Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT
[Tr. 289] Chung cục không nhất thiết đồng nghĩa với việc hoàn tất chính mình. Do đó, vấn đề trở nên cấp thiết hơn khi ta tự hỏi: theo nghĩa nào—nếu có—thì cái chết phải được quan niệm là chung cục của Dasein? Trước hết, ‘chung cục’ mang nghĩa ‘ngừng lại’, và từ này mang nghĩa đó theo những cách thức khác biệt về mặt bản thể luận. Cơn mưa ngừng rơi; nó không còn hiện-diện-vô-tri nữa. Con đường kết thúc; kết thúc như vậy không làm con đường biến mất, nhưng ngừng lại vẫn mang tính quy định đối với con đường—với tư cách là con đường cụ thể này—vốn đang hiện-diện-vô-tri. Vì thế, chung cục—với tư cách là ngừng lại—có thể mang nghĩa ‘chuyển sang trạng thái không còn hiện-diện-vô-tri hoặc là ‘chỉ hiện-diện-vô-tri khi chung cục ập đến’. Loại chung cục thứ hai này, đến lượt nó, có thể mang tính quy định đối với một sự vật đang hiện-diện-vô-tri nhưng theo cách chưa hoàn tất—chẳng hạn như khi một con đường bị ngắt quãng giữa chừng vì đang trong quá trình thi công; hoặc đúng hơn, nó có thể cấu thành nên Endigkeit/ Beendigung/ finishedness ‘trạng thái hoàn tất’ của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, chẳng hạn như bức tranh được hoàn tất với nét cọ cuối cùng. Tuy nhiên, chung cục theo nghĩa ‘được hoàn tất’ lại không bao hàm Erfüllung/Fulfilling trạng thái viên mãn. [Chen ngang: Trong các bản dịch tiếng Anh tác phẩm Sein und Zeit của Martin Heidegger, thuật ngữ ‘finishedness’ được dịch từ Endigkeit hoặc Beendigung / vollendet sein trong những ngữ cảnh cụ thể, trong khi fulfilling viên mãn/hoàn thành trọn vẹn được dịch từ Erfüllung gắn liền với Erfüllen hoặc Vollenden. Heidegger đưa ra các thuật ngữ này để khảo sát tính toàn vẹn về mặt cấu trúc, cái chết và thời gian tính của Dasein: 1). Endigkeit/ Beendigung/ Finishedness - Khi phân tích cách Dasein hiện hữu người đi đến chung cục, Heidegger phân biệt cái chết của con người với trạng thái ‘hoàn tất’ đơn thuần của các vật thể vô tri. Khái niệm: Một món công cụ hay một ngôi nhà được coi là ‘hoàn tất’ khi công việc chế tạo hoặc xây dựng chúng đã xong. Một khi đã hoàn tất, nó trở thành vật thể vorhanden hiện-diện-vô-tri. Tuy nhiên, Dasein không bao giờ đơn thuần ‘hoàn tất’ theo cách này cho đến khi cái chết cận kề; bởi lẽ, chừng nào còn tồn tại, nó luôn là một tập hợp các khả tính chưa hoàn tất. Các thuật ngữ tiếng Đức Endigkeit Tính hữu hạn/Trạng thái chung cục; Beendigung kết thúc/ chấm dứt; Fertigsein Trạng thái hoàn tất/sẵn sàng—dùng để mô tả khi một sản phẩm vật lý hoặc công cụ đã được hoàn thiện. 2) Erfüllung/ Vollendung/ Fulfilling Heidegger lưu ý rằng chung cục không nhất thiết đồng nghĩa với việc hiện thực hóa các tiềm năng. Một cuộc đời có thể đi đến chung cục mà không đạt được sự viên mãn, và ngược lại, tình trạng viên mãn có thể diễn ra trước khi cái chết về mặt thể xác xảy ra. Khái niệm Fulfilling viên mãn/hoàn thành trọn vẹn - là một phương thức cụ thể của trạng thái hoàn tất. Nó biểu thị sự hiện thực hóa triệt để khả năng hiện hữu cốt yếu nhất của chính cái Seinkönnen tiềm-năng-cho-Hữu-thể. Điều này có nghĩa là đạt đến độ chín muồi hoặc sự trọn vẹn đầy hoa trái của một sự hiện hữu, thay vì chỉ đơn thuần là dừng lại hay cạn kiệt thời gian. Các thuật ngữ tiếng Đức Erfüllung hoàn thành/ viên mãn, Vollendung trọn vẹn/ hoàn hảo, Ausreifen chín muồi—Heidegger nổi tiếng với việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ về quả chín để diễn tả một kết thúc viên mãn thay vì chỉ là sự dừng lại đơn thuần.- HHN].
Mặt khác, bất cứ điều gì cần đạt đến viên mãn thì thực sự phải đạt được trạng thái hoàn tất khả dĩ đối với nó. Viên mãn là một phương thức của ‘trạng thái hoàn tất’ và được xây dựng dựa trên nó. Bản thân trạng thái hoàn tất chỉ có thể tồn tại như một hình thức xác định của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri hoặc sẵn-có-để-dùng. Ngay cả chung cục theo nghĩa ‘biến mất’ cũng có thể có những biến thể tùy thuộc vào loại Hữu thể mà một thực thể sở hữu. Cơn mưa kết thúc—nghĩa là nó đã biến mất. Ổ bánh mì kết thúc—nghĩa là nó đã bị dùng hết và không còn sẵn-có-để-dùng nữa. Không phương thức kết thúc nào trong số này có thể mô tả một cách thỏa đáng cái chết như là ‘chung cục’ của Dasein. Nếu cái chết—với tư cách là Zu-Ende-sein/ Being-at-an-end Hữu-thể-tại-một-chung-cục—được hiểu theo nghĩa một chung cục thuộc loại hình mà chúng ta đã thảo luận, thì khi đó Dasein sẽ bị xem như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri hoặc sẵn-có-để-dùng. Trong cái chết, Dasein không đạt đến sự viên mãn cũng không đơn thuần biến mất; nó không trở nên hoàn tất và cũng không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát như một vật thể sẵn-có-để-dùng.
Ngược lại, cũng như Dasein vốn dĩ đã là cái ‘vẫn-chưa’ của chính mình—và liên tục là cái ‘vẫn-chưa’ đó chừng nào nó còn tồn tại—thì nó cũng đã là chung cục của chính mình. Cái ‘chung cục’ mà chúng ta nhắm đến khi nói về cái chết không biểu thị trạng thái Zu-Ende-sein/ Being-at-an-end Hữu-thể-tại-một-chung-cục của Dasein, mà biểu thị một Sein zum Ende Being-towards-the-end Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục của thực thể này. Cái chết là một cách thức hiện hữu mà Dasein tiếp nhận ngay khi nó bắt đầu tồn tại. ‘Ngay khi con người bước vào cuộc sống, hắn cũng đã đủ già để chết.’iv [Chen ngang: „Sobald ein Mensch zum Leben kommt, sogleich ist er alt genug zu sterben.“ Câu nói nổi tiếng mà Martin Heidegger trích dẫn ở đây thuộc Chương XX của tác phẩm trung cổ Der Ackermann aus Böhmen - Người cày ruộng xứ Bohemia – của Johannes von Tepl viết khoảng năm 1400 bằng tiếng Đức. Câu này nhấn mạnh quan điểm của Heidegger cho rằng cái chết không phải là một sự kiện xảy ra ở cuối đời, mà là một khả năng hữu thể thuộc về Dasein hiện hữu người ngay từ khoảnh khắc họ sinh ra.-HHN] Cái kết cục—với tư cách là Sein zum Ende/ Being-towards-the-end/ Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục—cần được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận dựa trên loại Hữu thể của Dasein. Và có lẽ, cái khả tính về một Hữu thể của cái ‘vẫn-chưa’ – cái nằm ‘trước’ cái ‘chung cục’1 – sẽ chỉ trở nên [tr.290] dễ hiểu nếu bản chất của cái chung cục được xác định về phương diện hữu thể. Việc làm sáng tỏ tính hữu thể về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục, ngay từ đầu, cũng sẽ mang lại cho chúng ta một cơ sở thỏa đáng để xác định ý nghĩa của việc bàn luận về tổng thể tính của Dasein, nếu quả thực tổng thể tính này được cấu thành bởi cái chết với tư cách là cái ‘chung cục’.
Nỗ lực của chúng ta nhằm thấu hiểu tổng thể tính của Dasein –bằng cách chọn xuất phát điểm là việc làm rõ khái niệm ‘vẫn chưa’ và tiếp tục với việc mô tả đặc tính của ‘chung cục’ – đã không đưa chúng ta đến đích. Nó chỉ cho thấy, theo cách phủ định, rằng cái ‘vẫn-chưa’ mà Dasein vốn luôn là như vậy trong mọi trường hợp, không thể được Diễn giải như một điều gì đó còn dang dở, chưa hoàn tất. Cái chung cục mà Dasein hướng tới trong quá trình hiện hữu của mình vẫn chưa được định nghĩa thỏa đáng nếu chỉ dựa vào khái niệm Zu-Ende-sein/ Being-at-an-end Hữu-thể-tại-một-chung-cục. Tuy nhiên, những suy xét này đồng thời cũng cho thấy cần phải thay đổi hướng tiếp cận. Việc mô tả khẳng định các hiện tượng đang được xem xét (Hữu-thể-vẫn-chưa, cái chung cục, tổng thể tính) chỉ có thể thành công khi nó định hướng một cách dứt khoát vào trạng thái Hữu thể của Dasein. Nhưng nếu chúng ta có được sự thấu hiểu về phạm vi thuộc tính của các cấu trúc ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ vốn cần phải được lý giải về mặt bản thể luận gắn liền với Dasein – thì điều này sẽ giúp bảo đảm, theo cách phủ định, rằng cách tiếp cận dứt khoát đó không đi chệch hướng. Nếu thực hiện việc diễn giải khẳng định về cái chết và đặc tính với tư cách ‘kết thúc’ của nó thông qua phân tích hữu thể, thì chúng ta phải lấy trạng thái cơ bản của Dasein mà ta đã xác định được – là hiện tượng ‘chăm lo’ – làm đầu mối.
49. Phân biệt giữa Phân tích hữu thể về Cái chết và các Diễn giải Khả dĩ khác về Hiện tượng này
Tính chất dứt khoát trong phép Diễn giải mang tính bản thể luận của chúng ta về cái chết trước hết cần được củng cố bởi việc chúng ta kỳ vọng nó sẽ cung cấp bất kỳ thông tin hay chỉ dẫn nào về vấn đề này.2 Xét theo nghĩa rộng nhất, cái chết là một hiện tượng của sự sống. Sự sống cần được hiểu là một loại Hữu thể mang trong mình đặc tính Hữu-thể-trong-thế-giới. Chỉ khi loại Hữu thể này được định hướng theo cách thức loại trừ đối với Dasein, thì ta mới có thể xác định bản chất của nó về phương diện bản thể luận. Ngay cả Dasein cũng có thể được xem xét thuần túy như là sự sống. Khi câu hỏi được đặt ra từ quan điểm sinh học và sinh lý học, thì Dasein bước vào phạm vi của Hữu thể như là thế giới của động vật và thực vật. Trong lĩnh vực này, ta có thể thu thập dữ liệu và số liệu thống kê về tuổi thọ của thực vật, động vật và con người bằng cách xác định chúng ở bình diện ontish thực hữu. Người ta có thể nhận thấy các mối liên hệ giữa tuổi thọ, sự sinh sôi nảy nở và [tr.291] tăng trưởng. Đồng thời, cũng có thể khảo sát các ‘kiểu’ chết, các nguyên nhân, các ‘cơ cấu’ cũng như những phương thức mà cái chết ập đến.v Ẩn sau cuộc khảo sát mang tính sinh học-thực hữu về cái chết này là một vấn đề thuộc phạm vi bản thể luận. Chúng ta vẫn phải đặt câu hỏi rằng bản chất bản thể luận của cái chết được định nghĩa như thế nào trong khuôn khổ bản chất bản thể luận của sự sống. Theo một cách nào đó, điều này vốn đã được xác định ngay trong quá trình khảo sát mang tính ontish thực hữu về cái chết. Các cuộc khảo sát như vậy vận hành dựa trên những quan niệm sơ bộ về sự sống và cái chết—những quan niệm đã được làm sáng tỏ ở mức độ nhất định. Những quan niệm sơ bộ này cần được phác thảo lại bởi bản thể luận về Dasein. Trong khuôn khổ bản thể luận về Dasein—vốn có vị thế bao trùm lên bản thể luận về sự sống—thì phép phân tích hữu thể về cái chết lại chịu sự chi phối bởi việc mô tả trạng thái cơ bản của Dasein. Chúng ta gọi chung cục của thực thể sống là ‘lụi tàn’.
Dasein cũng ‘có’ cái chết của mình, theo cách thức phù hợp với bất kỳ thực thể sống nào; và nó sở hữu cái chết đó không phải trong sự tách biệt mang tính ontish thực hữu, mà là dưới sự đồng quy định bởi loại Hữu thể bản nguyên của nó. Chính vì vậy, Dasein có thể chung cục mà không thực sự ‘chết’, mặc dù mặt khác, với tư cách là Dasein, nó không đơn thuần chỉ ‘lụi tàn’. Chúng ta gọi hiện tượng trung gian này là ‘qua đời’3. Hãy quy ước thuật ngữ ‘chết’ để chỉ cách thức Hữu thể mà trong đó Dasein hướng về cái chết4 của chính mình. Theo đó, ta phải khẳng định rằng Dasein không bao giờ ‘lụi tàn’. Tuy nhiên, Dasein chỉ có thể Ableben ‘ra đi’ chừng nào nó còn đang trong quá trình ‘chết’. [Chen ngang: Danh từ tiếng Đức Ableben có nghĩa là ra đi/qua đời/từ trần hoặc ‘cái chết’ là một động từ được chuyển thành danh từ, hình thành từ sự kết hợp của hai thành phần: tiền tố ab- và động từ gốc leben. Quá trình phát triển lịch sử của từ này cho thấy một sự chuyển đổi đáng chú ý về nghĩa, từ ‘sống trọn những ngày tháng của mình’ sang ‘chung cục cuộc đời’: 1.) Phân tích cấu trúc Tiền tố ab-: i) Trong ngữ cảnh này, tiền tố đóng vai trò biểu thị sự hoàn tất, tách biệt, rời đi hoặc sự hao mòn/kết thúc - tương tự như các từ ‘off’, ‘away’ hoặc ‘down’ trong tiếng Anh; ii) Động từ leben nghĩa là ‘sống’, có gốc từ tiếng Đức Thượng cổ lēbēn và tiếng Đức nguyên thủy libjaną – vốn bản nguyên từ Ngữ hệ Ấn-Âu nguyên thủy mang nghĩa ‘bám víu’, ‘nán lại’ hoặc ‘duy trì’. 2) Sự thay đổi nghĩa theo thời gian: i) Từ này không phải lúc nào cũng mang nghĩa ‘chết’, các nhà ngôn ngữ học lịch sử xác định nó đã phát triển qua các giai đoạn rõ rệt của Thế kỷ 14–16: Trong tiếng Đức cổ aflēven và tiếng Đức mới giai đoạn đầu, thì động từ ableben ban đầu có nghĩa là ‘sống qua’, ‘trải qua’ hoặc ‘dành thời gian để sống’. Đến Thế kỷ 17 nghĩa của từ chuyển dịch theo hướng ẩn dụ thành ‘sống trọn cuộc đời đến phút cuối’ hoặc ‘kết thúc cuộc đời’. Hệ quả là ableben chuyển thành động từ mang nghĩa ‘qua đời’ hoặc ‘chấm dứt sự sống’ - theo nghĩa đen là kết thúc cuộc sống. Thế kỷ 19 đến nay - mặc dù hiếm gặp động từ ableben và nó mang sắc thái cổ, dạng danh từ hóa das Ableben—lại được định hình vững chắc như một danh từ trang trọng, tao nhã và mang tính uyển ngữ để mô tả cái chết của ai đó. Ngày nay, thường chỉ bắt gặp từ Ableben trong các ngữ cảnh chính thức, văn chương hoặc mang tính trang trọng, chẳng hạn như trong cáo phó hoặc các văn bản pháp lý.-HHN]. Các nghiên cứu y học và sinh học về cuộc ‘ra đi’ có thể hàm ngụ những kết quả mang ý nghĩa bản thể luận, miễn là định hướng cơ bản cho phép Diễn giải hữu thể về cái chết đã được xác lập vững chắc. Hay liệu bệnh tật và cái chết—ngay cả dưới góc độ y học nói chung—có cần phải được quan niệm trước hết như là các hiện tượng mang tính hữu thể hay không?
Việc diễn giải mang tính hữu thể về cái chết có vị thế ưu tiên so với bất kỳ nghiên cứu sinh học hay bản thể luận nào về sự sống. Đồng thời, nó cũng là nền tảng cho mọi cuộc khảo sát về cái chết thuộc các lĩnh vực như tiểu sử, lịch sử, dân tộc học hay tâm lý học. Trong bất kỳ ‘loại hình học’ nào về ‘cái chết’ (như một cách mô tả các điều kiện và phương thức mà cuộc ‘ra đi’ được ‘trải nghiệm’), thì khái niệm về cái chết vốn đã được mặc nhiên thừa nhận. Hơn nữa, tâm lý học về ‘cái chết’ thường cung cấp thông tin về đời sống của người đang hấp hối/chết hơn là về chính bản chất của cái chết. Điều này đơn giản phản ánh thực tế rằng khi Dasein chết đi – và ngay cả khi nó chết một cách đích thực – thì nó không nhất thiết phải ‘trải nghiệm’ về sự chấm dứt mang tính thực tại của chính mình, hay chết trong một trải nghiệm như vậy. Tương tự, cách thức cái chết được nhìn nhận [tr.292] ở các dân tộc sơ khai, cũng như cách họ ứng xử với nó thông qua ma thuật và nghi lễ, chủ yếu làm sáng tỏ sự hiểu biết về Dasein; tuy nhiên, việc Diễn giải hiểu biết này lại đòi hỏi một phép phân tích hữu thể và một quan niệm tương ứng về cái chết.
Mặt khác, trong phép phân tích bản thể luận về ‘Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục’, không có tiên liệu nào về việc chúng ta sẽ chọn một lập trường hữu thể cụ thể nào đó đối với cái chết. Nếu ‘cái chết’ được định nghĩa là ‘chung cục’ của Dasein – tức là của Hữu-thể-trong-thế-giới – thì điều này không hàm ý bất kỳ quyết định mang tính ontish thực hữu nào về việc liệu ‘sau cái chết’ có thể tồn tại một dạng Hữu thể khác hay không (dù cao hơn hoặc thấp hơn), hay liệu Dasein có ‘sống tiếp’, ‘tồn tại vượt quá’ chính nó, hoặc ‘bất tử’ hay không. Cũng không có quyết định ontish thực hữu nào được đưa ra về ‘thế giới bên kia’ và khả năng tồn tại của nó, cũng như về ‘thế giới này’;5 vấn đề không phải là đề xuất các chuẩn mực hay quy tắc ứng xử với cái chết nhằm mục đích ‘giáo hóa’. Thay vào đó, phép phân tích của chúng ta về cái chết vẫn hoàn toàn ‘thuộc về trần thế này’, theo nghĩa nó chỉ diễn giải hiện tượng đó dựa trên cách thức nó thâm nhập vào một Dasein cụ thể như một khả tính Hữu thể của nó. Chỉ khi cái chết được quan niệm trong toàn bộ bản chất bản thể luận của nó, chúng ta mới có cơ sở phương pháp luận vững chắc để đặt câu hỏi về những gì có thể xảy ra sau cái chết; chỉ khi đó, câu hỏi này mới mang ý nghĩa và sự biện minh xác đáng. Việc liệu một câu hỏi như vậy có phải là một câu hỏi lý thuyết khả thể hay không sẽ không được quyết định tại đây. Phép diễn giải bản thể luận về cái chết gắn liền với cái trần thế này có vị thế ưu tiên so với bất kỳ sự suy đoán hữu thể luận nào về thế giới bên kia. Cuối cùng, cái có thể thảo luận dưới chủ đề ‘siêu hình học về cái chết’ đều nằm ngoài phạm vi phân tích hữu thể về cái chết. Những câu hỏi về việc cái chết đã ‘đi vào thế giới’ như thế nào và khi nào, cũng như ‘ý nghĩa’ của nó—với tư cách là cái ác và nỗi thống khổ trong tổng thể các thực thể—là những câu hỏi tất yếu đòi hỏi phải hiểu biết không chỉ về tính chất của Hữu thể gắn liền với cái chết, mà còn về cái bản thể luận của tổng thể các hiện hữu nói chung, và đặc biệt là việc làm sáng tỏ về mặt bản thể luận đối với cái ác và tính phủ định nói chung.
Về mặt phương pháp luận, phép phân tích hữu thể đóng vai trò bao trùm đối với các vấn đề thuộc về sinh học, tâm lý học, biện thần luận hay thần học về cái chết. Khi xét ở bình diện ontish thực hữu, các kết quả phân tích cho thấy tính hình thức và trạng thái trống rỗng đặc thù của bất kỳ sự mô tả đặc tính nào về mặt bản thể luận. Tuy nhiên, điều đó không được phép che khuất tầm nhìn của chúng ta trước cấu trúc phong phú và phức tạp của hiện tượng này. Nếu Dasein nói chung không bao giờ có thể được tiếp cận như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri — bởi lẽ Hữu-thể-khả-thể theo cách thức riêng của nó lại thuộc về loại Hữu thể của Dasein — thì ta càng khó có thể kỳ vọng sẽ đọc ra được cấu trúc bản thể luận của cái chết một cách đơn giản, nếu cái chết thực sự là một khả tính đặc thù của Dasein. Mặt khác, phép phân tích ấy không thể cứ mãi bám víu vào một quan niệm về cái chết [tr.293] vốn được hình thành một cách ngẫu nhiên và tùy tiện. Ta chỉ có thể chế ngự thái độ tùy tiện này bằng cách xác định trước đặc tính bản thể luận của loại Hữu thể mà trong đó cái ‘chung cục’ đi vào đời sống thường nhật trung bình của Dasein.
Để làm được điều đó, ta phải hình dung trọn vẹn các cấu trúc của đời sống thường nhật mà ta đã trình bày trước đó. Việc các khả tính existentiell thực hữu cụ thể của ‘Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết’ hòa hợp với phép phân tích hữu thể về cái chết là điều được hàm chứa trong bản chất của mọi khảo sát bản thể luận. Hơn bao giờ hết, việc định nghĩa hữu thể đối với các khái niệm phải tách biệt khỏi mọi cam kết thực hữu cụ thể,6 đặc biệt là đối với cái chết — nơi mà đặc tính của Dasein với tư cách là khả tính cho phép nó tự bộc lộ một cách chính xác nhất. Vấn đề mang tính hữu thể chỉ nhắm tới việc trình bày cấu trúc bản thể luận về ‘Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục’ của Dasein.vi
50. Phác thảo Sơ bộ về Cấu trúc Hữu thể-Bản thể luận của cái chết
Từ những xem xét của chúng ta về tổng thể tính, chung cục và những gì còn dang dở, đã nảy sinh sự cần thiết phải Diễn giải hiện tượng cái chết như là ‘Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục’, và thực hiện điều đó theo khuôn khổ trạng thái cơ bản của Dasein. Chỉ bằng cách đó, ta mới có thể làm sáng tỏ mức độ mà Hữu-thể-một-chỉnh-thể— vốn được cấu thành bởi Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục—trở nên khả thể ở tự thân Dasein, phù hợp với cấu trúc Hữu thể của nó. Chúng ta đã thấy rằng chăm lo là trạng thái cơ bản của Dasein. Ý nghĩa bản thể luận của thuật ngữ ‘chăm lo’ đã được diễn đạt qua ‘định nghĩa’: ‘Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình- -đã-ở-trong (thế giới) với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh các hiện hữu mà ta bắt gặp (bên-trong-thế-giới)’.vii Trong định nghĩa này, các đặc tính nền tảng về Hữu thể của Dasein được biểu đạt: Existenz/ existence tính hiện hữu (trong cái ‘vượt-trước-chính-mình’), Faktizität/ facticity thực tính (trong cái Hữu-thể-đã-ở-trong), và sự sa ngã (trong cái ‘Hữu-thể-bên-cạnh’). Nếu quả thực cái chết thuộc về Hữu thể của Dasein theo một nghĩa đặc thù, thì cái chết (hay Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục) phải được định nghĩa theo khuôn khổ các đặc tính này.
Trước hết, chúng ta cần làm sáng tỏ — thông qua một phác thảo sơ bộ — cách thức mà Existenz/ existence tính hiện hữu, Faktizität/ facticity thực tính và sự sa ngã của Dasein bộc lộ mình trong hiện tượng cái chết. Phép Diễn giải coi cái vẫn-chưa — và cùng với nó là cái vẫn-chưa tột-cùng, tức là cái chung cục của Dasein — như một điều gì đó còn đang chờ hoàn tất, đã bị bác bỏ vì không thỏa đáng; lý do là nó chứa đựng sự sai lệch về mặt bản thể luận khi biến Dasein thành một cái gì đó hiện-diện-vô-tri. Hữu-thể-tại-một-chung-cục xét về mặt existentially hữu thể hàm ý Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục. Cái cái vẫn-chưa tột cùng mang đặc tính của một cái gì đó hướng tới cái mà Dasein hành xử. Cái chung cục là cái đang chực chờ đối với Dasein. Cái chết không phải là một điều gì đó chưa hiện-diện-vô-tri, cũng không phải là điều gì đó rốt cuộc vẫn [tr.294] còn chờ hoàn tất nhưng đã được thu hẹp lại ở mức tối thiểu. Cái chết là điều gì đó đứng trước chúng ta — một điều gì đó đang chực chờ.7 Tuy nhiên, có rất nhiều điều có thể đang chực chờ đối với Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Cái đặc tính đang chực chờ không phải là nét đặc thù riêng của cái chết. Trái lại, phép Diễn giải này thậm chí có thể khiến ta cho rằng cái chết phải được hiểu theo nghĩa của một sự kiện đang chực chờ nào đó mà ta bắt gặp trong môi trường xung quanh. Ví dụ, một cơn bão, việc sửa sang lại ngôi nhà, hay sự xuất hiện của một người bạn có thể là những điều đang chực chờ; và đây là những thực thể lần lượt vốn hiện-diện-vô-tri, sẵn-có-để-dùng, và có-đó-cùng-ta. Cái chết đang chực chờ không sở hữu loại Hữu thể như vậy.
Nhưng cũng có thể có những điều đang chực chờ đối với Dasein, chẳng hạn như một chuyến đi, một cuộc tranh luận với những Kẻ Khác, hay việc từ bỏ một cái gì đó thuộc loại mà chính Dasein có thể trở thành — tức là các khả tính Hữu thể của chính nó, vốn dựa trên cái Hữu thể với những Kẻ Khác. Cái chết là một khả-tính-của-Hữu thể mà chính Dasein phải đảm nhận trong mọi trường hợp. Với cái chết, Dasein đứng trước chính mình trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của bản thân nó. Đây là một khả tính mà vấn đề không gì khác ngoài cái Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein. Cái chết của nó là cái khả tính không-còn-có-thể-hiện-hữu-ở-đó-nữa.8 Nếu Dasein đứng trước chính mình với tư cách là khả tính này, thì nó đã hoàn toàn được quy định bởi cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính nó. Khi nó đứng trước chính mình theo cách đó, mọi mối liên hệ của nó với bất kỳ Dasein nào khác đều bị xóa bỏ.9 Cái khả tính riêng biệt nhất và không-có-tính-liên-hệ10 này đồng thời cũng là khả tính tột cùng. Với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, Dasein không thể vượt qua khả tính về cái chết. Chết là cái khả tính về bất khả tính tuyệt đối của Dasein. Như vậy, cái chết tự bộc lộ là khả tính thuộc về riêng mỗi cá nhân, không có tính liên hệ, và là vốn không thể bị vượt qua. Theo đúng nghĩa, cái chết là một điều gì đó đang chực chờ theo cách đặc thù. Cái khả tính hữu thể existential possibility của nó dựa trên thực tế là Dasein về bản chất disclosed to itself tự khai mở với chính mình, và thực sự khai mở như là một hiện hữu luôn đi-trước-chính-mình. Yếu tố này trong cấu trúc chăm lo có sự cụ thể hóa bản nguyên nhất trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết. Như một hiện tượng, Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục [tr.295] trở nên rõ ràng hơn khi được hiểu là Hữu-thể-hướng-đến đặc thù đó của Dasein mà chúng ta đã mô tả.
Tuy nhiên, cái khả tính riêng biệt nhất, không có tính liên hệ và không thể bị vượt qua này, không phải là thứ mà Dasein sau đó hay ngẫu nhiên mới tự tạo ra cho mình trong quá trình Hữu thể của nó. Trái lại, nếu Dasein hiện hữu, thì nó đã bị ném vào khả tính này rồi. Thông thường và phần lớn thời gian, Dasein không có bất kỳ tri thức tường minh hay thậm chí tri thức lý thuyết nào về việc nó đã bị phó mặc cho cái chết, và do đó cái chết thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới. Tình trạng bị-ném-vào-cái-chết tự bộc lộ với Dasein theo một cách thức bản nguyên và ấn tượng hơn trong cái tâm thế mà chúng ta gọi là lo âu.viii Lo âu khi đối diện với cái chết chính là tâm thế lo âu ‘đối mặt với’ tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn thuộc về riêng mỗi cá nhân, không có tính liên hệ và không thể bị vượt qua. Khi đối diện với cái mà ta lo âu lại chính là Hữu-thể-trong-thế-giới. Đối tượng của nỗi lo âu này chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein. Không được nhầm lẫn lo âu trước cái chết với nỗi sợ hãi trước sự chấm dứt sự sống của bản thân. Nỗi lo âu này không phải là một trạng thái tâm lý ngẫu nhiên hay nhất thời biểu hiện sự ‘yếu đuối’ ở một cá nhân nào đó; trái lại, với tư cách là một trạng thái tâm thức cơ bản của Dasein, nó chính là trạng thái disclosedness khai mở của cái sự thật là Dasein hiện hữu như một Hữu-thể-bị-ném về điểm chung cục của chính mình. Như vậy, khái niệm hữu thể về cơn ‘hấp hối’ được làm sáng tỏ như là Hữu-thể-bị-ném về phía tiềm-năng-cho-Hữu-thể tột cùng của chính mình—một tiềm năng mang tính phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua hay thay thế. Mức độ chính xác trong cách hiểu này đạt được nhờ việc phân biệt nó với tình trạng biến mất thuần túy, với cảnh lụi tàn đơn thuần, và cuối cùng là với “Trải nghiệm’ cuộc dã từ.11
Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục không nảy sinh từ một thái độ xuất hiện ngẫu nhiên nào đó, cũng không hình thành như một thái độ đơn thuần; nó thuộc về bản chất trạng thái bị-ném-vào của Dasein—vốn tự bộc lộ qua một tâm thế theo cách này hay cách khác. Việc Dasein thực sự ‘biết’ hay ‘không biết’ về chính cái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục của mình chỉ là cái biểu đạt cái existentiell khả tính thực hữu cụ thể về những cách thức khác nhau để duy trì bản thân trong Hữu thể này. Trên thực tế, có nhiều người—trước hết và phần lớn—không biết gì về cái chết; nhưng điều này không thể bị coi là cơ sở để chứng minh rằng Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không thuộc về Dasein một cách ‘phổ quát’. Nó chỉ chứng minh rằng, trước hết và phần lớn, Dasein che đậy chính Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của mình và trốn chạy để khỏi phải đối diện với nó. Trên thực tế, Dasein đang hấp hối chừng nào nó còn hiện hữu, nhưng trước hết và phần lớn, nó thực hiện điều đó qua nẻo sa ngã. Bởi lẽ, sự hiện hữu thực tế không chỉ đơn thuần là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới một cách chung chung và không phân biệt, mà nó còn luôn bị cuốn hút vào cái ‘thế-giới’ với những mối bận tâm của nó. Trong nẻo Hữu-thể-bên-cạnh sa ngã này, việc trốn chạy khỏi tính trạng thái xa lạ/bất an bắt đầu lộ diện; và điều này đồng nghĩa với việc trốn chạy cuộc diện kiến với chính Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của bản thân. Hiện hữu tính, thực tính và sa ngã tất cả đều đặc trưng cho cái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục, và do đó, chúng cấu thành nên quan niệm hữu thể về cái chết. Xét về khả tính bản thể luận, cơn hấp hối bắt rễ từ chăm lo.
Nhưng nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thuộc về bản chất và cội nguồn Hữu thể của Dasein, thì nó cũng phải được trưng ra trong đời sống thường nhật, dù là theo một cách thức ‘không-chân-thực’ ngay từ ban đầu.12 Và nếu Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục mang lại khả tính hữu thể cho một Hữu-thể-một-chỉnh-thể mang tính thực hữu cụ thể của Dasein, thì điều này sẽ cung cấp sự xác nhận mang tính hiện tượng cho cái luận điểm cho rằng ‘chăm lo’ chính là khuôn khổ bản thể luận cho tổng thể tính cấu trúc chỉnh thể của Dasein. Tuy nhiên, nếu muốn đưa ra một sự biện minh đầy đủ về mặt hiện tượng cho nguyên lý này, thì việc phác thảo sơ bộ mối liên hệ giữa Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và chăm lo là chưa đủ; trên hết, ta cần thấy được mối liên hệ này trong hình thái cụ thể gần gũi nhất với Dasein - đó là tính thường nhật của nó.
51. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và Tính thường nhật của Dasein
Khi trình bày về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ở mức độ thường nhật phổ quát, ta cần định hướng dựa trên những cấu trúc của tính thường nhật mà ta đã xác định trước đó. Trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, Dasein tự định hướng bản thân như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt. Tuy nhiên, cái Tự ngã trong tính thường nhật lại chính là das Man cái ‘họ’.ix Cái ‘họ’ được cấu thành bởi cách thức mà sự vật được diễn giải công khai, vốn bộc lộ qua phiếm đàm. Theo đó, phiếm đàm phải hiển hiện cách thức mà Dasein thường nhật tự diễn giải về loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của chính mình. Nền tảng của bất kỳ diễn giải nào cũng là một hành vi thấu hiểu; hành vi này luôn đi kèm với một Befindlichkeit tâm thế, hay nói cách khác, nó mang một tâm trạng. Vì vậy, cần đặt câu hỏi: Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết được khai mở như thế nào bằng thấu hiểu vốn ẩn trong phiếm đàm của cái ‘họ’ cùng tâm thế của nó? Cái ‘họ’ thể hiện thấu hiểu ra sao với khả tính riêng biệt nhất của Dasein—vốn phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua? Tâm thế nào khai mở cho cái ‘họ’ biết rằng nó đã bị phó mặc cho cái chết, và theo cách thức nào?
Trong trạng thái công khai của sự tương tác giữa người với người ở mức độ thường nhật, cái chết được ‘biết đến’ như một sự cố xảy ra liên tục—với tư cách là một ‘trường hợp tử vong’. 14 Ai đó ‘chết’, dù là người láng giềng hay người xa lạ. [tr.297] Những người mà ta không quen biết vẫn đang ‘hấp hối’ mỗi ngày, mỗi giờ. ‘Cái chết’ được bắt gặp như một sự kiện quen thuộc diễn ra ngay trong-thế-giới. Với tư cách đó, nó vẫn giữ vẻ không-gây-chú-ý đặc trưng cho những gì ta bắt gặp trong đời sống thường nhật. Cái ‘họ’ đã kịp thời ‘cất giữ’ một phép diễn giải cho sự kiện này. Người ta nói về nó bằng cách lảng tránh—hoặc nói thẳng ra, hay là theo lối e dè, ngập ngừng—như thể muốn bảo rằng: “Rồi cũng sẽ có ngày đến lượt mình; nhưng lúc này chuyện đó chẳng liên quan gì đến chúng ta cả.”15 Việc phân tích cụm từ ‘người ta chết’ bộc lộ một cách rõ ràng loại Hữu thể vốn thuộc về cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật. Trong cách nói năng như vậy, cái chết được hiểu như một cái gì đó bất định; trên hết, nó hẳn sẽ đến từ một nơi nào đó, nhưng trước mắt thì vẫn chưa hiện-diện-vô-tri ngay bên cạnh đối với cá nhân, và do đó không gây ra mối đe dọa nào. Cách diễn đạt ‘người ta chết’ lan truyền quan điểm cho rằng đối tượng bị cái chết chạm tới, theo một nghĩa nào đó, chính là cái ‘họ’. Trong lối diễn giải công cộng của Dasein, người ta nói rằng ‘người ta chết’, bởi vì cả kẻ khác lẫn chính bản thân ta đều có thể tự thuyết phục mình rằng ‘trong bất cứ trường hợp nào thì cũng không phải là chính tôi’, vì cái ‘người ta’ này thực chất là ‘không ai cả’.16
‘Hấp hối’ bị san phẳng thành một sự kiện tuy có tác động đến Dasein nhưng lại chẳng thuộc về riêng ai cả. Nếu các phiếm đàm luôn mang tính đa nghĩa, thì cách nói về cái chết này cũng vậy. Chết — vốn dĩ mang tính cá nhân sâu sắc đến mức không ai có thể thay thế hay đại diện cho ta được — lại bị biến tướng thành một sự kiện mang tính công cộng mà cái ‘họ’ phải đối mặt. Trong lối nói năng mà chúng ta vừa mô tả, cái chết được nhắc đến như một ‘trường hợp’ xảy ra liên tục. Cái chết bị coi như một điều gì đó luôn ‘hiện thực’; bản chất của nó như một khả tính bị che giấu đi, và cùng với nó là hai đặc tính khác gắn liền với nó: tính không-quan-hệ và tính không-thể-vượt-qua. Chính trạng thái mô hồ này lại khiến cho Dasein tự đặt mình vào tình thế đánh mất bản thân vào trong cái ‘họ’ đối với một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc biệt thuộc về cái Tự ngã đích thực nhất của chính Dasein. Cái ‘họ’ tán thành và làm gia tăng sự cám dỗ muốn che giấu khỏi chính mình loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực nhất của bản thân.xi Sự che giấu mang tính né tránh khi đối diện với cái chết này chi phối đời sống thường nhật một cách ngoan cố đến mức, trong cái Hữu-thể-với-nhau, những kẻ ‘láng giềng’ thường vẫn thuyết phục kẻ ‘hấp hối’ tin rằng hắn sẽ thoát khỏi cái chết và sớm quay trở lại với nhịp sống thường nhật êm ả trong thế giới mà hắn quan tâm.
Thái độ ‘ân cần’ như vậy thực chất nhằm mục đích ‘an ủi’ hắn. Nó khăng khăng kéo hắn trở lại với cái Dasein hiện hữu người, đồng thời [tr.298] giúp hắn che giấu hoàn toàn cái khả-tính-của-Hữu-thể-riêng biệt và không-quan-hệ hoàn toàn bị che đậy của chính hắn. Theo cách đó, cái ‘họ’ mang lại một trạng thái an tâm thường trực về cái chết. Tuy nhiên, xét cho cùng, trạng thái an tâm này không chỉ dành cho kẻ đang ‘lâm chung’ mà còn cho cả những kẻ đang ‘an ủi’ gã đó. Và ngay cả khi cái chết thực sự xảy ra, công chúng vẫn không muốn sự an ổn của mình bị xáo trộn bởi sự kiện này, hay bị làm phiền trong thái độ vô tư lự mà họ vẫn duy trì.17 Quả thực, cái chết của những Kẻ Khác thường bị xem là một sự bất tiện về mặt xã hội, thậm chí là một hành động thiếu tế nhị, điều mà công chúng cần phải tránh né.xii
Nhưng song hành với sự an tâm này – thứ vốn đẩy Dasein ra xa khỏi cái chết của chính mình – thì cái ‘họ’ đồng thời tự khẳng định tính đúng đắn và sự đáng trọng của mình bằng thủ thuật ngầm định ra cách thức mà một cá nhân phải ứng xử trước cái chết. Việc coi ‘suy tư về cái chết’ là biểu hiện của nỗi sợ hèn nhát, là dấu hiệu của sự bất an của Dasein, và là một cách trốn chạy u ám khỏi thế giới, đã trở thành quan niệm được công chúng chấp nhận. Cái ‘họ’ không cho phép ta có đủ can đảm để đối diện với nỗi lo âu trước cái chết. Sự thống trị của cách diễn giải công khai do cái ‘họ’ áp đặt đã định đoạt sẵn tâm thế nào sẽ chi phối thái độ của ta đối với cái chết. Trong nỗi lo âu trước cái chết, Dasein bị đặt vào tình thế phải đối diện với chính mình như một hiện hữu bị phó mặc cho cái khả tính tất yếu không thể vượt qua hay thay thế được. Cái ‘họ’ tìm cách chuyển hóa trạng thái lo âu này thành nỗi sợ hãi trước một sự kiện sắp xảy ra. Thêm vào đó, trạng thái lo âu vốn đã bị đánh tráo thành nỗi sợ hãi này lại bị coi là một điểm yếu mà một Dasein tự tin không bao giờ được phép mắc phải. Điều được coi là ‘phù hợp’–theo mệnh lệnh ngầm của cái ‘họ’– chính là thái độ bình thản, dửng dưng trước ‘sự thật’ rằng con người rồi sẽ chết. Việc nuôi dưỡng sự dửng dưng ‘cao thượng’ như vậy sẽ tách rời Dasein khỏi cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt và không-có-tính-liên-đới của bản thân nó.
Song, mối cám dỗ, nỗi trấn an và tình trạng tha hóa là những dấu hiệu đặc trưng của kiểu Hiện hữu được gọi là ‘sa ngã’. Với tư cách sa ngã, cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật là một cuộc trốn chạy liên tục trước cái chết. Việc Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục mang hình thái né tránh đối với chính cái kết ấy—bằng việc đưa ra những cách lý giải mới, hiểu nó một cách không-đích-thực và che giấu nó. Trên thực tế, Dasein của riêng người ta luôn luôn đang chết; nghĩa là, nó đang ở trong trạng thái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục của mình. Và nó che giấu sự thật này với chính mình bằng cách biến đổi khái niệm ‘cái chết’ thành chỉ là một ‘trường hợp tử vong’ ở những Kẻ Khác—một sự kiện thường nhật mà, khi cần thiết, lại càng khẳng định rõ ràng hơn rằng ‘bản thân’ vẫn đang ‘sống’. Tuy nhiên, chính trong cuộc sa ngã và trốn chạy trước cái chết như vậy, tính thường nhật của Dasein chứng thực rằng bản thân cái ‘họ’ cũng đã mang đặc tính xác định của [tr.299] Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, ngay cả khi nó không hề chủ động ‘suy tư về cái chết’. Ngay cả trong trạng thái thông thường hàng ngày, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể tối hậu này — vốn không mang tính liên quan và không thể bị vượt qua — vẫn luôn là một vấn đề đối với Dasein. Điều này đúng ngay cả khi mối bận tâm của Dasein chỉ dừng lại ở trạng thái thờ ơ, không chút bận lòng trước khả tính tột cùng của sự hiện hữu.18
Tuy nhiên, khi trình bày về loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết trong đời sống thường nhật, đồng thời chúng ta cũng cần phải nỗ lực xác lập một quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục, thông qua một sự diễn giải sâu sắc hơn; trong đó, loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết mang tính ‘sa ngã’ được nhìn nhận như một sự lẩn tránh trước cái chết. Điều mà chủ thể trốn chạy khỏi đó đã được hiển lộ theo một cách thức thỏa đáng về mặt hiện tượng. Trên cơ sở đó, ta cần phải có khả năng phác họa—theo phương pháp hiện tượng học—cách thức mà chính Dasein đang lẩn tránh tự thấu hiểu về cái chết của mình.xiii
_____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘…die Möglichkeit eines existierenden Seins des Noch-nicht, das "vor" dem "Ende" liegt…’ The earlier editions have ‘…das ja ‘vor’ dem ‘Ende’. [p.289]
2 ‘…wonach diese nicht fragen, und worüber eine Auskunft und Anweisung von ihr vergeblich erwartet werden kann.’ The older editions have ‘kann’ after ‘fragen’, and ‘muss’ where the newer editions have ‘kann’. [p.290]
3 'Abkben'. This term, which literally means something like 'living out' one's life, is used in ordinary German as a rather legalistic term for a person's death. We shall translate it as 'demise' (both as a noun and as a verb), which also has legalistic connotations. But this translation is an arbitrary one, and does not adequately express the meaning which Heidegger is explaining. [p.291]
4 ‘…Seinsweise, in der das Dasein zu seinem Tode ist.’ [p.291]
5 ‘Ober das “Jenseits” und seine Moglichkeit wird ebensowenig ontisch entschicden wie iiber das “Dicsscits”…’. The quotation marks around “Dicsseits” appear only in the later editions. [p.292]
6 ‘Urn so ausdrücklicher muss mit der existenzialen Begriffsbestimmung die existenzielle Unverbindlichkeit zusammengehen…’ [p.293]
7 ‘…sondem eher ein Bevorstand.' While we shall ordinarily use various forms of 'impend' to translate 'Bevorstand', 'bevorstehen', etc., one must bear in mind that the literal meaning of these expressions is one of 'standing before', so that they may be quite plausibly contrasted with 'Ausstehen', etc. ('standing out') . Thus we shall occasionally use forms of 'stand before' when this connotation seems to be dominant. [p.294]
8 'Nicht-mehr-dasein-konnens.' Notice that the expressions 'Seinkonnen' (our 'potentiality-for-Being') and 'Nichtmehrdasein' (our 'no-longer-Dasein') are here fused. Cf. H. 237-242. [p.294]
9 'So sich bevorstehend sind in ihm aile Beziige zu anderem Dasein gelost.' [p.294]
10 'unbeziigliche'. This term appears frequently throughout the chapter, and, as the present passage makes clear, indicates that in death Dasein is cut off from relations with others. The term has accordingly been translated as 'non-relational', in the sense of 'devoid of relationships'. [p.294]
11 ‘…gegen ein ‘Erleben’ des Ablebens.’ (Cf. Section 49 above.) [p.295]
12 ‘…dann muss es auch-wenngleich zunachst uneigentlich-in der Alltaglichkeit aufweisbar seino’ The earlier editions have another 'auch'just before ‘in der Alltaglichkeit’. [p.296]
13 ‘…das sich in
der öffentlichen Ausgelegtheit konstituiert, die sich im Gerede aussprichto’
The earlier editions have ‘…konstituiert. Sie spricht sich aus im Gerede’.
[p.296]
14 'Die Offentlichkeit des alltaglichen Miteinander ‘kennt’ den Tod als standig
vorkommendes Begegnis, als ‘Todesfall’. [p.296]
15 ‘…man stirbt
am Ende auch einmal, aber zunachst bleibt man selbst unbetroffen.’ [p.297]
16 ‘Die öffentliche Daseinsauslegung sagt : ‘man stirbt’, weil damit jeder
andere und man selbst sich einreden kann: je nicht gerade ich ; denn dieses Man
ist das Niemand.’ While we have usually followed the convention of translating
the indefinite pronoun 'man' as 'one' and the expression ‘das Man’ as 'the
‘they’, to do so here would obscure the point. [p.297]
17 'Und selbst im Falle des Ablebens noch soli die Offentlichkeit durch das
Ereignis nicht in ihrer besorgten Sorglosigkeit gestOrt und beunruhigt werden.'
[p.298]
18 ‘…wenn auch nur im Modus des Besorgens einer unbehelligten Gleichgültigkeit gegen die äußerste Möglichkeit seiner Existenz’ Ordinarily the expression ‘Gleichgültigkeit gegen’ means simply 'indifference towards'. But Heidegger's use of boldface type suggests that here he also has in mind that 'gegen' may mean 'against' or 'in opposition to'. [p.299]
