Powered By Blogger

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XXII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§ 12. Siêu việt và Thời tính (Hư vô Nguồn cội)

[Tr.196] Là một hiện hữu tự do, Dasein tự phóng chiếu chính mình lên cái vì-lợi-ích-của-chính-nó, với tư cách tổng thể các khả tính thiết yếu trong năng-lực-tồn-tại của nó. Treo lại trước tự thân cái vì-lợi-ích-của-chính-nó và tồn tại trong thế đình chỉ ấy, cái hiện hữu này tự áp dụng, theo phương thức của nó, cho chính nó. Việc tự áp dụng cho tự thân này, như chúng ta đã lưu ý ở trên, không thể có nghĩa là tính ích kỷ duy ngã luận. Hơn nữa, chỉ vì Dasein như vốn có, với tư cách là một hiện hữu tự do, tự áp dụng cho chính nó, nên Dasein về bản chất là như vậy, trong mỗi trường hợp, nó thực sự đứng trước sự lựa chọn về cách thức, trong một trường hợp cụ thể, theo nghĩa hiện sinh-thực hữu, nó nên áp dụng cho kẻ khác và cho chính nó. Hoặc - cái cũng chỉ khả thể đối với tự do như là sự thiếu vắng của nó - Dasein hành xử một cách thiếu quyết đoán và để mọi việc diễn ra theo từng trường hợp tùy thuộc vào hoàn cảnh. Việc chúng ta hiếm khi tự do về mặt hiện sinh, trên thực tế lại không mâu thuẫn với bản chất siêu hình của Dasein, mà còn hỗ trợ nó. Thật sai lầm khi cho rằng người ta hiểu được tự do một cách thuần khiết nhất trong bản chất của nó nếu ta tách biệt nó như một võ đoán tính bất định. Hơn nữa, nhiệm vụ chính xác lại trái ngược, đó là hình dung tự do trong tính hữu hạn của nó và nhận thấy rằng, bằng cách chứng minh tính hữu hạn, người ta không làm tổn hại đến tự do cũng không tước đoạt bản chất của nó.    

Cái được minh định là tự do, hiện-hữu-trong-thế-giới, siêu việt tính, giờ đây cũng phải được hiểu theo cách mà chúng ta đã chỉ ra. Tất cả điều này không phải là một bộ máy ẩn giấu bên trong một chủ thể bị cô lập và nội tại tính của nó, mà chính tự do tự siêu việt, và cuộc siêu vượt của các hiện hữu diễn ra và luôn luôn đã diễn ra trong tự do; còn chúng ta thì luôn luôn bắt gặp những hiện hữu này với tư cách là hiện-hữu-tự-thân theo cách mà sau đó chúng ta trở lại với tự do, từ nguồn gốc và bên trong nó. Mọi hành vi thực hữu đối với các hiện hữu, dù có thuộc loại Dasein hay không, đều siêu việt, không chỉ ở chỗ nó mở ra, chừng nào nó còn đặt mình vào mối quan hệ mang tính ý hướng với các khách thể, mà mối quan hệ có tính ý hướng lại chỉ là phương thức thực tế đã cho để chiếm hữu những gì đã được vượt qua và do đó được tiết lộ nhờ siêu việt. Không bị rắc rối bởi những cách nhìn và đặt câu hỏi thâm căn cố đế, chúng ta phải học cách nhận thấy cái cách thức mà Dasein, trên cơ sở cấu thành siêu hình của nó, trên cơ sở hiện-hữu-trong-thế-giới, luôn luôn trong khả tính đã vượt ra ngoài mọi hiện hữu của chính nó. Và với hiện-hữu-vượt-ra này, không có hư vô tính tuyệt đối. Ngược lại, với hiện-hữu-vượt-ra này, Dasein lại giữ được cái cam kết ràng buộc với tư cách thế giới và trong cái thành trì này [tr.197], trước hết nó có thể và thậm chí phải giữ chính mình trước các hiện hữu. Giờ đây, chúng ta có nhiệm vụ lý giải về thời tính liên quan đến hiện tượng siêu việt cơ bản này.

Thời tính tự thân là gì và làm thế nào chúng ta có thể bắt tay vào phân tích nó? Người ta có thể suy đoán về thời gian theo nhiều cách khác nhau; có thể bắt đầu từ đâu đó để cố gắng phân tích và diễn giải nó. Nhưng vấn đề của chúng ta không liên quan đến những suy đoán triết học riêng rẽ thông thường về thời gian, vốn luôn hướng tới các vấn đề triết học khác. Thời gian, như chúng ta đã chỉ ra, có mối liên hệ nào đó, dù vẫn còn mơ hồ, với việc lý-giải-Hữu-thể nói chung. Do đó, thời gian khẳng định một chức năng hệ thống trung tâm trong siêu hình học theo đúng nghĩa; vậy là việc diễn giải thời gian phải được hướng dẫn chủ yếu bởi chức năng trung tâm đó trong siêu hình học. Con đường dẫn đến việc diễn giải thời gian không hề đơn giản. Con đường mà bản thân tôi đã đi không phải là con đường duy nhất, nhưng mọi con đường đều dài và gặp phải chướng ngại vật. Tôi đang chọn một phương pháp khác cho mục đích của chúng ta. Chúng ta sẽ cố gắng gợi ý bản chất của thời gian một cách trực tiếp và giáo điều hơn, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ gạt bỏ cách đặt câu hỏi thông thường về thời gian.

Tôi sẽ cố gắng liệt kê ngắn gọn những tuyến quan niệm chủ chốt phổ biến về thời gian: 1). Thời gian tự nó là một cái gì đó tồn tại ở đâu đó và bằng cách nào đó, nó đang chuyển động, nó luôn trôi đi; như chúng ta vẫn nói, ‘thời gian trôi qua’. 2). Là một khái niệm thoáng qua (ở một mức độ nhất định, đây là mô hình của sự thoáng qua nói chung), thời gian là thứ gì đó ‘trong tâm hồn’, trong chủ thể, bên trong ý thức; do đó, để có thời gian cần phải có một ý thức nội tại. Kết quả là, khả năng hình dung và diễn giải thời gian về cơ bản phụ thuộc vào quan niệm cụ thể về tâm hồn, chủ thể, ý thức, Dasein. 3). Thời gian là thứ gì đó đang trôi qua, diễn ra trong tâm hồn nhưng chưa thực sự thuộc về trung tâm của tâm hồn. Bởi vì thời gian từ lâu đã được xem xét trong mối liên hệ với không gian. Trong không gian, cái mang tính không gian là những gì chúng ta trải nghiệm bằng các giác quan của mình. Điều này cũng đúng với thời gian. Thời gian thuộc về tri giác tính của chúng ta (vẫn đúng cả trong quan niệm hiện tượng học của Husserl và Scheler). Tuy nhiên, dù người ta có thể lý giải tri giác tính, nhưng nó vẫn khác biệt với tâm trí và lý tính, mà bản thân chúng không mang tính thời gian mà nằm ngoài thời gian. Không hề ngoa là, đối với Kant, tính tự phát với tư cách tự do trụ sát cạnh thời gian. 4). Kể từ Plato, thời gian thường được phân biệt bằng cách đối lập vĩnh hằng, và bản thân tính vĩnh hằng được hình dung ít nhiều theo quan điểm thần học. Thời tính trở thành cái trần thế đối lập với thiên đường. Từ quan điểm này, thời gian sở hữu một phẩm chất quan điểm thế giới [tr.196] nhất định. Điều này đã góp phần khiến người ta chưa bao giờ thực sự hiểu được ý nghĩa siêu hình của hiện tượng thời gian.

Hết thảy các mô tả ấy về thời gian, được biết đến cả trong hiểu biết thông thường lẫn triết học, không thể chỉ đơn thuần là những bịa đặt và sáng tạo tùy tiện. Bản chất của thời gian phải tự nó làm cho những khái niệm này trở nên khả thể và thậm chí hợp lý. Tuy nhiên, lại không có khái niệm nào trong số đó chính xác chạm tới được bản chất siêu hình của thời gian. Do đó, nếu người ta đơn giản hóa vấn đề và từ những quan điểm thông thường này chỉ đơn thuần tiếp thu những gì mà phân tích hữu thể luận cơ bản về thời gian khám phá ra, thay vì trước tiên tiếp nhận khám phá này một cách độc lập và theo mục đích riêng của nó, thì mọi thứ sẽ trở nên rối rắm. Cần trình bày thực chứng những đặc điểm chính trong bản chất siêu hình của thời gian bằng năm điểm, tuy nhiên, chúng lại không trực tiếp tương ứng với bốn điểm đã được đề cập ở trên.              

1.) Bản chất của thời gian có tính ἔκστασις ek-stasis xuất-thân [tách ra ngoài bản thân]. 2.) Cùng với cấu trúc xuất thân này là ὅρισμος horismos, tính chất bình tuyến thuộc về thời gian. 3). Thời gian không trôi qua cũng không đứng yên mà tự thời gian hóa chính nó. Tính thời gian hóa là hiện tượng nguyên thủy của ‘chuyển động’: 4). Thời gian không tương đối so với tri giác tính mà còn nguyên thủy hơn cả tri giác tính, tâm trí và lý tính. Ở đây, tất nhiên, chúng ta giả định quan niệm duy nhất về lý tính mà chúng ta biết, đó là lý tính hữu hạn. 5). Về mặt phương pháp luận, chúng ta cần lưu ý rằng, bởi vì nó cấu thành liên tục tính siêu hình của Dasein, nên không thể lý giải được thời gian nếu Dasein được lý giải theo một loại sơ đồ lý thuyết nào đó, cho dù đó là một chỉnh thể tâm lý, một chủ thể nhận thức-ý chí, một loại tự-nhận thức, hay một nhất tính của thân thể, linh hồn và tâm trí. Hơn nữa, việc phân tích Dasein phải chọn chân trời dẫn dắt mà, trong sự tồn tại thực tế, liên tục hướng dẫn hiện-hữu-hướng-tới-tự-thân của Dasein trong hiện-hữu-với của nó với những kẻ khác và trong mối quan hệ của nó với các hiện hữu khác với Dasein trước mọi lý thuyết, bên ngoài mọi lý thuyết và bất chấp mọi lý thuyết.

Các văn bản kinh điển về vấn đề thời gian như sau: Vật lý của Aristotle, Δ10-14; Enneades của Plotinus. III,7; Lời thú tội của Augustine, Quyển XI; Phê phán lý tính thuần túy, Thẩm mỹ tiền đề, Suy diễn siêu việt, và chương về Chủ nghĩa giản đồ, Phân tích các nguyên tắc, Học thuyết về những nghịch lý; Encyclopedie der philosophischen Wissenschaften của Hegel (giai đoạn trước trong ‘Iena Logic’) và Hiện tượng địa lý; Bergson, tất cả các tác phẩm của ông; Husserl, in ldeen zu einer [tr.199] en Phanomenologie und phiinomenologischen Philosophie Quyển Một, chỉ nhận xét ngắn gọn; Oskar Becker, Beiträge zur phänomenologischen Begründung der Geometrie und ihrer physikalischen Anwendung (trong Jahrbuch fur Philosophie und Phänomenologische Forschung, tập VI, 1923, trang 385 trở đi; và bây giờ là Vorlesungen zur Phiinomenologie des inneren Zeitbewusstseins trong các ý tưởng về [tr.199] Hiện tượng học và Triết học Hiện tượng luận, Quyển Một, chỉ nhận xét ngắn gọn; So sánh với Oskar Becker, Đóng góp cho Nền tảng Hiện tượng học của Hình học và các Ứng dụng Vật lý của nó: (trong Kỷ yếu Nghiên cứu Triết học và Hiện tượng học, tập VI, 1923, trang 385 trở đi; và bây giờ là Các bài giảng về Hiện tượng học về Ý thức Thời gian Nội tại của chính Husserl, xuất hiện trong Tập IX của cùng Jahrbuch (xem thêm bên dưới). (Các nghiên cứu về thời gian của Aristotle và Augustine là những nghiên cứu quan trọng, và chúng có tính quyết định đối với các thời kỳ sau này. Dường như vô thức hơn là có chủ đích rõ ràng, sau này Kant đã đẩy vấn đề đi xa nhất vào chiều kích của một vấn đề triết học thực sự.)

Chúng ta sẽ chỉ thảo luận về những khía cạnh quan trọng nhất của hai điểm đầu tiên. Về điểm 1, Thời gian có tính chất ἔκστασις ek-stasis xuất-thân. Chúng ta muốn hiểu rõ đặc điểm thiết yếu này của thời gian. Để làm được điều này, chúng ta cần nhắc lại ngắn gọn quan niệm phổ biến về thời gian, hay chính xác hơn, Mối quan hệ thông thường của chúng ta với thời gian. Việc chúng ta nói về mối quan hệ với thời gian đã cho thấy rằng thời gian tồn tại như một thứ gì đó trong số nhiều sự vật khác, một thứ mà chúng ta cũng liên hệ hàng ngày (chẳng hạn như chúng ta liên hệ với không gian). Vấn đề đó và cách chúng ta liên hệ với thời gian được chứng minh bằng việc chúng ta thường đeo đồng hồ, một công cụ đo thời gian. Chúng ta không đo thời gian chỉ đơn thuần vì tò mò muốn biết bây giờ là mấy giờ. Thay vào đó, chúng ta đo thời gian theo cách tính toán thời gian. ‘Tính toán thời gian’ ở đây không có nghĩa là đếm thời gian bằng số. Thay vào đó, nó có nghĩa là xem xét thời gian, tức là tận dụng tối đa thời gian của chúng ta, sử dụng nó một cách đúng đắn, không lãng phí thời gian. Mọi người đều quen thuộc với thời gian và biết ý nghĩa của từ ‘thời gian’, nhưng hiếm khi họ có một khái niệm về thời gian. Tuy nhiên, chúng ta không tiếp thu sự quen thuộc tiền khái niệm này về thời gian bằng cách nhặt nhạnh nó từ kẻ khác và đưa vào bản thân. Chúng ta không bằng cách nào đó trở nên quen thuộc với thời gian! Điều chúng ta học được chỉ đơn giản là cách thức đo thời gian, những cách thức cụ thể thực tế mà qua đó chúng ta đối xử với thời gian một cách thực tế nhất. Nhưng mỗi Dasein đều bộc lộ chính thời gian – và dù vậy, thời gian vẫn là một điều gì đó kỳ lạ. Chỉ hiếm khi chúng ta nắm giữ được thời gian, thứ đang nắm giữ chính bản thân chúng ta theo nghĩa siêu hình; chỉ hiếm khi chúng ta trở thành chủ nhân của cái sức mạnh mà chính chúng ta sở hữu; chỉ hiếm khi chúng ta tồn tại một cách tự do.

Dù mỗi ngày chúng ta có bận tâm đến thời gian đến mức nào, ít nhiều một cách có ý thức, hoặc thậm chí một cách câu nệ, dù chúng ta có nói  [tr.200] về thời gian, gọi tên và thảo luận về nó thường xuyên đến đâu đi nữa, thì nó vẫn cứ xa vời và vô cảm với chúng ta. Và đây một phần là lý do tại sao chúng ta mù quáng trước bản chất thực sự của nó, hơn nữa, khi chúng ta muốn khái niệm hóa thời gian, chúng ta chỉ hình dung nó như cách chúng ta hình dung mọi thứ trực tiếp có thể tiếp cận được, như cách chúng ta làm việc. Điều quan trọng là phải giải phóng tầm nhìn của mình để thấy được bản chất toàn diện đặc thù của cái tự bộc lộ là thời gian. Ở đây, chúng ta chỉ có thể đặt một trong những hiện tượng trước mắt, hiện tượng khiến chúng ta trực tiếp hình dung ra tính chất thăng hoa của thời gian, và chúng ta muốn diễn giải ít nhất hiện tượng này một cách tương đối cụ thể. (Xem Die Grundprobleme der Phiinomenologie từ học kỳ hè năm 1927, phần hai, 12 cùng Hữu thể và Thời gian, phần một.)

Chúng ta đo thời gian bằng các con số và khoảng cách, bằng các đại lượng: từ lúc này ngược về quá khứ, từ bây giờ đến lúc đó, từ thời điểm này đến thời điểm kia. Chúng ta gọi tên chính thời gian bằng các từ ‘bây giờ’, ‘sau đó’, ‘vào thời điểm đó’. Và điều cần thiết là phải thấy cái cách mà những diễn đạt này nói về thời gian. Nếu ngay lập tức, tôi hoàn toàn không suy nghĩ, mà nói ‘bây giờ’, thì nó luôn có nghĩa là: ‘bây giờ - cánh cửa đóng sầm’, ‘bây giờ - tôi bắt đầu phân tích cấu trúc của thời gian’. Bằng từ ‘bây giờ’, chúng ta không có ý nói đến tự thân hiện tại, theo đúng chủ đề; chúng ta không tập trung vào nó theo cách như thể chúng ta muốn nói “cái bây giờ này có phẩm chất như vậy-như vậy; nó tiếp nối khoảnh khắc trước đó, và một thứ ngay lập tức theo sau cái bây giờ này.”

Thay vào đó, chúng ta muốn nói ‘bây giờ - cánh cửa đóng sầm’; chúng ta muốn nói đến cánh cửa, và nó đang đóng sầm ngay bây giờ. Chúng tôi không có ý nói rằng hiện tại và tiếng cửa đóng sầm trùng khớp nhau. Thay vào đó, chúng tôi muốn nói đến mối quan hệ đặc biệt giữa cả hai. Nhưng mối quan hệ giữa cả hai, giữa cái bây giờ và tiếng cửa đóng sầm, không phát sinh ngay từ khi cả hai cùng tồn tại trong một thời điểm. Thay vào đó, mối quan hệ này thuộc về chính cái bây giờ theo đúng nghĩa; tuy nhiên, điều chính xác diễn ra trong cái bây giờ này là ngẫu nhiên, tức là nó không được định trước trong cái bây giờ. Khi chúng ta nói ‘bây giờ’, chúng ta không tập trung vào cái bây giờ như một sự vật biệt lập, mà tự thân cái bây giờ hướng dẫn và thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước đến những gì đang diễn ra trong lúc bây giờ. Chức năng chỉ dẫn hướng tới tương lai này về bản chất thuộc về cái bây giờ. Điều này có nghĩa là cái bây giờ, về bản chất, là một ‘bây giờ khi điều này điều kia….’, một ‘bây giờ trong đó…’. Tương tự như vậy, các cách diễn đạt khác về thời gian cũng vậy: cái thì lúc đó luôn luôn, thường là không cần chúng ta diễn đạt, là một thứ ‘lúc đó khi…’, cái trước đó luôn luôn là một ‘trước đó khi…’. Như chúng ta đã nói, những định danh thời gian này có đặc điểm của [tr.201] các chỉ số hướng về phía trước, chỉ về phía trước đến những gì mà bây giờ, lúc đó, trước đây hiện diện. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách chính xác, nội dung hiện tượng của tình huống lại trái ngược: chúng ta không tập trung vào cái bây giờ để rồi được hướng dẫn về phía trước đến những sự vật và quá trình ‘trong’ thời gian. Thay vào đó, chúng ta quan tâm đến sự vật, liên quan đến chúng, và sau đó áp dụng cho chúng những định danh thời gian này với các phép đo số ít nhiều cố định. “Cánh cửa đóng sầm – bây giờ: bây giờ cánh cửa đóng sầm.” Nhưng liệu cái bây giờ vẫn tồn tại, phi chủ đề, trước mọi thứ? Dù sao thì khi nói ‘bây giờ’, tôi không biến cái bây giờ thành một khách thể chủ đề; tôi không hướng đến nó như vậy, như tôi hướng đến cánh cửa hay cái bảng đen.

Điều này cho thấy rằng chúng ta không tiếp cận cái bây giờ, khi đó và trước đây như cách chúng ta tiếp cận những thứ vẫn tồn tại, nhưng dù vậy, chúng ta vẫn nói ‘bây giờ’ với một tính tức thời đặc biệt. Chúng ta không có trước mắt một chuỗi các bây giờ được trải ra để rồi chọn một bây giờ, nắm lấy nó và gọi tên nó. Thậm chí chúng ta còn không cố ý tập trung vào thời gian, nhưng chúng ta vẫn có nó ngay lập tức ‘trong tầm tay’ ngay cả khi chúng ta không cố ý khẳng định ‘bây giờ’ và ‘trước đây’. Một lần nữa, ví dụ cơ bản nhất về điều này là việc chúng ta sử dụng đồng hồ, và chúng ta thậm chí không cần phải suy ngẫm về việc sử dụng một cách có ý thức. Bản chất của việc sử dụng đồng hồ là, khi tôi đọc giờ, tôi không hỏi, ‘Mấy giờ rồi?’ mà thay vào đó, chẳng hạn hỏi, ‘Mình còn bao nhiêu thời gian nữa?’ Tôi không nói rõ cái bây giờ, mà lại đọc ngay thời gian và chỉ nói một cách ngầm định ‘bây giờ’: Vậy thì do đâu mà chúng ta thực sự có được điều mình muốn nói và hiểu, dù không theo chủ đề, khi nói ra những ‘bây giờ’, ‘sau đó’ và ‘trước đây’?

Hãy xem xét, ví dụ, cách hiểu từ ‘sau đó’: Chúng ta không bao giờ sử dụng ‘sau đó’ một cách riêng rẽ mà, chẳng hạn trong việc sắp xếp và tổ chức: ‘Sau đó điều này sẽ xảy ra’: ‘Sau đó có thể dẫn đến điều ấy’. Hoặc trong một suy ngẫm về kế hoạch của chúng ta: ‘Sau đó có lẽ điều này sẽ xảy ra, và do đó đấy là thứ cần phải làm’. Tuy nhiên, khi tham gia vào việc xem xét mang tính cân nhắc như vậy, chúng ta hỏi, ‘Vậy thì sau đó sẽ ra sao?’ Trong việc lập kế hoạch, chúng ta có ý định điều gì đó mà chúng ta có liên quan, chỉ là điều chúng ta dự định vẫn không xác định và không thể xác định được. Ở đây, chúng ta nói ra từ ‘sau đó’ từ trong mối liên hệ với điều gì đó mà chúng ta liên hệ như là việc lập kế hoạch, cân nhắc, vor-sorgend bận tâm. Nói một cách tổng quát, chúng ta thốt ra từ ‘sau đó’ xuất phát từ một phương thức tồn tại mà trong đó chúng ta đang mong đợi một điều gì đó sẽ xảy ra, một điều gì đó sẽ được hoàn thành. Chỉ trong sự mong đợi như vậy, tôi mới có thể thốt ra từ ‘sau đó’. Trong sự mong đợi, chúng ta tự nhiên nói ‘sau đó rồi sau đó’ mà không cố ý đề cập đến những cái ‘sau đó’ này. Chúng ta luôn hướng đến điều sẽ xảy ra hoặc nên xảy ra. Bản thân những ‘sau đó’ này không phải là thứ mà sự mong đợi của chúng ta chỉ đơn thuần [tr.202] là một kiểu nắm bắt các ‘sau đó’, theo cách mà nhận thức tiếp cận một vật thể vật chất (cái bảng đen). Thay vào đó, sự mong đợi tự nó cung cấp, như chính sự mong đợi, cái ‘sau đó’. Cái ‘sau đó’ là cái mà trong đó sự mong đợi tự bộc lộ, do đó là một cái gì đó trong chính sự mong đợi. Trong sự mong đợi, và chỉ trong đó, cái ‘sau đó’ cứ như thể đang ngủ yên vậy.

Nhưng, cũng giống như chúng ta không tìm thấy cái ‘sau đó’ trong một đối tượng sẽ là hoặc nên là ‘sau đó’, chúng ta cũng không tìm thấy cái ‘sau đó’ ở đâu đó trong tâm hồn như một quá trình tâm lý hay như một thuộc tính của quá trình tâm lý. Không ở trong đối tượng cũng không ở trong chủ thể - theo quan niệm truyền thống, không ở đây cũng không ở đó mà, như thể, trên con đường từ chủ thể đến khách thể! Nhưng chúng ta đã quen thuộc với cái ‘trên-con-đường’ này, như bước vượt qua, như sự siêu việt. Cái ‘trên-con-đường’ này chỉ là một tham chiếu đến cái ‘vị trí’ mà cuối cùng, cái ‘là’ mà chúng ta nói ra như là đặc tính thời gian. Cái ‘sau đó’ phát sinh từ và trong một sự mong đợi, và nó cho phép nhiều định nghĩa rõ ràng, đương nhiên là trong những giới hạn nhất định. Đây là những khả tính mà bây giờ không còn quan trọng đối với chúng ta, vì chúng ta đang tìm kiếm một điều khác. Nhưng những gì chúng ta đã trình bày về cái ‘sau đó’ cũng đúng với cái ‘trước đây’ và cái ‘bây giờ’ theo cách tương ứng. Cái ‘trước đây’ luôn thể hiện sự lưu giữ một điều gì đó đã xảy ra trước đó. Ở đây, việc chúng ta nhớ lại điều gì đã xảy ra trước đó đến mức độ nào và chính xác ra sao không phải là điều quan trọng; thậm chí chúng ta còn có thể đã quên nó. Nói cách khác, cái ‘trước đây’ cũng chính là cách diễn đạt của sự quên lãng. Tương ứng, cái ‘bây giờ’ lại tuyên bố hiện hữu hướng tới những gì Anwesendes đang hiện diện, và chúng ta gọi cái hiện hữu hướng tới những gì hiện diện này, nói chung hơn, là làm cho hiện diện. Hãy quay lại với hiện tượng của cái ‘sau đó’. Nó xuất hiện từ sự mong đợi và không phải là thuộc tính của khách thể hay chủ thể. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn khai thác hết bản chất cốt yếu của nó mà, tạm thời, đã bỏ qua một điều khá quan trọng. Cái ‘sau đó’, có thể diễn đạt được và phát sinh trong việc làm cho hiện diện, luôn được hiểu là ‘bây giờ chưa đến’ (mà đúng hơn là: sau đó).

Cho dù tôi chọn sau đó nào, thì cái ‘sau đó’ trong mỗi trường hợp luôn quy chiếu trở lại một ‘bây giờ’, hay nói chính xác hơn, cái ‘sau đó’ được lý giải trên cơ sở của một ‘bây giờ’, dù không rõ ràng. Ngược lại, mọi ‘trước đây’ đều là một ‘bây giờ không còn nữa’ và do đó, về cấu trúc, là cầu nối đến một ‘bây giờ’. Nhưng cái bây giờ này, trong mỗi trường hợp, là cái ‘bây giờ’ của một làm-cho-hiện-diện hoặc việc lưu giữ cụ thể, trong đó một cái ‘sau đó’ và một cái ‘trước đây’ trong mỗi trường hợp được phát ngôn ra. Với điều này, chúng ta thấy một mối liên hệ đặc biệt, vẫn còn mơ hồ về bản chất, giữa cái ‘trước đây’, ‘sau đó’ và ‘bây giờ’. Trong cách hiểu thông thường, chúng ta gọi thời gian chỉ đơn thuần là chuỗi các bây giờ (bây giờ, chưa phải ngay bây giờ, bây giờ không còn nữa – ngay bây giờ). Và theo một cách nào đó, chúng ta cũng biết rằng thời gian không phải là sự tích lũy của các bây giờ mà là một thể liên tục; một lần nữa, không phải là một thể liên tục cứng nhắc [tr.203], mà là một thể liên tục trôi chảy (dòng thời gian). Nhưng, dù thời gian, được hiểu theo cách này, có thể được định nghĩa như thế nào, và dù một định nghĩa có thành công hay không từ quan điểm này, thì trong mọi trường hợp, rõ ràng là sau đó, trước đây và bây giờ xuất hiện, và xuất hiện trong sự thống nhất của chúng, từ sự mong đợi, sự lưu giữ và sự hiện diện mà rõ ràng trước hết phải thống nhất với nhau và trong chính chúng. Tuy nhiên, nếu thời gian là điều gì đó mà chúng ta thấy như là sự xuất hiện, thì nguồn gốc của cái xuất hiện và cái cho phép nó xuất hiện rõ ràng phải là cái mà, theo nghĩa nguyên thủy, càng xứng đáng được gọi là thời gian. Do đó, thời gian ban đầu là sự mong đợi, sự lưu giữ và làm cho hiện diện này.

Lưu ý: Bergson là người đầu tiên tìm ra mối liên hệ giữa thời gian phái sinh và thời gian nguyên thủy. Nhưng ông đã làm điều đó theo cách đi quá xa và cho rằng thời gian, một khi đã xuất hiện, chính là không gian. Do đó, Bergson đã khóa chặt con đường đến với hiểu biết thực sự về thời gian phái sinh, khi về nguyên tắc, ông đã nhầm lẫn bản chất của thời gian xuất hiện, thì ông không coi thời gian đã xuất hiện là thời gian xuất hiện. Nhưng ngược lại, chừng nào ông chỉ dừng lại ở thời gian đã xuất hiện, ông cũng không thực sự thành công trong việc làm sáng tỏ thời gian nguyên thủy và chân chính từ trong bản chất của nó. Tuy nhiên, các phân tích của Bergson vẫn thuộc về những phân tích sâu sắc nhất về thời gian mà chúng ta có. Người ta thường cho rằng Bergson - cũng như Dilthey - có tư tưởng mơ hồ và cần được xem xét lại và cải thiện. Nhưng những ‘hình ảnh’ của Bergson chính là cách diễn đạt nỗ lực của ông để thực sự nắm bắt được cái hiện tượng trong phạm vi mà ông chọn làm chủ đề nghiên cứu. Sự thiếu sót không nằm ở tính mơ hồ được cho là có – Bergson hoàn toàn rõ ràng trong những gì ông nhìn thấy, nhưng lại nằm ở phạm vi vấn đề quá hẹp của ông. Điều này cũng không thể được khắc phục bằng cách sửa đổi để có ‘tính chính xác hơn’. Như mọi người đều biết, trong triết học cũng có những điều nhỏ nhặt chính xác! Xin nhắc lại: kỳ vọng, sự lưu giữ và làm-cho-hiện-diện không chỉ đơn thuần là cách chúng ta nắm bắt cái ‘sau đó’, cái ‘trước đây’ và cái ‘bây giờ’, không chỉ đơn thuần là các phương thức nhận thức về chúng; mà đúng hơn, chúng chính là nguồn gốc của cái ‘sau đó’, cái ‘trước đây’ và cái ‘bây giờ’. Kỳ vọng không phải là một phương cách nhận thức về thời gian, mà theo một nghĩa nguyên thủy và chân thực, nó chính là thời gian.

Trong Vorlesungen zur Phiinomenologie des inneren Zeitbewusstseins Các bài giảng Hiện tượng học về Ý thức Thời gian Nội tại ở tập IX của Jahrbuch13 (từ các bài giảng ở Göttingen [tr.204] năm 1904/05), Husserl đã nghiên cứu vấn đề thời gian trong một bối cảnh khá cụ thể, và bối cảnh này là đặc trưng cho quan điểm của ông. Husserl nói về ‘ý thức thời gian nội tại’, và ông đặc biệt phân tích, như những hình thức của ý thức thời gian này, Erinnerung ký ức, Vergegenwärtigung tái nhận thức, Wiedervergegenwärtigung tái biểu hiện, Erwartung kỳ vọng. Tuy nhiên, những hiện tượng này được gợi ý cho ông nghiên cứu do một vấn đề hoàn toàn khác, đó là vấn đề về ý hướng tính nói chung, tức là phân tích ý thức như là ý thức về. (Nhưng ngay cả Aristotle cũng đã thảo luận về μνήμη mneme ký ức và ἐλπίς elpis kỳ vọng). Vấn đề về thời gian cũng phát triển cùng với việc giải thích các hiện tượng như tri giác, tưởng tượng, ý thức và ký ức. Ở đây, ký ức được hình dung như một tri ​​thức cụ thể về những gì đã qua. Vì vậy, ở đây thời gian vẫn là sự tuôn chảy của những cái ‘bây giờ’, những cái ‘sau đó’ và những khoảnh khắc ngay lập tức, tương ứng với một loại tri ​​thức khá xác định về chúng. Đối với tất cả các cách diễn giải trước đây, chính công lao của Husserl là đã lần đầu tiên nhìn thấy những hiện tượng này, với sự trợ giúp của cấu trúc ý hướng tính. Chỉ cần liếc nhìn vào tâm lý học hoặc nhận thức luận đương đại là đủ để đánh giá được tầm quan trọng của bước tiến này. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề thời gian, về nguyên tắc, mọi thứ vẫn như cũ, đến mức thời gian được hiểu là một cái gì đó nội tại; nó vẫn là một cái gì đó bên trong, ‘trong chủ thể’. Do đó, tiêu đề là ‘ý thức thời gian nội tại’. Toàn bộ nghiên cứu của Husserl bắt nguồn từ những quan sát của ông về ý thức sơ khai và nguyên thủy về thời gian trong tri ​​thức về một dữ liệu chỉ mang tính kinh nghiệm; do đó toàn bộ nghiên cứu liên tục xoay quanh hiện tượng xảy ra theo thời gian của một âm thanh. Những bài giảng này rất quan trọng (ngoài những phân tích cụ thể về trí nhớ, tri giác, v.v.) đối với sự phát triển sâu sắc hơn về ý hướng tính vượt ra ngoài phạm vi của cuốn Khảo sát Logic. Điều mà Husserl vẫn gọi là ý thức về thời gian, tức là ý thức về thời gian, chính xác là thời gian, theo nghĩa nguyên thủy.

Chúng ta cố ý gọi thời gian nguyên thủy là thời tính để diễn đạt thực tế rằng thời gian không phải là thứ có sẵn thêm vào, mà bản chất của nó là có tính thời gian. Điều này có nghĩa là thời gian không ‘là’, mà đúng hơn là tự thời gian hóa chính nó. Do đó, mọi nỗ lực để đưa thời gian vào bất kỳ loại being-concept khái niệm-hữu thể nào đều nhất thiết phải thất bại. Nếu người ta cố gắng nắm bắt nó bằng sự trợ giúp của phép biện chứng, đó là một sự trốn tránh, cũng như tất cả các phép biện chứng khác. Thời tính trong quá trình thời gian hóa của nó là nhất tính tự-thống nhất nguyên thủy của kỳ vọng, lưu giữ và làm-cho-hiện-diện. Chúng ta đã bắt gặp nhất tính này khi quay trở lại với thời gian dễ tiếp cận nhất của [tr.205] phát ngôn (‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’). Chúng tôi đã làm như vậy bằng cách suy ngẫm về những yếu tố cốt lõi, cụ thể là cái ‘sau đó’ là một ‘sau đó, khi…’, có nghĩa là trong mỗi trường hợp, về bản chất, nó có thể được xác định thông qua một hiện hữu nào đó. Chúng tôi gọi đặc tính này của thời gian là Datierbarkeit khả tính niên đại/thời điểm.

[Ghi chú dài về Datierbarkeit khả tính niên đại/thời điểm: Trong hiện tượng học của Martin Heidegger, Datierbarkeit khả tính xác định niên đại/thời điểm là đặc điểm cấu trúc của thời gian hàng ngày, kết nối mọi khoảnh khắc ‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’ với một bối cảnh cụ thể của hoạt động con người. Thời gian không phải là một chuỗi toán học trừu tượng gồm các điểm độc lập, mà gắn liền với những gì chúng ta đang làm. Khái niệm cốt lõi của khả tính niên đại là cấu trúc ‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’: khi nói ‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’, ta luôn ngầm xác định thời điểm - nghĩa là ‘bây giờ, khi việc này việc kia đang xảy ra’, hoặc ‘lúc đó, khi tôi đang làm việc ấy’. Khả tính này thể hiện bản chất quan hệ: mỗi khoảnh khắc ‘tự xác định thời điểm’ dựa trên sự tham gia, tâm trạng và dự phóng của Dasein hiện hữu. Một ‘bây giờ’ hoàn toàn mang tính quan hệ và chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với kỳ vọng-tương lai và ký ức-quá khứ của Dasein. ‘Khi nào’ là yếu tố chính – cái ‘khi nào’ về cơ bản có trước thời gian lịch pháp trừu tượng. Một khoảng thời gian gần đúng, mơ hồ khoảng ‘lúc đó’ hoàn toàn có thể xác định được niên đại dựa trên kinh nghiệm sống của chúng ta, chứng minh rằng thời gian là một khuôn khổ của ý nghĩa chứ không phải là một chiếc đồng hồ cứng nhắc. Tính xác định niên đại trong triết học của Heidegger Trong các tác phẩm như Vấn đề Cơ bản của Hiện tượng học, tính xác định niên đại nằm ở nền tảng phân tích của ông về thời gian sống: Datierbarkeit Khả tính xác định niên đại – việc gán ghép thời gian vốn có cho một hành động hoặc sự kiện trong sự tham gia của chúng ta vào thế giới. Erstrecktheit khoảng thời gian: sự ‘kéo dài’ thời gian giữa các sự kiện và nhiệm vụ mà chúng ta đang chờ đợi hoặc đang tham gia. Öffentlichkeit tính công khai - bởi vì chúng ta chia sẻ thế giới với những kẻ khác, nên thời gian có thể xác định thời điểm/niên đại của chúng ta -ví dụ giờ nghỉ trưa, giờ làm việc - trở nên đồng bộ và được chuẩn hóa thành thời gian công cộng, liên chủ thể. Weltzeit thời gian thế giới - tổng hợp tổng thể của tính xác định niên đại/thời điểm, khoảng thời gian và tính công khai tạo thành nền tảng mà chúng ta sử dụng để định hướng bản thân trong thế giới. Cách thức hoạt động của tính xác định thời điểm/niên đại - ví dụ hàng ngày với cụm từ: ‘Bây giờ là lúc ăn sáng’. Về bản chất, chúng ta thường nghĩ đến một mốc thời gian chính xác trên đồng hồ. Thay vào đó, cái ‘bây giờ’ này được xác định ngày tháng một cách tương đối so với các sự kiện khác trong thế giới của ta: mặt trời đã mọc, ta thức dậy và cần năng lượng để bắt đầu ngày làm việc. Bản thân ngày tháng có ý nghĩa trực tiếp từ sự tham gia tích cực của Dasein vào thế giới, chứ không phải từ một tham số tuyến tính của những thời khắc đang tích tắc.- HHN]. Trong cái ‘lúc đó, khi…’, tham chiếu hướng tới tương lai xảy ra theo một chỉ báo cho các hiện hữu, bản thân chúng có một ‘khi nào’ và do đó có thể xác định thời điểm/niên đại của cái ‘lúc đó’. Chỉ báo này phải mang theo thời gian được phát ngôn từ thời tính nguyên thủy, thuộc về cấu trúc cốt lõi của nó. Chỉ báo này có thể được thể hiện rõ ràng đến mức nào trong thời tính nguyên thủy?

Chúng ta sẽ lại tiếp tục từ cái ‘sau đó’ như là sự kỳ vọng. Cách ứng xử đối với loại sự vật mà chúng ta nói “nó sẽ là ‘sau đó’”, chẳng hạn, là hy vọng, sợ hãi hoặc chờ đợi. Chúng tôi gọi những phương thức này là cách ứng xử có tính ý hướng đối với cái có tính tương lai. Hy vọng không phải là sợ hãi và ngược lại; chờ đợi không nhất thiết là hy vọng hay sợ hãi và bản thân nó có thể biểu hiện nhiều biến thể: sự sốt ruột háo hức, và thái độ thờ-ơ-mặc-kệ-mọi-chuyện. Nhưng tất cả những cách ứng xử này sẽ không khả thể, tức là, việc hướng bản thân đến một điều gì đó sẽ bằng cách nào đó là ‘sau đó’ sẽ không có hướng đi rõ ràng nếu cái mà Dasein hy vọng, sợ hãi, v.v., với tư cách Dasein theo đúng nghĩa, không tự vươn mình vào một phẩm chất-sau đó, hoàn toàn tách biệt khỏi những gì nó có thể gặp phải từ cái ‘sau đó’. Điều mà chúng ta gọi là Gewärtigen mong đợi không gì khác hơn là Entrückung cuốn vào phẩm chất ‘sau đó’ nằm ở nền tảng của những thái độ đó, điều mà trước đây đã vượt qua tất cả những hiện hữu khả thể mà chúng ta có thể và phải nói rằng, chúng sẽ là ‘sau đó’. Và bởi vì ‘sau đó’ và mỗi ‘sau đó’ cụ thể về bản chất chỉ là sự phát ngôn và biểu hiện của sự mong đợi này, thứ luôn tiềm tàng bị cuốn theo vượt ra ngoài tất cả các hiện hữu, vì lý do này mà cái ‘sau đó’, tương ứng với cuộc cuốn-theo này, trong cấu trúc của chính nó là một chỉ báo, có thể xác định thời điểm/niên đại.

Ngược lại, sự mong đợi, như chúng ta nói, là trạng thái xuất thân. Trạng thái xuất thân được đề cập ở đây, ἔκστασις ekstasis tự bước ra khỏi, ở một mức độ nào đó là một raptus xuất thân (thăng lên cùng Thiên Chúa). Điều này có nghĩa là Dasein không dần dần trở nên mong đợi bằng cách lần lượt đi qua các hiện hữu thực sự tiếp cận nó như những sự vật trong tương lai, mà cuộc đi qua này diễn ra dần dần thông qua con đường rộng mở được tạo ra bởi raptus xuất thân của tự thân thời tính. Giờ đây, điều này cũng đúng theo cách tương ứng với lưu giữ và làm-cho-hiện-diện. Và do đó, chúng ta gọi ba hiện tượng cơ bản này là trạng thái xuất thân của thời tính. Thời tính là tự thân cái nhất tính xuất thân tự-hợp-nhất trong thời gian hóa xuất thân. Sự mong đợi hàm ý một hiện-hữu-đi-trước-chính-mình. Nó là hình thức cơ bản của sự hướng-về-chính-mình, hay chính xác hơn, nó cho phép những điều tương tự [tr.206] theo đúng nghĩa. Sự mong đợi có nghĩa là hiểu bản thân từ bên ngoài năng-lực-cho-hiện-hữu của chính mình; mà cái năng-lực-cho-hiện-hữu của chính mình, xét cho cùng chính là hiện-hữu-với và hiện-hữu-bởi. Mong đợi năng-lực-cho-hiện-hữu của chính mình với tư cách là của tôi, tôi cũng đã tiến đến chính mình một cách chính xác thông qua mong đợi. Việc tiếp cận với chính mình trước, từ khả tính của riêng mình, là khái niệm mang tính xuất thân chính yếu về tương lai. Chúng ta có thể minh họa cấu trúc này, trong chừng mực khả thể, theo cách này (dấu chấm hỏi chỉ ra chân trời vẫn còn để ngỏ): nhưng cuộc đến-với-chính-mình này, tự nó, không trải trên một hiện tại nhất thời của riêng tôi; nó trải trên toàn bộ những gì đã-từng-là của tôi. Chính xác hơn - và đây là luận điểm của chúng ta – cái tính-đã-từng-là này tự thời gian hóa từ bên ngoài của tương lai và trong tương lai. Cái đã-từng-là không phải là tàn dư của bản thân tôi vốn đã ở lại phía sau và bị bỏ lại một mình. Nó cũng không phải là điều mà Bergson thích minh họa bằng nhiều hình ảnh khác nhau: tương lai mở ra, như thể, trong khi quá khứ được cuộn lại trên một cuộn khác.

Trình bày theo cách này sẽ đúng chừng nào sự kết nối nội tại giữa tương lai và tính-đã-từng-là được gợi ý bằng hình ảnh; nhưng nó sẽ gây hiểu lầm vì cái đã-từng-là lại không phải là thứ gì đó vẫn còn đó bởi tự thân, cũng không phải là gánh nặng chết chóc tích tụ mà tôi kéo lê phía sau và thỉnh thoảng tôi có thể liên hệ theo cách này hay cách khác. Thay vào đó, cái đã-từng-là của tôi chỉ ‘là’: trong mỗi trường hợp, theo phương thức thời gian hóa của tương lai, và chỉ trong thời gian hóa đó. Cái-đã-từng-là, dĩ nhiên, không còn là một thứ gì đó hiện diện nữa, và đến mức đó người ta có thể đi đến kết luận thông thường rằng không gì có thể thay đổi; nó đã kết thúc. Nhưng không phải vậy. Thay vào đó, tính-đã-từng-là của cái đã-từng-là trở thành cái đã từng là, trước hết và liên tục, trong tương lai tương ứng. Chính việc chúng ta nói ‘chúng ta không có năng lực thoát khỏi quá khứ’ cho thấy một phương thức nhất định của cái đã-từng-là của chúng ta [tr.207]. Điều chúng ta thấy được thể hiện ở đây về bản chất của thời tính chính là cái mà sự xuất thân tương lai, như một cuộc hướng-tới, trải ra ngay lập tức, liên tục và chủ yếu vào cái đã-từng-là.

Thực sự có những lý do rõ ràng tại sao sự lãng quên lại là phương thức chủ đạo của đã-từng-là. Nghĩa là, dường như những gì đã từng ‘là’ không còn ở đó nữa, và trong việc tự-lý giải chính mình, Dasein thực sự có thể quay trở lại chính mình từ bên ngoài năng-lực-là của nó, nhưng lại hướng về cái hiện tại tức thời vừa mới khép lại cánh cửa phía sau nó đối với tính-đã-từng-là. Nhưng việc đóng cánh cửa này đã là một cách để thời gian hóa cái đã-từng-là, một loại thời gian hóa mà theo cách riêng của nó, làm hiện hữu cái đã-từng-là. Và việc làm-hiện-diện ấy trước hết tự thời gian hóa chính nó trong cái nhất tính xuất-thân của tương lai và tính-đã-từng-là. Kiểu thời gian hóa cơ bản này là kết quả của việc diễn giải thời tính trong chính nó. Nếu ta chọn thời điểm được nói ra làm điểm xuất phát, như cách hiểu thông thường và truyền thống về thời gian, thì thời điểm gần nhất, như mọi khi, luôn là hiện tại, có nghĩa là ‘đây là cái bây giờ’, và ‘cái không-còn- bây-giờ’ và ‘chưa-đến-bây-giờ’ sau đó là hai cánh tay mở rộng thời gian, với tư cách là cái bây giờ, theo các hướng tương ứng của phi-hiện-hữu. Hình ảnh này, và việc phân tích thời gian được rút ra từ đó, trở nên không thể tránh khỏi ngay khi người ta bỏ qua đặc trưng xuất thân của thời tính và không tìm hiểu về nhất tính của thời tính như là cái tự thời gian hóa về phương diện xuất-thân.

Chúng tôi nói điều này để tránh một sự hiểu lầm có thể xảy ra, cụ thể là niềm tin rằng thời tính thực sự là một trạng thái bị-cuốn-theo ba chiều, nhưng nó hoạt động theo cách mà ba trạng thái xuất-thân này bằng cách nào đó hòa quyện vào nhau trong một thực thể duy nhất, giống như một con vật sống có thể vươn các xúc giác ra theo các hướng khác nhau rồi mới thu chúng lại. Toàn bộ ba cách thức bị-cuốn-đi này không tập trung vào một loại sự vật nào đó mà bản thân nó lại thiếu vắng trạng thái bị-cuốn-đi, một thứ gì đó Vorhandensein hiện diện theo cách phi-xuất-thân và sẽ là trung tâm chung để khởi xướng và khai mở các trạng thái xuất-thân. Hơn nữa, cái nhất tính của các trạng thái xuất-thân tự nó đã mang tính xuất-thân. Nó không cần sự hỗ trợ và trụ cột, giống như vòm cầu. Nhưng nếu chúng ta có thể nói về cái ‘Hữu thể’ của trạng thái xuất-thân, thì chúng ta phải nói rằng Hữu thể của nó nằm trực tiếp trong ecstatic momentum động lực xuất thân tự do. Bergson gọi hiện tượng này bằng thuật ngữ elan ‘đà’, và ông cũng thấy điều gì đó thiết yếu ở đây, chỉ là ông đã áp dụng nó quá vội vàng, vào siêu hình học tổng quát, cho tất cả các hình thức hiện hữu khác nhau, mà không tập trung vào cấu trúc xuất-thân của thời gian và đặc tính chân trời/bình tuyến của nó. Kết quả là, elan đà chỉ có đặc tính ontic thực hữu và, nói cách khác, hướng về phía trước.

_______________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

12. [Geaamtausgabe. volume 24. Die Grundprobleme der Phänomenologie. edited by F.W. von Herrmann (Frankfurt a.M.1975)]. [The Basic Problem of Hofstadter (Bloomington: Indiana University Press. 1982).]

13. [Published in the Jahrbuch fur Philosophie und phänomenologische Forschung, volume 9, and, separately, Halle, 1928, edited by Martin Heidegger. Now in Husserliana, volume X: Zur Phänomenologie des inneren Zeitbewusstseins (1893- 1917), edited by R. Boehm, the Hague, 1966.] [An English translation by James Churchill was published as The Phenomenology of Internal Time-Consciousness (Bloomington: Indiana University Press, 1964).]



 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XXI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§1. Siêu việt của Dasein

c) Tự do và Thế giới

[Tr.185] Nhưng giờ đây, những câu hỏi hóc búa lại bắt đầu! Mối liên hệ nội tại giữa tự do của Dasein, hiện-hữu-trong-thế-giới, và đặc tính cơ bản của thế giới, cái mục đích vì-lợi-ích-của là gì? Chúng ta hãy bắt đầu với vấn đề cuối cùng. Trong phần trình bày trước đây, nó dường như chỉ là một sự xác định hình thức. Có thể nói, Dasein tồn tại vì một mục đích nào đó, và giờ đây chúng ta vẫn cần phải xác định vì-lợi-ích-của-nào mà Dasein tồn tại, theo khuôn khổ nội dung của nó. Ở đây dường như chúng ta có một câu hỏi mang tính quyết định. Nhưng cũng chỉ là dường như thôi. Bởi vì câu hỏi này còn mơ hồ. Tự thân, dường như nó đi thẳng đến toàn bộ vấn đề, nhưng câu hỏi lại còn quá sớm. Giả định rằng bằng cách nào đó nó có thể được quyết định một cách khách quan, trong khi, xét cho cùng, ý nghĩa của chính câu hỏi, trong mỗi trường hợp, là chỉ có người đặt câu hỏi mới có thể đặt câu hỏi theo đúng nghĩa của nó và trả lời nó. Nhưng nếu đúng như vậy, thì chúng ta phải chỉ ra tại sao lại như vậy. Nói cách khác, từ siêu hình học của Dasein cần phải làm rõ tại sao, phù hợp với bản chất hữu thể của nó, Dasein phải tự hỏi và trả lời liên quan đến mục đích cuối cùng, tại sao tìm kiếm một lời dáp khách quan lại là sai lầm hoặc hiểu sai về tồn tại của con người nói chung.

Ngược lại với chân lý về những sự vật vẫn tồn tại, chân lý về cái gì tồn tại là [tr.186] chân lý cho cái vốn tồn tại đó. Chân lý ấy chỉ bao gồm việc là chân với tư cách đang tồn tại. Và việc đặt câu hỏi cũng phải được hiểu theo cách tương ứng, không phải là một cuộc khảo sát-về mà là một cách đặt câu hỏi-cho, trong đó tình huống của kẻ đặt câu hỏi được bao gồm trong câu hỏi. Trước khi vội vàng đưa ra lời đáp cho câu hỏi về mục đích cuối cùng của con người - một câu trả lời mà về bản chất sẽ là không có câu trả lời nào cả - trước khi chúng ta cố gắng điền vào nội dung của cái hình thức tự thân vì lợi-ích-của, trước tiên chúng ta phải xem xét kỹ hơn chính cái vì-lợi-ích-của này, để tránh một cách hiểu không đầy đủ về cái vì-lợi-ích-của như là cấu phần của vị thế-thế giới. Sự tồn tại của Dasein được xác định bởi cái vì-lợi-ích-của. Auszeichnende đặc điểm nổi bật xác định của Dasein là nó quan tâm đến cái hữu thể này, trong hiện hữu của nó, theo một cách cụ thể. Dasein tồn tại vì lợi ích Hữu thể của Dasein và năng-lực-vì-hữu-thể của nó. Nhưng, người ta có thể lập tức phản đối, ở đây chúng ta vừa đưa ra một sự xác định về nội dung của cái vì-lợi-ích-của, và chúng ta đã xác định được mục đích cuối cùng mang tính phiến diện ở mức độ cao nhất; đó là chủ nghĩa vị kỷ cực đoan, ảo tưởng rõ ràng nhất khi khẳng định rằng tất cả mọi hiện hữu, bao gồm cả tự nhiên, văn hóa và bất cứ thứ gì khác, chỉ tồn tại trong mỗi trường hợp vì cá nhân con người và những mục tiêu vị kỷ của hắn. Trên thực tế, nếu đây là ý nghĩa của luận điểm về Hữu thể luận của Dasein, thì quả thực đó là sự điên rồ. Nhưng vẫn không thể giải thích được tại sao lại cần có một phân tích về Dasein để khẳng định điều vô lý đến mức thái quá như vậy. Mặt khác, cuối cùng, Kant đã nói rằng con người tồn tại như một mục đích tự thân.

Nhưng mọi thứ cuối cùng không đơn giản như vậy nếu tuyên bố về bản chất, “Bản chất của Dasein là quan tâm đến Hữu thể của chính nó,” xuất hiện trong siêu hình học về Dasein. Trong trường hợp đó, sẽ hoàn toàn thừa thãi nếu người ta sửa lại tuyên bố bằng cách chỉ ra nhiều người đã hy sinh bản thân vì kẻ khác và chết trong tình bạn và tính cộng đồng với kẻ khác. Việc sửa lại tuyên bố theo cách này là thừa thãi, bởi vì sự sửa chữa như vậy sẽ sửa chữa điều gì đó không thể sửa chữa. Bởi vì tuyên bố đã nêu ở trên hoàn toàn không phải là một khẳng định ontic thực hữu luận cho rằng tất cả con người tồn tại trên thực tế đều sử dụng hoặc thậm chí nên sử dụng tất cả những gì xung quanh họ chỉ vì những mục đích ích kỷ riêng của họ. Tuyên bố Hữu thể luận, “Bản chất của Dasein là hữu thể của chính nó nằm ở việc vì-lợi-ích-của của nó,” không loại trừ việc con người thực sự quan tâm đến hữu thể của người khác; hơn nữa, tuyên bố Hữu thể luận này cung cấp cơ sở siêu hình cho cái khả tính vì bất cứ điều gì giống như Dasein có thể tồn tại cùng với những kẻ khác, vì họ và thông qua họ. Nói cách khác, nếu tuyên bố [tr.187] “Bản chất của Dasein là trong hữu thể của nó, nó quan tâm đến chính hữu thể này,” được đặt ở đầu một phân tích Hữu thể luận về Dasein và có liên hệ trực tiếp với tuyên bố về siêu việt, thì ngay cả một phương pháp luận sơ đẳng nhất cũng cần phải đặt câu hỏi liệu tuyên bố Hữu thể luận về bản chất này có hoặc có thể trình hiện một xác quyết thực hữu từ một thế giới quan rao giảng cái gọi là chủ nghĩa vị kỷ cá nhân hay không.

Tuyên bố này, và tất cả những tuyên bố liên quan đến nó, không đề cập đến chủ nghĩa vị kỷ hiện sinh, đạo đức, mà đúng hơn là đề cập đến mô tả Hữu thể luận-siêu hình về Egoitat tính vị kỷ của Dasein theo đúng nghĩa. Chỉ vì Dasein chủ yếu được xác định bởi tính vị kỷ nên nó mới có thể tồn tại trên thực tế như một ‘ngươi’ vì và với một Dasein khác. Cái ‘ngươi’ không phải là bản sao ontic thực hữu của một cái tôi thực tế; nhưng một ‘ngươi’ cũng không thể tồn tại theo đúng nghĩa và là chính nó với tư cách ‘ngươi’ đối với một cái tôi khác nếu nó hoàn toàn không phải là Dasein, tức là nếu nó không được đặt nền tảng trên tính vị kỷ. Tính vị kỷ thuộc về sự siêu việt của Dasein là điều kiện siêu hình cho khả tính tồn tại của một ‘ngươi’ có thể tồn tại và cho mối quan hệ ‘Ta-ngươi’ có thể tồn tại. Cái ‘ngươi’ cũng chính là ‘ngươi’ một cách trực tiếp nhất nếu nó không chỉ đơn thuần là một cái tôi khác, mà đúng ra thì ‘tự thân mày là’: Tuy nhiên, bản ngã này chính là sự tự do của nó, và sự tự do này đồng nhất với tính vị kỷ, mà trên cơ sở đó Dasein, trước hết, có thể là vị kỷ hoặc vị tha. Thật vậy, chính việc chúng ta có thể biến mối quan hệ ‘Ta–ngươi’ thành một vấn đề cho thấy rằng chúng ta đang vượt lên trên mỗi cái tôi thực tế và mỗi ‘ngươi’ thực tế, do đó chúng ta nắm bắt mối quan hệ ấy như một mối quan hệ của Dasein nói chung, tức là, chúng ta nắm bắt mối quan hệ trong tính trung lập siêu hình và tính vị kỷ của nó. Tất nhiên, chúng ta thường làm như vậy mà không hề nghi ngờ gì về những tiền đề mà mình coi là hiển nhiên. Cho dù phân tích về các mối quan hệ ‘Ta-ngươi’ có thể phong phú và thú vị đến đâu, thì nó cũng không thể giải quyết vấn đề siêu hình của Dasein, bởi vì nó thậm chí không thể đặt ra được vấn đề. Với cách tiếp cận đầu tiên, việc phân tích như vậy đã giả định, dưới một hình thức nào đó, toàn bộ phân tích về Dasein và liên tục khai thác nó. Ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau, vấn đề về mối quan hệ ‘Ta-ngươi’ đang thu hút sự quan tâm lớn đối với các quan-điểm-thế-giới. Có những vấn đề xã hội học, thần học, chính trị, sinh học và đạo đức coi trọng mối quan hệ ‘Ta-ngươi’; tuy nhiên, do đó mà các vấn đề triết học lại bị che khuất.

Ở đây, chúng ta thấy một khó khăn mới đặc trưng cho vấn đề chủ thể tính và cho mọi Hữu thể luận về Dasein. Khó khăn đầu tiên liên quan đến việc tách rời một cách bất hợp thức cái chủ thể khép kín khỏi tất cả các khách thể, quan điểm sai lầm cho rằng cách tiếp cận thiếu tính tiền đề nhất [tr.188] là cách tiếp cận bắt đầu với một chủ thể không có thế giới..Tuy nhiên, giờ đây cái khó khăn mà chúng ta đang xem xét lại liên quan đến quan điểm cho rằng một cách tiếp cận bắt đầu với một chủ thể, mặc dù cuối cùng là một chủ thể siêu việt, lại là một chủ thể luận cá nhân hơn, vị kỷ hơn; và càng biến hữu thể luận về Dasein thành một vấn đề và nhiệm vụ một cách triệt để, thì người ta càng phải chấp nhận chủ nghĩa cá nhân một cách cực đoan – chúng ta hãy sửa lại điều này - chủ nghĩa cá nhân đó dường như càng lấn át, cùng với khó khăn trong việc nắm giữ và duy trì ý hướng hữu thể luận. Nếu chúng ta nói “Dasein trong mỗi trường hợp về bản chất là của tôi”, và nếu nhiệm vụ của chúng ta là định nghĩa đặc trưng này của Dasein về mặt Hữu thể luận, thì điều đó vẫn không có nghĩa là chúng ta nên khảo sát bản chất tự ngã của tôi, với tư cách là cá nhân thực tế này, hoặc của một cá nhân cụ thể nào khác đã cho.   

Khách thể khảo sát không phải là bản chất tự ngã của tôi, mà là bản chất của tính của tôi và vị thế tự ngã theo đúng nghĩa. Tương tự, nếu ‘Tôi’ là đối tượng của sự diễn giải hữu thể luận, thì đây lại không phải là cái Tính-tôi cá nhân tự ngã của tôi, mà là cái Tính-tôi trong tính trung lập siêu hình của nó; chúng ta gọi cái Tính-tôi trung lập này là tính vị kỷ: Nhưng ở đây cũng có nguy cơ hiểu lầm. Người ta có thể nói, chẳng phải Tính-ngươi cũng phải trở thành một chủ đề và chẳng lẽ Tính-ngươi không được xem xét cùng với Tính-tôi như là Gleichursprünglich có tầm quan trọng ngang nhau sao? Đây chắc chắn là một vấn đề có thể xảy ra. Nhưng Tính-tôi, như một hiện tượng tương quan với Tính-ngươi, vẫn không phải là tính vị kỷ siêu hình. Ở đây, rõ ràng là thuật ngữ ‘Tôi’ luôn hướng đến sự cô lập cái tự ngã của tôi theo nghĩa tách rời tương ứng khỏi cái ngươi. Ngược lại, Tính-tôi không có nghĩa là cái tôi thực tế được phân biệt với cái ngươi; Đúng hơn, tính vị kỷ có nghĩa là cái Tình-tôi cũng là nền tảng của cái ngươi, điều này ngăn cản việc lý giải về cái ngươi một cách thực tế như một bản ngã khác. Nhưng tại sao ngươi không đơn giản là một bản ngã thứ hai? Bởi vì việc là một bản ngã, trái ngược với việc là một ngươi, hoàn toàn không liên quan đến bản chất của Dasein, tức là, bởi vì một ngươi chỉ là chính nó, xét về tự thân nó, và tương tự đối với cái ‘Tôi’. Do đó, tôi dùng thuật ngữ Selbstheit ngã tính cho cái Tinh-tôi siêu hình, cho tính vị kỷ. Đối với cái ‘tự ngã’, có thể nói về cả cái ‘Tôi’ và cái ‘ngươi’ như nhau: ‘Tôi-tự thân’, ‘ngươi-tự thân’, nhưng không phải ‘ngươi-Tôi’.

Vị thế tự ngã thuần túy, được hiểu là tính trung lập siêu hình của Dasein, đồng thời thể hiện sự cô lập siêu hình của Dasein trong Hữu thể luận, một sự cô lập không bao giờ được nhầm lẫn với sự phóng đại vị kỷ-độc tôn về cá nhân tính của chính mình. Tuy nhiên, trước đó chúng ta đã gợi ý (§ 10, mục 11) về cách thức mà cá nhân tính nhất thiết phải có chức năng cam kết. Bởi vì vị thế tự ngã là đặc tính cơ bản của tồn tại, nhưng tồn tại lại có nghĩa là, trong mỗi trường hợp, một năng-lực-tồn-tại, một trong những khả tính tồn tại phải phục vụ [tr.189] cho bộc lộ cụ thể về vị thế tự ngã Hữu thể luận, và vì lý do này, phương pháp sử dụng mô hình cực đoan đã được lựa chọn (xem Hữu thể và Thời gian §64). Tôi cũng không tin rằng vấn đề này và nhiệm vụ vốn có của nó sẽ được nhanh chóng lý giải hoặc nó sẽ phải được số đông hiểu rõ. Ngày nay những gì Hegel nói trong Lời tựa cho tác phẩm Hiện tượng học của ông thậm chí còn chính xác hơn so với thời của ông: “Không hề dễ chịu khi chứng kiến ​​sự ngu dốt, và sự thô thiển không hình thức hay thẩm mỹ, không thể tập trung suy nghĩ vào một mệnh đề trừu tượng duy nhất, huống chi là một chuỗi mệnh đề liên kết, lúc thì tự nhận là tự do tư tưởng và khoan dung, lúc khác thậm chí còn tự nhận là thiên tài.”11

Tồn tại vì chính nó là một sự xác định thiết yếu về Hữu thể của cái hiện hữu mà chúng ta gọi là Dasein. Cái cấu thành, mà chúng ta sẽ gọi tắt là ‘vì-lợi-ích-của’ này, cung cấp khả tính nội tại cho Hữu thể này là chính nó, tức là, cho cái vị thế tự ngã thuộc về Hữu thể của nó. Tồn tại bằng phương thức của một tự ngã có nghĩa là về cơ bản là hướng về chính mình. Hiện hữu hướng về chính mình cấu thành nên Hữu thể của Dasein và không phải là một cái gì đó giống như một năng lực bổ sung để quan sát bản thân vượt lên trên sự tồn tại đơn thuần. Tồn tại chính xác là thứ hữu thể hướng về chính mình này, chỉ có điều cái hữu thể hướng về chính mình ấy phải được hiểu trong phạm vi siêu hình đầy đủ của nó và không được giới hạn ở một số hoạt động hay năng lực nào đó hoặc bất kỳ phương thức hiểu biết nào như vậy như tri thức hay tổng giác. Hơn nữa, việc hướng tới bản thân như là một tự ngã lại là tiền đề cho các khả tính khác nhau của các mối quan hệ ontic thực hữu với chính mình. Hơn nữa, chỉ vì Hữu thể này, trong bản chất của nó được định nghĩa bởi vị thế tự ngã nên trong mỗi trường hợp, theo cách thực tế, nó mới có thể hiển nhiên lựa chọn chính mình như một tự ngã. Từ ‘có thể’ ở đây cũng bao gồm cả việc trốn tránh sự lựa chọn. Vậy thì điều gì được hàm ý bởi khả năng dựa trên bản ngã này, khả năng lựa chọn chính mình một cách rõ ràng hoặc trốn tránh sự lựa chọn? Về bản chất, điều gì được lựa chọn đồng thời trong quá trình lựa chọn bản thân một cách rõ ràng này?

Tuy nhiên, đây là nguồn gốc của ‘khả tính’ theo đúng nghĩa. Chỉ thông qua tự do, chỉ một hiện hữu tự do mới có thể, với tư cách là siêu việt, hiểu được Hữu thể - và nó phải làm như vậy để tồn tại theo đúng nghĩa, tức là để ‘ở giữa’ và ‘cùng với’ các hiện hữu. Nhiều lần chúng ta đã đề cập đến cách thức mà tất cả những tuyên bố siêu hình, hữu thể luận này đều dễ bị liên tục hiểu sai, [tr.190] phải được hiểu theo nghĩa ontic thực hữu và hiện sinh. Một lý do chính dẫn đến sự hiểu sai này nằm ở việc không giữ được chân trời siêu hình thích hợp của vấn đề. Và có một nguy cơ đặc biệt của điều này ở giai đoạn trình bày hiện tại của chúng ta. Chúng ta đã nói rằng Dasein tự chọn chính nó. Sau đó, người ta vô tình điền vào từ Dasein quan niệm thông thường về chủ thể cô lập, vị kỷ và sau đó diễn giải việc Dasein tự chọn chính nó như một sự co rút vị kỷ vào bản thân. Theo nghĩa siêu hình đích thực, chính xác là ngược lại. Dasein, và chỉ Dasein với tư cách là Dasein, mới nên tự chọn chính nó (Dasein). Nhiều lần, thậm chí đến mức nhàm chán, chúng ta đã chỉ ra rằng hiện hữu này, với tư cách Dasein, luôn luôn hiện hữu cùng với những hiện hữu khác và luôn luôn hiện hữu cùng với những hiện hữu không cùng bản chất với Dasein. Bằng siêu việt, Dasein siêu việt mọi hiện hữu, chính nó cũng như mọi hiện hữu cùng loại (cùng với Dasein) và mọi hiện hữu không cùng loại với Dasein. Khi tự lựa chọn, Dasein thực sự lựa chọn chính xác hiện-hữu-với của nó cùng những hiện hữu khác và chính xác sự hiện hữu của nó giữa những hiện hữu có đặc trưng khác biệt.

Trong tự lựa chọn rõ ràng, về bản chất có tự cam kết hoàn toàn, không phải đến nơi nó có thể chưa hiện hữu, mà đến nơi và cách thức nó luôn luôn hiện hữu, với tư cách là Dasein, trong chừng mực nó đã tồn tại. Mức độ mà điều này có thể diễn ra trong mỗi trường hợp không phải là vấn đề siêu hình học mà là vấn đề và sự việc của từng cá nhân. Chỉ vì Dasein có thể tự lựa chọn một cách rõ ràng dựa trên vị thế tự ngã của nó nên nó mới có thể cam kết với những hiện hữu khác. Và chỉ bởi vì, khi hướng tới chính nó như vậy, Dasein có thể hiểu bất cứ điều gì giống như một ‘tự ngã’, nên nó mới có thể chú ý đến một ‘tự-ngã-ngươi’. Chỉ bởi vì Dasein, được cấu thành bởi cái ‘vì-lợi-ích-của’, tồn tại trong vị thế tự ngã, nên chỉ vì lý do này mà bất cứ điều gì giống như cộng đồng nhân loại mới có thể tồn tại. Đây là những tuyên bố hiện sinh-bản thể luận cơ bản về bản chất, chứ không phải là những xác quyết đạo đức về thứ bậc tương đối của chủ nghĩa vị kỷ và chủ nghĩa vị tha. Được hình dung theo cách hiện sinh-bản thể luận, hiện tượng lựa chọn bản thân đích thực làm nổi bật, theo cách triệt để nhất, vị thế tự ngã siêu hình của Dasein, và điều này có nghĩa là siêu việt như là vượt lên trên hiện hữu của chính mình, vượt lên trên hiện hữu với tư cách hiện hữu cùng với những kẻ khác, và vượt lên trên các hiện hữu theo nghĩa của tự nhiên và các vật dụng hữu ích. Một lần nữa, ở đây chúng ta đang đề xuất, về mặt phương pháp luận, một mô hình hiện sinh-bản thể luận cực đoan. Lưu ý: Ở Kierkegaard có rất nhiều cuộc thảo luận về việc lựa chọn bản thân và cái cá nhân, và nếu nhiệm vụ của tôi là nói lại một lần nữa những gì Kierkegaard đã nói, thì điều đó sẽ không chỉ là một nỗ lực thừa thãi, mà về bản chất, nó nhất thiết sẽ tụt hậu so với Kierkegaard về mục đích của ông. Mục đích của ông không phải là mục đích của chúng ta, mà khác nhau về nguyên tắc, điều này không ngăn cản chúng ta [tr.191] học hỏi từ ông, nhưng buộc chúng ta phải học hỏi những gì ông mang lại. Nhưng Kierkegaard chưa bao giờ đi sâu vào khía cạnh của vấn đề này, bởi vì nó hoàn toàn không quan trọng đối với ông, và công việc của ông với tư cách là một tác giả có một mục đích cơ bản hoàn toàn khác, đòi hỏi những cách thức và phương tiện khác nhau.

Tuyên bố, “Vì-lợi-ích-riêng thuộc về bản chất của Dasein,” là một tuyên bố Hữu thể luận. Nó khẳng định điều gì đó về cấu thành thiết yếu của Dasein trong tính trung lập siêu hình của nó. Dasein tồn tại vì lợi ích riêng và ở đây, trong cái ‘vì-lợi-ích-của’, nằm nền tảng của khả tính tồn tại, vị kỷ hoặc phi vị kỷ, vì-lợi-ích-riêng-của-tôi. Nhưng ở đây, cũng như nguyên thủy, có cả nền tảng cho một cái vì-lợi-ích-của-kẻ- và vì mọi lý do thực hữu-cho. Là cấu thành nên vị thế tự ngã của Dasein, cái vì-lợi-ích-của có phạm vi phổ quát này. Nói cách khác, đó là điều mà Dasein, với tư cách hành động siêu việt, vươn tới. Trong bối cảnh tìm hiểu về siêu việt, chúng ta bắt đầu với vấn đề về thế giới và, thông qua lĩnh vực ý niệm và cái ἐπέκεινα τῆς οὐσίας epekeina tes ousias vượt ngoài bản chất, đã đối mặt với ‘vì-lợi-ích-của’, như là đặc tính cơ bản của thế giới. Cái ‘vì-lợi-ích-của’ này cần được hiểu là cấu trúc siêu hình của Dasein, tuy nhiên lại không liên quan đến việc một hiện hữu vẫn tồn tại thực tế thiết lập các mục tiêu vị kỷ cụ thể. Cần phải theo đuổi cái ‘vì-lợi-ích-của’ này một cách sắc bén hơn, như là cấu thành siêu hình và cấu trúc cơ bản của thế giới, sao cho đạt được hiểu biết về hiện-hữu-trong-thế-giới với tư cách siêu việt.

Cái vì-lợi-ích-của là thứ nằm trong và vì một ý chí. Nhưng ý chí ở đây không có nghĩa là hành động thực hữu của ý chí, mà đúng hơn là khả tính nội tại của ý chí: tự do. Trong tự do, cái gọi là vì-lợi-ích-của như vậy luôn luôn đã xuất hiện. Sự tự thể hiện của cái gọi là vì-lợi-ích-của nằm trong bản chất của tự do. Không có một cái gì đó giống như vì-lợi-ích-của vẫn tồn tại ở đâu đó, mà tự do chỉ có liên quan đến nó. Thay vào đó, tự do chính là nguồn gốc của cái gọi là vì-lợi-ích-của. Nhưng, một lần nữa, không phải theo cách mà trước tiên có tự do rồi sau đó mới có cái gọi là vì-lợi-ích-của. Thay vào đó, tự do là một với cái gọi là vì-lợi-ích-của. Ở đây việc một thứ được định nghĩa là tự do thực sự tự do đến mức nào, hoặc nó nhận thức được sự tự do của mình đến mức nào không phải là quan trọng. Ở đây không có gì nói về mức độ tự do của nó, hay chỉ là tự do tiềm ẩn, bị ràng buộc hoặc bị mê hoặc bởi kẻ khác hoặc bởi những hiện hữu không thuộc loại Dasein. Chỉ một sinh linh tự do mới có thể không tự do. Ở đây, cần phải loại bỏ khái niệm tự do khỏi quan điểm truyền thống, nơi nhấn mạnh tính tự phát chủ động, sua sponte, trái ngược với một chuỗi hành động máy móc mang tính bắt buộc. Nhưng sáng kiến ‘​​từ tự thân’ này vẫn không xác định nếu thiếu đi vị thế tự ngã.

[Tr.192] Và điều này có nghĩa là người ta phải đưa sự siêu việt trở lại với tự do; người ta phải tìm kiếm bản chất cơ bản của siêu việt trong tự do. Nói cách khác, thế giới được mô tả chủ yếu bởi cái vì-lợi-ích-của là tổng thể tính nguyên thủy của những gì mà Dasein, với tư cách là tự do, tự cho phép mình hiểu. Tự do tự cho phép mình hiểu; tự do là hiểu biết nguyên thủy, tức là phóng chiếu nguyên thủy của những gì mà chính tự do làm cho khả thể. Bằng phóng chiếu của cái vì-lợi-ích-của theo đúng nghĩa, Dasein tự cho mình cái Bindung quyền cam kết nguyên thủy. Tự do làm cho Dasein, trên nền tảng bản chất của nó, có verbindlich tính ràng buộc với chính nó, hay chính xác hơn, tự cho mình cái khả tính cam kết. Tổng thể tính của cam kết nằm trong cái vì-lợi-ích-của chính là thế giới. Với tư cách là kết quả của cam kết này, Dasein tự cam kết với năng lực hữu thể hướng tới chính nó như có thể hiện hữu với kẻ khác trong khả-năng-tồn-tại giữa những thứ vẫn tồn tại. Vị thế tự ngã là tính trách nhiệm tự do đối với chính mình. Là tự do, Dasein là sự phóng-chiếu-thế-giới. Nhưng hành động phóng chiếu này chỉ được thực hiện theo cách mà Dasein tự giữ mình trong đó và thực hiện điều đó sao cho việc nắm giữ tự do ràng buộc lấy Dasein, tức là, sao cho việc nắm giữ đó đặt Dasein, trong tất cả các chiều kích siêu việt của nó, vào một không gian trống khả thể cho lựa chọn. Bản thân tự do nắm giữ sự ràng buộc ngược lại với chính nó. Thế giới được duy trì trong tự do trái ngược với chính tự do. Thế giới là thành trì tự do của cái vì-lợi-ích-của của Dasein. Do đó, hiện-hữu-trong-thế-giới không gì khác hơn ngoài tự do, tự do không còn được hiểu là tính tự phát mà được định nghĩa bởi sự hình thành bản chất siêu hình của Dasein, mà chúng ta đã mô tả (chắc chắn là vẫn chưa được định nghĩa đầy đủ). Tuy nhiên, thành trì tự do của cái vì-lợi-ích-của với tư cách siêu việt, có đặc tính nhảy vọt qua mọi hiện hữu thực sự và thực tế, như đã được chỉ ra trước đó.

Thế giới, như là tổng thể tính của các khả tính nội tại thiết yếu của Dasein, với tư cách là siêu việt, vượt lên trên tất cả các hiện hữu thực sự. Bất cứ khi nào và bằng bất cứ cách nào chạm trán với chúng, các hiện hữu thực sự luôn tự bộc lộ - chính xác là khi chúng được bộc lộ như là bản chất vốn có của chúng - chỉ như một sự hạn chế, như một hiện thực hóa khả thể của cái khả thể, như là thiếu hụt từ sự dư thừa các khả tính, trong đó Dasein luôn duy trì bản thân như một sự phóng chiếu tự do. Dasein tự nó là dư thừa, tức là được định nghĩa bởi một tính bất mãn nguyên thủy đối với các hiện hữu - cả về phương diện siêu hình học lẫn hiện sinh, trong sự cá thể hóa thực tế. Tính bất mãn nguyên thủy này có thể được nhìn thấy trong một hành vi thực hữu, hiện sinh nhất định. Chỉ trên cơ sở của tính bất mãn mới có thể có bất kỳ sự an phận nào, bất kỳ sự bình yên hay bất mãn hiện sinh nào. Tính bất mãn hiện sinh không nên bị nhầm lẫn với tính bất mãn theo nghĩa siêu hình học. Bản chất của tự do, vượt lên trên mọi hiện hữu cụ thể [tr.193] và thực tế, đặc tính vượt trội của nó, cũng có thể được nhìn thấy một cách đặc biệt trong tuyệt vọng, nơi sự thiếu tự do của chính mình nhấn chìm một Dasein trong tự thân. Tình trạng thiếu tự do hoàn toàn thực tế này tự nó là một minh chứng cơ bản cho siêu việt, bởi vì tuyệt vọng nằm ở tầm nhìn của kẻ tuyệt vọng về bất khả tính của một điều gì đó khả thể. Kẻ như vậy vẫn chứng kiến ​​cái khả thể, chừng nào hắn còn tuyệt vọng về nó.

Việc vượt lên của các hiện hữu thực tại ngẫu nhiên vốn là đặc thù của thế giới theo đúng nghĩa, và do đó, tương ứng với sự siêu việt và tự do, chính là cái ἐπέκεινα epekeina vượt ra ngoài. Nói cách khác, thế giới tự thân nó là vượt lên; các hiện hữu mang đặc tính của Dasein được phân biệt bởi sự vượt lên hoặc Uberschwung elan đà sống; thế giới là sự phản kháng vượt trội tự do của cái vì-lợi-ích-của. Chỉ khi Dasein trong bản chất siêu hình của nó, tự do thể hiện cái vì-lợi-ích-của của chính nó, vượt qua chính nó, thì Dasein mới trở thành, như một sự vươn lên hướng tới cái khả thể, cái cơ hội (từ quan điểm siêu hình) để các hiện hữu xuất hiện như những hiện hữu. Các hiện hữu mang bản chất của Dasein phải tự khai mở với tư cách tự do, nghĩa là, thế giới phải được giữ vững trong sự vươn lên, một hiện hữu phải được cấu thành như là hiện-hữu-trong-thế- giới, với tư cách siêu việt, nếu bản thân hiện hữu đó và các hiện hữu nói chung muốn trở nên minh nhiên theo đúng nghĩa. Do đó, Dasein, khi được nhìn nhận về phương diện siêu hình học như là hiện-hữu-trong-thế-giới này, xét về mặt thực tại, không gì khác hơn là khả tính tồn tại để các hiện hữu có thể bước vào thế giới. Khi, trong vũ trụ của các hiện hữu, một hiện hữu được seiender hiện hữu nhiều hơn trong sự tồn tại của Dasein, tức là Zeitlichkeit sich zeitigt thời tính tự thời gian hóa, chỉ khi đó các hiện hữu mới có cơ hội bước vào thế giới. Hơn nữa, việc bước vào thế giới mang lại khả tính bộc lộ cho các hiện hữu.

Trước khi tiếp tục làm rõ tính siêu việt trong khả tính nội tại của nó, để rồi thấy được tính nguồn cội của bản chất nền tảng trong tính siêu việt, trước tiên chúng ta phải làm cho tính siêu việt dễ hiểu hơn bằng cách mô tả ngắn gọn cuộc bước vào thế giới. Cho đến khi chúng ta đã thành công trong việc làm rõ tính siêu việt, thì còn một điều cần phải được minh định. Thế giới không có nghĩa là các hiện hữu, cũng không phải là các khách thể riêng lẻ hay tổng thể tính các khách thể đứng đối diện với một chủ thể. Bất cứ khi nào người ta muốn diễn đạt tính siêu việt như một mối quan hệ chủ thể-khách thể, đặc biệt là trong trào lưu chủ nghĩa hiện thực triết học, người ta thường đưa ra luận điểm cho rằng chủ thể luôn luôn đã giả định trước ‘thế giới’, và bằng điều đó, người ta muốn nói đến việc chúng là các khách thể. Chúng tôi cho rằng luận điểm này còn xa mới nhìn thấy hiện tượng siêu việt thực sự và càng xa hơn nữa mới nói được điều gì về nó. Điều đó có nghĩa là gì khi nói rằng chủ thể ‘giả định trước’ khách thể [tr.194], ‘giả định trước’ những khách thể này là gì? Không có ý nghĩa khả tri nào để kết nối với tuyên bố này, ngoài thực tế là chúng ta không bao giờ bắt gặp bất kỳ sự giả định trước nào như vậy. Có phải điều đó có nghĩa là ‘chúng ta’ đưa ra giả định trước rằng các đối tượng là gì? Theo một quy định nào đó? Chúng ta có quyền gì để đưa ra giả định đó? Làm thế nào mà chúng ta lại có được giả định đó ngay từ đầu? Nhưng lại chỉ dựa trên giả định về chủ thể bị cô lập. Và liệu những hiện hữu cụ thể đó có tự thể hiện mình như vậy với chúng ta thứ mà chúng ta chỉ cho phép tồn tại vì lòng tốt, như thể là vậy? Không hề có dấu vết của bất kỳ giả định trước nào như vậy. Và chỉ có một điều thích hợp trong tất cả những lời bàn luận về việc giả định ‘thế giới’, giả định các khách thể, đó là cái mà Dasein thực tế tồn tại luôn luôn đã gặp gỡ những sự vật vẫn tồn tại, đã luôn luôn gặp gỡ các hiện hữu từ trước. Nhưng các hiện hữu và sự hiện hữu từ trước của chúng không dựa trên một giả định; cũng không dựa trên một kết nối siêu hình: hã giả định các hiện hữu đang hiện diện và sau đó chúng ta muốn cố gắng tồn tại giữa chúng. Chính sự gặp gỡ với những sự vật vẫn tồn tại mâu thuẫn mạnh mẽ với việc chúng ta đã giả định chúng tồn tại. Ngược lại, nó ngụ ý rằng, với tư cách là những kẻ vẫn tồn tại, chúng ta không cần phải giả định các đối tượng từ trước.

Dù sao đi nữa, các hiện hữu (những sự vật vẫn tồn tại) sẽ không bao giờ được chạm trán nếu chúng không có cơ hội bước vào một thế giới. Do đó, chúng ta đang nói về sự xuất hiện khả thể và ngẫu nhiên của các hiện hữu vào thế giới. Khi nào và bằng cách nào khả tính này được hiện thực hóa? Việc bước vào thế giới không phải là một quá trình của các thực thể vẫn tồn tại, theo nghĩa các hiện hữu trải qua một thay đổi và thông qua thay đổi này mà bước vào thế giới. Việc gia nhập thế giới của the extant thực thể vẫn tồn tại là ‘một điều gì đó’ xảy ra với nó. Gia nhập thế giới mang đặc trưng xảy ra, đặc trưng của lịch sử. Gia nhập thế giới xảy ra khi siêu việt xảy ra, tức là khi Dasein lịch sử tồn tại. Chỉ khi đó thì sự hiện-hữu-trong-thế-giới của Dasein mới tồn tại. Và chỉ khi Dasein tồn tại, thì các sự vật vẫn tồn tại cũng đã gia nhập thế giới, tức là trở nên có tính trần thế. Và chỉ có Dasein, với tư cách đang tồn tại, mới cung cấp cơ hội cho sự gia nhập thế giới. Do đó, Innerweltlichkeit, tính-hiện-hữu-trong-thế-giới không phải là một thuộc tính vẫn tồn tại của chính các sự vật vẫn tồn tại. Các sự vật vẫn tồn tại là những thực thể thuộc loại sự vật vốn vậy, ngay cả khi chúng không trở nên nội tại trong thế giới, ngay cả khi sự đi vào thế giới không xảy ra với chúng và hoàn toàn không có cơ hội cho điều đó. Tính nội tại trong thế giới không thuộc về bản chất của các sự vật hiện hữu như vậy, mà nó chỉ là điều kiện tiên nghiệm, theo nghĩa nguyên thủy, cho khả tính của các sự vật vẫn tồn tại có thể xuất hiện như chúng vốn có. Điều đó có nghĩa là điều kiện để kinh nghiệm và nhận thức của Dasein đang tồn tại như chúng vốn có.

[Tr.195] Gia nhập thế giới và sự xuất hiện của nó không phải là tiền đề để những sự vật vẫn tồn tại trở nên tồn tại đầu tiên và gia nhập cái tự hiện thân với chúng ta như là tính vẫn tồn tại của nó và cái mà chúng ta hiểu theo đúng nghĩa. Thay vào đó, gia nhập-thế giới và sự xuất hiện của nó chỉ là tiền đề để những sự vật vẫn tồn tại tự tuyên bố sự tồn tại của chúng bằng việc chúng không cần sự nhập thế liên quan đến Hữu thể của riêng chúng. Với tư cách hiện-hữu-trong-thế-giới, Dasein siêu vượt, trong mỗi trường hợp đều thực sự cung cấp cho các hiện hữu cơ hội nhập thế, và cung ứng này từ phía Dasein không gì khác ngoài việc siêu vượt. Tuy nhiên, nếu cái Innerweltlichkeit tính-hiện-hữu-trong-thế-giới không phải là một thuộc tính của những sự vật vẫn tồn tại trong thế giới với tư cách kẻ vẫn tồn tại, vậy thì nó thuộc về đâu và nó tự thân tồn tại như thế nào? Rõ ràng nó thuộc về thế giới và chỉ tồn tại cùng với nó; nó chỉ xảy ra chừng nào tình trạng hiện-hữu-trong-thế-giới xảy ra. Thế giới có đó chỉ khi Dasein tồn tại, nhưng thế giới không mang ‘tính chủ thể’ sao? Thực tế là có! Ở thời điểm này, người ta không được phép tái khẳng định khái niệm ‘chủ thể’ mang tính chủ quan luận chung. Thay vào đó, nhiệm vụ là nhận ra rằng hiện-hữu-trong-thế-giới, với tư cách kẻ tồn tại vốn cung cấp cho các sự vật vẫn tồn tại lcon đường nhập thế, làm biến đổi một cách cơ bản khái niệm chủ thể tính và khái niệm cái mang tính chủ thể.

Khi Dasein tồn tại, sự nhập thế cũng đồng thời xảy ra cùng với nó, và nó đã xảy ra theo cách mà các sự vật vẫn tồn tại khi gia nhập vào đó về nguyên tắc không trải qua bất cứ điều gì. Chúng vẫn hoàn toàn không bị chạm tới, đến mức chính nhờ nhập thế mà về phần mình Dasein có thể tiếp cận, gặp gỡ và chạm vào chúng. Nhưng nếu cái nhập vào thế giới mà không trải qua bất cứ điều gì trong quá trình nhập thế, thì bản thân thế giới có phải là hư vô? Thực tế, thế giới là hư vô - nếu ‘hư vô’ có nghĩa: không phải là một hiện hữu theo nghĩa của một cái gì đó vẫn tồn tại; cũng là ‘hư vô’ theo nghĩa của không-vật, không phải là một trong những hiện hữu mà chính Dasein siêu việt theo đúng nghĩa; nhưng Dasein cũng siêu việt chính bản thân nó. Thế giới: một hư vô, không hiện hữu - và vẫn là một cái gì đó; không có gì thuộc về các hiện hữu - mà chỉ có hữu thể. Như vậy, thế giới không phải là hư vô theo nghĩa của ‘nihil negativum’ hư vô phủ định. Thế giới và cuối cùng là hiện-hữu-trong-thế-giới tự thân là loại ‘hư vô’ nào? Ở đây, chúng ta gặp phải câu hỏi về khả tính nội tại của tự thân siêu việt, của hiện-hữu-trong-thế-giới như là sự vươn lên hướng tới một thành trì vượt trội, trong đó Dasein tự nhận biết chính mình trong bản chất siêu hình của nó, để tự ràng buộc một cách nguyên thủy với tư cách tự do trong cuộc tự-lý-giải này. Tôi khẳng định rằng khả tính nội tại của siêu việt chính là thời gian, với tư cách thời tính nguyên thủy!

_______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

11. Werke (Vollst. Ausg. durch e. Verein v. Freunden des Verewigten), volume 2, edited by J. Schulze (Berlin, 1832), p. 54. [Philosophische Bibliotek, volume 114, 6th edition, Hamburg, 1952, edited by J. Hoffmeister, p. 55.]