Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Dành tặng EDMUND HUSSERL vì Tình bạn và Ngưỡng mộ, Todtnauberg im Boden, Rừng Đen, ngày 8 tháng 4 năm 1926.
«δῆλον γὰρ ὡς ὑμεῖς μὲν ταῦτα (τί ποτε βούλεσθε σημαίνειν ὁπόταν ὂν φθέγγησθε) πάλαι γιγνώσκετε, ἡμεῖς δὲ πρὸ τοῦ μὲν ᾠόμεθα, νῦν δ’ ἠπορήκαμεν» [1] (Denn offenbar seid ihr doch schon lange mit dem vertraut, was ihr eigentlich meint, wenn ihr den Ausdruck „seiend“ gebraucht, wir jedoch glaubten es einst zwar zu verstehen, jetzt aber sind wir in Verlegenheit gekommen) [Tr.20] 'Rõ ràng từ lâu chúng ta đã hiểu ý nghĩa của từ ‘là’ khi sử dụng nó. Tuy nhiên, chúng tôi, những người từng nghĩ rằng mình hiểu nó, giờ đây lại bắt đầu trở nên bối rối.'1 – Plato’s Sophist 244a; Heidegger’s Sein und Zeit, frontispiece.]
Liệu trong thời đại mình, chúng ta có lời đáp cho câu hỏi chúng ta thực sự muốn nói gì bằng từ ‘là/Hữu thể’?1 Hoàn toàn không. Vì vậy, việc chúng ta đặt lại câu hỏi về ý nghĩa2 của Hữu thể là điều thích hợp. Nhưng liệu ngày nay chúng ta có còn bối rối trước sự bất lực của mình trong việc hiểu từ ‘Hữu thể’ không? Hoàn toàn không. Vì vậy, trước hết chúng ta phải khơi dậy cách hiểu về ý nghĩa của câu hỏi này. Mục tiêu của chuyên luận là làm rõ câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể và thực hiện điều đó một cách cụ thể. Mục tiêu tạm thời của chúng tôi là Diễn giải3 thời gian như là chân trời khả thể cho bất kỳ lý giải nào về Hữu thể.4 Nhưng lý do để biến điều này thành mục tiêu thì đã có các nghiên cứu mà mục tiêu đó đòi hỏi, và con đường để đạt tới, cần một vài giới thiệu.
GIỚI THIỆU: GIẢI THÍCH VẤN ĐỀ Ý NGHĨA CỦA HỮU THỂ
I. Tất yếu, Cấu trúc và Vị thế của Vấn đề Hữu thể
1. Tính tất yếu Tái minh định Vấn đề Hữu thể
[Tr.21] Ngày nay vấn đề này dường như đã bị lãng quên. Mặc dù trong thời đại của chúng ta, việc tái chấp thuận ‘siêu hình học’ được coi là tiến bộ, nhưng người ta cho rằng chúng ta đã được miễn trừ khỏi những nỗ lực của một γιγαντομαχία περὶ τῆς οὐσίας Cuộc chiến vì Bản thể giữa những gã Khổng lồ mới được khơi dậy. Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta đang chạm đến không hề là một vấn đề bất kỳ nào. Đó là một chủ đề đã tạo động lực cho các nghiên cứu của Plato và Aristotle, nhưng sau đó lại lắng xuống như một chủ đề khảo sát thực tế.5 Điều mà hai Triết gia Cổ đại đạt được là sự kiên trì qua vô số cải đổi, ‘chỉnh sửa’ cho đến ‘Logic’ của Hegel. Và những gì họ đã nỗ lực trí tuệ tối đa để giành được từ các hiện tượng, dù còn rời rạc và sơ khai, vốn từ lâu đã trở nên tầm thường. Không chỉ có vậy. Trên cơ sở những đóng góp ban đầu của người Hy Lạp đối với một cách Diễn giải về Hữu thể, người ta đã phát triển một giáo điều, không chỉ tuyên bố vấn đề ý nghĩa của Hữu thể là thừa thãi, mà còn cho phép hoàn toàn bỏ qua nó. Người ta nói rằng ‘Hữu thể’ là khái niệm phổ quát nhất và trống rỗng nhất. Vì vậy, nó chống lại mọi nỗ lực định nghĩa. Khái niệm phổ quát nhất và do đó không thể định nghĩa này cũng không cần bất kỳ định nghĩa nào, vì mọi người đều sử dụng nó liên tục và đã hiểu ý nghĩa của nó. Theo cách này, điều mà các triết gia cổ đại liên tục thấy khó hiểu và bị che giấu nay đã trở nên rõ ràng và hiển nhiên đến mức nếu ai đó tiếp tục hỏi về nó thì sẽ bị coi là sai lầm về phương pháp. Ở phần đầu của cuộc khảo sát, không thể đưa ra một bản tường thuật chi tiết [tr.22] về những tiền đề và định kiến liên tục được gieo trồng và nuôi dưỡng niềm tin cho rằng việc tìm hiểu về Hữu thể là không cần thiết. Chúng bắt nguồn từ chính bản thể học cổ đại, và sẽ không thể giải thích bản thể học đó một cách đầy đủ cho đến khi câu hỏi về Hữu thể được làm rõ, được trả lời và được coi là một manh mối - ít nhất là nếu muốn xem xét đến cái nền tảng mà từ đó các khái niệm bản thể học cơ bản được phát triển, và nếu chúng ta muốn xem liệu các phạm trù đã được chứng minh một cách phù hợp và đầy đủ hay chưa. Do đó, chúng ta sẽ chỉ thảo luận về những tiền đề này đến điểm cần thiết phải đặt lại câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể trở nên rõ ràng. Có ba tiền đề như vậy.
1). Trước hết, người ta cho rằng: Το όν εστί καθόλου μάλιστα πάντων.6 ‘Hữu thể là khái niệm phổ quát nhất’. lllud quod primo cadit sub-apprehensione est ens, cuius intellectus includitur in omnibus, quaecumque quis apprehendit. ‘Hiểu biết về Hữu thể đã được bao hàm trong việc hình dung bất cứ điều gì mà người ta nhận thức như một thực thể.’1,11 Nhưng tính ‘phổ quát’ của ‘Hữu thể’ không phải là tính phổ quát của một lớp hay giống. Thuật ngữ ‘Hữu thể’ không định nghĩa phạm vi các thực thể nằm ở trên cùng khi chúng được diễn đạt về mặt khái niệm theo giống và loài: οὔτε τὸ ὂν γενών Hữu thể không phải là một giống/ loài. Tính ‘phổ quát’ của Hữu thể ‘vượt lên’ bất kỳ tính phổ quát nào của giống loài. Trong triết học bản thể luận thời trung cổ, ‘Hữu thể’ được coi là một ‘siêu việt’. Chính Aristotle đã nhận thức được nhất tính của cái ‘phổ quát’ tiên nghiệm này như một đơn vị tương đồng, trái ngược với tính đa dạng của các khái niệm giống loài cao nhất áp dụng cho sự vật.
Với khám phá này, bất chấp sự phụ thuộc của ông vào cách thức mà Plato đã đặt ra câu hỏi bản thể luận, ông đã đặt vấn đề về Hữu thể trên một cơ sở, về nguyên tắc, là mới. Chắc chắn, ngay cả Aristotle cũng không thể làm sáng tỏ được cái bóng đen của những mối liên hệ phạm trù này. Trong triết học bản thể luận thời trung cổ, vấn đề này đã được thảo luận rộng rãi, đặc biệt là trong các trường phái Thomist và Scotist, mà vẫn chưa đạt được sự rõ ràng về nguyên tắc. Và khi Hegel cuối cùng định nghĩa ‘Bản/Hữu thể’ là ‘cái trực tiếp bất định’ và biến định nghĩa này thành nền tảng cho tất cả các giải thích phạm trù logic tiếp theo của ông, ông vẫn tiếp tục nhìn theo cùng một hướng với bản thể học cổ đại, [tr.23] ngoại trừ việc ông không còn chú ý đến vấn đề của Aristotle về nhất tính của ‘Bản/Hữu thể’ trái ngược với đa tính của các ‘phạm trù’ áp dụng cho sự vật. Vì vậy, nếu nói rằng ‘Bản/Hữu thể’ là khái niệm phổ quát nhất, thì điều này không có nghĩa nó là khái niệm rõ ràng nhất hoặc không cần thảo luận thêm. Ngược lại, nó là khái niệm tối nghĩa nhất trong tất cả.
2). Thứ hai, người ta cho rằng khái niệm ‘Hữu thể’ không thể định nghĩa được. Điều này được suy ra từ tính phổ quát tối cao của nó,iv và đúng như vậy, nếu definitio fit per genus proximum et differentiam specificam định nghĩa được thực hiện thông qua giống gần nhất và sự khác biệt cụ thể". ‘Hữu thể’ thực sự không thể được hình dung như một thực thể; enti non additur aliqua natura: nó cũng không thể có được đặc tính để được áp dụng thuật ngữ “thực thể”. ‘Hữu thể’ không thể được suy ra từ các khái niệm cao hơn bằng định nghĩa, cũng không thể được trình bày thông qua các khái niệm thấp hơn. Nhưng điều này có ngụ ý rằng ‘Hữu thể’ không còn là vấn đề nữa? Hoàn toàn không. Chúng ta chỉ có thể suy ra rằng ‘Hữu thể’ không thể có đặc tính của một thực thể. Do đó, không thể áp dụng cho ‘Hữu thể’ khái niệm ‘định nghĩa’ như được trình bày trong logic truyền thống, bản thân nó có nền tảng trong bản thể học cổ đại và, trong một giới hạn nhất định, trợ giúp chính đáng cho việc định nghĩa ‘các thực thể’. Tính không thể định nghĩa của ‘Hữu thể’ không loại bỏ câu hỏi về ý nghĩa của nó và buộc chúng ta phải đối mặt với câu hỏi đó.
3) Thứ ba, người ta cho rằng ‘Hữu thể’ là khái niệm hiển nhiên nhất trong tất cả các khái niệm. Bất cứ khi nào người ta nhận thức được điều gì hoặc đưa ra một khẳng định, bất cứ khi nào người ta ứng xử với các thực thể, thậm chí với chính mình,7 đều sử dụng ‘Hữu thể’; và biểu hiện này được cho là dễ hiểu ‘không cần bàn cãi thêm’, giống như mọi người đều hiểu ‘Trời màu xanh’, ‘Tôi vui vẻ’, và những câu tương tự. Nhưng ở đây chúng ta có một loại dễ hiểu trung bình, điều này chỉ chứng tỏ rằng nó không thể hiểu được. Nó cho thấy rằng trong bất kỳ cách ứng xử nào với các thực thể với tư cách các thực thể - thậm chí trong bất kỳ ‘Hữu thể’ nào đối với các thực thể với tư cách các thực thể - đều chứa đựng một bí ẩn tiên nghiệm.8 Chính việc chúng ta đã sống trong sự hiểu biết về ‘Hữu thể’ và ý nghĩa của ‘Hữu thể’ vẫn còn bị che khuất trong bóng tối chứng tỏ rằng về nguyên tắc, cần phải đặt ra câu hỏi này một lần nữa. Trong phạm vi các khái niệm triết học cơ bản - đặc biệt là khi chúng ta đề cập đến khái niệm ‘Hữu thể’ - việc viện dẫn tính hiển nhiên là một thủ tục đáng ngờ, ngay cả khi ‘tính hiển nhiên’ („verborgene Urteile über die gewöhnliche Vernunft“ những ‘phán đoán tiềm ẩn của lý tính thông thường’ của Kant)9 [tr.24] trở thành chủ đề rõ ràng và bền vững duy nhất cho ‘công việc của các nhà triết học’ trong phân tích. Tuy nhiên, bằng cách xem xét những định kiến này, chúng ta đã làm rõ không chỉ vấn đề câu hỏi về ‘Hữu thể’ thiếu câu trả lời, mà còn bản thân câu hỏi đó cũng mơ hồ và thiếu định hướng. Vì vậy, nếu muốn khôi phục lại nó, điều đó có nghĩa là trước tiên chúng ta phải tìm ra một cách thức thích hợp để đặt ra câu hỏi đó.
2. Cấu trúc Hình thức của Câu hỏi về Hữu thể
Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể cần được đặt ra. Nếu đó là một câu hỏi cơ bản, hoặc thực sự là câu hỏi cơ bản, thì nó phải được làm rõ ràng, và theo một cách thích hợp.10 Do đó, chúng ta phải giải thích ngắn gọn những gì thuộc về bất kỳ câu hỏi nào, để từ quan điểm này, câu hỏi về Hữu thể có thể được làm cho rõ ràng như một câu hỏi rất đặc biệt với đặc điểm riêng biệt của nó. Mỗi cuộc khảo sát là một Suchen cuộc tìm kiếm. Mỗi sự tìm kiếm đều được hướng dẫn trước bởi những gì được tìm kiếm. Khảo sát là một sự tìm kiếm có ý thức về một thực thể cả về thực tế là nó tồn tại và về Hữu thể của nó như nó vốn có.11 Cuộc tìm kiếm có ý thức này có thể mang hình thức Untersuchen ‘khảo sát’, trong đó người ta làm sáng tỏ những gì câu hỏi đề cập đến và xác định tính chất của nó. Bất kỳ cuộc tìm kiếm nào, với tư cách một cuộc tìm kiếm về một cái gì đó, đều có cái sein Gefragtes được hỏi đến. Nhưng tất cả các cuộc tìm kiếm về một cái gì đó bằng cách nào đó đều là việc đặt câu hỏi về Anfragen bei một cái gì đó…. Vì vậy, ngoài những gì được hỏi, một cuộc tìm kiếm còn có cái ein Befragtes được thẩm vấn. Trong các câu hỏi khảo sát - tức là, trong các câu hỏi mang tính lý thuyết cụ thể - đối tượng được hỏi được xác định và khái niệm hóa. Hơn nữa, trong đối tượng được hỏi còn chứa đựng cả điều cần được tìm ra thông qua das Erfragte việc đặt câu hỏi; đây mới là điều thực sự được hướng đến:12 với điều này, cuộc khảo sát đạt được mục tiêu của nó. Bản thân khảo sát là hành vi của kẻ đặt câu hỏi, và do đó là của một thực thể, có đặc tính riêng của Hữu thể. Khi thực hiện khảo sát, người ta có thể làm như vậy ‘một cách ngẫu nhiên’ hoặc có thể đặt [tr.25] câu hỏi một cách rõ ràng. Việc đặt câu hỏi rõ ràng đặc biệt ở chỗ cuộc khảo sát không trở nên minh bạch với chính nó cho đến khi tất cả các yếu tố cấu thành của câu hỏi tự trở nên minh bạch.
Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể cần được đặt ra. Do đó, chúng ta phải thảo luận nó với cái nhìn hướng đến những yếu tố cấu trúc này. Việc khảo sát, như một hình thức tìm kiếm, phải được dẫn dắt trước bởi những gì được tìm kiếm. Vì vậy, ý nghĩa của Hữu thể phải đã có sẵn cho chúng ta bằng một cách nào đó. Như chúng ta đã gợi ý, chúng ta luôn tiến hành các hoạt động của mình bằng việc hiểu biết về Hữu thể. Từ sự hiểu biết này nảy sinh cả câu hỏi rõ ràng về ý nghĩa của Hữu thể và xu hướng dẫn chúng ta đến việc hình thành khái niệm về nó. Chúng ta không biết ‘Hữu thể’ có nghĩa là gì. Nhưng ngay cả khi hỏi “Hữu thể là gì?”, thì chúng ta vẫn giữ một cách hiểu về cái ‘là’, mặc dù chúng ta không thể xác định về mặt khái niệm cái ‘là’ đó biểu thị điều gì. Chúng ta thậm chí không biết cái chân trời mà trong khuôn khổ của nó ý nghĩa đó cần phải được nắm bắt và xác định. Nhưng mức độ hiểu biết trung bình mơ hồ này về Hữu thể vẫn là một Sự thật. Cho dù sự hiểu biết này về ‘Hữu thể’ (một sự hiểu biết đã có sẵn cho chúng ta) có thể dao động và trở nên mờ nhạt, và gần như chỉ là sự quen thuộc với một từ ngữ, thì chính tính không rõ ràng của nó lại là một hiện tượng tích cực cần phải được minh định. Không thể mong đợi một cuộc khảo sát về ý nghĩa của ‘Hữu thể’ sẽ mang lại sự minh định ngay từ đầu. Nếu chúng ta muốn có được manh mối cần thiết để Diễn giải mức độ hiểu biết trung bình này về Hữu thể, trước tiên chúng ta phải phát triển khái niệm Hữu thể. Dựa trên khái niệm này và những cách thức mà nó có thể được hiểu một cách rõ ràng, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của sự hiểu biết mơ hồ hoặc chưa được soi sáng này về ‘Hữu thể’, và những loại che khuất - hay cản trở đối với việc soi sáng rõ ràng - về ý nghĩa của Hữu thể là có thể và thậm chí là không thể tránh khỏi. Hơn nữa, mức độ hiểu biết trung bình mơ hồ này về Hữu thể có thể bị ảnh hưởng bởi các lý thuyết và quan điểm truyền thống về Hữu thể đến mức chúng vẫn ẩn giấu như những nguồn gốc của cách thức mà nó được lý giải một cách phổ biến.
Cái mà chúng ta tìm kiếm khi nghiên cứu về Hữu thể không phải là điều gì đó hoàn toàn xa lạ, ngay cả khi ở mức độ gần gũi13 chúng ta cũng không hề nắm bắt được nó. Trong câu hỏi mà chúng ta cần giải quyết, điều được hỏi là về Hữu thể, cái xác định các thực thể là các thực thể, cái mà woraufhin trên cơ sở đó [tr.26] các thực thể đã được hiểu, cho dù chúng ta có thảo luận chi tiết về chúng như thế nào. Hữu thể của các thực thể tự nó không phải ‘là’ một thực thể. Nếu muốn hiểu vấn đề về Hữu thể, bước triết học đầu tiên của chúng ta là không μῦθον τίνα διηγεῖσθαιv muthon tina diegeisthai, không ‘kể một câu chuyện’ - nghĩa là, không định nghĩa các thực thể là thực thể bằng cách truy tìm nguồn gốc của chúng đến một số thực thể nào đó khác, như thể ‘Hữu thể’ có đặc tính của một thực thể khả thể nào đó vậy. Vì thế, Hữu thể, với tư cách là đối tượng được hỏi, phải được thể hiện theo cách riêng của nó, về bản chất khác với cách thức mà các thực thể được khám phá. Theo đó, điều cần được tìm ra bằng cách hỏi - ý nghĩa của Hữu thể - cũng đòi hỏi nó phải được hình dung theo cách riêng của nó, về bản chất trái ngược với các khái niệm mà các thực thể có được ý nghĩa xác định của chúng.
Chừng nào Hữu thể còn cấu thành đối tượng được hỏi đến, và Hữu thể có nghĩa là Hữu thể của các thực thể, thì hóa ra là chính các thực thể lại là đối tượng phải được chất vấn. Có thể nói, các thực thể này đang bị đặt câu hỏi về Hữu thể của chúng. Nhưng nếu các đặc trưng Hữu thể của chúng có thể được làm rõ mà không bị chứng ngụy, thì bản thân các thực thể này hẳn đã trở nên dễ tiếp cận như chính tự thân chúng vậy. Khi chúng ta đi đến vấn đề cần được chất vấn, câu hỏi về Hữu thể/Being đòi hỏi phải tìm ra và đảm bảo phương thức tiếp cận đúng đắn đối với các thực thể từ trước. Nhưng có rất nhiều thứ mà chúng ta gọi là seiend/being ‘hiện hữu’, và chúng ta gọi như vậy theo nhiều nghĩa khác nhau. Mọi thứ chúng ta nói đến, mọi thứ chúng ta hướng tới, mọi thứ mà chúng ta hành xử theo bất kỳ cách nào, cũng đều là seiend/being ‘hiện hữu’; cái mà chúng ta là chính là hiện hữu, và cách mà chúng ta là cũng chính là hiện hữu. Hữu thể nằm ở sự thật là một cái gì đó là, và ở trong ‘Hữu thể’ của nó như nó vốn là; trong Thực tại; trong Vorhandenheit sự hiện diện trước mắt; trong chất thể; trong tính hợp lệ; trong Dasein; trong cái ‘có đó’.14 Ý nghĩa của ‘Hữu thể’ được nhận biết trong những thực thể nào? Sự tiết lộ về ‘Hữu thể’ bắt đầu từ những thực thể nào? Điểm xuất phát có phải là tùy chọn, hay một thực thể cụ thể nào đó được quyền ưu tiên khi chúng ta đi sâu vào vấn đề ‘Hữu thể’? Chúng ta sẽ lấy thực thể nào làm ví dụ, và nó được quyền ưu tiên theo nghĩa nào?
Nếu câu hỏi về Hữu thể được diễn đạt một cách rõ ràng và được thực hiện theo cách hoàn toàn minh bạch với chính nó, thì bất kỳ cách xử lý nào phù hợp với những giải thích mà chúng ta đã đưa ra đều đòi hỏi chúng ta phải giải thích cách nhìn nhận Hữu thể, cách hiểu và nắm bắt ý nghĩa của nó; nó đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị con đường để lựa chọn thực thể phù hợp cho ví dụ của mình, và tìm ra cách tiếp cận đích thực với nó. Nhìn vào một cái gì đó, hiểu và hình dung nó, lựa chọn, tiếp cận nó - tất cả những cách hành xử này đều cấu thành nên cuộc khảo sát của chúng ta, và do đó là các phương thức Hữu thể đối với những thực thể cụ thể [tr. 27] vốn chính là những người khảo sát chúng ta. Vì vậy, để giải quyết câu hỏi về Hữu thể một cách đầy đủ, chúng ta phải làm cho một thực thể-người khảo sát-trở nên minh bạch trong Hữu thể của bản thân mình. Chính việc đặt câu hỏi này là phương thức ‘Hữu thể’ của một thực thể; và theo đúng nghĩa, nó có đặc tính thiết yếu từ khảo sát - cụ thể là ‘Hữu thể’. Cái thực thể mà mỗi chúng ta đều là chính mình và bao gồm việc tìm hiểu như một khả tính Hữu thể của nó, chúng ta sẽ ký hiệu bằng thuật ngữ ‘Dasein’.15 Nếu chúng ta muốn đặt câu hỏi một cách rõ ràng và minh bạch, trước tiên chúng ta phải đưa ra một lời giải thích thích hợp về một thực thể (Dasein) liên quan đến Hữu thể của nó.
Tuy nhiên, chẳng phải có một vòng tròn hiể hiện trong một việc làm như vậy sao? Nếu trước tiên chúng ta phải định nghĩa một thực thể trong Hữu thể của nó, và nếu chúng ta muốn đặt câu hỏi về Hữu thể chỉ trên cơ sở này, thì điều đó chẳng phải là đi trong một vòng tròn sao? Trong quá trình tìm ra câu hỏi của mình, chẳng phải chúng ta đã ‘giả định’ điều gì đó mà chỉ câu trả lời mới có thể mang lại sao? Những phản đối hình thức như lập luận về ‘suy lý vòng tròn’, vốn có thể dễ dàng được viện dẫn bất cứ lúc nào trong việc nghiên cứu các nguyên tắc thứ nhất, lại luôn vô ích khi người ta xem xét các cách thức khảo sát cụ thể. Khi nói đến việc lý giải vấn đề đang được đề cập, chúng không có trọng lượng và ngăn cản chúng ta thâm nhập vào lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng trên thực tế16 hoàn toàn không có vòng tròn nào trong việc đặt câu hỏi như đã mô tả. Có thể xác định bản chất của các thực thể trong Hữu thể của chúng mà không nhất thiết phải có khái niệm rõ ràng về ý nghĩa của Hữu thể trong tầm tay. Nếu không thì cho đến nay đã không có bất kỳ tri thức bản thể luận nào. Khó có thể phủ nhận rằng thực tế đã có loại tri thức như vậy.17
Tất nhiên, cho đến nay ‘Hữu thể’ đã được giả định trong tất cả các lý thuyết bản thể luận, nhưng không phải là một khái niệm trong tầm tay - không phải là loại sự vật mà chúng ta đang tìm kiếm. Việc ‘giả định’ Hữu thể này có tính chất xem xét trước, sao cho dưới ánh sáng của nó, các thực thể được trình bày cho chúng ta được tạm thời Diễn đạt trong Hữu thể của chúng. Hoạt động hướng dẫn [tr.28] này của việc xem xét Hữu thể phát sinh từ sự hiểu biết trung bình về Hữu thể mà chúng ta luôn vận hành và cuối cùng thuộc về cấu thành18 thiết yếu của chính Dasein. Việc ‘giả định’ như vậy không liên quan gì đến việc đặt ra một tiên đề mà từ đó một chuỗi mệnh đề được suy diễn. Hoàn toàn không thể có bất kỳ ‘lập luận vòng tròn’ nào trong việc đặt câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể; bởi vì khi trả lời câu hỏi này, vấn đề không phải là việc đặt nền tảng cho một cái gì đó bằng một sự suy luận như vậy; đúng hơn đó chính là việc vạch trần những căn cứ của nó và trưng bày chúng.19
Trong câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, không có ‘suy lý vòng tròn’ mà đúng hơn là một ‘mối liên hệ ngược hoặc xuôi’ đáng chú ý mà những gì chúng ta đang hỏi về (‘Hữu thể’) mang đến cho chính cuộc khảo sát như một phương thức Hữu thể của một thực thể. Ở đây, những gì được hỏi có liên quan thiết yếu đến chính cuộc điều tra, và điều này thuộc về eigensten Sinn ý nghĩa riêng của câu hỏi về Hữu thể. Tuy nhiên, điều này chỉ có nghĩa là có một cách, có lẽ thậm chí là một cách rất đặc biệt, trong đó các thực thể có đặc tính Dasein là có liên quan đến câu hỏi về Hữu thể. Nhưng chúng ta đã chứng minh như vậy ở chỗ một loại thực thể nhất định có ưu quyền liên quan đến Hữu thể của nó!? Và chúng ta đã trình bày như vậy ở chỗ thực thể nào đóng vai trò là ví dụ chính sẽ phải được chất vấn trong câu hỏi về Hữu thể sao!? Cho đến nay, cuộc thảo luận chưa chứng tỏ được ưu quyền của Dasein, cũng như chưa dứt khoát chỉ ra liệu Dasein có thể hoặc thậm chí nhất thiết phải đóng vai trò là thực thể chính để được chất vấn hay không. Nhưng thực sự có điều gì đó giống như ưu quyền của Dasein đã tự khẳng định mình.
3. Ưu quyền Bản thể luận của Câu hỏi về Hữu thể
Khi chúng ta chỉ ra những đặc điểm của câu hỏi về Hữu thể, lấy cấu trúc hình thức của câu hỏi theo đúng nghĩa làm manh mối, chúng ta đã làm rõ [tr.29] rằng đây là một câu hỏi đặc biệt, ở chỗ cần một loạt các cân nhắc cơ bản để làm rõ nó, chưa kể đến việc giải quyết nó. Nhưng những đặc điểm riêng biệt của nó sẽ chỉ được làm sáng tỏ đầy đủ khi chúng ta đã xác định rõ ràng nó về chức năng, mục đích và động cơ của nó. Cho đến nay, các lập luận của chúng ta để chỉ ra rằng câu hỏi này cần được đặt lại một phần đã được thúc đẩy bởi nguồn cội đáng kính của nó nhưng chủ yếu là do thiếu một câu trả lời dứt khoát và thậm chí là do tình trạng thiếu vắng của bất kỳ cách diễn đạt thỏa đáng nào về chính câu hỏi đó. Tuy nhiên, có thể chất vấn mục đích của câu hỏi này phục vụ điều gì. Liệu chỉ đơn giản hay là một vấn đề chỉ để suy đoán viển vông về những tổng quát tính tổng quát nhất, hoặc trong tất cả các câu hỏi, nó vừa là câu hỏi cơ bản nhất vừa là câu hỏi cụ thể nhất?
Hữu thể luôn luôn là Hữu thể của một thực thể. Toàn thể tính của các thực thể, tùy theo các lĩnh vực khác nhau của chúng, có thể trở thành một lĩnh vực để làm sáng tỏ và phân định các phạm vi chủ đề cụ thể. Các lĩnh vực này (ví dụ: lịch sử, tự nhiên, không gian, sự sống, Dasein, ngôn ngữ, v.v.) có thể đóng vai trò là khách thể mà các nghiên cứu khoa học tương ứng có thể lấy làm chủ đề của mình. Nghiên cứu khoa học thực hiện, một cách sơ lược và đơn giản, việc phân định và xác định ban đầu các phạm vi vấn đề-chủ đề. Cấu trúc cơ bản của bất kỳ lĩnh vực nào như vậy cũng đều đã được hình thành theo một cách nào đó trong các phương thức tiền khoa học của chúng ta khi trải nghiệm và diễn giải lĩnh vực Hữu thể mà chính phạm vi chủ đề được giới hạn trong đó. Các ‘khái niệm cơ bản’ phát sinh từ đó vẫn là những manh mối gần gũi nhất giúp chúng ta lần đầu tiên làm sáng tỏ lĩnh vực này một cách cụ thể. Mặc dù nghiên cứu luôn hướng tới cách tiếp cận tích cực này, nhưng sự tiến bộ thực sự của nó không đến từ việc thu thập kết quả và lưu trữ chúng trong các ‘cẩm nang’, mà đến từ việc tìm hiểu cách thức Grundverfassungen cấu thành cơ bản của từng lĩnh vực cụ thể - một cuộc khảo sát mà chúng ta chủ yếu hướng tới do phản ứng lại sự gia tăng như vậy về lĩnh vực thông tin.
Sự ‘vận động’ thực sự của khoa học diễn ra khi các khái niệm cơ bản của chúng trải qua một sự sửa đổi ít nhiều mang tính triệt để, mà bản thân nó cũng nhận thức được. Mức độ mà một ngành khoa học đạt được được xác định bởi khả năng khủng hoảng trong các khái niệm cơ bản của nó. Trong những cuộc khủng hoảng nội tại như vậy, mối quan hệ giữa nghiên cứu khảo sát thực chứng và chính những sự vật đang được chất vấn sẽ đến một điểm mà nó bắt đầu lung lay. Ngày nay trong các ngành học khác nhau trên khắp thế giới, có những xu hướng mới được khơi dậy nhằm đặt công việc nghiên cứu trên những nền tảng mới. Toán học, dường như là ngành khoa học nghiêm ngặt và được xây dựng vững chắc nhất, đã đạt đến một cuộc khủng hoảng các ‘nền tảng’ của nó. Trong cuộc tranh luận giữa những người theo chủ nghĩa hình thức và những người theo chủ nghĩa trực giác, thì vấn đề nằm ở chỗ [tr.30] đạt được và bảo đảm phương thức tiếp cận chính yếu đối với những gì được cho là đối tượng của khoa học này. Thuyết tương đối của vật lý xuất phát từ xu hướng thể hiện sự liên kết của Tự nhiên như nó vốn có ‘trong chính nó’. Là một lý thuyết về các điều kiện mà chúng ta có thể tiếp cận bản thân Tự nhiên, nó tìm cách bảo tồn tính bất biến của các định luật chuyển động bằng cách xác định tất cả các tương đối tính, và do đó gặp phải câu hỏi về cấu trúc của lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của nó - vấn đề vật chất. Trong sinh học, có một xu hướng thức tỉnh để tìm hiểu vượt ra ngoài các định nghĩa mà cơ giới luận và sinh lực luận đã đưa ra cho ‘sự sống’ và ‘sinh vật’, và để định nghĩa lại loại Hữu thể nào thuộc về sự sống theo đúng nghĩa. Trong các khoa học nhân văn có đặc trưng lịch sử,20 sự thôi thúc hướng tới hiện thực lịch sử đã được củng cố theo thời gian bởi truyền thống và bởi cách thức truyền thống được trình bày và truyền lại: lịch sử văn học sẽ trở thành lịch sử của các vấn đề. Thần học đang tìm kiếm một cách giải thích nguyên thủy hơn về Hữu thể của con người đối với Chúa, được quy định bởi ý nghĩa của chính đức tin và nằm trong phạm vi đó. Nó đang dần dần tái lý giải tri thức của Luther cho rằng cái ‘nền tảng’ mà hệ thống giáo điều của nó dựa trên đó không xuất phát từ một cuộc tìm tòi mà trong đó đức tin là yếu tố chính, và về mặt khái niệm, ‘nền tảng’ này không chỉ không đủ cho vấn đề của thần học, mà còn che giấu và bóp méo nó.
Các khái niệm cơ bản xác định cách thức chúng ta có được sự hiểu biết trước về lĩnh vực chủ đề nằm dưới tất cả các đối tượng mà một ngành khoa học lấy làm đối tượng nghiên cứu, và tất cả các nghiên cứu thực chứng đều được hướng dẫn bởi cách lý giải này. Chỉ sau khi chính lĩnh vực đó đã được khám phá trước đó theo một cách tương ứng thì các khái niệm này mới thực sự được chứng minh và ‘có cơ sở’. Nhưng vì mỗi lĩnh vực như vậy đều được hình thành từ chính phạm vi của các thực thể, nên nghiên cứu sơ bộ này, vốn từ đó các khái niệm cơ bản được rút ra, không có ý nghĩa gì khác ngoài việc diễn giải các thực thể đó liên quan đến trạng thái Hữu thể cơ bản của chúng. Nghiên cứu như vậy phải đi trước các ngành khoa học thực chứng, và nó có thể làm được. Ở đây, công trình của Plato và Aristotle là bằng chứng đủ rõ ràng. Việc đặt nền móng cho các ngành khoa học theo cách này về nguyên tắc khác với loại ‘logic’ chỉ đi theo sau, khả sát vị thế của một ngành khoa học nào đó khi tình cờ tìm thấy nó, để khám phá ‘phương pháp’ của nó.
______________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen
Notes
1 ‘seiend’. Heidegger dịch phân từ hiện tại ov on của Plato bằng phân từ hiện tại của động từ ‘sein’ tiếng Đức (to be ‘là’). Do đó, ở đây và trong một số đoạn văn sau, chúng ta dịch ‘seiend’ bằng phân từ hiện tại ‘being’; ở những chỗ cách dịch này bất thuận tiện, chúng ta sẽ sử dụng các cấu trúc khác, thường thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn hoặc trong chú thích. Phân từ ‘seiend’ phải được phân biệt với động từ nguyên dạng ‘sein’, mà chúng ta thường dịch bằng động từ nguyên dạng ‘to be’ hoặc bằng danh động từ ‘being’. Nó cũng phải được phân biệt với danh từ quan trọng ‘Sein’ (luôn viết hoa), mà chúng ta sẽ dịch là ‘Being’ (viết hoa), và với danh từ quan trọng không kém ‘Seiendes’, được dẫn xuất trực tiếp từ ‘seiend’, mà chúng ta thường dịch là ‘entity’ hoặc ‘entities’ thực thể. (Xem chú thích 6, H. 3 bên dưới.)
2 ‘Sinn.’ Ý nghĩa Xét tầm quan trọng của sự phân biệt giữa ‘Sinn’ và ‘Bedeutung’ trong các tác giả người Đức đa dạng như Dilthey, Husserl, Frege và Schlick, chúng tôi sẽ dịch ‘Sinn’ bằng ‘meaning’ hoặc ‘sense’, tùy thuộc vào ngữ cảnh, và giữ ‘signification’ và ‘signify’ biểu nghĩa cho ‘Bedeutung’ và ‘bedeuten’. (Động từ ‘mean’ đôi khi sẽ được sử dụng để dịch các động từ như ‘besagen’, ‘sagen’, ‘heissen’ và ‘meinen’, nhưng danh từ ‘meaning’ sẽ được dành riêng cho ‘Sinn’.) Về ‘Sinn’, xem H. 151, 324; về ‘Bedeutung’, v.v., xem H. 87 và chú thích 47 của chúng tôi tại chỗ đó.
3. Heidegger sử dụng hai từ có thể được dịch là ‘diễn giải’: ‘Auslegung’ và ‘Interpretation’. Mặc dù trong nhiều trường hợp, chúng có thể được coi là từ đồng nghĩa, nhưng ý nghĩa của chúng không hoàn toàn giống nhau. ‘Auslegung’ dường như được sử dụng theo nghĩa rộng để bao gồm bất kỳ hoạt động nào mà chúng ta diễn giải một cái gì đó ‘như’ một cái gì đó khác, trong khi ‘Interpretation’ dường như áp dụng cho các diễn giải mang tính lý thuyết hoặc có hệ thống hơn, như trong việc chú giải một văn bản. Xem đặc biệt H. 148 trở đi và 199 trở đi. Chúng ta sẽ giữ nguyên sự phân biệt này bằng cách viết ‘Interpretation’ thay cho ‘Auslegung’, nhưng dùng ‘Interpretation’ cho ‘Interpretation’ của Heidegger, theo các quy ước tương tự đối với các động từ ‘auslegen’ và ‘interpretieren’.
4 ‘….als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt….’ Trong toàn bộ tác phẩm này, từ ‘horizon’ được sử dụng với một ý nghĩa hơi khác so với ý nghĩa mà người đọc nói tiếng Anh thường quen thuộc. Chúng ta thường nghĩ về chân trời như một thứ có thể mở rộng, kéo dài hoặc vượt qua; tuy nhiên, Heidegger dường như nghĩ về nó như một thứ mà chúng ta không thể mở rộng hay vượt qua, mà nó lại đặt ra giới hạn cho một số hoạt động trí tuệ được thực hiện ‘trong’ phạm vi đó. [HHN Ghi chú: Cụm từ tiếng Đức của triết gia Martin Heidegger "als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt" trong tiếng Hy Lạp thường được dịch và diễn đạt sát nghĩa như sau: “ὡς τοῦ δυνατοῦ ὁρίζοντος πάσης κατανόησης τοῦ ὄντος καθόλου”-HHN]
5. ‘….als thernatische Fragt wirklicher Unttrsuchung’. Khi Heidegger nói về một câu hỏi là ‘thematisch’, ông nghĩ đó là một câu hỏi được xem xét nghiêm túc và nghiên cứu một cách có hệ thống. Mặc dù chúng ta thường dịch tính từ này bằng từ đồng nghĩa của nó, 'thematic', nhưng đôi khi chúng ta có thể thấy thuận tiện hơn khi chọn những cách diễn đạt linh hoạt hơn liên quan đến từ ‘theme’. (Heidegger bàn đầy đủ hơn ở H. 363.)
6. ‘…was einer am Seienden erfasst’. Từ ‘Seiendes’, mà Heidegger sử dụng trong diễn giải của mình, là một trong những từ quan trọng nhất trong cuốn sách. Danh từ ‘das Seiende’ được bắt nguồn từ phân từ ‘seiend’ (xem chú thích 1, trang tg), và nghĩa đen là ‘cái đang tồn tại’; ‘ein Seiendes’ có nghĩa là ‘cái gì đó đang là’. Có nhiều điều cần nói về việc dịch ‘Seiendes’ bằng danh từ ‘being’ hoặc ‘beings’ (vì nó thường được sử dụng theo nghĩa tập thể). Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy rằng việc viết ‘entity’ hoặc ‘entities’ sẽ mượt mà và ít gây nhầm lẫn hơn. Chúng tôi nhận thức rõ rằng trong triết học Anh và Mỹ gần đây, thuật ngữ ‘entity’ đã được sử dụng một cách tổng quát hơn để áp dụng cho hầu hết mọi thứ, bất kể vị thế bản thể học của nó là gì. Tuy nhiên, trong bản dịch này, nó sẽ chỉ đơn giản có nghĩa là ‘cái gì đó mà nếu’. Một bản dịch khác của trích dẫn tiếng Latinh được đưa ra bởi các Cha dòng Đa Minh người Anh, Summa Theologica, Thomas Baker, London, 1915: ‘Vì cái mà, trước hết, thuộc về sự nhận thức, là sự tồn tại, khái niệm về nó được bao gồm trong tất cả mọi thứ mà con người nhận thức được.’
7…. in jedem Verhalten zu Seiendem, in jedem Sich-zu-sich-selbst-verhalten….’. Động từ ‘verhalten’ có thể đề cập đến bất kỳ loại hành vi hoặc cách thức nào của tự mình; thậm chí cả cách mà người ta liên hệ bản thân với điều gì đó khác, hoặc cách mà người ta định hình lại hoặc kìm hãm bản thân. Chúng ta sẽ dịch nó theo nhiều cách khác nhau.
8. ‘Sie macht offenbar, dass in jedem Verhalten und Sein zu Seiendem als Seiendem a priori ein Ratsel liegt.’ Cụm từ ‘Sein zu Seiendem’ là điển hình cho nhiều cách diễn đạt tương tự, trong đó danh từ ‘Sein’ được theo sau bởi giới từ ‘zu’. Trong những cách diễn đạt như vậy, chúng ta thường dịch ‘zu’ là ‘hướng tới’: ví dụ, ‘Sự tồn tại hướng tới cái chết’, ‘Sự tồn tại hướng tới người khác’, ‘Sự tồn tại hướng tới các thực thể trong thế giới’.
9. ‘die geheimen Urteile der gemeinen Vernunft”’.
10. ‘….dann bedarf solches Fragen der angemessenen Durchsichtigkeit’. Tính từ ‘durchsichtig’ là một trong những cách diễn đạt ưa thích của Heidegger, và có nghĩa đơn giản là ‘trong suốt’, ‘dễ thấy’, cái gì đó mà người ta có thể ‘nhìn thấu’. Thông thường chúng ta sẽ dịch nó là ‘minh bạch’. Xem H. 146 để thảo luận thêm.
11. ‘….in seinem Dass-und Sosein’.
12. ‘…. das eigentlich Intendierte….’ Trạng từ ‘eigentlich’ xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm này. Nó có thể được sử dụng một cách không chính thức khi người ta có thể viết 'thực sự' hoặc 'về phần nó', hoặc theo nghĩa mạnh mẽ hơn nhiều, khi những từ như 'thực sự' hoặc 'xác thực' sẽ phù hợp hơn. Không phải lúc nào cũng có thể biết được Heidegger đang nghĩ đến ý nghĩa nào. Trong những ngữ cảnh có vẻ tương đối không trang trọng, chúng ta sẽ viết “thực sự”; trong những đoạn văn mang tính kỹ thuật hơn, chúng ta sẽ viết “một cách xác thực”, dành “chính hiệu” cho “chính hiệu” hoặc “biên tập”. Người đọc không được nhầm lẫn loại “tính xác thực” này với loại thuộc về “văn bản xác thực” hoặc “tường thuật xác thực”. Xem H. 42 để thảo luận thêm. Trong đoạn văn này, động từ “intendieren” có lẽ được sử dụng theo nghĩa thời trung cổ là “dự định”, như đã được Brentano và Husserl điều chỉnh và sửa đổi.
13. “zunächst”. Từ này xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm của Heidegger, và ông sẽ thảo luận về việc sử dụng nó ở H. 370 bên dưới. Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, từ này có thể có nghĩa là “lúc đầu”, “ban đầu”, hoặc “trong trường hợp đầu tiên”, và chúng ta sẽ thường dịch nó theo những cách như vậy. Tuy nhiên, từ này có cùng gốc với tính từ “nah” và dạng so sánh nhất của nó là “nächst”, mà chúng ta sẽ thường được dịch lần lượt là ‘gần’ và ‘gần nhất’; và Heidegger thường sử dụng ‘zunächst’ theo nghĩa ‘gần gũi nhất’, khi ông mô tả những trải nghiệm ‘tự nhiên’ và ‘hiển nhiên’ nhất mà chúng ta có được ở cấp độ không phê phán và tiền triết học. Chúng tôi đã mạo hiểm dịch nghĩa ‘zunächst’ theo Heidegger là ‘gần gũi’, nhưng có nhiều trường hợp ranh giới không rõ ràng liệu Heidegger có ý định sử dụng nghĩa đặc biệt này hay một trong những cách sử dụng phổ biến hơn, và trong những trường hợp như vậy, chúng tôi đã chọn bất kỳ cách diễn đạt nào có vẻ phù hợp hơn về mặt phong cách.
14. ‘Sein liegt im Dass- und Sosein, in Realität, Vorhandenheit, Bestand, Geltung, Dasein, im “es gibt’.’ Về ‘Vorhandenheit’ (‘sự hiện diện trong tầm tay’) xem chú thích 1, trang 2. 48, H. 25. Về ‘Dasein’, xem chú thích 1, trang 27.
15. Từ 'Dasein' đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm này và đã quá quen thuộc với độc giả nói tiếng Anh đã đọc về Heidegger, đến nỗi có vẻ đơn giản hơn nếu để nguyên không dịch, ngoại trừ trong những đoạn hiếm hoi mà chính Heidegger sử dụng dấu gạch ngang ('Da-sein') để chỉ ra cấu trúc từ nguyên của nó: nghĩa đen là 'Hiện hữu'. Mặc dù trong triết học truyền thống Đức, nó có thể được sử dụng khá chung chung để chỉ hầu hết mọi loại Hiện hữu hay 'sự tồn tại' mà chúng ta có thể nói rằng một cái gì đó có (ví dụ như 'sự tồn tại' của Chúa), nhưng trong cách sử dụng hàng ngày, nó có xu hướng được sử dụng hẹp hơn để chỉ loại Hiện hữu thuộc về con người. Heidegger tuân theo cách sử dụng hàng ngày về mặt này, nhưng ông còn đi xa hơn một chút khi thường sử dụng nó để chỉ bất kỳ người nào có Hiện hữu như vậy, và do đó bản thân người đó là một 'thực thể'. Xem H. 11 bên dưới.
16. 'faktisch'. Mặc dù từ này thường có thể được dịch đơn giản là ‘thực tế’ hoặc ‘như một vấn đề thực tế’, nhưng nó được sử dụng cả như một tính từ và một trạng từ, và đặc trưng cho phong cách của Heidegger đến mức chúng ta thường sẽ dịch nó là ‘thực tế’ hoặc ‘một cách thực tế’, do đó giữ nguyên mối liên hệ của nó với danh từ quan trọng ‘Faktizitiit’ (tính thực tế), và phân biệt nó với ‘tatslichlich’ (thực tế) và ‘wirklich’ (thực sự). Xem phần thảo luận về ‘Tatslichlichkeit’ và ‘Faktizitlit’ trong Phần 12 và 29 bên dưới (H. s6, 135).
17. ‘….deren faktischen Bestand man wohl nicht leugnen wird’.
18. ‘Wesensverfassung’. “Verfassung” là từ chuẩn để chỉ “hiến pháp” của một quốc gia hoặc bất kỳ tổ chức chính trị nào, nhưng nó cũng được dùng để chỉ “tình trạng” hoặc “trạng thái” mà một người có thể đang ở trong đó. Heidegger hiếm khi sử dụng từ này theo một trong hai nghĩa này; nhưng ông sử dụng nó theo những cách tương tự. Theo một nghĩa, “Verfassung” của Dasein chính là “hiến pháp” của nó, cách thức nó được cấu thành, “sa condition humaine”. Theo một nghĩa khác, Dasein có thể có nhiều “Verfassungen” như những “trạng thái” cấu thành hoặc các yếu tố tham gia vào “hiến pháp” của nó. Nói chung, chúng ta sẽ dịch “Verfassung” là “hiến pháp” hoặc “trạng thái cấu thành” tùy theo ngữ cảnh; nhưng trong những đoạn văn mà việc sử dụng “trạng thái cấu thành” sẽ rườm rà và ít có nguy cơ gây nhầm lẫn, chúng ta sẽ chỉ viết là “trạng thái”. Tuy nhiên, những trạng thái này phải luôn được coi là mang tính cấu thành và thiết yếu, chứ không phải là các giai đoạn tạm thời hoặc nhất thời như 'trạng thái' sức khỏe của một người hay 'trạng thái của quốc gia'. Khi Heidegger sử dụng từ ‘Hiến pháp’, chúng ta thường biểu thị điều này bằng cách gọi là ‘Hiến pháp’.
19. ‘….weil es in der Beantwortung der Frage nicht um eineableitende Begrundung, sondern um aufweisende Grund-Freilegung geht.’ Các cách diễn đạt dạng ‘es geht….um –’ xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm này. Chúng tôi thường dịch chúng theo các biến thể của ‘– là một vấn đề đối với….’
20. ‘In den histcrischen Geistlswissenscluzften….’ Heidegger phân biệt rõ ràng giữa ‘Historie’ và ‘Geschichte’ và các tính từ tương ứng ‘historisch’ và ‘geschichtlich’. ‘Historie’ đại diện cho cái mà Heidegger gọi là ‘khoa học lịch sử’. (Xem H.375, 378.) ‘Geschichte’ thường đại diện cho loại ‘lịch sử’ thực sự xảy ra. Theo quy tắc, chúng ta sẽ dịch chúng tương ứng là ‘sử học’ và ‘lịch sử’, theo các quy ước tương tự trong việc xử lý hai tính từ này. Xem đặc biệt Mục 6 và 76 bên dưới.
