Powered By Blogger

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§1. Siêu việt của Dasein

a) Khái niệm Siêu việt

[Tr.168] Giờ đây, chúng ta muốn cố gắng diễn giải kỹ hơn cấu thành cơ bản này của Dasein, và điều đó ngụ ý việc bác bỏ những hiểu lầm có thể xảy ra. Thoạt đầu, có thể tự hỏi tại sao người ta lại đề cao sự siêu việt đến vậy, thậm chí xem nó như một vấn đề, nếu siêu việt có nghĩa là hiện- hữu-trong-thế giới. Luận điểm này khẳng định điều dường như hiển nhiên nhất có thể. Hiện-hữu-trong-thế-giới của Dasein là chắc chắn: một Dasein thực sự đang tồn tại, một con người thực sự đang tồn tại, với tư cách là một hiện hữu thực sự, tự nhiên có đó giữa các hiện hữu khác; những con người đứng trên mặt đất, đi dưới bóng cây và di chuyển giữa những con người khác. Dasein ở trong một thế giới, tức là, những con người thực sự đang tồn tại [tr.169] ở giữa các hiện hữu khác, trong tổng thể tính của các hiện hữu khác. Rõ ràng đến mức người ta hoàn toàn không thấy có vấn đề gì; và có thể nói rằng lời tuyên bố, “Dasein về mặt cấu thành, theo bản chất của nó, ở trong một thế giới,” rõ ràng là giả, vì không nhất thiết phải có sự tồn tại của hiện hữu người này hay hiện hữu người kia; khái niệm hiện hữu người không bao hàm việc một người thực sự tồn tại, tức là hiện hữu trong một thế giới; nhưng việc nói rằng bản chất của Dasein nằm ở sự hiện-hữu- trong-thế-giới của nó là điều có vẻ vô nghĩa.

Vậy là điều này chính xác, bản chất của Dasein không phải là việc nó thực sự tồn tại; tuy nhiên, chính bản chất của nó lại ở chỗ trong mỗi trường hợp, hiện hữu này cũng có thể không còn tồn tại. Vũ trụ có thể tồn tại mà không có con người sinh sống trên Trái đất, và vũ trụ đã tồn tại từ rất lâu trước khi con người đã từng tồn tại. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể khẳng định rằng hiện-hữu-trong-thế-giới lại thuộc về bản chất của Dasein? Nếu tuyên bố này vẫn được cho là đúng, thì hiện-hữu-trong-thế-giới phải có một ý nghĩa nào đó khác. Và ý nghĩa đó về nguyên tắc được khẳng định khi chúng ta nhấn mạnh: hiện-hữu-trong-thế-giới là cấu thành cơ bản của Dasein. Khía cạnh quan trọng nằm ở mặt phủ định: Nếu tôi nói về Dasein rằng cấu thành cơ bản của nó là hiện-hữu-trong-thế-giới, thì trước hết tôi đang khẳng định điều gì đó thuộc về bản chất của nó, và do đó tôi bỏ qua việc liệu cái Hữu thể của một bản chất như vậy có thực sự tồn tại hay không. Nói cách khác, tuyên bố, “Dasein, trong cấu thành cơ bản của nó, là hiện-hữu-trong-thế-giới,” không phải là sự khẳng định về sự tồn tại thực tế của nó; bằng tuyên bố này, tôi không khẳng định rằng Dasein của tôi thực sự vẫn tồn tại, cũng không nói rằng, phù hợp với bản chất của nó, nó thực sự phải tồn tại. Thay vào đó, tôi đang nói: Nếu Dasein thực sự tồn tại, thì sự tồn tại của nó có cấu trúc hiện-hữu-trong-thế-giới, tức là, Dasein, trong bản chất của nó, là hiện-hữu-trong-thế-giới, bất kể nó có thực sự tồn tại hay không.

Do đó, Dasein không phải là một hiện-hữu-trong-thế-giới bởi vì nó thực sự tồn tại, mà ngược lại. Nó chỉ có thể tồn tại trên thực tế với tư cách là Dasein bởi vì bản chất của nó là hiện-hữu-trong-thế-giới. Do đó, điều quan trọng là phải phân biệt rõ ràng và có nguyên tắc giữa: 1) Tuyên bố hiện sinh về sự thật, rằng cái Dasein cụ thể này hiện đang tồn tại. Điều quan trọng ở đây là liệu một Dasein trên thực tế có tồn tại hay không, và liên quan đến việc đang tồn tại của nó; 2) Tuyên bố siêu hình về bản chất, rằng hiện-hữu-trong-thế-giới thuộc về bản chất của Dasein như là cấu thành của nó, cho dù trên thực tế nó có tồn tại hay không. Điều có tính quyết định ở đây không phải là liệu trên thực tế nó có tồn tại hay không, mà cái được trình bày là cái thuộc về khả tính nội tại của Dasein, nếu nó có thể tồn tại. Hiện-hữu-trong-thế-giới đặc trưng cho phương thức hiện hữu cơ bản, tồn tại của Dasein, mà không nói liệu nó có tồn tại hay không. [Tr.170] Một ví dụ tương tự là tuyên bố, ‘thân thể được mở rộng,’ đó là một tuyên bố về bản chất chứ không phải là một tuyên bố về sự thật; tuyên bố này không nói rằng một thân thể cụ thể nào đó extant vẫn còn tồn tại. Tuyên bố về tính siêu việt là một khẳng định hiện sinh (mang tính hữu thể luận), chứ không phải là một khẳng định thực hữu (ontic).

Chắc chắn, tất cả điều này chỉ nhằm mục đích định nghĩa, về nguyên tắc, ý nghĩa của tuyên bố và loại bỏ những cách diễn giải sai lệch. Nhưng ý nghĩa của nó về mặt nội dung vẫn chưa rõ ràng, và ở đây chúng ta cần sự kiên nhẫn, công việc chuẩn bị từng bước, và đặc biệt là ý chí hướng tới điều mà các chỉ dẫn của chúng ta vạch ra. Tuyên bố, ‘bản chất của Dasein là nó ở trong thế giới,’ có nghĩa là nó thực sự vẫn tồn tại giữa những sự vật khác. Ngược lại, tuyên bố rằng hiện-hữu-trong-thế-giới thuộc về bản chất của Dasein đặc trưng cho cấu thành thiết yếu của nó. Trong cả hai trường hợp, thì ‘thế giới’ có nghĩa là điều gì đó khác biệt về cơ bản. Do đó, điều quyết định là, thứ nhất: Thế giới có nghĩa là gì (như một nơi ở)? Thứ hai: Ở đây, ‘hiện-hữu-trong’ có nghĩa là gì? Do đó tuyên bố, ‘Dasein có, như cấu thành cơ bản hiện hữu của nó, một hiện-hữu-trong-thế-giới,’ được cho là một tuyên bố về bản chất. Điều này ngụ ý rằng về bản chất, Dasein ‘có’ một cái gì đó giống như thế giới, và nó không có được thế giới chỉ bằng sự thật là nó tồn tại, và những hiện hữu khác cùng loại và khác loại cũng thực sự tồn tại cùng với Dasein (hoặc cái sự thật về việc nó ở giữa chúng). Ngược lại, trong mỗi trường hợp Dasein có thể tồn tại như một Dasein cụ thể, miễn là, với tư cách là  Dasein theo đúng nghĩa, nó có một cái gì đó thuộc về trật tự của thế giới. Qua đó, chúng ta thấy khó khăn trong nhìn nhận và lý giải cấu thành cơ bản của siêu việt rõ ràng nằm ở tính đặc thù của khái niệm thế giới. Do đó, chúng ta muốn thử làm rõ cấu trúc của siêu việt như là hiện-hữu-trong-thế-giới bằng cách định nghĩa và giải thích khái niệm ‘thế giới’.

b) Hiện tượng thế giới

Mục tiêu của chúng ta là xem xét kỹ hơn ý nghĩa của từ ‘thế giới’ như một đặc điểm của siêu việt theo đúng nghĩa. Siêu việt là hiện-hữu-trong-thế-giới. Bởi vì nó liên quan đến siêu việt theo đúng nghĩa, nên thế giới là một khái niệm siêu việt theo nghĩa chặt chẽ nhất của thuật ngữ này. Trong triết học Kant, transzendental có tính ‘siêu việt’ có ý nghĩa tương đương với ontologisch tính ‘bản thể luận’ nhưng liên quan đến bản thể luận của ‘tự nhiên’ theo nghĩa rộng nhất. Đối với chúng ta, thuật ngữ này có nghĩa tương đương với fundamental-ontologische tính ‘Hữu thể luận-cơ bản’. Cách biểu đạt ‘thế giới’ có nhiều nghĩa, nhưng tính đa nghĩa này không phải là tình cờ. Trước tiên, chúng ta phải truy nguyên khái niệm truyền thống theo nhiều nghĩa khác nhau của nó, tức là, khảo sát tất cả những gì nó [tr.171] có nghĩa và cách hiểu về nó trong mỗi trường hợp. Từ đó, chúng ta sẽ có thể thu thập một số chỉ dấu về ý nghĩa của khái niệm ‘thế giới’, khi nó thực sự liên quan đến siêu việt. Tính đa nghĩa đặc trưng của khái niệm ‘thế giới’ trở nên dễ hiểu hơn nếu chúng ta xem xét lịch sử của khái niệm này. Đương nhiên, đối với chúng ta điều đó chỉ có thể có nghĩa là xử lý một vài tham chiếu tiêu biểu.

Nếu chúng ta nhìn vào triết học cổ đại, đặc biệt là trong giai đoạn khởi đầu mang tính quyết định của nó với Parmenides và Heraclitus, chúng ta ngay lập tức nhận thấy một điều đáng chú ý. Thuật ngữ ‘thế giới’ tiếng Hy Lạp là κόσμος kosmos. Và thuật ngữ này có nghĩa là gì? Chính xác là không phải những gì người ta thường tin; nó không có nghĩa là existierende Wesen các hiện hữu vẫn tồn tại theo đúng nghĩa, các thiên thể, các vì sao, trái đất, thậm chí là một hiện hữu cụ thể. Kόσμος kosmos cũng không có nghĩa là tất cả các hiện hữu cùng nhau; nó hoàn toàn không có nghĩa là các hiện hữu tự thân và không phải là một tên gọi dành cho chúng. Đúng hơn κόσμος kosmos đề cập đến Zustand ‘trạng thái’; κόσμος kosmos là thuật ngữ chỉ Weise zu sein phương thức hiện hữu chứ không phải bản thân các hiện hữu. Kόσμος kosmos có nghĩa là trạng thái đặc thù này của các hiện hữu, thế giới này của các hiện hữu trái ngược với một thế giới khác. Bản thân các hiện hữu vẫn không thay đổi, trong khi trạng thái toàn thể của chúng, thế giới của chúng, có thể khác nhau; hoặc, người ta có thể cho rằng thế giới của các hiện hữu vẫn luôn luôn như vậy. Để diễn tả phương thức tồn tại này, chúng ta sử dụng (ngay trong các bài giảng của tôi ở Freiburg) động từ welten ‘to world,’ trở thành thế giới. Ý nghĩa cơ bản này của kόσμος kosmos - về nguyên tắc lần đầu tiên được Karl Reinhardt đề xuất (Parmenides und die Geschichte der griechischen Philosophie, 1916, tr. 174 f. và tr. 216, chú thích) - xuất hiện trong một số đoạn văn của các nhà triết học tiền Socrates.

Trong Đoạn 7 của Melissos: ἀλλ' οὐδέ μετακόσ μηθῆναι ἀνυστόν [τὸ ὄν]. ὸ γὰρ kόσμος ὸ προσθεν έῷν οὐκ ἀπόλλυται οὑτε  ὸ μἡ ἐὡν  γίνεται; “Thậm chí không thể nào thế giới của các sinh linh lại bị thay đổi, bởi vì cái thế giới vẫn thế giới hóa trước đó không hề lụi tàn, cũng như cái thế giới chưa hề khởi lên không thể nào biến thành thế giới được”. Trong Đoạn 4, Parmenides nói về κατὰ kόσμον ‘theo trật tự/nguyên tắc’ liên quan đến τὸ ἐόν ‘cái vẫn tồn tại’: Hãy dùng sự hiểu biết (thay vì đôi mắt của bạn) và nhìn thấy những gì luôn hiện diện (trong hữu thể thực tại của nó); bởi vì lý giải sẽ không làm tan rã sự gắn kết của các hiện hữu, đồng thời nó cũng không làm chúng tan rã theo bất kỳ cách nào liên quan đến cấu thành tập thể của chúng, κατὰ kόσμον, cũng như không sắp xếp chúng theo bất kỳ cách nào khác. Anaxoagoras, Đoạn 8: Nó không bị tách rời hoàn toàn hoặc bị xẻ đôi bằng rìu, tức là bị phân tán, τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ: những thực thể tồn tại trong một thế giới; ở đây có nghĩa là những thế giới nói chung theo một cách xác định, những gì có điều kiện và bối cảnh cơ bản xác định. Kόσμος kosmos, với tư cách là 'cách thức' của toàn thể tính, là cơ sở của mọi sự phân chia.

[Ghi chú: τὰ ἐν τῷ νὶ κόσμῳ còn có các biến thể là τὰ ἐν τῷ κόσμῳ (có nghĩa là ‘những thứ/vật trong thế giới/gian’). Cụm từ τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ (thêm ‘một’ / ἑνὶ) dịch là ‘những thứ/vật trong thế giới/ gian’. Điều này chỉ rõ đến vũ trụ hữu hình và nội dung của nó, hoạt động như một thể thống nhất. Vì cách diễn đạt này trải rộng trên nhiều truyền thống cổ đại, ý nghĩa của nó thay đổi tùy thuộc vào nguồn dữ liệu; trong Kinh Thánh tiếng Hy Lạp, cụm từ τὰ ἐν τῷ κόσμῳ xuất hiện nổi bật trong Tân Ước, thường đề cập đến các khía cạnh tạm thời, sa ngã hoặc vật chất của sự tồn tại trên trần gian. (Chẳng hạn như John/Giăng 2:15-17 “Μὴ ἀγαπᾶτε τὸν κόσμον μηδὲ τὰ ἐν τῷ κόσμῳ. ἐάν τις ἀγαπᾷ τὸν κόσμον, οὐκ ἔστιν ἡ ἀγάπη τοῦ πατρὸς ἐν αὐτῷ· ὅτι πᾶν τὸ ἐν τῷ κόσμῳ, ἡ ἐπιθυμία τῆς σαρκὸς καὶ ἡ ἐπιθυμία τῶν ὀφθαλμῶν καὶ ἡ ἀλαζονεία τοῦ βίου, οὐκ ἔστιν ἐκ τοῦ πατρὸς ἀλλ᾽ ἐκ τοῦ κόσμου ἐστίν.17 καὶ ὁ κόσμος παράγεται καὶ ἡ ἐπιθυμία αὐτοῦ, ὁ δὲ ποιῶν τὸ θέλημα τοῦ θεοῦ μένει εἰς τὸν αἰῶνα. “15 Chớ yêu thế-gian, cũng đừng yêu các vật ở thế-gian nữa; nếu ai yêu thế-gian thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong kẻ ấy.16 Vì mọi sự trong thế-gian, như sự mê-tham của xác-thịt, mê-tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế-gian mà ra.17 Vả thế-gian với sự tham-dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thời còn lại đời đời” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr.300) Trong Triết học Tiền Socrates, các triết gia cổ đại như Anaxagoras hoặc Heraclitus cho rằng vũ trụ hoạt động như một hệ thống vật lý liên kết duy nhất với ý nghĩa mọi thứ trong vũ trụ là duy nhất; các yếu tố vật lý của vũ trụ như nóng, lạnh, ẩm, khô, v.v. đều không bị tách rời hoặc phân tán ngẫu nhiên, thay vào đó, chúng hoàn toàn đan xen và được chi phối bởi trật tự tự nhiên của thế giới.- HHN]

[Tr.172] Sự phân chia không xóa bỏ thế giới, nhưng bản thân nó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thế giới. (Mọi 'bộ phận' của thế giới đều hữu hạn.) Heraclitus, Đoạn 89 viết: Ἡρακλειτός φησι τοῖς ἐγρηγορόσιν ἕνα καὶ κοινὸν κόσμον εἶναι, τῶν δὲ κοιμωμένων ἕκαστον εἰς ἴδιον ἀποστρέφεσθαι. “Một thế giới duy nhất và cùng chung thuộc về những kẻ tỉnh thức, nhưng mỗi kẻ đang ngủ lại hướng về thế giới riêng của mình.” Ở đây, thế giới liên quan đến trạng thái tỉnh thức và ngủ vùi, như những phương thức cơ bản đặc trưng của Dasein thực tế. Tỉnh thức là một trạng thái của Dasein trong đó các hiện hữu tự hiện thân cho mọi người như một và giống nhau trong cùng một đặc tính-thế giới; các hiện hữu tự biểu hiện trong một trạng thái triệt để hài hòa mà tất cả đều có thể tiếp cận và ràng buộc với nhau. Ngược lại, trong giấc ngủ, hiện hữu tự hiện thân có đặc tính-thế giới riêng biệt đối với từng cá nhân, trong mỗi trường hợp là một cách trở thành thế giới hoàn toàn khác nhau.

Từ những ví dụ này, chúng ta có thể rút ra một số điểm: 1) Thế giới là thuật ngữ chỉ phương thức tồn tại của các hiện hữu (mặc dù khái niệm thế giới chưa phải là một vấn đề Hữu thể luận rõ ràng); 2) Thế giới có nghĩa là toàn thể tính, sự thống nhất và khả năng phân tán của các hiện hữu; 3) Mỗi phương thức tồn tại hoặc có thể thay đổi hoặc không; thế giới có mối kết nói với vận động, thay đổi và thời gian; 4) Thế giới bằng cách nào đó mang tính tương đối với Dasein cũng như đối với phương thức tồn tại hiện tại của nó, và liên quan đến 5) Liệu thế giới có phải là một thế giới chung, duy nhất và đồng nhất hay không, tức là liệu các hiện hữu có được phép trình hiện bản thân trong cùng một phương thức hài hòa cho tất cả hay chỉ cho mỗi cá nhân theo cách riêng của họ - thế giới của mọi người hay của tự ngã cô đơn. Các tham chiếu tiếp theo không chỉ xác nhận những ý nghĩa này mà còn làm rõ các điểm trên hơn nữa. Nhìn chung, chúng sẽ làm sáng tỏ điểm chính duy nhất của tập hợp các suy ngẫm sơ bộ này, đó là khái niệm ‘thế giới’ có một đặc tính phổ quát riêng biệt (với tư cách là toàn thể tính so với sự phân tán) và đồng thời có một đặc tính về bản chất liên quan đến Dasein người. Đây chỉ là bước sơ bộ cho ý nghĩa siêu việt thực sự mà sau này chúng ta sẽ gán cho thuật ngữ ấy, khi diễn giải về sự siêu việt. Tại điểm này, điều đáng lưu ý, liên quan đến những thứ đã nói ở trên cũng như những thứ sẽ được trình bày sau đây, là các khái niệm như ‘thế giới’, diễn tả trạng thái của các hiện hữu, cách thức tồn tại của các hiện hữu (các hiện hữu có thể tồn tại trong thế giới theo cách này hay cách khác),  dễ dàng và thường xuyên - thực tế là phần lớn - được sử dụng để mô tả bản thân các hiện hữu. Ví dụ, ‘dòng chảy’ có nghĩa là một dòng nước chảy trong rừng, dòng suối cụ thể này chảy ở đây, hay con lạch; nhưng ‘dòng chảy’ cũng có nghĩa là ‘cách thức’ tồn tại của các hiện hữu, ví dụ, ‘chảy’ thay vì ‘cuộn sóng’.Từ Hy Lạp φύσις physic cũng có nghĩa là tự nhiên theo nghĩa vật chất và hình thức như ἀρχή κινήσεως arkhē kinēseōs nguyên lý vận động [tr.173] ngay cả về mặt ngôn ngữ, hậu tố -ις cũng chỉ ra một cách thức hoặc phương pháp. [Là đuôi tận cùng của nhiều danh từ giống cái, đặc biệt là trong tiếng Hy Lạp cổ đại như πόλις pólis nghĩa là ‘thành bang’, hoặc đuôi tạo tên phái sinh); một số họ hoặc tên địa danh Hy Lạp cũng có đuôi này. HHN] Tương ứng, ‘thế giới’ chủ yếu và đúng nghĩa có nghĩa là phương thức tồn tại của các hiện hữu - và đồng thời, có nghĩa là bản thân các hiện hữu đó. Cả hai nghĩa đều có thể được sử dụng cùng nhau một cách tương thích, ‘thế giới’ có nghĩa là các hiện hữu trong một phương thức nhất định.

Ví dụ, khi Phaolồ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô và trong Thư gửi tín hữu Ga-la-ti nói về κόσμος οὗτος, thế giới này, ông muốn nói đến trạng thái toàn thể của các hiện hữu, chứ không chỉ và trước hết là tự nhiên, ‘thế giới/gian’, theo nghĩa của chúng ta. [Ghi chú về τοῦ κόσμου/ κόσμος οὗτος ‘thế giới/gian này’: 1.27-29: 27.ἀλλὰ τὰ μωρὰ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τοὺς σοφούς καὶ τὰ ἀσθενῆ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τὰ ἰσχυρά. 28. καὶ τὰ ἀγενῆ τοῦ κόσμου καὶ τὰ ἐξουθενημένα ἐξελέξατο ὁ Θεός (καὶ) τὰ μὴ ὄντα ἵνα τὰ ὄντα καταργήσῃ. 29. ὅπως μὴ καυχήσηται πᾶσα σὰρξ ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ. “27Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế- gian để làm hổ-thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế-gian để làm hổ-thẹn những sự mạnh;28Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn-hạ và khinh–bỉ ở thế-gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức  Chúa Trời.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr.200) -HHN] “Thế giới này” có nghĩa là trạng thái và hoàn cảnh này của con người, kiểu và cách thức Dasein của họ, thực sự là cách họ hành động đối với các đức tính và việc làm, đối với tự nhiên và mọi thứ, cách họ đánh giá các giá trị tốt đẹp. Thật vậy, κόσμος là thuật ngữ trực tiếp cho cách thức Dasein của con người, cho thái độ, cách suy nghĩ của nó, ἡ σοφία τοῦ κόσμου sự khôn ngoan của thế gian. [Ghi chú lời giảng của Phaolồ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô về  ἡ σοφία τοῦ κόσμου sự khôn ngoan của thế gian trong Tân ước: 1.19-24: 19. γέγραπται γάρ Ἀπολῶ τὴν σοφίαν τῶν σοφῶν καὶ τὴν σύνεσιν τῶν συνετῶν ἀθετήσω. 20. Ποῦ σοφός ποῦ γραμματεύς ποῦ συζητητὴς τοῦ αἰῶνος τούτου οὐχὶ ἐμώρανεν ὁ Θεὸς τὴν σοφίαν τοῦ κόσμου? 21. ἐπειδὴ γὰρ ἐν τῇ σοφίᾳ τοῦ Θεοῦ οὐκ ἔγνω ὁ κόσμος διὰ τῆς σοφίας τὸν Θεόν εὐδόκησεν ὁ Θεὸς διὰ τῆς μωρίας τοῦ κηρύγματος σῶσαι τοὺς πιστεύοντας. 22. Ἐπειδὴ καὶ Ἰουδαῖοι σημεῖα αἰτοῦσιν καὶ Ἕλληνες σοφίαν ζητοῦσιν, 23. ἡμεῖς δὲ κηρύσσομεν Χριστὸν ἐσταυρωμένον Ἰουδαίοις μὲν σκάνδαλον ἔθνεσιν δὲ μωρίαν, 24. αὐτοῖς δὲ τοῖς κλητοῖς Ἰουδαίοις τε καὶ Ἕλλησιν Χριστὸν Θεοῦ δύναμιν καὶ Θεοῦ σοφίαν. “19 Cũng có lời chép rằng: Ta sẽ hủy-phá sự khôn-ngoan của người khôn-ngoan, Tiêu trừ sự thạo-biết của người thạo-biết. 20 Người khôn-ngoan ở đâu? Thầy thông-giáo ở đâu? Người biện-luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn-ngoan của thế-gian ra dồ-dại không? 21 Vì tại thế-gian cậy sự khôn-ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ-dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin-cậy. 22 Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ réc tìm sự khôn-ngoan, 23 thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập-tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ-dại; 24 song le về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ réc thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 200)- HHN]

Cái κόσμος thế giới/gian này, cái cách thức này, được định nghĩa bởi mối quan hệ của nó với κόσμος, đã bắt đầu ló dạng, với αἰὼν ὁ μέλλων [thời đại sắp tới]. Tình trạng của tất cả mọi hiện hữu được xem xét trong mối quan hệ với ἔσχατον, tình huống cuối cùng. Một lần nữa, rõ ràng là κόσμος thế gian có nghĩa là một cách thức và về bản chất có liên quan đến Dasein và thời gian. Kόσμος là thế giới, theo nghĩa của nhân loại, cộng đồng và xã hội của con người trong thái độ từ bỏ Thiên Chúa, tức là trong lập trường cơ bản của họ đối với bản thân và toàn bộ hiện hữu. ‘Thế tục’ sau đó trở thành biểu hiện cho một loại tồn tại cơ bản của con người. [Ghi chú thêm đặc biệt là Cô-rinh-tô 1:25-31: 25 ὅτι τὸ μωρὸν τοῦ Θεοῦ σοφώτερον τῶν ἀνθρώπων ἐστίν, καὶ τὸ ἀσθενὲς τοῦ Θεοῦ ἰσχυρότερον τῶν ἀνθρώπων. 26 Βλέπετε γὰρ τὴν κλῆσιν ὑμῶν, ἀδελφοί, ὅτι οὐ πολλοὶ σοφοὶ κατὰ σάρκα, οὐ πολλοὶ δυνατοί, οὐ πολλοὶ εὐγενεῖς· 27 ἀλλὰ τὰ μωρὰ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τοὺς σοφούς, καὶ τὰ ἀσθενῆ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τὰ ἰσχυρά, 28 καὶ τὰ ἀγενῆ τοῦ κόσμου καὶ τὰ ἐξουθενημένα ἐξελέξατο ὁ Θεός, τὰ μὴ ὄντα, ἵνα τὰ ὄντα καταργήσῃ, 29 ὅπως μὴ καυχήσηται πᾶσα σὰρξ ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ. 30 ἐξ αὐτοῦ δὲ ὑμεῖς ἐστε ἐν Χριστῷ Ἰησοῦ, ὃς ἐγενήθη σοφία ἡμῖν ἀπὸ Θεοῦ, δικαιοσύνη τε καὶ ἁγιασμὸς καὶ ἀπολύτρωσις, 31 ἵνα καθὼς γέγραπται Ὁ καυχώμενος ἐν Κυρίῳ καυχάσθω. 25 Bởi vì sự dồ-dại của Đức Chúa Trời là khôn-sáng hơn người ta và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta. 26 Hỡi anh em, hãy suy-xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn-ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền-thế, chẳng nhiều kẻ sang-trọng. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế-gian để làm hổ-thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế-gian để làm hổ-thẹn những sự mạnh; 28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế-gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jésus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn-ngoan, sự công-bình, sự nên thánh, và sự cứu-chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 200)- HHN]. Vì chúng ta chỉ quan tâm đến các nguyên tắc, nên trong sự phát triển của khái niệm Kitô giáo, chúng ta thấy cách trực tiếp mà ‘thế giới/gian’ có nghĩa là 1) một phương thức tồn tại và phương thức này 2) với sự quy chiếu chủ yếu đến hiện hữu người, liên quan đến hành vi của họ đối với các hiện hữu.

Đối với Augustine, mundus [thế giới/gian] có nghĩa là toàn bộ tạo vật. Nhưng cũng thường xuyên, mundus còn đại diện cho mundi habitatores, các cư dân của thế giới, những người định cư trong thế giới. Nhưng điều này không chỉ có nghĩa là họ cũng ở đó, cùng với núi non và sông ngòi. Việc định cư chủ yếu được đặc trưng bởi một số hành vi, đánh giá, cách cư xử và tiếp cận sự vật cơ bản, bởi ‘thái độ’, corde esse cum mundo [hướng tâm hồn hòa hợp với thế giới]. Habitores mundidilectores mundi [những người hưởng thụ thế giới], amatores vel impi; vel carnales [những kẻ đam mê thế tục vô đạo/bất kính, hoặc sống theo bản năng xác thịt]. Mundus non dicunturjusti, quia licet carne in eo habitent, corde cum [tr.174] deo sunt (Opera, ed. Migne, tom. IV; 1842) [Người công chính không được nói đến như kẻ trần thế, bởi vì mặc dù thể xác họ có thể sống trong thế gian, nhưng tâm hồn họ lại ở cùng Thiên Chúa]. Ở đây, ‘thế gian’ rõ ràng là thuật ngữ chỉ cách cư xử xa-rời-Chúa hướng đến các hiện hữu mà con người tồn tại. Như vậy, ‘thế gian’ là 1) thuật ngữ chung chỉ cộng đồng nhân loại sống theo một cách thức và phương tiện nhất định, 2) chủ yếu là phương thức tồn tại xác định, trong đó và vì nó mà tất cả mọi hiện hữu đều tự trình hiện bằng sự đánh giá và bối cảnh xác định. Nói chung, thế giới/gian là cái ‘cách thức’, không phải cái ‘cái gì’.

Tương tự như vậy đối với Thomas Aquinas, thế giới/gian có nghĩa tương đương với universum tất cả mọi người, tất cả mọi thứ, toàn bộ thế giới, universitas creaturarum vũ trụ của muôn loài. Nhưng nó cũng tương đương với saeculum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantur (‘con cái của thế gian’), [thời đại insofar as the term ‘thế gian’ chỉ những người yêu thế gian]. Mundanus [thế tục] tương đương với saecularis [thế tục], thế tục về thái độ, trái ngược với spiritualis [tâm linh]. Do đó xuất hiện thuật ngữ astutia mundana, sự khôn ngoan thế tục, sự xảo quyệt của những người có thái độ thế tục. Phần sau sẽ cho thấy ý nghĩa của khái niệm mundus trong siêu hình học hiện đại. Siêu hình học được chia thành metaphysica generalis Siêu hình học Tổng quát và metaphysica specialis Siêu hình học Chuyên biệt, trong đó metaphysica specialis lại được chia thành cosmologia Vũ trụ học, psychologia Tâm lý học và theologia Thần học.

[Ghi chú về: saeculum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantu: [36557] Iª-IIae q. 72 a. 3 arg. 3 Praeterea, Augustinus, super illud Psalmi, incensa igni et suffossa, dicit quod omne peccatum est ex timore male humiliante, vel ex amore male inflammante. Dicitur etiam I Ioan. II, quod omne quod est in mundo, aut est concupiscentia carnis, aut concupiscentia oculorum, aut superbia vitae, dicitur autem aliquid esse in mundo, propter peccatum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantur, ut Augustinus dicit, super Ioan. Gregorius etiam, XXXI Moral., distinguit omnia peccata secundum septem vitia capitalia. Omnes autem huiusmodi divisiones respiciunt causas peccatorum. Ergo videtur quod peccata differant specie secundum diversitatem causarum.

Luận điểm 3: Hơn nữa, Thánh Augustinô, khi bình luận về “Cây nho ấy bị đốt lửa, bị chặt phá” trong Thi thiên 80: 8-19, có nói rằng mọi tội lỗi đều do nỗi sợ hãi gây ra sự khiêm nhường giả tạo, hoặc do tình yêu khơi dậy lòng nhiệt thành quá mức. Tân ước Giăng 2:16 chép rằng: Vì mọi sự trong thế-gian, như sự mê-tham của xác-thịt, mê-tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế-gian mà ra. Giờ đây, người ta nói rằng có một điều gì đó ở trong thế gian là do tội lỗi, bởi vì thế gian biểu thị những kẻ mê tham thế tục, như Thánh Augustinô đã nhận xét (Luận văn ii trong Giăng). Thánh Gregory cũng vậy (Luân lý 31, 17), phân biệt tất cả các tội lỗi theo bảy nguyên nhân chính. Tất cả những sự phân chia này đều đề cập đến nguyên nhân của tội lỗi. Do đó, dường như, tội lỗi khác nhau tùy theo sự đa dạng của các nguyên nhân của chúng. [Ghi chú thêm: Vì Sứ đồ đã nói rất rõ ràng trong Galatians 5:19 -21: 19 Vả các việc làm của xác-thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian-dâm, ô-uế, luông-tuồng, 20 thờ hình-tượng, phù phép, thù-oán, tranh-đấu, ghen-ghét, buồn-giận, cãi-lẫy, bất-bình, bè-đảng, 21 ganh-gổ, say-sưa, mê ăn-uống, cùng các sự khác giống như vậy. (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 234)- HHN]  

[Luận điểm 3: Hơn nữa, Thánh Augustinô, khi bình luận về “Cây nho ấy bị đốt lửa, bị chặt phá” trong Thi thiên 80: 8-19, chép rằng: 8. Từ Ê dip tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra rồi trồng cây ấy; 9 Cũng sở đất cho nó, nó bèn châm rễ và bò đầy đất. 10 Các núi bị bóng nó che phủ, và các nhành nó giống như cây hương-nam của Đức Chúa Trời. 11 Các nhành nó gie ra đến biển và chồi nó lan đến sông. 12 Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó? 13 Heo rừng cắn-phá nó, Và các thú đồng ăn nó. 14 Đức Chúa Trời vạn-quân ôi! Xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống đoái xem, và thăm-viếng cây nho này, 15 Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình. 16 Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở-trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư-mất. 17 Nguyện tay Chúa phù-hộ người của tay hữu Chúa, tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình: 18 Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu-khẩn danh Chúa.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Cựu ước, tr. 695-696)- HHN]

[Ghi chú về bối cảnh ẩn dụ Cây Nho của Đức Chúa Trời Trong Thi Thiên 80, dân Y-sơ-ra-ên được mô tả như một cây nho được Đức Chúa Trời bứng từ Ai Cập và trồng tại vùng đất hứa. Tuy nhiên, do tội lỗi và sự quay lưng của dân chúng, Đức Chúa Trời đã cho phép các kẻ thù xâm lược tàn phá cây nho này. Cụm từ 80:16 ‘Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt phá’ mô tả tình cảnh hoang tàn này: bị lửa thiêu, ám chỉ cơn thịnh nộ của Chúa, sự thanh tẩy bằng lửa, hoặc những thử thách, bắt bớ dữ dội từ các đế quốc ngoại giáo (như Babylon hay La Mã); bị chặt phá, ám chỉ sự sụp đổ của đền thờ, sự sỉ nhục, và việc thành Giê-ru-sa-ên bị san bằng thành đống đổ nát; Góc nhìn giải nghĩa của Thánh Augustine trong tác phẩm Chú giải các Thánh Vịnh, đã tiến thêm một bước, áp dụng văn cảnh này vào bức tranh rộng lớn của Hội Thánh và Đấng Christ, đó là sự thanh luyện qua đau khổ; Augustine coi ngọn lửa thiêu đốt và sự tàn phá này là hình ảnh tượng trưng cho sự thanh tẩy mà Hội Thánh phải trải qua trên thế gian; dù đau đớn, nhưng cuộc bách hại và thử thách này lại chính là phương tiện mà Chúa Trời dùng để làm lộ ra đức tin chân chính và đốt cháy đi những thứ tội lỗi, rơm rác thuộc trần gian; .Hình ảnh về con người mang vác: Đi liền với những câu này là lời kêu gọi hướng về "Người ở bên tay phải Chúa" và "Con Người" (được Augustine chú giải trực tiếp là Chúa Giê-xu Christ). Dù cây nho của Hội Thánh có bị thiêu đốt hay tàn phá đến mức nào, sức mạnh cứu rỗi sẽ được đặt lên Đấng Christ, Đấng đã được Chúa Cha làm cho mạnh mẽ để bảo vệ và khôi phục dân Ngài. HHN]

Định nghĩa về vũ trụ học theo Baumgarten (Metaphysia §351) là: Cosmologia generalis est scientia praedicatorum mundi generalium [Vũ trụ học tổng quát là khoa học về các thuộc tính tổng quát của thế giới]. Ông định nghĩa Mundus như sau (Ibid, §354): Mundus (universum, πᾱν) est series (multitudo, totum) actualium finitorum, quae non est pars alterius. ‘Thế giới (toàn thể các thực thể) là chuỗi (đa dạng, toàn thể) của những sự vật hữu hạn hiện hữu, chuỗi mà bản thân nó không phải là một phần của chuỗi khác: Trong định nghĩa gượng ép này, tất cả các đặc điểm xác định đều bị lẫn lộn và gộp lại với nhau theo nghĩa hời hợt của một phép cộng. Thế giới đơn giản chỉ là tổng của những gì thực sự tồn tại. Do đó, những sự phân biệt mà thời cổ đại sở hữu ở đây hoàn toàn bị mất đi. Kant là người đầu tiên đề cập đến những sự phân biệt thiết yếu.

Theo Kant, ‘thế giới’ được hiểu khá rõ ràng là một cách thức, một ‘toàn thể tính, theo nghĩa siêu hình học-bản thể luận. Điều này được tìm thấy trong 1) những nhận xét của ông về Baumgarten, 2) sự phân biệt giữa thế giới và tự nhiên, 3) cái cách ông chia triết học thành các quan niệm hàn lâm và thế tục. 1) Từ những ghi chú bên lề của Kant về Siêu hình học của Baumgarten, chúng ta tìm thấy trong ghi chú số 4085 (ấn bản Akademie, tập XVII - bản thảo còn lại, tập IV): “Ý niệm về thế giới không phải là ngẫu nhiên (mà [tr.175] thực sự là một khái niệm cần thiết). Vì cũng như tôi phải hình dung một cách hữu hạn về một bộ phận không xa hơn một tổng thể (mà trong đó tổng thể tính được hình dung), thì tôi cũng phải hình dung về một tổng thể không phải là một bộ phận.” Chúng ta nhất thiết phải có một quan niệm về thế giới chừng nào chúng ta còn nghĩ về một tổng thể; nhưng ở đây Kant không đưa ra thêm lời biện minh nào về lý do tại sao chúng ta phải nghĩ về một tổng thể. Trong #4329, chúng ta đọc: “Thế giới là hữu hạn bởi vì nó là một tổng thể của các thực thể [Wesen] hạn chế lẫn nhau,” và trong #4521: “Khái niệm hiện tại về thế giới phục vụ nhiều hơn cho việc tổ chức ý tưởng về một tổng thể mang tính thực thể và biệt lập (do đó là một quan niệm bản thể học về thế giới) hơn là để chứng minh sự tồn tại của bất kỳ nguyên nhân chắc chắn nào:” #4522: “Thế giới không thể là một phần của một tổng thể khác (nguyên thủy hơn) là thế giới trong sự lý giải siêu nghiệm. Thế giới không phải là một phần của một tổng thể thực sự là thế giới bằng việc lý giải vật lý. Bởi vì cái khả thể được phân biệt với cái thực sự chỉ khi nào, bằng cái khả thể, các điều kiện [conditiones] không được xem xét bằng sự xác định đầy đủ của chúng, do đó một thế giới tổng thể không có điều kiện nào khác ngoài chính nó trong bản chất tuyệt đối cần thiết của nó thì cũng không có giới hạn nào khác đối với hiện thực ngoài các điều kiện khả tính nội tại. Theo cách hiểu này, từ một thế giới, người ta có thể suy ra một nguyên nhân duy nhất cùng tính đầy đủ hoàn toàn của nó, và xa hơn nữa là suy ra cái nhất tính của thế giới này. Nhưng từ một thế giới không phải là vũ trụ tuyệt đối [Weltall], không thể rút ra những suy luận như vậy nữa, giống như người ta thường có thể làm từ một composito substantiali [hợp chất thực thể]. Hữu hạn từ một multitudo rerum jinitarum vô số sự vật hữu hạn đơn thuần cũng không hơn gì từ một jinito [hữu hạn] duy nhất.

Quan niệm của Kant về thế giới trở nên đặc biệt rõ ràng trong nhận xét cuối cùng ở trên, nhắm vào siêu hình học lý thuyết giáo điều. Thế giới không chỉ có nghĩa là toàn thể, chẳng hạn như toàn thể của một tập hợp cụ thể các sự vật tồn tại về mặt bản thể, sao cho thế giới chỉ vươn tới phạm vi của toàn thể duy nhất các thực thể hiện hữu. Nhưng thế giới chính là toàn thể, tính phổ quát của nó được xác định bởi toàn bộ các khả tính nội tại. Như vậy, Kant đã vượt ra ngoài khái niệm bản thể về thế giới như một chuỗi các thực thể hữu hạn (series actualium jinitorum) để đến một quan niệm siêu nghiệm. Đây cũng là công trình mang tính thực chứng và nội dung siêu hình của phép biện chứng siêu nghiệm của Kant. Chỉ từ một quan niệm như vậy, chúng ta mới có thể suy ra một nguyên nhân tuyệt đối, nếu suy luận này được cho là có ý nghĩa. Tuy nhiên, quan niệm siêu nghiệm về thế giới này là một ý niệm, và do đó suy luận về bản chất là không thể. Một thực tính không thể được suy ra từ một cái gì đó khả thể, ngay cả từ toàn thể tính của các khả tính, mà chỉ có thể suy ra ý niệm về một cơ sở tuyệt đối: lý tưởng siêu nghiệm.

________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XVIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§1. Siêu việt của Dasein

a) Khái niệm Siêu việt

[Tr.159] Chúng ta đang hỏi về bản chất của cơ sở [hay lý trí], tức là khả tính nội tại của bất cứ thứ gì giống như cơ sở theo đúng nghĩa. Sự phát triển của câu hỏi này đã dẫn chúng ta đến thấu suốt rằng việc đặt ra và trả lời câu hỏi chỉ có thể diễn ra trong chiều kích của câu hỏi về Hữu thể theo đúng nghĩa. Các bước mà chúng ta quay trở lại chiều kích này được chỉ ra bởi các thuật ngữ sau: các cơ sở, nguyên tắc lý tính, quy luật tư duy, phán đoán, mệnh đề, chân lý, mối quan hệ có tính ý hướng, siêu việt bản thể, siêu việt Hữu thể luận, Hữu thể luận, vấn đề về sự Hữu thể theo đúng nghĩa, siêu hình học. Cách tiếp cận để xử lý cụ thể vấn đề cơ sở nằm ở vấn đề về Hữu thể theo đúng nghĩa. Tuy nhiên, vấn đề Hữu thể được chuẩn bị bằng phân tích Dasein, và phân tích là bộc lộ siêu việt là một hiện tượng cơ bản. Để không phải đi lại toàn bộ con đường từ đầu, chúng ta sẽ bắt đầu với vấn đề siêu việt, không duy nhất xử lý nó mà chủ yếu dựa trên phân tích Dasein, Hữu thể luận cơ bản. Thay vào đó, chúng ta xử lý nó trong mối quan hệ với vấn đề cơ sở. Từ những gì đã nói trước đó, có thể dự đoán rằng một cách diễn giải đầy đủ về siêu việt sẽ tự nó, như thể, đụng độ với hiện tượng và bản chất của cơ sở vậy. Giờ đây, chúng ta phải giữ nguyên quan điểm về vấn đề như đã nêu ở trên, đồng thời cho phép nó mờ dần đi, để có thể tập trung vào hiện tượng siêu việt. Ý nghĩa chung của từ này là gì, định nghĩa ngôn từ của nó là gì, và nó có nghĩa gì với tư cách là một thuật ngữ triết học?     

[Tr.160] Chúng ta sẽ bắt đầu với định nghĩa ngôn từ và sau đó cố gắng xác định các ý nghĩa được tìm thấy trong cách sử dụng cách diễn đạt ‘siêu việt’. Ý nghĩa ngôn từ transcendere tiếng Latin xuất phát từ là vượt qua, bước qua, băng qua. Do đó, siêu việt có nghĩa là sự vượt qua, bang qua. Và cái siêu việt có nghĩa là cái mà sự vượt qua hướng tới, cái cần phải vượt qua để có thể tiếp cận và đạt được, cái ở bên kia, cái đối diện. Cuối cùng, cái thực hiện hành động siêu việt chính là cái thực hiện bước vượt qua. Vậy là ý nghĩa ngôn từ bao gồm những điều sau: 1) một hoạt động theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ, một hành động, 2) theo nghĩa hình thức, một mối quan hệ: chuyển đổi từ Y qua X, 3) một cái gì đó cần vượt qua, một giới hạn, một hạn chế, một khoảng trống, một cái gì đó ‘nằm giữa’. Đây chỉ là một phần cần làm rõ tổng quát về phạm vi các khái niệm của chúng ta khi chúng ta hiểu ý nghĩa của ‘siêu việt’.

Giờ đây chúng ta phải mô tả cách sử dụng từ này như một thuật ngữ trong triết học. Chúng ta không cần đi sâu vào tất cả các biến thể của nó; chỉ cần xem xét hai ý nghĩa chính mà từ đó tất cả các ý nghĩa khác được suy ra, và chúng ta sẽ xử lý khái niệm về cái siêu việt và đặc trưng hóa ý nghĩa triết học của nó liên quan đến các khái niệm đối lập quan trọng của nó. Thuật ngữ này có nghĩa là: 1) cái siêu việt trái ngược với cái nội tại, 2) cái siêu việt trái ngược với cái ngẫu nhiên. Về điểm 1), cái siêu việt trái ngược với cái nội tại, cái nội tại là cái vẫn còn bên trong, có nghĩa là cái nằm trong chủ thể, trong tâm hồn, vẫn còn trong ý thức. Do đó, cái siêu việt là cái không còn ở bên trong mà ở bên ngoài, cái nằm ngoài tâm hồn và ý thức. Cái nằm ngoài ranh giới và bức tường bao quanh của ý thức, khi được nói từ góc sâu thẳm nhất của ý thức này, đã vượt qua bức tường bao quanh và đứng bên ngoài. Giờ đây, chừng nào ý thức này còn có nhận thức, thì nó liên hệ với cái bên ngoài, và do đó, cái siêu việt là một cái gì đó có sẵn ở bên ngoài, đồng thời, cũng là cái đứng đối diện.

Ở đây, chủ thể được coi như một loại hộp có bên trong/nội thất, có các bức tường của hộp, và có bên ngoài/ngoại thất. Tất nhiên, quan điểm thô sơ không được đưa ra rằng ý thức thực sự là một cái hộp, nhưng điều cốt yếu đối với sự tương đồng và điều thuộc về chính khái niệm về cái siêu việt là phải vượt qua một rào cản giữa bên trong và bên ngoài. Điều này có nghĩa là bên trong, trước hết, thực sự bị hạn chế bởi rào cản và trước tiên phải phá vỡ nó, trước tiên phải loại bỏ những hạn chế. Do đó cái siêu việt, được coi là mối quan hệ mà bằng cách nào đó [tr.161] duy trì một lối đi giữa bên trong và bên ngoài chiếc hộp bằng cách nhảy qua hoặc xuyên qua bức tường của chiếc hộp. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải thích cái khả tính của một lối đi như vậy. Người ta cố gắng giải thích nó theo quan điểm nhân quả, tâm lý hoặc sinh lý; hay bằng cách nào đó người ta nhờ đến sự trợ giúp của ý hướng tính; hoặc cho rằng nỗ lực này là vô vọng nên người ta ở lại trong hộp, cố gắng giải thích, từ bên trong nó, làm thế nào để hiểu được những gì đi vào ý tưởng của chúng ta từ những gì được cho là ở bên ngoài.

Trong trường hợp bên ngoài, một quan điểm khác về tính nội tại được xem xét, và quan niệm về ý thức cũng thay đổi theo đó. Nhưng dù vấn đề siêu việt được đặt ra ở đâu và bằng cách nào, dù là định hướng rõ ràng hay ngầm định về khái niệm ngược lại của tính nội tại, thì về nguyên tắc, vẫn có khái niệm về chủ thể, về Dasein, như một cái hộp ở nền tảng của nó. Nếu không có nó, vấn đề vượt qua rào cản hay biên giới sẽ trở nên vô nghĩa! Và sẽ rõ ràng là vấn đề siêu việt phụ thuộc vào cách người ta định nghĩa chủ thể tính của chủ thể, cấu thành cơ bản của Dasein. Khái niệm cái hộp này có giá trị tiên nghiệm nào hay không? Tuy nhiên, nếu không, tại sao nó lại xuất hiện dai dẳng như vậy? Nói cách khác, giờ đây đã rõ ràng rằng siêu việt không phải là một thuộc tính bổ sung mà tôi gán cho một chủ thể, mà câu hỏi đặt ra là liệu bản chất của chủ thể tính có thể được nắm bắt, trước hết và trên hết, thông qua một sự siêu việt được hiểu đúng hay không. Trên cơ sở khái niệm siêu việt mà chúng ta đã mô tả, với khái niệm trái ngược là nội tại, ta có thể có được cái gọi là lý thuyết tri thức [tri thức luận]. Vì vậy, chúng ta gọi quan niệm này là siêu việt tri thức luận. Nếu quan niệm này được chứng minh là không chính đáng, vì nó dựa trên một giả định vội vàng, thì điều tương tự cũng được chứng minh đối với tri thức luận theo đúng nghĩa. Điều này không có nghĩa là nhận thức không phải là một vấn đề triết học. Quan niệm tri thức luận này chúng ta phân biệt với quan niệm thần học rộng hơn về siêu việt.

2) Siêu việt có thể được coi là đối lập với tính tùy thuộc. Cái tùy thuộc là những gì chạm vào chúng ta, những gì thuộc về chúng ta, những gì mà chúng ta cùng chung một vị thế ngang bằng, những gì thuộc về kiểu loại và giống loài chúng ta. Ngược lại, cái siêu việt là những gì vượt ra ngoài tất cả những điều này, là những gì chi phối chúng, là những gì vô điều kiện, nhưng đồng thời cũng là những gì thực sự không thể đạt được, những gì das Überschwängliche vượt quá chúng ta. [Ghi chú về das Überschwängliche - trong triết học của Heidegger, đó là ‘cái vượt quá’ hoặc ‘cái vượt ra ngoài chúng ta’; thuật ngữ này được sử dụng để mô tả chiều kích vô điều kiện của sự siêu việt; Heidegger sử dụng thuật ngữ này để định nghĩa cách thức tồn tại của con người (Dasein) vươn ra ngoài thế giới thường nhật, bình thường hướng tới Hữu thể tự thân; cần hiểu được das Überschwängliche liên quan đến việc xem xét hai ý tưởng chính trong triết học của Heidegger: i) Hai ý nghĩa của Siêu việt Heidegger đối lập hai cách mà con người ‘vượt lên’ hoàn cảnh của họ -vượt qua tính tùy thuộc của thế giới thường nhật - chúng ta liên tục vượt lên môi trường thực tế, trực tiếp của mình bằng cách tự đặt mình vào các mục tiêu, kế hoạch và khả năng thường nhật; chúng ta ngang hàng với những thứ thuộc về thế giới này; vươn tới cái vô điều kiện - Das Überschwängliche - đây là siêu việt sâu sắc hơn, mang tính siêu hình; đó là ‘vượt lên’ đầy hân hoan, nơi Dasein không phải hướng đến các đối tượng hay nhiệm vụ khác trong thế giới, mà hướng đến toàn bộ Hữu thể; bởi vì Hữu thể không phải là một đối tượng vật lý, nó vượt quá, áp đảo và nằm hoàn toàn ngoài sự hiểu biết thường nhật, có điều kiện của chúng ta; ii) Sự vượt quá của Hữu thể - đối với Heidegger, das Überschwängliche nhấn mạnh rằng Hữu thể là vô tận và không thể chứa đựng; đó là trạng thái ‘quá nhiều’ của thực tại vượt ra khỏi bất kỳ khuôn khổ khái niệm nào mà chúng ta cố gắng nhốt vào; nó nhắc nhở chúng ta về tính hữu hạn của chính mình; bởi vì Dasein người bị giới hạn bởi tính hữu hạn và những mối quan tâm hàng ngày, nên chúng ta chỉ có thể thoáng thấy sự vượt quá của Hữu thể trong những khoảnh khắc kinh ngạc, ngạc nhiên hoặc xao xuyến. - HHN] Siêu việt là sự vượt-trên theo nghĩa nằm ngoài các hiện hữu có điều kiện. Trong trường hợp này, siêu việt cũng là một khái niệm quan hệ, nhưng không phải [tr.162] giữa chủ thể và khách thể. Mối quan hệ diễn ra giữa các hiện hữu có điều kiện nói chung, bao gồm chủ thể và tất cả các khách thể khả thể, và cái hữu thể vô điều kiện. Ngược lại, trong trường hợp này, khái niệm siêu việt được định nghĩa về cơ bản bởi sự hình thành và quan niệm về cái mà siêu việt vượt lên trên, bởi cái nằm ngoài cái tùy thuộc. Hữu thể-vượt ngoài, trong trường hợp này, đồng thời thể hiện sự khác biệt về mức độ tồn tại, hay nói đúng hơn, sự khác biệt vô hạn giữa cái được tạo ra và Kẻ Tạo ra, nếu chúng ta thay thế Thiên Chúa, như cách hiểu Kitô giáo, bằng cái siêu việt, là điều mà chúng ta không cần phải làm. Vì cái siêu việt, trong khái niệm thứ hai này, luôn có nghĩa là cái vô điều kiện, cái Tuyệt đối dưới một hình thức nào đó, và cái Tuyệt đối đó chủ yếu có nghĩa là thần thánh, nên ở đây chúng ta có thể nói đến một quan niệm thần học về siêu việt.

Giờ đây, cả hai quan niệm về siêu việt, nhận thức luận và thần học, đều có thể được kết hợp – điều luôn luôn xảy ra và luôn luôn tái diễn. Bởi vì một khi quan niệm nhận thức luận về siêu việt được thừa nhận, dù rõ ràng hay ngầm định, thì một hiện hữu được đặt ra bên ngoài chủ thể, và nó đối lập với chủ thể đó. Tuy nhiên, trong số các hiện hữu được đặt đối lập, có một cái gì đó vượt lên trên tất cả, là nguyên nhân của mọi thứ. Do đó, nó vừa là cái gì đó đối lập với [chủ thể] vừa là cái gì đó siêu việt hơn tất cả các hiện hữu có điều kiện đối lập với [chủ thể]. Cái siêu việt, theo nghĩa kép này, là Cái Cao cả, là hữu thể vượt lên trên mọi kinh nghiệm. Vì vậy, việc tìm hiểu về cái cấu thành khả thể của cái siêu việt theo nghĩa nhận thức luận gắn liền với việc tìm hiểu về khả tính hữu tri khách thể siêu việt theo nghĩa thần học. Trên thực tế, việc khảo sát thần học, theo một nghĩa nào đó, là động lực cho việc khảo sát nhận thức luận. Do đó, vấn đề về sự tồn tại của thế giới bên ngoài và xem liệu nó có thể được tri nhận hay không đều liên quan đến vấn đề tri thức của Thiên Chúa và cái khả tính chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa.

Toàn bộ siêu hình học thần học, cũng như toàn bộ thần học hệ thống, đều hoạt động thông qua sự đan xen của cả hai vấn đề siêu việt. Nếu chúng ta gán thêm sự phân biệt giữa cái hữu lý và cái phi lý vào sự phân biệt giữa cái siêu việt và cái tùy thuộc, thì sẽ hoàn toàn nhầm lẫn. Mớ bòng bong của những vấn đề được đặt ra một phần và sai lầm này liên tục bị nhầm lẫn trong triết học Hữu thể luận và thần học hệ thống; mớ bòng bong được truyền từ tay kẻ này sang kẻ khác và trạng thái vướng víu càng trở nên rối rắm hơn khi được đặt một cái tên mới. Triết học không đáng để nỗ lực theo đuổi sợi dây của sự nhầm lẫn này hoặc thậm chí là gỡ rối nó. Tôi đang đề cập đến nó vì [tr.163] một lý do khác và với mục đích giải quyết vấn đề trung tâm của chúng ta. Nhìn một cách khái quát, cảnh huống bện dệt giữa hai vấn đề siêu việt này là một động lực cấp thiết ngay cả và đặc biệt là trong khuôn khổ các nghiên cứu của Kant, và điều này đúng với mọi giai đoạn triết học của ông. Tuy nhiên, việc đặt những mối liên hệ thông thường này làm nền tảng cho việc diễn giải triết học Kant là một sự bóp méo cơ bản. Điều quan trọng hơn là phải xem Kant đã cố gắng giải phóng mình khỏi những ràng buộc của vấn đề siêu việt như thế nào, một nỗ lực chỉ thành công một phần và không đặt tính siêu việt làm trọng tâm trong triết học của ông.

Chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn đến vấn đề siêu việt trong triết học Kant, bắt đầu với một đoạn văn trong đó ông khẳng định ý nghĩa kép của cụm từ ‘bên ngoài chúng ta’ liên quan đến sự phân biệt giữa hiện tượng và vật tự thân:7 “Do đó, cách diễn đạt ‘bên ngoài chúng ta’ không thể tránh khỏi sự mơ hồ về nghĩa, đôi khi biểu thị những gì tồn tại như một vật tự thân tách biệt khỏi chúng ta, và đôi khi biểu thị những gì chỉ thuộc về diện mạo bên ngoài. Vì vậy, để làm cho khái niệm này, theo nghĩa mà câu hỏi tâm lý về thực tại của trực giác bên ngoài của chúng ta phải được hiểu - hoàn toàn rõ ràng, chúng ta sẽ phân biệt các khách thể bên ngoài theo kinh nghiệm với những khách thể có thể được coi là bên ngoài theo nghĩa siêu nghiệm, bằng cách đặt tên rõ ràng cho cụm từ này là ‘những thứ được tìm thấy trong không gian.’” (Phê phán lý tính thuần túy, A 373; không tìm thấy trong B) [bản dịch của N. K. Smith].

Do đó, ‘bên ngoài chúng ta’ có nghĩa là 1) Tự thân hữu thể độc lập, 2) Tự thân Hữu thể được hình dung, tuy nhiên, như một khách thể khả thể của tri thức tuyệt đối không khả thể đối với chúng ta, được hình dung là nằm ngoài khả tính kinh nghiệm của chúng ta. ‘Bên ngoài chúng ta’, theo một nghĩa nào đó, có nghĩa là những gì mà chính chúng ta không phải là, những sự vật hiện hữu mà, tuy nhiên, chỉ có thể biểu hiện như vậy trong sự siêu việt đầy hưng phấn của Dasein được ném vào như một hữu thể trong thế giới. Nhưng ‘bên ngoài chúng ta’ cũng có thể có nghĩa là những gì không chỉ không phải là chính chúng ta, mà còn là những gì nằm ngoài tầm với của một sự siêu việt hữu hạn, xuất-thân — cụ thể là Erscheinungen các diện mạo, trong chừng mực chúng được xem xét trong tự thân. ‘Bên ngoài chúng ta’ trong trường hợp này có nghĩa là bên ngoài ‘chúng ta’, theo nghĩa của toàn bộ Dasein hữu hạn và các khả tính của nó. Bản thân diện mạo có ‘hai mặt’ (A 38, B 55): vật tự thân như một hiện hữu tồn tại tự thân và là cái biểu hiện đối với tôi, một chủ thể hữu hạn. Điều này có nghĩa là, trước hết, khách thể được xem xét trong  [tr.164] tự thân, bất kể cách thức nó được trực giác thông qua cảm tính [của cái khả tri]; nó được trực giác trong sự hiểu biết vô hạn, trong intuitus originarius trực giác nguồn cội. [Intuitus originarius là trực giác trí tuệ - một dạng nhận thức phi cảm tính, nơi Hiện hữu như Thiên Chúa tự tạo ra đối tượng mà mình trực giác; trong hệ thống triết học Kant, nhận thức của con người bị giới hạn và được chia làm hai loại tương phản chính - Intuitus originarius - trực giác nguồn cội/Thần thánh - sáng tạo đối tượng thông qua tư duy thuần túy; trực giác này không cần chịu tác động bởi thế giới bên ngoài vì nó tự thân vô hạn; Intuitus derivativus - trực giác phái sinh/Con người - là trực giác thụ động, bị giới hạn trong không gian và thời gian; con người chỉ có thể nhận thức được đối tượng nhờ các giác quan tác động, đồng thời cần sự hỗ trợ của các phạm trù lý giải để tổng hợp thông tin. - HHN] Thứ hai, việc xem xét là về hình thức mà trong đó Hữu thể trở nên có thể tiếp cận được đối với một chủ thể hữu hạn; khi đó Hữu-thể-tự-thân là một diện mạo. (Xem thêm A 251 f.)

Một trong những hiểu lầm thô thiển nhất của những diễn giải Kant chính xác và sâu sắc nhất, đó là của Trường phái Marburg, [Ghi chú: Trường phái Marburg là một phong trào nổi bật của chủ nghĩa Tân Kantian tại Đại học Marburg vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20; dưới sự lãnh đạo của Hermann Cohen, Paul Natorp và Ernst Cassirer, trường phái này bác bỏ chủ nghĩa duy vật thế kỷ 19 và diễn giải triết học của Kant một cách nghiêm ngặt như một phương pháp luận cho nhận thức khoa học và văn hóa nhân loại rộng lớn hơn; Trường phái Marburg đã phát triển một số nguyên tắc nền tảng định hình nhận thức luận và triết học khoa học hiện đại như Chủ nghĩa duy tâm phương pháp luận - những người theo trường phái Marburg hoàn toàn bác bỏ ý tưởng của Immanuel Kant về ‘vật tự thân’ - một thực tại siêu hình tồn tại độc lập với nhận thức của con người; họ lập luận rằng các khách thể không được đưa vào tâm trí một cách ngẫu nhiên; thay vào đó, chúng được xây dựng liên tục thông qua tư duy toán học và logic; họ bác bỏ chủ nghĩa tâm lý - Cohen và những người theo ông lập luận rằng logic phải hoàn toàn độc lập với tâm lý học; họ tin rằng logic xử lý các nội dung khách quan và các quy luật của chân lý, trong khi tâm lý học chỉ nghiên cứu các hành động tư duy chủ quan; Triết học Khoa học & Toán học - Trường phái này xem các lý thuyết khoa học không phải là những mô tả theo nghĩa đen về một thế giới tĩnh, mà là các hệ thống năng động của các khái niệm chức năng; trong triết học toán học của mình, Natorp và Cassirer đề xuất rằng các đối tượng toán học hoàn toàn mang tính cấu trúc và quan hệ; phê phán văn hóa - dưới thời Ernst Cassirer, trường phái này đã mở rộng ‘phê phán lý tính’ thành ‘phê phán văn hóa’; Cassirer lập luận rằng kinh nghiệm của con người được tổ chức không chỉ thông qua khoa học, mà còn thông qua nhiều hình thức biểu tượng khác nhau như ngôn ngữ, thần thoại và nghệ thuật; chủ nghĩa Kantianism cánh tả và chủ nghĩa xã hội - phong trào này đã đặt nền tảng tư tưởng cho chủ nghĩa Kantianism cánh tả, kết hợp đạo đức Kant và quan điểm mục đích luận về tính hợp lý để ủng hộ chủ nghĩa xã hội và phê phán chủ nghĩa tư bản. - HHN] nằm ở chỗ họ đã hiểu vật-tự-thân là một cái gì đó tách biệt và sau đó tìm cách loại bỏ nó. Trong Opus Postumum – Tác phẩm xuất bản sau khi tác giả qua đời, Kant viết: “Vật-tự-thân không phải là một tồn tại nào khác ngoài cái hiện tượng, nhưng cả hai chỉ thể hiện ‘một respectus mối bận tâm khác mà biểu tượng dành cho cùng một khách thể’: Cùng một tồn tại có thể là tương quan của một intuitus originarius trực giác nguồn cội/Thần thánh hoặc một intuitus derivatus trực giác phái sinh/Con người; sự khác biệt nằm ở ‘sự khác biệt của mối quan hệ, cách thức… chủ thể… chịu ảnh hưởng.’”8 Siêu nghiệm, theo nghĩa Kantian, trên hết, hướng đến hai cách thức khả thể để nắm bắt Hữu-thể-trong-tự-thân, trên hai loại trực giác khác nhau về bản chất. Sự diễn đạt siêu việt này rất quan trọng bởi vì nó không được phát triển liên quan đến một lý thuyết tâm lý học, mà dựa trên mối quan hệ trực tiếp mà chủ thể có với Hữu thể tự thân. Khái niệm về vật-tự-thân không thể bị loại bỏ bằng cách giải quyết nó về mặt nhận thức luận, nhưng khái niệm này (với tư cách tương quan của một loại hiểu biết tuyệt đối) chỉ có thể bị loại bỏ nếu người ta có thể chứng minh rằng tiền đề của một hiểu biết tuyệt đối là không cần thiết về phương diện triết học.

Do đó, chúng ta phải phân biệt vật tự thân với tư cách là diện mạo/hiện tượng và với tư cách là vật tự thân. 1) Xuất phát từ khái niệm vật tự thân được hiểu đúng, người ta có thể suy ra một cách hợp lệ khái niệm hiện tượng với tư cách là đối tượng ‘hữu hạn’. 2) Xuất phát từ diện mạo, người ta có thể chỉ ra rằng ‘X’ nội tại trong nó như chính bản thân sự vật, tuy nhiên, nó không phải là ‘sự vật tự thân’ theo nghĩa chặt chẽ. Lưu ý: Hai câu hỏi nảy sinh ở đây: 1) Khái niệm ‘tính vô hạn’ được giả định như một khái niệm dẫn dắt đến mức nào? 2) Ở Kant, chúng ta tìm thấy chức năng vẫn mang tính vấn đề cơ bản hơn thứ mà cái ontic có tính hữu thể có so với cái Hữu thể luận đến mức nào? [Ghi chú ontic: Trong triết học của Martin Heidegger, ‘ontic’ đề cập đến các đặc điểm cụ thể, thực nghiệm và thực tế của các thực thể cụ thể; nó trái ngược hoàn toàn với ‘ontological’ có tính hữu thể luận, vốn đặt câu hỏi về ý nghĩa, cấu trúc hoặc bản chất cơ bản của chính Hữu thể; ontic liên quan đến các thực thể, sự kiện, đối tượng hoặc lĩnh vực cụ thể; nó đề cập đến các thuộc tính của một tảng đá, hoạt động của một ngành khoa học như vật lý hoặc sinh học, hoặc những lựa chọn hàng ngày mà một người đưa ra; ontological - ý nghĩa - liên quan đến bản thân hữu thể; nó đặt câu hỏi về ý nghĩa cơ bản của sự tồn tại của các hiện hữu hoặc những điều kiện nào làm cho việc hiểu bất cứ điều gì trở nên khả thể; ví dụ xem xét việc nghiên cứu về con người mà Heidegger gọi là Dasein - câu hỏi Hữu thể luận - Nghề nghiệp của tôi là gì? Những đặc điểm thể chất cụ thể của tôi là gì? Tôi có phải là một kẻ người đang ngồi trong một căn phòng không? Câu hỏi Hữu thể luận – ‘Làm người trong thế giới này có nghĩa là gì? Những cấu trúc về sự chăm sóc, thời gian và sự hữu hạn định nghĩa hiện hữu người nói chung là gì?; khác biệt Hữu thể luận - Heidegger lập luận rằng triết học truyền thống thường thất bại vì nó làm lu mờ ‘sự khác biệt Hữu thể luận’; các nhà tư tưởng trong lịch sử đã cố gắng giải thích khái niệm về Bản thể bằng cách coi nó như thể nó chỉ là một đối tượng ‘bản thể luận’ khác trong thế giới - một sai lầm cơ bản; ‘Hữu thể luận cơ bản’ của Heidegger nhằm mục đích sửa chữa điều này bằng cách khám phá Hữu thể như là chân trời làm cho tất cả các hiện hữu đều có thể hiểu được.-HHN] Hữu thể luận được đặt nền tảng trên cái ontic, nhưng tuy nhiên vấn đề siêu nghiệm lại được phát triển từ những gì được đặt cơ sở như vậy, và trước hết cái siêu nghiệm cũng làm sáng tỏ chức năng của cái ontic.

Toàn bộ Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant xoay quanh [tr.165] vấn đề siêu việt - theo nghĩa cơ bản nhất, lại không phải là vấn đề nhận thức luận, mà là vấn đề tự do - là thứ Kant vẫn chưa thể xác định được hiện tượng siêu việt này một cách triệt để từ nền móng. Tuy nhiên, cần phải đọc tác phẩm của ông để hiểu ý nghĩa mà ông muốn truyền đạt. Nhìn chung, tầm quan trọng của những phân biệt này đã bị bỏ qua trong tư tưởng của Hume, Leibniz, Wolff và những người khác. Đối với cả hai loại quan niệm về siêu việt, nhận thức luận và thần học, về nguyên tắc, chúng ta phải nói rằng siêu việt không phải là mối quan hệ giữa thế giới bên trong và bên ngoài sao cho một rào cản thuộc về chủ thể bị vượt qua, một rào cản ngăn cách chủ thể với thế giới bên ngoài. Nhưng siêu việt cũng không chủ yếu là mối quan hệ nhận thức mà chủ thể có với khách thể, một mối quan hệ thuộc về chủ thể bên cạnh chủ thể tính của nó. Siêu việt không chỉ đơn thuần là thuật ngữ chỉ những gì vượt quá và không thể tiếp cận được bằng tri thức hữu hạn.9      

1) Chính xác hơn, siêu việt là cấu thành nguyên thủy chủ thể tính của chủ thể. Chủ thể siêu việt với tư cách là chủ thể; nó sẽ không phải là chủ thể nếu nó không siêu việt. Là một chủ thể có nghĩa là siêu việt. Điều này có nghĩa là Dasein không tồn tại một cách nào đó rồi thỉnh thoảng đạt được sự vượt qua bên ngoài chính nó, mà sự tồn tại cội nguồn có nghĩa là vượt qua. Dasein tự nó là sự vượt qua. Và điều này ngụ ý rằng siêu việt không chỉ là một trong những hành vi khả thể (trong số những hành vi khác) của Dasein đối với các hiện hữu khác, mà nó là cấu thành cơ bản Hữu thể của nó, trên cơ sở đó Dasein có thể liên hệ với các hiện hữu ngay từ đầu. Dasein có thể học cách liên hệ với các hiện hữu theo nhiều cách khác nhau và đối mặt với các hiện hữu [tr.166] chỉ bởi vì Dasein, với tư cách là đang tồn tại, đang ở trong một thế giới; nhưng không phải do đó mà trước hết đến được với các hiện hữu. 2) Siêu việt không có nghĩa là vượt qua một rào cản đã ngăn cách chủ thể trong một không gian nội tâm. Nhưng thứ bị vượt qua chính là Hữu thể tự thân, có thể hiện thân cho chủ thể trên cơ sở siêu việt của chủ thể. Bởi vì trạng thái vượt qua tồn tại cùng với Dasein, và bởi vì nhờ nó mà những hiện hữu không phải là Dasein bị vượt qua, những hiện hữu như vậy trở nên hiện thân theo đúng nghĩa, tức là trong tự thân chúng. Không gì khác ngoài siêu việt, vốn đã vượt qua các hiện hữu từ trước, mới là thứ đầu tiên cho phép các hiện hữu đã bị vượt qua trước đó trở nên [Dasein] đối lập về mặt hữu thể và với tư cách đối lập, phải được nhận thức trong chính chúng. Do đó, thứ mà Dasein vượt qua trong trạng thái siêu việt của nó không phải là một khoảng cách hay rào cản ‘giữa’ chính nó và các khách thể. Nhưng những hiện hữu, trong đó Dasein cũng hiện diện trên thực tế, lại bị Dasein vượt qua. Các khách thể bị vượt qua từ trước; chính xác hơn, các hiện hữu bị vượt qua và sau đó có thể trở thành khách thể. Dasein là hiện hữu thực bị ném vào, hoàn toàn giữa tự nhiên thông qua tính thể chất, và siêu việt ở thực tế là những hiện hữu này, trong đó Dasein hiện diện và thuộc về, lại bị Dasein vượt qua. Nói cách khác, với tư cách siêu việt, Dasein vượt ngoài tự nhiên, mặc dù, thực tại nó vẫn bị tự nhiên bao quanh. Với tư cách siêu việt, tức là tự do, Dasein là một cái gì đó xa lạ với tự nhiên.

3) ‘Cái mà’ chủ thể với tư cách chủ thể, siêu việt tới lại không phải là một khách thể, hoàn toàn không phải là hiện hữu này hay hiện hữu khác - dù là một vật cụ thể hay một sinh vật cùng loài Dasein hay một sinh vật sống nào khác. Khách thể hay hiện hữu có thể chạm gặp là cái bị vượt qua, chứ không phải là ‘cái mà’ được hướng tới. Cái mà chủ thể siêu việt hướng tới là cái mà chúng ta gọi là thế giới. 4) Bởi vì siêu việt là cấu thành cơ bản của Dasein, nên nó trước hết thuộc về Hữu thể của nó mà không phải là một hành vi được hình thành sau này. Và bởi vì Hữu thể nguyên thủy này của Dasein, với tư cách là vượt qua, siêu lên một thế giới, chúng ta mô tả hiện tượng cơ bản của siêu việt Dasein bằng cách diễn đạt hiện hữu trong-thế-giới. Chừng nào Dasein còn tồn tại, tức là chừng nào một hiện-hữu-trong-thế-giới còn tồn tại, thì các hiện hữu (tự nhiên) cũng đã bị vượt qua, và do đó các hiện hữu sở hữu khả tính tự hiện thân trong chính mình. Chừng nào Dasein còn tồn tại, thì các khách thể cũng đã trở nên có thể tiếp cận được với Dasein, mặc dù phương thức khách thể tính khả thể mà nhờ đó các khách thể được nắm bắt hoàn toàn được để mở và khả biến; có những giai đoạn khác nhau của khả tính mà nhờ đó Dinge selbst vật tự thân có thể được khám phá entdeckbar in ihrem An-sich-sein theo cách chúng tồn tại trong chính mình. [Ở đây Martin Heidegger sử dụng cụm từ entdeckbar in ihrem An-sich-sein để diễn giải rằng An-sich-sein cách thức mà các vật thể xuất hiện trong bản chất thực sự của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tồn tại của Dasein con người; mọi vật không chỉ tồn tại độc lập chờ được phân loại một cách khách quan; mà chúng tự bộc lộ khác nhau tùy thuộc vào cách con người tương tác với chúng; các khái niệm chính - tương đối tính của Dasein - Heidegger lập luận rằng khách tính của sự vật là tương đối so với sự tồn tại của con người; bởi vì con người về cơ bản là ‘mở’ với thế giới, nên các vật thể biểu hiện khác nhau trong các bối cảnh khác nhau, chẳng hạn một hiện tượng tự nhiên như mặt trời được người quan sát bình thường trải nghiệm khác với một nhà vật lý; Entdeckbar khả tính khám phá - thay vì một thực tại nghiêm ngặt, cố định tồn tại hoàn toàn tách biệt với người quan sát, các vật thể sở hữu những khả tính đa dạng, trong đó chúng tự bộc lộ; An-sich-sein Hữu-thể-tự-thân - Heidegger diễn giải lại ý tưởng triết học truyền thống này, thay vì là một bản chất biệt lập, không thể biết được, bản chất ‘tự thân’ của một vật thể là tiềm năng được bộc lộ hoặc được Dasein đưa vào tầm lý giải, khả tri; cuối cùng, điều này có nghĩa là sự tham gia thực tiễn và lý thuyết của chúng ta với thế giới chính là điều kiện cho phép mọi thứ xuất hiện như bản chất vốn có của chúng. - HHN]

[Tr.167] Scheler thực ra chưa nhìn thấy mối liên hệ nội tại này, nhưng ông là người đầu tiên có được một số hiểu biết sâu sắc về điều mà ông gọi là ‘tính tương đối Dasein của sự vật’ (ở đây ‘Dasein’ chỉ đơn thuần có nghĩa là tính hiện tồn). [Trong triết học của Max Scheler, tính hiện tồn thường tham chiếu đến các từ Dasein hoặc Vorhandenheit trong tiếng Đức biểu thị ‘tính hiện tồn hay sự hiện diện vật lý của một đối tượng, về cơ bản tách biệt sự tồn tại vật lý của một vật khỏi giá trị hoặc ý nghĩa cốt lõi của nó. Việc Scheler sử dụng khái niệm này một cách đặc biệt thường được phân tích thông qua một vài sự phân biệt triết học cốt lõi: i) Sự tách biệt giữa Sự tồn tại và Giá trị - Scheler lập luận rằng tính hiện tồn thuần túy của một vật không quyết định giá trị của nó; ông nổi tiếng với quan điểm cho rằng chỉ vì một thứ có giá trị, không có nghĩa là nó phải tồn tại về mặt vật chất, và chỉ vì một thứ tồn tại về mặt vật chất không có nghĩa là nó phải có giá trị; tính hiện tồn vật chất của một đối tượng hoàn toàn khác biệt với các thuộc tính khách quan, lý tưởng mà nó nắm giữ trong hệ thống phân cấp giá trị của Scheler; Tính tương đối-Dasein của sự vật (Dasein-Relativity of Things) - ở đây Martin Heidegger đã nhấn mạnh ý tưởng của Scheler cho rằng sự vật là ‘tương đối’, có nghĩa là tính hiện tồn thuần túy của một vật thể vật chất không thể được hiểu trong chân không; thay vào đó, các hiện hữu có nhiều ‘giai đoạn khám phá’ khác nhau, trong đó chúng tự hiện thân với chủ thể có ý thức; các khách thể không xuất hiện với chúng ta chỉ đơn giản với tư cách là tính hiện tồn hóa học trần trụi – chẳng hạn cách thức mà vật lý học nhìn nhận mặt trời - mà là những hiện tượng định tính phong phú, chẳng hạn cách con người cảm nhận mặt trời như hơi ấm và ánh sang; bản chất lý tưởng so với tồn tại thực tế - đối với Scheler, một bản thể luận nghiêm ngặt tách biệt các bản chất thuần túy, điển hình – ‘tính cái gì’ của một cái gì đó - khỏi tính hiện tồn thực tế của nó – ‘tính có đó’ của một cái gì đó; bản chất được trải nghiệm về mặt cảm xúc và có tính ý hướng thông qua các hành động hiện tượng học, chứ không phải được nắm bắt bằng cách quan sát khoa học tính hiện tồn vật lý của một khách thể.- HHN]

Theo Scheler, việc giả định sự vật rồi mới khảo sát khách tính của chúng là sai lầm. Các hiện hữu có các giai đoạn khám phá tính, các khả tính khác nhau mà chúng biểu hiện chính mình. Có nhiều giai đoạn khác nhau - và người ta không thể nói, chẳng hạn vật lý có tri ​​thức thực sự về quả cầu lửa mặt trời, trái ngược với sự hiểu biết tự nhiên của chúng ta về mặt trời. Bởi vì Dasein tồn tại với tư cách là hiện-hữu-trong-thế-giới, nó đã có đó cùng với các hiện hữu; và ngay cả cách nói này vẫn còn không chính xác vì ‘đã có đó ngoài kia’ giả định rằng Dasein đang ở một điểm nào đó bên trong. Ngay cả khi nói rằng hoạt động có tính ý hướng của Dasein luôn luôn mở ra với các hiện hữu, vì các hiện hữu, thì về cơ bản vẫn giả định rằng nó đã từng khép kín. Khái niệm siêu việt đang đề cập không thể tương thích với các cách diễn đạt trước đây và rất khó hiểu, xét theo phiên bản bế tắc thường thấy của vấn đề này. Cả Bergson - và đặc biệt là Dilthey - lẫn Husserl đều không nhận ra vấn đề và hiện tượng này; hai năm trước, Husserl đã kịch liệt phản đối vấn đề ngay từ đầu.

Nhưng nếu siêu việt theo nghĩa hiện-hữu-trong-thế-giới là cấu thành siêu hình cơ bản của Dasein, thì một siêu hình học về Dasein, với mục đích Hữu thể luận-cơ bản, nhất thiết phải đề cập đến cấu thành cơ bản này. Và chúng ta cần phải cố gắng làm rõ cấu thành cơ bản này, trước hết, bằng cách xuất phát từ khái niệm truyền thống về mối quan hệ chủ thể-khách thể nhận thức luận. Do đó, cuộc khảo sát trong ‘Hữu thể và Thời gian’, sau phần trình bày và chương đầu tiên, bắt đầu với: ‘Hiện-hữu-trong-thế-giới nói chung như là cấu thành cơ bản của Dasein’ và các phần §12 và §13 trình bày một phác thảo và làm quen ban đầu với hiện tượng này. Nếu người ta có chút nhạy bén về phương pháp, họ có thể kết luận rằng cấu thành cơ bản này rõ ràng là trọng tâm của siêu hình học về Dasein, và nó liên tục xuất hiện trở lại, thậm chí còn nguyên thủy hơn trong quá trình diễn giải; điều này có nghĩa là hiện tượng này ngày càng được làm sáng tỏ như một yếu tố trung tâm. Do đó, sau khi mô tả sơ bộ cấu thành cơ bản, cố gắng làm rõ các khía cạnh cấu trúc của nó và xây dựng chúng một cách chi tiết hơn thông qua các mối liên hệ mang lại khả năng tiếp cận cao nhất. Nhưng, vì toàn bộ khảo sát cố gắng làm nổi bật thời tính như là bản chất siêu hình của Dasein, nên siêu việt tự nó được hình dung thông qua thời tính; nhưng, với tư cách là cấu thành cơ bản, siêu việt phải luôn được đặt làm trọng tâm trong suốt quá trình khảo sát. Việc phân tích về tâm trạng Xao xuyến (§40), các vấn đề [tr.168] về Dasein, vị thế-thế giới và thực tại, cũng như việc diễn giải về lương tâm và khái niệm về cái chết - tất cả đều phục vụ cho sự phát triển dần dần của siêu việt, cho đến khi cuối cùng siêu việt được xem xét lại một cách mới mẻ và rõ ràng (§69) như một vấn đề, “Thời tính của Hiện-hữu-trong-Thế-giới và Vấn đề Siêu việt của Thế giới”. Ở đây, siêu việt lại xuất hiện, lần đầu tiên như một vấn đề. Bằng cách đề cập đến điều này, tôi muốn nói rằng vấn đề không bị đánh giá thấp và người ta phải có đủ sức lực để không bị kiệt lả ngay khi vấn đề mới bắt đầu. Và ngay tại điểm này, rõ ràng là (trang 363, chú thích) ý hướng tính là dựa trên cơ sở siêu việt và được xoáy vào như một vấn đề Hữu thể luận.

Siêu việt, hiện-hữu-trong-thế-giới, không bao giờ được đánh đồng và đồng nhất với ý hướng tính; nếu làm thế, như vẫn thường xảy ra, người ta chỉ chứng tỏ rằng mình còn lâu mới hiểu được hiện tượng này và hiện tượng này không thể nắm bắt ngay lập tức. Không phải bản thân cấu thành cơ bản, về nội dung và cấu trúc của nó, làm tăng thêm khó khăn trong việc hiểu đúng, mà là do chúng ta bị gánh nặng bởi các định kiến ​​và muốn kết thúc mọi việc quá vội vàng, hoặc do không coi trọng đúng mức những gì không thể nắm bắt ngay lập tức. Vì vậy, nỗ lực dành cho các diễn giải cụ thể không thể đủ lớn, cũng như không thể vạch ra cách thức đủ chặt chẽ để làm sáng tỏ hiện tượng siêu việt cơ bản này (xem Hữu thể và Thời gian, tr.351 trở đi). Tôi không tin rằng mình đã xây dựng được cấu thành cơ bản này theo cách mà người ta chỉ cần nhìn vào nó, như thể nhìn vào một tấm bảng đen, để ‘xác nhận’ nó. Ở đây hoàn toàn không có phát hiện nào theo nghĩa này! Nhưng kết quả của Phần Thứ hai là một diễn giải khả thể còn triệt để hơn cả những diễn giải trước đây của tôi; tuy nhiên, điều này thậm chí vẫn rất cần thiết, để có thể thấy từ thực tế là ngay cả Scheler cũng không hiểu ý nghĩa của siêu việt.10

__________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

7. Cf. bài giảng trong Phanomenoiogische Interpretation von Kants Kritik tier reinen Vemunft, Winter-Semester 1927-28 [được xuất bản thành tập 25 của Gesamtausgabe, do I. Gorland biên tập, Frankfurt a.M., 1977].

8. Kants Opus Postumum, do E. Adickes sắp xếp và biên tập, Berlin, 1920, tr. 653 (C 551) và tr. 695-96, chú thích 5 (C 565). [Ấn bản Akademie, tập 22, chứa các bản thảo viết tay trong Nachlass, tập 9, trang 26 và 43.]

9. Vấn đề siêu việt phải được đưa trở lại cuộc khảo sát về thời tính và tự do, mà chỉ từ đó mới có thể chỉ ra mức độ mà sự hiểu biết về Hữu thể với tư cách là Obermachtig Quyền năng tối cao, với tư cách là sự thánh thiện, thuộc về tự thân siêu việt như một sự khác biệt về Hữu thể luận. Vấn đề không phải là chứng minh Linh thánh về phương diện Hữu thể luận, trong ‘sự tồn tại’ của nó, mà là làm rõ nguồn cội của hiểu-biết-về-Hữu-thể này bằng phương tiện siêu việt của Dasein, tức là làm rõ ý tưởng về Hữu thể này thuộc về hiểu-biết-về-Hữu-thể như thế nào. (Hãy so sánh ý tưởng của Scheler về cuộc Tạo sinh như vậy.) Ý tưởng về tồn tại như một sức mạnh tối cao chỉ có thể được hiểu từ bản chất của ‘Hữu thể’ và siêu việt, chỉ trong và từ sự phân tán đầy đủ thuộc về bản chất của siêu việt (xem 110, mục 6), chứ không phải bằng một cách diễn giải đề cập đến một Đấng Khác tuyệt đối [Dul, cũng không phải đề cập đến bonum [cái thiện] như một giá trị hay như là cái Vĩnh hằng. (Vẫn còn phải xem xét là Hữu thể và δαιμόνιον Đấng Linh thánh, sự hiểu biết về Hữu thể và δαιμόνιον Đấng Linh thánh. Hữu thể như là cơ sở! Hữu thể và hư vô - Nỗi Xao xuyến.) Những điều trên cố tình không được đề cập trong các bài giảng, bởi vì chính ở đây và bây giờ, với sự sùng đạo giả tạo vô cùng lớn, ảo tưởng biện chứng đặc biệt lớn. Tốt hơn là nên chấp nhận lời buộc tội rẻ tiền về chủ nghĩa vô thần, mà nếu nó được hiểu theo nghĩa bản thể, thì trên thực tế là hoàn toàn chính xác. Nhưng liệu niềm tin bản thể vào Thiên Chúa có phải là tính vô thần ở tận cùng hay không? Và liệu nhà siêu hình học chân chính có thể sùng đạo hơn những tín đồ thông thường, hơn các thành viên của một ‘giáo hội’ hay thậm chí hơn cả các ‘nhà thần học’ của mọi giáo phái không?

10. Cf. ldealismus-Realismus, op.cit., tr. 293 ở trên [Gesammelte Werke, tập 9, tr. 2 15 bên dưới].