Powered By Blogger

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN I: DIỄN GIẢI DASEIN - THỜI GIAN: CHÂN TRỜI SIÊU VIỆT CỦA HỮU THỂ

MỤC I: PHÂN TÍCH CƠ BẢN CHUẨN BỊ VỀ DASEIN

[Tr.74] Nhưng điều cản trở câu hỏi cơ bản về Hữu thể của Dasein (hay dẫn nó đi chệch hướng) là một định hướng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi nhân học của Kitô giáo và thế giới cổ đại, mà nền tảng bản thể học không đầy đủ của nó đã bị bỏ qua bởi cả triết học về sự sống và nhân cách luận. Có hai yếu tố quan trọng trong nhân học truyền thống này:

1. ‘Con người’ ở đây được định nghĩa là ζῷον λόγον ἔχον (zoon logon echon), và điều này được Diễn giải là một lý trí động vật, một thứ gì đó sống có lý tính. Nhưng loại Hữu thể thuộc về ζῷο zoo được hiểu theo nghĩa xảy ra và Hiện-hữu-trong-tầm-tay. [Chen ngang: Vorhandenheit ‘hiện hữu trong tầm tay’ là một khái niệm triết học mô tả cách chúng ta nhận thức một đối tượng khi chúng ta loại bỏ công dụng thực tiễn của nó và xem nó thuần túy như một đối tượng lý thuyết, độc lập với các thuộc tính vật lý. Để hiểu khái niệm ‘hiện hữu trong tầm tay’, Heidegger đối lập nó với khái niệm Zuhandenheit ‘Sẵn sàng trong tầm tay’, đề cập đến cách chúng ta tương tác thông thường với thế giới. Sẵn sàng trong tầm tay là khi sử dụng một cái búa, tôi không suy nghĩ một cách có ý thức về hình dạng, trọng lượng hoặc màu sắc của nó. Nó chỉ là một phần mở rộng của cơ thể tôi, một công cụ tôi sử dụng để hoàn thành một công việc. Ý nghĩa của nó nằm hoàn toàn ở công dụng thực tiễn của nó. Trong khi đó Vorhandenheit Hiện hữu trong tầm tay sẽ rõ nghĩa khi cái búa đột nhiên bị gãy, công dụng thực tiễn của nó biến mất, tôi không thể sử dụng chiếc búa gãy, mà bắt đầu nhìn nhận nó như một vật thể đơn thuần. Tôi quan sát các thuộc tính vật lý của nó, chẳng hạn như chất liệu, trọng lượng và vết gãy. Sự thay đổi về góc nhìn này biến đổi đối tượng từ trạng thái sẵn có để dùng sang trạng thái hiện diện trước mặt, điều này quan trọng vì nó đại diện cho cái nhìn khách quan, khoa học hoặc tách biệt mà con người dùng để quan sát thế giới; Heidegger cho rằng trạng thái hiện diện mang tính phái sinh; chúng ta chỉ gặp các đối tượng như những thứ mang tính lý thuyết sau khi sự tương tác thực tiễn, hàng ngày của chúng ta với thế giới bị phá vỡ hoặc bị gián đoạn một cách có chủ ý.-HHN] còn λόγος là một năng lực cao hơn; tuy nhiên, loại Hữu thể thuộc về nó vẫn còn khá mơ hồ hệt như toàn bộ hiện hữu được cấu thành như vậy.

2. Yếu tố thứ hai để xác định Hữu thể và bản chất của con người lại là một manh mối thần học: καὶ εἶπεν ὁ θεός Ποιήσωμεν ἄνθρωπον κατ' εἰκόνα ἡμετέραν καὶ καθ' ὁμοίωσιν· - ‘faciamus hominem ad imaginem nostram et similitudinem’.vii ‘Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta’ [Chen ngang: Đoạn trên được trích từ Sáng Thế ký của Cựu ước 1:26 đến 1:31: Gen 1:26 nguyên văn được viết bằng tiếng Hy Lạp cổ như sau: καὶ εἶπεν ὁ θεός Ποιήσωμεν ἄνθρωπον κατ' εἰκόνα ἡμετέραν καὶ καθ' ὁμοίωσιν· καὶ ἀρχέτωσαν τῶν ἰχθύων τῆς θαλάσσης καὶ τῶν πετεινῶν τοῦ οὐρανοῦ καὶ τῶν κτηνῶν καὶ πάσης τῆς γῆς καὶ πάντων τῶν ἑρπετῶν τῶν ἑρπόντων ἐπὶ τῆς γῆς. 1:27 καὶ ἐποίησεν ὁ θεὸς τὸν ἄνθρωπον, κατ' εἰκόνα θεοῦ ἐποίησεν αὐτόν· ἄρσεν καὶ θῆλυ ἐποίησεν αὐτούς. 1:28 καὶ ηὐλόγησεν αὐτοὺς ὁ θεὸς λέγων Αὐξάνεσθε καὶ πληθύνεσθε, καὶ πληρώσατε τὴν γῆν καὶ κατακυριεύσατε αὐτῆς, καὶ ἄρχετε τῶν ἰχθύων τῆς θαλάσσης καὶ τῶν πετεινῶν τοῦ οὐρανοῦ καὶ πάντων τῶν κτηνῶν καὶ πάσης τῆς γῆς καὶ πάντων τῶν ἑρπετῶν τῶν ἑρπόντων ἐπὶ τῆς γῆς. 1:29 καὶ εἶπεν ὁ θεός Ἰδοὺ δέδωκα ὑμῖν πᾶν χόρτον σπόριμον σπεῖρον σπέρμα, ὅ ἐστιν ἐπάνω πάσης τῆς γῆς· καὶ πᾶν ξύλον, ὃ ἔχει ἐν ἑαυτῷ καρπὸν σπέρματος σπορίμου· [ὑ]μῖν ἔσται εἰς βρῶσιν, 1:30 καὶ πᾶσι [τοῖ]ς θηρίοις τῆς γῆς καὶ πᾶσι [τοῖ]ς πετεινοῖς τοῦ οὐρανοῦ [καὶ π]αντὶ ἑρπετῷ τῷ ἕρπον[τι ἐπὶ τῆς] γῆς, ὃ ἔχει ἐν ἑαυτῷ [ψυχὴ]ν ζωῆς· καὶ πάντα χόρ[τον χλ]ωρὸν εἰς βρῶσιν. καὶ [ἐγένετ]ο οὕτως. 1:31 [καὶ ἴδεν ὁ] θεὸς τὰ πάντα ὅσα ἐποίη[σεν, καὶ] ἰδοὺ καλὰ λίαν. καὶ ἐγέ[νετο ἑσ]πέρα καὶ ἐγένετο πρωί, [ἡμέρα ἕ]κτη. Bản dịch tiếng Việt: 1:26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. 1:27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. 1:28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. 1:29 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi. 1:30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy. 1:31 Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu. (Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, United Bible Societies, Vietnamese 53V-ubs 1990-18.1M Printed in Korea, Sáng Thế ký, tr.2)-HHN]

Với xuất phát điểm này, nhân học của thần học Kitô giáo, cùng với định nghĩa cổ xưa, đi đến một cách diễn giải về cái hiện hữu mà chúng ta gọi là ‘con người’. Nhưng cũng giống như Hữu thể của Thiên Chúa được Diễn giải về phương diện bản thể luận thông qua bản thể luận cổ đại, thì cái Hữu thể của cái ens finitum hiện hữu giới hạn cũng vậy, và ở mức độ thậm chí còn lớn hơn. Trong thời hiện đại, định nghĩa của Kitô giáo đã bị tước bỏ đặc tính thần học của nó. Nhưng ý tưởng về ‘siêu việt’ – cho rằng con người là một cái gì đó vượt lên chính mình - bắt nguồn từ giáo lý Kitô giáo, vốn khó có thể nói là đã biến Hữu thể của con người thành một vấn đề bản thể luận. Ý tưởng về siêu việt, theo đó con người không chỉ đơn thuần là một thứ gì đó được ban cho trí tuệ, đã tự phát triển với nhiều biến thể khác nhau. Các trích dẫn sau đây sẽ minh họa những điều này có nguồn gốc như thế nào: ‘His praeclaris dotibus excelluit prima hominis conditio, ut rate, Intellectia, Prudential, Judicium non modo ad terrenae vitae gubernationem suppeterent, sed quibus superiorere tusque ad Deum et aeternam felicitatem.’viii “Trạng thái nguyên thủy của loài người vượt trội về những năng khiếu ưu tú này, đến nỗi lý trí, trí tuệ, tính cẩn trọng và năng lực phán đoán không chỉ đủ để cai quản cuộc sống trần thế, mà nhờ đó, [con người] có thể siêu thoát đến với Thượng đế và hạnh phúc vĩnh cửu.” “Denn dass der Mensch sein Aufsehen hat auft und [p.75] sein Wort, zeigt er klarlich an, dass er nach seiner Natur etwas Gott näher anerborn [angeboren], etwas mehr nachschlägt [ihm ähnlicher ist], etwas Zuzug zu ihm hat, das alles ohn' Zweifel darus [daraus] flüsst, dass er nach dem Bildnis Gottes geschaffen ist.”ix  “Vì con người có ánh mắt hướng lên và có tiếng nói của mình, điều đó rõ ràng cho thấy rằng theo bản chất của mình, con người gần gũi với Chúa hơn, giống Ngài hơn, có mối liên hệ nào đó với Ngài, tất cả điều này chắc chắn xuất phát từ việc con người được tạo ra theo hình ảnh của Chúa.” ix

Hai nguồn tư liệu có liên quan đến nhân học truyền thống—định nghĩa của người Hy Lạp và manh mối mà thần học đã cung cấp—chỉ ra rằng, ngoài nỗ lực xác định bản chất của ‘con người’ như một hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể của con người vẫn bị lãng quên, và cái Hữu thể này được hình dung như một điều hiển nhiên hoặc ‘tự-chứng’ theo nghĩa Vorhandenheit Hiện-hữu-trong-tầm-tay của những Vật thể khác đã được tạo ra. Hai manh mối này trở nên đan xen trong nhân học thời hiện đại, nơi mà res cogitans vật tư duy, ý thức và tính liên kết của Kinh nghiệm đóng vai trò là điểm xuất phát cho công việc nghiên cứu có phương pháp. Nhưng vì ngay cả những cogitations suy tư [cogitations: quá trình suy nghĩ sâu sắc và cẩn thận về một vấn đề, hoặc suy tư được cân nhắc kỹ lưỡng; từ này có gốc động từ Latin cogitate - suy ngẫm hoặc nghiền ngẫm - và thường được sử dụng trong các ngữ cảnh trang trọng, văn chương hoặc triết học.-HHN] cũng ở trong tính trạng hoặc bị bỏ ngỏ về mặt bản thể học, hoặc được ngầm định như một điều gì đó ‘tự-chứng’ mà ‘Hữu thể’ của nó không cần phải đặt câu hỏi, nên nền tảng bản thể học quyết định của các vấn đề nhân học vẫn chưa được xác định. 

Điều này cũng đúng với ‘tâm lý học’, mà ngày nay thường trở thành các khuynh hướng nhân học là điều không thể nhầm lẫn. Chúng ta cũng không thể bù đắp cho sự thiếu hụt nền tảng bản thể luận bằng cách lấy nhân học và tâm lý học để đắp bồi vào khuôn khổ của một ngành sinh học tổng quát. Theo thứ tự mà bất kỳ sự hiểu biết và diễn giải nào cũng phải tuân theo, sinh học với tư cách là một ‘khoa học về sự sống’ được xây dựng trên nền tảng bản thể học về Dasein, dù không hoàn toàn. Sự sống, tự thân nó, là một loại Hữu thể; nhưng về bản chất, nó chỉ có thể tiếp cận được trong Dasein. Bản thể luận của sự sống được hoàn thành thông qua một Diễn giải phủ định; nó xác định điều gì phải xảy ra nếu có thể có bất cứ thứ gì giống như sự sống đơn thuần [Nur-noch-leben]. Sự sống không chỉ đơn thuần là một Hiện-hữu-hiện-diện, cũng không phải là Dasein. Do đó, Dasein không bao giờ được định nghĩa về mặt bản thể luận bằng cách coi nó là sự sống (theo cách không xác định về mặt bản thể luận) cộng với một cái gì đó khác.

Khi cho rằng nhân học, tâm lý học và sinh học đều không thể đưa ra câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về mặt bản thể luận cho câu hỏi về loại Hữu thể thuộc về những hiện hữu vốn là chính chúng ta, chúng ta không hề phán xét công việc nghiên cứu tích cực của các ngành này. Tuy nhiên, chúng ta luôn phải ghi nhớ rằng những nền tảng bản thể luận này không bao giờ có thể được làm sáng tỏ bởi các giả thuyết tiếp theo được rút ra từ dữ liệu thực nghiệm, mà chúng luôn ‘có đó’ ngay cả khi dữ liệu thực nghiệm đó chỉ đơn giản được thu thập. Nếu nghiên cứu thực chứng không nhận thấy những nền tảng này và coi là hiển nhiên, thì vẫn không có nghĩa là chúng không phải là nền tảng cơ bản hoặc không có vấn đề theo nghĩa triệt để hơn bất kỳ luận điểm nào của khoa học thực chứng.X

[Chèn nguyên bản Đức văn để đối sánh với bản dịch Anh văn): Dasselbe gilt nicht minder von der »Psychologie«, deren anthropologische Tendenzen heute unverkennbar sind. Das fehlende ontologische Fundament kann auch nicht dadurch ersetzt werden, daß man Anthropologie und Psychologie in eine allgemeine Biologie einbaut. In der Ordnung des möglichen Erfassens und Auslegens ist die Biologie als »Wissenschaft vom Leben« in der Ontologie des Daseins fundiert, wenn auch nicht ausschließlich in ihr. Leben ist eine eigene Seinsart, aber wesenhaft nur zugänglich im Dasein. Die Ontologie des Lebens vollzieht sich auf dem Wege einer privativen Interpretation; sie bestimmt das, was sein muß, daß so etwas wie Nur-noch-leben sein kann. Leben ist weder pures Vorhandensein, noch aber auch Dasein. Das Dasein wiederum ist ontologisch nie so zu bestimmen, daß man es ansetzt als Leben – (ontologisch unbestimmt) und als überdies noch etwas anderes. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.49-50–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Điều tương tự cũng áp dụng ngay cả đối với ‘tâm lý học’, mà ngày nay những khuynh hướng nhân học của nó là không thể nhầm lẫn. Nền tảng bản thể học còn thiếu không thể được thay thế bằng cách kết hợp nhân học và tâm lý học vào một ngành sinh học đại cương. Theo trật tự khả năng hiểu và diễn giải, sinh học, với tư cách là ‘khoa học về sự sống’, được đặt nền tảng trên bản thể luận của Dasein, mặc dù không hoàn toàn chỉ dựa vào nó. Sự sống là một phương thức hiện hữu riêng biệt, nhưng về bản chất chỉ có thể tiếp cận được trong phạm vi Dasein. Bản thể luận của sự sống hé mở từ diễn giải phủ định; nó xác định điều gì phải có để một cái gì đó ‘chỉ-để-sống’ tồn tại. Sự sống không phải là hiện diện thuần túy cũng không phải là Dasein. Ngược lại, Dasein không bao giờ có thể được định nghĩa về mặt bản thể luận - đặt để nó là sự sống—(không xác định về mặt bản thể luận) và hơn nữa, là một cái gì đó khác.”

Mit dem Hinweis auf das Fehlen einer eindeutigen, ontologisch zureichend begründeten Antwort auf die Frage nach der Seinsart dieses Seienden, das wir selbst sind, in der Anthropologie, Psychologie und Biologie, ist über die positive Arbeit dieser Disziplinen kein Urteil gefällt. Andrerseits muß aber immer wieder zum Bewußtsein gebracht werden, daß diese ontologischen Fundamente nie nachträglich aus dem empirischen Material hypothetisch erschlossen werden können, daß sie vielmehr auch dann immer schon »da« sind, wenn empirisches Material auch nur gesammelt wird. Daß die positive Forschung diese Fundamente nicht sieht und für selbstverständlich hält, ist kein Beweis dafür, daß sie nicht zum Grunde liegen und in einem radikaleren Sinne problematisch sind, als es je eine These der positiven Wissenschaft sein kann. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.50–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Bằng cách chỉ ra sự thiếu vắng một câu trả lời rõ ràng, có cơ sở bản thể luận đầy đủ trong nhân học, tâm lý học và sinh học đối với câu hỏi về bản chất hiện hữu của chính chúng ta, lại không hề có sự phán xét nào về công trình nghiên cứu thực chứng của các ngành này. Mặt khác, cần phải nhấn mạnh nhiều lần rằng những nền tảng bản thể luận này không bao giờ có thể được suy luận theo cách giả thuyết từ dữ liệu thực nghiệm; thay vào đấy, chúng luôn luôn ‘có đó’ ngay cả khi dữ liệu thực nghiệm chỉ được thu thập. Việc nghiên cứu thực chứng không nhận ra những nền tảng này và coi chúng là điều hiển nhiên không phải là bằng chứng cho thấy chúng không mang tính nền tảng và có vấn đề theo nghĩa triệt để hơn bất kỳ luận điểm nào của khoa học thực chứng.”

11. Phân tích Hiện sinh và Diễn giải về Dasein Nguyên thủy. Những khó khăn trong việc đạt được ‘Quan niệm Tự nhiên về Thế giới'

[Tr.76] Tuy nhiên, Diễn giải Dasein trong đời sống thường nhật không đồng nhất với việc mô tả một giai đoạn nguyên thủy nào đó của Dasein mà chúng ta có thể làm quen bằng thực nghiệm thông qua phương tiện nhân học. Đời sống thường nhật không trùng khớp với tính nguyên thủy, mà đúng hơn là một phương thức Hữu thể của Dasein, ngay cả khi Dasein đó hoạt động trong một nền văn hóa phát triển cao và khác biệt - và chính xác là khi đó. Hơn nữa, ngay cả Dasein nguyên thủy cũng có những khả tính của một Hữu thể không thuộc loại thường nhật, và nó có một đời sống thường nhật đặc thù của riêng nó. Việc định hướng phân tích Dasein hướng tới ‘đời sống của các dân tộc nguyên thủy’ có thể có ý nghĩa tích cực [Bedeutung] như một phương pháp bởi vì ‘các hiện tượng nguyên thủy’ thường ít bị che giấu và ít phức tạp hơn bởi sự tự diễn giải rộng rãi từ phía Dasein được đề cập. Khái niệm Dasein nguyên thủy thường nói với chúng ta trực ti ếp hơn trong khuôn khổ của sự hấp thụ nguyên thủy vào các ‘hiện tượng’ (theo nghĩa tiền-hiện tượng luận). Một cách nhận thức mọi thứ, có lẽ từ quan điểm của chúng ta, có thể khá vụng về và thô thiển, lại có thể hữu ích trong việc làm sáng tỏ cấu trúc bản thể luận của các hiện tượng một cách chân thực.

Nhưng cho đến nay, thông tin của chúng ta về các nhóm nguyên thủy được ngành dân tộc học cung cấp. Và ngành dân tộc học hoạt động với những quan niệm và diễn giải sơ bộ nhất định về Dasein con người nói chung, ngay cả khi lần đầu tiên ‘tiếp nhận’ tài liệu, sàng lọc và xử lý nó. Liệu tâm lý học thường nhật hay thậm chí tâm lý học và xã hội học khoa học mà nhà dân tộc học mang theo có thể cung cấp bất kỳ sự đảm bảo khoa học nào giúp chúng ta có thể tiếp cận đúng đắn các hiện tượng mà chúng ta đang nghiên cứu, có thể diễn giải và truyền đạt chúng một cách chính xác hay không, thì lại vẫn chưa được xác định. Ở đây, chúng ta cũng phải đối mặt với tình trạng tương tự như trong các ngành khác mà chúng ta đã thảo luận. Bản thân dân tộc học đã giả định một phân tích Dasein không đầy đủ như là manh mối của nó. Nhưng vì các khoa học thực chứng vừa ‘không thể’ và cũng không nên chờ đợi những công trình triết học về bản thể luận được hoàn thành, nên hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ không mang hình thức ‘tiến bộ’ mà sẽ được thực hiện bằng cách tóm tắt những gì đã được khám phá về mặt bản thể luận, và bằng cách thanh lọc nó theo cách minh bạch hơn về mặt bản thể luận.xi

Cho dù việc chỉ ra sự khác biệt về hình thức giữa vấn đề bản thể luận và nghiên cứu ontic thực hữu có dễ dàng đến đâu, vẫn còn những khó khăn trong việc thực hiện phân tích hiện sinh, đặc biệt là trong việc bắt đầu. Nhiệm vụ này bao gồm một mong muốn mà triết học từ lâu đã thấy khó khăn nhưng liên tục từ chối đạt được: đó là xây dựng ý tưởng về một ‘quan niệm tự nhiên về thế giới’. Kho tàng thông tin phong phú hiện có về nhiều nền văn hóa và hình thức Dasein kỳ lạ nhất [tr.77] dường như lại thuận lợi cho việc chúng ta bắt tay vào nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Nhưng đây chỉ là vẻ ngoài. Về cơ bản, sự phong phú của thông tin này có thể khiến chúng ta không nhận ra vấn đề thực sự. Chúng ta sẽ không thể có được tri ​​thức đích thực về bản chất chỉ bằng hoạt động tổng hợp của việc so sánh và phân loại phổ quát. Việc lập bảng biểu cho sự đa dạng không đảm bảo bất kỳ cách hiểu biết thực sự nào về những gì nằm trước mắt chúng ta khi được sắp xếp theo trật tự như vậy. Nếu một nguyên tắc sắp xếp là chân thực, nó có nội dung riêng của nó với tư cách một Sachgehalt sự vật, vốn không bao giờ được tìm thấy bằng phương pháp sắp xếp như vậy, mà đã được giả định trước trong đó. Vì vậy, nếu muốn sắp xếp các hình ảnh khác nhau về thế giới theo thứ tự, người ta phải có một ý niệm rõ ràng về thế giới theo đúng nghĩa. Và nếu chính ‘thế giới’ là thứ cấu thành nên Dasein, thì cần phải có cái nhìn sâu sắc về các cấu trúc cơ bản của Dasein để có thể xử lý hiện tượng thế giới về khái niệm.

Trong chương này, chúng ta đã mô tả một số điều theo hướng khẳng định và đưa ra quan điểm phủ định đối với những điều khác; trong cả hai trường hợp, mục tiêu của chúng ta là thúc đẩy hiểu biết đúng đắn về xu hướng tiềm ẩn trong phần Diễn giải sau đây và loại câu hỏi mà nó đặt ra. Bản thể luận chỉ có thể đóng góp một cách gián tiếp vào việc phát triển các ngành khoa học thực chứng như chúng ta thấy ngày nay. Nó có mục tiêu riêng, ngay cả khi, ngoài thu thập thông tin về các hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể là động lực thúc đẩy mọi hoạt động tìm kiếm khoa học.

[Chèn nguyên bản Đức văn Mục 11. “Phân tích Hiện sinh và Diễn giải về Dasein Nguyên thủy…” (để đối sánh với bản dịch Anh văn): Die Interpretation des Daseins in seiner Alltäglichkeit ist aber nicht identisch mit der Beschreibung einer primitiven Daseinsstufe, deren Kenntnis empirisch durch die Anthropologie vermittelt sein kann. Alltäglichkeit deckt sich nicht mit Primitivität. Alltäglichkeit ist vielmehr ein Seinsmodus des Daseins auch dann und gerade dann, wenn sich das Dasein in einer hochentwickelten und differenzierten [p.51] Kultur bewegt. Andrerseits hat auch das primitive Dasein seine Möglichkeiten des unalltäglichen Seins, es hat seine spezifische Alltäglichkeit. Die Orientierung der Daseinsanalyse am »Leben der primitiven Volker« kann positive methodische Bedeutung haben, sofern »primitive Phänomene« oft weniger verdeckt und kompliziert sind durch eine schon weitgehende Selbstauslegung des betr. Daseins. Primitives Dasein spricht oft direkter aus einem ursprünglichen Aufgehen in den »Phänomenen« (im vorphänomenologischen Sinne genommen). Die, von uns aus gesehen, vielleicht unbeholfene und grobe Begrifflichkeit kann positiv förderlich sein für eine genuine Heraushebung der ontologischen Strukturen der Phänomene. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.50-51–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Việc Diễn giải Daseins trong đời sống thường nhật của nó không đồng nhất với việc mô tả một giai đoạn nguyên thủy nào đó của Dasein, mà tri ​​thức về giai đoạn này có thể được truyền đạt một cách thực nghiệm thông qua nhân học. Tính đời thường không đồng nghĩa với tính nguyên thủy. Thay vào đó, tính đời thường là một phương thức tồn tại của Dasein ngay cả và đặc biệt là khi Dasein vận động trong một nền văn hóa phát triển và phân hóa cao [tr. 51]. Mặt khác, Dasein nguyên thủy cũng có những khả tính hiện hữu phi-thường nhật; nó có tính thường nhật đặc thù của nó. Việc định hướng phân tích Dasein hướng tới ‘cuộc sống của các dân tộc nguyên thủy’ có thể có ý nghĩa phương pháp luận tích cực, bởi vì ‘các hiện tượng nguyên thủy’ thường ít bị che khuất và phức tạp hơn bởi tự-diễn-giải mở rộng về Dasein được đề cập. Dasein nguyên thủy thường nói trực tiếp hơn từ sự hấp thụ nguyên thủy vào ‘các hiện tượng’ (theo nghĩa tiền-hiện tượng học). Thuật ngữ, với chúng ta có vẻ vụng về và thô thiển, thực sự lại có lợi cho việc làm nổi bật chân thực các cấu trúc bản thể luận của các hiện tượng.”

Aber bislang wird uns die Kenntnis der Primitiven durch die Ethnologie bereitgestellt. Und diese bewegt sich schon bei der ersten »Aufnahme« des Materials, seiner Sichtung und Verarbeitung in bestimmten Vorbegriffen und Auslegungen vom menschlichen Dasein überhaupt. Es ist nicht ausgemacht, ob die Alltagspsychologie oder gar die wissenschaftliche Psychologie und Soziologie, die der Ethnologe mitbringt, für eine angemessene Zugangsmöglichkeit, Auslegung und Übermittelung der zu durchforschenden Phänomene die wissenschaftliche Gewähr bieten. Auch hier zeigt sich dieselbe Sachlage wie bei den vorgenannten Disziplinen. Ethnologie setzt selbst schon eine zureichende Analytik des Daseins als Leitfaden voraus. Da aber die positiven Wissenschaften auf die ontologische Arbeit der Philosophie weder warten »können« noch sollen, wird sich der Fortgang der Forschung nicht vollziehen als »Fortschritt«, sondern als Wiederholung und ontologisch durchsichtigere Reinigung des ontisch Entdeckten.1 (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.51–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Nhưng cho đến nay, tri ​​thức của chúng ta về các nền văn hóa nguyên thủy chủ yếu được môn dân tộc học cung cấp. Và lĩnh vực này, ngay từ khâu ‘ghi chép’ đầu tiên về tư liệu—việc xem xét và xử lý—đã hoạt động trong khuôn khổ những định kiến ​​và cách diễn giải nhất định về Dasein con người nói chung. Không chắc chắn liệu tâm lý học thường nhật, hay thậm chí cả tâm lý học và xã hội học khoa học mà các nhà dân tộc học mang đến, có cung cấp sự đảm bảo khoa học cho một phương tiện thích hợp để tiếp cận, diễn giải và truyền đạt các hiện tượng đang được nghiên cứu hay không. Ở đây, tình huống tương tự cũng nảy sinh như với các ngành khoa học đã đề cập. Bản thân dân tộc học đã giả định một phân tích đầy đủ về Daseins như một nguyên tắc dẫn đường. Nhưng vì khoa học thực chứng ‘không thể’ và không nên chờ đợi công trình triết học bản thể luận, nên bước tiến nghiên cứu sẽ không diễn ra với tư cách ‘tiến bộ’, mà với tư cách lặp lại và thanh lọc minh bạch hơn về bản thể luận đối với cái đã được khám phá ontisch về thực hữu.

Notes (Đức văn) 1 Neuerdings hat E. Cassirer das mythische Dasein zum Thema einer philosophischen Interpretation gemacht, vgl. »Philosophie der symbolischen Formen«. Zweiter Teil: Das mythische Denken. 1925. Der ethnologischen Forschung werden durch diese Untersuchung umfassendere Leitfäden zur Verfügung gestellt. Von der philosophischen Problematik her gesehen bleibt die Frage, ob die Fundamente der Interpretation hinreichend durchsichtig sind, ob insbesondere die Architektonik von Kants Kritik d. r. V. und deren systematischer Gehalt überhaupt den möglichen Aufriß für eine solche Aufgabe bieten können, oder ob es hier nicht eines neuen und ursprünglicheren Ansatzes bedarf. Cassirer sieht selbst die Möglichkeit einer solchen Aufgabe, wie die Anmerkung S. 16 f. zeigt, wo C. auf die von Husserl erschlossenen phänomenologischen Horizonte hinweist. In einer Aussprache, die der Verf. gelegentlich eines Vortrags in der Hamburgischen Ortsgruppe der Kantgesellschaft im Dezember 1923 über »Aufgaben und Wege der phänomenologischen Forschung« mit C. pflegen konnte, zeigte sich schon eine Übereinstimmung in der Forderung einer existenzialen Analytik, die in dem genannten Vortrag skizziert wurde. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, Note 1, p.51–HHN] Tạm dịch nghĩa: Gần đây, E. Cassirer đã đưa Dasein thần thoại trở thành đối tượng của một diễn giải triết học; xem Triết học Hình thức Biểu tượng, Phần hai: Tư tưởng thần thoại, 1925. Nghiên cứu này cung cấp những hướng dẫn toàn diện hơn cho nghiên cứu dân tộc học. Từ góc độ triết học, câu hỏi đặt ra là liệu nền tảng của diễn giải có đủ minh bạch hay không, liệu, đặc biệt, tri ​​trúc Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant và nội dung hệ thống của nó thậm chí có thể cung cấp một khuôn khổ khả thi cho nhiệm vụ như vậy hay không, hay liệu cần một cách tiếp cận mới và độc đáo hơn. Bản thân Cassirer cũng nhận thấy khả năng của nhiệm vụ này, như ghi chú ở trang 16-17 cho thấy, nơi Cassirer đề cập đến những chân trời hiện tượng học được Husserl mở ra. Trong một cuộc thảo luận của Tác giả [Heidegger] với Cassirer nhân dịp một bài giảng tại nhóm địa phương Hamburg của Hội Kant vào tháng 12 năm 1923 về ‘Nhiệm vụ và Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận’, đã có sự đồng thuận về đòi hỏi một phân tích hiện sinh, được nêu trong bài giảng nói trên.-HHN]

[P.52] So leicht die formale Abgrenzung der ontologischen Problematik gegenüber der ontischen Forschung sein mag, die Durchführung und vor allem der Ansatz einer existenzialen Analytik des Daseins bleibt nicht ohne Schwierigkeiten. In ihrer Aufgabe liegt ein Desiderat beschlossen, das seit langem die Philosophie beunruhigt, bei dessen Erfüllung sie aber immer wieder versagt: die Ausarbeitung der Idee eines »natürlichen Weltbegriffes«. Einer fruchtbringenden Inangriffnahme dieser Aufgabe scheint der heute verfügbare Reichtum an Kenntnissen der mannigfaltigsten und entlegensten Kulturen und Daseinsformen günstig zu sein. Aber das ist nur Schein. Im Grunde ist solche überreiche Kenntnis die Verführung zum Verkennen des eigentlichen Problems. Das synkretistische Allesvergleichen und Typisieren gibt nicht schon von selbst echte Wesenserkenntnis. Die Beherrschbarkeit des Mannigfaltigen in einer Tafel gewährleistet nicht ein wirkliches Verständnis dessen, was da geordnet vorliegt. Das echte Prinzip der Ordnung hat seinen eigenen Sachgehalt, der durch das Ordnen nie gefunden, sondern in ihm schon vorausgesetzt wird. So bedarf es für die Ordnung von Weltbildern der expliziten Idee von Welt überhaupt. Und wenn »Welt« selbst ein Konstitutivum des Daseins ist, verlangt die begriffliche Ausarbeitung des Weltphänomens eine Einsicht in die Grundstrukturen des Daseins. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.52– HHN] Tạm dịch nghĩa: [Tr.52] Dù việc phân định ranh giới hình thức giữa các vấn đề bản thể học và nghiên cứu ontischen thực hữu có vẻ dễ dàng, nhưng việc thực hiện và trên hết là cách tiếp cận của một phân tích hiện sinh về Daseins vẫn không phải là không gặp khó khăn. Nhiệm vụ của nó chứa đựng một điều mong muốn đã làm đau đầu triết học từ lâu, nhưng lại liên tục thất bại trong thực hiện điều đó: việc hoàn thiện ý tưởng về một ‘khái niệm tự nhiên về thế giới’. Ngày nay sự phong phú của tri ​​thức sẵn có về các nền văn hóa cùng các hình thái đa dạng và xa xôi nhất do Dasein tạo dựng dường như lại rất thuận lợi cho việc tiếp cận với nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Nhưng đây chỉ là một ảo tưởng. Về bản chất, sự phong phú của tri ​​thức như vậy là một cám dỗ dẫn đến việc hiểu sai vấn đề thực sự. Việc so sánh tổng hợp và phân loại mọi thứ tự nó không mang lại sự thấu hiểu thực sự về bản chất của sự vật. Năng lực quản lý sự đa dạng trong một bảng biểu không đảm bảo sự hiểu biết chân thực về những gì được trình bày ở đó một cách có trật tự. Nguyên tắc chân thực của trật tự có nội dung riêng của nó, vốn không bao giờ được khám phá thông qua việc sắp xếp trật tự, mà đã được giả định sẵn trong đó. Do đó, việc sắp xếp thế giới quan đòi hỏi ý tưởng rõ ràng về tự thân thế giới. Và nếu ‘thế giới’ tự nó là yếu tố cấu thành của Dasein, thì việc hoàn thiện khái niệm về hiện tượng thế giới lại đòi hỏi thấu hiểu cấu trúc cơ bản của Dasein.

Die positiven Charakteristiken und negativen Erwägungen dieses Kapitels hatten den Zweck, das Verständnis der Tendenz und Fragehaltung der folgenden Interpretation in die rechte Bahn zu lenken. Zur Förderung der bestehenden positiven Disziplinen kann Ontologie nur indirekt beitragen. Sie hat für sich selbst eine eigenständige Abzweckung, wenn anders über eine Kenntnisnahme von Seiendem hinaus die Frage nach dem Sein der Stachel alles wissenschaftlichen Suchens ist. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.52– HHN] Tạm dịch nghĩa: [Tr.52] Những đặc điểm khẳng định và những cân nhắc phủ định của Chương này nhằm mục đích hướng dẫn hiểu biết về xu hướng và cách tiếp cận đặt câu hỏi của phần Diễn giải tiếp theo một cách đúng hướng. Bản thể luận chỉ có thể đóng góp gián tiếp vào sự tiến bộ của các ngành khoa học thực chứng hiện có. Nó có mục đích độc lập của riêng mình, nếu, vượt ra ngoài nhận thức đơn thuần về các hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể là động lực thúc đẩy mọi nghiên cứu khoa học.–HHN]

__________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 Neuerdings hat E. Cassirer das mythische Dasein zum Thema einer philosophischen Interpretation gemacht, vgl. »Philosophie der symbolischen Formen«. Zweiter Teil: Das mythische Denken. 1925. Der ethnologischen Forschung werden durch diese Untersuchung umfassendere Leitfäden zur Verfügung gestellt. Von der philosophischen Problematik her gesehen bleibt die Frage, ob die Fundamente der Interpretation hinreichend durchsichtig sind, ob insbesondere die Architektonik von Kants Kritik d. r. V. und deren systematischer Gehalt überhaupt den möglichen Aufriß für eine solche Aufgabe bieten können, oder ob es hier nicht eines neuen und ursprünglicheren Ansatzes bedarf. Cassirer sieht selbst die Möglichkeit einer solchen Aufgabe, wie die Anmerkung S. 16 f. zeigt, wo C. auf die von Husserl erschlossenen phänomenologischen Horizonte hinweist. In einer Aussprache, die der Verf. gelegentlich eines Vortrags in der Hamburgischen Ortsgruppe der Kantgesellschaft im Dezember 1923 über »Aufgaben und Wege der phänomenologischen Forschung« mit C. pflegen konnte, zeigte sich
schon eine Übereinstimmung in der Forderung einer existenzialen Analytik, die in dem genannten Vortrag skizziert wurde. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, Note 1, p.51–HHN]

Tạm dịch nghĩa: “Gần đây, E. Cassirer đã đưa Dasein thần thoại trở thành đối tượng của một diễn giải triết học; xem Triết học Hình thức Biểu tượng, Phần hai: Tư tưởng thần thoại, 1925. Nghiên cứu này cung cấp những hướng dẫn toàn diện hơn cho nghiên cứu dân tộc học. Từ góc độ triết học, câu hỏi đặt ra là liệu nền tảng của diễn giải có đủ minh bạch hay không, liệu, đặc biệt, tri ​​trúc Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant và nội dung hệ thống của nó thậm chí có thể cung cấp một khuôn khổ khả thi cho nhiệm vụ như vậy hay không, hay liệu cần một cách tiếp cận mới và độc đáo hơn. Bản thân Cassirer cũng nhận thấy khả năng của nhiệm vụ này, như ghi chú ở trang 16-17 cho thấy, nơi Cassirer đề cập đến những chân trời hiện tượng học được Husserl mở ra. Trong một cuộc thảo luận của Tác giả [Heidegger] với Cassirer nhân dịp một bài giảng tại nhóm địa phương Hamburg của Hội Kant vào tháng 12 năm 1923 về ‘Nhiệm vụ và Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận’, đã có sự đồng thuận về đòi hỏi một phân tích hiện sinh, được nêu trong bài giảng nói trên.”

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN I: DIỄN GIẢI DASEIN - THỜI GIAN: CHÂN TRỜI SIÊU VIỆT CỦA HỮU THỂ

MỤC I: PHÂN TÍCH CƠ BẢN CHUẨN BỊ VỀ DASEIN

 [Tr.66] Trong câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, điều được đặt ra chủ yếu là những hiện hữu có đặc tính của Dasein. Phân tích hiện sinh chuẩn bị về Dasein, phù hợp với đặc điểm riêng của nó, phải được trình bày một cách khái quát và phân biệt với các loại nghiên cứu khác dường như song hành (Chương 1). Tuân thủ quy trình mà chúng ta đã xác định để bắt đầu công cuộc nghiên cứu, chúng ta phải phơi bày một cấu trúc cơ bản trong Dasein: Hữu-thể-trong-thế-giới (Chương 2). Trong việc diễn giải về Dasein, cấu trúc này là một cái gì đó a priory ‘tiên nghiệm’; nó không được ghép lại với nhau, mà là một chỉnh thể nguyên thủy và liên tục. Tuy nhiên, nó cung cấp cho chúng ta nhiều cách nhìn khác nhau về các yếu tố cấu thành nên nó. Toàn bộ cấu trúc này luôn luôn xuất hiện trước tiên; nhưng nếu chúng ta thường xuyên ghi nhớ điều này, thì các hạng mục ấy, với tư cách là hiện tượng, sẽ được làm nổi bật. Và như vậy, chúng ta sẽ có các đối tượng để phân tích: thế giới trong Weltlichkeit Thế gian tính của nó (Chương 3), Hiện-hữu-trong-Thế-gian là Hiện-hữu-với và Hiện-hữu-của-Tự-ngã (Chương 4), và Hiện-hữu-trong đúng nghĩa (Chương 5). Bằng cách phân tích cấu trúc cơ bản này, Hữu thể của Dasein có thể tạm thời được chỉ ra. Ý nghĩa hiện sinh của nó là sự quan tâm (Chương 6).

[Chen ngang về Weltlichkeit/Worldhood Thế gian: Trong triết học của Martin Heidegger, Thế gian đề cập đến cấu trúc nền tảng, mạng lưới ý nghĩa và bối cảnh tạo nên một ‘Thế gian’ khả thể ngay từ đầu. Thay vì là một vật chứa vật lý của các đối tượng, nó là bối cảnh của các quy chiếu và thực tiễn xã hội mà qua đó con người tồn tại và điều hướng cuộc sống hàng ngày. Heidegger giới thiệu khái niệm này trong Hữu thể và Thời gian (1927), để cách mạng hóa phương thức hiểu và lý giải của chúng ta về sự tồn tại của con người mà ông gọi là Dasein, Có đó hay ‘hiện hữu’. Lý giải về thế gian liên quan đến việc khám phá một số ý tưởng cốt lõi: 1. Thế gian như một mạng lưới các mối quan hệ; Heidegger cho rằng chúng ta không gặp gỡ các đối tượng như những thứ riêng lẻ, hình học, thứ mà ông gọi là vorhanden hiện-diện-trong-tầm-tay. Thay vào đó, chúng ta gặp chúng như những Zeug - công cụ có mục đích trong một mạng lưới rộng lớn hơn. Ví dụ, một cái búa chỉ tồn tại trong mối liên hệ với một cái đinh, gỗ và hành động xây dựng. Do đó, thế giới là toàn bộ mạng lưới các nhiệm vụ và quy chiếu này. Sẵn-sàng-trong-tầm-tay: Chúng ta tương tác với môi trường xung quanh một cách thực tế hơn là lý thuyết. Khi sử dụng búa một cách thành thạo, ta không hề ý thức về hình dạng hay trọng lượng của nó. Heidegger gọi trạng thái này là Zuhandenheit trạng thái sẵn sàng trong tay. Bản chất thực sự của một ‘Thế giới’ được bộc lộ không phải khi chúng ta đứng lại và quan sát vũ trụ một cách khoa học, mà là khi chúng ta đắm mình trong các hoạt động thực tiễn, thường nhật của mình. Trong khi đó cái Weltlichkeit/Worldhood Thế gian như một Thế gian Hiện sinh lại không phải là một thuộc tính của Thế giới vật chất, mà là một Hiện sinh—một đặc điểm cơ bản của Dasein/Tồn tại người. Con người vốn dĩ là In-der-Welt-sein ‘Hiện-hữu-trong-thế-giới. Ta không thể tách rời sự tồn tại của con người khỏi bối cảnh tạo-ý-nghĩa mà nó hoạt động; làm người là tích cực sống trong một Thế gian được cấu trúc. Tình trạng đổ vỡ: Khi Thế gian Tự Bộc lộ chúng ta thường coi đó là cái thế giới hiển nhiên. Tuy nhiên, thế gian trở nên rõ nét hơn khi một công cụ bị hỏng. Nếu đầu búa văng ra, chiếc búa đột nhiên chuyển từ trạng thái ‘sẵn sàng sử dụng’ [vô hình và hữu dụng] sang trạng thái ‘hiện-diện-trong –tay’ [một vật thể vô dụng, bị hỏng chiếm chỗ]. Trong khoảnh khắc đổ vỡ này, toàn bộ mạng lưới quy chiếu được soi sáng, và chúng ta nhận thức rõ ràng về cái Weltlichkeit Thế gian làm nền tảng cho hành động của mình. Thế gian là Thế gian kiến tạo nên - trong các tác phẩm sau này, Heidegger mở rộng tư tưởng này bằng cách chủ động sử dụng thuật ngữ die Welt weltet ‘Tạo thế’. Thay vì là một giai đoạn tĩnh, thế giới là một quá trình năng động, gerundive liên tục. Đó là hoạt động tạo ra ý nghĩa, thông qua đó con người mang bối cảnh, chân lý và ý nghĩa vào cuộc tồn tại.- HHN]

I. MÔ TẢ NHIỆM VỤ PHÂN TÍCH CHUẨN BỊ CỦA DASEIN

9. Chủ đề Phân tích Dasein

[Tr.67] Chính chúng ta là những hiện hữu cần được phân tích. Hữu thể của bất kỳ hiện hữu nào như vậy trong mỗi trường hợp đều là của tôi.1 Những hiện hữu này, trong Hữu thể của chúng, tự hướng tới Hữu thể của mình. Là những hiện hữu có Hữu thể như vậy, chúng được giao phó cho Hữu thể của chính chúng.2 Hữu thể là vấn đề của mọi thực thể như vậy.3 Cách mô tả này về Dasein có hệ quả kép:

I. Cái Wesen ‘bản chất’ của hiện hữu này nằm ở cái Zu-sein ‘là’ của nó. Was-sein essentia Bản-hữu-là-cái-nó-là của nó, nếu chúng ta có thể nói đến, phải được hình dung trong khuôn khổ Hữu thể existentia của nó. Nhưng ở đây, nhiệm vụ bản thể luận của chúng ta là chỉ ra rằng khi chúng ta chọn gọi Hữu thể của hiện hữu này là Existenz tồn tại, thì thuật ngữ này lại không thể có ý nghĩa bản thể luận của thuật ngữ truyền thống existentia; về mặt bản thể học, existentia tương đương với Hữu-thể-hiện-diện-trong-tầm-tay, một loại Hữu thể về cơ bản lại không phù hợp với các hiện hữu có đặc tính của Dasein. Để tránh nhầm lẫn, chúng ta sẽ luôn sử dụng cách diễn đạt diễn giải ‘hiện-diện-trong-tay’ cho thuật ngữ existentia, trong khi thuật ngữ ‘sự tồn tại’, như một chỉ định về Hữu thể, sẽ chỉ được dành riêng cho Dasein. Bản chất của Dasein nằm ở sự tồn tại của nó. Theo đó, những đặc điểm có thể được phô bày trong hiện hữu này lại không phải là các ‘thuộc tính’ hiện-diện-trong-tay của một hiện hữu nào đó ‘trông’ như thế này thế kia và bản thân nó cũng hiện-diện-trong-tay; trong mỗi trường hợp chúng là những cách thức khả thể để nó tồn tại, và không hơn thế nữa. Toàn bộ cái Hữu-thể-như-nó-vốn-có mà hiện hữu này sở hữu chủ yếu là Hữu thể. Vì vậy, khi gọi hiện hữu này bằng ‘Dasein’, có nghĩa là chúng ta không diễn tả ‘cái gì’ của nó (như thể nó là một cái bàn, một ngôi nhà hay một cái cây) mà là Hữu thể của nó. 

2. Hữu thể đó vốn là một vấn đề đối với hiện hữu này trong chính Hữu thể của nó, trong mỗi trường hợp đều là của tôi. Do đó, về mặt bản thể luận Dasein không bao giờ được coi như một [tr.68] trường hợp cụ thể hoặc trường hợp đặc biệt của một giống loài hiện hữu như những sự vật hiện-diện-trong-tay.4 Đối với những hiện hữu như vậy, Hữu thể của chúng là ‘một vấn đề không quan trọng’;5 hay nói chính xác hơn, chúng ‘là’ ở mức Hữu thể của chúng không thể là một vấn đề không quan trọng đối với chúng, cũng không phải là cái trái ngược. Bởi vì trong mỗi trường hợp Dasein đều có Jemeinigkeit tính của tôi của nó, nên người ta luôn phải sử dụng đại từ nhân xưng khi xưng hô với nó: ‘Tôi là’, ‘Anh là’. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Jemeinigkeit ‘Tính của tôi’ mô tả bản chất không thể tránh khỏi, mang tính cá nhân sâu sắc của sự tồn tại của con người. Nó có nghĩa là sự tồn tại của tôi về cơ bản và luôn luôn là của riêng tôi. Nó làm nổi bật một số ý tưởng nền tảng về cách con người trải nghiệm thực tại, ở ngôi thứ nhất sự tồn tại của Dasein con người là nghiệm sống từ bên trong ra ngoài; tôi không thể coi sự tồn tại của mình như một sự thật khách quan, xa vời; tôi là người đang sống, cảm nhận và đưa ra lựa chọn. Vì vậy không có con người chung chung; tôi không là một thành viên có thể thay thế của một loài hoặc một đối tượng chung chung; cuộc sống của tôi là độc nhất và cá nhân; quyền sở hữu Hữu thể - cho dù tôi đang sống một cách chân thực - trung thực với chính mình - hay không chân thực - làm theo những gì xã hội mong đợi; cả hai cách sống này về cơ bản vẫn thuộc về tôi để tôi tự giải quyết; vì vậy Jemeinigkeit biểu thị rằng tồn tại là thứ gì đó mà tôi phải chịu trách nhiệm cá nhân và liên tục can dự.-HHN]

Hơn nữa, trong mỗi trường hợp, Dasein đều thuộc về tôi theo cách này hay cách khác. Dasein luôn đưa ra một quyết định nào đó về cách thức mà nó thuộc về tôi trong mỗi trường hợp. Cái hiện hữu mà trong Hữu thể của nó có chính cái Hữu thể này như một vấn đề, tự cư xử hướng tới Hữu thể của nó như là khả tính tối thượng của chính nó. Trong mỗi trường hợp, Dasein là khả tính của nó, và nó ‘có’ cái khả tính này, nhưng không chỉ như một thuộc tính, như một thứ gì đó hiện-diện-trong-tay. Và bởi vì Dasein trong mỗi trường hợp về bản chất là cái khả tính của chính nó, nên trong chính Hữu thể của nó, nó có thể ‘lựa chọn’ chính mình và chiến thắng chính mình; nó cũng có thể đánh mất chính mình và không bao giờ chiến thắng chính mình; hoặc chỉ ‘có vẻ’ là như vậy. Nhưng chỉ khi về bản chất, nó là một thứ gì đó có thể là chân thực - tức là, một thứ thuộc về chính nó6 - thì nó mới có thể tự đánh mất chính mình và chưa chiến thắng chính mình. Với tư cách là các phương thức Hữu thể, tính chân thực và tính không chân thực (những thuật ngữ này được lựa chọn một cách nghiêm ngặt) đều dựa trên thực tế là bất kỳ Dasein nào cũng được đặc trưng bởi Jemeinigkeit tính của tôi.7 Nhưng tính không chân thực của Dasein không có nghĩa là Hữu thể ‘kém hơn’ hoặc ở mức độ Hữu thể ‘thấp hơn’. Thay vào đó, ngay cả trong sự cụ thể hóa đầy đủ nhất, Dasein vẫn có thể được đặc trưng bởi tính không chân thực - khi bận rộn, khi phấn khích, khi quan tâm, khi sẵn sàng tận hưởng. 

Hai đặc điểm của Dasein mà chúng ta đã phác thảo – ưu quyền của existentia tồn tại so với essentia bản chất, và thực tế là Dasein trong mỗi trường hợp đều là die Jemeinigkeit tính của tôi – đã chỉ ra rằng trong phân tích hiện hữu này, chúng ta đang đối mặt với một lĩnh vực hiện tượng đặc biệt. Dasein không có loại Hữu thể vốn thuộc về một thứ gì đó chỉ hiện-diện-trong-tay trong Thế gian, và nó cũng không bao giờ có loại Hữu thể đó. Vì vậy, nó cũng không được trình bày theo chủ đề như một cái gì đó bắt gặp theo cùng một cách như [tr.69] bắt gặp cái hiện-diện-trong-tay. Cách trình bày đúng đắn về nó còn xa mới đạt đến hiển nhiên đến nỗi là việc xác định hình thức mà nó có được là một phần thiết yếu của phân tích bản thể học về hiện hữu này. Chỉ bằng việc trình bày đúng cách cái hiện hữu này, mới có thể hiểu được Hữu thể của nó. Cho dù phân tích của chúng ta có mang tính tạm thời đến đâu, thì nó vẫn luôn đòi hỏi phải đảm bảo rằng chúng ta đã bắt đầu đúng hướng.    

Trong việc tự xác định mình như một hiện hữu, Dasein luôn làm như vậy dưới ánh sáng của một khả tính mà chính nó là và mà, trong chính Hữu thể của nó, nó bằng cách nào đó nó hiểu rõ. Đây là ý nghĩa hình thức của cấu thành hiện sinh của Dasein. Nhưng điều này cho chúng ta biết rằng nếu chúng ta muốn Diễn giải hiện hữu này về mặt bản thể luận, thì vấn đề về Hữu thể của nó phải được phát triển từ tính hiện sinh của sự tồn tại của nó. Tuy nhiên, điều này không thể có nghĩa là ‘Dasein’ được hiểu theo một khuôn khổ ý niệm khả thể cụ thể nào đó về tồn tại. Ngay từ đầu phân tích, điều đặc biệt quan trọng là Dasein không nên được Diễn giải với đặc tính khác biệt của một cách tồn tại nhất định, mà nó nên được khám phá trong đặc tính không phân biệt mà nó có một cách gần gũi và phần lớn là như vậy. Đặc tính thường nhật không phân biệt này của Dasein không phải là hư vô, mà là một đặc điểm hiện tượng tích cực của hiện hữu này. Từ loại Hữu thể này - và trở lại với nó - mà tất cả mọi tồn tại, như nó vốn có.8 Chúng ta gọi tính thường nhật không phân biệt này của Dasein là ‘trạng thái trung bình’ Durchschnittlichkeit.

[Chen ngang: Durchschnittlichkeit des Daseins Khái niệm ‘Trạng thái trung bình của Daseins của Martin Heidegger mô tả cách con người trong cuộc sống thường nhật có xu hướng sống không chân thực, mà theo lối sống tuân thủ và hời hợt. Dasein bị lạc lối trong các quy ước, trong đám đông và trong các hoạt động thường nhật, thay vì sống cuộc đời của chính mình một cách có ý thức và tự chủ. Những điểm cốt lõi quan trọng nhất của khái niệm này có thể được chia thành các phần sau: i) Alltägliche Durchschnittlichkeit Trạng thái trung bình thường nhật’ Trong giai đoạn không chân thực, con người không sống như những cá nhân đích thực, mà là một phần của khối lượng vô danh, mà Heidegger gọi là Das Man ‘Chúng/Họ’. Trong trạng thái này chúng ta suy nghĩ, phán xét và hành động wie man es eben macht ‘như người ta vẫn thường làm’. Chúng ta chấp nhận các ý kiến ​​và xu hướng một cách thiếu phê phán, mà không đặt câu hỏi về chúng, vì vậy tính độc đáo cá nhân và sự tự hiểu biết đích thực bị mất đi; ii) Verfallenheit Hiện tượng sa ngã  và Heidegger cũng gọi trạng thái này là ‘Sa ngã’ vào Thế giới. Điều này có nghĩa là con người quá bận tâm đến những hoạt động bề ngoài của thế giới như công việc, tiêu dùng, chuyện phiếm, những thứ gây xao nhãng, đến nỗi họ quên mất câu hỏi cơ bản về ý nghĩa của Hữu thể; iii) Sự trốn chạy khỏi Tồn tại của chính mình; tính tầm thường về mặt tâm lý hoạt động như một cơ chế bảo vệ. Nhận thức về sự hữu hạn của bản thân và sự tự do tuyệt đối và trách nhiệm phải tự định hình cuộc sống của mình có thể gây ra lo lắng. Để thoát khỏi gánh nặng hiện sinh này, Dasein chạy trốn vào Durchschnittlichkeit des Alltags Tính trung bình thoải mái và an toàn của cuộc sống hàng ngày; iv) Con đường đến Eigentlichkeit (Authentizität) Tính chân thực: Tính Trung bình không phải là số phận không thể tránh khỏi, mà chỉ đơn thuần là một phương thức cụ thể của Dasein. Cách thoát khỏi sự tha hóa này nằm ở việc nhận ra tính bề ngoài này và "phấn đấu hướng tới cái chết và sự tự do của chính mình" - nghĩa là, có ý thức và chân thực chịu trách nhiệm về sự tồn tại của chính mình.-HHN]

Và bởi vì Durchschnittlichkeit Trạng thái trung bình thường nhật này tạo nên những gì gần gũi về mặt ontic thực hữu đối với hiện hữu này, nên nó đã nhiều lần bị bỏ qua trong việc giải thích Dasein. Cái gần gũi nhất và được biết đến nhất về phương diện ontic thực hữu, lại là cái xa nhất và hoàn toàn không được biết đến về mặt bản thể luận; và ý nghĩa bản thể luận của nó thường xuyên bị bỏ qua. Khi Augustine hỏi: ‘Quid autem propinquius meipso mihi?Nhưng liệu còn gì gần với tôi hơn bản thân tôi? Thì cũng chính ông đã tự trả lời: ‘ego certe laboro hic et laboro in meipso: factus sum mihi terra difficultatis et sudoris nimii’ ‘Ở đây tôi chắc chắn đã làm lụng chăm chỉ và làm lụng không ngừng: Tôi đã trở thành một vùng đất đầy gian khó và đã đổ biết bao mồ hôi trên cánh đồng cuộc đời mình.”,9 [Chen ngang: Quid autem propinquius meipso mihi? … Ego certe laboro hic et laboro in meipso: factus sum mihi terra difficultatis et sudoris nimii. Quyển X của công trình Confessions Tự thú của Thánh Augustine nhà triết học - thần học thế kỷ thứ 4). Nghịch lý của Tự ngã: Augustine đang vật lộn với sự trớ trêu tột cùng về phương diện triết học. Về mặt logic và trải nghiệm hiện sinh, thật không có gì  gần gũi hoặc được tôi biết rõ hơn chính bản thân mình. Tuy nhiên, việc hiểu được tâm trí, linh hồn và động cơ của chính mình lại vô cùng gian khổ. Đó thực sự chẳng khác nào gã nông phu còng lưng cày cuốc trên ‘cánh đồng’ cuộc đời mình: Augustine so sánh tâm trí và ý thức của mình với terra difficultatis đất đai chưa được canh tác trên một địa hình khắc nghiệt. Cần rất nhiều nỗ lực về tinh thần và tâm linh—được biểu thị bằng sudoris nimii ‘vô vàn mồ hôi’)—để xem xét những suy nghĩ, cám dỗ và sự phức tạp bên trong của chính mình. Trong lịch sử tự nghiệm sinh triết học, đoạn văn này sâu sắc đến nỗi Martin Heidegger đã sử dụng nó để làm nổi bật tình trạng của con người: mặc dù chúng ta tồn tại với tư cách là chính mình, nhưng Hữu thể của chúng ta thường mờ mịt, khó hiểu vì vậy phải đòi hỏi cả đời tự vật lộn khám phá để lý giải.-HHN] điều này không chỉ áp dụng cho hiện trạng mờ ảo về mặt thực hữu và tiền-bản thể luận của Dasein mà còn hơn thế nữa đối với nhiệm vụ bản thể luận đang chờ đợi phía trước; bởi vì hiện hữu này không chỉ không được bỏ sót trong loại Hữu thể mà nó gần gũi nhất về mặt hiện tượng, mà còn phải làm sao cho dễ tiếp cận bằng một quá trình đặc trưng hóa tích cực. Tuy nhiên, cái hiện trạng trung bình thường nhật của Dasein không nên được coi là một ‘khía cạnh’ đơn thuần. Ở đây, ngay cả trong trạng thái không chân thực, thì cái cấu trúc của tính hiện sinh vẫn còn tồn tại a priori tiên nghiệm. Và ở đây, cũng chính Hữu thể của Dasein lại là một vấn đề đối với nó theo một cách nhất định; và Dasein cư xử với nó theo cách thức bình thường hàng ngày, ngay cả khi đây chỉ là cách thức trốn tránh đối mặt và quên lãng nó.10   

[Tr.70] Nhưng việc giải thích về Dasein trong trạng thái trung bình thường nhật của nó không chỉ mang lại cho chúng ta những cấu trúc trung bình theo nghĩa bất minh mơ hồ. Bất cứ điều gì, với nó xét về mặt ontic thực hữu cũng chỉ ở mức trung bình, đều có thể được nắm bắt rất tốt về mặt bản thể học trong những cấu trúc đầy ý nghĩa, có thể không thể phân biệt được về mặt cấu trúc với một số đặc điểm bản thể học nhất định của một Hữu thể đích thực của Dasein. Tất cả explicata những điều đã được giải thích mà phân tích về Dasein tạo ra đều có được bằng cách xem xét cấu trúc-tồn tại của Dasein. Bởi vì các đặc điểm Hữu thể của Dasein được định nghĩa theo khuôn khổ trạng thái hiện sinh, chúng ta gọi chúng là existentialia phương thức hiện hữu. [Chen ngang: existentialia của Martin Heidegger đề cập đến các cấu trúc nền tảng định nghĩa sự tồn tại của con người, hay Dasein; phái sinh từ gốc Latin existere ‘nổi bật’ nó mô tả cách con người tồn tại về cơ bản trong thế giới—thay vì mô tả các đặc điểm vật lý; cách hiểu Existentialia tốt nhất là đối sánh nó với Categories và để nắm bắt được existentialia, điều hữu ích là hiểu chúng không phải là gì: Heidegger chia thế giới thành hai loại mô tả: i) Categories được sử dụng để mô tả các thuộc tính của các vật thể vật lý - những thứ chỉ đơn thuần là cái gì đó; chúng định nghĩa các đặc điểm có thể đo lường được như trọng lượng, hình dạng và thành phần hóa học; ii) còn Existentialia được độc quyền sử dụng để mô tả sự tồn tại của Dasein con người; thay vì các thuộc tính cố định, chúng đại diện cho các cách tồn tại năng động, chẳng hạn như tính hữu hạn của chúng ta như Being-toward-death Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, những lo lắng, tâm trạng, các mối quan tâm của Dasein. Cấu trúc hiện sinh cơ bản này được chia thành một số đặc điểm chính: Trạng thái tâm trí/Sự hòa hợp: Thực tế là con người luôn bị đặt vào một hoàn cảnh cụ thể, không do lựa chọn  - chẳng hạn như một thời đại lịch sử hoặc một cơ thể vật lý - và trải nghiệm điều này thông qua tâm trạng; Verstehen - hiểu biết là năng lực bẩm sinh của chúng ta để tự hình dung về những khả tính trong tương lai và điều hướng Thế gian một cách thực tế; Ngôn ngữ - diễn đạt khả năng hiểu biết; cách chúng ta tạo ra ý nghĩa cho thế giới của mình và giao tiếp thông qua ngôn ngữ; In-der-Welt-sein Hiện-hữu-trong-thế-giới, điều kiện cơ bản là con người không phải là những tâm trí cô lập, mà luôn luôn gắn bó một cách thực tế theo phương thức xã hội với môi trường xung quanh.-HHN]. Đó là những thứ cần được phân biệt rõ ràng với những gì chúng ta gọi là categories ‘các phạm trù’ - những đặc trưng của Hữu thể dành cho các hiện hữu có đặc điểm không phải là các đặc điểm của Dasein.11

Ở đây, chúng ta đang sử dụng thuật ngữ ‘phạm trù’ theo nghĩa bản thể luận cơ bản của nó và tuân theo nó. Trong bản thể luận của người cổ xưa, các hiện hữu mà chúng ta gặp trong thế giới12  được coi là những ví dụ cơ bản để giải thích về Thực thể. νοεῖν (hoặc λόγος, tùy trường hợp) được chấp nhận như một cách tiếp cận chúng.13 [Chen ngang: νοεῖν noein là một động từ Hy Lạp cổ thường được dịch sang tiếng Anh là ‘tư duy’, ‘nhận thức’; Heidegger bác bỏ cách dịch thông thường này, cho rằng nó làm giảm đi một trải nghiệm phong phú, mang tính tiếp nhận ban đầu thành logic phân tích hiện đại. Heidegger phân tích νοεῖν theo nghĩa Apprehension lưu tâm: Trong những nghiên cứu hiện tượng học ban đầu về Aristotle, Heidegger định nghĩa νοεῖν là sự nhận thức trực tiếp, không qua trung gian về một điều gì đó. Đó là sự nhận thức đơn giản, phi lý thuyết về một hiện tượng chính xác như nó thể hiện trước khi chúng ta hình thành những khẳng định hoặc phán đoán phức tạp về nó. Trong những lần tiếp xúc sau này với các triết gia tiền Socrates như Parmenides (cụ thể là trong loạt bài giảng ‘Tư duy là gì?’), Heidegger định nghĩa νοεῖν là in-die-Acht-nehmen—chú ý, để ý hoặc quan sát. Nó không chỉ đơn thuần là sự tiếp nhận dữ liệu giác quan một cách bản năng hay máy móc. Thay vào đó, nó đòi hỏi chúng ta phải cởi mở và sẵn sàng đón nhận Sự tồn tại, bảo vệ những gì hiện hữu bằng cách chăm sóc nó và để nó bộc lộ bản chất thực sự của mình. Νoεῖν gắn liền với εἶναι tồn tại. Heidegger diễn giải đoạn văn nổi tiếng của Parmenides ‘το γαρ αυτό νοείν εστίν τε και είναι’ - το ίδιο είναι η νόηση και το Είναι. ‘Cái tư duy là bản thân nó và là tồn tại’ - ‘Tư duy cũng chính là Hữu thể’ - có nghĩa là νοεῖν ‘tư duy’ đích thực của con người không phải là một hoạt động tinh thần biệt lập, mà là một sự cởi mở đáp lại sự hiện diện tự khải lộ của Hữu thể. - HHN]. Các hiện hữu được tìm thấy trong đó. Nhưng Hữu thể của các hữu thể này phải là thứ có thể được nắm bắt trong một loại λέγειν - cho phép nhìn thấy cái gì đó - đặc biệt, sao cho Hữu thể này trở nên dễ hiểu trước như chính nó - và như chính nó đã có trong mọi hiện hữu. Trong bất kỳ cuộc thảo luận (λόγος) nào về các hiện hữu, chúng ta trước đây đã hướng đến Hữu thể; sự hướng đến này là κατηγορεῖσθαι.14 [Κατηγορεῖσθαι là dạng bị động hiện tại của động từ κατηγορέω kategoreo, có nghĩa là ‘bị buộc tội’, ‘bị cáo buộc’ hoặc ‘bị phản đối’. -HHN]

Điều đó, trước hết, có nghĩa là đưa ra lời buộc tội công khai, khiển trách ai đó về điều gì đó trước mặt mọi người. Khi được sử dụng theo nghĩa bản thể luận, thuật ngữ này có nghĩa là đưa một hiện hữu ra xem xét, chất vấn, như thể, vì bất cứ điều gì nó là một hiện hữu - nghĩa là, để mọi người nhìn thấy nó trong Hữu thể của nó. Cái κατηγορίαι chất vấn, cáo buộc là những gì được nhìn thấy và những gì có thể nhìn thấy trong quá trình nhìn thấy đó.15  Chúng bao gồm nhiều cách khác nhau mà bản chất của những hiện hữu có thể được đề cập và thảo luận trong một λόγος –trật tự, lý trí, diễn ngôn - có thể được xác định trước. [Tr.71 Existentialia các phương thức hiện hữu và categories các phạm trù là hai khả tính cơ bản cho các đặc điểm của Hữu thể. Các hiện hữu tương ứng đòi hỏi các chất vấn sơ cấp: bất kỳ hiện hữu nào hoặc là một ‘ai’ (tồn tại) hoặc là một ‘cái gì’ (hiện diện trong tầm tay theo nghĩa rộng nhất). Mối liên hệ giữa hai phương thức các đặc điểm này của Hữu thể không thể được xử lý cho đến khi chân trời cho câu hỏi về Hữu thể được làm rõ.

Trong phần giới thiệu, chúng ta đã gợi ý rằng trong phân tích hiện sinh về Dasein, chúng ta cũng tiến tới một nhiệm vụ không kém phần cấp bách so với câu hỏi về Hữu thể – nhiệm vụ làm sáng tỏ nền tảng tiên nghiệm cần phải được nhìn thấy trước khi câu hỏi “con người là gì” có thể được thảo luận về mặt triết học. Phân tích hiện sinh về Dasein xuất hiện trước bất kỳ tâm lý học hay nhân học nào, và chắc chắn trước bất kỳ sinh học nào. Mặc dù đây cũng là những cách thức để nghiên cứu Dasein, chúng ta có thể xác định chủ đề phân tích của mình chính xác hơn nếu chúng ta phân biệt nó với những cách thức này. Và đồng thời, tính cần thiết của phân tích đó có thể được chứng minh một cách sắc bén hơn.

10. Phân biệt Phân tích Hiện sinh về Dasein với Nhân học, Tâm lý học và Sinh học

Sau khi một chủ đề nghiên cứu đã được phác thảo ban đầu bằng những khuôn khổ thực chứng, điều quan trọng là phải chỉ ra những gì cần phải loại trừ, mặc dù việc thảo luận về những gì sẽ không xảy ra có thể dễ dàng trở nên vô ích. Chúng ta phải chứng minh rằng những nghiên cứu và cách đặt câu hỏi về Dasein từ trước đến nay đã bỏ sót vấn đề triết học thực sự (mặc dù chúng có tính phồn sinh khách quan cao), và chừng nào còn tiếp tục bỏ sót vấn đề đó, chúng không có quyền tuyên bố có thể hoàn thành mục tiêu cơ bản mà chúng đang hướng tới. Khi phân biệt phân tích hiện sinh với nhân học, tâm lý học và sinh học, chúng ta sẽ chỉ giới hạn bản thân vào vấn đề về nguyên tắc là bản thể học. Sự phân biệt của chúng ta nhất thiết sẽ không đầy đủ từ quan điểm của ‘lý thuyết khoa học’ đơn giản vì cấu trúc khoa học của các ngành nói trên (không phải là ‘thái độ khoa học’ của những người đang nỗ lực phát triển chúng) ngày nay hoàn toàn đáng nghi vấn và cần được giải quyết theo những cách thức mới, bắt nguồn từ các vấn đề bản thể học.

Về mặt sử luận, mục tiêu của phân tích hiện sinh có thể được làm rõ hơn bằng cách xem xét Descartes, người được ghi nhận là đã đặt nền móng cho nghiên cứu triết học hiện đại bằng khám phá ra ‘cogito sum’ - tôi tư duy vì vậy tôi tồn tại. Ông nghiên cứu ‘cogitare’ tôi tư duy của cái  ‘ego’ bản ngã, ít nhất là trong một số giới hạn nhất định. Mặt khác, ông hoàn toàn không thảo luận về ‘sum’ ‘là’, mặc dù nó được coi là không kém phần nguyên thủy so với ‘cogito’. Phân tích của chúng tôi [tr.72] đặt ra câu hỏi bản thể học về Hữu thể của ‘sum’. Không phải cho đến khi bản chất của Hữu thể này được xác định, chúng ta mới có thể nắm bắt được loại Hữu thể nào thuộc về cogitationes các tư duy nào. [Chen ngang: Động từ Latin sum có nghĩa là ‘Tôi là’ - dạng hiện tại chỉ định ngôi thứ nhất số ít của động từ esse ‘là’; động từ này có từ thời cổ đại: es-, có nghĩa ‘là’ hoặc ‘tồn tại’; trong tiếng Phạn ásmi ‘Tôi là’, tiếng Hy Lạp eimí ‘Tôi là’. Đây là loại động từ bất quy tắc, bởi vì ‘là’ là một động từ lâu đời nhất và được sử dụng thường xuyên nhất trong ngôn ngữ loài người, nên nó rất bất quy tắc. Trong ngôn ngữ Latin có các dạng quen thuộc như sum ‘Tôi là’, es ‘anh/chị là’, est ‘Anh ấy/Cô ấy/Nó là’, và sunt ‘Họ là’.-HHN.]

Đồng thời, tất nhiên là việc minh họa mục đích của phương pháp lịch sử phân tích của chúng ta theo cách này là không chính xác. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta sẽ là chứng minh rằng nếu chúng ta coi một ‘cái tôi’ hay chủ thể là cái được cho sẵn một cách gần gũi, chúng ta sẽ hoàn toàn bỏ sót nội dung hiện tượng của Dasein. Về phương diện bản thể luận, mọi ý niệm về một ‘chủ thể’ - trừ khi được tinh chỉnh bởi một xác định bản thể luận trước đó về đặc tính cơ bản của nó - vẫn luôn đặt ὑποκείμενον subjectum chất nền đi kèm với nó, bất kể sự phản đối mạnh mẽ đến đâu về mặt thực hữu đối với ‘bản chất linh hồn’ hay ‘sự vật hóa của ý thức’. Dinglichkeit Bản tính sự vật đó hàm chứa phải được chứng minh nguồn gốc bản thể học của nó nếu muốn đặt câu hỏi về điều chúng ta cần hiểu một cách tích cực khi nghĩ về Hữu thể không bị vật hóa của chủ thể, linh hồn, ý thức, tinh thần, con người.

[Chen ngang: Dinglichkeit Thinghood Bản tính sự vật với Heidegger là bản chất của cái làm cho một thực thể vật lý trở thành một das Ding ‘vật’ chứ không chỉ đơn thuần là một đối tượng toán học hoặc sản xuất hàng loạt. Ông lập luận rằng một vật thực sự là một thực thể độc lập, giàu ý nghĩa, là điểm tựa cho thực tại của một cộng đồng, chứ không phải là một nguồn lực thụ động để được đo lường, kiểm soát hoặc tiêu thụ. Để hiểu điều này, Heidegger đã đưa ra một sự tương phản rõ nét giữa cách chúng ta tương tác với các vật dụng hàng ngày so với cách chúng ta nhìn nhận các vật thể công nghệ hiện đại: Gegenstand đối tượng, thường được gọi là ‘hiện-diện-trong-tầm-tay’, đây là một vật thể bị tước bỏ bối cảnh của nó và được xử lý hoàn toàn như một khối vật lý; đó là thứ mà chúng ta đứng đối diện, quan sát một cách khoa học hoặc tính toán như một nguồn lực. Das Ding Sự vật trong triết học sau này của ông chẳng hạn một chiếc bình gốm, Heidegger khám phá cách thức một đối tượng được chế tác thủ công, có ý nghĩa trở thành ‘vật thể’. Thay vì chỉ là một vật chứa vật lý, chiếc bình tập hợp đất, trời, con người và thần thánh, đóng vai trò là điểm tập trung cho một thế giới văn hóa chung. Heidegger lập luận rằng tư duy công nghệ hiện đại, chẳng hạn như chỉ nhìn vào một dòng sông như một nguồn năng lượng cần được khai thác, làm chúng ta mù quáng trước tính vật thể thực sự của thế giới, làm giảm đi sự kỳ diệu và ý nghĩa của môi trường xung quanh chúng ta thành những vật thể có thể tính toán được.- HHN]. Tất cả những khuôn khổ này đều đề cập đến các lĩnh vực hiện tượng xác định có thể được ‘hình thành’: nhưng chúng không bao giờ được sử dụng mà không kèm theo một sự thất bại đáng chú ý trong việc nhận ra nhu cầu tìm hiểu về Hữu thể của các hiện hữu được chỉ định như vậy. Do đó, chúng ta không tùy tiện về mặt thuật ngữ khi tránh sử dụng những thuật ngữ này - hoặc những biểu hiện như ‘cuộc sống’ và ‘con người’ - khi chỉ định những hiện hữu là bản thân chúng ta.

Mặt khác, nếu hiểu đúng, trong bất kỳ ‘triết học về sự sống’ nghiêm túc và có tư duy khoa học nào (cách biểu hiện này nói lên nhiều điều tương tự như ‘thực vật học về thực vật’) đều có một xu hướng không được thể hiện hướng tới hiểu biết về Hữu thể của Dasein. Điều đáng chú ý trong triết học như vậy (và có khiếm khuyết về nguyên tắc) là ở đây ‘sự sống’ tự nó như một loại Hữu thể không trở thành một vấn đề về mặt bản thể luận. Các nghiên cứu của Wilhelm Dilthey được thúc đẩy bởi câu hỏi muôn thuở về ‘sự sống’. Bắt đầu từ ‘sự sống’ như một tổng thể, ông đã cố hiểu các ‘Trải nghiệm’16 về nó trong mối liên hệ cấu trúc và phát triển của chúng. ‘Tâm lý học nhân văn’ của ông không còn hướng đến các yếu tố và tử tâm lý hay việc ghép nối đời sống tâm hồn lại với nhau, mà hướng đến Gestalten cấu hình và ‘cuộc sống như một tổng thể’.       

Tuy nhiên, ý nghĩa triết học của nó không nằm ở đây, mà nằm ở chỗ trong tất cả những điều này, trên hết, ông đang hướng tới câu hỏi về ‘cuộc sống’. Chắc chắn, chúng ta cũng có thể thấy rất rõ ở đây vấn đề của ông và tập hợp các khái niệm mà ông phải diễn đạt bằng lời [tr.73] đều bị hạn chế như thế nào. Tuy nhiên, những hạn chế này không chỉ được tìm thấy ở Dilthey và Bergson mà còn ở tất cả các phong trào ‘nhân cách luận’ mà họ đã định hướng và trong mọi xu hướng hướng tới một nhân học triết học. Diễn giải hiện tượng học nhân cách về nguyên tắc là triệt để hơn và minh bạch hơn; nhưng câu hỏi về Hữu thể của Dasein có một chiều kích mà điều này cũng không thể chạm tới. Dù Husserlii và Scheler có khác nhau đến đâu trong các nghiên cứu, phương pháp tiến hành và định hướng đối với thế giới nói chung, họ vẫn hoàn toàn nhất trí về khía cạnh phủ định trong các Diễn giải về nhân cách. Vấn đề về ‘Hữu thể cá nhân’ tự thân là một vấn đề mà họ không còn đặt ra nữa. Chúng tôi đã chọn Diễn giải của Scheler làm ví dụ, không chỉ vì nó dễ tiếp cận qua bản in,iii mà còn vì ông nhấn mạnh Hữu thể cá nhân một cách rõ ràng và cố gắng xác định đặc điểm của nó bằng cách định nghĩa Hữu thể cụ thể của các hành động trái ngược với bất cứ điều gì ‘thuộc về tâm lý’. Đối với Scheler, con người không bao giờ được coi là một Vật thể hay một bản chất; con người ‘đúng hơn là nhất tính của sống-trải được nghiệm sinh trực tiếp trong và cùng với Kinh nghiệm của chúng ta - không phải là một Vật thể chỉ được nghĩ đến đằng sau và bên ngoài những gì được Trải nghiệm trực tiếp";iv Con người không phải là một Hữu thể Giống-Vật thể và có bản chất. Hữu thể của ai đó cũng không hoàn toàn bị hấp thụ vào việc là chủ thể của các hành động lý tính tuân theo các quy luật nhất định.

Con người không phải là một Sự vật, không phải là một chất, không phải là một khách thể. Ở đây, Scheler nhấn mạnh điều mà Husserlv  gợi ý khi ông kiên định rằng nhất tính của con người phải có một Cấu thành khác biệt về bản chất so với cấu thành cần thiết cho nhất tính của các Sự vật thuộc Tự nhiên.16 Những gì Scheler nói về con người, ông cũng áp dụng cho các hành động: ‘Nhưng một hành động không bao giờ đồng thời là một khách thể; vì điều thiết yếu đối với Hữu thể của các hành động là ở chỗ chúng chỉ được Trải nghiệm trong chính quá trình thực hiện và được đem cho trong sự phản chiếu.'vi Hành động là một cái gì đó phi tâm lý. Về bản chất, con người chỉ tồn tại trong việc thực hiện các hành động có ý hướng tính, và do đó về bản chất nó không phải là một khách thể. Bất kỳ sự Khách thể hóa tâm lý nào đối với các hành động, và do đó bất kỳ cách nào coi chúng là một cái gì đó thuộc về tâm lý, đều tương đương với việc phi nhân cách hóa. Trong mọi trường hợp, một cá nhân được đưa ra như một người thực hiện các hành động có ý hướng tính được ràng buộc với nhau bởi nhất tính của một ý nghĩa. Do đó, Hữu thể tâm lý không liên quan gì đến Hữu thể cá nhân. Các hành động được thực hiện; con người là kẻ thực hiện các hành động. Tuy nhiên, ý nghĩa bản thể luận của ‘việc thực hiện’ là gì? Làm thế nào để xác định một cách tích cực về mặt bản thể luận loại Hữu thể nào thuộc về một người? Nhưng câu hỏi quan trọng không thể dừng lại ở đây. Nó phải đối mặt với Hữu thể của toàn bộ con người, kẻ thường được coi là một nhất tính của thân thể, [tr.74] linh hồn và tinh thần. Đến lượt mình, ‘thân thể’, ‘linh hồn’ và ‘tinh thần’ có thể chỉ định các lĩnh vực hiện tượng có thể được tách ra làm chủ đề cho các nghiên cứu cụ thể; trong một số giới hạn nhất định, tính không xác định về mặt bản thể luận của chúng có thể không quan trọng. . Tuy nhiên, khi chúng ta đến với câu hỏi về Hữu thể của con người, đây không phải là điều chúng ta có thể đơn giản tính toán17 bằng cách cộng lại những loại Hữu thể mà thân thể, linh hồn và tinh thần lần lượt sở hữu - những loại Hữu thể mà bản chất của chúng vẫn chưa được xác định. Và ngay cả khi chúng ta cố gắng thực hiện một quy trình bản thể luận như vậy, thì một số ý niệm về Hữu thể của cái toàn thể phải được giả định trước.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘Das Seiende, dessen Phân tích zur Aufgabe steht, sind wir je selbst. Das Sein chết Seienden ist je meines.' Người đọc không được có ấn tượng rằng có điều gì duy ngã trong câu thứ hai trong số những câu này. Vấn đề chỉ là loại Sinh vật thuộc về Dasein là loại mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể gọi là của riêng mình.

2 'Als Seiendes diees Seins ist es seinem eigenen Sein überantwortet.'

Các phiên bản trước đó có nội dung '. . . seinem eigenen Zu-sein….’

3 Xem ghi chú 2, tr. 28, H. 8 ở trên. [tr.67]

4 ‘….als Vorhandenem’. Các phiên bản trước có tính từ 'vorhandenem' thay vì tính từ thực chất.

5 ‘gleichgültig’. Tính từ này phải được phân biệt với tính từ ‘thờ ơ’ trong tiếng Đức, mặc dù cả hai đều có thể được dịch thông thường bằng từ ‘thờ ơ’ trong tiếng Anh mà chúng ta sẽ dành riêng cho tính từ ‘thờ ơ’ trong tiếng Anh. Trong hầu hết các đoạn văn, từ sau được dịch xuôi nhất là ‘không phân biệt’ hoặc ‘không có sự phân biệt thêm’; Tuy nhiên, đôi khi, có vẻ xuôi hơn là nên dịch nó bằng ‘Infamous’ với số vốn ban đầu. Chúng ta sẽ tuân theo những quy ước tương tự với danh từ ‘Gieichgültigkeit’ và ‘Indifferenz’.

6 ‘Und weil Dasein wesenhaft je seine Moglichkeit ist, kann dieses Seiende in seinem Sein sich selbst ‘wählen’, gewinnen, es kann sich verlieren, bzw. không có "scheinbar" của chúng tôi. Verloren habenkann es sich our und noch nicht sich gewonnen haben kann es nur, sofern es seinem. Yesen nach mogliches eigentliches, das heisst sich zueigen ist.'

Các phiên bản cũ hơn có 'je wesenhaft' và 'zueigenes'. Mối liên hệ giữa 'eigentlich' ('xác thực', 'thực') và 'eigen' ('riêng') bị mất trong bản dịch.

7. ‘….dass Dasein überhaupt durch Jemeini _g_kc;it bestimmt ist.’ [tr.68]

8 'A us dieer Seinsart heraus und in sie zurck ist alles Existieren, wie est ist.'

9 'Auch in ihr geht es dem Dasein in bestimmter Weise urn sein Sein, zu dem es sich im Modus der durchschnittlichen Alltaglichkeit verhalt und sei es auch nur im Modus der Flucht davor und des Vergessens seiner.' Để thảo luận thêm, xem Phần 40 bên dưới. [tr.69]

10 'Weil sie sich aus der Existenzialitat bestimmen, nennen wir die Seinscharaktere des Daseins Existenzialien. Sie sind scharf zu trennen von den Seinsbestimmungen des nicht daseinsmiissigen Seienden, die wir Kategorien nennen.'

11 '….das Innerhalb der Welt begegnende Seiende.' Nghĩa đen hơn: 'thực thể gặp gỡ trong thế giới.' Trong khi Heidegger thường sử dụng động từ 'begegnen' theo nghĩa chủ động nội động từ này, thì cấu trúc tương tự với từ 'encounter' trong tiếng Anh lại không tự nhiên và thô cứng. Theo quy tắc, chúng ta sẽ sử dụng hoặc cấu trúc bị động (như trong 'entities encountered') hoặc cấu trúc chủ động ngoại động từ (như trong 'entities we encounter').

12 ‘Als Zugangsart zu ihm gilt das νοεῖν bzw. der λόγος.’ Ở đây chúng ta tuân theo cách đọc của các ấn bản trước đó. Trong các ấn bản sau này, ‘Zugangsart’, được sử dụng khá thường xuyên, ở đây được thay thế bằng ‘Zugangsort’, xuất hiện rất hiếm và có lẽ là một lỗi in. Phiên bản sau này có thể được dịch như sau: νοεῖν (hoặc λόγος, tùy trường hợp) được chấp nhận là nơi tiếp cận các thực thể đó.’ Về νοεῖν và λόγος xem Phần 7 ở trên, đặc biệt là H. 32-34.

13 ‘Dasje schon vorgiingige Ansprechen des Seins im Besprechen (λόγος) des Seienden ist das κατηγορεῖσθαι.’

14 ‘Das in solchem ​​Sehen Gesichtete und Sichtbare….’ Về ‘Sehen’ và ‘Sicht’ xem H. 147 [p.70]

15 “Chết ‘Erlebnisse’ chết ‘Lebens’….” Mối liên hệ giữa ‘Leben’ (cuộc sống) và ‘Erlebnisse (Trải nghiệm) bị mất khi dịch. Một 'Erlebnis' không chỉ là bất kỳ 'trải nghiệm' nào (Erfahrung), mà là thứ mà chúng ta cảm nhận sâu sắc và 'sống trải'. Chúng ta sẽ dịch 'Erlebnis' và 'erleben' thành 'Experience' với chữ 'E' viết hoa, dành ‘experience’ cho 'Erfahrung' và 'erfahren'. [tr.72]

16 ‘….wenn er fur die Einheit der Person eine wesentlich andere Konstitution fordert als flir die der Naturdinge.' Chữ 'der' thứ hai chỉ xuất hiện trong các phiên bản sau. [tr.73]

17 Đọc 'errechnet'. Các ấn bản đầu tiên có 'verrechnet', với cách đọc chính xác được cung cấp trong danh sách lỗi. [tr.74]