Powered By Blogger

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XIII)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga Phần Thứ hai
Siêu hình học Nguyên lý Lý tính - Nền tảng của Logic
 
[Tr.109] Trước tiên, cần phác thảo bối cảnh của vấn đề để các cuộc thảo luận của chúng ta được tổ chức đúng cách. Leibniz thường được coi là người phát hiện ra nguyên lý lý tính. Trước đó chúng ta đã biết rằng Leibniz coi hai nguyên lý cơ bản của chân lý và tri thức là principium contradictionis Nguyên lý mâu thuẫn và Principium rationis sufficientis seu determinationis nguyên lý lý tính đầy đủ hoặc nguyên lý xác định. Nhưng phần trung tâm này trong học thuyết của Leibniz về logic và siêu hình học là phần khó hiểu nhất. 1) Không rõ ràng một cách dứt khoát mối liên hệ giữa principium contradictionis Nguyên lý mâu thuẫn và Principium rationis sufficientis seu determinationis nguyên lý lý tính đầy đủ hoặc nguyên lý xác định. 2) Không rõ ràng, hoặc thậm chí không thể phỏng đoán một cách sơ bộ, principium rationis sufficientis nguyên lý lý tính đầy đủ được biện minh nền tảng của nó từ đâu. 3) Mối liên hệ của nguyên lý với cơ sở siêu hình học trong đơn tử luận là đáng ngờ. 4) Ý nghĩa của principium nguyên lý, bản chất của nguyên lý, trong nguyên lý lý tính là rất phức tạp. 5) Hơn nữa, liệu principium nguyên lý này chủ yếu là một phần của học thuyết về phán đoán và chân lý logic, hay nó có nguồn gốc khác? Câu hỏi cuối cùng đặt ra vấn đề làm thế nào để hiểu đúng khái niệm về một nguyên lý siêu hình học với tư cách là một nguyên lý ‘logic’.
 
Để đặt ra những câu hỏi này rõ ràng hơn và trình bày chúng như những vấn đề, chúng ta cần một cách tiếp cận siêu hình học triệt để hơn so với cách tiếp cận của Leibniz. Dựa trên câu hỏi trước đó, đầu tiên chúng ta cố gắng theo định hướng của Leibniz, tập trung vào việc tiếp cận vấn đề siêu hình học về nguyên tắc lý tính. Và điều quan trọng cần phải thấy là ở Leibniz, nguyên tắc lý tính vận hành với [tr.110] những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Ở đây chúng ta không đề cập đến câu hỏi lịch sử về việc liệu những cách diễn đạt [khác nhau] này có thể được hợp nhất trong hệ thống Leibniz và được chứng minh là phụ thuộc lẫn nhau hay không. Công thức chung nhất của ‘principium rationis’ nguyên tắc lý tính là công thức phổ biến, nihil est sinerationis ‘Không có gì là không có lý do’; nói một cách thực chứng hơn: ‘Mọi thứ đều có lý do [hay cơ sở] của nó.’ Ratio ‘lý lẽ’ có liên quan đến từ tiếng Latin reor ‘xem một cái gì đó như là’. Ratio là cái mà dựa vào đó tôi xem xét một cái gì đó như là một cái gì đó, cái mà vì nó tôi cho rằng một cái gì đó là như vậy. Ở đây, ratio có nghĩa là cơ sở, theo nghĩa nền tảng cho một khẳng định nào đó. ‘Cơ sở’ theo nghĩa này liên quan đến tri thức, là một cơ sở nhận thức luận. Aristotle nói: Ἐπίστασθαι δὲ οιόμεθ᾽ ἕκαστον ἁπλῶς, ὅταν τήν τ᾽ αἰτίαν οιώμεθα γινώσκειν δι᾽ ἣν τὸ πρᾶγμά ἐστιν, ὅτι ἐκείνου αἰτία ἐστί, καὶ μὴ ἐνδέχεσθαι τοῦτ᾽ ἄλλως ἔχειν. (Posterior Analytics A2, 7I b9ff.). “Chúng tôi tin rằng mình hiểu điều gì đó một cách tuyệt đối khi tin rằng mình biết rõ lý do này là nền tảng, nguyên nhân của sự việc và do đó, và cái nguyên nhân đó không thể khác với thực tế.” (Phân tích hậu nghiệm A2, 7I b9ff.) Ở đây, ‘hiểu’ có nghĩa là biết được các cơ sở của một điều gì đó, và điều này hàm ý biết nó dựa trên cơ sở nào và ở khía cạnh nào. Hiểu hay biết có nghĩa là đã nắm bắt được cơ sở giải thích trong nền cảnh của nó.
 
Aἰτία thường được dịch là ‘nguyên nhân’, và nguyên nhân - Ur-sache, vật thể sơ cấp hoặc nguyên thủy [Ghi chú Ursache tiếng Đức nghĩa là ‘nguyên nhân’, ‘lý do’ có từ căn ursache trong tiếng Đức Trung cổ, là sự kết hợp của tiền tố ur- và danh từ Sache; Ur có nguồn gốc từ tiếng Đức cổ hay tiếng Proto-Germanic uz- nghĩa là ‘ra ngoài’ ‘khỏi’ hoặc ‘từ’; sau đó nó phát triển nghĩa thành ‘nguyên thủy’, ‘khởi đầu’, hoặc ‘sớm nhất’, chẳng hạn uralt nghĩa là cổ đại, hoặc Ursprung nghĩa là nguồn gốc; danh từ Sache là ‘vật’, ‘vấn đề’, hoặc ‘sự việc’; từ này có từ căn sache [sahha] đến tiếng Proto-Germanic sakō, ban đầu có nghĩa là ‘vấn đề pháp lý’ hoặc ‘cáo buộc/tranh chấp’; kết hợp lại, nghĩa từ nguyên của Ursache theo nghĩa đen là ‘vấn đề ban đầu’ hoặc ‘nền tảng mà từ đó một vấn đề nảy sinh’; nó phát triển để chỉ nguồn gốc hoặc tác nhân cơ bản đằng sau một sự kiện.- HHN] được coi là cơ sở cho sự xảy ra thực tế của một điều gì đó. Ví dụ, một viên gạch rơi từ mái nhà, do một cơn bão lớn làm hư hại mái nhà. Nhưng việc vật thể cụ thể này rơi xuống có cơ sở là vì nó là một vật thể vật chất được xác định bởi trọng lực. Đó là cơ sở thiết yếu của nó, là possibilitas khả tính của nó. Đây là ý nghĩa của cơ sở mà Aristotle rõ ràng đã đề cập đến trong một định nghĩa khác về tri thức chân chính: καὶ εἰδέναι δὲ τότ’ οἰόμεθα ἕκαστον μάλιστα, ὅταν τί ἐστιν ὁ ἄνθρωπος γνῶμεν ἢ τὸ πῦρ, μᾶλλον ἢ τὸ ποιὸν ἢ τὸ ποσὸν ἢ τὸ πού, ἐπεὶ καὶ αὐτῶν τούτων τότε ἕκαστον ἴσμεν, ὅταν τί ἐστι τὸ ποσὸν ἢ τὸ ποιὸν γνῶμεν. (Metaphysics 21, I028a 36ff.). “Và chúng tôi cho rằng chúng ta biết mỗi sự vật cụ thể một cách chân thực nhất khi biết ‘con người’ hay ‘lửa’ là gì – hơn là biết phẩm chất, số lượng hay vị trí của nó; bởi vì chúng ta cũng biết mỗi điều này khi chúng ta biết số lượng hoặc phẩm chất của nó là gì.” (Siêu hình học 21, I028a 36ff.) Ở đây, ‘nền tảng’ là cái mà lời giải thích quy chiếu trở lại, cái mà lời giải thích kết thúc như trong một cái gì đó không thể quy giản hoặc lời giải thích xuất phát từ đó, như từ một cái gì đó đầu tiên và nguyên thủy. Ở đây, nền tảng có nghĩa là ἀρχή, khởi đầu và xuất phát, cái đầu tiên khởi nguồn cho tri thức giải thích, vốn là chỗ dựa chủ yếu của nó.
 
[Tr.111] Nhưng khái niệm về nền tảng như ἀρχή này có thể được hình dung rộng hơn nữa để bao gồm cả Ur-sache nguyên nhân ban đầu và nền tảng thiết yếu: cái đầu tiên mà từ đó một hiện hữu, trong chừng mực nó là hiện hữu này, có được bản chất của nó, và cũng là cái đầu tiên mà từ đó một hiện hữu, trong chừng mực nó được hiện thực hóa theo cách như vậy, bắt đầu trong quá trình hiện thực hóa, trong sự xuất hiện của nó. Hiểu theo cách này, nền tảng là cái τὸ τί ἐστιν, cái mà một sự vật là bản thân nó, λόγος của nó. Ratio cũng có nghĩa nền tảng này với tư cách bản chất, và theo nghĩa này, causa được Christian Wolff đồng nhất với một phương thức xác định của ratio; cái ratio này không chủ yếu liên quan đến tri thức (hoặc dù sao cũng không liên quan đến tri thức bản thể luận?!).
 
Aristotle kết hợp cả ba khái niệm chính về cơ sở là ἀρχή theo đó αἴτιον [nguyên nhân] cũng là một ἀρχή trong tác phẩm Siêu hình học al (1013 aI7ft): πασῶν μὲν οὖν κοινὸν τῶν ἀρχῶν τὸ πρῶτον εἶναι ὅθεν ἢ ἔστιν ἢ γίγνεται ἢ γιγνώσκεται “Vậy thì nó là thuộc tính chung của tất cả mọi ‘khởi đầu’ là thứ đầu tiên mà từ đó một cái gì đó tồn tại, trở nên hiện hữu hoặc được biết đến.” Αρχή là nền tảng cho Wassein Cái gì tính; nó là bản chất. Αρχή là nền tảng cho sự tồn tại của một cái gì đó, và nó là [Vorhandensein (Dass-sein)]; nó là nguyên nhân. Αρχή là nền tảng cho là chân; nó là lập luận, biện minh cho một mệnh đề. Và nếu chúng ta thêm Dasein (tồn tại người) và hoạt động của nó, về bản chất thuộc về Whatness Cái gì tính, tồn tại thực tế và là chân, thì chúng ta có nền tảng cho hành động: cái ý hướng (cái οὐ ἓνεκα ou heneka trong Đạo đức Nicomachean). Chúng ta đã có thể thấy sơ bộ bốn khái niệm về nền tảng, bốn biến thể về ý nghĩa của ‘nền tảng’ và, tương ứng, bốn cách khả thể để đặt nền tảng, giải thích và đưa ra nền tảng: bản chất, nguyên nhân, lập luận (theo nghĩa của một ‘chân lý’), và ý hướng. Đặc tính hình thức tổng quát của nền tảng là ‘cái đầu tiên mà từ đó’. Nhưng điều này không bao hàm hết ý niệm về nền tảng, cũng như bốn khái niệm về nền tảng không được nắm bắt đầy đủ về mối liên hệ giữa chúng với sự triệt để và rõ ràng, vì nguồn gốc và thứ tự của chúng vẫn còn mơ hồ. Nhưng một điều đã đạt được. Chúng ta đã xác định được phạm vi mà công thức chung của principium rationis nguyên tắc lý tính trong tính tổng quát của nó có thể có và thường có. Nihil est sine ratione - Không có gì là không có nguyên do. Nihil, hư vô - dù là tính gì, sự tồn tại [Vorhandensein], là chân, và hành động - không có gì với tư cách là tồn tại này [Sein] mà không có ground nền tảng của nó. Mỗi phương thức tồn tại luôn có nền tảng của nó. Đây là một điều mới mẻ và thiết yếu: sự kết hợp của ý niệm về tồn tại theo đúng nghĩa với ý niệm về nền tảng theo đúng nghĩa. Nền tảng liên quan đến sự tồn tại. Dễ dàng nhận thấy rằng chính tuyên bố này, cái principium rationis nguyên tắc lý tính theo nghĩa rộng nhất, đòi hỏi cơ sở hoặc bằng chứng, và rõ ràng bằng chứng này chỉ có thể được đưa ra khi bản chất của sự tồn tại như vậy được làm rõ. Vì đây là câu hỏi cơ bản của siêu hình học [tr.112], nên nguyên tắc lý tính nổi lên như một vấn đề cơ bản của siêu hình học, bao gồm logic, siêu hình học về chân lý.
 
Trước tiên, khi tiến hành làm rõ công thức tổng quát của principium rationis nguyên tắc lý tính, chúng ta đã chỉ ra mối liên hệ giữa vấn đề căn cứ và vấn đề tồn tại. Tuy nhiên, tại thời điểm này, chúng ta phải cảnh giác trước việc coi công thức thông thường của nguyên lý là manh mối duy nhất; chúng ta phải duy trì sự thận trọng phê phán, bởi vì tính tổng quát trong nguyên lý được diễn đạt thông thường hoàn toàn mơ hồ. Sự mơ hồ này liên quan đến việc hoàn toàn thiếu rõ ràng về ý nghĩa của ‘nguyên lý’ trong nguyên tắc này, một điều chưa bao giờ, kể từ thời cổ đại, đặt ra vấn đề. Dễ dàng nhận thấy rằng bản chất của nguyên lý như một vấn đề đề cập đến principium, đến ἀρχή - do đó đến nền tảng. Bản chất của nguyên tắc lý tính trong nguyên lý này chỉ có thể đạt được bằng cách làm rõ bản chất của nền tảng theo đúng nghĩa. Schopenhauer là người đầu tiên cố gắng trình bày nguyên tắc lý do đầy đủ, liên hệ tất cả các cách diễn đạt trước đó về vấn đề này. Điều này vẫn còn giá trị, đặc biệt là nỗ lực trong luận án tiến sĩ của ông, “Tiber die vierfache Wurzel des Satzes vom zureichenden Grunde” [“Về bốn gốc rễ của Nguyên tắc Lý do Đầy đủ”] năm 1813. Phiên bản thứ hai được Schopenhauer biên tập năm 1847, và năm 1864, phiên bản thứ ba do J. Frauenstiidt thực hiện, với những bổ sung của Schopenhauer từ các bản thảo của ông, mặc dù những đoạn có những lời lẽ quá khích đã bị lược bỏ. Phiên bản thứ hai đáng ngờ ở chỗ nó không mang tính cấp tiến hơn về mặt triết học cũng như không chặt chẽ hơn về mặt lập luận, mà lại đầy rẫy những lời lẽ thiếu tế nhị chống lại Hegel, Schelling và triết học được giảng dạy trong các trường đại học.
 
Bài luận này luôn có thể được sử dụng như một định hướng ban đầu, cũng như một nỗ lực để làm sáng tỏ vấn đề một cách tương đối thống nhất. Nhưng nó hoàn toàn không đủ vững chắc về mặt khoa học tổng quát, cách trình bày lịch sử, cũng như lập luận triết học. Trong trường hợp triết học, nó mang đậm chất Kant và chỉ đơn thuần là hời hợt. Chính sự oán giận hơn là sự bất lực về triết học đã làm cho Schopenhauer mù quáng và làm ông vướng vào tình trạng thiếu tự do đáng kinh ngạc. Vì vấn đề về nền tảng như vậy không tìm được chỗ đứng trong logic cũng như siêu hình học, và hơn nữa, người ta ít chú ý đến Schopenhauer, nên đoạn văn ngắn này rất dễ tìm thấy, đặc biệt là trong các ấn bản sau này - với giả định rằng việc nghiên cứu nguyên tắc lý do đầy đủ không trở nên thịnh hành trong triết học chỉ sau một đêm.
 
Trong chương thứ hai của Luận án, Schopenhauer đưa ra “Khảo sát những điểm chính đã được giảng dạy cho đến nay liên quan đến Nguyên tắc Lý do Đầy đủ”: Mục đích chính của ông ở đó là [tr.113] để chỉ ra cách thức mà khái niệm ground nền tảng dần dần được phân biệt trước tiên thành Sachgrund nguyên nhân causa của một cái gì đó và ratio lý do cho một cái gì đó đã biết. Trong phần 9, ‘Leibniz’, ông nói: “Leibniz là người đầu tiên có một quan niệm rõ ràng về sự phân biệt đó. Trong tác phẩm Principiis Philosophiae Nguyên lý Triết học, ông phân biệt rõ ràng giữa ratio cognoscendi lý do nhận thức và causa efficiens nguyên nhân hiệu quả, và ông trình bày chúng như hai biến thể của principium rationis sufficientis nguyên tắc lý do đầy đủ mà ông định nghĩa chính thức ở đây là nguyên tắc chính của mọi tri thức.”1 Chúng ta có thể bỏ qua sự ngắn gọn đến cực độ trong mô tả của ông về học thuyết principium rationis của Leibniz và thực tế là nó không vững chắc về những yếu tố cốt lõi. Nó có thể đủ cho một khảo sát về lịch sử của một vấn đề trong Luận văn. Nhưng cái cách mà Schopenhauer, đã 60 tuổi, cho rằng cần thiết phải sửa chữa tác giả Luận văn 25 tuổi thì đáng ngờ hơn và cho thấy kiểu triết lý của Schopenhauer và có lẽ cả triết học hậu Hegel nói chung. Trong ấn bản thứ hai, năm 1847, đoạn văn tương tự được diễn đạt lại trong phần 9 (trang 16/17; Deussen tập III, trang 125 hoặc 749): “Leibniz là người đầu tiên chính thức trình bày nguyên lý nền tảng như một nguyên lý chính của mọi tri thức và khoa học. Khi làm như vậy, ông đề cập đến sự phân biệt giữa hai ý nghĩa chính của nguyên lý này, nhưng ông không nhấn mạnh rõ ràng hay thảo luận chi tiết về chúng ở bất kỳ nơi nào khác. Đoạn chính nằm trong tác phẩm Principiis Philosophiae 132 của ông, và rõ ràng hơn một chút trong bản tiếng Pháp của Luận văn đó, có tựa đề Monadologie Đơn tử luận.” Những gì vẫn được chấp nhận trong Thông báo hoàn toàn hời hợt này xuất phát từ giai đoạn trước đó và là do nó bắt nguồn từ môi trường triết học của ông.
 
Schopenhauer không đóng góp gì cho chủ đề này dựa trên triết học của riêng ông, ngoại trừ thái độ khó chịu. Thái độ này đã thể hiện dưới những hình thức hoàn toàn khác nhau khi đối đầu với Schelling và Hegel và sau này cũng được những người khác sử dụng; giọng điệu không thể che giấu sự hời hợt vô tận mà những kẻ bắt chước huênh hoang của thế kỷ XIX tin rằng họ đã vượt qua triết học vĩ đại và chân chính từ Plato đến Hegel. Kiểu định hướng lịch sử của Schopenhauer đối với vấn đề, đặc biệt là liên quan đến Leibniz, đã dẫn đến việc ông hệ thống hóa vấn đề nguyên tắc căn cứ một cách rất hời hợt, thực tế là không nắm bắt được gốc rễ. Điều này thể hiện rõ nhất trong Mục 15 (Deussen tập III, trang 7), nơi Schopenhauer hệ thống hóa nguyên tắc một cách tổng quát và khi làm như vậy thì dừng lại ở hệ thống hóa của Wollf, quay trở lại Leibniz [tr.114]: Nihil est sine ratione cur potius sit quam non sit. Schopenhauer dịch đơn giản là “Không có gì tồn tại mà không có lý do: - Và vẫn giữ nguyên như vậy trong các ấn bản sau này. Nhưng công thức này chứa đựng điều hoàn toàn khác, nó không nói nihil est sine ratione cur sit [không có gì tồn tại mà không có lý do]. Schopenhauer đã bỏ qua cụm từ potius quam. Tất nhiên, đây không chỉ là một lỗi dịch thuật đơn thuần, và sẽ không đáng để trách Schopenhauer vì thiếu chính xác về mặt ngữ văn. Nhưng việc bỏ sót cụm từ potius này cho thấy Schopenhauer đã đi theo con đường cũ, trong đó vấn đề được giải quyết một cách hời hợt mà không được hiểu rõ. Bởi vì potius quam, μᾶλλον ἢ, ‘hơn là,’ chính xác là vấn đề trung tâm của principium rationis nguyên tắc lý tính. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể được thấy khi người ta nỗ lực tìm hiểu logic của Leibniz trong siêu hình học của ông và từ đó hiểu siêu hình học này theo cách triết học vượt ra ngoài các sơ đồ thông thường của lịch sử triết học.
 
Công thức rút gọn thông dụng cho nguyên tắc lý tính vừa chung chung vừa mơ hồ. Leibniz không hề đưa ra một công thức đầy đủ, rõ ràng nào cho nguyên lý này, bao gồm tất cả các biến thể có thể có và các ứng dụng của nó. Tuy nhiên, ba công thức có thể được thiết lập một cách sơ lược để làm sáng tỏ phần nào vấn đề đằng sau công thức thực sự của principium rationis nguyên tắc lý tính: 1) Ratio ‘est’ cur aliquid potius existit quam nihil [Có ‘đó’ một lý do tại sao bất cứ thứ gì tồn tại chứ không phải là không có gì]; 2) Ratio ‘est’ cur hoc potius existit quam aliud [Có một lý do tại sao điều này tồn tại chứ không phải bất cứ thứ gì]; 3) Ratio 'est' cur sic potius existit quam aliter [Có ‘đó’ một lý do tại sao nó tồn tại theo cách này chứ không phải theo cách khác]. Principium rationis nguyên tắc lý tính là nguyên lý của ‘chứ không phải’, nguyên lý về tính ưu việt của cái gì đó so với không có gì, của cái này so với cái kia, của cách này so với cách khác. Ngay lập tức, rõ ràng là trọng tâm của nguyên tắc này nằm ở các hiện hữu hiện tồn tại thực sự, ở thực tính theo nghĩa rộng nhất, và một sự lựa chọn dứt khoát, như thể, được đưa ra bằng những gì là hiện thực trái ngược với những gì vẫn còn là khả thể. Do đó, trong quan niệm này, nguyên tắc phụ thuộc vào mối liên hệ giữa possibility and actuality khả tính và thực tính. Leibniz nói điều này trong chuyên luận De rerum originatione radicali “Về khởi nguồn cấp tiến của vạn vật”, 1697: Hinc vero manifestissime intelligitur ex infinitis possihilium combinationibus seriebusque possihilibus existere eam, per quam plurimum essentiae seu possibilitatis perducitur ad existendum. Semper scilicet est in rebus principium determinationis quod a Maximo Minimove petendum est, ut nempe maximus praestetur [p.115] effectus, minimo ut sic dicam sumtu. (first published by Erdmann; G. VII, 302-8, 303) “Do đó, người ta hiểu rất rõ ràng rằng trong vô số sự kết hợp và chuỗi các sự vật khả thể, một thứ tồn tại qua đó lượng bản chất hoặc khả tính lớn nhất được tạo ra. Trong tự nhiên luôn có một nguyên tắc xác định về bản chất cần được tìm kiếm bằng cực đại và cực tiểu; cụ thể, nói cách khác là, hiệu quả tối đa phải đạt được với chi phí tối thiểu.” (xuất bản lần đầu của Erdmann; G. VII, 302-8, 303) [L. 487]
 
Điều này có nghĩa là, từ vô số sự kết hợp và chuỗi khả thể, những thứ trở thành hiện thực là những thứ mang lại tính thiết yếu, tức là khả tính, lớn nhất trở nên tồn tại; những gì chúng ta thấy là sự thật chính là sự hiện thực hóa tốt nhất của tất cả những gì khả thể. Toàn bộ luận thuyết cho thấy rằng ý niệm về việc được tạo ra là nền tảng và trung tâm, và ultima ratio rerum is unum dominans extramundanum [Lý do tối thượng cho mọi thứ là một thứ chi phối và siêu nhiên]. Nam non tantum in nullo singulorum, sed nee in toto aggregato serieque rerum inveniri potest sufficiens ratio existendi (ibid., 302) [Vì không thể có lý do đủ cho sự tồn tại trong bất kỳ cá thể riêng lẻ nào, cũng như trong toàn bộ tập hợp hay chuỗi]. Giờ đây, việc chỉ đơn thuần gợi ý rằng thần học giáo điều Kitô giáo ẩn chứa điều gì đó đằng sau khái niệm về nguyên tắc lý do đầy đủ đã không mang lại nhiều lợi ích. Trái ngược, điều đó chỉ làm chệch hướng nội dung thực sự của tự thân vấn đề. (Điều này luôn đúng khi người ta tin rằng mình đã giải quyết được một vấn đề bằng cách suy luận dựa trên xác suất tâm lý về những xung lực nào có thể đã liên quan đến việc đặt ra và giải quyết vấn đề đó. Người ta có thể tự an ủi mình bằng cách thỏa mãn tò mò tâm lý về thế giới quan như vậy, nhưng cần phải rõ ràng rằng việc săn lùng những động cơ bản năng trong lịch sử tâm trí sẽ không có đối tượng nghiên cứu khả thể nào, cũng không có bất kỳ sự biện minh nào, cũng như không có khả tính đạt được bất cứ điều gì, nếu các vấn đề giống hệt với những động cơ tâm lý tham dự vào việc làm chủ các vấn đề.)
 
Principium rationis sufficientis nguyên tắc lý do đầy đủ với tư cách là nguyên tắc potius quam potius quam, μᾶλλον ἢ, ‘hơn là’ vẫn còn tồn tại, ngay cả khi không tính đến tham chiếu thần học cụ thể. Thật dễ dàng để chỉ ra một cách ngắn gọn rằng có một vấn đề trung tâm của siêu hình học nói chung được ẩn giấu ở đây. Chúng ta đã thấy rằng ý niệm về nền tảng (như bản chất, nguyên nhân, chân lý hoặc lập luận, ý định) ban đầu và gắn bó chặt chẽ với hiện hữu. Giờ đây, một mối liên hệ dường như hoàn toàn khác đã xuất hiện, một mối liên hệ giữa nền tảng, lý lẽ và thứ tự ưu tiên, potius, giữa [tr.116] biện minh và Vor-ziehen ưu tiên, tự do lựa chọn, (cuối cùng là propensio in bonum, khuynh hướng hướng tới điều thiện), do đó là mối liên hệ giữa nền tảng và tự do. Khái niệm potius, ‘hơn là,’ μᾶλλον, thay vì, hơn là chứa đựng một khoảnh khắc ưu tiên. Chúng ta chỉ biết đến khả tính ưu tiên trong những lĩnh vực có những quyết định về giá trị hoặc thiếu giá trị, giá trị cao hơn hoặc thấp hơn. Tất nhiên, việc đề cập đến chiều kích giá trị như một chân trời khả thể cho ưu tiên, đánh giá và phản đối không cung cấp giải pháp cho vấn đề, vì ý niệm về giá trị cũng mơ hồ trong nguồn gốc siêu hình của nó như cái thiện, ἀγαθόν hay bonum. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa cái thiện hay ἀγαθόν và bản thể hay ὄν đã xuất hiện trong triết học cổ đại.
 
Mối liên hệ nội tại giữa vấn đề bản thể và vấn đề ưu tiên đặc biệt rõ ràng trong tác phẩm của Plato, nơi ông dạy rằng ἐπέκεινα τῆς οὐσίας ‘vượt ra ngoài bản thể,’ vẫn còn ἰδέα ἀγαθοῦ ý niệm về cái thiện: 1) 'H ἀγαθοῦ ἰδέα ἐν ἐν τῷ γνωστῷ τελευταία (Rep. VII, Sl7b8f.) [Điều cuối cùng trong phạm vi nhận thức được là ý niệm về cái thiện]. Nhưng nó là điều cuối cùng theo cách mà ý niệm về cái thiện hoàn thiện mọi thứ; nó là thứ bao trùm tất cả hiện hữu với tư cách các hiện hữu. Hữu thể có mối quan hệ nội tại với ἀγαθόν cái thiện. Ý niệm về cái thiện này lại μόγις ὁρᾶσθαι khó nhận thấy. 2) πάντων αὐτὴ ὀρθόν τε καὶ καλῶν αἰτία (517c2), nó là nguyên nhân của mọi sự vật đúng đắn và tốt đẹp. Ý tưởng về cái thiện là cái quyết định cơ bản của mọi trật tự, tất cả những gì thuộc về nhau. Xét về khía cạnh thuộc về nhau κοινωνία, là cái xác định cốt yếu của tồn tại, đó là Plato đang nói rằng ý niệm về cái thiện là vật mang đầu tiên sự gắn kết này, κοινωνία 3) Ἐν τε οὐρανῷ φῶς καὶ τὸν τοῦτον κούριον τεκοῦσα (S17 c 3) [Trong cõi khả kiến, ý niệm về cái thiện mang ánh sáng và chủ nhân của nó]. Ý niệm về cái thiện mang lại ánh sáng, trong cõi khả kiến, và đồng thời là chủ nhân của thứ ánh sáng này, tức là mặt trời. Đây sẽ là nơi thích hợp để diễn giải thấu đáo huyền thoại về cái hang. Ánh sáng là điều kiện tiên quyết cho thị giác. Thị giác của sự hiểu biết cũng cần ánh sáng, và cái cội rễ cung cấp ánh sáng cho knowing beings những hiện hữu hữu tri, tức là cho hiện hữu hiểu biết, chính là ý niệm về ἀγαθόν cái thiện. 4) Ἐν τε νοητῷ αὐτή κυρία (517c 3/4) [Ý niệm về cái thiện thống trị trong lĩnh vực lý tính]. Nó trực tiếp thống trị trong lĩnh vực mà lý tính của con người có thể nắm bắt được, do đó nó cung cấp chân lý và lý tính. Khả tính nội tại của chân lý và lý tính dựa trên ý niệm về cái thiện. 5) 'H τοῦ παντὸς ἀρχή (511b7) [Nó là nguồn gốc của tất cả]. Nó là khởi đầu, nền tảng, nguyên nhân của tất cả. 6) Ý niệm về cái thiện là ἔτι ἐπέκεινα τῆς οὐσίας; (509 b a) [thậm chí vượt ra ngoài tồn tại], vượt lên trên cả các hiện hữu và Hữu thể của chúng. Vậy thì ý niệm về cái thiện [tr.117] có nghĩa là gì? Ở đây, chúng ta phải bằng lòng với việc đề cập đến mối liên hệ mật thiết của nó với ý niệm về Hữu thể nói chung, với ý niệm về nền tảng (gồm nhiều nghĩa khác nhau) và với ý niệm về ưu tiên, về điều được ưu tiên nhất, về ἀγαθόν cái thiện (xem thêm ở phần § l 1b, tr. 218 trở đi).2


[Ghi chú dài về Cái Thiện của Plato: Plato thảo luận về Cái Thiện trong tác phẩm Phaedo ở đoạn 95e8–99c6 và trong phép ẩn dụ nổi tiếng về hang động-đường mặt trời trong tác phẩm Cộng hòa ở đoạn 504c9–517d2. Nhưng trong cả hai đoạn văn này, ông không diễn giải hoàn toàn rõ ràng tại sao Cái Thiện lại tốt. Trong đoạn văn về Phaedo, chúng ta có ấn tượng về Cái Thiện như một nguyên tắc vũ trụ, trong khi ở tác phẩm Cộng hòa, chúng ta biết rằng Cái Thiện hoạt động như nguyên tắc của tri thức – nhưng trong cả hai trường hợp, bất chấp hào quang chung về tính ưu việt triết học, thật khó để xác định chính xác điều gì làm cho Cái Thiện trở nên tốt đẹp. Nói chung, dường như Plato đòi hỏi quá nhiều ở Cái Thiện khi trình bày nó như một nguyên tắc siêu hình, nguyên tắc nhận thức luận cũng như nguyên tắc đạo đức. Vì vậy cần phải làm rõ những vấn đề này thông qua việc thảo luận ngắn gọn về hai đoạn văn đã đề cập ở trên. Đoạn Phaedo (Tiến sĩ 95e8–99c6) cố gắng giải thích về quá trình tạo sinh và hủy diệt (περὶ γενέσεως καὶ ϕθορᾶς τὴν αἰτίαν – Phd. 95e10). (περὶ γενέσεως καὶ ϕθορᾶς τὴν αἰτίαν – Phd. 95e10). Thông qua một giai thoại có vẻ như mang tính tự truyện, Socrates đã đưa ra một lời phê bình về ‘cái mà người ta gọi là nghiên cứu về tự nhiên’ (ἣν δὴ καλοῦσι περὶ ϕύσεως ἱστορίαν – Phd. 96a7–8).3 Như đã thấy rõ, nghiên cứu của Socrates về phusis ‘tự nhiên’ trực tiếp dẫn ông vào lĩnh vực siêu hình của các hình thức (xem Phd. 100b và các phần tiếp theo). Thật vậy, một điểm cốt yếu trong tự truyện của Socrates là chúng ta không nên tìm kiếm tri ​​thức về tự nhiên bằng cách kiểm tra các vật chất bằng các giác quan (Phd. 99e). Lưu ý, điều này không có nghĩa là ông từ bỏ nghiên cứu về tự nhiên. Chúng ta vẫn quan tâm đến việc hiểu về quá trình tạo sinh và hủy diệt – những quá trình chắc chắn áp dụng cho thế giới vật chất. Nhưng điểm mấu chốt nổi bật là chúng ta không thể dựa vào tri thức về tự nhiên trong những đối tượng thay đổi của giác quan và do đó ông cảnh báo [tr.127] không nên viện dẫn đến αἰτία aitia vật chất ‘nguyên nhân’ hoặc ‘giải thích’. Thay vào đó, cái vật chất phải được hiểu thông qua cái phi vật chất. Socrates giải thích rằng, dù cố gắng thế nào, ông cũng không thể hiểu làm thế nào lại quan niệm rằng con người lớn lên nhờ ăn thức ăn hoặc làm thế nào mười lại lớn hơn tám vì được cộng thêm hai (Phd. 96c3–97b7). Socrates nhận thức rõ rằng những tuyên bố này dường như hoàn toàn hợp lý, nhưng ông vẫn bác bỏ chúng. Chúng ta có thể suy đoán rằng thức ăn không phải là nguyên nhân cần thiết của sự tăng trưởng, hoặc việc cộng thêm không phải là nguyên nhân cần thiết của việc trở nên lớn hơn. Để dự đoán, Socrates cần một αἰτία aitia bất biến, một cái gì đó tất yếu; trên hết, một cái gì đó có thể được chứng thực - an toàn chỉ bằng tư duy mà không cần đến các giác quan dễ sai lầm. Do đó, ông tiếp tục trình bày chi tiết loại nguyên nhân mà ông muốn tìm. Cụ thể, khi nghe Anaxagoras viết về một nguyên nhân đặc biệt gọi là ‘Tâm trí’ (nous), Socrates đã rất phấn khởi với hy vọng rằng ông đã tìm ra mục tiêu của mình: một αἰτία aitia giải thích cách vũ trụ và mọi thứ trong đó được sắp xếp một cách tốt nhất (Phd. 97c5–6). Mặc dù Socrates khá nhấn mạnh về tính thiện của aition – τὸ ἄριστον καὶ τὸ βέλτιστον (Phd. 97d3) – rõ ràng là chúng ta vẫn đang ở trong lĩnh vực vật lý, cụ thể là cách hiểu về sự sinh ra và sự hủy diệt (εἰ οὖν τις βούλοιτο τὴν αἰτίαν εὑρεῖν περὶ ἑκάστου ὅπῃ γίγνεται ἢ ἀπόλλυται ἢ ἔστι... – Phd. 97c6–7). Như vậy, ông đã đề cập rõ ràng rằng Trí tuệ này sẽ tiết lộ hình dạng và vị trí của trái đất và tại sao điều này là cần thiết và tốt nhất. Và cũng vậy với mặt trời, mặt trăng và các thiên thể khác (Phd. 97d8–98b3). Cuối cùng, Trí tuệ này nên giải thích điều gì là tốt nhất cho mọi thứ (Phd. 98b2–3). Tuy nhiên, lòng tốt đặc biệt này mang tính siêu hình nên nó không nhất thiết phải áp dụng cho những thăng trầm của từng cá nhân. Nói một cách đơn giản, nó giải thích những chân lý tổng quát, chứ không phải những sự kiện riêng lẻ. Nhưng hóa ra Anaxagoras đã không sử dụng ‘Trí tuệ’ của mình theo cách mà Socrates mong muốn. Bởi vì ông cũng viện dẫn đến những nguyên nhân vật chất. Tóm lại, vấn đề của Anaxagoras và những người theo chủ nghĩa duy vật khác là họ không thể phân biệt một sự kiện với các điều kiện tiên quyết của nó (Phd. 99b2–4). Socrates minh họa điểm này bằng ví dụ sau: thay vì giải thích việc ông bị giam cầm dựa trên quyết định của bồi thẩm đoàn, họ lại viện dẫn đến xương và gân giúp cơ thể ông đứng thẳng trên giường tù. Lưu ý rằng ngay cả ở đây, Socrates cũng quan tâm đến những lời giải thích về sự sắp xếp của vũ trụ: vì đây được cho là cùng một sai lầm khiến người ta giải thích vị trí của các vì sao dựa trên những thứ vật lý như một vòng xoáy thay vì nguyên nhân thực sự của nó (Phd. 99b6–8). Trong phần tiếp theo ngay lập tức, Socrates tiếp tục trình bày chi tiết về ‘chuyến đi thứ hai’, tức là lý thuyết về các hình thức. Nỗ lực thiện chí thứ hai này dường như dẫn đến cùng một đích đến, đó là Cái Thiện (hay Tâm trí). Thật dễ dàng để hiểu các hình thức như một phần của tầm nhìn siêu hình rộng lớn hơn. Hơn nữa, chúng ta có thể nhận thấy rằng Socrates quay trở lại với những lời giải thích ‘tốt nhất’ của mình trong câu chuyện thần thoại kết thúc cuộc đối thoại: trái đất được cho là một hình cầu nằm ở trung tâm vũ trụ bởi vì một vật thể cân bằng ở giữa một vật thể tương tự như nó (ἰσόρροπον γὰρ πρᾶγμα ὁμοίου τινὸς ἐν μέσῳ τεθὲν) sẽ không bị nghiêng về một hướng nào mà sẽ giữ nguyên vị trí (Phd. 109a4–6). Dù chúng ta thấy lời giải thích này thuyết phục đến đâu, nhưng dường như rõ ràng là nó mang tính mục đích luận về trái đất và nó dựa trên cơ sở thuần túy trí tuệ mà không trực tiếp đề cập đến các giác quan. Nhưng để quay lại điểm chính: trong Phaedo, chúng ta bắt gặp một Trí tuệ – được xác định rõ ràng là nguồn gốc của Cái Thiện – hoạt động như một nguyên tắc vũ trụ, được cho là giải thích toàn bộ vũ trụ vật chất, từ vị trí của trái đất đến bản chất của quá trình tạo sinh và hủy diệt. Đây là một khía cạnh của Cái Thiện. Đoạn văn trong Cộng hòa (R. 504c9–517d2), giống như hầu hết các đoạn văn khác trong cùng tác phẩm, rất khó để phân tích riêng lẻ khỏi phần còn lại của cuộc đối thoại. Tuy nhiên, và xét đến lượng lớn các công trình nghiên cứu mà đoạn văn này đã tạo ra, dường như nên thận trọng, chỉ lấy những gì chúng ta cần và để phần còn lại nguyên vẹn. Nếu không, chắc chắn sẽ mở ra một hộp Pandora chứa đầy những vấn đề. Đoạn văn bắt đầu bằng một ám chỉ đầy khiêu khích đến một điều gì đó thậm chí còn vĩ đại hơn cả các đức tính (R. 504d). Socrates đã đề cập đến chủ đề làm thế nào họ sẽ giáo dục những người cai trị tương lai của thành phố xinh đẹp và ông ám chỉ đến một đối tượng tri thức nào đó hứa hẹn sẽ làm lu mờ tất cả những thứ khác. Như Socrates giải thích, Cái Thiện tối cao này dĩ nhiên là hình thức của Cái Thiện mà ông thường xuyên đề cập đến và nhờ đó công lý cùng các đức tính khác có được sự tốt lành và hữu ích của chúng (ᾗ δὴ καὶ δίκαια καὶ τἆλλα προσχρησάμενα χρήσιμα καὶ ὠϕέλιμα γίγνεται – R. 505a3–4). Ở đây, Cái Thiện rõ ràng là có tính đạo đức và hữu ích. Socrates tiếp tục: có sự nhầm lẫn về bản chất thực sự của Cái Thiện, một số người cho rằng đó là niềm vui, số khác lại cho rằng đó là tri thức; và khi chúng ta hỏi, ‘Tri thức về cái gì?’, họ trả lời, ‘Tri thức về Cái Thiện,’ như thể chúng ta đã biết ‘Cái Thiện’ nghĩa là gì (R. 505b5–506a2). Cần nhớ rằng chúng ta đang ở trong lĩnh vực đạo đức, ở đó Cái Thiện đơn giản là ‘điều mà mỗi linh hồn theo đuổi và vì điều đó mà mỗi linh hồn làm mọi việc’ (R. 505d11). Thông thường, Socrates không thể thực hiện được đối tượng trêu ngươi này và thay vì nói cho những người bạn đồng hành của mình biết nó thực sự là gì, ông lại cho họ một hình ảnh giống hoặc là ‘con cháu’ của Cái Thiện (αὐτὸ μὲν τί ποτ' ἐστὶ τἀγαθὸν ἐάσωμεν...ὃς δὲ ἔκγονός τε τοῦ ἀγαθοῦ ϕαίνεται καὶ ὁμοιότατος ἐκείνῳ, λέγειν ἐθέλω – R. 506d8–e4). Như vậy bắt đầu phép so sánh đầu tiên trong bộ ba phép so sánh liên kết với nhau, phép so sánh về mặt trời – nhưng trước đó Socrates [tr.129] nhắc nhở chúng ta về vật lý siêu hình của ông, lý thuyết về các hình thức (xem R. 507a7–b10). Từ đây trở đi, chiều kích đạo đức của Cái Thiện được thay thế bằng chiều kích nhận thức luận của nó. Mặt trời, Helios, được cho là một hậu duệ hoặc một phép so sánh của Cái Thiện ở chỗ nó làm cho những thứ hữu hình trở nên hữu hình giống như Cái Thiện làm cho những thứ có thể biết được trở nên có thể biết được. Nghĩa là, ánh sáng (ở đây được đồng nhất với thần Helios) cho phép mắt chúng ta nhìn thấy và các vật thể hữu hình được nhìn thấy (R. 508a5–6). Helios là nguyên nhân của thị giác (R. 508b10–11). Bằng cách tương tự, khi linh hồn ‘nhìn’ vào những vật thể được chiếu sáng bởi Cái Thiện, nó có tri ​​​​thức, nhưng khi nhìn vào thế giới biểu hiện thì không có (R. 508d4–9). Nói một cách dễ hiểu, Cái Thiện ban sự thật cho những điều có thể biết được và cho chúng ta khả năng để biết. τῷ γιγνώσκοντι τὴν δύναμιν ἀποδιδὸν – R. 508e1–3). Phép ẩn dụ về mặt trời tập trung vào việc thiết lập một sự phân biệt bản thể học rộng lớn giữa cõi hữu hình và cõi khả tri, đặc biệt đề cập đến vai trò nhận thức luận của Cái Thiện. Trong phép ẩn dụ tiếp theo, với hình ảnh đường thẳng (R. 509d6–511e5), Socrates rời xa Cái Thiện và tập trung vào việc thiết lập một loạt các ‘giai đoạn’ nhận thức luận. Đường thẳng được chia thành bốn đoạn, tạo cho chúng ta một loại hệ thống phân cấp các trạng thái nhận thức luận, với tri thức thuần túy không qua trung gian ở trên cùng. Chính sự thăng tiến qua các giai đoạn này được mô tả trong phép ẩn dụ tiếp theo, hình ảnh hang động. Ở đây, Plato sử dụng một hang động dưới lòng đất để đại diện cho cõi vật chất và thế giới bề mặt phía trên hang động để tượng trưng cho thế giới khả tri của các hình thức. Ông coi chúng ta giống như những tù nhân bị mắc kẹt trong hang động này, nhìn vào những cái bóng mà chúng ta nhầm lẫn là hiện thực chứ không phải là những hình ảnh mà chúng vốn có (R. 515c1–2). Socrates kết thúc đoạn văn như sau: Những điều này, đối với tôi, dường như là như thế này. Trong cõi khả tri, hình thức của Cái Thiện là điều cuối cùng được nhìn thấy, và không phải không gặp khó khăn. Nhưng một khi đã được nhìn thấy, lý trí phải cho thấy rằng trong mọi trường hợp, nó là nguyên nhân [αἰτία] của mọi điều đúng đắn và tốt đẹp; trong cõi hữu hình, nó sinh ra ánh sáng và quyền thống trị của nó, trong cõi khả tri, quyền thống trị của chính nó, nó cung cấp chân lý và tri thức [νοῦν]; và người ta phải nhìn thấy nguyên nhân này nếu họ muốn hành động một cách hợp lý [ἐμϕρόνως πράξειν] trong đời sống công cộng hay riêng tư (R. 517b8–c5). Dòng cuối cùng của đoạn văn này đưa chúng ta trở lại với đạo đức. Tuy nhiên, nhìn chung, Socrates đã phát triển một khái niệm về Cái Thiện chủ yếu hoạt động như một nguyên tắc nhận thức luận. Đó là thứ bằng cách nào đó làm cho chân lý trở nên đúng. Chắc chắn, một thực thể như vậy chắc chắn không xấu, nhưng người ta không thể không cảm thấy đứt đoạn với tính tốt đẹp về mặt đạo đức của Cái Thiện. Tương tự như vậy, trong đoạn văn Phaedo, thật khó để thấy được tính tốt đẹp của Cái Thiện, ít nhất là theo bất kỳ nghĩa chính xác nào. Thật vậy, ở đây chúng ta có thể tự hỏi tại sao Cái Thiện lại chuyển từ vai trò siêu hình của nó trong Phaedo sang vai trò nhận thức luận này. Cụ thể là, làm thế nào mà Cái Thiện giải thích được vũ trụ và tri thức, và trên hết, điều gì làm cho nó tốt đẹp về mặt đạo đức. Theo Nathan, A. R. (2022). Why is Plato’s Good good? Published in Peitho. Examina Antiqua, 13(1), 125–136. - HHN] 
 
Cho đến nay, một số điều đã rõ ràng: có một công thức tổng quát phổ biến về nguyên lý nền tảng; tuy nhiên, công thức này che giấu bản chất đa tầng của vấn đề; vấn đề nền tảng này dường như có mối liên hệ mật thiết với vấn đề Hữu thể theo đúng nghĩa. Đồng thời, chúng ta khẳng định vấn đề nền tảng trung tâm của logic. Do đó, chúng ta sẽ cố gắng xử lý toàn bộ vấn đề mà chúng ta đã mô tả trong ba phần: I. Trình bày về chiều kích của vấn đề, II. Vấn đề Nền tảng tự thân, III. Nguyên lý lý tính và các vấn đề cơ bản của logic như là siêu hình học về chân lý (xem § 14). Tuy nhiên, cần phải ghi nhớ rằng chúng ta không cố gắng tiếp nhận nguyên lý lý tính trong bất kỳ công thức nào của nó và chứng minh nó. Thay vào đó, trước hết chúng ta quan tâm đến việc làm sáng tỏ ý nghĩa của nguyên lý này và những ý nghĩa mà nó có thể mang lại. Bằng cách làm rõ ý nghĩa của nguyên lý, bản chất chung của việc nó là một nguyên lý sẽ trở nên rõ ràng; từ đó, chúng ta có thể hình dung ra những khả năng nào để chứng minh nguyên lý này và loại bằng chứng nào mà nó đòi hỏi. Sẽ không chỉ lộn xộn mà còn vô nghĩa nếu thảo luận xem nguyên tắc này có hiển nhiên ngay lập tức hay được suy ra từ bản chất của lý trí, liệu nó dựa trên kinh nghiệm hay cung cấp một tiền đề thực tiễn, trước khi làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc. Có lẽ không quan niệm nào trong số đó liên quan đến bản chất của nguyên tắc. Nguyên tắc này quá phong phú khó mà bị ép buộc vào những sự phân biệt thông thường này.
______________________________________________
 
(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes 
1. Original edition, Rudolstadt, 1813, pp. 13- 14; Arthur Schopenhauer Sämtliche Werke, ed. P. Deussen, volume 3 (Munich, 1912), p. 11.
 
2. Cf. also the lecture course from the summer semester of 1926. Grundbegrjffe der antiken Philosophie [planned as volume 22 of the Gesamtausgabe]









 

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
 
§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực

Theo quan điểm này, trong mỗi trường hợp toàn bộ vũ trụ đều được nhìn nhận, như thể trong một viễn cảnh xác định về các hiện hữu và về cái khả thể. Nhưng quan điểm này bị khúc xạ theo một cách xác định, cụ thể là, trong mỗi trường hợp theo giai đoạn động lực của đơn tử. Nghĩa là, nó bị khúc xạ trong mỗi trường hợp theo khả tính tự thân thống nhất của đơn tử trong đa tính của nó. Sau đó cái ‘tự thân’ này trong ‘thống nhất tự thân’ thể hiện một thực tế là tình trạng đồng-hiện diện nhất định của chính nó được tìm thấy trong đơn tử như một prehensive drive động lực bao quát. Giờ đây, sự bộc lộ bản thân này có thể có nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn minh bạch đến vô cảm và bị cuốn hút bởi sự xao nhãng. Không đơn tử nào thiếu perceptio tri giác và [tr.96] appetitus khát vọng, do đó có một sự cởi mở nhất định đi kèm với chính nó, mặc dù điều này không nhất thiết phải là hoàn toàn tự-nhận thức. Mỗi đơn tử đều mở ngỏ với chính nó, cho dù ở mức độ mở ngỏ thấp nhất có thể. Theo đó, quan điểm cụ thể và khả tính thống nhất tương ứng, nhất tính của nó, tạo nên tính độc nhất của mỗi đơn tử. Bởi vì nó thống nhất—và đó là bản chất của nó—nên đơn tử tự cá thể hóa chính nó. Khả tính cá thể hóa vốn có dựa trên bản chất của nó với tư cách động lực. Tuy nhiên, trong quá trình cá thể hóa, trong động lực từ viễn cảnh riêng của nó, đơn tử thống nhất vũ trụ được nhận thức trước, chỉ theo khả tính của viễn cảnh đó. Do đó mỗi đơn tử tự nó là một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ (Thư gửi de Voider, ngày 20 tháng 6 năm 1703, G. II, 252) [L. 530]. Mỗi động lực tập trung vào chính nó, trong động lực của nó, thế giới trong mỗi trường hợp theo cách riêng của nó.
 
Nhưng bởi vì mỗi đơn tử, theo một cách riêng của nó, là ‘thế giới’, nên mỗi động lực đều đồng thuận với vũ trụ, chừng nào nó còn trình hiện thế giới. Bởi vì sự hòa hợp mà mỗi prehensive drive động lực toàn diện có với vũ trụ, nên bản thân các đơn tử cũng được kết nối với nhau. Ý tưởng về đơn tử như một động lực toàn diện hướng tới sự chuyển đổi ngụ ý rằng thế giới trong mỗi trường hợp đều thuộc về đơn tử trong một sự khúc xạ mang tính viễn cảnh, và tất cả các đơn tử như những đơn vị động lực đều được định hướng trước về một sự hài hòa đã được định sẵn, harmonia praestabilita hài hòa tiền định của toàn thể các hiện hữu. Trong mỗi đơn tử, toàn bộ vũ trụ đều hiện diện tiềm ẩn. Tuy nhiên, với tư cách là cấu trúc của thế giới hiện thực, the actualia các sự kiện hiện tại thì hài hòa tiền định là cái mà khi bị tác động, lại đối lập với đơn tử trung tâm, tức là Thiên Chúa. Động lực của Thiên Chúa là ý chí của Ngài. Nhưng cái tương quan của ý chí linh thiêng là sự tối ưu. Distinguendum inter ea, quae Deus potest, et quae vult: potest omnia, vult optima.-Actualia nihil alium sunt, quam possibilium (omnibus comparatis) optima. - Possibilia sunt quae non implicant contradictionem. (Letter to John Bernoulli, February 21, 1699; Math. Schr. 11112, 574) “Chúng ta phải phân biệt giữa những điều Chúa có thể làm và những điều Ngài muốn làm; Ngài có thể làm tất cả mọi việc, nhưng Ngài muốn điều tốt nhất. Những điều hiện thực không gì khác ngoài điều tốt nhất trong số những điều có thể, xét trên mọi khía cạnh. Những điều khả thể là những điều không hàm chứa mâu thuẫn.” (Thư gửi John Bernoulli, ngày 21 tháng 2 năm 1699; Math. Schr. 11112, 574) [L. 513]
 
Sự cá thể hóa diễn ra trong động lực với tư cách thống nhất luôn là thứ cá thể hóa của một hiện hữu thuộc về thế giới. Các đơn tử không phải là những mảnh miếng biệt lập tạo ra thế giới bằng cách cộng chúng lại, mà mỗi đơn tử, như một động lực, theo cách riêng của nó, tự thân là vũ trụ [tr.97]. Mỗi đơn tử trình hiện thế giới từ một quan điểm. Nói về đơn tử như một ‘thế giới nhỏ’, như một tiểu vũ trụ, không chạm đến cái bản chất, chừng nào mỗi đơn tử trong vận động lực đều nắm bắt toàn bộ thế giới trong nhất tính của nó, mặc dù đơn tử không bao giờ bao quát nó hoàn toàn. Mỗi đơn tử, tùy thuộc vào mức độ nhận thức riêng của nó, là một lịch sử thế giới làm cho thế giới hiện diện. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, vũ trụ được nhân lên nhiều lần bằng số lượng đơn tử có đó, cũng giống như cùng một thành phố được thể hiện khác nhau bởi mỗi tình huống khác nhau của từng người quan sát riêng biệt (Discours. §9)
 
Từ những điều đã nói, chúng ta có thể làm sáng tỏ hình ảnh mà Leibniz thường xuyên sử dụng để mô tả bản chất toàn diện của đơn tử: đơn tử là một tấm gương sống động của vũ trụ. Một trong những đoạn quan trọng nhất có trong Thư gửi de VoIder ngày 20 tháng 6 năm 1703 có viết: Entelechias Differentre necesse est, seu non esse penitus similes inter se, imo principia esse diversitatis, nam aliae aliter exprimunt universum ad suum quaeque Spectandi modum, idque ipsarum officium est ut sint totidem specula Vitalia rerum seu totidem Mundi concentrati. (C. II, 251/52) Điều cần thiết là các ἐντελέχεια entelechies (đơn tử) phải khác nhau hoặc không hoàn toàn giống nhau; trên thực tế, chúng là những nguyên tắc của đa tính, vì mỗi nguyên tắc thể hiện vũ trụ một cách khác nhau theo pre-hending cách nhìn riêng của nó. Và chính xác đây là nhiệm vụ đặc biệt của chúng, chúng phải là rất nhiều tấm gương sống hoặc rất nhiều thế giới tập trung. [L. 530]
 
Tuyên bố này chứa đựng nhiều điều: 1) Sự phân hóa của các đơn tử là cần thiết. Bản chất của chúng, với tư cách thống nhất, thuộc về mỗi đơn tử thống nhất từ ​​quan điểm riêng của nó, và do đó chúng tự thân cá nhân hóa. 2) Do cách nhìn nhận tri giác-khát vọng của chúng, bản thân các đơn tử là nguồn gốc của sự đa tính đặc thù của chúng. 3) Việc trình bày thống nhất này của vũ trụ trong mỗi quá trình cá nhân hóa chính xác là điều liên quan đến mỗi đơn tử trong hiện hữu của nó, động lực của nó. 4) Mỗi ​​đơn tử là vũ trụ ở dạng cô đọng, concentrationes universi các vũ trụ kết hợp lại (Thư gửi de VoIder, 1705; G. II, 278) [L. 530]. Trung tâm của sự cô đọng là động lực được xác định từ một quan điểm cụ thể. 5) Đơn tử là một speculum vitale [tấm gương sống] (cf. Principes de la Nature et de la Grace., §3; Mondalogie, §63 và 77; Thư gửi Remond từ tháng 7 năm 1714) [L. [637, 649, 651, 656, tương ứng]. Monad là một miroir acti tấm gương sống, không thể phân chia, một sự phản chiếu chủ động, không thể phân chia, đơn giản. Gương, speculum (cùng gốc với từ Latin spectare, loài), có nghĩa là làm cho trở nên khả kiến. Nhưng đơn tử làm cho trở nên khả kiến với tư cách động lực. Nghĩa là, nó phản chiếu như một sự nắm bắt trước, [tr.98] và chỉ trong hoạt động này, sự hiện thân cụ thể của thế giới mới xuất hiện. Phản chiếu không phải là một sự sao chép cố định, mà là động lực hướng tới những khả tính mới được định trước của chính nó. Tấm gương đơn giản bởi vì sự sở hữu trước đó của vũ trụ duy nhất từ ​​một quan điểm mà từ đó chính sự đa dạng lần đầu tiên trở nên khả kiến.
 
Giờ đây chúng ta có thể nắm bắt rõ hơn bản chất của thực thể hữu hạn từ một khía cạnh chưa xem xét. Leibniz đã viết (trong Thư gửi de VoIder ngày 20 tháng 6 năm 1703; G. II, 249): Omnis substantia est activa, et omnis substantia finita est passiva, passioni autem connexa resistentia est [Mọi thực thể hữu hạn đều hoạt động, mọi thực thể hữu hạn cũng đều thụ động, và gắn liền với tính thụ động này là sự kháng cự, L. 528]. Điều này có nghĩa là gì? Thực thể là hoạt động, là động lực. Trong mọi động lực hữu hạn xảy ra trong một viễn cảnh cụ thể, luôn luôn và nhất thiết phải có một cái gì đó kháng cự chống lại động lực đó. Bởi vì, khi hướng ra khỏi một quan điểm cụ thể về phía toàn bộ vũ trụ, có rất nhiều thứ không phải là động lực đó. Nó bị biến đổi bởi quan điểm. Bởi vì động lực có thể là toàn bộ vũ trụ theo cách tiềm tang, nhưng trên thực tế lại không phải, nên vì lý do này, động lực có liên quan đến sự kháng cự trong quá trình vận hành của nó. Chừng nào đơn tử luôn là toàn thể từ một quan điểm, thì chính xác là nó hữu hạn khi nó được sắp xếp trật tự theo vũ trụ. Nghĩa là, đơn tử liên quan đến sự kháng cự, đến một cái gì đó không phải là nó, nhưng cũng hoàn toàn có thể là nó. Tính thụ động này, theo nghĩa là cái mà động lực không thúc đẩy, thuộc về tính hữu hạn của động lực.
 
Khía cạnh phủ định này, thuần túy như một khoảnh khắc cấu trúc của động lực hữu hạn, đặc trưng cho bản chất của cái mà Leibniz hiểu là materia prima vật chất nguyên thủy. Materia prima cuilibet Entelechiae est essentialis, neque unquam ab ea separatur, cum earn compleat et sit ipsa potentia passiva totius substantiae completae. Neque enim materia prima in mole seu impenetrabilitate et extensione consistit. (Letter to des Bosses, October 16, 1706; G. II, 324) “Vật chất nguyên thủy là thiết yếu đối với bất kỳ ἐντελέχεια entelechia cái hoàn thành nào, và nó không bao giờ có thể tách rời khỏi nó vì nó hoàn thiện cái entelechia và là sức mạnh thụ động của toàn bộ thực thể hoàn chỉnh. Bởi vì vật chất nguyên thủy không bao gồm khối lượng cũng không bao gồm tính bất khả nhập thấu và sự mở rộng.” (Thư gửi des Bosses, 16/10/1706; G. II, 324)
 
Do tính thụ động nguyên thủy thiết yếu này, nên đơn tử có khả năng nội tại kết nối với materia secunda vật chất thứ cấp, tức là với massa, với sức kháng cự nhất định theo nghĩa khối lượng và trọng lượng vật chất. (Xem thêm về điều này trong thư từ của Leibniz với nhà toán học John Bernoulli và với tu sĩ dòng Tên des Bosses, giáo sư triết học và thần học tại trường dòng Tên ở Hildesheim.) Khoảnh khắc cấu trúc này [tr.99] cung cấp cho Leibniz nền tảng làm cho việc kết nối đơn tử với một vật thể vật chất (materia secunda, vật chất thứ cấp, massa) trở nên dễ hiểu về mặt siêu hình và chứng minh khẳng định tại sao extensio sự mở rộng không thể cấu thành bản chất của thực thể. Ở đây chúng ta không thể tiếp tục điều này, cũng như không thể đi sâu hơn vào sự phát triển của thuyết đơn tử và các nguyên tắc siêu hình liên quan đến nó.
 
Vấn đề có tính dẫn dắt của chúng ta là cái cách mà logic bắt nguồn từ siêu hình học, cái cách mà học thuyết phán đoán bắt nguồn từ học thuyết về thực thể, và lý thuyết đồng nhất tính trong đơn tử luận. Đơn tử luận định nghĩa tính thực thể của thực thể, nhất tính của một hiện hữu với tư cách một hiện hữu. Do đó, nhất tính được hình dung như là thống nhất nguyên thủy. Nghĩa là, ‘monas’ đơn tử chứng tỏ là động lực. Động lực ấy là một xu hướng bao quát hướng tới sự chuyển đổi. Động lực thống nhất như thế nào, và nó được cá thể hóa như thế nào trong sự thống nhất? Động lực thống nhất như một sự nắm bắt trước. Do đó, nó thống nhất với một cái nhìn hướng tới nhất tính, bên trong một quan điểm. Trong mỗi trường hợp mỗi quan điểm đều mang tính dẫn dắt, và trong mỗi trường hợp cái toàn bộ đều được nhận thức từ quan điểm này. Do đó, mỗi đơn tử đều là một viễn cảnh của vũ trụ hay một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ, và trong chừng mực một đơn tử, nó đồng thuận với các đơn tử khác. Do đó, các đơn tử ‘không có cửa sổ’, bởi vì chúng không cần cửa sổ nào (Monadologie, §7, G. VI, 607) [L. 643]. Không có dòng chảy vào, không phải vì nó không thể giải thích được, mà vì nó sẽ trở nên dư thừa.
 
Tóm tắt, Leibniz viết: Non credo systema esse possibile, in quo Monades in se invicem agent, quia non videtur possibilis explicandi modus. Addo, et superfluum esse influxum, cur enim det monas monadi quod jam habet? Nempe haec ipsa natura substantiae est, ut praesens sit gravidum futuro et ut ex uno intelligi possint omnia, saltern ni Deus miraculo intercedat. (Letter to des Bosses, August 19, 1715; G. II, 503). “Tôi không tin rằng có một hệ thống nào mà trong đó các đơn tử tác động lẫn nhau, vì dường như không có cách nào giải thích được hành động như vậy. Tôi nói thêm rằng ảnh hưởng là dư thừa, vì sao một đơn tử lại phải cho một đơn tử khác những gì nó đã sở hữu? Bản chất của thực thể là ở chỗ hiện tại là lớn lao với tương lai và mọi thứ có thể được hiểu từ một thứ, ít nhất là nếu Thiên Chúa không can thiệp bằng một phép màu. (Thư gửi des Bosses, ngày 19 tháng 8 năm 1715; G. II, 503) [L. 613]
 
Cần phải diễn giải đơn tử luận để làm sáng tỏ nền tảng siêu hình thực sự của logic Leibniz. Chúng ta đã đạt được nền tảng này trong cấu trúc đơn tử của ens qua substantia tồn tại với tư cách thực thể. Đồng thời, kết quả của chúng ta [tr.100] cần một nền tảng sâu sắc hơn nữa: vấn đề về ens qua essentia tồn tại với tư cách bản chất và tồn tại với tư cách existential tồn tại, tồn tại như một cái gì đó khả thể, tức là một thực tại tính khả thể. Nhưng để đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ loạt bài giảng, chúng ta phải bỏ qua mục 16, “Cấu trúc cơ bản của tồn tại nói chung - essentia bản chất và conatus existentiae nỗ lực tồn tại.” Hãy xem lại các cuộc thảo luận về ‘Bản chất và tồn tại: những cấu trúc cơ bản của hiện hữu’ trong các bài giảng từ học kỳ hè năm 1927.13 Cuộc thảo luận về quan niệm của Leibniz về bản chất và tồn tại, dự kiến ​​được thực hiện trong mục 16, đòi hỏi những cân nhắc tương đối sâu rộng và một sự giải thích văn bản kỹ lưỡng, đặc biệt là vì Leibniz chỉ đề cập đến những vấn đề này trong rất ít đoạn văn. (§6 không được xây dựng cho Khóa học này).
 
§7. Lý thuyết Phán đoán và Quan niệm về Hiện hữu. Logic và bản thể luận
 
Để mô tả logic của Leibniz, chúng ta bắt đầu với học thuyết phán đoán của ông. Khi làm như vậy, chúng ta đã theo đuổi một mối liên hệ được thiết lập trong triết học từ thời cổ đại, cụ thể là phán đoán như là phương tiện và vị trí thực sự của chân lý. Chính xác hơn, mệnh đề là cái có thể chân hoặc giả khi nói về một cái gì đó. Mặt khác, việc chỉ đơn thuần trình bày một cái gì đó bằng trực giác trực tiếp đơn giản, chẳng hạn như tri giác, được cho là không chân cũng không giả; một cái gì đó hoặc được trực giác hoặc không. Nếu, trái ngược với phán đoán ‘chiếc bảng thì đen’, tôi chỉ đơn giản nghĩ: bảng-đen, không ‘khẳng định’ bất cứ điều gì, và do đó không tuyên bố rõ cái gì là ‘chân’ hay ‘giả’. Giờ đây, vì đặc điểm riêng biệt của tri thức theo đúng nghĩa chân lý - tri thức giả không phải là tri thức về một cái gì đó - tuy nhiên vì chân lý nằm trong mệnh đề, trong phán đoán, nên việc biết đồng nghĩa với phán đoán. Nhận thức luận đương đại là logic. Việc tìm hiểu bản chất của chân lý chuyển sang lý thuyết về phán đoán.
 
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tổ chức và tiếp cận một học thuyết về bản chất của phán đoán như vậy. Giải thích ‘phán đoán’ trong bản chất của nó có nghĩa là gì? Phán đoán là một hoạt động của con người. Với tư cách là một phán đoán về các hiện hữu, phán đoán-về tự nó có [tr.101] liên quan đến các hiện hữu. Chúng ta gọi mối quan hệ này với các hiện hữu là ‘ý hướng tính’. ‘Phán đoán về’ tự nó là có tính ý hướng. Tuy nhiên, ngay cả việc chỉ nhìn vào một thứ gì đó, ví dụ như tri giác bức tường, cũng có liên quan đến một thứ gì đó. Vậy điều gì đầu tiên đặc trưng cho tính ý hướng của phán đoán? ‘Phán đoán về’, đưa ra tuyên bố về, tự nó là một sự xác định, và một sự xác định trong đó cái được phán đoán được xác định trong quá trình phán đoán. Trong phán đoán về bảng đen với tư cách màu đen, thì màu đen được đặt trong mối quan hệ với bảng. Do đó, vẫn còn một mối quan hệ khác. Và mối quan hệ này bây giờ xác định cái mà phán đoán được đưa ra. Không chỉ có mối quan hệ mà Dasein phán đoán có với cái mà phán đoán được đưa ra, mà phán đoán được đưa ra tự nó lại được diễn đạt theo mối quan hệ, được diễn đạt bằng một mối quan hệ. Như vậy, mối quan hệ có tính ý hướng của việc đưa ra tuyên bố tự nó là một mối quan hệ liên hệ. Việc có mối quan hệ có tính ý hướng, như một cách có chủ đích, tạo ra một sự liên hệ bổ sung, theo nghĩa xác định một cái gì đó là một cái gì đó. Mối quan hệ có tính ý hướng mà mệnh đề có với cái mà phán đoán được đưa ra tự nó được phân nhánh, có thể biểu diễn một cách thô sơ, không đầy đủ như sau: Dasein – Phán đoán – sự vật hiện diện – sự xác định.
 
Lời tuyên bố sở hữu một ý hướng tính tham chiếu. Nó là một mối quan hệ phân nhánh duy nhất ban đầu (nhất tính của tổng hợp và phân nhánh) chứ không phải là hai hoặc nhiều mối quan hệ không phân nhánh nằm cạnh nhau hoặc nối tiếp nhau. Trước hết tôi không tri giác bảng rồi đến đen và sau đó kết hợp cả hai tri giác đó. Trong từ ‘là’ của phán đoán ‘A là B’, có cả từ ‘là’ của mối quan hệ với một hiện hữu và sự phân nhánh. Câu hỏi về bản chất của chân lý, chân lý được hiểu là nằm trong phán đoán, đã trở thành câu hỏi về bản chất của phán đoán. Vậy là trước hết phán đoán cho thấy cấu trúc của ý hướng tính cùng sự phân nhánh, và cả hai đều là cấu trúc của phán đoán Dasein. Dasein là gì, làm thế nào nó có thể đưa ra tuyên bố và phải đưa ra theo cách thức ý hướng tính bị phân nhánh? Khả tính nội tại của phán đoán được đặt nền tảng ở đâu với tư cách là phương thức hoạt động đặc trưng của Dasein? Chúng ta cần làm sáng tỏ cấu trúc hiện hữu của Dasein, trước hết là ở khía cạnh xác định này, sau đó cuối cùng liên quan đến một bản thể luận, một siêu hình học của Dasein.
 
[Ghi chú về ‘Metaphysics of Dasein’: Ngay sau khi Heidegger hoàn thành tác phẩm kinh điển Sein und Zeit Hữu thể và Thời gian vào khoảng mùa thu năm 1926, đã có sự thay đổi trong cách ông sử dụng thuật ngữ ‘siêu hình học’. Cần nhớ rằng Sein und Zeit được viết để phản đối ‘siêu hình học’. Dòng đầu tiên của cuốn sách không để lại chút nghi ngờ nào: ‘Vấn đề [về tồn tại] ngày nay đã bị lãng quên—mặc dù thời đại của chúng ta tự coi mình là tiến bộ khi khẳng định lại ‘siêu hình học’’’ (Heidegger, 2001a: tr. 2/1). Ở đây Heidegger ở đây đề cập đến một ‘sự hồi sinh của siêu hình học’ đã trở nên phổ biến vào đầu thế kỷ 20 với các tác giả như Georg Simmel, Nicolai Hartmann hoặc Peter Wust (ông đã viết một cuốn sách có tên Die Auferstehung der Metaphysik Cuộc hồi sinh của Siêu hình học vào năm 1920). Theo Sein und Zeit, siêu hình học ‘mới’ này đã sai lầm khi tin rằng nó ‘không cần phải nỗ lực khơi lại γιγαντομαχία περὶ τῆς οὐσίας gigantomachia peri tēs ousias’ ‘cuộc chiến của những gã khổng lồ về bản thể’ vốn ‘đã duy trì sự nghiên cứu hăng say của Plato và Aristotle’. Nhưng trong khi viết cuốn sách của mình, Heidegger bắt đầu suy ngẫm về khả năng của một thứ mà ông mô tả là ‘siêu hình học khoa học’. Vào mùa đông năm 1926/27, trong khóa giảng dành cho ‘Lịch sử Triết học từ Thomas Aquinas đến Kant’, Heidegger đã nói về bản thể luận hiện tượng học của mình như một siêu hình học khoa học và mô tả câu hỏi về tồn tại của ông như một câu hỏi siêu hình. Những năm tiếp theo đã cho Heidegger cơ hội để phát triển một dự án triết học mới không hoàn toàn giống với bản thể luận nền tảng và ông đặt tên cho nó là „Metaphysik des Daseins“ Siêu hình học về Dasein. Trong nhiều năm, dự án siêu hình học này có thể được coi là một điều kỳ lạ mà Heidegger chỉ đề cập đến vào năm 1929, trong phần thứ tư của tác phẩm Kant und das Problem der Metaphysik Kant và Vấn đề Siêu hình học. Nhưng với việc xuất bản gần đây các bài giảng được tổ chức vào cuối những năm 1920 trong Gesamtausgabe Toàn tập Heidegger, người ta không thể không xem xét Heidegger thực sự đang cố gắng đặt nền móng cho một siêu hình học mới—thực sự cố gắng để trở thành một nhà siêu hình học. Tất nhiên, điều này không kéo dài. Chúng ta biết rằng vào giữa những năm 1930, Heidegger đã bắt đầu một con đường mới, bỏ lại siêu hình học phía sau. Nhưng trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến năm 1930, chúng ta phải thừa nhận rằng Heidegger đã cố gắng đưa ra một câu trả lời siêu hình học cho câu hỏi về sự tồn tại. Và đây phải là một khám phá đáng ngạc nhiên nếu chúng ta xét thấy Heidegger thường được coi là ‘Đại Phán quan’ đã loại bỏ siêu hình học khỏi triết học Lục địa Đương đại một cách dứt khoát. Nhưng vào cuối những năm 1920, Heidegger không bao giờ nói về việc vượt qua, mà đúng hơn là về việc khôi phục lại những câu hỏi cơ bản của siêu hình học. Theo Jaran, François (2010). Toward a Metaphysical Freedom: Heidegger’s Project of a Metaphysics of Dasein. In International Journal of Philosophical Studies, vol. 18, no. 2, 2010, pp. 205–227. - HHN]

[Tr.102] Nhưng bây giờ chúng ta hãy đi sâu hơn vào câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa phán đoán và chân lý. Nói rằng chân lý có vị trí của nó trong mệnh đề có nghĩa là gì? Chân lý có phải là một ‘thuộc tính’ của phán đoán, giống như màu sắc là thuộc tính của một sự vật vật chất không? Điều này cũng chỉ có thể được quyết định sau khi chúng ta làm rõ cách thức chân lý liên quan đến Dasein phán đoán và đến Dasein nói chung. Chỉ khi nào khả tính nội tại của chân lý trở nên rõ ràng thì khả tính tri thức, và do đó cả khả tính phán đoán và tư duy, mới trở nên dễ hiểu, chứ không phải ngược lại! Hàm ý của điều này đối với khái niệm logic là ở chỗ nhiệm vụ của logic, nói một cách tổng quát, là làm sáng tỏ bản chất của chân lý. Tuy nhiên, nếu việc làm sáng tỏ bản chất của chân lý chỉ có thể được thực hiện với tư cách một siêu hình học, một bản thể luận, thì logic phải được hình dung như là siêu hình học của chân lý.
 
Do đó, chúng ta đã lần theo những đặc điểm học thuyết phán đoán của Leibniz theo một con đường mà trên đó chúng ta bắt gặp đặc tính của ‘chân lý’: Phán đoán là sự kết nối, chính xác hơn là sự bao hàm; đặc điểm chính của mối quan hệ chủ ngữ-vị ngữ là đồng nhất tính, nhưng đối với Leibniz, tự nó là chân không có gì khác hơn là có tính đồng nhất. Sự biện minh, làm rõ và chứng thực tính đúng đắn được thực hiện bằng cách quy giản về các đồng nhất tính và được biến thành khả thể bởi sự nhất quán lẫn nhau của các xác định được coi là tương thích trong nhất tính của cái mà phán đoán được đưa ra, trong nhất tính của chủ thể. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng quan niệm về phán đoán và chân lý ở đây không chỉ đề cập đến những chân lý bản chất mà còn cả những chân lý hiện sinh. Và điều này có nghĩa là tất cả các mệnh đề khả thể xác định một hiện hữu cá nhân nhất định phải được quy giản một cách lý tưởng thành một sự kết nối của các đồng nhất tính thuần túy. Theo cách này, chúng là các xác định của những gì thuộc về nhau. 
 
Đa tính của những gì thuộc về nhau, để có thể trở thành một chỉnh thể nhất quán khả thể, đòi hỏi một nhất tính của tình trạng thuộc về nhau. Tuy nhiên, đây phải là một nhất tính có trước, bởi chỉ bằng cách đó nó mới có thể hoạt động như một tiêu chuẩn cho sự mạch lạc của vạn vật hoặc cho tính không mạch lạc của những gì được cho là mạch lạc. Sự mạch lạc của một đa tính, như là trạng thái thuộc về nhau một cách thích hợp, đòi hỏi một nhất tính điều chỉnh trước. Việc quy giản về nhất tính, như một tổng thể của các xác định tương thích và tương thích mạch lạc, như một phương thức phán đoán về các hiện hữu, chỉ khả thể về phương diện siêu hình học nếu bản thân hiện hữu đó được cấu thành bởi một nhất tính nguyên thủy. Leibniz nhìn thấy nhất tính này trong cấu trúc đơn tử của thực thể. Do đó, cấu trúc đơn tử của các hiện hữu là nền tảng siêu hình cho lý thuyết phán đoán và cho lý thuyết đồng nhất tính về chân lý. Việc chúng ta phân tích học thuyết phán đoán của Leibniz xuống các vấn đề siêu hình cơ bản [tr.103] được hoàn thành ở đây. Chúng ta đặc biệt phải ghi nhớ rằng mỗi đơn tử là một tấm gương, là vũ trụ tiềm tàng. Do đó, nó được phối hợp một cách lý tưởng với vũ trụ như là đối tượng của tri thức linh thánh tuyệt đối. Bằng cách này, chúng ta đã có được cơ sở siêu hình cho ý niệm về tri thức như là intuitus trực giác, cho cái lý tưởng về tri thức như là cognito adaequata intuitive tri thức trực giác đầy đủ, như là tính minh bạch tuyệt đối, nhận thức thuần túy và giản phác của đơn tử.
 
Do đó, logic chân lý của Leibniz chỉ có thể khả thể trên cơ sở siêu hình học đơn tử về thực thể. Logic này về cơ bản có các nền tảng siêu hình. Thật vậy, như sự xem xét triệt để có thể chứng minh, nó không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý. Đúng là bản thân Leibniz không hề trình bày rõ ràng về vấn đề các nền tảng siêu hình học của logic. Ngược lại, khuynh hướng phát triển logic từ chính nó và siêu hình học, như thể, từ logic của ông được thể hiện nhiều lần. Và trong nỗ lực này, các khái niệm về siêu hình học và logic được bảo tồn trong các đặc điểm cơ bản của chúng, bất chấp mọi sự biến đổi của các vấn đề cụ thể của chúng. Định hướng của chúng ta đối với logic của Leibniz và mối liên hệ của nó với siêu hình học có nhiệm vụ trước hết là làm cho chân trời của các vấn đề khả thể trong lĩnh vực này trở nên khả kiến ngay từ đầu, để loại bỏ bớt tính xa lạ khỏi các cuộc thảo luận thuần túy mang tính hệ thống sẽ diễn ra sau đó. Nhưng đặc biệt hơn, chúng ta đã cố gắng bác bỏ giả định rằng logic là một thứ gì đó trôi nổi tự do, một thứ gì đó chỉ thu lu bên trong bản thân nó.
 
Tất nhiên, vẫn có lập luận cho rằng tính ưu việt của logic so với siêu hình học có thể được chứng minh một cách thuyết phục. Lập luận này có thêm lợi thế là có khả năng giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa chúng dựa trên các khái niệm khá tổng quát về logic và siêu hình học, mà không cần đi sâu vào các vấn đề cụ thể thuộc về nội dung của logic hay siêu hình học. Trong khi luận điểm của chúng ta là: a) Logic được đặt nền tảng trong siêu hình học, và b) Logic không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý; thì lập luận khác lại dựa trên 1) Giả định cho rằng logic trôi nổi tự do, một thứ tư duy nào đó cứ như thể tối thượng vậy, và 2) Lập luận chung rằng logic có tính ưu việt hơn tất cả các ngành khoa học, một lập luận bắt nguồn từ giả định đầu tiên. Lập luận này có ưu điểm là a) Được duy trì một cách tổng quát, về hình thức, mà không đi sâu vào nội dung của các ngành siêu hình học và logic, và b) Dễ hiểu ngay lập tức ở cấp độ thông thường. Người ta cho rằng siêu hình học, với tư cách là một khoa học, hiểu biết, và do đó nó là một loại tư duy; với tư cách là tư duy, nó [tr.104] giả định khoa học về tư duy, và do đó giả định logic. Lập luận khẳng định rằng logic là tiền đề của siêu hình học, vì nếu không có nó thì ngay cả siêu hình học cũng không thể được biện minh hoặc thực hiện. Giờ đây, bởi vì lập luận này có giá trị đối với mọi ngành khoa học, đối với mọi hiểu biết và tư duy, do đó ‘logic’ giả định logic! Một kết luận được rút ra nhất quán như vậy đương nhiên khiến người ta phải suy nghĩ, đặc biệt là liệu lập luận đó có giải thích được điều gì về mối quan hệ giữa logic và siêu hình học hay không. Bởi vì lập luận này áp dụng như nhau cho cả logic và siêu hình học. Nếu đúng như vậy, thì lập luận này cuối cùng phải được kiểm chứng bằng những hệ quả của nó.
 
Lập luận cho rằng siêu hình học, với tư cách là tri thức triết học và hiểu biết, chính là một dạng tư duy. Tư duy đòi hỏi logic, và trước khi có thể đặt nền móng cho siêu hình học, thì logic phải được thiết lập làm nền tảng cho siêu hình học, chứ không phải ngược lại. Dễ dàng nhận thấy rằng lập luận này có thể được áp dụng cho mọi ngành khoa học, với kết luận rằng logic phải cung cấp tiền đề cho tất cả các ngành khoa học. Nhưng cuối cùng, chính khả tính áp dụng lập luận này cho bất kỳ ngành khoa học nào lại phản bác tuyên bố cho rằng logic là tiền đề của tất cả các ngành khoa học, và do đó đặc biệt là của siêu hình học. Vì ở đây ‘tiền đề’ có nghĩa là gì? Mọi ngành khoa học, bao gồm cả siêu hình học, và mọi hình thức tư duy tiền khoa học đều sử dụng, như một dạng tư duy, các quy tắc hình thức của tư duy. Việc sử dụng các quy tắc của tư duy trong quá trình tư duy là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta hãy tạm thời bỏ ngỏ câu hỏi tại sao lại như vậy. Nhưng liệu từ tính chất không thể tránh khỏi của việc sử dụng các quy tắc trong quá trình tư duy có suy ra được rằng khoa học có cơ sở trong logic hay không? Hoàn toàn không. Tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc tự nó không nhất thiết ngụ ý tính không thể tránh khỏi của logic. Việc sử dụng quy tắc không nhất thiết đòi hỏi một khoa học về các quy tắc tư duy và chắc chắn không phải là một tri ​​thức lý luận về các quy tắc này theo nghĩa của logic truyền thống. Bởi vì nếu không, sự biện minh có suy nghĩ cho chính logic về bản chất sẽ là không thể hoặc trở nên dư thừa.
 
Ngay cả khi người ta muốn thừa nhận rằng tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc trong tư duy khoa học ngụ ý tính không thể tránh khỏi của logic đối với khoa học và siêu hình học, điều này đồng nghĩa với việc logic là nền tảng của khoa học. Quá trình tư duy và việc sử dụng các quy tắc, trong số những điều khác, là những yêu cầu xuất phát từ bản chất của khoa học, nhưng bản chất của khoa học lại không có khả tính nội tại trong quá trình tư duy và việc sử dụng các quy tắc. Hơn nữa, điều ngược lại cũng đúng. Tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc chỉ có thể được thiết lập từ khả tính nội tại [tr.105] thiết yếu của khoa học, và chỉ có thể được biện minh về mặt siêu hình học. Không chỉ việc sử dụng quy tắc, mà chính các quy tắc cũng cần đến siêu hình học để biện minh. Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng sự biện minh siêu hình học này đối với các quy tắc logic lại giả định tư duy khoa học, giả định chính các quy tắc và tất yếu sử dụng chúng.
 
Vì vậy, tính ưu việt của các quy tắc tư duy, dù có quanh co khúc khuỷu thế nào đi nữa, cũng không thể bị bác bỏ. Trên thực tế, lập luận này không thể né tránh. Nhưng đặc biệt không thể né tránh câu hỏi liệu các điều kiện cần thiết cho hoạt động của tư duy có được định trước đối với bản chất của tư duy và trước cái mà tư duy như một hoạt động của Dasein dựa trên đó, hay ngược lại, bản chất của Dasein và tư duy trước tiên làm cho các điều kiện hoạt động của tư duy và cách thức mà chúng nhất thiết phải được sử dụng trở nên khả thể. Tư duy và việc sử dụng quy tắc có thể là không thể tránh khỏi đối với hoạt động của mọi tư duy, và do đó cũng là để thiết lập siêu hình học, nhưng điều này không có nghĩa là nền tảng nằm ở việc sử dụng các quy tắc. Ngược lại, điều đó chỉ đơn giản dẫn đến thực tế là việc sử dụng quy tắc tự nó cần được biện minh. Và điều đó càng củng cố kết luận cho rằng lập luận có vẻ hợp lý này hoàn toàn không có cơ sở để thiết lập một nền tảng nào cả. Lập luận từ tính tất yếu của việc sử dụng quy tắc chỉ có thể dựa vào thực tế này, cái thực tế về tính tất yếu của nó, nhưng nó thậm chí không thể biến thực tế này, trong khả tính nội tại của nó, thành một vấn đề, chứ đừng nói đến việc giải quyết nó. 
 
Do đó: 1) Logic thậm chí không phải là điều kiện hoạt động cho tư duy mà chỉ là một khoa học về các quy tắc theo đúng nghĩa được lưu giữ trong một truyền thống. 2) Nhưng nếu nó là một khoa học về quy tắc, thì rõ ràng logic, ở dạng truyền thống của nó, không thể làm sáng tỏ hay biện minh cho chính những quy tắc này trong bản chất của chúng. 3) Trong chừng mực khả tính nội tại của một cái gì đó cung cấp nền tảng phải có trước đối với hoạt động thực tế và các điều kiện của tư duy, thì việc giải thích khả tính nội tại của tư duy, theo đúng nghĩa, lại là tiền đề của ‘logic’ như một khoa học về các quy tắc của tư duy. 4) Toàn bộ vấn đề về tính ưu tiên khả thể của siêu hình học so với logic hoặc logic so với siêu hình học không thể được đặt ra, thảo luận và giải quyết bằng logic, trừ khi logic được coi là siêu hình học của chân lý. Nếu có thể thảo luận những vấn đề này theo cách thức của siêu hình học, thì việc sử dụng các quy tắc logic chắc chắn là một trong những điều kiện để nó hoạt động.
 
Những điều đã nói ở trên đủ để chứng minh luận điểm ưa thích về tính ưu việt của logic. Đây là một luận điểm kinh điển - đối với tất cả các ngụy biện. Nó khơi gợi ảo tưởng, và có thể làm như vậy bất cứ lúc nào, và nó đang [tr.106] thúc đẩy một nền tảng tối thượng mà không dựa vào bất kỳ cơ sở áp chót nào. Mọi sự biện minh thấu triệt đều bị bác bỏ bởi thực tế là, với tư cách biện minh, nó thậm chí còn tư duy. Mặc dù, trong ảo tưởng này, nó viện dẫn đến một điều gì đó mà nó không thể đưa ra lời biện minh, tuy nhiên - và đây là điều ngụy biện - nó tạo ra vẻ ngoài rằng lập luận hình thức này là chặt chẽ nhất và mọi sự biện minh chỉ thỏa đáng trong phương thức lập luận hình thức. Sẽ là sai lầm nếu tin rằng, bởi vì mang tính hình thức và trống rỗng, nên luận điểm này có thể bị bác bỏ theo cùng một cách, về mặt hình thức. Thay vào đó, sự bác bỏ chỉ bao gồm việc chỉ ra tại sao luận điểm này là khả thể và tại sao nó thậm chí là cần thiết trong một số tiền đề nhất định. Ngay từ bước đầu tiên đưa ra lý lẽ biện minh cho lập luận, ta thấy rõ rằng lập luận này sống và nuôi dưỡng dựa trên một điều gì đó, điều mà chính lập luận đó không những không thể tạo ra mà thậm chí nó còn tin rằng mình phải phủ nhận!
 
Lập luận này không phải là tùy tiện. Nó có nguồn gốc siêu hình và do đó xuất hiện lặp đi lặp lại, đặc biệt là ở bất cứ nơi nào người ta tìm kiếm một nền tảng triệt để. Và vì vậy, Leibniz hết lần này đến lần khác tiến gần đến việc đặt nền móng cho siêu hình học trên cơ sở logic, có lẽ rõ ràng và nhấn mạnh nhất trong cái luận thuyết đã được đề cập nhiều lần, Primae veritates Chân lý Đầu tiên (C. 581-23) [L. 267]. Logic đương đại cho thấy một sự bóp méo mới về vấn đề này. Siêu hình học không chỉ bị quy giản thành logic, mà bản thân logic cũng bị quy giản thành toán học. Logic đương đại là logic tượng trưng, ​​logic toán học, và do đó là một logic tuân theo phương pháp toán học. Ngay cả khi, thông qua những suy ngẫm trước đây về Leibniz, và có thể sử dụng các thuật ngữ ‘siêu hình học’ cùng ‘logic’ với nội dung xác định hơn, nhưng chúng ta vẫn không thể giải quyết được vấn đề về mối quan hệ giữa siêu hình học và logic thông qua những thảo luận chung chung như vậy. Điều này đặc biệt đúng bởi vì trước chúng ta không có hai ngành học vững chắc, ổn định có thể đơn giản được đặt đối lập với nhau. Thay vào đó, điều quan trọng là phải nêu ra một vấn đề trung tâm của logic trên nền tảng của những suy tư trước đó, chủ yếu hướng về lịch sử, và làm rõ vấn đề theo phương thức cho thấy một cung cách cụ thể logic chỉ có thể khả thể như là siêu hình học về chân lý. Cũng như trong tất cả các nhiệm vụ triết học đặt nền móng, điều quan trọng hàng đầu là phải lưu ý rằng việc đặt nền móng không có nghĩa là đặt thêm một nền tảng khác dưới một ngành học đã hoàn thiện. Việc đặt nền móng luôn hàm ý một bản phác thảo mới. Mỗi nền tảng cho triết học phải biến đổi chính triết học, nhưng sự biến đổi chỉ có thể thực hiện được khi nắm bắt và duy trì những gì là thiết yếu.
 
Để kết thúc phần chính đầu tiên của loạt bài giảng, cần nhắc lại [tr.107] rằng mục tiêu của chúng ta, nói chung, là một logic triết học. Nghĩa là, chúng ta đang tìm kiếm nền tảng siêu hình học của logic. Như một lời giới thiệu cụ thể về vấn đề siêu hình học cơ bản, chúng ta đã sử dụng việc tháo dỡ logic của Leibniz - về nguyên tắc điều này cũng có thể thực hiện được với Plato hoặc Aristotle. Mối liên hệ giữa lý thuyết đồng nhất tính và đơn tử luận vậy là đã trở nên rõ ràng. Mối liên hệ này chứng minh cho khẳng định của chúng ta cho rằng logic được xây dựng trên cơ sở siêu hình học và không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý. Một cuộc thảo luận sơ bộ quan trọng đã được dành cho lời phản bác thường thấy duy trì tính ưu việt của logic. Điều kiện cần thiết để làm một việc gì đó là không thể được đồng nhất với lý do cho cái khả tính nội tại của những gì có thể được thực hiện. Việc viện dẫn điều kiện cần thiết này không tạo ra nền tảng nào; ngược lại, nó thu hẹp câu hỏi và cản trở con đường tìm tòi. Tính mù quáng đặc trưng của lập luận này được thể hiện qua việc nó xuất hiện lặp đi lặp lại. Và với điều này, chúng ta sẽ bước vào phần thứ hai của Khóa học.
_____________________________________
 
(Còn nữa)
 
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes
 
13. [Published as volume 24 of the Gesamtausgabe: Die Grundprobleme der Phenomenologie, ed. F.-W. von Herrmann (Frankfurt a.M., 1975)] [The Basic Problems of Phenomenology, translation, introduction and lexicon by Albert Hofstadter (Bloomington: Indiana University Press, 1982).]