, các công cụ của người thợ thủ công, được cầm trong tay và di chuyển cùng với nó, không chia sẻ các chuyển động ‘thủ công’ đặc thù của bàn tay. Vì vậy, mặc dù búa được sử dụng bằng tay giống như găng tay, nhưng không có búa dành cho người thuận tay phải hay thuận tay trái.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 Phần này chưa từng được xuất bản.

2 'Warum springt für das übersprungene Phänomen das innerweltlich Seiende als ontologisches Thema ein ?' Trò chơi chữ giữa 'überspringen' ('vượt qua') và 'einspringen' ('can thiệp' hoặc 'đóng vai trò đại diện') bị mất đi trong bản dịch. Về 'einspringen', xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 158, H. 122 bên dưới.

3 'Das Umhajte der Umwelt'. Xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 93, H. 65 ở trên.

4 'in der Nahe.' Mặc dù danh từ 'Nahe' thường có nghĩa là 'sự gần gũi' hoặc 'sự ở gần' của một thứ gì đó gần chúng ta, nó cũng có thể đại diện cho 'vùng lân cận' trực tiếp của chúng ta, như trong cách diễn đạt hiện tại, và trong nhiều đoạn văn, nó có thể được hiểu theo cả hai cách. Nói chung, chúng ta sẽ dịch nó là 'sự gần gũi', nhưng chúng ta sẽ dịch 'in der Nahe' và các cụm từ tương tự là 'gần đó'.

5 'Die ausgerichtete Nahe des Zeugs…' Động từ 'ausrichten' có nhiều nghĩa chuyên biệt - 'sắp xếp' - một hàng quân, 'thăm dò' một mỏ, 'sắp xếp' cho một việc gì đó, 'thực hiện' một nhiệm vụ, v.v. Tuy nhiên, Heidegger luôn ghi nhớ nghĩa gốc của nó và liên kết nó với từ 'Richtung' ('hướng', 'tuyến đường cần đi', v.v.). Do đó, chúng ta sẽ dịch nó theo quy tắc bằng một dạng nào đó của động từ 'direct' (cũng sẽ được sử dụng đôi khi cho động từ 'richten'), hoặc bằng một số cụm từ ghép liên quan đến từ 'directional'. Để thảo luận thêm, xem H. 1 08 ff. bên dưới.

6 'Gegend'. Không có từ tiếng Anh nào hoàn toàn tương ứng với 'Gegend'. 'Khu vực' và 'nơi ở' có lẽ là gần nhất và chúng tôi đã chọn cái trước là thuận tiện hơn. (Bản thân Heidegger thường xuyên sử dụng từ ‘Khu vực’, nhưng ông làm như vậy trong những bối cảnh mà từ ‘cõi’ có vẻ là cách dịch thích hợp nhất; chúng tôi thường dịch nó như vậy, để lại từ ‘khu vực’ trong tiếng Anh cho ‘Gegend’.)

7 'Entferntheit'. Để thảo luận thêm, xem Phần 23 và ghi chú 2, trang 2 của chúng tôi. 138, H. 105.

8 Đọc 'jede' với các phiên bản sau. Những ấn bản đầu tiên có chữ 'je', đã được sửa trong danh sách lỗi.

9 'Die vorgangige Zuhandenheit der jeweiligen Gegend hat in einem noch ursprüngIicheren Sinne als das Sein des Zuhandenen den Charakter der unauffülligen Vertrautheit.' Ở đây cụm từ 'als das Sein des Zuhandenen' được đặt một cách mơ hồ. Theo Mục 16 ở trên, chúng tôi đã giải thích 'als' là 'than' thay vì 'as' và đã coi 'das Sein' là một cách bổ nhiệm hơn là một cách buộc tội. Nhưng những cách đọc khác thì đúng ngữ pháp nhất có thể.

10 'Sie wird selbst nur sichtbar in der Weise des Auffallens bei einem umsichtigen Entdecken des Zuhandenen und zwar in den defizienten Modi des Besorgens.' Câu này cũng mơ hồ quá. Đại từ 'Sie' có thể ám chỉ khu vực, như chúng tôi đã gợi ý, hoặc ám chỉ sự sẵn sàng của nó. Hơn nữa, trong khi chúng ta lấy 'nur sichtbar in der Weise des Auffallens' làm đơn vị, có thể 'in der Weise des Auffallens' nên được hiểu là đi kèm với các từ theo sau. Trong trường hợp này, chúng ta nên đọc: ‘…chỉ trở nên rõ ràng khi nó trở nên nổi bật trong sự khám phá thận trọng của chúng ta về những thứ sẵn có, và thực sự là trong những phương thức quan tâm thiếu sót.’

11 'Errt-fernung urrdAusrichturrg.' Các danh từ 'Entfernung' và 'Entfernheit' thường có thể được dịch là 'loại bỏ', 'sự loại bỏ', 'sự xa cách', hoặc thậm chí là 'khoảng cách'. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, Heidegger đang lưu ý đến thực tế rằng những từ này được bắt nguồn từ

gốc 'fern-' ('xa' hoặc 'xa xôi') và tiền tố phủ định 'ent-'. Thông thường, tiền tố này sẽ được hiểu là chỉ đơn thuần làm tăng cường khái niệm về sự tách biệt hoặc khoảng cách được thể hiện trong 'fern-'; nhưng Heidegger chọn cách hiểu nó theo nghĩa phủ định nghiêm ngặt hơn, do đó động từ 'entfernen' sẽ được hiểu là xóa bỏ khoảng cách hoặc sự xa xôi chứ không phải là tăng cường nó. Dường như chỉ bằng hành động nhận ra sự ‘xa xôi’ của một điều gì đó, chúng ta đã vô tình đưa nó đến gần hơn và làm cho nó bớt ‘xa xôi’ hơn. Có vẻ như không có từ nào trong tiếng Anh có cấu trúc từ nguyên hoàn toàn song song với từ ‘entfernen’; có lẽ ‘dissever’ là gần nhất, vì đây cũng là một động từ chỉ sự tách rời, trong đó tiền tố phủ định được sử dụng như một từ nhấn mạnh. Chúng tôi đã tạo ra động từ tương tự ‘desever’ với hy vọng rằng điều này sẽ gợi ý ý nghĩa của Heidegger khi ‘remove’ và các từ phái sinh của nó dường như không phù hợp. Nhưng với ‘desever’, người ta không thể dễ dàng chuyển đổi qua lại giữa các nghĩa khác nhau như với ‘entfernen’; vì vậy chúng tôi đã phải dùng đến cách sử dụng cả ‘desever’ và ‘remove’ cùng các từ phái sinh của chúng, tùy thuộc vào nghĩa mà chúng tôi cảm thấy được muốn truyền đạt. Do đó, ‘entfernen’ thường được dịch là ‘remove’ hoặc ‘desever’, ‘entfernt’ là ‘remote’ hoặc ‘desevered’. Vì Heidegger cẩn thận phân biệt giữa 'Entfernung' và 'Entferntheit', nên chúng ta thường dịch chúng lần lượt là 'sự tách rời' và 'sự xa cách'; trong một vài trường hợp hiếm hoi mà những bản dịch này không phù hợp, chúng ta sẽ thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn. Vấn đề của chúng ta càng trở nên phức tạp hơn bởi thói quen của Heidegger là thỉnh thoảng đặt dấu gạch ngang sau tiền tố 'ent-', có lẽ để nhấn mạnh tính chất phủ định của nó. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta sẽ viết 'de-sever', 'de-severance', v.v. Tuy nhiên, thật không may, có những sự khác biệt về mặt in ấn giữa các ấn bản đầu và sau này. Một số dấu gạch ngang trong các ấn bản đầu tiên xuất hiện ở cuối dòng và đã bị bỏ sót một cách cố ý hoặc vô tình khi sắp chữ; một số xuất hiện ở cuối dòng trong các ấn bản sau này, nhưng không có trong các ấn bản đầu tiên; những dấu gạch ngang khác lại có vị trí này trong cả hai ấn bản. Chúng ta sẽ đánh dấu mỗi trường hợp mơ hồ này bằng dấu hoa thị, chỉ thêm dấu gạch ngang nếu có lý do chính đáng để làm như vậy. Về 'Ausrichtung', xem chú thích 2 của chúng tôi, trang 135, H. 102 ở trên.

12 'Abstand'. Heidegger sử dụng ba từ có thể được dịch là 'khoảng cách': 'Ferne' (sự 'xa xôi' của chúng ta), 'Entfernung' (sự 'tách rời' của chúng ta), và 'Abstand' ('khoảng cách' theo nghĩa là một khoảng đo được). Chúng ta sẽ dành từ 'khoảng cách' cho 'Abstand'.

13 'Entfernen* besagt ein Verschwindenmachen der Ferne, d. h. der Entferntheit von etwas, Naherung.'

14 Dấu gạch ngang này chỉ được tìm thấy trong các ấn bản sau này.

15 'vorkommt' ;  ‘Vorkommen’. Nói chung, 'vorkommen' có thể được dịch là 'xảy ra', và được hiểu là chỉ áp dụng nghiêm ngặt cho hiện tại. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, nó được áp dụng cho những thứ sẵn có; và cần một bản dịch lưu ý đến cấu trúc từ nguyên của nó.

16 ‘Das wnsichtige Ent-fernen tkr Alltüglichkeit rks Daseins enttkckt das An-sich-sein tkr ‘wahrm Welt’, des Seientkn, bei dem Dasein als exief'mtksje schon ist.'

17 ‘…kann zwar selbst von dieem als Abstand vorfindlich cai ngục…’