Powered By Blogger

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XVI)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga 

Phần Thứ hai
Siêu hình học Nguyên tắc Lý tính - Nền tảng của Logic

b) Ý hướng tính và Siêu việt

[P.143] Một ý tưởng dễ hiểu trong Theaetetus (185a fr.) cho thấy Plato đã phát triển luận điểm của Parmenides về νοεῖν nhận thức và είναι tồn tại như là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và ψυχή linh hồn. Socrates giải thích với Theaetetus rằng “ta không thể nắm bắt được tồn tại, tha tính, đồng nhất tính và tính bình đẳng bằng thính giác hay thị giác. Tuy nhiên, ta vẫn nói ‘chúng tồn tại’, mặc dù ta không nhìn thấy cũng không nghe thấy chúng. Nếu nói ‘mặn’, ta biết mình phải dựa vào năng lực nào, cụ thể là vị giác. Ngược lại, đối với tồn tại, không có cơ quan nào trong cơ thể được tìm thấy, nhưng dường như đối với tôi, điều mà linh hồn của tự ngã xem xét mọi thứ mà chúng ta nói về mọi thứ trong chừng mực nó tồn tại.” Đoạn văn này cho thấy chúng ta không đạt được loại xác định tồn tại cơ bản qua các cơ quan trong cơ thể, mà chính linh hồn, thuần túy tự thân, với tự do nội tại của nó, liên hệ với tồn tại. Tự thân linh hồn khai triển khỏi chính nó hướng tới tồn tại, tức là, chính linh hồn, thuần túy tự thân bằng ἐπόρεξὶς [khai mở tới], thấu hiểu bất cứ điều gì giống như tồn tại.

Để hiểu được cách tiếp cận của Parmenides và sự phát triển của ông trong triết học Hy Lạp, chúng ta cần ghi nhớ hai điều: 1) Cái ὂν [bản thể/tồn tại] không bắt nguồn từ νοεῖν noein nhận thức hay λέγειν legein nói/phát biểu (Hơn nữa, hai cái đó là δηλοῦν dēloûn, sự biểu hiện/tiết lộ); 2) Chúng ta không bàn đến một luận điểm nhận thức luận liên quan đến sự đảo ngược tiêu chuẩn dùng để đo lường tri thức. Cả hai cách diễn giải sai này đều dựa trên mối quan hệ chủ thể-đối tượng về mặt siêu hình và xem nhẹ vấn đề. Như đoạn văn trong Theaetetus đã chỉ ra, vấn đề thực sự liên quan đến bản thể/tồn tại, dù chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, và vấn đề này hướng đến ‘chủ thể’ như là ψυχή psyche linh hồn/tinh thần. Trong đó, cái được gọi là tính chủ quan vẫn còn mơ hồ. Do đó, chúng ta phải phân biệt [tr.144] những gì được nhận thức rõ ràng, có ý thức là chủ thể, trong các thuật ngữ như νοεῖν noein nhận thức, νοῦς nous tâm trí/trí tuệ, λόγος logos lý trí/trật tự/diễn ngôn, ψυχή psyche linh hồn/tinh thần, νόησις noesis hiểu biết, và ὄρεξις órexis thèm khát/khát vọng/thuộc về; nhưng chủ thể vẫn hoạt động hoàn toàn khác trong τέχνη tekhne nghệ thuật/kỹ năng/thủ công, điều này cũng được nhận ra, mặc dù không phải trong chức năng bản thể luận của nó. Kết quả tích cực đối với vấn đề tồn tại là có một mối liên hệ đặc biệt nào đó giữa bản thể/tồn tại và Dasein chủ thể tính.

Nhớ lại điều này, chúng ta có thể tiếp tục với những gợi ý liên quan đến mối liên hệ giữa thời gian và hiểu-biết-về-Hữu-thể. Trước tiên có một dấu hiệu bên ngoài hơn (a) và (b), chỉ dấu cho thấy trung tâm của vấn đề. a) Về mặt thời gian, Bản thể được chia thành các vùng tồn tại sau: 1) Cái tồn tại trong thời gian (tự nhiên và lịch sử); 2) Cái tồn tại ngoài thời gian; 3) Cái tồn tại trên thời gian, trong đó 2) và 3) là cái phi thời gian tính. Ở đây người ta có thể phản đối cho rằng đề xuất này càng chứng minh thêm là các tồn tại nằm ngoài và nằm trên thời gian là không có thời gian, do đó không phải tất cả các tồn tại đều nằm ‘trong thời gian’: Tất nhiên rồi! Nhưng câu hỏi là liệu điều này có bao hàm hết mối quan hệ mà các tồn tại có với thời gian hay không. Bởi vì điều quan trọng là phải thấy rằng câu hỏi này hoàn toàn khác; nó không hỏi là liệu các tồn tại có ở trong thời gian hay không; đúng hơn là liệu Bản/Hữu thể của các tồn tại/hiện hữu có được hiểu bằng cách quy chiếu đến thời gian hay không.

Và kết quả là, những gì nằm ngoài và trên thời gian được hiểu theo nghĩa bản thể luận là không ở trong thời gian, nhưng phẩm chất ‘phi-thời tính’ này lại chính xác là một phương thức dứt khoát quan hệ với thời gian, giống như trạng thái nghỉ bất động là một phương thức chuyển động, mặc dù mối quan hệ triệt để hơn vẫn tồn tại trong trường hợp trước. Ở đây chúng ta cần một lời giải thích về lý do và cách thức mà mối quan hệ này là khả thể, và với tính thiết yếu nội tại nào mà cách hiểu thông thường về Bản thể/Hữu thể của các tồn tại/hiện hữu có thể được truy ngược lại với thời gian. Hơn nữa, mối quan hệ thời gian được đề cập không bị vét kiệt, thậm chí không hề bị chạm đến, bởi thời gian theo nghĩa tồn tại trong bản thể. Chính hiểu-biết-về-Hữu-thể này cũng cần được làm rõ. Ngay cả những hiện hữu không nằm ‘trong thời gian’, và đặc biệt là những hiện hữu này, cũng có thể được hiểu, trong Hữu thể của chúng, dựa trên cơ sở thời gian; nhưng ở đây thời gian phải được hình dung một cách triệt để hơn. Hữu/Bản thể được hiểu thông qua mối quan hệ thời gian, nhưng vấn đề của mối quan hệ giữa Hữu thể và thời gian lại là chữ ‘và’:

b) Câu hỏi của chúng ta là, mối liên hệ giữa Bản/Hữu thể và Thời gian đã được nhìn nhận đến mức độ nào? Sau chỉ dẫn sơ lược đầu tiên, chúng ta sẽ theo đuổi chỉ dẫn thứ hai gồm hai phần (a và 13).6 a) Thuật ngữ chỉ Bản/Hữu thể của các tồn tại/hiện hữu, cũng thường được sử dụng cho chính các tồn tại/hiện hữu [tr.145], là οὐσία ousia tính-là/hiện hữu tính. Đó là cái cấu thành nên cái ὂν ἢ ὂν on e on tồn tại với tư cách Bản/Hữu thể. Và, không phải ngẫu nhiên, bản thân οὐσία ousia có hai nghĩa, và điều này lần đầu tiên được thể hiện rõ ràng trong các tác phẩm của Aristotle, nhưng nó đã có thể được nhận thấy ở khắp mọi nơi trong các tác phẩm của Plato. Oὐσία ousia [bản chất, thực thể, hiện hữu tính] là hữu thể theo nghĩa của modus existendi [phương thức tồn tại], của hữu thể có đó. Ví dụ, trong Theaetetus (155e 4ff.) có đoạn: Ἄθρει δὴ περισκοπῶν μή τις τῶν ἀμυήτων ἐπακούῃ. εἰσὶν δὲ οὗτοι οἱ οὐδὲν ἄλλο οἰόμενοι εἶναι ἢ οὗ ἂν δύνωνται ἀπρὶξ τοῖν χεροῖν λαβέσθαι, πράξεις δὲ καὶ γενέσεις καὶ πᾶν τὸ ἀόρατον οὐκ ὠπρδεχόμενοι ὡς ἐν οὐσίας μέρει. “Có những kẻ tin rằng không có gì tồn tại trừ khi có thể nắm bắt nó bằng tay; mọi thứ khác không thuộc về phạm trù của οὐσία - Bản thể hiện diện khách quan [Vorhandensein]”

[Ghi chú thêm đoạn văn nổi tiếng của Platon, trong đó Heidegger không đưa câu đầu tiên của đoạn văn Ἄθρει δὴ περισκοπῶν μή τις τῶν ἀμυήτων ἐπακούῃ; nếu ai từng liều/cố đọc nguyên bản Theaetetus của Plato như kẻ khảo cổ này thì đều biết câu văn rất quan trọng trên có nghĩa là ‘Hãy nhìn xung quanh và quan sát cẩn thận kẻo những kẻ chưa được khai tâm nghe lén.’ Đây là một câu nói nổi tiếng từ tác phẩm Theaetetus (155e 4ff) của Plato, trong đó Socrates khuyên học trò của mình phải cẩn thận trước khi tiết lộ những bí mật triết học sâu sắc. Ἄθρει athrei - nhìn kỹ, xem xét hoặc quan sát; περισκοπῶν periskopōn -xem xung quanh/quan sát xung quanh; μή τις mē tis - để không nghe thấy; τῶν ἀμυήτων tōn amyētōn - những kẻ chưa được khai tâm’; Plato sử dụng cụm từ trên theo cách ẩn dụ để mô tả những kẻ không am hiểu triết học; ἐπακούῃ epakouē - nghe lén; đây là bối cảnh cuộc đối thoại, Socrates đang chuẩn bị giải thích các lý thuyết triết học phức tạp và cấp tiến—cụ thể là ý tưởng về thực tại luôn ở trạng thái biến đổi liên tục và mọi tri ​​thức đều tương đối; bởi vì những khái niệm cấp tiến này mâu thuẫn với lẽ thường và thách thức quan điểm truyền thống của Athens, nên Socrates đã đùa rằng chúng là những bí ẩn thiêng liêng; Ông dặn Theaetetus phải ‘canh cửa’ ngăn kẻ hiện thực hẹp hòi - ‘chưa được khai tâm’ vì chúng hiểu sai hoặc bác bỏ một cách hung hăng những ý tưởng này mà không nắm bắt được chiều sâu của nó. - HHN]

Oὐσία ousia là Bản chất/Tồn tại theo nghĩa của modus essendi phương thức tồn tại. Cái là-gì, cái nội-dung-gì, bản chất, cái làm cho một thứ gì đó là chính nó dù nó ‘tồn tại’ hay không. Do đó, bản dịch tiếng Latinh essential có tính bản chất (từ thời Boethius) không mô tả οὐσία theo tiếng Hy Lạp; từ essential phong phú hơn và cũng có nghĩa là existentia sự tồn tại. Aristotle muốn cả hai nghĩa, bởi vì ông phân biệt πρὠτη οὐσία protē ousia [bản chất/tồn tại thứ nhất/sơ cấp], sự tồn tại này như nó tồn tại, cái đó tồn tại, và δευτἐρα οὐσία deutéra ousia [bản chất/tồn tại thứ hai/thứ cấp], cái là-gì, bản chất. [Ghi chú về πρὠτη οὐσία protē ousia - bản chất/tồn tại thứ nhất/sơ cấp - đối với Aristotle, πρώτη ουσία đề cập đến các thực thể riêng lẻ, cụ thể tồn tại độc lập trong thế giới; ông giới thiệu khái niệm nền tảng này trong tác phẩm Categories Các phạm trù, trong đó ông xây dựng một khuôn khổ để giải thích bản chất của sự vật và cách chúng ta nói về chúng; các bản chất thứ nhất/sơ cấp sở hữu một số đặc điểm cụ thể xác định vai trò của chúng trong triết học của Aristotle - tồn tại độc lập; chúng không phụ thuộc vào bất cứ điều gì khác để tồn tại; ví dụ, một cá nhân cụ thể như Socrates là bản chất thứ nhất; chúng luôn là chủ thể của một phát biểu và không bao giờ có thể được gán cho một thứ khác; ta có thể nói ‘Socrates nhợt nhạt’ tức là gán một phẩm chất cho Socrates, nhưng không thể gán ‘Socrates’ cho một phẩm chất; chủ thể của sự biến đổi - trong tác phẩm Metaphysics Siêu hình học, Aristotle giải thích chi tiết rằng các tồn tại riêng lẻ này là sự kết hợp của vật chất và hình thức; vì chúng là những thực thể cụ thể, chúng là những thứ trải qua sự thay đổi, phát triển và suy tàn. Aristotle phân biệt πρὠτη οὐσία protē ousia [bản chất/tồn tại thứ nhất/sơ cấp] với δευτἐρα οὐσία deutéra ousia [bản chất/tồn tại thứ hai/thứ cấp]. Bản chất sơ cấp là các thực thể riêng lẻ, ví dụ con chó cụ thể này, kẻ người cụ thể kia; bản chất thứ cấp - các phạm trù, chi hoặc loài mà bản chất sơ cấp thuộc về nó, chẳng hạn ‘chó’ hoặc ‘người’; bản chất thứ cấp chỉ tồn tại vì bản chất sơ cấp tồn tại trước; không thể có ‘nhân loại’ nếu không có những kẻ người cụ thể, riêng lẻ; trong khi tác phẩm Phạm trù tập trung vào các thực thể riêng lẻ như là bản chất sơ cấp, thì tác phẩm Siêu hình học sau này của ông đã đào sâu khái niệm đó; sau này Aristotle thiên về việc xác định hình thức - bản chất hoặc đặc điểm xác định của một sự vật - là hình thức cơ bản và chân thực nhất của bản chất sơ cấp, chứ không chỉ là vật chất vật lý chưa hình thành. – HHN; Ghi chú về δευτἐρα οὐσία deutéra ousia -bản chất/tồn tại thứ hai/thứ cấp - đối với Aristotles, bản chất thứ cấp đề cập đến các εἶδος eidos thuộc phạm trù ‘loài’ và γένος genos thuộc phạm trù ‘giống’ dùng để phân loại và mô tả các sự vật riêng lẻ, cụ thể trong tác phẩm Κατηγορίαι Katēgoriai - Categories Phạm trù, để phân biệt giữa sự tồn tại cụ thể của một sự vật và sự phân loại của nó; bản chất sơ cấp so với bản chất thứ cấp hình thành trên cơ sở Aristotle chia ‘chất’ thành hai cấp độ - πρώτη οὐσία chất sơ cấp là những thực thể riêng lẻ, cụ thể, tồn tại độc lập trong thế giới; chúng là những ‘chủ thể’ cơ bản mà mọi thứ khác đều được quy chiếu, ví dụ con mèo cụ thể này, gã Socrates nọ; δευτέρα οὐσία chất thứ cấp là những phân loại, hay thuật ngữ phổ quát, mà chúng ta áp dụng cho các chất sơ cấp; chúng biểu thị chất sơ cấp là gì hoặc thuộc loại nào, chẳng hạn thuộc động vật, con người, loài mèo; . về cách thức hoạt động, đối với Aristotle, các chất thứ cấp chỉ tồn tại trong hoặc nhờ vào các chất sơ cấp; phân loại - nếu ta chỉ vào một người cụ thể và hỏi họ là gì, nghĩa là ta đang áp dụng các chất thứ cấp - chúng là con người (loài) và động vật (chi); quy chiếu thứ bậc được thực hiện bằng cách các chất thứ cấp cho phép phân loại; loài [người] có thể được gán cho cá thể - ví dụ ‘Socrates là một người’, và giống [động vật] có thể được gán cho cả loài và cá thể, ví dụ ‘Người là một động vật’, ‘Socrates là một động vật’; về sự phụ thuộc - không thể có chất thứ cấp ‘người’ nếu không tồn tại từng cá thể người; chất sơ cấp là nền tảng của thực tại, còn chất thứ cấp là khuôn khổ tinh thần và ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng để nhóm lại và hiểu chúng. - HHN] 

Cả hai ý nghĩa cơ bản này đều bắt nguồn từ thời gian. Existentia là cái thực sự ‘tồn tại’; being qua existentia Bản thể với tư cách Tồn tại xuất hiện trong cái luôn luôn là, tức là ἀεὶ ὂν always being luôn tồn tại, thứ không bao giờ không tồn tại trong bất kỳ thời điểm nào, thứ luôn có đó ‘bất cứ lúc nào’: Essentia có nghĩa là cái gì, ιδέα idea, [ιδέα ‘ý tưởng’ tiếng Hy Lạp cổ, có nguồn gốc từ động từ ἰδεῖν idein nhìn thấy; có một ý tưởng theo nghĩa đen có nghĩa là có một ‘hình ảnh trong tâm trí’ hoặc ‘một thứ được nhìn thấy’ trong tâm trí ta. - HHN] thứ xác định trước mọi hiện hữu như một hữu thể, và do đó là ὂντως ὄν ‘hữu thể về phương diện tồn tại’, đúng ra là ἀεὶ ὂν luôn tồn tại. Mối quan hệ thời gian trở nên rõ ràng không chỉ ở đặc điểm về thời gian không đổi này, của cái ἀεὶ aei luôn luôn, mà còn nguyên thủy hơn, mặc dù ít rõ ràng hơn, ở một đặc điểm khác. Oὐσία, thuật ngữ chỉ một hữu thể và sự tồn tại của nó (đồng thời là cái gì và - cái đó) cũng là một thuật ngữ mang tính bản thể, một thuật ngữ được người Hy Lạp sử dụng cho những thứ luôn có sẵn trong Dasein hàng ngày của con người: những vật dụng hữu ích, nhà cửa, tài sản, của cải, những thứ có sẵn bất cứ lúc nào để sử dụng hàng ngày, những thứ hiện hữu ngay lập tức và phần lớn luôn luôn hiện diện [Anwesende]. Ý nghĩa thời tính của οὐσία càng rõ ràng hơn trong ý nghĩa tiền triết học này. Cái gì hiện diện Gegenwärtigel theo nghĩa này không chỉ và không hẳn là ἀεὶ aei luôn luôn, mà nó hiện diện trong mọi khoảnh khắc hiện tại, tuy nhiên hiện diện thời tình theo nghĩa Anwesenheit hiện tại tính. Thường thì οὐσία chỉ là dạng rút gọn của παρουσία parousia, hiện diện tính. παρἀ với tư cách thuật ngữ chỉ sự hiện diện-với, cho sự hiện diện liên tục của cái gì đó gần nhất, xuất hiện trong mọi vấn đề bản thể luận của Plato. 

[Tr.146] Bản/Hữu thể/Tồn tại là cái luôn hiện diện, trong tính hiện diện liên tục. Trạng thái tồn tại kéo dài và trạng thái hiện diện có đặc điểm thời tính, theo một nghĩa thoạt đầu là có vấn đề. (Ở đây chúng ta đề cập đến những biểu hiện đã được nhắc đến trước đó trong tác phẩm của Thomas Aquinas: intuitus praesens trực giác hiện diện, omme praesentialiter subjectum mọi chủ thể đều hiện diện, esse Dei as actus purus Thượng đế/Thiên Chúa là bản thể hiện hữu (Esse) thuần túy, trong đó về nguyên tắc cùng một quan niệm về tồn tại xuất hiện.) [Ghi chú về đoạn Latin trên của Thánh Tomas: Những cụm từ triết học và thần học Latinh này diễn đạt quan niệm cổ điển về Thượng đế như là thực tại tối thượng, bất biến, hoàn toàn thoát khỏi những giới hạn của thời gian và tiềm năng vật chất; trong thần học kinh viện, điều này có nghĩa là vì Thượng đế/Thiên Chúa là sự tồn tại hoàn toàn chủ động, Ngài không chờ đợi thời gian trôi qua hay những tiềm năng được hiện thực hóa; Ngài là Kẻ quan sát luôn hiện diện, bao trùm toàn bộ thực tại trong một hiện tại vĩnh hằng, bất biến; Actus Purus Hành động Thuần túy - Khái niệm nền tảng trong thần học Aristoteles và Thomistic; nó có nghĩa là Thượng đế/Thiên Chúa là hiện thực tuyệt đối với tiềm năng bằng không, không giống như con người hay thiên nhiên, những thứ phát triển, thay đổi hoặc tiến hóa thành những gì chúng có thể trở thành, Thượng đế/Thiên Chúa đã hoàn hảo và trọn vẹn vô hạn; Intuitus Praesens Trực giác Hiện tại đề cập đến cách thức nhận thức của Thượng đế/Thiên Chúa - bởi vì Thượng đế/Thiên Chúa là Actus Purus Hành động Thuần túy và nằm ngoài thời gian, kiến ​​thức của Ngài không phải là một quá trình suy luận từng bước hay một ký ức về quá khứ; thay vào đó, toàn bộ thực tại hiện hữu trước trí tuệ linh thánh của Ngài như một ‘hiện tại’ tức thì, trực tiếp và vĩnh hằng; Omne Praesentialiter Subjectum Mọi chủ thể hiện tại đều là chủ thể - có nghĩa là mọi thứ tồn tại đều hiện diện ngay lập tức trước mặt Thượng đế/Thiên Chúa; mọi hữu thể/hiện hữu, sự kiện hay thực thể đều hoàn toàn được phơi bày trước ánh nhìn của Ngài và phụ thuộc vào hành động duy trì sự tồn tại của Ngài trong mỗi khoảnh khắc; cách diễn đạt này tổng hợp mối quan hệ siêu hình giữa Thượng đế/Thiên Chúa và Thời gian; bởi vì Thượng đế/Thiên Chúa là hành động thuần túy không bị ràng buộc bởi thời gian, Ngài không có quá khứ hay tương lai; do đó, quan điểm của Ngài bao hàm toàn bộ thực tại trong một ‘trực giác hiện tại’, có nghĩa là tất cả các chủ thể/sự sáng tạo tồn tại như là hiện diện tức thì và vĩnh hằng trước mặt Ngài.- HHN] Nhưng mối liên hệ giữa Bản/Hữu thể/Tồn tại và Thời gian cũng nổi lên ở một khía cạnh khác, mặc dù lúc đó nó không trở thành vấn đề mà chỉ được coi là hiển nhiên. Trong bản thể luận cổ đại Aristotle, Bản/Hữu thể với tư cách ιδέα idea ý niệm và γένος genos chủng loại, hay cái xác định một Bản/Hữu thể là một chất, được cho là πρότερον [sơ cấp] so với các tồn tại/hiện hữu/thực thể, và là cái gì đó có trước theo một cách độc nhất vô nhị.

Là πρότερον φύσει próteron phýsei cái có trước về bản chất, nó cần được phân biệt với πρότερον γνώσει protéron gnósei cái có trước theo tri thức, tức là πρότερον πρὸς ὴμάς próteron prós ímás [có trước đối với chúng ta]. Bản/Hữu thể có trước các hiện hữu/thực thể; đặc tính ‘có trước’ này, được gán cho Bản/Hữu thể, là một ‘đặc điểm’ phân biệt, và nó không áp dụng cho γνῶσις gnosis tri thức, như là sự sắp xếp trật tự trong khái niệm hóa của chúng ta về các hiện hữu/thực thể. Bản/Hữu thể có trước, là cái về bản chất là ‘có trước’; nó thuộc về cái có trước, theo ngôn ngữ của bản thể luận a priori tiên nghiệm sau này. Mọi sự chất vấn bản thể luận đều là sự tìm tòi và định nghĩa về cái ‘a priori’ ‘tiên nghiệm’ đó. Có ‘trước so với’ rõ ràng vẫn là một sự xác định thời tính, vì không có cái gọi là ‘sớm hơn’ nào lại không có thời gian. Nhưng trước so với mọi ‘trước so với’ khả thể chính là thời gian! Vì vậy, nếu tồn tại là πρότερον proteron sơ cấp, tức là cái tiên nghiệm, thì nó lại đại diện cho mối liên hệ nguyên thủy với thời gian. Tất nhiên, ý nghĩa của từ ‘sớm hơn’, tức là quy chiếu theo thời gian, rất mơ hồ và vẫn hoàn toàn khó hiểu nếu cố gắng tiếp tục với quan niệm thông thường về thời gian. Chúng ta thấy nó không hiệu quả; đã bị người Hy Lạp bác bỏ từ lâu thông qua sự phân biệt mà chúng ta đã đề cập.

Bản/Hữu thể là πρότερον proteron sơ cấp không phải là πρότερον πρὸς ὴμάς próteron prós ímás sớm hơn đối với chúng ta, không phải theo nghĩa chúng ta biết nó như vậy trước các hiện hữu/thực thể. Chúng ta luôn nắm bắt các hiện hữu/thực thể ngay lập tức, và điều này hầu hết vẫn đúng, mà không cần chúng ta hình dung hiện hữu/thực thể theo đúng nghĩa. Trong trật tự khái niệm hóa, thì hiện hữu/thực thể không phải là cái đầu tiên mà là cái cuối cùng. Tuy nhiên, nó lại là cái φύσει physis [tự nhiên] sớm hơn (đây là lý do tại sao lại có các hiện hữu/thực thể với tư cách khách thể/đối tượng), nó có trước cả bản thân nó. Ý nghĩa của điều này chắc chắn là mơ hồ và không rõ ràng; tất cả đều không được làm rõ về mặt bản thể luận, phép hoán dụ học và do đó được hiểu theo nghĩa ontically hiện hữu. [Thuật ngữ ontically là một trạng từ triết học có nghĩa là ‘từ quan điểm của sự tồn tại thực tế hoặc các sự kiện thực tế’; nó mô tả những thứ cụ thể, thực nghiệm như đồ vật, sự kiện hoặc cá nhân cụ thể chứ không phải là bản chất trừu tượng, tiềm ẩn của sự tồn tại; ontically được hiểu rõ nhất khi đối sánh với ontological – trong khi ontically liên quan đến chính các thực thể - các thuộc tính, hành vi và đặc điểm thực tế cụ thể của chúng thì ontological lại liên quan đến Bản/Hữu thể - các cấu trúc sâu sắc, ý nghĩa hoặc điều kiện cho phép các hiện hữu/thực thể tồn tại; ví dụ nếu ta đang xem xét một quả táo – ontically của nó là: quả táo màu đỏ, nặng 150 gram và đang nằm trên bàn; còn ontologically - ta đang hỏi điều đó có nghĩa là gì khi quả táo ‘tồn tại’ - cái ‘tính chất táo’ hay sự tồn tại của nó như một vật thể vật lý; cách phân biệt này tách biệt khoa học thực nghiệm và các sự kiện hàng ngày khỏi nghiên cứu rộng hơn về Bản/Hữu thể.- HHN] Mặc dù có thứ hạng của toàn bộ ὂντως ὄν ‘hữu thể về phương diện tồn tại’, mà Hữu thể không phải là một hiện hữu/thực thể. Tính ưu tiên của nó cũng không có nghĩa Bản/Hữu thể là một cái gì đó tồn tại trước đó, như một thực thể theo một nghĩa nào đó trước các thực thể khác. Do đó có trước không thuộc về trật tự khái niệm hóa cũng không thuộc về trật tự của hiện hữu/thực thể có đó; nó không phải là sớm hơn về mặt logic hoặc về mặt hiện hữu/thực thể, không phải là một trong hai. Thật vậy!

[Tr.147] Trước đó chúng ta đã thường xuyên nói rằng Bản/Hữu thể đã được hiểu trước trong việc nắm bắt các hiện hữu/thực thể; hiểu-biết-về -Hữu-thể kiểu báo trước như thể soi sáng cho mọi nắm bắt về các hiện hữu/thực thể. ‘Đi trước’, ‘báo trước’ - chẳng phải đây là những cái tiên nghiệm sao? Chắc chắn rồi! Nhưng chúng ta cũng đã nói rằng cái tiên nghiệm không liên quan đến trật tự khái niệm hóa, và giờ đây chúng ta đang nói về một hiểu-biết-về-bản thể theo cách báo trước, một sự hiểu biết trước. Tuy nhiên, cái πρότερον sơ cấp của οὐσία chất, của ιδέα ý niệm, không phải là πρότερον γνώσει protēron gnousei tri thức sơ cấp. Chúng ta nên lưu ý rằng γνῶσις ở đây luôn có nghĩa là biết các hiện hữu/thực thể, và việc bác bỏ loại πρότερον sơ cấp này chỉ có nghĩa phủ định, khi được hiểu đúng. Nó có nghĩa là Bản/Hữu thể không phải là một hiện hữu/thực thể và việc khái niệm hóa của nó không thuộc trật tự của việc hình dung các hiện hữu/thực thể. Như vậy, cuối cùng, Bản/Hữu thể thực sự có trước xét về việc được nắm bắt theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ đó, có trước việc nắm bắt các hiện hữu/thực thể. Và, cuối cùng, Hữu thể [gibt sich das Sein – Hữu thể tự bộc lộ] được hiểu theo một cách hoàn toàn khác với sự nắm bắt các thực thể/hiện hữu của chúng ta. Hữu thể là gibt sich ‘an sich’ ‘tự thân’ theo nghĩa nguyên thủy: nó là một πρότερον φύσει protēron physei tự nhiên sơ cấp và πρὸς ὴμάς prós ímás có trước đối với chúng ta - chỉ khi được hiểu đúng, chứ không phải là một sự vật mang tính thực thể hiện hữu trong số những thực thể khác. Hữu thể là duy nhất và thực sự ‘tự thân’; và do đó là bản chất nguyên thủy của hiểu-biết-về-hữu-thể và (như chúng ta sẽ thấy) của tự do. Hữu thể không có trước về mặt thực thể/hiện hữu cũng không có trước về mặt logic, mà có trước theo một nghĩa nguyên thủy vượt trước cả hai. Nó có trước mỗi cái theo một cách khác nhau; không có trước về mặt thực thể/hiện hữu cũng không có trước về mặt logic mà là về mặt bản thể luận. Nhưng đây mới chính là vấn đề. Vấn đề nằm ở chỗ Hữu thể ‘có trước’ như thế nào, mối quan hệ ban đầu của nó trong tư cách Hữu thể với thời gian ra sao. Hữu thể và Thời gian, đây mới là vấn đề cơ bản! Và chừng nào vấn đề này chưa được đặt ra hoặc chỉ được giải quyết một cách tương đối, thì ngay cả việc sử dụng từ ‘a priori’ tiên nghiệm - cũng vẫn không chính đáng và không có cơ sở, cũng như việc nói về ‘a posteriori’ hậu nghiệm và sự phân biệt chúng nói chung.

Theo một nghĩa mơ hồ, Hữu thể có trước. Nó trở nên rõ ràng hơn, theo một cách nào đó, nếu chúng ta đề cập đến một điều khác mà Plato, đặc biệt đã thấy trong học thuyết ἀνάμνησις anamnesis hồi tưởng/ký ức của ông. Hữu thể là những gì chúng ta nhớ lại, những gì chúng ta chấp nhận như một điều mà chúng ta ngay lập tức hiểu được theo đúng nghĩa, những gì luôn luôn đã được ban cho chúng ta; Hữu thể không bao giờ xa lạ mà luôn luôn thân thuộc, ‘của chúng ta’: Do đó, Hữu thể là những gì chúng ta luôn luôn đã hiểu, và chúng ta chỉ cần nhớ lại nó một lần nữa để nắm bắt được nó theo đúng nghĩa. Khi nắm bắt Hữu thể, chúng ta không hình dung ra bất cứ điều gì mới mẻ, mà là một điều gì đó về cơ bản thân thuộc; chúng ta luôn luôn tồn tại trong sự hiểu-biết-về-hữu-thể, chừng nào chúng ta còn liên hệ với những gì mà giờ đây chúng ta gọi là ‘các hiện hữu’. Hồi tưởng này liên quan đến Hữu thể và do đó tiết lộ một mối liên hệ cội nguồn của Hữu thể với Thời gian: luôn luôn đã ở đó, tuy nhiên luôn luôn chỉ được nắm bắt khi quay trở lại với nó. Đây không phải là sự hồi tưởng thông thường về một điều gì đó thuộc về thực thể đã xảy ra, một hiện hữu; mà đúng hơn là [tr.148] sự hồi tưởng siêu hình, trong đó mối liên hệ nguồn cội của Hữu thể với Thời gian xuất hiện. Trong hồi tưởng siêu hình này, hiện hữu người hiểu chính mình trong bản chất đích thực của hắn, như là Hữu thể hiểu Hữu thể và liên hệ với các hiện hữu khác trên cơ sở hiểu biết này.

Theo Plato (trong Phaedrus, 249b5-c6), ‘μια ψυχή που δεν έχει δει ποτέ την αλήθεια’ δεν μπορεί να λάβει ανθρώπινη μορφή’ ‘một linh hồn chưa từng nhìn thấy chân lý thì không bao giờ có thể mang hình dạng con người.’ [Ghi chú đoạn này: Trong bối cảnh triết học cụ thể này, Plato đề cập đến sự luân hồi và nhấn mạnh rằng một linh hồn chưa từng gặp gỡ Chân lý (những Ý niệm vĩnh hằng) không thể đầu thai vào một thân xác con người, mà sẽ mang hình dạng của một loài động vật bậc thấp. Điều này là do quy luật Ghi nhớ. Trong Phaedrus (249b5-c6), Socrates phát triển lý thuyết của mình về sự sa ngã và thăng thiên của linh hồn: Tầm nhìn về Chân lý: Πριν την πτώση της στη γη, η αθάνατη ψυχή περιπλανιόταν στους ουρανούς ακολουθώντας τους θεούς, όπου είχε τη δυνατότητα να αντικρίσει την ίδια την Αλήθεια Trước khi sa ngã xuống trần gian, linh hồn bất tử lang thang trên thiên đường theo các vị thần, nơi nó có cơ hội chiêm ngưỡng chính Chân lý (những ὄντες tồn tại đích thực, chẳng hạn như Công lý, Sự khôn ngoan và Vẻ đẹp Tuyệt đối). Quy luật Đầu thai: Η ανθρώπινη φύση προϋποθέτει ότι η ψυχή έχει συλλάβει νοητικά αυτά τα αιώνια ιδεώδη.Η Αδυναμία Ενσάρκωσης (249b5-c6): Επειδή η ενσάρκωση σε άνθρωπο απαιτεί την ικανότητα να θυμηθείς (ἀνάμνησις) τις Ιδέες που αντίκρισες στον υπερουράνιο τόπο, μια ψυχή που ‘δεν έχει δει ποτέ την αλήθεια’ δεν μπορεί να λάβει ανθρώπινη μορφή. Αντίθετα, περιορίζεται σε μορφή ζώου, καθώς της λείπει η απαραίτητη επαφή με το νοητό φως για να λειτουργήσει ο ανθρώπινος λόγος (νους) Bản chất con người giả định rằng linh hồn đã hình dung ra những lý tưởng vĩnh hằng này trong tâm trí. Tình trạng bất khả của việc nhập thể (249b5-c6): Bởi vì việc nhập thể vào con người đòi hỏi khả năng ἀναμνησις nhớ lại những Ý niệm mà nó đã thấy ở Thiên giới, nên một linh hồn ‘chưa từng thấy chân lý’ không thể mang hình dạng con người. Ngược lại, nó bị giới hạn ở hình dạng động vật, vì nó thiếu sự tiếp xúc cần thiết với ánh sáng trí tuệ để lý trí (tâm trí) của con người hoạt động. - HHN]

Bởi vì, tương ứng với phương thức tồn tại của nó, con người phải hiểu và biết theo cách mà nhờ đó, nó hướng đến những gì mà mình biết liên quan đến hiện hữu của nó (κατ' εἶδος λέγειν kat' eidos legein - ‘nói theo chủng loại’ hoặc ‘nói theo hạng mục’). [Ghi chú về Κατ' εἶδος λέγειν là một cụm từ Hy Lạp cổ đại nghĩa đen là ‘nói theo loại’ hoặc ‘nói theo chủng loại’; trong triết học và hùng biện cổ điển, nó có nghĩa là nói một cách chính xác hoặc phân tích bằng cách chia một chủ đề rộng lớn thành các phạm trù cụ thể, hình thức của nó; trong triết học Platon, nó gắn liền với phương pháp διαίρεσις diairesis phân chia và tập hợp của Socrates; κατ' εἶδος kat' eidos có nghĩa là ‘cắt bản chất tại các khớp của nó’ - xác định εἶδος eidos hình thức thực sự, thiết yếu của một sự vật thay vì dựa vào những khái quát mơ hồ; nó liên quan đến việc tổ chức các khái niệm theo chủng loại cụ thể của chúng để thực sự hiểu bản chất của chúng; ngoài ra trong phép tư từ học, chẳng hạn như trong các tác phẩm của Aristotle, cụm từ này đề cập đến việc thực hành trình bày chi tiết các lập luận theo các thể loại, loại hình hoặc hình thức cụ thể của một trường hợp; nó trái ngược với việc nói một cách mơ hồ, phổ quát hoặc chung chung; cụm từ này thường gặp trong các chủ đề hoặc phạm trù của Aristotle khi phân tích các loại logic cụ thể.- HHN] Con người chỉ có thể có chân lý về một điều gì đó khi hiểu được các hiện hữu trong Hữu thể của chúng. Hiểu-biết-về-Hữu-thể là sự hồi tưởng về những gì linh hồn chúng ta đã thấy trước đây; nghĩa là, trước đây khi linh hồn vẫn còn lang thang cùng Thượng đế/Thiên Chúa và nhìn vượt khỏi những gì giờ đây chúng ta gọi là hiện hữu. Trong hiện tượng hồi tưởng, Plato nhận thấy mối quan hệ giữa Hiểu-biết-về-Hữu-thể với Thời gian, mặc dù điều này chỉ có thể được làm rõ thông qua việc sử dụng một huyền thoại. Đây là những tham chiếu để kết nối vấn đề Hữu thể với Thời gian. Tuy nhiên, vấn đề Hữu thể là vấn đề cơ bản của triết học nói chung, và gắn bó chặt chẽ với nó là vấn đề hướng dẫn về siêu việt, mà theo đó, khảo sát của chúng ta về bản chất của các cơ sở và liên hệ bản chất của cơ sở và chân lý đã hướng dẫn chúng ta, theo chủ đề: logic với tư cách siêu hình học của chân lý được dẫn dắt bởi vấn đề cơ sở. Nếu vấn đề Hữu thể hoàn toàn là trọng tâm, đặc biệt là đối với việc khảo sát của chúng ta, và nếu đạt được mối quan hệ ấy giữa tồn tại và thời gian, mà hiện nay vẫn còn mơ hồ và được coi là hiển nhiên, thì việc đặt ra câu hỏi trọng tâm này về Hữu thể và mối quan hệ của nó với Thời gian thực sự rất quan trọng.

Điều này có nghĩa là vấn đề trọng tâm, trong ý nghĩa cơ bản của nó đối với triết học nói chung, phải được đặt ra và giải quyết 1) một cách triệt để, và 2) một cách phổ quát. 1) Triệt để hóa vấn đề Hữu thể. Người ta đã đề cập đến mối quan hệ giữa είναι tồn tại và ψυχή psyche linh hồn, và giữa είναι tồn tại và χρόνος chronos thời gian, cũng như giữa ψυχή psyche linh hồn và χρόνος chronos thời gian; trong ἀνάμνησις anamnesis hồi tưởng/ký ức. Mối quan hệ giữa Hữu thể và linh hồn phải được hình dung một cách nguyên thủy hơn, cũng như mối quan hệ giữa Hữu thể và Thời gian. Nhưng điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa linh hồn và thời gian cần được làm rõ. Làm rõ mối quan hệ giữa Hứu thể và linh hồn có nghĩa là chỉ ra cách có một hiểu-biết-về-Hữu-thể trong linh hồn, trong Hữu thể mà hiện hữu của nó được đặc trưng chủ yếu bởi linh hồn; điều này đòi hỏi một cách diễn giải nguyên thủy và thích hợp về Dasein. Cách diễn giải này, bởi vì nó được thực hiện dựa trên câu hỏi về Hữu thể, do đó cũng mang tính siêu hình, bản thể luận; tức là, [tr.149] cách diễn giải này nhằm mục đích làm sáng tỏ phương thức hiện hữu đặc thù của Dasein để làm rõ cách thức đặc biệt này bao gồm một cái gì đó giống như hiểu-biết-về-Hữu-thể. Tuy nhiên, khi cố gắng đưa ra một cách diễn giải về Dasein mang tính bản thể luận nguyên thủy và phù hợp, người ta nhận thấy rằng truyền thống triết học đã giải thích tồn tại này, về mặt siêu hình học, theo một cách không mang tính nguyên thủy và phù hợp, và hoàn toàn không nằm trong bối cảnh của vấn đề cơ bản. Và truyền thống đã làm như vậy, không phải do sự cẩu thả, thiếu năng lực, mà vì những nguyên do nằm trong bản chất của sự sinh thành của tự thân hiểu-biết-về-Hữu-thể. Một cách diễn giải Dasein mang tính bản thể luận nguyên thủy cũng đồng nghĩa với một cách diễn giải thời gian nguyên thủy. Thời gian cũng được hiểu là một cái gì đó hiện-diện-có-đó, được xem xét theo khái niệm thời gian truyền thống, như một cái gì đó được giải thích từ góc nhìn của cái bây giờ. Vậy thì nhiệm vụ của chúng ta là thực hiện một cách diễn giải về thời gian nguyên thủy cũng như về Dasein, có nghĩa là làm rõ cách thức liên hệ giữa chúng. Một nhận thức cổ xưa (xem Aristotle và Augustine) cho rằng thời gian là ἐν τῇ ψυχῇ en te psyche trong anima linh hồn. Nhưng thời gian được coi là thứ hiện diện trước mắt, bằng cách nào đó lại hiện diện trong tâm hồn. Điều này vẫn hoàn toàn chưa được làm rõ trong Kant (như vấn đề về mối liên hệ giữa thời gian và con lương suy tư) và trong những Kẻ Kế thừa ông.

Gần đây, Bergson đã cố gắng hình dung khái niệm thời gian một cách độc đáo hơn. Ông đã làm rõ hơn bất kỳ nhà triết học nào trước đó rằng thời gian đan xen với ý thức. Nhưng điều cốt yếu vẫn chưa được giải quyết trong tư tưởng của Bergson, thậm chí không trở thành một vấn đề. Ông đã phát triển cách diễn giải về thời gian dựa trên khái niệm truyền thống về ý thức, về res cogitans của Descartes. [Res cogitans là một thuật ngữ tiếng Latinh trong triết học, có nghĩa là ‘thực thể tư duy’ hoặc ‘bản thể tư duy’. Đây là khái niệm cốt lõi trong thuyết nhị nguyên của triết gia René Descartes, dùng để chỉ tâm trí, linh hồn, hoặc phần ý thức của con người; theo Descartes, res cogitans mang những đặc điểm phi vật chất và vô hình, không chiếm không gian và không thể bị phân chia thành các phần nhỏ hơn; bản chất là suy tư nên hoạt động chính và duy nhất của nó là tư duy; theo Descartes, ‘tư duy’ bao hàm mọi trạng thái ý thức như suy nghĩ, nghi ngờ, hiểu biết, khẳng định, phủ định, cảm nhận và tưởng tượng; đối lập với Res Extensa - để giải thích cấu trúc của thực tại, Descartes chia thế giới thành hai loại thực thể khác biệt - Res Cogitans ‘Thực thể tư duy’ và Res Extensa – ‘Thực thể mở rộng’ gồm thể xác/vật chất, là thế giới vật lý, có hình khối, chiếm không gian và có thể chia nhỏ; khái niệm này làm nền tảng cho nhị nguyên luận Descartes, mô tả mối quan hệ giữa thể xác và tâm trí là hai thứ độc lập nhưng tương tác với nhau bên trong mỗi con người. - HHN]

Ông không đặt ra vấn đề siêu hình cơ bản về mối liên hệ nguyên thủy giữa Dasein và thời gian, và càng không đặt ra vấn đề về Hữu thể, mà đối với nó vấn đề kia chỉ là sự chuẩn bị. Nhưng nếu Hữu thể có mối quan hệ nguyên thủy với Thời gian, và nếu hiểu-biết-về-Hữu-thể thuộc về bản chất nguyên thủy của Dasein, thuộc về khả tính nội tại của nó, thì thời gian phải cùng xác định khả tính nội tại này của Dasein. Nghĩa là, hướng tới và định hướng bởi vấn đề về Hữu thể, thời gian phải được chứng minh là cấu thành cơ bản của Dasein. Tuy nhiên, chính khái niệm về thời gian cũng bị biến đổi bởi điều này. Vậy là một lập trường độc đáo đối với lịch sử siêu hình học, theo đúng nghĩa đã xuất hiện. Chúng ta đã nói về Hiện hữu như là tiên nghiệm. Nếu tiên-nghiệm-tính là đặc điểm cơ bản của Hiện hữu, và nếu tiên-nghiệm-tính là một sự chỉ định thời gian, và nếu Hiện hữu được kết nối với thời gian theo cách mà hiểu-biết-về-Hữu-thể bắt nguồn từ thời tính của Dasein [tr.150], thì có một mối liên hệ nội tại giữa cái tiên nghiệm và thời tính, cấu thành-Hữu thể của Dasein, chủ thể tính của chủ thể. Cuối cùng, không phải là một định kiến ​​duy tâm võ đoán, như ngày nay người ta thích tuyên bố rằng vấn đề về cái tiên nghiệm ở Plato và Aristotle, Descartes, Leibniz, Kant và chủ nghĩa duy tâm Đức có mối liên hệ mật thiết với vấn đề chủ thể, cho dù mối liên hệ đó trước đây có thể vẫn còn mơ hồ.

2) Khái quát hóa vấn đề Hữu thể. Ở đây, vấn đề cũng đã trở nên xa lạ với thời đại của chúng ta và càng trở nên xa lạ hơn bởi một phong trào dường như muốn đổi mới bản thể luận và siêu hình học. Có một quan niệm sai lầm phổ biến, bắt nguồn từ chủ nghĩa Kantianism, đó là cho rằng nếu cần đặt ra một vấn đề bản thể luận, thì người ta đã lựa chọn chủ nghĩa hiện thực nhận thức luận, vì chủ nghĩa hiện thực này vẫn cho phép các hiện-hữu-trong-tự-thân. Mối quan tâm đương thời đến bản thể luận chủ yếu được hồi sinh bởi hiện tượng học. Nhưng ngay cả Husserl cùng Scheler, và chắc chắn cả những người khác nữa, cũng không nhìn thấy toàn bộ phạm vi của bản thể luận. Bằng bản thể luận, họ hiểu - như ngày nay ở khắp mọi nơi người ta hiểu, chẳng hạn ở Rickert - là một khảo sát đặt ra vấn đề về hiện-hữu-trong-tự-thân của sự vật trong cái gọi là sự độc lập của chúng với chủ thể. Do đó việc khảo sát về chủ thể không phải là một vấn đề của bản thể luận, mà thuộc về lý thuyết nhận thức. Bản thể luận được hiểu là sự nhấn mạnh vào khách thể, sau khi chỉ có chủ thể đến giờ là được nhấn mạnh. Theo nghĩa này, bản thể luận gắn liền với lập trường nhận thức luận của chủ nghĩa hiện thực - đối lập với chủ nghĩa duy tâm. Do đó bản thể luận phải bỏ xa chủ thể càng nhiều càng tốt, trong khi ngược lại, nhu cầu cơ bản trên thực tế nằm ở việc đặt vấn đề về chủ thể tính. Nhưng ngược lại, theo cách hiểu hiện nay, bản thể luận được hiểu, trước hết, không phải là khoa học về Bản/Hữu thể mà là về các hiện hữu, và thứ hai, với tư cách là khoa học về các khách thể, về tự nhiên theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này. Sự phục hưng của bản thể luận được coi là sự trở lại với chủ nghĩa Kinh viện hiện thực luận thời trung cổ và với Aristotle, vốn đã được ngụy trang thành một trong những Giáo phụ của Giáo hội. Người ta cũng có thể tìm thấy sợi dây liên kết của bản thể luận, theo nghĩa này của thuật ngữ, ở Kant.

Có một quan điểm ở Scheler, Nicolai Hartmann và Heimsoeth cho rằng, bên cạnh những đường lối tư duy nhận thức luận-duy tâm, Kant còn có khuynh hướng hướng tới cái gọi là chủ nghĩa hiện thực bản thể luận, những khuynh hướng vẫn thừa nhận sự tồn tại của một thế giới khách quan. Quan niệm về bản thể luận này là vô nghĩa và không phải là của Aristotle cũng không phải của Kant. Cái mà cách diễn giải bản thể luận được cho là của Kant coi lại coi lý thuyết nhận thức chính xác là bản thể luận đích thực. Siêu hình học không nên đối lập với lý thuyết tri thức. [Tr.151] Hơn nữa, cần phải chỉ ra rằng phân tích Phê phán Lý tính Thuần túy là nỗ lực đầu tiên kể từ Plato và Aristotle nhằm thực sự biến bản thể luận thành một vấn đề triết học. Nhưng nỗ lực như vậy được cho là bất khả thể, bởi vì Kant dĩ nhiên là một nhà tư tưởng phê phán, tức là quan điểm của Kant cho rằng tri thức không được sắp xếp theo đối tượng, mà đối tượng được sắp xếp theo tri thức. Trước hết, vấn đề bản thể luận hoàn toàn không liên quan gì đến giả-vấn đề được ca ngợi về cái thực tại của thế giới bên ngoài và sự độc lập của các hiện-hữu-tự-thân khỏi chủ thể hữu tri. Đúng hơn, vấn đề bản thể luận nằm ở chỗ cái gọi là vấn đề nhận thức luận này hoàn toàn không thể được đặt ra nếu ý nghĩa của cái Hữu-thể-trong-tự-thân của sự vật hiện tồn không được làm rõ. Nhưng điều này thậm chí không thể được đặt ra như một vấn đề, chứ đừng nói đến việc giải quyết, nếu vẫn chưa rõ câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể theo đúng nghĩa phải được đặt ra như thế nào.
___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992. 

Notes

6. Cf. also "Kants Lehre yom Schematismus und die Frage nach dern Sinn des Seins," the Cologne lecture held on January 26, 1927.


 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XV)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga 

Phần Thứ hai
Siêu hình học Nguyên tắc Lý tính - Nền tảng của Logic
b) Ý hướng tính và Siêu việt

[Tr.128] Trước khi theo đuổi bản chất của chân lý một cách triệt để, chúng ta phải tiếp thu rõ ràng hơn nữa những gì đã phát hiện ở trên. Chúng ta phải liên hệ nó với những quan điểm truyền thống vẫn còn phổ biến và định hình logic một cách triệt để. Người ta có thể tin rằng có một hữu-thể-bởi-sự-vật và sau đó cũng có một Vorhandensein hữu-thể-hiện-diện-sẵn, cách hiện hữu trước thuộc về chủ thể tính của chủ thể. Nhưng người ta tin rằng chủ thể tính, được đặc trưng bởi việc thiết lập mối quan hệ chủ thể-khách thể. Khách thể được hiểu là hiện-hữu-hiện-diện-sẵn cùng nhau của chủ thể và khách thể, theo nghĩa không có cái này thì không có cái kia; có (1) một khách thể on hand có sẵn với mỗi chủ thể, và (2) một chủ thể on hand có sẵn với mỗi khách thể. Về khẳng định (2), ‘Không có khách thể nào không có chủ thể,’ [tr.129] thì thuật ngữ ‘khách thể’ ở đây là mơ hồ. Nó là một cái gì đó on hand có sẵn tự thân, và, xét trong khách thể tính của nó như một khách thể, nó được giả định và nắm bắt trong khách thể tính của nó như một hiện hữu sao cho nó tự thân có sẵn và, khi hiện hữu có sẵn, không cần phải được nắm bắt. Nói cách khác, khi nắm bắt một cái gì đó có sẵn với tư cách có sẵn, có một sự buông bỏ rút lui của cái có sẵn; việc nắm bắt nó mang tính chất cho phép cái được nắm bắt trụ lại bởi tự thân, và sự nắm bắt này tự hiểu nó như một sự chấp nhận. Nếu ‘khách thể’ được hiểu là cái gì đó có sẵn tự thân, cái không cần phải được nắm bắt, thì khẳng định này là giả. Một cái gì đó có sẵn như vậy không cần một chủ thể, và hiện hữu có sẵn của nó không thiết lập sự hiện hữu có sẵn của một chủ thể.

Luận điểm này cũng không hiểu được bản chất của chủ thể; nó coi chủ thể chỉ đơn thuần là một cái gì đó nắm bắt. Chủ thể có thể là chính nó, Dasein tồn tại, mà không cần nắm bắt các hiện hữu chỉ đơn thuần như những khách thể. Sự khách thể hóa, hoặc thậm chí việc xem xét lý thuyết, không nhất thiết thuộc về hiện-hữu-bởi-sự-vật. (Tuy nhiên, nếu xét khách thể liên quan đến sự khách thể hóa của nó, thì đúng là sự khách thể hóa này phụ thuộc vào một chủ thể nắm bắt.) Về khẳng định (1), ‘Mỗi chủ thể đều có một khách thể có sẵn’: Từ những gì chúng ta đã nói, khẳng định này cũng đáng ngờ. Điều đặc biệt quan trọng là phải thấy rằng luận điểm đó hoàn toàn không nói gì về chủ thể tính của chủ thể. Chủ thể hoàn toàn có thể không có khách thể; tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chủ thể có thể tồn tại mà không có hiện-hữu-bởi-sự-vật, vì hiện-hữu-bởi-sự-vật thuộc về là một chủ thể theo đúng nghĩa. Nói cách khác, với sự tồn tại của Dasein, chừng nào và ngay khi Dasein tồn tại, một điều gì đó xảy ra, thì đã bắt đầu có một lịch sử, một điều gì đó đáng kinh ngạc, cụ thể là, một hiện hữu xảy ra đối với một hiện hữu khác và có thể xảy ra đối với một hiện hữu khác nữa, mà chủ thể không hề có ý thức rõ ràng về điều này. Khi viện dẫn mối quan hệ chủ thể-khách thể, đặc biệt là để mô tả chủ thể tính, thì phải nói rằng, trong mối quan hệ chủ thể-khách thể này và trong việc viện dẫn nó, một điều gì đó thiết yếu đã bị bỏ sót và một điều gì đó hệ trọng đã bị thiếu vắng. Đặc điểm của ‘mối quan hệ giữa’ này bị bỏ qua, lại cần được giải thích. Khái niệm chân thực về chủ thể tính bị thiếu, vì không nhận thấy ‘mối quan hệ với’ thuộc về bản chất của chủ thể tính. Chắc chắn, không phải tất cả đều rõ ràng về tuyên bố này ở mối quan hệ với các khách thể khả dĩ thuộc chủ thể tính. Người ta có thể duy trì tuyên bố này mà không nhận ra ý nghĩa bản thể học thích hợp của nó, đó là hiện-hữu-bởi-sự-vật mang tính bộc lộ lại thuộc về tồn tại.

Chủ đề của chúng ta là làm rõ mối liên hệ thiết yếu giữa chân lý [tr.130] và cơ sở. Để làm được điều đó, chúng ta cần làm rõ bản chất của chân lý, trước hết theo các đường lối truyền thống cho rằng chân lý tương đương với chân lý mệnh đề. Diễn giải của chúng ta về mệnh đề cho thấy nó được đặt nền tảng trong hiện-hữu-đã-có-bởi-sự-vật. Trong đó, chân lý nguyên thủy phải được tìm thấy. Hiện-hữu-bởi với tư cách hiện sinh tất nhiên tự thân là một vấn đề. Đó là một vấn đề chính xác bởi vì tính dường như hiển nhiên tự thân của tiền đề về mối quan hệ chủ thể-khách thể. Điều đáng chú ý là vấn đề được đề cập trong luận điểm này không thể thay đổi. Nó cổ xưa như triết học và đã xuất hiện từ thời Parmenides. Quan điểm, được phát triển sớm và dễ dàng trong sự hiểu biết tiền triết học về Dasein, cho rằng linh hồn, tư duy và biểu trưng, ý thức, thiết lập mối quan hệ với các khách thể, hay nói cách khác, các hiện hữu xuất hiện trước và nằm đối lập với ἀντίκειται antikeitai đối lập, trái ngược với tư duy, nhìn thấy và biểu trưng; quan điểm này, sự hiểu biết này về Dasein cũng dai dẳng một thời gian dài dưới hình thức chung chung và mơ hồ này.

Vấn đề ấy mang vẻ ngoài hấp dẫn của cái hiển nhiên và đơn giản. Do đó, vấn đề ấy đã được thảo luận từ thời cổ đại, thời Trung Cổ và trong triết học hiện đại, cho đến phép biện chứng của Hegel; đặc biệt là trong triết học Kant mối quan hệ giữa ý thức và khách thể trở thành một vấn đề. Trong một bức thư (gửi Marcus Herz, ngày 21 tháng 2 năm 1772), Kant đã viết: “Tôi tự hỏi, mối quan hệ giữa cái được gọi là ‘đại diện/biểu trưng’ trong chính chúng ta với khách thể dựa trên cơ sở nào?” Nhưng đặc điểm điển hình của Kant, cũng như những kẻ kế thừa ông, và đặc biệt là những kẻ bắt chước đương thời, là vội vàng đặt câu hỏi về cơ sở khả tính của mối quan hệ giữa ý thức và khách thể, mà trước đó không làm rõ một cách đầy đủ ý nghĩa của mối quan hệ cần được làm rõ này, mối quan hệ này đứng giữa cái gì, và loại tồn tại nào có thể áp dụng cho nó. Ý nghĩa thực sự của ‘mối quan hệ’ vẫn còn mơ hồ. Tính mơ hồ đó bắt nguồn từ tính mơ hồ của cái đứng trong mối quan hệ. Nó đặc biệt xuất hiện trong tính mơ hồ của khái niệm chủ thể, và mặt khác, trong sự ngây thơ và tính hiển nhiên mang tính giả định của Hữu thể của cái hiện hữu. ‘Sự độc lập’ của cái hiện hữu chỉ là một sự xác nhận phủ định, nhưng nó chỉ có thể có nghĩa là không phụ thuộc vào chủ thể, trong khi sự không phụ thuộc này, chính xác là trong mối quan hệ với chủ thể, lại là điều cần được giải thích, cần được biến thành, theo đúng nghĩa, một vấn đề. Có hai điều cần ghi nhớ liên quan đến ‘mối quan hệ’ giữa chủ thể và khách thể. Vấn đề mà chúng ta đang đề cập đến có tính đơn giản trong phạm vi và tính nguyên thủy của nó, và tương ứng, nó phải được xem xét một cách toàn diện hoặc không được xem xét chút nào. Khó khăn nằm ở chỗ, tính hiển nhiên của điểm xuất phát khiến người ta [tr.131] nhầm lẫn rằng tiền đề và điều kiện của lời giải cũng hiển nhiên như vậy.

Lý thuyết tri thức trong nửa sau thế kỷ XIX và những thập kỷ gần đây đã nhiều lần lấy mối quan hệ chủ thể-khách thể làm cơ sở cho các cuộc khảo sát của mình. Nhưng cả những giải thích duy tâm luận và hiện thực luận đều phải thất bại vì đối tượng cần giải thích không đủ rõ ràng. Mức độ làm rõ vấn đề nêu trên quyết định tất cả các nỗ lực đặt ra vấn đề được thể hiện rõ ràng ở chỗ hậu quả của sự tinh chỉnh đầu tiên đối với vấn đề của chúng ta, khi nó thực sự được thực hiện và đạt được, dẫn đến sự biến mất của một vấn đề khả thể theo nghĩa của các lý thuyết tri thức duy tâm luận hoặc hiện thực luận. Những nỗ lực gần đây nhất coi mối quan hệ chủ thể-khách thể như một ‘quan hệ hữu thể’. Ở đây, đặc biệt, chúng ta thấy cách hiểu sai lầm về vấn đề trung tâm. Việc sử dụng cụm từ ‘quan hệ hữu thể’ không mang lại lợi ích gì chừng nào người ta chưa nói rõ loại hữu thể nào được đề cập, và chừng nào còn mơ hồ về loại hữu thể của các hiện hữu mà giữa chúng tồn tại mối quan hệ này. Nhưng nếu bỏ qua bản thể của mối quan hệ cũng như phương thức hiện hữu của chủ thể và khách thể, thì chắc rằng có thể đặt ra vấn đề với tính trung lập khả thể cao nhất.

Thực tế lại trái ngược. Cách diễn đạt trước đó mang tính tự phê bình hơn, bởi vì nó không nói về being relation một quan hệ hữu thể, vì hữu thể, ngay cả với Nicolai Hartmann và Max Scheler, được hiểu là Vorhandensein hữu-thể-hiện-diện-sẵn. Mối quan hệ này không phải là hư vô, nhưng nó vẫn không phải là hữu thể như một cái gì đó hiện hữu. Do đó, Hartmann cũng bị đẩy trở lại ‘chủ nghĩa hiện thực phê phán’ (có lẽ là cách tiếp cận ít triết học nhất đối với vấn đề này). Một trong những nhiệm vụ chuẩn bị chính của ‘Hữu thể và Thời gian’ là đưa ‘mối quan hệ" này ra ánh sáng một cách triệt để trong bản chất nguyên thủy của nó và làm như vậy với đầy đủ ý định (xem §§ 12 và 13 như những đặc điểm giới thiệu đầu tiên). Max Scheler đã đạt được những hiểu biết tương tự bằng một con đường khác và với một mục đích khác, và cuối cùng ông đã lên kế hoạch, một phần dựa trên các nghiên cứu của tôi, cho một chuyên luận lớn, ‘Chủ nghĩa Duy tâm - Chủ nghĩa Hiện thực’.4 Nhưng kế hoạch cho cuộc trao đổi này đã không thành hiện thực. Trong cuộc trò chuyện dài cuối cùng vào tháng 12 năm 1927, chúng tôi đã đồng ý về bốn điểm: 1) Vấn đề về mối quan hệ chủ thể-khách thể cần được đặt ra hoàn toàn mới, không bị ràng buộc bởi những nỗ lực trước đó để giải quyết nó. 2) Không có vấn đề của cái gọi là nhận thức luận; nghĩa là, nó không [tr.132] được đặt ra chủ yếu liên quan đến một chủ thể nắm bắt một khách thể; sự nắm bắt như vậy không thể được giả định ngay từ đầu. 3) Vấn đề này có tầm quan trọng cốt lõi đối với khả tính hình thành siêu hình học và liên quan mật thiết đến vấn đề cơ bản của nó. 4) Điểm đồng thuận thứ tư và quan trọng nhất là thời điểm đã đến, ngay lúc tình hình triết học chính thống trở nên vô vọng, để mạo hiểm bước vào một siêu hình học đích thực, tức là phát triển siêu hình học từ cơ sở. Đó là bầu không khí mà chúng tôi chia tay, tâm trạng vui vẻ của một cuộc đấu tranh thuận lợi; nhưng số phận lại muốn nó khác đi. Scheler lạc quan và tin rằng ông đã tìm ra giải pháp, trong khi tôi tin chắc rằng chúng tôi thậm chí còn chưa nêu ra và phát triển vấn đề một cách triệt để và toàn diện. Ý định cốt yếu của tôi là trước tiên đặt ra vấn đề và giải quyết nó theo cách mà những yếu tố cốt lõi của toàn bộ truyền thống phương Tây sẽ được tập trung trong tính đơn giản của một vấn đề cơ bản. 

Trong luận thuyết đã đề cập, Scheler bác bỏ hai con đường, chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm, là bất khả thi, và đồng thời tìm cách đưa ra lý do tại sao cả hai đều phải thất bại. Ông chỉ ra πρῶτον ψεῦδος proton pseudos [sai lầm cơ bản] của cả hai là sự mơ hồ về mối quan hệ giữa essentia và existentia bản chất và tồn tại. Ở đây, một điều rõ ràng: vấn đề liên quan đến một câu hỏi trung tâm của bản thể luận tổng quát. Đáng chú ý, Scheler tin rằng vấn đề này đã được giải quyết, trong khi trên thực tế toàn bộ vấn đề bắt đầu từ điểm này và chỉ có thể bắt đầu khi the basic problem of being in general vấn đề cơ bản về hữu thể nói chung được làm sáng tỏ. Tuy Scheler bác bỏ một cách dứt khoát các nỗ lực truyền thống về vấn đề này và cũng, ít nhiều, thấy được lý do thất bại của chúng, ông vẫn chấp nhận, từ truyền thống, những luận điểm thậm chí còn ít cơ sở và ít được đặt vấn đề hơn so với những luận điểm được xử lý trong lý thuyết nhận thức. Bởi vì Scheler không còn thấy bất kỳ vấn đề nào trong phạm vi thực sự của vấn đề, nên ông cũng đã hiểu sai cách diễn đạt trung tâm của vấn đề trong nỗ lực của tôi. Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ của chúng tôi không phải là một sự tình cờ. Thứ nhất, vì bản thân tôi đã học hỏi được nhiều điều từ Scheler, nhưng đặc biệt là vì cả hai nỗ lực đều xuất phát từ hiện tượng luận, và nhất là từ sự hiểu biết của nó về ý hướng tính. Nhưng ở đây, chúng ta lại có một thuật ngữ và khái niệm được coi là hiển nhiên đến mức không ai nán lại với nó lâu và, ngay cả trong giai đoạn chuẩn bị, cũng cho rằng nó là lời giải cho vấn đề, như thể nó chắc chắn là chìa khóa mở mọi cánh cửa. Ngược lại, chúng ta nên biến chính cái mà thuật ngữ đó hàm ý thành vấn đề. 

Bây giờ chúng ta sẽ đưa ra một định hướng cô đọng cho vấn đề. ‘Mối liên hệ’ giữa việc nhìn vào, và tư duy về, của νόησις noesis đối với νόημα noema [cái được suy nghĩ] đã xuất hiện từ thời Aristotle. Vào thế kỷ XIX [tr.133], Franz Brentano đã lấy khái niệm về ý hướng tính làm trọng tâm trong tác phẩm Psychologie vom empirischen Standpunkt Tâm lý học tư\f quan điểm thực nghiệm năm 1874 của ông. ‘Từ quan điểm thực nghiệm,’ điều này rất quan trọng đối với cách ông đặt vấn đề. Nguyên tắc phương pháp luận của ông là đưa yếu tố tâm lý vào trước mọi giải thích của khoa học tự nhiên. ‘Sự tồn tại có ý hướng tính trong khách thể’ là đặc trưng của mọi thứ thuộc về tâm lý. Mọi thứ thuộc về tâm lý đều liên quan đến một cái gì đó. Theo sự phân chia truyền thống về các năng lực, Brentano phân biệt ba loại liên hệ, ba lớp cơ bản không thể quy giản của cái tâm lý: representation biểu trưng, judgment phán đoán và interest quan tâm. Mục đích của ông là phân loại các hiện tượng tâm lý, nhưng bản thân khái niệm về tâm lý vẫn chưa được kiểm chứng. Ý hướng tính vẫn là một vấn đề nội tại của tâm lý học và không đạt được ý nghĩa cơ bản nào.

Husserl đã đưa vấn đề ra khỏi tình trạng bế tắc này với khái niệm về ý thức ý hướng tính trong phần thứ năm của tác phẩm Khảo sát Logic (tập 2). Ông chuẩn bị một giai đoạn mới, trong phạm vi mà ông chỉ ra ý hướng tính xác định bản chất của ý thức theo đúng nghĩa, đó là bản chất của lý tính. Với học thuyết về ý hướng tính nội tại của cogitationes các suy tư/tư duy, ông làm nổi bật mối liên hệ của vấn đề với những câu hỏi cơ bản của triết học hiện đại kể từ thời Descartes. Nhưng cũng giống như Brentano để lại khái niệm về the psyche cái tâm trí tự thân mà không kiểm chứng, thì trong lý thuyết nhận thức duy tâm của mình, Husserl cũng không đặt thêm câu hỏi về the being constituted as consciousness hữu thể được cấu thành như là ý thức. Cái nhìn sâu sắc về ý hướng tính chưa đủ để thấy rằng việc nắm bắt cấu trúc này như là cấu trúc thiết yếu của Dasein phải cách mạng hóa toàn bộ khái niệm the human being hiện hữu người. Tuy nhiên, chỉ khi đó, ý nghĩa triết học trung tâm của nó mới trở nên rõ ràng. Trên cơ sở lập trường hiện thực đầu tiên của mình, Scheler đã tiếp nhận hiện tượng ý hướng tính, không phải như một định nghĩa về lý trí nói chung, mà như một khoảnh khắc cấu trúc của hành động thuộc về bản chất của một cá nhân. Bởi vì ông coi ý hướng tính như một khoảnh khắc thiết yếu của nhân cách, nên bản thân Scheler đã thấy được ý nghĩa quyết định của ý hướng tính. Mặc dù ông không đào sâu thêm vấn đề này, nhưng với thấu hiểu đó, ông đã nhìn xa hơn những lựa chọn thay thế của duy tâm luận và hiện thực luận. Ông cũng không biến nhân cách thành một vấn đề phức tạp hơn mà cho phép nó được coi là trung tâm của các hành động có ý hướng tính.

Khi mối quan hệ với, tức là ý nghĩa của thuật ngữ ‘ý hướng tính’, được hiểu đúng, thì nó không thể được coi là một đặc điểm của biểu trưng, một hành động đại diện vẫn nằm trong cái tâm lý, có vẻ như trong quan điểm của Brentano. Nếu không, chúng ta sẽ rơi vào tình huống khó xử khi phải giả định một phạm vi của cái linh hồn [tr.134] trong đó các biểu trưng phát sinh quy ý hướng tính về các hình ảnh cũng thuộc về cái tâm lý. Trong trường hợp đó, giống như Brentano, chúng ta phải đối mặt với vấn đề: Phạm vi của cái tâm lý liên hệ với phạm vi của cái vật lý như thế nào? Tuy nhiên, ý hướng tính của nhận thức không hướng đến một hình ảnh trong tâm hồn, mà trước tiên sẽ được đưa vào mối quan hệ với một cái gì đó có sẵn, đúng hơn là liên hệ với tự thân cái có sẵn đó. Chỉ khi bám sát ý nghĩa tự nhiên này của ý hướng tính, thì mới có cơ sở cần thiết cho một cách tiếp cận phù hợp. Có thể đưa ra phản bác rằng khi đó vấn đề về mối quan hệ chủ thể-khách thể biến mất. Chắc chắn rồi, nhưng việc thay thế giả-vấn đề chính là mục tiêu của khái niệm về ý hướng tính. 

Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải biến chính ý hướng tính thành một vấn đề. Ý hướng tính thực sự có liên quan đến chính các hiện hữu và, theo nghĩa này, là một hành vi siêu việt về mặt bản thể, nhưng nó không cấu thành nên mối quan hệ này một cách nguyên thủy mà được đặt nền tảng trong một hiện hữu bởi các hiện hữu. Cái hiện hữu-bởi này, trong khả tính nội tại của nó, lại được đặt nền tảng trong tồn tại. Bằng cách này, những hạn chế của cách diễn giải và chức năng trước đây của khái niệm ý hướng tính trở nên rõ ràng, cũng như ý nghĩa cơ bản của nó. Khái niệm này không chỉ mang lại biến đổi cho khái niệm truyền thống về ý thức và tâm trí; sự hình thành triệt để của hiện tượng có tính ý hướng trong một bản thể luận về Dasein dẫn đến sự vượt qua cơ bản, ‘phổ quát’ đối với lập trường. Từ đó, khái niệm trước đây về ý hướng tính chứng tỏ là một quan niệm thu hẹp, bởi vì nó hiểu ý hướng tính là một mối quan hệ tích cực với một cái gì đó on hand có sẵn. Điều này cũng giải thích khuynh hướng coi tự-phản tư là một ý hướng tính bản thể hướng vào bên trong. Hơn nữa, do sự co rút này mà ý hướng tính được hình dung chủ yếu là ‘có ý định’ [Meinen, hàm ý ‘quan điểm’], trong đó ý định được hiểu là một đặc tính trung lập của hữu tri. Do đó, mọi hành động hướng bản thân đến một điều gì đó đều nhận được đặc tính của hữu tri, ví dụ Husserl, người mô tả cấu trúc cơ bản của tất cả các mối quan hệ có ý hướng tính là νόησις noesis [tư duy]; do đó, tất cả ý hướng tính trước hết là một ý định nhận thức, dựa vào đó các phương thức quan hệ tích cực khác với các hiện hữu được xây dựng sau này. Scheler lần đầu tiên làm rõ điều này, đặc biệt là trong bài luận ‘Liebe und Erkenntnis’ Tình yêu và Nhận thức,5 cho rằng các mối quan hệ có ý hướng tính khá đa dạng, và thậm chí, ví dụ, tình yêu và lòng hận thù là cơ sở của hữu tri. Ở đây Scheler tiếp nối một chủ đề của Pascal và Augustine. 

[Tr.135] Liên quan đến khái niệm truyền thống về ý hướng tính, chúng tôi kiên trì quan điểm: 1) nó chỉ là một sự siêu việt về bản thể; 2) nó chỉ chạm vào các mối quan hệ tồn tại với các hiện hữu ở một số hạn chế nhất định; 3) Nó chỉ xuất hiện trong quan niệm lý thuyết thu hẹp, như νόησις noesis. Ẩn sâu bên dưới toàn bộ vấn đề trước đó về ‘mối quan hệ’ giữa ‘chủ thể’ và ‘khách thể’ là vấn đề siêu việt chưa được thảo luận. Thuật ngữ này thoạt đầu có thể được hiểu theo nghĩa khá thông thường là một hiện hữu (Dasein) vượt lên một hiện hữu khác (Dasein hoặc một thứ gì đó on hand có sẵn), vượt qua theo cách mà, trong quá trình siêu việt, cái mà Dasein siêu vượt qua được bộc lộ cho nó theo nghĩa khá rộng. Điều đáng giá là trước tiên phải hiểu khía cạnh gần gũi nhất này của siêu việt, quan niệm thông thường về nó. Hiện tượng siêu việt thông thường có nghĩa là sự siêu việt trong đó Dasein về cơ bản vận động một cách trực tiếp. Điều này khó nhận thấy, như đã được chỉ ra trong các thảo luận trước đó, và nó đòi hỏi tầm nhìn cởi mở và sắc bén. Công việc chuẩn bị cho nó đã được thực hiện bằng cách giải quyết vấn đề ý hướng tính. Mặt khác, để đặt ra vấn đề một cách triệt để, điều cần thiết là phải làm sáng tỏ hiện tượng siêu việt nguyên thủy. Hiện tượng siêu việt này không đồng nhất với vấn đề về mối quan hệ chủ thể-khách thể, mà mang tính nguyên thủy hơn về chiều kích và bản chất như một vấn đề; nó liên quan trực tiếp đến vấn đề về hữu thể theo đúng nghĩa (xem Hữu thể và Thời gian, §§12 và 13; và cơ bản được làm rõ hơn qua từng giai đoạn, xem §§69 và 83). Sự siêu việt của Dasein là vấn đề trọng tâm, không phải để giải thích ‘tri thức’, mà để làm sáng tỏ Dasein và sự tồn tại của nó theo đúng nghĩa, và đến lượt mình, làm rõ ý nghĩa bản thể luận-nền tảng.

Vấn đề siêu việt theo đúng nghĩa không hề giống với vấn đề ý hướng tính. Với tư cách siêu việt bản thể, ý hướng tính chỉ có thể tồn tại trên cơ sở siêu việt nguyên thủy, trên cơ sở hiện-hữu-trong-thế-giới. Siêu việt nguyên thủy này làm cho mọi mối quan hệ có ý hướng tính với các hiện hữu trở nên khả thể. Nhưng mối quan hệ này xảy ra theo cách mà các hiện hữu hiện diện trong cái ‘có đó’ của Da-sein trong và vì hành vi của Da-sein với các hiện hữu. Mối quan hệ này dựa trên sự hiểu biết sơ bộ về Hữu thể của các hiện hữu. Tuy nhiên, hiểu-biết-về-hữu-thể này trước tiên đảm bảo khả tính của các hiện hữu tự hiện thân như những hiện hữu. Hiểu biết về Hữu thể này mang đến thứ ánh sáng mà trong đó một hiện hữu có thể tự bộc lộ. Nếu siêu việt nguyên thủy (hiện-hữu-trong-thế-giới) làm cho mối quan hệ có ý hướng tính trở nên khả thể và nếu mối quan hệ đó là một mối quan hệ bản thể, và mối quan hệ với cái bản thể được đặt cơ sở trên sự hiểu-biết-về-hữu-thể, thì phải có một mối quan hệ nội tại [tr.136] giữa siêu việt nguyên thủy và sự hiểu-biết-về-hữu-thể. Cuối cùng, chúng phải là một và giống nhau. Chúng ta đã thấy trước đó (Phần a) trạng thái là-chân thuộc về hiện-hữu-bởi một cái gì đó on hand có sẵn và việc ‘khám phá’ ra cái on hand có sẵn là một hình thức cơ bản của các hành vi mà chúng ta tương tác với sự vật. Do đó Bản chất của chân lý với tư cách một tổng thể chỉ có thể được làm rõ như là vấn đề siêu việt theo đúng nghĩa.

§10. Vấn đề Siêu việt - Hữu thể và Thời gian

Hiểu-biết-về-Hữu-thể tạo thành vấn đề cơ bản của siêu hình học nói chung. ‘Hữu thể’ có nghĩa là gì? Đây đơn giản là câu hỏi nền tảng của triết học. Ở đây chúng ta không trình bày cấu trúc của vấn đề và việc ‘khôi phục’ nó trong Hữu thể và Thời gian. Thay vào đó, chúng ta muốn trình hiện bên ngoài các nguyên tắc hướng dẫn của nó và từ đó xác định rõ ‘vấn đề siêu việt’. a) Trước hết là mô tả tổng quát. Hữu thể luận cơ bản, với tư cách là phân tích về tồn tại của Dasein, tạo thành phương pháp tiếp cận vấn đề. Phân tích chỉ tiến hành với mục đích của một Hữu thể luận cơ bản; điểm xuất phát, thực hiện, giới hạn và phương thức cụ thể hóa một số hiện tượng nhất định chịu sự chi phối của mục đích này. Hiểu-biết-về-Hữu-thể sẽ được làm sáng tỏ thông qua phương thức hiện hữu của Dasein, mà chủ yếu là tồn tại. Cấu thành của Hữu thể Dasein sao cho cho khả tính nội tại của Hiểu-biết-về-Hữu-thể, vốn thuộc về bản chất của Dasein, trở nên có thể chứng minh được. Vì vậy, đây không phải là vấn đề nhân học hay đạo đức học, mà là vấn đề về Hữu thể này trong hiện hữu của nó theo đúng nghĩa, và do đó là một phân tích chuẩn bị liên quan đến nó; siêu hình học về tự thân Dasein chưa phải là trọng tâm chính.

b) Các nguyên tắc hướng dẫn: 1. Thuật ngữ man ‘con người’ không được sử dụng cho Hữu thể là chủ đề của phân tích. Thay vào đó, thuật ngữ trung lập Dasein đã được chọn. Bằng cách này, chúng ta chỉ định Hữu thể mà phương thức hiện hữu riêng của nó theo một nghĩa nhất định không phải là vô cảm. 2. Tính trung lập đặc biệt của thuật ngữ ‘Dasein’ là thiết yếu, bởi vì việc diễn giải Hữu thể này phải được thực hiện trước mọi sự cụ thể hóa thực tế. Tính trung lập này cũng cho thấy rằng Dasein không thuộc về giới tính nào trong hai giới tính. Nhưng ở đây, tính phi giới tính không phải là sự thờ ơ của một khoảng trống rỗng, tính phủ định yếu ớt của một hư vô bản thể vô cảm. Trong tính trung lập của nó, Dasein không phải là thân thể vô cảm [tr.137] và mọi thân thể, mà là tính thực chứng và quyền năng nguyên thủy của bản chất. 3. Trung lập không phải là trừu tượng hóa trống rỗng, mà chính xác là quyền năng của nguồn cội, mang trong mình khả tính nội tại của mọi nhân loại thực tế cụ thể. 

4. Dasein trung lập không bao giờ là cái tồn tại; Dasein chỉ tồn tại trong mỗi trường hợp trong sự cụ thể hóa thực tế của nó. Nhưng Dasein trung lập thực sự là nguồn gốc nguyên thủy của khả tính nội tại nảy sinh trong mọi sự tồn tại và làm cho nó khả thể theo cách nội tại. Phân tích luôn chỉ nói trong Dasein về cái Dasein của những kẻ đang tồn tại, mà nó không nói đến cái Dasein [hiện hữu-ở đó] của những kẻ tồn tại; điều này sẽ là vô nghĩa, vì người ta chỉ có thể nói chuyện với những kẻ đang tồn tại. Do đó, phân tích về Dasein có trước mọi thế giới-quan tiên tri và báo trước; nó cũng không phải là trí tuệ, một thứ chỉ có sẵn trong cấu trúc của siêu hình học. Lebensphilosophie Triết học về cuộc sống, có thành kiến ​​với phân tích này như một ‘hệ thống Dasein’. Điều này xuất phát từ sự không thoải mái với các khái niệm, và cho thấy sự hiểu sai về các khái niệm và về ‘tính hệ thống’ như một kiến ​​trúc mang tính tư duy nhưng vẫn có cả tính lịch sử [geschichtlich]. 5. Cả cái Dasein trung lập này cũng không phải là cá nhân vị kỷ trung tâm, cá nhân cô lập về mặt bản thể. Tính cái tôi egoity của cá nhân không trở thành trung tâm của toàn bộ vấn đề. Tuy nhiên, nội dung thiết yếu của Dasein, trong sự tồn tại của nó để thuộc về chính nó, phải được xem xét cùng với phương pháp tiếp cận. Cách tiếp cận bắt đầu từ tính trung lập hàm chứa một sự biệt lập đặc biệt của hiện hữu người, nhưng không phải theo nghĩa hiện sinh thực tế, như thể kẻ đang triết lý là trung tâm của thế giới. Thay vào đó, đây là sự cô lập siêu hình của hiện hữu người. 

6. Theo nghĩa đó, Dasein che đậy khả tính nội tại được phân tán một cách thực tế vào tính thể xác và do đó vào giới tính. Tính trung lập siêu hình của hiện hữu người, bị cô lập sâu sắc nhất như Dasein, không phải là một sự trừu tượng trống rỗng từ bản thể, một thứ cũng-không; mà đúng hơn là tính cụ thể đích thực của nguồn cội, cái vẫn-chưa của Zerstreutheit tình trạng phân tán thực tế. Về mặt thực tế, Dasein, trong số những thứ khác, trong mỗi trường hợp đều được phân tán trong một thể xác và đồng thời, trong số những thứ khác, trong mỗi trường hợp đều bị Zwiesprutig chia rẽ trong một giới tính cụ thể. ‘Sự phân tán’, ‘tính chia rẽ’ thoạt nghe có vẻ tiêu cực (cũng như ‘sự hủy diệt’), và những khái niệm tiêu cực như vậy, khi được xem xét về mặt hiện thực, thường gắn liền với những đánh giá phủ định. Nhưng ở đây chúng ta đang đề cập đến một điều khác, một mô tả về sự nhân lên (không phải ‘đa tính’) hiện diện trong mỗi Dasein được cá thể hóa một cách thực tế theo đúng nghĩa. Chúng ta không bàn đến khái niệm [tr.138] về một hiện hữu nguyên thủy lớn trong sự đơn giản của nó bị phân tách về mặt bản thể thành nhiều cá thể, mà là làm rõ khả tính nội tại nhân lên, như chúng ta sẽ thấy chính xác hơn, hiện diện trong mọi Dasein và đối với khả tính này, sự hiện thân hiện diện là nhân tố tổ chức. Tuy nhiên, đa tính không chỉ đơn thuần là tính đa nguyên hình thức của các xác định, mà đa tính thuộc về tự thân hiện hữu. Nói cách khác, trong khái niệm trung lập về mặt siêu hình, bản chất của Dasein đã chứa đựng một Streuung phát tán nguyên thủy, mà xét về một khía cạnh nhất định, đó là Zerstreuung lan truyền. Và ở đây có một chỉ dẫn sơ lược. Khi tồn tại, Dasein không bao giờ chỉ liên hệ với một khách thể cụ thể; nếu nó chỉ liên hệ với một khách thể, thì nó chỉ làm như vậy theo cách quay lưng lại với những hiện hữu khác beforehand có trước và đồng thời xuất hiện cùng với khách thể đó. Tính đa dạng này không xảy ra vì có nhiều khách thể, mà ngược lại. Điều này cũng đúng đối với cách ứng xử với bản thân và diễn ra theo cấu trúc lịch sử với nghĩa rộng nhất, chừng nào Dasein còn xuất hiện với tư cách trải ra theo thời gian. Một khả tính thiết yếu khác về lan truyền thực tế của Dasein là tính không gian của nó. Hiện tượng lan truyền của Dasein trong không gian được thấy, chẳng hạn, ở thực tế là tất cả các ngôn ngữ đều được định hình chủ yếu bởi ý nghĩa không gian. Hiện tượng này chỉ có thể được giải thích khi vấn đề siêu hình về không gian được đặt ra, một vấn đề chỉ trở nên rõ ràng sau khi chúng ta đã trải qua vấn đề về thời gian (nói một cách triệt để, đây là phép hoán dụ về tính không gian; xem Phụ lục).

7. Sự lan truyền siêu nghiệm vốn có trong bản chất siêu hình của Dasein trung tính, như khả tính ràng buộc của mỗi phân tán và phân chia hiện sinh thực tế, dựa trên một đặc điểm nguyên thủy của Dasein, đó là tính bị ném vào. 8. Tình trạng lan tỏa bị ném vào một đa tính này cần được hiểu theo nghĩa siêu hình. Ví dụ, giả định rằng Dasein trong mỗi trường hợp đều để cho những hiện hữu, không phải là nó, chi phối; tuy nhiên, Dasein đồng nhất với những hiện hữu đó do tính chất lan tỏa của nó. Chẳng hạn, Dasein có thể bị chi phối bởi cái mà chúng ta gọi là ‘tự nhiên’ theo nghĩa rộng nhất. Chỉ những gì về bản chất bị ném vào và vướng mắc trong một cái gì đó mới có thể bị nó chi phối và bao quanh. Điều này cũng đúng với sự xuất hiện trong tự nhiên của Dasein nguyên thủy, mang tính huyền thoại. Khi bị chi phối bởi tự nhiên, Dasein huyền thoại có đặc tính là không ý thức được bản thân về phương thức hiện hữu của nó (điều này không có nghĩa là Dasein huyền thoại thiếu tự-nhận thức). Nhưng nó cũng thuộc về bản chất của sự lan tỏa thực tế đến nỗi tình trạng bị ném vào và bị giam cầm vẫn ẩn sâu trong nó, và bằng cách này, tính đơn giản và ‘vô tư’ của một sự nuôi dưỡng tuyệt đối từ tự nhiên nảy sinh trong Dasein.

[Tr.139] 9. Sự lan tỏa về bản chất của Dasein bị ném vào, vẫn được hiểu là hoàn toàn trung lập, bằng những cách khác, xuất hiện trong sự hiện-hữu-với của Dasein với Dasein. Hiện-hữu-với này với X không phát sinh do tồn tại thực tế cùng nhau; nó không được giải thích chỉ dựa trên cơ sở của hiện-hữu-loài được cho là nguyên thủy hơn của các sinh vật có cơ thể phân hóa giới tính. Thay vào đó, sự thống nhất giống-loài về mặt siêu hình học giả định sự lan tỏa của Dasein theo đúng nghĩa, tức là hiện-hữu-với đúng nghĩa. Nhưng đặc điểm siêu hình cơ bản này của Dasein không bao giờ có thể được suy ra từ tổ chức giống-loài, từ việc sống chung với nhau. Thay vào đó, tính thể xác và giới tính thực tế trong mỗi trường hợp chỉ mang tính giải thích - và ngay cả như vậy thì cũng chỉ trong giới hạn của tính võ đoán thiết yếu của mọi lời giải thích - ở mức độ mà cái hiện- hữu-với của Dasein thực tế được đẩy chính xác vào hướng thực tế cụ thể này, nơi các khả tính khác bị mờ nhạt hoặc vẫn bị đóng lại. 10. Hiện-hữu-với như một hành vi tồn tại đích thực chỉ có thể thực hiện được theo cách mà mỗi tồn-tại-với đều có thể và là tự thân nó một cách đích thực. Tuy nhiên, quyền tự do của cái với-một-kẻ-khác này giả định khả tính tự-quyết của một hiện hữu mang đặc điểm của Dasein theo đúng nghĩa, và vấn đề đặt ra là làm thế nào Dasein có thể tồn tại một cách tự do về bản chất trong tự do của các mối gắn kết thực tế của hiện-hữu-với-kẻ-khác. Chừng nào hiện-hữu-với còn là một đặc điểm siêu hình cơ bản của sự lan tỏa, thì chúng ta vẫn có thể thấy rằng đặc điểm lan tỏa cùng có cơ sở trong tự do của Dasein theo đúng nghĩa. Bản chất siêu hình cơ bản của Dasein bị cô lập về mặt siêu hình tập trung vào tự do. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể hình dung về tự do một cách siêu hình? Nó dường như quá trống rỗng và quá đơn giản. Tuy nhiên, tính không thể giải thích về bản thể không loại trừ hiểu biết siêu hình học-bản thể luận! Tự do là khuôn khổ cho các vấn đề trung tâm (không phụ thuộc, bắt buộc, điều chỉnh, tiêu chuẩn), mà chúng ta đã đề cập đến khi xử lý khái niệm về thế giới.

(§ l lc). Phần trên đưa ra luận điểm về những gì chúng ta đã xử lý trong phân tích Dasein. Chúng ta vẫn cần thêm hai tuyên bố hướng dẫn nữa để làm rõ cách thức thực hiện phân tích.

11. Siêu hình học về Dasein này, trước hết với tư cách phân tích, chỉ có thể đạt được trong phóng chiếu tự do của tự thân hiện-hữu-cấu-thành. Dasein luôn tồn tại như chính nó, và hiện-hữu-một-tự-ngã trong mọi trường hợp chỉ nằm trong quá trình hiện thực hóa của nó, cũng như tồn tại. Vì lý do này, phóng chiếu của cấu thành Hữu thể luận cơ bản của Dasein phải phát sinh bằng cấu thành một trong những khả tính cực đoan nhất của năng lực hiện hữu đích thực và toàn diện của Dasein. Phóng chiếu hướng tới Dasein, như một tổng thể, và hướng tới những xác định cơ bản toàn thể tính của nó, mặc dù Dasein trong mỗi trường hợp chỉ [tr.140] với tư cách là tồn tại. Nói cách khác, việc đạt được tính trung lập và cô lập siêu hình học của Dasein như vậy chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở Einsatz một nhiệm vụ hiện sinh cực đoan của chính kẻ tự thân phóng chiếu. Nhiệm vụ này là cần thiết và thiết yếu cho dự án siêu hình học, cho siêu hình học theo đúng nghĩa. Nhưng do đó, nó là một thành phần hiện sinh riêng lẻ, không mang tính độc đoán và bắt buộc trong nhiều khả tính cụ thể của mỗi sự tồn tại thực tế. Bởi vì chính dự án siêu hình đã bộc lộ tính hữu hạn thiết yếu của tồn tại Dasein, vốn chỉ được hiểu một cách hiện sinh trong tính phi bản chất của tự ngã, vốn chỉ trở nên cụ thể - như có thể chứng minh bằng siêu hình học - thông qua và phục vụ cho mỗi tổng thể tính khả thể, được biểu hiện theo một cách khá đặc biệt trong nghiên cứu siêu hình. Tuy nhiên, đó là một vấn đề riêng: đến mức độ nào có sự hướng dẫn hiện sinh, gián tiếp, trong dự án siêu hình và trong sự tham gia hiện sinh của cá nhân kẻ triết lý.

12. Việc giải thích bản thể luận về cấu trúc của Dasein phải cụ thể liên quan đến tính trung lập và cô lập siêu hình của Dasein. Tính trung lập không hề giống với tính mơ hồ của một khái niệm mờ về ‘ý thức đúng nghĩa’. Khái quát siêu hình thực sự không loại trừ tính cụ thể, nhưng xét về một khía cạnh, nó lại là tính cụ thể nhất, như Hegel đã nhận thấy, dù ông đã phóng đại điều đó. Tuy nhiên, tính cụ thể trong phân tích các hiện tượng Dasein, vốn định hướng và tạo nội dung cho phóng chiếu siêu hình của Dasein, dễ dẫn người ta đến chỗ hiểu sai, thứ nhất, coi các hiện tượng cụ thể của Dasein là bởi tự thân chúng, và thứ hai, coi chúng là những tuyệt đối hiện sinh trong việc khái niệm hóa bản thể luận-nền tảng, cực đoan của chúng. Việc dấn thân hiện sinh càng triệt để, thì dự án siêu hình bản thể luận càng cụ thể. Nhưng cách diễn giải Dasein càng cụ thể, thì về nguyên tắc càng dễ hiểu sai khi coi dấn thân hiện sinh là điều quan trọng nhất, trong khi chính cuộc dấn thân này lại tự thân hiển hiện trong dự án, với tất cả sự thờ ơ của nó đối với tính đặc thù của cái cá nhân.

Cuộc dấn thân hiện sinh của bản thể luận nền tảng mang theo hình ảnh của một chủ nghĩa vô thần cực đoan, cá nhân chủ nghĩa – chí ít đây cũng là cách diễn giải được lần tìm khi bản thể luận nền tảng được coi là một thế giới quan. Tuy nhiên, cách diễn giải đó cần được kiểm chứng tính hợp thức, và nếu đúng, nó cần được xem xét về ý nghĩa siêu hình, bản thể luận-nền tảng của nó. Tuy nhiên, không nên quên rằng với việc làm rõ bản thể luận-nền tảng như vậy, chưa có điều gì được quyết định [tr.141], và hơn nữa, điều cần được chứng minh là không gì có thể quyết định được theo cách này. Tuy nhiên, cũng luôn phải có sự cần thiết mang tính thực tế của cái ‘tiền đề’ về một tình huống thực tế. Những nguyên tắc hướng dẫn này sẽ chỉ ra một cách ngắn gọn loại ý định đằng sau phân tích Dasein và các yêu cầu để thực hiện phân tích. Ý định cơ bản của phân tích là để chỉ ra khả tính nội tại của việc lý-giải-về-hữu-thể, vốn đồng thời có nghĩa là khả tính của siêu việt.

Nhưng tại sao phân tích chuẩn bị về Dasein liên quan đến việc bộc lộ khả tính lý-giải-về-hữu-thể lại là một sự trình bày về thời tính của Dasein? Tại sao phóng chiếu siêu hình của Dasein lại hướng về thời gian và cách giải thích triệt để về thời gian? Có lẽ vì thuyết tương đối đề cập đến thời gian hoặc nguyên tắc đo lường thời gian một cách khách quan? Hay có lẽ vì Bergson và sau ông là Spengler đều nghiên cứu về thời gian? Hay vì Husserl đã nghiên cứu hiện tượng học về ý thức thời gian nội tại? Hay vì Kierkegaard, theo nghĩa Kitô giáo, nói về thời tính trái ngược với hằng tính? Hay có lẽ vì Dilthey coi sử tính của Dasein là trọng tâm, và sử tính có liên quan đến thời gian? Phải chăng việc phân tích Dasein được đặt trên nền tảng thời gian vì người ta tin rằng kết quả sẽ tốt nếu những điều đã đề cập ở trên được kết hợp với nhau? Tóm lại, bởi vì người ta có thể nảy ra ý tưởng trộn lẫn các cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề thời gian và, như câu nói thường dùng, ‘suy nghĩ thấu đáo đến cùng’? Đây quá rõ ràng là quan niệm triết học của gã khờ, vốn tin rằng từ năm tác giả có thể tạo ra tác giả thứ sáu. (Tôi đã tiếp cận các tác phẩm của Kierkegaard khi mà chưa có văn liệu biện chứng, và đã nghiên cứu Dilthey khi việc nhắc đến ông trong một hội thảo triết học vẫn còn chưa được coi trọng.) Hơn nữa, cái gọi là tư duy đến cùng cũng có những khó khăn riêng. Để tư duy đến cùng một vấn đề, đặc biệt là khi xét đến Kierkegaard, Husserl, Bergson và Dilthey, trước hết người ta phải nắm được mục đích mà mình hướng đến; và câu hỏi vẫn luôn còn đó: Tại sao lại chỉ những nhà tư tưởng cụ thể này? Hơn nữa, phân tích Dasein như là thời tính, được phát triển liên quan đến việc làm sáng tỏ khả tính nội tại của lý-giải-về-hữu-thể, không được xác định bởi bất cứ điều gì khác ngoài nội dung của vấn đề cơ bản này trong siêu hình học. Chính xác hơn, nó được xác định bởi nhận thức cơ bản rằng lý-giải-về-hữu-thể có mối quan hệ nguyên thủy với thời gian, một mối quan hệ ban đầu hoàn toàn mơ hồ và bí ẩn. 

[Tr.142] Một khi phân tích về thời tính đã được định hướng từ vấn đề siêu hình cơ bản, thì cách diễn giải trước đây về thời gian, từ Aristotle qua Augustine đến Bergson, có thể được làm nổi bật trong nội dung quyết định của nó và được tận dụng. Sẽ thật ngây thơ nếu bác bỏ sự hỗ trợ tìm thấy trong Aristotle, dù chỉ là gián tiếp, bởi vì Aristotle đã định nghĩa vấn đề thời gian cho mọi nhà tư tưởng sau này, và không kém phần quan trọng là cho Bergson. Nhưng tại sao thời gian lại được kết nối với việc lý giải về hữu thể? Điều này thật không rõ ràng. Tuy nhiên, có những tham chiếu và dấu hiệu gợi ý về mối liên hệ này - bởi vì không có gì có thể tiếp cận được lại bị che giấu, đơn giản là vậy, nếu không thì nó sẽ không thể tiếp cận được đối với Dasein hữu hạn. Trước khi đi sâu vào những chỉ dấu này, ở đây chúng tôi trình bày một hồi tưởng sẽ giúp thêm cho chúng ta cách diễn đạt sắc nét hơn vấn đề lý-giải-về-hữu-thể. Parmenides đã nhận ra và tập trung vào mối tương quan giữa είναι einai nhận thức [cụm từ gốc của triết gia Parmenides là ‘τὸ γὰρ αὐτὸ νοεῖν ἐστίν τε καὶ εἶναι: to gar auto noein estin te kai einai ‘nhận thức (suy nghĩ) và Tồn tại (hạnh phúc) là một’- HHN]. (Đoạn 3). Ở đây, điều quan trọng trước hết là phải loại bỏ các hiểu lầm. Vào thế kỷ XIX, đã có những nỗ lực nhằm khẳng định tuyên bố này cho nhiều quan niệm khác nhau trong lý thuyết nhận thức. Trong đó, người ta thấy ‘những tia sáng đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm’ cứ như thể Parmenides cho rằng chủ thể là cái đầu tiên sắp đặt các hiện hữu với tư cách là các hiện hữu, hoặc cứ như thể Parmenides nghĩ, như người ta lấy Kant ra để đảm bảo rằng chính các khách thể sắp xếp thứ tự theo tri thức của chúng ta. Toàn bộ điều này đều chứa đựng một hạt nhân chân lý nhất định, bởi vì Parmenides là người đầu tiên khẳng định rằng hữu thể có liên quan đến chủ thể. Nhưng ở đây điều quan trọng cần nhận ra là είναι einai ‘là’ tương quan với νοεῖν noein suy nghĩ/nhận thức vẫn chưa được phân biệt rõ ràng với ὄν ón Hữu thể; nhưng điều này chắc chắn không có nghĩa là ὄν ón chỉ là một thực thể khi nó được gây nên và tạo ra bởi một νοεῖν noein. Không có sự phụ thuộc nhân quả hay ‘đặt để’ nào được dự định. Sẽ là quá sớm để tìm kiếm trong Parmenides cái gọi là khuynh hướng phê phán, tức là ý định nhận thức luận theo nghĩa của cuộc cách mạng Copernican, hơn nữa lại dựa trên sự hiểu sai về Kant.

Để phản bác những cách giải thích kiểu này, người ta có thể chỉ ra rằng không có chủ nghĩa duy tâm nào như vậy trong toàn bộ triết học cổ đại. Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng những cách giải thích tư tưởng của Parmenides như là ‘chủ nghĩa hiện thực’ cũng không thể chấp nhận được. Bởi vì không phải chúng ta đang bàn về một lập trường được đưa ra liên quan đến mối quan hệ giữa các hiện hữu như vậy với một chủ thể có Hữu thể, mà đúng hơn, ở đây chúng ta có sự khởi đầu của vấn đề siêu hình thực sự về Hữu thể theo đúng nghĩa. Vấn đề không phải là liệu chủ thể có thiết lập các hiện hữu hay với tư cách chủ thể hữu tri, hướng tới các hiện hữu, mà chính là cách thức mà hiện hữu người theo đúng nghĩa hiểu được bất cứ điều gì giống như [tr.143] Hữu thể không.

Bất cứ ai không tư duy duy tâm trong nhận thức luận của mình, đặc biệt là ngày nay, đều tự cho mình vượt trội hơn các lý thuyết phê phán và tin rằng mình là người bảo vệ truyền thống cổ đại và trung cổ, trong khi thực tế họ chỉ đại diện cho mặt trái của chủ nghĩa duy tâm; họ cũng suy nghĩ theo thuật ngữ nhận thức luận và không thể, thậm chí còn kém hơn những kẻ khác, nắm bắt được vấn đề. Nếu một người có thể nắm bắt được bất kỳ vấn đề cơ bản nào của triết học cổ đại và nắm bắt chúng tận gốc rễ với đủ tính thấu triệt, thì vấn đề không thể là một lập trường hay quan điểm, theo nghĩa của chủ nghĩa hiện thực hay chủ nghĩa duy tâm. Đó không chỉ bởi cả hai đều không thể chấp nhận như những cách diễn đạt nhận thức luận, mà còn bởi vì vấn đề cơ bản (Hữu thể) hoàn toàn không phải thuộc về nhận thức luận; vấn đề Hữu thể có trước mọi vấn đề của nhận thức luận. Để thấy được điều này, người ta phải thực sự nắm bắt được các vấn đề cơ bản của siêu hình học cổ đại và hiểu chúng một cách cụ thể
_________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992. Notes

4. Parts II and lIi appeared in De,. philosophische Anzeige,., volume 2, issue 3, 1927-28, pp. 253-324. [Now to be found in Gesammelte Werke, volume 9, Sp4te Schnften, edited by Manfred Frings, Bern and Munich, 1976, pp. 185-241.]

5. In Gesammelte Werke, volume 6, Schriften zur Soziologie und Weltanschauungslehre, edited by Maria Scheler, Bern and Munich. 2nd edition, 1963, pp. 77-98.