Powered By Blogger

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

A. Phân tích về Tính Môi trường và Tính Thế giới nói chung

15. Bản thể của các Hiện hữu gặp trong Môi trường

[Tr.99] Hành vi ‘thực tiễn’ không phải là ‘phi lý thuyết’ theo nghĩa ‘mù quáng’.1 Sự khác biệt giữa hành vi thực tiễn và hành vi lý thuyết không chỉ nằm ở chỗ trong hành vi lý thuyết người ta quan sát, trong khi ở hành vi thực tiễn người ta hành động, và hành động phải sử dụng nhận thức lý thuyết nếu không muốn bị mù quáng; bởi vì việc quan sát là một loại mối quan tâm cũng quan trọng như việc hành động có tầm nhìn riêng của nó. Hành vi lý thuyết chỉ là nhìn xem, không có sự thận trọng. Nhưng việc nhìn xem mà không thận trọng này không có nghĩa là nó không tuân theo bất kỳ quy tắc nào: nó tự tạo dựng một chuẩn mực dưới dạng phương pháp. Zuhandenheit tình trạng sẵn có để dùng không hề được nắm bắt về mặt lý thuyết, và bản thân nó cũng không phải là loại sự vật mà sự thận trọng coi là chủ đề thận trọng gần gũi nhất. Điểm đặc biệt của ready-to-hand tình trạng sẵn có để dùng ngay lập tức là, trong trạng thái sẵn sàng sử dụng đó, nó phải, như thể, rút ​​lui để sẵn sàng sử dụng một cách hoàn toàn xác thực. Những thứ mà chúng ta giao dịch hàng ngày một cách gần gũi nhất không phải là bản thân các công cụ. Ngược lại, điều mà chúng ta quan tâm chủ yếu là công việc - thứ cần được tạo ra vào thời điểm đó; và do đó, nó cũng sẵn có để dùng. Công việc mang trong mình tính toàn thể tham chiếu mà trong đó chạm trán với thiết bị.Công việc cần được tạo ra, như là việc ‘hướng đến-cái mà’ của những thứ như búa, bào và kim, cũng có loại Hữu thể thuộc về thiết bị. Chiếc giày cần được sản xuất là để mang vào chân; chiếc đồng hồ được chế tạo để chỉ giờ. Công việc mà chúng ta chủ yếu gặp phải trong các giao dịch mà mình quan tâm - công việc được tìm thấy khi người ta ‘đang làm’ một điều gì đó - có tính hữu dụng về cơ bản thuộc về nó; trong tính hữu dụng này, nó cho phép chúng ta gặp ngay cái ‘hướng đến-cái mà’ mà nó có thể được sử dụng. Một công việc mà ai đó đã đặt hàng chỉ tồn tại nhờ vào việc sử dụng nó và bối cảnh gán ghép của các hiện hữu được phát hiện khi sử dụng nó.

Nhưng công việc phải được làm không chỉ đơn thuần là có thể sử dụng cho một điều gì đó. Bản thân quá trình sản xuất [tr.100] là việc sử dụng một cái gì đó cho một cái gì đó. Trong công việc cũng có một sự tham chiếu hoặc gán ghép cho ‘vật liệu’: công việc phụ thuộc vào da, kim, chỉ, và những thứ tương tự. Hơn nữa, chất liệu da được sản xuất từ ​​động vật. Chúng có nguồn gốc từ các đàn vật nuôi. Động vật cũng tồn tại trong thế giới mà không cần được nuôi dưỡng; và theo một cách nào đó, những thực thể này vẫn tự sản xuất ra chính chúng ngay cả khi chúng đã được nuôi dưỡng. Vì vậy, trong môi trường, một số thực thể trở nên dễ tiếp cận, luôn ready-to-hand sẵn có để dùng, nhưng bản thân chúng không cần phải được sản xuất. Búa, kìm và kim, tự bản thân chúng liên quan đến thép, sắt, kim loại, khoáng chất, gỗ, bởi vì chúng được cấu tạo từ những vật liệu này. Trong các dụng cụ được sử dụng, ‘Tự nhiên’ được khám phá cùng với chúng thông qua việc sử dụng đó – thứ ‘Tự nhiên’ mà chúng ta tìm thấy trong các sản phẩm tự nhiên. Tuy nhiên, ở đây, ‘Tự nhiên’ không được hiểu là thứ chỉ đơn thuần present-at-hand hiện-diện-vô-tri, cũng không phải là sức mạnh của Tự nhiên. Gỗ là rừng cây lấy gỗ, núi là mỏ đá; sông là sức nước, gió là gió ‘đẩy buồm’. Khi ‘môi trường’ được khám phá, thì cái ‘Tự nhiên’ được khám phá cũng được bắt gặp. Nếu bỏ qua loại Hữu thể với tư cách Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng, thì tự thân cái ‘Tự nhiên’ này cũng có thể được khám phá và định nghĩa một cách đơn giản trong present-at-hand hiện-diện-vô-tri thuần túy của nó. Nhưng khi điều này xảy ra, Thiên nhiên vốn ‘rung động và phấn đấu’, vốn tấn công và mê hoặc chúng ta như một cảnh quan, vẫn ẩn giấu. Thực vật của nhà thực vật học không phải là những bông hoa ven đường; cái ‘nguồn’ mà nhà địa lý xác định cho một con sông không phải là ‘đầu nguồn trong thung lũng’.

Sản phẩm được tạo ra không chỉ quy chiếu về cái ‘hướng-đến-cái-mà’ mang tính sử dụng và cái ‘của cái mà’ mà từ đó nó cấu thành nên: trong bối cảnh thủ công đơn giản, nó còn có một nhiệm vụ dành cho người sẽ sử dụng hoặc mặc/đeo/khoác/đội nó. Sản phẩm được cắt may theo vóc dáng của kẻ đó; kẻ đó ‘’có’ đó cùng với nó khi sản phẩm hình thành. Ngay cả khi hàng hóa được sản xuất hàng loạt, thì nhiệm vụ cấu thành này không hề vắng mặt; nó chỉ đơn giản là không xác định, và chỉ ra mức độ ngẫu nhiên, trung bình. Do đó, cùng với tác phẩm, chúng ta không chỉ gặp những hiện hữu Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng mà còn gặp những hiện hữu có loại Hữu thể của Dasein – mà đối với nó, trong mối quan tâm của chúng/họ, sản phẩm trở nên Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng; và cùng với những điều này, chúng ta khám phá thế giới mà kẻ mặc/đeo/khoác/đội và kẻ sử dụng đang sống, đồng thời cũng là thế giới của chúng ta. Bất kỳ công việc nào mà ta quan tâm đều ready-to-hand sẵn có để dùng không chỉ trong thế giới nội tại của công xưởng mà còn trong thế giới công cộng nữa. Cùng với thế giới công cộng, thiên nhiên xung quanh được khám phá và mọi người đều có thể tiếp cận. Trên những con đường, phố xá, cầu cống, các tòa nhà, mối quan tâm của chúng ta khám phá ra Thiên nhiên đều có những định hướng nhất định nào đó. Sân ga có mái che tính đến thời tiết xấu; hệ thống chiếu sáng công cộng tính đến đêm tối, hay đúng hơn là những thay đổi cụ thể về sự hiện diện hoặc vắng mặt của ánh sáng ban ngày - [tr.101] ‘vị trí của mặt trời’. Trong một chiếc đồng hồ, người ta tính đến một chòm sao nhất định nào đó trong hệ thống thế giới. Khi chúng ta nhìn vào đồng hồ, chúng ta ngầm sử dụng ‘vị trí của mặt trời’, theo đó việc đo thời gian được điều chỉnh theo cách thức thiên văn chính thức. Khi chúng ta sử dụng thiết bị đồng hồ, vốn ở gần và kín đáo, ready-to-hand sẵn có để dùng, thì Thiên nhiên xung quanh cũng ready-to-hand sẵn có để dùng cùng với nó. Niềm say mê quan tâm của chúng ta vào bất kỳ thế giới công việc nào gần gũi nhất với chúng ta cũng đều có chức năng khám phá; và điều thiết yếu đối với chức năng này là, tùy thuộc vào cách chúng ta đắm chìm vào đó, những hiện hữu bên trong thế giới được mang theo trong sản phẩm và cùng với nó (tức là, trong các nhiệm vụ hoặc tham chiếu cấu thành nên nó) vẫn có thể được khám phá ở các mức độ rõ ràng khác nhau và với sự thâm nhập thận trọng khác nhau.

Loại Hữu thể thuộc về những hiện hữu này là Zuhandenheit ready-to-hand sẵn có để dùng. Nhưng đặc điểm này không nên được hiểu đơn thuần là một cách tiếp nhận chúng, như thể chúng ta đang nói về những ‘khía cạnh’ như vậy vào những ‘hiện hữu’ mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi, hoặc như thể một loại vật chất-thế giới nào đó tự thân hiện-diện-vô-tri3 được ‘tô vẽ chủ quan’ theo cách này. Một cách diễn giải như vậy sẽ bỏ qua thực tế là trong trường hợp này, những hiện hữu ấy phải được hiểu và khám phá trước đó như một thứ gì đó thuần túy hiện-diện-vô-tri, và phải có ưu quyền và dẫn đầu trong chuỗi các tương tác với ‘thế giới’ mà trong đó một thứ gì đó được khám phá và trở thành của riêng của ai đó. Nhưng điều này đã đi ngược lại ý nghĩa bản thể luận của nhận thức, mà chúng ta đã trình bày như một phương thức của Hữu-thể-trong-thế-giới đã được thiết lập.4 Để làm sáng tỏ những gì chỉ hiện-diện-vô-tri và không hơn, thì nhận thức trước hết phải thâm nhập vượt ra ngoài những gì ready-to-hand sẵn có để dùng trong mối quan tâm của chúng ta. Trạng thái sẵn có để dùng là cách mà các hiện hữu như chúng vốn có ‘tự thân’ được định nghĩa về mặt bản thể học-phạm trù. Tuy nhiên, chỉ vì có cái gì đó hiện-diện-vô-tri, 'mới có' bất cứ thứ gì ready-to-hand sẵn có để dùng. Tuy nhiên, nếu tạm thời chấp nhận luận điểm này, thì liệu có thể suy ra rằng trạng thái sẵn có để dùng có được đặt nền tảng về mặt bản thể luận trên sự hiện-diện-vô-tri không?

Nhưng ngay cả khi, khi Diễn giải bản thể luận của chúng ta tiến xa hơn, thì Zuhandenheit readness-to-hand trạng thái sẵn có để dùng nên tự chứng tỏ là loại Hữu thể đặc trưng của những hiện hữu được phát hiện gần gũi trong-thế-giới, và ngay cả khi tính nguyên thủy của nó so với sự hiện-diện-vô-tri thuần túy có thể được chứng minh, thì liệu tất cả những giải thích này có giúp ích gì dù chỉ một chút trong việc hiểu hiện tượng thế giới về phương diện bản thể luận hay không? Tuy nhiên, khi Diễn giải những thực thể này trong-thế-giới, chúng ta luôn luôn [tr.102] ‘giả định’ thế giới. Ngay cả khi kết hợp chúng lại với nhau, vẫn không có được bất cứ thứ gì giống như cái ‘thế giới’ với tư cách là tổng của chúng. Nếu vậy, chúng ta bắt đầu với Hữu thể của những hiện hữu này, liệu có con đường nào dẫn đến việc thể hiện hiện tượng của thế giới hay không?5  

16. Thế gian tính của Môi trường ở các Hiện hữu bên-trong-Thế giới5

Bản thân thế giới không phải là một hiện hữu bên-trong-thế-giới; thế nhưng nó lại có tính quyết định đối với những hiện hữu như vậy đến nỗi chỉ khi nào ‘có đó’ một thế giới thì chúng mới có thể được gặp gỡ và tự biểu hiện, trong Hữu thể của chúng, như những hiện hữu đã được khám phá. Nhưng liệu bằng cách nào để ‘có đó’ một thế giới? Nếu Dasein được cấu thành về mặt ontic thực hữu bởi Hữu-thể-trong-Thế-giới, và nếu sự hiểu biết về Hữu thể của cái Tự ngã của nó thuộc về Hữu thể của nó một cách thiết yếu, bất kể sự hiểu biết đó mơ hồ đến mức nào, thì chẳng phải Dasein có một sự hiểu biết về thế giới - một sự hiểu biết tiền-bản thể luận, vốn thực sự có thể và hòa hợp mà không cần những thấu hiểu bản thể học rõ ràng? Với những thực thể được gặp gỡ bên-trong-thế giới - nghĩa là, với đặc tính của chúng như là bên-trong-thế-giới - chẳng phải một cái gì đó giống như thế giới tự biểu hiện cho Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính quan tâm hay sao? Chẳng phải chúng ta có một cái nhìn thoáng qua mang tính tiền-hiện tượng luận về hiện tượng này hay sao? Chẳng phải chúng ta luôn có cái nhìn thoáng qua về điều đó, mà không cần phải coi nó như một chủ đề để Diễn giải bản thể luận hay sao? Bản thân Dasein, trong phạm vi sự tập trung quan tâm vào những trang thiết bị sẵn có để dùng, thì liệu có một khả tính của Hữu thể nào mà trong đó Tính thế gian của những hiện hữu bên-trong-thế-giới mà nó quan tâm, theo một cách nào đó, lại được soi sáng cho nó, cùng với chính những hiện hữu đó? Nếu những khả tính như vậy của Hữu thể đối với Dasein thể hiện bên trong những giao dịch quan tâm của nó, thì sẽ mở ra cho việc nghiên cứu hiện tượng được soi sáng đó, và cứ như thể để cố gắng ‘kiềm chế nó’, và để thẩm vấn nó về những cấu trúc tự thể hiện trong đó.

Có một số phương thức quan tâm nhất định lại thuộc về tính thường nhật của Hữu-thể-trong-thế-giới. Những phương thức này cho phép các hiện hữu mà chúng ta quan tâm được chạm trán theo cách mà tính chất thế gian của những gì bên-trong-thế-giới được làm nổi bật. Khi chúng ta quan tâm đến một điều gì đó, thì các hiện hữu gần gũi nhất và sẵn có để dùng có thể lại trở nên vô dụng, không phù hợp với mục đích sử dụng mà chúng ta đã quyết định. Công cụ hóa ra bị hỏng, hoặc vật liệu không phù hợp. Trong mỗi trường hợp này, thiết bị đều ở đây, sẵn có để dùng. Tuy nhiên, chúng ta phát hiện ra tính vô dụng của nó không phải bằng cách nhìn vào nó và xác định các đặc tính của nó, mà là bằng sự thận trọng trong các giao dịch mà chúng ta sử dụng nó. Khi tính vô dụng của nó được phát hiện như vậy, thiết bị trở nên dễ nhận thấy. Tình trạng dễ nhận thấy này [tr.103] cho thấy thiết bị sẵn có để dùng lại đang ở trong một trạng thái không sẵn có để dùng nhất định nào đó. Nhưng điều này ngụ ý rằng những gì không thể sử dụng chỉ nằm đó; nó tự thể hiện mình như một Vật dụng trang thiết bị trông như thế này thế kia, và trong trạng thái trông như thế sẵn có để dùng đó của nó, nó cũng hằng xuyên hiện-diện-vô-tri. Tình trạng hiện-diện-vô-tri thuần túy tự tuyên bố trong những thiết bị như vậy, nhưng chỉ để rồi rút lui về trạng thái sẵn có để dùng của thứ gì đó mà ta quan tâm – nghĩa là, loại vật thể mà ta tìm thấy khi đem đi sửa chữa. Tình trạng hiện-diện-vô-tri của thứ gì đó không thể sử dụng này vẫn không hoàn toàn thiếu đi trạng thái sẵn có để dùng nào đó; thứ thiết bị hiện-diện-vô-tri theo cách này vẫn không chỉ là một Sự vật xuất hiện ở đâu đó. Tình trạng hỏng hóc của thiết bị vẫn không chỉ là sự thay đổi đơn thuần của một Sự vật – không phải là sự thay đổi thuộc tính chỉ xảy ra ở cái gì đó hiện-diện-vô-tri.

Tuy nhiên, trong những giao dịch quan tâm của mình, chúng ta không chỉ gặp phải những thứ không thể sử dụng được trong số những thứ đã sẵn có để dùng: chúng ta còn nhận thấy những thứ bị thiếu – những thứ không chỉ không ‘tiện dụng’ mà còn hoàn toàn không ‘có sẵn’. Một lần nữa, việc thiếu sót thứ gì đó theo cách này đồng nghĩa với việc gặp phải thứ gì đó không sẵn có để dùng. Khi ta nhận thấy những gì không sẵn có để dùng, thì những gì sẵn có để dùng lại trở thành cách thức phô trương. Ta càng khẩn cấp cần những gì đang thiếu, và càng nhận ra tình trạng không sẵn có của nó một cách chân thực, thì những gì sẵn có để dùng lại càng trở nên phô trương hơn—đến mức nó dường như mất đi đặc tính sẵn có để dùng của mình. Nó tự bộc lộ như một thứ gì đó chỉ hiện-diện-vô-tri không hơn, không thể lay chuyển nếu thiếu thứ đang thiếu. Tư thế bất lực mà ta đứng trước nó là một phương thức quan tâm thiếu sót, và theo đúng nghĩa, nó phơi bày cái Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri và không hơn của một thứ sẵn có để dùng. Trong các giao dịch của chúng ta với thế giới6 mà chúng ta quan tâm, có thể bắt gặp trạng huống không sẵn có để dùng không chỉ theo nghĩa những thứ không thể sử dụng được hoặc đơn giản là thiếu, mà còn là những thứ không sẵn để dùng nhưng không hề thiếu và cũng không phải là không sử dụng được, mà lại ‘ngáng đường’ quan tâm của chúng ta. Những thứ mà mối quan tâm của chúng ta từ chối hướng đến, những thứ ‘chẳng rảnh’ để quan tâm, là những thứ không sẵn có để dùng theo cách của những thứ không thuộc về nơi này, của những thứ chưa được chú ý đến. Bất cứ thứ gì không sẵn có để dùng theo cách này đều gây khó chịu cho chúng ta, và cho phép chúng ta thấy được tính ngoan cố của thứ mà với nó chúng ta phải quan tâm trước tiên trước khi làm bất cứ điều gì khác. Với tính ngoan cố này, tình trạng hiện-diện-vô-tri của những thứ sẵn có để dùng lại tự bộc lộ theo một cách mới [tr.104] với tư cách là Hữu thể của những thứ vẫn còn ở trước mắt chúng ta và kêu gọi sự chú ý của chúng ta đến nó.7

Các phương thức lộ liễu, phô trương và ngoan cố đều có chức năng làm nổi bật đặc điểm hiện-diện-vô-tri của những gì sẵn có để dùng. Nhưng những thứ sẵn có để dùng không chỉ được quan sát và nhìn chằm chằm như một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri; tình trạng hiện-diện-vô-tri tự bộc lộ vẫn gắn liền với trạng thái sẵn có để dùng của thiết bị. Thiết bị đó vẫn không che giấu mình trong lớp ngụy trang của những Vật thể đơn thuần. Nó trở thành ‘thiết bị’ theo nghĩa của một cái gì đó mà người ta muốn gạt bỏ.8 Nhưng trong Xu hướng gạt bỏ mọi thứ như vậy, thì những thứ sẵn có để dùng vẫn thể hiện là sẵn có để dùng của mình trong sự hiện-diện-vô-tri kiên định của nó. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta đã gợi ý rằng những thứ sẵn có để dùng được bắt gặp dưới những biến đổi trong đó sự hiện-diện-vô-tri của nó được bộc lộ, vậy điều này làm sáng tỏ hiện tượng của thế giới đến mức nào? Ngay cả khi phân tích những thay đổi này, chúng ta vẫn chưa vượt ra khỏi Hữu thể của những gì nằm-trong-thế-giới, và chúng ta cũng không đến gần hiện tượng thế giới hơn trước. Nhưng mặc dù chưa nắm bắt được nó, nhưng chúng ta đã tự đưa mình đến một điểm mà chúng ta có thể nhìn thấy nó. Trong trạng thái lộ liễu, phô trương và ngoan cố, cái sẵn có để dùng lại mất đi tính sẵn có của nó theo một cách nào đó. Nhưng trong giao dịch của chúng ta với những gì sẵn có, chính tính sẵn có để dùng này lại được hiểu rõ, mặc dù không theo chủ đề. Nó không biến mất một cách đơn giản, mà như thể nói lời tạm biệt trong trạng thái lộ liễu của cái không thể sử dụng được. Tính sẵn có để dùng vẫn thể hiện ra, và chính ở đây, cái đặc tính thế gian của tính sẵn có để dùng cũng tự thể hiện mình.

[Tr.105] Cấu trúc Hữu thể của cái sẵn có để dùng với tư cách thiết bị được xác định bởi các tham chiếu hoặc các nhiệm vụ được giao. Bằng một phương thức kỳ lạ và hiển nhiên, các ‘Sự vật’ gần gũi nhất với chúng ta theo cách ‘tự thân’; và chúng được chạm trán với tư cách ‘tự thân’ trong mối quan tâm, vốn sử dụng chúng mà không nhận ra chúng một cách rõ ràng - mối quan tâm có thể gặp phải một thứ gì đó không thể sử dụng được. Khi thiết bị không thể được sử dụng, điều này ngụ ý rằng nhiệm vụ cấu thành của cái ‘để-làm’ đối với việc ‘hướng tới-cái này’ đã bị xáo trộn. Bản thân các nhiệm vụ không được quan sát; đúng hơn, chúng ‘có đó’ khi chúng ta quan tâm và tự mình tuân theo chúng. Nhưng khi một nhiệm vụ bị xáo trộn - khi một thứ gì đó không thể sử dụng được cho một mục đích nào đó - thì nhiệm vụ được ấn định lại trở nên rõ ràng. Thậm chí giờ đây, đương nhiên, nó vẫn chưa trở nên rõ ràng như một cấu trúc bản thể luận; nhưng nó đã trở nên rõ ràng về phương diện ontic thực hữu đối với sự thận trọng gặp phải khi công cụ bị hư hại. Khi một nhiệm vụ ấn định cho một mục đích ‘hướng-tới-cái-này’ cụ thể nào đó được khơi gợi thận trọng, thì tự thân cái ‘hướng-tới-cái-này’ đó, và cùng với nó là mọi thứ liên quan đến công việc - toàn bộ ‘công xưởng’ – với tư cách là nơi mà mối quan tâm luôn cư ngụ. Bối cảnh của thiết bị được làm sáng tỏ, không phải như một thứ gì đó chưa từng thấy trước, mà như một tổng thể tính luôn thấy từ trước một cách thận trọng. Tuy nhiên, với toàn thể tính này, thế giới lại tự loan báo bản thân mình.

Tương tự, khi một thứ gì đó sẵn có để dùng bị mất đi, mặc dù Zugegensein sự hiện diện thường nhật của nó rõ ràng đến nỗi chúng ta chưa bao giờ để ý đến nó, thì điều này lại tạo ra một sự phá vỡ trong những bối cảnh tham chiếu mà sự thận trọng khám phá ra. Sự thận trọng của chúng ta đối mặt với tính trống rỗng, và giờ đây lần đầu tiên nhìn thấy Phần viết còn thiếu chính là cái sẵn có để dùng, và nó là loại sẵn có để dùng cho cái gì. Môi trường tự bộc lộ một cách mới mẻ. Cái được làm sáng tỏ như vậy không chỉ là cái sẵn có để dùng trong số những thứ khác; nó càng không phải là thứ hiện-diện-vô-tri mà dựa trên đó các thiết bị sẵn có để dùng được tạo ra bằng cách nào đó: nó đã ở ‘có đó’ trước khi bất kỳ ai quan sát hoặc làm sang tỏ được nó. Bản thân nó không thể tiếp cận được bằng sự thận trọng, ở chừng mực mà sự thận trọng luôn hướng tới các hiện hữu; nhưng trong mỗi trường hợp, nó đã được tiết lộ để có thể thận trọng. ‘Bộc lộ’ và ‘trạng thái bị bộc lộ’ sẽ được sử dụng như các thuật ngữ chuyên môn trong các đoạn tiếp theo, và sẽ mang nghĩa ‘làm sáng tỏ’ và ‘đặc điểm của việc đã được làm sáng tỏ’. Do đó, ‘bộ lộ’ không bao giờ là ‘thu được một cách gián tiếp bằng suy luận’.9

[Tr.106] Việc thế giới không ‘bao gồm’ cái sẵn có để dùng được thể hiện ở thực tế (gồm cả những thực tế khác) là bất cứ khi nào thế giới được soi sáng theo các phương thức quan tâm mà chúng ta đã Diễn giải, thì những thứ sẵn có để dùng sẽ bị tước bỏ tính thế gian của nó, do đó Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri sẽ bắt đầu nổi lên. Nếu, trong mối quan tâm thường nhật của chúng ta với ‘môi trường’, có thể bắt gặp thứ thiết bị sẵn có để dùng trong ‘Hữu-thể-trong-tự-thân’ của nó, thì các nhiệm vụ và các tổng thể tính tham chiếu mà sự thận trọng của chúng ta ‘bị hấp thụ’ không thể nào trở thành chủ đề cho sự thận trọng đó, cũng như chúng không thể nắm bắt mọi thứ ‘theo chủ đề’ nhưng không mang tính thận trọng. Nếu những thứ sẵn có để dùng không xuất hiện lên từ trạng thái không dễ nhận thấy của nó, thì thế giới không được tự tuyên xưng về bản thân nó. Chính trong đó mà cái Hữu-thể-trong-tự-thân của các hiện hữu vốn sẵn có để dùng lại có cấu trúc hiện tượng được cấu thành.                   

Trong những biểu hiện phủ định như ‘trạng thái không dễ nhận thấy’, ‘tính không phô trương’ và ‘tính không ngoan cố’, thì cái mà chúng ta đang đề cập đến là đặc tính hiện tượng tích cực của Hữu thể của cái sẵn có để dùng gần gụi. Với những tiền tố phủ định này, chúng ta đang đề cập đến đặc tính của cái sẵn có để dùng như là ‘tự kìm nén’; đây là cái chúng ta đang nhắm đến trong ‘Hữu-thể-trong-tự-thân’ của một cái gì đó,10 mặc dù tính ‘gần gụi’ mà chúng ta gán nó cho cái hiện-diện-vô-tri vào cái hiện-diện-vô-tri với tư cách là cái có thể được xác định theo chủ đề. Chừng nào chúng ta còn lấy định hướng chủ yếu và độc quyền từ cái hiện-diện-vô-tri, thì cái ‘trong-tự-thân’ hoàn toàn không thể được làm rõ về mặt bản thể luận. Tuy nhiên, nếu việc nói về cái ‘trong-tự-thân’ này có bất kỳ tầm quan trọng nào về mặt bản thể luận, thì vẫn cần phải có một số Diễn giải. Cái ‘trong-tự-thân’ ấy của Hữu thể là một cái gì đó được viện dẫn với sự nhấn mạnh đáng kể, chủ yếu theo cách thực hữu, và đúng như vậy từ quan điểm hiện tượng. Nhưng nếu một số khẳng định bản thể học được đưa ra khi điều này được viện dẫn về phương diện thực hữu, thì các yêu cầu của nó lại không được đáp ứng bởi quy trình như vậy. Như phân tích trên đã làm rõ, chỉ trên cơ sở hiện tượng của thế giới, thì Hữu-thể-trong-tự-thân của các hiện hữu bên-trong-thế-giới mới có thể được nắm bắt về phương diện bản thể luận.

Nhưng nếu thế giới có thể, theo một cách nào đó, được soi sáng, thì chắc chắn nó phải được tiết lộ. Và nó đã được tiết lộ từ trước bất cứ khi nào cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới có thể tiếp cận được cho mối quan tâm một cách thận trọng. Do đó, thế giới là một cái gì đó ‘trong đó’ Dasein với tư cách là một hiện hữu đã tồn tại, và nếu bằng bất kỳ cách nào nó tách rời khỏi bất cứ điều gì một cách rõ ràng, thì nó không bao giờ có thể làm gì hơn ngoài việc quay trở lại thế giới. Cho đến nay, theo cách hiểu của chúng ta, Hữu-thể-trong-thế giới tương đương với sự hấp thụ thận trọng phi-chủ đề vào các tham chiếu hoặc nhiệm vụ cấu thành cho trạng thái sẵn-có-để-dùng của tổng thể tính của thiết bị. Bất kỳ mối quan tâm nào cũng đã tồn tại như vậy, bởi vì nó có sự thân thuộc nhất định với thế giới. Trong trạng thái thân thuộc này, Dasein có thể tự lạc lối trong những gì nó gặp phải bên-trong-thế-giới và bị thế giới mê hoặc. Dasein quen thuộc với điều gì? Tại sao tính chất thế gian của những gì tồn tại bên-trong-thế-giới lại có thể được làm sáng tỏ? Trạng thái hiện-diện-vô-tri11 của các hiện hữu được đẩy lên hàng đầu bởi những đứt đoạn khả thể trong tổng thể tính tham chiếu mà trong đó sự thận trọng ‘vận hành’; làm thế nào chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tổng thể tính này? Những câu hỏi này nhằm mục đích làm sáng tỏ cả hiện tượng và các vấn đề của thế gian tính, và chúng đòi hỏi một cuộc khảo sát về các mối liên hệ mà một số cấu trúc nhất định được xây dựng nên. Để trả lời, chúng ta phải phân tích các cấu trúc này một cách cụ thể hơn.

17. Tham chiếu và Dấu hiệu

Trong Diễn giải tạm thời của chúng ta về cấu trúc của Hữu thể thuộc về cái sẵn-có-để-dùng (thuộc về ‘thiết bị’), hiện tượng tham chiếu hay gán ghép đã trở nên rõ ràng; nhưng chúng ta chỉ đưa ra một dấu hiệu về nó, và ở dạng phác thảo đến mức chúng ta ngay lập tức nhấn mạnh sự cần thiết phải làm sáng tỏ nó liên quan đến nguồn gốc bản thể học của nó.12 Hơn nữa, rõ ràng là các gán ghép và các tổng thể tính tham chiếu, theo một nghĩa nào đó có thể trở thành yếu tố cấu thành cho tự thân thế gian. Cho đến nay, chúng ta chỉ thấy thế giới được soi sáng theo và vì những cách thức nhất định mà về phương diện môi trường chúng ta quan tâm đến trạng thái sẵn-có-để-dùng, và thực sự nó chỉ được soi sáng bằng trạng thái sẵn-có-để-dùng của mối quan tâm đó. Vì vậy, càng tiến xa hơn trong việc hiểu cái Hữu thể của các hiện hữu bên-trong-thế-giới, thì cơ sở hiện tượng mà trên đó hiện-tượng-thế-giới có thể được làm sáng tỏ càng trở nên rộng lớn và vững chắc hơn.

Chúng ta sẽ lại lấy Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng làm điểm xuất phát, nhưng lần này với mục đích nắm bắt hiện tượng tham chiếu hoặc tự ấn định nhiệm vụ một cách chính xác hơn. Theo đó, chúng ta sẽ cố gắng phân tích bản thể luận về một loại thiết bị mà trong đó người ta có thể bắt gặp những ‘tham chiếu’ như vậy theo nhiều nghĩa khác nhau. Chúng ta bắt gặp ‘thiết bị’ trong các dấu hiệu. Từ ‘dấu hiệu’ chỉ định nhiều loại sự vật: nó không chỉ có thể đại diện cho các loại dấu hiệu khác nhau, mà Hữu-thể-một-dấu-hiệu-cho có thể tự nó được [tr.108] hình thức hóa như một loại quan hệ phổ quát, do đó cấu-trúc-dấu-hiệu tự nó cung cấp một manh mối bản thể luận để ‘đặc trưng hóa’ bất kỳ hiện hữu nào. Nhưng trước hết, bản thân các dấu hiệu là các hạng mục thiết bị mà đặc điểm cụ thể của chúng với tư cách là thiết bị nằm ở việc hiển thị hoặc chỉ ra.13 Chúng ta tìm thấy những dấu hiệu như vậy trong các biển báo, cột mốc ranh giới, quả cầu cảnh báo bão cho thủy thủ, tín hiệu, biểu ngữ, dấu hiệu tang lễ, và những thứ tương tự. Việc chỉ ra có thể được định nghĩa là một ‘loại’ tham chiếu. Nếu ta hiểu theo nghĩa hình thức nhất có thể, thì tham chiếu là một quan hệ. Nhưng mối quan hệ không hoạt động như một loại hình chung cho các ‘loại’ hay ‘loài’ của các tham chiếu vốn có thể được phân biệt thành dấu hiệu, biểu tượng, biểu đạt hoặc ý nghĩa của chúng. Một mối quan hệ là một cái gì đó hoàn toàn hình thức, có thể được đọc trực tiếp thông qua ‘hình thức hóa’ từ bất kỳ loại ngữ cảnh nào, bất kể chủ đề hay cách thức Hữu thể của nó là gì.i

Mọi tham chiếu đều là một mối quan hệ, nhưng không phải mọi mối quan hệ đều là một tham chiếu. Mọi ‘chỉ dẫn’ đều là một tham chiếu, nhưng không phải mọi tham chiếu đều là chỉ dẫn. Điều này đồng thời ngụ ý rằng mọi ‘chỉ dẫn’ đều là một mối quan hệ, nhưng không phải mọi mối quan hệ đều là một chỉ dẫn. Do đó tính chất tổng quát về mặt hình thức của mối quan hệ được làm sáng tỏ. Nếu chúng ta nghiên cứu những hiện tượng như tham chiếu, dấu hiệu, hoặc thậm chí là ý nghĩa, thì việc mô tả chúng như các mối quan hệ sẽ không mang lại lợi ích gì. Thật vậy, cuối cùng chúng ta sẽ phải chứng minh rằng chính ‘các mối quan hệ’, do tính chất tổng quát về mặt hình thức của chúng, có nguồn gốc bản thể luận trong một tham chiếu. Nếu phân tích hiện tại chỉ giới hạn trong việc Diễn giải dấu hiệu như một hiện tượng khác biệt với hiện tượng tham chiếu, thì ngay cả trong giới hạn này, chúng ta cũng không thể nghiên cứu đầy đủ tính đa dạng của các dấu hiệu khả thể. Trong số các dấu hiệu có các triệu chứng, thì tín hiệu cảnh báo, dấu hiệu của những điều đã xảy ra, dấu hiệu để đánh dấu một cái gì đó, dấu hiệu mà nhờ đó sự vật được nhận biết; chúng có những cách biểu thị khác nhau, bất kể cái gì có thể đóng vai trò theo đúng nghĩa dấu hiệu. Từ những ‘dấu hiệu’ như vậy, chúng ta phải phân biệt dấu vết, tàn dư, tượng đài tưởng niệm, tài liệu, lời chứng, biểu tượng, biểu hiện, hình thức, ý nghĩa. Những hiện tượng này có thể dễ dàng được hình thức hóa vì tính chất quan hệ hình thức của chúng; ngày nay chúng ta thấy đặc biệt hấp dẫn khi coi ‘mối quan hệ’ như vậy như một manh mối để áp đặt một loại ‘diễn giải’ nào đó lên mọi thực thể, loại diễn giải này luôn ‘phù hợp’ bởi vì về bản chất nó không nói lên điều gì, không hơn gì một sơ đồ đơn giản về nội dung và hình thức.

Ví dụ về một dấu hiệu mà chúng ta đã chọn là một dấu hiệu mà chúng ta sẽ sử dụng lại trong một phân tích sau này, mặc dù ở một khía cạnh khác. Ô tô đôi khi được trang bị một mũi tên màu đỏ có thể điều chỉnh, vị trí của nó cho biết [tr.109] hướng xe sẽ đi - ví dụ như tại một giao lộ. Vị trí của mũi tên được điều khiển bởi người lái xe. Biển báo này là một thiết bị luôn sẵn sàng cho người lái xe trong quá trình lái xe, và không chỉ riêng người lái xe: những người không đi cùng anh ta - và đặc biệt là họ - cũng sử dụng nó, bằng cách nhường đường ở đúng làn đường hoặc bằng cách dừng lại. Biển báo này luôn sẵn sàng trong toàn bộ bối cảnh thiết bị của xe cộ và các quy định giao thông. Nó là thiết bị để chỉ dẫn, và với tư cách là thiết bị, nó được cấu thành bởi sự tham chiếu hoặc sự chỉ định. Nó có đặc tính của cái ‘để-’, khả tính phục vụ xác định của riêng nó; nó dùng để chỉ dẫn.14 Việc chỉ dẫn của dấu hiệu có thể được coi là một loại ‘tham chiếu’. Nhưng cần lưu ý rằng ‘tham chiếu’ này với tư cách là chỉ dẫn không phải là cấu trúc bản thể luận của biển báo với tư cách là thiết bị.

Thay vào đó, ‘tham chiếu’ như một sự chỉ dẫn có cơ sở dựa trên Cấu trúc-Hữu thể của thiết bị, trên khả tính sử dụng cho…. Nhưng một thực thể có thể có khả tính sử dụng mà không nhất thiết trở thành một dấu hiệu. Với tư cách là một thiết bị, một ‘cái búa’ cũng được cấu thành bởi khả tính sử dụng, nhưng điều này không làm cho nó trở thành một dấu hiệu. Sự chỉ dẫn, như một ‘tham chiếu’, là một cách mà cái ‘hướng tới – cái mà’ của một khả tính sử dụng trở nên cụ thể về phương điện thực hữu; nó xác định một hạng mục thiết bị như là cái ‘hướng tới – cái mà’. Mặt khác, loại tham chiếu mà chúng ta có được trong ‘khả năng sử dụng cho’, là một thuộc tính bản thể luận-phạm trù của thiết bị với tư cách một thiết bị. Việc cái ‘hướng tới – cái mà’ của khả năng sử dụng có được tính cụ thể của nó trong sự chỉ dẫn, là một sự ngẫu nhiên của cấu thành thiết bị của nó theo đúng nghĩa. Trong ví dụ về một dấu hiệu này, sự khác biệt giữa tham chiếu của khả năng sử dụng và tham chiếu của sự chỉ dẫn trở nên rõ ràng một cách thô ráp và tức thời. Những điều này khác xa nhau đến mức chỉ khi chúng được kết hợp lại thì tính cụ thể của một loại thiết bị nhất định mới trở nên khả thể. Giờ đây, chắc chắn là về nguyên tắc, việc chỉ ra khác với tham chiếu với tư cách là một trạng thái cấu thành của thiết bị; cũng không thể phủ nhận rằng dấu hiệu, đến lượt nó, có liên hệ một cách đặc biệt và thậm chí khác biệt với loại Hữu thể vốn thuộc về bất kỳ tổng thể tính thiết bị nào sẵn-có-để-dùng trong môi trường, và với đặc tính thế gian của nó. Trong các giao dịch quan tâm của chúng ta [tr.110], thiết bị để chỉ ra được sử dụng theo một cách rất đặc biệt. Nhưng chỉ đơn giản thiết lập Sự thật này là chưa đủ về mặt bản thể luận. Cơ sở và ý nghĩa của vị thế đặc biệt này phải được làm rõ.

Chúng ta muốn nói gì khi nói rằng một dấu hiệu ‘chỉ ra’? Chúng ta chỉ có thể trả lời điều này bằng cách xác định loại giao dịch nào là phù hợp với thiết bị để chỉ ra. Và chúng ta phải làm điều này theo cách mà trạng thái sẵn-có-để-dùng của thiết bị đó có thể được nắm bắt một cách thực sự. Cách thức phù hợp để sử dụng các dấu hiệu là gì? Quay trở lại ví dụ về mũi tên, chúng ta phải nói rằng kiểu hành vi (Hữu thể) tương ứng với dấu hiệu mà chúng ta gặp phải, hoặc là ‘nhường đường’ hoặc là ‘đứng yên’ so với chiếc xe có mũi tên. Việc nhường đường, như việc đi theo một hướng, về bản chất thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein. Dasein luôn luôn được định hướng và đang trên đường đi; đứng yên và chờ đợi chỉ là những trường hợp giới hạn của trạng thái ‘trên-đường-đi’ có hướng này. Dấu hiệu tự thân hướng đến một Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính ‘không gian’ cụ thể. Dấu hiệu không được ‘nắm bắt’ một cách đích thực nếu chúng ta chỉ nhìn chằm chằm vào nó và xác định nó như một vật chỉ báo đang xảy ra. Ngay cả khi chúng ta hướng ánh mắt về phía mũi tên chỉ thị và nhìn vào một cái gì đó hiện-diện-vô-tri trong vùng được chỉ định, thì ngay cả khi đó, dấu hiệu vẫn không được chạm trán một cách đích thực. Dấu hiệu như vậy tự thân hướng đến sự thận trọng trong các giao dịch quan tâm của chúng ta, và nó làm như vậy theo cách mà sự thận trọng đi kèm với nó, theo hướng nó chỉ, đưa vào một cuộc ‘khảo sát’ rõ ràng bất kỳ phạm vi nào mà môi trường có được vào thời điểm đó. Cuộc khảo sát thận trọng này không nắm bắt cái sẵn-có-để-dùng; cái mà nó đạt được là việc định hướng trong môi trường của chúng ta. Cũng có một cách khác để chúng ta trải nghiệm thiết bị: chúng ta có thể bắt gặp mũi tên đơn giản như một thiết bị thuộc về chiếc xe. Chúng ta có thể thực hiện điều đó mà không cần khám phá ra đặc điểm cụ thể của nó với tư cách một thiết bị: mũi tên chỉ ra điều gì và nó làm như thế nào, có thể vẫn hoàn toàn không xác định; tuy nhiên, những gì chúng ta đang gặp phải không chỉ là một Sự vật đơn thuần. Trải nghiệm một Sự vật đòi hỏi một trạng thái xác định riêng của nó, và phải được đối lập với việc chạm trán một loạt thiết bị, thường có thể khá mơ hồ, ngay cả khi người ta bắt gặp nó ở khoảng cách đặc biệt gần.

Những dấu hiệu thuộc loại chúng ta đã mô tả cho phép chạm trán cái sẵn-có-để-dùng; chính xác hơn, chúng cho phép một bối cảnh nào đó của nó trở nên dễ tiếp cận theo cách mà các giao dịch quan tâm của chúng ta có được định hướng và giữ vững nó. Một dấu hiệu không phải là một Vật thể đứng đối diện với một Vật thể khác trong mối quan hệ chỉ dẫn; đúng hơn, nó là một hạng mục thiết bị thực sự làm nổi bật tổng thể tính thiết bị vào sự thận trọng của chúng ta để cùng với nó, đặc tính thế gian của cái sẵn-có-để-dùng tự bộc lộ. Trong một triệu chứng hoặc một tín hiệu cảnh báo, ‘những gì sắp xảy ra’ ‘tự chỉ ra’, nhưng không phải theo nghĩa của một điều gì đó [tr111] chỉ đơn thuần xảy ra, vốn xuất hiện như một sự bổ sung cho những gì đã hiện-diện-vô-tri; ‘những gì sắp xảy ra’ là loại sự vật mà chúng ta đã sẵn sàng, hoặc cái mà chúng ta ‘chưa sẵn sàng’ nếu chúng ta đang chú ý đến điều gì đó khác.15 Trong các dấu hiệu của một điều gì đó đã xảy ra, những gì đã xảy ra và diễn ra theo đúng tiến trình của nó trở nên có thể tiếp cận một cách thận trọng. Một dấu hiệu dùng để đánh dấu một điều gì đó cho biết là ai đó đang ở đâu vào thời điểm bất kỳ nào đó. Dấu hiệu chủ yếu luôn chỉ ra nơi ai đó sinh sống, mối quan tâm của kẻ đó hướng đến điều gì, và kẻ đó có liên quan đến điều gì.16

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘…im Sinne der Sichtlosigkeit…’ Ý nghĩa của câu này sẽ rõ ràng với người đọc nào nhớ rằng động từ Hy Lạp 8£wp£<v, từ đó các từ 'theoretical' và 'atheoretical' được bắt nguồn, ban đầu có nghĩa là 'nhìn thấy'. Heidegger đang chỉ ra rằng đây không phải là điều chúng ta nghĩ đến trong sự tương phản truyền thống giữa 'lý thuyết' và 'thực tiễn'. [tr.99]

2 'Das Werk triigt die Verweisungsganzheit, innerhalb derer das Zeug begegnet.' Trong chương này, từ 'Werk' ('công việc') thường đề cập đến sản phẩm đạt được bằng công việc hơn là quá trình làm việc. Chúng ta thường sẽ dịch 'Verweisungsganzheit' là 'tổng thể tham chiếu', mặc dù đôi khi cụm từ vụng về hơn 'tổng thể các nhiệm vụ'

có thể truyền đạt ý tưởng hiệu quả hơn. (Bản cũ đọc là 'deren' thay vì 'derer'.) [tr.99]

3 ‘…ein ziinachst an sich vorhandener Weltstoff…’ Các ấn bản trước đó có’…unachst ein an sich vorhandener Weltstoff…’ [p.101]

4 giây H. 61 ở trên. [tr.101]

5 ‘Die am Innerweltlich Seierukn sich meldende Weltmiissigkeit d-.r Umwelt.’ [p.102]

6 Trong các phiên bản trước, 'Welt' xuất hiện với dấu ngoặc kép. Những điều này được bỏ qua trong các phiên bản sau. [trang 103]

7 Sự phân biệt của Heidegger giữa 'sự nổi bật' (Auffalligkeit), 'sự phô trương' (Aufdringlichkeit) và 'sự ngoan cố' (Aufsiissigkeit) rất khó trình bày một cách rõ ràng trong bản dịch. Ông dường như đang nghĩ đến ba tình huống khá giống nhau. Trong mỗi tình huống này, chúng ta đều đối mặt với một số vật dụng sẵn có. Trong tình huống đầu tiên, chúng ta muốn sử dụng một trong những vật dụng này cho một mục đích nào đó, nhưng chúng ta thấy rằng nó không thể được sử dụng cho mục đích đó. Khi đó, nó trở nên 'nổi bật' hoặc 'ấn tượng', và theo một cách nào đó là 'không sẵn có' - ở chỗ chúng ta không thể sử dụng nó. Trong tình huống thứ hai, chúng ta có thể có chính xác những vật dụng tương tự trước mặt, nhưng chúng ta muốn một vật dụng không có ở đó. Trong trường hợp này, vật dụng bị thiếu cũng là 'không sẵn có', nhưng theo một cách khác - ở chỗ nó không có ở đó để được sử dụng. Điều này thật khó chịu, và những vật dụng vẫn sẵn có trước mặt chúng ta lại tự hiện ra một cách khó coi, khiến chúng trở nên "phiền phức" hoặc thậm chí "đáng ghét". Trong trường hợp thứ ba, một số vật dụng sẵn có trước mặt chúng ta được coi là trở ngại cho việc đạt được một mục đích nào đó; chúng là những trở ngại "cứng đầu", "ngoan cố", "bất trị", và chúng ta phải chú ý đến chúng hoặc loại bỏ chúng bằng cách nào đó trước khi có thể hoàn thành những gì mình muốn làm. Ở đây, những vật thể cứng đầu lại không sẵn có, mà chỉ đơn giản là cản trở sự cứng đầu của chúng. Trong cả ba trường hợp, những vật dụng sẵn có trước mặt chúng ta có xu hướng mất đi sự sẵn có của chúng theo cách này hay cách khác và bộc lộ sự hiện diện của chúng; tuy nhiên, chỉ trong trường hợp thứ hai, chúng ta mới gặp chúng "chỉ hiện diện trước mặt và không hơn" ("nur nocb Vorhandenes"). [trang 104]

8 Ở đây, 'Zeug' được sử dụng theo nghĩa tiêu cực là 'đồ đạc'. Xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 97 về H. 68. [trang 104]

9 Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, động từ 'erschliessen' không chỉ có nghĩa là 'tiết lộ' mà còn - trong một số cấu trúc nhất định - là 'suy luận' hoặc 'kết luận' theo nghĩa mà người ta 'rút ra' một kết luận từ các tiền đề. Heidegger cố tình loại trừ cách giải thích sau này, mặc dù trong một vài trường hợp rất hiếm hoi ông có thể sử dụng từ này theo nghĩa đó. Ông giải thích ý nghĩa của mình bằng động từ cùng gốc 'aufschliessen', 'mở ra'. Nói rằng điều gì đó đã được 'tiết lộ' hoặc 'được phơi bày' trong senae của Heidegger, không có nghĩa là người ta có nhận thức chi tiết về nội dung được 'tiết lộ' như vậy, mà đúng hơn là chúng đã được 'phơi bày' cho chúng ta như là tiềm ẩn trong những gì đã cho, để chúng có thể được làm rõ ràng hơn đối với nhận thức của chúng ta bằng cách phân tích hoặc phân biệt thêm về những gì đã cho, chứ không phải bằng bất kỳ suy luận nào từ đó. [tr.105-106]

10 'Diese "Un" meinen den Charakter des Ansichhaltens des Zuhandenen, das, was wir mit dem An-sich-sein im Auge haben . . .' Điểm mấu chốt dường như là khi chúng ta nói về điều gì đó 'như nó vốn có' hoặc 'theo đúng nghĩa của nó', chúng ta nghĩ về nó như 'tự giữ mình' hoặc 'tự kìm hãm mình' - chứ không phải 'bước ra' hoặc làm điều gì đó 'trái với bản chất'. [tr.106]

11 Ở đây các ấn bản cũ hơn có 'Zuhandenheit' trong khi các ấn bản mới hơn có 'Vorhandenheit'. [tr.107]

12 Cf. H. 68 ở trên. [tr.107]

13 ‘…deren spezifischer Zeugcharakter im <;eigen besteht.' Mặc dù chúng ta thường sử dụng 'show' và 'indicate' để dịch 'zeigen' và 'anzeigen' tương ứng, nhưng trong phần còn lại của phần này, có vẻ thích hợp hơn nếu dịch 'zeigen' bằng 'indicate', hoặc dùng đến hendiadys như trong đoạn văn hiện tại. [tr.108]

14 'Es hat den Charakter des Um-zu, seine bestimmte Dienlichkeit, es ist zum Zeigen.' Động từ 'dienen' thường được theo sau bởi một cấu trúc nguyên thể được giới thiệu bởi giới từ 'zu'. Tương tự, động từ 'serve' trong tiếng Anh có thể được theo sau bởi một nguyên thể trong các biểu thức như 'it serves to indicate…'. Trong tiếng Đức của Heidegger, cấu trúc 'zu' được chuyển sang danh từ 'Dienlichkeit'; tuy nhiên, danh từ tương ứng 'serviceability' thường không được theo sau bởi một nguyên thể, mà là bởi một biểu thức được giới thiệu bởi 'for', ví dụ: 'serviceability for indicating…'. Vì giới từ 'zu' đóng vai trò quan trọng trong phần này và phần tiếp theo, nên việc cung cấp một bản dịch thống nhất cho nó là điều cần thiết. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ dịch nó là 'cho' trong các cách diễn đạt như 'Dienlichkeit zu', nhưng là 'hướng tới' trong các cách diễn đạt như 'Wozu' ('hướng tới cái nào') và 'Dazu' ('hướng tới cái này'), giữ lại 'theo thứ tự' cho 'Um-zu'. [tr.109]

15 ‘…das "was kommt" ist solches, daraufwir uns gefasst machen, bzw. "nicht gefasst waren", sofern wir uns mit anderem befassten.' [tr.111]

16 'Das Merkzeichen zeigt, người đàn ông "côn" đồ trang sức. Die Zeichen zeigen zeigen immer das, "worin" man lebt, wobei das Besorgen sich aufhaJ.t, welche Bewandtnis es damit hat.' Về 'Bewandtnis', xem ghi chú 2, tr. 1 15 H. 84 bên dưới. [tr.111]