Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
[Tr.258] Và bản thân cái được đặt định như thế mang đặc tính bản thể luận nào? Nhìn chung, người ta nhắm đến điều gì khi sử dụng thuật ngữ ‘tương hợp’? Sự tương hợp giữa cái này với cái kia mang đặc tính hình thức của một mối quan hệ giữa cái này với cái kia. Mọi sự tương hợp, và do đó cả ‘chân lý’ nữa, đều là một mối quan hệ. Nhưng không phải mối quan hệ nào cũng là sự tương hợp. Một ký hiệu trỏ vào cái được biểu thị; hành vi trỏ đó là một mối quan hệ, nhưng không phải là sự tương hợp giữa ký hiệu và cái được biểu thị.1 Tuy nhiên, rõ ràng không phải sự tương hợp nào cũng là kiểu convenientia (sự phù hợp/thích hợp/tương ứng) được xác định trong định nghĩa về ‘chân lý’. Số ‘6’ tương hợp với ‘16 trừ 10’. Các số này tương hợp với nhau; chúng bằng nhau xét về mặt ‘số lượng’ (bao nhiêu?). Trạng thái bằng nhau là một cách thức tương hợp. Cấu trúc của nó bao hàm một yếu tố kiểu như ‘xét về phương diện’ thuộc về nó. Trong adaequatio làm cho bằng nhau/tương xứng với nhau có một sự liên kết giữa các yếu tố; vậy đâu là phương diện mà chúng tương hợp với nhau? Khi làm sáng tỏ ‘quan hệ chân lý’, ta cũng cần lưu ý đến đặc điểm riêng biệt của các thành tố trong mối quan hệ này. Intellectus trí tuệ/lý trí và res sự vật tương hợp với nhau xét về phương diện nào? Liệu xét về loại Hữu thể và nội dung cốt yếu, chúng có mang lại điều gì chung [tr.259] để có thể tương hợp với nhau hay không? Nếu intellectus và res không thể ngang bằng nhau vì chúng không cùng chủng loại, thì liệu chúng có thể tương đồng không? Song, tri thức vẫn được cho là phải ‘đưa trình’ sự vật đúng như bản chất của nó.
Tình trạng ‘tương hợp’ này mang tính chất Quan hệ kiểu như ‘hệt như’. Mối quan hệ này có thể tồn tại như thế nào giữa intellectus và res? Từ những câu hỏi này, ta thấy rõ rằng để làm sáng tỏ cấu trúc của chân lý, không thể chỉ đơn thuần mặc định tính toàn thể của mối quan hệ này; thay vào đó, ta phải quay lại và truy vấn bối cảnh của Hữu thể – cái tạo nên nền tảng cho chính tính toàn thể ấy. Tuy nhiên, liệu ta có cần đặt ra vấn đề ‘nhận thức luận’ liên quan đến mối quan hệ chủ thể-Khách thể ở đây không, hay phép phân tích của chúng ta có thể giới hạn ở việc Diễn giải ‘ý thức nội tại về chân lý’, và do đó vẫn nằm ‘trong phạm vi’ của cái chủ thể? Theo quan điểm phổ biến, cái ‘chân’ chính là tri thức. Nhưng tri thức lại là phán đoán. Trong phán đoán, cần phân biệt giữa hành vi phán đoán – một quá trình tâm lý Thực tại – và cái được phán đoán – một nội dung lý tưởng. Chính nội dung lý tưởng này mới được coi là ‘chân’.
Tuy nhiên, quá trình tâm lý Thực tại ấy hoặc là hiện-diện-vô-tri hoặc là không. Theo quan điểm này, nội dung lý tưởng của phán đoán nằm trong một mối quan hệ phù hợp. Do đó, mối quan hệ này là sự kết nối giữa nội dung lý tưởng của phán đoán và Sự vật Thực tại – tức cái được phán đoán. Liệu sự phù hợp này mang tính Thực tại hay lý tưởng trong loại Hữu thể của nó, hay chẳng thuộc về cả hai? Ta phải hiểu như thế nào về mặt bản thể luận đối với mối quan hệ giữa một thực thể lý tưởng và một cái gì đó Thực tại và hiện-diện-vô-tri? Quả thực, một mối quan hệ như vậy có tồn tại; và trong các phán đoán thực tế, nó không chỉ tồn tại như mối quan hệ giữa nội dung phán đoán và Khách thể Thực tại, mà còn như mối quan hệ giữa nội dung lý tưởng và hành vi phán đoán Thực tại. Và liệu nó có thực sự tồn tại một cách ‘nội tại hơn’ trong trường hợp sau này không? Hay ý nghĩa bản thể luận của mối quan hệ giữa Thực tại và cái gì đó μέθεξις methexis lý tưởng là điều ta không được phép truy vấn? Tuy nhiên, mối quan hệ đó phải là một mối quan hệ có tồn tại. Vậy thứ ‘tồn tại’ như vậy có nghĩa là gì về mặt bản thể luận?
Tại sao đây lại không phải là một câu hỏi chính đáng? Liệu có phải là ngẫu nhiên khi vấn đề này không đạt được tiến triển nào trong suốt hơn hai nghìn năm qua? Liệu câu hỏi đã bị làm sai lệch ngay từ cách tiếp cận nó—trong sự phân tách chưa được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận giữa cái Thực và cái lý tưởng? Và liên quan đến việc phán đoán ‘thực sự’ về điều được phán đoán, liệu sự tách biệt giữa hành vi phán đoán mang tính hiện thực và nội dung mang tính lý tưởng có hoàn toàn không được biện minh? Phải chăng tính hiện thực của việc biết và phán đoán bị chia cắt thành hai phương thức Hữu thể—hai ‘cấp độ’ không bao giờ có thể ghép lại với nhau để đạt tới loại Hữu thể vốn thuộc về hiểu biết? Liệu tâm lý luận có đúng khi phản đối sự phân tách này, ngay cả khi [tr.260] nó không làm sáng tỏ về mặt bản thể luận loại Hữu thể thuộc về thứ tư duy cái được tư duy, hay thậm chí không hề nhận thức được đó là một vấn đề quen thuộc? Nếu quay lại sự phân biệt giữa hành vi phán đoán và nội dung của nó, chúng ta sẽ không tiến xa hơn trong việc thảo luận về loại Hữu thể thuộc về adaequatio tương hợp; chúng ta chỉ làm rõ thêm tính tất yếu của việc làm sáng tỏ loại Hữu thể thuộc về tự thân tri thức mà thôi. Trong quá trình phân tích vốn đòi hỏi điều này, đồng thời chúng ta phải cố gắng làm lộ diện một hiện tượng đặc trưng cho tri thức: hiện tượng chân lý. Khi nào thì chân lý trở nên hiển lộ rõ ràng ngay trong chính tri thức? Đó là khi sự hiểu biết ấy tự chứng tỏ mình là chân. Thông qua việc tự chứng tỏ, nó xác lập được chân lý của mình. Như vậy, trong bối cảnh hiện tượng chứng minh, mối quan hệ tương hợp phải trở nên khả kiến.
Hãy giả sử một người đang quay lưng vào tường đưa ra khẳng định đúng rằng ‘bức tranh trên tường đang treo lệch’. Khẳng định này tự chứng tỏ tính đúng đắn khi người đưa ra nó quay lại và nhận thấy bức tranh đang treo lệch trên tường. Điều gì được chứng tỏ trong việc chứng tỏ này? Ý nghĩa của Bewahrung ‘xác nhận’ một khẳng định như vậy là gì? Phải chăng chúng ta xác nhận một sự tương hợp nào đó giữa ‘cái biết’ hay ‘cái được biết’ của chúng ta và Vật thể trên tường? Có và Không, tùy thuộc vào việc liệu cách diễn giải của chúng ta về cụm từ ‘cái được biết’ có phù hợp về phương diện hiện tượng hay không. Nếu kẻ đưa ra khẳng định phán đoán mà không trực tiếp tri giác bức tranh, mà chỉ vorstellen ‘tái hiện’ nó trong tâm trí, thì anh ta đang hướng tới điều gì? Phải chăng là hướng tới Vorstellungen các ‘hình ảnh tái hiện’? Chắc chắn là không, nếu từ ‘hình ảnh tái hiện’ ở đây được hiểu là hành động tái hiện – một quá trình thuộc về tâm trí. Nó cũng không liên quan đến các ‘hình ảnh tái hiện’ theo nghĩa những gì được tái hiện như vậy, nếu điều ta đang hình dung ở đây là một ‘bức tranh’ về cái Vật-Thật đang hiện diện trên tường.2 Hành động khẳng định vốn chỉ mang tính ‘tái hiện đơn thuần’ ấy – xét theo ý nghĩa đích thực nhất của nó – lại liên hệ trực tiếp với chính bức tranh Thực đang treo trên tường. Thứ mà ta đang hình dung chính là bức tranh Thực đó, chứ không phải bất cứ thứ gì khác.
Bất kỳ Diễn giải nào lồng ghép một điều gì khác vào—coi đó là cái mà người ta thực sự hướng tới trong một lời khẳng định vốn chỉ mang tính tái hiện—đều đi ngược lại các sự kiện hiện tượng liên quan đến đối tượng của lời khẳng định đó. Khẳng định là một cách thức của Hữu thể hướng tới chính Sự vật đang hiện hữu đó.3 Và việc tri giác sự vật ấy chứng tỏ điều gì? Chẳng gì khác [tr.261] ngoài việc sự vật này chính là thực thể mà người ta đang hướng tới trong lời khẳng định của mình. Điều được xác nhận ở đây là thực thể này được chỉ ra bởi chính cái Hữu thể tạo nên lời khẳng định—tức là Hữu thể hướng tới cái được nêu ra trong lời khẳng định; do đó, điều cần xác nhận là cái Hữu thể như vậy làm bộc lộ chính cái thực thể mà nó hướng tới. Điều được chứng minh chính là cái Hữu thể-làm bộc lộ của lời khẳng định.4 Khi thực hiện việc chứng minh như vậy, cái biết vẫn chỉ liên hệ duy nhất với chính thực thể đó. Trong thực thể này, sự xác nhận được diễn ra. Bản thân cái thực thể mà người ta hướng tới tự bộc lộ đúng như bản chất của nó; nghĩa là, nó cho thấy rằng, trong tính đồng nhất của chính nó, nó hiện hữu đúng như cách nó được chỉ ra trong lời khẳng định—đúng như cách nó được làm bộc lộ với tư cách hiện hữu. Representations các hình tượng tái hiện không bị đem ra so sánh với nhau hay so sánh với Sự vật Thực. Cái cần chứng minh không phải là sự tương hợp giữa việc biết và đối tượng của nó, càng không phải là sự tương hợp giữa cái tâm lý và cái vật lý; nhưng đó cũng không phải là sự tương hợp giữa các ‘nội dung ý thức’ với nhau. Cái cần chứng minh duy nhất là cái Entdeckt-sein Hữu thể-bộc-lộ của chính thực thể đó—thực thể ấy trong ‘cách thức’ trạng thái được bộc lộ của nó. Trạng-thái-bộc-lộ này được xác nhận khi cái được nêu ra trong lời khẳng định (tức là chính thực thể đó) tự bộc lộ đúng là chính nó. ‘Việc xác nhận’ biểu thị thực thể tự bộc lộ trong tính đồng nhất với chính nó.xxxiv
Sự xác nhận được thực hiện dựa trên cơ sở thực thể tự bộc lộ. Điều này chỉ có thể xảy ra khi tri thức—thứ thực hiện khẳng định và được xác nhận—về mặt ý nghĩa bản thể luận, tự nó là một Hữu thể hướng đến các thực thể Thực, và là một phương thức Hữu thể làm bộc lộ. Việc nói rằng một lời khẳng định ‘là chân’ có nghĩa là nó làm bộc lộ thực thể đúng như trong tự thân nó. Một khẳng định như vậy xác quyết, chỉ ra, và ‘để’ cho thực thể ἀπόφανσις apophansis ‘được thấy’ trong trạng thái bộc lộ của nó. Cái Hữu-thể-chân (chân lý) của lời khẳng định phải được hiểu là Hữu-thể-làm-bộc-lộ. Như vậy, chân lý hoàn toàn không có nghĩa là sự tương hợp giữa việc biết và cái khách thể theo nghĩa chỉ ra sự tương đồng của một thực thể này (cái chủ thể) với một thực thể khác (cái Khách thể). Hữu-thể-chân, với tư cách là Hữu-thể-làm-bộc-lộ, lại chỉ trở nên khả thể về phương diện hữu thể luận trên cơ sở của cái Hữu-thể-trong-thế-giới. Hiện tượng ấy—thứ mà chúng ta đã biết đến như là một trạng thái cơ bản của Dasein—chính là nền tảng cho hiện tượng bản nguyên của chân lý. Giờ đây, chúng ta sẽ khảo sát vấn đề này một cách sâu sắc hơn.
[Tr. 262] (b) Hiện tượng Bản nguyên của chân lý và Tính chất Phái sinh của Quan niệm Truyền thống về Chân lý
Hữu-thể-chân (‘chân lý’) có nghĩa là Hữu-thể-làm-bộc-lộ. Nhưng chẳng phải đây là một cách định nghĩa ‘chân lý’ đầy võ đoán sao? Với những cách định nghĩa triệt để như vậy, ta có thể thành công trong việc loại bỏ ý niệm về tương hợp/đồng thuận ra khỏi quan niệm về chân lý. Liệu ta có phải trả giá cho thành quả đáng ngờ này bằng cách đẩy truyền thống cũ kỹ ‘tốt đẹp’ kia vào chỗ vô nghĩa hay không? Tuy nhiên, mặc dù định nghĩa của chúng ta có vẻ võ đoán, nhưng nó lại chứa đựng phép Diễn giải cần thiết về cái vốn đã được phỏng đoán một cách bản nguyên trong truyền thống cổ xưa nhất của triết học cổ đại, và thậm chí đã được thấu hiểu theo một phương thức tiền-hiện-tượng-học. Nếu một λόγος logos với tư cách là ἀπόφανσις apophansis – phát ngôn/ tường minh) muốn trở nên ‘chân’, thì cái Hữu-thể-chân của nó chính là ἀληθεύειν alētheuein hành động làm bộc lộ chân lý theo phương thức ἀποφαίνεσθαι apophainesthai – tức là đưa các thực thể ra khỏi trạng thái bị che giấu và để chúng được nhìn thấy trong trạng-thái-bộc-lộ của chúng. Khái niệm ἀλήθεια alētheia chân lý mà Aristotle đồng nhất với πρᾶγμα pragma sự vật/thực tại và φαινόμενα phainomena hiện tượng trong các đoạn văn được trích dẫn ở trên, biểu thị chính ‘bản thân sự vật’; nó biểu thị các thực-thể-tự-thân trong ‘cách thức’ phơi bày của trạng thái bộc lộ của chúng. Và liệu có phải là ngẫu nhiên không khi một trong những đoạn văn bản của Heraclitus (đoạn XXXV) – những đoạn văn bản cổ xưa nhất về học thuyết triết học đề cập tường minh đến cái λόγος logos – hiện tượng chân lý có nghĩa là phơi bày – không bị che giấu, như cách chúng ta trình bày, lại lồ lộ hiện ra? Những kẻ thiếu hiểu biết được đặt trong thế đối lập với cái λόγος, cũng như đối lập với người nói ra cái λόγος đó và thấu hiểu nó.
Cái λόγος logos mang tính chất φράσον όπως έχει phrason hopōs echei Hãy kể lại/giải thích mọi chuyện đúng như nó vốn có: nó thuật lại cách thức các hữu thể hiện hữu/vận hành. Nhưng đối với những kẻ thiếu hiểu biết, điều đó λανθάνει lanthanei vẫn bị che giấu. Họ quên mất nó επιλανθάνονται epilanthanontai bị lãng quên; nghĩa là, đối với họ, điều đó chìm trở lại vào trạng thái bị che giấu. Như vậy, thuộc về cái λόγος logos chính là trạng thái ἀ-λήθεια a-lētheia không-bị-che-giấu. Việc dịch từ này là ‘chân lý’, và hơn hết là định nghĩa khái niệm này theo các phương thức lý thuyết, chính là hành động che đậy ý nghĩa của cái mà người Hy Lạp đã coi là nền tảng ‘hiển nhiên’ cho việc sử dụng thuật ngữ ἀλήθεια alētheia như một cách hiểu tiền triết học về nó. Khi viện dẫn những bằng chứng như vậy, chúng ta phải tránh lối sùng bái từ ngữ một cách vô tội vạ. Tuy nhiên, nhiệm vụ tối hậu của triết học là bảo tồn sức mạnh của những từ ngữ nguyên sơ nhất mà qua đó Dasein hiện hữu người tự biểu đạt, đồng thời ngăn chặn hiểu biết thông thường san phẳng chúng thành trạng thái thiếu minh xác – trạng thái vốn lại trở thành nguồn gốc của các giả-vấn đề. Giờ đây, chúng ta đã đưa ra một minh chứng hiện tượng cho những gì đã trình bày trước đóxxxv về λόγος logos và ἀλήθεια alētheia – mà trước đây, có thể nói, là kết quả Diễn giải giáo điều.
Khi đề xuất ‘định nghĩa’ về ‘chân lý’, chúng ta không hề rũ bỏ truyền thống mà đã tiếp nhận nó theo cách bản nguyên; và chúng ta sẽ càng làm được điều đó trọn vẹn hơn nếu chứng minh được rằng ý tưởng về đồng thuận/tương hợp là điều mà lý thuyết buộc phải hướng tới dựa trên hiện tượng bản nguyên của chân lý, cũng như chỉ ra được quá trình hình thành của ý tưởng đó. [Tr.263] Hơn nữa, ‘định nghĩa’ về ‘chân lý’ như là uncoveredness ‘trạng thái khai mở’ và entdeckend-sein Being-uncovering Hữu-thể-khai-mở không đơn thuần là việc giải thích về một từ ngữ. Trong số các phương thức ứng xử của Dasein, có những phương thức mà thoạt tiên ta thường gọi là ‘chân’; định nghĩa của chúng ta nảy sinh từ việc phân tích các phương thức này. Hữu-thể-chân – với tư cách là Being-uncovering Hữu-thể-khai-mở– chính là một phương thức Hữu thể của Dasein. Cái làm nên uncovering hành vi khai mở lộ này trở nên khả thể tất yếu phải được gọi là ‘chân’ theo nghĩa còn bản nguyên hơn nữa. Hiện tượng bản nguyên nhất ấy của chân lý được khai mở thông qua các nền tảng hữu thể-bản thể luận của uncovering hành vi khai mở. Khai mở là một phương thức Hữu thể cho Hữu-thể-trong-thế-giới. Mối quan tâm mang tính bao quát cẩn trọng – hay thậm chí là mối quan tâm mà trong đó ta dừng lại và nhìn vào một sự vật – sẽ uncovers khai mở các thực thể trong-thế-giới. Các thực thể này trở thành những gì uncovered đã được bộc lộ. Chúng là ‘chân’ theo nghĩa thứ hai. Cái là ‘chân’ theo nghĩa bản nguyên – tức là kẻ uncovering khai mở – chính là Dasein. ‘Chân lý’ theo nghĩa thứ hai không có nghĩa là Hữu-thể-khai-mở (uncovering hành động khai mở), mà là Entdecktsein Hữu-thể-khai-mở [uncovered] (Entdecktheit uncoveredness Trạng thái khai mở).
[Chen ngang: Theo Heidegger, khái niệm chân lý được tư duy lại một cách căn bản như là Erschlossenheit/disclosedness Trạng thái khai mở. Dưới đây là cấu trúc và sự phân tích về Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ và Entdecktheit Trạng-thái-khai-mở —cùng các thuật ngữ tiếng Đức và ý nghĩa riêng biệt của chúng. 1) Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ - đề cập đến tính cởi mở căn bản của Dasein hiện hữu người đối với thế giới. Nó không phải là hành động khám phá một đối tượng cụ thể; thay vào đó, nó là điều kiện nền tảng cho phép bất cứ điều gì được thấu hiểu hoặc được bắt gặp. Dasein chính là sự bộc lộ của nó. Heidegger cấu trúc Erschlossenheit Trạng thái khai mở thông qua ba thành phần đồng bản nguyên - có tầm quan trọng ngang nhau: i) Befindlichkeit Trạng thái cảm xúc/Tâm thế là cách thức Dasein thấy mình hiện diện trong thế giới. Các tâm trạng bộc lộ tình trạng của chúng ta và ý nghĩa của thế giới đối với ta trước khi có bất kỳ suy tư lý tính nào; ii) Verstehen Sự thấu hiểu: Khả năng hướng về phía trước và phóng chiếu của Dasein. Nó bộc lộ thế giới dưới dạng các khả tính và mục đích của sự vật (tính hữu dụng và ý nghĩa của chúng); iii) Rede Diễn ngôn/Lời nói: die Artikulation der Verständlichkeit The articulation of intelligibility Việc diễn đạt tính có thể thấu hiểu. Đó là cấu trúc ngôn ngữ hoặc giao tiếp làm nền tảng cho cả việc nghe và nói, định hình những gì được thấu hiểu. 2) Entdecktheit Trạng-thái-khai-mở đề cập cụ thể đến các thực thể trong thế giới tự bộc lộ đúng như bản chất của chúng: i) Trong khi Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ áp dụng cho Dasein và toàn bộ thế giới, thì Entdecktheit Trạng-thái-khai-mở áp dụng cho những sự vật cụ thể mà Dasein bắt gặp bên-trong-thế-giới đó như cái búa, cái cây hay hành tinh; ii) Động từ entdecken theo nghĩa đen có nghĩa là ‘khai mở’ hoặc ‘dỡ bỏ nắp đậy’; iii) Ý nghĩa - các thực thể thường bị che giấu, bị khuất lấp hoặc bị coi là điều hiển nhiên; khi Dasein sử dụng một công cụ hoặc xem xét một vật thể, nó ‘khai mở’ bản thể của thực thể đó—hoặc là ở dạng zuhanden ‘sẵn-có-để-dùng’ – các công cụ mang ý nghĩa; hoặc là ở dạng vorhanden hiện-diện-vô-tri – các đối tượng trừu tượng của quan sát khoa học; iv) Các thực thể trong thế giới chỉ có thể được entdeckt bộc lộ bởi vì Dasein vốn dĩ đã bộc lộ erschlossen đối với thế giới ngay từ nền tảng.- HHN]
Tuy nhiên, phân tích trước đó của chúng ta về cái Thế gian của thế giới và về các thực thể trong-thế-giới đã cho thấy rằng: Entdecktheit/ Uncoveredness Trạng-thái-khai-mở của các thực thể trong-thế-giới bắt rễ từ Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ của thế giới. Song, cái Erschlossenheit/ Disclosedness Trạng thái bộc lộ lại chính là đặc tính cơ bản của Dasein, nhờ đó nó là ‘có-đó’của chính mình. Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ này được cấu thành bởi tâm trạng, sự thấu hiểu và diễn ngôn, đồng thời gắn kết một cách bình đẳng và bản nguyên với thế giới, với Hữu-thể-trong và với cái Tự Ngã. Trong chính cấu trúc của mình, Sorge Chăm lo luôn đi trước chính mình—với tư cách là Hữu thể cùng các thực thể trong-thế-giới; và chính trong cấu trúc này, Erschlossenheit trạng thái bộc lộ của Dasein lại ẩn chứa bên trong. Cùng với và thông qua nó mới xuất hiện Entdecktheit/ Uncoveredness Trạng-thái-khai-mở5; do đó, chỉ khi có Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái bộc lộ của Dasein thì mới đạt được hiện tượng bản nguyên nhất của chân lý. Những gì chúng ta đã chỉ ra trước đó liên quan đến cái Cấu thành hữu thể của cái ‘có-đó’xxxvii và liên quan đến cái Hữu thể thường nhật của cái ‘có-đó’xxxviii, chính là nói về hiện tượng bản nguyên nhất của chân lý, không gì khác hơn thế. Bởi lẽ Dasein về mặt bản chất chính là Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái bộc lộ của mình, và xét việc nó khai mở cũng như khai mở với tư cách là một cái gì đó đã được khai mở, thì ở chừng mực đó, về mặt bản chất nó là ‘chân’. Dasein ‘ở trong chân lý’. Khẳng định này mang ý nghĩa về mặt bản thể luận. Nó không có ý nói rằng về mặt ontish thực hữu, Dasein được đưa vào ‘toàn bộ chân lý’ – dù là luôn luôn hay chỉ trong từng trường hợp – mà thay vào đó, nó muốn nói rằng Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái bộc lộ của chính Hữu thể nơi Dasein là một phần thuộc về cái existenziale Konstitution cấu thành hữu thể của nó. [Chen ngang: existenziale Konstitution ‘cấu thành hữu thể’ của Heidegger chỉ các cấu trúc bản thể luận cơ bản, a priori có tính tiên nghiệm tạo nên Hữu thể của Dasein hiện hữu người. 1) Ý nghĩa cốt lõi: i) Trong khi thuật ngữ existentiell thuộc về hiện hữu cụ thể mô tả những lựa chọn thực tế, cụ thể trong đời sống thường nhật của cá nhân ở cấp độ ontic thực hữu, thì existential thuộc về cấu trúc hữu thể, mô tả khung cấu trúc cho phép những lựa chọn và trải nghiệm đó diễn ra ngay từ đầu - thuộc cấp độ ontological bản thể luận; ii) Hữu-thể-trong-thế-giới: Cấu trúc cơ bản của Dasein là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới - có nghĩa là Dasein tồn tại người không phải là một chủ thể tách biệt quan sát thế giới bên ngoài, mà vốn dĩ và ngay từ căn bản đã gắn kết với một thế giới và với những kẻ khác; iii) Existentials - các Yếu tố cấu thành Hữu thể - bao gồm các cấu trúc như Befindlichkeit trạng thái tâm thế, Verstehen Thấu hiểu, Rede Diễn ngôn và Zeitlichkeit/ Temporalität Thời tính; chúng cùng nhau định hình cách thức Dasein hiện hữu người định hướng và khai mở tồn tại của chính mình. 2) Các khía cạnh then chốt trong cấu trúc của Dasein: i) Sorge Quan tâm/Lo âu - Cấu thành hữu thể thống nhất và tổng thể của Dasein hiện hữu người được đặc trưng bởi khái niệm Sorge ‘Quan tâm’ hay ‘Chăm lo’ - đây là nền tảng cho mọi hoạt động của con người, sự bận tâm đến sự vật và thái độ ân cần quan tâm, lo lắng dành cho kẻ khác; ii) Hữu hạn tính và Thời tính - Cấu thành này vốn dĩ được định hình bởi thời gian—cụ thể là hướng về cái chết (Hữu-thể-hướng-về-cái-chết); iii) Geworfenheit Trạng thái ‘bị-ném-vào’ một bối cảnh lịch sử và xã hội tồn-tại- trước.-HHN]. Nếu chấp nhận những kết quả đã đạt được trước đó, ta có thể làm sáng tỏ trọn vẹn ý nghĩa hữu thể của nguyên lý ‘Dasein ở trong chân lý’ thông qua các xem xét sau:
[Tr. 264] (1) Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở nói chung thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein. Nó bao hàm toàn bộ cấu trúc của Hữu thể vốn đã trở nên tường minh thông qua hiện tượng ‘chăm lo’. Thuộc về chăm lo không chỉ là Hữu-thể-trong-thế-giới mà còn là Hữu-thể-bên-cạnh các thực thể trong-thế-giới. Entdecktheit/ Uncoveredness Trạng-thái-bộc-lộ của các thực thể như vậy mang tính đồng bản nguyên với cái Hữu thể của Dasein và Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở của nó. (2) Geworfenheit ‘Tình-trạng-bị-ném-vào’ thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein; thực vậy, nó mang tính cấu thành đối với trạng thái khai mở của Dasein. Trong Geworfenheit ‘Tình-trạng-bị-ném-vào’, ta thấy rằng ở mỗi trường hợp, Dasein—với tư cách là Dasein của tôi và Dasein này—đã hiện diện sẵn trong một thế giới xác định và bên cạnh một phạm vi xác định gồm các thực thể xác định trong-thế-giới.6 Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở mang tính thực tại về mặt bản chất. (3) Thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein còn có sự phóng chiếu—Hữu thể mang tính khai mở hướng đến tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính nó. Là một hiện hữu thấu hiểu, Dasein có thể hiểu chính mình trong khuôn khổ của ‘thế giới’ và những-Kẻ-Khác, hoặc dựa trên tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó.7
Cái khả tính vừa được đề cập có nghĩa là Dasein tự khai mở với chính mình trong và như là tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó. Trạng thái khai mở đích thực này phô ra hiện tượng về cái chân lý bản nguyên nhất trong phương thức của tính đích thực. Trạng thái khai mở bản nguyên nhất—và thực sự là đích thực nhất—mà trong đó Dasein, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, có thể tồn tại, chính là cái chân lý của Existenz hữu thể. [Chen ngang: Đối với Heidegger, truth of existence ‘chân lý của Hữu thể’ không phải là sự tương ứng giữa một phát ngôn và một sự kiện, mà là Unverborgenheit không-che-giấu hay trạng thái khai mở, gắn liền với Dasein hiện hữu người với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. 1) Các khái niệm cốt lõi trong tiếng Đức: i) Wahrheit Chân lý - Heidegger bác bỏ quan niệm coi chân lý chỉ đơn thuần là Richtigkeit đúng đắn hay tương hợp giữa tư duy và khách thể; ii) Ông quay trở lại với khái niệm aletheia trong tiếng Hy Lạp cổ đại và dịch nó là Unverborgenheit Không che giấu—một sự kiện trong đó Sein/Being Hữu thể đưa vạn vật từ bóng tối ra ánh sáng; iii) Dasein hiện hữu người - theo nghĩa đen là hiện-hữu-ở-đó, đây là phương thức hiện hữu đặc thù của con người. Khác với đá hay công cụ, con người có ý thức về Hữu thể của chính mình và buộc phải đặt câu hỏi về nó; iv) Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở - là trạng thái cơ bản trong đó Dasein mở ra với thế giới và thấu hiểu hữu thể của chính mình; v) Lichtung Mở sáng - một không gian mở, tràn ngập ánh sáng, nơi các hiện hữu có thể tự khai mở; Heidegger dùng khái niệm này để mô tả cách thức chân lý diễn ra. 2) Mối liên hệ giữa Chân lý và Hữu thể: i) In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới - con người luôn ‘bị ném vào’ một môi trường mang tính thực tiễn. Chân lý xuất hiện khi thế giới xung quanh trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta thông qua những tương tác thường nhật; ii) Eigentlichkeit/ Authenticity Tính đích thực - sống trong sự chân thực của Hữu thể nghĩa là đối diện với những giới hạn của chính mình - chẳng hạn như tính hữu tử, thay vì ẩn mình trong das Man đám đông vô danh. HHN] Điều này chỉ trở nên xác định về existentially phương diện hữu thể và bản thể luận khi gắn liền với sự phân tích về tính đích thực của Dasein.
(4) Verfallen Tình trạng sa ngã thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein. Trước hết và phần lớn thời gian, Dasein bị chìm đắm trong ‘thế giới’ của nó. Sự thấu hiểu của nó—vốn phóng-chiếu vào các khả tính Hữu thể—đã tự lệch hướng sang phía đó. Tình trạng bị cuốn vào das Man cái ‘họ’ biểu thị rằng nó bị chi phối bởi cách thức mà mọi sự vật được diễn giải công cộng. Những gì đã khai mở và bộc lộ lại tồn tại trong một trạng thái bị che đậy và khép kín bởi những phiếm đàm, tính tò mò và tình trạng mơ hồ. Hữu thể hướng đến các thực thể không hề bị triệt tiêu, nhưng nó đã bị bứng khỏi gốc rễ. Các thực thể không hoàn toàn bị che giấu; chúng chính là những thứ đã được bộc lộ, nhưng đồng thời lại bị che đậy. Chúng tự bộc lộ, nhưng dưới phương thức bề ngoài. Tương tự như vậy, những gì trước đó đã được phơi bày lại chìm ngược trở lại, bị che giấu và ngụy trang. Vì Dasein về bản chất là ‘sa ngã’, nên trạng thái Hữu thể của nó là trạng thái ‘phi chân lý’. Thuật ngữ này, cũng như cách diễn đạt ‘sa ngã’, được sử dụng ở đây theo nghĩa bản thể luận. Nếu sử dụng nó trong phân tích hữu thể, ta phải [tr.265] tránh gán cho nó bất kỳ ‘đánh giá’ phủ định nào về phương diện ontish thực hữu. Việc bị đóng kín và bị che đậy thuộc về thực tính của Dasein. Theo ý nghĩa hữu thể-bản thể luận trọn vẹn, mệnh đề ‘Dasein ở trong chân lý’ thì về phương diện đồng bản nguyên cũng khẳng định rằng ‘Dasein ở trong phi chân lý’. Nhưng chỉ khi Dasein đã được khai mở thì nó mới đồng thời bị đóng kín; và chỉ khi các hiện hữu trong-thế-giới được bộc lộ với Dasein, thì các hiện hữu đó—vốn có thể bắt gặp trong-thế-giới, mới bị che đậy hoặc bị ngụy trang.
Do đó, điều cốt yếu là Dasein phải chủ động chiếm lĩnh những gì đã được bộc lộ, bảo vệ chúng khỏi sự giả dạng và ngụy trang, đồng thời liên tục xác tín lại trạng-thái-bộc-lộ của chúng. Việc bộc lộ bất cứ điều gì mới đều không bao giờ bắt đầu từ trạng thái hoàn toàn bị che giấu, mà đúng hơn là xuất phát từ trạng-thái-được-bộc-lộ nhưng dưới phương thức giả dạng. Các thực thể trông có vẻ như là... Nghĩa là, theo một cách nào đó, chúng đã được bộc lộ rồi, nhưng vẫn bị ngụy trang. Chân lý (trạng thái được-bộc-lộ) là điều luôn cần phải được giành lấy từ các thực thể. Các thực thể bị giật ra khỏi trạng thái bị che giấu của chúng. Trạng thái được-bộc-lộ thực tế của bất cứ điều gì, có thể nói, luôn là một loại cướp đoạt. Liệu có phải ngẫu nhiên không khi người Hy Lạp diễn đạt về bản chất của chân lý bằng một thuật ngữ mang tính phủ định: ἀ-λήθεια a-lētheia không-che giấu? Khi Dasein tự biểu đạt như vậy, chẳng phải một sự thấu hiểu bản nguyên về chính Hữu thể của nó đang tự được biết hay sao—sự thấu hiểu (dù chỉ ở mức tiền-bản thể luận) rằng Hữu-thể-ở-trong-phi-chân-lý tạo nên một đặc tính thiết yếu của Hữu-thể-trong-thế-giới?
Vị nữ thần Chân lý dẫn dắt Parmenides đã đặt ra trước mắt ông hai con đường: một con đường bộc lộ và một con đường che giấu; nhưng điều này không có nghĩa gì khác ngoài việc Dasein vốn dĩ đã hiện hữu vừa trong chân lý vừa trong phi chân lý. Con đường bộc lộ chỉ đạt được thông qua κρίνειν λόγῳ krīnein logōi có nghĩa là ‘phán đoán bằng lý trí’ hoặc ‘quyết định dựa trên lập luận’ – tức là sự phân biệt đầy thấu hiểu giữa hai con đường này và việc đưa ra quyết định chọn con đường này thay vì con đường kia.xxiix Cái điều kiện hữu thể-bản thể luận cho sự thật là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới mang đặc tính của cả ‘chân lý’ lẫn ‘phi chân lý’ nằm ở chính trạng thái Hữu thể của Dasein mà chúng ta đã gọi là geworfener Entwurf ‘phóng chiếu bị ném vào’. Đây là cái cấu thành nên cấu trúc Sorge ‘Chăm lo’.
Kết quả của phép Diễn giải mang tính hữu thể-bản thể luận về hiện tượng chân lý là: (1) chân lý, theo nghĩa bản nguyên nhất, chính là trạng-thái-khai-mở của Dasein, bao hàm cả trạng-thái-bộc-lộ của các hiện hữu trong-thể-giới thuộc về trạng-thái-bộc-lộ đó; và (2) Dasein hiện hữu đồng bản nguyên trong cả chân lý lẫn phi chân lý. Trong chân trời Diễn giải truyền thống về hiện tượng chân lý, sự thấu hiểu của chúng ta về các nguyên lý này sẽ chưa trọn vẹn cho đến khi có thể [tr.266] chứng minh được rằng: (1) ‘daß die Wahrheit als Übereinstimmung aus der Erschlossenheit qua bestimmter Abwandlung entspringt’ chân lý – được hiểu là tương hợp – bắt nguồn từ trạng thái khai mở với tư cách là một biến đổi xác định; (2) cái mà loại Hữu thể vốn thuộc về trạng thái khai mở tự thân có đặc điểm là sự biến đổi phái sinh của nó xuất hiện trước tiên và mở đường cho việc lý giải mang tính lý thuyết về cấu trúc của chân lý. Sự khẳng định và cấu trúc của nó (cụ thể là cái ‘như là’ mang tính tường minh được xây dựng dựa trên việc diễn giải và cấu trúc của nó (tức là cái ‘như là’ mang tính tường giải, cũng như dựa trên sự thấu hiểu – tức là trạng thái khai mở của Dasein. Tuy nhiên, chân lý lại được xem là đặc tính nổi bật của sự khẳng định đã được phái sinh như vậy. Do đó, cội rễ chân lý của sự khẳng định bắt nguồn từ trạng thái khai mở của sự thấu hiểu.xi Song, bên cạnh những chỉ dẫn về nguồn gốc chân lý của sự khẳng định, hiện tượng ‘tương hợp’ cũng cần được làm sáng tỏ một cách tường minh về tính chất phái sinh của nó.
Cái Hữu thể bên cạnh các hiện hữu trong-thế-giới của chúng ta chính là Besorgen ‘quan tâm’), và đây là cái Hữu thể vốn bộc lộ. Tuy nhiên, diễn ngôn về bản chất lại thuộc về trạng thái khai mở của Dasein.xii Dasein tự biểu đạt: nó tự biểu đạt như là một loại Hữu-thể-hướng-đến các hiện hữu—một loại Hữu-thể-hướng-đến vốn bộc lộ. Và trong sự khẳng định, nó tự biểu đạt theo đúng nghĩa về các hiện hữu vốn đã được bộc lộ. Sự khẳng định truyền đạt cho các hiện hữu bằng ‘cách thức’ thuộc trạng thái được bộc lộ của chúng. Khi Dasein nhận thức được sự truyền đạt này, nó đưa chính mình—bằng nhận thức đó—vào một loại Hữu-thể-hướng-đến đang bộc lộ đối với các hiện hữu được bàn đến. Sự khẳng định được biểu đạt kia chính là khẳng định về một điều gì đó, và trong cái mà nó hướng tới, nó chứa đựng trạng thái bộc lộ của các hiện hữu này. Trạng thái bộc lộ này được lưu giữ trong cái được biểu đạt. Cái được biểu đạt có thể nói, trở thành một cái gì đó ‘sẵn-có-để-dùng trong-thế-giới, vốn có thể được tiếp nhận và nói lại.8 Vì trạng thái bộc lộ ấy đã được lưu giữ, nên cái được biểu đạt (vì vậy vốn ‘sẵn-có-để-dùng) tự nó mang một mối liên hệ với bất kỳ hiện hữu nào mà khẳng định đó đề cập. Bất kỳ trạng thái bộc lộ nào cũng đều là trạng thái bộc lộ về một điều gì đó. Ngay cả khi Dasein nói lại điều mà kẻ khác đã nói, thì nó đã bắt đầu thực thi một loại Hữu-thể-hướng-đến chính các hiện hữu đã được bàn luận đó.9 Tuy nhiên, nó được miễn trừ khỏi việc phải tái bộc lộ chúng một cách bản nguyên, và nó nắm giữ sự miễn trừ đó. Dasein không cần phải đối diện trực tiếp với chính các hiện hữu bằng một trải nghiệm ‘nguyên gốc’; nhưng dù vậy, nó vẫn duy trì loại Hữu-thể-hướng-đến các hiện hữu này. Phần lớn trạng thái bộc lộ được tiếp nhận không phải thông qua việc tự mình bộc lộ, mà thông qua việc nghe kể lại về điều đã được nói.
[Tr.267] Tình trạng đắm chìm vào điều đã được nói thuộc về loại Hữu thể mà das Man cái ‘họ’ sở hữu. Nội dung được biểu đạt theo đúng nghĩa tiếp nhận Hữu-thể-hướng-đến các hiện hữu vốn đã được bộc lộ trong khẳng định kia. Tuy nhiên, nếu các hiện hữu này cần được tiếp nhận một cách tường minh xét về trạng thái được bộc lộ của chúng, thì điều đó có nghĩa là sự khẳng định phải được chứng minh là một khẳng định bộc lộ. Song, sự khẳng định được biểu đạt lại là một cái gì đó sẵn-có-để-dùng, và thực sự là theo cách thức mà—với tư cách là cái gì đó lưu giữ tình trạng bộc lộ—nó tự thân mang một mối liên hệ với các hiện hữu đã được bộc lộ. Vậy là việc chứng minh rằng một điều gì đó vốn bộc lộ đồng nghĩa với việc chứng minh cách mà sự khẳng định — vốn bảo tồn trạng-thái- bộc-lộ ấy — có mối liên hệ với các hiện hữu này.
Bản thân khẳng định là một cái gì đó sẵn-có-để-dùng. Các thực thể mà sự khẳng định ấy liên hệ tới — với tư cách là cái gì đó bộc lộ — có thể là sẵn-có-để-dùng hoặc cũng có thể hiện-diện-vô-tri trong-thế-giới. Bản thân mối liên hệ này tự biểu hiện như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri. Tuy nhiên, mối liên hệ này nằm ở chỗ: trạng-thái-bộc-lộ được bảo tồn trong sự khẳng định luôn là trạng thái được-bộc-lộ của một cái gì đó. Cái phán đoán ‘chứa đựng một điều gì đó đúng với các khách thể’ (Kant). Tuy nhiên, chính mối quan hệ này giờ đây lại mang lấy tính chất hiện-diện-vô-tri khi nó chuyển thành mối liên hệ giữa các sự vật vốn cũng hiện-diện-vô-tri. Trạng thái bộc lộ của một điều gì đó trở thành tính tương hợp hiện-diện-vô-tri—giữa một sự vật hiện-diện-vô-tri này (tức là lời khẳng định được diễn đạt) với một sự vật vốn hiện-diện-vô-tri khác (tức là thực thể đang được bàn luận). Và nếu sự tương hợp này chỉ được nhìn nhận như một mối liên hệ giữa các sự vật hiện-diện-vô-tri —nghĩa là, nếu loại Hữu thể vốn thuộc về các khuôn khổ của mối liên hệ này không được phân biệt rạch ròi mà lại bị hiểu như những gì thuần túy hiện-diện-vô-tri—thì mối quan hệ ấy tự biểu hiện như một sự phù hợp giữa hai sự vật hiện-diện-vô-tri, một sự phù hợp mà bản thân nó cũng hiện-diện-vô-tri.
Khi lời khẳng định đã được diễn đạt, trạng thái được-bộc-lộ của hiện hữu chuyển sang thuộc về loại Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng ở-trong-thế-giới.10 Tuy nhiên, chừng nào mà trong trạng-thái-bộc-lộ này—vốn là trạng-thái-bộc-lộ một điều gì đó—vẫn tồn tại một mối liên hệ với cái hiện-diện-vô-tri, thì trạng-thái-bộc-lộ (chân lý) tự nó trở thành một mối quan hệ giữa các sự vật hiện-diện-vô-tri (intellectus trí tuệ và res sự vật)—một mối quan hệ tự nó cũng mang tính hiện-diện-vô-tri. Mặc dù được thiết lập dựa trên trạng thái-khai-mở của Dasein, hiện tượng hữu thể về trạng-thái-bộc-lộ lại trở thành một thuộc tính mang tính hiện-diện-vô-tri, nhưng trong đó vẫn tiềm ẩn một tính chất mang tính quan hệ; và với tư cách là một thuộc tính như vậy, nó bị tách rời thành một mối quan hệ hiện-diện-vô-tri. Chân lý với tư cách là trạng-thái-khai-mở và là một loại Hữu thể hướng đến các hiện hữu được bộc lộ [tr.268] (một loại Hữu thể tự nó bộc lộ)—đã trở thành chân lý hiểu theo nghĩa sự tương hợp giữa các sự vật hiện-diện-vô-tri ở-trong-thế-giới. Và như vậy, chúng ta đã chỉ ra bản chất phái sinh về mặt bản thể luận của quan niệm truyền thống về chân lý.
_________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘Ein Zeichen zeigt auf das Gezeigte.’ [p.258]
2 'Er ist auch nicht aufVorstellungen bezogen im Sinne des Vorgestellten, sofem damit gemeint wird ein "Bild" von dem realen Ding an der Wand.' Mặc dù chúng tôi theo truyền thống trong việc dịch 'Vorstellung' là 'sự đại diện', nghĩa đen có phần gần với 'đặt trước chúng tôi'. Theo nghĩa này, 'bức tranh' hay 'hình ảnh' ('Bild') của chúng ta về bức tranh ('Bild') thực sự đang treo trên tường, tự nó là một thứ gì đó mà chúng ta đã 'đặt ra trước mắt mình' và do đó được 'vorgestellt' (hình dung/biểu tượng hóa), mặc dù trong tiếng Anh, hiếm khi ta gọi nó là 'thứ mà ta biểu tượng hóa' (that which we represent). [tr.260]
3 'Das Aussagen ist ein Sein zum seienden Ding selbst.' (Việc phát ngôn là một sự hiện hữu hướng về chính sự vật đang hiện hữu.) [tr.260]
4 'Ausgewiesen wird das Entdeckend-sein der Aussage.' (Tính chất 'hiện hữu-như-là-sự-khơi-mở' của phát ngôn được xác nhận.) Tại đây và trong các trang tiếp theo, chúng tôi thấy cụm từ 'Entdeckend-sein' luôn được in có dấu gạch nối trong các ấn bản gần đây hơn. Ở các ấn bản cũ, nó đôi khi được viết thành một từ, đôi khi thành hai từ, và chỉ có dấu gạch nối khi nằm ở cuối dòng. Trong cả hai loại ấn bản, đôi khi ta thấy từ này được in với chữ cái đầu viết thường. Chúng tôi đã đánh dấu các trường hợp như vậy bằng một dấu hoa thị; bởi lẽ, mặc dù chúng tôi ưu tiên cách dịch 'Being-uncovering' (Hiện hữu-như-là-sự-khơi-mở) cho những trường hợp này, nhưng việc viết thường chữ cái đầu lại gợi ý rằng 'to-be-uncovering' (trở thành-sự-khơi-mở) có thể là cách hiểu đúng hơn. [tr.261]
5 ‘Mit und durch sie ist Entdecktheit…’ Phiên bản của chúng tôi phản ánh sự mơ hồ của tiếng Đức, khiến chức năng ngữ pháp của đại từ ‘sie’ trở nên tối nghĩa và cho phép nó ám chỉ ‘sự tiết lộ của Dasein’, ‘quan tâm’, hoặc-có lẽ rất có thể-là ‘cấu trúc của sự quan tâm’. [tr.263]
6 ‘In ihr enthiillt sich, dass Dasein je schon a1s meines und dieses in einer bestimmten Welt und bei einem bestimmten Umkreis von bestimmten Innerweltlichen Seienden ist.’ [tr.264]
7 ‘…der Entwurf: das erschliessende Sein zu seinem Seinkonnen. Dasein kann sich als verstehendes aus der ‘Welt’ und den Anderen her verstehen oder aus seinem eigensten Seinkonnen.' Các phiên bản trước có dấu chấm sau 'Entwurf' thay vì dấu hai chấm và giới thiệu 'das' bằng chữ in hoa. Chức năng ngữ pháp của 'als versteheodes' dường như mơ hồ. [tr.264]
8 'Das Ausgesprochene wird gleichsam zu einem insideweldich Zuhandenen, das aufgenommen und weitergesprochen werden kann.' Mặc dù chúng tôi đã tuân theo chính sách thông thường của mình trong việc dịch 'das Ausgesprochene' là 'điều được thể hiện', có lẽ nó có thể là được dịch là 'điều được nói ra', 'lời nói', hoặc thậm chí là 'lời tuyên bố'. [tr.266]
9 ‘Auch im Nachsprechen kommt das nachsprechende Dasein in ein Sein zum besprochenen Seienden selbst.’ [p.266]
10 'Die Entdecktheit des Seienden riickt mit der Ausgesproclunheit der Aussage in die Seinsart des Innerweltlich Zuhandenen.' [tr.267]
