Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
§3. Ý niệm Chân lý và các Nguyên tắc của Tri thức
[Tr.52] Bản chất của chân lý nằm ở đồng nhất tính giữa chủ ngữ và vị ngữ. Theo đó, tri thức về chân lý chính là sự nắm bắt các đồng nhất tính. Có những dấu hiệu và tiêu chí khác nhau cho chân lý của nhận thức, tùy thuộc vào việc các đồng nhất tính đó là hiển nhiên hay phải được chứng minh trước, và được chứng minh theo cả hai nghĩa là chân lý tất yếu và chân lý ngẫu nhiên. Quan niệm thông thường về các nguyên tắc tri thức trong triết học của Leibniz dựa trên ý tưởng cho rằng cần bổ sung một sự phân biệt song song giữa hai nguyên tắc cơ bản vào sự phân biệt giữa chân lý suy lý và chân lý sự kiện. Chân lý suy lý tuân theo luật bất mâu thuẫn, và chân lý sự kiện tuân theo nguyên tắc lý do đầy đủ (Xem Monadologie, n. 31ff.). Những người theo trường phái Leibniz như Wolff và Baumgarten (Metaphysica, phần 19ff.) thậm chí còn đi xa hơn khi chứng minh cả nguyên tắc thứ hai từ nguyên tắc ban đầu và cuối cùng đặt tất cả tri thức dưới nguyên tắc bất mâu thuẫn. Được coi là biểu hiện phủ định của nguyên tắc đồng nhất tính, vậy là nguyên tắc bất mâu thuẫn trở thành nguyên tắc cơ bản của mọi nhận thức, của mọi chân lý như là các đồng nhất tính. Có một số lý do chính đáng cho xu hướng diễn giải này, một xu hướng dù sao cũng đi ngược lại với Leibniz và đặc biệt là với chính các vấn đề, như sau đây lập tức sẽ trở nên rõ ràng. Chúng ta sẽ bắt đầu với lớp chân lý đầu tiên. Các đồng nhất tính rõ ràng, các chân lý cơ bản, mang đặc tính đồng nhất của chúng để mọi người đều thấy. Cái chỉ ra chân lý của chúng chính là bản thân đồng nhất tính hiển nhiên này (A là A). Nếu chúng ta biến tiêu chí cho chân lý của các chân lý cơ bản này thành một nguyên tắc, thì chính nguyên tắc đó sẽ là: A là A, nguyên tắc đồng nhất. Nguyên tắc của tri thức về các chân lý cơ bản không gì khác hơn là nguyên tắc cơ bản nhất. Đó là thiết yếu.
[Tr.53] Tiêu chí, đồng nhất tính, tự nó là chân lý đầu tiên và là nguồn gốc của chân lý. Theo đó, chúng ta nên lưu ý rằng nguyên tắc này không nằm ngoài những phát ngôn nhận thức mà nó là nguyên tắc hướng dẫn. Thay vào đó, chính nó thuộc về các phát ngôn như là phát ngôn đầu tiên của chúng. Những chân lý này là những chân lý quarum ratio reddi non potest vốn không thể đưa ra lý do nào (xem đoạn trích trong De Libertate đã dẫn ở trên, tr. 41). Điều này không có nghĩa là chúng vô căn cứ, mà ngược lại, bản thân chúng đã có căn cứ, do đó chúng không cần đến sự chứng minh hay suy luận. Chúng chính xác là veritates originariae những chân lý nguồn cội. Những chân lý thông thường, tất yếu và ngẫu nhiên, cần có căn cứ. Chúng thuộc về principium rationis nguyên tắc suy lý, hay nói đúng hơn là principium reddendae rationis nguyên tắc chứng minh căn cứ, tức là nguyên tắc resolutio giải quyết (nguyên tắc về sự cần thiết của bằng chứng). Do đó, không chỉ có loại chân lý phái sinh, chân lý ngẫu nhiên, thuộc về nguyên tắc suy lý, mà mỗi chân lý phái sinh về bản chất đều thuộc về nguyên tắc suy lý này. Tuy nhiên, veritates necessariae những chân lý tất yếu được quy về một nguyên tắc đặc biệt: principium contradictionis nguyên tắc mâu thuẫn. Loại chân lý thứ hai bao gồm các chân lý tất yếu, có thể quy giản trực tiếp về các đồng nhất tính. Absolute necessaria propositio est quae resolvi potest in identicas, seu cujus oppositum implicat contradictionem… Quod vera implicat contradictionem, seu cujus oppositum est necessarium, id impossible appellatur (C. 17) [Một mệnh đề tất yếu tuyệt đối là mệnh đề có thể quy giản thành các đồng nhất tính hoặc mệnh đề mà mệnh đề đối lập của nó hàm chứa một mâu thuẫn…Bởi vì bất cứ điều gì hàm chứa một mâu thuẫn, hoặc có một mệnh đề đối lập là tất yếu, đều được gọi là bất khả tính].
Tiêu chí của các chân lý tất yếu, phù hợp với bản chất của chúng, là khả tính quy giản thành các đồng nhất tính. Tuy nhiên, khả tính quy giản thành các đồng nhất tính lại biểu thị sự phù hợp với các đồng nhất tính. Những gì không phù hợp mà trái ngược với các đồng nhất tính thì contra-diets là những món ‘kiêng kỵ đối lập’ với các đồng nhất tính và chứa đựng một mâu thuẫn. Khả tính quy giản thành các đồng nhất tính biểu thị tính không mâu thuẫn. Bất cứ điều gì chứa đựng một mâu thuẫn là điều hoàn toàn không thể tồn tại, vì esse là/tồn tại biểu thị inesse ở trong/thuộc về và điều này biểu thị idem esse tương đồng/giống hệt. Về cơ bản, điều không thể tồn tại là bất khả. Tuy nhiên, chừng nào các chân lý tất yếu này tuân theo nguyên tắc không mâu thuẫn như là nguyên tắc về khả tính quy giản của chúng, tức là khả tính chứng minh của chúng, thì principium reddendae rationis nguyên tắc lý do đầy đủ cũng áp dụng cho chúng. Thực tế, người ta có thể và phải nói ngược lại rằng nguyên tắc lý do đầy đủ còn quan trọng hơn cả nguyên tắc bất mâu thuẫn.
Để chắc chắn, Leibniz còn nói: [tr.54] Absolute autem et in se ilIa demum propositio est vera, quae vel est identica, vel ad identicas potest reduci, hoc est quae potest demonstrari a priori seu cujus praedicati cum subjecto connexio explicari potest, ita ut semper appareat ratio. Et quidem nihil omnino fit sine aliqua ratione, seu nulla est propositio praeter identicas in qua connexio inter praedicatum et subjectum non possit distincte explicari, nam in identicis praedicatum et subjectum coincidunt aut in idem redeunt. Et hoc est inter prima principia omnis ratiocinationis humanae, et post principium contradictionis maximum habet usum in omnibus scientiis. (C. 513 f.) “Nhưng mệnh đề nào tuyệt đối và tự thân là chân thì mệnh đề đó hoặc là một đồng nhất tính hoặc có thể quy giản thành một đồng nhất tính, tức là mệnh đề đó có thể được chứng minh tiên nghiệm hoặc mối liên hệ giữa vị ngữ và chủ ngữ có thể được làm rõ ràng sao cho nguyên do của nó luôn luôn xuất hiện. Và thực sự không gì có thể xảy ra mà không có lý do nào đó, hoặc, ngoại trừ các đồng nhất tính, không có mệnh đề nào mà mối liên hệ giữa vị ngữ và chủ ngữ không thể được làm rõ ràng, vì trong các đồng nhất tính, các khuôn khổ vị ngữ và chủ ngữ trùng nhau hoặc có thể được quy giản thành cùng một khuôn khổ. Đây là một trong những nguyên tắc đầu tiên trong quá trình suy lý của con người và sau nguyên tắc bất mâu thuẫn, nó có ứng dụng lớn nhất trong tất cả các ngành khoa học.”
Ở đây, vị trí bản thể luận của principium rationis nguyên tắc suy lý vẫn chưa được làm rõ, chỉ có ‘công dụng’ của nguyên tắc này được thảo luận. Nhưng nguyên tắc suy lý là nguyên tắc khai mở đồng nhất tính vốn cần được bộc lộ. Mặt khác, vì nguyên tắc bất mâu thuẫn về bản chất là nguyên tắc đồng nhất, nên nó không thể bị giới hạn trong một lớp các đồng nhất tính, mà phải liên hệ với mọi đồng nhất tính, và do đó cũng liên hệ với các chân lý ngẫu nhiên. Trong việc chứng minh các chân lý ngẫu nhiên, chúng ta không thực sự sử dụng nguyên tắc này vì không thể thực hiện phép quy giản về các đồng nhất tính. Do đó, có hai điều xảy ra: 1) Mối quan hệ giữa cả hai nguyên tắc này, hoặc giữa ba nguyên tắc, không rõ ràng một cách trực tiếp, ngay cả trong chính Leibniz. 2) Ngay cả khi Leibniz thường xuyên liên hệ rõ ràng cả hai nguyên tắc với hai lớp chân lý tất yếu và ngẫu nhiên, ông vẫn nói, trong những đoạn quan trọng của ba tác phẩm chính, rằng cả hai nguyên tắc đều là chân trong cả hai lớp, nghĩa là, là chân với tất cả các chân lý phái sinh.
(Lưu ý: Đầu tiên, hãy so sánh trong phần phụ lục của Theodizee (1710), trong phần giải quyết những tranh cãi về cuốn sách của King, phần 14, “Về Nguồn gốc của Cái ác”: Absolute necessaria propositio est quae resolvi potest in identicas, seu cujus oppositum implicat contradictionem…. Quod vero implicat [p.55] contradictionem, seu cujus oppositum est necessarium, id impossible appellatur. (cf. C. VI, 4 14) “Nguyên tắc này và nguyên tắc kia có giá trị không chỉ trong lĩnh vực các chân lý tất yếu mà còn trong lĩnh vực các chân lý ngẫu nhiên…. Vì theo một nghĩa nào đó, người ta có thể nói rằng những nguyên tắc này được bao hàm trong định nghĩa chân và giả.” Trong luận thuyết về Primae veritates Các chân lý đầu tiên, Leibniz nói, sau khi ông chỉ rõ đồng nhất tính là bản chất của chân lý: Ex his propter nimiam facilitatem suam non satis consideratis multa consequuntur magni momenti. Statim enim hinc nascitur moma receptum: nihil esse sine ratione, seu: nullum effectum esse absque causa. Alioqui veritas daretur, quae non posset, probari a priori, seu quae non resolveretur in identicas, quod est contra naturam veritatis, quae semper vel expresse vel implicite identica est. (C. 519) “Những vấn đề này chưa được xem xét thỏa đáng, bởi vì chúng quá dễ dàng, nhưng từ đó kéo theo nhiều điều có tầm quan trọng lớn lao. Ngay lập tức chúng làm phát sinh tiên đề đã được chấp nhận: không có gì mà không có lý do, hoặc không có kết quả nào không có nguyên nhân. Nếu không thì sẽ có chân lý không thể được chứng minh tiên nghiệm hoặc không thể phân giải thành các đồng nhất tính - trái ngược với bản chất của chân lý, vốn luôn rõ ràng hoặc ngầm định giống hệt.” [L. 268]
Điều đó có nghĩa là: nhiều điều quan trọng khác sẽ được suy ra từ những gì đã được giải thích về đồng nhất tính và chân lý, vốn do tính hiển nhiên của nó nên chưa được nghiên cứu đầy đủ. Từ định nghĩa về chân lý, suy ra nguyên tắc lý do đầy đủ. Nếu nguyên tắc cơ sở không phải là nguyên tắc ban đầu của chân lý đó, thì sẽ không có bằng chứng tiên nghiệm, không có sự quy giản thành đồng nhất tính, điều này trái ngược với bản chất của chân lý. Cuối cùng, trong Monadologie Đơn tử luận (1714), ở phần 36, ông nói: “Tuy nhiên, lý do đầy đủ cũng phải là lý do có thể tìm thấy trong các chân lý ngẫu nhiên hoặc chân lý sự kiện, nghĩa là, trong sự liên kết tương hỗ của tất cả mọi vật được tạo ra.” Ở đây Leibniz đề cập đến phần 33, nơi ông gợi ý rằng với các chân lý tất yếu, người ta có thể ‘tìm thấy cơ sở thông qua phân tích’ và thông qua đó đi đến các đồng nhất tính (xem G. VI, 612). Bản tóm tắt các nguyên tắc tri thức này cho thấy mối liên hệ của chúng với đồng nhất tính như là bản chất của chân lý. Tuy nhiên, đồng nhất tính là đặc điểm hiện hữu cơ bản của tất cả mọi hiện hữu. Trong số các nguyên tắc thì nguyên tắc lý tính giữ vị trí hàng đầu, mặc dù không rõ ràng. Một mối liên hệ xuất hiện giữa lý tính, hay nền tảng, chân lý và hiện hữu, liên quan đến đồng nhất tính. Tuy nhiên, ý nghĩa cơ bản của nguyên tắc lý tính chỉ trở nên rõ ràng khi người ta nhận ra rằng các nguyên tắc chính của siêu hình học Leibniz dựa trên nó [tr.56] và Leibniz thậm chí còn suy ra các nguyên tắc siêu hình của mình từ đó (xem Primae veritates). Vì vậy nảy sinh mối hồ nghi sâu rộng trong cái principium rationis nguyên tắc lý tính này: các nguyên tắc hài hòa, tính nhất quán, tính phù hợp hay melius cái tốt hơn, tồn tại, đồng nhất tính của những thứ bất khả phân biệt, tất cả đều được kết nối hoặc đồng nhất với principium rationis nguyên tắc lý tính.
Nhìn chung, rõ ràng là xu hướng đồng hóa cả hai hình thức cơ bản của chân lý veritas rationis chân lý lý tính và ventas facti chân lý sự kiện, do đó, mối liên hệ giữa hai nguyên tắc cơ bản này, mặc dù vẫn chưa rõ ràng, nhưng đều bắt nguồn từ scientia Dei Tri thức Thiên Chúa, ý niệm về tri thức tuyệt đối. Câu hỏi đặt ra là liệu Leibniz định nghĩa ý niệm về tri thức nói chung như thế nào, trong đó ông xem bản chất của nhận thức theo đúng nghĩa. Vì chân lý là đặc tính thiết yếu của tri thức - giả tri thức không phải là tri thức - nên bản chất của chân lý, cho đến nay vẫn được định nghĩa là đồng nhất tính, phải trở nên rõ ràng hơn khi ý niệm về tri thức được làm sáng tỏ. Nhưng để trở nên chân thì đồng nghĩa với việc được bao hàm và đồng nhất. Do đó, bằng cách làm sáng tỏ ý niệm về tri thức, chúng ta sẽ có thể hiểu sâu sắc hơn về các mối liên hệ cơ bản mà chúng ta đang xem xét. Câu hỏi đặt ra là: Theo cấu trúc thiết yếu của chúng, những điều sau đây liên kết với nhau như thế nào: phán đoán, chân lý, đồng nhất tính, tri thức, hiện hữu và các nguyên tắc cơ bản của tri thức? (Lưu ý: Điều đáng chú ý là chúng ta liên tục vận động trong cùng một chiều không gian của các hiện tượng cơ bản với những khuôn khổ như vậy, mà vẫn chưa thể nhận ra một trật tự phụ thuộc lẫn nhau rõ ràng. Thực sự thì có lẽ không có trật tự nào mà cái này có thể được suy luận ‘tuyến tính’ từ cái kia. Và trên thực tế, không có hiện tượng cơ bản nào nguyên thủy hơn hiện tượng khác. Chúng đều nguyên thủy như nhau. Nhưng chính vì lý do đó mà có một vấn đề liên quan trung tâm: 1) cấu tạo bên trong của tính nguyên thủy như nhau này, và 2) cơ sở tính khả thể. Câu hỏi liên quan đến bản chất của tính toàn vẹn (không thể phân rã) của chiều không gian nguyên thủy như nhau này của cái siêu nghiệm.
Tóm tắt
Chúng ta đang tìm kiếm một logic triết học và từ đó là một lời giới thiệu về thực hành triết học. Chúng ta đang cố gắng nắm bắt nền tảng của logic, theo truyền thống vốn chỉ được giải thích một cách hời hợt, kỹ thuật. Chúng ta đang cố gắng hiểu những cơ sở cơ bản của những gì logic thường đề cập đến. Những cơ sở và nền tảng này chỉ đạt được thông qua siêu hình học; do đó tiêu đề của chúng tôi là: ‘Nền tảng Siêu hình của Logic’. Trong phần giới thiệu, chúng tôi đã chỉ ra cách thức mà các hiện tượng chính [tr.57] được thảo luận trong logic đều quy về siêu hình học. Chân lý quy về siêu việt, nền tảng quy về tự do, khái niệm quy về lược đồ, copula kết nối quy về hiện hữu. Bởi vì mối liên hệ này rất quan trọng, nó đã phải được khẳng định lại nhiều lần trong triết học trước đây, mặc dù có một xu hướng, mà ngày nay càng nổi lên hơn bao giờ hết, là cô lập logic và đặt nền tảng của logic lên chính bản thân nó.
Ngược lại, nếu muốn đặt nền tảng siêu hình học cho logic, chúng ta cần phải giao tiếp với lịch sử triết học, bởi vì chính siêu hình học cần phải được đặt nền tảng lại. Bởi vì chúng ta không sở hữu một siêu hình học hoàn chỉnh để có thể xây dựng logic trên đó, nhưng việc phá bỏ logic tự nó là một phần của việc đặt nền tảng cho siêu hình học. Nhưng đây không gì khác hơn là một cuộc đối đầu về các nguyên tắc với toàn bộ truyền thống trước đó. Vì vậy, trước tiên chúng ta tìm cách tiến lên trên các con đường lịch sử vào chiều kích của nền tảng siêu hình học của logic. Chúng ta không chọn một định hướng võ đoán nào, mà vì những lý do đã nêu, định hướng cho mình từ chính Leibniz. Phần chính này do đó có tiêu đề: ‘Tháo dỡ học thuyết phán đoán của Leibniz xuống đến những vấn đề siêu hình cơ bản’. Nhiệm vụ được chia thành bảy đề mục, ba trong số đó đã được đề cập: 1) đặc điểm của cấu trúc tổng quát của phán đoán - lý thuyết bao hàm, 2) ý niệm về chân lý, lý thuyết đồng nhất tính và các hình thức cơ bản của chân lý veritas rationis chân lý lý tính và veritas facti chân lý sự kiến, 3) ý niệm về chân lý và các nguyên tắc nhận thức principium contradictionis nguyên tắc mâu thuẫn và principium rationis sufficientis nguyên tắc lý do đầy đủ. Đến lúc này, tiền đề về một ý niệm về chân lý tuyệt đối đã trở nên rõ ràng. Tri thức được hướng tới một lý tưởng nhất định. Mọi định hướng lịch sử chỉ thực sự sống động khi chúng ta học cách nhận ra rằng điều cốt yếu cuối cùng là do sự diễn giải của chính chúng ta trong quá trình tư duy lại tự do, nhờ đó chúng ta đạt được sự tách rời khỏi mọi tri thức uyên bác.
§4. Ý niệm về Tri thức theo đúng nghĩa
Trong việc mô tả scientia Dei Tri thức Chúa Trời, chúng tôi đi đến những kết luận sau: đó là một intuitus praesens omnia subjecta sibi praesentialiter một trực giác hiện tại mà mọi sự đều tuân theo trong tính hiện tại của chúng. Trực giác là sự nhìn thấy, quan sát trực tiếp, và praesens có nghĩa là ‘hiện tại’, trái ngược với cum successione kế tiếp. Tri thức của Chúa không đạt được trong một chuỗi các hành động trực giác những sự vật riêng lẻ mà nó xảy ra mà không cần kế tiếp, tất cả cùng một lúc trong một khoảnh khắc. Nhưng đó là một khoảnh khắc không chỉ kéo dài trong chốc lát mà vẫn giữ nguyên như vậy cho đến muôn đời. Vì vậy, nó có aetemitas tính vĩnh hằng. Nó là nunc stans hiện tại vĩnh hằng, [tr.58] Hiện tại trường tồn và còn lại, hiện tại vĩnh cửu. Trực giác hiện tại này, luôn hiện diện trong Chúa, về phần nó, có mọi thứ gegenwartig ‘bây giờ’ trước mặt nó. Nghĩa là...Trực giác hằng hiện diện này có đối tượng được trực giác của nó - toàn bộ những gì thực sự đã, đang và sẽ tồn tại - nằm trước nó với tư cách anwesend hiện diện. Tri thức là intuitus trực giác, visio thị kiến, hằng thấy trực tiếp mọi thứ trong Anwesenheit tính hiện diện của nó. Tuy nhiên, ý niệm về tri thức này bắt nguồn từ tính vĩnh hằng của Thiên Chúa. Vĩnh hằng là cái luôn luôn có đó totum simul tất cả cùng một lúc. Vĩnh hằng là mensura temporis phép đo thời gian. Nhưng bản thân tính vĩnh hằng được suy ra từ immutabilitas bất biến, từ simplicitas đơn nhất. Do đó, suy luận được tái cấu trúc như sau: simplicitas-immutabilitas-aeternitas-intuitus praesens đơn nhất-bất biến-vĩnh hằng-trực giác hiện tại. Cái mà về bản chất là bất biến thì không thể bị thay đổi bởi việc bổ sung tri thức mới. Cái bất biến là vĩnh hằng, và vì là vĩnh hằng nên nó phải sở hữu mọi thứ cùng một lúc mà không thay đổi. Do đó, phương thức nhận thức về một hữu thể tuyệt đối như vậy phải có đặc tính intuitus praesens trực giác hiện tại omnia sibi praesentialiter subjiciens đưa mọi thứ ra trước chính nó trong tính hiện diện của nó.
Leibniz đã trả lời câu hỏi về ý niệm, về bản chất của tri thức nói chung, trong một chuyên luận nhỏ, Meditationes de Cognitione, Veritate et Ideis Trầm tư Nhận thức, Chân lý và các Ý niệm do chính ông xuất bản, một hoàn cảnh bất thường đối với ông, (tháng 11 năm 1684, trong Acta Eruditorum Lipsiensium - Hành động của Người uyên bác Leipzig, tr. 537-42, hai năm trước Discours; G. IV. 422-26) [L. 291]. [Ghi chú dài về Acta Eruditorum - Tạp chí khoa học của các vùng nói tiếng Đức ở châu Âu, được xuất bản từ năm 1682 đến năm 1782; Acta Eruditorum do Otto Mencke sáng lập vào năm 1682 tại Leipzig , ông trở thành biên tập viên đầu tiên với sự hỗ trợ đắc lực của Gottfried Leibniz ở Hanover, người đã đóng góp 13 bài báo trong bốn năm đầu tiên của tạp chí. Tạp chí được Johann Friedrich Gleditsch xuất bản, với sự tài trợ của Công tước xứ Saxony. Tạp chí được xuất bản hàng tháng, hoàn toàn bằng tiếng Latinh, với các đoạn trích từ các tác phẩm mới, bài đánh giá, tiểu luận và ghi chú. Hầu hết các bài báo đều tập trung vào khoa học tự nhiên và toán học, bao gồm các đóng góp của các nhà khoa học ngoài Leibniz như Jakob Bernoulli, Humphry Ditton, Leonhard Euler, Ehrenfried Walther von Tschirnhaus , Pierre-Simon Laplace và Jérôme Lalande, cũng như từ các nhà nhân văn và triết học như Veit Ludwig von Seckendorff, Stephan Bergler, Christian Thomasius và Christian Wolff. Sau khi Otto Mencke qua đời năm 1707, Acta Eruditorum được con trai ông, Johann Burckhardt Mencke điều hành, ông qua đời năm 1732. Tạp chí lúc đó đã đổi tên thành Nova Acta Eruditorum. Bắt đầu từ năm 1756, tạp chí có chủ soái mới là Karl Andreas Bel. Mặc dù Mencke từng trao đổi thư từ và ấn phẩm với Isaac Newton, nhưng Newton không phải là người viết thư cho Acta. Cuộc tranh chấp giữa Newton và Leibniz về công lao phát triển phép tính vi phân bắt đầu với một bài đóng góp của Leibniz cho số tháng 5 năm 1697 của Acta Eruditorum. Trong cuộc tranh cãi gay gắt sau đó, tờ tạp chí phần lớn đóng vai trò là tiếng nói cho phe của Leibniz, giống như Philosophical Transactions đã làm cho phe của Newton. Mencke đã cố gắng làm dịu bớt cuộc tranh chấp, nhưng những lời phản bác từ cả hai phía đều quá mạnh mẽ. Cuộc tranh chấp này cũng ảnh hưởng đến Acta trong việc thể hiện tình cảm đoàn kết dân tộc và xác định học thuật Đức trong phạm vi ảnh hưởng quốc tế.- HHN]
Theo Descartes, vào thời điểm đó những người theo chủ nghĩa Descartes đã thường xuyên đề cập đến chủ đề về bản chất của tri thức. Các câu hỏi bước vào một giai đoạn mới thông qua một bài luận phản bác được Antoine Arnauld xuất bản chống lại Malebranche đã đề cập ở trên, Traite des vraies et des fausses idees Luận về các Ý niệm Chân và Giả. [Ghi chú dài về Antoine Arnauld 1612-1694, là một trong những nhân vật lớn của Grand Siècle ‘Đại Kỷ nguyên’ dùng để chỉ thời kỳ hoàng kim của lịch sử Pháp trong thế kỷ XVII, dưới triều đại của vua Louis XIII và đặc biệt là vua Louis XIV. Đây là thời kỳ bùng nổ rực rỡ của nghệ thuật, văn học và sự trỗi dậy của nước Pháp như một thế lực thống trị Châu Âu], người vừa đóng vai trò quyết định trong đời sống triết học của thời đại, vừa bị lu mờ bởi những vĩ nhân cùng thời. Là một nhà tư tưởng toàn diện, vừa là triết gia vừa là nhà toán học, vừa là nhà thần học vừa là nhà logic học, Arnauld vĩ đại dường như được ghi danh trong lịch sử triết học chủ yếu nhờ Descartes, người mà ông đã gửi đến những Lời Phản Đối Thứ Tư nổi tiếng khi tác phẩm Méditations Trầm tư được xuất bản. Trong những lời phản đối này, ông bày tỏ sự nghi ngờ của mình về khái niệm causa sui nguyên nhân tự thân đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng giữa câu nói cogito Tôi tư duy nên tôi tồn tại của Descartes và một số đoạn văn của Thánh Augustine. Descartes thường coi đây là những lời phản đối hay nhất từng được đưa ra chống lại ông, và trên thực tế, ông đã nhượng bộ người đối thoại của mình vấn đề tri thức về linh hồn. Là một người theo chủ nghĩa Jansenisme, [Ghi chú của ghi chú: Jansensisme là một phong trào thần học Kitô giáo thế kỷ 17 và 18 trong Giáo hội Công giáo , bắt nguồn từ các tác phẩm của giám mục người Hà Lan Cornelius Jansen , đặc biệt là cuốn sách Augustinus xuất bản năm 1640, nhấn mạnh sự cần thiết của ân sủng thiêng liêng và vai trò hạn chế của ý chí tự do của con người trong sự cứu rỗi , dựa nhiều vào các giáo lý của Thánh Augustine thành Hippo; nó chủ yếu nổi lên ở Pháp và Hà Lan như một phản ứng nghiêm khắc chống lại sự lỏng lẻo về đạo đức và thần học được cho là gắn liền đặc biệt với Dòng Tên; những người theo phái Jansen đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi, đặc biệt là ở Pháp, nơi năm luận điểm, bao gồm học thuyết về sự chuộc tội có giới hạn và ân điển không thể cưỡng lại , đã bị các nhà thần học thù địch với Jansen lên án là dị giáo; năm 1653, Giáo hoàng Innocent X đã lên án năm ý tưởng từ phái Jansen trong hiến pháp tông đồ Cum occasione [Cụm từ Cum occasione là một tiêu đề văn kiện lịch sử nổi tiếng trong tiếng Latin; ý nghĩa của cụm từ này là tên gọi của một Tông sắc (Papal Bull) do Giáo hoàng Innocent X ban hành vào năm 1653, dùng để lên án năm mệnh đề trọng tâm của phái Jansenius thời bấy giờ ‘khi có cơ hội/hoàn cảnh đó’. - HHN xen thêm], khiến phái Jansen chính thức bị coi là dị giáo; những người theo phái Jansen bắt đầu gắn liền với sự phản đối chế độ quân chủ Pháp; điều này khiến họ trở thành mục tiêu của Vua Louis XIV và Giáo hoàng Clement XI, những người đã có những hành động mạnh mẽ chống lại họ; năm 1708, Tu viện Port-Royal, một trung tâm tư tưởng Jansen, đã bị đóng cửa; năm 1713, Clement XI đã ban hành sắc lệnh Unigenitus, lên án thêm các giáo lý Jansen. HHN] ông đã cùng với Pierre Nicole viết chung một tác phẩm nổi tiếng và vẫn được nghiên cứu rộng rãi cho đến ngày nay, La logique ou l’art de penser Logic, hay Logic hay Nghệ thuật tư duy, xuất bản năm 1662 và thường được gọi là Logic của Port-Royal vì mối liên hệ của các tác giả với phong trào Jansen được thành lập tại Port-Royal. Tuy nhiên, tác phẩm mà chúng ta muốn phân tích bắt nguồn từ một cuộc thảo luận khác, đó là cuộc thảo luận giữa Arnauld và Malebranche về khái niệm ý niệm. Denis Moreau, một chuyên gia về cả Malebranche và Arnauld, đã xuất bản một ấn bản xuất sắc vào năm 2011 của tác phẩm nổi tiếng Des vraies et des fausses idées Ý niệm Chân và Giả bằng tiếng Pháp hiện đại với nhiều chú thích sáng tỏ. Mặc dù Malebranche và Arnauld dường như là bạn thân, nhưng một cuộc tranh luận khá sôi nổi, thậm chí gay gắt, đã nảy sinh giữa họ, trong đó những lời trao đổi thường trở nên khá nặng nề. Tác phẩm Des vraies et des fausses idées Ý niệm Chân và Giả, xuất bản năm 1683, xuất hiện như là tác phẩm đầu tiên trong một loạt các cuộc tấn công sẽ ngày càng gay gắt, đỉnh điểm là Réflexions sur le nouveau système de la nature et de la grâce Những Suy tư về Hệ thống Mới của Tự nhiên và Ân sủng năm 1685—tất cả đều là những tranh luận liên quan đến mối quan hệ với Chúa, từ vấn đề khó khăn về ý niệm đến vấn đề về ý chí. Antoine Arnauld sinh năm 1612; khi ông xuất bản luận văn này vào năm 1683, ông đã 71 tuổi và đang đề cập đến một chủ đề không hoàn toàn thuộc về lĩnh vực của mình. Trong lời giới thiệu dài dòng, Denis Moreau nhắc nhở chúng ta rằng tác giả là một chuyên gia về ân sủng và nhấn mạnh rằng công việc này, rất mới mẻ đối với ông, và hơn nữa được bắt đầu ở độ tuổi cao so với thời đó, không hề dễ dàng. Bất chấp những trở ngại này, tác phẩm đã có tác động thực sự và vẫn giữ giá trị triết học không thể phủ nhận cho đến ngày nay, mặc dù nó phụ thuộc vào một cuộc tranh luận có thể được coi là lỗi thời ở một số khía cạnh. Một trong những ưu điểm quan trọng của phần giới thiệu của Denis Moreau là làm rõ lý do tồn tại của tác phẩm; như chúng ta đã nói, Arnauld là một học giả xuất sắc về các vấn đề xoay quanh ân điển, nhưng ông lại tấn công triết học nhận thức của Malebranche thay vì trực tiếp đề cập đến văn bản đã gây ra cuộc tranh cãi, cụ thể là Luận về Tự nhiên và Ân điển của Malebranche, được xuất bản năm 1680. Tại sao lại như vậy? Bởi vì, giống như Fénelon, Arnauld tin chắc rằng nền tảng triết học của luận văn năm 1680 thực sự dựa trên khái niệm về ý niệm được phát triển trong tác phẩm Đi tìm Chân lý (1675), và do đó, để làm suy yếu các ý tưởng xoay quanh ân điển, cần phải tấn công vào nền tảng đó trước tiên. “Sự phê bình triết học về nền tảng ngầm của Luận thuyết nhằm mục đích làm lời mở đầu cho sự bác bỏ thần học chính thức.”3 Ở đây, chúng ta có một minh họa hấp dẫn về một chiến lược lập luận mà thay vì trực tiếp đối đầu với suy tư thần học, lại xem xét điều gì tạo nên bản chất của các phát triển thần học và suy luận, theo một cách rất Descartes, rằng việc phá hủy công trình từng viên đá một là vô ích nếu không tấn công trước tiên vào những gì nâng đỡ nó. Đây chính xác là những gì Arnauld thực hiện trong tác phẩm của mình. Theo Gress, T. (No date). Antoine Arnauld : Des vraies et des fausses idées. Actu Philosophia. - HHN]
Đó là sự đối đầu cơ bản với Descartes và các nguyên tắc tri thức của ông, đồng thời là một giai đoạn quan trọng trên con đường từ Descartes đến Kant về vấn đề ‘phạm trù’. Leibniz bắt đầu chuyên luận của mình bằng cách đưa ra quan điểm đối với những tranh cãi đó: Quoniam hodie inter Viros egregios de veris et falsis ideis controversiae agitantur, eaque res magni ad veritatem cognoscendam momenti est, in qua nec ipse Cartesius usquequaque satisfecit, placet quid mihi de discriminibus atque criteriis idearum et cognitionum statuendum videatur, explicare paucis. (op. cit., 422) “Bởi vì những con người xuất sắc ngày nay đang tham gia vào các cuộc tranh luận về các ý tưởng chân và giả, một vấn đề có tầm quan trọng to lớn để hiểu được chân lý và là một vấn đề mà ngay cả Descartes cũng không hoàn toàn công bằng, tôi muốn giải thích ngắn gọn những gì tôi nghĩ có thể được thiết lập về các loại khác nhau cùng các tiêu chí của các ý tưởng và của tri thức.” [L. 291]
[Tr.59] Sau đó là câu văn, được diễn đạt ngắn gọn, dự báo nội dung của luận thuyết tiếp theo. Est ergo cognitio vel obscura vel clara, et clara rursus vel confusa vel distincta, et distincta vel inadaequata vel adaequata, item vel symbolica vel intuitiva: et quidem si simul adaequata et intuitiva sit, perfectissima est. “Tri thức hoặc mơ hồ hoặc rõ ràng; tri thức rõ ràng hoặc là mơ hồ hoặc là khác biệt; tri thức khác biệt hoặc không đầy đủ hoặc đầy đủ, lại nữa, hoặc mang tính biểu tượng, hoặc trực giác. Tri thức hoàn hảo nhất vừa đầy đủ vừa mang tính trực giác.” Leibniz dần dần chỉ ra hai đặc điểm trái ngược của tri thức; phân chia thêm đặc điểm tích cực đang nổi lên, và sau đó kết luận bằng ý tưởng về tri thức hoàn hảo nhất. Tri thức hoàn hảo nhất là adaequata đầy đủ, và intuitive trực giác. Sơ đồ quá trình diễn tiến như sau: Chúng ta sẽ cố gắng giải thích ngắn gọn các đặc điểm của tri thức đã đề cập.
Một “notio obscura, quae non sufficit ad rem repraesentatam agnoscendam “Một khái niệm là mơ hồ nếu nó không đủ để nhận ra sự vật được biểu thị”. Tri thức về hoặc sự quen thuộc với một điều gì đó bị che khuất khi tri thức đó không đủ để nhận ra bản chất của chính sự vật đó, trong trường hợp người ta bắt gặp nó. Ví dụ, tôi có hiểu biết về một loài động vật nhất định mà tôi đã nhìn thấy trước đây. Trong trường hợp tôi gặp lại loài động vật này, nhưng không nhận ra nó dựa trên tri thức của mình, mà lại nhầm nó với một loài động vật khác, thì tri thức của tôi bị che khuất. Nhận thức bị che khuất là những nhận thức dẫn đến sự nhầm lẫn giữa những sự vật [tr.60] khác nhau. Trong triết học cũng có những thuật ngữ khó hiểu, chẳng hạn như khái niệm ἐντελέχειᾰ entelecheia của Aristotle [ἐντελέχειᾰ được Aristotle đặt ra; theo Sachs Aristotle đã tạo ra từ này bằng cách kết hợp ἐντελής entelēs, ‘hoàn chỉnh, trưởng thành’ với ‘echein’ = hexis, ở một trạng thái nhất định nhờ nỗ lực duy trì trạng thái đó, đồng thời chơi chữ với ἐνδελέχεια endelecheia sự kiên trì bằng cách chèn thêm τέλος telos hoàn thành; đây là một từ ngữ đa nghĩa, nằm ở trung tâm của mọi tư tưởng của Aristotle, bao gồm cả định nghĩa về chuyển động; do đó, Sachs đề xuất một từ ngữ mới phức tạp của riêng mình, ‘being-at-work-staying-the-same’ đang-làm-việc-vẫn-như-vậy; một bản dịch khác trong những năm gần đây là ‘being-at-an-end’ ở-điểm-kết-thúc, mà Sachs cũng đã sử dụng; entelecheia, như có thể thấy qua nguồn gốc của nó, là một sự hoàn chỉnh, trong khi ‘điểm kết thúc và sự hoàn thiện của bất kỳ thực thể đích thực nào đều là tình trạng ἐνέργεια energeia đang-làm-việc của nó’; entelecheia là một energeia sự đang-làm-việc liên tục khi một thứ gì đó đang thực hiện ‘công việc’ hoàn thiện của nó; vì lý do này, ý nghĩa của hai từ hội tụ, và cả hai đều phụ thuộc vào ý tưởng rằng ‘tính vật chất’ của mọi thứ là một loại công việc, hay nói cách khác là một cách cụ thể để tồn tại trong chuyển động; tất cả những thứ tồn tại hiện tại, chứ không chỉ tiềm năng, đều là những thực thể đang-làm-việc, và tất cả chúng đều có xu hướng hướng tới việc đang-làm-việc theo một cách cụ thể mà sẽ là cách thích hợp và ‘hoàn chỉnh’ của chúng; Sachs giải thích sự hội tụ của energeia – hoạt động/vận hành và entelecheia như sau, và sử dụng từ thực tế để mô tả sự chồng chéo giữa chúng: cũng như energeia mở rộng đến entelecheia vì nó là hoạt động làm cho một vật trở thành chính nó, entelecheia mở rộng đến energeia vì nó là mục đích hoặc sự hoàn hảo chỉ tồn tại trong, thông qua và trong suốt hoạt động. Theo Sachs, Joe (1995) Aristotle's Physics: a Guided Study, Rutgers University Press; and Sachs, Joe (1999). Aristotle's Metaphysics, a New Translation by Joe Sachs, Santa Fe, NM: Green Lion Books.- HHN] được giải thích quá ít, hoặc cả khái niệm causa nguyên nhân cũng vậy. Unde propositio quo que obscura fit, quam notio talis ingreditur [Do đó, một mệnh đề cũng trở nên khó hiểu chừng nào khái niệm đó là một thành phần của nó]. Clara ergo cognitio est, cum habeo unde rem repraesentatam agnoscere possim. “Tri thức đó rõ ràng cho phép tôi nhận ra một hiện hữu mà tôi gặp là cùng một hiện hữu mà tôi đã thấy trước đó, nắm bắt nó như là cùng một hiện hữu, để ‘đồng nhất’ nó.”
Giờ đây, có thể tôi thực sự có một khái niệm rõ ràng và do đó có thể chắc chắn phân biệt được, mọi lúc, một con diều hâu với một con kền kền, nhưng lại không thể cung cấp chi tiết những đặc điểm dựa trên đó cả hai loài động vật có thể được phân biệt một cách đầy đủ. Khái niệm rõ ràng vẫn có thể bị nhầm lẫn. Tri thức là confusa, nhầm lẫn, hay chính xác hơn là ‘hòa quện cùng nhau’, cum scilicet non possum notas ad rem ab aliis discernendam sufficientes separatim enumerare, licet res illa tales notas atque requisita revera habeat, in quae notio ejus resolvi possit, “nhận thức hỗn mang, đó là khi chúng ta không thể liệt kê tách biệt các đặc điểm đủ để phân biệt một sự vật này với các sự vật khác, mặc dù sự vật đó thực sự có những đặc điểm và yếu tố cấu thành có thể dùng để phân tích ý niệm về nó”. Khái niệm nota, ‘dấu hiệu’ hay ý nghĩa chứa trong một thuật ngữ, có nghĩa là thuộc tính thiết yếu và đặc điểm riêng biệt. Requisita, ‘thành phần cấu tạo’, là những khoảnh khắc mà tri thức về một sự vật có thể được phân tích. (Cr., trong phần tiếp theo, là sự xác định kép của cognitio distincta nhận thức rõ ràng. Về mối quan hệ giữa notae dấu hiệu và requisite thành phần cấu tạo, xem sự khác biệt giữa đồng nhất ngầm định và đồng nhất rõ ràng trong § II.) Leibniz đưa ra những ví dụ sau về những ý tưởng rõ ràng nhưng dễ gây nhầm lẫn: màu sắc có thể phân biệt được với mùi hương và Havors satis clare với đủ mức độ rõ ràng, sed simplici sensuum testimonio, non vera notis enuntiabilibus “nhưng chỉ bằng chứng cứ đơn giản của các giác quan chứ không phải bằng những dấu hiệu có thể diễn đạt được”. Với người mù, màu đỏ không thể được giải thích bằng định nghĩa mà chỉ có thể bằng cách eos in rem praesentem ducendo đưa họ đến gần sự vật hiện diện. Các nghệ sĩ biết rõ ràng tuyệt đối quid recte, quid vitiose factum sit cái gì làm tốt và cái gì làm dở, nhưng khi được hỏi làm thế nào hoặc bằng cách nào, họ chỉ có thể nói có điều gì đó còn thiếu, nescio quid điều gì đó, tôi không biết là gì.
Mặt khác, một kiến thức ‘rõ ràng’ là distincta rõ ràng, mạch lạc khi chúng ta có notae et examina sufficientia ad rem ab aliis…. similibus discernendam “những dấu hiệu và [tr.61] đặc điểm đủ để phân biệt sự vật này với những sự vật tương tự khác”. Ví dụ, chúng ta có tri thức rõ ràng như vậy về những gì chung cho nhiều giác quan (Aristotle's τὰ κοινά việc công): số lượng, độ lớn và hình dạng. Theo Nouveaux Essais sur l'Entendement Tiểu luận Mới về Hiểu biết của Con người (11,5; G. V 1 16), những khái niệm này xuất phát từ chính tâm trí, và là những ý tưởng của sự hiểu biết thuần túy (cf. Kant, De mundi sensibilis atque intelligibilis forma et principiis - Về Hình thức và Nguyên tắc của Thế giới Cảm tính và Thế giới Khả niệm - là luận văn nổi tiếng nhậm chức giáo sư năm 1770 của Immanuel Kant. Tác phẩm này đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi Kant bắt đầu rời bỏ triết học duy lý truyền thống để xây dựng nền tảng cho ‘triết học phê phán’ của riêng ông; mội dung cốt lõi của tác phẩm bao gồm: i) Mundus sensibilis Thế giới cảm tính là thế giới các hiện tượng mà con người nhận thức được thông qua các giác quan; theo Kant, thời gian và không gian không phải là các thực thể khách quan hay thuộc tính của vạn vật, mà chính là các pure intuitions trực giác thuần túy mang tính chủ quan của con người để sắp xếp các dữ liệu giác quan; ii) Mundus intelligibilis Thế giới khả niệm là thế giới của bản thể hay các noumenon sự vật tự thân; con người không thể nhận thức thế giới này qua cảm giác, nhưng có thể hiểu được nó thông qua pure intellectual concepts trí năng thuần túy; iii) Phân định ranh giới, Kant chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa nhận thức cảm tính - đạt được thông qua các ấn tượng bên ngoài - và nhận thức trí tuệ - đạt được thông qua bản tính bẩm sinh của lý trí; việc phân định sai lầm giữa hai điều này sẽ dẫn đến những sai lầm của siêu hình học truyền thống.- HHN]. Chúng ta cũng có hiểu biết rõ ràng về các cảm xúc như sợ hãi và hy vọng.
________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
