Powered By Blogger

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

[Tr. 221] Bằng cách làm sáng tỏ về mặt bản thể luận loại Hữu thể thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới thường nhật khi nó hiển lộ qua các hiện tượng này, trước hết chúng ta xác định được một cách thỏa đáng về phương diện hiện sinh đối với trạng thái cơ bản của Dasein. Cái  gì là cấu trúc cho thấy ‘vận động’ sa ngã? Phiếm đàm và cách thức sự vật được diễn giải công khai (bao gồm cả bản thân phiếm đàm) tự cấu thành trong Hữu-thể-với-nhau. Phiếm đàm không phải là một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri vì tự thân trong thế giới, như một sản phẩm tách rời khỏi Hữu-thể-với-nhau. Nó cũng không hề biến thành một cái gì đó ‘phổ quát’ – thứ vốn không thuộc về ai cả nên ‘thực sự’ chẳng là gì, và chỉ xuất hiện như là ‘Thực’ ở cá nhân Dasein đang nói. Phiếm đàm là loại Hữu thể thuộc về tự thân Hữu-thể-với-nhau; nó không nảy sinh từ những hoàn cảnh nhất định tác động lên Dasein ‘từ bên ngoài’. Tuy nhiên, nếu chính Dasein – trong phiếm đàm và trong cách thức sự vật được diễn giải công khai – tự hiện diện trước cái khả tính đánh mất bản thân vào trong das Man cái ‘họ’ và Absturz in die Bodenlosigkeit ‘sa ngã vào tình trạng vô sở cứ’, thì điều này cho thấy Dasein tự tạo ra cho mình một sự cám dỗ thường trực hướng tới sa ngã. [Chen ngang: Heidegger dùng cụm từ Absturz in die Bodenlosigkeit để mô tả một chuyển động cốt lõi của Dasein hiện hữu người khi nó đánh mất bản ngã đích thực và bị cuốn vào đời sống xã hội thường nhật. Để hiểu tại sao Dasein lại sa ngã vào tình trạng vô sở cứ, cần xem xét các khái niệm của Heidegger về Sa ngã và cái ‘Họ’: i) Cái bẫy của đời sống thường nhật thiếu tính đích thực. Tôi làm những gì ‘họ’ làm, phiếm đàm những gì ‘họ’ phiếm đàm, và chạy theo các trào lưu xã hội. Heidegger gọi quá trình này là Verfallen ‘Sa ngã’. Dasein bị cuốn vào vòng xoáy xã hội, hoàn toàn xao nhãng khỏi khả tính đích thực của chính mình; ii) Bản chất của Absturz cú lao xuống - sự trôi dạt này không phải là một trạng thái tĩnh tại; nó là một chuyển động dữ dội, tự thúc đẩy. Heidegger viết rằng Dasein ‘lao từ chính mình vào chính mình, vào Bodenlosigkeit tình trạng vô sở cứ và tình trạng hư vô của đời sống thường nhật thiếu tính đích thực’. Dasein tưởng rằng mình đang ‘vươn lên’ hoặc sống một cuộc đời trọn vẹn vì đạt được thành công theo các chuẩn mực xã hội, nhưng thực ra nó đang lao xa khỏi bản ngã đích thực của mình; iii) Bodenlosigkeit tình trạng vô sở cứ - đó là sống hoàn toàn dựa vào dư luận xã hội đồng nghĩa với việc các giá trị, bản sắc và lựa chọn của Dasein không có một ‘nền tảng’ đích thực nào; nó không có điểm tựa vững chắc vì luôn trôi nổi theo bất cứ điều gì mà xã hội coi trọng tại thời điểm đó; Dasein trải nghiệm sự mất mát hoàn toàn về cội rễ hay nền tảng vững chắc; iv) Bước ngoặt tích cực - Sự lo âu: mặc dù cú rơi tự do này nghe có vẻ hoàn toàn tiêu cực, nhưng nó lại đóng vai trò then chốt; khi Dasein nhận ra mình đang rơi vào trạng thái Bodenlosigkeit vô sở cứ, điều đó khơi dậy một tâm cảm sâu sắc lo âu hiện sinh. Chính sự đối diện kinh hoàng với tình trạng thiếu vắng nền tảng ấy đã đánh thức Dasein khỏi cơn mê trong đời sống xã hội, buộc nó phải giành lại tự do, đối diện với tính hữu hạn của kiếp người và sống một cuộc đời đích thực.- HHN]. Tự thân Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính cám dỗ.

[Tr. 222] Vì cách thức sự vật được diễn giải công khai đã tự trở thành một sự cám dỗ theo cách này, nên nó giữ chặt Dasein trong trạng thái sa ngã của nó. Phiếm đàm và tình trạng mơ hồ –đã thấy mọi thứ, hiểu hết mọi sự – tạo ra giả định rằng trạng thái bộc lộ của Dasein, vốn rất sẵn có và phổ biến, có thể đảm bảo cho Dasein về mọi khả tính Hữu thể của nó đều sẽ được an toàn, chân thực và trọn vẹn. Thông qua cái die Selbstgewissheit tự xác tính và tính quyết đoán của cái ‘họ’, một quan niệm ngày càng lan rộng cho rằng chẳng cần đến sự thấu hiểu đích thực hay tâm thế đi kèm với nó. Giả định của cái ‘họ’ cho rằng người ta đang sống và duy trì một ‘cuộc đời’ trọn vẹn và đích thực – mang lại cho Dasein một tâm trạng an tịnh, nơi mọi thứ đều ‘ổn thỏa nhất’ và mọi cánh cửa đều rộng mở. Trạng thái sa ngã của Hữu-thể-trong-thế-giới — vốn tự lôi cuốn chính nó — đồng thời cũng mang lại tâm trạng an tịnh. Tuy nhiên, tâm thế ấy trong cái Hữu thể không đích thực này không cám dỗ con người rơi vào trạng thái trì trệ hay thụ động, mà trái lại, thúc đẩy họ lao vào guồng quay hối hả, tất bật. Việc sa ngã vào ‘thế giới’ không hề dẫn đến tĩnh tại hay nghỉ ngơi thực sự; trái lại, sự an tâm đầy cám dỗ ấy càng làm trầm trọng thêm trạng thái sa ngã. Liên quan đến việc diễn giải về Dasein, có thể nảy sinh quan điểm cho rằng việc thấu hiểu những nền văn hóa xa lạ nhất và ‘tổng hòa’ chúng với văn hóa của chính mình sẽ giúp Dasein lần đầu tiên đạt được sự giác ngộ trọn vẹn và đích thực về bản thân.

Tính tò mò đa năng cùng thói ham hiểu biết không ngừng nghỉ thường khoác lên mình vẻ ngoài của một sự thấu hiểu phổ quát về Dasein. Song, xét đến cùng, điều thực sự cần được thấu hiểu vẫn là một ẩn số, thậm chí câu hỏi về điều đó còn chưa từng được đặt ra. Người ta cũng chưa hiểu rằng bản thân sự thấu hiểu là một Seinkönnen ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ cần được giải phóng ngay trong chính Dasein của mỗi cá nhân. [Chen ngang: Heidegger dùng thuật ngữ Seinkönnen/ ability-to-be/ potentiality-for-Being để biểu thị tồn tại người không được định nghĩa bởi một bản chất cố định, mà bởi khả tính không ngừng phóng chiếu bản thân hướng tới những khả tính trong tương lai. Ý nghĩa cốt lõi của Seinkönnen bao gồm: i) Không có bản chất cố định: Khác với các vật thể vô tri hay công cụ vốn có mục đích định sẵn, Dasein hiện hữu người  mang tính linh hoạt và kết-mở. Về cơ bản, chúng ta được định nghĩa bởi những gì chúng ta có thể trở thành; ii) Tự phóng chiếu - To exist tồn tại nghĩa là thấu hiểu hoàn cảnh của mình và ‘phóng chiếu’ bản thân vào những lựa chọn cũng như các lối sống tiềm năng khác nhau; iii). Tính chân thực - nhận thức được Seinkönnen của mình đồng nghĩa với việc làm chủ các lựa chọn thay vì mù quáng chạy theo những kỳ vọng của xã hội (das Man cái ‘họ’ – một khái niệm phi cá nhân); iv) Vai trò của Tính hữu hạn và Cái chết - Khả tính Tối hậu: Heidegger liên kết trực tiếp tiềm năng này với tính khả tử của con người; v) Sein-zum-Tode Hữu-thể-hướng-tới-cái-chết: Cái chết là khả tính tột cùng và chắc chắn nhất của chúng ta; việc nhận ra thời gian có hạn giúp ta tỉnh thức khỏi những xao nhãng thường nhật và thôi thúc ta sử dụng Seinkönnen của mình một cách chân thực. -HHN]. Khi Dasein, trong trạng thái an tâm và tưởng chừng ‘thấu hiểu’ mọi sự, vì vậy mà đem bản thân so sánh với vạn vật, thì nó dần trôi dạt vào Entfremdung tha hóa, nơi mà ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ cốt lõi nhất của chính nó bị che khuất. Trạng thái sa ngã của Hữu-thể-trong-thế-giới không chỉ mang tính cám dỗ và an tâm trấn tĩnh, mà đồng thời còn gây ra sự tha hóa.

Tuy nhiên, tình trạng tha hóa này không có nghĩa là Dasein bị tách rời khỏi chính mình trên bình diện thực tế. Trái lại, sự tha hóa ấy đẩy Dasein vào một loại Hữu thể tiệm cận với sự ‘mổ xẻ bản thân’ thái quá; nó tự cám dỗ mình bằng vô vàn khả tính lý giải, đến mức chính những hệ thống ‘phân loại tính cách’ hay các ‘loại hình học’ do nó tạo ra1 cũng trở nên quá phức tạp, không thể bao quát được trong một cái nhìn. Sự tha hóa này ngăn trở Dasein tiếp cận tính đích thực và khả tính của chính mình — dù đó chỉ là khả tính thất bại một cách đích thực. Dẫu vậy, nó không phó mặc Dasein cho một thực thể xa lạ nào khác, mà ép buộc Dasein phải dấn thân vào [tr.223] tính không-đích-thực của chính mình — một loại Hữu thể khả dĩ của chính nó. Sự tha hóa của trạng thái ‘sa ngã’ — vừa đầy cám dỗ vừa mang lại cảm giác an tĩnh — tự thân nó dẫn đến việc Dasein bị vướng mắc vào chính mình.  

Các hiện tượng mà chúng tôi đã chỉ ra—cám dỗ, yên ổn hóa, tình trạng tha hóa và tự vướng mắc—đặc trưng cho loại Hữu thể cụ thể thuộc về sự sa ngã. Chúng tôi gọi ‘vận động’ này của Dasein trong chính Hữu thể của nó là Absturz ‘cú lao xuống’. Dasein lao từ chính mình vào trong chính  mình, vào tình trạng vô sở cứ và tính hư vô của đời sống thường nhật không đích thực. Tuy nhiên, cú lao này vẫn bị che giấu khỏi Dasein bởi ‘cách thức sự vật được diễn giải công khai’, đến mức nó thậm chí còn được diễn giải như một cách ‘vươn lên’ và ‘sống một cách cụ thể’. Cú lao vào và ở bên trong tình trạng vô sở cứ của trạng thái Hiện hữu không đích thực thuộc về das Man cái ‘họ’ này mang một kiểu chuyển  động liên tục giật tung cái thấu hiểu ra khỏi việc phóng chiếu các khả tính đích thực, để đẩy nó vào niềm tin yên ổn rằng nó sở hữu mọi thứ, hoặc mọi thứ đều nằm trong tầm với. Vì hiểu biết liên tục bị giật ra khỏi tính đích thực và bị kéo về phía das Man cái ‘họ’ (dù luôn khoác lên vẻ ngoài giả tạo của tính đích thực), nên chuyển động sa ngã mang đặc tính của Wirbel cơn lốc xoáy. Sa ngã không chỉ mang tính quyết định về mặt hiện sinh đối với Hữu-thể-trong-thế-giới. Đồng thời, Wirbel cơn lốc xoáy bộc lộ tình trạng bị ném vào—thứ có thể áp đặt lên Dasein trong tâm thế của nó—mang đặc tính của hành động ném vào và của chuyển động. Tình trạng bị ném vào không phải là một ‘sự kiện đã hoàn tất’ hay Sự kiện đã an bài.2  Thực tính của Dasein có đặc điểm là chừng nào Dasein còn là chính nó, thì nó vẫn ở trong cú ném đó và bị hút vào vòng xoáy của tính không đích thực thuộc về das Man cái ‘họ’. Tình trạng bị ném vào—trạng thái mà qua đó thực tính tự bộc lộ dưới dạng hiện tượng—thuộc về Dasein, đối với nó vốn ngay trong Hữu-thể của mình, chính Hữu-thể đó lại là một vấn đề. Dasein thực sự tồn tại. Nhưng giờ đây, khi sa ngã đã phơi bày, chẳng phải đã trình bày một hiện tượng trực tiếp ngược lại với định nghĩa đã từng dùng để chỉ ra ý niệm hình thức về sự tồn tại hay sao?

Liệu có thể quan niệm Dasein như một thực thể mà đối với nó, ngay trong Hữu thể của mình, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó là một vấn đề, nếu thực thể này—ngay trong đời sống thường nhật—đã đánh mất chính mình, và trong trạng thái sa ngã, lại ‘sống’ xa rời chính bản thân mình sao? Tuy nhiên, tình trạng ‘sa ngã vào thế giới’ chỉ được coi là ‘bằng chứng’ mang tính hiện tượng chống lại tính hiện sinh của Dasein nếu Dasein được xem như một cái ‘Tôi’ hay một chủ thể biệt lập, một Selbstpunkt điểm tựa của bản ngã mà từ đó nó tách rời ra. [Chen ngang: Heidegger dùng Selbstpunkt nhằm bác bỏ các quan niệm truyền thống và biệt lập về bản sắc con người, chẳng hạn cái tôi (ego) kiểu Descartes hay một ‘chủ thể’ tách biệt. Theo  Heidegger Dasein hiện hữu người  không phải là một điểm ý thức tĩnh tại, biệt lập bị giam hãm bên trong cơ thể. Triết học truyền thống với cái ‘Tôi’ kiểu Descartes coi ‘bản ngã’ là một Ichpunkt Ngã-điểm hoặc Selbstpunkt Tự ngã điểm - một tọa độ cố định, nằm bên trong, từ đó nhìn ra thế giới bên ngoài của các sự vật. Heidegger gọi đây là một sự trừu tượng hóa khiên cưỡng. Vị thế tự ngã [Selbstheit một phương thức tồn tại năng động] với tư cách là ‘Hữu-thể-trong-thế-giới: Đối với Heidegger, cái Selbsterkenntnis tự tri đích thực không phải là vấn đề quay vào bên trong để nhìn chằm chằm vào một Ichpunkt Ngã-điểm hoặc Selbstpunkt Tự ngã điểm đơn độc. Thay vào đó, Tự ngã là một quá trình mang tính quan hệ và diễn tiến không ngừng của ‘Hữu-thể-trong-thế-giới. Tự ngã mang tính động - tôi không thể chỉ vào một ‘chấm’ duy nhất trong không gian hay tâm trí và nói ‘đó chính là tôi’. Tôi tồn tại trải dài theo thời gian, đan xen với những công cụ tôi sử dụng, nền văn hóa tôi sống trong đó và những dự phóng tôi theo đuổi.-HHN] Trong trường hợp đó, thế giới sẽ là một Khách thể. Khi ấy, tình trạng sa ngã vào thế giới sẽ phải được tái diễn giải theo bình diện bản thể luận như là Hiện-diện-vô-tri theo kiểu một thực thể bên-trong-thế-giới. Tuy nhiên, nếu ta lưu tâm rằng Hữu thể của Dasein là trạng thái Hữu-thể-trong-thế-giới – như đã chỉ ra trước đó – thì sẽ thấy rõ rằng sa ngã, với tư cách là một loại Hữu thể của cái Hữu-thể-trong này, lại mang đến cho ta bằng chứng căn bản nhất về hiện sinh tính của Dasein.

Trong sa ngã, vấn đề cốt lõi không gì khác ngoài cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới của chúng ta, ngay cả khi nó diễn ra dưới phương thức thiếu tính đích thực. Dasein chỉ có thể sa ngã vì Hữu-thể-trong-thế-giới –thấu hiểu với một tâm thế – là một vấn đề đối với nó. Mặt khác, tồn tại đích thực không phải là thứ gì đó lơ lửng bên trên cái thường nhật đầy sa ngã kia; xét về mặt hiện sinh, nó chỉ là một cách thức biến đổi mà qua đó cái thường nhật ấy được nắm bắt. Hiện tượng sa ngã không mang lại cho ta cái gì đó giống như một ‘góc nhìn đêm’ của Dasein – một thuộc tính xuất hiện ở bình diện ontic thực hữu và chỉ đóng vai trò bổ sung cho những khía cạnh vô hại của thực thể này. Sa ngã bộc lộ một cấu trúc bản thể luận cốt yếu của chính Dasein. Thay vì chỉ định mặt về đêm của nó, sa ngã lại cấu thành nên toàn bộ các ‘ban ngày’ của Dasein trong cái thường nhật của chúng. Theo đó, phép diễn giải mang tính hiện sinh-bản thể luận của chúng ta không đưa ra bất kỳ khẳng định ontic thực hữu nào về ‘tình trạng sụp đổ của Bản tính con người’, không phải vì thiếu bằng chứng cần thiết, mà bởi vì vấn đề trọng tâm của phép diễn giải này đi trước mọi khẳng định về tình trạng sụp đổ hay vẹn nguyên. Sa ngã được quan niệm về phương diện bản thể luận như một loại chuyển động. Ở bình diện ontic thực hữu, chúng ta chưa xác định liệu con người đang ‘say trong tội lỗi’ và ở trong status corruptionis trạng thái sa đọa, hay đang bước đi trong status integritatis trạng thái trong sạch, hay đang ở một giai đoạn trung gian là status gratiae trạng thái ân sủng. [Chen ngang: Trong tiếng Latin, cụm từ ‘status corruptionis’ có nghĩa là ‘trạng thái tội lỗi’ hoặc ‘tình trạng sa ngã/ đồi bại’. Trong thần học Kitô giáo - đặc biệt là thần học Cải chính, cụm từ này dùng để chỉ tình trạng sa ngã của nhân loại sau khi Adam và Eva phạm tội. Nó mô tả bốn trạng thái của con người: Status integritatis - Trạng thái trong sạch; Status corruptionis - Trạng thái sa ngã, bị tội lỗi làm hoen ố, mất đi sự công chính nguyên thủy; Status gratiae - Trạng thái được ban ơn - được cứu chuộc nhờ Đấng Christ; Status gloriae - Trạng thái vinh hiển trên thiên đàng.-HHN]

Tuy nhiên, bất cứ khi nào một đức tin hay một ‘thế giới quan’ nào đó đưa ra những khẳng định như vậy—và nếu nó khẳng định bất cứ điều gì về Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —thì nó buộc phải quy chiếu về các cấu trúc hiện sinh mà chúng ta đã trình bày, với điều kiện là những khẳng định đó phải mang tham vọng đạt tới sự hiểu biết mang tính khái niệm. Câu hỏi chủ đạo của chương này xoay quanh Hữu thể của cái ‘ở đó’. Chủ đề của chúng ta là Cấu thành bản thể luận của trạng thái ‘được-bộc-lộ’—bản chất vốn thuộc về  Dasein. Hữu thể của trạng thái ‘được-bộc-lộ’ đó cấu thành nên bởi các tâm thế, thấu hiểu và diễn ngôn. Loại Hữu thể thường nhật của nó mang đặc trưng phiếm đàm, tò mò và tình trạng mơ hồ. Những điều này cho thấy vận động của trạng thái sa ngã, với các đặc tính cốt yếu là cám dỗ, an lòng giả tạo, tha hóa và vướng mắc. Song bằng phân tích này, toàn bộ cấu thành hiện sinh của Dasein đã được phơi bày ở những đặc trưng mang tính nguyên tắc, và đã có được cơ sở hiện tượng cho một phép diễn giải ‘toàn diện’ về Hữu thể của Dasein là chăm sóc.

VI. CHĂM SÓC LÀ BẢN THỂ CỦA DASEIN

39. Câu hỏi về Tổng thể tính Bản nguyên của Cấu trúc Dasein

[Tr.225] Hữu-thể-trong-thế-giới là một cấu trúc mang tính tổng thể bản nguyên và thường trực. Trong các chương trước (Phần Một, Chương 2-5), cấu trúc này đã được làm sáng tỏ về phương diện hiện tượng như một chỉnh thể, cũng như trong khuôn khổ các yếu tố cấu thành của nó, mặc dù luôn dựa trên cơ sở đó. Cái nhìn sơ bộ về toàn bộ hiện tượng này giờ đây đã thoát khỏi sự trống rỗng của phác thảo khái quát ban đầu. Quả thực, cấu thành của chỉnh thể cấu trúc này và loại Hữu thể thường nhật của nó đa dạng đến mức có thể dễ dàng cản trở việc ta quan sát chỉnh thể ấy theo một cách thống nhất dưới góc độ hiện tượng học. Tuy nhiên, có thể quan sát nó một cách tự do hơn và duy trì cái nhìn thống nhất ấy một cách vững chắc hơn nếu đặt ra câu hỏi mà ta đã hướng tới trong quá trình phân tích nền tảng mang tính chuẩn bị về Dasein nói chung: “Tổng thể tính của chỉnh thể cấu trúc mà ta đã chỉ ra đó cần được định nghĩa như thế nào theo phương diện hiện sinh-bản thể luận?”

Dasein hiện hữu một cách thực tại. Ta sẽ xem xét liệu hiện sinh tính và thực tính có một nhất tính bản thể luận hay không, hoặc liệu thực tính có thuộc về hiện sinh tính một cách cốt yếu hay không. Vì cốt yếu có một tâm thế thuộc về nó, nên Dasein có một loại Hữu thể mà trong đó nó được đưa ra trước chính mình và tự bộc lộ với chính mình trong tình trạng bị ném vào của nó. Nhưng tình trạng bị ném vào, với tư cách là một loại Hữu thể, thuộc về một thực thể mà trong mỗi trường hợp đều là các khả tính của chính nó, và là thực thể theo cách mà nó tự thấu hiểu các khả tính trong và thông qua các khả tính ấy, đồng thời phóng chiếu chính mình lên chúng. Hữu thể bên cạnh cái sẵn-có-để-dùng cũng thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới một cách bản nguyên như Hữu-thể-với những Kẻ Khác; và Hữu-thể-trong-thế-giới, trong mỗi trường hợp, đều là vì chính nó. Tuy nhiên, Cái Tự ngã, xét về mặt trực tiếp và phần lớn thời gian, lại không đích thực, tức là cái Tự ngã-họ. Hữu-thể-trong-thế-giới luôn ở trạng thái sa ngã. Theo đó, ‘tính thường nhật trung bình’ của Dasein có thể định nghĩa là “Hữu-thể-trong-thế-giới vừa sa ngã vừa được bộc lộ, vừa bị ném vào vừa phóng chiếu, và là trạng thái mà chính cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể tối hậu lại là một vấn đề, cả trong Hữu-thể-bên cạnh ‘thế giới’ lẫn trong cái Hữu-thể-với-Kẻ-khác của nó.”

[Tr.226] Liệu chúng ta có thể nắm bắt trọn vẹn toàn bộ cấu trúc của tính thường nhật của Dasein hay không? Liệu Hữu thể của Dasein có thể được bộc lộ theo một cách thức đơn nhất, mà bằng những khuôn khổ của nó, ta đã chỉ ra được tính đồng nguyên cốt yếu của các cấu trúc, cũng như các khả tính biến đổi sẽ trở nên khả tri? Liệu cách tiếp cận hiện tại của chúng ta—thông qua phép phân tích hiện sinh—có mở ra một con đường để đến được thứ Hữu thể này về phương diện hiện tượng học hay không? Nói theo hướng phủ định, chắc chắn rằng ta không thể đạt tới toàn bộ cấu trúc này bằng cách lắp ghép nó từ các thành phần riêng lẻ; làm vậy sẽ đòi hỏi một bản thiết kế của kiến ​​trúc sư. Hữu thể của Dasein—nền tảng bản thể luận cho toàn bộ cấu trúc ấy—chỉ trở nên có thể tiếp cận được khi ta nhìn xuyên suốt toàn bộ cấu trúc đó để thấy một hiện tượng đơn nhất mang tính bản nguyên, vốn đã hiện diện trong tổng thể ấy và đóng vai trò là nền tảng bản thể luận cho từng yếu tố cấu trúc trong khả tính cấu trúc của nó. Do đó, ta không thể diễn giải điều này một cách ‘toàn diện’ chỉ bằng một quá trình tập hợp những gì đã thu thập được từ trước đến nay và gom chúng lại với nhau. Vấn đề về đặc tính hiện sinh cơ bản của Dasein khác biệt về bản chất so với vấn đề về loại Hữu thể của một sự vật hiện-diện-vô-tri. Trải nghiệm thường nhật của chúng ta về môi trường xung quanh—vốn luôn hướng về các thực thể bên-trong-thế-giới cả trên bình diện ontic thực hữu lẫn bản thể luận—không phải là thứ có thể phơi bày Dasein theo phương thức bản nguyên về phương diện ontic thực hữu để phục vụ cho phép phân tích bản thể luận. Tương tự, tri giác nội tại về các trải nghiệm của chúng ta cũng không cung cấp được manh mối nào thỏa đáng về phương diện bản thể luận. Mặt khác, Hữu thể của Dasein không thể được suy diễn từ một ý niệm trừu tượng về con người. Liệu sự diễn giải về Dasein mà chúng ta đã thực hiện từ trước đến nay có cho phép ta suy ra điều mà chính Dasein—từ quan điểm của bản thân nó—đòi hỏi như là phương thức tiếp cận thực hữu-bản thể luận duy nhất thích hợp để thấu hiểu chính nó hay không?

Sự thấu hiểu về Hữu thể thuộc về cấu trúc bản thể luận của Dasein. Với tư cách là một cái gì đó hiện hữu, Dasein tự bộc lộ chính mình trong Hữu thể của nó. Loại Hữu thể thuộc về trạng thái tự bộc lộ này được cấu thành bởi tâm thế và thấu hiểu. Liệu có tồn tại ở Dasein một tâm thế thấu hiểu, trong đó Dasein tự bộc lộ với chính mình theo một cách thức đặc thù nào đó hay không? Nếu phép phân tích hiện sinh về Dasein muốn duy trì tính minh xác về nguyên tắc đối với chức năng của nó trong bản thể luận nền tảng, thì để hoàn thành nhiệm vụ tạm thời phơi bày Hữu thể của Dasein, nó cần phải tìm kiếm một trong những khả tính bộc lộ sâu xa và bản nguyên nhất—một khả tính nằm ngay trong chính Dasein. Phương thức bộc lộ mà qua đó Dasein tự đặt mình trước chính mình phải là phương thức cho phép Dasein trở nên có thể tiếp cận dưới một hình thức được đơn giản hóa theo một cách nhất định. Với những gì được bộc lộ như vậy, tổng thể cấu trúc của cái Hữu thể mà chúng ta tìm kiếm ắt sẽ lộ diện theo một cách thức mang cơ bản.

[Tr. 227] Là một tâm thế thỏa mãn các yêu cầu về mặt phương pháp luận này, hiện tượng lo âu3 sẽ được lấy làm cơ sở cho việc phân tích của chúng ta. Khi làm rõ trạng thái tâm thức cơ bản này và đặc trưng hóa về mặt bản thể luận những gì được bộc lộ trong đó theo đúng nghĩa, chúng ta sẽ lấy hiện tượng sa ngã làm điểm xuất phát, đồng thời phân biệt tâm trạng lo âu với hiện tượng có tính chất tương đồng là nỗi sợ, mà chúng ta đã phân tích trước đó. Là một trong những khả tính Hữu thể của Dasein, tâm trạng lo âu — cùng với chính Dasein được bộc lộ trong đó — cung cấp cơ sở hiện tượng học để nắm bắt một cách tường minh tổng thể tính bản nguyên Hữu thể của Dasein. Hữu thể của Dasein tự bộc lộ như là trạng thái quan tâm. Để làm rõ hiện tượng hiện sinh cơ bản này, chúng ta cần phân biệt nó với các hiện tượng có thể dễ đồng nhất hóa với sự quan tâm, chẳng hạn như ý chí, ước muốn, thói nghiện ngập và sự thôi thúc.4 Quan tâm không thể được suy ra từ những điều này, bởi vì chính chúng lại được tạo lập dựa trên bản thân nó.

Giống như mọi phân tích bản thể luận, việc diễn giải bản thể luận về Dasein như là sự quan tâm — cùng với bất kỳ điều gì ta thu nhận được từ một cách diễn giải như vậy đều rất xa so với những gì có thể tiếp cận được thông qua sự hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể, hay thậm chí là với sự quen thuộc mang tính ontic thực hữu của chúng ta đối với các thực thể. Không có gì ngạc nhiên khi hiểu biết thông thường — vốn chỉ có tính thân thuộc với các thực thể ở cấp độ thực hữu vốn được biết ở cấp độ bản thể luận lại có vẻ khá xa lạ với nó. Dẫu vậy, ngay cả cách tiếp cận ontic thực hữu mà chúng ta đã dùng để diễn giải Dasein như là sự quan tâm về phương diện hữu thể luận cũng có thể bị coi là khiên cưỡng và mang tính dàn dựng lý thuyết; đó là chưa kể đến hành vi bạo lực mà người ta có thể thấy trong việc chúng ta gạt bỏ định nghĩa truyền thống đã được công nhận về ‘con người’. Theo đó, phép diễn giải hiện sinh về Dasein của chúng ta như là sự quan tâm đòi hỏi phải có sự xác nhận ở cấp độ tiền-bản thể luận. Sự xác nhận này nằm ở việc chứng minh rằng ngay khi Dasein tự bộc lộ điều gì đó về chính mình với chính mình, thì nó đã tự diễn giải bản thân như là sự quan tâm rồi, mặc dù nó chỉ thực hiện điều đó ở cấp độ tiền-bản thể luận mà thôi.

Phép phân tích về Dasein — vốn đang hướng tới hiện tượng quan tâm — nhằm mục đích dọn đường cho vấn đề cốt lõi của bản thể luận nền tảng: câu hỏi về ý nghĩa của Hiện hữu nói chung. Để có thể trực tiếp hướng cái nhìn vào vấn đề này một cách minh nhiên dưới ánh sáng của những gì đã đạt được, và vượt ra khỏi nhiệm vụ chuyên biệt của một nền nhân học mang tính a priori tiên nghiệm về phương diện hiện sinh, chúng ta cần nhìn lại và nắm bắt sâu sắc hơn các hiện tượng có mối liên hệ mật thiết nhất với câu hỏi chủ đạo của chúng ta—câu hỏi về Hữu thể. Các hiện tượng này chính là những phương thức Hữu thể mà chúng ta đã và đang lý giải: tình-trạng-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri—vốn là các thuộc tính [tr.228] của các thực thể bên-trong-thế-giới mà tính chất của nó không phải là tính chất của Dasein. Vì vấn đề bản thể luận về Hữu thể từ trước đến nay chủ yếu được hiểu theo nghĩa hiện-diện-vô-tri (‘Thực tại’, ‘hiện-thực-tính-thế giới’), trong khi bản chất Hữu thể của Dasein lại vẫn chưa được xác định về mặt bản thể luận, nên chúng ta cần thảo luận về các mối liên hệ bản thể luận của sự quan tâm, thế gian tính, trạng-thái-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri (Thực tại). Điều này sẽ dẫn đến việc xác định chính xác hơn khái niệm Thực tại trong bối cảnh thảo luận về các vấn đề nhận thức luận—được định hướng bởi ý niệm này, vốn đã được đặt ra trong chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm.

Các thực thể có trải nghiệm hoàn toàn độc lập mà chúng tự bộc lộ bằng trải nghiệm đó, chính là việc làm quen giúp khám phá chúng, và việc nắm bắt giúp xác định bản chất của chúng. Tuy nhiên, Hữu thể chỉ ‘có được/cấu thành nên’ trong sự thấu hiểu của các thực thể mà một cái gì đó giống như một sự thấu hiểu về Hữu thể thuộc về Hữu thể của các thực thể đó. Vì vậy, Hữu thể có thể là một cái gì đó chưa được khái niệm hóa, nhưng nó không bao giờ hoàn toàn thiếu vắng sự thấu hiểu. Trong các vấn đề bản thể luận, từ xưa đến nay, Hữu thể và chân lý luôn được đặt cạnh nhau, nếu không muốn nói là được đồng nhất hoàn toàn. Điều này chứng tỏ có một mối liên hệ tất yếu giữa Hữu thể và thấu hiểu, ngay cả khi mối liên hệ ấy có thể đang ẩn giấu ở những nền tảng bản nguyên của nó. Nếu muốn chuẩn bị đầy đủ cho câu hỏi về Hữu thể, ta cần làm sáng tỏ hiện tượng chân lý về mặt bản thể luận. Việc này trước hết sẽ được thực hiện dựa trên những gì chúng ta đã đạt được trong phần Diễn giải trước đó, gắn liền với các hiện tượng về trạng thái bộc lộ và được khám phá, phép diễn giải và khẳng định. Như vậy, phép phân tích nền tảng mang tính chuẩn bị về Dasein của chúng ta sẽ kết thúc với các chủ đề sau: i) Tâm thế cơ bản là nỗi lo âu như một phương thức đặc thù mà qua đó Dasein được bộc lộ (Mục 40); ii) Hữu thể của Dasein với tư cách là sự quan tâm (Mục 41); iii) Việc xác nhận phép Diễn giải hiện sinh về Dasein như là Sorge quan tâm theo phương thức tự diễn giải mang tính tiền-bản thể luận của Dasein (Mục 42); iv) Dasein, cái Thế gian và Thực tại (Mục 43); v) Dasein, trạng thái bộc lộ và chân lý (Mục 44).

40. Tâm thế Cơ bản của Lo âu – Cách thức Đặc thù để Dasein Bộc lộ

Một trong những khả tính Hữu thể của Dasein là cung cấp cho chúng ta những ‘thông tin’ ontic thực hữu về chính Dasein với tư cách một thực thể. Những thông tin như vậy chỉ có thể có được trong trạng thái bộc lộ vốn thuộc về Dasein và được đặt nền tảng trên tâm thế và thấu hiểu. Nỗi lo âu là một tâm thế đặc thù đến mức nào? Làm thế nào mà trong nỗi lo âu, Dasein lại được đưa đến đối diện với chính mình thông qua Hữu thể của chính nó, để chúng ta có thể xác định về phương diện hiện tượng học cái đặc tính của thực thể được bộc lộ trong nỗi lo âu, và xác định nó đúng như trong Hữu thể của nó, hoặc chuẩn bị đầy đủ để thực hiện điều đó? [Tr.229] Vì mục tiêu của chúng ta là tiến tới Hữu thể của tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc, nên chúng ta sẽ lấy các phân tích cụ thể về trạng thái sa ngã mà chúng ta vừa thực hiện làm điểm xuất phát. Tình trạng đắm chìm của Dasein vào das Man cái ‘họ’ và vào ‘thế giới’ của những mối bận tâm đã hiển hiện một điều gì đó giống như cuộc trốn chạy của Dasein trước chính mình—trước chính mình với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã đích thực của nó.5 Hiện tượng Dasein trốn chạy trước chính mình và trước tính đích thực của mình dường như là một cơ sở mang tính hiện tượng thích hợp cho cuộc khảo sát tiếp theo. Tuy nhiên, việc đưa mình đối diện với chính mình lại chính là điều mà Dasein không làm khi nó trốn chạy như vậy. Nó quay lưng lại với chính mình theo đúng quán tính của sự sa ngã. Dù vậy, khi khảo sát các hiện tượng này, chúng ta phải cẩn trọng để không nhầm lẫn giữa việc mô tả đặc tính mang tính ontico-existentiell thực hữu-hiện sinh với phép Diễn giải mang tính hữu thể luận-hiện sinh, cũng như không được bỏ qua các cơ sở hiện tượng tích cực mà việc mô tả đặc tính đó mang lại cho phép diễn giải này.

Từ quan điểm hiện sinh, tính đích thực của Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó tất nhiên đã bị che khuất và gạt sang bên trong trạng thái sa ngã; nhưng việc bị che khuất như vậy chỉ đơn thuần là tình trạng thiếu vắng một trạng thái bộc lộ vốn tự hiển hiện về phương diện hiện tượng qua thực tế là cuộc trốn chạy của Dasein là trốn chạy trước chính mình. Cái trước mặt khiến Dasein trốn chạy lại chính là cái mà Dasein bắt gặp ở ‘phía sau’ mình.6 Chỉ khi Dasein được đưa về đối diện với chính mình theo một cách thức cốt yếu về phương diện bản thể luận—thông qua bất kỳ trạng thái bộc lộ nào thuộc về nó—thì nó mới có thể trốn chạy cái trước mặt khiến nó trốn chạy. Quả thực, cái trước mặt khiến nó trốn chạy lại không được nắm bắt trong hành động quay lưng khi sa ngã; cũng không được trải nghiệm ngay cả khi quay về phía ấy. Thay vào đó, chính trong hành động quay lưng lại với nó, điều đó lại được bộc lộ ‘ở đó’. Cú quay lưng mang tính thực hữu-hiện sinh này, nhờ vào bản chất bộc lộ của nó, về phương diện hiện tượng, tạo ra khả năng nắm bắt—theo nghĩa hiện hữu-bản thể luận—cái trước mặt khiến Dasein trốn chạy, và nắm bắt nó theo đúng nghĩa. Trong cuộc ‘lánh mặt’ mang tính thực hữu mà hành động quay lưng như vậy hàm ý, thì cái trước mặt khiến Dasein trốn chạy lại có thể được thấu hiểu và khái niệm hóa thông qua việc ‘quay về phía đó’ theo một cách thức mang tính diễn giải hiện tượng học. Như vậy, khi định hướng phép phân tích dựa trên hiện tượng sa ngã, về nguyên tắc, chúng ta không hề bị tước mất cơ hội tìm hiểu những khía cạnh bản thể luận về Dasein—vốn được bộc lộ trong chính hiện tượng đó. Trái lại, ở đây, phép Diễn giải của chúng ta hoàn toàn không bị lệ thuộc vào cách thức giả tạo mà Dasein tự nắm bắt chính mình; nó chỉ đơn thuần thực hiện [tr.230] việc làm sáng tỏ những gì mà bản thân Dasein bộc lộ trên bình diện ontic thực hữu. Khả tính hướng đến cái Hữu thể của Dasein—bằng cách đồng hành và dõi theo nó thông qua Diễn giải, cùng thấu hiểu và tâm thế đi kèm—sẽ càng lớn hơn khi hiện tượng đóng vai trò phương pháp luận như một trạng thái tâm thế bộc lộ càng mang tính bản nguyên. Có thể lập luận rằng chính nỗi lo âu thực hiện một chức năng nào đó như vậy. Chúng ta không hoàn toàn thiếu sự chuẩn bị cho phép phân tích tâm trạng lo âu. Tất nhiên, mối liên hệ bản thể luận giữa nó và nỗi sợ hãi vẫn còn mờ mịt. Nhưng rõ ràng đây là những hiện tượng có họ hàng với nhau. Điều này được minh chứng qua thực tế là phần lớn chúng không được phân biệt rạch ròi với nhau: cái vốn là nỗi sợ hãi lại bị gọi là ‘lo âu’, trong khi cái mang bản chất của lo âu lại bị gọi là ‘sợ hãi’. Chúng ta sẽ cố gắng tiếp cận hiện tượng lo âu theo từng bước một.

Việc Dasein sa ngã vào das Man cái ‘họ’ và ‘thế giới’ của những mối bận tâm chính là điều mà chúng ta gọi là cuộc ‘trốn chạy’ khi đối diện với chính bản thân mình. Tuy nhiên, không phải cứ khi nào ta lùi lại trước một điều gì đó hay quay lưng lại với nó thì đều là đang trốn chạy khỏi nó. Hành động lùi lại trước điều mà nỗi sợ phơi bày—tức là trước một cái gì đó mang tính đe dọa—được khởi phát từ chính nỗi sợ; và hành động lùi lại này có tính chất trốn chạy. Cách lý giải của chúng ta về nỗi sợ như một tâm thế đã chỉ ra rằng, trong mọi trường hợp, cái trước mặt khiến ta sợ hãi là một thực thể gây hại nằm-trong-thế-giới nó vốn đến từ một vùng xác định nào đó nhưng lại đang kề bên, đang sát gần lại, song cũng có thể vẫn giữ khoảng cách. Trong trạng thái sa ngã, Dasein quay lưng lại với chính mình. Cái trước mặt khiến nó lùi lại, trong mọi trường hợp, ắt hẳn phải là một thực thể mang tính đe dọa; tuy nhiên, thực thể này lại có cùng một loại Hữu thể với chính chủ thể đang lùi lại: đó chính là Dasein. Vì vậy cái trước mặt khiến nó lùi lại trước đó không thể bị coi là một thứ gì đó ‘đáng sợ’, bởi lẽ bất cứ thứ gì ‘đáng sợ’ cũng luôn được bắt gặp như một thực thể bên-trong-thế-giới. Chỉ những mối đe dọa nào mang tính ‘đáng sợ’ và được phát hiện trong nỗi sợ hãi mới luôn bắt nguồn từ các thực thể bên-trong-thế-giới. Do đó, hành động quay lưng của trạng thái sa ngã không phải là một sự trốn chạy bắt nguồn từ nỗi sợ hãi của các thực thể bên-trong-thế-giới. Cuộc trốn chạy có cơ sở như vậy càng không phải là đặc tính của hành động quay lưng này, khi mà hành động quay lưng ấy thực chất lại hướng về phía các thực thể bên-trong-thế-giới bằng cách đắm mình vào chúng. Thay vào đó, hành động quay lưng trong trạng thái sa ngã bắt nguồn từ nỗi lo âu—thứ vốn là điều kiện tiên quyết để nỗi sợ hãi có thể nảy sinh.

Để hiểu được những gì được nói đến ở đây về việc Dasein trốn chạy cái trước mặt chính mình trong trạng thái sa ngã, ta cần nhớ lại rằng Hữu-thể-trong-thế-giới là một trạng thái cơ bản của Dasein. Đối tượng mà trước nó ta cảm thấy lo âu [das Wovor der Angst] chính là Hữu-thể-trong-thế-giới theo đúng nghĩa của nó. Vậy đâu là sự khác biệt về mặt hiện tượng giữa cái mà trước nó ta cảm thấy lo âu và cái mà trước nó ta cảm thấy sợ hãi? Cái mà trước nó ta cảm thấy lo âu không phải là một thực thể bên-trong-thế-giới. Do đó, về bản chất, nó không thể có bất kỳ mối can dự nào. Hành động đe dọa này không mang tính chất của một tác hại cụ thể nào đó nhắm vào đối tượng bị đe dọa, hay nhắm vào nó với việc liên quan nhất định đến một tiềm-năng-cho-Hữu-thể xác thực đặc biệt. Cái mà trước nó ta cảm thấy lo âu là hoàn toàn bất định. Trạng thái bất định này không chỉ để lại câu hỏi về việc thực thể nào bên-trong-thế-giới đang đe dọa ta, mà còn cho thấy rằng các thực thể trong-thế-giới hoàn toàn không ‘liên quan’ gì đến sự lo âu này cả. Không có bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri trong thế giới lại có chức năng là cái trước mặt gây ra nỗi lo âu. Ở đây, tổng thể tính các mối can dự của cái sẵn-có-để-dùng và cái hiện-diện-vô-tri được khám phá bên-trong-thế-giới theo đúng nghĩa đều không có gì quan trọng; chúng sụp đổ vào chính mình; thế giới mang đặc tính hoàn toàn thiếu vắng ý nghĩa. Trong trạng thái lo âu, ta không bắt gặp sự vật này hay sự vật kia—những thứ vốn dĩ phải có một mối can dự nào đó—như là tác nhân gây đe dọa.

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…die von ihr gezeitigten…’ Chúng tôi theo dõi những bài viết khó hiểu của những lần xuất bản trước. Các phiên bản mới hơn có ‘…die von ihr gezeigten…’ (‘...mà nó đã cho thấy...’). Xem H. 304 bên dưới và ghi chú ad loc của chúng tôi.

2 “Die Geworfenheit ist nicht nur nicht eine ‘fertige Tatsache’, sondem auch nicht ein abgeschlossenes Faktum.”

3 ‘Tức giận’. Trong khi từ này thường được dịch là ‘lo lắng’ trong văn học tâm lý học hậu Freud, nó lại xuất hiện dưới dạng ‘sợ hãi’ trong các bản dịch của Kierkegaard và trong một số cuộc thảo luận của Heidegger. Ở một khía cạnh nào đó, ‘khó chịu’ hay ‘bất an’ vẫn có thể thích hợp hơn.

4 ‘Wille, Wunsch, Hang und Drang.’ Để thảo luận thêm, xem H.194 ff. ở dưới.'

5 ‘…tội phạm nên etwas wie eine Flucht des Daseins vor ihm selbst als eigentlichem Selbst-sein-konnen.' Ý của đoạn này là nếu chúng ta muốn nghiên cứu tổng thể của Dasein, thì Dasein phải được đưa ra ‘trước chính nó’ hoặc ‘mặt đối mặt với chính nó’ ('vor es selbst'); và sự thật là Dasein chạy trốn 'khỏi chính nó' hay 'đối mặt với chính nó' ('vor ihm selbst'), mà lúc đầu có vẻ như khiến chúng ta lạc lối, nhưng thực ra lại rất phù hợp với yêu cầu của mình.

6 “I’m Wovor der Flucht kommt das Dasein gerade ‘hinter’ ihm her.”