Powered By Blogger

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
 
§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực

Theo quan điểm này, trong mỗi trường hợp toàn bộ vũ trụ đều được nhìn nhận, như thể trong một viễn cảnh xác định về các hiện hữu và về cái khả thể. Nhưng quan điểm này bị khúc xạ theo một cách xác định, cụ thể là, trong mỗi trường hợp theo giai đoạn động lực của đơn tử. Nghĩa là, nó bị khúc xạ trong mỗi trường hợp theo khả tính tự thân thống nhất của đơn tử trong đa tính của nó. Sau đó cái ‘tự thân’ này trong ‘thống nhất tự thân’ thể hiện một thực tế là tình trạng đồng-hiện diện nhất định của chính nó được tìm thấy trong đơn tử như một prehensive drive động lực bao quát. Giờ đây, sự bộc lộ bản thân này có thể có nhiều mức độ khác nhau, từ hoàn toàn minh bạch đến vô cảm và bị cuốn hút bởi sự xao nhãng. Không đơn tử nào thiếu perceptio tri giác và [tr.96] appetitus khát vọng, do đó có một sự cởi mở nhất định đi kèm với chính nó, mặc dù điều này không nhất thiết phải là hoàn toàn tự-nhận thức. Mỗi đơn tử đều mở ngỏ với chính nó, cho dù ở mức độ mở ngỏ thấp nhất có thể. Theo đó, quan điểm cụ thể và khả tính thống nhất tương ứng, nhất tính của nó, tạo nên tính độc nhất của mỗi đơn tử. Bởi vì nó thống nhất—và đó là bản chất của nó—nên đơn tử tự cá thể hóa chính nó. Khả tính cá thể hóa vốn có dựa trên bản chất của nó với tư cách động lực. Tuy nhiên, trong quá trình cá thể hóa, trong động lực từ viễn cảnh riêng của nó, đơn tử thống nhất vũ trụ được nhận thức trước, chỉ theo khả tính của viễn cảnh đó. Do đó mỗi đơn tử tự nó là một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ (Thư gửi de Voider, ngày 20 tháng 6 năm 1703, G. II, 252) [L. 530]. Mỗi động lực tập trung vào chính nó, trong động lực của nó, thế giới trong mỗi trường hợp theo cách riêng của nó.
 
Nhưng bởi vì mỗi đơn tử, theo một cách riêng của nó, là ‘thế giới’, nên mỗi động lực đều đồng thuận với vũ trụ, chừng nào nó còn trình hiện thế giới. Bởi vì sự hòa hợp mà mỗi prehensive drive động lực toàn diện có với vũ trụ, nên bản thân các đơn tử cũng được kết nối với nhau. Ý tưởng về đơn tử như một động lực toàn diện hướng tới sự chuyển đổi ngụ ý rằng thế giới trong mỗi trường hợp đều thuộc về đơn tử trong một sự khúc xạ mang tính viễn cảnh, và tất cả các đơn tử như những đơn vị động lực đều được định hướng trước về một sự hài hòa đã được định sẵn, harmonia praestabilita hài hòa tiền định của toàn thể các hiện hữu. Trong mỗi đơn tử, toàn bộ vũ trụ đều hiện diện tiềm ẩn. Tuy nhiên, với tư cách là cấu trúc của thế giới hiện thực, the actualia các sự kiện hiện tại thì hài hòa tiền định là cái mà khi bị tác động, lại đối lập với đơn tử trung tâm, tức là Thiên Chúa. Động lực của Thiên Chúa là ý chí của Ngài. Nhưng cái tương quan của ý chí linh thiêng là sự tối ưu. Distinguendum inter ea, quae Deus potest, et quae vult: potest omnia, vult optima.-Actualia nihil alium sunt, quam possibilium (omnibus comparatis) optima. - Possibilia sunt quae non implicant contradictionem. (Letter to John Bernoulli, February 21, 1699; Math. Schr. 11112, 574) “Chúng ta phải phân biệt giữa những điều Chúa có thể làm và những điều Ngài muốn làm; Ngài có thể làm tất cả mọi việc, nhưng Ngài muốn điều tốt nhất. Những điều hiện thực không gì khác ngoài điều tốt nhất trong số những điều có thể, xét trên mọi khía cạnh. Những điều khả thể là những điều không hàm chứa mâu thuẫn.” (Thư gửi John Bernoulli, ngày 21 tháng 2 năm 1699; Math. Schr. 11112, 574) [L. 513]
 
Sự cá thể hóa diễn ra trong động lực với tư cách thống nhất luôn là thứ cá thể hóa của một hiện hữu thuộc về thế giới. Các đơn tử không phải là những mảnh miếng biệt lập tạo ra thế giới bằng cách cộng chúng lại, mà mỗi đơn tử, như một động lực, theo cách riêng của nó, tự thân là vũ trụ [tr.97]. Mỗi đơn tử trình hiện thế giới từ một quan điểm. Nói về đơn tử như một ‘thế giới nhỏ’, như một tiểu vũ trụ, không chạm đến cái bản chất, chừng nào mỗi đơn tử trong vận động lực đều nắm bắt toàn bộ thế giới trong nhất tính của nó, mặc dù đơn tử không bao giờ bao quát nó hoàn toàn. Mỗi đơn tử, tùy thuộc vào mức độ nhận thức riêng của nó, là một lịch sử thế giới làm cho thế giới hiện diện. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, vũ trụ được nhân lên nhiều lần bằng số lượng đơn tử có đó, cũng giống như cùng một thành phố được thể hiện khác nhau bởi mỗi tình huống khác nhau của từng người quan sát riêng biệt (Discours. §9)
 
Từ những điều đã nói, chúng ta có thể làm sáng tỏ hình ảnh mà Leibniz thường xuyên sử dụng để mô tả bản chất toàn diện của đơn tử: đơn tử là một tấm gương sống động của vũ trụ. Một trong những đoạn quan trọng nhất có trong Thư gửi de VoIder ngày 20 tháng 6 năm 1703 có viết: Entelechias Differentre necesse est, seu non esse penitus similes inter se, imo principia esse diversitatis, nam aliae aliter exprimunt universum ad suum quaeque Spectandi modum, idque ipsarum officium est ut sint totidem specula Vitalia rerum seu totidem Mundi concentrati. (C. II, 251/52) Điều cần thiết là các ἐντελέχεια entelechies (đơn tử) phải khác nhau hoặc không hoàn toàn giống nhau; trên thực tế, chúng là những nguyên tắc của đa tính, vì mỗi nguyên tắc thể hiện vũ trụ một cách khác nhau theo pre-hending cách nhìn riêng của nó. Và chính xác đây là nhiệm vụ đặc biệt của chúng, chúng phải là rất nhiều tấm gương sống hoặc rất nhiều thế giới tập trung. [L. 530]
 
Tuyên bố này chứa đựng nhiều điều: 1) Sự phân hóa của các đơn tử là cần thiết. Bản chất của chúng, với tư cách thống nhất, thuộc về mỗi đơn tử thống nhất từ ​​quan điểm riêng của nó, và do đó chúng tự thân cá nhân hóa. 2) Do cách nhìn nhận tri giác-khát vọng của chúng, bản thân các đơn tử là nguồn gốc của sự đa tính đặc thù của chúng. 3) Việc trình bày thống nhất này của vũ trụ trong mỗi quá trình cá nhân hóa chính xác là điều liên quan đến mỗi đơn tử trong hiện hữu của nó, động lực của nó. 4) Mỗi ​​đơn tử là vũ trụ ở dạng cô đọng, concentrationes universi các vũ trụ kết hợp lại (Thư gửi de VoIder, 1705; G. II, 278) [L. 530]. Trung tâm của sự cô đọng là động lực được xác định từ một quan điểm cụ thể. 5) Đơn tử là một speculum vitale [tấm gương sống] (cf. Principes de la Nature et de la Grace., §3; Mondalogie, §63 và 77; Thư gửi Remond từ tháng 7 năm 1714) [L. [637, 649, 651, 656, tương ứng]. Monad là một miroir acti tấm gương sống, không thể phân chia, một sự phản chiếu chủ động, không thể phân chia, đơn giản. Gương, speculum (cùng gốc với từ Latin spectare, loài), có nghĩa là làm cho trở nên khả kiến. Nhưng đơn tử làm cho trở nên khả kiến với tư cách động lực. Nghĩa là, nó phản chiếu như một sự nắm bắt trước, [tr.98] và chỉ trong hoạt động này, sự hiện thân cụ thể của thế giới mới xuất hiện. Phản chiếu không phải là một sự sao chép cố định, mà là động lực hướng tới những khả tính mới được định trước của chính nó. Tấm gương đơn giản bởi vì sự sở hữu trước đó của vũ trụ duy nhất từ ​​một quan điểm mà từ đó chính sự đa dạng lần đầu tiên trở nên khả kiến.
 
Giờ đây chúng ta có thể nắm bắt rõ hơn bản chất của thực thể hữu hạn từ một khía cạnh chưa xem xét. Leibniz đã viết (trong Thư gửi de VoIder ngày 20 tháng 6 năm 1703; G. II, 249): Omnis substantia est activa, et omnis substantia finita est passiva, passioni autem connexa resistentia est [Mọi thực thể hữu hạn đều hoạt động, mọi thực thể hữu hạn cũng đều thụ động, và gắn liền với tính thụ động này là sự kháng cự, L. 528]. Điều này có nghĩa là gì? Thực thể là hoạt động, là động lực. Trong mọi động lực hữu hạn xảy ra trong một viễn cảnh cụ thể, luôn luôn và nhất thiết phải có một cái gì đó kháng cự chống lại động lực đó. Bởi vì, khi hướng ra khỏi một quan điểm cụ thể về phía toàn bộ vũ trụ, có rất nhiều thứ không phải là động lực đó. Nó bị biến đổi bởi quan điểm. Bởi vì động lực có thể là toàn bộ vũ trụ theo cách tiềm tang, nhưng trên thực tế lại không phải, nên vì lý do này, động lực có liên quan đến sự kháng cự trong quá trình vận hành của nó. Chừng nào đơn tử luôn là toàn thể từ một quan điểm, thì chính xác là nó hữu hạn khi nó được sắp xếp trật tự theo vũ trụ. Nghĩa là, đơn tử liên quan đến sự kháng cự, đến một cái gì đó không phải là nó, nhưng cũng hoàn toàn có thể là nó. Tính thụ động này, theo nghĩa là cái mà động lực không thúc đẩy, thuộc về tính hữu hạn của động lực.
 
Khía cạnh phủ định này, thuần túy như một khoảnh khắc cấu trúc của động lực hữu hạn, đặc trưng cho bản chất của cái mà Leibniz hiểu là materia prima vật chất nguyên thủy. Materia prima cuilibet Entelechiae est essentialis, neque unquam ab ea separatur, cum earn compleat et sit ipsa potentia passiva totius substantiae completae. Neque enim materia prima in mole seu impenetrabilitate et extensione consistit. (Letter to des Bosses, October 16, 1706; G. II, 324) “Vật chất nguyên thủy là thiết yếu đối với bất kỳ ἐντελέχεια entelechia cái hoàn thành nào, và nó không bao giờ có thể tách rời khỏi nó vì nó hoàn thiện cái entelechia và là sức mạnh thụ động của toàn bộ thực thể hoàn chỉnh. Bởi vì vật chất nguyên thủy không bao gồm khối lượng cũng không bao gồm tính bất khả nhập thấu và sự mở rộng.” (Thư gửi des Bosses, 16/10/1706; G. II, 324)
 
Do tính thụ động nguyên thủy thiết yếu này, nên đơn tử có khả năng nội tại kết nối với materia secunda vật chất thứ cấp, tức là với massa, với sức kháng cự nhất định theo nghĩa khối lượng và trọng lượng vật chất. (Xem thêm về điều này trong thư từ của Leibniz với nhà toán học John Bernoulli và với tu sĩ dòng Tên des Bosses, giáo sư triết học và thần học tại trường dòng Tên ở Hildesheim.) Khoảnh khắc cấu trúc này [tr.99] cung cấp cho Leibniz nền tảng làm cho việc kết nối đơn tử với một vật thể vật chất (materia secunda, vật chất thứ cấp, massa) trở nên dễ hiểu về mặt siêu hình và chứng minh khẳng định tại sao extensio sự mở rộng không thể cấu thành bản chất của thực thể. Ở đây chúng ta không thể tiếp tục điều này, cũng như không thể đi sâu hơn vào sự phát triển của thuyết đơn tử và các nguyên tắc siêu hình liên quan đến nó.
 
Vấn đề có tính dẫn dắt của chúng ta là cái cách mà logic bắt nguồn từ siêu hình học, cái cách mà học thuyết phán đoán bắt nguồn từ học thuyết về thực thể, và lý thuyết đồng nhất tính trong đơn tử luận. Đơn tử luận định nghĩa tính thực thể của thực thể, nhất tính của một hiện hữu với tư cách một hiện hữu. Do đó, nhất tính được hình dung như là thống nhất nguyên thủy. Nghĩa là, ‘monas’ đơn tử chứng tỏ là động lực. Động lực ấy là một xu hướng bao quát hướng tới sự chuyển đổi. Động lực thống nhất như thế nào, và nó được cá thể hóa như thế nào trong sự thống nhất? Động lực thống nhất như một sự nắm bắt trước. Do đó, nó thống nhất với một cái nhìn hướng tới nhất tính, bên trong một quan điểm. Trong mỗi trường hợp mỗi quan điểm đều mang tính dẫn dắt, và trong mỗi trường hợp cái toàn bộ đều được nhận thức từ quan điểm này. Do đó, mỗi đơn tử đều là một viễn cảnh của vũ trụ hay một mundus concentratus vũ trụ thu nhỏ, và trong chừng mực một đơn tử, nó đồng thuận với các đơn tử khác. Do đó, các đơn tử ‘không có cửa sổ’, bởi vì chúng không cần cửa sổ nào (Monadologie, §7, G. VI, 607) [L. 643]. Không có dòng chảy vào, không phải vì nó không thể giải thích được, mà vì nó sẽ trở nên dư thừa.
 
Tóm tắt, Leibniz viết: Non credo systema esse possibile, in quo Monades in se invicem agent, quia non videtur possibilis explicandi modus. Addo, et superfluum esse influxum, cur enim det monas monadi quod jam habet? Nempe haec ipsa natura substantiae est, ut praesens sit gravidum futuro et ut ex uno intelligi possint omnia, saltern ni Deus miraculo intercedat. (Letter to des Bosses, August 19, 1715; G. II, 503). “Tôi không tin rằng có một hệ thống nào mà trong đó các đơn tử tác động lẫn nhau, vì dường như không có cách nào giải thích được hành động như vậy. Tôi nói thêm rằng ảnh hưởng là dư thừa, vì sao một đơn tử lại phải cho một đơn tử khác những gì nó đã sở hữu? Bản chất của thực thể là ở chỗ hiện tại là lớn lao với tương lai và mọi thứ có thể được hiểu từ một thứ, ít nhất là nếu Thiên Chúa không can thiệp bằng một phép màu. (Thư gửi des Bosses, ngày 19 tháng 8 năm 1715; G. II, 503) [L. 613]
 
Cần phải diễn giải đơn tử luận để làm sáng tỏ nền tảng siêu hình thực sự của logic Leibniz. Chúng ta đã đạt được nền tảng này trong cấu trúc đơn tử của ens qua substantia tồn tại với tư cách thực thể. Đồng thời, kết quả của chúng ta [tr.100] cần một nền tảng sâu sắc hơn nữa: vấn đề về ens qua essentia tồn tại với tư cách bản chất và tồn tại với tư cách existential tồn tại, tồn tại như một cái gì đó khả thể, tức là một thực tại tính khả thể. Nhưng để đảm bảo tính hiệu quả của toàn bộ loạt bài giảng, chúng ta phải bỏ qua mục 16, “Cấu trúc cơ bản của tồn tại nói chung - essentia bản chất và conatus existentiae nỗ lực tồn tại.” Hãy xem lại các cuộc thảo luận về ‘Bản chất và tồn tại: những cấu trúc cơ bản của hiện hữu’ trong các bài giảng từ học kỳ hè năm 1927.13 Cuộc thảo luận về quan niệm của Leibniz về bản chất và tồn tại, dự kiến ​​được thực hiện trong mục 16, đòi hỏi những cân nhắc tương đối sâu rộng và một sự giải thích văn bản kỹ lưỡng, đặc biệt là vì Leibniz chỉ đề cập đến những vấn đề này trong rất ít đoạn văn. (§6 không được xây dựng cho Khóa học này).
 
§7. Lý thuyết Phán đoán và Quan niệm về Hiện hữu. Logic và bản thể luận
 
Để mô tả logic của Leibniz, chúng ta bắt đầu với học thuyết phán đoán của ông. Khi làm như vậy, chúng ta đã theo đuổi một mối liên hệ được thiết lập trong triết học từ thời cổ đại, cụ thể là phán đoán như là phương tiện và vị trí thực sự của chân lý. Chính xác hơn, mệnh đề là cái có thể chân hoặc giả khi nói về một cái gì đó. Mặt khác, việc chỉ đơn thuần trình bày một cái gì đó bằng trực giác trực tiếp đơn giản, chẳng hạn như tri giác, được cho là không chân cũng không giả; một cái gì đó hoặc được trực giác hoặc không. Nếu, trái ngược với phán đoán ‘chiếc bảng thì đen’, tôi chỉ đơn giản nghĩ: bảng-đen, không ‘khẳng định’ bất cứ điều gì, và do đó không tuyên bố rõ cái gì là ‘chân’ hay ‘giả’. Giờ đây, vì đặc điểm riêng biệt của tri thức theo đúng nghĩa chân lý - tri thức giả không phải là tri thức về một cái gì đó - tuy nhiên vì chân lý nằm trong mệnh đề, trong phán đoán, nên việc biết đồng nghĩa với phán đoán. Nhận thức luận đương đại là logic. Việc tìm hiểu bản chất của chân lý chuyển sang lý thuyết về phán đoán.
 
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tổ chức và tiếp cận một học thuyết về bản chất của phán đoán như vậy. Giải thích ‘phán đoán’ trong bản chất của nó có nghĩa là gì? Phán đoán là một hoạt động của con người. Với tư cách là một phán đoán về các hiện hữu, phán đoán-về tự nó có [tr.101] liên quan đến các hiện hữu. Chúng ta gọi mối quan hệ này với các hiện hữu là ‘ý hướng tính’. ‘Phán đoán về’ tự nó là có tính ý hướng. Tuy nhiên, ngay cả việc chỉ nhìn vào một thứ gì đó, ví dụ như tri giác bức tường, cũng có liên quan đến một thứ gì đó. Vậy điều gì đầu tiên đặc trưng cho tính ý hướng của phán đoán? ‘Phán đoán về’, đưa ra tuyên bố về, tự nó là một sự xác định, và một sự xác định trong đó cái được phán đoán được xác định trong quá trình phán đoán. Trong phán đoán về bảng đen với tư cách màu đen, thì màu đen được đặt trong mối quan hệ với bảng. Do đó, vẫn còn một mối quan hệ khác. Và mối quan hệ này bây giờ xác định cái mà phán đoán được đưa ra. Không chỉ có mối quan hệ mà Dasein phán đoán có với cái mà phán đoán được đưa ra, mà phán đoán được đưa ra tự nó lại được diễn đạt theo mối quan hệ, được diễn đạt bằng một mối quan hệ. Như vậy, mối quan hệ có tính ý hướng của việc đưa ra tuyên bố tự nó là một mối quan hệ liên hệ. Việc có mối quan hệ có tính ý hướng, như một cách có chủ đích, tạo ra một sự liên hệ bổ sung, theo nghĩa xác định một cái gì đó là một cái gì đó. Mối quan hệ có tính ý hướng mà mệnh đề có với cái mà phán đoán được đưa ra tự nó được phân nhánh, có thể biểu diễn một cách thô sơ, không đầy đủ như sau: Dasein – Phán đoán – sự vật hiện diện – sự xác định.
 
Lời tuyên bố sở hữu một ý hướng tính tham chiếu. Nó là một mối quan hệ phân nhánh duy nhất ban đầu (nhất tính của tổng hợp và phân nhánh) chứ không phải là hai hoặc nhiều mối quan hệ không phân nhánh nằm cạnh nhau hoặc nối tiếp nhau. Trước hết tôi không tri giác bảng rồi đến đen và sau đó kết hợp cả hai tri giác đó. Trong từ ‘là’ của phán đoán ‘A là B’, có cả từ ‘là’ của mối quan hệ với một hiện hữu và sự phân nhánh. Câu hỏi về bản chất của chân lý, chân lý được hiểu là nằm trong phán đoán, đã trở thành câu hỏi về bản chất của phán đoán. Vậy là trước hết phán đoán cho thấy cấu trúc của ý hướng tính cùng sự phân nhánh, và cả hai đều là cấu trúc của phán đoán Dasein. Dasein là gì, làm thế nào nó có thể đưa ra tuyên bố và phải đưa ra theo cách thức ý hướng tính bị phân nhánh? Khả tính nội tại của phán đoán được đặt nền tảng ở đâu với tư cách là phương thức hoạt động đặc trưng của Dasein? Chúng ta cần làm sáng tỏ cấu trúc hiện hữu của Dasein, trước hết là ở khía cạnh xác định này, sau đó cuối cùng liên quan đến một bản thể luận, một siêu hình học của Dasein.
 
[Ghi chú về ‘Metaphysics of Dasein’: Ngay sau khi Heidegger hoàn thành tác phẩm kinh điển Sein und Zeit Hữu thể và Thời gian vào khoảng mùa thu năm 1926, đã có sự thay đổi trong cách ông sử dụng thuật ngữ ‘siêu hình học’. Cần nhớ rằng Sein und Zeit được viết để phản đối ‘siêu hình học’. Dòng đầu tiên của cuốn sách không để lại chút nghi ngờ nào: ‘Vấn đề [về tồn tại] ngày nay đã bị lãng quên—mặc dù thời đại của chúng ta tự coi mình là tiến bộ khi khẳng định lại ‘siêu hình học’’’ (Heidegger, 2001a: tr. 2/1). Ở đây Heidegger ở đây đề cập đến một ‘sự hồi sinh của siêu hình học’ đã trở nên phổ biến vào đầu thế kỷ 20 với các tác giả như Georg Simmel, Nicolai Hartmann hoặc Peter Wust (ông đã viết một cuốn sách có tên Die Auferstehung der Metaphysik Cuộc hồi sinh của Siêu hình học vào năm 1920). Theo Sein und Zeit, siêu hình học ‘mới’ này đã sai lầm khi tin rằng nó ‘không cần phải nỗ lực khơi lại γιγαντομαχία περὶ τῆς οὐσίας gigantomachia peri tēs ousias’ ‘cuộc chiến của những gã khổng lồ về bản thể’ vốn ‘đã duy trì sự nghiên cứu hăng say của Plato và Aristotle’. Nhưng trong khi viết cuốn sách của mình, Heidegger bắt đầu suy ngẫm về khả năng của một thứ mà ông mô tả là ‘siêu hình học khoa học’. Vào mùa đông năm 1926/27, trong khóa giảng dành cho ‘Lịch sử Triết học từ Thomas Aquinas đến Kant’, Heidegger đã nói về bản thể luận hiện tượng học của mình như một siêu hình học khoa học và mô tả câu hỏi về tồn tại của ông như một câu hỏi siêu hình. Những năm tiếp theo đã cho Heidegger cơ hội để phát triển một dự án triết học mới không hoàn toàn giống với bản thể luận nền tảng và ông đặt tên cho nó là „Metaphysik des Daseins“ Siêu hình học về Dasein. Trong nhiều năm, dự án siêu hình học này có thể được coi là một điều kỳ lạ mà Heidegger chỉ đề cập đến vào năm 1929, trong phần thứ tư của tác phẩm Kant und das Problem der Metaphysik Kant và Vấn đề Siêu hình học. Nhưng với việc xuất bản gần đây các bài giảng được tổ chức vào cuối những năm 1920 trong Gesamtausgabe Toàn tập Heidegger, người ta không thể không xem xét Heidegger thực sự đang cố gắng đặt nền móng cho một siêu hình học mới—thực sự cố gắng để trở thành một nhà siêu hình học. Tất nhiên, điều này không kéo dài. Chúng ta biết rằng vào giữa những năm 1930, Heidegger đã bắt đầu một con đường mới, bỏ lại siêu hình học phía sau. Nhưng trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến năm 1930, chúng ta phải thừa nhận rằng Heidegger đã cố gắng đưa ra một câu trả lời siêu hình học cho câu hỏi về sự tồn tại. Và đây phải là một khám phá đáng ngạc nhiên nếu chúng ta xét thấy Heidegger thường được coi là ‘Đại Phán quan’ đã loại bỏ siêu hình học khỏi triết học Lục địa Đương đại một cách dứt khoát. Nhưng vào cuối những năm 1920, Heidegger không bao giờ nói về việc vượt qua, mà đúng hơn là về việc khôi phục lại những câu hỏi cơ bản của siêu hình học. Theo Jaran, François (2010). Toward a Metaphysical Freedom: Heidegger’s Project of a Metaphysics of Dasein. In International Journal of Philosophical Studies, vol. 18, no. 2, 2010, pp. 205–227. - HHN]

[Tr.102] Nhưng bây giờ chúng ta hãy đi sâu hơn vào câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa phán đoán và chân lý. Nói rằng chân lý có vị trí của nó trong mệnh đề có nghĩa là gì? Chân lý có phải là một ‘thuộc tính’ của phán đoán, giống như màu sắc là thuộc tính của một sự vật vật chất không? Điều này cũng chỉ có thể được quyết định sau khi chúng ta làm rõ cách thức chân lý liên quan đến Dasein phán đoán và đến Dasein nói chung. Chỉ khi nào khả tính nội tại của chân lý trở nên rõ ràng thì khả tính tri thức, và do đó cả khả tính phán đoán và tư duy, mới trở nên dễ hiểu, chứ không phải ngược lại! Hàm ý của điều này đối với khái niệm logic là ở chỗ nhiệm vụ của logic, nói một cách tổng quát, là làm sáng tỏ bản chất của chân lý. Tuy nhiên, nếu việc làm sáng tỏ bản chất của chân lý chỉ có thể được thực hiện với tư cách một siêu hình học, một bản thể luận, thì logic phải được hình dung như là siêu hình học của chân lý.
 
Do đó, chúng ta đã lần theo những đặc điểm học thuyết phán đoán của Leibniz theo một con đường mà trên đó chúng ta bắt gặp đặc tính của ‘chân lý’: Phán đoán là sự kết nối, chính xác hơn là sự bao hàm; đặc điểm chính của mối quan hệ chủ ngữ-vị ngữ là đồng nhất tính, nhưng đối với Leibniz, tự nó là chân không có gì khác hơn là có tính đồng nhất. Sự biện minh, làm rõ và chứng thực tính đúng đắn được thực hiện bằng cách quy giản về các đồng nhất tính và được biến thành khả thể bởi sự nhất quán lẫn nhau của các xác định được coi là tương thích trong nhất tính của cái mà phán đoán được đưa ra, trong nhất tính của chủ thể. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng quan niệm về phán đoán và chân lý ở đây không chỉ đề cập đến những chân lý bản chất mà còn cả những chân lý hiện sinh. Và điều này có nghĩa là tất cả các mệnh đề khả thể xác định một hiện hữu cá nhân nhất định phải được quy giản một cách lý tưởng thành một sự kết nối của các đồng nhất tính thuần túy. Theo cách này, chúng là các xác định của những gì thuộc về nhau. 
 
Đa tính của những gì thuộc về nhau, để có thể trở thành một chỉnh thể nhất quán khả thể, đòi hỏi một nhất tính của tình trạng thuộc về nhau. Tuy nhiên, đây phải là một nhất tính có trước, bởi chỉ bằng cách đó nó mới có thể hoạt động như một tiêu chuẩn cho sự mạch lạc của vạn vật hoặc cho tính không mạch lạc của những gì được cho là mạch lạc. Sự mạch lạc của một đa tính, như là trạng thái thuộc về nhau một cách thích hợp, đòi hỏi một nhất tính điều chỉnh trước. Việc quy giản về nhất tính, như một tổng thể của các xác định tương thích và tương thích mạch lạc, như một phương thức phán đoán về các hiện hữu, chỉ khả thể về phương diện siêu hình học nếu bản thân hiện hữu đó được cấu thành bởi một nhất tính nguyên thủy. Leibniz nhìn thấy nhất tính này trong cấu trúc đơn tử của thực thể. Do đó, cấu trúc đơn tử của các hiện hữu là nền tảng siêu hình cho lý thuyết phán đoán và cho lý thuyết đồng nhất tính về chân lý. Việc chúng ta phân tích học thuyết phán đoán của Leibniz xuống các vấn đề siêu hình cơ bản [tr.103] được hoàn thành ở đây. Chúng ta đặc biệt phải ghi nhớ rằng mỗi đơn tử là một tấm gương, là vũ trụ tiềm tàng. Do đó, nó được phối hợp một cách lý tưởng với vũ trụ như là đối tượng của tri thức linh thánh tuyệt đối. Bằng cách này, chúng ta đã có được cơ sở siêu hình cho ý niệm về tri thức như là intuitus trực giác, cho cái lý tưởng về tri thức như là cognito adaequata intuitive tri thức trực giác đầy đủ, như là tính minh bạch tuyệt đối, nhận thức thuần túy và giản phác của đơn tử.
 
Do đó, logic chân lý của Leibniz chỉ có thể khả thể trên cơ sở siêu hình học đơn tử về thực thể. Logic này về cơ bản có các nền tảng siêu hình. Thật vậy, như sự xem xét triệt để có thể chứng minh, nó không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý. Đúng là bản thân Leibniz không hề trình bày rõ ràng về vấn đề các nền tảng siêu hình học của logic. Ngược lại, khuynh hướng phát triển logic từ chính nó và siêu hình học, như thể, từ logic của ông được thể hiện nhiều lần. Và trong nỗ lực này, các khái niệm về siêu hình học và logic được bảo tồn trong các đặc điểm cơ bản của chúng, bất chấp mọi sự biến đổi của các vấn đề cụ thể của chúng. Định hướng của chúng ta đối với logic của Leibniz và mối liên hệ của nó với siêu hình học có nhiệm vụ trước hết là làm cho chân trời của các vấn đề khả thể trong lĩnh vực này trở nên khả kiến ngay từ đầu, để loại bỏ bớt tính xa lạ khỏi các cuộc thảo luận thuần túy mang tính hệ thống sẽ diễn ra sau đó. Nhưng đặc biệt hơn, chúng ta đã cố gắng bác bỏ giả định rằng logic là một thứ gì đó trôi nổi tự do, một thứ gì đó chỉ thu lu bên trong bản thân nó.
 
Tất nhiên, vẫn có lập luận cho rằng tính ưu việt của logic so với siêu hình học có thể được chứng minh một cách thuyết phục. Lập luận này có thêm lợi thế là có khả năng giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa chúng dựa trên các khái niệm khá tổng quát về logic và siêu hình học, mà không cần đi sâu vào các vấn đề cụ thể thuộc về nội dung của logic hay siêu hình học. Trong khi luận điểm của chúng ta là: a) Logic được đặt nền tảng trong siêu hình học, và b) Logic không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý; thì lập luận khác lại dựa trên 1) Giả định cho rằng logic trôi nổi tự do, một thứ tư duy nào đó cứ như thể tối thượng vậy, và 2) Lập luận chung rằng logic có tính ưu việt hơn tất cả các ngành khoa học, một lập luận bắt nguồn từ giả định đầu tiên. Lập luận này có ưu điểm là a) Được duy trì một cách tổng quát, về hình thức, mà không đi sâu vào nội dung của các ngành siêu hình học và logic, và b) Dễ hiểu ngay lập tức ở cấp độ thông thường. Người ta cho rằng siêu hình học, với tư cách là một khoa học, hiểu biết, và do đó nó là một loại tư duy; với tư cách là tư duy, nó [tr.104] giả định khoa học về tư duy, và do đó giả định logic. Lập luận khẳng định rằng logic là tiền đề của siêu hình học, vì nếu không có nó thì ngay cả siêu hình học cũng không thể được biện minh hoặc thực hiện. Giờ đây, bởi vì lập luận này có giá trị đối với mọi ngành khoa học, đối với mọi hiểu biết và tư duy, do đó ‘logic’ giả định logic! Một kết luận được rút ra nhất quán như vậy đương nhiên khiến người ta phải suy nghĩ, đặc biệt là liệu lập luận đó có giải thích được điều gì về mối quan hệ giữa logic và siêu hình học hay không. Bởi vì lập luận này áp dụng như nhau cho cả logic và siêu hình học. Nếu đúng như vậy, thì lập luận này cuối cùng phải được kiểm chứng bằng những hệ quả của nó.
 
Lập luận cho rằng siêu hình học, với tư cách là tri thức triết học và hiểu biết, chính là một dạng tư duy. Tư duy đòi hỏi logic, và trước khi có thể đặt nền móng cho siêu hình học, thì logic phải được thiết lập làm nền tảng cho siêu hình học, chứ không phải ngược lại. Dễ dàng nhận thấy rằng lập luận này có thể được áp dụng cho mọi ngành khoa học, với kết luận rằng logic phải cung cấp tiền đề cho tất cả các ngành khoa học. Nhưng cuối cùng, chính khả tính áp dụng lập luận này cho bất kỳ ngành khoa học nào lại phản bác tuyên bố cho rằng logic là tiền đề của tất cả các ngành khoa học, và do đó đặc biệt là của siêu hình học. Vì ở đây ‘tiền đề’ có nghĩa là gì? Mọi ngành khoa học, bao gồm cả siêu hình học, và mọi hình thức tư duy tiền khoa học đều sử dụng, như một dạng tư duy, các quy tắc hình thức của tư duy. Việc sử dụng các quy tắc của tư duy trong quá trình tư duy là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta hãy tạm thời bỏ ngỏ câu hỏi tại sao lại như vậy. Nhưng liệu từ tính chất không thể tránh khỏi của việc sử dụng các quy tắc trong quá trình tư duy có suy ra được rằng khoa học có cơ sở trong logic hay không? Hoàn toàn không. Tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc tự nó không nhất thiết ngụ ý tính không thể tránh khỏi của logic. Việc sử dụng quy tắc không nhất thiết đòi hỏi một khoa học về các quy tắc tư duy và chắc chắn không phải là một tri ​​thức lý luận về các quy tắc này theo nghĩa của logic truyền thống. Bởi vì nếu không, sự biện minh có suy nghĩ cho chính logic về bản chất sẽ là không thể hoặc trở nên dư thừa.
 
Ngay cả khi người ta muốn thừa nhận rằng tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc trong tư duy khoa học ngụ ý tính không thể tránh khỏi của logic đối với khoa học và siêu hình học, điều này đồng nghĩa với việc logic là nền tảng của khoa học. Quá trình tư duy và việc sử dụng các quy tắc, trong số những điều khác, là những yêu cầu xuất phát từ bản chất của khoa học, nhưng bản chất của khoa học lại không có khả tính nội tại trong quá trình tư duy và việc sử dụng các quy tắc. Hơn nữa, điều ngược lại cũng đúng. Tính không thể tránh khỏi của việc sử dụng quy tắc chỉ có thể được thiết lập từ khả tính nội tại [tr.105] thiết yếu của khoa học, và chỉ có thể được biện minh về mặt siêu hình học. Không chỉ việc sử dụng quy tắc, mà chính các quy tắc cũng cần đến siêu hình học để biện minh. Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng sự biện minh siêu hình học này đối với các quy tắc logic lại giả định tư duy khoa học, giả định chính các quy tắc và tất yếu sử dụng chúng.
 
Vì vậy, tính ưu việt của các quy tắc tư duy, dù có quanh co khúc khuỷu thế nào đi nữa, cũng không thể bị bác bỏ. Trên thực tế, lập luận này không thể né tránh. Nhưng đặc biệt không thể né tránh câu hỏi liệu các điều kiện cần thiết cho hoạt động của tư duy có được định trước đối với bản chất của tư duy và trước cái mà tư duy như một hoạt động của Dasein dựa trên đó, hay ngược lại, bản chất của Dasein và tư duy trước tiên làm cho các điều kiện hoạt động của tư duy và cách thức mà chúng nhất thiết phải được sử dụng trở nên khả thể. Tư duy và việc sử dụng quy tắc có thể là không thể tránh khỏi đối với hoạt động của mọi tư duy, và do đó cũng là để thiết lập siêu hình học, nhưng điều này không có nghĩa là nền tảng nằm ở việc sử dụng các quy tắc. Ngược lại, điều đó chỉ đơn giản dẫn đến thực tế là việc sử dụng quy tắc tự nó cần được biện minh. Và điều đó càng củng cố kết luận cho rằng lập luận có vẻ hợp lý này hoàn toàn không có cơ sở để thiết lập một nền tảng nào cả. Lập luận từ tính tất yếu của việc sử dụng quy tắc chỉ có thể dựa vào thực tế này, cái thực tế về tính tất yếu của nó, nhưng nó thậm chí không thể biến thực tế này, trong khả tính nội tại của nó, thành một vấn đề, chứ đừng nói đến việc giải quyết nó. 
 
Do đó: 1) Logic thậm chí không phải là điều kiện hoạt động cho tư duy mà chỉ là một khoa học về các quy tắc theo đúng nghĩa được lưu giữ trong một truyền thống. 2) Nhưng nếu nó là một khoa học về quy tắc, thì rõ ràng logic, ở dạng truyền thống của nó, không thể làm sáng tỏ hay biện minh cho chính những quy tắc này trong bản chất của chúng. 3) Trong chừng mực khả tính nội tại của một cái gì đó cung cấp nền tảng phải có trước đối với hoạt động thực tế và các điều kiện của tư duy, thì việc giải thích khả tính nội tại của tư duy, theo đúng nghĩa, lại là tiền đề của ‘logic’ như một khoa học về các quy tắc của tư duy. 4) Toàn bộ vấn đề về tính ưu tiên khả thể của siêu hình học so với logic hoặc logic so với siêu hình học không thể được đặt ra, thảo luận và giải quyết bằng logic, trừ khi logic được coi là siêu hình học của chân lý. Nếu có thể thảo luận những vấn đề này theo cách thức của siêu hình học, thì việc sử dụng các quy tắc logic chắc chắn là một trong những điều kiện để nó hoạt động.
 
Những điều đã nói ở trên đủ để chứng minh luận điểm ưa thích về tính ưu việt của logic. Đây là một luận điểm kinh điển - đối với tất cả các ngụy biện. Nó khơi gợi ảo tưởng, và có thể làm như vậy bất cứ lúc nào, và nó đang [tr.106] thúc đẩy một nền tảng tối thượng mà không dựa vào bất kỳ cơ sở áp chót nào. Mọi sự biện minh thấu triệt đều bị bác bỏ bởi thực tế là, với tư cách biện minh, nó thậm chí còn tư duy. Mặc dù, trong ảo tưởng này, nó viện dẫn đến một điều gì đó mà nó không thể đưa ra lời biện minh, tuy nhiên - và đây là điều ngụy biện - nó tạo ra vẻ ngoài rằng lập luận hình thức này là chặt chẽ nhất và mọi sự biện minh chỉ thỏa đáng trong phương thức lập luận hình thức. Sẽ là sai lầm nếu tin rằng, bởi vì mang tính hình thức và trống rỗng, nên luận điểm này có thể bị bác bỏ theo cùng một cách, về mặt hình thức. Thay vào đó, sự bác bỏ chỉ bao gồm việc chỉ ra tại sao luận điểm này là khả thể và tại sao nó thậm chí là cần thiết trong một số tiền đề nhất định. Ngay từ bước đầu tiên đưa ra lý lẽ biện minh cho lập luận, ta thấy rõ rằng lập luận này sống và nuôi dưỡng dựa trên một điều gì đó, điều mà chính lập luận đó không những không thể tạo ra mà thậm chí nó còn tin rằng mình phải phủ nhận!
 
Lập luận này không phải là tùy tiện. Nó có nguồn gốc siêu hình và do đó xuất hiện lặp đi lặp lại, đặc biệt là ở bất cứ nơi nào người ta tìm kiếm một nền tảng triệt để. Và vì vậy, Leibniz hết lần này đến lần khác tiến gần đến việc đặt nền móng cho siêu hình học trên cơ sở logic, có lẽ rõ ràng và nhấn mạnh nhất trong cái luận thuyết đã được đề cập nhiều lần, Primae veritates Chân lý Đầu tiên (C. 581-23) [L. 267]. Logic đương đại cho thấy một sự bóp méo mới về vấn đề này. Siêu hình học không chỉ bị quy giản thành logic, mà bản thân logic cũng bị quy giản thành toán học. Logic đương đại là logic tượng trưng, ​​logic toán học, và do đó là một logic tuân theo phương pháp toán học. Ngay cả khi, thông qua những suy ngẫm trước đây về Leibniz, và có thể sử dụng các thuật ngữ ‘siêu hình học’ cùng ‘logic’ với nội dung xác định hơn, nhưng chúng ta vẫn không thể giải quyết được vấn đề về mối quan hệ giữa siêu hình học và logic thông qua những thảo luận chung chung như vậy. Điều này đặc biệt đúng bởi vì trước chúng ta không có hai ngành học vững chắc, ổn định có thể đơn giản được đặt đối lập với nhau. Thay vào đó, điều quan trọng là phải nêu ra một vấn đề trung tâm của logic trên nền tảng của những suy tư trước đó, chủ yếu hướng về lịch sử, và làm rõ vấn đề theo phương thức cho thấy một cung cách cụ thể logic chỉ có thể khả thể như là siêu hình học về chân lý. Cũng như trong tất cả các nhiệm vụ triết học đặt nền móng, điều quan trọng hàng đầu là phải lưu ý rằng việc đặt nền móng không có nghĩa là đặt thêm một nền tảng khác dưới một ngành học đã hoàn thiện. Việc đặt nền móng luôn hàm ý một bản phác thảo mới. Mỗi nền tảng cho triết học phải biến đổi chính triết học, nhưng sự biến đổi chỉ có thể thực hiện được khi nắm bắt và duy trì những gì là thiết yếu.
 
Để kết thúc phần chính đầu tiên của loạt bài giảng, cần nhắc lại [tr.107] rằng mục tiêu của chúng ta, nói chung, là một logic triết học. Nghĩa là, chúng ta đang tìm kiếm nền tảng siêu hình học của logic. Như một lời giới thiệu cụ thể về vấn đề siêu hình học cơ bản, chúng ta đã sử dụng việc tháo dỡ logic của Leibniz - về nguyên tắc điều này cũng có thể thực hiện được với Plato hoặc Aristotle. Mối liên hệ giữa lý thuyết đồng nhất tính và đơn tử luận vậy là đã trở nên rõ ràng. Mối liên hệ này chứng minh cho khẳng định của chúng ta cho rằng logic được xây dựng trên cơ sở siêu hình học và không gì khác hơn là siêu hình học về chân lý. Một cuộc thảo luận sơ bộ quan trọng đã được dành cho lời phản bác thường thấy duy trì tính ưu việt của logic. Điều kiện cần thiết để làm một việc gì đó là không thể được đồng nhất với lý do cho cái khả tính nội tại của những gì có thể được thực hiện. Việc viện dẫn điều kiện cần thiết này không tạo ra nền tảng nào; ngược lại, nó thu hẹp câu hỏi và cản trở con đường tìm tòi. Tính mù quáng đặc trưng của lập luận này được thể hiện qua việc nó xuất hiện lặp đi lặp lại. Và với điều này, chúng ta sẽ bước vào phần thứ hai của Khóa học.
_____________________________________
 
(Còn nữa)
 
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes
 
13. [Published as volume 24 of the Gesamtausgabe: Die Grundprobleme der Phenomenologie, ed. F.-W. von Herrmann (Frankfurt a.M., 1975)] [The Basic Problems of Phenomenology, translation, introduction and lexicon by Albert Hofstadter (Bloomington: Indiana University Press, 1982).]










Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz

§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực

a) Đơn tử như là động lực

Hiện tượng thúc đẩy không chỉ mang theo nguyên nhân, theo nghĩa giải phóng, mà bản thân sự thúc đẩy đã được giải phóng. Tuy nhiên, nó được kích hoạt theo cách mà nó vẫn luôn luôn tích tụ, vẫn căng thẳng. Động lực tương ứng có thể bị cản trở trong lực đẩy của nó, nhưng trong trường hợp đó nó không giống như một [tr.83] khả năng hành động chỉ mang tính tĩnh. Tuy nhiên, việc loại bỏ trở ngại vẫn có thể cho phép động lực trở nên tự do. Do đó, động lực không cần thêm nguyên nhân nào từ bên ngoài, mà ngược lại, chỉ cần loại bỏ một số trở ngại hiện có, hay nói cách khác, theo cách diễn đạt khéo léo của Max Scheler, nó cần ‘giải phóng khỏi trở ngại’. Trong cùng một bài viết, Leibniz nói (ibid.): Atque ita per se ipsam in operationem fertur; nec auxiliis indiget, sed sola sublatione impedimenti [do đó tự nó được thực hiện bởi chính nó và không cần trợ giúp gì ngoài việc loại bỏ một trở ngại]. Một chiếc cung cong minh họa ý nghĩa của ông.

Sau khi làm rõ khái niệm vis activa lực chủ động như là động lực - bản dịch dung chữ ‘lực’ gây hiểu nhầm vì nó dễ dẫn đến quan niệm về một thuộc tính tĩnh - Leibniz đã đi đến định nghĩa cốt yếu: Et hanc agendi virtutem omni substantiae inesse ajo, semperque aliquam ex ea actionem nasci; “Tôi nói rằng sức mạnh hành động này vốn có trong mọi bản chất (cấu thành substantiae thực thể tính của nó) và một số hành động luôn phát sinh từ nó.” Nó là động lực và có tính sản sinh. Producere có nghĩa là: “dẫn dắt/hướng dẫn”, tự xuất hiện và duy trì kết quả trong chính nó. Định nghĩa này như là động lực cũng áp dụng cho các bản chất hữu hình. Khi các vật thể tác động lên nhau, động lực chỉ bị giới hạn và hạn chế ở các mức độ khác nhau. Những người theo chủ nghĩa Descartes đã bỏ qua điều này qui essentiam ejus (substantiae corporeae) in sola extension…. collocaverunt (ibid.) “kẻ đã đặt bản chất (của vật chất hữu hình) chỉ trong sự mở rộng”.

Mọi hiện hữu đều có đặc tính động lực này và được định nghĩa, bằng hiện hữu của nó, là có động lực. Đây là đặc điểm siêu hình cơ bản của cái đơn tử, mặc dù cấu trúc của động lực vẫn chưa được xác định rõ ràng. Điều được ngụ ý ở đây là một tuyên bố siêu hình có tầm quan trọng tối cao, mà chúng ta cần phải dự đoán ngay bây giờ. Bởi vì, với tư cách là phổ quát, cách diễn giải này về genuine being hữu thể đích thực cũng phải giải thích khả tính của các hiện hữu như một tổng thể. Tuyên bố cơ bản Đơn tử luận hàm ý gì về cách các mà các hiện hữu khác nhau cùng tồn tại trong toàn bộ vũ trụ? Nếu mỗi hiện hữu, mỗi đơn tử, đều có xung lực riêng, thì điều đó có nghĩa là nó mang theo những yếu tố thiết yếu hữu thể của nó, mục tiêu và phương thức hoạt động của nó. Sự hiện diện của tất cả các hiện hữu cùng nhau, hay nói đúng hơn là sự thúc đẩy lẫn nhau của các đơn tử khác, về bản chất là phủ định trong mối quan hệ có thể có của nó với mỗi đơn tử cá thể. Không một chất nào có thể truyền động lực của nó, vốn là bản thể thiết yếu của nó, cho các chất khác. Nó chỉ có thể cản trở hoặc không cản trở, và ngay cả chức năng này nó cũng chỉ có thể thực hiện một cách gián tiếp. Mối quan hệ giữa các chất với nhau chỉ mang tính hạn chế và do đó về bản chất là mang tính phủ định. Leibniz rất rõ ràng về điểm này:

[Tr.84] Apparebit etiam ex nostris meditationibus, substantiam creatam ab alia substantia creata non ipsam vim agendi, sed praeexistentis jam nisus sui, sive virtutis agendi, limites tantummodo ac determinationem accipere. (Ibid.) Qua sự suy ngẫm của chúng ta, rõ ràng là một chất được tạo ra nhận được từ một chất được tạo ra khác, không phải lực tác động của chính nó, mà chỉ là những giới hạn và sự xác định của nỗ lực hoặc sức mạnh hành động tồn tại từ trước của chính nó. [L. 433] Nisus praeexistens sức đẩy có sẵn này rất quan trọng. Leibniz kết thúc bài viết bằng câu nói: Ut alia Nunc taceam ad Solndum illud problema difficile, de substantiarum Operatione in se invicem, profutura [Giờ đây không nói đến những vấn đề khác, tôi sẽ để việc giải quyết vấn đề khó khăn về tác động lẫn nhau của các chất lên nhau cho tương lai].

Lưu ý: Leibniz cũng mô tả vis activa lực chủ động là ἐντελέχεια entelecheia trạng thái hoàn thành khi đề cập đến Aristotle, chẳng hạn trong Systeme nouveau Hệ thống mớiMonadologie Đơn tử luận (§18; G. VI, 609) [L. 453, 643, tương ứng], và ông bổ sung thêm lời giải thích: car elles ont en elles une certaine perfection (ἔχοσί τὸ ἐντελές échosí tó entelés); ‘vì chúng có trong mình một sự hoàn hảo hoặc trọn vẹn nhất định.’ Chúng hoàn chỉnh ở chỗ mỗi monad đơn tử (như sẽ được chứng minh sau) đã mang theo nội dung tích cực của nó, và với cách thức là nội dung đó một cách tiềm năng lại chính là vũ trụ. Cách hiểu này về ἐντελέχεια entelecheia trạng thái hoàn thành không phù hợp với ý định thực sự của Aristotle. Mặt khác, bằng cách gán cho nó một ý nghĩa mới, Leibniz đã khẳng định chính thuật ngữ này thuộc về Đơn tử luận của ông. Ngay từ thời Phục Hưng, ἐντελέχεια entelecheia đã được dịch theo nghĩa của Leibniz là perfectihabia; [Perfectihabia là một thuật ngữ triết học mang nghĩa đen là ‘tình trạng sở hữu sự hoàn hảo’. Theo Gottfried Wilhelm Leibniz từ này dịch sát nghĩa từ gốc Hy Lạp Entelechy mà Aristotle từng sử dụng; trong triết học, từ này thường được hiểu như sau: i) Sự tồn tại viên mãn - dùng để mô tả trạng thái của một thực thể (hoặc các đơn tử - monad của Leibniz) đã đạt được mục đích, sự hoàn thiện nội tại và thực hiện trọn vẹn tiềm năng của mình; ii) Trạng thái năng động - khác với sự tĩnh lặng, ‘perfectihabia’ hay ἐντελέχεια entelecheia biểu thị một dạng hoạt động không ngừng, liên tục và tự duy trì để giữ vững sự hoàn hảo đó bên trong sự vật-HHN] trong tác phẩm Monadologie Đơn tử luận, chương 148, đã nêu tên Hermolaus Barbarus là người dịch thuật ngữ này. Vào thời Phục Hưng, Hermolaus Barbarus (1454-1493) đã dịch và chú giải Aristotle và bài bình luận của Themistios, nhằm mục đích khôi phục lại hình ảnh Aristotle trong văn liệu Hy Lạp trước Chủ nghĩa Kinh viện thời trung cổ. Đương nhiên, nhiệm vụ của ông gặp phải nhiều khó khăn đáng kể. Người ta truyền lại rằng, vì bối rối trước ý nghĩa triết học của thuật ngữ ἐντελέχεια entelecheia, ông đã cầu khẩn Ác quỷ để được chỉ dẫn. (Ngày nay chúng ta cũng đang ở trong tình huống tương tự.)

Đến đây, chúng ta đã giải thích một cách tổng quát khái niệm vis activa: 1) vis activa có nghĩa là động lực; 2) động lực này được cho là vốn có trong mọi substance thực chất với tư cách thực thể; 3) một sự hoàn thành hoặc thực hiện nào đó đều liên tục phát sinh từ động lực. Nhưng bây giờ chúng ta mới đi đến vấn đề siêu hình thực sự về substantiality thực thể tính, về câu hỏi đối với nhất tính của substance thực thể như là hữu thể sơ cấp. Leibniz gọi cái không phải là vật chất là ‘hiện tượng’, một cái gì đó phái sinh, một sự dư thừa. Về vấn đề nhất tính [tr.85], chúng ta đọc các đoạn trong tác phẩm của Leibniz chỉ trích quan niệm của Descartes về thực tại như là sự mở rộng, cái res extensa thực thể mở rộng. Chỉ trích cho rằng ‘nhất tính’ không phải là kết quả của sự tích lũy, sự bổ sung sau đó, mà nhất tính được tìm thấy trong cái mang lại nhất tính từ ​​trước. Nhất tính với tư cách là sự ban tặng nhất tính là chủ động, vis activa, động lực. Nó là primum constitutivum cấu thành đầu tiên, của nhất tính của thực thể/bản chất (Thư gửi de VoIder, ngày 30 tháng 6 năm 1704, (G. 11, 267) [L. 535]. Đây là vấn đề trung tâm của Đơn tử luận, vấn đề về động lực và substantiality thực thể tính. Đặc tính cơ bản của hoạt động này giờ đây đã được làm rõ, nhưng vẫn còn phải xem xét làm thế nào mà một thứ như động lực lại có thể tự thân ban cho-nhất tính. Câu hỏi quan trọng tiếp theo là: Trên cơ sở đơn tử tự-thống nhất này, toàn bộ vũ trụ tự cấu thành nên chính nó như thế nào trong tính liên kết của nó? Trước tiên, chúng ta cần xem xét thêm một khía cạnh khác. 

b) Tìm kiếm đầu mối dẫn dắt cho việc diễn giải về hiện hữu/bản thể.

Chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh rằng chỉ có thể tìm thấy ý nghĩa siêu hình của Đơn tử luận khi chúng ta dám mạo hiểm xây dựng những mối liên hệ và quan điểm thiết yếu, và khi chúng ta làm như vậy bằng cách đi theo con đường đã dẫn dắt chính Leibniz trong việc xây dựng Đơn tử luận. Đơn tử luận cố gắng làm sáng tỏ bản thể của các hiện hữu. Do đó, một ý niệm mang tính hệ mẫu về bản thể phải được tìm thấy ở đâu đó, và nó phải được tìm thấy ở nơi mà một cái gì đó giống như bản thể tự biểu hiện ngay lập tức đối với người đặt ra các câu hỏi triết học. Chúng ta liên hệ với các hiện hữu, tham gia vào và lạc mất chính mình trong chúng. Chúng ta bị choáng ngợp và mê hoặc bởi các hiện hữu. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ liên hệ theo cách này với các hiện hữu, mà bản thân chúng ta cũng là những hiện hữu - mỗi chúng ta đều là như vậy. Và chúng ta như vậy không phải một cách thờ ơ, mà theo cách chính hiện hữu của chúng ta là một mối quan tâm đối với chúng ta. Do đó, bên cạnh những lý do khác, hiện hữu của chính mình, theo một cách nào đó, luôn là manh mối dẫn dắt. Điều này cũng đúng với Đơn tử luận. Ý nghĩa hàm chứa của chức năng dẫn dắt này, và những gì được hình dung (ex-istence sự tồn tại/đứng-ngoài) thông qua đó, vẫn chưa được nghiên cứu về mặt hữu thể luận. Việc liên tục tham chiếu đến Dasein của chính mình, đến cấu trúc-hiện hữu và phương thức-hiện hữu của cái ‘Tôi’ của chính mình, đã cung cấp cho Leibniz mô hình về ‘nhất tính’ mà ông gán cho mọi hiện hữu. Các hiện hữu được diễn giải bằng cách tương tự với linh hồn, sự sống, tinh thần. Điều này trở nên rõ ràng trong nhiều đoạn văn. Tính minh bạch về manh mối dẫn dắt này rất quan trọng để hiểu được cách diễn giải của Leibniz về các hiện hữu, điều này có những hệ quả quan trọng.     

[Tr.86] Bằng cách xem xét ‘linh hồn’ hay ‘hình thức’, nảy sinh ý tưởng về một sự thống nhất thực sự tương ứng với cái mà trong chúng ta được gọi là cái ‘Tôi’; một nhất tính như vậy không thể xảy ra trong máy móc nhân tạo hoặc trong một khối vật chất đơn giản… nó có thể được so sánh với một đội quân hoặc một đàn gia súc, hoặc với một cái ao đầy cá, hoặc một chiếc đồng hồ làm bằng lò xo và bánh răng. (Systeme nouveau Hệ thống mới; G. IV, 482) [L. 546] “Tôi coi bản chất tự thân, nếu nó có động lực ban đầu, như một đơn tử bất khả phân chia và hoàn hảo - có thể so sánh với ego cái tôi của chúng ta. (Thư gửi nhà triết học phái Descartes de VoIder tại Đại học Leyden, ngày 20 tháng 6 năm 1703; G. II, 251) [L.530] Có thể gợi ý thêm rằng nguyên tắc hoạt động (động lực) này có thể hiểu được đối với chúng ta ở mức độ cao nhất bởi vì ở một mức độ nào đó, nó tương tự như những gì vốn có trong chính chúng ta, cụ thể là tái hiện và nỗ lực.” (Thư gửi de VoIder, ngày 30 tháng 6 năm 1704, G. II, 270) Ở đây rõ ràng là định nghĩa về thực thể xuất phát, trước hết, bằng cách tương tự với cái ‘Tôi’ và, thứ hai, do nguồn gốc này mà nó sở hữu mức độ dễ hiểu cao nhất. “Ngược lại, tôi chỉ giả định ở khắp mọi nơi điều mà tất cả chúng ta đều phải thừa nhận xảy ra khá thường xuyên trong tâm hồn mình, đó là những thay đổi nội tại tự-kích hoạt, và với giả định duy nhất này, tôi đã bao quát toàn bộ mọi thứ.” (Thư gửi de VoIder, 1705, G. II, 276)

Vì vậy, giả định duy nhất, nội dung thực sự của dự án siêu hình, là ý niệm về hiện hữu được rút ra từ trải nghiệm của tự ngã, từ sự thay đổi tự-kích hoạt có thể nhận biết được trong cái tôi, từ bản năng. “Nếu chúng ta coi các hình thức thực thể (vis primitiva lực nguyên thủy) như một cái gì đó tương tự như linh hồn, thì người ta có thể nghi ngờ liệu chúng đã bị bác bỏ một cách chính đáng hay không” (Thư gửi John Bernoulli, ngày 29 tháng 7 năm 1698, Math. Schr.11 III 12, 522, dịch từ Bk. II, 366). Điều đó không có nghĩa là formae substantiales các hình thức thực thể chỉ đơn giản là linh hồn, rằng chúng là những thứ mới và những hạt nhỏ, mà chúng tương ứng với ‘linh hồn’ hơn. Linh hồn chỉ đơn thuần là động lực để hình dung cấu trúc cơ bản của đơn tử. “Chính vì vậy, khi chúng ta nghĩ về bản thân mình, cái mà chúng ta nghĩ về hiện hữu, về thực thể, về cái đơn giản và cái phức hợp, về cái phi vật chất, và về chính Chúa, bằng cách hình dung về cái bị giới hạn trong chúng ta là vô hạn trong Ngài.” (Monadologie – Đơn tử luận, 130; G. VI, 612.) [L. 646].

[Tr.87] Đối với toàn bộ vấn đề nói chung, liên quan đến manh mối dẫn dắt của tự-phản tư và tự-nhận thức, ở đây có một bức thư hữu ích gửi Nữ hoàng Sophia Charlotte của Nước Phổ mà chúng ta cần tham khảo, “Về những gì độc lập với giác quan và vật chất,” (1702, G. VI, 499-508) [L. 547]. Nội dung liên quan như sau: “Suy tư này về bản thân thần, kẻ tri giác các đối tượng khả tri, và về hành động của chính thần kết cục từ đó, bổ sung thêm điều gì đó cho các đối tượng của giác quan. Nghĩ về một màu sắc nào đó và xem xét rằng thần đang nghĩ về nó - hai suy nghĩ này rất khác nhau, cũng giống như chính màu sắc khác với ego cái tôi tư duy về nó. Vì thần nhận thức rằng có những hiện hữu khác cũng có quyền nói ‘Tôi’, hoặc đối với những hiện hữu mà điều này có thể nói ra, nên nhờ đó mà thần nhận thức được cái gọi là thực thể nói chung. Chính sự xem xét về bản thân thần cũng cung cấp cho thần những khái niệm siêu hình khác, chẳng hạn như khái niệm về nguyên nhân, kết quả, hành động, sự tương đồng, v.v., và thậm chí cả những khái niệm về logic và đạo đức.” Cuối cùng, trong bức thư đó: “Hiện hữu tự thân và chân lý không được hiểu hoàn toàn thông qua các giác quan…Do đó quan niệm này về hiện hữu và chân lý được tìm thấy trong ego cái tôi và trong sự hiểu biết hơn là bằng các giác quan bên ngoài và lối tri giác về các đối tượng bên ngoài.” (G. VI, 502/3)

Tóm lại, tất cả những điều này dẫn đến kết luận gì? Thứ nhất, mặc dù có nhiều điểm khác biệt với Descartes, Leibniz vẫn duy trì quan điểm giống như Descartes về tính ưu việt của sự tự tin của bản ngã. Giống như Descartes, ông nhìn thấy trong cái ‘Tôi’, trong cái ego cogito (Tôi tư duy), chiều kích mà từ đó tất cả các khái niệm siêu hình cơ bản phải được rút ra. Tuy nhiên, chức năng dẫn dắt của bản ngã vẫn còn mơ hồ ở một số khía cạnh. Thứ nhất, chủ thể tự đặt ra vấn đề về sự tồn tại có thể tự đặt mình vào nghi vấn. Chủ thể khi đó có thể coi mình là có tính hệ mẫu bởi vì, với tư cách là một hiện hữu có sự hiện hữu của chính nó, nó cung cấp ý niệm về sự hiện hữu theo đúng nghĩa. Chủ thể cũng có thể xem mình là cái hiểu về hiện hữu. Là một hiện hữu có cấu trúc đặc biệt, chủ thể có trong hiện hữu của mình một hiểu biết về hiện hữu; trong trường hợp đó, hiện hữu không chỉ đơn thuần đề cập đến sự tồn tại của Dasein.

Liên quan đến tri ​​thức hiện hữu như vậy, Leibniz nói: Et je voudrois bien savoir, comment nous pourrions avoir fidee de I'estre, si nous n'estions des Estres nous memes, et ne trouvions ainsi I'estre en nous. (Nouveaux Essais I, 1, §23; G. V, 71; cf. cũng §21 và Discours, §27, và Monadologie, §30)12 [Và tôi muốn [tr.88] biết làm thế nào chúng ta có thể có ý tưởng về hiện hữu nếu chúng ta không phải là chính mình và do đó không tìm thấy “tự mình là những hiện hữu và tìm thấy hiện hữu bên trong chính mình”. Leibniz cũng muốn nói rằng, để có được ý niệm này, tất nhiên chúng ta phải tồn tại. Nhưng ông còn muốn nói nhiều hơn thế. Về phương diện siêu hình học, chính bản chất của chúng ta là nằm ở chỗ chúng ta không thể là chính mình nếu không có ý niệm về hiện hữu. Nghĩa là, sự hiểu biết về hiện hữu là yếu tố cấu thành nên Dasein. Nhưng từ đó không suy ra rằng chúng ta có được ý niệm về hiện hữu bằng cách dựa vào chính mình như những hiện hữu. Thay vào đó, nguồn gốc gần nhất của ý niệm này là dửng dưng – thứ hiện diện không phân biệt của thế giới và chính chúng ta. (Nhân tiện, khái niệm ‘mana’ [Trong văn hóa Melanesia và Polynesia, mana là một sức mạnh siêu nhiên thấm đẫm trong vũ trụ; bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì cũng có thể có mana; người ta tin rằng đó là sự trau dồi hoặc sở hữu năng lượng và sức mạnh, chứ không phải là một nguồn sức mạnh; đó là một sức mạnh có ý hướng; vào thế kỷ 19, các học giả đã so sánh mana với các khái niệm tương tự như orenda của người da đỏ Iroquois và đưa ra giả thuyết rằng mana là một hiện tượng phổ quát để diễn giải nguồn gốc của các tôn giáo; tuy nhiên, các nghiên cứu sau này đã bác bỏ giả thuyết ấy; mana là một yếu tố nền tảng của vật linh luận Polynesia, một phẩm chất tâm linh có nguồn gốc siêu nhiên và là một sức mạnh thiêng liêng, phi cá nhân; mana được coi là một ‘sức mạnh siêu việt ban phước’ có thể ‘biểu hiện trực tiếp’ thông qua nhiều cách khác nhau, nhưng thường thể hiện qua lời nói, cử chỉ hoặc nghi lễ truyền thống của một ‘nhà tiên tri, thầy tế lễ hoặc tộc trưởng.- HHN] giải thích cho sự không phân biệt này và thứ hiện hữu được trao cho [thế giới].) Chính chúng ta là nguồn gốc của ý niệm về tồn tại, nhưng nguồn gốc này phải được hiểu là sự siêu việt nguyên thủy của Dasein. Đây là ý nghĩa của việc rút ra ý niệm về hữu thể từ ‘chủ thể’. Sự hiểu biết về hữu thể chỉ thuộc về chủ thể khi chủ thể là một cái gì đó. Điều đó vượt lên trên mọi thứ. Nhiều cách diễn đạt khác nhau về hữu thể nảy sinh từ sự siêu việt. Tuy nhiên, ý niệm về Hữu thể như vậy là vấn đề khó khăn và tối thượng. Trong chức năng đa diện như một manh mối dẫn dắt của cái tôi, bản thân chủ thể vẫn hoàn toàn chưa được làm rõ về mặt bản thể luận. Leibniz đặt ra và giải quyết vấn đề về sự tồn tại, vấn đề cơ bản của siêu hình học, bằng cách viện dẫn đến chủ thể. Mặc dù làm nổi bật các hiện tượng bản thể đích thực, việc viện dẫn cái tôi này, với Leibniz cũng như với những người tiền nhiệm và kế nhiệm của ông, vẫn còn mơ hồ chính vì bản thân cái ‘Tôi’ không được hiểu trong cấu trúc thiết yếu và cách hiện hữu đặc thù của nó.

Đây là lý do tại sao, với Leibniz, phải nảy sinh ấn tượng rằng cách diễn giải Đơn tử luận về các hiện hữu chỉ đơn giản là nhân hình hóa, một loại vật linh luận phổ quát nào đó bằng cách tương tự với cái ‘Tôi’: Nhưng không nên hiểu Leibniz một cách hời hợt và tùy tiện như vậy, ngoài việc ông cố gắng biện minh cho việc xem xét tương tự này về mặt siêu hình học: “Vì bản chất của sự vật là đồng dạng, nên bản chất của chúng ta không thể khác biệt vô hạn so với các thực thể đơn giản khác của cái mà toàn bộ vũ trụ bao gồm” (Thư gửi de VoIder, ngày 30 tháng 6 năm 1704; G. II, 270) [L. 537]. Tất nhiên, cách biện minh mà ông đưa ra ở đây là một nguyên tắc bản thể luận tổng quát, bản thân nó cũng cần được chứng minh. Thay vì giả định một tuyên bố trực tiếp và thô thiển về nhân hình hóa, chúng ta phải hỏi ngược lại: Những cấu trúc Dasein nào của chính chúng ta được cho là trở nên có liên quan đến việc diễn giải bản thể của thực thể? Những cấu trúc này được sửa đổi như thế nào [tr.89] để có đặc quyền làm cho tất cả các cấp độ tồn tại đơn nhất trở nên dễ hiểu? Ở đây cần nêu lại vấn đề trung tâm: Động lực của thực thể mang lại nhất tính như thế nào, bản thân động lực phải được định nghĩa ra sao?

c) Cấu trúc của động lực

Nếu động lực, hay thứ được định nghĩa là cái tồn tại như động lực, được cho là mang lại nhất tính chừng nào nó là động lực, thì bản thân nó phải đơn giản. Nó không được có các bộ phận theo nghĩa của một tập hợp, một bộ sưu tập. Primum constitutivum cấu thành cơ bản phải là một nhất tính không thể chia cắt. Quae res in plura (actu jam existentia) dividi potest, ex pluribus est aggregata, et res quae ex pluribus aggregata, et res quae ex pluribus aggregata est, non est unum nisi mente nee habet realitatem nisi a contentis mutuatam. Hinc jam inferebam, ergo dantur in rebus unitates indivisibiles, quia alioqui nulla erit in rebus unitas vera, nee realitas non mutuata. Quod est absurdum. (Letter to de VoIder, June 30, 1704; G. II, 267). “Bất cứ thứ gì có thể chia thành nhiều thứ (thực sự đang tồn tại) thì đều là một tập hợp của nhiều thứ, và một thứ là tập hợp của nhiều thứ thì không phải là một, ngoại trừ về mặt tinh thần, cũng không có thực tại tính ngoại trừ bằng cách mượn thực tại từ các nội dung của nó (nó chỉ mượn nội dung cốt yếu của nó). Từ đó, tôi suy ra rằng có những nhất tính không thể chia cắt trong các sự vật bởi vì nếu không thì sẽ không có sự nhất tính thực sự trong các sự vật cũng như không có thực tại tính nào không phải là vay mượn. Và điều đó thật vô lý.” Và trong § 1 của Monadologie Đơn tử luận, Leibniz nói: “Thứ đơn tử mà chúng ta đang thảo luận ở đây không gì khác ngoài một thực thể đơn giản tham gia vào các hợp chất. Nó đơn giản, tức là nó không có các bộ phận” (G. VI, 607).

Tuy nhiên, nếu substance thực thể chỉ đơn thuần là thống nhất, thì phải có sẵn một cái gì đó đa tính mà nó thống nhất, bởi nếu không thì toàn bộ vấn đề unification thống nhất hóa sẽ trở nên vô nghĩa và thừa thãi. Cái thống nhất và cái có bản chất là thống nhất do đó về bản chất phải có mối quan hệ với cái đa tính. Điều này có nghĩa là phải có một cái đa tính ngay trong cái đơn tử với tư cách là đơn thuần và thống nhất; cái đơn tử với tư cách là đơn giản và thống nhất, theo đúng nghĩa phải xác định trước cái đa tính khả thể. Bởi vì cái đơn thuần thống nhất là Drang động lực và chỉ khi thực hiện động lực đồng thời mang trong mình cái đa tính, và là đa tính, thì cái đa tính phải có đặc tính của động lực, phải có chuyển động theo đúng nghĩa. Nhưng cái đa tính đang chuyển động là cái có thể thay đổi và cái luôn thay đổi. Cái đa tính bên trong động lực phải có đặc tính Gedrängte bị nén lại. Cái bị nén là cái gì đó Be-drängte bị ép lên. Nhưng [tr.90] trong động lực thì chính động lực là cái bị ép lên. Như vậy, trong chính động lực đã có sự tự vượt lên; có sự thay đổi, biến đổi, chuyển động. Điều này có nghĩa là động lực chính là cái thay đổi tự thân khi tiếp tục vận hành; động lực là cái Ge-drängte được thúc đẩy tiến lên. Động lực, với tư cách là primum constitutivum of substance yếu tố cấu thành đầu tiên của thực thể, phải đơn giản là thống nhất và vừa là nguồn gốc vừa là phương thức hiện hữu của cái có thể thay đổi. Ý nghĩa của simply unifying ‘đơn giản thống nhất’ cần được định nghĩa thêm. Nhất tính không phải là sự tập hợp tiếp theo của một tập hợp, mà là sự thống nhất tổ chức nguồn cội. Điều này có nghĩa là nguyên tắc cấu thành của sự thống nhất phải có trước cái tùy thuộc vào sự thống nhất khả thể. Cái thống nhất phải đi trước bằng cách vươn tới một cái gì đó mà từ đó mọi sự đa dạng đã nhận được unity nhất tính của nó. Thống nhất đơn giản ban đầu phải là một sự vươn ra và, như một sự vươn ra, phải nắm bắt trước theo cách mà toàn bộ sự đa dạng đã trở nên đa dạng trong tầm với bao quanh. Cái thống nhất theo nghĩa này vượt trước cái mà nó thống nhất trong quá trình phát triển của chính nó. Đó là substantia prae-eminens thực thể ưu việt (Thư gửi de VoIder, ngày 20 tháng 6 năm 1703; G. II, 252) [L. 530]. Từ ‘prae’ của pre-eminence không có nghĩa là sự tồn tại đi trước về mặt thời gian, mà là sự vươn tới và nắm bắt đi trước mang tính cấu trúc.

Do đó, cần thiết là vis primitiva lực nguyên thủy, tức là động lực với tư cách là primum constitutivum cấu thành đầu tiên của sự thống nhất nguyên gốc, phải là sự vươn tới và nắm bắt. Leibniz diễn đạt điều này bằng cách nói rằng về bản chất, đơn tử trong bản chất của nó về cơ bản là ‘nắm bắt’ [re-prasentierend – tái hiện]. Động cơ siêu hình sâu sắc nhất cho Vorstellungscharakter đặc tính trình hiện của đơn tử là chức năng thống nhất về mặt bản thể học của động lực. Động cơ này vẫn còn ẩn giấu đối với chính Leibniz. Theo bản chất của vấn đề, nó có thể là lý do duy nhất cho Reprasentationscharakter đặc tính tái hiện. Không phải vì đơn tử, với tư cách lực, một vật thể gì đó sống, và vật thể sống có linh hồn, và linh hồn đó, đến lượt nó, có khả năng Vorstellen nắm bắt. Đó sẽ là một sự áp dụng thực sự hời hợt [tr.91] của cái tâm linh vào hiện hữu nói chung và theo hình thức này sẽ không được biện minh về mặt siêu hình.

Bởi vì động lực được cho là thứ ban đầu chỉ đơn giản là thống nhất, nó phải vươn ra và nắm bắt; nó phải mang tính vor-stellend nắm bắt-trước. Nắm bắt [vor-stellen] ở đây được hiểu khá rộng, về mặt cấu trúc, chứ không phải là một khả năng cụ thể của linh hồn. Do đó, trong bản chất siêu hình của nó, đơn tử không phải là linh hồn, mà ngược lại, linh hồn là một biến thể có thể có của cái đơn tử. Về bản chất, động lực bao quát do đó không phải là một quá trình đôi khi cũng nắm bắt hoặc thậm chí tạo ra sự nắm bắt, mà cấu trúc của quá trình động lực tự nó đang vươn ra, là tĩnh tại. Theo nghĩa này, động lực là một sự nắm bắt trước. Tuy nhiên, thứ nắm bắt này không được hiểu đơn thuần là nhìn chằm chằm, mà là sự nhận thức, perceptio tri giác, tức là sự thống nhất-trước của cái đa dạng dans Ie simple trong cái đơn giản, (Principes de la Nature Nguyên lý Tự nhiên….§2; G. IV, 598) [L. 636]. Leibniz định nghĩa perceptio tri giác nihil aliud, quam multorum in uno expressio ‘không có gì khác ngoài sự biểu hiện của nhiều trong một’. Và sau đó ông viết: Nunquam versatur perceptio circa objectum, in quo non sit aliqua varietas seu multitudo (Thư gửi des Bosses, ngày 20 tháng 9 năm 1706, G. 1 1, 311) “Tri giác không bao giờ hướng đến một đối tượng mà trong đó không có sự đa dạng hoặc đa tính”.

Cùng với ‘nắm bắt/lĩnh hội’ còn có một ‘nỗ lực’ thuộc về cấu trúc của động lực. Sự đối lập này quay trở lại với νόησις noesis nhận thức/ trí tuệ và ὄρέξις órexis khát khao/ham muốn, tư duy và ham muốn, những năng lực cơ bản của mọi sinh vật theo Aristotle. Bên cạnh perceptio tri giác (repraesentatio tái hiện/đại diện), Leibniz đề cập rõ ràng đến năng lực thứ hai, appetitus khao khát/ham muốn. Ông phải nhấn mạnh đặc biệt đến appetitus chỉ vì bản thân ông chưa nắm bắt ngay lập tức bản chất của vis activa lực hành động/chủ động một cách triệt để - mặc dù ông đã rõ ràng đối lập nó với potentia active tiềm năng hành động và actio hành động. Sức mạnh dường như vẫn tự nó là một cái gì đó mang tính thực thể, một cốt lõi được ban tặng khả năng tri giác và nỗ lực, trong khi trên thực tế, động lực tự nó đã là một nỗ lực tri giác hoặc một tri giác nỗ lực. Chắc chắn, đặc tính của khao khát, cho dù có một ý nghĩa đặc biệt nhưng lại không có ý nghĩa giống như động lực. Hơn nữa, khao khát đề cập đến một khoảnh khắc cụ thể, thiết yếu, cấu thành của động lực, cũng như tri giác. Bởi vì động lực thống nhất một cách nguyên thủy, nên nó phải dự đoán trước mọi đa tính có thể, phải có khả năng xử lý mọi sự đa bội tính trong khả tính của nó. Nghĩa là, động lực phải đã vượt qua và chế ngự đa tính. Do đó, động lực phải mang đa tính trong chính nó và cho phép nó được sinh ra trong quá trình vận hành. Đây là đặc tính ‘thế giới’ của nó. Điều quan trọng là phải thấy nguồn gốc thiết yếu của đa tính trong động lực như vậy.

[Tr.92] Chúng ta hãy nhớ rằng động lực, với tư cách là vượt lên trước, là nhất tính thống nhất nguyên thủy, và theo cách này, đơn tử được hình dung như là substantia thực thể. Substantiae non tota sunt (không phải là những ‘toàn thể’ như vậy) quae contineant partes fonnaliter, sed res totales quae partiales continent eminenter “Thực thể không phải là những toàn thể chứa các bộ phận theo nghĩa đen mà chúng là những thực tại toàn thể chứa các bộ phận cụ thể một cách rõ ràng nổi bật]. Động lực là ‘bản chất’, cốt lõi của thực thể. Thực thể với tư cách là động lực theo một cách nào đó là năng động, nhưng với tư cách là năng động, nó luôn luôn bao hàm một cách nguyên thủy (Principes de la Nature…., §2) [L. 636]. Trong bức thư gửi de VoIder được trích dẫn ở trên, Leibniz tiếp tục: Si nihil sua natura activum est, nihil omnino activum erit; quae enim tandem ratio actionis si non in natura rei? Limitationem tamen adjicis, ut res sua natura activa esse possit, si actio semper se habeat eodem modo. Sed cum omnis actio mutationem contineat, ergo habemus quae negare videbaris, tendentiam ad mutationem internam, et temporale sequens ex rei natura. “Nếu không có gì hoạt động tự bản chất của nó thì sẽ không có gì hoạt động cả, vì lý do gì mà lại có hoạt động nếu không nằm trong bản chất của sự vật? Tuy nhiên, nên có thêm thứ hạn chế mà ‘một vật có thể hoạt động theo bản chất riêng, nếu hành động của nó luôn duy trì cùng một phương thức.’ Nhưng vì mọi hành động đều chứa thay đổi, nên chính trong đó phải có thứ dường như bị phủ nhận, đó là xu hướng thay đổi nội tại cùng chuỗi thời gian theo sau sự thay đổi nội tại, và chuỗi thời gian phát sinh từ bản chất của sự vật.” [L. 534]

Ở đây, người ta nói rất rõ ràng rằng hoạt động của đơn tử như một động lực là eo ipso tự thân động lực hướng tới sự thay đổi. Động lực, về bản chất, thúc đẩy tới một cái gì đó; có sự tự vượt lên trong nó. Điều đó có nghĩa là đa tính phát sinh trong chính vật thể tạo động lực, với tư các tạo động lực. Bản chất được trao cho successioni obnoxia tình trạng chịu trách niệm kế thứa, tính kế tiếp (cùng chữ cái). Động lực tự hiến mình, như một động lực, cho sự kế tiếp đa tính - không phải như thể cho một cái gì đó khác với chính nó, vì nó là cái mà chính nó, với tư cách là động lực, tìm cách thúc đẩy. Động lực tự phục tùng sự kế tiếp về thời gian, không phải như thể cho một cái gì đó xa lạ với nó, mà chính nó là đa tính này. Từ chính động lực mà thời gian phát sinh. Trong động lực tồn tại một xu hướng hướng tới sự chuyển đổi, một xu hướng vượt qua bất kỳ giai đoạn nhất thời nào. Và xu hướng chuyển đổi này là điều mà Leibniz muốn nói đến bằng appetitus khao khát/ham muốn. Nên nhớ rằng perceptio tri giác, theo nghĩa đã mô tả, là một đặc điểm nguyên thủy của đơn tử. Bản thân xu hướng đã có trước, và điều đó có nghĩa là nó hợp nhất từ ​sự thống nhất vượt trước. Cái mà nó hợp nhất bằng cách đó không gì khác ngoài những chuyển đổi von Vorstellen zu Vor-stellen từ sự nắm bắt này sang sự nắm bắt khác, những chuyển đổi được thúc đẩy trong động lực và tự thúc đẩy chính chúng.

[Tr.93] Về định nghĩa cuối cùng của các đơn tử, Leibniz viết cho de VoIder: Imo rem accurate considerando dicendum est nihil in rebus esse nisi substantias simplices et in his perceptionem atque appetitum… Revera igitur (principium mutationis) est internum omnibus substantiis simplicibus, cum ratio non sit cur uni magis quam alteri, consistitque in progressu perceptionum Monadis cujusque, nec quicquam ultra habet tota rerum natura. (June 30, 1704; G. II, 270f.) “Thật vậy, khi xem xét vấn đề một cách cẩn thận, có thể nói rằng trên thế giới không có gì ngoại trừ những thực thể đơn giản và trong chúng là tri giác và khát thèm…. (Nguyên lý thay đổi) do đó thực sự có tính nội tại đối với mọi thực thể đơn giản, vì không có lý do gì nó phải ở trong cái này mà không ở trong cái khác, và nó bao gồm trong sự tiến bộ tri giác của từng đơn tử, ngoài ra toàn bộ bản chất của sự vật không bao chứa gì khác. [L. 538] Progressus perceptionum tiến trình tri giác ấy là những gì nguyên thủy trong đơn tử; đó là xu hướng chuyển tiếp nắm bắt, động lực. Porro ultra haec progredi et quaerere cur s it in substantiis simplicibus perceptio et appetitus, est quaerere aliquid ultramundanum ut ita dicam, et Deum ad rationes vocare cur aliquid eorum esse voluerit quae a nobis concipiuntur. (Ibid.) “Vượt xa hơn những nguyên tắc này và hỏi tại sao lại có tri giác và khát thèm đối với những thực thể đơn giản, có thể nói là tìm hiểu về một điều gì đó ultramundane siêu trần thế và yêu cầu Chúa lý giải tại sao Ngài lại muốn mọi thứ phải như chúng ta quan niệm.”

Đoạn văn sau đây từ bản thảo đầu tiên của bức thư ngày 19 tháng 1 năm 1706 gửi de VoIder đang làm sáng tỏ nguồn gốc của học thuyết về động lực và xu hướng chuyển đổi: Mihi tamen sufficit sumere quod concedi solet, esse quandam vim in percipiente sibi formandi ex prioribus novas perceptiones, quod idem est ac si dicas, ex priore aliqua perceptione sequi interdum novam. Hoc quod agnosci solet alicubi a philosophis veteribus et recentioribus, nempe in voluntariis animae operationibus, id ego semper et ubique locum habere censeo, et omnibus phaenomenis sufficere, magna et uniformitate rerum et simplicitate. (G. II, 282) “Nhưng đối với tôi, chỉ cần chấp nhận điều thường được thừa nhận là đủ, đó là có một sức mạnh nhất định trong việc kẻ tri giác tự hình thành những tri giác mới từ những tri giác trước đó, điều này cũng giống như việc ai đó nói rằng một tri giác mới đôi khi xuất phát từ một tri giác trước đó. Điều mà các nhà triết học ở khắp mọi nơi, cả cổ đại lẫn hiện tại, thường công nhận trong các hoạt động tự nguyện của tâm hồn, tôi cho rằng lúc nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy đều có chỗ đứng và đủ cho mọi hiện tượng trong cả tính quy luật và tính đơn giản tuyệt vời của vạn vật.

[Tr.94] Lời đáp cho câu hỏi, Động lực với tư cách động lực thống nhất đến mức độ nào? đòi hỏi sự thấu hiểu cấu trúc cốt lõi của động lực: 1) Động lực mang tính thống nhất nguyên thủy: nó không thống nhất nhờ vào cái mà nó thống nhất. Nó không phải là sự tập hợp của những gì được thống nhất. Nó là sự vươn tới và nắm bắt, nhận thức, và tri giác. 2) Nhưng percipere [nắm bắt, hiểu] tri giác này bao gồm và hướng tới một đa dạng mà bản thân nó đã tham gia vào động lực và bắt nguồn từ nó. Động lực tự vượt lên, thúc đẩy. Nó là một đa tính của các giai đoạn mà bản thân chúng luôn bao hàm-trước. 3) Động lực là một progressus perceptionum sự tiến bộ tri giác. Là sự thúc đẩy, tự vượt lên, động lực là khát thèm, một xu hướng chuyển đổi, một tendentia interna ad mutationem xu hướng nội tại hướng tới sự thay đổi. Chúng ta hãy nhanh chóng nhớ lại những gì đã nói về thực thể tính của thực thể. Thực thể là cái cấu thành nên nhất tính của một hiện hữu. Cái thống nhất là động lực, và động lực được hiểu theo nghĩa chính xác mà chúng ta vừa trình bày, như là sự nắm bắt và xu hướng chuyển đổi. Nghĩa là, động lực phát triển cái đa dạng trong chính nó. Với tư cách là cái thống nhất, động lực là bản chất của một hiện hữu. Đồng thời, mỗi đơn tử đều có cấu trúc nguyên thủy riêng của nó. Cấu trúc nguyên thủy này được ban cho cùng với sự sáng tạo. Vậy điều gì khiến mỗi đơn tử tối hậu thực sự là đơn tử đặc biệt này? Sự cá thể hóa này được cấu thành như thế nào? Việc viện dẫn đến sự sáng tạo dĩ nhiên chỉ là cách giải thích giáo điều về nguồn gốc của cái được cá thể hóa, chứ không phải là cách minh định về tư thân quá trình cá thể hóa. Điều gì tạo nên sự cá thể hóa đó? Lời đáp cho câu hỏi này phải làm sáng tỏ hơn nữa bản chất của cái đơn tử.

Rõ ràng, quá trình cá thể hóa cũng phải diễn ra, như thể, trong thứ cơ bản cấu thành bản chất của đơn tử, trong động lực. Vậy thì nền tảng của tính độc nhất vô nhị của đơn tử nằm ở đâu? Đặc điểm thiết yếu nào trong cấu trúc của động lực làm cho một quá trình cá thể hóa cụ thể trở nên khả thể? Đến mức độ nào mà quá trình tự-cá thể hóa thống nhất nguyên thủy diễn ra trong quá trình thống nhất của nó? Trước đó, khi gạt bỏ mối liên hệ với sự sáng tạo, chúng ta chỉ làm như vậy vì đó là một cách giải thích giáo điều. Tuy nhiên, ý nghĩa siêu hình được thể hiện khi mô tả đơn tử được tạo ra, chính là tính hữu hạn của nó. Xét về mặt hình thức, tính hữu hạn có nghĩa là tính hạn chế. Động lực có thể bị hạn chế đến mức độ nào? Nếu tính hữu hạn với tư cách là tính hạn chế thuộc về bản chất của động lực, thì tính hữu hạn phải được định nghĩa trong đặc điểm siêu hình cơ bản của động lực. Nhưng đặc điểm cơ bản này là sự thống nhất, và sự thống nhất với tư cách nắm bắt trước, vượt lên trước. Trong sự thống nhất mang tính bao hàm, có một sự sở hữu nhất tính từ ​​trước mà động lực hướng tới, như là sự nắm bắt và hướng tới [tr.95] chuyển đổi. Trong động lực với tư cách khao khát nắm bắt trước, cứ như thể có một ‘điểm’ mà sự chú ý được hướng tới trước. Điểm này chính là tự thân nhất tính mà từ đó động lực thống nhất. Điểm chú ý này, hay điểm nhìn này, là yếu tố cấu thành nên động lực. Cái được nhận thức trước trong quan điểm này cũng chính là cái điều chỉnh trước toàn bộ động lực. Vì động lực với tư cách một chuyển động bao hàm luôn là cái được nắm bắt trước trong vận động tự do của nó, nên động lực không bị thúc đẩy từ bên ngoài. Do đó, perceptio tri giác và appetitus khao khát được xác định trong động lực của chúng chủ yếu từ quan điểm này. 

Nhưng ở đây có một điều chưa được hình dung một cách rõ ràng, một điều mà, giống như động lực, tự nó là một sự vươn tới, và nó vươn tới để nó tồn tại và duy trì chính nó trong sự vươn tới này, một điều tự nó có khả tính nắm bắt chính nó. Trong quá trình hướng tới, cái có động lực luôn luôn vượt qua một chiều kích. Nghĩa là, cái có động lực tự vượt qua chính nó và bằng cách này mở ra với chính nó. Và nó mở ra bởi chính bản chất của nó. Bởi vì tính tự khai mở theo chiều kích này, nên cái có động lực có thể nắm bắt chính mình, do đó ngoài việc tri giác, nó còn có thể hiện diện đồng thời với tri giác. Nó có thể đồng thời tự tri giác chính nó; nó có thể tổng giác… Trong Principes de la Nature et de la Grace – Nguyên lý Tự nhiên và Ân sủng…., §4, Leibniz nói: Ainsi il est bon de faire distinction entre la Perception qui est retat interieur de la Monade representant les choses externes, et l’Apperception qui est la Conscience, ou la connoissance reflexive de cet etat interieur, laquelle n'est point donnee a toutes les Ames, ny toujours a la meme Ame. (G. VI, 600; cf. Monadologie §21 fT.) “Vì vậy, tốt nhất là nên phân biệt giữa Tri giác, là trạng thái bên trong của Đơn tử đại diện cho những sự vật bên ngoài, và Tổng giác, là ý thức hoặc tri ​​thức phản ánh về chính trạng thái bên trong ấy, vốn không phải lúc nào cũng được trao cho tất cả các Linh hồn cũng như cho cùng một Linh hồn.” [L. 637]
______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992. Notes

* Trong các bản dịch triết học Đức, cách dịch thông thường từ Vorstellung là ‘(sự) biểu hiện tinh thần’, mặc dù đôi khi người ta cũng sử dụng ‘khái niệm’ hoặc ‘ý tưởng’. Tuy nhiên, khi thảo luận về phương thức nhận thức về đơn tử, Heidegger đã chơi chữ với ý nghĩa thời gian, vươn ra của ‘vor-stellend’ và do đó gợi ý cần có một cách dịch tiếng Anh khác. ‘Pre-hend’ không có cùng nghĩa gốc với ‘stellen’ (đặt để) mà bắt nguồn từ tiếng Latin premIere ‘nắm bắt, với tới’. Tuy nhiên, ‘prehension’ vẫn có liên quan đến ‘apprehension’ và đã được sử dụng một cách khéo léo trong triết học tiếng Anh chịu ảnh hưởng của Leibniz, cụ thể là trong tư tưởng suy đoán của Alfred North Whitehead.

11. Leibnizens Mathematische Schriften, ed. C.1. Gerhardt, 7 volumes (in 8) (Berlin and Halle, 1849-63) [reprint, Hildesheim, 1962].

12. Compare with D. Mahnke, Leibnizen Synthese van Universalmathematik und Individualmetaphysik, p. 104, and further passages in note 125. Here, also, being and subjectivity are linked-through a misunderstanding, however.


 
 
 
 

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (X)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz

§5. Xác định Thiết yếu Hữu thể của các Hiện hữu Đích thực

a) Đơn tử như là động lực

Tri thức xác thực là tri ​​thức đầy đủ, tri ​​thức chứa đựng một cách rõ ràng tất cả các xác định gắn kết trong một hiện hữu. Tri thức đầy đủ là notion completa seu perfecta khái niệm hoàn chỉnh hoặc hoàn hảo. Trong đó, tất cả các vị ngữ xác định chủ thể đều có sẵn. Tuy nhiên, chủ thể của phát biểu này cũng là chủ thể với tư cách hiện hữu tự thân cơ bản, bản chất cá thể. Do đó, Leibniz tuyên bố trong Primae Veritates Các chân lý Đầu tiên: Notio completa seu perfecta substantiae singularis involvit Omnia ejus praedicata praeterita, praesentia ac futura (C. 520) [Khái niệm hoàn chỉnh hoặc hoàn hảo của một bản chất cá thể bao hàm tất cả các vị ngữ, quá khứ, hiện tại và tương lai của nó, L. 268]. Si qua notio sit completa, seu talis ut ex ea ratio (reddi) possit omnium praedicatorum ejusdem subjecti cui tribui potest haec notio, erit notio Substantiae individualis; et contra. Nam substantia individualis est subjectum quod alten subjecto non inest, alia autem insunt ipsi, itaque praedicata omnia ejusdem subjecti sunt Omnia praedicata ejusdem substantiae individualis. (C. 403)

“Nếu bất kỳ khái niệm nào là hoàn chỉnh, hoặc nếu nó là một khái niệm mà từ đó lý do có thể được đưa ra cho tất cả các vị ngữ của cùng một chủ thể mà khái niệm này được quy cho, thì đó sẽ là khái niệm về một thực thể riêng lẻ; và điều ngược lại xảy ra. Vì tính cá thể thực chất là một chủ thể không inest có trong một chủ thể khác, mà có những chủ thể khác ở trong đó, và do đó tất cả các vị ngữ của chủ thể đó đều là các vị ngữ của cùng một cá thể thực thể. Ở đây có sự đồng nhất rõ ràng giữa chủ thể của những phát biểu chân thực với bản chất cá nhân như là hiện hữu đích thực.” Nhưng cho đến nay, hữu thể của hiện hữu này, Thực thể tính của bản chất này, vẫn còn mơ hồ. Và chúng ta phải đặt câu hỏi thêm về mối liên hệ giữa đặc tính siêu hình của Thực thể tính của bản chất cá nhân và lý thuyết đồng nhất tính logic của phán đoán, hay nói cách khác, từ ‘logic’ ở đây có nghĩa là gì. Học thuyết về Thực thể tính của bản chất cá nhân trong đơn tử luận của Leibniz, vốn là cốt lõi của toàn bộ siêu hình học của ông. Luận điểm siêu hình chính mà chúng ta cần làm rõ là bản chất cá nhân là đơn tử. Cách diễn giải về hiện hữu của Leibniz mang tính đơn tử luận.

Các văn bản chính về Đơn tử luận là: 1) Discours de Metaphysique Luận về Siêu hình học, [tr.71] 1686 (G. IV 427-63) [L. 303]; 2) Thư từ trao đổi với Arnauld, từ năm 1686 trở đi. (G. II, 47-138) [L. 331]; 3) De primae Philosophiae Emendatione, et de Notione Substantiae, Về việc Sửa đổi Triết học Đầu tiên và Khái niệm Bản chất trong Acta Eruditorum Lipsiensium - Biên bản của Học giới Leipzig năm 1694 (G. IV 468-70) [L. 432]; 4) Systeme nouveau de la Nature et de la communication des substances - Hệ thống mới về Tự nhiên và Liên hệ giữa các Bản chất…. trong Journal des Savants, 1695 (G. IV 477-87) [L. 453]; 5) Principes de la Nature et de la Grâce fondés en Raison - Nguyên lý của Tự nhiên và Ân điển trên Cơ sở Lý tính, 1714 (G. VI 598-606) [L. 636]; 6) Monadologie – Đơn tử luận, 1714 (G. VI 607-23) [L. 643]. Bài luận cuối cùng này được Leibniz viết bằng tiếng Pháp lần cuối ông ở Vienna hai năm trước khi qua đời. Tác phẩm này cũng không được xuất bản trong suốt cuộc đời ông. Năm 1721, một bản dịch tiếng Latinh của nó xuất hiện trong Acta Eruditorum - Biên bản của Học giới Leipzig, dưới tiêu đề Principia Philosophiae – Nguyên lý Triết học. Năm 1840, lần đầu tiên nó được J. E. Erdmann xuất bản ở dạng nguyên bản, dưới tiêu đề La Monadologie – Đơn tử luận.

Ở đây, chỉ có thể trình bày một số đặc điểm của Monadologie – Đơn tử luận quan trọng đối với chúng ta, chứ không phải tất cả các chủ đề đan xen của nó. Bản thân Leibniz chỉ gợi ý những yếu tố cốt lõi và không phát triển nó một cách triệt để và có hệ thống.10 Ở đây, cũng như trong các giáo lý khác của ông, nhiều điều vẫn còn ở giai đoạn hình thành ban đầu, thường là trong một số cuộc tranh luận. Mặc dù chúng ta có một ấn phẩm viết rõ ràng về chủ đề này, Monadologie – Đơn tử luận, nhưng đặc điểm của nó là chứa chín mươi luận điểm được liệt kê nối tiếp nhau. Do đó, siêu hình học đơn tử luận gánh chịu các diễn giải đa dạng nhất, mà bất kỳ cách giải thích nào cũng có thể viện dẫn Leibniz trong một hoặc nhiều luận điểm của ông. Nhưng điều này lại là chân đối với tòa bộ triết học đích thực. Hiện đang thịnh hành cái đồng thuận giả-triết học, nhưng đó là sự đồng thuận của đám đông. Vì vậy, sẽ là một quan niệm hoàn toàn sai lầm về bản chất của triết học nếu ai đó tin rằng họ có thể chắt lọc được Kant và Plato bằng cách tính toán và cân bằng khéo léo tất cả các cách diễn giải của Kant hoặc tất cả các cách diễn giải của Plato. Điều này cũng vô nghĩa với Leibniz. Kết quả thu được sẽ là một thứ chết chóc. Kant an sich Cái Kant Tự thân, là một ý tưởng đi ngược lại bản chất của lịch sử và chắc chắn là ngược lại với lịch sử triết học. Cái Kant lịch sử này luôn chỉ là Kant hiện thân trong một khả tính triết học hóa nguyên gốc, chỉ biểu hiện một phần, nếu ai đó muốn, nhưng là một phần đích thực mang trong mình nó tác động của cái toàn thể.

Tính hiện thực của lịch sử, đặc biệt là quá khứ, không [tr.72] xuất hiện trong bản tường thuật đầy đủ nhất về ‘cách nó đã xảy ra’. Thay vào đó, tính hiện thực của những gì đã xảy ra nằm ở khả tính của nó. Khả tính này trong mỗi trường hợp đều biểu hiện như câu trả lời cho một câu hỏi sống động đặt ra trước nó một hiện tại tương lai theo nghĩa ‘chúng ta có thể làm gì?’. Khách tính của lịch sử nằm ở tính vô tận của các khả tính, chứ không phải ở sự cứng nhắc cố định của một kết quả. Chúng ta muốn ghi nhớ điều này cho phần diễn giải tiếp theo về Đơn tử luận. Diễn giải của chúng ta phải mạo hiểm đi xa hơn Leibniz, hay nói đúng hơn là quay trở lại nguồn gốc của Leibniz - ngay cả khi có nguy cơ đi xa khỏi những gì ông thực sự đã nói.

Hai điều đầu tiên cần được nhấn mạnh: 1) Đơn tử luận như một diễn giải về substantiality thực thể tính của bản chất định nghĩa hữu thể của các hiện hữu đích thực. Nó là ontology, metaphysics hữu thể luận, siêu hình học. Và đó là siêu hình học tổng quát, bởi vì người ta tìm kiếm một khái niệm về hiện hữu áp dụng cho mọi hienj hữu đích thực, dù là bản chất vật chất, các sinh vật sống [thực vật, động vật], các hiện hữu tồn tại theo cách con người tồn tại, hay Thiên Chúa. Đồng thời, khái niệm về hiện hữu phải cho phép thiết lập nhữn khác biệt giữa các hiện hữu khác nhau trong nhất tính của một khái niệm tổng quát. 2) Bản chất của tri thức hữu thể luận, và sự phát triển rõ ràng của nó bởi Leibniz, nhìn chung vẫn còn mơ hồ và dò dẫm. Do đó, cách diễn giải Đơn tử luận về vật chất của ông, bất cứ khi nào nó theo đuổi những xung lực cấp tiến hơn, đều trở nên mơ hồ và bị pha trộn bởi những thứ khác. Tư tưởng của Leibniz chỉ là chuẩn bị cho sự tách biệt cuối cùng giữa tri thức siêu hình và phi siêu hình. Sự tách biệt xuất hiện với Kant, và sau đó nó lại bị chôn vùi hoàn toàn. Tôi muốn nhắc lại bối cảnh dẫn dắt của vấn đề. Trên cơ sở Đơn tử luận, chúng ta muốn biết về Hữu thể của các thực thể (của bản chất). Tuy nhiên, trước đây chúng ta đã biết rằng, hữu thể, đối tượng đưa ra các phán đoán, được định nghĩa bởi toàn bộ các dấu hiệu tương thích lẫn nhau, bởi sự mạch lạc của chúng, bởi đồng nhất tính như là nhất tính của đa bội tính này. Liệu có mối liên hệ nào, và mối liên hệ đó là loại liên hệ nào, giữa việc diễn giải hiện hữu như là nhất tính và việc diễn giải hiện hữu như là đơn tử? Liệu việc khám phá ra mối liên hệ này có mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về điều chúng ta đang tìm kiếm: nền tảng siêu hình logic của Leibniz - và cùng với nó là cái nhìn sâu sắc mang tính hệ mẫu vào cội rễ sâu xa của logic trong siêu hình học?

Thuật ngữ mà Leibniz chọn để chỉ định tính thực thể của bản chất đã mang tính biểu thị: ‘đơn tử’. Từ tiếng Hy Lạp μονάς monas có nghĩa là đơn giản, nhất tính, cái một. Nhưng nó cũng có nghĩa là: cái cá thể, cái đơn độc. Leibniz sử dụng thuật ngữ này chỉ về sau, khi ông đã phát triển Metaphysica Substantiae siêu hình học về bản chất của mình, sau năm 1696. Ông đã lấy thuật ngữ μονάς monas [tr.73] từ Giordano Bruno thông qua Francis Mercury van Helmont. Cứ như thể tất cả các ý nghĩa Hy Lạp đều được chứa đựng trong những gì Leibniz muốn nói đến bằng thuật ngữ này. Bản chất của vật chất nằm ở chỗ nó là một đơn tử. Sự tồn tại đích thực có đặc điểm của ‘đơn vị’ đơn giản của cá thể, của cái đứng độc lập. Lường trước, đơn tử là cái đơn giản ngay từ đầu đã thống nhất và cá thể hóa trước. Hướng mà Leibniz cố gắng hình dung lại bản chất của vật chất một cách mới mẻ, nguyên thủy và phổ quát hơn, trở nên rõ ràng nếu chúng ta nhớ lại những nỗ lực trước đó của Descartes và Spinoza. Trong Principia Philosophiae Nguyên lý Triết học, Descartes nói (I, 51): Per substantiam nihil aliud intelligere possumus quam rem quae ita existit, ut nulla alia re indigeat ad existendum “Bằng bản chất, chúng ta không thể hiểu điều gì khác ngoài cái tồn tại sao cho nó không cần bất cứ thứ gì khác để tồn tại”. Đặc điểm của bản chất được thể hiện ở chỗ nó không cần bất cứ thứ gì khác. Spinoza cũng nói (Ethica I, định nghĩa 3): Per substantiam intelligo id, quod in se est, et per se concipitur: hoc est id, cujus conceptus non indiget conceptu alterius rei, a quo forman debeat “Bằng bản chất, tôi muốn nói đến cái tồn tại trong chính nó và được hình thành bởi chính nó: đây là cái mà khái niệm đó không cần đến khái niệm về một thứ khác mà từ đó nó cần được hình thành”.

Theo định nghĩa này, bản chất là cái vẫn tồn tại trong chính nó. Nhưng ở đây, bản chất cũng được định nghĩa theo cách phủ định. “Tồn tại trong chính nó, ở nền tảng của nó phải thuộc về quan niệm bản chất từ ​​thời cổ đại theo cách bất khả quy giản,” với tư cách cái chỉ hiệu ὑποκείμενον hypokeimenon nằm bên dưới biểu lộ ra. Cái mà Descartes và Spinoza bổ sung vào điều này về bản chất là phủ định, hay đúng hơn, liên quan đến cách thức mà bản chất được hình thành. Ngược lại, Leibniz mong muốn một định nghĩa khẳng định về thực thể tính của bản chất. Việc mô tả bản chất như một đơn tử, như một ‘đơn vị’, đạt được cách diễn giải khẳng định như vậy đến mức nào, và ‘đơn vị’ ở đây có nghĩa là gì? Chúng ta đã nói rằng đơn tử luận là siêu hình học tổng quát. Chính vì điều đó mà nó phải hướng đến tất cả các hiện hữu. Như vậy, vấn đề nóng bỏng trong thời đại của Leibniz, vấn đề về bản thể của tự nhiên, về cả vật chất - vô cơ lẫn hữu cơ, trở thành manh mối dẫn dắt sự phát triển của Đơn tử luận - chắc chắn không phải là manh mối duy nhất và mang tính quyết định cuối cùng.

Descartes đã cố gắng nhìn nhận bản thể của tự nhiên vật lý, res corporea vật thể hữu hình, in extensio đang mở rộng. Tính mở rộng là thuộc tính chính, và tất cả các thuộc tính của vật thể vật lý được cho là có thể quy giản về nó. Giờ đây, tất cả các đặc điểm của các hiện tượng tự nhiên, như vậy, đều liên quan đến sự thay đổi, đến chuyển động. Tất cả chuyển động đều là motio localis thay đổi vị trí [tr.74], và chỉ như vậy thì chuyển động mới được coi là có thể xem xét một cách khoa học. Bằng cách này, chuyển động trở nên dễ tiếp cận với quan niệm được cho là nghiêm ngặt nhất, đó là lý thuyết toán học-hình học. Những người theo chủ nghĩa Descartes đã áp dụng lý thuyết này đặc biệt cho tự nhiên hữu cơ, cho thực vật và động vật. Những loài sau cũng được coi là một mạng lưới của các thay đổi vị trí đơn thuần; chúng được nghiên cứu hoàn toàn theo cơ học - động vật như những cỗ máy. Việc chỉ đơn thuần đề cập đến lĩnh vực các hiệu hữu ấy có thể đặt ra giới hạn cho bản thể luận tự nhiên của Descartes. Nhưng nó vẫn chưa đầy đủ ngay cả trong tự nhiên vô cơ. Descartes đã cố gắng loại trừ một cách rõ ràng khái niệm lực khỏi vật lý: ac de vi qua (motus localis) excitatur…. non inquiramus (Principia Philosophiae Nguyên lý Triết học I, 65) “chúng ta sẽ hiểu rõ nhất về chuyển động nếu chỉ tìm hiểu về sự vận động, mà không xét đến lực tạo ra nó”. Chính xác hơn, Descartes vẫn chưa có khái niệm lực xác định về mặt vật lý, nhưng với thuật ngữ vis - lực, ông đã nghĩ đến ‘các phẩm chất huyền bí’ của triết học tự nhiên thuộc Trường phái Kinh viện.

Ngược lại, Leibniz có ý hướng coi động lực học là nền tảng cơ bản cho vật lý học toán học. Nhưng nhận xét này không chạm đến ý hướng triết học đích thực của ông. Mục đích siêu hình học bản thể luận của ông luôn đi kèm với ý hướng vật lý-bản thể mà không có sự phân chia rõ ràng các lĩnh vực, không có sự khác biệt về loại vấn đề và bằng chứng. Nếu muốn giảm thiểu những hàm ý của việc chuyển sang động lực học trong vật lý, liên quan đến ý nghĩa và ý hướng siêu hình học của nó, thì cần phải xem xét một thứ khác, cụ thể, đó là thứ đòi hỏi cả cấu trúc đơn tử luận của bản chất vật lý. Nếu ta giả định tiền đề bản thể luận của Descartes cho rằng bản chất của đối tượng vật lý nằm ở tính mở rộng của nó, thì mọi vật thể được mở rộng cuối cùng đều có thể được quy giản về các yếu tố tối hậu của cái được mở rộng, đó là các điểm toán học.

Theo một nghĩa nào đó, chúng là ‘các nhất tính’. Nhưng theo nghĩa nào? Chỉ là các giới hạn. Việc các điểm là các giới hạn có nghĩa theo hai điều: 1) bản thân chúng có thể phân chia ad infinitum vô hạn; nghĩa là, chúng không bao giờ mất đi đặc tính là các giới hạn, ranh giới; 2) điểm không còn là một hình lập phương, một mặt phẳng, một đường thẳng, mà chỉ là giới hạn của những thứ này. Một đơn vị như vậy được định nghĩa hoàn toàn phủ định. Đó là điều, chẳng hạn, xuất hiện sau này trong siêu hình học không gian của Hegel, khi Hegel nói rằng điểm là một sự phủ định đơn giản. Nó không phải là bất kỳ hình dạng không gian nào còn lại trong không gian, và với tư cách ‘không phải cái còn lại’, mỗi điểm đồng thời là phủ định của cái còn lại. Điểm chỉ là một đơn vị thống nhất của những gì còn lại. Nhưng ngay trong khái niệm của nó, nó là phần còn lại có thể thu gọn hơn nữa, mang tính giới hạn của sự phân mảnh cái toàn thể.

[Tr.75] Yếu tố cơ bản của extensio sự mở rộng chỉ mang đặc tính của giới hạn và phủ định. Là phần còn lại mang tính phủ định, nó không thể có thuộc tính thống nhất một tổng thể. Nó chỉ có thể tham gia vào một sự thống nhất và bản thân nó cần một sự thống nhất. Nếu extensio cấu thành bản chất bản thể học của sự vật tự nhiên, thì cái nguyên thủy trong bản chất này, điểm toán học, không bao giờ có thể làm cho sự thống nhất bản thể học của một hữu thể tự thân trở nên dễ hiểu và là nền tảng. Điều quyết định đối với những xem xét bản thể học về bản chất của sự vật là, nếu extensio về mặt siêu hình cấu thành res corporeal sự vật hữu hình, và nếu omne ens unum mọi hữu thể đều là một, thì yếu tố cơ bản của extensio, điểm toán học, phải cấu thành nhất tính của một res corporea sự vật hữu hình. Điều đó có thể xảy ra không? Không. Nếu không, thì extensio không phải là bản chất, khi đó cần một định nghĩa mới về bản chất, cùng với một sự xác định mới về ý nghĩa của ‘nhất tính’ ở đây.      

Leibniz cũng phản bác Descartes rằng cái vẫn còn là bất biến và không đổi thì không phải là lượng chuyển động mà là độ lớn của lực. Tuy nhiên, độ lớn này không được xác định bởi công thức m x ​​v (tích của khối lượng và vận tốc) mà là bởi m x v² (tích của khối lượng và bình phương của vận tốc). Từ đó, Leibniz kết luận rằng có điều gì đó thuộc về vật thể vượt ra ngoài khối lượng và chuyển động, do đó vượt ra ngoài extensio sự mở rộng. Vì vậy, Leibniz nói trong Systeme nouveau Hệ thống mới (G. IV, 478f.): Lúc đầu, sau khi thoát khỏi sự ràng buộc của Aristotle, tôi chấp nhận khoảng trống và các nguyên tử, vì chính những thứ này thỏa mãn trí tưởng tượng tốt nhất. Nhưng khi quay lại với chúng sau nhiều suy nghĩ, tôi nhận thấy rằng không thể tìm thấy các nguyên tắc của một sự thống nhất thực sự chỉ trong vật chất hoặc trong những gì chỉ mang tính thụ động, vì mọi thứ trong đó chỉ là một tập hợp hoặc sự kết hợp của các bộ phận đến vô cùng.[L. 454]     

Cái gì mang tính phủ định và thụ động, thì bản thân nó cần sự thống nhất, không thể là nguyên tắc của nhất tính, không thể là cái thực sự thống nhất. Do đó nguyên tắc nhất tính phải được tìm kiếm trong chính cái gì đó tự thân nó mang tính thống nhất khẳng định và do đó mang tính chủ động. Đa bội tính, về bản chất, là realitas thực tại của nó, chỉ có thể tồn tại trên cơ sở một nhất tính chân. Leibniz tiếp tục (Ibid.): Giờ đây, đa bội tính chỉ có thể bắt nguồn từ những nhất tính chân có nguồn gốc khác và hoàn toàn khác với các điểm toán học, những điểm này chỉ đơn thuần là giới hạn của những gì được mở rộng, và chắc chắn rằng thể liên tục không thể được cấu thành từ những sửa đổi của chúng. Do đó, để tìm ra những unites reelles nhất tính thực sự, tôi buộc phải viện đến một điểm thực sự và sống động, hoặc một nguyên tử bản chất phải bao gồm một cái gì đó mang tính hình thức (hình thành) hoặc chủ động để [tr.76] tạo nên một hiện hữu hoàn chỉnh. Do đó, tôi buộc phải gọi chúng là những hình thức bản chất, ngày nay bị tấn công đến vậy, và đưa chúng trở lại vị trí danh dự.

Nhưng ở đây Leibniz đã nhận xét rõ ràng rằng những hình thức vật chất này không thể và không được dùng để “giải thích các vấn đề cụ thể của tự nhiên” Chúng không có chức năng bản thể trong các vấn đề của khoa học tự nhiên thực chứng. Tuy nhiên, chúng lại “cần thiết để xác định các nguyên tắc tổng quát chân” (Ibid.). Các ‘điểm sống động’ được cho là để giải quyết một vấn đề siêu hình học-bản thể luận. Những điểm này là các đơn vị, nhưng là các đơn vị sống động, các đơn tử. ‘Nguyên tử hình thức’ chính xác không phải là một phần còn lại của ὕλη hyle materia vật chất, một thứ cần được xác định, mà nó là yếu tố xác định. Nếu người ta tiếp nhận học thuyết này một cách hời hợt và không phải với một ý hướng siêu hình thuần túy - một ý hướng mà chính Leibniz không nhất quán duy trì trong suốt tác phẩm của mình - nếu người ta hiểu thuyết đơn tử một cách phổ biến, như thể rất ngây thơ, thì nó sẽ đưa ra một tuyên bố cho một cái gì đó giống như vật linh luận vậy: Mọi thứ, kể cả các thể nguyên tử, đều sống động và đầy những linh hồn và tâm trí nhỏ bé. Chính Leibniz đã đề cập đến ‘những vị thần nhỏ bé’. Sau đó, người ta có thể kể lại những câu nói sáo rỗng quen thuộc: Với Leibniz, chúng ta có một tư duy năng động thay vì một thế giới quan máy móc; ông ‘ủng hộ’ duy linh luận thay vì chủ nghĩa duy vật, cách giải thích thế giới của ông mang tính mục đích luận thay vì nhân quả một chiều - và tất cả những câu chuyện trẻ con khác mà người ta dễ thấy trong các cuốn lịch sử triết học thông thường.

Ngược lại, chúng ta có lý do chính đáng để phải giả định rằng cách diễn giải đơn tử luận về các hiện hữu này được khởi xướng với một ý hướng triết học đích thực. Trong nỗ lực làm sáng tỏ ý hướng này, vấn đề về tính thực thể của bản chất là một vấn đề siêu hình-bản thể luận có tính chất quyết định đối với cách diễn giải của chúng ta, mặc dù chính Leibniz không phải lúc nào cũng rõ ràng về vấn đề này, bởi vì chính tự thân khái niệm siêu hình học vẫn còn bị lẫn lộn. Nguyên tắc phương pháp luận của chúng ta phải là: Tính minh bạch đầu tiên về ý hướng dẫn dắt của chúng ta, và sau đó là tính minh bạch đối với những gì Leibniz nói về cách diễn giải  đơn tử về tự nhiên. Chúng ta phải cố gắng làm sáng tỏ cốt lõi triết học đích thực của đơn tử luận. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể đánh giá lại theo cách hồi tưởng mức độ khả thể và đã được thực hiện đối với ý hướng của Leibniz, cách thức và lý do tại sao nó lại bị bóp méo một cách tất yếu. Trạng thái bóp méo không xảy ra một cách ngẫu nhiên, bởi vì mọi triết học, với tư cách là một vật thể người vốn dĩ thất bại; và Thiên Chúa không cần triết học. Nhưng để một triết học thậm chí có khả năng thất bại, thì cần phải có một nỗ lực mạnh mẽ để nó thành công!  

[Tr.77] Khi lần đầu tiên mô tả các đơn tử, các điểm ‘đã’ và đang sống động và các điểm tạo nên sự sống, chúng ta cố ý bắt đầu với extension sự mở rộng, để làm rõ rằng vấn đề đơn tử luận trở nên cấp bách ngay cả khi các hiện hữu như vậy không có cùng phương thức hiện hữu như các sinh vật sống. Vậy thì điều gì đặc biệt cần ghi nhớ liên quan đến ý tưởng về các đơn tử? Ba điều: 1) Các đơn vị, các điểm, tự chúng không cần sự thống nhất mà chúng là thứ mang lại nhất tính. Chúng làm cho điều gì đó trở nên khả thể. 2) Các đơn vị mang lại nhất tính tự chúng là những đơn vị thống nhất nguyên thủy, theo một nghĩa nào đó là chủ động. Do đó, Leibniz gọi những điểm này là vis primitiva, lực nguyên thủy, lực đơn giản nguyên thủy. 3) Khái niệm về đơn tử này có ý hướng siêu hình-hữu thể luận. Vì vậy, Leibniz cũng gọi các điểm là point metaphysiques (op. cit. 482), ‘điểm siêu hình’, chứ không phải các điểm toán học. Chúng còn được gọi là ‘các nguyên tử hình thức’, chứ không phải các nguyên tử vật chất. Nghĩa là, chúng không phải là những mảnh cơ bản, tối thượng của ὕλη hyle, của materia vật chất, mà chúng là nguyên tắc bất khả phân chia nguyên thủy của sự hình thành, là forma cái hình thức, εἶδος eidos.

Mỗi hiện hữu độc lập đều được cấu thành như một đơn tử, nghĩa là, ipsum persistens….primitivam vim habet ‘cái tự nó tồn tại….có sức mạnh nguyên gốc’ (Thư gửi de VoIder, ngày 21 tháng 1 năm 1704; L. 533). Việc nói rằng mỗi hiện hữu độc lập đều được ban cho sức mạnh có nghĩa là gì? Việc hiểu ý nghĩa siêu hình của đơn tử luận phụ thuộc vào việc hiểu đúng khái niệm vis primitiva lực nguyên thủy. Vấn đề về thực thể tính của bản chất cần được giải quyết một cách khẳng định, và đối với Leibniz, vấn đề đó là ‘cái nhất tính’ của đơn tử. Mọi điều được nói về ‘lực’ và chức năng siêu hình của nó phải được hiểu từ quan điểm của vấn đề định nghĩa nhất tính của bản chất theo cách khẳng định. Bản chất của ‘lực’ phải được hiểu thông qua vấn đề về nhất tính vốn có trong thực thể tính. Ngày nay chúng ta mới chỉ đang khám phá lại ý nghĩa cơ bản của các vấn đề siêu hình học tổng quát, cùng với những khó khăn của chúng. Tính bất lực trước các vấn đề siêu hình chỉ có thể được giải thích bằng sự đoạn tuyệt hoàn toàn mà triết học đương đại đã tạo ra với truyền thống cổ xưa vĩ đại. Đây là lý do duy nhất tại sao chưa có nỗ lực nào để nắm bắt triệt để Đơn tử luận của Leibniz trong ý hướng cốt lõi của nó, mặc dù Leibniz đã giải thích rõ ràng ý nghĩa và tầm quan trọng siêu hình tổng quát của vấn đề đơn tử luận về bản chất. Ông đã thực hiện điều này trong bài viết ngắn đã đề cập trước đó De primae Philosophiae Emendatione, et de Notione Substantiae - Luận về Tu chỉnh Triết học Thứ nhất và về Khái niệm Bản chất. Bài viết này đề cập đến việc cải tiến triết học đầu tiên, siêu hình học tổng quát (bản thể luận), bằng cách làm rõ [tr.78] khái niệm bản thể, bằng cách diễn giải đơn tử về thực thể tính.

Bài viết ngắn gọn chỉ chiếm một trang trong ấn bản Erdmann (121122; G. IV, 468-70) [L. 432-33]. Việc chúng ta có tiến tới ý nghĩa bản thể luận của Đơn tử luận hay vẫn mắc kẹt trong sự trống rỗng của triết học phổ biến phụ thuộc vào việc chúng ta có hiểu bài viết này hay không. Chủ đề là các natura substantiae in universum bản thể tự nhiên trong vũ trụ, thực chất của bản chất nói chung, thực thể tính theo đúng nghĩa. Notio substantiae, quam ego transfero, tam foecunda est, ut inde veritates primariae, etiam circa Deum et mentes, et naturam corporum, eaeque partim cognitae, sed parum demostratae, partim hactenus ignotae, sed maximi per ceteras scientas usus futurae, consequantur. (G. IV, 469) Khái niệm về thực thể mà tôi đưa ra quá hiệu quả đến nỗi từ đó dẫn đến những chân lý căn bản và nguyên thủy, những chân lý trên thực tế về Thiên Chúa, các linh hồn và bản chất của thể xác (nghĩa là về mọi hiện hữu và lãnh vực của chúng), những chân lý một phần được biết đến nhưng ít được chứng minh, một phần cho đến nay vẫn chưa được biết đến nhưng dù sao cũng có ý nghĩa lớn nhất đối với các ngành khoa học (phi triết học) khác. [L. 433]

Leibniz mở đầu cuộc thảo luận ngắn gọn của mình về bản chất như là khái niệm bản thể luận cơ bản với sự phản ánh tổng quát về sự cần thiết phải tinh chỉnh các khái niệm siêu hình học, những khó khăn kèm theo và những nỗ lực trước đó. Thông thường, toán học với các định nghĩa của nó được coi là paradigma hệ mẫu của sự rõ ràng và khác biệt, mặc dù ở đây Leibniz ở một mức độ nào đó thấy rằng việc tinh chỉnh và chứng minh các khái niệm siêu hình cơ bản là một loại thủ tục khác. “Video pleroque, qui Mathematicis doctrinis delectantur, a Metaphysicis abhorrere, quod in illis lucem, in his tenebras animadvertant. Cujus rei potissimam causam esse arbitror, quod notions generales, et quae maxime omnibus notae creduntur, humana negligentia atque inconstantia cogitandi ambiguae atque obscurae sunt factae; et quae vulgo afferuntur de6nitiones, ne nominales sunt quidem, adeo nihil explicant….Nec vero substantiae tantum, sed et causae, et actionis, et relationis, et similitudinis, et plerorumque aliorum terminorum generalium notiones veras et foecundas vulgo latere manifestum est. Unde nemo mirari debet, scientiam illam principem, quae Primae Philosophiae nomine venit…., adhuc inter quaerenda mansisse. (G. IV, 468-69) “Tôi thấy rằng hầu hết những người quan tâm đến khoa học toán học đều không thích siêu hình học vì họ nhận thấy ánh sáng ở toán học nhưng lại nhận thấy bóng tối ở siêu hình học. Tôi tin rằng lý do chính cho điều này [tr.79] là những khái niệm chung mà mọi người coi là đương nhiên đã trở nên mơ hồ và khó hiểu do sự bất cẩn và tính dễ thay đổi trong tư duy của con người; các định nghĩa thường được đưa ra cho những khái niệm cơ bản này thậm chí không phải là những định nghĩa mang tính định danh và do đó không mang lại chút ánh sáng nào….Rõ ràng là những khái niệm chân thực và hữu ích, không chỉ về bản chất, mà còn về nguyên nhân, hành động, quan hệ, sự tương đồng và nhiều thuật ngữ tổng quát khác, thường bị che khuất. Vì vậy, không ai nên ngạc nhiên nếu ngành khoa học chính, vốn xuất hiện dưới tên gọi triết học thứ nhất, cho đến nay vẫn còn nằm trong số những điều chưa được khám phá… Tuy nhiên, đối với tôi, dường như ánh sáng và tính chắc chắn cần thiết hơn trong siêu hình học so với tự thân toán học, bởi vì các vấn đề toán học mang theo những thử nghiệm và xác minh riêng của chúng, đây là lý do mạnh mẽ nhất cho sự thành công của toán học. Nhưng trong siêu hình học lại thiếu lợi thế này. Và vì vậy, một trật tự thủ tục đặc biệt nhất định là cần thiết, giống như sợi chỉ trong mê cung,….với tính minh bạch được bảo đảm không kém gì mức độ mà bất kỳ ai cũng muốn thấy trong ngôn ngữ hàng ngày.” [L. 433]

Theo Leibniz, siêu hình học đòi hỏi một phương thức khẳng định và giải thích khác với phương thức đã được chứng minh là hữu ích cho sự phát triển của toán học. Cần phải hướng tới tính minh bạch này, nhưng như vậy không có nghĩa là nhượng bộ trước đàm thoại hàng ngày và ‘lý giải phổ thông’. Việc đánh giá siêu hình học tổng quát bằng cách so sánh nó với toán học đã xuất hiện ở một mức độ nào đó từ thời Plato, và nó tiếp tục như một nguyên tắc chung kể từ thời Descartes, đến nỗi ngay cả đối với Kant cũng cần phải nêu rõ mối quan hệ này (xem Phê phán Lý tính Thuần túy, ‘Phương pháp siêu nghiệm’, Chương 1, Phần 1: ‘Bộ môn Lý tính Thuần túy trong việc Sử dụng Giáo điều của nó’, A 712-38, B 740-66). Ông nói: “Tri thức triết học là tri ​​thức thu được bằng lý tính từ các khái niệm; tri thức toán học là tri ​​thức thu được bằng lý tính từ việc xây dựng các khái niệm’ (A 713, B 741). Trong phương pháp luận cụ thể này, Kant không đạt được mức độ rõ ràng như trong diễn giải triết học thực sự của ông trong Chương về Lược đồ hóa. Cujus rei ut aliquem gustum dem, dicam interim, notionem virium seu virtutis (quam Germani vocant Krafft, Galli la force) cui ego explicandae peculiarem Dynamices scientiam destinavi, plurimum lucis afferre ad veram notionem substantiae intelligendam. (G. IV, 469) “Để cung cấp một sự hiểu biết sơ lược, tôi sẽ nói rằng khái niệm về lực hoặc sức mạnh, mà người Đức gọi là Kraft và người Pháp gọi là la force, và để giải thích nó, tôi đã thiết lập một ngành khoa học riêng biệt về động lực học, mang lại ánh sáng mạnh mẽ nhất cho sự hiểu biết của chúng ta về khái niệm chân về bản chất.” [L. 433]  

[P.80] Ở đây, Leibniz ban đầu chỉ khẳng định rằng khái niệm về lực là yếu tố cấu thành cho việc diễn giải thực thể tính của bản chất. Nhưng ông không làm sáng tỏ mối liên hệ vốn có giữa các đặc tính của lực và nhất tính của bản chất. Ông chỉ giới hạn mình ở một nhiệm vụ sơ bộ, đó là làm rõ những gì ông hiểu về lực. Ông làm điều này bằng cách phân biệt nó với các khái niệm siêu hình học của trường phái kinh viện về potentia nuda tiềm năng thuần túy (passiva thụ động), potentia active – tiềm năng hành động‘actio’ chủ động, mà đến lượt chúng lại quay trở lại cuộc thảo luận của Aristotle về δύναμις dinamis động năng; ἐνέργεια enérgeia động năngἐντελέχεια entelecheia hoàn thiện). Lý thuyết về potentia passiva tiềm năng thụ động và potentia activa tiềm năng chủ động là một phần lớn và quan trọng của học thuyết kinh viện Aristotelian. Ở đây chúng ta không thể đi sâu vào vấn đề này. Sự phân biệt này là sự phân chia nhỏ hơn của một sự phân biệt tổng quát hơn mà chúng ta đã xem xét ở một mức độ nào đó theo một hướng khác. Dưới thuật ngữ essential bản chất hay realitas thực tại, cụ thể là khả tính theo nghĩa cái cấu thành nên bản chất của một sự vật, cho phép sự vật tồn tại trong cấu tạo thiết yếu của nó bất kể khả tính này có được hiện thực hóa hay không. Các nhà triết học kinh viện cũng gọi khả tính này là potentia objectiva tiềm năng khách thể hay metaphysica siêu hình; ‘có tính khách quan’ theo nghĩa cũ (giống như realitas objectiva thực tại khách quan đối với Descartes): ob-jectum vật thể bị tách ra, cái đặt trước mặt, cái đối lập với chính mình - chỉ đơn thuần là suy nghĩ về bản thân và tự mình diễn giải những khả tính thuần túy, bản chất của một sự vật. Bên cạnh potentia objectiva tiềm năng khách thể (possibilitas khả tính, essentia bản chất) này còn có một potential subjectiva chủ thể tiềm năng; subjectum chủ thể không theo nghĩa hiện đại mà theo nghĩa cổ xưa: cái nằm ở nền tảng, tự nó hiện hữu; và vì vậy nó cũng được gọi là potentia physica, năng lực vật lý. Đó là sức mạnh, năng lực bản thể luận capacitas rei ad aliquam perjectionem seu ad aliquem actum ‘năng lực của sự vật cho việc hoàn thiện hoặc cho một hành động nào đó’.

Potentialia subjectiva (physica) tiềm năng chủ thể (vật lý) này được chia thành activa chủ động và passiva thụ động. Thomas Aquinas, trong Questiones disputatae de potentia Câu hỏi Tranh luận về Tiềm năng (q. I, a. 1, resp.), nói: Duplex est potentia, una activa, cui respondet actus, qui est operatio; et huic primo nomen potentiae videtur fuisse attributum; alia est potentia passiva, cui respondet actus primus, qui est forma, ad quam similiter videtur secundario nomen potentiae devolutum. “Tiềm năng có hai mặt: một là hoạt động, tương ứng với hành động là hoạt động [chức năng, operatio hoạt động]; thứ hai là sức mạnh thụ động, và tương ứng với nó là hành động chủ yếu mang tính hình thức, mà thuật ngữ ‘sức mạnh’ dường như được áp dụng thứ yếu. Thuật ngữ ‘sức mạnh’ có hai nghĩa. Đầu tiên nó chỉ định sức mạnh để hoàn thành, bản thân việc đạt được, actus theo nghĩa [tr.81] hành động. Việc chỉ định ‘sức mạnh’ dường như trước hết là do hiện tượng này, khả năng hoàn thành. Nguyên nhân chính để phát triển khái niệm về khả tính rõ ràng bắt nguồn từ hiện tượng sức mạnh này. Sức mạnh theo nghĩa thứ hai là năng lực trải qua, cho phép một điều gì đó được tạo ra từ chính nó. Sức mạnh này là khuynh hướng, năng lực bẩm sinh. Thuật ngữ tương quan của nó là actus theo nghĩa forma, hiện thực tính. ‘Sức mạnh’ khi chỉ định cái cho phép bản thân được hiện thực hóa thành một cái gì đó dường như là một ý nghĩa phái sinh của thuật ngữ này.

Khái niệm hai mặt của potentia, sức mạnh, rõ ràng tương ứng với khái niệm hai mặt của actus. Thomas nói trong cùng đoạn văn: Actus autem est duplex: scilicet primus, qui est forma; et secundus, qui est operatio “Tuy nhiên, hành động có hai mặt: hành động đầu tiên, dĩ nhiên, là hình thức; và hành động thứ hai là hoạt động”. Khái niệm hành động có hai mặt. Hành động ‘đầu tiên’ biểu thị tính được thực hiện, hay nói đúng hơn  forma, tính hiện thực của một cái gì đó. Hành động ‘thứ hai’ biểu thị hành động như là hành động của một cái gì đó đã hiện thực. Thứ tự số do đó phản ánh thứ tự của tự thân vấn đề. Potentia passiva sức mạnh thụ động tương ứng với actus qua forma hành động với tư cách hình thức, và potentia activa tương ứng với actus qua actio hành động với tư cách hành động. Nhưng loại tương ứng trong cả hai cặp khái niệm đều khác nhau. Về điều này, Thomas nói trong Summa Theologica Thần học Tổng luận I, q. xxv, a. 1, ad 1: Potentia activa non dividitur contra actum, sed fundatur in eo; nam unumquodque agit secundum quod est in actu. Potentia vera passive dividitur contra actum; nam unumquodque patitur, secundum quod est in potentia. “Sức mạnh chủ động không trái ngược với hành động, mà dựa trên hành động, vì mọi thứ đều hành động khi nó là hiện thực: nhưng sức mạnh thụ động trái ngược với hành động, vì một sự vật thụ động khi nó là tiềm năng.”

Sức mạnh để hoàn thành ở đây không được phân biệt với hành động với tư cách là hoạt động. Nghĩa là, sức mạnh để hoàn thành không phải là một thứ độc lập, mà một sự vật chỉ có thể chủ động hoàn thành khi chính nó tồn tại trong thực tính. Một sự vật không thể là chính nó nếu nó không phải thực tính. Ngược lại, sức mạnh, như sức mạnh để trở thành một cái gì đó, để cho phép một cái gì đó xảy ra với chính nó, lại khác biệt với thực tính, vì trong trường hợp này, một cái gì đó trở thành hiện thực đặc biệt phụ thuộc vào khuynh hướng của cái cho phép điều gì đó xảy ra với chính nó. Cái năng lực khác biệt với cái đang tồn tại và có thể tồn tại trên cơ sở của cái năng lực đó. Tự thân cái năng lực không cần sự hiện thực hóa. Đây là những khác biệt quan trọng đối với bản thể luận tổng quát và từ lâu chúng đã được diễn giải và đồng hóa một cách không đầy đủ. Điều quan trọng [tr.82] là phải nhìn xa hơn hình thức Kinh viện của một danh sách đơn thuần về sự khác biệt.

Leibniz phác họa khái niệm của mình về vis activa lực chủ động chống lại sự khác biệt giữa sức mạnh chủ động và thụ động. Chính xác hơn, ông mô tả nó chống lại quyền lực chủ động. Vis activapotentia activa tiềm năng chủ động dường như có ý nghĩa giống nhau về mặt nghĩa đen. Nhưng: Differt enim vis activa a potentia nuda vulgo scholis cognita, quod potentia active Scholasticorum, seu facultas, nihil aliud est quam propinqua agendi possibilitas, quae tamen aliena excitatione et velut stimulo indiget, ut in actum transfemtur. (G. IV, 469) (G. IV, 469) “Lực chủ động khác với sức mạnh đơn thuần vốn thân thuộc với các Trường phái triết học, vì sức mạnh hay năng lực chủ động của triết học Kinh viện chỉ là một khả tính hành động gần đúng, vốn cần một kích thích hay tác động bên ngoài để được chuyển thành hành động.” [L. 433]

Tiềm năng chủ động của trường phái triết học Kinh viện chỉ là một khuynh hướng hành động, một khuynh hướng sắp hành động nhưng chưa hành động. Đó là một năng lực tồn tại trong một cái gì đó tồn tại, một năng lực chưa được phát huy. Sed vis activa actum quendum sive entelecheia continet, atque inter facultatem agendi actionem que ipsam media est, et conatum involvit. (Ibid.; xem thêm bên dưới về nisus, khuynh hướng.) “Nhưng lực chủ động chứa đựng một hành động nhất định hoặc ἐντελέχεια entelecheia việc hiện thực hóa, và do đó nằm giữa khả năng hành động và chính hành động đó và bao hàm một conatus xung lực. [L. 433] Vis activa sức mạnh chủ động là một hoạt động nhất định, tuy nhiên, không phải là hoạt động trong sự hoàn thành thực sự của nó. Nó là một khả năng, nhưng không phải là khả năng ở trạng thái nghỉ. Chúng ta gọi điều Leibniz muốn nói ở đây là ‘hướng tới…’, hoặc, tốt hơn hết, để làm nổi bật khoảnh khắc cụ thể, đã phần nào thực tế của hoạt động: thúc đẩy hoặc hướng tới, là sự thúc đẩy. Không phải là một khuynh hướng hay một quá trình được cho là như vậy, mà là ‘đảm nhận nó’, cụ thể là ‘tự mình gánh vác nó’. Ý ông là tự đặt mình vào, như trong thành ngữ “anh ta quyết tâm làm điều đó”, tự mình gánh vác nó. Bản thân sự thúc đẩy thường dẫn đến hoạt động, không chỉ đôi khi mà là về bản chất. Sự dẫn đến này không cần bất kỳ kích thích bên ngoài nào trước đó. Sự thúc đẩy là xung lực mà về bản chất là tự vận hành.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

10. Cf. the summary on Leibniz's monadology in the lecture Einleitung in die Philosophie, Winter-Semester 1928129 [planned as volume 27 of the Gesamtausgabe]; the monadology is also dealt with in the seminar in winter semester 1929130 on truth and certainty in Descartes and Leibniz.