Powered By Blogger

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (V)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

7. Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận

C. Sơ bộ Khái niệm Hiện tượng luận

Khi chúng ta hình dung một cách cụ thể những gì đã trình bày trong phần Diễn giải về ‘hiện tượng’ và ‘logos’, chúng ta sẽ nhận thấy một mối quan hệ nội tại giữa những sự vật được hiểu bởi các thuật ngữ này. Từ ‘hiện tượng học’ có thể được diễn đạt bằng tiếng Hy Lạp là λέγειν τὰ φαινόμενα, [Chen ngang: Cụm từ tiếng Hy Lạp λέγειν τὰ φαινόμενα légein tà phainómena theo nghĩa đen là ‘nói về hiện tượng’ hoặc ‘nêu rõ những gì xuất hiện’. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, nó đề cập đến việc mô tả mọi thứ chính xác như chúng hiện diện trước sự quan sát, kinh nghiệm hoặc ý thức của con người, mà không áp đặt những lý thuyết chưa được chứng minh lên chúng. Ý nghĩa và cách sử dụng của cụm từ này phụ thuộc vào các bối cảnh triết học khác nhau: đối với Martin Heidegger cụm từ này được dùng để định nghĩa cốt lõi của hiện tượng học: λέγειν legein có nghĩa là ‘để cho cái gì đó được nhìn thấy’ hoặc ‘làm cho hiển lộ’, xuất phát từ ἀποφαίνεσθαι apophainesthai có nghĩa là ‘xuất hiện’, ‘đưa ra ánh sáng’, hoặc ‘trình bày’. Về phương diện ngữ pháp, nó là dạng động từ trung gian của động từ ἀποφαίνω apophaino với các nghĩa ‘trình bày’, ‘tuyên bố’, ‘tiết lộ’ hoặc ‘chứng minh’ đây là một động từ ghép giữa ἀπό apo- nghĩa là ‘từ’ hoặc ‘xa’ và φαίνω phaino là ‘trình bày’ hoặc ‘xuất hiện’.

Trong đời sống hàng ngày của người Hy Lạp cổ đại, nó thường có nghĩa là trưng ra để khoe khoang, hoặc đưa ra một tuyên bố/khẳng định điều gì đó. Về phương diện hiện tượng luận, trong triết học, đặc biệt là trong các tác phẩm của Aristotle và Martin Heidegger, nó thường được dịch là diễn ngôn mặc khải, đề cập đến việc để cho những gì tự hiển lộ được nhìn thấy từ chính nó, đưa sự thật hoặc một hiện tượng ra khỏi sự che giấu và vào ánh sáng ban ngày. Các từ τὰ φαινόμενα ta phainomena có nghĩa là ‘các hiện tượng’ — theo nghĩa đen là ‘những thứ xuất hiện’ hoặc ‘các hiện tượng’. Xuất phát từ động từ φαίνω phaino tỏa sáng, hiển hiện, xuất hiện, thuật ngữ này đề cập đến thế giới hữu hình được cảm nhận thông qua các giác quan của con người. Thời Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học tự nhiên và thiên văn học đã sử dụng cụm từ σῴζειν τὰ φαινόμενα sōdzein ta phainomena là một cụm từ triết học và khoa học cổ đại của Hy Lạp, có nghĩa là ‘bảo tồn hiện tượng’ hoặc ‘bảo tồn vẻ bề ngoài’. Trong tiếng Hy Lạp cổ đại, σῴζειν bảo tồn có nghĩa là giữ gìn, cứu vãn hoặc giữ vững. ‘Bảo tồn hiện tượng’ là một lý thuyết khoa học phải tôn trọng, giải thích và không mâu thuẫn với các sự kiện có thể quan sát được. τὰ φαινόμενα đề cập đến dữ liệu hoặc vẻ bề ngoài có thể quan sát được. Đối với Martin Heidegger cụm từ λέγειν τὰ φαινόμενα nói về các hiện tượng được coi là mệnh lệnh của triết học: để cho mọi vật tự bộc lộ như chúng vốn có mà không áp đặt những định kiến ​​bên ngoài hay các giả định siêu hình, trong đó λέγειν có nghĩa là απόφαίνεσθαι. HHN] Như vậy, ‘hiện tượng học/luận’ có nghĩa là απόφαίνεσθαι τὰ φαινόμενα - để cho cái tự biểu hiện được nhìn thấy từ chính nó theo đúng cách mà nó tự biểu hiện. Đây là ý nghĩa hình thức của ngành nghiên cứu tự gọi mình là ‘hiện tượng học/luận’. Ở đây ta không nói gì khác ngoài châm ngôn nêu trên: ‘Hướng đến chính bản thân sự vật!’ Do đó, thuật ngữ ‘hiện tượng học’ hoàn toàn khác về ý nghĩa so với các thuật ngữ như ‘thần học’ và tương tự. Những thuật ngữ đó chỉ định [tr.59] các đối tượng của các ngành khoa học tương ứng theo chủ đề mà chúng bao gồm tại thời điểm đó [trong ihrer jeweiligen Sachhaltigkeit các sự thật tương ứng của chúng].

‘Hiện tượng học’ không chỉ định đối tượng nghiên cứu của nó, vì vậy cũng không mô tả chủ đề được bao gồm trong nó. Từ này chỉ đơn thuần cho chúng ta biết ‘cách thức’ mà với nó những gì được xử lý trong khoa học này được thể hiện và vận dụng. Có một khoa học 'về' hiện tượng có nghĩa là nắm bắt các đối tượng của nó theo cách mà mọi thứ về chúng được đưa ra thảo luận phải được xử lý bằng cách thể hiện trực tiếp và chứng minh trực tiếp.1  Thuật ngữ ‘hiện tượng học mô tả’, về cơ bản là trùng lặp, có cùng ý nghĩa. Ở đây ‘mô tả’ không có nghĩa là một quy trình như chúng ta thấy, chẳng hạn, trong hình thái học thực vật; thuật ngữ này mang ý nghĩa của một sự cấm đoán – tránh việc mô tả bất cứ điều gì mà không có sự chứng minh như vậy. Đặc tính của chính sự mô tả này, ý nghĩa cụ thể của λόγος logos, trước hết có thể được xác định dựa trên Sachheit ‘tính sự vật’  của cái cần được ‘mô tả’ – nghĩa là, của cái cần được xác định rõ ràng về mặt khoa học khi chúng ta chạm trán với nó về phương diện hiện tượng. Ý nghĩa của ‘hiện tượng’, được hiểu cả về mặt hình thức lẫn cách hiểu thông thường, là bất kỳ sự trình bày nào về một thực thể như nó tự thể hiện mình, đều có thể được gọi là ‘hiện tượng học’ với sự biện minh về mặt hình thức.

Vậy cần phải xem xét điều gì nếu khái niệm hình thức về hiện tượng phải được giải hình thức hóa thành quan niệm hiện tượng học, và làm thế nào để phân biệt quan niệm hiện tượng học này với quan niệm thông thường? Hiện tượng học ‘cho chúng ta thấy’ điều gì? Điều gì phải được gọi là ‘hiện tượng’ theo một nghĩa riêng biệt? Điều gì mà bản chất của nó nhất thiết là chủ đề mỗi khi chúng ta trình bày điều gì đó một cách rõ ràng? Rõ ràng, đó là điều gì đó gần gũi và phần lớn không tự biểu hiện ra: đó là điều gì đó nằm ẩn giấu, trái ngược với điều gần gũi và phần lớn biểu hiện ra; nhưng đồng thời đó là điều thuộc về những gì biểu hiện ra, và nó thuộc về điều đó một cách thiết yếu đến mức cấu thành ý nghĩa và nền tảng của nó. Tuy nhiên, điều gì vẫn ẩn giấu một cách nghiêm trọng, hoặc điều gì tái phát và bị che đậy lại, hoặc điều gì chỉ biểu hiện ra ‘dưới vỏ bọc’, không chỉ là hiện hữu này hay thực thể kia, mà đúng hơn là Hữu thể của các hiện hữu, như những quan sát trước đây của chúng ta đã chỉ ra. Hữu thể này có thể bị che giấu đến mức bị lãng quên và không còn nghi ngờ gì về nó hay về ý nghĩa của nó. Như vậy, cái đòi hỏi nó phải trở thành một hiện tượng, và đòi hỏi điều này theo một nghĩa đặc biệt và xét về nội dung cốt lõi nhất của nó như một sự vật, chính là điều mà hiện tượng học đã nắm bắt về mặt chủ đề như là đối tượng nghiên cứu của nó.

[Tr.60] Hiện tượng học là cách chúng ta tiếp cận chủ đề của bản thể học, và đó cũng là cách chúng ta mang lại sự chính xác mang tính chứng minh cho nó. Chỉ với tư cách là là hiện tượng học thì bản thể luận mới trở nên khả thể. Trong quan niệm hiện tượng học về ‘hiện tượng’, điều người ta nghĩ đến như là cái tự biểu hiện chính là Hữu thể của các hiện hữu, ý nghĩa của nó, các biến thể và dẫn xuất của nó.2 Cái tự-biểu hiện này không chỉ là bất kỳ tự-biểu hiện nào, cũng không phải là thứ gì đó xuất hiện. Trên hết, Hữu thể của các hiện hữu không bao giờ có thể là bất cứ thứ gì mà ‘đằng sau nó’ là một thứ gì đó khác ‘không xuất hiện’. ‘Đằng sau’ các hiện tượng của hiện tượng học về cơ bản không có gì khác; cái sẽ trở thành một hiện tượng có thể bị che giấu. Chính vì các hiện tượng gần gũi và phần lớn không được cho sẵn, nên mới cần đến hiện tượng học. Tình-trạng-che-giấu là khái niệm đối lập với ‘hiện tượng’.         

[Chèn nguyên bản Đức văn: C. Der Vorbegriff der Phänomenologie Bei einer konkreten Vergegenwärtigung des in der Interpretation von »Phänomen« und »Logos« Herausgestellten springt ein innerer Bezug zwischen dem mit diesen Titeln Gemeinten in die Augen. Der Ausdruck Phänomenologie läßt sich griechisch formulieren: λέγειν τὰ φαινόμενα; λέγειν besagt aber ἀποφαίνεσθαι. Phänomenologie sagt dann: ἀποφαίνεσθαι τὰ φαινόμενα: Das was sich zeigt, so wie es sich von ihm selbst her zeigt, von ihm selbst her sehen lassen. Das ist der formale Sinn der Forschung, die sich den Namen Phänomenologie gibt. So kommt aber nichts anderes zum Ausdruck als die oben formulierte Maxime: »Zu den Sachen selbst!« (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.34– HHN] Tạm dịch nghĩa: C. Khái niệm sơ bộ về hiện tượng học: Khi xem xét cụ thể những gì được nhấn mạnh trong cách diễn giải ‘hiện tượng’ và ‘logos’, mối liên hệ nội tại giữa ý nghĩa của các thuật ngữ này trở nên rõ ràng. Thuật ngữ hiện tượng học có thể được diễn đạt bằng tiếng Hy Lạp: λέγειν τὰ φαινόμενα nói về các sự vật xuất hiện; tuy nhiên, λέγειν legein nói có nghĩa là ἀποφαίνεσθαι apophainesthai có nghĩa là ‘xuất hiện’, ‘đưa ra ánh sáng’, hoặc ‘trình bày’. Do đó hiện tượng học cho rằng: ἀποφαίνεσθαι τὰ φαινόμενα apophainesthai ta phainomena: Để cho cái tự bộc lộ được nhìn thấy từ chính nó, giống như cách nó tự bộc lộ. Đây là ý nghĩa hình thức của nghiên cứu tự gọi là hiện tượng học. Điều này không gì khác ngoài châm ngôn đã nêu ở trên: ‘Hãy hướng đến chính bản thân sự vật!’

Der Titel Phänomenologie ist demnach hinsichtlich seines Sinnes ein anderer als die Bezeichnungen Theologie u. dgl. Diese nennen die Gegenstände der betreffenden Wissenschaft in ihrer jeweiligen Sachhaltigkeit. »Phänomenologie« nennt weder den Gegenstand ihrer Forschungen, noch charakterisiert der Titel deren Sachhaltigkeit. Das Wort gibt nur Aufschluß über das Wie der Aufweisung und Behand-lungsart [p.35] dessen, was in dieser Wissenschaft abgehandelt warden soll. Wissenschaft »von« den Phänomenen besagt: eine solche Erfassung ihrer Gegenstände, daß alles, was über sie zur Erörterung steht, in direkter Aufweisung und direkter Ausweisung abgehandelt werden muß. Denselben Sinn hat der im Grunde tautologische Ausdruck »deskriptive Phänomenologie«. Deskription bedeutet hier nicht ein Verfahren nach Art etwa der botanischen Morphologie – der Titel hat wieder einen prohibitiven Sinn: Fernhaltung alles nichtausweisenden Bestimmens. Der Charakter der Deskription selbst, der spezifische Sinn des λóγος, kann allererst aus der »Sachheit« dessen fixiert werden, was »beschrieben«, d. h. in der Begegnisart von Phänomenen zu wissenschaftlicher Bestimmtheit gebracht werden soll. Formal berechtigt die Bedeutung des formalen und vulgären Phänomenbegriffes dazu, jede Aufweisung von Seiendem, so wie es sich an ihm selbst zeigt, Phänomenologie zu nennen. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.34-35.–HHN] Tạm dịch nghĩa: Do đó, thuật ngữ ‘hiện tượng học’ khác về nghĩa với các thuật ngữ như ‘thần học’ và những thuật ngữ tương tự. Những thuật ngữ này gọi tên các đối tượng của khoa học tương ứng bằng nội dung thực tế tương ứng của chúng. ‘Hiện tượng học’ không nêu tên đối tượng nghiên cứu cũng không mô tả nội dung thực tế của nó. Từ này chỉ cung cấp thông tin về cách thức chứng minh và xử lý [tr.35] những gì cần được nghiên cứu trong khoa học này. Khoa học ‘về’ các hiện tượng có nghĩa là: nắm bắt các đối tượng của chúng đến mức mọi thứ liên quan đến chúng phải được xử lý thông qua chứng minh trực tiếp và minh chứng trực tiếp. Cách diễn đạt mang tính lặp thừa ‘hiện tượng học mô tả’ có cùng ý nghĩa. Ở đây mô tả không có nghĩa là một quy trình giống như hình thái học thực vật - thuật ngữ này lại có một ý nghĩa cấm đoán: loại trừ mọi xác định không mang tính mô tả. Đặc tính của chính sự mô tả, ý nghĩa cụ thể của λóγος logos, chỉ có thể được xác định từ ‘tính khách quan’ của cái cần được ‘mô tả’, tức là được đưa đến việc xác định khoa học theo phương thức tiếp cận với các hiện tượng. Về mặt hình thức, ý nghĩa của khái niệm hiện tượng, cả chính thức lẫn thông thường, cho phép gọi bất kỳ sự chứng minh nào về các hiện hữu khi nó tự biểu hiện là ‘hiện tượng học’.

Mit Rücksicht worauf muß nun der formale Phänomenbegriff zum phänomenologischen entformalisiert werden und wie unterscheidet sich dieser vom vulgären? Was ist das, was die Phänomenologie »sehen lassen« soll? Was ist es, was in einem ausgezeichneten Sinne »Phänomen« genannt werden muß? Was ist seinem Wesen nach notwendig Thema einer ausdrücklichen Aufweisung? Offenbar solches, was sich zunächst und zumeist gerade nicht zeigt, was gegenüber dem, was sich zunächst und zumeist zeigt, verborgen ist, aber zugleich etwas ist, was wesenhaft zu dem, was sich zunächst und zumeist zeigt, gehört, so zwar, daß es seinen Sinn und Grund ausmacht. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.35–HHN] Tạm dịch nghĩa: Vậy thì, khái niệm hình thức về hiện tượng cần được giải-hình thức hóa thành khái niệm hiện tượng học như thế nào, và khái niệm này khác với khái niệm thông thường ra sao? Hiện tượng học có nhiệm vụ ‘làm cho hiển lộ’ điều gì? Điều gì cần được gọi là ‘hiện tượng’ theo nghĩa đặc biệt? Theo bản chất của nó, điều gì nhất thiết phải là đối tượng của sự chứng minh rõ ràng? Rõ ràng, đó là những gì ban đầu và phần lớn không tự biểu hiện, những gì bị che giấu khỏi những gì ban đầu và phần lớn tự biểu hiện, đồng thời lại là những gì về bản chất thuộc về những gì ban đầu và phần lớn tự biểu hiện, theo cách cấu thành ý nghĩa và nền tảng của nó.

Was aber in einem ausnehmenden Sinne verborgen bleibt oder wieder in die Verdeckung zurückfällt oder nur »verstellt« sich zeigt, ist nicht dieses oder jenes Seiende, sondern, wie die voranstehenden Betrachtungen gezeigt haben, das Sein des Seienden. Es kann so weitgehend verdeckt sein, daß es vergessen wird und die Frage nach ihm und seinem Sinn ausbleibt. Was demnach in einem ausgezeichneten Sinne, aus seinem eigensten Sachgehalt her fordert, Phänomen zu werden, hat die Phänomenologie als Gegenstand thematisch in den »Griff« genommen. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.35– HHN] Tạm dịch nghĩa: Nhưng điều vẫn còn ẩn giấu theo một nghĩa đặc biệt, hoặc quay trở lại trạng thái che đậy, chỉ tự bộc lộ kiểu ‘ngụy trang’, không phải là hiện hữu này hay thực thể kia, mà, như trước đó đã chỉ ra, là Hữu thể của các hiện hữu. Nó có thể bị che giấu triệt để đến mức bị lãng quên, và câu hỏi về nó và ý nghĩa của nó vẫn chưa được giải đáp. Do đó, cái đòi hỏi phải trở thành một hiện tượng theo nghĩa đặc biệt, từ bản chất cốt lõi của nó, chính là chủ đề mà hiện tượng học đã chọn làm đối tượng nghiên cứu.

Phänomenologie ist Zugangsart zu dem und die ausweisende Bestimmungsart dessen, was Thema der Ontologie werden soll. Ontotogie ist nur als Phänomenologie möglich. Der phänomenologische Begriff von Phänomen meint als das Sichzeigende das Sein des Seienden, seinen Sinn, seine Modifikationen und Derivate. Und das Sichzeigen ist kein beliebiges noch gar so etwas wie Erscheinen. Das Sein [p.36] des Seienden kann am wenigsten je so etwas sein, »dahinter« noch etwas steht, »was nicht erscheint«. »Hinter« den Phänomenen der Phänomenologie steht wesenhaft nichts anderes, wohl aber kann das, was Phänomen warden soll, verborgen sein. Und gerade deshalb, weil die Phänomene zunächst und zumeist nicht gegeben sind, bedarf es der Phänomenologie. Verdecktheit ist der Gegenbegriff zu »Phänomen«.  (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.35-36.–HHN] Tạm dịch nghĩa: Hiện tượng học là phương thức tiếp cận và phương thức xác định cái sẽ trở thành chủ thể của bản thể luận. Bản thể luận chỉ có thể tồn tại với tư cách hiện tượng học. Khái niệm hiện tượng trong hiện tượng học, như là cái tự bộc lộ, biểu thị Hữu thể của các hiện hữu, ý nghĩa của chúng, sự biến đổi và các dẫn xuất của chúng. Và sự tự bộc lộ này không phải là tùy tiện, thậm chí cũng không giống như sự xuất hiện. Hữu thể [tr.36] của các hiện hữu không bao giờ có thể là một cái gì đó ‘đằng sau’ nó mà ‘không xuất hiện’. Về bản chất, không có gì khác đứng ‘đằng sau’ các hiện tượng của hiện tượng học, cái trở thành một hiện tượng chắc chắn có thể bị che giấu. Chính vì các hiện tượng ban đầu và hầu hết không được cho sẵn, nên cần thiết phải có hiện tượng học. Sự che giấu là trái ngược với ‘hiện tượng’. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.35-36. – HHN]

Có nhiều cách mà các hiện tượng có thể bị che lấp. Trước hết, một hiện tượng có thể bị che giấu theo nghĩa là nó vẫn còn hoàn toàn chưa được khám phá. Nó không được biết đến cũng không phải không được biết đến.3 Hơn nữa, một hiện tượng có thể verschütten bị chôn vùi. Điều này có nghĩa là nó đã từng được khám phá nhưng đã bị xuống cấp đến mức lại bị che giấu. Sự che giấu này có thể trở nên hoàn toàn; hay nói đúng hơn - và theo quy luật - những gì đã được khám phá trước đó vẫn có thể nhìn thấy được, mặc dù chỉ còn là một dáng vẻ mờ nhạt. Tuy nhiên, càng nhiều dáng vẻ, càng nhiều ‘Hữu thể’.4 Sự che giấu như một cách ‘ngụy trang’ này vừa là thường xuyên nhất vừa là nguy hiểm nhất, bởi vì ở đây khả tính lừa dối và gây hiểu lầm đặc biệt khó lường. Trong một ‘hệ thống’, có lẽ, những cấu trúc của Hữu thể - và các khái niệm của chúng - vẫn còn có đó nhưng bị che khuất trong bản tính vốn có của chúng, có thể đòi quyền của mình. Bởi vì khi chúng được liên kết với nhau theo cách tạo dựng trong một hệ thống, thì chúng tự thể hiện mình như một cái gì đó ‘rõ ràng’, không cần thêm sự biện minh nào nữa, và do đó có thể đóng vai trò là điểm khởi đầu cho một quá trình diễn dịch.

Bản thân sự che đậy, dù theo nghĩa giấu giếm, chôn vùi hay ngụy trang, lại có hai khả tính. Có những sự che đậy là ngẫu nhiên; cũng có những sự che đậy là cần thiết, dựa trên der Bestandart des Entdeckten cái mà sự vật được phát hiện bao gồm trong nó. Bất cứ khi nào một khái niệm hiện tượng học được rút ra từ các nguồn gốc nguyên thủy, [tr.61] thì đều có một khả tính là nó sẽ bị thoái hóa nếu được truyền đạt dưới dạng một khẳng định. Nó được hiểu một cách trống rỗng và do đó được truyền đi, mất đi đặc tính bẩm sinh của nó, và trở thành một luận điểm trôi nổi tự do. Ngay cả trong công trình cụ thể của bản thân hiện tượng học cũng tiềm ẩn cái khả tính là những gì đã từng ‘nằm trong nắm tay chúng ta’ từ nguyên thủy có thể trở nên cứng rắn đến mức chúng ta không còn nắm bắt được nó nữa. Và khó khăn của loại nghiên cứu này nằm ở việc làm cho nó tự phê phán theo nghĩa tích cực. Cách thức mà Hữu thể và các cấu trúc của nó được tiếp cận trong phương thức hiện tượng là một cách thức trước hết phải được giành lấy từ các đối tượng của hiện tượng học. Do đó, điểm xuất phát cho phân tích của chúng ta đòi hỏi phải được xác định bằng phương pháp thích hợp, cũng giống như việc tiếp cận hiện tượng, hay vượt qua bất cứ điều gì đang che khuất nó. Ý tưởng nắm bắt và giải thích các hiện tượng theo cách originaren ‘độc đáo’ và intuitiven ‘trực quan’ hoàn toàn trái ngược với sự ngây thơ của một sự ‘quan sát’ ngẫu nhiên, ‘ngay lập tức’ và Schauen thiếu suy xét.

Giờ đây, khi chúng ta đã xác định được khái niệm sơ bộ về hiện tượng học, thì các thuật ngữ ‘hiện tượng' và ‘thuộc về hiện tượng học’ cũng có thể được định nghĩa rõ ràng. Cái được cho sẵn và có thể giải thích được theo cách thức chạm trán hiện tượng được gọi là có ‘tính hiện tượng’; đây là điều chúng ta nghĩ đến khi nói về ‘cấu trúc hiện tượng’. Mọi thứ thuộc loại phô bày, giải thích, và góp phần tạo nên cách thức nhận thức mà nghiên cứu này đòi hỏi, được gọi là có ‘tính hiện tượng học’. Bởi vì các hiện tượng, khi được hiểu theo hiện tượng học, không bao giờ là gì khác ngoài những gì tạo nên Hữu thể, trong khi Hữu thể trong mọi trường hợp đều là Hữu thể của một hiện hữu nào đó, trước tiên chúng ta phải đưa ra chính các hiện hữu đó nếu mục đích của chúng ta là làm sáng tỏ Hữu thể; và chúng ta phải làm điều này theo đúng cách. Các hiện hữu này cũng phải tự thể hiện mình với kiểu tiếp cận thực sự thuộc về chúng. Và bằng cách này, khái niệm thông thường về hiện tượng trở nên có ý nghĩa về mặt hiện tượng học. Nếu phân tích của chúng ta muốn đạt được tính xác thực, thì mục tiêu của nó là phải xác định trước nhiệm vụ tự đảm bảo về phương diện ‘hiện tượng học’ của hiện hữu được dùng làm ví dụ, đã được ấn định như một điểm xuất phát của chúng ta.

Về chủ đề nghiên cứu, hiện tượng học là khoa học về Hữu thể của các hiện hữu – là Ontology Hữu thể luận. Trong việc giải thích các nhiệm vụ của Hữu thể luận, chúng ta thấy cần thiết phải có một Hữu thể luận cơ bản lấy hiện hữu mang tính Hữu thể luận-thực hữu đặc trưng, ​​Dasein, làm chủ đề, để đối mặt với vấn đề cốt lõi - câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Bản thân nghiên cứu của chúng ta sẽ cho thấy rằng ý nghĩa của việc mô tả hiện tượng luận như một phương pháp nằm ở việc diễn giải. Cái λόγος [tr.62] logos của hiện tượng luận về Dasein có đặc tính của một ἑρμηνεύείν hemeneuin hành động tường giải, [Ἐρμηνεύειν là động từ nguyên mẫu trong tiếng Hy Lạp cổ, có nghĩa là ‘giải thích’, ‘diễn giải’ hoặc ‘dịch’; là gốc của từ ‘hermeneutics’ phép tường giải, dùng để chỉ việc nghiên cứu và lý thuyết về diễn giải, đặc biệt là đối với văn bản và triết học; ý nghĩa gốc là từ Ἑρμῆς Hermes, vị thần đưa tin, cai quản các ranh giới giao thoa giữa thế giới thần linh và phàm trần; giống như Hermes phải hiểu và phiên dịch ý chí của các vị thần cho người phàm, động từ ἑρμηνεύειν được dùng để mô tả việc làm sáng tỏ điều gì đó vốn dĩ bị che giấu hoặc xa lạ; ý nghĩa cốt lõi tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng, động từ này bao gồm một vài hành động có liên quan như giải thích làm bộc lộ ý nghĩa của thông điệp, giấc mơ hoặc dấu hiệu; phiên dịch - thu hẹp khoảng cách giữa hai ngôn ngữ khác nhau; tường giải - nói hoặc trình bày rõ ràng chi tiết một chủ đề khiến nó trở nên dễ hiểu. HHN] thông qua đó ý nghĩa đích thực của Hữu thể, cấu trúc cơ bản của Hữu thể mà chính Dasein sở hữu, được làm sáng tỏ cho hiểu biết của Dasein về Hữu thể. Hiện tượng luận về Dasein là một phép tường giải theo nghĩa nguyên thủy của từ này, nơi nó chỉ định công việc diễn giải này.

[Chen ngang nguyên bản Đức văn: Sachhaltig genommen ist die Phänomenologie die Wissenschaft vom Sein des Seienden – Ontologie. In der gegebenen Erläuterung der Aufgaben der Ontologie entsprang die Notwendigkeit einer Fundamentalontologie, die das ontologisch-ontisch ausgezeichnete Seiende zum Thema hat, das Dasein, so zwar, daß sie sich vor das Kardinalproblem, die Frage nach dem Sinn von Sein überhaupt, bringt. Aus der Untersuchung selbst wird sich ergeben: der methodische Sinn der phänomenologischen Deskription ist Auslegung. Der λόγος der Phänomenologie des Daseins hat den Charakter des ἑρμηνεύειν, durch das dem zum Dasein selbst gehörigen Seinsverständnis der eigentliche Sinn von Sein und die Grundstrukturen seines eigenen Seins kundgegeben werden. Phänomenologie des Daseins ist Hermeneutik in der ursprünglichen Bedeutung des Wortes, wonach es das Geschäft der Auslegung bezeichnet. Sofern nun aber durch die Aufdeckung des Sinnes des Seins und der Grundstrukturen des Daseins überhaupt der Horizont herausgestellt wird für jede weitere ontologische Erforschung des nicht daseinsmäßigen Seienden, wird diese Hermeneutik zugleich »Hermeneutik« im Sinne der Ausarbeitung der Bedingungen der Möglichkeit jeder ontologischen Untersuchung. Und sofern schließlich das Dasein den ontologischen Vorrang hat vor allem Seienden – als Seiendes in der Möglichkeit der Existenz, erhält die Hermeneutik als Auslegung des Seins des Daseins einen spezifischen dritten – den, philosophisch verstanden, primären Sinn einer Analytik der Existenzialität der Existenz erhält die Hermeneutik als Auslegung des Seins des Daseins einen spezifischen dritten – den, philosophisch verstanden, primären Sinn einer Analytik der Existenzialität der Existenz. In dieser Hermeneutik ist dann, sofern sie die Geschichtlichkeit des Daseins ontologisch ausarbeitet als die ontische Bedingung der Möglichkeit der Historie, das verwurzelt, was nur abgeleiteterweise »Hermeneutik« genannt werden kann: die Methodologie der historischen Geisteswissenschaften. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.37-38. – HHN] Tạm dịch nghĩa: Nói về bản chất, hiện tượng học là khoa học về Hữu thể của các hiện hữu—Bản thể luận. Trong giải thích đã cho về nhiệm vụ của bản thể luận, nảy sinh nhu cầu về một bản thể luận cơ bản lấy đối tượng là Dasein, một hiện hữu được phân biệt về mặt Bản thể luận và thực hữu, theo cách mà nó đối mặt với vấn đề cốt lõi, câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Từ tự thân quá trình nghiên cứu, sẽ thấy rõ rằng mục đích phương pháp luận của mô tả hiện tượng luận là việc diễn giải. Cái λόγος của hiện tượng luận về Dasein mang đặc tính của ἑρμηνεύειν dấu hiệu của Hữu thể, thông qua đó ý nghĩa thực sự của Hữu thể và các cấu trúc cơ bản của chính Hữu thể của nó được tiết lộ cho sự hiểu biết về Hữu thể thuộc về Dasein. Hiện tượng học về Dasein là hermeneutics phép tường giải theo nghĩa gốc của từ, biểu thị công việc diễn giải. Tuy nhiên, trong chừng mực việc khám phá ý nghĩa của Hữu thể và các cấu trúc cơ bản của chính tồn tại thiết lập chân trời cho bất kỳ khảo sát bản thể học nào sâu hơn về các hiện hữu phi-tồn tại, thì phép tường giải này đồng thời trở thành ‘phép tường giải’ theo nghĩa làm rõ các điều kiện khả tính cho bất kỳ nghiên cứu bản thể luận nào. Trong chừng mực Dasein cuối cùng có ưu quyền bản thể luận đối với tất cả các hiện hữu—như những hiện hữu trong khả tính tồn tại—thì phép tường giải - một diễn giải về Hữu thể của các Daseins, có được một ý nghĩa thứ ba cụ thể— hiểu về phương diện triết học, đó là ý nghĩa chính yếu của một phân tích về tính hiện sinh của sự tồn tại. Bằng phép tường giải này, trong chừng mực nó làm rõ bản thể luận cái sử tính của Daseins như là điều kiện bản thể luận của khả tính lịch sử, nằm ở cái chỉ có thể gọi là ‘phép tường giải’ theo nghĩa phái sinh: phương pháp luận của các nhân văn học lịch sử. (Heidegger M. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.37-38.–HHN]

Nhưng ở mức độ mà bằng cách khám phá ra ý nghĩa của Hữu thể và các cấu trúc cơ bản của Dasein nói chung, chúng ta có thể mở ra chân trời cho bất kỳ nghiên cứu Hữu thể luận nào sâu hơn về những hiện hữu không có đặc tính của Dasein, thì hermeneutic phép tường giải này cũng trở thành một ‘phép tường giải’ theo nghĩa tìm ra các điều kiện mà các khả tính của bất kỳ nghiên cứu Hữu thể luận nào cũng đều phụ thuộc vào đó. Và cuối cùng, ở mức độ mà Dasein, với tư cách là một hiện hữu có khả tính tồn tại, có ưu quyền bản thể luận so với mọi hiện hữu khác, thì ‘phép tường giải’, như một cách diễn giải về Hữu thể của Dasein, lại mang ý nghĩa thứ ba và đặc thù là phân tích về tính hiện sinh của sự tồn tại; và đây là ý nghĩa mang tính triết học cơ bản. Vì vậy, chừng nào phép tường giải này làm rõ được sử tính của Dasein về phương diện bản thể luận như là điều kiện ontic thực hữu cho cái khả tính của môn historiology sử luận, thì nó chứa đựng các nguồn cội của cái chỉ có thể được gọi là ‘hermeneutic’ phép tường giải theo nghĩa phái sinh: phương pháp luận của các ngành khoa học nhân văn mang đặc tính sử luận.

Hữu thể, với tư cách là chủ đề cơ bản của triết học, không phải là một lớp hay giống của các hiện hữu; tuy nhiên nó liên quan đến mọi hiện hữu. Tính ‘phổ quát’ của nó cần được tìm kiếm ở cấp độ cao hơn. Hữu thể và cấu trúc của Hữu thể nằm ngoài mọi hiện hữu và mọi đặc tính khả thể mà một hiện hữu có thể sở hữu. Hữu thể là transcendens cái siêu việt thuần túy và đơn giản.5 Và siêu việt thế Hữu thể của Dasein là đặc biệt ở chỗ nó hàm chứa cái khả tính và sự cần thiết của cái cá nhân hóa triệt để nhất. Mỗi sự tiết lộ về Bản thể như là transcendens cái siêu việt đều là tri thức tiên nghiệm. Chân lý hiện tượng luận (trạng thái bộc lộ của Hữu thể) là veritas transcendentalis chân lý tiên nghiệm. Hữu thể luận và hiện tượng luận không phải là hai ngành triết học riêng biệt trong số những ngành khác. Các thuật ngữ này đặc trưng cho chính triết học về đối tượng và cách thức xử lý đối tượng đó.

Triết học là bản thể học hiện tượng luận phổ quát, và xuất phát từ phép tường giải của Dasein, với tư cách là một phân tích về sự tồn tại, đã trở thành kim chỉ nam cho mọi nghiên cứu triết học tại điểm mà nó phát sinh và quay về. Nghiên cứu tiếp theo đã có thể thực hiện được nếu nền tảng không được Edmund Husserl chuẩn bị với tác phẩm Logische Untersuchungen Khảo sát Logic của ông, hiện tượng học lần đầu tiên xuất hiện. Những bình luận của chúng tôi về quan niệm sơ bộ đối với hiện tượng học đã chỉ ra rằng điều cốt yếu trong đó [tr.63] không nằm ở tính hiện thực của nó như một Richtung phong trào triết học. Cao hơn tính hiện thực lại chính là khả tính.v Chúng ta chỉ có thể hiểu hiện tượng học bằng cách nắm bắt nó như một khả tính.

Về sự vụng về và ‘thiếu tinh tế’ trong cách diễn đạt của các phân tích sắp tới, chúng ta có thể nhận xét rằng việc đưa ra một báo cáo về các hiện hữu là một chuyện, nhưng nắm bắt được các hiện hữu trong Hữu thể của chúng lại là chuyện khác. Đối với nhiệm vụ thứ hai, chúng ta không chỉ thiếu hầu hết ngôn từ mà trên hết, còn thiếu cả ‘ngữ pháp’. Nếu chúng ta có thể đề cập đến một số nhà nghiên cứu trước đây về phân tích Hữu thể, những người không thể so sánh được ở cấp độ của họ, thì chúng ta có thể so sánh các phần về bản thể luận trong tác phẩm Parmenides của Plato hoặc Chương Thứ tư của cuốn Thứ bảy trong tác phẩm Siêu hình học của Aristotle với một đoạn văn tự sự từ Thucydides; khi đó chúng ta có thể thấy tính chất hoàn toàn chưa từng có của những công thức mà các triết gia Hy Lạp đã áp đặt lên người Hy Lạp. Và ở những nơi mà năng lực của chúng ta yếu hơn về bản chất, và hơn nữa, nơi mà lĩnh vực Hữu thể cần được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận khó khăn hơn nhiều so với những gì đã được trình bày cho người Hy Lạp, thì sự khắc nghiệt trong cách diễn đạt của chúng ta sẽ được tăng cường, và cả sự tỉ mỉ đến từng chi tiết trong việc hình thành các khái niệm của chúng ta cũng vậy.

8. Thiết kế Luận thuyết

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể là câu hỏi phổ quát nhất và trống rỗng nhất, nhưng đồng thời cũng có thể cá nhân hóa nó một cách rất chính xác cho bất kỳ Dasein cụ thể nào. Nếu chúng ta muốn đi đến khái niệm cơ bản về ‘Hữu thể’ và phác thảo các quan niệm bản thể luận mà nó đòi hỏi và những biến thể mà nó nhất thiết phải trải qua, thì chúng ta cần một manh mối cụ thể. Chúng ta sẽ tiến tới khái niệm Hữu thể thông qua một cách Diễn giải về một hiện hữu đặc biệt nào đó, Dasein, trong đó chúng ta sẽ đạt đến cái chân trời để hiểu về Hữu thể và khả tính diễn giải nó; tính phổ quát của khái niệm Hữu thể không bị phủ nhận bởi đặc tính tương đối ‘đặc biệt’ trong nghiên cứu của chúng ta. Nhưng chính cái hiện hữu Dasein này, tự nó lại mang tính ‘lịch sử’, do đó việc minh định bản thể học sâu xa nhất của nó nhất thiết trở thành một Diễn giải mang tính ‘sử luận’. Theo đó, cách tiếp cận của chúng ta đối với vấn đề Hữu thể được chia thành hai nhiệm vụ riêng biệt, và do đó Luận thuyết của chúng ta sẽ có hai phần: 1. Phần Một: Diễn giải Dasein trong khuôn khổ thời tính, và lý giải thời gian như là chân trời siêu nghiệm cho câu hỏi về Hữu thể; 2. Phần Hai: Các đặc điểm cơ bản của việc giải gỡ hiện tượng luận về lịch sử bản thể học, với vấn đề Thời tính với tư cách manh mối của chúng ta. Phần Một có ba Mục: 1) Phân tích cơ bản chuẩn bị về Dasein; 2) Dasein và Thời tính; 3) Thời gian và Hữu thể. Phần Hai cũng có ba Mục:6 1) Học thuyết về lược đồ và thời gian của Kant, như một giai đoạn sơ bộ trong vấn đề Thời tính; 2) Nền tảng bản thể luận ‘cogito sum’ của Descartes, và cách thức mà bản thể luận Trung cổ đã được chuyển sang vấn đề ‘res cogitans’ thực thể tư duy; iii) Luận văn của Aristotle về thời gian, như một cách để phân biệt cơ sở hiện tượng và các giới hạn bản thể luận cổ đại.

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ….in direkter Aufweisung und direkter Ausweisung….’ [p.59]

2 ‘Der phänomenologische Begriff von Phänomen meint als das Sichzeigende das Seindes Seienden, seinen Sinn, seine Modifikationen und Derivate.' [p.60]

3 ' Über seinen Bestand gibt es weder Kenntnis noch Unkenntnir. TJ:ie các ấn bản trước đó có ‘Erkenntnis’ trong khi các ấn bản sau này có ‘Unkenntnis’. Từ ‘Bestand’ luôn gây khó khăn trong triết học của Heidegger; ở đây nó cho phép một trong hai cách hiểu, mà chúng tôi đã cố tình lựa chọn giữa hai cách hiểu này: ‘Liệu có tồn tại thứ như vậy hay không, thì không được biết cũng không được biết’, và ‘Cái mà nó bao gồm là thứ mà chúng ta không có kiến ​​thức cũng không có sự thiếu hiểu biết.’. [tr.60]

4 “Wieviel Schein jedoch, soviel ‘Sein’.” [p.60]

5 ‘Sein und Seinsstruktur liegen über jedes Seiende and jede mögliche seiende Bestimmtheit eines Seienden hinaus. Sein i.st das transcendens schlechthin.' [p.62]

6 Part Two and the third division of Part One have never appeared [p.64]

 

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (IV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

7. Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận

[T.49] Khi tạm thời mô tả cái khách thể đóng vai trò là chủ đề trong nghiên cứu của chúng ta (Hữu thể của các hiện hữu, hay ý nghĩa của Hữu thể nói chung), dường như chúng ta cũng đã vạch ra phương pháp cần sử dụng. Nhiệm vụ của Bản thể luận là giải thích chính Hữu thể và làm nổi bật Hữu thể của các hiện hữu một cách đầy đủ. Và phương pháp bản thể luận vẫn còn gây tranh cãi ở mức độ cao nhất chừng nào chúng ta chỉ tham khảo những bản thể luận đã được lưu truyền trong lịch sử, hoặc các bài luận khác có tính chất tương tự. Vì thuật ngữ ‘bản thể luận’ được sử dụng trong nghiên cứu này theo nghĩa rộng về mặt hình thức, nên bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm rõ phương pháp bản thể luận bằng cách truy tìm lịch sử của nó đều tự động bị loại trừ. [Ghi chú nguyên bản để so sánh: “Mit der vorläufigen Charakteristik des thematischen Gegenstandes der Untersuchung (Sein des Seienden, bzw. Sinn des Seins überhaupt) scheint auch schon ihre Methode vorgezeichnet zu sein. Die Abhebung des Seins vom Seienden und die Explikation des Seins selbst ist Aufgabe der Ontologie. Und die Methode der Ontologie bleibt im höchsten Grade fragwürdig, solange man etwa bei geschichtlich überlieferten Ontologien oder dergleichen Versuchen Rat erbitten wollte. Da der Terminus Ontologie für diese Untersuchung in einem formal weiten Sinne gebraucht wird, verbietet sich der Weg, ihre Methode im Verfolg ihrer Geschichte zu klären, von selbst.” (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.27. HHN chú thêm: Khi dẫn đoạn nguyên văn trên người đọc chỉ muốn bạn đọc so sánh các từ chủ chốt của bản Đức văn Sein des Seienden [cùng gốc Sein] và bản Anh văn the Being of entities [khác gốc to be] mà thôi. Như chúng ta đều biết trong tiếng Đức, ‘Seienden’ thường được dùng với mạo từ das hoặc ein là thuật ngữ triết học dùng để chỉ ‘các hiện hữu’, ‘các vật thể’ hoặc ‘những thứ tồn tại’; nó là một phân từ hiện tại được danh từ hóa, bắt nguồn từ động từ sein giống như to be trong tiếng Anh; sein là động từ nguyên dạng mang nghĩa như to beto exist trong tiếng Anh; phân từ -end: khi thêm hậu tố -end thì động từ trở thành danh động từ hoặc phân từ như being trong tiếng Anh, mang nghĩa ‘being-hiện hữu’ hoặc ‘existing-tồn tại’; ví dụ seiend có nghĩa là existent vẫn ‘tồn tại’; danh từ (-en) - viết hoa và thêm -en sẽ chuyển đổi nó về mặt ngữ pháp thành một danh từ mô tả chính khách thể/đối tượng - một being ‘hiện hữu’ hoặc thing ‘vật thể’; vì vậy das Seiende hiểu theo nghĩa đen là ‘cái đang là/hiện hữu/tồn tại’; trong lịch sử siêu hình học, các nhà triết học đã dịch khái niệm Hy Lạp τὸ ὄν và từ Latin ens thực thể sang tiếng Đức là das Seiende. Martin Heidegger dùng Sein như là Bản/Hữu thể tự thân Being itself, hay trạng thái tồn tại, và das Seiende beings các hiện hữu/thực thể, là những sự vật, đồ vật hoặc con người riêng lẻ tồn tại; ông đã tạo ra sự phân biệt Ontological Hữu thể luận và Ontic Thực hữu này khi đặt câu hỏi tại sao bất cứ điều gì lại tồn tại, tách biệt khái niệm Hữu thể khỏi các thực hữu.- HHN)]. Hơn nữa, khi chúng ta sử dụng thuật ngữ ‘bản thể học’, chúng ta không nói về một ngành triết học cụ thể nào đó có mối liên hệ với các ngành khác. Ở đây, người ta không cần phải đáp ứng các nhiệm vụ của một số ngành học đã được trình bày trước đó; ngược lại, chỉ khi xét đến những nhu cầu khách quan của các câu hỏi quyết định và loại xử lý mà ‘bản thân sự vật’ đòi hỏi, thì mới phát triển được ngành học đó.

Với câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, nghiên cứu của chúng ta [tr.50] đặt ra câu hỏi cơ bản của triết học. Đây là một câu hỏi cần được xử lý theo phương pháp hiện tượng luận. Do đó, luận thuyết của chúng ta không tán thành một ‘quan điểm’ hay đại diện cho bất kỳ ‘hướng đi’ đặc biệt nào; bởi vì hiện tượng luận không phải là bất kỳ loại nào trong số đó, và nó cũng không thể trở thành như vậy chừng nào nó còn tự hiểu chính mình. Thuật ngữ ‘hiện tượng luận’ chủ yếu biểu thị một quan niệm phương pháp luận. Thuật ngữ này không mô tả cái gì là đối tượng của nghiên cứu triết học với tư cách là chủ đề nghiên cứu, mà là cách thức tiến hành nghiên cứu đó. Khái niệm phương pháp luận càng được xây dựng một cách chân thực và càng xác định một cách toàn diện các nguyên tắc mà một ngành khoa học cần được tiến hành, thì nó càng bắt nguồn sâu xa từ cách chúng ta tiếp cận chính bản thân sự vật,1  và càng xa rời những gì chúng ta gọi là ‘thiết bị kỹ thuật’, mặc dù có rất nhiều thiết bị như vậy ngay cả trong các ngành lý thuyết. Do đó, thuật ngữ ‘hiện tượng luận’ thể hiện một châm ngôn có thể được diễn đạt là zu den Sachen selbst! ‘Hướng đến chính bản thân sự vật!’ Nó phản đối mọi cấu trúc không có căn cứ và những phát hiện ngẫu nhiên; nó phản đối việc tiếp nhận bất kỳ khái niệm nào chỉ có vẻ được chứng minh; nó phản đối những câu hỏi giả tạo tự xưng là ‘vấn đề’, thường kéo dài qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng, nguyên tắc này hiển nhiên đến mức đáng kinh ngạc, và hơn nữa, nó thể hiện nguyên tắc cơ bản của bất kỳ tri ​​thức khoa học nào. Tại sao một điều hiển nhiên như vậy lại cần được đề cập rõ ràng khi đặt tên cho một ngành nghiên cứu? Trên thực tế, vấn đề ở đây là một loại ‘hiển nhiên’ mà chúng ta muốn làm rõ hơn, chừng nào việc đó còn quan trọng để làm sáng tỏ quy trình của luận văn này. Chúng ta sẽ chỉ trình bày khái niệm sơ bộ [Vorbegriff] về hiện tượng luận.

Thuật ngữ này có hai thành phần: ‘hiện tượng’ và ‘logos’. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: φαινόμενονλόγος. Xét một cách hời hợt, thuật ngữ ‘hiện tượng luận’ được hình thành giống như ‘thần học’, ‘sinh học’, ‘xã hội học’ - những tên gọi có thể được dịch là ‘khoa học về Thượng đế’, ‘khoa học về sự sống’, ‘khoa học về xã hội’. Điều này sẽ biến hiện tượng luận thành khoa học về các hiện tượng. Chúng ta sẽ trình bày khái niệm sơ bộ về hiện tượng luận bằng cách mô tả những gì người ta nghĩ đến trong hai thành phần của thuật ngữ, ‘hiện tượng’ và ‘logos’, và bằng cách thiết lập ý nghĩa của tên gọi mà chúng được ghép lại với nhau. Lịch sử của chính từ này, được cho là xuất hiện trong Schule Wolffs Trường phái Wolffs, ở đây không có ý nghĩa gì. [tr.51]

A. Khái niệm Hiện tượng

Từ tiếng Hy Lạp φαινόμενον, mà thuật ngữ ‘hiện tượng’ quay trở lại với nó, có gốc động từ φαίνεσθαι, nghĩa là ‘tự thể hiện’. Vì vậy φαινόμενον có nghĩa là das, was sich zeigt, das Sichzeigende, das Offenbare cái tự thể hiện, tự biểu hiện. Bản thân từ φαίνεσθαι là một thể trung động Middle-voiced form [Ghi chen ngang tý chút: Ai đã từng lướt qua lớp học tiếng Hy Lạp cổ đều rõ, đây là một dạng của động từ nằm giữa thể chủ động và thể bị động; chủ ngữ trong câu vừa là người thực hiện hành động, vừa là người/vật nhận kết quả của hành động đó. Để thấy sự khác biệt mà người Hy Lạp tạo ra giữa thể Active Voice chủ động và thể Middle Voice trung động trong động từ ngoại động, hãy xem xét ví dụ sau: ví dụ ta có một con ngựa, nếu ai đó thả con ngựa đó ra, thì động từ đó ở thể chủ động trong tiếng Hy Lạp: λύει τὸν ἵππον μου Hắn thả ngựa của tôi; nhưng nếu chính tôi cởi dây buộc ngựa của mình để cưỡi nó, thì đó sẽ là thể trung động trong tiếng Hy Lạp: λύομαι τὸν ἵππον Tôi thả ngựa của mình ra. Một số động từ tiếng Hy Lạp, có thể có sự khác biệt quan trọng về nghĩa giữa thể chủ động và thể trung động; ví dụ: αἱρέω ở thể chủ động Tôi lấy, nhưng λανθάνω ở thể trung động Tôi chọn; σταθμάω ở thể chủ động Tôi đo lường; λανθμάω ở thể trung động lại là Tôi tính toán; σκοπέω ở thể chủ động là Tôi nhìn vào; λανθάνω ở thể trung động lại là Tôi xem xét; πορεύω ở thể chủ động Tôi mang; λανθάνω ở thể chủ động lại là Tôi trốn tránh sự chú ý của; λανθάνω ở thể chủ động Tôi quên.- HHN] xuất phát từ φαίνω - đưa ra ánh sáng, đặt trước ánh sáng. φαίνω xuất phát từ gốc φα-, giống như φῶς, nghĩa là ánh sáng, cái gì đó sáng sủa - nói cách khác, là cái mà trong đó một cái gì đó có thể trở nên hiển hiện, tự nó có thể nhìn thấy được. Vì vậy, chúng ta phải ghi nhớ rằng thuật ngữ ‘hiện tượng’ biểu thị cái tự hiển lộ, cái hiển hiện. Theo đó, φαινόμενα hay ‘hiện tượng’ là toàn bộ những gì nằm trong ánh sáng ban ngày hoặc có thể được đưa ra ánh sáng - điều mà người Hy Lạp đôi khi đồng nhất đơn giản với τὰ ὄντα (các hiện hữu).

Giờ đây, một thực thể có thể tự hiển lộ từ chính nó [von ihm selbst her] theo nhiều cách, trong từng trường hợp, tùy thuộc vào loại tiếp cận mà chúng ta có được với nó. Thậm chí, một thực thể còn có thể tự hiển lộ như một cái gì đó không phải là bản thân nó. Khi nó tự hiển lộ theo cách này, nó 'trông giống như cái gì đó khác' [‘sieht’… ‘so aus wie…’]. Kiểu tự thể hiện này là điều chúng ta gọi là ‘dường như’ [Scheinen]. Tương tự như vậy, trong tiếng Hy Lạp, cụm từ φαινόμενον (‘hiện tượng’) biểu thị cái trông giống như một cái gì đó, cái ‘semblant’, ‘semblance’ [das ‘Scheinbare’, der ‘Schein’). φαινόμενον άγάθων có nghĩa là một điều tốt đẹp trông giống như, nhưng ‘thực tế’ không phải là những gì nó tự thể hiện. Nếu muốn hiểu sâu hơn về khái niệm hiện tượng, mọi thứ phụ thuộc vào việc chúng ta nhận thấy mối liên hệ cấu trúc giữa cái được chỉ định trong nghĩa thứ nhất của φαινόμενον (‘hiện tượng’ như cái tự biểu hiện) và cái được chỉ định trong nghĩa thứ hai (‘hiện tượng’ như hình thức bề ngoài). Chỉ khi ý nghĩa của một thứ gì đó khiến nó tự nhận là đang tự biểu hiện – tức là, là một hiện tượng – thì nó mới có thể tự biểu hiện như một thứ mà nó không phải; chỉ khi đó nó mới có thể ‘chỉ trông giống như cái này cái kia’. Khi φαινόμενον có nghĩa là ‘hình thức bề ngoài’, thì nghĩa nguyên thủy (hiện tượng như cái hiển hiện) đã được bao gồm như là nền tảng của nghĩa thứ hai. Chúng ta sẽ dùng thuật ngữ ‘hiện tượng’ để chỉ ý nghĩa tích cực và nguyên thủy này của φαινόμενον, và phân biệt phenomenon ‘hiện tượng’ với semblance ‘dáng vẻ’, là dạng phủ định của ‘hiện tượng’ được định nghĩa như vậy. Nhưng những gì cả hai thuật ngữ này thể hiện về cơ bản không liên quan gì đến cái gọi là ‘sự xuất hiện’, hoặc càng không phải là ‘sự xuất hiện đơn thuần’.2

[Tr.52] Đây là điều được đề cập đến Krankheitserscheinungen ‘các triệu chứng của một căn bệnh’. Ở đây, người ta đang nghĩ đến một số hiện tượng nhất định trong cơ thể tự biểu hiện và, khi tự biểu hiện như vậy, lại indizieren ‘chỉ ra’ một điều gì đó không tự biểu hiện. Sự xuất hiện của những hiện tượng như vậy, sự biểu hiện của chúng, đi đôi với sự hiện diện của những rối loạn không tự biểu hiện. Sự xuất hiện với tư cách sự xuất hiện ‘của điều gì đó’ do đó không có nghĩa là: tự biểu hiện, mà đúng hơn là sự báo hiệu của điều gì đó không tự biểu hiện, thông qua điều gì đó tự biểu hiện. Sự xuất hiện là một sự không biểu hiện. Nhưng từ ‘không’ mà chúng ta thấy ở đây hoàn toàn không được nhầm lẫn với từ ‘không’ phủ định mà chúng ta đã sử dụng để định nghĩa cấu trúc của sự tương đồng.3 Cái gì xuất hiện thì không tự biểu hiện; và bất cứ điều gì không tự biểu hiện ra cũng là thứ gì đó không bao giờ có thể xuất hiện. 4 Tất cả các dấu hiệu, biểu hiện, triệu chứng và biểu tượng đều có cấu trúc hình thức cơ bản này của sự xuất hiện, mặc dù chúng khác nhau.

[Nguyên bản Đức văn: So ist die Rede von »Krankheitserscheinungen«. Gemeint sind Vorkommnisse am Leib, die sich zeigen und im Sichzeigen als diese Sich zeigenden etwas »indizieren«, was sich selbst nicht zeigt. Das Auftreten solcher Vorkommnisse, ihr Sichzeigen, geht zusammen mit dem Vorhandensein von Störungen, die selbst sich nicht zeigen. Erscheinung als Erscheinung »von etwas« besagt demnach gerade nicht: sich selbst zeigen, sondern das Sichmelden von etwas, das sich nicht zeigt, durch etwas, was sich zeigt. Erscheinen ist ein Sich-nicht-zeigen. Dieses »Nicht« darf aber keineswegs mit dem privativen Nicht zusammengeworfen werden, als welches es die Struktur des Scheins bestimmt. Was sich in der Weise nicht zeigt, wie das Erscheinende, kann auch nie scheinen. Alle Indikationen, Darstellungen, Symptome und Symbole haben die angeführte formale Grundstruktur des Erscheinens, wenngleich sie unter sich noch verschieden sind. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.29. “Do đó, chúng ta nói về ‘triệu chứng bệnh tật’. Đây là những hiện tượng trong cơ thể tự biểu hiện và, khi biểu hiện, ‘chỉ ra’ điều gì đó mà bản thân nó không biểu hiện. Sự xuất hiện của những hiện tượng này, sự biểu hiện của chúng, trùng khớp với sự hiện diện của những rối loạn mà bản thân chúng không biểu hiện. Sự xuất hiện với tư cách là sự xuất hiện ‘của một cái gì đó’ do đó không có nghĩa là: tự biểu hiện, mà là sự truyền đạt của một cái gì đó không tự biểu hiện thông qua một cái gì đó tự biểu hiện. Sự xuất hiện là sự không biểu hiện. Tuy nhiên, ‘sự không biểu hiện’ này không được nhầm lẫn với trạng thái không tồn tại mang tính phủ định, như nó xác định cái cấu trúc của sự xuất hiện. Cái gì không tự biểu hiện theo cùng một cách với cái biểu hiện thì không bao giờ có thể xuất hiện. Tất cả các dấu hiệu, biểu tượng, triệu chứng và biểu trưng đều có cấu trúc hình thức cơ bản của sự xuất hiện đã đề cập ở trên, mặc dù chúng khác nhau.” - HHN]     

[Tr.53] Mặc dù thực tế là ‘sự xuất hiện’ không bao giờ là sự tự biểu hiện theo nghĩa của ‘hiện tượng’, sự xuất hiện chỉ có thể xảy ra nhờ sự tự biểu hiện của một cái gì đó. Nhưng sự tự biểu hiện này, giúp cho sự xuất hiện trở nên khả thể, lại không phải chính là sự xuất hiện. Sự xuất hiện là das Sich-melden tự thông báo thông qua một cái gì đó tự biểu hiện. Nếu sau đó người ta nói rằng với từ ‘sự xuất hiện’ chúng ta ám chỉ một cái gì đó trong đó một cái gì đó xuất hiện mà bản thân nó không phải là một sự xuất hiện, thì người ta không định nghĩa khái niệm hiện tượng: đúng hơn là người ta đã giả định nó. Tuy nhiên, giả định này vẫn được che giấu; vì khi người ta nói điều này về ‘sự xuất hiện’, thì cách biểu đạt ‘xuất hiện’ được sử dụng theo hai cách. “Cái mà trong đó một cái gì đó ‘xuất hiện’” có nghĩa là cái mà trong đó một cái gì đó tự tuyên bố bản thân, và do đó nó không tự biểu hiện; và bằng Rede những câu từ “mà bản thân nó không phải là một ‘sự xuất hiện’”, thì ‘sự xuất hiện’ lại biểu nghĩa sự tự- biểu hiện. Nhưng sự tự biểu hiện này về bản chất lại thuộc về ‘cái trong đó’ mà ở đó một cái gì đó tự tuyên bố về bản thân. Theo đó, các hiện tượng không bao giờ là sự xuất hiện, mặc dù mặt khác, mọi sự xuất hiện đều phụ thuộc vào các hiện tượng.

Nếu người ta định nghĩa ‘hiện tượng’ bằng cách sử dụng một khái niệm về ‘sự xuất hiện’ vẫn còn mơ hồ, thì mọi thứ sẽ bị đảo lộn, và trên cơ sở này một ‘phê bình’ hiện tượng luận chắc chắn là một việc làm đáng chú ý. Vì vậy, một lần nữa, chính thuật ngữ ‘sự xuất hiện’ có thể có hai nghĩa: thứ nhất, xuất hiện, theo nghĩa tự tuyên bố sự tồn tại của nó, như là không tự hiển thị; và tiếp theo, việc mà nó thực hiện tuyên bố [das Meldende selbst] điều mà trong sự tự hiển thị của nó chỉ ra một cái gì đó không tự hiển thị. Và cuối cùng, người ta có thể dùng từ ‘xuất hiện’ để chỉ nghĩa đích thực của ‘hiện tượng’ như là sự tự biểu hiện. Nếu ta chỉ định ba điều khác nhau này là ‘sự xuất hiện’, thì thật khó tránh khỏi bối rối. Nhưng sự bối rối này về cơ bản còn tăng lên bởi vì một thực tế là ‘sự xuất hiện’ có thể mang một ý nghĩa khác nữa. Điều mà việc thực hiện thông báo - cái mà trong sự tự biểu hiện của nó, chỉ định một điều gì đó không-biểu hiện có thể được hiểu là điều mà cái xuất hiện trong chính cái không-biểu hiện đó, và cái phát ra [ausstrahlt] từ nó theo cách mà cái không-biểu hiện được coi là một điểu gì đó về bản chất không bao giờ biểu hiện.

Khi điều mà việc thực hiện thông báo được hiểu theo cách này, ‘sự xuất hiện’ tương đương với việc ‘đem đến’ hoặc ‘cái gì đó được tạo ra’, nhưng là cái không tạo nên Hữu thể thực sự của cái sản sinh ra nó: ở đây ta có một sự xuất hiện theo nghĩa ‘chỉ là sự xuất hiện đơn thuần’. Điều mà việc thực hiện thông báo và được đưa ra, dĩ nhiên, tự bộc lộ, và theo cách mà, như một sự phát ra từ cái mà nó thông báo, nó luôn che giấu chính điều này trong bản thân nó. Mặt khác, việc không bộc lộ mà che giấu này không phải là một hình thức bề ngoài. Kant sử dụng thuật ngữ ‘sự xuất hiện’ theo hai cách này. Theo ông, những ‘sự xuất hiện’ trước hết [tr.54] là ‘đối tượng của trực giác kinh nghiệm’: chúng là cái tự bộc lộ trong trực giác đó. Nhưng cái tự bộc lộ như vậy (cái ‘hiện tượng’ theo nghĩa nguyên thủy đích thực) đồng thời là một ‘sự xuất hiện’ như một sự phát ra từ cái gì đó tự che giấu trong sự xuất hiện đó - một sự phát ra mang tính thông báo. Trong chừng mực một hiện tượng cấu thành nên ‘sự xuất hiện’ trong ý nghĩa của việc tự thông báo thông qua cái gì đó tự bộc lộ, mặc dù hiện tượng như vậy có thể mang hình thức biến thể của vẻ ngoài, thì sự xuất hiện cũng có thể trở thành vẻ ngoài đơn thuần. Trong một số điều kiện ánh sáng nhất định, ai đó có thể trông như thể má mình ửng đỏ; và sắc đỏ đó có thể được coi là dấu hiệu của sự hiện diện của cơn sốt, từ đó cho thấy một số rối loạn trong cơ thể. ‘Hiện tượng’, tức là sự tự biểu hiện, biểu thị một cách thức đặc biệt mà một sự vật có thể được bắt gặp.5 Mặt khác ‘sự xuất hiện’, có nghĩa là một mối quan hệ tham chiếu nằm trong chính thực thể đó,6 và theo đó, cái mà việc thực hiện tham chiếu (hoặc thông báo) chỉ có thể hoàn thành chức năng khả thể của nó nếu nó tự biểu hiện trong tự thân và do đó là một ‘hiện tượng’.

Cả sự xuất hiện và vẻ ngoài đều dựa trên hiện tượng, mặc dù theo những cách khác nhau. Sự đa dạng đến khó hiểu của các ‘hiện tượng’ được chỉ định bởi các từ ‘hiện tượng’, ‘vẻ ngoài’, ‘sự xuất hiện’, ‘chỉ là xuất hiện’, không thể được tháo gỡ trừ khi khái niệm về hiện tượng ngay từ đầu được hiểu là cái tự biểu hiện trong chính nó. Nếu khi tiếp cận khái niệm ‘hiện tượng’ theo cách này, chúng ta để ngỏ việc xác định những hiện hữu nào được coi là ‘hiện tượng’, và để ngỏ việc liệu cái tự bộc lộ có phải là một hiện hữu hay đúng hơn là một đặc điểm nào đó mà một hiện hữu có trong Hữu thể của nó, thì chúng ta chỉ mới đạt đến quan niệm hình thức về ‘hiện tượng’. Nếu bằng ‘cái mà nó tự bộc lộ’ mà chúng ta hiểu các hiện hữu đó vốn có thể tiếp cận được thông qua ‘trực giác’ kinh nghiệm, chẳng hạn theo Kant, thì quan niệm hình thức về ‘hiện tượng’ thực sự sẽ được sử dụng một cách hợp thức. Trong cách dùng này, ‘hiện tượng’ mang ý nghĩa của quan niệm thông thường về hiện tượng.

Nhưng quan niệm thông thường này không phải là quan niệm hiện tượng luận. Nếu giữ nguyên trong chân trời vấn đề Kantian, thì chúng ta có thể đưa ra một minh họa về những gì được hình dung về phương diện hiện tượng luận như là một ‘hiện tượng’, với những lưu ý về các khác biệt khác; vì khi đó chúng ta có thể nói rằng cái đã tự bộc lộ trong sự xuất hiện như là có trước ‘hiện tượng’ như [tr.55] thường được hiểu và đi kèm với nó trong mọi trường hợp, mặc dù nó có thể tự bộc lộ một cách phi chủ đề như vậy, thì vẫn có thể được đưa vào tự biểu hiện theo cách thức chủ đề; và do đó cái tự biểu hiện trong tự thân nó (các ‘hình thức của trực giác’) sẽ là các ‘hiện tượng’ của hiện tượng luận. Rõ ràng không gian và thời gian phải có khả năng tự biểu hiện theo cách này - chúng phải có khả năng trở thành các hiện tượng - nếu Kant tuyên bố khẳng định siêu nghiệm dựa trên các thực tế khi ông nói rằng không gian là cái ‘bên trong-cái mà’ tiên nghiệm của một trật tự.7 [Đức văn: Denn offenbar müssen sich Raum und Zeit so zeigen können, sie müssen zum Phänomen werden können, wenn Kant eine sachgegründete transzendentale Aussage damit beansprucht, wenn er sagt, der Raum sei das apriorische Worinnen einer Ordnung. Vì rõ ràng không gian và thời gian phải có khả năng tự biểu hiện theo cách này, nên chúng phải có khả năng trở thành một hiện tượng, nếu Kant khẳng định một tuyên bố siêu nghiệm có cơ sở thực tế khi cho rằng không gian là cái chứa đựng tiên nghiệm của một trật tự.”  Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.31.-HHN]  

Tuy nhiên, nếu quan niệm hiện tượng luận về hiện tượng được hiểu, bất kể chúng ta có thể tiến gần hơn đến việc xác định bản chất của cái tự biểu hiện đến mức nào, thì điều này chắc chắn giả định rằng chúng ta phải có cái nhìn sâu sắc về ý nghĩa của quan niệm hình thức về hiện tượng và việc sử dụng nó một cách hợp thức theo một ý nghĩa thông thường. - Nhưng trước khi thiết lập quan niệm sơ bộ của chúng ta về hiện tượng luận, chúng ta cũng phải định nghĩa ý nghĩa của λόγος để làm rõ hiện tượng luận có thể là một ‘khoa học về’ hiện tượng theo nghĩa nào.

B. Khái niệm Logos

Trong các tác  phẩm của Plato và Aristotle, khái niệm λόγος logos có nhiều ý nghĩa cạnh tranh, không có ý nghĩa cơ bản nào thực sự chiếm ưu thế. Tuy nhiên, trên thực tế, đây chỉ là một vẻ ngoài, vốn sẽ tự duy trì chừng nào việc Diễn giải của chúng ta không thể nắm bắt được ý nghĩa cơ bản một cách chính xác trong nội dung chính của nó. Nếu chúng ta nói rằng ý nghĩa cơ bản của λόγος là ‘diễn ngôn’,8 thì cách dịch từ-ra-từ này sẽ không được xác thực cho đến khi chúng ta xác định được ý nghĩa của chính ‘diễn ngôn’. Ý nghĩa thực sự của ‘diễn ngôn’, vốn khá rõ ràng, liên tục bị che khuất bởi lịch sử sau này của từ λόγος, và đặc biệt là bởi vô số các Diễn giải tùy tiện mà triết học sau này đã đưa ra. λόγος được ‘dịch’ - và điều này có nghĩa là nó luôn bị diễn giải - thành ‘lý trí’, ‘phán đoán’, ‘khái niệm’, ‘định nghĩa’, ‘cơ sở’ hoặc ‘mối quan hệ’.9 Nhưng làm thế nào mà ‘diễn ngôn’ lại dễ bị biến đổi đến mức λόγος có thể mang tất cả những ý nghĩa mà chúng ta đã liệt kê ở trên, và trong cách sử dụng học thuật chính xác? Ngay cả khi λόγος được hiểu theo nghĩa ‘khẳng định’, nhưng ‘khẳng định’ lại được hiểu là ‘phán đoán’, thì lối dịch có vẻ hợp lý này vẫn có thể bỏ sót ý nghĩa cơ bản, đặc biệt nếu ‘phán đoán’ được hiểu theo nghĩa tiếp thu từ một số ‘lý thuyết phán đoán’ đương đại. Λόγος không có nghĩa là ‘phán đoán’, và chắc chắn nó không chủ yếu mang nghĩa này [tr.56] - nếu người ta hiểu ‘phán đoán’ là cách ‘liên kết’ cái này với cái khác, hoặc ‘đứng về một phía’ - cho dù bằng cách chấp nhận hay bác bỏ.

Λόγος - với tư cách là ‘diễn ngôn’ có nghĩa tương tự như δηλοῦν: làm cho những gì người ta đang ‘nói về’ trong diễn ngôn của mình trở nên rõ ràng.10 Aristotle đã giải thích chức năng này của diễn ngôn một cách chính xác hơn là ἀποφαίνεσθαι. Λόγος - cho phép nhìn thấy điều gì đó φαίνεσθαι, cụ thể là diễn ngôn nói về điều gì; và nó làm như vậy hoặc cho người đang nói - người trung gian - hoặc cho những người đang nói chuyện với nhau, tùy trường hợp. Diễn ngôn ‘cho phép nhìn thấy điều gì đó’ ἀπο….: nghĩa là, nó cho phép chúng ta nhìn thấy điều gì đó từ chính điều mà diễn ngôn nói đến.11 Trong απόφανσις diễn ngôn miễn là nó chân thực, was geredet ist những gì được nói được rút ra từ điều mà cuộc nói chuyện đề cập đến, do đó, giao tiếp diễn ngôn, trong in ihrem Gesagten những gì nó nói, làm cho điều mà nó đang nói đến trở nên rõ ràng, và do đó làm cho bên này có thể tiếp cận được với bên kia. Đây là cấu trúc của λόγος – với tư cách απόφανσις. Phương thức làm cho hiển hiện này theo nghĩa cho phép nhìn thấy điều gì đó bằng cách chỉ ra nó, không phù hợp với tất cả các loại ‘diễn ngôn’. Ví dụ: εὐχή việc yêu cầu cũng tạo nên sự hiển lộ, nhưng theo một cách khác.

Khi hoàn toàn cụ thể, hành động diễn ngôn - để một cái gì đó được nhìn thấy - có đặc tính Sprechens là nói - tuyên bố bằng phát ra âm thanh với các ngôn từ. Λόγος – là φωνή, và quả thực, φωνή μετὰ φαντασίας phone meta phantasia - lời nói, âm thanh phát ra từ cổ họng đi kèm với sự hình dung, trí tưởng tượng, hoặc sự xuất hiện của một hình ảnh trong nhận thức. Và chỉ vì chức năng của λόγος – với tư cách απόφανσις - nằm ở việc cho phép một cái gì đó được nhìn thấy bằng cách chỉ ra nó, nên λόγος - mới có dạng cấu trúc của σύνθεσις synthesis tổng hợp. Ở đây, ‘tổng hợp’ không có nghĩa là sự ràng buộc và liên kết các biểu tượng, một sự thao túng các hiện tượng tâm lý mà ‘vấn đề’ nảy sinh ở chỗ làm thế nào những sự ràng buộc này, như một cái gì đó bên trong, lại phù hợp với một cái gì đó ‘vật lý bên ngoài’. Ở đây, σύν syn [Chen ngang: Về phương diện từ nguyên học, tiền tố σύν syn trong từ σύνθεσις synthesis có nghĩa là ‘cùng nhau’, ‘với’ hoặc ‘kết hợp’, được ghép từ hai thành tố: σύν syn cùng nhau, kết hợp và θέσις thesis đặt, để, vị trí, từ này mang ý nghĩa là tổng hợp – sự kết hợp của hai hoặc nhiều yếu tố, thành phần lại với nhau để tạo thành một cái gì đó mới và hoàn chỉnh; tiền tố σύν cũng được sử dụng rất phổ biến trong nhiều từ vựng hiện đại mang sắc thái kết hợp, ví dụ như Συνέργεια Synergy - Hiệp lực / Đồng hợp; Σύνθεση Synthesis - Tổng hợp; Συγχρονισμός Synchronize - Đồng bộ hóa - cùng xảy ra; Σύνδρομο Syndrome - Hội chứng - các triệu chứng cùng xảy ra.- HHN] mang nghĩa phủ định thuần túy và để cho một cái gì đó được nhìn thấy trong sự gắn kết [Beisammen] của nó với một cái gì đó khác - để cho nó được nhìn thấy như một cái gì đó khác. Hơn nữa, bởi vì λόγος là việc để cho một cái gì đó được nhìn thấy, do đó nó có thể chân hoặc giả.

Nhưng ở đây, mọi thứ phụ thuộc vào việc chúng ta tránh xa bất kỳ quan niệm nào về chân lý được hiểu theo nghĩa ‘đồng thuận’. Ý tưởng này hoàn toàn không phải là ý tưởng chính trong khái niệm ἀλήθεια chân lý. Cái ‘Là-chân’ của λόγος với tư cách ἀληθεύω [alētheúō là một động từ trong tiếng Hy Lạp cổ đại, mang ý nghĩa gốc là ‘nói chân thật’, sống chân thật’, hoặc ‘làm theo lẽ chân thật’. HHN] có nghĩa là trong λέγειν với tư cách απόφαίνεσθαι, [Chen ngang: động từ ἀποφαινεσθαι tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là ‘chỉ ra’, ‘làm cho hiển lộ’, ‘biểu đạt’ hoặc ‘hình thành một quan điểm’. Trong triết học, từ này được liên kết trực tiếp với động từ φαινεσθαι phainesthai là dạng nguyên thể trung bình - bị động của động từ φαίνω phainō trong tiếng Hy Lạp cổ đại, có nghĩa gốc là ‘xuất hiện’, ‘bộc lộ’, hoặc ‘tỏ rõ’. Nó mang hai tầng ý nghĩa chính - sự xuất hiện bề ngoài / có vẻ như - mô tả cách một sự vật hiện ra với giác quan hoặc tâm trí con người (không nhất thiết phản ánh đúng bản chất bên trong; sự phơi bày / sáng tỏ - làm cho điều gì đó vốn bị che giấu được đưa ra ánh sáng. Martin Heidegger sử dụng nó trong đó cụm từ ‘αποφαινεσθαι τα φαινομενα’ có nghĩa là: Cho phép cái tự hiển lộ được tự biểu lộ rõ ​​ràng trong chính nó, chính xác theo cách nó tự thể hiện. Trong cách sử dụng thông thường hơn của tiếng Hy Lạp cổ, nó thường được dùng để mô tả một người đưa ra lập trường hoặc công khai bày tỏ quan điểm của mình - ví dụ trong tòa án hoặc hội nghị - trình bày bằng chứng hoặc lập luận. - HHN] các thực thể mà người ta đang nói đến phải được đưa ra khỏi sự ẩn giấu của chúng; người ta phải để chúng được nhìn thấy như một thứ gì đó ἀληθής không bị che giấu) [Chen nữa: ἀληθής alḗthēs là một tính từ trong tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa là thật, chân thật, hoặc đúng đắn. Từ này thường được dùng để mô tả một sự việc, một lời nói hoặc một thực tế không thể bác bỏ, không bị che giấu và phù hợp với thực tại. Từ ἀληθής được cấu tạo từ tiền tố phủ định ‘ἀ’ a- ‘không’ và gốc từ ληθή ‘lēthē’ - lãng quên hoặc bị che khuất. Theo đó, ý nghĩa gốc của nó là ‘không bị che khuất’ hay ‘không bị lãng quên’, từ đó phát triển thành khái niệm về chân lý/sự thật. Các thuật ngữ liên quan Ἀλήθεια (alḗtheia): Danh từ xuất phát từ tính từ ἀληθής, thường được triết học Hy Lạp cổ đại sử dụng để chỉ chân lý hoặc sự tỏ bày/tiết lộ sự thật. Ἀληθινός alēthinōs - một tính từ khác cũng mang nghĩa ‘thật’, nhưng thường được dùng để nhấn mạnh tính đích thực, xác thực và đáng tin cậy của một sự vật/chủ thể. - HHN]; [tr.57] nghĩa là, chúng phải được khám phá.12 Tương tự, ψεύδεσθαι ‘sai sự thật’ [Chen thêm: ψεύδεσθαι pséudesthai là một động từ nguyên thể, mang nghĩa nói dối, lừa dối, hoặc sai lầm. Từ này có gốc từ nguyên thủy mang nghĩa gốc liên quan đến ‘sự sai lệch’ hoặc ‘điều không có thật’. Đây là thể trung gian/bị động ở dạng nguyên thể, xuất phát từ động từ gốc ψεύδω pseúdō thường được dùng trong các văn bản cổ điển để chỉ hành động tự lừa dối bản thân, nói sai sự thật vì lợi ích cá nhân, hoặc bị lừa dối. Từ này xuất hiện nhiều trong các tác phẩm triết học Hy Lạp cổ, ví dụ như trong cuốn Republic Cộng hòa của Plato, nơi Socrates thảo luận về sự dối trá, sự thiếu hiểu biết, và bản chất của cái gọi là sự lừa dối. - HHN] tương đương với việc lừa dối theo nghĩa verdecken che đậy: đặt một thứ gì đó trước một thứ gì đó - để nó được nhìn thấy - và do đó giả vờ nó là một thứ không phải là nó.

Nhưng vì ‘chân lý’ có ý nghĩa này, và vì λόγος là một phương thức xác định để cho cái gì đó được nhìn thấy, nên λόγος không phải là loại sự vật có thể được coi là ‘vị trí’ chính của chân lý. Nếu, như ngày nay đã trở nên khá phổ biến, người ta định nghĩa ‘chân lý’ là thứ gì đó ‘thực sự’ liên quan đến phán đoán,12 và nếu sau đó người ta viện dẫn sự ủng hộ của Aristotle với luận điểm này, thì điều này không chỉ không chính đáng mà trên hết, quan niệm về chân lý của người Hy Lạp đã bị hiểu sai. Αἴσθησις, nhận thức giác quan thuần túy về một cái gì đó, là ‘chân lý’ theo nghĩa của người Hy Lạp, và thực sự nguyên thủy hơn λόγος mà chúng ta đã thảo luận. Cũng như việc nhìn hướng đến màu sắc, bất kỳ αἴσθησις nào cũng hướng đến ἴδια của nó (những hiện hữu thực sự chỉ có thể tiếp cận được thông qua nó và vì nó); và đến mức độ đó, nhận thức này luôn luôn đúng. Điều đó có nghĩa là việc nhìn luôn luôn khám phá ra màu sắc, và việc nghe luôn luôn khám phá ra âm thanh. Νοεῖν thuần túy là nhận thức về những cách thức xác định đơn giản nhất của Hữu thể mà các hiện hữu theo đúng nghĩa có thể sở hữu, và nó nhận thức chúng chỉ bằng cách nhìn vào chúng.13 Vậy thì νοεῖν này là ‘chân’ theo nghĩa thuần khiết và nguyên thủy nhất; nghĩa là, nó chỉ đơn thuần khám phá, và nó làm như vậy theo cách mà nó không bao giờ có thể che đậy. Rõ ràng νοεῖν này không bao giờ có thể che đậy; nó không bao giờ có thể giả; tệ nhất là nó vẫn có thể là một trạng thái không nhận thức, ἀγνοεῖν không biết, lừ đi, không hiểu được không đủ để tiếp cận một cách thẳng thắn và phù hợp. Khi một thứ gì đó không còn mang hình thức đơn thuần để một thứ gì đó được nhìn thấy, mà luôn quay trở lại một thứ khác mà nó trỏ tới, để cho một thứ gì đó được nhìn thấy như một thứ gì đó, thì nó sẽ có được một cấu trúc tổng hợp, và với điều này, nó nắm lấy khả tính che đậy.

Tuy nhiên, ‘chân lý của các phán đoán’ chỉ đơn thuần là ngược lại với sự che đậy này, một hiện tượng thứ cấp của chân lý, không chỉ có một loại nền tảng.14 Cả chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm - với mức độ triệt để như nhau – đều đã bỏ lỡ ý nghĩa của quan niệm về chân lý của người Hy Lạp, mà trong khuôn khổ đó chỉ có [tr.58] duy nhất cái khả tính của một thứ gì đó giống như ‘học thuyết về ý tưởng’ mới có thể được hiểu là tri ​​thức triết học. Và bởi vì chức năng của λόγος chỉ đơn thuần là cho phép nhìn thấy một cái gì đó, im Vernehmenlassen des Seienden cho phép nhận thức các hiện hữu, nên λόγος có thể biểu thị Vemunft lý do. Hơn nữa, bởi vì λόγος được sử dụng không chỉ với ý nghĩa của λέγειν mà còn với ý nghĩa của λεγόμενον – là thứ gì đó được nói đến, và bởi vì thứ đó không gì khác hơn là ὑποκείμενον, là thứ nằm dưới - với tư cách là hiện hữu, nằm ở zum Grunde gốc rễ của bất kỳ quy trình nào nhằm giải quyết hoặc thảo luận về nó, nên λόγος với tư cách λεγόμενον có nghĩa là nền tảng, là lý lẽ. Và cuối cùng, vì λόγος với tư cách λεγόμενον cũng biểu thị điều gì đó với tư cách là thứ mà người ta hướng tới, trở nên rõ ràng trong mối quan hệ của nó với thứ gì đó trong ‘mối quan hệ’ của nó, λόγος có được ý nghĩa của các mối quan hệ và liên hệ.15 Diễn giải này về ‘diễn ngôn tường minh’ có thể đủ làm rõ chức năng chính của λόγος.

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘….was man ‘Erscheinung’ oder gar ‘blosse Erscheinung’ nennt.’ Mặc dù danh từ 'Erscheinung' và động từ 'erscheinen' có cách diễn đạt rất giống với 'appearance' và 'appear' trong tiếng Anh, nên phần thảo luận tiếp theo tương đối ít gây khó khăn cho người dịch về mặt này, đoạn văn vẫn cho thấy một số dấu hiệu của lối diễn đạt vội vàng, và một vài nhận xét có thể hữu ích. Chúng ta được nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng 'appearance' và 'phenomenon' cần được phân biệt rõ ràng; tuy nhiên, chúng ta cũng được nhắc nhở rằng có một nghĩa mà chúng trùng nhau, và thậm chí nghĩa này dường như có hai mặt, mặc dù không rõ Heidegger có hoàn toàn nhận thức được điều này hay không. Toàn bộ cuộc thảo luận dựa trên hai sự phân biệt nữa: sự phân biệt giữa ‘thể hiện’ (‘zeigen’), ‘thông báo’ (‘melden’) và ‘đưa ra’ (‘hervorbringen’), và sự phân biệt giữa (‘x’) cái ‘tự thể hiện’ (‘das Sichzeigende’) hoặc cái ‘thực hiện việc thông báo’ (‘das Meldende’) hoặc cái ‘được đưa ra’ (‘das Hervorgebrachte’), và cái ‘tự thông báo’ (‘das Sichmeldende’) hoặc cái thực hiện việc đưa ra. Do đó, Heidegger có thể đưa ra các nghĩa sau của ‘Erscheinung’ hay ‘sự xuất hiện’:

1a. một sự kiện có thể quan sát được, chẳng hạn như một triệu chứng thông báo một căn bệnh x bằng cách tự thể hiện, và trong hoặc thông qua đó x tự thông báo mà không tự thể hiện;

1b. sự tự thể hiện của y;

1c. x tự xưng danh trong hoặc thông qua y;

1e. 'Sự xuất hiện đơn thuần' y mà x có thể /iringjOTth khi x thuộc loại mà bản chất thực sự của nó không bao giờ có thể được biểu lộ; 3b. 'Sự xuất hiện đơn thuần' là sự xuất hiện của một 'sự xuất hiện đơn thuần' theo nghĩa 1f. Heidegger làm rõ rằng nghĩa 2 là nghĩa thích hợp của 'sự xuất hiện' và các nghĩa 3a và 3b là các nghĩa thích hợp của 'sự xuất hiện đơn thuần'. Về H. 30 và 31, ông thừa nhận rằng nghĩa 1b tương ứng với nghĩa nguyên thủy của 'hiện tượng'; nhưng cuộc thảo luận của ông về H. 28 cho thấy rằng 1a tương ứng với điều này chính xác hơn, và ông quay trở lại lập trường này vào cuối H. 30. [pp. 51, 52] ‘….als welches es die Struktur des Scheins bestimmt.' (The older editions omit the 'es'.) [p.52]

2 'Was sich in der Weise nicht zeigt, wie das Erscheinende, kann auch nie scheinen.' Đoạn văn này mơ hồ, nhưng có lẽ 'das Erscheinende' được hiểu là thex trong chú thích 1, trang 51 của chúng tôi, chứ không phải oury. Người đọc nên lưu ý rằng bản dịch chuẩn hóa của chúng tôi về 'scheinen' là 'seem' ở đây trở nên khá gây hiểu nhầm, mặc dù những từ này tương ứng khá tốt trong cách sử dụng thông thường. Khi phân biệt giữa 'scheinen' và 'erscheinen', Heidegger dường như nhấn mạnh rằng 'scheinen' chỉ có thể được thực hiện bởi y, cái 'tự thể hiện' hoặc 'thực hiện việc thông báo', chứ không phải bởi x, cái 'tự thông báo' trong hoặc thông qua y, mặc dù cách sử dụng tiếng Đức không phân biệt các động từ này rõ ràng như vậy. [p.52]

3 ‘….eine ausgezeichnete Begegnisart von etwas.' The noun 'Begegnis' is derived from the verb 'begegnen', which is discussed in note 2, p. 70, H. 44 below. [p.54]

4 ‘….einen seienden Verweisungsbezug im Seienden selbst…’ The verb ‘verweisen’, which we shall translate as 'refer' or 'assign', depending upon the context, will receive further attention in Section 17 below. See also our note 2, p. 97, H. 68 below. [p.54]

5 Cf. Critique ofPure Reason2, 'Transcendental Aesthetic', Section 1, p. 34· [p.55]

6 On .\oyos, 'Rede', etc., see note 3, p. 47, H. 25 above. [p.55]

7 ‘….Vernunft, Urteil, Begriff, Definition, Grund, Verhaltnis.’ [p.55]

8 ‘….offenbar machen das, wovon in der Rede "die Rede" ist.’ [p.56]

9 ‘….von dem selbst her, wovon die Rede ist. [p.56]   

10 The Greek words for 'truth' (ἡ ἀλήθεια, το ἀληθές) are compounded of the privative prefix - ('not') and the verbal stem -λἀθ- ('to escape notice', 'to be concealed'). The truth may thus be looked upon as that which is un-concealed, that which gets discovered or uncovered ('entdeckt'). [p.57]

11 'Wenn man…Wahrheit als das bestimmt, was "eigentlich" demUrteil zukommt….’ [p.57]

12 ‘….das schlicht hinsehende Vernehmen der einfachsten Seinsbestimmungen des Seienden als solchen.’ [p.57]

13 ‘Was nicht mehr die Vollzugsform des reinen Sehenlassens hat, sondern je im Aufweisen auf ein anderes rekurriert und soje etwas als etwas sehen lasst, das iibernimmt mit dieser Synthesisstruktur die Moglichkeit des Verdeckens.’ [p.57]

14 ‘….ein mehrfach fundiertes Phiinomen von Wahrheit.’ A ‘secondary’ or ‘founded’ phenomenon is one which is based upon something else. The notion of ‘Fundierung’ is one which Heidegger has taken over from Husserl. See our note 1, p. 86, on H. 59 below. [p.57] 

15 Ở đây, Heidegger chỉ ra rằng từ λόγος có nguồn gốc từ động từ λέγειν, trong số nhiều nghĩa của nó có nghĩa là trình bày, trưng bày, nêu ra, kể lại, thuật lại, diễn đạt một câu chuyện. Do đó, λόγος (λέγειν) có thể được hiểu là năng lực ‘lý trí’ (‘Vernunft’) giúp cho các hoạt động như vậy trở nên khả thi. Nhưng iloyos cũng có thể có nghĩa là το λεγόμενον (cái được trình bày, trưng bày, nêu ra, kể lại); theo nghĩa này, nó là chủ đề cơ bản (το ὑποκείμενον) mà người ta hướng đến và thảo luận ('Ansprechen und Besprechen'); như vậy, nó nằm 'ở đáy' ('zurn Grunde') của những gì được trưng bày hoặc kể lại, và do đó là 'cơ sở' hoặc 'lý do' ('Grund') để kể lại điều đó. Nhưng khi một điều gì đó được trưng bày hoặc kể lại, nó được trưng bày trong mối liên hệ của nó ('in seiner Bezogenheit'); Và theo cách này, λόγος (như λεγόμενον) trở thành biểu tượng cho mối quan hệ hoặc tương quan như vậy ('Beziehung und Verhaltnis'). Ba nghĩa được phân biệt ở đây tương ứng với ba nghĩa của từ Latinh 'ratio', mà theo truyền thống iloyos được dịch là , mặc dù Heidegger chỉ rõ ràng đề cập đến một trong số đó. Lưu ý rằng 'Beziehung' (mà chúng ta dịch là 'mối quan hệ') cũng có thể được sử dụng trong một số ngữ cảnh mà 'Ansprechen' (nghĩa là 'tự xưng') cũng phù hợp. Lưu ý thêm rằng 'Verhaltnis' (nghĩa là 'mối quan hệ'), thường là từ đồng nghĩa với 'Beziehung', cũng có thể, giống như λόγος và 'ratio', đề cập đến loại quan hệ đặc biệt mà người ta tìm thấy trong tỉ lệ toán học. Mối liên hệ từ nguyên giữa 'Vernehmen' và 'Vernunft' cũng cần được lưu ý. [p.58]