Powered By Blogger

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2026

Khảo cổ học hiện tượng luận (I)

Olsen Bjørnar Julius

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

[Tr.429] Bài viết này đề cập đến hiện tượng luận và sự du nhập của nó vào khảo cổ học từ những năm 1990 trở đi. Bài viết lập luận rằng hiện tượng luận ban đầu được đón nhận nhiệt tình đại diện cho một phiên bản đã được sửa đổi rất nhiều, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư duy hậu quá trình luận. Một lý do chính cho điều này là nền tảng duy tâm của tư duy này, và mối quan tâm chính trị xã hội rộng lớn hơn về chủ nghĩa cá nhân và năng lực hành động của con người, đã khiến việc nắm bắt đầy đủ những hậu quả triệt để của một dự án triết học thách thức chính xác di sản duy tâm hiện đại trở nên khó khăn. Bài viết tiếp tục khám phá một số khía cạnh quan trọng của tư duy hiện tượng luận vẫn còn bị bỏ quên trong phiên bản khảo cổ học của nó và cách những khía cạnh này có thể làm phong phú thêm lý luận khảo cổ học về sự vật và being tồn tại của sự vật. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số suy ngẫm về lý do tại sao nỗ lực xây dựng một nền khảo cổ học hiện tượng luận đích thực đã thất bại, nhưng cũng thật nghịch lý là, tại sao tư duy hiện tượng luận, bất chấp điều đó, lại hiện diện nhiều hơn bao giờ hết trong lý luận khảo cổ học.

Giới thiệu

Những năm 1990 chứng kiến ​​một sự định hướng lại lý thuyết quan trọng trong khảo cổ học, hay chính xác hơn, trong phạm vi nhánh lý thuyết có ảnh hưởng nhất của ngành lúc bấy giờ, khảo cổ học hậu quá trình. Mặc dù không thể hiện như một sự thay đổi đột ngột, một sự phát triển đáng kể là sự nhấn mạnh vào khía cạnh biểu tượng và giao tiếp của văn hóa vật chất đã bị suy yếu và một mối quan tâm mới đến hành động của con người và sự gắn kết sống động của họ với thế giới đã phát triển. Sự thay đổi này một phần dựa trên một loạt các lý thuyết xã hội từ Pierre Bourdieu đến Michel Foucault, một phần dựa trên tư duy hiện tượng luận. Trong khi lý thuyết xã hội được huy động có thể được xem như một sự mở rộng của di sản hậu quá trình, thì hiện tượng luận lại hứa hẹn một sự gắn kết lý thuyết mới, trở thành một nguồn cảm hứng quan trọng và đôi khi lâu dài cho nhiều nhà khảo cổ học. Nguồn cảm hứng này đặc biệt mạnh mẽ trong một số lĩnh vực khảo cổ học cảnh quan của Anh. Bằng cách nhấn mạnh trải nghiệm như một năng lực thể chất, sự chú ý được chuyển sang cách các di tích và cảnh quan, thông qua sự tương tác của con người với chúng, định hình trải nghiệm, ký ức và cuộc sống. Điều cốt yếu là quan niệm về cảnh quan như một không gian được trải nghiệm và nhân hóa, một thứ cần được nghiên cứu và trải nghiệm từ bên trong, và sự nhấn mạnh liên quan đến cơ thể như một universal locus quỹ tích [là tập hợp tất cả các điểm trong không gian hoặc mặt phẳng cùng thỏa mãn một tính chất, điều kiện hình học cho trước; các quỹ tích cơ bản bao gồm đường thẳng, đường tròn, đường trung trực, tia phân giác...được sử dụng trong toán học, đặc biệt là hình học] phổ quát để trải nghiệm thế giới vật chất.

Mặc dù quan trọng, vô cùng hiệu quả và thành công theo cách riêng của nó, nhưng câu hỏi vẫn có thể được đặt ra là liệu những gì xuất phát từ điều này có thực sự là một phương pháp hiện tượng luận đích thực hay chỉ là một phiên bản được thuần hóa bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư duy hậu quá trình. Khi lập luận cho rằng trường hợp thứ hai là đúng, đó là vì nền tảng duy tâm của phần lớn tư duy hậu quá trình, và [tr.430] mối quan tâm chính trị xã hội rộng lớn hơn về chủ nghĩa cá nhân và năng lực hành động của con người, đã khiến việc đảm nhận những hậu quả triệt để của một dự án triết học thách thức chính xác di sản duy tâm của tư duy phương Tây hiện đại trở nên khó khăn. Theo đó, phiên bản hiện tượng luận đã được đưa vào khảo cổ học và nghiên cứu cảnh quan có thể được xem như một kết quả thương lượng của những mục tiêu và lợi ích mâu thuẫn ấy. Trong phần đầu của bài viết, tôi sẽ đi sâu hơn vào sự chia rẽ này bằng cách mở rộng một số đặc điểm cơ bản của triết học hiện tượng luận, sau đó so sánh chúng với cách thức trình bày và sử dụng trong các ứng dụng khảo cổ học sớm. Phần thứ hai sẽ đi sâu hơn vào một số khía cạnh của tư duy hiện tượng luận chủ yếu được Martin Heidegger phát triển và cách thức có thể làm phong phú thêm lý luận khảo cổ học về sự vật và về sự tương tác của con người với thế giới mà họ sinh sống. Tất cả kết thúc bằng một số suy ngẫm về lý do tại sao nỗ lực xây dựng một nền khảo cổ học hiện tượng luận đích thực đã không thành công, nhưng thật nghịch lý là tại sao tư duy hiện tượng luận, bất chấp điều đó, lại hiện diện đậm đặc hơn bao giờ hết trong lý luận khảo cổ học.

“Hướng đến bản thân sự vật” - Một số trụ cột của Hiện tượng luận

Hiện tượng luận có thể được xem như một phản ứng đối với chủ nghĩa duy tâm và ảnh hưởng của nó đối với các phương pháp triết học hiện đại về cách chúng ta trải nghiệm thế giới. Trải nghiệm này nhìn chung là một năng lực nhận thức mà các hình ảnh giác quan, chủ yếu dựa trên thị giác, được tinh lọc và biến đổi bởi tâm trí và ngôn ngữ của chúng ta. Do đó chủ nghĩa duy tâm để lại cho chúng ta quan niệm về vật chất phần lớn là thụ động và bất động, trong khi trí tuệ con người được xem là chủ động và sáng tạo. Được giả định thuộc về hai lĩnh vực riêng biệt, khoảng cách giữa chúng trở thành nguồn gốc không ngừng cho những câu hỏi nhận thức luận hiện đại về việc liệu quan niệm của chúng ta về thế giới có thể tương ứng với thực tại vật chất “bên ngoài” hay không. Điều này cũng nuôi dưỡng thái độ hoài nghi, được thể hiện rõ nét qua “sự nghi ngờ phương pháp luận” của René Descartes, theo đó nhận thức của chúng ta về “thế giới bên ngoài” không thể được tin tưởng như một cơ sở vững chắc cho tri thức; trên thực tế, tất cả có thể chỉ là những cấu trúc trong đầu chúng ta. Nếu không phải là phi thực tế, thì vật chất trên thực tế chỉ trở thành bề mặt mà không có bất kỳ sức mạnh hay tiềm năng đáng kể nào; ý nghĩa và ý tưởng về nó phải được đặt trong chủ thể tư duy (Matthews, 2002: 8–26, Thomas, 2004: 16–18).

Đối với phần lớn triết học hiện đại, lập luận của Immanuel Kant về vấn đề này đã trở nên có ảnh hưởng vô cùng lớn. Mặc dù sự tồn tại của vạn vật là điều không thể nghi ngờ, nhưng theo Kant, chúng ta không thể nắm bắt chúng một cách trực tiếp hoặc theo đúng bản chất của chúng. Là đối tượng của kinh nghiệm, vạn vật chỉ có thể tiếp cận được với chúng ta thông qua cách chúng xuất hiện trước mắt chúng ta, tức là như những transcendental objects đối tượng siêu việt hay những gì ông định nghĩa là phenomena hiện tượng. Ngay cả khi vạn vật ở dạng siêu việt ấy bằng cách nào đó có liên quan đến bản chất “tự thân” của chúng (các danh từ), thì trạng thái nội tại này của chúng vẫn bị loại trừ khỏi kinh nghiệm của chúng ta. Khái niệm và sự hiểu biết của chúng ta chỉ có thể mở rộng đến các hiện tượng, và “do đó chỉ đến những thứ thuộc về giác quan; và ngay khi chúng ta rời khỏi phạm vi này, thì cá khái niệm ấy không còn ý nghĩa gì nữa” (Kant, 1783/2001: 55).

Chính di sản triết học duy tâm này đã bị dự án hiện tượng luận của thế kỷ 20 thách thức. Tuy nhiên, ban đầu, thách thức đó không rõ ràng như vậy. Thực ra, Edmund Husserl, người thường được công nhận là người sáng lập ra hiện tượng luận, ban đầu đã có một quan điểm mà ở một mức độ nào đó có thể được xem là sự phát triển của phương pháp “siêu việt” của Kant, mặc dù được kết hợp với khái niệm về tính ý hướng. Vấn đề cốt lõi đối với Husserl, nói một cách đơn giản, là ý thức của chúng ta liên hệ như thế nào với các đối tượng của nó, từ đó ông đã đề xuất một thứ có thể được mô tả là “khoa học nghiêm ngặt” về chủ thể tính. Để nắm bắt ý nghĩa hoặc bản chất của những đối tượng này, Husserl đã giới thiệu lại khái niệm về Intentionalität tính ý hướng. Nhận thức của chúng ta về một đối tượng luôn luôn có tính ý hướng; nó tồn tại đối với chúng ta như một đối tượng có ý nghĩa của hoặc dành cho một cái gì đó. Tuy nhiên, đối tượng có tính ý hướng này không nên bị nhầm lẫn với vật thể vật lý thực tế; đối tượng có tính ý hướng là một đối tượng lý tưởng chỉ có thể nắm bắt được trong tư duy của chúng ta (thực tế, một số đối tượng chỉ được tưởng tượng mà không có bất kỳ vật chất tương đương nào, ví dụ như ma). Thay vì liên hệ với thế giới thực của các đối tượng, tính ý hướng trở thành một cách thức “siêu việt” để kết nối ý thức của chúng ta với lĩnh vực của các đối tượng lý tưởng có ý nghĩa này. Chính trong quá trình kết nối này mà Husserl đã đề xuất “phương pháp” nổi tiếng của ông về phänomenologische Reduktion phép quy giản hiện tượng luận. “Thái độ tự nhiên” của chúng ta khi tương tác với sự vật trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta quan tâm đến hình dáng, công dụng, vị trí của chúng, v.v. Tuy nhiên, vì thái độ tự nhiên này tiềm ẩn nguy cơ gây nhiễu loạn và lạc đề, nên sự tương tác thực tế với chúng phải được “treo lại”. Để nắm bắt được ý nghĩa cốt lõi của chúng như những đối tượng có tính ý hướng trong ý thức của chúng ta, thì tồn tại thực sự của sự vật phải được “bỏ trong ngoặc” hay quy giản – thứ mà ông gọi là “phép quy giản hiện tượng luận” hay epoché từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “trì hoãn” hoặc “treo lại sự phán xét” (Matthews, 2002: 24–25; Husserl, 1982).

Husserl sử dụng suy tư về một cây táo làm ví dụ. Mặc dù có liên quan đến cây táo thực tế, nhưng nó vẫn khác với thực thể vật lý đang mọc trong vườn. Để làm nổi bật cây táo có tính ý hướng, giả định của chúng ta về cây táo thực tế phải được treo lại. Dù chuyện gì xảy ra với cái cây thật, bất kể nó bị chặt hay bị đốt, thì ý nghĩa của cái cây như một đối tượng có tính ý hướng (“như một cái gì đó có nghĩa”) vẫn còn nguyên vẹn (Husserl, 1982: 214–15). Vì vậy, mặc dù Husserl đã đặt ra khẩu hiệu hiện tượng học, “zu den Sachen selbst” hướng đến bản thân sự vật, nhưng sự vật với tư cách là những thực thể vật chất lại ít được quan tâm hơn so với sự tồn tại siêu việt của chúng như những “đối tượng tư duy”, vốn là Sachen sự vật thực sự trong hiện tượng luận ban đầu của Husserl. Triết học giai đoạn sau của Husserl (vào những năm 1930) đã có một bước ngoặt, ít nhất một phần đưa nó đến gần hơn với cách tiếp cận rất khác biệt và “rối rắm” về tri giác của con người do Martin Heidegger và Maurice Merleau-Ponty đề xuất. (Husserl, 1970) “Bước ngoặt” này ngụ ý việc giới thiệu khái niệm về Thế giới sống (Lebenswelt) như là yếu tố cấu thành nên hiểu biết của con người. Trong khi phép quy giản hiện tượng luận trước đây của ông có thể được xem như một phiên bản khác của sự nghi ngờ về phương pháp luận của Descartes, theo nghĩa ý thức là nền tảng duy nhất chắc chắn cho tri thức, thì giờ đây Husserl nhấn mạnh kinh nghiệm sống thường nhật của chúng ta mới là yếu tố cấu thành nên tri giác của chúng ta về thế giới. Cái cần được In-Klammern-Setzen đặt trong ngoặc không phải là thế giới thực, mà là các phạm trù và khái niệm trừu tượng của khoa học [tr.431] và triết học. Trong khi Husserl (giống như Kant và Descartes) trước đây bận tâm đến việc thế giới tồn tại “trong chúng ta” như thế nào, thì câu hỏi giờ đây trở thành “chúng ta tồn tại trong thế giới như thế nào” (Matthews, 2002:28–29).

Quan niệm về tồn tại như một tồn tại vướng víu đã là điểm khởi đầu đối với Heidegger, cũng như đối với Merleau-Ponty. Engagement Cuộc dấn thân của chúng ta vào thế giới không phải là vấn đề chiêm nghiệm trí tuệ được thực hiện bởi một chủ thể tách rời, mà luôn luôn là cuộc dấn thân trực tiếp và có bối cảnh. Heidegger đã định hình hiện tượng luận như một sự đoạn tuyệt triệt để với truyền thống duy tâm, bao gồm cả di sản khái niệm và ngôn ngữ của nó, cần được thay thế bằng một vốn từ vựng “tân dụng ngữ” được tạo ra một cách thực sự (xem Inwood, 2000). Ví dụ, việc sử dụng một thuật ngữ như chủ thể sẽ phản tác dụng do sự xa cách và tương phản vốn có trong đó (ví dụ: chủ thể-đối tượng), và mặc dù thuật ngữ thay thế Dasein của Heidegger, nghe có vẻ lạ (nghĩa đen là “có đó”), nó chỉ trực tiếp đến vị trí của chúng ta trong thế giới. Hơn nữa, vị trí này không đạt được thông qua một quá trình dần dần. Đó là một điều kiện tất yếu, nơi ngay từ đầu, chúng ta immer schon “luôn-đã”, thấy mình bị “ném” (geworfen) vào giữa cái thế giới này. Vướng víu ấy cũng được thể hiện một cách rõ ràng qua việc Heidegger sử dụng nhiều dấu gạch ngang, chẳng hạn như trong cụm từ Das In-der-Welt-sein “tồn tại-trong-thế giới” của ông, cho thấy một cách khá trực tiếp rằng chúng ta gắn bó chặt chẽ với thế giới mà chúng ta tìm cách hiểu (Heidegger, 1962).

Hiện tượng luận được khởi xướng như một “việc học lại cách nhìn thế giới”, đề xuất sự trở lại với kinh nghiệm sống không bị che khuất bởi các khái niệm và lý thuyết triết học trừu tượng. Nói cách khác, trở lại với cái gần gũi nhất về tồn tại nhưng thường trở nên xa vời nhất trong phân tích (Macann, 1993:164). Trước khi chúng ta suy nghĩ về thế giới một cách có ý thức, mang tính phản tư thì chúng ta đã dấn thân vào một cách thức thực tiễn, theo thói quen tương tác với nó. Trước khi có khái niệm “Tôi tư duy” theo quan điểm của Descartes, cần phải thừa nhận khái niệm “Tôi có thể” hay “Tôi làm”, tức là một trải nghiệm thực tiễn, phi ngôn ngữ chi phối mối quan hệ của chúng ta với thế giới và được thể hiện qua các hoạt động và thực tiễn thường nhật (Merleau-Ponty, 1962:137ff.). Nói chung, hiện tượng luận có thể được mô tả như một nỗ lực chuyên tâm nhằm bộc lộ hoặc làm hiện thân mối quan hệ của chúng ta với thế giới. Điều quan trọng ở đây là mối quan tâm đến cách thế giới tự trình hiện với chúng ta, một sự “trình hiện” không nên bị nhầm lẫn với sự diễn giải chủ quan của chúng ta về nó. Theo Merleau-Ponty, chính bản thân sự vật, “từ chiều sâu của sự im lặng”, là điều mà hiện tượng luận muốn đưa ra biểu đạt (1968:4), và khi làm như vậy, nó cũng phơi bày “lớp kinh nghiệm sống mà qua đó những con người và sự vật khác được trao cho chúng ta lần đầu tiên” (Merleau-Ponty, 1962:57). Hoặc như Heidegger đã diễn đạt, hiện tượng luận là để “cái tự trình hiện được nhìn thấy từ chính nó theo cách mà nó tự trình hiện… thể hiện không gì khác ngoài châm ngôn…zu den Sachen selbst ‘Trở về với bản thân sự vật’” (1962:58).

Cách tiếp cận hiện tượng luận đối với tri giác của con người hàm chứa hai thấu hiểu quan trọng: Thứ nhất, mối liên hệ của chúng ta với thế giới. Chúng ta là những sinh vật vướng víu, về cơ bản tham gia vào các mối quan hệ giữa con người và các sinh vật phi nhân. Thứ hai, chúng ta liên hệ với thế giới không chỉ với tư cách là chủ thể tư duy mà còn là các đối tượng có thân xác – sự tồn tại của chúng ta trong thế giới này là một sự tồn tại cụ thể của sự dấn thân, kết nối chúng ta với thế giới. Như Merleau-Ponty đã nói: Ý thức là sự tồn-tại-hướng-tới-sự-vật thông qua trung gian là cơ thể. Một chuyển động được học khi cơ thể đã hiểu nó, tức là khi nó đã kết hợp nó vào “thế giới” của nó, và việc vận động cơ thể là hướng tới sự vật thông qua nó; đó là cho phép bản thân đáp lại lời kêu gọi của chúng, được tạo ra độc lập với bất kỳ sự biểu hiện nào. Merleau-Ponty (1962:138–39). Mặc dù sự tương tác thể xác của chúng ta với thế giới được thể hiện rõ ràng hơn nhiều trong tác phẩm của Merleau-Ponty so với Heidegger, nhưng trọng tâm của cả hai nhà triết học là nỗ lực phá vỡ sự phân biệt chủ thể-đối tượng được ngụ ý trong các cách tiếp cận trước đây về tri giác. Như Merleau-Ponty gợi ý, đặc tính vật chất của chính bản thể chúng ta (cái “cấu trúc” chung của chúng ta với tư cách “xác thịt”) là điều thiết yếu cho sự hòa nhập của chúng ta với thế giới. Khả năng chạm và được chạm, nhìn và được nhìn, tác động lên sự vật đồng thời bị chúng tác động lên, chỉ có thể xảy ra nếu có một mối quan hệ nào đó, “nếu bàn tay tôi…chiếm vị trí của nó giữa những thứ nó chạm vào, thì theo một nghĩa nào đó, nó là một trong số chúng” (Merleau-Ponty, 1968:133).

Các Vấn Đề Chính

Hiện tượng luận Cảnh quan và Di sản của nó

Những trích đoạn từ hệ tư tưởng hiện tượng luận này đã được đưa vào khảo cổ học vào những năm 1990. Tác phẩm quan trọng liên quan đến khía cạnh này là Hiện tượng luận Cảnh quan (A Phenomenology of Landscape) của Christopher Tilley (1994). Trong tác phẩm này, Tilley đã sử dụng tư duy hiện tượng luận để thoát khỏi những gì ông cho là các phương pháp khách quan tách rời khỏi cảnh quan và không gian. Điều quan trọng ở đây là khái niệm con người là một tồn tại thân xác; tồn tại thân xác của chúng ta là rất quan trọng đối với hiện hữu của chúng ta trên thế giới. Như Thomas (1996:20) đã nêu, đó là một cách tiếp cận thừa nhận rằng cơ thể không chỉ là thứ chúng ta sống trong đó, mà còn là phương tiện để chúng ta trải nghiệm thế giới, thứ mà chúng ta sống thông qua nó. Tri giác của chúng ta về một cảnh quan sẽ luôn thông qua trung gian thân thể và nơi nó được đặt định, nó luôn được trải nghiệm từ một góc nhìn nhất định và cũng bị ảnh hưởng bởi một loạt các tiếp xúc giác quan. Do đó, theo Tilley, cảnh quan nên được nghiên cứu từ bên trong; tức là, như một không gian được trải nghiệm và được nhân hóa, trái ngược với không gian trừu tượng và được trung gian hóa do bản đồ, ảnh chụp từ trên không hoặc công nghệ hỗ trợ máy tính tạo ra. Trải nghiệm cá nhân, việc hiện diện ở đó, không thể thay thế được (xem thêm Tilley, 2004, 2008, 2010). Sử dụng nhà khảo cổ học khảo sát làm người đối thoại chính, trải nghiệm thể chất này cũng được hình dung như một khả tính phương pháp luận để nắm bắt cách thức mà chính những con người trong quá khứ đã trải nghiệm cảnh quan và các di tích được khảo sát.

Tất nhiên, có những mối liên hệ rõ ràng với triết học hiện tượng luận trong khuôn viên tổng quát này về hiện tượng luận cảnh quan của Tilley, xét về khái niệm tồn tại như luôn luôn được đặt định và “bị ném vào”; tức là với tư cách tồn-tại-trong-thế-giới. Tuy nhiên, tác động đáng kể đến cách tiếp cận ban đầu của Tilley, cũng như một công cụ phương pháp luận, là sự nhấn mạnh chủ quan và lấy con người làm trung tâm, điều này làm cho nó khác biệt [tr.432] với hiện tượng luận được phác thảo ở trên (mặc dù bản thân nó cũng không thoát khỏi nhân trung tâm luận). Một khía cạnh quan trọng ở đây là “tính định hướng” và giả định rằng sự định hướng và không gian tính của cơ thể con người cung cấp một nền tảng phổ quát để hiểu cảnh quan và trải nghiệm thể chất của chúng ta về không gian nói chung. Phác thảo cách bước đi trên cảnh quan nước Anh giúp người ta nắm bắt được sự phong phú đầy đủ và đa chiều của nó, Tilley nói: “Những thứ ở phía trước hoặc phía sau bạn, trong tầm tay hoặc ngoài tầm tay, những thứ bên trái và bên phải cơ thể bạn, ở trên và ở dưới, những trải nghiệm không gian cá nhân cơ bản nhất này, đều được chia sẻ với các quần thể tiền sử trong nhân loại tính sinh học chung của chúng ta” (1994:74, xem thêm Tilley, 2004:4–10). Mặc dù bị chỉ trích vì đã thu hẹp cơ thể con người thành một hình mẫu nam giới trung niên, phương Tây đồng nhất, và cũng vì bỏ qua các mối quan hệ xã hội và giá trị văn hóa (để phê bình và đọc thấu đáo về các tác phẩm của Tilley và Thomas, xem Brück, 2005), người ta ít chú ý đến vai trò trung tâm mà nó gán cho chính chủ thể con người và do đó, đến khả tính mà tính định hướng của cơ thể có thể khuất phục trước những gắn kết khác-ngoài-con-người. Như tôi sẽ quay lại ở phần dưới, điều này có thể có cơ sở vững chắc hơn trong tư tưởng hiện tượng luận.

Cuốn sách đầu tiên của Tilley về hiện tượng luận cảnh quan chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư duy hậu quá trình và cuộc đấu tranh cho một “không gian nhân hóa” (trái ngược với “khoa học không gian”) có lẽ đã được tiến hành mà không cần đưa hiện tượng luận vào như một khái niệm mang tính biểu tượng; dù sao thì nó chủ yếu đóng vai trò “phụ trợ”. Thực tế, bất chấp tiêu đề, hiện tượng luận chỉ là một trong số rất nhiều lý thuyết quan trọng được trình bày trong chưa đầy ba trang (Tilley, 1994:11–14). Điều tương tự cũng có thể nói về những diễn giải mà Tilley đưa ra ở đây và trong các cuốn sách tiếp theo của ông về hiện tượng luận cảnh quan (Tilley, 1999, 2004 và 2010), hầu như không khác biệt nhiều so với những diễn giải xuất phát từ các trường phái lý thuyết khác phổ biến trong giới khảo cổ học hậu quá trình vào thời điểm đó. Các công trình cự thạch và nghệ thuật khắc đá vẫn chủ yếu nói về sự đối lập về cấu trúc, tượng trưng cho các nguyên tắc về trật tự xã hội và bản sắc, và các nghi lễ dành cho thần linh và tổ tiên luôn hiện diện. Ví dụ, các cột đá Menhir ở Brittany cho thấy tính cá nhân của những tảng đá có hình dạng tự nhiên này “sẽ góp phần duy trì ý thức về bản sắc xã hội cho những người đã dựng lên chúng và sau đó sống cùng chúng. Mọi người sẽ nhận ra chính mình, nơi họ đang sinh sống và họ là ai thông qua các phẩm tính vật chất và bản sắc của từng cột đá Menhir” (Tilley, 2004:37).

Mặc dù Tilley đã rất nỗ lực trong việc chuyển giao sự chia sẻ kinh nghiệm từ tâm trí sang cơ thể, nhưng sức mạnh trải nghiệm vẫn bám chắc vào cá nhân con người, điều này cũng được khẳng định bởi định nghĩa ban đầu của ông về hiện tượng luận là “sự hiểu biết và mô tả những sự vật như chúng được một chủ thể trải nghiệm” (1994:12). Sự khác biệt giữa quan niệm về hiện tượng luận của ông và quan niệm nêu trên được thể hiện rõ hơn qua đoạn mô tả sau đây: [Hiện tượng luận] nói về mối quan hệ giữa Hữu thể và Tồn-tại-trong-thế giới. Tồn-tại-trong-thế giới nằm trong một quá trình khách thể hóa, trong đó con người khách thể hóa thế giới để tách biệt họ khỏi nó. Điều này dẫn đến việc tạo ra một khoảng cách, một khoảng trống trong không gian. Là con người, chúng ta vừa tạo ra khoảng cách này giữa bản thân và những gì nằm ngoài bản thân, vừa cố gắng thu hẹp khoảng cách này thông qua nhiều phương tiện khác nhau – thông qua tri giác (nhìn, nghe, chạm), hành động và chuyển động của cơ thể, tính ý hướng, cảm xúc và nhận thức nằm trong các hệ thống niềm tin và ra quyết định, hồi ức và đánh giá (1994:12).

Mặc dù điều này có thể hiệu quả như một bản tóm tắt các lý thuyết về hiện thân và khách thể hóa (một phần dựa trên khái niệm của Hegel), vốn phổ biến trong giới khảo cổ học, nhân học và lý thuyết xã hội thời bấy giờ, nhưng khó có thể tìm thấy sự biện minh cho hầu hết điều đó trong các tác phẩm của Heidegger và Merleau-Ponty, vốn được coi là nguồn tham khảo. “Khoảng trống” khách thể hóa, nỗ lực có chủ đích để vượt qua nó, và một Hữu thể tách rời khỏi Tồn-tại-trong-thế giới, chỉ để đề cập đến một số khái niệm rất có vấn đề, khó có thể là những quan niệm phù hợp với dự án hiện tượng luận thế kỷ 20 do các triết gia này đề ra (xem thêm Barrett và Ko, 2009). Điều thú vị là mặc dù có những công trình khác đề xuất các phương pháp tinh tế và bài bản hơn (bao gồm một số tác phẩm sau này của Tilley, đặc biệt là cuốn sách năm 2004 của ông), nhưng chính phương pháp hiện tượng luận đầu tiên này lại trở nên đặc biệt có ảnh hưởng và lan rộng trong các nghiên cứu khảo cổ học và sách giáo khoa ở Anh-Mỹ trong một thời gian dài (tuy nhiên, xem thêm Thomas, 2006, 2008; Karlsson, 1998; Fuglestvedt, 2009; Olsen, 2010 để biết các phương pháp tiếp cận khác). Một lý do cho điều này có thể là tính mới mẻ của nó vẫn được coi là nằm trong khuôn viên tư duy hậu quá trình; nói cách khác, nó không đặt ra thách thức nghiêm trọng nào đối với các phương pháp tiếp cận biểu tượng, cấu trúc luận và kiến ​​tạo xã hội mà có thể dễ dàng được tích hợp vào chúng. Hơn nữa, như Thomas (2008: 300, 304; xem thêm Tilley, 2010: 480) đã lưu ý, làn sóng “khảo cổ học hiện tượng luận” xuất hiện sau cuốn sách của Tilley đã góp phần làm giảm giá trị nội dung phân tích và lý thuyết của nó. Trong nhiều trường hợp, nó trở thành một “kỹ thuật” khác có thể được áp dụng cho một cảnh quan nhất định cùng với những cảnh quan khác và, đơn giản hóa hơn, được sử dụng như một phương tiện thuận tiện để tái tạo suy nghĩ và nhận thức của các dân tộc trong quá khứ. Như Van Dyke và Alcock (2003:7) đã khẳng định một cách thuyết phục, sức mạnh của phương pháp hiện tượng luận là nó “cho phép chúng ta suy nghĩ về cách thức mà các cảnh quan và công trình kiến ​​trúc được trải nghiệm, nhận thức và thể hiện bởi các chủ thể cổ đại”. Một nghịch lý khác là điều này khiến hiện tượng luận dễ bị chỉ trích một cách không đáng có.

Cảnh quan linh hoạt và Thị giác hóa

Quan niệm về cảnh quan xuất phát từ tập hợp các lý thuyết hiện tượng luận ban đầu này mô tả một phạm vi chủ quan và mềm dẻo được con người gắn kết và tạo nên ý nghĩa. Cảnh quan mang tính mở, đa chiều và luôn thay đổi – nói cách khác, luôn tương đối so với quan niệm của các tác nhân trong bối cảnh cụ thể. Theo Barbara Bender, phương pháp hiện tượng luận “cho phép chúng ta xem xét cách chúng ta di chuyển, cách chúng ta gắn ý nghĩa cho các địa điểm, bện tết với ký ức, lịch sử và câu chuyện, tạo ra cảm giác thuộc về nó. Chúng ta đã thấy rằng cảnh quan mang tính thử nghiệm và xốp, lồng ghép và không giới hạn” (Bender, 2002:13–37, nhấn mạnh). Điều đáng chú ý là khi tóm tắt quan niệm hiện tượng luận của Bender và Tilley, Ashmore nhận định rằng đối với hai học giả này, [trang 433] “cảnh quan chủ yếu là các cấu trúc xã hội” (2004:260). Chắc chắn, điều này không có nghĩa đây là một mô tả chính xác (đặc biệt là đối với tác phẩm của Tilley), cũng không có nghĩa là tất cả những người ủng hộ các quan niệm về cảnh quan như vậy đều tự coi mình là đang thực hành hiện tượng luận. Tuy nhiên, khái niệm này hiện diện rõ ràng trong các diễn ngôn ấy, và khó khăn trong việc phân biệt những người công khai ủng hộ hiện tượng luận với những người thừa nhận quan điểm kiến ​​tạo xã hội và duy tâm, với một vài ngoại lệ đáng chú ý, có lẽ là một triệu chứng khá điển hình.

Một đặc điểm quan trọng khác là sự nhấn mạnh vào thị giác và khả năng nhìn. Mặc dù chủ trương cần phải thừa nhận toàn bộ phạm vi trải nghiệm giác quan được thống nhất bởi cơ thể (xem Tilley, 2004, 2010: 29–30), nhưng mối quan tâm đến thị giác và cách thức các hình ảnh và trường thị giác thay đổi theo vị trí của người quan sát đã đạt được một vai trò rất quan trọng trong các nghiên cứu hiện tượng luận thực địa (xem thêm Tilley, 1994; Tilley và cộng sự, 2000; Cummings và Whittle, 2003; Bender và cộng sự, 2007). Mặc dù có thể nói rằng cần giữ một khoảng cách phê phán đối với người quan sát theo chủ nghĩa Descartes, “chỉ lướt qua bề mặt; khảo sát vùng đất từ ​​quan điểm vị kỷ”, và có cái nhìn “hướng đến sự kiểm soát” (Bender, 1999:31; xem thêm Tilley, 2004:14–16, 2008), nhưng nhận thức phê phán này hầu như không đặt câu hỏi về vai trò then chốt của thị giác trong hiện tượng luận phong cảnh Anh (mặc dù xem Thomas, 1993; Brück, 2005). Trên thực tế, có thể lập luận rằng việc nhấn mạnh vào tầm nhìn và góc nhìn có nhiều điểm chung với truyền thống phối cảnh Descartes trong hội họa phong cảnh (xem Jay, 1998). Xét đến tầm quan trọng của siêu hình học phương Tây lấy chủ thể làm trung tâm đối với cái nhìn của người quan sát này, thì sự kết hợp giữa “cái tôi” và “con mắt”, nói cách khác, sự ưu tiên của thị giác đã trở thành một đặc điểm mâu thuẫn khác của hiện tượng luận cảnh quan thời kỳ đầu.

_______________________________

Nguồn: Olsen, B.J., (2024). Phenomenological Archaeology. In: Nikita, E., Rehren, T. (Eds.), Encyclopedia of Archaeology, 2nd Edition, vol. 1, pp. 429–437, London: Academic Press.

References

Alberti, Benjamin, Fowles, Severin, Holbraad, Martin, Marshall, Yvonne, Witmore, Christopher, 2011. “Worlds otherwise” archaeology, anthropology, and ontological difference. Curr. Anthropol. 52 (6), 896–912.

Ashmore, Wendy, 2004. Social archaeologies of landscapes. In: Meskell, Lynn, Preucel, Robert (Eds.), A Companion to Social Archaeology. Blackwell, Oxford, pp. 255–271.

Barrett, John C., Ko, Ilhong, 2009. A phenomenology of landscape: a crisis in British landscape archaeology? J. Soc. Archaeol. 9 (3), 275–294.

Bender, Barbara, 1999. Subverting the Western gaze: mapping alternative worlds. In: Ucko, Peter J., Layton, Robert (Eds.), The Archaeology and Anthropology of landscape. Shaping Your Landscape. Routledge, London, pp. 31–45.

Bender, Barbara, 2002. Landscape and politics. In: Buchli, Victor (Ed.), The Material Culture Reader. Berg, Oxford.

Bender, Barbara, Hamilton, Sue, Tilley, Christopher, 2007. Stone Worlds: Narrativity and Reflexivity in Landscape Archaeology. Left Coast Press, Walnut Creek, Calif.

Bergson, Henri, 2004. Matter and Memory. Dover, Mineola, N.Y.

Bickel, Balthazar, 2000. Grammar and social practice: on the role of “culture” in linguistic relativity. In: Niemeier, Susanne, Dirven, René (Eds.), Evidence for Linguistic Relativity. John Benjamins, Amsterdam, pp. 161–192.

Brück, Joanna, 2005. Experiencing the past: the development of a phenomenological archaeology in British prehistory. Archaeol. Dialogues 12 (1), 45–72.

Cummings, Vicki, Whittle, Alasdair, 2003. Places of Special Virtue: Megaliths in the Neolithic Landscape of Wales. Oxbow Books, Oxford.

Dreyfus, Hubert, 1991. Being-in-the-world: A Commentary on Heidegger’s “Being and Time,” Division 1. MIT Press, Cambridge, Mass.

Edgeworth, Matt, 2013. The clearing: archaeology’s way of opening the world. In: Gonzales Ruibal, Alfredo (Ed.), Reclaiming Archaeology: Beyond the Tropes of Modernity. Routledge, London.

Fuglestvedt, Ingrid, 2009. Phenomenology and the Pioneer Settlement on the Western Scandinavian Peninsula. Bricoleur Press, Lindome, SE.

Gumbrecht, Hans U., 2004. Production of Presence: What Meaning Cannot Convey. Stanford University Press, Stanford, CA.

Hamilakis, Yannis, 2013. Archaeology and the Senses: Human Experience, Memory and Affect. Cambridge University Press, Cambridge.

Hamilton, Sue, Whitehouse, Ruth, Brown, Keri, Combes, Pamela, Herring, Edward, Thomas, Mike Seager, 2006. Phenomenology in practice: towards a methodology for a “subjective” approach. Eur. J. Archaeol. 9 (1), 31–71.

Harman, Graham, 2002. Tool-Being: Heidegger and the Metaphysics of Objects. Open Court, Chicago.

Heidegger, Martin, 1962. Being and Time. Harper and Row, New York.

Heidegger, Martin, 1966. Discourse on Thinking. Harper and Row, New York.

Heidegger, Martin, 1993. The question concerning technology. In: Krell, D. Farell (Ed.), Martin Heidegger: Basic Writings. Harper Collins, San Francisco.

Husserl, Edmund, 1970. The Crisis of European Sciences and Transcendental Philosophy. Northwestern University Press, Evanston, Ill.

Husserl, Edmund, 1982. Ideas Pertaining to a Pure Phenomenology and to a Phenomenological Philosophy. Kluwer Academic, Dordrecht, Netherlands.

Inwood, Michael, 2000. A Heidegger Dictionary. Blackwell, Oxford.

Jay, Martin, 1998. Scopic regimes of modernity. In: Mirzoeff, Nicholas (Ed.), The Visual Culture Reader. Routledge, London.

Kant, Immanuel, 1783/2001. Prolegomena to any future metaphysics. Hackett, Indianapolis.

Karlsson, Håkan, 1998. Re-thinking Archaeology. Gotarc series B, Archaeological Theses 8. Department of Archaeology. University of Gothenburg, Gothenburg.

Matthews, Eric, 2002. The Philosophy of Merleau-Ponty. McGill-Queen’s University Press, Montreal.

Macann, Christopher, 1993. Four Phenomenological Philosophers: Husserl, Heidegger, Sartre, Merleau-Ponty. Routledge, London.

Merleau-Ponty, Maurice, 1962. The Phenomenology of Perception. Routledge & Kegan Paul, London.

Merleau-Ponty, Maurice, 1968. The Visible and the Invisible. Northwestern University Press, Evanston, IL.

Olsen, Bjørnar, 2010. In Defense of Things: Archaeology and the Ontology of Objects. AltaMira Press, Lanham, MD.

Olsen, Bjørnar, Burström, Mats, DeSilvey, Caitlin, Pétursdóttir, þóra (Eds.), 2021. After Discourse: Things, Affects, Ethics. Routledge, London.

Pétursdóttir, þora, 2012. Concrete matters: ruins of modernity and the things called heritage. J. Soc. Archaeol. 13 (1), 31–53.

Sharp, Lauriston, 1952. Steel axes for stone-age Australians. Hum. Organ. 11 (2), 17–22.

Svestad, Asgeir, 2013. What happened in Neiden? On the question of reburial ethics. Norweg. Archaeol. Rev. 46 (2), 194–222.

Thomas, Julian, 1993. The politics of vision and the archaeologies of landscape. In: Bender, Barbara (Ed.), Landscape: Politics and Perspectives. Berg, Oxford.

Thomas, Julian, 1996. Time, Culture and Identity: An Interpretive Archaeology. Routledge, London.

Thomas, Julian, 2004. Archaeology and Modernity. Routledge, London.

Thomas, Julian, 2006. Phenomenology and material culture. In: Tilley, Chris, Keane, Webb, Kuechler, Susanne, Rowlands, Mike, Spyer, Patricia (Eds.), Handbook of Material Culture. Sage Press, London.

Thomas, Julian, 2008. Archaeology, landscape and dwelling. In: David, Bruno, Thomas, Julian (Eds.), Handbook of Landscape Archaeology. Left Coast Press, Walnut Creek, CA.

Thrift, Nigel, 2007. Non-representational Theory; Space, Politics, Affects. Routledge, London.

Tienda Palop, Lydia, Currás, Brais X., 2019. The dignity of the dead: ethical reflections on the archaeology of human remains. In: Squires, Kirsty, Ericckson, David, Márquez-Grant, Nicolas (Eds.), Ethical Approaches to Human Remains. Springer, Cham, pp. 19–37.

Tilley, Christopher, 1994. A Phenomenology of Landscape. Berg, Oxford.

Tilley, Christopher, 1999. Metaphor and Material Culture. Blackwell, Oxford.

Tilley, Christopher, 2004. The Materiality of Stone: Explorations in Landscape Phenomenology. Berg, Oxford.

Tilley, Christopher, 2008. Phenomenological approaches to landscape archaeology. In: David, Bruno, Thomas, Julian (Eds.), Handbook of Landscape Archaeology. Left Coast Press, Walnut Creek, CA.

Tilley, Christopher, 2010. Interpreting Landscapes: Geologies, Topographies, Identities. Left Coast Press, Walnut Creek, CA.

Tilley, Christopher, 2017. Landscape in the Longue Durée. UCL Press, London.

Tilley, Christopher, 2019. Introduction: materialising the urban landscape. In: Tilley, Christopher (Ed.), London’s Urban Landscape. Another Way of Telling. UCL Press, London.

Tilley, Christopher, Cameron-Daum, Kate, 2017. An Anthropology of Landscape. UCL Press, London.

Tilley, Christopher, Hamilton, Sue, Bender, Barbara, 2000. Art and the re-presentation of the past. J. Roy. Anthropol. Inst. 6 (1), 36–62.

Tonner, Philip, 2018. Dwelling: Heidegger, Archaeology, Mortality. Routledge, London.

Van Dyke, Ruth, 2014. Phenomenology in archaeology. In: Smith, Claire (Ed.), Encyclopedia of Global Archaeology. Springer, New York, NY.

Van Dyke, Ruth, Alcock, Susan, 2003. Archaeologies of memory: an introduction. In: Van Dyke, Ruth, Alcock, Susan (Eds.), Archaeologies of Memory. Blackwell, Oxford, pp. 1–14.

Vennatrø, Ragnar, Høgseth, Harald B., 2021. Craft as More-Than-Human. Practice-led research in a posthumanist perspective. FormAkademisk 14 (2), 1–13.

Witmore, Christopher, 2020. Objecthood. In: Wilkie, Laurie, Chenoweth, John (Eds.), A Cultural History of Objects: Modern Period, 1900 to Present. Bloomsbury, London.

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Vụ bê bối Social Text chứng và không chứng điều gì

Alan D. Sokal

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tôi không viết tác phẩm này chỉ với mục đích làm sáng tỏ những sai lầm trong việc giải thích kinh điển. Mục tiêu lớn hơn của tôi là những người đương thời – trong những hành động thỏa mãn ước vọng lặp đi lặp lại – đã dụng đoạt những kết luận từ triết học khoa học để phục vụ cho nhiều mục đích xã hội và chính trị mà những kết luận đó không phù hợp. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền, những người biện hộ cho tôn giáo (bao gồm cả các nhà khoa học theo thuyết sáng tạo), những người theo chủ nghĩa phản văn hóa, những người theo chủ nghĩa tân bảo thủ và một loạt những người đồng hành kỳ lạ khác đã tuyên bố tìm thấy những luận điểm quan trọng cho mục đích của họ, chẳng hạn, trong tính vô ước và tính không xác định rõ ràng của các lý thuyết khoa học. Việc thay thế ý tưởng coi chân lý và bằng chứng là quan trọng bằng ý tưởng coi mọi thứ đều quy về lợi ích và quan điểm chủ quan – chỉ đứng sau các chiến dịch chính trị của Mỹ – là biểu hiện nổi bật và nguy hiểm nhất của phản-tri thức luận trong thời đại chúng ta. - Larry Laudan, Khoa học và Tương đối luận [1]

Tôi thú nhận mình hơi xấu hổ khi được yêu cầu đóng góp một bài luận giới thiệu cho tuyển tập các nghiên cứu phê bình về lịch sử, xã hội học và triết học khoa học này. Xét cho cùng, tôi không phải là nhà sử học, nhà xã hội học hay nhà triết học; tôi chỉ là một nhà vật lý lý thuyết với sở thích nghiệp dư về triết học khoa học và có lẽ một số kỹ năng tư duy mạch lạc khiêm tốn. Đồng sáng lập Social Text, Stanley Aronowitz, thật đáng tiếc, hoàn toàn đúng khi gọi tôi là “thiếu hiểu biết và giáo dục-nửa vời”.[2] Đóng góp của riêng tôi vào lĩnh vực này bắt đầu, như độc giả chắc chắn đã biết, bằng một thí nghiệm không chính thống (và phải thừa nhận là không được kiểm soát). Tôi đã viết một bài giễu nhại phê bình khoa học hậu hiện đại, có tựa đề “Vượt qua các gianh giới: Hướng tới một Chuyển đổi Tường giải về Lý thuyết Hấp dẫn Lượng tử”, và gửi nó đến tạp chí Nghiên cứu-văn hóa Social Text (tất nhiên là không nói với các biên tập viên rằng đó là một giễu nhại). Họ đã xuất bản nó như một bài báo học thuật nghiêm túc trong số đặc biệt mùa xuân năm 1996 dành riêng cho cái mà họ gọi là “Cuộc chiến Khoa học”.[3] Ba tuần sau, tôi đã vạch trần cú chơi sỏ trong một bài báo trên Lingua Franca[4], và mọi chuyện trở nên hỗn loạn.[5] Trong bài luận này, tôi muốn thảo luận ngắn gọn về những gì tôi nghĩ rằng Social Text Affair vụ “Bê bối Văn bản Xã hội” chứng minh và không chứng minh. Nhưng trước hết, để tránh bị cáo buộc là một nhà vật lý kiêu ngạo, người bác bỏ mọi sự can thiệp xã hội học vào “lãnh địa” của chúng ta, tôi muốn trình bày một số điều tích cực mà tôi nghĩ rằng các nghiên cứu xã hội về khoa học có thể đạt được. Tôi hy vọng rằng các đề xuất sau đây không gây tranh cãi:

1) Khoa học là một nỗ lực của con người, và giống như bất kỳ nỗ lực nào khác, nó xứng đáng được phân tích xã hội một cách nghiêm túc. Những vấn đề nghiên cứu nào được coi là quan trọng; quỹ nghiên cứu được phân bổ như thế nào; ai có được uy tín và quyền lực; chuyên môn khoa học đóng vai trò gì trong các cuộc tranh luận về chính sách công; tri thức khoa học được thể hiện dưới hình thức nào trong công nghệ, và vì lợi ích của ai - tất cả những vấn đề này đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố chính trị, kinh tế và ở một mức độ nào đó là ý thức hệ, cũng như bởi logic nội tại của quá trình nghiên cứu khoa học. Do đó, chúng là những chủ đề phong phú cho nghiên cứu thực nghiệm của các nhà sử học, xã hội học, khoa học chính trị và kinh tế học.

2) Ở một cấp độ tinh tế hơn, ngay cả nội dung của cuộc tranh luận khoa học - những loại lý thuyết nào có thể được hình thành và xem xét, những tiêu chí nào được sử dụng để quyết định giữa các lý thuyết cạnh tranh - cũng bị hạn chế một phần bởi thái độ tư duy hiện hành, mà đến lượt nó lại phát sinh một phần từ các yếu tố lịch sử sâu xa. Nhiệm vụ của các nhà sử học và xã hội học khoa học là phân loại, trong mỗi trường hợp cụ thể, vai trò của các yếu tố “nội tại” và “ngoại tại” trong việc xác định tiến trình phát triển khoa học. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà khoa học có xu hướng nhấn mạnh các yếu tố “nội tại” trong khi các nhà xã hội học có xu hướng nhấn mạnh các yếu tố “ngoại tại”, chỉ vì mỗi nhóm có xu hướng hiểu biết kém về các khái niệm của nhóm kia. Nhưng những vấn đề này hoàn toàn có thể được giải quyết bằng một cuộc tranh luận hợp lý.

3) Không có gì sai khi nghiên cứu được định hướng bởi một cam kết chính trị, miễn là cam kết đó không làm cho nhà nghiên cứu mù quáng trước những sự thật bất tiện. Do đó, có một truyền thống lâu đời và đáng trân trọng về phê bình khoa học chính trị-xã hội[6], bao gồm cả những phê bình chống phân biệt chủng tộc đối với giả-khoa học nhân học cùng thuyết ưu sinh[7] và những phê bình nữ quyền đối với tâm lý học và một số phần của y học và sinh học.[8] Những phê bình này thường tuân theo một mô thức tiêu chuẩn: Đầu tiên, người ta chỉ ra, bằng cách sử dụng các lập luận khoa học thông thường, tại sao nghiên cứu được đề cập lại có sai sót theo các chuẩn mực thông thường của khoa học lương thiện; sau đó, và chỉ sau đó, người ta mới cố gắng giải thích làm thế nào những định kiến ​​xã hội của các nhà nghiên cứu (có thể là vô thức) đó đã khiến họ vi phạm các chuẩn mực này. Tất nhiên, mỗi phê bình như vậy phải tự đứng vững hoặc sụp đổ dựa trên giá trị của nó; có ý định chính trị tốt không đảm bảo rằng phân tích của một ai đó sẽ cấu thành khoa học, xã hội học hoặc sử học lương thiện. Nhưng tôi nghĩ rằng cách tiếp cận hai-bước tổng quát này là hợp lý; và các nghiên cứu thực nghiệm loại này, nếu được tiến hành với sự nghiêm túc về mặt trí tuệ, có thể làm sáng tỏ những điều kiện xã hội mà theo đó khoa học lương thiện (được định nghĩa chuẩn mực là việc tìm kiếm chân lý hoặc ít nhất là cũng là những cận chân lý về thế giới) được thúc đẩy hoặc bị cản trở.[9]

Bây giờ, tôi không muốn khẳng định rằng ba điểm này exhaust tận quán được toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu hiệu quả cho các nhà sử học và xã hội học khoa học, nhưng chúng chắc chắn vạch ra được một lĩnh vực rộng lớn và quan trọng. Tuy nhiên, một số nhà xã hội học và trí thức văn chương trong hai thập kỷ qua đã trở nên tham lam hơn: nói một cách đại khái, họ muốn tấn công vào quan niệm chuẩn mực về nghiên cứu khoa học như một cuộc tìm kiếm các chân lý hoặc cận chân lý về thế giới; họ muốn coi khoa học chỉ là một thực tiễn xã hội khác, tạo ra các “tự sự” và “thần thoại” không có giá trị hơn những gì được tạo ra bởi các thực tiễn xã hội khác; và một số người trong số họ muốn lập luận thêm rằng những thực tiễn xã hội này mã hóa một thế giới quan tư sản và/hoặc nam tính luận hay Châu Âu-trung tâm. Tất nhiên, giống như tất cả các bản tóm tắt ngắn gọn, bản tóm tắt này là một sự đơn giản hóa quá mức; và trong mọi trường hợp, không có học thuyết chính thống nào trong xã hội học khoa học “mới”, chỉ có một loạt các cá nhân và trường phái khác nhau đến mức khó hiểu. Quan trọng hơn, nhiệm vụ tóm tắt ở đây trở nên khó khăn hơn bởi thực tế là tài liệu này thường mơ hồ theo những cách quan trọng về những tuyên bố cơ bản nhất của nó (như tôi sẽ minh họa sau bằng cách sử dụng các trường hợp của Latour và Barnes-Bloor). Tuy nhiên, tôi nghĩ hầu hết các nhà khoa học và triết gia khoa học sẽ kinh ngạc khi biết rằng “thế giới tự nhiên có vai trò nhỏ hoặc không tồn tại trong việc kiến tạo tri ​​thức khoa học”, như nhà xã hội học khoa học nổi tiếng Harry Collins khẳng định[10]; hoặc “thực tại là hệ quả chứ không phải nguyên nhân” của cái gọi là “sự kiến ​​tạo xã hội của các sự kiện”, như Bruno Latour và Steve Woolgar khẳng định.[11]     

Sau phần mở đầu này, giờ tôi muốn xem xét những gì (nếu có) mà “Vụ Bê bối Văn bản Xã hội” chứng minh - và cả những gì nó không chứng minh, bởi vì một số người ủng hộ quá nhiệt tình của tôi đã tuyên bố quá nhiều. Trong phân tích này, điều quan trọng là phải phân biệt giữa những gì có thể suy ra từ việc xuất bản và những gì có thể suy ra từ nội dung của bài báo. Từ việc xuất bản bài giễu nhại của tôi, tôi nghĩ rằng không thể suy ra được nhiều điều. Nó không chứng minh rằng toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, hay nghiên cứu văn hóa về khoa học - chứ đừng nói đến xã hội học khoa học - là vô nghĩa. Nó cũng không chứng minh rằng các tiêu chuẩn trí tuệ trong các lĩnh vực này nói chung là lỏng lẻo. (Điều này có thể đúng, nhưng cần phải được chứng minh trên những cơ sở khác.) Nó chỉ chứng minh rằng các biên tập viên của một tạp chí khá nhỏ đã lơ là nhiệm vụ trí tuệ của họ, bằng cách xuất bản một bài báo về vật lý lượng tử mà họ thừa nhận là họ không thể hiểu, mà không buồn lấy ý kiến ​​từ bất kỳ ai am hiểu về vật lý lượng tử, chỉ vì nó có nguồn gốc từ một “đồng minh có uy tín” (như đồng biên tập viên của Social Text, Bruce Robbins, sau này đã thẳng thắn thừa nhận[12]), tâng bốc những định kiến ​​về tư tưởng của các biên tập viên và tấn công “kẻ thù” của họ.[13] Mà người ta có thể đáp lại một cách chính đáng: Vậy thì sao?[14]

Câu trả lời xuất phát từ việc xem xét nội dung của bài giễu nhại. Về vấn đề này, một điểm quan trọng đã bị bỏ qua trong phần lớn cuộc thảo luận về bài viết của tôi: Đúng vậy, bài báo cực kỳ hài hước - tôi không khiêm tốn, tôi tự hào về tác phẩm của mình - nhưng những phần hài hước nhất trong bài ấy lại không phải do tôi viết. Thay vào đó, chúng là những trích dẫn trực tiếp từ các bậc thầy hậu hiện đại, những người mà tôi dành những lời ngợi ca móc máy. Trên thực tế, bài báo được cấu trúc xung quanh những trích dẫn ngớ ngẩn nhất mà tôi có thể tìm thấy về toán học, vật lý (kể cả triết học toán học và vật lý) từ một số nhà trí thức nổi bật nhất của Pháp và Mỹ; đóng góp duy nhất của tôi là tạo ra một lập luận vô nghĩa liên kết những trích dẫn này với nhau và ca ngợi chúng. Điều này, tất nhiên, liên quan đến việc ủng hộ một mớ hỗn độn không mạch lạc của các ý tưởng thời thượng - lý thuyết văn học giải cấu trúc, sinh thái học Thời đại Mới, cái gọi là “triết lý nhận thức nữ quyền”[15], triết học khoa học kiến ​​tạo xã hội cực đoan, thậm chí cả phân tâm học Lacanian - nhưng điều đó chỉ làm cho bài giễu móc càng thêm thú vị. Thật vậy, trong một số trường hợp, tôi đã giễu những quan điểm cực đoan, mơ hồ mà chính tôi cũng tin, nhưng dưới hình thức ôn hòa và chính xác hơn.

Vậy, chính xác thì tôi muốn nói gì khi dùng từ “ngớ ngẩn”? Dưới đây là một phân loại sơ lược: Thứ nhất, đó là những phát ngôn vô nghĩa hoặc phi lý, việc khoe khoang tên tuổi, và phô trương tri ​​thức giả tạo. Thứ hai, đó là lối suy nghĩ cẩu thảtriết lý nghèo nàn, thường được kết hợp với nhau (mặc dù không phải lúc nào cũng vậy) dưới hình thức tương đối luận hời hợt. Có lẽ, loại thứ nhất sẽ không quan trọng đến vậy nếu chúng ta đang bàn về một vài trợ lý giáo sư văn học tự biến mình thành trò hề khi thuyết giảng về cơ học lượng tử hay định lý Gödel. Nó trở nên quan trọng hơn bởi vì chúng ta đang bàn về những tri thức quan trọng, ít nhất là theo số lượng sách được trưng bày trong khu vực nghiên cứu văn hóa của các hiệu sách đại học. Ví dụ, ở đây, Gilles Deleuze và Félix Guattari đang trình bày về lý thuyết hỗn độn: Làm chậm lại là đặt ra một giới hạn trong hỗn độn mà tất cả các tốc độ đều phải tuân theo, sao cho chúng tạo thành một biến được xác định là abscissa hoành độ, đồng thời giới hạn tạo thành một hằng số phổ quát không thể vượt quá (ví dụ, maximum degree of contraction mức độ co rút tối đa). Do đó, các hàm đầu tiên là giới hạn, biến số, và tham chiếu là mối quan hệ giữa các giá trị của biến số hoặc, sâu sắc hơn, mối quan hệ của biến số, như hoành độ của tốc độ, với giới hạn.[16] Và còn nhiều hơn thế nữa -- Jacques Lacan và Luce Irigaray về tôpô vi phân, Jean-François Lyotard về vũ trụ học, Michel Serres về thời gian phi tuyến tính -- nhưng tôi xin phép không làm mất đi sự thú vị.[17] (Nhân tiện, nếu bạn lo lắng rằng tôi đang trích dẫn ngoài ngữ cảnh, chỉ cần theo dõi chú thích của tôi, tra cứu bản gốc và tự quyết định. Bạn sẽ thấy rằng những đoạn này thậm chí còn tệ hơn khi có ngữ cảnh so với khi không có ngữ cảnh.) Và không phải tất cả những điều vô nghĩa đều có nguồn gốc từ Pháp. Tôi nghĩ rằng những người am hiểu về các tác phẩm thời thượng của Mỹ trong Nghiên cứu Văn hóa Khoa học sẽ tìm thấy nhiều điều để suy ngẫm.

Được thôi, nhóm Nghiên cứu Khoa học có thể phản đối: lẽ ra một số bạn bè của chúng ta trong Khoa Tiếng Anh coi Lacan hoặc Deleuze là nghiêm túc, nhưng không ai trong cộng đồng của chúng ta làm vậy. Đúng vậy; nhưng sau đó hãy xem phân tích ký hiệu học của Bruno Latour về lý thuyết tương đối, được xuất bản trong Nghiên cứu Xã hội Khoa học, trong đó “văn bản của Einstein được hiểu là một đóng góp cho xã hội học ủy quyền”.[18] Tại sao lại như vậy? Bởi vì Latour thấy cuốn sách phổ biến của Einstein về thuyết tương đối đầy những tình huống trong đó tác giả ủy quyền cho một người quan sát đứng trên sân ga và thực hiện một số phép đo nhất định, và một người quan sát khác đứng trên tàu và thực hiện một số phép đo nhất định; và tất nhiên kết quả sẽ không tuân theo các phép biến đổi Lorentz trừ khi hai người quan sát làm theo những gì họ được bảo! Bạn nghĩ tôi phóng đại sao? Latour nhấn mạnh nỗi ám ảnh của Einstein về việc truyền tải thông tin thông qua các phép biến đổi mà không làm biến dạng; niềm đam mê của ông đối với sự chồng chất chính xác của các phép đo; nỗi sợ hãi của ông trước ý tưởng cho rằng những người quan sát được cử đi có thể phản bội, có thể giữ lại đặc quyền và gửi báo cáo không thể được sử dụng để mở rộng tri ​​thức của chúng ta; mong muốn của ông là kỷ luật những người quan sát được ủy quyền và biến họ thành những thiết bị phụ thuộc chỉ biết quan sát sự trùng khớp của bàn tay và các vết khía ...[19] Hơn nữa, vì Latour không hiểu ý nghĩa của thuật ngữ “khung tham chiếu” trong vật lý - ông nhầm lẫn nó với actor in semiotics “tác nhân” trong ký hiệu học - nên ông tuyên bố rằng thuyết tương đối không thể xử lý các quy luật biến đổi giữa hai khung tham chiếu, mà cần ít nhất ba: Nếu chỉ có một, hoặc thậm chí hai, khung tham chiếu, thì không thể tìm ra giải pháp ... Giải pháp của Einstein là xem xét ba tác nhân: một trên tàu, một trên bờ kè và một tác nhân thứ ba, tác giả [người phát ngôn] hoặc một trong những người đại diện của nó, người cố gắng chồng chất các quan sát được mã hóa do hai người kia gửi lại.[20]   

Cuối cùng, Latour bằng cách nào đó đã đưa ra ý tưởng cho rằng thuyết tương đối liên quan đến các vấn đề do vị trí tương đối (chứ không phải chuyển động tương đối) của người quan sát khác nhau đặt ra. (Tất nhiên, ngay cả từ “kẻ quan sát” ở đây cũng có thể gây hiểu lầm; nó thuộc về phương pháp sư phạm của thuyết tương đối, chứ không phải bản thân lý thuyết.) Đây là tóm tắt của Latour về ý nghĩa của thuyết tương đối: với điều kiện hai thuyết tương đối [đặc biệt và tổng quát] được chấp nhận, nhiều khung tham chiếu với ít đặc quyền hơn có thể được tiếp cận, quy giản, tích lũy và kết hợp, kẻ quan sát có thể được phân công đến một vài nơi khác trong vô cùng lớn (vũ trụ) và vô cùng nhỏ (electron), và các kết quả đo mà chúng/họ gửi sẽ có thể hiểu được. Cuốn sách của ông [Einstein] hoàn toàn có thể được đặt tên là: New Instructions for Bringing Back Long-Distance Scientific Travellers “Hướng dẫn mới để đưa các nhà khoa học du hành đường dài trở về”.[21] Tôi không cần phải theo đuổi điểm này: Bài luận của Giáo sư Huth trong tập này cung cấp một phân tích tỉnh táo và chi tiết về những nhầm lẫn của Latour về thuyết tương đối. Tóm lại, Latour đã viết 40 trang đầy những hiểu lầm hài hước về một lý thuyết mà ngày nay thường được giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất đại học thông minh, và tạp chí Social Studies of Science Nghiên cứu Xã hội về Khoa học lại coi đó là một đóng góp học thuật đáng giá.

Vậy đấy, thế là đủ ví dụ về những điều vô lý (mặc dù còn nhiều ví dụ khác nữa). Về mặt trí tuệ, tôi nghĩ điều thú vị hơn cả là lối suy nghĩ cẩu thả và thứ tương đối luận hời hợt đã trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực Nghiên cứu Khoa học (mặc dù nhìn chung không phổ biến trong giới triết gia khoa học nghiêm túc). Khi phân tích những bài viết này, người ta thường thấy những khẳng định nghe có vẻ cấp tiến nhưng ý nghĩa lại mơ hồ, và có thể được hiểu theo hai cách: một là thú vị, cấp tiến và hoàn toàn sai; hai là nhàm chán và đúng một cách tầm thường. Hãy để tôi bắt đầu lại với Latour, lần này trích từ cuốn sách Science in Action Khoa học Hành động của ông, trong đó ông phát triển bảy Quy tắc Phương pháp luận dành cho nhà xã hội học khoa học. Đây là Quy tắc Phương pháp thứ ba của ông: Vì việc giải quyết một cuộc tranh cãi là nguyên nhân của sự biểu hiện của Tự nhiên, chứ không phải là hệ quả, nên chúng ta không bao giờ có thể sử dụng kết quả - Tự nhiên - để giải thích cách thức và lý do tại sao một cuộc tranh cãi đã được giải quyết.[22]

Lưu ý cách Latour chuyển từ “sự biểu hiện của Tự nhiên” trong nửa đầu câu này tout court gọn lỏn sang “Tự nhiên” một cách chung chung trong nửa sau mà không có bình luận hay tranh luận nào. Nếu chúng ta đọc “sự biểu hiện của Tự nhiên” trong cả hai nửa, thì chúng ta sẽ có chân lý hiển nhiên là các biểu hiện của nhà khoa học về Tự nhiên (tức là các lý thuyết của họ) đạt được thông qua một quá trình xã hội, và quá trình cũng như kết quả của quá trình xã hội đó không thể được giải thích đơn giản bằng kết quả của nó. Mặt khác, nếu chúng ta coi trọng từ “Bản chất” trong nửa sau, được liên kết với từ “kết quả”, thì chúng ta sẽ có tuyên bố rằng thế giới bên ngoài được tạo ra bởi các cuộc đàm phán của các nhà khoa học: một tuyên bố kỳ lạ, ít nhất là vậy, vì thế giới bên ngoài đã tồn tại lâu hơn loài người khoảng 10 tỷ năm.[23] Cuối cùng, nếu chúng ta coi trọng từ “Bản chất” trong nửa sau nhưng loại bỏ từ “kết quả” đứng trước nó, thì chúng ta sẽ có hoặc (a) tuyên bố yếu (và hiển nhiên đúng) rằng diễn trình và kết quả của một cuộc tranh luận khoa học không thể được giải thích chỉ thuần bằng bản chất của thế giới bên ngoài (rõ ràng một vài yếu tố xã hội đóng vai trò, nếu chỉ là trong việc xác định những thí nghiệm nào khả thi về mặt công nghệ tại một thời điểm nhất định, chưa kể đến những ảnh hưởng xã hội khác tinh tế hơn); hoặc (b) tuyên bố mạnh (và rõ ràng là giả) rằng bản chất của thế giới bên ngoài không đóng vai trò nào trong việc hạn chế diễn biến và kết quả của một cuộc tranh luận khoa học.[24]

Mặt khác, nếu chúng ta áp dụng Quy tắc diễn giải đầu tiên của văn bản học thuật hậu hiện đại – “không câu nào có nghĩa đen như những gì nó nói” – thì có lẽ chúng ta có thể hiểu được câu nói của Latour. Hãy đọc nó không phải như một nguyên tắc triết học, mà là một nguyên tắc phương pháp luận dành cho một nhà xã hội học khoa học – chính xác hơn, dành cho một nhà xã hội học khoa học không có đủ năng lực khoa học để đánh giá độc lập xem liệu dữ liệu thực nghiệm/quan sát có thực sự chứng minh cho những kết luận mà cộng đồng khoa học đã rút ra hay không. (Nguyên tắc này đặc biệt đúng khi nhà xã hội học nghiên cứu khoa học đương đại, bởi vì trong trường hợp này, ngoài cộng đồng khoa học đang được nghiên cứu, không có cộng đồng khoa học nào khác có thể đưa ra đánh giá độc lập như vậy. Ngược lại, đối với các nghiên cứu về quá khứ xa xôi, người ta luôn có thể xem xét những gì các nhà khoa học sau này đã học được, bao gồm cả kết quả từ các thí nghiệm vượt ra ngoài những thí nghiệm ban đầu được thực hiện.) Trong tình huống như vậy, nhà xã hội học sẽ dễ hiểu là ngần ngại nói rằng “cộng đồng khoa học đang được nghiên cứu đi đến kết luận X bởi vì X là cách thế giới thực sự vận hành” - ngay cả khi trên thực tế X là cách thế giới vận hành và đó là lý do các nhà khoa học tin vào điều đó - bởi vì nhà xã hội học không có cơ sở độc lập nào để tin rằng X là cách thế giới thực sự vận hành ngoài việc cộng đồng khoa học đang được nghiên cứu đã tin vào điều đó.

Tất nhiên, kết luận hợp lý rút ra từ ngõ cụt này là các nhà xã hội học khoa học không nên nghiên cứu các tranh cãi khoa học mà họ thiếu năng lực để đưa ra đánh giá độc lập về các sự kiện, nếu không có cộng đồng khoa học nào khác (ví dụ, về mặt lịch sử sau này) làm chỗ dựa chân chính giúp họ đưa ra đánh giá độc lập như vậy. Nhưng hiển nhiên là Latour và các đồng nghiệp của ông sẽ không thích kết luận này, bởi vì mục tiêu của họ, như Steve Fuller đã nói, là “sử dụng các phương pháp cho phép họ hiểu được cả ‘cơ chế vận hành nội tại’ và ‘đặc điểm bên ngoài’ của khoa học mà không cần phải là chuyên gia trong các lĩnh vực nghiên cứu của họ.”[25] Đối với tôi, dường như nhiều suy nghĩ cẩu thả trong Nghiên cứu Khoa học, giống như trong Quy tắc Phương pháp thứ ba của Latour, liên quan đến việc gộp chung các khái niệm cần được phân biệt. Thông thường, việc gộp chung này được thực hiện bằng cách áp đặt thuật ngữ: tác giả cố ý sử dụng một từ hoặc cụm từ cũ theo một nghĩa hoàn toàn mới, do đó làm suy yếu bất kỳ nỗ lực nào giúp phân biệt giữa hai nghĩa. Mục tiêu rõ ràng ở đây là dựa vào định nghĩa để đạt được những gì người ta không thể đạt được bằng logic. Ví dụ, người ta thường thấy những cụm từ như “sự kiến ​​tạo xã hội của các sự kiện”[26] cố tình bỏ qua sự khác biệt giữa các sự kiện và tri ​​thức của chúng ta về chúng. Hoặc lấy một ví dụ khác, các nhà triết học thường hiểu từ “tri thức” có nghĩa là “niềm tin đúng đắn được chứng minh” hoặc một khái niệm tương tự; nhưng Barry Barnes và David Bloor định nghĩa lại “tri thức” có nghĩa là “bất kỳ hệ thống niềm tin nào được chấp nhận tập thể”.[27] Giờ đây, có lẽ Barnes và Bloor không quan tâm đến việc tìm hiểu xem một niềm tin nhất định có đúng hay được chứng minh một cách hợp lý hay không[28]; nhưng nếu họ nghĩ rằng những thuộc tính này của niềm tin không liên quan đến mục đích của họ, thì họ nên nói rõ điều đó và giải thích lý do tại sao, mà không làm rối vấn đề bằng cách định nghĩa lại các từ.[29]

Nói chung hơn, đối với tôi, dường như nhiều suy nghĩ cẩu thả trong Nghiên cứu Khoa học liên quan đến việc gộp hai hoặc nhiều cấp độ phân tích sau đây: 1). Bản thể luận. Những đối tượng nào tồn tại trên thế giới? Những phát biểu nào về các đối tượng này là chân? 2). Nhận thức luận. Làm thế nào con người có thể có được tri ​​thức chân lý về thế giới? Làm thế nào họ có thể đánh giá độ tin cậy của tri ​​thức đó? 3). Xã hội học Nhận thức. Trong bất kỳ xã hội nào bị ảnh hưởng (hoặc quyết định) bởi các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng Các chân lý được con người biết (hoặc có thể biết) đến mức độ nào? Câu hỏi tương tự đối với những phát biểu sai lầm được tin tưởng một cách sai trái. 4). Đạo đức cá nhân. Nhà khoa học (hoặc nhà công nghệ) nên thực hiện (hoặc từ chối thực hiện) những loại nghiên cứu nào? 5). Đạo đức xã hội. Xã hội nên khuyến khích, trợ cấp hoặc tài trợ công khai (hoặc ngược lại, nên ngăn cản, đánh thuế hoặc cấm) những loại nghiên cứu nào?

Những câu hỏi này rõ ràng có liên quan đến nhau - ví dụ, nếu không có chân lý khách quan nào về thế giới, thì không có nhiều ý nghĩa khi hỏi làm thế nào người ta có thể biết những chân lý (không tồn tại) đó - nhưng chúng lại khác biệt về mặt khái niệm. Ví dụ, Sandra Harding[30] (trích dẫn công trình của Paul Forman[31]) chỉ ra rằng nghiên cứu của Mỹ trong những năm 1940 và 50 về điện tử lượng tử phần lớn được thúc đẩy bởi các ứng dụng quân sự tiềm năng. Điều này hoàn toàn đúng. Giờ đây, cơ học lượng tử đã tạo điều kiện cho vật lý chất rắn, từ đó tạo điều kiện cho điện tử lượng tử (ví dụ: bóng bán dẫn), và điện tử lượng tử đã tạo điều kiện cho gần như tất cả các công nghệ hiện đại (ví dụ: máy tính). Và máy tính đã có những ứng dụng có lợi cho xã hội (ví dụ: cho phép nhà phê bình văn hóa hậu hiện đại viết bài hiệu quả hơn) cũng như những ứng dụng có hại (ví dụ: cho phép quân đội Hoa Kỳ giết người hiệu quả hơn). Điều này đặt ra một loạt các câu hỏi đạo đức xã hội và cá nhân: Liệu xã hội có nên cấm (hoặc không khuyến khích) một số ứng dụng nhất định của máy tính? Cấm (hoặc không khuyến khích) nghiên cứu về máy tính per se nói chung? Cấm (hoặc không khuyến khích) nghiên cứu về điện tử lượng tử? Về vật lý chất rắn? Về cơ học lượng tử? Và tương tự đối với các nhà khoa học và kỹ sư công nghệ cá nhân. (Rõ ràng, câu trả lời khẳng định cho những câu hỏi này càng khó biện minh hơn khi người ta xem xét danh sách các câu hỏi tiếp theo; nhưng tôi không muốn tuyên bố bất kỳ câu hỏi nào trong số này a priori ngay từ đầu là bất hợp thức.) 

Tương tự, các câu hỏi xã hội học cũng nảy sinh, ví dụ: Đến mức độ nào tri ​​thức (thực sự) của chúng ta về khoa học máy tính, điện tử lượng tử, vật lý chất rắn và cơ học lượng tử - và tình trạng thiếu tri ​​thức của chúng ta về các chủ đề khoa học khác, ví dụ như khí hậu toàn cầu - là kết quả của các lựa chọn chính sách công ủng hộ chủ nghĩa quân phiệt? Đến mức độ nào các lý thuyết sai lầm (nếu có) trong khoa học máy tính, điện tử lượng tử, vật lý chất rắn và cơ học lượng tử là kết quả (toàn bộ hoặc một phần) của các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng, đặc biệt là văn hóa quân phiệt?[32] Đây đều là những câu hỏi nghiêm túc, xứng đáng được khảo sát cẩn thận theo các tiêu chuẩn cao nhất về bằng chứng khoa học và lịch sử. Nhưng chúng hoàn toàn không ảnh hưởng đến các câu hỏi khoa học cơ bản: liệu các nguyên tử (và tinh thể silicon, bóng bán dẫn và máy tính) có thực sự hoạt động theo các định luật của cơ học lượng tử (và vật lý chất rắn, điện tử lượng tử và khoa học máy tính) hay không. Định hướng quân sự hóa của khoa học Mỹ hoàn toàn không liên quan gì đến vấn đề bản thể luận, và chỉ trong một kịch bản cực kỳ phi lý thì nó mới có thể liên quan đến vấn đề nhận thức luận. (Ví dụ nếu các nhà vật lý chất rắn toàn thế giới, theo các tiêu chuẩn thông thường về bằng chứng khoa học mà họ tin, vội chấp nhận một lý thuyết sai lầm về hành vi của chất bán dẫn vì nhiệt tình đối với bước đột phá trong công nghệ quân sự mà lý thuyết này sẽ mang lại.)

Các phiên bản cực đoan của kiến ​​tạo luận xã hội và tương đối luận – chẳng hạn như “chương trình mạnh” của Edinburgh – theo tôi, phần lớn dựa trên cùng một sự thất bại trong việc phân biệt rõ ràng giữa bản thể luận, nhận thức luận và xã hội học tri thức. Đây là cách mà Barnes và Bloor mô tả hình thức tương đối luận mà họ bảo vệ: Giả thuyết tương đương của chúng tôi là tất cả các niềm tin đều ngang hàng với nhau về nguyên nhân tạo nên tính đáng tin cậy của chúng. Không phải tất cả các niềm tin đều đúng hoặc sai như nhau, mà bất kể đúng hay sai thì thực tế về độ tin cậy của chúng đều được xem là có vấn đề như nhau. Quan điểm mà chúng ta sẽ bảo vệ là sự xuất hiện của tất cả các niềm tin mà không có ngoại lệ đòi hỏi phải khảo sát thực nghiệm và phải được giải thích bằng cách tìm ra các nguyên nhân cụ thể, cục bộ của độ tin cậy này. Điều đó có nghĩa là bất kể nhà xã hội học đánh giá một niềm tin là đúng hay hợp lý, hay là sai và phi lý, anh ta vẫn phải tìm kiếm các nguyên nhân độ tin cậy của nó. ...Tất cả những câu hỏi này có thể, và nên, được trả lời mà không cần quan tâm đến trạng thái của niềm tin khi nó được đánh giá theo tiêu chuẩn riêng của nhà xã hội học.[33]

Từ đoạn văn này, cũng như từ đoạn văn trước đó, rõ ràng là Barnes và Bloor không ủng hộ thuyết tương đối luận bản thể: họ nhận ra rằng “việc nói tất cả các niềm tin đều đúng như nhau sẽ gặp phải vấn đề làm thế nào để xử lý những niềm tin mâu thuẫn với nhau”, và “nói rằng tất cả các niềm tin đều sai như nhau sẽ đặt ra vấn đề về vị thế của chính những tuyên bố của người theo thuyết tương đối luận”.[34] Họ có thể đang ủng hộ thuyết tương đối luận nhận thức – cho rằng tất cả các niềm tin đều đáng tin cậy như nhau, hoặc hợp lý như nhau - và thực tế, sự tấn công của họ vào tính hợp lệ phổ quát của ngay cả những quy tắc suy luận diễn dịch đơn giản nhất (chẳng hạn như modus ponens) [Trong logic mệnh đề, modus ponens MP, còn được gọi là modus ponendo ponens (từ tiếng Latinh ‘phương thức khẳng định’), loại bỏ suy luận, hay khẳng định tiền đề, là một hình thức lập luận diễn dịch và quy tắc suy luận. Nó có thể được tóm tắt là “P kéo theo Q. P đúng. Do đó, Q cũng phải đúng.” Modus ponens là một tam đoạn luận giả định hỗn hợp và có liên quan chặt chẽ đến một hình thức lập luận hợp lệ khác, modus tollens [Modus tollens là một thuật ngữ Latin có nghĩa là phương thức phủ định bằng cách phủ định hoặc phủ định hệ quả và là một dạng lập luận/quy tắc suy luận hợp lệ. Logic của nó là nếu một mệnh đề đúng, thì mệnh đề phản đảo (ngược lại) của nó cũng đúng. Nó có thể được phát biểu một cách chính thức như sau: P->Q,¬Q ¬P.]. Cả hai đều có hình thức dường như tương tự nhưng không hợp lệ: khẳng định hậu quả và phủ định tiền đề. Tình thế tiến thoái lưỡng nan mang tính xây dựng là phiên bản phân ly của modus ponens. Lịch sử của modus ponens bắt nguồn từ thời cổ đại. Người đầu tiên mô tả rõ ràng hình thức lập luận modus ponens là Theophrastus. Cùng với quy tắc suy luận modus tollens, đây là một trong những mô hình suy luận chuẩn mực có thể được áp dụng để rút ra chuỗi kết luận dẫn đến mục tiêu mong muốn. HHN] đã hỗ trợ phần nào cho cách diễn giải này.[35] Nhưng nhiều khả năng điều họ đang ủng hộ là một số hình thức tương đối luận phương pháp luận dành cho các nhà xã hội học về tri thức. Vấn đề là, hình thức nào? Nếu tuyên bố chỉ đơn thuần là chúng ta nên sử dụng cùng các nguyên tắc xã hội học và tâm lý học để giải thích nguyên nhân của tất cả các niềm tin bất kể chúng ta đánh giá chúng là đúng hay sai, hợp lý hay phi lý, thì tôi sẽ không có phản đối đặc biệt nào (mặc dù người ta có thể băn khoăn về thái độ siêu khoa học cho rằng niềm tin của con người luôn phải được giải thích về mặt nhân quả thông qua khoa học xã hội). Nhưng nếu tuyên bố là chỉ có các nguyên nhân xã hội mới có thể tham gia vào lời giải thích như vậy - rằng cách thế giới vận hành không thể tham gia - thì tôi không thể phản đối mạnh mẽ hơn.[36]

Hãy lấy một ví dụ cụ thể: Tại sao cộng đồng khoa học châu Âu lại tin vào tính đúng đắn của cơ học Newton vào khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1750? Chắc chắn rằng nhiều yếu tố lịch sử, xã hội học, tư tưởng và chính trị phải đóng một vai trò trong lời giải thích này - ví dụ, người ta phải giải thích tại sao cơ học Newton được chấp nhận nhanh chóng ở Anh và chậm hơn ở Pháp[37] - nhưng chắc chắn một phần của lời giải thích (và là một phần khá quan trọng) phải là các hành tinh và sao chổi thực sự chuyển động (ở mức độ gần đúng rất cao, mặc dù không hoàn toàn chính xác) như dự đoán của cơ học Newton.[38] Hoặc lấy một ví dụ khác: Tại sao quan điểm đa số trong cộng đồng khoa học châu Âu và Bắc Mỹ lại chuyển từ sáng tạo luận sang học thuyết Darwin trong suốt thế kỷ đó? Một lần nữa, nhiều yếu tố lịch sử, xã hội học, tư tưởng và chính trị sẽ đóng một vai trò trong lời giải thích này; nhưng liệu người ta có thể giải thích sự chuyển đổi này một cách hợp lý mà không cần tham khảo bất kỳ bằng chứng hóa thạch nào hoặc hệ động vật Galápagos không?

Trong trường hợp hiếm hoi mà lập luận vẫn chưa rõ ràng, thì đây là một ví dụ đơn giản hơn: Giả sử chúng ta gặp một sinh viên chạy ra khỏi giảng đường và hét lên rằng có một đàn voi đang giẫm đạp trong đó. Việc chúng ta nên hiểu lời khẳng định này như thế nào, và đặc biệt là cách chúng ta đánh giá “nguyên nhân” của nó, theo tôi, phụ thuộc rất nhiều vào việc liệu thực sự có một đàn voi đang giẫm đạp trong đó hay không - nói chính xác hơn, vì tôi thừa nhận rằng chúng ta không có sự tiếp cận trực tiếp, không qua trung gian với thực tại bên ngoài - liệu khi tôi và những người khác nhìn (một cách thận trọng!) vào phòng, chúng ta có thấy hoặc nghe thấy một đàn voi đang giẫm đạp (hoặc sự tàn phá mà đàn voi đó có thể đã gây ra trước khi chúng rời khỏi phòng) hay không. Nếu chúng ta thấy bằng chứng về đàn voi như vậy, thì lời giải thích hợp lý nhất cho loạt quan sát này là thực sự có (hoặc đã từng có) một đàn voi đang chạy tán loạn trong giảng đường, người sinh viên đã nhìn thấy và/hoặc nghe thấy điều đó, và nỗi sợ hãi sau đó của cậu ta (mà chúng ta cũng có thể chia sẻ trong hoàn cảnh đó) đã khiến cậu ta vội vã rời khỏi phòng và hét lên lời khẳng định mà chúng ta đã nghe thấy. Và phản ứng của chúng ta sẽ là gọi cảnh sát và người trông coi vườn thú. Mặt khác, nếu những quan sát của chúng ta không cho thấy bằng chứng nào về sự xuất hiện của voi trong giảng đường, thì lời giải thích hợp lý nhất là thực sự không có một đàn voi đang chạy tán loạn trong phòng, người sinh viên đã tưởng tượng ra những con voi là kết quả của một chứng loạn thần nào đó (cho dù là do nguyên nhân bên trong hay do hóa chất gây ra), và điều này đã khiến anh ta vội vã rời khỏi phòng và hét lên lời khẳng định mà chúng ta đã nghe thấy và sẽ gọi cảnh sát, cùng các bác sĩ tâm thần.[39] Và tôi dám chắc rằng Barnes và Bloor, bất kể họ viết gì trong các bài báo trên tạp chí dành cho các nhà xã hội học và triết học, cũng sẽ làm điều tương tự trong đời thực. Theo tôi, dường như không có sự khác biệt “siêu hình” cơ bản nào giữa nhận thức luận của khoa học và nhận thức luận của đời sống thường nhật. Các nhà sử học, thám tử và thợ sửa ống nước - thực tế, tất cả con người - đều sử dụng cùng một phương pháp cơ bản về quy nạp, suy diễn và đánh giá bằng chứng như các nhà vật lý hoặc nhà hóa sinh. Khoa học hiện đại cố gắng thực hiện các thao tác này một cách cẩn thận và có hệ thống hơn - sử dụng các biện pháp kiểm soát và kiểm định thống kê, nhấn mạnh vào việc sao chép, v.v. – mà không có gì khác hơn.[40] Bất kỳ triết học khoa học nào - hoặc phương pháp luận nào dành cho các nhà xã hội học - mà lại sai lầm trắng trợn như vậy khi áp dụng vào nhận thức luận của đời sống thường nhật thì chắc chắn phải có khiếm khuyết nghiêm trọng ở cốt lõi của nó.

Tóm lại, theo tôi, “chương trình mạnh”, giống như Quy tắc thứ ba về phương pháp của Latour, mơ hồ về ý định của nó; và tùy thuộc vào cách người ta giải quyết sự mơ hồ, nó có thể trở thành một sự điều chỉnh hợp lý và khá thú vị đối với những quan niệm tâm lý và xã hội học ngây thơ nhất – nhắc nhở chúng ta rằng “niềm tin đúng đắn cũng có nguyên nhân” – hoặc là một sai lầm nghiêm trọng và trắng trợn. Giáo sư Kitcher kết luận bài viết của mình trong tập sách này bằng cách nói, “Tôi rất ngờ bài luận này làm hài lòng bất cứ ai, vì nó cố gắng đứng ở vị trí trung dung.” Trong điều này, ông ấy chắc chắn quá bi quan, vì ít nhất có một ví dụ phản bác: bài luận của ông ấy làm tôi hài lòng. Thật vậy, tôi đồng ý với gần như mọi thứ trong đó. Giờ đây, có lẽ điều này chỉ có nghĩa là tôi – dù là một nhà khoa học kiêu ngạo – cũng là một trong số ít người được chọn đứng ở “vị trí trung dung”. Nhưng tôi nghi ngờ rằng trên thực tế, nhiều người trong chúng ta đứng ở “vị trí trung dung” trong cuộc tranh luận này hơn so với những gì thoạt nhìn có vẻ. Tất nhiên, vấn đề không phải là nắm bắt “lập trường trung dung” (bất kể đó là gì) một cách trừu tượng và vì lợi ích riêng của nó, mà không quan tâm đến nội dung của nó: đó sẽ là một sự bỏ bê nghiêm trọng nhiệm vụ trí tuệ.[41] Nhưng ở đây, lập trường trung dung được nêu trong bài luận của Kitcher - dựa trên sự tôn trọng đối với cả “nhóm hiện thực-duy lý” và “nhóm xã hội-lịch sử”, ngay cả khi chúng ta có thể tranh luận về tầm quan trọng tương đối của chúng trong các trường hợp cụ thể - là vô cùng hợp lý đến nỗi gần như tất cả các nhà khoa học[42] và các nhà triết học khoa học sẽ đồng ý, cũng như hầu hết (mặc dù rõ ràng không phải tất cả) các nhà xã hội học khoa học. Và thực tế này có thể cho chúng ta một số lý do để suy ngẫm về cái gọi là - và tôi nghĩ là đặt tên sai nghiêm trọng – “Cuộc chiến Khoa học”.

Thuật ngữ này dường như lần đầu tiên được đồng biên tập viên của Social Text, Andrew Ross đặt ra, ông giải thích rằng “Cuộc chiến Khoa học [là] mặt trận thứ hai được mở ra bởi những người bảo thủ được cổ vũ bởi những thành công của đội quân của họ trong Cuộc chiến Văn hóa thiêng liêng. Để tìm lời giải thích cho việc mất uy tín trong mắt công chúng và sự suy giảm nguồn tài trợ từ ngân sách nhà nước, những người bảo thủ trong khoa học đã tham gia vào làn sóng phản đối những kẻ tình nghi (mới) quen thuộc - những người theo chủ nghĩa cộng sản, nữ quyền và đa văn hóa.[43] Chủ đề này đã được làm rõ hơn trong số đặc biệt nổi tiếng của Social Text.[44] Nhưng, cũng giống như trong “cuộc chiến văn hóa” tẻ nhạt, sự thật phức tạp hơn nhiều so với bức tranh nhị nguyên này. Sự tương ứng một-một được cho là giữa quan điểm nhận thức luận và chính trị là một sự xuyên tạc nghiêm trọng.[45] Tương tự như vậy, ý tưởng cho rằng trong cuộc tranh luận này chỉ có hai lập trường cũng sai. Quan niệm về tranh luận như một cuộc chiến đấu này, trên thực tế, có lẽ là lý do chính khiến các biên tập viên của Social Text mắc bẫy giễu nhại của tôi. Hành động không phải với tư cách là những trí thức tìm kiếm sự thật, mà là những vị tướng tự phong trong “Cuộc chiến Khoa học”, họ rõ ràng đã nắm lấy cơ hội để có được một nhà khoa học “thực sự” về “phe” của mình. Giờ đây, hối hận vì sai lầm của mình, chắc hẳn họ phải cảm thấy có mối liên hệ với người Trojan.

Nhưng phép ẩn dụ quân sự là một sai lầm; các biên tập viên của Social Text không phải là kẻ thù của tôi. Ross có những mối quan ngại chính đáng về các công nghệ mới và về sự phân bổ ngày càng không đồng đều về chuyên môn khoa học. Aronowitz nêu ra những câu hỏi quan trọng về tình trạng thất nghiệp do công nghệ và khả năng về một “tương lai không có việc làm”.[46] Nhưng, trái ngược với Ross, không có gì đạt được bằng cách phủ nhận sự tồn tại của kiến ​​thức khoa học khách quan; nó tồn tại, dù chúng ta có thích hay không. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ chính trị nên tìm cách phân phối kiến ​​thức đó một cách dân chủ hơn và sử dụng nó cho các mục đích có ích cho xã hội. Thật vậy, sự phê phán nhận thức luận triệt để làm suy yếu nghiêm trọng sự phê phán chính trị cần thiết, bằng cách loại bỏ cơ sở thực tế của nó. Xét cho cùng, lý do duy nhất khiến vũ khí hạt nhân là mối nguy hiểm đối với bất kỳ ai là vì các lý thuyết vật lý hạt nhân mà thiết kế của chúng dựa trên đó, ít nhất là ở mức độ gần đúng rất cao, là đúng một cách khách quan.[47] Những quan niệm nhận thức luận của Nghiên cứu Khoa học là một sự lệch hướng khỏi những vấn đề quan trọng đã thúc đẩy Nghiên cứu Khoa học ngay từ đầu: đó là vai trò xã hội, kinh tế và chính trị của khoa học và công nghệ. Chắc chắn, những quan niệm đó không phải là ngẫu nhiên; chúng có một lịch sử, có thể được nghiên cứu xã hội học.[48] Nhưng những người thực hành Nghiên cứu Khoa học không bắt buộc phải tiếp tục theo đuổi một nhận thức luận sai lầm; họ có thể từ bỏ nó và tiếp tục nhiệm vụ nghiêm túc là nghiên cứu khoa học. Có lẽ, từ góc nhìn của vài năm tới, cái gọi là “Cuộc chiến Khoa học” ngày nay sẽ đánh dấu một bước ngoặt như vậy.

_____________________________________

Nguồn: Alan D. Sokal (1998). What the Social Text Affair Does and Does Not Prove. Published in A House Built on Sand: Exposing Postmodernist Myths about Science,  edited by Noretta Koertge (Oxford University Press, 1998)

Tác giả: Alan Sokal là một giáo sư vật lý tại Đại học New York. Ông đã giảng dạy tại nhiều nơi ở Châu Âu và Châu Mỹ Latin, trong đó có các đại học Università di Roma ``La Sapienza'', và trong thời kỳ chính phủ Sandinista, tại đại học Universidad Nacional Autónoma de Nicaragua. Ông là đồng tác giả với Roberto Fernández và Jürg Fröhlich của cuốn sách Random Walks, Critical Phenomena, and Triviality in Quantum Field Theory (Springer, 1992).

Notes

[1] Larry Laudan, Science and Relativism (Chicago: University of Chicago Press, 1990), p. x.

[2] Quoted in Janny Scott, “Postmodern Gravity Deconstructed, Slyly”, New York Times, May 18, 1996: 1, 22.

[3] Alan D. Sokal, “Transgressing the Boundaries: Toward a Transformative Hermeneutics of Quantum Gravity,” Social Text #46/47 (spring/summer 1996): 217-252.

[4] Alan Sokal, “A Physicist Experiments with Cultural Studies,” Lingua Franca 6(4) (May/June 1996): 62-64.

[5] The “official” reply from the editors of Social Text appears in “Mystery Science Theater,” Lingua Franca 6(5) (July/August 1996): 54-64 along with a brief rejoinder from myself and letters from readers. For a more detailed explanation of my motivations in undertaking the parody, see Alan D. Sokal, “Transgressing the Boundaries: An Afterword”, rejected for publication in Social Text but published in Dissent 43(4) (Fall 1996): 93-99 and, in slightly different form, in Philosophy and Literature 20(2) (October 1996): 338-346; and Alan Sokal, “A Plea for Reason, Evidence and Logic”, New Politics 6(2) (Winter 1997): 126-129. For further commentary, see e.g. Tom Frank, “Textual Reckoning,” In These Times 20(14) (May 27, 1996): 22-24; Katha Pollitt, “Pomolotov Cocktail,” The Nation (June 10, 1996): 9; Steven Weinberg, “Sokal's Hoax,” New York Review of Books 43(13) (August 8, 1996): 11-15; Paul Boghossian, “What the Sokal Hoax Ought to Teach Us,” Times Literary Supplement (December 13, 1996): 14-15.

[6] I limit myself here to critiques challenging the substantive content of scientific theories or methodology. Other important types of critiques challenge the uses to which scientific knowledge is put (e.g. in technology) or the social structure of the scientific community.

[7] See, for example, Stephen Jay Gould, The Mismeasure of Man (New York: Norton, 1981, 2nd ed. 1996).

[8] See, for example, Anne Fausto-Sterling, Myths of Gender: Biological Theories about Women and Men (New York: Basic Books, 1985, 2nd ed. 1992); Carol Tavris, The Mismeasure of Woman (New York: Simon & Schuster, 1992).

[9] Of course, I don't mean to imply that the only (or even principal) purpose of the history of science is to help working scientists. History of science obviously has intrinsic value as a contribution to the history of human society and human thought. But it seems to me that history of science, when done well, can also help working scientists.

[10] H.M. Collins, “Stages in the empirical programme of relativism”, Social Studies of Science 11 (1981): 3-10, quote at p. 3. Two qualifications need to be made: First, this statement is offered as part of Collins' introduction to a set of studies (edited by him) employing the relativist approach, and constitutes his summary of that approach; he does not explicitly endorse this view, though an endorsement seems implied by the context. Second, while Collins appears to intend this assertion as an empirical claim about the history of science, it is possible that he intends it neither as an empirical claim nor as a normative principle of epistemology, but rather as a methodological injunction to sociologists of science: namely, to act as if “the natural world ha[d] a small or non-existent role in the construction of scientific knowledge”, or in other words to ignore (“bracket”) whatever role the natural world may in fact play in the construction of scientific knowledge. I shall argue below, in discussing Barnes-Bloor, that this approach is seriously deficient as methodology for sociologists of science.

[11] Bruno Latour and Steve Woolgar, Laboratory Life: The Social Construction of Scientific Facts (London: Sage, 1979), p. 237.

[12] Bruce Robbins, “Social Text and Reality,” In These Times 20(17) (July 8, 1996): 28-29, quote at p. 28.

[13] The “Science Wars” special issue of Social Text was conceived primarily to attack Paul R. Gross and Norman Levitt, Higher Superstition: The Academic Left and its Quarrels with Science (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1994). See Andrew Ross, “Introduction”, Social Text #46/47 (spring/summer 1996): 1-13; and see also Andrew Ross and Stanley Aronowitz, unpublished letter to the author (and to other contributors to the “Science Wars” issue), March 8, 1995.

[14] Indeed, a mainstream journal in the sociology of science would almost certainly not have fallen for my parody. (On the other hand, Social Studies of Science published a long article on the theory of relativity which, if it wasn't in fact a parody, might as well have been: see below.) I chose Social Text because my primary motivation was political: see Sokal, “Afterword” and “A Plea”, op. cit.

[15] I emphasize that this term is a misnomer, as these ideas are hotly debated among feminists, among whom I include myself. For incisive feminist critiques of “feminist epistemology”, see Susan Haack, “Science `from a feminist perspective”, Philosophy 67 (1992): 5-18; Susan Haack, “Epistemological reflections of an old feminist”, Reason Papers 18 (fall 1993): 31-43; Cassandra L. Pinnick, “Feminist epistemology: Implications for philosophy of science”, Philosophy of Science 61 (1994): 646-657; and Janet Radcliffe Richards, “Why feminist epistemology isn't”, in The Flight from Science and Reason, ed. Paul R. Gross, Norman Levitt and Martin W. Lewis, Annals of the New York Academy of Sciences 775 (1996): 385-412.

[16] Gilles Deleuze and Félix Guattari, What is Philosophy?, translated by Hugh Tomlinson and Graham Burchell (New York: Columbia University Press, 1994), p. 119.

[17] For an extensive compilation of postmodern French philosophers’ abuses of mathematics and physics, along with commentary for non-experts, see Jean Bricmont and Alan D. Sokal, Les impostures scientifiques des philosophes (post-)modernes, book in preparation. In addition to Deleuze, Guattari, Lacan, Irigaray, Lyotard and Serres, we will also have chapters on Jean Baudrillard, Julia Kristeva, Bruno Latour and Paul Virilio.

[18] Bruno Latour, “A relativistic account of Einstein’s relativity”, Social Studies of Science 18 (1988): 3-44, quote at p. 3.

[19] Ibid., p. 22, emphasis in original.

[20] Ibid., pp. 10-11, emphasis in original.

[21] Ibid., pp. 22-23.

[22] Bruno Latour, Science in Action: How to Follow Scientists and Engineers through Society (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1987), pp. 99 and 258. This “rule” is the culmination of an argument (pp. 96-99) in which ontology, epistemology and the sociology of knowledge are gradually conflated.

[23] You might worry that here my argument is circular, in that it takes for granted the truth of the current scientific consensus in cosmology and paleontology. But this is not the case. First of all, my phrase “given that ...” is a rhetorical flourish that plays no essential role in the argument; the idea that the external world is created by scientists’ negotiations is bizarre irrespective of the details of cosmology and paleontology. Secondly, my phrase “the external world has been around ...” should, if one wants to be super-precise, be amended to read: “there is a vast body of extremely convincing (and diverse) evidence in support of the belief that the external world has been around ...; and if this belief is correct, then the claim that the external world is created by scientists’ negotiations is bizarre to say the least.'' Indeed, all of my assertions of fact - including “today in New York it's raining” - should be glossed in this way. Since I shall claim below that much contemporary work in Science Studies elides the distinction between ontology and epistemology, I don't want to leave myself open to the same accusation.

[24] Re (b), the “homely example” in Gross and Levitt, op. cit., pp. 57-58 makes the point clearly.

[25] Steve Fuller, Philosophy, Rhetoric, and the End of Knowledge: The Coming of Science and Technology Studies (Madison: University of Wisconsin Press, 1993), p. xii. For further analysis of Science in Action, see Olga Amsterdamska, “Surely you are joking, Monsieur Latour!”, Science, Technology, & Human Values 15 (1990): 495-504.

[26] Latour and Woolgar, op. cit.

[27] Barry Barnes and David Bloor, “Relativism, Rationalism and the Sociology of Knowledge”, in Rationality and Relativism, edited by Martin Hollis and Steven Lukes (Oxford: Blackwell, 1981), pp. 21-47, see footnote 5 on p. 22. See also David Bloor, Knowledge and Social Imagery, 2nd ed. (Chicago: University of Chicago Press, 1991), p. 5.

[28] This is, in fact, the methodological import of their principles of “impartiality” and “symmetry” [Bloor, op. cit., p. 7]. See below for further discussion and critique.

[29] Note indeed how Bloor, only nine pages after enunciating his non-standard definition of “knowledge”, reverts without comment to the standard definition of “knowledge”, which he contrasts with “error”: “[I]t would be wrong to assume that the natural working of our animal resources always produces knowledge. They produce a mixture of knowledge and error with equal naturalness ...” [Bloor, op. cit., p. 14].

[30] Sandra Harding, Whose Science? Whose Knowledge? Thinking from Women's Lives (Ithaca: Cornell University Press, 1991), chapter 4.

[31] Paul Forman, “Behind Quantum Electronics: National Security as Basis for Physical Research in the United States, 1940-1960,” Historical Studies in the Physical and Biological Sciences 18 (1987): 149-229.

[32] I certainly don't exclude the possibility that present theories in any of these subjects might be erroneous. But critics wishing to make such a case would have to provide not only historical evidence of the claimed cultural influence, but also scientific evidence that the theory in question is in fact erroneous. (The same evidentiary standards of course apply to past erroneous theories; but in this case the scientists may have already performed the second task, relieving the cultural critic of the need to do so from scratch.)

[33] Barnes and Bloor, op. cit., quote at p. 23.

[34] Ibid., p. 22.

[35] Ibid., pp. 35-47.

[36] Bloor does state explicitly that “Naturally there will be other types of causes apart from social ones which will cooperate in bringing about belief.” [Bloor, op. cit., p. 7] The trouble is that he never makes explicit in what way natural causes will be allowed to enter into the explanation of belief, or what precisely the symmetry principle will mean in this context. For a more detailed critique of Bloor's ambiguities (from a philosophical point of view slightly different from mine), see Larry Laudan, “The pseudo-science of science?”, Philosophy of the Social Sciences 11 (1981): 173-198. See also Peter Slezak, “A second look at David Bloor's Knowledge and Social Imagery”, Philosophy of the Social Sciences 24 (1994): 336-361.

[37] The consensus of historians appears to be that the slow acceptance of Newtonian mechanics in France arose from scholastic attachment to Cartesian theories as well as from certain theological considerations: see, for example, Pierre Brunet, L'introduction des théories de Newton en France au XVIIIe siècle (Paris, 1931; reprinted by Slatkine, Genève, 1970); Betty Jo Teeter Dobbs and Margaret C. Jacob, Newton and the Culture of Newtonianism (Atlantic Highlands, New Jersey: Humanities Press, 1995).

[38] Or more precisely: There is a vast body of extremely convincing astronomical evidence in support of the belief that the planets and comets do move (to a very high degree of approximation, though not exactly) as predicted by Newtonian mechanics; and if this belief is correct, then it is the fact of this motion (and not merely our belief in it) that forms part of the explanation of why the 18th-century European scientific community came to believe in the truth of Newtonian mechanics.

[39] For what it's worth, these decisions can presumably be justified on Bayesian grounds, using our prior experience of the probability of finding elephants in lecture halls, of the incidence of psychosis, of the reliability of our own visual and auditory perceptions, and so forth.

[40] Please note: I am not claiming that inference from scientific observations to scientific theories is as simple or unproblematic as inference from seeing elephants in front of me to the conclusion that elephants are in front of me. (In truth, even this latter inference is not so simple or unproblematic: to fully ground it requires some knowledge about optics and about the mechanisms of human vision.) As all practicing scientists and historians of science well know, the reasoning from scientific observations to scientific theories is far more indirect, and typically involves a vast web of empirical evidence rather than a single observation. My point is simply that in all of these cases -- Newtonian mechanics, Darwinian evolution, or elephants -- it is absurd to try to explain the “causes” of people's beliefs without including the natural (non-social) world as one of those causes, and a rather important one at that.

[41] In American politics, the baleful consequences of such a search for ``middle ground'' between two morally and intellectually bankrupt (and indeed barely distinguishable) positions hardly need further comment. “Middle ground” is, of course, meaningless until one specifies between what; and the corporate media's tacit definition of the outer limits of respectable opinion is, of course, a large part of the problem. On what grounds, for example, is single-payer health insurance -- long in use in most industrialized countries -- defined as “extreme” and “unrealistic” in the United States?

[42] Including Gross and Levitt, as they make amply clear in their book [op. cit].

[43] Andrew Ross, “Science Backlash on Technoskeptics”, The Nation 261(10) (October 2, 1995): 346-350, quote at p. 346. See also Ross, “Introduction”, op. cit., p. 6.

[44]. Five of the essay titles (Martin, Nelkin, Franklin, Kovel, Aronowitz) include the term “Science Wars”, and three more titles (Rose, Winner, Levidow) contain assorted martial metaphors.

[45] My own leftist political views are a matter of record, as are those of many of my supporters (e.g. Michael Albert, Barbara Epstein, Meera Nanda, Ruth Rosen and James Weinstein, among many others). Even Gross and Levitt, the original targets of Ross's wrath, make clear that their political views are basically left-liberal; they note that one of them (Levitt as it turns out) is a member of Democratic Socialists of America [Gross and Levitt, op. cit., p. 261, note 7].

[46] Stanley Aronowitz and William DiFazio, The Jobless Future: Sci-Tech and the Dogma of Work (Minneapolis: University of Minnesota Press, 1994).

[47] This point was made almost a decade ago by Margarita Levin, “Caring new world: Feminism and science”, American Scholar 57 (1988): 100-106.

[48] For an interesting conjecture, see Meera Nanda, “The Science Wars in India”, Dissent 44(1) (Winter 1997): 78-83, at pp. 79-80. For a different (but not incompatible) conjecture, see Gross and Levitt, op. cit., pp. 74, 82-88, 217-233. Both these conjectures merit careful empirical investigation by intellectual historians.