Powered By Blogger

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (II)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III. Định nghĩa triết học theo Aristotle

[Tr.9] Giờ đây, việc minh định mang tính triết học cái ý tưởng về triết học với tư cách hồi tưởng và tập trung vào hiện tại có thể tự nó đi theo nhiều hướng khác nhau. Gần gũi nhất là xác định triết học bằng cách phân biệt nó với các khoa học phi triết học. Xét cho cùng, mối liên hệ mà triết học có được với các khoa học, bất chấp những biến đổi chi tiết, luôn là một mối liên hệ sống động, bởi vì đó là một mối liên hệ thiết yếu. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn đi theo con đường này, vì vấn đề về mối liên hệ giữa triết học và các khoa học thực chứng sẽ cuốn lấy chúng ta trong chính bản thân logic. Thay vào đó, chúng ta sẽ bắt đầu từ một ‘định nghĩa’ trực tiếp về triết học do Aristotle đưa ra. Và chúng ta chọn chính xác hướng tiếp cận này bởi vì, trong tư tưởng cổ đại, các vấn đề triết học cơ bản có thể hiểu được trong tính nguyên gốc của chúng - điều này không có nghĩa là tất cả các vấn đề cơ bản đều đã được đặt ra. Trên thực tế, triết học cổ đại là một khởi đầu khổng lồ, và như vậy nó chứa đựng trong mình một kho tàng những khả tính thực sự còn chưa được phát triển và một phần hoàn toàn ẩn kín. Tính nguyên gốc và chắc chắn của thời cổ đại tương ứng với sự lan man, thiếu định hướng về tâm lý học của triết học đương đại. Tóm lại, tính nguyên gốc của thời cổ đại tương ứng với nhu cầu hiện tại là đưa các vấn đề trở lại sự đơn giản; chỉ bằng cách này, bóng dáng của chúng mới có thể trở nên sắc nét.

[Tr.10] Hơn nữa, chúng ta chọn Aristotle trong triết học cổ đại vì ông đại diện cho đỉnh cao của sự phát triển triết học cổ đại đích thực. Nhưng bởi vì triết học là nỗ lực tự do triệt để nhất của sự hữu hạn của con người, nên về bản chất nó hữu hạn hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác. Bản thân Aristotle còn xa mới đạt được sự hoàn thiện hay thậm chí là tính minh bạch cuối cùng về những gì đã đạt được. Điều này được thể hiện ngay trong cách ông mô tả triết học. [Ghi chú dài về Siêu hình học Aristotle: Ἔστιν ἐπιστήμη τις ἣ θεωρεῖ τὸ ὂν ᾗ ὂν καὶ τὰ τούτῳ ὑπάρχοντα καθ' αὑτό. αὕτη δ' ἐστὶν οὐδεμιᾷ τῶν ἐν μέρει λεγομένων ἡ αὐτή οὐδεμία γὰρ τῶν ἄλλων ἐπισκοπεῖ καθόλου περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὄν, ἀλλὰ μέρος αὐτοῦ τι ἀποτεμόμεναι περὶ τούτου θεωροῦσι τὸ συμβεβηκός, οἷον αἱ μαθηματικαὶ τῶν ἐπιστημῶν. ἐπεὶ δὲ τὰς ἀρχὰς καὶ τὰς ἀκροτάτας αἰτίας ζητοῦμεν, δῆλον ὡς φύσεώς τινος αὐτὰς ἀναγκαῖον εἶναι καθ' αὑτήν. εἰ οὖν καὶ οἱ τὰ στοιχεῖα τῶν ὄντων ζητοῦντες ταύτας τὰς ἀρχὰς ἐζήτουν, ἀνάγκη καὶ τὰ στοιχεῖα τοῦ ὄντος εἶναι μὴ κατὰ συμβεβηκὸς ἀλλ' ᾗ ὄν διὸ καὶ ἡμῖν τοῦ ὄντος ᾗ ὂν τὰς πρώτας αἰτίας ληπτέον. Τὸ δὲ ὂν λέγεται μὲν πολλαχῶς, ἀλλὰ πρὸς ἓν καὶ μίαν τινὰ φύσιν καὶ οὐχ ὁμωνύμως ἀλλ' ὥσπερ καὶ τὸ ὑγιεινὸν ἅπαν πρὸς ὑγίειαν, τὸ μὲντῷ φυλάττειν τὸ δὲ τῷ ποιεῖν τὸ δὲ τῷ σημεῖον εἶναι τῆς ὑγιείας τὸ δ' ὅτι δεκτικὸν αὐτῆς, καὶ τὸ ἰατρικὸν πρὸς ἰατρικήν (τὸ μὲν γὰρ τῷ ἔχειν ἰατρικὴν λέγεται ἰατρικὸν τὸ δὲ τῷ εὐφυὲς εἶναι πρὸς αὐτὴν τὸ δὲ τῷ ἔργον εἶναι τῆς ἰατρικῆς), ὁμοιοτρόπως δὲ καὶ ἄλλα ληψόμεθα λεγόμενα τούτοις,–οὕτω δὲ καὶ τὸ ὂν λέγεται πολλαχῶς μὲν ἀλλ' ἅπαν πρὸς μίαν ἀρχήν τὰ μὲν γὰρ ὅτι οὐσίαι, ὄντα λέγεται, τὰ δ' ὅτι πάθη οὐσίας, τὰ δ' ὅτι ὁδὸς εἰς οὐσίαν ἢ φθοραὶ ἢ στερήσεις ἢ ποιότητες ἢ ποιητικὰ ἢ γεννητικὰ οὐσίας ἢ τῶν πρὸς τὴν οὐσίαν λεγομένων, ἢ τούτων τινὸς ἀποφάσεις ἢ οὐσίας διὸ καὶ τὸ μὴ ὂν εἶναι μὴ ὄν φαμεν. καθάπερ οὖν καὶ τῶν ὑγιεινῶν ἁπάντων μία ἐπιστήμη ἔστιν, ὁμοίως τοῦτο καὶ ἐπὶ τῶν ἄλλων. οὐ γὰρ μόνον τῶν καθ' ἓν λεγομένων ἐπιστήμης ἐστὶ θεωρῆσαι μιᾶς ἀλλὰ καὶ τῶν πρὸς μίαν λεγομένων φύσιν καὶ γὰρ ταῦτα τρόπον τινὰ λέγονται καθ' ἕν. δῆλον οὖν ὅτι καὶ τὰ ὄντα μιᾶς θεωρῆσαι ᾗ ὄντα. πανταχοῦ δὲ κυρίως τοῦ πρώτου ἡ ἐπιστήμη, καὶ ἐξ οὗ τὰ ἄλλα ἤρτηται, καὶ δι' ὃ λέγονται. εἰ οὖν τοῦτ' ἐστὶν ἡ οὐσία, τῶν οὐσιῶν ἂν δέοι τὰς ἀρχὰς καὶ τὰς αἰτίας ἔχειν τὸν φιλόσοφον.

Phiên bừa: Có một ἐπιστήμη lĩnh vực tri thức nhất định nghiên cứu về bản thể như bản thể và các thuộc tính tất yếu thuộc về bản thể. 295. Lĩnh vực tri thức này không giống với bất kỳ lĩnh vực tri thức nào được gọi là tri thức chuyên biệt; vì không có lĩnh vực tri thức nào khác cố gắng nghiên cứu bản thể như bản thể nói chung, mà chỉ tách ra một phần của nó để nghiên cứu các thuộc tính ngẫu nhiên của phần đó. Ví dụ, đó là điều mà các lĩnh vực toán học thực hiện. Vậy là, vì chúng ta đang tìm kiếm các nguyên tắc và nguyên nhân tối hậu của sự vật, nên rõ ràng là chúng phải tự thân là nguyên nhân của một bản chất nào đó. Do đó, nếu những người đi trước chúng ta tìm kiếm các yếu tố của bản thể/hữu thể/tồn tại đã tìm kiếm những nguyên tắc này, thì chúng phải là các yếu tố của bản thể/hữu thể/tồn tại không phải một cách ngẫu nhiên mà là vì chúng là bản thể/hữu thể/tồn tại. Do đó, chính trong bản thể/hữu thể/tồn tại như là bản thể/hữu thể/tồn tại mà chúng ta cũng phải nắm bắt được những nguyên nhân đầu tiên. Thuật ngữ ‘bản thể’ được sử dụng theo nhiều nghĩa, nhưng đều liên quan đến một sự vật và một bản chất nào đó chứ không phải một cách mơ hồ. Như vậy, mọi thứ lành mạnh đều liên quan đến sức khỏe, thứ này liên quan vì nó bảo vệ sức khỏe, thứ khác liên quan vì nó tạo ra sức khỏe, thứ khác nữa liên quan vì nó là chỉ dấu của sức khỏe (như nước tiểu), rồi thứ khác nữa cũng liên quan vì nó bổ sung thêm sức khỏe. Theo cách tương tự, thuật ngữ ἰατρικὸν ‘chữa bệnh’ cũng liên quan tương tự đến ἰατρικήν [ἰατρικήνiatrikēn, là một từ tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là y học, thuật chữa bệnh, hoặc thuộc về y tế, từ căn: ἰατρική iatrikē - danh từ giống cái; ἰατρικήν là dạng đối cách số ít, thường được sử dụng làm tân ngữ trong câu (ví dụ ‘học ngành y’, ‘thực hành y học’- HHN] ‘y thuật’; một thứ được gọi là ‘y tế, y học’ là có liên quan vì nó sở hữu y thuật, thứ khác liên quan vì nó tiếp nhận y thuật, và thứ khác nữa liên quan vì nó là hành động của những người sở hữu y thuật. Chúng ta có thể đưa ra những từ khác được sử dụng theo cách tương tự. Và tương tự như vậy, có nhiều nghĩa mà thuật ngữ τὸ ὂν ‘tồn tại/bản thể/hữu thể’ [τὸ ὄν là một thuật ngữ triết học Hy Lạp cổ đại, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là ‘cái đang là’, ‘bản thể’, ‘hữu thể’ hoặc ‘tồn tại’;  τὸ tò - mạo từ trung tính, tương đương với ‘the’ trong tiếng Anh, chỉ một sự vật, cái gì đó; ὄν (on) là phân từ hiện tại của động từ εἰμί eimi là, tồn tại, có nghĩa là ‘đang là’, ‘đang tồn tại’, kết hợp lại τὸ ὂν biểu nghĩa ‘cái đang tồn tại’, ‘thực thể’; cấu trúc đặc biệt - Ego eimi: cụm từ ‘ἐγώ εἰμι’ Ego eimi, có nghĩa là ‘Ta là/Tôi là’; chia động từ thì hiện tại: εἰμί eimí - Tôi là; εἶ ei - Bạn là; ἐστί(ν) esti[n] - Anh ấy/Cô ấy/Nó là; ἐσμέν esmen - Chúng tôi là; ἐστέ este - Các bạn là; εἰσί(ν) eisi[n] - Họ là; τὸ ὂν là một khái niệm nền tảng trong siêu hình học và bản thể luận, đặc biệt quan trọng trong triết học của Plato và Aristotle - HHN] được sử dụng, nhưng mỗi nghĩa đều quy về một nguyên tắc đầu tiên. Bởi vì một số sự vật được gọi là tồn tại vì chúng là chất; những thứ khác được gọi là tồn tại vì chúng là ảnh hưởng của chất; những thứ khác nữa được gọi là tồn tại vì chúng là một quá trình hướng tới chất, hoặc sự hư  hỏng, thiếu hụt, hoặc phẩm chất của chất, hoặc vì chúng là nguyên tắc sản xuất hoặc tạo sinh ra chất, hoặc của những thứ có liên quan đến chất, hoặc sự phủ định của một số trong số này hoặc của chất. Chính vì lý do này mà ngay cả khi nói về phi-tồn tại, chúng ta cũng nói rằng nó là phi tồn tại. Như vậy, vì có một lĩnh vực tri thức nghiên cứu tất cả những sự vật lành mạnh, nên điều tương tự cũng áp dụng cho các trường hợp khác. Bởi vì không chỉ trong trường hợp những sự vật có cùng một khái niệm chung thì việc nghiên cứu thuộc về một lĩnh vự tri thức học duy nhất, mà còn trong trường hợp những sự vật có liên quan đến cùng một bản chất chung; bởi vì ngay cả những sự vật này, theo một nghĩa nào đó, cũng có cùng một khái niệm chung. Rõ ràng là, việc khảo sát tất cả những sự vật tồn tại, xét về bản chất, cũng là công việc của một lĩnh vực tri thức học duy nhất. —Nhưng ở khắp mọi nơi, tri thức học chủ yếu nghiên cứu những cái cơ bản, là nền tảng của những sự vật khác, và nhờ đó mà chúng có tên gọi. Nếu đây là bản chất, thì nhà triết học phải nắm bắt các nguyên tắc và nguyên nhân của cái bản chất đó. Theo Αριστοτέλης, η Μεταφυσική: Βιβλίο Δ - Aristote, Siêu hình học: Quyển Δ (IV):   4.1–4.2 1003a21–1003b19-HHN]

Aristotle gọi khoa học này là Φιλοσοφία Πρώτη (Triết học Thứ nhất) (Meta. El, 1026a 30), triết học về cái thứ nhất, triết học bậc nhất, theo nghĩa chân thực. Ông lặp lại đặc điểm này: Meta. El, 1026a 31f: «καὶ περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὄν, ταύτης ἂν εἴη θεωρῆσαι, καὶ τί ἐστι καὶ τὰ ὑπάρχοντα ᾗ ὄν» 1511 (Meta. El, 1026a 31f). “Và nhiệm vụ của khoa học này là tìm hiểu các tồn tại/hiện hữu với tư cách hữu thể, minh định nó (về mặt này) là gì và những gì thuộc về nó, theo đúng nghĩa.” [Đoạn đầy đủ là: Η φράση «καὶ περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὄν, ταύτης ἂν εἴη θεωρῆσαι, καὶ τί ἐστι καὶ τὰ ὑπάρχοντα ᾗ ὄν» προέρχεται από τα Μετὰ τὰ Φυσικά του Αριστοτέλους (Βιβλίο Γ, 1003a) και αποτελεί τον θεμελιώδη ορισμό της «Πρώτης Φιλοσοφίας» ή οντολογίας.  Σημαίνει: «Και [η επιστήμη αυτή] είναι δουλειά της να θεωρήσει [να μελετήσει] το ον ως ον, τόσο το τι είναι [την ουσία/ουσία] όσο και τα χαρακτηριστικά που ανήκουν σε αυτό ως ον». Đoạn văn “và liên quan đến các hiện hữu với tư cách tồn tại/hữu thể/bản thể, nếu điều đó được xem xét, thì cái là và cái tồn tại là  hữu thể/bản thể” xuất phát từ siêu hình học Aristotle (Aristotle’s Metaphysics (Book III, 1003a) và cấu thành định nghĩa ‘Triết học Thứ nhất’ hoặc Bản thể học. Điều đó có nghĩa là: “Và [khoa học này] chính là lĩnh vực để xem xét [nghiên cứu] tồn tại là hữu thể, kể cả cái nó là [cái bản chất/vật chất] và các đặc điểm thuộc về nó với tư cách tồn tại.” ]

Mô tả triết học này có vẻ cực kỳ trừu tượng và trống rỗng: sự tìm hiểu về các hiện hữu như là hữu thể!. Điều muốn nói không phải là việc khảo sát về hiện hữu này hay hiện hữu kia, vật này, hòn đá này, cây này và con vật này, con người này, cũng không phải là khảo sát về tất cả các vật thể vật chất, tất cả thực vật, động vật, con người – mà trong mỗi trường hợp đó sẽ là khảo sát về một vùng cụ thể của cái đang tồn tại, của hữu thể. Nhưng Aristotle cũng không nói rằng triết học là việc tìm hiểu về tất cả các hữu thể được xem xét một cách tổng thể, tất cả các vùng này được xem xét cùng nhau. Thay vào đó, điều cần được khảo sát là cái τὸ ὂν ᾗ ὂν tò on hēi on các hiện hữu liên quan đến hữu thể, tức là chỉ liên quan đến điều làm cho một hiện hữu thể trở thành hữu thể đó: hiện hữu. Tri thức bậc nhất, tức là tri thức về cái đầu tiên, là tri thức về hữu thể. Nhưng ý nghĩa của ‘tồn tại/ hiện hữu’ dường như vẫn còn mơ hồ. Chúng ta không thể hình dung bất cứ điều gì dưới thuật ngữ này. Một tồn tại/ hiện hữu, hiện hữu này hay hiện hữu kia, chắc chắn chúng ta có thể đặt nó trước mắt mình - nhưng hữu thể thì sao? Tuy nhiên, Aristotle chắc chắn không khẳng định rằng tồn tại/hiện hữu đã hoàn toàn rõ ràng; ông nói rằng chính điều này cần được đặt câu hỏi. Đó là một vấn đề. Vấn đề của triết học là đặt câu hỏi này một cách đúng đắn và giải thích điều gì thuộc về hữu thể theo đúng nghĩa. Hữu thể với tư cách là chủ đề của triết học quả thực rất mơ hồ. Nó chỉ có thể được nói theo cách phủ định: đối tượng của triết học là không có gì thuộc về các hiện hữu với tư cách là một hiện hữu cụ thể.

Tuy thế nhưng Aristotle lại đồng thời nói về triết học chân thực với tư cách là θεολογίκή theologiké mang tính thần học (φιλοσοφία triết học) (Meta. Ibid., 1026a 18ff.). Điều đó liên quan đến cái αἴτια τοῖς φανεροῖς τῶν θείων aítia toîs phaneroîs tôn theíon những nguyên nhân/lý do đối với những biểu hiện của tự thân cái linh thiêng. Ông viết: εἰ δέ τί ἐστιν ἀΐδιον καὶ ἀκίνητον καὶ χωριστόν, φανερὸν ὅτι θεωρητικῆς τὸ γνῶναι, οὐ μέντοι φυσικῆς γε (περὶ κινητῶν γάρ τινων ἡ φυσική) οὐδὲ μαθηματικῆς, ἀλλὰ προτέρας ἀμφοῖν. ἡ μὲν γὰρ φυσικὴ περὶ χωριστὰ μὲν ἀλλ᾽ οὐκ ἀκίνητα, τῆς δὲ μαθηματικῆς ἔνια περὶ ἀκίνητα μὲν οὐ χωριστὰ δὲ ἴσως ἀλλ᾽ ὡς ἐν ὕλῃ: ἡ δὲ πρώτη καὶ περὶ χωριστὰ καὶ ἀκίνητα. ἀνάγκη δὲ πάντα μὲν τὰ αἴτια ἀΐδια εἶναι, μάλιστα δὲ ταῦτα: ταῦτα γὰρ αἴτια τοῖς φανεροῖς τῶν θείων. ὥστε τρεῖς ἂν εἶεν φιλοσοφίαι θεωρητικαί, μαθηματική, φυσική, θεολογική ὥστε τρεῖς ἂν εἶεν φιλοσοφίαι θεωρητικαί, μαθηματική, φυσική, θεολογική (οὐ γὰρ ἄδηλον ὅτι εἴ που τὸ θεῖον ὑπάρχει, ἐν τῇ τοιαύτῃ φύσει ὑπάρχει), καὶ τὴν τιμιωτάτην δεῖ περὶ τὸ τιμιώτατον γένος εἶναι. αἱ μὲν οὖν θεωρητικαὶ τῶν ἄλλων ἐπιστημῶν αἱρετώταται, αὕτη δὲ τῶν θεωρητικῶν. ἀπορήσειε γὰρ ἄν τις πότερόν ποθ᾽ ἡ πρώτη φιλοσοφία καθόλου ἐστὶν ἢ περί τι γένος καὶ φύσιν τινὰ μίαν (οὐ γὰρ ὁ αὐτὸς τρόπος οὐδ᾽ ἐν ταῖς μαθηματικαῖς, ἀλλ᾽ ἡ μὲν γεωμετρία καὶ ἀστρολογία περί τινα φύσιν εἰσίν, ἡ δὲ καθόλου πασῶν κοινή): εἰ μὲν οὖν μὴ ἔστι τις ἑτέρα οὐσία παρὰ τὰς φύσει συνεστηκυίας, ἡ φυσικὴ ἂν εἴη πρώτη ἐπιστήμη: εἰ δ᾽ ἔστι τις οὐσία ἀκίνητος, αὕτη προτέρα καὶ φιλοσοφία πρώτη, καὶ καθόλου οὕτως ὅτι πρώτη: καὶ περὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὂν ταύτης ἂν εἴη θεωρῆσαι, καὶ τί ἐστι καὶ τὰ ὑπάρχοντα ᾗ ὄν. Phiên bừa: Giờ đây, nếu có một cái gì đó bất động, vĩnh hằng và tách rời khỏi vật chất, thì rõ ràng người ta biết về nó như một khoa học lý thuyết. Tuy nhiên, nó không thuộc về vật lý/triết học tự nhiên (vì khoa học này nghiên cứu những vật thể chuyển động nhất định), cũng không thuộc về toán học, mà thuộc về một khoa học có trước cả hai. Bởi vì vật lý/triết học tự nhiên nghiên cứu những thứ không thể tách rời khỏi vật chất nhưng không bất động. Nhưng nhất thiết phải luôn đi kèm với những nguyên nhân giống nhau, và đặc biệt là những nguyên nhân này: vì đó là những nguyên nhân hiện thân của thần thánh. Vì vậy, nếu có ba triết học lý thuyết, là toán học, vật lý, và thần học (vì vẫn không biết có phải nơi nào thần thánh tồn tại, thì thần thánh tồn tại trong cùng một bản chất hay không), và triết học đáng kính nhất coi nó thuộc về loại đáng kính nhất. Do đó, các khía cạnh lý thuyết của các lĩnh vực tri thức khác là heretical dị giáo, nhưng khoa học này thuộc về các khía cạnh lý thuyết. Vì ông đặt câu hỏi liệu sau này có phải là triết học đầu tiên hay không, hay liệu nó có liên quan đến một loại chi/giống và một số bản chất (vì phương pháp tương tự không có trong toán học, nhưng hình học và chiêm tinh học liên quan đến một số bản chất, và điều này là chung cho tất cả): nếu vậy thì không có bản chất nào khác ngoài bản chất của sự cấu thành, thì lĩnh vực tri thức tự nhiên là khoa học đầu tiên: nếu bản chất là bất động, điều này là có trước và triết học là đầu tiên, và hoàn toàn không giống việc nó là lĩnh vực tri thức đầu tiên: và về tồn tại/hiện hữu/hữu thể, nếu điều này được xem xét, nó là gì và các thực thể tồn tại với tư cách là tồn tại/hiện hữu/hữu thể. [Αριστοτέλης, Μεταφυσική, Βιβλίο ΣΤ΄ 1025b 3-1026a 32 - Α, Η Μέθοδος Διερεύνησης του Είναι. Κεφάλαιο 1 Aristotles, Siêu hình học, Quyển VI, Phương pháp Khảo sát Tồn tại/Hữu thể/Hiện hữu. Chương 1: 1025b 3-1026a 32 -HHN]

[Tr.11] [(οὐ γὰρ ἄδηλον ὅτι εἴ που τὸ θεῖον ὑπάρχει, ἐν τῇ τοιαύτῃ φύσει ὑπάρχει), καὶ τὴν τιμιωτάτην δεῖ περὶ τὸ τιμιώτατον γένος εἶναι: Rõ ràng là nếu thần thánh hiện diện ở bất cứ đâu, thì nó hiện diện trong loại thực thể này: và lĩnh vực tri thức cao quý nhất cũng phải nghiên cứu loại hữu thể cao quý nhất]; lĩnh vực tri thức cao quý nhất phải là khoa học về cái cao nhất, về cái đầu tiên. Tὸ θεῖον to theîon đơn giản có nghĩa là các hiện hữu – các thiên đàng: bao trùm và áp đảo, nơi mà chúng ta bị ném xuống dưới và lên trên đó, thứ làm chúng ta chói mắt và bất ngờ, cái áp đảo. Θεολόγείν theologein là sự chiêm nghiệm về κόσμος vũ trụ (xem de mundo 391b 4). Chúng ta hãy ghi nhớ rằng triết học, với tư cách là triết học đầu tiên, có tính chất kép: tri thức về hữu thể và tri thức về cái áp đảo. (Tính chất kép này tương ứng với tính chất kép trong Hữu thể và Thời gian của sự tồn tại và đặc tính bị liệng xuống.) Tuy nhiên, với định nghĩa này, chúng ta đã đi đến một định hướng ban đầu. Bởi vì bản thân khoa học này không chỉ đơn giản là hiển nhiên. Nó không phải là một loại sở hữu trực tiếp như tri ​​thức thường nhật về sự vật và về bản thân chúng ta. Πρώτη Φιλοσοφία Prōtē Philosophia Triết học Thứ nhất, là ἐπιστήμη episteme: khoa học được tìm kiếm, khoa học không bao giờ có thể trở thành loại sở hữu cố định và, theo đúng nghĩa, chỉ có thể được truyền lại. Thực sự thì, đó là thứ tri ​​thức chỉ có thể đạt được nếu mỗi lần đều được tìm kiếm lại từ đầu. Đó chính xác là một cuộc phiêu lưu, một ‘thế giới đảo ngược’: Nghĩa là, hiểu biết đích thực về hữu thể/bản thể phải tự thân đạt được trước tiên. Bản chất của khoa học này là nó phải được tìm kiếm. Chỉ có tri thức như vậy khi việc tìm kiếm và thiên hướng vươn tới nó còn sống động, một thiên hướng mà đằng sau nó là nỗ lực và ý chí. Tri thức này thiên về tự nguyện hướng tới hiểu biết nguyên gốc: φιλο-σοφία philo-sophia. Φιλείν philein có nghĩa là yêu thương theo nghĩa quan tâm đến điều gì đó một cách tin tưởng; σοφός sophós có nghĩa là người hiểu biết điều gì đó, người có thể ‘trụ vững – dưới’ một vấn đề, kẻ khảo sát mọi khả tính của nó, kẻ mà mọi sự vật đối với hắn phải minh bạch, vì đã nắm bắt được nó; σοφία sophia biểu thị khả tính hiểu biết khái niệm chính xác về những gì là thiết yếu. Vì vậy, trong Đạo đức Nicomachean (Z 7, 1141a 12), Aristotle định nghĩa σοφία sophia là ἀρετή τέχνης aretē technēs, như là khuynh hướng tự do vượt trội trong việc nhận thức những gì mình đang làm. ‘Sự khôn ngoan’, lối dịch thông thường σοφία sophia, nhìn chung là trống rỗng và gây hiểu lầm.

Trong đoạn văn nói về σοφός (Ibid., 1141b 3ff.) Aristotles có viết: διὸ Ἀναξαγόραν καὶ Θαλῆν καὶ τοὺς τοιούτους σοφοὺς μὲν φρονίμους δ᾽ οὔ φασιν εἶναι, ὅταν ἴδωσιν ἀγνοοῦντας τὰ συμφέροντα ἑαυτοῖς, καὶ περιττὰ μὲν καὶ θαυμαστὰ καὶ χαλεπὰ καὶ δαιμόνια εἰδέναι αὐτούς φασιν, ἄχρηστα δ᾽, ὅτι οὐ τὰ ἀνθρώπινα ἀγαθὰ ζητοῦσιν.Đó là lý do tại sao người ta nói rằng những người như Anaxagoras và Thales ‘có thể thông thái nhưng không khôn ngoan’, khi họ thấy những người này thể hiện sự thiếu hiểu biết về chính lợi ích của mình; và trong khi thừa nhận họ sở hữu một tri ​​thức hiếm có, kỳ diệu, khó hiểu và thậm chí siêu phàm, người ta vẫn tuyên bố tri ​​thức này là vô dụng, bởi vì các bậc hiền triết này không tìm cách hiểu biết những điều tốt cho con người.” [Đoạn dịch trên của Harris Rackham (1868–1944); ai từng học hoặc liều chết dám mon men cày/ đọc nguyên bản Aristotles như kẻ Khảo cổ này đều biết rất rõ, ông là một học giả cổ điển nổi tiếng người Anh, được biết đến với các bản dịch văn bản Hy Lạp và Latinh, đặc biệt là cho Thư viện Kinh điển Loeb; ông nổi tiếng nhất với việc dịch các tác phẩm Đạo đức Nicomachean, Chính trị và Đạo đức Eudemian của Aristotle từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Anh - HHN].

[Tr.12] Chúng ta sẽ bình luận về điều quan trọng ở đây đối với bối cảnh của chúng ta: Vì vậy, người ta nói Anaxagoras và Thales và những người như vậy là σοφοί [Σοφοί phát âm: so-fí, là dạng số nhiều của từ σοφός sophós, có nghĩa là ‘những người khôn ngoan’, ‘các bậc hiền triết’, hoặc ‘những kẻ thông thái’; từ này có gốc từ σοφία sophia trí tuệ/sự khôn ngoan; trong triết học Hy Lạp cổ đại, từ này được dùng để chỉ những người am hiểu, có tri thức cao sâu, có liên quan đến các khái niệm như σοφιστής sophistés, số nhiều σοφισταί sophistai, nhà ngụy biện/người thầy hay φιλοσοφία philosophia triết học - tình yêu sự khôn ngoan; tóm lại, σοφοί có nghĩa là những người khôn ngoan/thông thái - HHN], những người hiểu biết, bởi vì người ta nhận thấy rằng những người này không chỉ nhìn vào lợi ích và ưu điểm của riêng mình mà còn hướng đến περίττας períttas số lẻ, những gì nằm ngoài quan điểm thông thường hàng ngày của lẽ thường - đối với θανμαστά thaumastá là một từ tiếng Hy Lạp cổ đại hoặc hiện đại, có nghĩa là ‘điều tuyệt vời’, ‘kỳ quan’, ‘kỳ diệu’ hoặc ‘đáng kinh ngạc’, đối với những gì khơi gợi kinh ngạc, như hoàn thiện, tức là những gì liên tục thúc đẩy hướng tới câu hỏi mới - đối với χαλεπὰ khalepá, những điều khó khăn, những gì không thể đạt được bằng các phương tiện thông thường của những cách suy nghĩ khéo léo và nhanh chóng - đối với δαιμόνια daimónia, ma quái, ác quỷ những gì thuộc về con người xét về khía cạnh tối thượng và toàn thể và khiến họ bị trói buộc (xem Meta. Al&2). Những thứ thuộc loại này là ἄχρηστα ákhrésta, vô dụng cho những nhu cầu hàng ngày; những người này không theo đuổi những thứ mà con người thường quan tâm, đó là khoái lạc và danh vọng.

Tuy nhiên, mọi thứ thiết yếu, có ý nghĩa quyết định mà không đập ngay vào mắt, luôn đi kèm với những gì chỉ trông giống như sự vật chính cống, có thật, lại chỉ là vẻ bề ngoài. Đó là lý do tại sao, trong mỗi thời kỳ, triết học đều phải mang theo mình một thứ gì đó trông giống như triết học và bắt chước nó về cách thức và hành vi, thậm chí còn vượt trội hơn - nhưng về bản chất lại gây ra sự bối rối. Vẻ bề ngoài của φιλόσοφος philósophos nhà triết học lại chính chính là σοφιστής sophistés, nhà ngụy biện. Nhà ngụy biện này không phấn đấu cho sự hiểu biết thực sự, không có sự kiên trì, mà chỉ nhấm nháp mọi thứ, luôn là những thứ mới nhất và thường là những thứ thực sự đáng giá, nhưng ông ta chỉ nhấm nháp và bị cám dỗ bởi sự tò mò và lừa bịp đơn thuần. Ông ta không phải là người tìm kiếm sự hiểu biết, tức là không phải là người thực sự hiểu biết. Đúng hơn ông ta là kẻ duy lý hóa, đối với anh ta không có gì là chắc chắn, ngoại trừ những điều ông ta nhận thấy mình không thể đạt được bằng phương tiện của mình. Tuy nhiên, ông không đơn giản bỏ qua vấn đề thứ hai mà cố gắng chứng minh rằng những điều như vậy không tồn tại hoặc chỉ là sự bịa đặt của các nhà triết học. Đối với ông, tất cả chỉ là chuyện phiếm, bất kể chúng có thực sự tồn tại hay không. Ὅί γρ διαλεκτικο κα σοφιστα τὸ  αυτο μὲν ύποσύοὲ τα σχῆμα τὧ φιλόσοφὧ ῇ γρ σοφιστικής φαινομὲνη (Meta. r 2, l004b 17ft'.) [Các nhà biện chứng và các nhà ngụy biện có vẻ ngoài giống hệt nhà triết học, bởi vì ngụy biện chỉ là trí tuệ về hình thức mà thôi.]

[Ghi chú dài câu trên của Aristotles trong đoạn văn sau: (i) ὥστ᾽ ἐπειδὴ πολλαχῶς τὸ ἓν λέγεται, καὶ ταῦτα πολλαχῶς μὲν λεχθήσεται, ὅμως δὲ μιᾶς ἅπαντά ἐστι γνωρίζειν: οὐ γὰρ εἰ πολλαχῶς, ἑτέρας, ἀλλ᾽ εἰ μήτε καθ᾽ ἓν μήτε [25] πρὸς ἓν οἱ λόγοι ἀναφέρονται. ἐπεὶ δὲ πάντα πρὸς τὸ πρῶτον ἀναφέρεται, οἷον ὅσα ἓν λέγεται πρὸς τὸ πρῶτον ἕν, ὡσαύτως φατέον καὶ περὶ ταὐτοῦ καὶ ἑτέρου καὶ τῶν ἐναντίων ἔχειν: ὥστε διελόμενον ποσαχῶς λέγεται ἕκαστον, οὕτως ἀποδοτέον πρὸς τὸ πρῶτον ἐν ἑκάστῃ κατηγορίᾳ πῶς πρὸς ἐκεῖνο [30] λέγεται: τὰ μὲν γὰρ τῷ ἔχειν ἐκεῖνο τὰ δὲ τῷ ποιεῖν τὰ δὲ κατ᾽ ἄλλους λεχθήσεται τοιούτους τρόπους. (ii) φανερὸν οὖν [ὅπερ ἐν ταῖς ἀπορίαις [điểm nghẽn] ἐλέχθη [đã được nói]] ὅτι μιᾶς περὶ τούτων καὶ τῆς οὐσίας ἐστὶ λόγον ἔχειν (τοῦτο δ᾽ ἦν ἓν τῶν ἐν τοῖς ἀπορήμασιν), (iii) καὶ ἔστι τοῦ φιλοσόφου περὶ πάντων δύνασθαι θεωρεῖν. [1004β] [1] εἰ γὰρ μὴ τοῦ φιλοσόφου, τίς ἔσται ὁ ἐπισκεψόμενος εἰ ταὐτὸ Σωκράτης καὶ Σωκράτης καθήμενος, ἢ εἰ ἓν ἑνὶ ἐναντίον, ἢ τί ἐστι τὸ ἐναντίον ἢ ποσαχῶς λέγεται; ὁμοίως δὲ καὶ περὶ τῶν ἄλλων τῶν τοιούτων. [5] ἐπεὶ οὖν τοῦ ἑνὸς ᾗ ἓν καὶ τοῦ ὄντος ᾗ ὂν ταῦτα καθ᾽ αὑτά ἐστι πάθη, ἀλλ᾽ οὐχ ᾗ ἀριθμοὶ ἢ γραμμαὶ ἢ πῦρ, δῆλον ὡς ἐκείνης τῆς ἐπιστήμης καὶ τί ἐστι γνωρίσαι καὶ τὰ συμβεβηκότ᾽ αὐτοῖς. καὶ οὐ ταύτῃ ἁμαρτάνουσιν οἱ περὶ αὐτῶν σκοπούμενοι ὡς οὐ φιλοσοφοῦντες, ἀλλ᾽ ὅτι πρότερον ἡ οὐσία, [10] περὶ ἧς οὐθὲν ἐπαΐουσιν, ἐπεὶ ὥσπερ ἔστι καὶ ἀριθμοῦ ᾗ ἀριθμὸς ἴδια πάθη, οἷον περιττότης ἀρτιότης, συμμετρία ἰσότης, ὑπεροχὴ ἔλλειψις, καὶ ταῦτα καὶ καθ᾽ αὑτοὺς καὶ πρὸς ἀλλήλους ὑπάρχει τοῖς ἀριθμοῖς (ὁμοίως δὲ καὶ στερεῷ καὶ ἀκινήτῳ καὶ κινουμένῳ ἀβαρεῖ τε καὶ βάρος [15] ἔχοντι ἔστιν ἕτερα ἴδια), οὕτω καὶ τῷ ὄντι ᾗ ὂν ἔστι τινὰ ἴδια, καὶ ταῦτ᾽ ἐστὶ περὶ ὧν τοῦ φιλοσόφου ἐπισκέψασθαι τὸ ἀληθές. (iv) σημεῖον δέ: οἱ γὰρ διαλεκτικοὶ καὶ σοφισταὶ τὸ αὐτὸ μὲν ὑποδύονται σχῆμα τῷ φιλοσόφῳ: ἡ γὰρ σοφιστικὴ φαινομένη μόνον σοφία ἐστί, καὶ οἱ διαλεκτικοὶ [20] διαλέγονται περὶ ἁπάντων, κοινὸν δὲ πᾶσι τὸ ὄν ἐστιν, διαλέγονται δὲ περὶ τούτων δῆλον ὅτι διὰ τὸ τῆς φιλοσοφίας ταῦτα εἶναι οἰκεῖα. περὶ μὲν γὰρ τὸ αὐτὸ γένος στρέφεται ἡ σοφιστικὴ καὶ ἡ διαλεκτικὴ τῇ φιλοσοφίᾳ, (v) ἀλλὰ διαφέρει τῆς μὲν τῷ τρόπῳ τῆς δυνάμεως, τῆς δὲ τοῦ βίου [25] τῇ προαιρέσει: ἔστι δὲ ἡ διαλεκτικὴ πειραστικὴ περὶ ὧν ἡ φιλοσοφία γνωριστική, ἡ δὲ σοφιστικὴ φαινομένη, οὖσα δ᾽ οὔ. Phiên bừa: Do đó, vì có nhiều nghĩa mà một sự vật được cho là một, nên các thuật ngữ này cũng sẽ có nhiều nghĩa, nhưng chỉ có một lĩnh vực tri thức (science) duy nhất là biết được tất cả các nghĩa đó; vì một thuật ngữ thuộc về các lĩnh vực tri thức khác nhau nếu không phải nó có các nghĩa khác nhau, và nếu nó không có một nghĩa duy nhất và các định nghĩa về nó không thể quy về một nghĩa trung tâm duy nhất. Và vì tất cả mọi thứ đều được quy về cái gốc gác, chẳng hạn như tất cả những thứ được gọi là một đều được quy về cái cơ bản, chúng ta phải nói rằng điều này cũng đúng với cái giống nhau và cái khác và với những cái trái ngược nói chung; do đó, sau khi phân biệt các nghĩa khác nhau của mỗi thứ, chúng ta phải giải thích bằng cách quy về cái cơ bản trong trường hợp của mỗi vị ngữ được đề cập, bằng cách nói rằng chúng có liên quan đến nó như thế nào; vì một số sẽ được gọi bằng cái tên mà chúng được gọi, bởi vì chúng sở hữu nó, còn những thứ khác được gọi bằng cái tên khác bởi vì chúng sản sinh ra nó, và những thứ khác nữa cũng được gọi theo những cách tương tự khác. Rõ ràng là, một lĩnh vực tri thức (science) có khả năng giải thích cả những khái niệm này cũng như bản chất (đây là một trong những câu hỏi trong cuốn sách về các vấn đề của chúng ta), (iii) và chức năng của nhà triết học là có khả năng khảo sát mọi thứ. Bởi vì nếu đó không phải là chức năng của nhà triết học, thì ai sẽ hỏi liệu Socrates và Socrates ngồi đó có phải là cùng một sự vật hay không, hoặc liệu một thứ có một mặt trái hay không, hoặc mặt trái là gì, hoặc nó có bao nhiêu nghĩa? Và tương tự với tất cả các câu hỏi khác như vậy. Bởi vậy, vì đây là những sửa đổi thiết yếu của nhất tính với tư cách là nhất tính và của tồn tại/hiện hữu/hữu thể với tư cách là tồn tại/hiện hữu/hữu thể, chứ không phải với tư cách là số, đường thẳng hay lửa, nên rõ ràng là lĩnh vực tri thức (science) này có nhiệm vụ khảo sát cả bản chất của những khái niệm này và các thuộc tính của chúng. HHN]

Φιλοσοφία philosophia Triết học khác với σοφιστική sophistikē ngụy biện τοῦ βίου τῇ προαιρέσει của cuộc sống bằng cách lựa chọn (Ibid., 1004b 24ff'.), thông qua tồn tại bằng cách nắm bắt tồn tại từ trước, tức là, thông qua tính ‘nghiêm túc’.* [*Triết học khác với ngụy biện ‘durch das Im-vorhinein-ergriffenhaben der Existenz,’ bằng cách nắm bắt được sự tồn tại từ trước mà trong đó Ergrijfensein nó dịch chuyển có nghĩa là bị cuốn hút bởi một tình cảm mãnh liệt và cũng hàm ý hành động hiểu biết thông thường được thể hiện bằng Ergreifen nắm bắt. Nhưng chỉ dùng cụm từ ‘hành động tinh thần’ thôi thì sẽ gợi lên quá nhiều về sự kiểm soát có ý thức, trong khi chúng ta đang bàn đến một khía cạnh tiên nghiệm của Befindlichkeit Tâm thái] Nhà triết học [tr.13] đã tự mình đảm bảo tính nghiêm túc của khái niệm, của việc đặt câu hỏi cơ bản. Mọi thứ thường nhật, hàng ngày, tầm thường (tình trạng sa ngã) đều trái ngược với nỗ lực này. Ngược lại, nhà ngụy biện, với tư cách là người lý giải và tự cho mình là người biết tất cả, tự cho mình nhiệm vụ tác động đến con người, thuyết phục họ rằng họ phải quan tâm đến nhu cầu tinh thần của nhau. Triết học (Φιλοσοφία) là sự nỗ lực hướng tới khả tính hiểu biết đích thực. Do đó, nó thực sự không phải là nhãn hiệu cho bất kỳ loại tri​ thức nào có thể được lưu truyền tự do. Nó không phải là việc sở hữu thông tin và học thuyết. Triết học về bản chất phải được tìm kiếm, nghĩa là đối tượng của nó phải ‘giành được’ ngay từ đầu. Nhưng triết học tìm ra đối tượng nào mà nó nên lấy làm đối tượng nhận thức của mình? Nỗ lực hướng tới khả tính hiểu biết đúng đắn về cái cốt yếu, hay sự hiểu biết này, có đối tượng là hữu thể/hiện hữu/tồn tại. Đây là điều cốt yếu. Hiểu biết hướng tới cái cốt yếu này là điều đầu tiên chừng nào nó còn là hiểu biết về cái có trước vạ vật, cái tồn tại sớm hơn, trước mọi thứ khác nữa, nghĩa là có trước các hiện hữu riêng lẻ. Nhưng hữu thể/hiện hữu/tồn tại luôn có trước các hiện hữu riêng lẻ, bởi vì nó là cái được hiểu đầu tiên trước khi bất cứ thứ gì giống như một hiện hữu có thể xuất hiện ở bất cứ đâu và bằng bất kỳ cách nào. Do đó, triết học là tri thức về hữu thể/hiện hữu/tồn tại. Trong chừng mực nó hướng tới sự hiểu biết và xác định về mặt khái niệm, cho một λόγος của τὸ ὂν ᾗ ὂν to on hei on, [hữu thể/hiện hữu/tồn tại với tư cách là hữu thể/hiện hữu/tồn tại] thì đó là Hữu thể luận. Khái niệm này không có nguồn gốc Hy Lạp, chỉ xuất hiện lần đầu vào cuối thế kỷ XVII, như trong tác phẩm của Descartes ở Clauberg. Nhưng mô tả này sẽ chẳng có gì nhiều nếu chưa làm rõ được các khả tính và nhiệm vụ nội tại trú ngụ trong một khoa học như vậy và nó dựa trên loại cơ sở nào.

Lưu ý: Triết học cố gắng hình dung về hữu thể, chứ không phải là hiện hữu này hay tồn tại kia. Đúng thế, vậy thì chúng ta muốn nói gì về hữu thể khi phân biệt với các thực thể? Hữu thể của một vật hiện hữu có nghĩa là gì? [Vorhandenheit/ Present-at-hand là một thuật ngữ triết học quan trọng trong Sein und Zeit Tồn tại và Thời gian của Martin Heidegger, mô tả trạng thái của các vật thể khi chúng được quan sát, nghiên cứu hoặc nhận biết như những đối tượng khách quan, tách rời khỏi ngữ cảnh sử dụng hàng ngày của chúng; là sự vật tồn tại như một ‘đối tượng’ trước mặt, đơn thuần là cái đang hiện hữu, tồn tại độc lập với con người, có thể quan sát, đo lường hoặc phân tích; Heidegger phân biệt sự vật trong trạng thái Zuhandenheit/Ready-to-hand - sẵn sàng sử dụng và Vorhandenheit/ Present-at-hand; ví dụ, một cây búa đang được dùng để đóng đinh thì nó là Zuhandenheit/Ready-to-hand: ta không nghĩ về nó, mà chỉ sử dụng; khi cây búa bị gãy, nó trở thành Vorhandenheit/ Present-at-hand vì ta dừng lại, quan sát nó như một vật thể hỏng, để xem xét nó hỏng bộ phận nào, sửa ra sao để dung được. HHN] Ví dụ, hòn đá: nó có màu sắc, độ cứng, độ bóng, hình dạng không gian, trọng lượng, kích thước nhất định. Những đặc điểm này thuộc về nó như hiện hữu này. Nó ‘là’ tất cả những điều này, là như thế này thế kia. Nhưng ý nghĩa của việc nó hiện hữu – kiểu hiện hữu Vorhandenheit/ Present-at-hand ngay trước mắt và hiện hữu như thế này thế kia là gì? Hiện hữu Vorhandenheit/ Present-at-hand ngay trước mắt của viên đá không tự nó hiện hữu ngay trước mắt trong chính nó, như là màu sắc, độ cứng, v.v. Cái đặc trưng của viên đá là cái mà dựa trên đó tôi nói nó hiện diện, ngay cả khi tôi không xem xét nó vào lúc này, ngay cả khi chính tôi không hiện diện. Và cái mà tôi muốn nói đến bằng ‘bản thân tôi’ cũng là một hiện hữu. Liệu hiện hữu đó cũng hiện hữu trong hiện hữu đó nếu tôi không tồn tại? Rõ ràng là không – ‘tôi’ thuộc về nó. Tuy nhiên, đây không phải là hai, hữu thể của một viên đá và của cái ‘tôi’. Nhưng trong trường hợp cái hiện hữu có thể nói ‘tôi’ lại chính là thứ hiện hữu cam kết với hiện hữu của chính nó và tự chịu trách nhiệm cho cái hiện hữu này.

[Tr.14] Nhưng triết học, trước hết, cũng là θεολογίκή theologikē mang tính thần học. Điều này có nghĩa là gì, một phần phụ, một nét hoàn thiện, một thế giới quan? Liệu φιλοσοφία triết học có phải là θεολογίκή mang tính thần học, chỉ để có một kết luận? Hay triết học hoặc là bản thể học hoặc là thần học? Hay là cả hai cùng một lúc? Liệu điều được tìm kiếm với từ ‘thần học’ thực sự nằm trong bản chất của triết học được hiểu một cách toàn diện và triệt để? Hay cái xuất hiện trong Aristotle như là thần học vẫn là tàn dư của thời kỳ đầu của ông? Liệu đó là siêu hình học cũ, và bản thể học là siêu hình học mới? Và liệu có sự tiến hóa nào diễn ra từ cái này sang cái kia? Những câu hỏi này1 không thể được giải quyết chỉ bằng cách diễn giải lịch sử-ngữ văn học.2 Ngược lại, chính cách diễn giải này lại đòi hỏi chúng ta phải được hướng dẫn bởi một sự hiểu biết về vấn đề phù hợp với những gì được truyền lại. Và trước hết chúng ta phải có được sự hiểu biết như vậy.3 Với mô tả hai mặt của triết học theo quan điểm Aristoteles là ‘bản thể học’ và ‘thần học’, hoặc là không nói gì cả, hoặc là nói tất cả mọi thứ, tùy thuộc vào cách chúng ta mang theo những khả tín hiểu biết độc đáo của riêng mình. Vậy thì thần học thuộc về bản chất của triết học theo nghĩa nào và ở mức độ nào? Để chứng minh điều này, chúng ta phải làm rõ những gì Aristoteles đã nói một cách khá mơ hồ, như là θεολογίκή theologikē mang tính thần học, giao thoa với triết học. Và chúng ta phải làm cho điều này dễ hiểu theo cách mà chúng ta cấp tiến hóa khái niệm bản thể học. Như vậy, chúng ta cũng có thể có được một điểm thuận lợi để trả lời câu hỏi về mối quan hệ giữa triết học và thế giới quan. Nhưng đối với nhiệm vụ cụ thể của chúng ta, điều quan trọng là mô tả chân trời tổng quát mà trong đó logic triết học phải vận động, một chân trời sẽ trở thành của chúng ta ở những chiều kích hữu hình hơn chính xác thông qua sự suy ngẫm triết học cụ thể về các vấn đề cơ bản của logic. Việc chúng ta quay trở về với Aristoteles sẽ chỉ trở thành phép hồi tưởng đích thực khi ở đây và bây giờ chúng ta triết học hóa vấn đề. Nhưng ngay từ đầu khóa học, chúng ta chưa thể nghĩ đến đẩy mạnh suy tư tập trung vào khoảnh khắc về bản chất của triết học đến mức có thể hiểu ngay lập tức định nghĩa và đặc điểm kép của Aristotle trở nên quan trọng như thế nào. Ở giai đoạn này, chúng ta chỉ có thể gợi ý những gì là quan trọng đối với suy tư tập trung vào khoảnh khắc.

_______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

1. Cf. Paul Natorp, "Thema und Disposition der Aristotelischen Metaphysik," Philosophische Monatshefte 24 (1888), pp. 37-65 and 540-74.

2. cr. Werner Jaeger, Aristoteles, Grundlegung einer Geschichte seiner
Entwicklung (Berlin, 1923) [Aristotle: Fundamentals of his Development, trans. Richard Robinson, (Oxford: Clarendon, 1948, reprinted 1960)).

3. Cf. Kant on this point: "Von dem transzendentalen Ideal," Kritik der reinen Vemunft, A 571-83, B 599-611.

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (I)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Giới thiệu

I. Quan niệm Truyền thống về Logic

[Tr.1] Thuật ngữ ‘logic’ là viết tắt của từ Hy Lạp λογική. Để hoàn chỉnh, cần thêm ἐπιστήμη: khoa học nghiên cứu về λόγος.* Ở đây, logos có nghĩa là ‘lời nói’, cụ thể là theo nghĩa phát biểu, vị ngữ. Có nghĩa là bao gồm việc nói điều gì đó về một cái gì đó: cơ thể nặng, tam giác đều, Kant mất năm 1804, ‘vua’ là một danh từ, tự nhiên hiện diện một cách khách quan. Những phát biểu như vậy thể hiện sự xác định một cái gì đó là một cái gì đó, một determinatio. [Ghi chú: dēterminatiō tiếng Latin, mang nghĩa ‘giới hạn’ hoặc ‘quyết tâm’, ‘kiên định’, ‘kết quả cuối cùng’, có nguồn gốc từ động từ ‘dētermināre’, có nghĩa là ‘giới hạn; chỉ định’, với hậu tố danh từ trừu tượng ‘-tiō’; quyết tâm là một cảm xúc tích cực thúc đẩy sự kiên trì hướng tới một mục tiêu khó khăn bất chấp những trở ngại; quyết tâm xuất hiện trước khi đạt được mục tiêu và đóng vai trò thúc đẩy hành vi giúp đạt được mục tiêu; động lực khuyến khích quyết tâm và thúc đẩy người đó tiến lên để họ có thể đối mặt với vấn đề của mình, giúp mọi người trở nên dũng cảm; nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mọi người coi quyết tâm là một cảm xúc; nói cách khác, quyết tâm không chỉ là một trạng thái nhận thức mà còn là một trạng thái cảm xúc; trong tài liệu tâm lý học, các nhà nghiên cứu nghiên cứu quyết tâm dưới các thuật ngữ khác, bao gồm thử thách và sự nhiệt tình dự đoán; điều này có thể giải thích một lý do cho sự thiếu hụt tương đối các nghiên cứu về quyết tâm so với các cảm xúc tích cực khác; trong lĩnh vực tâm lý học, nghiên cứu về cảm xúc tập trung vào các cảm xúc tiêu cực và các hành vi mà chúng gây ra; tuy nhiên, tâm lý học tích cực đi sâu vào quyết tâm như một cảm xúc tích cực thúc đẩy mọi người hành động, dẫn đến những kết quả đáng kể như sự kiên trì và thành công. HHN] Chúng ta gọi đây là tư duy xác định. Theo đó, logic, khoa học về λόγος, là khoa học về tư duy. Nhưng tư duy mang tính quyết định đồng thời, với tư cách là việc quyết định một cái gì đó như một cái gì đó, là một quyết định về X.† Một cái gì đó, ví dụ như một vật thể, được quyết định như một cái gì đó, chẳng hạn như nặng. Cái ‘mối quan hệ’, cái gì đó (được khẳng định) của cái gì đó, sự quy chiếu, đồng thời có mối liên hệ nội tại với một thực thể mà về nó một quyết định được đưa ra trong những quyết định này. Cái mà về nó các quyết định được đưa ra [tr.2] chính là hiện hữu tự thân đó. Cái mà về nó điều gì đó được nói đến chính là cái mà về nó điều gì đó được nói đến như là đối tượng của sự quy chiếu. Do đó, chúng ta đang xử lý sự bộc lộ và quyết định rõ ràng của chính hiện hữu thể đó. Chúng ta có thể diễn đạt nó như thế này: “Tự thân nó, một sự xác định được hiểu theo cách này cố gắng đo lường sao cho phù hợp với điều mà tuyên bố được đưa ra. Việc đo lường sao cho phù hợp với điều mà sự xác định và tuyên bố được đưa ra, tức là adaequatio sự phù hợp, đặc trưng cho điều mà chúng ta thường hiểu là tính đúng đắn của các tuyên bố. Λόγος [Ghi chú về Logos tiếng Hy Lạp cổ nghĩa đen là ‘từ ngữ, lời nói, lý trí’ là một thuật ngữ được sử dụng trong triết học, tâm lý học và tư từ học, cũng như tôn giáo; Aristotle là người đầu tiên hệ thống hóa việc sử dụng từ này, biến nó thành một trong ba nguyên tắc của hùng biện cùng với ἦθος ethosπᾰ́θος pathos; cả Plato và Aristotle đều sử dụng thuật ngữ logos để chỉ các câu và mệnh đề; mặc dù chuyển dịch thông thường là ‘từ/ lời’, nhưng logos không được sử dụng cho một từ theo nghĩa ngữ pháp, để làm điều đó người ta sử dụng từ λέξις lexis; tuy nhiên, cả logos và lexis đều bắt nguồn từ cùng một động từ λέγω légō: (tôi) đếm, kể, nói, phát biểu’; Aristotle đã đưa ra một định nghĩa kỹ thuật khác cho logos trong tác phẩm Tu từ học, sử dụng nó với nghĩa là lập luận dựa trên lý trí, một trong ba phương thức thuyết phục; hai phương thức còn lại là πᾰ́θος páthos, đề cập đến sự thuyết phục bằng cách kêu gọi cảm xúc, đưa người nghe vào một trạng thái tâm lý nhất định; và ἦθος ethos, thuyết phục người nghe về ‘phẩm chất đạo đức’. HHN] có thể phù hợp hoặc không phù hợp, đúng hoặc sai. Mỗi λόγος được thực hiện trên thực tế* nhất thiết phải đúng hoặc sai, bởi vì về bản chất nó luôn là một tuyên bố về một điều gì đó. (Một khẳng định, chắc chắn rồi, điều mà chúng ta sẽ bàn luận chi tiết hơn sau này.)” Giờ đây, logic với tư cách là khoa học về λόγος không khảo sát tất cả các tuyên bố thực tế đã từng được đưa ra về mọi thứ có thể và không thể, cả đúng và sai. Nó cũng không chỉ khảo sát tất cả các phát biểu đúng. Thay vào đó, logic hỏi về các thuộc tính nói chung của λόγος, của tuyên bố, của cái xác định nơi mà bản chất của tư duy nói chung cư ngụ.

Nhưng tư duy là tư duy về một điều gì đó. Mọi tư duy thực sự đều có chủ đề của nó, và do đó liên hệ với một đối tượng xác định, tức là với một thực thể xác định mà trong mỗi trường hợp đều đối diện với chúng ta, một vật thể vật lý, một đối tượng hình học, một sự kiện lịch sử, một ‘hiện tượng ngôn ngữ’. Những đối tượng này (của tự nhiên, của không gian, của lịch sử) thuộc về các lĩnh vực khác nhau. Chúng khác nhau về chủ đề, mỗi loại lại khác nhau hoàn toàn về bản chất của nó. Thực vật khác với các đối tượng hình học, trong khi các đối tượng hình học lại hoàn toàn khác với, chẳng hạn, một tác phẩm văn học. Nhưng những thứ này cũng khác nhau về cách chúng tồn tại, với tư cách là những thứ tồn tại một cách tự nhiên hoặc trong lịch sử. Tư duy xác định cần phải phù hợp với thực thể cụ thể được đề cập cũng phải tính đến sự đa dạng tương ứng [tr.3] về bản chất và cách thức tồn tại của thực thể đó trong mỗi trường hợp. Sự xác định tư tưởng, tức là sự hình thành khái niệm, sẽ khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau. Việc nghiên cứu khoa học về lối tư duy này trong mỗi trường hợp đều khác nhau: logic tư duy trong vật lý, logic tư duy toán học, logic tư duy ngữ văn, sử học, thần học, và đặc biệt là triết học. Logic của các ngành này liên quan đến một đối tượng cụ thể. Đó là một logic vật chất. Nhưng một logic thuần túy và đơn giản - một logic ‘tổng quát’, không liên quan đến định nghĩa tư duy về tự nhiên, không gian hay lịch sử - logic thuần túy và đơn giản có chủ đề là tư duy về X. Nhưng về cái gì? Chủ đề của nó thực sự là tư duy về X nói chung, nhưng đối tượng của tư duy luôn là một đối tượng xác định. Tuy nhiên, chủ đề của logic không phải là tư duy về cái này hay cái kia. Vậy chủ đề của nó có phải là tư duy về hư vô? ‘Tư duy về hư vô’ là một khái niệm mơ hồ. Trước hết, nó có thể có nghĩa là ‘không suy nghĩ’. Nhưng logic, với tư cách là khoa học về tư duy, rõ ràng không bao giờ đề cập đến việc không suy nghĩ. Thứ hai, nó có thể có nghĩa là ‘suy nghĩ về hư vô’, điều này vẫn có nghĩa là suy nghĩ về ‘một cái gì đó’. Trong việc suy nghĩ về hư vô, hoặc trong nỗ lực suy nghĩ về ‘nó’, tôi có mối liên hệ sâu sắc với hư vô, và đó chính là điều mà quá trình suy nghĩ hướng đến.

Mọi suy nghĩ, xét về bản chất, đều liên quan đến X. Nếu bây giờ tôi xem xét suy nghĩ một cách tổng quát, thì nội dung của suy nghĩ là không quan trọng. Tuy nhiên, sự không quan trọng của một đối tượng không có nghĩa là không có đối tượng nào cả. Thay vào đó, trong mỗi trường hợp đều có một đối tượng, nhưng không quan trọng đối tượng nào. Đó là bất cứ thứ gì có thể được suy nghĩ. Cái mà suy nghĩ liên quan đến - từ quan điểm của logic - là bất cứ thứ gì và không thể được quyết định từ ý niệm về suy nghĩ như vậy. Là một khoa học về tư duy nói chung, logic đơn giản là không xem xét tư duy như là tư duy về đối tượng này hay đối tượng kia với những thuộc tính nhất định. Nó không chú ý đến cái gì và như thế nào cụ thể của thứ mà tư duy liên quan đến. Nhưng việc bỏ qua đối tượng cụ thể và cách tồn tại của sự vật được tư duy này không bao giờ ngụ ý rằng tư duy nói chung không liên quan đến bất cứ điều gì. Nó chỉ ngụ ý rằng đối tượng của tư duy là không quan trọng - miễn là cái mà tư duy đề cập đến, theo đúng nghĩa, chỉ là một cái gì đó. Do tính chất không quan trọng này, đối tượng cụ thể không đóng vai trò gì; cái ‘vật chất’, ‘cái gì’ của các đối tượng, là không quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là phải có ý hướng trong tư duy. ‘Bất cứ thứ gì’ – bất kể nó là gì (chất liệu) – không phải là một đối tượng cụ thể liên quan đến nội dung, mà chỉ là ‘hình thức’ của một đối tượng. Tư duy, là tư duy về một cái gì đó, với bất kỳ chủ đề-chính nào, là tư duy hình thức, trái với tư duy vật chất, liên quan đến nội dung. Tư duy hình thức này [tr.4] không phải là không có đối tượng, nhưng hướng đến đối tượng, mặc dù trung lập nội dung. Logic tổng quát, với tư cách là tri ​​thức về tư duy hình thức, do đó là logic hình thức.

Logic tổng quát này, đơn giản là logic, xử lý bất cứ thứ gì thuộc về tư duy về bất cứ thứ gì, xử lý những gì làm cho tư duy, theo đúng nghĩa, vốn dĩ khả thể, xử lý tính quy luật mà mọi tư duy, với tư cách là tư duy, phải thỏa mãn. Do đó, logic cũng được đặc trưng là khoa học về các quy tắc hình thức của tư duy. Tuy nhiên, đặc trưng này vẫn chưa rõ ràng. Không chỉ vấn đề về tính đúng đắn, mà cả vấn đề về ‘chân lý’ cũng thuộc về logic, mặc dù chỉ theo cách hình thức. Tính đúng đắn và ‘chân lý hình thức’ (tức là hình thức của chân lý nói chung) thực sự không giống nhau; điều này vẫn chưa rõ ràng ở Kant. Khái niệm chặt chẽ về logic hình thức chỉ được phát triển không thường xuyên, và chưa bao giờ được phát triển về nguyên tắc. Tuy nhiên, những gì cấu thành nên logic đó, dù có phần mơ hồ, lại là nội dung của logic đã phát triển dưới sự thúc đẩy của Aristotle và được củng cố thành một ngành học thuật kể từ thời Chủ nghĩa Khắc kỷ trong những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Kant đã nghĩ đến logic này khi trong lời tựa cho ấn bản thứ hai của Phê phán Lý tính Thuần túy (B VIII, f.), ông bày tỏ quan điểm của mình về logic: “Việc logic đã tiến bước trên con đường chắc chắn này ngay từ thời kỳ đầu được chứng minh bởi thực tế là, kể từ thời Aristotle, nó không cần phải tái truy dấu một bước nào, trừ khi, thực sự, chúng ta coi việc loại bỏ một số chi tiết tinh tế không cần thiết hoặc việc trình bày rõ ràng hơn về giáo lý được công nhận của nó là những cải tiến, những đặc điểm liên quan đến sự thanh lịch hơn là tính chắc chắn của khoa học. Điều đáng chú ý là, cho đến ngày nay, logic này vẫn chưa thể tiến thêm một bước nào, và do đó, về mọi mặt, nó là một hệ thống học thuyết khép kín và hoàn chỉnh… Việc logic thành công như vậy là một lợi thế hoàn toàn nhờ những hạn chế của nó, nó được phép trừu tượng hóa - thậm chí, có nghĩa vụ phải làm như vậy - tất cả các đối tượng tri thức và sự khác biệt giữa chúng, khiến cho sự hiểu biết không còn gì để xử lý ngoài chính nó và hình thức của nó.” 

Chúng ta sẽ chưa bàn đến việc Kant, dù khá mơ hồ và không chắc chắn, đã thực hiện một bước đi mà sau này được coi là bước tiến đầu tiên trong logic triết học kể từ Aristotle và Plato. Tuy nhiên, những gì chúng ta vừa mô tả là logic hình thức cũng là những gì mơ hồ hiện lên trong tâm trí khi ai đó nói về ‘logic’. Cho đến ngày nay, mặc dù có một số dè dặt, người ta vẫn nói rằng logic này là có tính nhập môn cho các nghiên cứu học thuật, cũng như là lời giới thiệu về triết học. Nhưng đánh giá này về logic - có lẽ về cơ bản là đúng - lại mâu thuẫn với một kinh nghiệm quá thường xuyên mà chúng ta không thể che giấu [tr.5] khỏi chính mình. Logic được các giáo sư triết học giảng dạy một cách kiên định này đã phớt lờ các sinh viên. Nó không chỉ khô khan như bụi; cuối cùng nó còn khiến sinh viên bối rối. Họ không tìm thấy mối liên hệ nào giữa logic này và công việc nghiên cứu hàn lâm của chính mình. Và chắc chắn sẽ chẳng bao giờ có thể chắc chắn rằng logic này có ích lợi gì. Trừ khi đó là một ích lợi nhỏ nhặt và về cơ bản là vô giá trị như việc chuẩn bị tài liệu ít nhiều thuận tiện cho một kỳ thi. Logic kỹ thuật và hàn lâm này cũng không cung cấp một quan niệm về triết học. Việc theo đuổi nó khiến sinh viên đứng ngoài triết học, ngay cả khi nó không thực sự đẩy họ ra khỏi triết học. Mặt khác, chắc chắn việc một ngành khoa học hay triết học có thu hút sinh viên hay không không phải là tiêu chí cho tính chân thực và tính hợp pháp nội tại của nó - nhất là ngày nay, khi sự nổi loạn nội tâm chống lại tri thức, sự nổi dậy chống lại tính duy lý và cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tri thức đang trở nên thịnh hành. Cần có một loại logic khác, nhưng không phải để cung cấp tài liệu giảng dạy thú vị và hấp dẫn hơn. Chúng ta cần một loại logic khác chỉ vì cái gọi là logic thực chất không phải là logic và không còn điểm chung nào với triết học nữa. Cuối cùng, logic thực chất là một phương pháp tiên quyết cho các nghiên cứu hàn lâm nói chung và đồng thời, được đánh giá một cách chính xác là một cánh cửa thiết yếu để bước vào triết học - giả sử bản thân logic là có tính triết học. Vì vậy, đây là thách thức: logic cần phải thay đổi; logic cần phải trở nên triết học! Nhưng việc muốn thay đổi nền tảng của một truyền thống hai nghìn năm tuổi là loại sự nghiệp gì? Chẳng phải chính ý hướng đó là phi lý sao? Liệu có nên tạo ra một cái gì đó mới, phát minh ra những quy luật tư duy mới và lật đổ những quy luật cũ? Chẳng hạn, liệu nguyên tắc bất mâu thuẫn - theo cách diễn đạt của Kant: ‘không có thuộc tính nào mâu thuẫn với một sự vật có thể thuộc về sự vật đó’ (Critique of Pure Reason - Phê phán Lý tính Thuần túy, A 151. B 190) - có thể được thay thế bằng một nguyên tắc tốt hơn không? Hay nihil sine ratione nguyên tắc lý do đầy đủ: không có gì tồn tại mà không có lý do – trong đó hàm ý rằng mọi phát ngôn đúng đều cần có cơ sở – sẽ bị loại bỏ bởi một logic mới? Nếu không, thì ý hướng là gì? Liệu có những khả năng mới, hay nói đúng hơn là những khả năng cấp tiến hơn, để đặt câu hỏi triết học liên quan đến, chẳng hạn, các quy luật cơ bản của tư duy đã đề cập ở trên? Chẳng phải những quy luật này hoàn toàn hiển nhiên, dễ hiểu và thuyết phục đối với mọi người sao? Còn gì có thể nói thêm về chúng ngoài việc chúng có thể được ‘diễn đạt’ như sau: A=A; không-A ≠ A? [A=A; non-A ≠ A: A bằng A; không phải A khác A, thường được hiểu theo hai ngữ cảnh chính: nguyên lý đồng nhất trong triết học hoặc phép thử cảm quan A-không A; trong Triết học/Logic học là nguyên lý đồng nhất A=A: một vật/khái niệm luôn đồng nhất với chính nó, ví dụ con người là con người; non-A ≠ A: cái không phải là A thì chắc chắn khác A, ví dụ cái bàn không phải là con người; ý nghĩa là khẳng định sự tồn tại xác định và bản chất riêng biệt của sự vật - HHN]

Chỉ khi nào bản chất của triết học là làm cho cái hiển nhiên trở nên khó hiểu và cái không bị nghi ngờ trở nên đáng nghi ngờ! Giá như triết học có nhiệm vụ làm chấn động nhận thức thông thường khỏi sự tự tôn vinh thái quá của nó! Giá như triết học [tr.6] có chức năng khơi dậy trong chúng ta sự tỉnh thức để nhận ra rằng, với rất nhiều ồn ào và tiêu hao công sức, phần lớn chúng ta chỉ lang thang trong những vùng nông cạn tồn tại của mình, cả trong các vấn đề trí tuệ nữa! Nếu triết học có nhiệm vụ như vậy, thì ý niệm về cái mà chúng ta gọi là logic cuối cùng cũng sẽ trực tiếp trở nên cơ bản dễ hiểu. Sẽ rõ ràng nếu chúng ta có nhiệm vụ trước mắt không hề thua kém những nhiệm vụ mà các triết gia thời cổ đại đã đảm nhận. Nếu chúng ta thành công trong việc làm sáng tỏ ý niệm về logic triết học, thì lịch sử đích thực của logic cũng sẽ trở nên minh bạch. Khi đó, sợi dây ‘phát triển’ logic đã đứt đoạn với Aristotle và Plato, không thể được nối lại - bất chấp mọi xung lực mới đã thâm nhập vào logic thông qua Leibniz, Kant cũng như Hegel, và cuối cùng là thông qua Husser!

II. Giới thiệu về Ý niệm Triết học

Nhưng làm thế nào để khởi động một hệ thống logic triết học? Chúng ta có thể tìm ra ý niệm về một hệ thống logic như vậy ở đâu? Cách làm có vẻ đơn giản: Tất cả những gì chúng ta cần làm là phác thảo khái niệm triết học và định nghĩa logic là gì dưới ánh sáng của khái niệm này. Tuy nhiên, cách làm này lại là một đường vòng dài. Cụ thể, chúng ta phải đối mặt với câu hỏi sau: Khái niệm triết học của chúng ta có nguồn gốc từ đâu? Triết học dĩ nhiên không phải là một thứ hiện hữu khách quan, có thể nắm bắt và trao đổi ý kiến ​​về nó. Chắc chắn ý niệm về logic sẽ có nguồn gốc từ ý niệm về triết học. Nhưng điều này không nói lên điều gì về phương pháp và cách thức, làm thế nào và theo thứ tự nào chúng ta hình dung sự phụ thuộc này theo nguồn gốc. Chúng ta chọn một con đường khác để mô tả ý niệm về logic triết học. Chúng ta sẽ cố gắng nới lỏng logic truyền thống theo cách mà các vấn đề trung tâm trong đó trở nên rõ ràng, và từ nội dung của chính những vấn đề này, chúng ta sẽ cho phép mình được dẫn trở lại các tiền đề của logic ấy. Bằng cách này, chúng ta sẽ tiếp cận trực tiếp với chính triết học. Khi đó, chúng ta sẽ không cần phải hỏi những vấn đề logic này liên quan đến triết học như thế nào. Quy trình như vậy có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, chúng ta sẽ làm quen với những gì mà logic truyền thống đã đề cập đến. Cho dù nội dung của nó có lỗi thời đến đâu, nó đã từng xuất phát từ một triết học sống động. Nhiệm vụ bây giờ là giải phóng nó khỏi quá trình hóa thạch. Nhưng đồng thời, chúng ta lại đang có được tính thân thuộc mà nhờ đó tài liệu truyền thống được đưa vào tầm nhìn của những vấn đề không phải võ đoán mà là trọng tâm của triết học [tr.7]. Như vậy, cuối cùng chúng ta đi đến một khái niệm về triết học một cách cụ thể. Chúng ta vừa có được một ‘giới-thiệu’ về triết học không đứng ngoài triết học và thêu dệt những câu chuyện về những gì đã được nghĩ về triết học và ngày nay có thể nghĩ về nó, là một ‘giới-thiệu’ dẫn vào chính triết học. Người ta không bao giờ có thể triết lý ‘một cách chung chung’, mà đúng hơn, mỗi vấn đề triết học đích thực, trong mỗi trường hợp, là một vấn đề cụ thể duy nhất. Nhưng mặt khác, không có vấn đề triết học đích thực nào có cái gọi là vấn đề chuyên môn hóa. Mỗi vấn đề đích thực là một vấn đề cơ bản. NB. Nota bene Lưu ý: Tình trạng khô cằn lan rộng trong các khóa học triết học hàn lâm cũng bắt nguồn từ nỗ lực giảng dạy cho sinh viên bằng những nét vẽ rộng lớn quen thuộc, có thể chỉ trong một học kỳ, về mọi thứ trên thế giới, hoặc thậm chí còn hơn thế nữa. Người ta cho rằng phải học bơi, nhưng chỉ đi lang thang trên bờ, trò chuyện về tiếng rì rầm của dòng sông, nói về các thành phố và thị trấn mà nó chảy qua. Điều này đảm bảo rằng tia lửa không bao giờ bùng lên trong mỗi sinh viên, thắp lên trong họ một ngọn lửa không bao giờ có thể bị dập tắt trong Dasein/Hiện hữu của họ.*        

[Ghi chú dài về Dasein và liên quan: Đã bước sang thập kỷ thứ bảy, giới học giả nghiên cứu về Heidegger ở Mỹ vẫn chưa đạt được sự đồng thuận vững chắc về chủ đề chính của Heidegger; nhưng chúng ta không thể hiểu Dasein nếu không làm rõ vấn đề trung tâm trong tư tưởng của Heidegger – điều mà ông gọi là “bản thể tự thân” (die Sache selbst). Do đó, chương này nghiên cứu “bản thể tự thân” như một cách để hiểu Dasein. Điều đó có vẻ như là một cách tiếp cận vòng vo; nhưng không, đó là con đường thẳng dẫn đến chủ đề của chúng ta – bởi vì Dasein chính là bản thể tự thân; hay là không?; nhiều học giả vẫn khẳng định rằng chủ đề trung tâm trong tác phẩm của Heidegger là das Sein ‘Hiện hữu’ hay das Sein selbst Hiện hữu Tự thân, bất chấp khẳng định rõ ràng của Heidegger rằng nó không phải vậy; năm 1962 (chính xác là sáng thứ Tư, ngày 12 tháng 9), Heidegger khẳng định một cách mạnh mẽ rằng một khi chúng ta vượt qua Seinsgeschichte Lịch sử Hữu thể của siêu hình học và bắt đầu suy nghĩ trong phạm vi Ereignis Sự kiện  – kể từ thời điểm đó, das Sein ‘Hiện hữu’, bắt nguồn từ những quy luật đó, không còn là chủ đề thích hợp của tư duy nữa.”; Heidegger đã đưa ra quan điểm tương tự bảy năm sau đó, vào ngày 11 tháng 9 năm 1969, trong một hội thảo không chính thức tại Le Thor, Provence; đầu tiên, ông nhắc lại sự phân biệt ba cấp độ của mình giữa các das Anwesende Hiện hữu, das Anwesen Hiện diện, và das Lassen des Anwesens cái để lại các Hiện diện; sau đó, ông tuyên bố rằng ở cấp độ thứ ba đó – vốn là lĩnh vực thích hợp trong tư tưởng của ông – GA 15: 365.17–18: “Wenn die Betonung lautet: Anwesen lassen, ist sogar für den Namen Sein kein Raum mehr.” Cf. SD 40.18–31.  “Nếu trọng tâm là để cho hiện hữu hiện diện, thì ngay cả cái tên ‘hiện hữu’ cũng không còn chỗ nữa.”Nếu ‘Hiện hữu’ hay ‘Hiện hữu tự thân’ không phải là chủ đề trung tâm của Heidegger, vậy thì chủ đề trung tâm là gì? Trang đầu tiên của tác phẩm ‘Hữu thể và Thời gian’ đã làm rõ rằng câu hỏi cơ bản của Heidegger không phải là về Hữu thể mà là về Ý nghĩa của Hữu thể, der Sinn von Sein. “Aber anfänglicher denn dies ist das Seyn, auf das die Unterscheidung von Sein und Seiendem.... nicht anwendbar ist.” Nhưng điều cơ bản hơn sự khác biệt này (giữa Hữu thể và hiện hữu) chính là Hữu thể mà sự phân biệt giữa Hữu thể và hiện hữu …lại không thích hợp với nó (Hữu thể).” Đó là manh mối để phân biệt tư tưởng của Heidegger với cả siêu hình học truyền thống và hiện tượng học của Husserl. Đó là chìa để mở chiếc khóa die Sache selbst bản thân vấn đề. Tuy nhiên, nó lại thường bị bỏ qua, và rất tai hại là đối với chính các nghiên cứu về Heidegger. Khi nghiên cứu Heidegger, mọi thứ phụ thuộc vào những tiền đề mà người ta mang đến cho công việc. Vấn đề là ở chỗ những tiền đề của Aristotle và Husserl mà Heidegger nói rằng ông đã mang đến cho tác phẩm của mình. Vì vậy bắt đầu bằng việc đặt chủ đề của Heidegger trong sự tương phản với siêu hình học của Aristotle và hiện tượng học của Husserl, và sau đó giải thích vai trò của Dasein trong chủ đề đó là trọng tâm. Chỉ có như vậy thì mới chứng minh được rằng Dasein là câu trả lời cho câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể. Chúng ta bắt đầu bằng cách phân biệt tác phẩm của Heidegger với siêu hình học cổ điển theo hình thức khách quan mà Husserl gọi là Ουσιολογία Ousiology Bản thể học và Aristotle gọi là ‘triết học’, ‘triết học đầu tiên’, hoặc đơn giản là ‘khoa học mà chúng ta tìm kiếm’. Đối với Aristotle, lĩnh vực hay chủ đề chính trong nghiên cứu của triết học đầu tiên là tất cả mọi thứ có thực – bất cứ thứ gì không phải là hư vô, bất cứ thứ gì đang tồn tại. Aristotle diễn đạt điều đó như là τὸ ὄν bất cứ thứ gì tồn tại, mà Heidegger dịch bằng từ ngữ mới trong tiếng Đức là das Seiende các ‘hiện hữu’ hoặc ‘bất kỳ hiện hữu nào’. Hơn nữa, Aristotle đặt trọng tâm cụ thể vào đối tượng nghiên cứu đó, khía cạnh hình thức mà ông nghiên cứu, không gì khác hơn là điều kiện tồn tại thực sự của nó, tính hiện thực của nó. Aristotle gọi tính hiện thực này là οὐσία ousia tính là hay hiện hữu của bất cứ thứ gì tồn tại – mà Heidegger dịch là Seiendheit của das Seiende. Với tư cách là một nghiên cứu về οὐσία ousia, siêu hình học của Aristotle là một Ουσιολογία Ousiology Bản thể học. Nó nghiên cứu tính hiện thực của bất cứ thứ gì tồn tại thực sự, tính hiện hữu của bất cứ thứ gì tồn tại, bản thể của bất cứ thứ gì có tồn tại. Trên cơ sở giả định rằng οὐσία ousia bản thể là thứ làm cho mọi thứ trở nên có thực, siêu hình học của Aristotle đặt ra hai câu hỏi về bản thể đó: Bản chất của nó là gì? Và nguồn gốc tối thượng của nó là gì? Những câu hỏi này cấu trúc nên hai giai đoạn của siêu hình học của Aristotle. Khi xem xét bản chất của tồn tại, siêu hình học là Bản thể học; và khi nghiên cứu nguồn gốc tối thượng của tồn tại, nó là Thần học – Thần học tự nhiên trái ngược với Thần học mặc khải. Bản chất của tồn tại của cái thực là ἐνέργεια energeia. Nguồn gốc tối thượng của tồn tại của cái thực là energeia hoàn hảo. Giai đoạn thứ nhất: Bản thể học Bản chất của tồn tại của sự vật đã được các nhà triết học khác nhau hiểu theo những cách khác nhau. Ví dụ, Plato coi bản chất của οὐσία ousia là ý niệm hay εἶδος eidos, Aristotle coi đó là ἐνέργεια energeia hay ἐντελέχεια entelecheia, còn Aquinas hiểu đó là esse . Nhưng bất kể những cách diễn đạt khác nhau, có một sự hội tụ về vấn đề cốt lõi. Plato, Aristotle và Aquinas đều đồng ý gọi một sự vật là ‘thực’ nếu nó tồn tại và là một cái gì đó, tức là nếu nó tồn tại và có hình thức hoặc bản chất. Nói rằng bất cứ thứ gì ‘có tồn tại’ có nghĩa là nó ‘hiện-hữu-trong-một- hình-thức’ hoặc ‘có-tồn-tại-với-bản-chất’. Đối với ba nhà triết học này, câu hỏi ‘Cái gì làm cho bất cứ thứ gì trở nên có thực?’ được trả lời về mặt hình thức bởi ousia ‘being/là’ và về mặt vật chất bởi eidos, energeia, hoặc esse. Mặc dù có sự đồng thuận chung rằng ‘being/là’ – thứ giải thích cho thực tại, tại sao Aristotle lại hiểu ‘being/là’ cụ thể là energeia? Aristotle xem xét tồn-tại-trong-một-hình-thức ousia một cách năng động và có tính mục đích: hình thức của một sự vật là cách tồn tại lý tưởng của nó, đó là những gì sự vật đó được cho là phải có. Ẩn dụ chủ đạo ở đây là thể thao và khổ hạnh. Danh từ Hy Lạp τὸ ἆθλον to athlon có nghĩa là ‘giải thưởng giành được trong một cuộc thi’; và động từ ‘giành giật giải thưởng’ là ἀθλέω athleo. Nhưng giành giật giải thưởng đòi hỏi vận động viên phải liên tục ἀσκέω askeo luyện tập để có được vóc dáng tốt. Là một vận động viên đồng nghĩa với việc là một người khổ hạnh, một người liên tục luyện tập để có được vóc dáng tốt và duy trì vóc dáng đó. Áp dụng phép ẩn dụ này vào thuyết bản thể của Aristotle: thứ duy nhất có hình dạng hoàn hảo là thần thánh, thực sự là hình thức lý tưởng của nó và hoàn hảo như những gì nó được cho là phải có. Mọi thứ khác vẫn đang phấn đấu cho lý tưởng của mình, vì vậy, ngoài Thượng đế, tồn tại thực sự không có nghĩa là ở trong hình dạng của mình mà là trở thành hình dạng của mình. Ví dụ, con người vẫn chưa đạt được τέλος telos mục tiêu lý tưởng của mình và do đó chưa hoàn toàn ἐν-τελ-έχεια en-tel-echeia ‘trong-telos-của-mình’ hoặc hoàn toàn ἐνέργεια energeia - trong hình dạng hoàn chỉnh của mình, giống như một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Con người không τέλειος hoàn hảo mà là ἀ-τέλειος không-hoàn hảo, vẫn-đang-trên-đường-đến-mục-tiêu. Do đó, theo quan điểm này, tồn tại thực sự có thể có hai nghĩa: hoặc vẫn đang trở thành hình dạng lý tưởng của mình hoặc đã là nó; hoặc vẫn đang hướng tới κίνησις kinesis hoàn hảo hoặc đã an nghỉ với bản thân đã στάσις stasis hoàn thiện (stasis). Theo Sheehan Thomas (2005). Dasein, In A Companion to Heidegger Edited by Hubert L. Dreyfus, Mark A. Wrathall, Copyright © 2005 by Blackwell Publishing Ltd.- HHN] 

[Ghi chú tiếp về: Dasein sống trong Thế giới của nó: Về ý nghĩa của sự sống đối với Nietzsche, một trong những triết gia đầu tiên cho rằng sự phân biệt giữa sự sống và cái chết liên quan đến sự tổ chức của Streitkräfte các lực lượng. Cần nhắc lại rằng Nietzsche đã xây dựng một chủ nghĩa duy vật đơn nguyên mà không có những giả định máy móc hiện diện trong nhiều chủ nghĩa duy vật. Đối với Nietzsche, các lực lượng ‘thực hiện’ ‘phép tường giải’ hay diễn giải tương hỗ cần thiết cho sự an lành của cơ thể. Dù chúng ta có thể nói gì khác đối với quan niệm về sự sống của ông, Nietzsche vẫn không đưa ra bất kỳ nguyên tắc bên ngoài nào vào sự tương tác của các lực lượng, và những lực lượng này biểu thị các quá trình đang hoạt động ở mọi cấp độ tồn tại. Nhưng quan niệm như vậy có ý nghĩa như thế nào đối với mối quan hệ giữa Hữu thể và sự sống trong Hữu thể luận Tường giải của Heidegger? Để hiểu điều này, chúng ta phải quay trở lại với hiện hữu của Dasein như là Sorge chăm sóc. Trong khi Sorge được đặt trong mối quan hệ tương đối với thế giới như là hiện thân của cái thực thể được gọi là Dasein, thì chăm sóc không liên quan gì đến các hành vi thể chất được quy cho nguyên nhân, chẳng hạn như quá trình trao đổi chất hoặc các bản năng. Đối với Heidegger, Angst xao xuyến trước hết mang tính tường giải, là một Stimmung Tâm trạng cơ bản, và chỉ sau đó nó mới là một phần của các quá trình thể chất sống động (BT §40, 234; GA II 189). Dasein không bao giờ nên được hiểu theo nghĩa nhân quả, đặc biệt là khi nhân quả duy vật quy giản cơ thể thành khách thể và áp dụng cùng một nguyên tắc cơ học, mang tính quy giản cho chúng như đối với các vật thể khác trong thế giới. Với sự xử lý sơ lược của ông về cơ thể, thì theo nghĩa nào chúng ta có thể nói rằng cơ thể của Dasein là sống, ít nhất là không tầm thường? Dường như Heidegger không tìm được con đường nào để xem xét nó cùng với zoa các loài động vật sống khác – bởi vì trong Hữu thể và Thời gian, điểm xuất phát thích hợp sẽ là hiện hữu quan tâm đến sự hiện hữu của chính Dasein và có khả năng cấu hình xung quanh nó một thế giới các đối tượng, các sự vật sẵn có. Nhưng liệu Dasein, và Heidegger - cũng có thể nắm bắt được những hiện hữu như vậy là đang sống? Trong §41 của Hữu thể và Thời gian, chúng ta biết rằng Sorge không thể bị quy giản thành các động năng cơ bản. Phép tường giải về Dasein cho chúng ta thấy một hiện hữu thời gian hóa và luôn luôn hiện hữu trong thế giới hoạt động của nó. Điều này không bao giờ xảy ra đối với các sinh vật sống khác, mà với chúng không có vấn đề hiện hữu. Tương tự, những hiện hữu như vậy không thể được coi là ‘tồn tại’ theo cách thời gian hóa như Dasein. Do đó, không có gì gắn kết Dasein với các loài ‘động vật’ khác, ngoài thực tế hiển nhiên là cả hai đều đang sống. Tuy nhiên, thực tế đó không giúp chúng ta hiểu được Dasein có thể sống theo nghĩa nào, và sự khác biệt về bản chất giữa Dasein và động vật đặt ra cho chúng ta một lựa chọn khó chịu, là thứ sẽ định hướng phần còn lại của các lập luận tiếp theo. Nghĩa là, hoặc chúng ta phải hình dung Dasein sống động dưới ánh sáng của các thực thể sống khác, mặc dù những thực thể này không có tính thời gian ek-stasis xuất-thân cũng như một bona fide thế giới sự vật đích thực, hoặc chúng ta phải suy nghĩ lại mối quan hệ cấu thành giữa Hữu thể và Thời gian đối với chính Dasein. Hàm ý của lựa chọn này có tầm quan trọng lớn khi thảo luận về Angst Xao xuyến, mà đối với Heidegger vừa là một hiện tượng thể xác, gồm run rẩy, đổ mồ hôi - vừa là một hiện tượng tường giải, liên quan đến ý nghĩa. Một mặt, nó liên quan đến mối quan hệ giữa Hữu thể luận cơ bản và sự sống, dù được hình dung về mặt vật chất bởi động vật học hoặc sinh lý học, hay dưới ánh sáng của ý nghĩa và môi trường. Hàm ý khác liên quan đến sự tồn tại của chính Dasein và việc loại trừ tư duy về sự sống mà nó thực hiện trong khuôn khổ phép tường giải và phản tư. Theo Bergo Bettina (2021). Heidegger II: Nỗi Xao xuyến, Thời gian hóa của Dasein và Thời gian tính của “Cuộc sống”, tháng 1 năm 2021, Trong sách: Nỗi Xao xuyến, tr.361-396. Bergo Bettina (2021). Heidegger II: Angst, the Temporalization of Dasein, and the Temporality of “Life”, January 2021, In book Anxiety, pp.361-396. HHN]

Tóm lại, chúng ta có thể tiếp cận triết học thông qua các vấn đề cụ thể của logic. Đúng vậy, người ta có thể nói rằng chính quá trình nới lỏng logic trong các gốc rễ và vấn đề triết học của nó cũng đã giả định hiểu biết về triết học. Bởi vì chỉ khi đó, sự nới lỏng mới có thể tạo ra cơ hội để thiết lập và duy trì một hướng đi tới triết học và giữ vững con đường đó. Điều đó quả thực là không thể phủ nhận. Nhưng từ đó, chúng ta chỉ có thể suy luận ngay rằng người thầy của một phương pháp nhất định hẳn đã biết trước hướng đi của phương pháp đó, và ông ta thực sự đã từng đến nơi mà ông ta muốn dẫn dắt chúng ta đến. Cách thức ông ta dẫn dắt sẽ cho thấy liệu ông ta đã thực sự đến đó hay chỉ đang thuật lại những gì kẻ khác suy đoán, những kẻ mà bản thân họ cũng chưa từng đến đó. Nhưng để cung cấp cho sinh viên một cái nhìn sơ lược ban đầu, thì tốt hơn hết là chúng ta nên hiểu về ý niệm triết học, dù chỉ là tạm thời. Điều đó không chỉ cần thiết khi xem xét các bước cụ thể của khóa học này, mà còn cần thiết hơn nữa khi xem xét việc bạn đã dành Dasein hiện tại của mình cho việc học tập hàn lâm, và dù rõ ràng hay không, thì điều đó luôn đồng nghĩa với triết học. Việc này [tr.8] đang diễn ra và đã diễn ra đến mức nào từ một sự tự do nội tâm, liệu có ý chí thực sự nào đằng sau quyết định này hay không, phạm vi của hình thức tồn tại này tại trường đại học nói chung, rõ ràng đến mức nào hay cố tình bị bỏ ngỏ cho bóng tối và sự thờ ơ, thì tất cả những điều đó là vấn đề của mỗi cá nhân.

Khi chúng ta cố gắng mô tả ý niệm về triết học một cách tạm thời, nghĩa là tự mình tìm ra nơi nào và bằng cách nào có thể đạt được bất cứ điều gì giống như triết học, thì chúng ta có thể áp dụng nhiều con đường khác nhau, không phải là tùy tiện và ngẫu nhiên, mà đơn giản chỉ là sự phản ánh, như thể, của chính triết học. Vì những lý do trước hết sẽ trở nên dễ hiểu trên cơ sở một quan niệm rõ ràng về triết học, vấn đề sau đây là rất quan trọng đối với tất cả các cách mô tả ý niệm về triết học: Triết học chỉ có thể được mô tả từ và trong hồi ức lịch sử. Nhưng hồi ức này chỉ là chính nó, chỉ sống động, trong khoảnh khắc tự hiểu biết, và điều đó có nghĩa là trong sự nắm bắt tự do, hiệu quả của chính mình về nhiệm vụ được đặt ra trong triết học.* Các cách thức hồi ức lịch sử và phản ánh về hiện tại không phải là hai cách thức riêng biệt, mà cả hai đều là những yếu tố thiết yếu của mọi cách thức hướng tới ý niệm về triết học. Ý niệm này không được định nghĩa bằng việc chúng ta tự nghĩ ra, chẳng hạn, một khái niệm triết học hiện đại, để rồi sau đó chúng ta có thể tham khảo lịch sử triết học bằng cách hồi tưởng để tìm hiểu xem điều gì đã được suy nghĩ và ám chỉ về ý tưởng của chúng ta còn điều gì thì chưa. Không thích hợp để chúng ta chọn ra một triết học từ lịch sử, dù đó là triết học Plato hay Aristotle, Leibniz hay Kant, mà đơn giản là tự đặt mình vào đó như thể đó là chân lý được giả định, để rồi sau đó điều chỉnh và bổ sung nó, như thể, cho nhu cầu hiện đại vậy. Không có một định nghĩa lịch sử về triết học và ngược lại, bên cạnh đó là một định nghĩa được gọi là có hệ thống cũng không. Đúng ra, cái cần thiết lại là một định nghĩa ‘từ tính lịch sử’.† Mô tả lịch sử sẽ vô nghĩa nếu nó không có tính hệ thống, và [tr.9] mô tả hệ thống sẽ trống rỗng nếu nó không mang tính lịch sử. Điều này cho thấy sự phân biệt này là giả tạo và cần phải được loại bỏ.

Thực sự chỉ có một cách duy nhất minh định triết học về ý tưởng triết học. Cách minh định này tự nó vừa mang tính hồi tưởng vừa tập trung vào hiện tại. Ở đây tồn tại một nhất tính nguyên thủy, đó là nhất tính về thời gian tính của tự thân Dasein thực tế triết học hóa; toàn bộ vấn đề phải được làm sáng tỏ từ nhất tính này. Chỉ có dự án tự do của riêng mình mới tương xứng với những gì được hồi tưởng, chứ không phải sự dựa dẫm tưởng chừng đáng giá nhưng cuối cùng lại hèn nhát vào bất kỳ truyền thống nào, ngay cả truyền thống đáng kính nhất. Hồi tưởng từ sử tính là cần thiết không phải vì chúng ta đã có một lịch sử triết học dài phía sau, cũng không phải vì lòng mộ đạo đòi hỏi chúng ta phải chú ý đến người xưa. Ngay cả khi không có một lịch sử triết học rõ ràng, thì vẫn cần phải quay lại và tiếp nối truyền thống mà mỗi Dasein con người đứng trong đó, cho dù nó có ý thức lịch sử phát triển hay không, và cho dù những gì nó phải hồi tưởng có được minh nhiên gọi là ‘triết học’ hay không.

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

*Từ ‘khoa học’ ở đây được dùng để dịch từ tiếng Đức Wissenschaft, mà Heidegger đã dùng để dịch từ tiếng Hy Lạp ἐπιστήμη episteme. Cả hai thuật ngữ tiếng Đức và tiếng Hy Lạp đều có nghĩa rộng hơn một chút so với từ science khoa học trong tiếng Anh và không hề bị giới hạn ở tri ​​thức về sự kiện hay sự hiểu biết lý thuyết về tự nhiên. Wissenschaft đề cập đến bất kỳ hệ thống tri ​​thức có tổ chức nào.

†Câu tiếng Đức là eine Bestimmung iibermột quyết định về. Tôi thêm ký hiệu biến tổng quát ở đây để dễ đọc hơn, nhưng đồng thời cũng muốn cảnh báo người đọc rằng, do ý hướng Hữu thể luận của Heidegger, chúng ta phải thận trọng trong việc sử dụng hình thức logic-toán học ở cấp độ xem xét một hiện tượng như khẳng định.

* Faktische Aussagen, trong ngữ cảnh này, không có nghĩa là các phát biểu thực tế theo nghĩa các phát biểu về sự thật, cũng như faktisch vollzogene Aussagen không có nghĩa là các phát biểu được thực hiện trên thực tế theo nghĩa các phát biểu được thực hiện một cách tự nhiên. Thay vào đó, faktisch ở đây và ở những nơi khác, có nghĩa là đã thực sự xảy ra hoặc có thực tế lịch sử. Để cho phép ý nghĩa này được truyền tải với độ phức tạp cú pháp tối thiểu, tôi đã cho phép từ factical của Gennan mang ý nghĩa đặc biệt này. Xem thêm Từ điển của Hofstadter, tr.356, bản dịch tác phẩm Vấn đề cơ bản của Hiện tượng học của Heidegger, Bloomington: Nxb Đại học Indiana, 1982). [tr.2].

*Từ Dasein không nhất thiết phải mang đầy đủ nội dung lý thuyết của terminus technicu một thuật ngữ kỹ thuật tại thời điểm này, mà có thể mang nghĩa chung thường mơ hồ là ‘tồn tại’. Ở đây, nó được giữ nguyên bằng tiếng Đức, cũng như xuyên suốt bản dịch, để chỉ ra phạm vi rộng lớn của ngôn ngữ Heidegger, bắt nguồn từ cách sử dụng hàng ngày ngay cả trong những cách diễn đạt ý nghĩa sáng tạo nhất của ông. [Tr. 8]

*Ở đây khái niệm geschichtliche Erinnerung Ký ức lịch sử diễn ra im au genblicklichen Sichselbstverstehen trong tự nhận thức hiện tại hoặc augenblickltchen Beainnung ấn tượng thoáng chốc dĩ nhiên là chủ đề của phần lớn phân tích trong Hữu thể và Thời gian, nơi ‘khoảnh khắc tự phản tỉnh’ hay ‘phản tỉnh về hiện tại’ là chìa khóa cho ba trạng thái xuất thân về thời gian. Augenblickliche Beainnung được dịch là ‘phản tỉnh tập trung vào hiện tại’ hoặc ‘phản tỉnh ở đây và bây giờ’ hoặc ‘phản tỉnh tập trung vào khoảnh khắc’. [tr.8]

†Ở đây Heidegger kêu gọi một geschichtliche Bestimmung, một ‘bối cảnh lịch sử’ theo nghĩa là một định nghĩa coi trọng các sự kiện thời gian của tồn tại. Ông tiếp tục nói rằng một historische Kennzeichnung, một cách ghi dấu ấn lịch sử, theo nghĩa một đặc điểm dựa trên các sự kiện và văn bản lịch sử có thể xác định được, sẽ vô nghĩa nếu nó không mang tính hệ thống. Do đó, sự phân đôi ‘historisch-systematisch’ tính lịch sử- tính hệ thống là giả tạo khi được sử dụng như những lựa chọn thay thế để mô tả triết học về bản chất của nó; chính định nghĩa geschichtlich có tính lịch sử về triết học mới vượt qua được sự lưỡng nan sai lầm này. Bản dịch sử dụng ‘sử tính’ hoặc ‘từ sử tính’ để chỉ ‘lịch sử’ theo nghĩa geschichtlich có tính lịch sử, trái ngược với historisch. [tr.8]