Powered By Blogger

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXVI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

II CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN

[Tr. 343] Chỉ trong sự im lặng, lương tâm mới cất tiếng gọi; nghĩa là, tiếng gọi ấy khởi phát từ sự tĩnh lặng của Unheimlichkeit/ uncanniness trạng thái bất an không nhà, và Dasein – thực thể được gọi – bị triệu hồi trở về với trạng thái tĩnh lặng của chính mình, trở về như một hiện hữu cần phải đạt đến tĩnh lặng. Do đó, chỉ trong thái độ kín tiếng, thì cái diễn ngôn thầm lặng này mới được thấu hiểu một cách đúng đắn bởi một hiện hữu đang khao khát có được lương tâm. Nó tước đi những ngôn từ vốn thuộc về lối phiếm đàm tầm thường của das Man cái ‘họ’. Cách diễn giải thông thường về lương tâm – vốn chỉ ‘bám chặt vào các sự kiện’ – lại coi cuộc đối thoại thầm lặng của lương tâm như một cái cớ để gạt bỏ nó, cho rằng đó là thứ không thể xác định hay hiện-diện-vô-tri. [Chen ngang: Cụm từ tiếng Đức nguyên gốc mà Heidegger sử dụng trong Sein und Zeit, tr. 296 / GA 2: 393) là: “die verständige Gewissensauslegung, die sich »streng an Tatsachen hält«”: i) Cụm từ ‘die verständige Gewissensauslegung’ được John Macquarrie và Edward Robinson dịch là ‘the common-sense way of interpreting the conscience’ ‘cách diễn giải lương tâm theo lẽ thường’; ii) Cụm từ ‘die sich »streng an Tatsachen hält«’ dịch sát nghĩa là ‘which sticks rigorously to the facts’ ‘bám sát một cách nghiêm ngặt vào các sự kiện’. Ở đây cần phải lưu ý phân biệt giữa hai từ die Tatsache và das Faktum; đối với tôi die Tatsache ‘sự kiện’ là thực tế, có tính thực tế thuộc cấp độ ontish/ontical thực hữu, còn das Faktum là Sự thật, có Thực tính thuộc cấp độ ontologisch/ontological bản thể luận.-HHN]. Việc das Man cái ‘họ’ – những kẻ chỉ nghe và hiểu được những phiếm đàm ồn ào, vô bổ – không thể ‘báo cáo’ lại bất kỳ tiếng gọi nào, đã được dùng để chống lại lương tâm, với lập luận ngụy biện rằng lương tâm là thứ ‘câm lặng’ và rõ ràng là không hiện-diện-vô-tri. Với cách diễn giải này, das Man cái ‘họ’ thực chất chỉ đang che đậy sự bất lực của chính mình trong việc lắng nghe tiếng gọi, cũng như cho thấy rằng khả năng ‘lắng nghe’ của họ chẳng đi đến đâu cả. Như vậy, trạng thái khai mở của Dasein khi khao khát có lương tâm được cấu thành bởi: nỗi lo âu – là một tâm thế; sự thấu hiểu – là phóng chiếu bản thân vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi chỉ của riêng mình; và diễn ngôn – với tư cách kín tiếng.

Trạng thái khai mở đặc thù và đích thực này – vốn được chính lương tâm chứng thực ngay trong Dasein – tức là tự-phóng chiếu kín tiếng vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi chỉ của riêng mình, nơi cá nhân sẵn sàng đón nhận nỗi lo âu – được chúng tôi gọi là ‘tính quyết đoán’. Tính quyết đoán là một phương thức đặc thù trong trạng thái khai mở của Dasein.1 Tuy nhiên, ở một phần trước đó, chúng tôi đã Diễn giải trạng thái khai mở về phương diện hữu thể như là cái chân lý bản nguyên.x Loại chân lý như vậy, trước hết, không phải là một phẩm chất của ‘phán đoán’ hay của bất kỳ cách hành xử cụ thể nào, mà là yếu tố ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Chân lý phải được hiểu như một yếu tố cấu thành hữu thể nền tảng. Trong quá trình làm sáng tỏ về mặt bản thể luận đối với mệnh đề ‘Dasein ở trong chân lý’, chúng ta đã lưu ý đến trạng thái khai mở bản nguyên của thực thể này, coi đó chính là chân lý của hiện hữu; đồng thời, để xác định rõ đặc tính của nó, chúng ta đã viện dẫn đến phép phân tích về Eigentlichkeit/ authenticity tính chân thực của Dasein. xi

Thông qua tính quyết đoán, chúng ta đã chạm đến chân lý của Dasein – một chân lý bản nguyên nhất vì nó mang tính chân thực. [Chen ngang: Thuật ngữ Entschlossenheit tính quyết đoán của Heidegger vốn là một danh từ bắt nguồn từ động từ entschließen (quyết định, hạ quyết tâm). Bản thân động từ này có chung gốc với từ schließen/ đóng lại, khép lại, kết hợp cùng tiền tố ent- mang nghĩa mở ra, tháo gỡ, hoặc giải phóng. Trong tiếng Đức thông thường, entschlossen có nghĩa là kiên quyết, quả quyết hoặc táo bạo. Tuy nhiên, Heidegger khai thác cấu trúc nội tại của từ này: ông không xem Entschlossenheit là một hành vi ngoan cố của cái tôi hay một ý chí cứng nhắc; thay vào đó, xét về mặt từ nguyên và hiện tượng học, ông hiểu nó là ‘không-bị-đóng-kín’ hay trạng thái ‘mở ra’ (tương tự như thuật ngữ Erschlossenheit – trạng thái khai mở). Ý nghĩa Triết học trong tư tưởng Heidegger: i) Dasein tự mở ra: ‘Quyết đoán’ là năng lực của Dasein hiện hữu người trong việc ‘khai mở’ khuôn khổ khả tính thấu hiểu của chính mình; điều đó có nghĩa là Dasein chấm dứt tình trạng để bản thân bị cuốn trôi một cách thụ động vào đám đông das Man cái ‘họ’ và bắt đầu trở nên sáng tỏ đối với hoàn cảnh cụ thể của chính mình; ii) Lắng nghe tiếng gọi của lương tâm - trạng thái này được mô tả là ‘khát vọng có được lương tâm’, trong đó Dasein lắng nghe tiếng gọi thầm lặng của lương tâm – tiếng gọi thúc giục Dasein quay trở về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chính mình; iii) Không phải là ý chí ngoan cố - Heidegger phân biệt rõ ràng Entschlossenheit tính quyết đoán với sự bướng bỉnh, ngoan cố thường ngày hay một quyết định đạo đức mù quáng. Nó không có nghĩa là cố chấp áp đặt một kế hoạch lên thế giới, thay vì đó là một thái độ tỉnh táo, đã kinh qua lo âu, sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì khả thể trong hoàn cảnh thực tế của cá nhân; iv) Hoàn cảnh – tính quyết đoán tạo ra một ‘hoàn cảnh’ đích thực thay vì chỉ là một hành động mù quáng; nó nắm bắt các khả tính cụ thể, mang tính lịch sử, thay vì trốn chạy vào các lý thuyết trừu tượng hay những sự xao nhãng trong đời sống thường nhật; v) Tính quyết đoán hướng tới tương lai - khi kết hợp với nhận thức về cái chết/tính hữu tử của chính mình, nó trở thành ‘tính quyết đoán hướng tới tương lai’ – cấu trúc cốt lõi của Eigentlichkeit tính chân thực.-HHN]

Bất cứ khi nào một cái ‘có đó’ được khai mở, thì toàn bộ cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó – nghĩa là thế giới, Hữu-thể-trong, và cái Tự ngã mà thực thể này thể hiện qua khẳng định ‘Tôi là’ – đều được khai mở với cùng một trạng thái đồng bản nguyên.2  Mỗi khi thế giới được khai mở, các thực thể ở-trong-thế-giới cũng đã được [tr.344] khám phá từ trước. Việc các thực thể – dù ở dạng sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri được khám phá, đều dựa trên nền tảng là sự khai mở của thế giớixii bởi lẽ, để toàn bộ các can dự hiện thời được tự do, thì trước hết, ý nghĩa của chúng phải được thấu hiểu. Trong quá trình thấu hiểu ý nghĩa này, Dasein – với tư cách là thực thể luôn quan tâm – đã hướng tầm nhìn bao quát của mình vào những gì nó bắt gặp như là các thực thể sẵn-có-để-dùng. Mọi hành vi khám phá một tống thể các can dự đều bắt nguồn từ một loại ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’; và chính sự thấu hiểu về ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ này lại là cơ sở cho việc thấu hiểu ý nghĩa – tức là sự khai mở của thế giới hiện thời. Khi tìm kiếm nơi trú ẩn, thức ăn hay sinh kế, chúng ta thực hiện những điều đó ‘vì-mục-đích-của’ những khả tính thường trực của chính Dasein – những khả tính vốn rất gần gũi với nó;3 chính trên những khả tính này, cái Hữu-thể mà đối với nó, sự hiện hữu của chính mình là một vấn đề cần giải quyết, lại đã tự phóng chiếu bản thân.

‘Bị ném vào’ thành cái ‘có-đó’ của mình, mỗi Dasein đều đã thực sự bị đặt vào một ‘thế giới’ xác định – đó chính là cái ‘thế giới’ của riêng nó. Đồng thời, các phóng chiếu thực tế gần gũi nhất với Dasein lại thường bị dẫn dắt bởi trạng thái ‘đánh mất mình’ của nó trong sự bận tâm giữa das Man cái ‘họ’. Dasein có thể tự hướng về trạng thái ‘đánh mất mình’ này, và sự hướng về đó có thể được thấu hiểu thông qua thái độ quyết đoán. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, trạng thái khai mở đích thực này làm biến đổi—với cùng một tính bản nguyên—cả cách thức mà ‘thế giới’ được khám phá (vốn dựa trên chính trạng thái khai mở ấy) lẫn cách thức mà Dasein—trong sự hiện hữu cùng những Kẻ Khác—được khai mở. ‘Thế giới’ vốn sẵn-có-để-dùng không hề thay đổi về ‘nội dung’, và phạm vi những Kẻ Khác cũng không bị thay thế; ngược lại, cả cái Hữu-thể hướng đến cái sẵn-có-để-dùng (thông qua thấu hiểu và bận tâm), lẫn cái Hữu-thể với những Kẻ Khác, giờ đây đều mang một đặc tính xác định, bắt nguồn từ chính cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó riêng tư nhất.

Tính quyết đoán, với tư cách là Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó thực sự, không tách rời Dasein hiện hữu người khỏi thế giới của nó, cũng không cô lập nó thành một cái ‘Tôi’ lơ lửng, tách biệt. Làm sao có thể như vậy được, khi mà tính quyết đoán – với tư cách là trạng thái khai mở đích thực – thực chất chẳng phải là gì khác ngoài cái Hữu-thể-trong-thế-giới? Tính quyết đoán đưa cái Tự ngã vào ngay trong cái Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm hiện tại của nó – là những gì sẵn-có-để-dùng – đồng thời thúc đẩy nó bước vào cái Hữu-thể-với-những-Kẻ-Khác đầy ân cần. Dưới ánh sáng của cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ – vốn xuất phát từ tiềm-năng-cho-Hữu-thể của ai đó tự chọn lựa – một Dasein đầy quyết đoán sẽ tự giải phóng chính mình để hướng về thế giới của nó. Chính tính quyết đoán của Dasein đối với bản thân đã tạo điều kiện để nó có thể để cho những Kẻ Khác cùng với nó được ‘hiện hữu’ trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng tư nhất của mình; đồng thời, để đồng-khai mở cái tiềm năng này trong sự ân cần vốn lao lên phía trước và giải phóng. Khi Dasein trở nên quyết đoán, nó có thể trở thành ‘lương tâm’ của những Kẻ Khác. Chỉ đích thực bằng Hữu-thể-Tự-ngã-của-họ trong tính quyết đoán, con người mới có thể đích thực hiện hữu cùng nhau – chứ không phải thông qua những quy ước đầy mơ hồ, đố kỵ, [tr.445] hay những cuộc phiếm đàm giao kết trong cái ‘họ’ và trong cái mà ‘họ’ muốn thực hiện.

Xét về bản chất hữu thể luận, tính quyết đoán luôn là tính quyết đoán của một Dasein có thật tại một thời điểm nhất định. Bản chất của Dasein, với tư cách một thực thể, chính là sự hiện hữu của nó. Tính quyết đoán chỉ ‘hiện hữu’ dưới dạng Entschluss một quyết định – một sự phóng chiếu bản thân dựa trên sự thấu hiểu. Nhưng Dasein tự bộc lộ thông qua tính quyết đoán dựa trên cơ sở nào?4  Nó quyết định về điều gì? Chỉ bản thân quyết định đó mới có thể đưa ra câu trả lời. Sẽ là một sự hiểu lầm hoàn toàn hiện tượng tính quyết đoán nếu chỉ đơn thuần là việc ai đó chọn lấy và nắm bắt những khả tính đã được đề xuất hay gợi ý sẵn. Quyết định kia chính là sự phóng chiếu mang tính khai mở và là việc xác định những gì khả thể có thật tại thời điểm đó. Trạng thái bất định – vốn là đặc trưng của mọi tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà Dasein đã bị ném vào đời thật – là một yếu tố tất yếu gắn liền với tính quyết đoán. Chỉ trên cơ sở một quyết định, thì tính quyết đoán mới xác tín được chính mình. Trạng thái bất định mang tính thực hữu cụ thể của tính quyết đoán chỉ trở nên xác định thông qua một quyết định; tuy nhiên, xét về mặt cấu thành hữu thể, nó vẫn mang tính xác định riêng của mình. Điều mà Dasein quyết định hướng tới đã được quy định về mặt bản thể luận trong tính hữu thể của Dasein nói chung, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể theo cách thức ân cần đầy chu toàn. Tuy nhiên với tư cách chăm lo, Dasein lại bị quyết định bởi tính thực tế và tình trạng sa ngã.

[Chen ngang: Theo Heidegger, Dasein hiện hữu người được xác định về mặt bản thể luận chỉnh thể thông qua cấu trúc hữu thể của Sorge Chăm lo. Chăm lo không mang ý nghĩa tâm lý như lo lắng hay thương yêu, mà là cấu trúc nền tảng định hình toàn bộ cách thức Dasein hiện hữu trong thế giới. Cấu trúc này hợp nhất ba thành tố không thể tách rời: Existentiality - Tính hữu thể; Phóng chiếu, và Facticity Thực tính/ Tính bị ném vào đời; và Falling Tình trạng sa ngã/ Hòa tan vào thế giới. 1). Dasein được định hình bởi Chăm lo: Công thức bản thể luận của Heidegger mô tả Chăm lo là: i) Hữu thể-vượt trước chính mình-đã ở trong thế giới-với tư cách là đang ở cùng với các thực thể khác; ii) Chăm lo gắn liền với tính thời gian gồm ba chiều kích Tương lai - Quá khứ - Hiện tại; iii) Ba chiều kích của tính thời gian tương ứng trực tiếp với ba cấu trúc của Dasein: - Tính đi trước chính mình (Sự phóng chiếu) hướng về Tương lai; - Tính đã ở trong thế giới (Tính bị ném/ Thực tính) gắn liền với Quá khứ; - Tính ở cùng với (Sa ngã) diễn ra trong Hiện tại. 2). Vai trò của Facticity Thực tính/ Tính bị ném: i) Bản chất của Facticity (Geworfenheit/ Tính bị ném vào đời - Dasein không tự mình chọn ra đời; nó luôn ‘đã bị ném’ vào một hoàn cảnh có sẵn; ii) Các yếu tố cấu thành: Gia đình, ngôn ngữ, thời đại lịch sử, văn hóa, và những giới hạn sinh học hay xã hội mà Dasein không thể tự định đoạt; iii) Kết nối với Chăm lo: -Facticity/Thực tính đại diện cho khía cạnh “đã-ở-đó” (having-been / quá khứ) trong cấu trúc của Chăm lo; - Dasein không thể đứng ngoài hay xóa bỏ hoàn cảnh của mình; thay vào đó, nó phải mang vác, đối diện và xoay sở với những thứ có sẵn ấy; nó luôn có ‘nhiều hơn’ những gì nó thực tế có - vì nó còn mang trong mình khả tính thay đổi. 3). Vai trò của tình trạng sa ngã/ Bị cuốn hút vào thế giới: i) Bản chất của Verfallen sa ngã- thay vì tỉnh thức đối diện với cấu thành hữu thể và cái chết của chính mình, Dasein có xu hướng bị cuốn hút, hấp dẫn và “chìm đắm” vào thế giới của các sự vật và das Man cái ‘họ’; ii) Các biểu hiện – phiếm đàm, nông cạn, và mơ hồ; iii) Kết nối với Chăm lo – sa ngã đại diện cho cách Dasein tương tác trong hiện tại bằng phân tâm, bám víu vào đời sống thường nhật; iv) Cái ‘họ’ làm cho Dasein rơi vào trạng thái inauthentic không đích thực; đánh mất bản ngã độc lập của mình để hòa tan vào cách tư duy ‘ai cũng thế’ của das Man cái ‘họ’.-HHN].

Được khai mở trong cái ‘ở đó’ của mình, Dasein duy trì bản thân trong cả chân lý lẫn phi-chân lý với cùng một đồng bản nguyên tính.xiii Điều này đặc biệt đúng đối với tính quyết đoán khi nó biểu hiện như một chân lý đích thực. Tính quyết đoán chiếm lĩnh phi-chân lý một cách đích thực. Dasein vốn đã ở trong Unentschlossenheit trạng thái thiếu quyết đoán, và có lẽ chẳng bao lâu nữa, nó sẽ lại rơi vào trạng thái đó. Thuật ngữ ‘Trạng thái thiếu quyết đoán chỉ đơn thuần diễn tả hiện tượng mà chúng ta đã diễn giải là loại Hữu-thể-đầu-hàng cái cách thức mà vạn vật thường được diễn giải bởi das Man cái ‘họ’. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Unentschlossenheit Tình trạng thiếu quyết đoán là trạng thái cấu thành hữu thể nền tảng của Uneigentlichkeit tính không đích thực. Thuật ngữ này không chỉ đơn thuần là một trạng thái tâm lý hời hợt kiểu như không thể đưa ra quyết định; thay vào đó, nó mô tả cách mà Dasein hiện hữu người mặc nhiên rơi vào trạng thái khép kín, tách biệt khỏi những khả năng đích thực của chính mình. Khung lý thuyết của Heidegger phân tách Unentschlossenheit thành một vài tầng nghĩa chính: 1). Đối lập với Entschlossenheit Tính quyết đoán/Trạng thái quyết đoán - để hiểu về sự thiếu quyết đoán, ta cần hiểu khái niệm đối lập tích cực của nó, Entschlossenheit: i) Trong tiếng Đức, erschließen có nghĩa là ‘mở ra’ hoặc ‘khai mở’; Heidegger đã vận dụng từ Entschlossenheit theo nghĩa đen là trạng thái ‘không còn-khép kín’ hay ‘trạng thái được khai mở’; ii) Entschlossenheit Tính quyết đoán là một trạng thái đích thực, trong đó Dasein tự ‘mở ra’, đối diện trực tiếp với tính hữu hạn, cái chết và sự tự do lựa chọn cuộc đời của chính mình; iii) Unentschlossenheit Sự thiếu quyết đoán, ngược lại, đồng nghĩa với việc duy trì trạng thái ‘khép kín’; đây là trạng thái mà một cá nhân né tránh việc đối diện với sự thật căn bản về sự tồn tại của chính mình. 2). Bị chi phối bởi das Man cái ‘họ’: i) Khi ở trong trạng thái Unentschlossenheit, Tôi không chủ động chọn lấy con đường cho riêng mình; ii) Thay vào đó, Tôi để các lựa chọn, giá trị và hành vi của mình bị chi phối bởi das Man cái ‘họ’; iii) Tôi làm những gì mà cái ‘họ’ làm, suy nghĩ những gì mà cái ‘họ’ suy nghĩ, và sống theo cách mà cái ‘họ’  cho là nên sống; iv) Việc từ bỏ trách nhiệm cá nhân như vậy chính là dấu hiệu đặc trưng của sự thiếu quyết đoán trong cấu thành hữu thể. 3) Rơi vào Verfallensein Trạng thái ‘sa ngã’: i) Dasein có khuynh hướng tự nhiên là rơi vào trạng thái sa ngã, nghĩa là chúng ta dễ dàng bị cuốn hút và mê hoặc bởi thế giới đời thường xung quanh; ii) Trong trạng thái thiếu quyết đoán, chúng ta sử dụng một chuỗi không dứt những công việc vụn vặt, những phiếm đàm vô bổ và sự tò mò hời hợt để đánh lạc hướng bản thân; iii) Trốn tránh đối diện với những nỗi lo âu cấu thành hữu thể sâu sắc hay cái chết tất yếu của chính mình. 4) Tình trạng căng thẳng thường trực trong cấu thành hữu thể: i) Trạng thái thiếu quyết đoán không phải là một khiếm khuyết cố hữu hay một tội lỗi mà ta có thể loại bỏ vĩnh viễn; ii) Dasein hiện hữu người luôn luôn đã ở trong trạng thái thiếu quyết đoán, và chẳng bao lâu nữa, có lẽ, nó sẽ lại rơi vào trạng thái đó; iii) Một cuộc đời đích thực không phải là trạng thái giác ngộ vĩnh viễn; thay vì, đó là một cuộc đấu tranh không ngừng, lặp đi lặp lại, nhằm tự kéo mình ra khỏi màn sương mù an nhiên giả tạo của tình trạng thiếu quyết đoán để bước vào trạng thái dễ tổn thương nhưng sáng rõ và sắc bén của trạng thái quyết đoán.-HHN]

Dasein, với tư cách là một Tự ngã-họ, bị dẫn dắt bởi tình trạng mơ hồ thông thường của cái không gian công cộng – nơi chẳng ai thực sự quyết định điều gì, nhưng mọi quyết định dường như đã luôn được đưa ra từ trước.5 Tính quyết đoán biểu thị việc để bản thân được đánh thức, thoát khỏi trạng thái lạc lối trong cái ‘họ’ ấy. Dù tình trạng thiếu quyết đoán của cái ‘họ’ vẫn chiếm ưu thế, nó không thể làm lung lay sự tồn tại đầy quyết đoán. Trong khái niệm đối lập với tình trạng thiếu quyết đoán – tức là ‘tính quyết đoán’ hiểu theo nghĩa cấu thành hữu thể – chúng ta không hề ám chỉ bất kỳ đặc điểm thực-hữu-tâm-lý nào theo nghĩa của cái Hữu-thể-đè- nặng bởi những ức chế. Ngay cả các quyết định cũng vẫn phụ thuộc vào [tr.346] das Man cái ‘họ’ và thế giới của nó. Việc thấu hiểu điều này là một trong những khía cạnh được bộc lộ thông qua tính quyết đoán, bởi lẽ chính thái độ quyết đoán này là yếu tố đầu tiên mang lại sự minh bạch đích thực cho Dasein hiện hữu người. Trong thái độ quyết đoán, vấn đề cốt yếu đối với Dasein chính là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù nhất của bản thân nó; với tư cách là một thực thể bị ném vào thế giới, Dasein chỉ có thể phóng chiếu chính mình dựa trên những khả tính xác định có thật. Việc quyết định không hề tách rời khỏi Wirklichkeit/ actuality tính hiện thực, mà nó khám phá ra những gì khả thể trong thực tế; nó thực hiện điều đó bằng cách nắm bắt lấy những khả năng ấy – theo bất kỳ cách nào khả thể đối với nó – với tư cách là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù nhất của bản thân nó ngay trong cái ‘họ’.

[Chen ngang: Wirklichkeit/ actuality của Martin Heidegger thường được dịch là tính hiện thực không phải là một tập hợp tĩnh tại, khách quan gồm các sự vật vật lý nằm trong không gian; thay vào đó, nó gắn liền với Wirken (hành động, vận hành, hoặc tạo ra tác động) và cách thức các sự vật tự bộc lộ trước Dasein hiện hữu người. Các khía cạnh then chốt của Wirklichkeit trong tư tưởng Heidegger bao gồm: i) Từ nguyên Wirken, gốc rễ của Wirklichkeit có nghĩa là tạo tác động, vận hành, hoặc thực hiện; đối với Heidegger, một sự vật được coi là wirklich ‘hiện thực’ khi nó hành động, tham gia, hoặc có ý nghĩa trong bối cảnh cụ thể của một thế giới, thay vì chỉ nằm yên một cách thụ động như một đối tượng trung tính; ii) Sự khác biệt so với Realität/ reality thực tại của siêu hình học truyền thống - Trong tiếng Đức thông dụng, Realität được dùng để chỉ ‘thực tại’ — một khái niệm mà Heidegger thường xem là mang tính kỹ thuật, hiện đại và trừu tượng - coi thế giới như một tập hợp các dữ liệu khoa học hoặc các sự vật vorhanden hiện-diện-vô-tri. Ngược lại, Wirklichkeit đi sâu hơn vào cách thức mà các thực thể được bắt gặp thông qua sự tương tác thực tiễn, chủ động trong trạng thái zuhanden ‘sẵn-có-để-dùng’; iii) Höher als die Wirklichkeit steht die Möglichkeit Khả tính còn Cao hơn cả Tính hiện thực’ - Một luận điểm nổi tiếng trong cách Heidegger đọc Aristotle ​​chính là sự phê phán đối với ‘chủ nghĩa hiện thực’ actualism truyền thống. Ông khẳng định Möglichkeit Khả tính còn cao hơn cả tính hiện thực’. Đối với Heidegger, Dasein hiện hữu người được định nghĩa căn bản bởi tiềm năng tự phóng chiếu vào tương lai — tức là bởi các khả tính của chính nó — thay vì chỉ dựa trên những gì đã cố định, hoàn tất, hay đã được ‘hiện thực hóa’ tại thời điểm hiện tại; iv) Mối liên hệ với Aletheia Chân lý phi che giấu/tự bộc lộ: ‘Wirklichkeit’ gắn liền với cách thức mà các thực thể được đưa từ trạng thái ẩn giấu ra ngoài ánh sáng. Chân lý ở đây không phải là sự tương ứng giữa một ý niệm trong tâm trí với một sự kiện vật lý; thay vào đó, Wirklichkeit chính là cách thức mà các thực thể von ihm selbst her tự bộc lộ từ chính bản thân chúng.-HHN]

Các thuộc tính cấu thành hữu thể của bất kỳ Dasein hiện hữu người nào đang ở trạng thái quyết đoán đều bao gồm những yếu tố tạo nên một hiện tượng cấu thành hữu thể mà chúng ta gọi là ‘Tình thế’ – một khái niệm mà trước đây chúng ta chưa đề cập đến. [Chen ngang: Heidegger phân biệt rõ rệt giữa hai từ tiếng Đức cùng mang nghĩa là ‘tình thế’ là Lage và Situation: 1) Die Lage Tình thế chung / Tình thế công cộng - Một hoàn cảnh chung, trạng thái sự việc, hoặc vị trí khách quan: i) Nghĩa triết học là bối cảnh khách quan, thường nhật, được định hình và quy định bởi das Man cái ‘họ’ – ám chỉ đám đông hoặc các chuẩn mực xã hội chung; ii) Trong một Lage, Dasein hiện hữu người chỉ đơn thuần trôi dạt theo các vai trò xã hội tiêu chuẩn, những kỳ vọng tập thể và các cơ hội hời hợt; iii) Đây là một vị trí chung chung, chưa được xem xét thấu đáo, mà bất kỳ ai trong môi trường đó cũng có thể chiếm giữ. 2). Die Situation - Tình thế cấu thành hữu thể/ Tình thế đích thực: i) Nghĩa trong tiếng Đức là một tình huống cụ thể, đã được quyết định và mang tính quyết đoán; ii) Nghĩa triết học - Tình huống này xuất hiện khi một cá nhân thoát khỏi sự kiểm soát vô danh của das Man cái ‘họ’ thông qua Entschlossenheit thái độ quyết đoán và tự mình làm chủ Geworfenheit tình trạng ‘bị ném vào’ của chính mình; ii) Một Situation Tình thế cấu thành hữu thể không chỉ là một bối cảnh vật lý thụ động; nó là một chân trời năng động, minh bạch của những khả tính – nơi toàn bộ ý nghĩa cuộc đời hoặc các lựa chọn của một cá nhân được đặt lên bàn cân thường gắn liền với sự đối diện sáng suốt trước cái chết của chính mình.- HHN]. Trong thuật ngữ Situation ‘Tình thế’ ‘ở trong một tình thế’ ấy, ẩn chứa một sắc thái ý nghĩa liên quan đến không gian.6 Chúng ta sẽ không cố gắng loại bỏ sắc thái này khỏi quan niệm cấu thành hữu thể, bởi chính cái ‘có đó’ của Dasein cũng hàm chứa ý nghĩa ấy. [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới sở hữu một tính không gian riêng, được đặc trưng bởi các hiện tượng như Entfernung xóa bỏ khoảng cách và Ausrichtung/ directionality tính định hướng.

[Chen ngang: Khái niệm Entfernung/ Ent-fernung/ de-severance xóa bỏ khoảng cách của Heidegger chỉ một quá trình cấu thành hữu thể, chủ động, trong đó sự xa xôi bị triệt tiêu và các sự vật được đưa lại gần. 1) Từ tiếng Đức Entfernung - hoặc viết tách là Ent-fernung để nhấn mạnh gốc động từ mang tính hành động của nó bao gồm các khía cạnh sau: i) Trong tiếng Đức thông dụng, Entfernung thường có nghĩa là ‘khoảng cách’ hoặc hành động ‘dời đi’. Tuy nhiên, Heidegger khơi gợi lại các gốc từ nguyên của nó—kết hợp tiền tố phủ định ent- mang nghĩa ‘hủy bỏ’ hoặc ‘lấy đi’ với Ferne - mang nghĩa ‘xa’ hoặc ‘sự xa xôi’; ii) Hành động thay vì đo lường - thuật ngữ này không chỉ một khoảng cách Abstand đo lường tĩnh tại như số ki-lô-mét hay xăng-ti-mét trên bản đồ; thay vào đó, nó là một hoạt động năng động, có tính hướng đích – một Existenzial yếu tố cấu thành hữu thể do Dasein hiện hữu người thực hiện. 2) Ý nghĩa và các đặc điểm cốt lõi: i) Triệt tiêu sự xa xôi - Xóa bỏ khoảng cách là cách thức mà Dasein đưa các sự vật vào phạm vi quan tâm đầy ý nghĩa của chính mình; chẳng hạn, một bức tranh mà bạn đang chăm chú chiêm ngưỡng sẽ mang lại cảm giác gần gũi hơn về mặt hiện tượng học so với cặp kính đang nằm ngay trên sống mũi bạn - dù xét về khoảng cách vật lý thì cặp kính gần hơn; ii) Không mang tính khách quan hay chủ quan thuần túy - đây không phải là một thuộc tính vật lý của các sự vật trong thế giới, cũng không phải là ảo giác thuần túy trong tâm trí một chủ thể; nó bắt nguồn từ cách con người tương tác thực tiễn với các công cụ trong trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’; iii) Gắn liền với tính định hướng - Xóa bỏ khoảng cách luôn song hành cùng Ausrichtung tính định hướng; nghĩa là khi Dasein đưa các sự vật lại gần, nó đồng thời đặt chúng vào một môi trường hoặc không gian có cấu trúc và định hướng cụ thể.-HHN]

Dasein ‘dọn chỗ’ ngay khi nó tồn tại một cách thực tế.xiv Tuy nhiên, tính không gian loại đó vốn thuộc về Dasein — thứ mà dựa vào đó, sự tồn tại luôn xác định ‘vị trí’ của chính mình — lại bắt nguồn từ trạng thái [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới, một trạng thái mà trong đó, tính khai mở đóng vai trò cấu thành căn bản. Cũng như tính không gian của cái ‘có đó’  bắt nguồn từ trạng thái khai mở, thì cái ‘Tình thế’ cũng có các nền tảng ở tính ‘quyết đoán’. Tình thế chính là cái ‘có đó’ được khai mở trong tính quyết đoán — cái ‘có đó’ mà thực thể vẫn tồn tại lại có đó. Nó không phải là một khuôn khổ hiện-diện-vô-tri mà Dasein tình cờ rơi vào, hay là nơi mà Dasein có thể tự đưa mình đến. Khác xa với bất kỳ tập hợp các hoàn cảnh hay ngẫu nhiên nào mà chúng ta bắt gặp như những sự vật hiện-diện-vô-tri, Tình thế chỉ tồn tại thông qua và bên trong tính quyết đoán.

Tính chất liên quan thực tế của các hoàn cảnh chỉ tự khai mở với cái Tự ngã khi tính chất liên quan ấy mang hình thái mà ở đấy, ai đó đã quyết định chọn lấy cái ‘có đó’ – nơi mà Tự ngã, trong quá trình hiện hữu, phải là chính nó.7 Khi thứ mà ta gọi là những thứ ‘ngẫu nhiên’ ập đến từ thế giới chung quanh hay môi trường, chúng chỉ có thể tác động đến tính quyết đoán.8 Ngược lại, đối với das Man cái ‘họ’, thì Tình thế về cơ bản là một điều gì đó đã bị khép kín.9 Cái ‘họ’ chỉ biết đến một ‘tình thế chung’, tự đánh mất mình trong những ‘cơ hội’ gần gũi nhất, và chi trả cho lộ trình của Dasein bằng cách tính toán [tr.347] các ‘ngẫu nhiên’ - mà chính Dasein không nhận ra, nhưng lại cho là thành quả của chính mình và trình bày như thể đó là thành quả của mình.10        

Tính quyết đoán đưa cái Hữu thể của cái ‘có đó’ vào hiện hữu của ‘tình huống’ của chính nó. Thật vậy, nó xác định cấu trúc hữu thể của tiềm- năng-cho-Hữu-thể đích thực mà lương tâm minh chứng – đó chính là mong muốn có được lương tâm. Trong cái tiềm năng này, chúng ta nhận ra phương thức thích hợp để thấu hiểu tiếng gọi lương tâm. Điều này cho thấy rõ ràng rằng, khi tiếng gọi của lương tâm triệu hồi chúng ta hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình, thì nó không đặt ra trước mắt ta một lý tưởng hiện hữu trống rỗng nào, mà thúc đẩy ta bước vào Tình thế đó. Tính khẳng định cấu thành hữu thể này – vốn có trong tiếng gọi của lương tâm khi hiểu đúng đắn – đồng thời mang lại cho chúng ta một nhãn quang: nó cho thấy rằng, nếu xu hướng của tiếng gọi này chỉ bị giới hạn trong những món nợ đã xảy ra hoặc đang hiện diện trước mắt, thì ta đã bỏ lỡ tính chất khai mở của lương tâm. Nó cũng cho thấy rằng, nếu đặt ra giới hạn như vậy, thì việc thấu hiểu tiếng nói của lương tâm chỉ là một sự truyền đạt mang tính bề ngoài. Khi trạng thái thấu hiểu tiếng gọi này được Diễn giải theo nghĩa cấu thành hữu thể là ‘tính quyết đoán’, thì lương tâm được bộc lộ như một loại [Cấu thành] Hữu thể – vốn nằm trong chính nền tảng của Dasein11 – nhờ đó Dasein tự làm cho cái hiện hữu thực tế của chính mình trở nên khả thể, qua đó minh chứng cho cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chính mình. Cái hiện tượng mà chúng ta gọi là ‘tính quyết đoán’ này không thể bị nhầm lẫn với một habitus ‘tập quán’ trống rỗng hay một ‘ý muốn mơ hồ’  thiếu xác định. Tính quyết đoán không phải là việc nhận thức một Tình huống rồi đặt Tình huống đó ra trước mặt mình; mà bản thân nó đã tự đặt mình vào trong Tình huống đó rồi.12 Với tư cách quyết đoán, Dasein đã và đang hành động. Chúng ta cố tình tránh dùng thuật ngữ ‘hành động’13, bởi lẽ: thứ nhất, thuật ngữ này cần được hiểu theo nghĩa rộng đến mức bao hàm cả tính thụ động của sự kháng cự.Thứ hai, nó dễ dẫn đến một sự hiểu lầm trong cái bản thể luận về Dasein, cứ như thể quyết đoán chỉ là một kiểu hành vi đặc thù thuộc về năng lực thực tiễn, đối lập với năng lực lý thuyết vậy. Tuy nhiên, chăm lo [tr.348] với tư cách là sự bận tâm đến thế giới và ân cần đối với tha nhân — bao trùm [Cấu thành] Hữu thể của Dasein một cách bản nguyên và toàn diện đến mức, ngay cả khi ta phân biệt giữa hành vi lý thuyết và thực tiễn, thì nó vẫn không thể được xây dựng trước hết từ các năng lực này thông qua một phép biện chứng – một phép biện chứng vốn thiếu nền tảng cấu thành hữu thể, nên tất yếu hoàn toàn không có cơ sở. Tuy nhiên tính quyết đoán chính là tính hiện thực, vốn nằm trong chăm lo và là đối tượng của chính chăm lo đó; nó khả thể với tư cách là chăm lo— chính là tính hiện thực của bản thân chăm lo.

Việc trình bày các khả tính thực hữu cụ thể thực tế cùng những đặc điểm chính và mối liên hệ giữa chúng, đồng thời diễn giải chúng dựa trên cấu trúc cấu thành hữu thể, là một trong những nhiệm vụ của một nền nhân học cấu thành hữu thể chuyên biệt.xv Vì mục đích của nghiên cứu này — vốn là một khảo cứu về bản thể luận nền tảng — nên chỉ cần xác định được theo nghĩa cấu thành hữu thể về ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể hiện thực mà lương tâm đã minh chứng cho chính Dasein là đủ. Giờ đây, tính quyết đoán ấy đã được làm sáng tỏ như là Hữu-thể-tội-lỗi, một cách tự phóng chiếu trong đó một kẻ giữ thái độ im lặng và sẵn sàng đối diện với nỗi lo âu14— thì nghiên cứu của chúng ta đã có đủ cơ sở để xác định ý nghĩa bản thể luận của cái tiềm năng mà chúng ta đang tìm kiếm - đó chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực của Dasein. Giờ đây, Wirklichkeit authenticity tính hiện thực của Dasein không còn là một thuật ngữ trống rỗng hay một ý niệm do ai đó thêu dệt ra nữa. Tuy nhiên, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực, thì cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết hiện thực — điều mà chúng ta đã suy luận về phương diện cấu thành hữu thể — vẫn chỉ dừng lại ở một dự phóng thuần túy mang tính cấu thành hữu thể, vốn còn thiếu sự xác chứng từ chính Dasein. Chỉ khi tìm thấy sự xác chứng như vậy, thì công cuộc nghiên cứu của chúng ta mới đủ sức làm sáng tỏ (theo yêu cầu của vấn đề đặt ra) một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực, một tiềm năng vốn thuộc về Dasein, được xác nhận và làm rõ trên bình diện cấu thành hữu thể. Bởi lẽ, chỉ khi thực thể này trở nên có thể tiếp cận về mặt hiện tượng trong tính hiện thực và tính trọn vẹn của nó, thì câu hỏi về ý nghĩa của lối [Cấu thành] Hữu thể của cái thực thể mà trong hiện hữu của nó vốn đã bao hàm một sự thấu hiểu về [Cấu thành] Hữu thể — mới có thể đặt trên một nền tảng vững chắc, đủ sức vượt qua mọi kiểm chứng.

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 The etymological connection between 'Entschlossenheit' ('resoluteness') and 'Erschlossenheit' ('disclosedness') is not to be overlooked. [p.343]

2 'Die Erschlossenheit des Da erschliesst gleichurspriinglich das je ganze In-der-Weltseln das heisst die Welt das In-Sein und das Selbst, das als "ich bin" dieses Seiende ist.' It is not clear grammatically whether 'dieses Seiende' or the pronoun 'das' is the subject of the final clause, or whether 'this entity' is 'Dasein' or ‘Being-in’. The grammatical function of the 'als "ich bin" ' is also doubtful. In support of our interpretation, consult H. 54> 114, 117, 267. [p.343]

3 ‘Das Umwillen des Unterkommens, des Unterhalts, des Fortkommens sind nächste und ständige Moglichkeiten des Daseins…’. [p.344]

4 'Aber woraufhin erschliesst sich das Dasein in der Entschlossenheit? Wozu soli es sich entschliessen?' (For similar constructions with 'woraufhin' etc. and 'erschliessen', see H. 141, 143, 145 above.) [p.345]

5 'Das Dasein wird als Man-selbst von der verständigen Zweideutigkeit der Offentlichkeit "gelebt", in der sich niemand entschliesst, und die doch schon immer beschlossen hat.' The etymological connection between 'entschliesst' and 'beschlossen' is lost in our translation. [p.345]

6 The German words ‘Situation’ and ‘Lage’ will be translated by ‘Situation’ and ‘situation’ respectively. [p.346]

7 'Entschlossen für das Da, als welches das Selbst existierend zu sein hat, erschliesst sich ihm erst der jeweilige faktische Bewandtnischarakter der Umstande.' [p.346]

8 ‘Nur der Ent-schlossenheit kann das aus der Mit- und Umwelt zu-fallen, was wir Zufalle nennen.’ Literally a ‘Zufall’ (‘accident’) is something that 'falls to' something, or ‘befalls’ it. (Compare the Latin ‘accidens’, which has basically the same meaning). [p.346]

9. ‘verschlossen’. Contrast ‘erschlossen’ (‘disclosed’) and ‘entschlossen’ (‘resolved’). [p.346]

10 ‘Es kennt nur die “allgemeine Lage”, verliert sich an die nachsten "Gelegenheiten" und bestreitet das Dasein aus der Verrechnung der “Zufälle”, die es, sie verkennend, für die eigene Leistung hält und ausgibt.’ We have preserved the grammatical ambiguity of the
pronouns ‘die’ and ‘es’. [p.347]

11 ‘…als die im Grunde des Daseins beschlossene Seinsart…’ The participle ‘beschlossene’, which is etymologically akin to ‘erschlossen’, etc., may mean either ‘included or ‘decided upon’, as we have seen on H. 299· Very likely both meanings are here intended. [p.347]

12 ‘Die Entschlossenheit stellt sich nicht erst, kenntnisnehmend, eine Situation vor, sondern hat sich schon in sie gestellt.’ Our rather literal translation brings out the contrast between ‘sich stellen in…’ (‘put itself in…’) and ‘sich stellen… vor…’ (‘put before itself…’), but fails to bring out the important sense of the latter expression: ‘to represent’ or ‘to form an idea of’. [p.347]

13‘“Handeln”’. Far from avoiding this term, Heidegger has used it quite frequently. But he is avoiding it as a possible substitute for the term 'Entschlossenheit'. [p.347]

14 'Mit der Herausarbeitung der Entschlossenheit als des verschwiegenen, angstbereiten Sichentwcrfens auf das eigenste Schuldigsein… ‘The earlier editions have’…dem verschwiegenen, angstbereiten Sichentwerfen auf…’ [p.348]

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

II CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN

59. Phép Diễn giải Cấu thành hữu thể và Diễn giải Thông thường về Lương tâm1

[Tr.335] Lương tâm là tiếng gọi của Sorge chăm lo khởi phát từ Unheimlichkeit/ uncanniness trạng thái bất an không nhà của Hữu-thể-trong-thế-giới — một tiếng gọi triệu hồi Dasein hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-có-tội riêng biệt nhất của chính nó. Tương ứng với tiếng gọi này, ‘mong-muốn-có-lương-tâm’ xuất hiện như một cách thức thấu hiểu lời kêu gọi đó. Hai định nghĩa này không thể dễ dàng hòa hợp với cách diễn giải thông thường về lương tâm; thực tế, chúng dường như hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Chúng ta gọi cách diễn giải này là cách ‘thông thường’, bởi lẽ khi mô tả hiện tượng này cùng ‘chức năng’ của nó, thì cách hiểu ấy chỉ bám víu vào những gì mà das Man ‘họ’ coi là lương tâm, cũng như cách ‘họ’ tuân theo hoặc phớt lờ nó. Nhưng liệu phép Diễn giải mang tính bản thể luận có nhất thiết phải đồng nhất với cách diễn giải thông thường hay không? Chẳng phải cách hiểu thông thường ấy, về nguyên tắc, vốn đã đáng ngờ dưới góc độ bản thể luận sao? Nếu Dasein luôn tự thấu hiểu bản thân thông qua những đối tượng mà nó bận tâm, và nếu nó diễn giải mọi cách thức hành xử của mình với tư cách quan tâm, thì chẳng phải chính cách diễn giải đó đã chứa đựng sa ngã và che đậy đối với chính cách diễn giải về Hữu thể của nó — một phương thức vốn đóng vai trò như tiếng gọi, nỗ lực đưa Dasein trở về từ trạng thái lạc lối trong những mối bận tâm của cái ‘họ’2 hay sao?

[Tr.336] Đời sống thường nhật xem Dasein như một thứ sẵn-có-để-dùng cần được bận tâm đến — nghĩa là một thứ cần được quản lý và tính toán. ‘Đời sống’ trở thành một ‘doanh vụ’, bất kể nó có bù đắp được chi phí hay không. Do đó, xét đến loại Hữu thể thông thường của chính Dasein, thì không có gì đảm bảo rằng ‘cách diễn giải về lương tâm nảy sinh từ đó — hay các lý thuyết về lương tâm được theo định hướng này — đã đạt đến được cái chân trời bản thể luận đúng đắn cho phép Diễn giải của nó. Mặc dù vậy, ngay cả trải nghiệm thông thường về lương tâm cũng phải bằng cách nào đó — ở cấp độ tiền-bản thể luận — chạm đến được hiện tượng này. Từ điều này, hai hệ quả được rút ra: một mặt, cách diễn giải thường nhật về lương tâm không thể được chấp nhận làm tiêu chí cuối cùng cho cái ‘Khách thể tính’ của một phân tích bản thể luận. Mặt khác, một phân tích như vậy cũng không có quyền phớt lờ cách hiểu thường nhật về lương tâm, hay bỏ qua các lý thuyết nhân học, tâm lý học và thần học về lương tâm vốn đã được xây dựng dựa trên cách hiểu đó. Nếu existenzielle Analytik phân tích mang tính hữu thể đã làm sáng tỏ hiện tượng lương tâm từ tận cội rễ bản thể luận của nó, thì chính thông qua phân tích này, các cách diễn giải thông thường phải trở nên dễ hiểu; chúng cần được hiểu rõ, ngay cả ở những điểm mà chúng bỏ lỡ hiện tượng này hoặc những lý do khiến chúng che đậy nó.
 
[Chen ngang: Existenzialanalytik/ existenzielle Analytik: Đối với Heidegger ‘phân tích cấu thành hữu thể’ của Dasein chính là nghiên cứu có hệ thống về các cấu trúc nền tảng làm nên tồn tại của con người. Thay vì xem con người như những đối tượng tĩnh tại với một ‘bản chất’ cố định, Heidegger phân tích con người dưới khái niệm Dasein—một thực thể độc đáo mà chính [Cấu thành] Hữu thể của nó cũng là một vấn đề đối với bản thân nó. Ý nghĩa và các thành phần cốt lõi trong phân tích cấu thành hữu thể của Heidegger được chia thành một số khái niệm chính: 1) Mục tiêu là Khai mở Ý nghĩa của Hữu thể: Heidegger không phát triển phân tích cấu thành hữu thể chỉ để tạo ra một bộ môn tâm lý học về hành vi con người. Mục tiêu tối thượng của ông mang tính bản thể luận—ông muốn trả lời câu hỏi bao quát: Cấu thành hữu thể [SEIN/BEING/sein/to be] nghĩa là gì? Vì con người là sinh vật duy nhất có thể đặt câu hỏi về hiện hữu/ tồn tại, Heidegger lập luận rằng chúng ta phải phân tích hiện hữu/ tồn tại người trước khi có thể hiểu được bản chất của bản thân thực tại. 2. Phân biệt Cốt yếu giữa ‘Existential’ và ‘Existentiell’: ‘Existential’ là ‘có tính/thuộc về cấu thành hữu thể’ và ‘Existentiell’ là ‘có tính/thuộc về thực hữu cụ thể’. Để hiểu được phân tích của ông, cần phân biệt hai tầng bậc trong đời sống con người mà ông đã xác định: i) Existential thuộc cấp độ ontological bản thể luận, đề cập đến các cấu trúc phổ quát, mang tính hình thức, vốn gắn liền với mọi con người; những khuôn mẫu cấu trúc này được Heidegger gọi là existentials các ‘yếu tố cấu thành hữu thể’ — chẳng hạn như tính hữu tử, tình trạng ‘bị ném vào’ thế giới, hay nhận thức về không gian; chúng quy định cách thức mà con người có thể hiện hữu/tồn tại; ii) Existentiell thuộc cấp độ ontic thực hữu, cụ thể, đề cập đến những lựa chọn và sự kiện cụ thể, mang tính cá nhân trong đời sống thường nhật của mỗi người; ví dụ, quyết định thay đổi nghề nghiệp, chọn bạn đời, hay trải nghiệm một tâm trạng cụ thể trong ngày—đây là những thực tại thực hữu, cụ thể, được xây dựng trên nền tảng cấu trúc cấu thành hữu thể rộng lớn. 3. Các Cấu trúc Hữu thể cốt lõi (các yếu tố cấu thành Hữu thể) được hé lộ: Thông qua phân tích của mình, Heidegger vạch ra những đặc điểm cốt lõi định nghĩa nên Dasein: i) In-der-Welt-sein [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới: Con người không tồn tại tách biệt khỏi môi trường xung quanh như một đồ vật nằm trong hộp; chúng ta vốn dĩ gắn kết và đan dệt một cách tự nhiên với môi trường vật chất, các công cụ và bối cảnh xã hội xung quanh mình; ii) Geworfenheit Tình trạng/Tính bị ném vào: Chúng ta không chọn thời điểm, địa điểm hay bối cảnh lịch sử mà mình được sinh ra; chúng ta ‘bị ném vào’ một thế giới đã có sẵn các quy tắc, ngôn ngữ và văn hóa; và chúng ta buộc phải định hướng cuộc đời mình từ điểm xuất phát mà bản thân không hề lựa chọn đó; iii) Entwurf Phóng chiếu: Dù ‘bị ném vào’ thế giới, Dasein hiện hữu người vẫn luôn hướng về phía trước, phóng chiếu bản thân vào những khả tính tương lai; chúng ta định nghĩa chính mình thông qua những gì chúng ta chọn làm tiếp theo; iv) Eigentlichkeit/ Authenticity Tính chân thực và Uneigentlichkeit/ Inauthenticity Tính không chân thực: Phần lớn thời gian, chúng ta sống một cách không chân thực—rơi vào những thói quen vô thức và tuân theo các kỳ vọng của xã hội, thứ mà Heidegger gọi là das Man cái ‘họ’. Tính chân thực chỉ xuất hiện khi một cá nhân trực diện đối mặt với tự do, các lựa chọn và những giới hạn của chính mình; v) Sein-zum-Tode Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết: tồn tại/hiện hữu người mang tính hữu hạn triệt để; việc thừa nhận rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi—và đó là ranh giới giới hạn mọi khả tính tương lai của chúng ta—chính là yếu tố buộc mỗi người phải chịu trách nhiệm cá nhân về cuộc đời mình và sống một cách chân thực; vi) Angst Trạng thái Lo âu: Khác với nỗi sợ, thường hướng vào một đối tượng cụ thể, chẳng hạn như một con nhện độc, lo âu là một tâm thế căn bản, xuất hiện khi những ý nghĩa quen thuộc về thế giới sụp đổ; lo âu gạt bỏ đi những ảo tưởng xã hội, từ đó phơi bày cái tự do tuyệt đối của chúng ta trong việc tự định nghĩa cuộc đời mình.-HHN]. Tuy nhiên, vì trong khuôn khổ các vấn đề của chuyên luận này, việc phân tích lương tâm chỉ đóng vai trò bổ trợ cho câu hỏi nền tảng về mặt bản thể luận, nên khi mô tả mối liên hệ giữa phép Diễn giải mang tính cấu thành hữu thể về lương tâm và cách hiểu thông thường về nó, chúng ta chỉ có thể dừng lại ở việc gợi mở các vấn đề cốt yếu.

Đối với cách diễn giải thông thường này, có bốn phản bác có thể được đưa ra nhắm vào cách chúng ta diễn giải lương tâm như là lời kêu gọi của chăm lo hướng tới Hữu-thể-tội-lỗi: (1) chức năng của lương tâm về cơ bản mang tính phê phán; (2) lương tâm luôn lên tiếng gắn liền với một hành động cụ thể đã được thực hiện hoặc được dự định thực hiện; (3) khi cái ‘tiếng nói’ ấy được trải nghiệm, thì nó không bao giờ liên hệ một cách triệt để đến chính [Cấu thành] Hữu thể của Dasein; (4) cách diễn giải của chúng ta không tính đến các dạng thức cơ bản của hiện tượng này— ‘Bình an’ và ‘Bất an’, loại lương tâm ‘khiển trách’ và loại ‘cảnh báo’. Chúng ta hãy bắt đầu thảo luận từ vấn đề sau cùng này. Trong mọi cách diễn giải về lương tâm, thì ‘Bình an’ hay ‘Bất an’ thường được ưu tiên xem xét: lương tâm về bản chất là ‘Bất an’; kiểu lương tâm này cho chúng ta biết rằng trong mỗi trải nghiệm về lương tâm, điều đầu tiên xuất hiện chính là tâm cảm: ‘Tội lỗi!’. Nhưng trong khái niệm về loại ‘Bất an’ ấy, thì việc bộc lộ về [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi này được hiểu như thế nào? ‘Trải nghiệm về lương tâm’ thường xuất hiện sau khi một hành động đã được thực hiện hoặc bị bỏ lại không thực hiện. Tiếng gọi xuất hiện sau hành vi vi phạm và hướng về chính sự kiện đã xảy ra đó – sự kiện khiến [tr.337] Dasein hiện hữu người tự gánh lấy tội lỗi. Nếu lương tâm cho thấy một [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi, thì nó không thực hiện điều đó bằng cách thúc giục ta hướng tới một điều gì đó, mà bằng cách gợi nhớ lại tội lỗi đã phạm phải và quy chiếu về nó.

Nhưng liệu cái ‘sự thật’ rằng thứ tiếng gọi kia xuất hiện sau đó có ngăn cản bản chất của nó – vốn là một sự ‘kêu gọi’ – hay không? Việc coi tiếng gọi này như một sự lay động của lương tâm nảy sinh sau sự việc vẫn chưa đủ để chứng minh rằng chúng ta đã thấu hiểu hiện tượng lương tâm một cách bản nguyên. Sẽ ra sao nếu trạng thái ‘mắc nợ’ thật chỉ là dịp để lương tâm cất tiếng gọi thật? Sẽ ra sao nếu phép Diễn giải về một loại ‘bất lương’ mà chúng ta đã mô tả chỉ mới đi được nửa chặng đường? Điều này trở nên rõ ràng khi xét đến cái có-trước về bản thể luận ontological fore-having) – phạm vi mà cách diễn giải này đã đặt hiện tượng kia vào trong đó. [Chen ngang: Đối với Heidegger, khái niệm Vorhabe/ fore-having có-trước về phương diện bản thể luận là một thành phần thuộc Vor-Struktur tiền-cấu trúc của sự thấu hiểu ở con người. Heidegger chia cấu trúc này thành ba yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau trong bất kỳ Auslegung hành vi diễn giải nào: i) Vorhabe/ Fore-having Có trước - những gì chúng ta đã ‘nắm giữ từ trước’ — đó là sự quen thuộc Bewandtnisganzheit của tổng thể can dự và tiền khái niệm đối với bối cảnh chung, hoặc toàn bộ mạng lưới các can dự mà trong đó một thực thể mới trở nên có nghĩa; chẳng hạn trước khi nhìn vào một chiếc búa cụ thể, Tôi đã có sẵn sự hiểu biết về thế giới của các công cụ hay xưởng làm việc; ii) Vorsicht/ Fore-sight Thấy trước - những gì chúng ta ‘nhìn thấy từ trước’ — đó là quan điểm, góc nhìn hoặc hướng quan tâm cụ thể mà từ đó chúng ta tách biệt hoặc tiếp cận một phần của cái ‘có trước’ nêu trên; iii) Vorgriff/ Fore-conception Tiền khái niệm: Những gì chúng ta ‘nắm bắt từ trước’ — đó là khung khái niệm hoặc ngôn ngữ mà chúng ta dùng để định hình hoặc phóng chiếu đối tượng đang được diễn giải vào đó. Tổng hợp lại, các yếu tố này tạo nên ‘vòng tròn thấu hiểu’ — nghĩa là chúng ta không bao giờ tiếp cận thế giới hay một đối tượng với một tâm thế trống rỗng, hoàn toàn không có tiền giả định nào.- HHN]. Tiếng gọi là một thứ xuất hiện, có vị trí trong chuỗi các Trải nghiệm vốn hiện-diện-vô-tri, và theo sau Trải nghiệm về hành động đã thực hiện.

Tuy nhiên, cả tiếng gọi, hành động đã xảy ra, lẫn cảm giác tội lỗi mà một cá nhân phải gánh chịu, đều không phải là những sự cố mang đặc tính của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri đi theo tiến trình. Tiếng gọi có loại [cấu thành] Hữu thể gắn liền với Sorge/care chăm lo. Trong tiếng gọi, Dasein ‘hiện hữu’ trước chính mình, theo cách thức đồng thời cũng hướng ngược trở lại trạng thái ‘bị ném vào’ của chính nó. Chỉ khi giả định rằng Dasein là một chuỗi liên kết các trải nghiệm kế tiếp nhau, người ta mới có thể coi tiếng gọi như một điều đến sau, một thứ xuất hiện muộn hơn và do đó tất yếu phải quy chiếu ngược trở lại. Tiếng gọi quả thực có tính chất quy chiếu ngược lại, nhưng nó vượt ra ngoài hành động đã xảy ra để hướng về [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi mà kẻ kia đã bị ném vào — một trạng thái vốn ‘có trước’ bất kỳ món nợ nào. Đồng thời, tiếng-gọi-ngược này cũng thúc đẩy hướng tới chính [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi đó, như một điều cần được nắm bắt trong sự tồn tại của chính mình; vì vậy, [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi thực hữu cụ thể đích thực chỉ ‘đi theo sau’ tiếng gọi, chứ không phải ngược lại. Schlechtes Gewissen/ Bad conscience ‘Bất an’ không chỉ đơn thuần là khiển trách hay quy chiếu về quá khứ; thực chất, nó hướng về phía trước3 ngay khi kêu gọi cá nhân quay trở lại với trạng thái ‘bị ném vào’ của chính mình. Trình tự diễn tiến của các Trải nghiệm không cho ta thấy được cấu trúc hiện tượng của sự tồn tại.

[Chen ngang: Về Gewissen lương tâm Heidegger cho rằng đó không phải là công cụ để phán xét đạo đức, mà là một cơ chế bản thể luận của sự thức tỉnh. Ông đã lật đổ những cách hiểu đạo đức truyền thống của Kitô giáo hoặc thế tục về ‘Schlechtes Gewissen/ Bad Conscience tình trạng ‘Bất an’ và ‘Bình an’ trong lương tâm, gán cho chúng những ý nghĩa triết học hoàn toàn mới. Sự bình an trong lương tâm và mãn nguyện nội tâm sau khi không làm điều sai trái hoặc tích lũy được nhiều việc thiện. Một trạng thái tự lừa dối của ‘sa ngã’. Sai lầm khi tin rằng mình không có tội, thực chất là từ chối lắng nghe tiếng gọi của Bản thể. 1) Das schlechte Gewissen / Unheimlichkeit Lương tâm Bất an: i) Là sự xáo trộn bình yên của das Man con người bình thường, với Dasein trải nghiệm Angst ‘lo lắng’ và Unheimlichkeit ‘vô định’; ii) Tiếng Gọi của Lương tâm: Lương tâm đưa ra một tiếng gọi ‘thầm lặng’. Đó không phải là một vị thần hay người khác lên tiếng, mà là ‘Dasein tự gọi mình trong sự sa ngã của nó’; iii) Nội dung của tiếng gọi - nó không buộc tội Tôi về bất kỳ hành vi sai trái nào, mà là kéo Tôi ra khỏi trạng thái trôi dạt hàng ngày và mù quáng tuân theo das Man cái ‘họ’, nhắc nhở Tôi đang lãng phí cuộc đời mình; tôi không chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của chính mình; iv) Tội lỗi đích thực (Schuld): Heidegger tin rằng con người vốn dĩ ‘có tội’; đó không phải là tội lỗi về mặt đạo đức, mà là một ‘thiếu sót’ về mặt bản thể luận; bởi vì con người bị ném vào thế giới này, chúng ta không thể chọn điểm xuất phát của mình, và khi đưa ra lựa chọn, chúng ta chắc chắn phải từ bỏ những khả tính khác; nhận ra tình trạng bất hoàn hảo và hạn chế không thể tránh khỏi này dẫn đến ‘tội lỗi lương tâm’ sâu sắc. 2) Das gute Gewissen Good Conscience Sự bình an trong lương tâm - Heidegger có thái độ phê phán mạnh mẽ đối với trạng thái ‘bình an trong lương tâm’ truyền thống - tức là sự hài lòng khi có lương tâm trong sạch và làm việc thiện; ông cho rằng trạng thái này nguy hiểm về mặt bản thể học: i) Che đậy sự sa ngã - khi một người cảm thấy ‘bình an trong lương tâm’, thường là vì họ hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực của công chúng (người bình thường). Ví dụ: đi làm đúng giờ, lịch sự và tuân thủ các quy tắc; ii) Trốn tránh bản ngã – trạng thái bình an này thực chất là một chất an thần; nó khiến Dasein tin tưởng một cách sai lầm rằng họ đã làm tốt, do đó thoải mái tiếp tục trôi dạt trong thế giới của das Man cái ‘họ’, quên đi việc theo đuổi những khả năng sống đích thực của chính mình; iii) Tự lừa dối - Tồn tại đích thực gánh nặng tội lỗi, lo âu và hướng đến cái chết; do đó, trạng thái ‘bình an lương tâm’ đích thực không tồn tại ở Heidegger; bất kỳ trạng thái bình an tự xưng nào cũng là sự trốn tránh và quên lãng sự thật tồn tại của chính mình.-HHN]

Nếu chúng ta không thể tiếp cận hiện tượng bản nguyên thông qua việc mô tả lương tâm ‘Bất an’, thì lại càng không thể làm như vậy thông qua việc mô tả lương tâm ‘Bình an’—bất kể ta coi nó là một dạng lương tâm độc lập4 hay là dạng lương tâm về cơ bản được xây dựng dựa trên lương tâm ‘Bất an’. Cũng như ‘Hữu-thể-cái-Ác’ của Dasein được bộc lộ qua lương tâm ‘Bất an’, thì lương tâm ‘Bình an’ cũng phải bộc lộ ‘Hữu-thể-cái-Thiện’ của chính nó. Dễ thấy rằng, thứ lương tâm vốn từng được coi là ‘sự tuôn trào từ quyền năng thiêng liêng’ nay lại trở thành Knecht des Pharisäismus nô lệ cho Thói đạo đức giả. Một lương tâm như vậy sẽ khiến một người tự nói về [tr.338] bản thân mình rằng: ‘Tôi là người tốt’; thử hỏi còn ai khác có thể tự nhận mình là người tốt, và ai lại là người ít muốn khẳng định điều đó hơn chính người tốt ấy? Nhưng nếu từ ý niệm lương tâm ‘Bình an’ mà đi đến một kết luận bất khả như vậy, thì lương tâm thực chất đang lên tiếng về ‘Hữu-thể-tội-lỗi’ lại càng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết.

Để tránh kết luận này, lương tâm ‘Bình an’ đã được Diễn giải như là sự thiếu vắng của lương tâm ‘Bất an’, và được định nghĩa là ‘trải nghiệm về sự vắng bóng của lương tâm ‘Bất an’.viii Theo cách hiểu này, đó là trải nghiệm về việc không có tiếng gọi nào vang lên—tức là, tôi không có điều gì để tự trách mình. Nhưng làm thế nào mà một sự ‘thiếu vắng’ như vậy lại có thể được ‘Trải nghiệm’? Trải nghiệm giả định này hoàn toàn không phải là việc trải nghiệm một tiếng gọi; đúng hơn, đó là việc đảm bảo chắc chắn5 rằng một hành động được gán cho Dasein không phải do chính nó thực hiện, và do đó, Dasein không có tội. Việc trở nên chắc chắn rằng mình không làm điều gì đó hoàn toàn không mang đặc tính của một hiện tượng lương tâm. Thay vào đó, nó có thể biểu thị rằng một kẻ đang quên đi lương tâm của chính mình—nói cách khác, kẻ đó đang thoát khỏi cái khả tính có thể được kêu gọi. Trong ‘tính chắc chắn’ được đề cập ở đây ẩn chứa một sự trấn an, một nỗ lực dập tắt mong muốn có lương tâm—tức là dập tắt sự thấu hiểu về cái Hữu-thể-tội-lỗi vốn là bản chất cốt lõi và thường trực của chính mình. Lương tâm ‘Bình an’ không phải là một dạng lương tâm độc lập, cũng không phải là một dạng lương tâm phái sinh; tóm lại, nó hoàn toàn không phải là một hiện-tượng-lương-tâm. Khi cách nói về lương tâm ‘Bình an’ nảy sinh từ lối trải nghiệm lương tâm của Dasein trong đời sống thường nhật, thì chính Dasein thường nhật đó đã bộc lộ rằng, ngay cả khi nó nói về lương tâm ‘Bất an’, về cơ bản nó vẫn không chạm tới được cái hiện tượng đó. Bởi lẽ, khái niệm về lương tâm ‘Bất an’ trên thực tế lại được định hướng bởi khái niệm về lương tâm ‘Bình an’. Cách diễn giải thường nhật này vẫn nằm trong phạm vi của việc tính toán, cân đo đong đếm giữa ‘có tội’ và ‘vô tội’. Đây chính là chân trời mà trong đó, tiếng nói của lương tâm được ‘Trải nghiệm’.

Khi xác định những gì là bản nguyên trong ý tưởng về lương tâm ‘Bất an’ và lương tâm ‘Bình an’, chúng ta đồng thời cũng làm rõ sự khác biệt giữa một kiểu lương tâm hướng về phía trước, mang tính cảnh báo, và một kiểu lương tâm hướng về phía sau, mang tính khiển trách. Ý tưởng về lương tâm cảnh báo dường như tất nhiên, là điều gần gũi nhất với hiện tượng triệu gọi. Nó có chung đặc điểm là hướng về phía trước. Nhưng sự tương đồng này chỉ là một ảo tưởng. Khi trải nghiệm một lương tâm mang tính cảnh báo, ta thường coi tiếng nói ấy chỉ đơn thuần hướng vào hành động mà ta đã định thực hiện — một hành động mà lương tâm muốn ngăn ta lại. Tuy nhiên, sự cảnh báo — với tư cách là một rào cản đối với điều ta đã định làm — chỉ có thể xảy ra vì tiếng gọi ‘cảnh báo’ ấy nhắm vào tiềm- năng-cho-Hữu-thể của Dasein, tức là nhắm vào sự tự thấu hiểu của chính nó trong Hữu-thể-tội-lỗi; không phải cho đến khi ta đạt đến [tr.339] sự thấu hiểu như vậy, thì ‘cái ta đã định làm’ mới có thể bị phá vỡ. Lương tâm cảnh báo đóng vai trò điều tiết, giúp ta duy trì trạng thái không mắc nợ6 trong từng khoảnh khắc. Trong trải nghiệm về một lương tâm ‘cảnh báo’, ý nghĩa của tiếng gọi chỉ được nhìn nhận ở mức độ mà ‘ý thức thông thường’ của cái gọi là das Man cái ‘họ’ có thể tiếp cận được.

Điểm thứ ba mà chúng ta đã đề cập dựa trên thực tế là trải nghiệm thường nhật về lương tâm hoàn toàn không biết đến bất cứ điều gì giống như việc bị ‘triệu vời’ vào Hữu-thể-tội-lỗi. Điều này phải được thừa nhận. Nhưng liệu trải nghiệm thường nhật ấy có đảm bảo rằng toàn bộ nội dung tiềm tàng của tiếng gọi từ lương tâm đã được lắng nghe trọn vẹn hay chưa? Liệu có thể suy ra rằng các lý thuyết về lương tâm — vốn dựa trên cách trải nghiệm thông thường — đã xác định đúng đắn cái ‘chân trời bản thể luận’ của chúng để phân tích hiện tượng này hay không? Chẳng phải tình trạng sa ngã — vốn là một loại Hữu thể thiết yếu đối với Dasein — cho thấy rằng, về mặt ontish thực hữu, thực thể này tự thấu hiểu bản thân chủ yếu thông qua ‘chân trời quan tâm’, trong khi về mặt bản thể luận, nó lại định nghĩa ‘Hữu thể’ theo nghĩa Vorhandenheit ‘hiện-diện-vô-tri’ hay sự vật hiện hữu như một đối tượng khách quan sao? Cách hiểu này dẫn đến việc che khuất hiện tượng theo hai hướng: những gì được nhìn nhận trong lý thuyết này chỉ là một chuỗi các ‘Trải nghiệm’ hay ‘quá trình tâm lý’ — một chuỗi mà loại Hữu thể của nó phần lớn hoàn toàn không xác định. Trong trải nghiệm kiểu này, lương tâm xuất hiện như một kẻ phán xử hay một người khuyên răn, mà trước đó, Dasein phải tính toán và biện minh cho hành vi của chính mình.  

Khi Kant mô tả lương tâm như một ‘tòa án’ và biến ý niệm này thành kim chỉ nam cơ bản trong cách ông Diễn giải về nó, thì đó không phải là điều ngẫu nhiên; ý niệm này bắt nguồn từ khái niệm về quy luật đạo đức — mặc dù quan niệm của Kant về đạo đức khác xa với thuyết vị lợi hay eudaemonism hạnh phúc luận. Ngay cả lý thuyết về giá trị — dù được xem xét dưới góc độ hình thức hay nội dung — cũng ẩn chứa một tiền giả định bản thể luận, đó chính là ‘siêu hình học về đạo đức’ — hay nói cách khác, là một bản thể luận về Dasein hiện hữu người và sự tồn tại. Dasein được nhìn nhận như một thực thể mà cá nhân có thể tự quan tâm đến, dù loại ‘quan tâm’ này mang nghĩa ‘hiện thực hóa các giá trị’ hay đáp ứng một chuẩn mực nào đó. Nếu muốn viện dẫn toàn bộ phạm vi mà trải nghiệm thường nhật về lương tâm — vốn được coi là tòa án tối cao duy nhất để Diễn giải lương tâm — có thể chạm tới, thì điều này chỉ hợp lý khi ta đã cân nhắc trước xem liệu lương tâm có thể thực sự tiếp cận được trong bối cảnh đó hay không. Do đó, một phản biện khác cho rằng phép Diễn giải cấu thành hữu thể đã bỏ qua cái sự thật là tiếng gọi của lương tâm luôn gắn liền với một hành động cụ thể — hành động đã được ‘hiện thực hóa’ hoặc được mong muốn thực hiện — cũng trở nên mất đi sức nặng.

[Tr. 340] Không thể phủ nhận rằng tiếng gọi ấy thường được trải nghiệm như thể nó có một khuynh hướng như vậy. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu trải nghiệm này có cho phép tiếng gọi ấy ‘tự tuyên bố’ một cách trọn vẹn hay không. Theo cách diễn giải thông thường, người ta có thể cho rằng mình đang bám sát vào các ‘sự thật’; nhưng xét cho cùng, chính cách diễn giải dựa trên lẽ thường này lại vô tình thu hẹp phạm vi khai mở của tiếng gọi. Cũng như việc một lương tâm ‘Bình an’ không thể bị biến thành công cụ cho cái Pharisäismus Thói đạo đức giả—tức sự tự mãn đạo đức—thì chức năng của một lương tâm ‘Bất an’ cũng không thể bị quy giản thành việc chỉ ra những món nợ hiện-diện-vô-tri hay gạt bỏ những món nợ tiềm tàng. Nếu hiểu như vậy, thì chẳng khác nào coi Dasein như một ‘hộ gia đình’, nơi các khoản nợ chỉ cần được cân đối một cách ngăn nắp, để rồi cái Tự ngã có thể đứng ngoài cuộc như một khán giả dửng dưng, mặc cho những Trải nghiệm ấy tự diễn tiến. Tuy nhiên, nếu yếu tố cốt yếu trong tiếng gọi không phải là mối liên hệ với một tội lỗi đang thực sự ‘hiện-diện-vô-tri’, hay với một hành vi mang nặng tội lỗi đã được thực tình mong muốn; và nếu theo đó, các dạng thức ‘quở trách’ hay ‘cảnh báo’ của lương tâm không biểu đạt những chức năng bản nguyên của tiếng gọi, thì chúng ta cũng đã làm lung lay lập luận được đề cập trước đó — cho rằng phép Diễn giải cấu thành hữu thể đã bỏ sót cái đặc tính phê phán của những gì mà lương tâm dấy lên. Lập luận này cũng nảy sinh từ việc nhìn nhận hiện tượng đó theo một cách thức mà trong những giới hạn nhất định — là chân thực; bởi lẽ, trong nội dung của tiếng gọi, quả thực không thể chỉ ra bất cứ điều gì mà tiếng gọi đó đề xuất hay áp đặt ‘một cách tích cực’. Nhưng ta phải hiểu thế nào về tính tích cực vốn vắng bóng trong hoạt động của lương tâm? Liệu có phải vì thế mà lương tâm mang tính ‘tiêu cực’?

Chúng ta thấy thiếu một nội dung ‘tích cực’ trong điều được gọi, bởi lẽ chúng ta kỳ vọng nhận được những chỉ dẫn hữu ích, cụ thể về các khả tính ‘hành động’ chắc chắn, sẵn có và có thể tính toán được. Kỳ vọng này bắt nguồn từ một cách diễn giải gắn liền với mối quan tâm theo lẽ thường — một cách diễn giải ép buộc tồn tại của Dasein phải nằm dưới ý tưởng về một quy trình công việc có thể điều tiết được. Những kỳ vọng như vậy (vốn cũng ngầm ẩn trong yêu cầu về một đạo đức học giá trị dựa trên nội dung cụ thể, đối lập với một đạo đức học ‘chỉ thuần túy’ hình thức) tất nhiên sẽ không được lương tâm đáp ứng. [Chen ngang: materiale Wertethik đạo đức học giá trị là một trường phái triết học và đạo đức học hiện tượng luận do Max Scheler khởi xướng vào đầu thế kỷ 20, sau đó được Nicolai Hartmann và Dietrich von Hildebrand phát triển. Trường phái này cho rằng đạo đức phải dựa trên nội dung cụ thể của các giá trị khách quan, chứ không phải dựa trên các quy tắc hình thức khô khan. Các đặc điểm cốt lõi bao gồm: i) Phản đối chủ nghĩa hình thức của Kant: Immanuel Kant xây dựng đạo đức dựa trên mệnh lệnh nhất trí mang tính hình thức, không chứa nội dung cụ thể. Ngược lại, Scheler cho rằng đạo đức cần phải có ‘chất liệu’, đó chính là các giá trị như cái thiện, cái cao cả, tình yêu, sự công bằng; ii) Giá trị tồn tại khách quan: Các giá trị không phải do con người tự tạo ra một cách chủ quan, hay chỉ là công cụ để đạt mục đích khác, mà chúng có thực tại khách quan và độc lập; iii) Trực giác cảm xúc: Con người không nhận thức ra giá trị bằng lý trí thuần túy, vì lý trí vốn ‘mù’ trước giá trị, mà thông qua cảm xúc có tính ý hướng, giống như ‘trái tim có lý lẽ riêng của nó’; iv) Thứ bậc của giá trị: Các giá trị được sắp xếp theo một trật tự khách quan từ thấp đến cao, bao gồm: giá trị cảm giác như khoan khoái/đau đớn; giá trị sinh học gồm sức khỏe/sự sống; giá trị tinh thần như chân lý, cái đẹp, công lý; và giá trị tôn thần/thiêng liêng.-HHN] Tiếng gọi của lương tâm không đưa ra bất kỳ chỉ dẫn ‘thực tiễn’ nào như thế, chỉ vì nó kêu gọi Dasein hướng tới tồn tại, hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó rất riêng tư.

Nếu lương tâm đưa ra những nguyên tắc hành động cụ thể — những nguyên tắc có thể liệt kê và tính toán một cách rành mạch — thì nó sẽ tước đi của sự tồn tại chính khả tính thực hiện hành động. Song, vì lương tâm rõ ràng không thể mang tính ‘tích cực’ theo cách đó, nên nó cũng không vận hành theo kiểu ‘chỉ thuần túy tiêu cực’. Lời kêu gọi không khai mở bất cứ điều gì [tr. 341] có thể được coi là tích cực hay tiêu cực theo nghĩa của những thứ mà chúng ta có thể bận tâm đến; bởi lẽ, điều mà nó hướng tới là một Hữu thể khác biệt hoàn toàn về mặt bản thể luận — đó chính là sự hiện hữu. Mặt khác, khi lời kêu gọi được thấu hiểu một cách đúng đắn, nó mang lại cho chúng ta điều mà xét theo nghĩa cấu thành hữu thể là ‘tích cực nhất’ trong tất cả — đó chính là cái khả tính riêng biệt nhất mà Dasein có thể tự trình ra cho chính mình, với tư cách là một sự kêu gọi-quay-về, đồng thời cũng là sự kêu gọi-hướng-tới, thúc đẩy Dasein bước vào cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó thật sự tại thời điểm đó. Lắng nghe lời kêu gọi một cách đích thực đồng nghĩa với việc tự đưa mình vào một hành động thật. Chỉ khi làm sáng tỏ cái cấu trúc hữu thể hàm ẩn trong sự thấu hiểu đối với lời kêu gọi, khi lắng nghe nó một cách đích thực, thì chúng ta mới có thể đạt được một phép Diễn giải hoàn toàn thỏa đáng về nội dung được truyền tải trong lời kêu gọi ấy.       

Trước hết, chúng ta phải chỉ ra rằng, khi được hiểu theo một cách thức phù hợp về mặt bản thể luận, những hiện tượng vốn quen thuộc trong cách diễn giải thông thường thực chất lại hướng về ý nghĩa bản nguyên của tiếng gọi lương tâm; tiếp đó, chúng ta cần cho thấy rằng cách diễn giải thông thường này nảy sinh từ những hạn chế trong cách Dasein tự diễn giải chính mình khi rơi vào trạng thái sa ngã; và vì trạng thái sa ngã vốn thuộc về tự thân ‘chăm lo’, nên cách diễn giải này — dù hiển nhiên đến đâu — cũng hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. Khi phê phán cách diễn giải thông thường về lương tâm dưới góc độ bản thể luận, người ta dễ rơi vào hiểu lầm rằng: nếu chứng minh được cách trải nghiệm lương tâm thường nhật không mang tính bản nguyên về phương diện cấu thành hữu thể, thì đồng nghĩa với việc đưa ra phán xét về ‘phẩm chất đạo đức’ thực hữu cụ thể của bất kỳ Dasein nào đang duy trì loại trải nghiệm đó. Cũng như việc hiểu không đầy đủ về lương tâm ở cấp độ bản thể luận không nhất thiết làm tổn hại trực tiếp đến sự hiện hữu, thì ngược lại, một cách diễn giải lương tâm đúng đắn về phương diện cấu thành hữu thể cũng không đảm bảo rằng cá nhân đó đã thực sự thấu hiểu tiếng gọi lương tâm theo cách thức thực hữu cụ thể. Một người trải nghiệm lương tâm theo cách thông thường vẫn có thể hoàn toàn nghiêm túc, cũng như một người có cách hiểu bản nguyên hơn về lương tâm vẫn có thể thiếu đi sự nghiêm túc đó. Tuy nhiên, cách diễn giải vốn bản nguyên hơn về phương diện cấu thành hữu thể sẽ khai mở những khả tính cho một cách thấu hiểu bản nguyên hơn về phương diện thực hữu cụ thể, miễn là cách khái niệm hóa bản thể luận của chúng ta không bị tách rời khỏi những trải nghiệm thực hữu của mình.

60. Cấu trúc hữu thể của Tiềm-năng-cho-Hữu-thể Đích thực được Minh chứng trong Lương tâm

Phép Diễn giải cấu thành hữu thể về lương tâm nhằm làm sáng tỏ một sự minh chứng rõ tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của Dasein, vốn hiện hữu ngay trong chính Dasein. Lương tâm không minh chứng bằng cách thông báo một điều gì đó một cách chung chung, mà bằng cách kêu gọi và triệu hồi chúng ta hướng tới Hữu-thể-có-tội. Việc minh chứng như vậy sẽ được ‘nắm bắt’ [tr.342] bằng lắng nghe, vốn thấu hiểu tiếng gọi lương tâm một cách trực diện, đúng theo ý nghĩa mà chính tiếng gọi đó hướng tới. Việc thấu hiểu lời kêu gọi là một phương thức Hữu thể của Dasein, và chỉ theo nghĩa đó, nó mới cung cấp cho chúng ta cái nội dung hiện tượng về những gì mà tiếng gọi của lương tâm minh chứng. Cách thấu hiểu đích thực về lời tiếng gọi này được mô tả là ‘mong muốn có lương tâm’. Đây là cách để cái Tự ngã riêng có nhất của một cá nhân tự hành động theo ý chí riêng của chính nó bằng Hữu-thể-có-tội, đồng thời thể hiện, xét trên bình diện hiện tượng, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực mà chính Dasein tự minh chứng. Cấu trúc hữu thể này cần được làm sáng tỏ. Chỉ khi đó mới có thể tiến tới việc xác định cái cấu thành nền tảng tính đích thực của hiện hữu Dasein, vốn đã được khai mở ngay trong chính Dasein.

Mong muốn có lương tâm – với tư cách tự thấu hiểu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng có nhất của bản thân – chính là một phương thức mà qua đó Dasein đã được khai mở. Trạng thái khai mở này được cấu thành từ diễn ngôn, tâm thế cũng như bằng thấu hiểu. Thấu hiểu theo nghĩa thực hữu cụ thể đồng nghĩa với việc mỗi cá nhân tự phóng chiếu bản thân vào cái khả tính thật nhất của chính mình để có được cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới. Tuy nhiên, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này chỉ có thể được thấu hiểu thông qua việc thực sự hiện hữu trong cái khả tính đó. Vậy thì loại tâm thái nào tương ứng với sự thấu hiểu này? Việc thấu hiểu tiếng gọi sẽ khai mở chính Dasein trong trạng thái bất an trong quá trình cá nhân hóa của nó. Trạng thái bất an này – vốn được hé lộ bằng thấu hiểu và được hé lộ cũng với nó – trở nên thực sự khai mở thông qua tâm thế Angst lo âu, vốn thuộc về sự thấu hiểu đó. Sự thật về lo âu của lương tâm mang lại bằng chứng hiện tượng là: khi thấu hiểu tiếng gọi, Dasein bị đặt vào tình thế phải đối diện trực tiếp với nỗi bất an của chính mình. Như vậy, mong-muốn-có-lương-tâm trở thành một trạng thái sẵn sàng đón nhận nỗi lo âu.

Nhân tố thiết yếu thứ ba trong trạng thái khai mở chính là diễn ngôn. Bản thân tiếng gọi là một loại diễn ngôn bản nguyên đối với Dasein; tuy nhiên, không hề tồn tại một ‘phản-diễn-ngôn’ tương ứng – chẳng hạn như việc một người bàn luận về những gì lương tâm đã nói, hay cố gắng biện minh cho bản thân. Khi thấu hiểu tiếng gọi, cá nhân tự từ bỏ mọi phản biện; điều này không phải vì họ bị một ‘thế lực mơ hồ’ nào đó tấn công hay ngăn cản việc lắng nghe, mà bởi vì chính hành động lắng nghe ấy đã tiếp nhận nội dung của tiếng gọi một cách minh bạch, không che giấu. Trong tiếng gọi đó, cái Hữu-thể-tội-lỗi thường trực của cá nhân được tái hiện; nhờ vậy, cái Tự ngã được kéo trở về từ những phiếm đàm ồn ào vốn gắn liền với quan niệm chung của das Man cái ‘họ’. Như vậy, phương thức Ngôn thuyết gắn liền với mong muốn có được lương tâm chính là sự im lặng.ix [Chen ngang: Đối với Heidegger, thuật ngữ Rede/ Articulative discourse Ngôn thuyết/diễn ngôn được định nghĩa là một biểu đạt trí lực của Dasein về thế giới. Để hiểu một cách đơn giản, Articulative discourse không phải là ngôn ngữ nói hay chữ viết thông thường. Nó là cấu trúc nền tảng giúp con người phân tách, sắp xếp và tạo ra ý nghĩa cho thực tại trước khi chúng ta thực sự phát ngôn thành lời. Bản chất của khái niệm này được làm rõ qua các khía cạnh cốt lõi sau: 1). Phân biệt giữa Rede/ Diễn ngôn và Sprache/ Ngôn ngữ: Heidegger chia hiện tượng này thành hai cấp độ bản thể luận: i) Rede/Discourse là cấu trúc có trước, pre-linguistic tiền-ngôn ngữ, mang tính phi ngôn từ. Đó là cách Dasein định hình thế giới thành các mối quan hệ có nghĩa, ví dụ: hiểu cái búa dùng để đóng đinh trước khi gọi tên nó; ii) Sprache/Language là sự biểu đạt ra bên ngoài của Rede bằng các hệ thống ký hiệu, từ vựng và ngữ âm. Heidegger khẳng định: ‘Chỉ vì có diễn ngôn mới có ngôn ngữ, chứ không phải ngược lại’. 2) Ý nghĩa của Artikulation/ Articulation/ Ngôn thuyết: từ Articulative ở đây không có nghĩa là ‘nói năng lưu loát’. Artikulation có nghĩa là chia tách và gắn kết. Khi Dasein tồn tại trong thế giới, thế giới không phải là một khối hỗn độn ngổn ngang. Articulative discourse hoạt động như một bộ khung giúp định hình rõ ràng - ‘khớp nối’ mạng lưới ý nghĩa đó: cái gì đi với cái gì, cái gì phục vụ cho mục đích gì. Nó biến một nhận thức nền tảng thành các cấu trúc ý nghĩa cụ thể. 3). Bốn yếu tố cấu thành của Diễn ngôn (Rede): Khi một diễn ngôn mang tính khớp nối được thực hiện, dù là nói hay nghĩ, nó luôn bao gồm 4 thành phần cấu trúc: i) Das Worüber/ Cái được nói đến - Chủ thể, thực tại hay sự vật đang được hướng tới; ii) Das Geredete/ Cái được phát ngôn - Bản thân nội dung hoặc cấu trúc ý nghĩa được đưa ra; iii) Mitteilung/ Truyền thông/Chia sẻ - đồng chia sẻ cái thế giới được hé mở đó với những người khác trong không gian chung; iv) Bekundung/ Biểu thị/Bộc lộ - cách Dasein bộc lộ tâm trạng/ tâm thế và sự hiện hữu của chính mình thông qua diễn ngôn đó. Tóm lại Articulative discourse của Heidegger là năng lực nền tảng giúp con người phân tách và tổ chức ý nghĩa của thế giới xung quanh. Nó đóng vai trò là chiếc cầu nối từ hiểu biết trực giác, trải nghiệm thực tế bên trong của con người sang hệ thống ngôn ngữ nói thành lời bên ngoài.-HHN]. Giữ im lặng được xem là một khả tính thiết yếu của diễn ngôn. Bất cứ ai giữ im lặng khi muốn truyền đạt điều gì đó cho người khác thì hẳn phải là người ‘có điều gì đó để nói’. Thông qua tiếng gọi này, Dasein tự nhận thức được tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng tư nhất của chính mình. Do đó, tiếng gọi này chính là một sự im lặng. Diễn ngôn của lương tâm không bao giờ được thốt lên thành lời.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Die existenziale Interpretation des Gewissens und die vulgare Gewissensauslegung’. [p.335]

2 ‘…wird es dann nicht gerade die Weise seines Seins verfallend-verdeckend auslegen, die es als Rufaus der Verlorenheit in die Besorgnisse des Man zurilckholen will.’ While we feel that the meaning of this sentence is probably as we have represented it, the grammar
is quite ambiguous. [p.335]

3 'vorweisend'. We have followed English idiom in translating 'vorweisen' as 'point forward' and 'vorrufen' as 'call forth'; but the prefix 'vor-' is the same in both cases, and means 'forward' as opposed to 'backward'. [p.337]

4 'selbstiindige'. See note I, p. I53, H. I I7 and note I, P· 351, H. 303. [p.337]

5 In this paragraph Heidegger takes pains to disassociate 'Gewissen' ('conscience') from the adjective 'gewiss' ('certain') and its derivatives-'Sichvergewissem' ('makingcertain'), 'Gewisswerden' ('becoming certain'), and 'Gewissheit' ('certainty'). [p.338]

6 'Das warnende Gewissen hat die Funktion der momentweisen Regelung eines Freibleibens von Verschuldungen.' The earlier editions contradict this by writing ‘…hat nicht die Funktion…’. [p.339]