Powered By Blogger

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

[Tr.195] Cái vòng tròn tường giải thuộc về cấu trúc của ý nghĩa, và hiện tượng này bắt rễ từ cấu trúc hiện sinh của Dasein—tức là bắt rễ từ chính sự thấu hiểu mang tính tường giải. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Hermeneutische Zirkel/ Hermeneutic Circle ‘Vòng tròn Tường giải’ có nghĩa là mọi sự hiểu biết của con người đều mang tính chất vòng tròn: chúng ta chỉ có thể hiểu một đối tượng khi dựa vào những giả định nền tảng có sẵn, và chính những giả định đó lại được kiểm chứng cũng như định hình lại thông qua những gì chúng ta học hỏi được. Heidegger lập luận rằng vòng tròn này không phải là một sai lầm logic cần tránh né. Nó là điều kiện cơ bản, tất yếu của Dasein hiện hữu người trong đó có: i) Tiền-cấu trúc của tri thức - chúng ta không bao giờ tiếp cận thế giới với một tâm trí trống rỗng, mà luôn bắt đầu với Vorhabe trạng thái chuẩn bị nền tảng trước, một Vorsicht cái nhìn định hướng trước, và Vorgriff những khái niệm có trước; ii) Chuyển biến bản thể luận - Trước Heidegger, các nhà tư tưởng coi vòng tròn này chỉ đơn thuần là một thủ pháp văn chương để đọc văn bản nhằm hiểu rõ các bộ phận thông qua tổng thể. Heidegger đã biến nó thành một chân lý hiện sinh - chúng ta thấu hiểu Hữu thể của chính mình bằng cách sống trong vòng lặp này.- HHN]. Một thực thể mà đối với nó—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới—chính Hữu thể của nó là một vấn đề cần giải quyết, thì thực thể đó, xét về mặt bản thể luận, mang một cấu trúc vòng tròn. Tuy nhiên, nếu ta lưu ý rằng ‘tính vòng tròn’ về phương diện bản thể luận thuộc một loại Hữu thể vốn là hiện-diện-vô-tri (cụ thể là thuộc Bestand nguồn tồn tại) [Chen ngang: Đối với Heidegger, thuật ngữ Bestand - nguồn dự trữ sẵn sàng/kho dự trữ - mô tả cách công nghệ hiện đại biến mọi thứ—từ thiên nhiên, động vật cho đến chính con người—thành những nguyên liệu thô, vật tư và tài nguyên đơn thuần; chúng luôn ở trạng thái sẵn sàng để được huy động, sử dụng và tối ưu hóa bất cứ lúc nào. Đó là hệ quả cốt lõi của cái mà Heidegger gọi là Gestell Khung quy định/Cơ chế định hình. Các ý nghĩa cốt lõi của Bestand: i) Mất đi giá trị tự thân - sự vật không còn được nhìn nhận theo bản chất vốn có của chúng, mà chỉ được đánh giá dựa trên tính hữu dụng và hiệu quả; ii) Trạng thái sẵn sàng theo yêu cầu - một vật thể ở dạng Bestand không tồn tại độc lập hay tự do; nó chỉ tồn tại để được khai thác, lưu trữ và thay thế; iii). Quy giản con người - con người cũng bị cuốn vào hệ thống này, biến thành ‘nguồn nhân lực’, ‘đơn vị lao động’ hay các ‘điểm dữ liệu’ thay vì là những cá thể sống động với giá trị tự thân; iv) Ví dụ minh họa, chẳng hạn ‘Dòng sông’ - thay vì là một kỳ quan thiên nhiên hay một hệ sinh thái sống động, dòng sông chỉ được xem thuần túy là ‘nguồn dự trữ’ năng lượng nước để vận hành nhà máy thủy điện; Khu rừng - thay vì là môi trường sống hoang dã, khu rừng bị coi như kho dự trữ gỗ hoặc nguồn dự trữ để bù đắp lượng khí thải carbon; Người lao động - con người bị quản lý như những hồ sơ nhân sự hay các chỉ số năng suất thay vì là những cá nhân độc đáo.-HHN], thì ta phải hoàn toàn tránh dùng hiện tượng này để mô tả bất cứ điều gì tương tự như Dasein xét về mặt bản thể luận. 

33. Khẳng định - Phương thức Phái sinh của Diễn giải

Mọi sự diễn giải đều dựa trên sự thấu hiểu. Cái được diễn đạt1 thành hình trong sự diễn giải, và được phác thảo trước trong sự thấu hiểu nói chung như một điều có thể diễn đạt được, chính là ý nghĩa. Vì sự khẳng định hay ‘phán đoán’2 dựa trên sự thấu hiểu và thể hiện một dạng thức phái sinh của quá trình diễn giải, nên bản thân nó cũng ‘có’ một ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa này không thể được định nghĩa như một thứ gì đó xuất hiện ‘trong’ một phán đoán cùng với tự thân hành vi phán đoán. Trong bối cảnh [tr.196] hiện tại, chúng ta sẽ phân tích tường tận về sự khẳng định, và phân tích này sẽ phục vụ nhiều mục đích. Thứ nhất, thông qua việc xem xét sự khẳng định, ta có thể chứng minh được các cách thức mà cái cấu trúc ‘như là’ vốn mang tính cấu thành đối với hiểu biết và diễn giải có thể bị biến đổi. Khi thực hiện điều này, cả hiểu biết lẫn diễn giải sẽ được làm sáng tỏ hơn. Thứ hai, việc phân tích khẳng định giữ một vị trí đặc biệt trong vấn đề bản thể luận nền tảng; bởi lẽ, vào giai đoạn then chốt khi bản thể luận cổ đại mới hình thành, cái λόγος logos đã đóng vai trò là manh mối duy nhất để tiếp cận cái zum eigentlich Seienden thực sự hiện hữu và để định nghĩa Hữu thể của các hiện hữu đó. Cuối cùng, từ thời cổ đại, sự khẳng định đã được thừa nhận là ‘nơi chốn’ bản nguyên và đích thực của chân lý. Hiện tượng chân lý gắn bó mật thiết với vấn đề Hữu thể đến mức khi tiến trình nghiên cứu đi xa hơn, chúng ta chắc chắn sẽ chạm trán vấn đề chân lý; và thực tế là nghiên cứu này đã nằm trong chiều kích của vấn đề đó, dù chưa được nêu rõ ràng. Đồng thời, việc phân tích khẳng định cũng sẽ dọn đường cho vấn đề này.

1). Ý nghĩa cơ bản của "sự khẳng định" (assertion) là "chỉ ra" [Aufzeigen]. Ở đây, chúng ta bám sát vào ý nghĩa nguyên thủy của λόγος logos – ngôn trí/trật tự/lý tính/ với tư cách là ἀπόφασις apophasis bộc lộ/phơi bày – tức là để cho một thực thể tự nhìn thấy từ bản thân nó. Trong lời khẳng định ‘Cái búa quá nặng’, thì cái được phơi bày cho nhãn quan thấy không phải là một ‘ý nghĩa’, mà là một hiện hữu ở trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’. Ngay cả khi thực thể này không ở đủ gần để có thể nắm bắt và ‘nhìn thấy’, thì hành động chỉ ra vẫn nhắm đến chính thực thể đó chứ không phải, chẳng hạn, một Vorstellung ‘trình hiện’ đơn thuần về nó—không phải là thứ gì đó ‘chỉ được tái hiện’ cũng không phải là trạng thái tâm lý mà trong đó người đưa ra cái khẳng định ‘tái hiện’ nó. 2). ‘Khẳng định’ có nghĩa không khác gì ‘phán đoán vị ngữ’. Chúng ta ‘khẳng định’ một ‘vị ngữ’ về một ‘chủ ngữ’, và ‘chủ ngữ’ đó được ‘vị ngữ’ xác định một tính chất cụ thể. Theo nghĩa này của từ ‘khẳng định’, cái được đưa ra trong khẳng định không phải là vị ngữ, mà là ‘chính cái búa’. Mặt khác, cái thực hiện hành động khẳng định (nói cách khác, cái gán cho một vật đặc tính xác định) lại nằm ở cái đặc tính ‘quá nặng’. Cái được đưa ra trong khẳng định theo nghĩa thứ hai của từ ‘khẳng định’ (cái được gán đặc tính xác định, theo đúng nghĩa) đã bị thu hẹp về nội dung so với cái được đưa ra trong khẳng định theo nghĩa thứ nhất [tr.197] của khuôn khổ này. Mọi phán đoán vị từ chỉ là chính nó khi nó đóng vai trò là một hành động chỉ-ra. Nghĩa thứ hai của từ ‘khẳng định’ có nền tảng từ nghĩa thứ nhất. Chính trong hành động chỉ ra này, các yếu tố được khớp nối trong phán đoán vị ngữ— chủ ngữ và vị ngữ— mới nảy sinh. Không phải nhờ việc gán cho một vật đặc tính xác định mà lần đầu tiên ta khám phá ra cái tự nó bộc lộ—cái búa—với tư cách là chính nó; mà khi ta gán cho nó đặc tính như vậy, thì tầm nhìn của ta trước hết bị hạn chế vào nó, để nhờ sự hạn chế rõ rệt3 này của tầm nhìn, mà cái vốn đã bộc lộ có thể được làm cho bộc lộ một cách tường minh trong đặc tính xác định của nó. Khi gán cho một vật một đặc tính xác định, trước hết ta phải lùi lại một bước khi đối diện với cái vốn đã bộc lộ—cái búa quá nặng kia. Khi ‘đặt ra chủ ngữ’, ta làm mờ đi các thực thể khác để tập trung vào ‘cái búa đằng kia’, sao cho nhờ việc làm mờ chúng đi, ta có thể để cho cái đang bộc lộ được nhìn thấy trong đặc tính xác định của chính nó—một đặc tính có thể được xác định.4 Việc đặt ra chủ ngữ, đặt ra vị ngữ, và đặt ra cả hai khi kết hợp lại, chúng hoàn toàn mang tính ἀποφαντικός ‘apophantical’ - tính chất bộc lộ/khẳng định - theo đúng nghĩa chặt chẽ của từ này. 3) ‘Khẳng định’ có nghĩa là Mitteilung ‘thông báo’, là Heraussage nói ra/bộc lộ ra. Với tư cách là thông báo, nó liên hệ trực tiếp với ‘khẳng định’ theo nghĩa thứ nhất và thứ hai. Đó là việc để người khác cùng nhìn thấy với ta điều mà ta đã chỉ ra bằng cách gán cho nó một đặc tính xác định. Việc để kẻ khác cùng nhìn thấy với ta chính là hành động ‘chia sẻ’ với Kẻ Khác cái thực thể đã được chỉ ra cùng với đặc tính xác định của nó. Điều được ‘chia sẻ’ ở đây chính là cái Hữu-thể-hướng-tới của chúng ta đối với cái đã được chỉ ra—một Hữu thể mà trong đó chúng ta cùng nhìn thấy nó. Cần lưu ý rằng cái Hữu-thể-hướng-tới này chính là Hữu-thể-trong-thế-giới, và chính từ trong thế giới này, điều được chỉ ra mới được bắt gặp. Bất kỳ sự khẳng định nào, với tư cách là thông báo được hiểu theo phương diện hiện sinh này, đều phải được diễn đạt.5 Là một nội dung được thông báo, điều được đưa ra trong khẳng định là thứ mà Kẻ Khác có thể ‘chia sẻ’ với kẻ đưa ra khẳng định, ngay cả khi thực thể được chỉ ra và được gán đặc tính xác định đó không ở đủ gần để họ có thể nắm bắt và nhìn thấy nó. Cái được đưa ra trong khẳng định là thứ có thể được truyền tải tiếp qua việc ‘kể lại’.  

Phạm vi chia sẻ lẫn nhau đó luôn được mở rộng. Tuy nhiên, đồng thời, cái đã được chỉ ra có thể lại bị che khuất trong quá trình kể lại đó; mặc dù vậy, ngay cả loại hiểu biết nảy sinh từ sự nghe kể lại (cho dù là tri thức [tr.198] về một Wissen [sự việc, thông tin, số liệu, sự kiện] hay chỉ đơn thuần là Kennen [quen biết ai đó, hoặc quen thuộc, có trải nghiệm thực tế (với một địa điểm, đồ vật, con người cụ thể] thì vẫn luôn hướng tầm nhìn vào chính thực thể đó chứ không phải là ‘tán thành’ một ‘ý nghĩa có giá trị’ nào đó đang được lan truyền. Ngay cả việc nghe kể lại cũng là một loại Hữu-thể-trong-thế-giới, và là một Hữu-thể-hướng-tới điều nghe được. Ngày nay, có một lý thuyết về ‘phán đoán’ đang thịnh hành, vốn định hướng theo hiện tượng Geltung ‘tính giá trị’.6 [Chen ngang: Geltung ‘tính hiệu lực’/ ‘giá trị hiệu lực’ của Martin Heidegger đề cập đến một khái niệm logic và nhận thức luận truyền thống—bắt nguồn từ Rudolf Hermann Lotze và được các nhà triết học Tân-Kantian phát triển thêm—nhằm chỉ cách thức mà các chân lý, ý nghĩa hoặc giá trị lý tưởng ‘có hiệu lực’ hay tồn tại độc lập với hiện hữu vật chất thực tế hoặc các quá trình tâm lý chủ quan. Heidegger nổi tiếng với việc bác bỏ Geltung, coi đó là một Wortgötze ‘ngẫu tượng ngôn từ’ vô bổ, tách rời chân lý và ý nghĩa khỏi Dasein/hiện hữu người  và thực tại mang tính thời gian. Trong các tác phẩm sơ kỳ hiện tượng học, Heidegger đã sử dụng khái niệm tính hiệu lực logic để giải thích tính khách quan lý tưởng của các phán đoán (ví dụ: các chân lý toán học như 2+2=4). Đến giai đoạn chín muồi trong Hữu thể và Thời gian này, Heidegger bác bỏ Geltung. Tại Mục 44, ông lập luận rằng việc đặt chân lý vào một phạm vi trừu tượng của ‘tính hiệu lực’ sẽ bỏ qua câu hỏi nguyên thủy về Sein Hữu thể. Các chỉ trích chính đối với Geltung: i) Trừu tượng hóa tách biệt - nó coi chân lý và ý nghĩa như những ‘thực thể’ lơ lửng, không diễn ra trong thế giới vật lý cũng không thuộc về trải nghiệm sống của con người; ii) Che đậy tình trạng thiếu hiểu biết về Bản thể luận - việc gọi một điều gì đó là ‘có hiệu lực’ không giải thích được cách thức nó được tiếp nhận hay loại Hữu thể của nó là gì; nó đóng vai trò như một khái niệm thay thế nhằm che đậy sự thiếu vắng một cuộc truy vấn thực sự về Bản thể luận; iii) Sự suy tàn của chân lý - đối với Heidegger, việc quy giản chân lý thành vấn đề về tính hiệu lực logic hay Cấu thành-giá trị Wertphilosophie triết học về giá trị - đánh dấu sự suy tàn tột cùng của quan niệm Hy Lạp nguyên thủy về chân lý như là aletheia - tính không bị che giấu hay trạng thái bộc lộ).- HHN] Chúng ta sẽ không thảo luận sâu về nó ở đây. Chỉ cần đề cập đến tính chất rất đáng ngờ của hiện tượng Geltung ‘tính giá trị' này là đủ, mặc dù kể từ thời Lotze, người ta vẫn coi nó như một ‘hiện tượng nguyên thủy’ không thể truy nguyên bất cứ điều gì. Việc nó có thể đóng vai trò này chỉ là nhờ vào việc chưa làm sáng tỏ được về mặt bản thể luận của nó. Những vấn đề nảy sinh xoay quanh từ ngữ được tôn sùng này cũng mơ hồ không kém.

Trước hết, tính hiệu lực được xem là ‘hình thức’ của Wirklichkeit tính hiện thực [Chen ngang: Wirklichkeit tính hiện thực Trong triết học Đức và trong các tác phẩm của Martin Heidegger chỉ những gì có hiệu lực, có thực hoặc đang vận hành. Thay vì coi đây là một trụ cột kỹ thuật cốt lõi trong hệ thống bản thể luận của riêng mình, Heidegger chủ yếu sử dụng thuật ngữ này khi phê phán siêu hình học truyền thống hoặc khi diễn giải lại triết học Aristotle. Các ý nghĩa và bối cảnh cốt lõi: i) Nguồn gốc từ nguyên: Wirklichkeit bắt nguồn từ wirken—nó mang nghĩa là ‘thứ tạo ra tác động’ hoặc ‘thứ đang vận hành’, chứ không phải là một trạng thái tồn tại tĩnh tại; ii) Phê phán siêu hình học - Heidegger cho rằng siêu hình học truyền thống đã sai lầm khi coi das Wirkliche cái ‘hiện thực’ hay das Seiende cái hiện hữu là điểm khởi đầu tối hậu để thấu hiểu về Hữu thể, qua đó bỏ quên một chiều kích sâu sắc hơn của Hữu thể; iii) Đề cao khả tính - Heidegger nổi tiếng với việc đảo ngược các ưu tiên cổ điển - như cặp khái niệm tiềm năng và hiện thực của Aristotle, - khẳng định rằng Möglichkeit Khả tính mang tính bản nguyên và cao hơn so với Wirklichkeit tính hiện thực đơn thuần. Đối với Heidegger, sự tồn tại đích thực của Dasein hiện hữu người được định nghĩa bởi chân trời các khả tính thay vì bởi những sự kiện hiện thực cố định.- HHN] vốn gắn liền với nội dung của phán đoán, xét trong chừng mực nội dung đó vẫn bất biến, trái ngược với quá trình phán đoán mang tính ‘tâm lý’ vốn có thể thay đổi. Khi xét đến cách thức mà vấn đề Hữu thể nói chung đã được mô tả trong phần giới thiệu của chuyên luận này, ta khó có thể kỳ vọng rằng ‘tính hiệu lực’ – với tư cách là ‘Hữu thể lý tưởng’ – lại được phân biệt bởi một trạng thái minh bạch đặc biệt về bản thể luận. Thứ hai, ‘tính hiệu lực’ đồng thời mang nghĩa là tính hiệu lực của ý nghĩa phán đoán – một ý nghĩa có giá trị đối với cái ‘Khách thể’ mà nó hướng tới; và do đó, nó đạt được ý nghĩa về một ‘đặc tính có giá trị khách quan’ cũng như về tính khách quan nói chung. Thứ ba, ý ​​nghĩa vốn ‘có giá trị’ đối với một thực thể, và tự thân nó ‘có giá trị’ một cách ‘phi thời gian’, cũng được coi là ‘có giá trị’ theo nghĩa nó có giá trị đối với bất kỳ kẻ nào phán đoán một cách duy lý.     

‘Tính hiệu lực’ giờ đây mang nghĩa tính ràng buộc, hay đặc tính ‘có hiệu lực phổ quát’.7 Ngay cả khi ta ủng hộ một lý thuyết nhận thức luận mang tính ‘phê phán’ — theo đó chủ thể không ‘thực sự’ ‘công khai’ với Khách thể — thì đặc tính hiệu lực này, với tư cách là tính hiệu lực của một Khách thể (Khách thể tính), vẫn dựa trên kho tàng các ý nghĩa chân thực (!) vốn tự thân đã có hiệu lực. Ba nghĩa của cụm từ ‘có hiệu lực’ mà chúng ta đã nêu — cách thức Hữu thể của cái lý tưởng, Khách thể tính, và tính ràng buộc — không chỉ tự thân chúng vốn mơ hồ mà còn thường xuyên bị nhầm lẫn với nhau. Viễn kiến về mặt phương pháp luận [tr.199] đòi hỏi chúng ta không được chọn những khái niệm thiếu ổn định như vậy làm manh mối cho việc Tường giải. Chúng ta không đặt ra hạn chế tiên khởi nào đối với ‘ý nghĩa’ chỉ giới hạn vào biểu thị ‘nội dung của phán đoán’; mà chúng ta hiểu nó như một hiện tượng hiện sinh đã được xác định đặc tính, nơi mà cái khuôn khổ hình thức của những gì có thể được bộc lộ trong sự thấu hiểu và được tường giải sẽ trở nên hiển lộ.

Nếu tập hợp ba nghĩa của ‘khẳng định’ đã phân tích và có cái nhìn thống nhất về toàn bộ hiện tượng này, ta có thể định nghĩa ‘khẳng định’ là ‘một hành động chỉ ra, mang lại cho sự vật một đặc tính xác định và mang tính thông báo’. Vấn đề còn lại là phải đặt câu hỏi: dựa trên cơ sở nào mà ta lại coi khẳng định là một phương thức của tường giải? Nếu nó thực sự thuộc loại hình này, thì các cấu trúc cốt yếu của tường giải hẳn phải tái hiện trong đó. Hành động chỉ ra của khẳng định được thực hiện dựa trên những gì đã được bộc lộ trong thấu hiểu hoặc được khám phá thông qua cái nhìn cẩn trọng bao quát. Khẳng định không phải là một loại hành vi tách biệt, tự thân có khả năng bộc lộ các thực thể nói chung theo một cách thức bản nguyên; trái lại, nó luôn duy trì sự tồn tại của mình trên nền tảng của Hữu-thể-trong-thế-giới. Những gì chúng ta đã trình bày trước đóix liên quan đến việc nhận biết thế giới cũng hoàn toàn đúng với khẳng định. Bất kỳ khẳng định nào cũng đòi hỏi phải có sự nắm bắt trước về những gì đã được bộc lộ; và đây chính là điều mà khẳng định chỉ ra thông qua việc gán cho sự vật một đặc tính xác định. Hơn nữa, trong bất kỳ cách tiếp cận nào, khi gán cho sự vật một đặc tính xác định, thì ta đã hướng cái nhìn của mình về phía điều sẽ được trình bày trong sự khẳng định đó. Khi một thực thể đã được trình diện được gán cho một đặc tính xác định, thì chức năng gán đặc tính đó được đảm nhận bởi chính cái mà ta hướng tầm nhìn của mình về phía thực thể ấy.8 Do đó, bất kỳ khẳng định nào cũng đòi hỏi một Vorsicht fore-sight viễn kiến [Chen ngang: Vorsicht của Martin Heidegger chỉ chân trời cấu trúc hoặc quan điểm có sẵn mà qua đó chúng ta tiếp cận và diễn giải bất kỳ điều gì. Thay vì mang nghĩa ‘thận trọng’, nó là một thành phần cốt lõi trong ‘Tiền-cấu trúc fore-structure của thấu hiểu; Heidegger cho rằng diễn giải không bao giờ là hành động nắm bắt đối tượng mà không có tiền giả định hay thực hiện trên một ‘tờ giấy trắng’. 1). Bất cứ khi nào Dasein hiện hữu người diễn giải một điều gì đó như là một điều gì đó, hành động ấy đều dựa trên một bộ ba yếu tố: i) Vorhabe - Cái đã có sẵn - những gì chúng ta đã nắm giữ từ trước như một tổng thể bối cảnh hoặc sự quen thuộc nền tảng; ii) Vorsicht - Tầm nhìn trước/Cái nhìn định hướng trước/ Quan điểm, góc độ hoặc giới hạn khái niệm cụ thể mà qua đó chúng ta nhìn nhận những gì đã có sẵn trong cái Vorhabe của mình; iii) Vorgriff - Khái niệm dự kiến/Tiền khái niệm: Sự nắm bắt mang tính dự đoán hoặc vốn từ vựng khái niệm mà chúng ta sử dụng để diễn đạt điều đang được diễn giải. 2). Các khía cạnh chính của Vorsicht: i) Không phải sự cẩn trọng - Mặc dù trong tiếng Đức hiện đại thông thường, Vorsicht có nghĩa là ‘thận trọng/ cẩn trọng’, nhưng Heidegger sử dụng nó theo nghĩa từ nguyên và triết học là Vor-sicht—nghĩa đen là ‘nhìn thấy trước’; ii) Cái nhìn định hướng: Vorsicht xác định điểm nhìn hoặc chân trời cụ thể để từ đó một thực thể được thấu hiểu. Nó thu hẹp Vorhabe nhận thức nền tảng bao quát của chúng ta thành một bối cảnh tập trung cho một hành động diễn giải cụ thể; iii) Những định kiến ​​nội tại - Vì diễn giải luôn vận hành dưới sự dẫn dắt của Vorsicht, nên bất kỳ hành động thấu hiểu nào cũng tất yếu mang theo những giả định và lập trường có sẵn, vốn thuộc về trạng thái chúng ta ‘bị ném’ vào thế giới.-HHN]; trong quá trình này, vị ngữ mà ta định gán và làm cho nổi bật sẽ được tách ra—có thể nói là vậy—khỏi sự bao hàm chưa được diễn đạt vốn nằm ngay trong bản thân thực thể đó. Hơn nữa, gắn liền với mọi khẳng định—vốn là một lối thông báo gán cho cái gì đó một đặc tính xác định—là khớp nối cái được chỉ ra, và khớp nối này diễn ra theo các ý nghĩa. Một sự khẳng định như vậy sẽ vận hành dựa trên một cách thức quan niệm xác định: ‘Cái búa thì nặng’, ‘Tính nặng thuộc về cái búa’, ‘Cái búa có thuộc tính nặng’. Khi một sự khẳng định được đưa ra, một sự ‘quan-niệm-trước’ nào đó luôn được ngầm định; song nó thường không lộ rõ, bởi lẽ bản thân ngôn ngữ đã ẩn chứa sẵn một cách thức quan niệm đã phát triển hoàn chỉnh. Giống như bất kỳ sự diễn giải nào, việc khẳng định tất yếu là ‘có-trước’, ‘thấy-trước’ và ‘quan-niệm-trước’ làm các nền tảng tồn tại của nó.

[Tr.200] Nhưng đến mức độ nào nó trở thành một phương thức diễn giải phái sinh? Điều gì đã được sửa đổi trong đó? Chúng ta có thể chỉ ra sự sửa đổi nếu chúng ta bám vào một số trường hợp giới hạn của khẳng định hoạt động trong logic như những trường hợp bình thường và như những ví dụ về hiện tượng khẳng định ‘đơn giản nhất’. Trước mọi phân tích, logic đã hiểu ‘một cách logic’ những gì nó coi là chủ đề dưới tiêu đề ‘tuyên bố phạm trù’ - ví dụ, ‘Cái búa nặng’. Giả định không được giải thích là ‘ý nghĩa’ của câu này được hiểu là: ‘Vật này - một cái búa - có thuộc tính nặng’. Trong sự thận trọng có trách nhiệm, ban đầu không có những khẳng định như vậy. Nhưng sự thận trọng như vậy tất nhiên có những cách diễn giải cụ thể của nó, và những cách này, so với ‘phán đoán lý thuyết’ vừa đề cập, có thể mang một số hình thức như ‘Cái búa quá nặng’, hoặc đúng hơn là chỉ ‘Quá nặng!’, ‘Đưa cho tôi cái búa khác!’ Việc diễn giải trước hết không được thực hiện bằng một tuyên bố lý thuyết mà bằng một hành động quan tâm thận trọng – gạt bỏ công cụ không phù hợp, hoặc thay thế nó, ‘mà không lãng phí lời nói’. Từ việc thiếu vắng ngôn từ, không thể kết luận rằng việc diễn giải cũng không tồn tại. Mặt khác, loại diễn giải được thể hiện một cách thận trọng không nhất thiết đã là một khẳng định theo nghĩa mà chúng ta đã định nghĩa. Khẳng định nảy sinh từ diễn giải bằng những sửa đổi hiện sinh-bản thể học nào?

Thực thể được nắm giữ trong trạng thái có-trước-cho của chúng ta – ví dụ, cái búa – là một công cụ sẵn-có-để-dùng ngay với tư cách là một thiết bị. Nếu thực thể này trở thành ‘khách thể’ của một khẳng định, thì ngay khi chúng ta bắt đầu khẳng định này, đã có một sự thay đổi trong trạng thái có-trước đó. Một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng mà chúng ta phải dùng để làm hoặc thực thi một việc gì đó, biến thành một thứ ‘mà về nó’ cái khẳng định chỉ rõ nó đã được đưa ra. Viễn kiến của chúng ta hướng đến một thứ hiện-diện-vô-tri trong những gì sẵn-có-để-dùng. Cả bằng và vì cách nhìn nhận này, mà cái sẵn-có-để-dùng trở nên bị che khuất với tư cách sẵn-có-để-dùng. Trong việc khám phá cái hiện-diện-vô-tri này, vốn đồng thời là sự che đậy trạng thái sẵn-có-để-dùng, thì một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri mà chúng ta gặp phải được gán cho một đặc tính xác định trong cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-theo-cách-thức-này-hay-cách-thức-khác của nó. Chỉ đến lúc này, chúng ta mới có thể tiếp cận các thuộc tính hoặc những thứ tương tự. Khi một khẳng định đã gán cho một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri một đặc tính xác định, thì nó lại nói một điều gì đó về nó như một ‘cái gì’; và ‘cái gì’ này được rút ra từ cái hiện-diện-vô-tri theo đúng nghĩa. Cấu trúc-như là của diễn giải đã trải qua một sự thay đổi. Trong chức năng chiếm hữu những gì được hiểu, cái ‘như là’ không còn vươn tới tổng thể các can dự nữa. Về các khả tính Khớp nối các mối quan hệ-tham chiếu, nó đã bị tách rời khỏi ý nghĩa mà, theo đúng nghĩa, cấu thành nên tính môi trường. Cái ‘như là’ bị đẩy lùi vào [tr.201] mặt phẳng đơn dạng của cái chỉ hiện-diện-vô-tri. Nó thu hẹp lại thành thứ cấu trúc chỉ cho phép người ta nhìn thấy cái hiện-diện-vô-tri, và cho phép người ta nhìn thấy nó theo một cách xác định. Sự san bằng cái ‘như là’ bản nguyên thủy của diễn giải có viễn kiến với cái ‘như là’ mà nhờ đó cái hiện-diện-vô-tri được gán cho một đặc điểm xác định là đặc tính của khẳng định. Chỉ bằng cách đó, nó mới có được khả tính thể hiện một cái gì đó theo cách mà chúng ta chỉ nhìn vào nó. Do đó, khẳng định không thể chối bỏ nguồn gốc bản thể luận của nó từ một diễn giải hiểu biết. Cái ‘như là’ bản nguyên của một ἑρμηνεία cách diễn giải hiểu theo một tần viễn kiến, chúng ta gọi là cái ‘như là’ hiện sinh-tường giải, ‘khác với cái ‘như là’ ἀποφαντικός ‘apophantical’ – mang tính bộc lộ/khẳng định của cái khẳng định. Giữa loại giải thích vẫn còn hoàn toàn gắn liền với sự hiểu biết quan tâm và trường hợp cực đoan đối lập của một khẳng định lý thuyết về một điều gì đó hiện-diện-vô-tri, có nhiều cấp độ trung gian: những khẳng định về các sự kiện xảy ra trong môi trường, các tường trình về cái hiện-diện-vô-tri, ‘báo cáo về Tình hình’, việc ghi chép và xác định ‘sự thật của vụ việc’, mô tả một trạng thái sự việc, tường thuật về một điều gì đó đã xảy ra. Chúng ta không thể truy ngược những ‘câu’ này về các tuyên bố lý thuyết mà không làm sai lệch ý nghĩa của chúng một cách cơ bản. Giống như chính các tuyên bố lý thuyết, chúng có ‘nguồn gốc’ trong cách giải thích mang tính viễn kiến. Tiến bộ của tri ​​thức cấu trúc λόγος, hiện tượng ἀποφαντικός – mang tính bộc lộ ‘như là’ này là điều không thể tránh khỏi. Từ ‘như là’ cần phải xuất hiện dưới một hình thức nào đó. Cái cách thức mà nó được nhìn nhận một cách gần gũi không phải là ngẫu nhiên, và nó đã được chứng minh rõ ràng trong lịch sử logic sau này.

Khi được xem xét dưới góc độ triết học, bản thân λόγος logos là một hữu thể, và theo định hướng của bản thể luận cổ đại, nó là một cái gì đó Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri. Các từ ngữ, xét về mặt trực tiếp, cũng là những cái hiện-diện-vô-tri; nghĩa là, ta bắt gặp chúng cũng giống như cách ta bắt gặp các Sự vật; và điều này đúng với bất kỳ chuỗi từ ngữ nào – tức là cái khuôn khổ mà trong đó λόγος logos tự biểu hiện. Trong bước tìm kiếm ban đầu về cấu trúc của λόγος logos như một cái hiện-diện-vô-tri như vậy, thì cái được phát hiện chính là cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-cùng-nhau của nhiều từ ngữ. Điều gì tạo nên cái nhất tính của cái ‘cùng nhau’ này? Như Plato đã nhận thấy, cái nhất tính này nằm ở sự thật là cái λόγος logos luôn luôn là cái λόγος logos. Trong cái λόγος logos, một thực thể được hiển hiện, và hướng về thự thể này, các từ ngữ được kết hợp lại thành một chỉnh thể ngôn từ. Aristotle đã nhìn nhận vấn đề này một cách triệt để hơn: mọi λόγος logos đều vừa là σύνθεσις synthesis tổng hợp/kết hợp vừa là σύνθεσις diaeresis sự phân rẽ/chia tách, chứ không chỉ là cái này (gọi là ‘phán đoán khẳng định’) hay cái kia (gọi là ‘phán đoán phủ định’). Thay vào đó, mọi sự xác quyết – dù là khẳng định hay phủ định, dù đúng hay sai – đều đồng thời và bình đẳng là σύνθεσις synthesisσύνθεσις diaeresis. Việc phô bày bất cứ điều gì cũng đồng nghĩa với việc vừa quy tụ nó lại vừa tách nó ra. Tất nhiên, đúng là Aristotle đã không đi sâu vào câu hỏi phân tích để giải quyết vấn đề: hiện tượng nào trong cấu trúc của λόγος logos cho phép và thậm chí buộc chúng ta phải mô tả mọi phát ngôn như là sự tổng hợp và phân tách?

Cùng với các cấu trúc hình thức của sự ‘gắn kết’ và ‘chia tách’ – hay chính xác hơn là cùng với nhất tính của chúng – ta sẽ bắt gặp hiện tượng ‘cái gì đó như là cái gì đó’, và ta sẽ bắt gặp nó như một hiện tượng thực thụ. Theo cấu trúc này, một cái gì đó được thấu hiểu trong mối tương quan với một cái gì đó khác: nó được quy tụ cùng với cái kia, nhưng theo cách mà sự đối diện mang tính thấu hiểu này đồng thời lại tách rời những gì đã được quy tụ, và thực hiện điều đó bằng cách khớp nối chúng lại theo lối diễn giải. Nếu hiện tượng cái ‘như là’ vẫn bị che khuất, và trên hết, nếu nguồn gốc hiện sinh của nó ở cái ‘như là’ thuộc phép tường giải học bị che đậy, thì cách tiếp cận hiện tượng luận của Aristotle đối với việc phân tích λόγος logos sẽ suy giảm thành một ‘lý thuyết phán đoán’ hời hợt; trong đó, phán đoán trở thành sự kết nối hoặc phân tách các biểu tượng và khái niệm. Sự kết nối và phân tách này thậm chí có thể được hình thức hóa hơn nữa thành một sự ‘thiết lập quan hệ’. Phán đoán bị phân rã theo lối logic hình thức thành một hệ thống mà ở đó các sự vật được ‘phối hợp’ với nhau; nó trở thành đối tượng của một phép ‘tính toán’, nhưng lại không trở thành chủ đề cho sự diễn giải mang tính bản thể luận. Khả tính cũng như bất khả tính trong hiểu biết mang tính phân tích về σύνθεσις synthesis tổng hợp và σύνθεσις diaeresis phân tách—tức là về ‘quan hệ’ trong phán đoán nói chung—gắn bó chặt chẽ với vị thế hiện thời của vấn đề bản thể luận và các nguyên lý của nó.        

Hiện tượng copula từ nối cho thấy vấn đề này đã thâm nhập sâu đến mức nào vào Diễn giải về cái λόγος logos, và ngược lại, khái niệm ‘phán đoán’ (thông qua một tác động ngược chiều đáng kể) đã thâm nhập sâu đến mức nào vào vấn đề bản thể luận. Khi xem xét ‘mối liên kết’ này, ta thấy rõ rằng ban đầu, cấu trúc tổng hợp được coi là điều hiển nhiên, và nó cũng vẫn giữ vai trò làm chuẩn mực cho Diễn giải. Tuy nhiên, nếu các đặc tính hình thức của việc ‘thiết lập quan hệ’ và ‘kết nối’ không đóng góp được gì về mặt hiện tượng học cho việc phân tích cấu trúc của cái λόγος logos như là chủ đề-nghiên cứu, thì xét về lâu dài, hiện tượng mà ta gọi là copula ‘từ nối’ chẳng liên quan gì đến một mối liên kết hay sự kết nối cả. Do đó, việc diễn giải từ ‘là’—dù nó được diễn đạt độc lập trong ngôn ngữ hay được biểu thị qua đuôi động từ—sẽ dẫn chúng ta vào phạm vi các vấn đề thuộc về sự phân tích hiện sinh, nếu như sự khẳng định và hiểu biết về Hữu thể là những khả tính hiện sinh đối với chính Hữu thể của Dasein. Khi đi vào giải quyết vấn đề về Hữu thể (xem Phần I, Mục 3), chúng ta sẽ lại bắt gặp hiện tượng đặc thù này của Hữu thể mà ta đã thấy bên trong cái λόγος logos.

Thông qua việc chứng minh rằng sự khẳng định bắt nguồn từ diễn giải và thấu hiểu, chúng ta đã làm sáng tỏ rằng cái ‘logic’ của cái λόγος logos bắt rễ từ sự phân tích hiện sinh về Dasein; và ở mức độ sơ bộ, điều này là đủ. Đồng thời, khi nhận thấy rằng cái λόγος logos đã được diễn giải theo một cách thức khiếm khuyết về mặt bản thể luận, thì chúng ta có được cái nhìn sâu sắc hơn về thực tế là cơ sở phương pháp luận làm nền tảng cho sự hình thành bản thể luận cổ đại không phải là một cơ sở bản nguyên. Cái λόγος logos được trải nghiệm như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri và được diễn giải như vậy, trong khi đồng thời các hữu thể mà nó chỉ ra cũng mang ý nghĩa của sự hiện-diện-vô-tri. Ý nghĩa này của Hữu thể không được phân biệt hay đối chiếu với các khả tính khác của Hữu thể; hệ quả là, Hữu thể theo nghĩa về một Hữu thể hình thức – một cái gì đó bị hòa lẫn vào ý nghĩa kia, khiến chúng ta thậm chí không thể vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa hai phạm vi này.

34. Hữu-thể-ở-đó và Diễn-ngôn. Ngôn ngữ

Các cấu trúc hiện sinh nền tảng cấu thành nên Hữu thể của cái ‘ở đó’ — tức là trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới — chính là tâm thể và thấu hiểu. Trong thấu hiểu luôn tiềm ẩn khả tính diễn giải, tức là cái khả tính chiếm lĩnh/tiếp nhận cái đã được thấu-hiểu. Vì tâm thế có tính đồng bản nguyên với hành vi thấu hiểu, nên nó luôn duy trì trong một sự thấu hiểu nhất định; do đó, tương ứng với nó là một năng lực nhất định để được diễn giải. Chúng ta đã thấy rằng khẳng định bắt nguồn từ diễn giải và là một trường hợp thái cực của nó. Khi làm rõ ý nghĩa thứ ba của khẳng định với tư cách là thông báo (lên tiếng/bày tỏ), chúng ta đã đi đến các khái niệm saying ‘lời nói’ và speaking ‘hành động nói’ — những khái niệm mà cho đến thời điểm đó, chúng ta đã cố ý chưa chú trọng tới. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Sagen/ Saying Lời nói và Sprechen/ Speaking Hành động nói có sự khác biệt sâu sắc và rõ rệt về mặt bản thể luận. Sprechen/ Speaking Hành động nói là hành động vật lý hoặc hành động của con người trong việc phát âm từ ngữ, trong khi Sagen/ Saying Lời nói là sự vận động bản nguyên, nền tảng của việc phô bày, khai mở và để cho các thực thể xuất hiện trong Hữu thể. Das Sagen/ Saying có nguồn gốc tiếng Đức cổ sagan có nghĩa là ‘phô bày’, ‘làm cho xuất hiện’ và ‘để cho điều gì đó được nhìn thấy’. Heidegger cho rằng Sagen/ Saying không chỉ là chuyện tán gẫu của con người; đó còn là hoạt động của tự thân Hữu thể biểu hiện thế giới. Con người có thể nói chỉ vì họ lắng nghe và đáp lại cái Sagen/ Saying sâu xa này. Das Sprechen/ Speaking - tạo ra âm thanh và ngôn ngữ về phương diện vật lý và chủ động; Sprechen/ Speaking là công cụ hoặc tiếng nói của con người. Heidegger từng đưa ra nhận định nổi tiếng rằng ta có thể nói rất nhiều mà không thực sự Sagen/ Saying ‘nói’ ra bất cứ điều gì – đó là cái dẫn đến những lời bàn tán phiếm hoặc chuyện tán gẫu vô bổ.-HHN] Cái sự thật là ngôn ngữ lần đầu tiên trở thành chủ đề nghiên cứu cho thấy hiện tượng này bắt rễ sâu xa trong cấu thành hiện sinh thuộc trạng thái bộc lộ của Dasein. Nền tảng bản thể luận hiện sinh của ngôn ngữ chính là diễn ngôn hay trò chuyện.10 Đây là hiện tượng mà chúng ta đã liên tục sử dụng trong phần Diễn giải trước đó về tâm thế, thấu hiểu, diễn giải và khẳng định; tuy nhiên, trong quá trình phân tích chuyên đề, chúng ta dường như đã tạm gác nó lại. Về phương diện hiện sinh, diễn ngôn có tính đồng bản nguyên với tâm thế và sự thấu hiểu.

Tính khả-tri của một sự vật luôn được khớp nối ngay cả trước khi có bất kỳ diễn giải thích hợp nào về nó. Diễn ngôn chính là Khớp nối [tr.204] của tính khả tri. Do đó, nó là nền tảng cho cả diễn giải lẫn khẳng định. Cái có thể được Khớp nối trong diễn giải — và do đó, được Khớp nối một cách bản nguyên hơn nữa trong diễn ngôn — chính là điều mà chúng ta gọi là ‘ý nghĩa’. Cái được khớp nối theo đúng nghĩa trong sự Khớp nối mang tính diễn ngôn được chúng ta gọi là Bedeutungsganze ‘tổng-thể-ý-nghĩa’. Tổng thể này có thể được phân rã hoặc chia tách thành các ý nghĩa. Các ý-niệm — với tư cách là những gì đã được khớp-nối từ cái có thể được khớp-nối — luôn mang trong mình ý-nghĩa. Nếu diễn ngôn—với tư cách là sự khớp nối tính khả tri của cái ‘ở đó’—là một cấu trúc hiện sinh  bản nguyên của trạng thái bộc lộ, và nếu trạng thái bộc lộ được cấu thành chủ yếu bởi Hữu-thể-trong-thế-giới, thì bản thân diễn ngôn cũng phải mang một kiểu Hữu thể mang tính thế gian đặc thù. Tính khả tri của Hữu-thể-trong-thế-giới —một tính khả tri luôn đi kèm với một tâm thế—tự biểu hiện thành diễn ngôn. Tổng-thể-ý-nghĩa của tính khả tri được diễn đạt thành ngôn từ. Ngôn từ gắn kết với các ý nghĩa; tuy nhiên, các ‘Sự-vật-ngôn-từ’ lại không được cung cấp ý nghĩa.

Phương thức biểu hiện của diễn ngôn chính là ngôn ngữ.11 Ngôn ngữ là một tổng thể các từ ngữ—một tổng thể mà trong đó diễn ngôn sở hữu một Hữu thể ‘thế gian’ của riêng mình; và với tư cách là một thực thể trong-thế-giới, tổng thể này trở thành một thứ mà ta có thể bắt gặp như một thứ sẵn-có-để-dùng. Ngôn ngữ có thể bị phân rã thành các ‘Vật-thể-từ-ngữ’ vốn hiện-diện-vô-tri. Về mặt hiện sinh, diễn ngôn chính là ngôn ngữ, bởi vì cái thực thể mà diễn ngôn khớp nối trạng thái bộc lộ của nó theo các ý nghĩa lại mang kiểu Hữu thể là Hữu-thể-trong-thế-giới—một Hữu thể vốn đã ‘bị ném’ vào và phục tùng ‘thế giới’. Là một trạng thái hiện sinh trong đó Dasein được bộc lộ, diễn ngôn cấu thành nên sự tồn tại của Dasein. Việc lắng nghe và giữ im lặng là những khả tính thuộc về kỹ năng mang tính diễn ngôn. Chính trong các hiện tượng này, lần đầu tiên chức năng cấu thành của diễn ngôn đối với hiện sinh tính của sự tồn tại mới trở nên hoàn toàn rõ ràng. Tuy nhiên, trước hết, vấn đề cốt yếu là phải làm sáng tỏ cấu trúc của diễn ngôn theo đúng nghĩa.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 'Gegliederte'. Cả hai động từ 'artikulieren' và 'gliedem' đều có thể được dịch là 'articulate' trong tiếng Anh; ngay cả trong tiếng Gennan, chúng gần như đồng nghĩa, nhưng ở dạng trước, trọng âm có lẽ là ở 'các khớp' nơi một thứ gì đó được chia ra, trong khi ở dạng sau, trọng âm có lẽ là ở 'các bộ phận' hoặc 'các thành phần'. Chúng tôi đã phân biệt giữa chúng bằng cách dịch 'artikulieren' là 'Articulate' (viết hoa chữ 'A') và 'gliedern' là 'articulate' (viết thường chữ cái đầu).

2…die Aussage (das ‘Urteil’ )…

3 ‘Einschriinkung’. Các ấn bản cũ hơn có ‘Entschriinkung’.

4 ‘…die ‘Subjektsetzung’ blendet das Seiende auf ‘der Hammer da’, urn durch den Vollzug der Entblendung das Offenbare in seiner bestirnrnbaren Bestirnmtheit aehen zu lassen.’

5 ‘Zur Aussage als der so exenzial verstandenen Mit-teilung gehort die Ausges- prochenheit.’

6 Heidegger sử dụng ba từ có thể được dịch một cách tiện lợi là “tính hợp lệ”: “Geltung” (‘tính hợp lệ’ của chúng ta), ‘Giiltigkeit’ (‘ký tự hợp lệ của chúng ta’), và ‘Gelten’ (‘sự hợp lệ’ của chúng ta, v.v.). Người đọc nào đã học logic bằng tiếng Anh và do đó coi 'tính hợp lệ' chỉ đơn thuần là một thuộc tính của các lập luận trong đó tiền đề hàm ý kết luận, cần nhớ rằng trong tiếng Đức, động từ 'gelten' và các từ phái sinh của nó được sử dụng rộng rãi hơn nhiều, để áp dụng cho hầu hết mọi thứ được chấp nhận rộng rãi (hoặc thậm chí là riêng tư), đến nỗi người ta có thể nói về 'tính hợp lệ' của tiền tệ hợp pháp, 'tính hợp lệ' của vé trong một số tuần hoặc tháng nhất định, 'tính hợp lệ' của những gì 'đúng' đối với tôi hoặc đối với bạn, 'tính hợp lệ' của bất cứ điều gì đang xảy ra. Mặc dù cuộc thảo luận của Heidegger không bao gồm nhiều nghĩa này như được liệt kê trong bất kỳ từ điển tiếng Đức tốt nào, nhưng ông đã vượt xa cách sử dụng hẹp hơn của các nhà logic học nói tiếng Anh. Tất nhiên, chúng ta sẽ thường xuyên dịch 'gelten' theo những cách khác.

7 ‘…Verbindlichkeit, ‘Allgemeingiiltigkeit’.’

8 ‘Woraufhin das vorgegebene Seiende anvisiertwird, dasiibernimmt im Bestimmungsvollzug die Funktion des Bestimmenden.’

9 Phân chia này chưa từng xuất hiện.

10 ‘Rede’. Như chúng tôi đã chỉ ra trước đó (xem chú thích 3, trang 47, H. 25 ở trên), chúng tôi đã dịch từ này là ‘discourse’ hoặc ‘talk’, tùy theo ngữ cảnh, đôi khi kết hợp với cặp từ ‘diễn ngôn hay chuyện trò’. Nhưng trong một số ngữ cảnh, ‘discourse’ quá trang trọng trong khi ‘chuyện trò’ quá thông tục; người đọc cần nhớ rằng không có từ tương đương nào trong tiếng Anh cho ‘Rede’. Để thảo luận trước đó, xem Phần 7 B ở trên (H. 32-34).

11 'Die Hinausgesprochenheit der Rede ist die Sprache.'

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

31. Hữu-thể-ở-đó với tư cách Hiểu biết

[Tr.184] Hiểu biết là cái Hữu thể hiện sinh thuộc về Hữu-thể-khả-năng của chính Dasein; và nó tồn tại theo cách thức mà trong đó, cái Hữu thể này tự bộc lộ những gì mà Hữu thể của nó có khả năng thực hiện.1 [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng, thường được diễn giải là ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ hay khả năng hiện thực hóa tiềm năng của chính mình: i) Khái niệm này cho thấy Dasein tồn tại người được định nghĩa bởi những gì nó có thể trở thành, thay vì bởi một tập hợp các đặc điểm cố định, tĩnh tại. Seinkönnen nghĩa đen là ‘có thể hiện hữu’ hay ‘có-thể-là’, biểu thị trạng thái cơ bản của Dasein là luôn phóng chiếu chính mình vào các khả tính trong tương lai; ii) Möglichkeit Khả tính - Heidegger không xem đây chỉ là một phạm trù logic đơn thuần, mà là một cách thức chủ động, mang tính bản thể luận của tồn tại; iii) Entwurf Sự phóng chiếu - quá trình chủ động định hình Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng của chính mình; iv) Các khía cạnh chính gồm Tương lai mở - Dasein không bao giờ là một thực thể hoàn tất; nó luôn hiện hữu như một tập hợp các tiềm năng mở; Tính chân thực - Lựa chọn các khả tính của mình một cách đích thực thay vì sao chép xã hội.-HHN] Chúng ta cần nắm bắt chính xác hơn cấu trúc của yếu tố hiện sinh này. Với tư cách là bộc lộ, hiểu biết luôn gắn liền với toàn bộ trạng thái cơ bản của Hữu-thể-trong-thế-giới. Là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, bất kỳ Hữu-thể-trong nào cũng đều là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới. Không chỉ thế giới—với tư cách là thế giới—được bộc lộ như là ý nghĩa khả thể, mà khi cái gì đó ở-trong-thế-giới được tự giải phóng, thì thực thể ấy cũng được giải phóng cho những khả tính của chính nó. Cái sẵn-có-để-dùng được khám phá theo đúng nghĩa thông qua tính hữu dụng, khả năng sử dụng và cả tính gây hại của nó. Tổng thể tính các can dự được phơi bày như một chỉnh thể phạm trù về sự kết nối khả thể của cái sẵn-có-để-dùng. Tuy nhiên, ngay cả ‘nhất tính’ của cái đa tạp hiện-diện-vô-tri—của Tự nhiên—cũng chỉ có thể được khám phá nếu một khả tính của nó đã được bộc lộ. Liệu có phải ngẫu nhiên không khi câu hỏi về Hữu thể của Tự nhiên lại nhắm vào ‘các điều kiện khả tính của nó’? Cách truy vấn như vậy dựa trên cơ sở nào? Khi đối diện với truy vấn này, chúng ta không thể bỏ qua câu hỏi: tại sao những thực thể không mang đặc tính của Dasein lại được hiểu trong Hữu thể của chúng, nếu chúng được bộc lộ dựa trên các điều kiện khả tính của chúng? Kant đã giả định một loại vấn đề như vậy, và có lẽ là đúng đắn. Nhưng bản thân giả định này lại là một cái gì đó không thể để lại mà không chứng minh tính xác đáng của nó.

Tại sao hiểu biết—bất kể các chiều kích cốt yếu của những gì có thể được bộc lộ trong đó là gì—lại luôn hướng tới các khả tính? Đó là vì hiểu biết mang trong mình cấu trúc hiện sinh [tr.185] mà chúng ta gọi là ‘phóng chiếu’.2 Với tính bản nguyên ngang bằng nhau, hiểu biết phóng chiếu cái Hữu thể của Dasein lên cả cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ lẫn ý nghĩa—với tư cách là cái Weltlichkeit thế-gian-tính của cái thế giới hiện thời của nó. [Chen ngang: Weltlichkeit/Worldhood - Đối với Martin Heidegger, thể gian tính là cấu trúc nền tảng của các mối quan hệ, bối cảnh thực tiễn và các ý nghĩa—những yếu tố làm cho hiện hữu của con người trở nên khả thể—chứ không đơn thuần là một không gian vật lý chứa đựng các sự vật. 1) Ý nghĩa cốt lõi của Weltlichkeit Thể gian tính – đó không phải là một địa điểm vật lý - Thế giới không phải là một chiếc hộp lớn hay tập hợp các vật thể vật lý nằm rải rác trong không gian. 2) Nó là: i) Một mạng lưới các mối quan hệ sống động của những can dự/ gắn kết, công năng và mục đích thực tiễn mà Dasein/con người tương tác và định hướng mỗi ngày; ii) Một cấu trúc hiện sinh - Thế gian tính chính là ‘điều kiện’ cho phép sự vật trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta và giúp ta nhận diện được các sự vật đó là gì; 3) Các thành phần chính của tính thế giới bao gồm: i) Zuhandenheit Cái sẵn-có-để-dùng: Trước hết, ta tiếp cận các vật dụng xung quanh như những công cụ thực tiễn (ví dụ: cái búa hay cây bút) phục vụ các công việc cụ thể, chứ không phải như những vật thể khoa học vô tri; ii) Biểu nghĩa và quy chiếu - Mọi thứ trong môi trường đều gợi mở hoặc hướng tới những điều khác trong một mạng lưới công năng liền mạch (ví dụ: tay nắm cửa gợi ý hành động mở cửa, hành động này lại dẫn đến việc bước vào phòng); iii). Sự hòa nhập vào thế giới - Con người không quan sát thế giới từ bên ngoài; chúng ta luôn luôn đã gắn kết, can dự và cảm thấy thân thuộc ngay trong chính những bối cảnh thực tiễn này.- HHN]

Đặc tính của hiểu biết với tư cách phóng chiếu đóng vai trò cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế-giới, xét về phương diện bộc lộ trạng thái của  Hữu thể cấu thành hiện sinh mà nhờ nó cái ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ thực tại có được không gian hoạt động của nó. Và với tư cách bị ném vào, Dasein bị ném vào một loại Hữu thể mà ta gọi là ‘phóng chiếu’. Phóng chiếu không liên quan gì đến việc định hướng bản thân theo một kế hoạch đã được suy tính kỹ lưỡng, hay việc Dasein sắp đặt Hữu thể của mình dựa trên kế hoạch đó. Trái lại, bất kỳ Dasein nào, với tư cách là Dasein, đều đã tự phóng chiếu chính mình; và chừng nào còn hiện hữu, nó vẫn còn tiếp tục phóng chiếu. Chừng nào còn hiện hữu, Dasein luôn thấu hiểu bản thân và sẽ luôn hiểu rõ bản thân trong khuôn khổ các khả tính. Hơn nữa, đặc tính của hiểu biết với tư cách phóng chiếu nằm ở chỗ: hiểu biết đó không nắm bắt theo chủ đề cái mà nó phóng chiếu tới—tức là các khả tính. Việc nắm bắt theo cách đó sẽ tước khỏi cái được phóng chiếu chính đặc tính của nó với tư cách là một khả tính, và quy giản nó thành những nội dung có sẵn trong tâm trí; trong khi đó, phóng chiếu, bằng hành động ‘ném’, lại tự thân ném ra phía trước chính cái khả tính ấy với tư cách khả tính, và để cho nó hiện hữu theo đúng nghĩa.3  Với tư cách phóng chiếu, hiểu biết chính là loại Hữu thể của Dasein, trong đó nó hiện hữu các khả tính của mình với tư cách là các khả tính. Vì loại Hữu thể vốn được cấu thành bởi yếu tố cấu trúc hiện sinh của phóng chiếu, nên Dasein luôn ‘hơn hẳn’ cái mà nó thực tế đang hiện hữu—nếu ta giả định rằng có thể kiểm kê nó như một cái-gì-đó-vô-tri rồi liệt kê các nội dung Hữu thể của nó, và giả định rằng ta có thể làm được điều đó. Tuy nhiên, Dasein không gì khác hơn cái mà nó thực sự hiện hữu, bởi vì tiềm-năng-cho-Hữu-thể lại cốt yếu thuộc về thực tính của nó. Song, với tư cách là một Hữu-thể-khả-năng, Dasein cũng luôn là một cái gì đó; nghĩa là, xét về mặt hiện sinh, nó chính là [tr.186] cái mà trong tiềm-năng-Hữu-thể của mình, nó chưa thực sự trở thành. Chỉ vì Hữu thể của cái ‘ở đó’ được cấu thành thông qua hiểu biết và thông qua đặc tính của hiểu biết với tư cách phóng chiếu, chỉ vì nó là cái mà nó sẽ trở thành (hoặc không trở thành), nên nó mới có thể tự nhủ ‘Hãy trở thành chính mình’, và nói điều đó với sự thấu hiểu.

Phóng chiếu luôn gắn liền với bộc lộ trọn vẹn của Hữu-thể-trong-thế-giới; với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, hiểu biết tự mang trong mình các khả tính—những khả tính được phác thảo từ trước trong phạm vi những gì có thể bộc lộ một cách cốt yếu ở nó. Hiểu biết có thể hướng trọng tâm vào trạng thái được bộc lộ của thế giới; nghĩa là, Dasein có thể—trước hết và phần lớn là—hiểu chính mình thông qua thế giới của mình. Hoặc giả, hiểu biết lại hướng trọng tâm vào cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’; nghĩa là, Dasein tồn tại như chính bản thân nó. Hiểu biết có thể là đích thực—nảy sinh từ chính Tự ngã của một kẻ nào đó—hoặc là không đích thực. Tiếp đầu ngữ ‘không-‘ trong từ ‘không đích thực’ không có nghĩa là Dasein tự tách rời khỏi Tự ngã và ‘chỉ’ hiểu thế giới. Thế giới thuộc về cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Mặt khác, hiểu biết đích thực—cũng như hiểu biết không đích thực—đều có thể là chân thực hoặc không chân thực. Với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, hiểu biết hoàn toàn thấm đẫm khả tính. Khi ta hướng về một trong những khả tính cơ bản này của hiểu biết, thì kẻ khác không hề bị gạt sang một bên. Bởi lẽ hiểu biết, trong mọi trường hợp, đều gắn liền với trạng thái bộc lộ trọn vẹn của Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, nên chuyển hướng này của hiểu biết chính là một biến đổi hiện-sinh của toàn bộ quá trình phóng chiếu. Khi hiểu biết thế giới, thì cái Hữu-thể-trong cũng luôn được hiểu cùng với nó, trong khi hiểu biết về tồn tại theo đúng nghĩa lại luôn là hiểu biết về thế giới.

Với tư cách là Dasein thực tại, bất kỳ Dasein nào cũng đã chuyển hướng tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình thành một khả tính hiểu biết. Trong đặc tính phóng chiếu của nó, hiểu biết góp phần tạo nên—về mặt hiện sinh—cái mà ta gọi là Sicht ‘thị lực’ của Dasein. Cùng với trạng thái bộc lộ của cái ‘ở đó’, tầm nhìn này hiện hữu như một existenzial seiende yếu tố hiện sinh; và Dasein là tầm nhìn này về phương diện đồng bản nguyên trong mỗi cách thức Hữu thể cơ bản của nó mà ta đã ghi nhận: với tư cách là Umsicht sự quan sát bao quát trong mối bận tâm, với tư cách Rucksicht cân nhắc với thái độ solicitude ân cần đến kẻ khác, và như là tầm nhìn hướng về bản thân Hữu thể —điều mà vì nó, bất kỳ Dasein nào cũng hiện hữu như chính nó. [Chen ngang: Umsicht của Heidegger thường được dịch là ‘quan sát bao quát’ hay ‘tầm nhìn xa thực tiễn’ là cách chúng ta quan sát và thấu hiểu môi trường xung quanh trong đời sống thường nhật khi sử dụng công cụ và thực hiện mọi công việc. Đây không phải là kiểu quan sát mang tính khoa học và tách biệt, mà là sự nhận thức đầy gắn kết và chuyên chú về thế giới thực tiễn. Các khía cạnh chính của Umsicht: i) Nhìn nhận mang tính thực tiễn - đó là sự kết hợp giữa [Um-] hành động ‘nhìn quanh’ và Sicht ‘thị lực/tầm nhìn/sự thấy’. Ta nhận biết sự vật thông qua việc biết cách sử dụng chúng; chẳng hạn, ta nhìn nhận chiếc búa như một vật dụng để đóng đinh; ii). Trạng thái Zuhanden ‘sẵn có để dùng’ - khái niệm này vận hành trong các tương tác thường ngày của chúng ta với Zuhandenheit những công cụ hữu dụng; iii). Chúng ta định hướng trong môi trường sống một cách tự nhiên, không cần phải tách mình ra để phân tích các vật thể như những hình khối trừu tượng; iv). Không mang tính lý thuyết - nó đối lập với sự chiêm nghiệm thuần túy mang tính lý thuyết. Khoa học nhìn nhận sự vật như những thực thể nằm yên, tách biệt khỏi con người; trong khi đó Umsicht tương tác với sự vật như một phần của quy trình hành động và mạng lưới các mục đích cụ thể. -HHN]. Sicht Thị lực/Tầm nhìn liên hệ chủ yếu và toàn diện đến tồn tại được gọi là ‘tính minh bạch’. Ta chọn thuật ngữ này để chỉ định ‘tri thức về cái Tự ngã’4 theo một nghĩa dễ hiểu, [tr.187] nhằm biểu thị rằng ở đây vấn đề không phải là truy tìm và xem xét theo kiểu tri giác một điểm được gọi là ‘Tự ngã’, mà là nắm bắt trọn vẹn trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới xuyên suốt tất cả các yếu tố cấu thành thiết yếu của nó, và thực hiện điều đó bằng hiểu biết. Trong quá trình tồn tại, các thực thể chỉ ‘nhìn thấy’ chính mình khi chúng minh bạch với bản thân bằng một đồng bản nguyên tính trong các yếu tố cấu thành tồn tại của chúng: cái Hữu-thể- bên-cạnh thế giới và cái Hữu-thể-với Kẻ khác. Hơn nữa, cái Undurchsichtigkeit tình trạng thiếu minh bạch của Dasein lại không bắt nguồn chủ yếu và duy nhất từ ​​những cú tự-lừa dối mang tính ‘vị kỷ’; nó cũng bắt nguồn từ tình trạng thiếu hiểu thân thuộc vơi thế giới.   

Tất nhiên, ta cần phải đề phòng sự hiểu lầm về cách biểu hiện Sicht ‘Thị lực/Tầm nhìn’. Nó tương ứng với Gelichtetheit ‘trạng thái khai quang’ mà ta đã coi là đặc điểm định hình trạng thái bộc lộ của cái ‘ở đó’. ‘Nhìn’ không chỉ có nghĩa là tri giác bằng đôi mắt thể xác, nhưng cũng không có nghĩa là sự nhận thức thuần túy phi giác quan về một cái gì đó mang tính hiện-diện-vô-tri trong chính sự hiện-diện-vô-tri của nó. Khi gán cho ‘thị lực/tầm nhìn’ một ý nghĩa hiện sinh, chúng ta chỉ đơn thuần dựa vào đặc điểm riêng biệt của hành động nhìn: nó cho phép các thực thể nằm trong tầm tiếp cận của nó được bắt gặp một cách không che giấu, đúng như tự thân chúng vậy. Tất nhiên, mọi ‘giác quan’ đều thực hiện điều này trong phạm vi khám phá vốn thuộc về riêng nó. Tuy nhiên, ngay từ đầu, truyền thống triết học đã chủ yếu hướng về ‘cái nhìn’ như một phương thức tiếp cận các thực thể và Hữu thể. Để duy trì mối liên hệ với truyền thống này, chúng ta có thể hình thức hóa ‘cái nhìn’ và ‘hành động nhìn’ thành một thuật ngữ phổ quát nhằm mô tả bất kỳ cách tiếp cận nào đối với các thực thể hoặc Hữu thể—tức là việc tiếp cận nói chung. Bằng cách chỉ ra rằng mọi cái nhìn đều bắt nguồn chủ yếu từ hiểu biết (chẳng hạn, mối bận tâm bao quát chính là hiểu biết dưới dạng tri thức thông thường hay Verständigkeit, chúng ta đã tước bỏ vị thế ưu tiên của Anschauen ‘trực quan thuần túy’; vị thế ưu tiên này vốn tương ứng—về mặt nhận thức—với vị thế ưu tiên của cái Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri trong bản thể luận truyền thống. Cả ‘trực quan’ và ‘tư duy’ đều là những phái sinh của hiểu biết, và là những phái sinh khá xa cách với nguồn gốc của nó. Ngay cả cái Wesensschau ‘trực quan về bản chất’ trong hiện tượng luận cũng bắt nguồn từ hiểu biết mang tính hiện sinh. Chúng ta chỉ có thể đưa ra nhận định về kiểu nhìn này nếu đã đạt được những quan niệm tường minh về Hữu thể và cấu trúc của Hữu thể—chẳng hạn như chỉ có các hiện tượng theo nghĩa hiện tượng học mới đạt được. Trạng thái bộc lộ ấy của cái ‘ở đó’ trong hiểu biết tự nó là một cách thức tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein. Trong cách thức mà Hữu thể của Dasein được phóng chiếu lên cả cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ lẫn ý nghĩa (cái thế giới), ẩn chứa trạng thái bộc lộ của Hữu thể nói chung. Sự hiểu về Hữu thể đã được mặc nhiên thừa nhận trong quá trình phóng chiếu lên các khả tính. Khi phóng chiếu, Hữu thể được thấu hiểu, mặc dù chưa được quan niệm theo nghĩa bản thể luận. Một [tr.188] thực thể mà loại Hữu thể của nó là sự phóng chiếu thiết yếu của Hữu-thể-trong-thế-giới thì có được sự hiểu biết về Hữu thể, và hiểu biết này đóng vai trò cấu thành nên Hữu thể của chính nó. Cái trước đó được khẳng định giáo điềuviii nay được làm sáng tỏ dựa trên Cấu thành của Hữu thể, trong đó Dasein, với tư cách hiểu biết, chính là cái ‘ở đó’ của nó. Ý nghĩa hiện sinh của hiểu biết về Hữu thể này không thể được làm sáng tỏ thỏa đáng trong phạm vi nghiên cứu này, trừ khi dựa trên cơ sở Diễn giải Hữu thể theo Thời gian.

Với tư cách là các cấu trúc hiện sinh, tâm thế và hiểu biết đặc trưng cho trạng thái bộc lộ bản nguyên của Hữu-thể-trong-thế-giới. Thông qua việc mang một tâm trạng, Dasein ‘nhìn thấy’ các khả tính mà nó hiện hữu trong khuôn khổ đó. Trong bộc lộ mang tính phóng chiếu của các khả tính ấy, bao giờ nó cũng đã ở trong một tâm trạng nhất định. Sự phóng chiếu tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính nó đã được phó thác cho cái Faktizität der Geworfenheit Thực tính Bị ném vào cái ‘ở đó’. [Chen ngang: die Faktizität der Geworfenheit cái ‘Thực tính Bị ném vào’ là một khái niệm cốt lõi trong triết học hiện sinh của Martin Heidegger diễn tả việc con người thấy mình đã bị ‘ném vào’ một thế giới có sẵn với những điều kiện cố định—như sự chào đời, văn hóa và lịch sử—mà ta không hề lựa chọn hay tạo ra, mà buộc phải chấp nhận và sống trong đó. Các ý tưởng cốt lõi của khái niệm: i) Geworfenheit Tình trạng bị ném vào tồn tại mà không hề có sự yêu cầu hay lựa chọn về thời gian, địa điểm hay hoàn cảnh chào đời; ii) Faktizität Thực tính – Cái thực tại cụ thể, bất biến về hoàn cảnh của ta, bao gồm các giới hạn thể chất, xuất thân xã hội và những sự kiện trong quá khứ; iii). Không Nguyên do Tối hậu - Chúng ta không chọn điểm xuất phát cho mình, nghĩa là tồn tại của ta mang tính chất thiếu vắng một nền tảng cố định ngay từ gốc rễ, và ta phải tự định hướng trong tình trạng đó; iv). Ý nghĩa đối với đời sống con người - Giới hạn và Tự do – Tình trạng ‘bị ném vào’ vừa hạn chế ta bằng cách đặt ra các ranh giới, vừa cho phép ta hành động và đưa ra lựa chọn trong phạm vi những giới hạn đó; v). Trách nhiệm - Vì nhận thức được mình hiện diện ở đây mà không có sẵn một cuốn cẩm nang hướng dẫn, nên buộc ta phải làm chủ cuộc đời và tự kiến ​​tạo tương lai bất chấp những điều kiện đã được định sẵn này.- HHN]. Chẳng phải Hữu thể của Dasein đã trở nên bí ẩn hơn sao, khi mà giờ đây chúng ta đã lý giải cái cấu thành hiện sinh Hữu thể của cái ‘ở đó’ theo nghĩa phóng chiếu trong trạng thái bị ném vào? Quả thực là như vậy. Trước hết, chúng ta phải để cho cái đặc tính đầy bí ẩn của Hữu thể ấy bộc lộ, ngay cả khi tất cả những gì ta có thể làm chỉ là đi đến chỗ hoàn toàn bế tắc trong việc ‘giải mã’ nó, và đặt lại câu hỏi về cái Hữu thể của Hữu-thể-trong-thế-giới vốn mang tính bị ném vào và tính phóng chiếu. Tuy nhiên, ngay bước đầu, dù chỉ là để làm bộc lộ loại Hữu thể thường nhật—trong đó hiểu biết luôn gắn liền với một tâm thế—và nếu ta thực hiện điều đó về mặt hiện tượng theo cách thức tương xứng với trạng thái bộc lộ trọn vẹn của cái ‘ở đó’, thì chúng ta buộc phải triển khai các cấu trúc hiện sinh này một cách cụ thể.

32. Hiểu biết và Diễn giải6

Với tư cách hiểu biết, Dasein phóng chiếu Hữu thể của mình vào các khả tính. Hữu-thể-hướng-tới-các-khả-tính mang tính hiểu biết này tự nó là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, và sở dĩ như vậy là nhờ cách mà các khả tính này—khi được bộc lộ—tác động ngược trở lại Dasein. Hành động phóng chiếu của hiểu biết mang trong mình một khả tính riêng – cái khả tính tự phát triển. Chúng ta gọi sự phát triển của hiểu biết này là ‘Diễn giải’.7 Trong đó, hiểu biết chiếm lĩnh—một cách thấu đáo—những gì mà nó hiểu biết. Khi diễn giải, hiểu biết không trở thành một cái gì đó khác; nó trở thành chính nó. Diễn giải như vậy có nền tảng hiện sinh nằm ở hiểu biết; hiểu biết không nảy sinh từ diễn giải. Diễn giải cũng không phải là việc thu thập thông tin về những gì  [tr.189] được thấu hiểu; đúng hơn, nó là cách triển khai các khả tính đã được phóng chiếu trong hiểu biết. Theo mạch phân tích sơ bộ về Dasein thường nhật này, chúng ta sẽ theo đuổi hiện tượng diễn giải trong hiểu biết thế giới—tức là trong hiểu biết không đích thực, và thực sự ở phương thức tính đích thực của nó. Xét về mặt ý nghĩa được bộc lộ trong hiểu biết thế giới, cái Hữu-thể-bên-cạnh cái sẵn-có-để-dùng sẽ tự hiểu về bất cứ can dự nào có thể có khi được bắt gặp.8 Việc nói rằng ‘mối quan tâm bao quát cẩn trọng khám phá ra’ nghĩa là ‘thế giới’—vốn đã được thấu hiểu—nay cần được diễn giải. Cái sẵn-có-để-dùng hiện ra một cách tường minh trong tầm nhìn thấu hiểu. Mọi công việc chuẩn bị, sắp đặt, sửa chữa, cải thiện hay hoàn thiện đều được thực hiện theo cách sau: chúng ta phân tách9 trong cái ‘để-mà’ vốn được quan tâm bao quát cẩn trọng sẵn-có-để-dùng, và chúng ta tự quan tâm đến nó tùy theo những gì lộ diện qua quá trình này. Thứ được phân tách bằng cái nhìn bao quát xét theo cái ‘để-mà’ của nó—và được phân tách đúng như thế, tức là được thấu hiểu một cách tường minh—mang cấu trúc của cái gì đó như là cái gì đó. Câu hỏi mang tính bao quát về sự vật sẵn-có-để-dùng cụ thể này là gì sẽ nhận được câu trả lời mang tính diễn giải bao quát là nó dùng cho mục đích này hay mục đích kia.

Nếu chúng ta nói rõ mục đích của nó là gì, thì chúng ta không chỉ đơn thuần gọi tên một vật gì đó; nhưng cái được chỉ định lại được hiểu như là cái mà theo đó ta tiếp nhận sự vật đang được đề cập. Cái được bộc lộ trong hiểu biết—tức là cái được hiểu—vốn đã có thể tiếp cận theo cách mà cái ‘như là cái’ của nó có thể được làm cho nổi bật một cách tường minh. Yếu tố ‘như là cái’ này tạo nên cấu trúc của tính tường minh của một cái gì đó đã được thấu hiểu. Nó cấu thành nên việc Diễn giải. Khi tương tác với cái sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường bằng cách diễn giải chúng với cái nhìn bao quát cẩn trọng, ta ‘nhìn thấy’ nó như là cái bàn, cánh cửa, cỗ xe hay cây cầu; song những gì đã được diễn giải như vậy không nhất thiết phải bị tách rời ra thông qua một khẳng định vốn dứt khoát mô tả nó. Bất kỳ cái nhìn thuần túy nào—ở giai đoạn tiền-phán-đoán—hướng về cái sẵn-có-để-dùng, thì trong tự thân nó đã là một cái gì đó thấu hiểu và diễn giải. Nhưng chẳng phải sự vắng mặt của cái ‘như là’ ấy lại chính là đặc điểm tạo nên ‘tính thuần túy’ của bất kỳ tri giác thuần túy nào của sự vật hay sao? Mỗi khi nhìn bằng Sicht Tầm nhìn này, ta đã thực hiện hành vi đó về phương diện thấu hiểu và diễn giải rồi. Ngay trong khoảnh khắc chỉ đơn thuần bắt gặp một sự vật, ta đã hiểu nó trong mối tương quan với một tổng thể các can dự; và tầm nhìn như vậy ẩn chứa trong nó tính tường minh của Verweisung các mối quan hệ quy chiếu (thuộc về cái ‘để-mà’) vốn thuộc về tổng thể tính đó.

[Tr.190] Cái được hiểu sẽ được Khớp nối khi thực thể cần thấu hiểu được đưa lại gần ta thông qua sự diễn giải, với điểm tựa là cấu trúc ‘cái gì đó như là cái gì đó’; và sự Khớp-nối này đã hiện diện ngay cả trước khi ta đưa ra bất kỳ lời khẳng định mang tính chủ đề nào về nó. Trong một lời khẳng định như vậy, cái ‘như là’ không phải mới xuất hiện lần đầu; nó chỉ được diễn đạt lần đầu tiên mà thôi, và điều này chỉ khả thể khi sự vật đã hiện diện trước mắt ta như một thứ có thể diễn đạt được.10 Cái sự thật là khi nhìn vào một cái gì đó mà tính tường minh của lời khẳng định có thể vắng mặt, không cho phép ta phủ nhận sự hiện diện của một sự diễn giải mang tính Khớp nối trong cái nhìn thuần túy như vậy, và do đó, phủ nhận sự tồn tại của cái cấu trúc ‘như là’ trong đó. Khi ta tương tác với bất kỳ sự vật nào, thì cái nhìn thuần túy hướng về những Sự-vật gần gũi nhất với ta đã mang trong mình cái cấu trúc của sự diễn giải; và điều này diễn ra theo một phương thức nguyên thủy đến mức, việc cố gắng nắm bắt một sự vật sao cho tách biệt khỏi cấu trúc ‘như là’ ấy—theo một nghĩa nào đó—lại đòi hỏi một sự điều chỉnh nhất định. Khi ta chỉ đơn thuần nhìn chằm chằm vào một sự vật, thì việc sự vật ấy hiện-diện-trước-mắt- ta lại biểu lộ sự thất bại trong việc thấu hiểu nó. Việc nắm bắt tách rời khỏi cái ‘như là’ này chính là khiếm khuyết của lối nhìn mà trong đó ta thuần túy thấu hiểu. Nó không phải là trạng thái nguyên thủy hơn so với lối nhìn kia, mà trái lại, nó bắt nguồn từ chính lối nhìn đó. Nếu cái ‘như là’ không được diễn đạt ở bình diện ontic thực hữu, thì điều này không được phép khiến ta bỏ qua vai trò của nó như một yếu tố cấu thành nên sự thấu hiểu—một yếu tố mang tính hiện sinh và tiên nghiệm.

Nhưng nếu chúng ta không bao giờ tri giác các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ mà không đồng thời thấu hiểu và diễn giải nó, và nếu kiểu tri giác như vậy cho phép ta bắt gặp một sự vật nào đó—với tư cách là một cái gì đó—thông qua quan sát cẩn trọng bao quát, thì liệu điều này có nghĩa là trước tiên ta đã trải nghiệm một sự vật thuần túy ‘hiện-diện-vô-tri’, rồi sau đó mới coi nó là cái cửa hay ngôi nhà hay không? Hiểu như vậy là sai lầm về phương thức đặc thù mà qua đó diễn giải vận hành như là trạng thái bộc lộ. Trong khi diễn giải, có thể nói là ta không hề khoác một ‘ý nghĩa’ lên một sự vật trần trụi đang ‘hiện-diện-vô-tri’, cũng không gán cho nó một giá trị nào đó; trái lại, khi một sự vật trong-thế-giới được bắt gặp theo đúng nghĩa, thì [tr.191] sự vật ấy vốn đã mang trong mình một mối can dự được bộc lộ trong sự thấu hiểu của ta về thế giới, và mối can dự này chính là điều được làm sáng tỏ nhờ diễn giải.11 Cái sẵn-có-để-dùng luôn được thấu hiểu trong khuôn khổ của một tổng thể tính các can dự. Tổng thể tính này không nhất thiết phải được nắm bắt một cách tường minh bằng cách diễn giải mang tính chủ đề. Ngay cả khi đã trải qua diễn giải như vậy, nó vẫn lùi vào thấu hiểu không hề nổi bật so với nền cảnh chung. Và đó chính phương thức tạo nên nền tảng cốt yếu cho mọi diễn giải mang tính quan sát cẩn trọng bao quát trong đời sống thường nhật. Trong mỗi trường hợp, diễn giải này đều dựa trên một cái gì đó mà ta đã có từ trước—tức là trong ‘cái-được-có-trước’.12 [Chen ngang: Thuật ngữ Vorhabe/Vorhaben/ fore-having của Martin Heidegger - nắm bắt trước/ cái có sẵn từ trước - chỉ bối cảnh nền tảng hoặc sự hiểu biết tổng thể mà chúng ta đã sở hữu từ trước khi thực sự cố gắng lý giải hay diễn giải một điều gì đó. Ý tưởng cơ bản: 1) Tôi không bao giờ tiếp cận một sự vật, văn bản hay tình huống với một tâm trí hoàn toàn trống rỗng mà luôn bắt đầu với một nền tảng có sẵn và sự quen thuộc mang tính thực tiễn với thế giới; 2) Là một phần của Vor-Struktur/ Fore-structure được Heidegger giải thích là mọi hiểu biết đều có một Vor-Struktur bao gồm ba phần liên kết với nhau: i) Vorhabe/ Fore-having - Bối cảnh nền tảng và sự quen thuộc thực tiễn tổng thể mà chúng ta đã ‘có’ từ trước; ii) Vorsicht/ Fore-sight - Góc độ, quan điểm hoặc cách nhìn cụ thể mà từ đó ta quan sát sự vật; iii) Vorgriff/ Fore-conception - Các khái niệm, phạm trù hoặc ngôn ngữ có sẵn mà ta dùng để định hình tư duy. Chẳng hạn, khi cầm một chiếc búa lên để sửa ghế, thì Vorhabe/ Fore-having của tôi chính là hiểu biết thực tiễn, có sẵn về toàn bộ thế giới của công việc, công cụ và các nhiệm vụ thường ngày. Tôi không nhìn chiếc búa như một hình thù trừu tượng ngẫu nhiên; tôi đã ‘có sẵn’ bối cảnh thực cho nó ngay trước khi sử dụng.-HHN]. Với tư cách chiếm lĩnh hiểu biết, diễn giải vận hành trong Hữu thể hướng về tổng thể các can dự được hiểu trước—một Hữu thể thấu hiểu. Khi một sự vật được hiểu rõ nhưng vẫn bị che khuất, thì nó sẽ bộc lộ qua chiếm lĩnh; quá trình này luôn diễn ra dưới sự dẫn dắt của một quan điểm, vốn xác định cái liên quan đến cái mà sự vật được thấu hiểu sẽ được diễn giải.

Trong mọi trường hợp, diễn giải luôn dựa trên một cái gì đó mà ta nhìn thấy từ trước—tức là ‘cái-được-nhìn-thấy-trước’. Cái thấy-trước này thực hiện bước ‘phân tách sơ khởi’ đối với những gì đã được ta nắm giữ trong ‘cái-có-trước’, và nó thực hiện điều đó với định hướng về một phương thức diễn giải xác định.13 Bất cứ điều gì đã được thấu hiểu, được nắm giữ trong ‘cái-có-trước’ và được ta hướng tầm nhìn tới theo cách ‘nhìn-thấy-trước’, đều có thể được khái niệm hóa thông qua diễn giải. Bằng phép diễn giải như vậy, cách thức hình dung về thực thể đang được diễn giải có thể được rút ra từ chính thực thể đó, hoặc việc diễn giải có thể ép buộc thực thể ấy vào những khái niệm vốn trái ngược với phương thức Hữu thể của nó. Dù trong trường hợp nào thì diễn giải cũng đã quyết định một cách thức hình dung xác định—dù là dứt khoát hay dè dặt; nó dựa trên một điều gì đó mà ta nắm bắt từ trước—tức là một tiền-khái niệm. Bất cứ khi nào một sự vật được diễn giải như là một cái gì đó, thì diễn giải ấy về cơ bản sẽ dựa trên ‘cái-có-trước’, ‘nhìn-thấy-trước’ và tiền-khái niệm. Diễn giải không bao giờ là hành động nắm bắt [tr.192] một sự vật được trình hiện trước mắt mà không có các tiền-giả định.14 Khi thực hiện một kiểu diễn giải cụ thể—chẳng hạn như diễn giải văn bản một cách chính xác—nếu ta muốn viện dẫn những gì ‘hiện diện ở đó’, thì cái ‘hiện diện ở đó’ không gì khác ngoài Vormeinung tiền-quan niệm—một giả định hiển nhiên, không bàn cãi—của chính kẻ diễn giải. Trong cách tiếp cận mang tính diễn giải, luôn tồn tại một giả định như vậy; đó là điều ‘hiển nhiên’ ​​cùng với chính sự diễn giải—tức là điều đã hiện diện trong cái có trước, nhìn thấy trước và tiền-khái niệm của chúng ta.

Ta phải hình dung bản chất của yếu tố ‘tiền-/có trước’ này như thế nào? Liệu ta đã làm được điều đó khi chỉ nói một cách hình thức rằng đây là một cái gì đó mang tính a priori ‘tiên nghiệm’? Tại sao hiểu biết—điều mà ta đã xác định là một cấu trúc hiện sinh tính cơ bản của Dasein—lại mang cấu trúc này như là của riêng nó? Bất cứ điều gì được diễn giải, với tư cách là một sự vật được diễn giải, đều mang as-structure cấu trúc ‘như là’ [Chen ngang: Martin Heidegger coi Als-Struktur ‘Cấu trúc-như-là’ là phương thức cơ bản mà Dasein hiện hữu người luôn tiếp nhận các sự vật trong thế giới; theo đó, sự vật không hiện ra như những đối tượng biệt lập, mà mang ý nghĩa cụ thể—như là một cái gì đó - ví dụ nhìn nhận một công cụ ‘như là’ cái búa, hay một đám mây ‘như là’ dấu hiệu báo mưa.- HHN] với tư cách là của riêng nó; và điều này liên quan thế nào đến cấu trúc ‘tiền-’? Rõ ràng là hiện tượng cấu trúc ‘như là’ không thể bị phân rã hay chia nhỏ thành từng mảnh. Nhưng liệu điều đó có loại trừ khả năng thực hiện một sự phân tích bản nguyên về nó hay không? Phải chăng ta đành chấp nhận rằng những hiện tượng như vậy là những điều ‘tối hậu’? Khi đó, câu hỏi ‘tại sao?’ vẫn sẽ còn đó. Hay liệu cấu trúc ‘tiền-’ của hiểu biết và cấu trúc ‘như là’ của diễn giải cho thấy một mối liên hệ mang tính hiện-sinh-bản-thể-luận với hiện tượng phóng chiếu hay không? Và liệu hiện tượng này có quy chiếu về một trạng thái bản nguyên trong Hữu thể của Dasein? Trước khi giải đáp những câu hỏi này — vốn chưa được chuẩn bị đầy đủ cho đến thời điểm hiện tại — chúng ta cần xem xét liệu cái đã trở nên hữu hình là ‘tiền-cấu trúc’ của hiểu biết và ‘cấu trúc-như-là’ của diễn giải, tự thân nó có phải đã là một hiện tượng đơn nhất hay không; một hiện tượng được vận dụng rộng rãi trong các vấn đề triết học, mặc dù sự vận dụng phổ biến đó vẫn chưa đạt tới tầm mức bản nguyên tính của việc lý giải mang tính bản thể luận.

Trong phóng chiếu hiểu biết, các thực thể được bộc lộ trong khả tính của chúng. Đặc trưng của khả tính này, trong mỗi trường hợp, đều tương ứng với loại Hữu thể của cái thực thể được hiểu. Các thực thể -trong-thế-giới thường được phóng chiếu lên thế giới—tức là lên một chỉnh thể ý nghĩa—mà các mối liên hệ tham chiếu của nó vốn đã gắn kết với mối bận tâm của Hữu-thể-trong-thế-giới từ trước. Khi các thực thể trong-thế-giới được khám phá cùng với Hữu thể của Dasein—tức là khi bắt đầu được hiểu biết thì chúng có ý nghĩa. Tuy nhiên, cái được hiểu, xét một cách nghiêm ngặt, không phải là nghĩa mà là cái thực thể, hoặc [tr.193] là Hữu thể. Nghĩa là trong đó cái Verstandlichkeit Khả tính lý giải của một sự vật được duy trì. Cái có thể được khớp nối bằng một trạng thái bộc lộ mà nhờ đó ta hiểu được, thì ta gọi là ‘nghĩa’. Khái niệm nghĩa bao hàm khung hiện sinh hình thức của những gì tất yếu thuộc về cái mà một diễn giải thấu hiểu khớp nối lại. ‘Nghĩa’ là ‘cái-trên-cái-mà’ của một sự phóng chiếu, nhờ đó một sự vật trở nên có thể lý giải như là một cái gì đó; nó có được cấu trúc của mình từ cái có trước, tầm nhìn trước, và khái niệm trước.15 Chừng nào hiểu biết và diễn giải còn cấu thành trạng thái hiện sinh Hữu thể của cái ‘ở đó’, thì ‘nghĩa’ phải được quan niệm như là khung hiện sinh-hình thức của trạng thái bộc lộ vốn thuộc về hiểu biết. ‘Nghĩa’ là một cấu trúc hiện sinh của Dasein, chứ không phải là một thuộc tính gắn liền với các thực thể, nằm ‘phía sau’ chúng, hay lơ lửng đâu đó như một ‘miền trung gian’. Dasein chỉ ‘có’ nghĩa chừng nào trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới có thể được ‘lấp đầy’ bởi các thực thể có thể khám phá được trong trạng thái bộc lộ đó.16 Do đó, chỉ Dasein mới có thể mang nghĩa hoặc vô nghĩa. Nghĩa là, chính Hữu thể của nó và các thực thể được bộc lộ cùng với Hữu thể đó có thể được lĩnh hội trong hiểu biết, hoặc có thể vẫn bị bỏ lại trong tình trạng không-hiểu biết. Cách diễn giải khái niệm ‘nghĩa’ này, về mặt nguyên tắc, mang tính bản thể luận-hiện sinh; nếu tuân theo điều này, thì mọi thực thể mà loại Hữu thể của nó khác với của Dasein thì đều phải được quan niệm là vô nghĩa  — tức là về bản chất hoàn toàn không có bất kỳ ý nghĩa nào. Ở đây, từ ‘vô nghĩa’ không hàm ý đánh giá giá trị của các thực thể đó, mà nó diễn tả một đặc tính hữu thể luận. Và chỉ những gì vô nghĩa mới có thể phi lý. Cái hiện-diện-vô-tri, khi Dasein bắt gặp nó, có thể — theo một nghĩa nào đó — tấn công vào Hữu thể của Dasein; chẳng hạn, các sự kiện tự nhiên có thể ập đến và hủy diệt chúng ta. Và nếu chúng ta truy vấn về ý nghĩa của Hữu thể, thì cuộc khảo sát của chúng ta không trở thành một cuộc khảo sát ‘sâu’, cũng không phải là nỗ lực giải mã những gì nằm sau Hữu thể. Nó đặt câu hỏi về chính Hữu thể, xét trong chừng mực Hữu thể đi vào khả tính lý giải của Dasein. Ý nghĩa của Hữu thể không bao giờ bị [tr.194] đối lập với các thực thể, hay với Hữu thể được xem như ‘nền tảng’ nâng đỡ các thực thể; vì một ‘nền tảng’ có thể tiếp cận chỉ với tư cách ý nghĩa, ngay cả khi bản thân nó là vực thẳm của tình trạng vô nghĩa.17   

Với tư cách cái bộc lộ của cái ‘ở đó’, hiểu biết luôn gắn liền với toàn bộ cấu trúc Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong mỗi hiểu biết về thế giới, thì tồn tại cũng được hiểu kèm theo, và ngược lại. Hơn nữa, mọi diễn giải đều vận hành dựa trên cái tiền-cấu trúc mà chúng ta đã mô tả trước đó. Bất kỳ sự diễn giải nào muốn góp phần tạo nên hiểu biết thì bản thân nó đã phải hiểu những gì cần được diễn giải. Đây là một sự thật luôn được ghi nhận, ngay cả khi chỉ trong phạm vi các phương thức hiểu biết và diễn giải phái sinh, chẳng hạn như diễn giải ngữ văn học, là loại diễn giải thuộc về phạm vi tri thức khoa học. Tri thức như vậy đòi hỏi sự chặt chẽ của việc chứng minh để đưa ra các cơ sở xác thực. Trong một chứng minh khoa học, ta không được phép giả định trước điều mà ta có nhiệm vụ phải đưa ra cơ sở xác thực cho nó. Tuy nhiên, nếu trong mọi trường hợp diễn giải đều phải vận hành dựa trên những gì đã được hiểu, và phải lấy  nguồn nuôi dưỡng từ đó, thì làm thế nào nó có thể đạt đến các kết quả khoa học chín muồi mà không rơi vào vòng luẩn quẩn? Đặc biệt là khi hiểu biết vốn được giả định trước đó lại vẫn vận hành trong phạm vi những hiểu biết thông thường của chúng ta về con người và thế giới? Tuy nhiên, xét theo những quy tắc logic sơ đẳng nhất, vòng lặp này là một circulus vitiosus lập luận luẩn quẩn. Song, nếu đúng là như vậy, thì công việc diễn giải lịch sử học sẽ bị loại trừ ngay từ đầu khỏi phạm vi của tri thức chặt chẽ. Chừng nào sự thật của vòng lặp này trong hiểu biết chưa được loại bỏ, thì lịch sử học buộc phải chấp nhận những khả tính nhận thức kém chặt chẽ hơn. Lịch sử học được phép bù đắp phần nào khiếm khuyết này thông qua ‘ý nghĩa tinh thần’ của các ‘đối tượng’ mà nó nghiên cứu. Dẫu vậy, ngay cả theo quan điểm của chính nhà sử học, thì sẽ lý tưởng hơn nếu có thể tránh được vòng lặp này và nếu vẫn còn hy vọng tạo ra được một nền lịch sử học độc lập với lập trường của người quan sát—tương tự như tri thức của chúng ta về Tự nhiên được cho là độc lập như vậy.     

Nhưng nếu ta coi vòng lặp này là một vòng luẩn quẩn và tìm cách tránh né nó—ngay cả khi ta chỉ ‘cảm thấy’ nó như một khiếm khuyết tất yếu—thì hành vi thấu hiểu đã bị hiểu sai ngay từ căn bản. Vấn đề ở đây không phải là việc đồng nhất thấu hiểu và diễn giải với một lý tưởng tri thức xác định nào đó. Bản thân lý tưởng ấy chỉ là một phụ loại của thấu hiểu—một phân loại đã đi chệch hướng khi xâm nhập vào nhiệm vụ chính đáng là nắm bắt cái ‘hiện-diện-vô-tri’ trong cái Unverstandlichkeit tính chất cốt yếu không-thể-hiểu-được của nó. Để các điều kiện cơ bản cho phép diễn giải được thực hiện, ta cần phải [tr.195] nhận thức rõ ngay từ đầu những điều kiện thiết yếu để quá trình này diễn ra. Điều quyết định không phải là thoát khỏi vòng lặp mà là bước vào nó theo đúng cách. Vòng lặp thấu hiểu này không phải là quỹ đạo mà bất kỳ loại tri thức ngẫu nhiên nào cũng có thể vận hành trong đó; nó là cái biểu hiện của tiền-cấu trúc mang tính hiện sinh của chính Dasein. Nó không thể bị quy giản xuống cấp độ một vòng lặp luẩn quẩn, hay thậm chí là một vòng lặp chỉ được dung thứ. Ẩn chứa trong vòng lặp này là một khả tính thực chứng của loại tri thức bản nguyên nhất. Chắc chắn, ta chỉ thực sự nắm bắt được khả tính này khi hiểu rằng, trong quá trình diễn giải, nhiệm vụ đầu tiên, cuối cùng và thường trực của ta là không bao giờ để cho các yếu tố có-trước, thấy-trước và tiền-khái-niệm của mình bị định hình bởi những ý tưởng viển vông hay quan niệm phổ chúng; vì thế ta cần xác lập chủ đề một cách vững chắc khi triển khai các tiền-cấu trúc này dựa trên bản thân sự vật. Bởi vì hiểu biết— theo nghĩa hiện sinh—chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein, nên các tiền giả định bản thể luận của tri thức sử luận, về nguyên tắc, vượt xa quan niệm về tính chặt chẽ trong các khoa học chính xác nhất. Toán học không chặt chẽ hơn sử luận, mà chỉ hẹp hơn, vì các nền tảng hiện sinh liên quan đến nó nằm trong phạm vi hẹp hơn.

_______________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…theo cách mà chính sự hiện hữu này, nơi bản thân nó, mở ra cái "nơi-đó-mà-tại-đó" (Wor-an) của việc hiện hữu cùng chính nó.’

2 'Entwurf'. Nghĩa cơ bản của danh từ này và động từ cùng gốc 'entwerfen' là hành động 'ném' (throwing) một vật gì đó ra xa hoặc rời khỏi bản thân; tuy nhiên, trong cách dùng tiếng Đức thông thường—và thường thấy ở Heidegger—chúng mang nghĩa 'thiết kế' hoặc 'phác thảo' một 'dự phóng' (project) sẽ được thực hiện; chúng cũng có thể được dùng theo nghĩa chuyên biệt hơn là 'sự phóng chiếu' (projection), chẳng hạn như khi một nhà hình học 'phóng chiếu' một đường cong 'lên' một mặt phẳng. Theo đó, các từ 'projection' và 'project' khá phù hợp để dịch các từ này trong nhiều ngữ cảnh, nhất là khi nghĩa gốc của chúng rất gần gũi với 'Entwurf' và 'entwerfen'; tuy nhiên, trong khi nghĩa gốc là 'ném ra xa' vẫn còn rất sống động trong tiếng Đức của Heidegger, thì nó hầu như đã mất hẳn trong cách dùng tiếng Anh thông thường của 'projection' và 'project'—những từ vốn đã mang thêm các hàm nghĩa không có trong tiếng Đức. Do đó, khi bản dịch tiếng Anh nói rằng Dasein 'phóng chiếu' (project) các thực thể, các khả tính, hay thậm chí chính Hiện hữu của nó 'lên' một điều gì đó, độc giả cần lưu ý rằng nghĩa gốc là 'ném' (throwing) được cảm nhận mạnh mẽ hơn trong tiếng Đức so với trong bản dịch.

3. ‘…nó kéo [khả tính] xuống thành một trạng thái hiện hữu đã được cho sẵn và được nhắm đến, trong khi sự phóng chiếu (Entwurf)—thông qua hành động ném—lại ném khả tính ra phía trước như là chính khả tính và để cho nó hiện hữu như thế.’ Cụm từ 'einem etwas vorwerfen' theo nghĩa đen có nghĩa là 'ném một vật gì đó về phía ai đó', nhưng thường mang hàm nghĩa 'trách móc ai đó về điều gì' hoặc 'ném điều gì đó vào mặt ai đó' (như một lời buộc tội). Heidegger có thể đang nghĩ đến nhiều hơn một trong những ý nghĩa này.

4 ‘Selbsterkenntnis’ (Tự nhận thức). Cần phân biệt kỹ điều này với khái niệm 'Sichkennen' (tự biết mình) đã được thảo luận ở các trang H. 124–125. Có lẽ sự khác biệt này có thể được diễn đạt — dù còn khá thô sơ — bằng cách chỉ ra rằng ở đây chúng ta đang bàn về một sự hiểu biết trọn vẹn và tinh tế về Bản thân (Self) cùng mọi hàm ý của nó, trong khi ở đoạn trước, chúng ta đề cập đến kiểu 'tự hiểu biết' mà một người đánh mất khi họ 'quên mất bản thân' hoặc làm điều gì đó quá khác biệt so với bản tính của mình đến mức họ 'không còn nhận ra chính mình nữa'.

5 ‘konkreten’. Các ấn bản trước đó dùng từ 'konkreteren' ('cụ thể hơn').

6 'Auslegung'. Xem chú thích số 3 của chúng tôi ở trang 19, H. 1 phía trên.

7 'Auslegung'. Các ấn bản cũ hơn dùng từ 'Auslegung'.

8 ‘…gibt sich…zu verstehen, welche Bewandtnis es je mit dem Begegnenden haben kann.’ (…tự làm cho mình hiểu được ý nghĩa hay bản chất của sự vật/người mà ta bắt gặp.)

9 ‘auseinandergelegt’. Heidegger đang đối lập động từ 'auslegen' (nghĩa đen là 'trình bày' hay 'bày ra') với từ cùng gốc 'auseinanderlegen' ('tách rời' hoặc 'tháo rời').

10 ‘…was allein so moglich ist, dass es als Aussprechbares vor-liegt.’ (…điều chỉ có thể thực hiện được khi nó hiện diện như một thứ có thể diễn đạt thành lời.) Ở đây chúng tôi theo cách đọc của các ấn bản trước đó. Dấu gạch nối trong từ 'vor-liegt' xuất hiện ở cuối dòng trong các ấn bản sau này, nhưng chắc chắn nó nhằm gợi ý (giống như việc in nghiêng từ 'vor' trong câu trước) rằng động từ này cần được hiểu theo nghĩa đen một cách đặc biệt. Đoạn văn này đáng chú ý vì cách tác giả khai thác tiền tố 'aus' ('ra ngoài'/'khỏi'), một yếu tố không thể hiện rõ trong bản dịch của chúng tôi. Theo nghĩa đen, 'Aussage' ('khẳng định') là thứ được 'đẩy ra' (gestoßen); 'Auslegung' ('diễn giải') là hành động 'bày ra' (legen); 'ausdrücklich' ('rõ ràng/tường minh') là thứ đã được 'ép ra' (drücken); còn 'aussprechbar' (từ mà chúng tôi dịch là 'có thể diễn đạt') là thứ có thể được 'nói ra' (sprechen). Các động từ 'ausdrücken' và 'aussprechen' có nghĩa gần như tương đương nhau; ...nhưng 'aussprechen' thường mang những hàm ý cụ thể hơn như 'phát âm', 'bày tỏ quan điểm cá nhân', 'nói ra suy nghĩ của mình', 'nói trọn vẹn điều cần nói', v.v. Mặc dù có thể dành từ 'express' (diễn đạt/bày tỏ) cho 'ausdrücken' và dịch 'aussprechen' bằng một cụm từ như 'speak out' (nói ra), nhưng việc dùng 'express' cho cả hai động từ lại thuận tiện hơn; nhất là khi 'aussprechen' cùng các từ phái sinh của nó rất hiếm khi xuất hiện trước chương này—chương mà 'ausdrücken' cũng ít khi được sử dụng. Mặt khác, ta có thể dễ dàng phân biệt giữa hai từ xuất hiện thường xuyên là 'ausdrücklich' và 'ausgesprochen' bằng cách dịch từ sau là 'expressed' (được diễn đạt/bày tỏ) hoặc 'expressly' (một cách rõ ràng/dứt khoát), đồng thời dành từ 'explicit' (rõ ràng/minh thị) cho cả 'ausdrücklich' và 'explizit'.

11 ‘…điều được làm lộ ra thông qua sự diễn giải.’

12 Trong đoạn này, Heidegger giới thiệu các thuật ngữ quan trọng: 'Vorhabe', 'Vorsicht' và 'Vorgriff'. 'Vorhabe' có lẽ được dịch tốt nhất bằng các cụm từ như 'điều ta có từ trước' (what we have in advance) hoặc 'điều ta có trước mắt' (what we have before us); tuy nhiên, ta thường thấy thuận tiện hơn khi dùng thuật ngữ ngắn gọn là 'fore-having' (sự có-trước), đôi khi sử dụng lối diễn đạt kép (hendiadys) như trong câu này, và ta sẽ xử lý các thuật ngữ còn lại theo cách tương tự. 'Vorsicht' ('điều ta nhìn thấy từ trước' hay 'fore-sight' - sự nhìn-trước) là thuật ngữ duy nhất trong số này có mặt trong cách dùng tiếng Đức thông thường và thường mang hàm ý 'sự thận trọng' (caution) hay 'sự khôn ngoan/cẩn trọng' (prudence); tuy nhiên, Heidegger lại sử dụng nó theo nghĩa tổng quát hơn, gần gũi với từ 'foresight' (tầm nhìn xa/sự nhìn-trước) trong tiếng Anh, mà không mang hàm ý về một sự dự đoán sắc bén và chính xác. 'Vorgriff' ('điều ta nắm bắt trước' hay 'tiền khái niệm') có liên hệ với động từ 'vorgreifen' ('dự đoán' hay 'đi trước') cũng như với danh từ "Begriff".

13 'Die Auslegung griindet jeweils in einer Vorsicht, die das in Vorhabe Genommene auf eine bestimmte Auslegbarkeit hin "anschneidet".' Ý tưởng dường như là giống như người cắt lát bánh mì đầu tiên giúp 'khởi đầu' quá trình làm bánh, sự tiên liệu tạo ra một 'Hart' (sự dự liệu) cho những gì chúng ta có trước - sự dự liệu từ trước.

14 ‘…eines Vorgegebenen.' Ở đây, cũng như trong nhiều đoạn văn khác, chúng ta đã dịch 'vorgeben' bằng nhiều dạng khác nhau của động từ 'trình bày'; nhưng có lẽ sẽ phù hợp hơn với cuộc thảo luận của Heidegger về tiền tố 'vor-' nếu viết '…về một điều gì đó đã được dự liệu từ trước'.

15 'Sinn ist das durch Vorhabe, Vorsicht und Vorgijf strukturierte Woraufhin des Entwurjs, aus dem her etwas als etwas verstiindlich wird.' (Lưu ý rằng cách dịch thông thường của chúng ta về 'verstandlich, và 'Verstandlichkeit' là 'có thể hiểu được' và 'có thể hiểu được', không thể hiện được mối liên hệ giữa các từ với 'Verstandnis', v.v. Mối liên hệ này có thể được thể hiện một cách hiệu quả bằng cách viết 'có thể hiểu được', 'có thể hiểu được', v.v., nhưng chỉ phải trả giá bằng sự lúng túng.)

16 'Sinn "hat" nur das Dasein, sofern die Erschlossenheit des In-der-Welt-seins durch das in ihr entdeckbare Seiende "erftillbar" ist.' Ý nghĩa của câu khó hiểu và mơ hồ này có thể trở nên rõ ràng hơn phần nào nếu người đọc nhớ lại rằng ở đây cũng như ở những nơi khác (xem H. 75 ở trên) động từ 'erschliessen' ('tiết lộ') được dùng theo nghĩa 'mở một cái gì đó !JP' để nội dung của nó có thể được 'khám phá'. Do đó, những gì được 'mở ra' sẽ được 'điền vào' khi ngày càng nhiều nội dung của nó được khám phá.

17 'Der Sinn von Sein kann nie in Gegensatz gebracht werden zum Seienden oder zum Sein als tragenden "Grund" des Seienden, wei! "Grund" nur als Sinn zugiinglich wird, und sei er selbst der Abgrund der Sinnlosigkeit.' Lưu ý mối quan hệ từ nguyên giữa 'Grund' ('mặt đất') và 'Abgrund' ('vực thẳm').