Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI
14. Ý niệm về Weltlichkeit Thế gian của Thế giới1 Nói chung
[Tr.91] Hữu-thể-trong-Thế-giới trước hết phải được làm rõ liên quan đến yếu tố cấu trúc của nó, đó chính là tự thân ‘thế giới’. Việc hoàn thành nhiệm vụ này có vẻ dễ dàng và tầm thường đến mức khiến người ta cứ mặc nhiên cho rằng nó có thể được bỏ qua. Mô tả ‘thế giới’ như một hiện tượng có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là cho chúng ta thấy những gì tự thể hiện trong ‘các hiện hữu’ bên trong thế giới. Bước đầu tiên ở đây là liệt kê những thứ ‘trong’ thế giới: nhà cửa, cây cối, con người, núi non, các vì sao. Chúng ta có thể mô tả cách các hiện hữu đó ‘trông’ như thế nào, và chúng ta có thể đưa ra một bản tường thuật về các sự kiện xảy ra trong và với chúng. Tuy nhiên, rõ ràng đây là một ‘công việc’ tiền-hiện tượng luận, hoàn toàn không liên quan đến hiện tượng luận. Mô tả như vậy luôn bị giới hạn vào các hiện hữu. Nó mang tính ontic thực hữu. Nhưng điều chúng ta đang tìm kiếm lại là Hữu thể. Và chúng ta đã định nghĩa một cách chính thức ‘hiện tượng’ theo nghĩa hiện tượng luận là cái tự biểu hiện như là Hữu thể và như là cấu trúc của Hữu thể.
[Chen ngang Đức văn để đối sánh: Das In-der-Welt-sein soll zuerst hinsichtlich des Strukturmoments »Welt« sichtbar gemacht werden. Die Bewerkstelligung dieser Aufgabe scheint leicht und so trivial zu sein, daß man immer noch glaubt, sich ihrer entschlagen zu dürfen. Was kann es besagen, »die Welt« als Phänomen beschreiben? Sehen lassen, was sich an »Seiendem« innerhalb der Welt zeigt. Der erste Schritt ist dabei eine Aufzählung von solchem, was es »in« der Welt gibt: Häuser, Bäume, Menschen, Berge, Gestirne. Wir können das «Aussehen« dieses Seienden abschildern und die Vorkommnisse an und mit ihm erzählen. Das bleibt aber offensichtlich ein vorphänomenologisches »Geschäft«, das phänomenologisch überhaupt nicht relevant sein kann. Die Beschreibung bleibt am Seienden haften. Sie ist ontisch. Gesucht wird aber doch das Sein. »Phänomen« im phänomenologischen Sinne wurde formal bestimmt als das, was sich als Sein und Seinsstruktur zeigt. Tạm dịch nghĩa: Trước hết, Hữu-thể-trong-thế-giới cần được làm rõ liên quan đến khoảnh khắc cấu trúc của ‘thế giới’. Việc hoàn thành nhiệm vụ này dường như dễ dàng và tầm thường đến mức người ta vẫn tin rằng mình có thể tránh được nó. Mô tả ‘thế giới’ như một hiện tượng có nghĩa là gì? Để cho chúng ta thấy những ‘hiện hữu’ [Chen nữa: Trong triết học của Martin Heidegger, das Seiende là các hiện hữu/thực thể - nó đề cập đến bất cứ thứ gì tồn tại - chẳng hạn như một cái ghế, một con số, một ngôi sao, một con vật hoặc một con người; về cơ bản, nó trái ngược với das Sein Hữu thể, là điều kiện cơ bản hoặc ‘tính là/ is-ness’ cho phép tất cả các hiện hữu tồn tại. Cần lưu ý: i) Sự khác biệt về bản thể học: Heidegger cho rằng triết học phương Tây đã phạm phải ‘tình trạng lãng quên Sein Hữu thể’ bằng cách tập trung quá nhiều vào Seiendem các hiện hữu mà quên hỏi Sein Hữu thể thực sự là gì. Seiendes các hiện hữu là những thứ cụ thể mà tôi có thể chỉ ra hoặc phân loại; trong khi Sein Hữu thể - Chân trời hoặc bối cảnh bí ẩn, vô hình khiến một hiện hữu/thực thể xuất hiện như một hiện hữu/thực thể; ii) Dasein con người - nghĩa đen là ‘hiện hữu ở đó/có đó’ để chỉ tồn tại người; không giống như đất đá hay cỏ cây, Dasein là Seiendes hiện hữu độc nhất chủ động quan tâm đến sự tồn tại của chính nó và đặt câu hỏi về ý nghĩa của tự thân Hữu thể; iii) Phương thức Tiếp xúc với hiện hữu - đối với Heidegger, con người không chỉ nhìn chằm chằm vào Seiendem các hiện hữu/ thực thể một cách khách quan như những nhà khoa học biệt lập; chúng ta tương tác với chúng dựa trên công dụng thực tiễn của chúng: Zuhanden - Sẵn sàng sử dụng: ‘thiết bị’ hoặc công cụ chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta hiểu được thông qua sự tham gia thực tiễn hơn là lý thuyết có ý thức. Vorhanden - Hiện diện: Một thực thể được xem xét thuần túy như một đối tượng lý thuyết bị tước bỏ công dụng của nó, chẳng hạn xem xét một cái búa bị gãy như một khối gỗ và sắt.-HHN] nào tự bộc lộ trong thế giới. Bước đầu tiên là liệt kê những gì tồn tại ‘trong’ thế giới: nhà cửa, cây cối, con người, núi non, các vì sao. Chúng ta có thể mô tả ‘sự xuất hiện’ của những hiện hữu này và thuật lại các sự kiện ‘trong’ và ‘với’ chúng. Nhưng rõ ràng đây vẫn là một ‘vấn đề’ tiền-hiện tượng luận, hoàn toàn không thể liên quan đến hiện tượng luận. Mô tả vẫn gắn liền với các hiện hữu/thực thể. Nó mang tính ontic thực hữu. Nhưng cái đang tìm kiếm lại là Hữu thể. ‘Hiện tượng’ theo nghĩa hiện tượng luận đã định nghĩa chính thức là cái tự bộc lộ với tư cách Hữu thể và cấu trúc của Hữu thể. HHN]
Do đó, việc đưa ra một mô tả hiện tượng luận về ‘thế giới’ sẽ có nghĩa là trưng ra cái Hữu thể của những hiện hữu hiện-diện-vô-tri trong thế giới, và cố định nó trong các khái niệm mang tính phân loại thành các phạm trù. Giờ đây, các hiện hữu trong thế giới là Sự vật – các Sự vật của Tự nhiên, và các Sự vật ‘được đầu tư giá trị’. Tính Sự vật của chúng trở thành một vấn đề; và ở mức độ mà tính Sự vật của các Sự vật ‘được đầu tư giá trị’ dựa trên tính Sự vật của Tự nhiên, thì chủ đề chính của chúng ta là Hữu thể của các Sự vật của Tự nhiên - Tự nhiên theo đúng nghĩa. Đặc tính của Hữu thể thuộc về các Sự vật của Tự nhiên (các chất), và trên đó [tr.92] mọi thứ được xây dựng, chính là tính chất/thực thể. Ý nghĩa bản thể học của nó là gì? Bằng cách đặt câu hỏi này, chúng ta đã đưa ra một hướng đi rõ ràng cho nhiệm vụ khảo sát của mình. Nhưng liệu đây có phải là một cách đặt câu hỏi mang tính bản thể luận về ‘thế giới’ không? Vấn đề mà chúng ta đã chỉ ra chắc chắn là một vấn đề thuộc về bản thể luận. Nhưng ngay cả khi bản thể luận này thành công trong việc giải thích Hữu thể của Tự nhiên một cách thuần túy nhất, phù hợp với những khẳng định cơ bản về hiện hữu này, mà các khoa học tự nhiên toán học cung cấp, thì nó cũng sẽ không bao giờ chạm đến được cái hiện tượng là ‘thế giới’. Bản thân Tự nhiên là một hiện hữu được chạm trán trong thế giới và có thể được khám phá bằng nhiều cách và ở nhiều giai đoạn khác nhau. Vậy thì trước tiên chúng ta có nên gắn bó với những hiện hữu mà Dasein cư ngụ gần gũi và phần lớn nhất - những Sự vật ‘được đầu tư giá trị’ hay không? Chẳng phải những Sự vật này ‘thực sự’ chỉ cho chúng ta thấy thế giới mà chúng ta đang sống hay sao? Có lẽ, trên thực tế, chúng cho chúng ta thấy một cái gì đó giống ‘thế giới’ hơn một cách sâu sắc hơn. Nhưng những Sự vật này cũng là những hiện hữu ‘bên trong’ thế giới.
Cả việc mô tả ontic thực hữu về các hiện hữu bên-trong-thế-giới lẫn Diễn giải bản thể luận về Hữu thể của chúng đều không thể chạm đến hiện tượng của ‘thế giới’. Trong cả hai cách tiếp cận với ‘Hữu thể Khách quan’ này, ‘thế giới’ đã được ‘giả định trước’, và thực tế là theo nhiều cách khác nhau. Liệu cuối cùng chúng ta có thể không xem xét ‘thế giới’ như là quyết định bản chất của cái hiện hữu mà chúng ta đã đề cập hay không? Tuy nhiên, chúng ta gọi hiện hữu này là một hiện hữu ‘ở-trong-thế-giới’. Phải chăng ‘thế giới’ là một đặc tính Hữu thể của Dasein? Và trong trường hợp đó, liệu mỗi Dasein có ‘gần gũi’ với thế giới của nó hay không? Chẳng phải ‘thế giới’ trở thành một cái gì đó mang tính ‘chủ thể’ sao? Vậy thì, làm thế nào có thể có một thế giới ‘chung’ mà trong đó, dù sao đi nữa, chúng ta vẫn tồn tại? Và nếu đặt ra câu hỏi về ‘thế giới’, thì chúng ta nói đến thế giới nào? Không phải thế giới chung, không phải thế giới chủ thể tính, mà là Weltlichkeit thế gian của thế giới theo đúng nghĩa. Vậy thì chúng ta tiếp cận hiện tượng này bằng con đường nào?
‘Thế gian’ Weltlichkeit là một khái niệm bản thể luận, và đại diện cho cấu trúc của một trong những hạng mục cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế giới. Nhưng chúng ta biết Hữu-thể-trong-thế giới như một cách thức mà trong đó đặc tính của Dasein được định nghĩa về phương diện hiện sinh. Vậy là, tự thân cái Weltlichkeit Thế gian kia là một existentiale yếu tố hiện sinh. Nếu khảo sát ‘thế giới’ về phương diện bản thể luận, chúng ta không hề từ bỏ việc phân tích Dasein như một lĩnh vực nghiên cứu theo chủ đề. Về mặt bản thể luận, ‘thế giới’ không phải là một cách để mô tả những hiện hữu về bản chất không phải là Dasein; đúng hơn nó là một đặc điểm của chính Dasein. Điều đó không loại trừ khả tính nghiên cứu hiện tượng ‘thế giới’, chúng ta phải làm như vậy thông qua con đường của các hiện hữu bên-trong-thế-giới và cái Hữu thể mà chúng sở hữu. Nhiệm vụ ‘mô tả’ thế giới về hiện tượng luận còn xa vời mới trở nên hiển nhiên cho dù ngay cả khi chúng ta chỉ xác định một cách thích đáng hình thức mà nó sẽ mang lấy, thì vẫn cần các minh định bản thể luận thiết yếu.
[Tr.93] Việc thảo luận về từ ‘thế giới’ này, và việc chúng ta thường xuyên sử dụng nó đã cho thấy rõ rằng nó được sử dụng theo nhiều cách. Với việc minh định những cách sử dụng này, chúng ta có thể hiểu được các loại hiện tượng khác nhau được biểu thị, và cách thức mà chúng được kết nối với nhau; 1). ‘Thế giới’ được sử dụng như một khái niệm ontic thực hữu, và biểu thị tống thể tính của các hiện hữu có thể hiện-diện-vô-tri trong thế giới; 2). ‘Thế giới’ vận hành như một khuôn khổ bản thể luận, và biểu thị cái Hữu thể của những hiện hữu mà chúng ta vừa đề cập. Và thực sự, ‘thế giới’ có thể trở thành một thuật ngữ cho bất kỳ lĩnh vực nào bao gồm vô số hiện hữu: ví dụ, khi người ta nói về ‘thế giới’ của một nhà toán học, thì ‘thế giới’ biểu thị lĩnh vực của các đối tượng khả thể của toán học; 3). ‘Thế giới’ có thể được hiểu theo một nghĩa ontic thực hữu khác - tuy nhiên, không phải là những hiện hữu mà về bản chất không phải Dasein và có thể chạm trán bên-trong-thế-giới, nhưng lại có thể được cho là ‘nơi’ mà một Dasein thực tại theo đúng nghĩa ‘sống’ ở đó. Ở đây, ‘thế giới’ mang một ý nghĩa pre-ontological existentiell tồn tại tiền-bản thể luận. [Đối với Heidegger, pre-ontological existentiell đề cập đến cách con người nắm bắt một cách trực giác ý nghĩa của ‘tồn tại’ thông qua kinh nghiệm thường nhật, rất lâu trước khi họ có thể định nghĩa hoặc nghiên cứu nó về phương diện học thuật. Nó được chia thành ba khái niệm liên kết với nhau, mỗi khái niệm đại diện cho một lớp nền tảng của sự tồn tại của con người: i) Tiền bản thể luận là một nhận thức ngầm, tiềm ẩn hoặc phi-phản tư. Con người hoạt động với hiểu biết thực tiễn về ‘việc là/tồn tại’ chỉ bằng cách thành công trong việc định hướng thế giới (biết cách sử dụng búa, nhận ra một người, v.v.). Nhận thức tiền bản thể luận có trước triết học chính thức hoặc ‘bản thể luận’. Tôi không cần phải là một học giả để hiểu về sự tồn tại; tôi đã thể hiện sự hiểu biết về nó chỉ đơn giản bằng cách là một con người sống trong thế giới; ii) Existentiell/Existenziell yếu tố tồn tại đề cập đến những lựa chọn cá nhân, riêng tư và trải nghiệm tạo nên cuộc sống của một con người cụ thể. Nó hàm nghĩa ‘ai’ và ‘cái gì’ trong thực tại hàng ngày, cụ thể của tôi, chẳng hạn sự nghiệp, tâm trạng cụ thể hoặc các dự án cá nhân của tôi. Yếu tố tồn tại mang tính ontic thực hữu hơn là bản thể luận - có nghĩa là nó đề cập đến những thực tại cụ thể, xác thực hơn là cấu trúc trừu tượng của sự tồn tại; iii) Ý nghĩa Bedeutung đề cập đến ý nghĩa, khả tính hiểu biết, hoặc cách thức mà sự vật trở nên ‘có ý nghĩa’ trong một ngữ cảnh cụ thể. Đó là cách thức mà các đối tượng, từ ngữ hoặc hành động có được mục đích và ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Tóm lại ‘ý nghĩa tồn tại tiền-bản thể luận’ khi mô tả một ‘thế giới’ hoặc một ‘tình huống’ cụ thể, là nói đến ý nghĩa cá nhân mà một môi trường hoặc sự kiện mang lại cho tôi, mà tôi hiểu và định hướng một cách trực quan mà không cần phải phân tích logic hoặc lý thuyết.-HHN]. Ở đây lại có nhiều khả tính khác nhau: ‘thế giới’ có thể đại diện cho thế giới ‘công cộng’ của chúng ta, hoặc môi trường gần gũi nhất (gia đình) của một con người.2 4). Cuối cùng, ‘thế giới’ chỉ định khái niệm bản thể luận-hiện sinh về cái Weltlichkeit Thế gian. Thế gian tự thân có thể có các phương thức của nó mà bất kỳ toàn thể cấu trúc nào mà bất kỳ ‘thế giới’ đặc biệt nào có thể có vào thời điểm đó; nhưng nó bao hàm trong chính nó cái đặc tính tiên nghiệm của Weltlichkeit Thế gian nói chung. Chúng ta dành thuật ngữ ‘thế giới’ cho ý nghĩa thứ ba của mình. Nếu đôi khi sử dụng nó theo nghĩa đầu tiên trong số này, chúng ta sẽ đánh dấu điều này bằng dấu ngoặc đơn.
Vậy là hình thức phái sinh ‘tính thế gian’ về phương diện thuật ngữ sẽ được áp dụng cho một loại Hữu thể thuộc về Dasein, chứ không bao giờ cho một loại thuộc về các hiện hữu hiện-diện-vô-tri ‘trong’ thế giới. Chúng ta sẽ chỉ định những hiện hữu ấy là ‘thuộc về thế giới’ hoặc ‘trong thế giới’. Một cái nhìn thoáng qua về bản thể luận trước đó cho thấy rằng nếu người ta không nhìn thấy Hữu-thể-trong-thế-giới như một trạng thái của Dasein, thì hiện tượng Weltlichkeit Thế gian cũng bị bỏ qua. Thay vào đó, người ta cố gắng diễn giải thế giới theo khuôn khổ Hữu thể của những hiện hữu hiện-diện-vô-tri trong-thế-giới nhưng không được khám phá một cách gần gũi - cụ thể là theo khuôn khổ của Tự nhiên. Nếu hiểu Tự nhiên về phương diện bản thể luận-phạm trù, người ta thấy rằng [tr.94] Tự nhiên là trường hợp giới hạn của Hữu thể của các hiện hữu khả thể trong-thế-giới. Chỉ trong một phương thức xác định nào đó của Hữu-thể-trong-thế-giới riêng của nó, Dasein mới có thể khám phá ra các hiện hữu như là Tự nhiên.3 Cách thức hiểu biết về chúng như vậy có đặc điểm tước đoạt thế giới khỏi cái Weltlichkeit Thế gian của nó theo một cách xác định. ‘Tự nhiên’, như là tập hợp phân loại của những cấu trúc Hữu thể mà một hiện hữu xác định chạm trán trong-thế-giới có thể sở hữu, lại không bao giờ có thể làm cho Weltlichkeit Thế gian trở nên dễ hiểu. Nhưng ngay cả hiện tượng ‘Tự nhiên’, như được hình dung, chẳng hạn, trong chủ nghĩa lãng mạn, cũng chỉ có thể được nắm bắt về mặt bản thể luận trong khuôn khổ khái niệm về thế giới - tức là, trong khuôn khổ phân tích Dasein. Khi nói đến vấn đề phân tích cái Weltlichkeit Thế gian của thế giới về phương diện bản thể luận, bản thể luận truyền thống vận hành trong ngõ cụt, nếu thực sự nó nhận ra vấn đề này. Mặt khác, nếu chúng ta muốn diễn giải cái Weltlichkeit Thế gian của Dasein và những cách thức khả thể mà Dasein tạo nên thế gian [Đó là quá trình mà Dasein chủ động cấu trúc, dự định và tương tác với mạng quan hệ và công cụ có ý nghĩa tạo nên một ‘thế gian’, chứ không chỉ đơn thuần là sống trong vũ trụ vật chất. HHN], chúng ta phải chỉ ra tại sao loại Hữu thể mà Dasein dùng để nhận biết thế giới lại vượt qua hiện tượng Weltlichkeit Thế gian cả về mặt ontic thực hữu và bản thể luận. Nhưng đồng thời, chính Sự thật vượt qua này cho thấy chúng ta phải có những biện pháp phòng ngừa đặc biệt để có được điểm xuất phát hiện tượng luận tiếp cận đúng hiện tượng của cái Weltlichkeit Thế gian, sao cho nó không bị bỏ qua.
Phương pháp của chúng ta đã được chỉ định. Chủ đề phân tích của chúng ta là Hữu-thể-trong-thế-giới, và do đó chính là tự thân thế giới; và những điều này cần được xem xét trong chân trời tính trung bình của cuộc sống thường nhật - loại Hữu thể gần gũi nhất với Dasein. Chúng ta phải nghiên cứu về Hữu-thể-trong-thế-giới thường nhật; với sự hỗ trợ mang tính hiện tượng mà điều này mang lại, một cái gì đó giống như thế giới sẽ hiện ra. Thế giới của Dasein hàng ngày gần gũi nhất với nó chính là môi trường. Từ đặc tính existential yếu tố hiện sinh này của Hữu-thể-trong-thế-giới trung bình, cuộc khảo sát của chúng ta sẽ đi theo tiến trình hướng tới ý niệm về cái Weltlichkeit Thế gian nói chung. Chúng ta sẽ tìm kiếm cái Weltlichkeit Thế gian của môi trường (tính môi trường) bằng cách thông qua một Diễn giải bản thể luận về những hiện hữu bên-trong-môi-trường mà chúng ta chạm trán như là cái gần gũi nhất với mình. Thuật ngữ Umwelt môi trường chứa đựng trong cái ‘um’ ‘environ’ một gợi ý về không gian tính. Tuy nhiên, ‘Umheruin’ ‘xung quanh’ lại cấu thành nên môi trường không có ý nghĩa ‘không gian tính’ chủ đạo. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Umwelt đề cập đến ‘môi trường’ hoặc ‘xung quanh’ trực tiếp của chúng ta. Đó là thế giới thực tiễn hàng ngày của các công cụ, nhiệm vụ và mối quan tâm mà chúng ta tương tác trực tiếp, chứ không phải là một không gian trung lập, khách quan được nghiên cứu bởi các ngành khoa học vật lý. Cấu trúc của Umwelt bao gồm: i) Zuhanden công cụ - không phải chúng ta chủ yếu gặp các vật thể như những thứ riêng lẻ, lý thuyết với các thuộc tính vật lý để phân tích chẳng hạn cái búa như một khối gỗ hoặc một mẩu kim loại. Thay vào đó, chúng ta gặp các vật thể với tư cách ‘thiết bị’ hoặc công cụ - một cái búa hoặc một cây bút - được thiết kế để sử dụng thực tế; ii) Mạng lưới ý nghĩa - Heidegger cho rằng không có công cụ nào đứng độc lập. Mỗi thiết bị đều liên hệ đến các thiết bị khác, chẳng hạn một cái búa hàm ý một cái đinh, cái đinh hàm ý gỗ, gỗ hàm ý việc xây dựng một nơi trú ẩn. Mạng lưới liên kết giữa công dụng và mục đích này tạo nên cấu trúc của Umwelt môi trường sống của chúng ta. Môi trường sống của con người khác với môi trường sống của động vật: Dựa trên khái niệm sinh học về Umwelt được Jakob von Uexküll phổ biến, Heidegger đã đưa ra lý thuyết về sự khác biệt cấu trúc giữa cách con người và động vật trải nghiệm môi trường xung quanh: Welt Thế giới của con người được quan niệm là trong khi động vật bị thúc đẩy bởi bản năng sinh học và bị môi trường ‘quyến rũ’, thì con người lại có khả năng lùi lại, suy ngẫm và khái niệm hóa ý nghĩa của Hữu thể. Đối với Heidegger, động vật ‘Nghèo về Thế giới’ - vì động vật thiếu khả năng suy tư triết học và tách rời khỏi thực tại, chúng bị ràng buộc vào Umwelt môi trường sinh học trực tiếp mà không đặt câu hỏi về ý nghĩa hay bản chất của sự tồn tại; iii) Sự khác biệt giữa Umwelt so với Welt - để tránh nhầm lẫn, Heidegger đã đưa ra những phân biệt thuật ngữ nghiêm ngặt trong triết học bản thể luận của mình – Umwelt - Thế giới xung quanh của những cuộc chạm trán và trang thiết bị thực tiễn hàng ngày; trong khi đó Mitwelt – ‘với-Thế giới’ - chiều kích xã hội đề cập đến cộng đồng những kẻ khác – Dasein; Welt Thế giới - toàn thể tính tồn tại, toàn diện về ý nghĩa, khả năng hiểu biết và mối quan hệ rộng lớn hơn của chúng ta với chính Hữu thể. Hiểu được Umwelt là điều cần thiết để nắm bắt luận điểm triết học cốt lõi của Heidegger khi ông cho rằng về cơ bản chúng ta là những hiện hữu thực tiễn, tạo thế, và sự hiểu biết lý thuyết của chúng ta về thực tại luôn phát triển từ các cam kết tích cực, hàng ngày của chúng ta với môi trường xung quanh. HHN] Thay vào đó, đặc tính không gian thuộc về bất kỳ môi trường nào một cách không thể tranh cãi, chỉ có thể được làm rõ trong khuôn khổ cấu trúc của cái Weltlichkeit Thế gian. Từ quan điểm này, tính không gian của Dasein, mà chúng ta đã đề cập đến trong Phần 12, trở nên rõ ràng về mặt hiện tượng. Tuy nhiên, trong bản thể luận, người ta đã cố gắng [tr.95] bắt đầu từ tính không gian và sau đó Diễn giải Hữu thể của ‘thế giới’ với tư cách là res extensa.
[Chen ngang: res extensa đề cập đến chất thể vật chất mở rộng được René Descartes lý thuyết hóa. Heidegger chỉ trích mạnh mẽ khái niệm này, cho rằng việc quy giản thực tại vật chất thành một ‘vật thể mở rộng’ thuần túy hình học đã tước bỏ ý nghĩa sống động của tự nhiên và tách rời chủ thể người khỏi thế giới một cách sai lầm. Những điểm chính trong phê phán của Heidegger bao gồm: i) Sự phân chia Cartesian: Descartes chia thực tại thành hai chất riêng biệt: tâm trí tư duy/linh hồn (res cogitans) và thế giới vật chất mở rộng (res extensa). Heidegger lập luận rằng thuyết nhị nguyên luận này đã gây ra một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong triết học hiện đại bằng cách coi chủ thể và khách thể là hoàn toàn tách biệt; ii) Hiện-diện-vô-tri Vorhanden/ Present-at-hand: Bằng cách khái niệm hóa res extensa như là vật chất đơn thuần mở rộng trong không gian ba chiều, Descartes đã biến thế giới thành một tập hợp thụ động các ‘khách thể’ (hay các thực thể ‘hiện-diện-vô-tri’) mà con người chỉ nhìn từ bên ngoài; iii) Bác bỏ vật chất đơn thuần: Heidegger bác bỏ định nghĩa thuần túy toán học hoặc vật lý này - ông cho rằng chúng ta không tiếp xúc với thế giới trước tiên như một khối hình học, mà là như một môi trường có ý nghĩa gồm các công cụ và các mối quan hệ; iv) Hữu-thể-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein): Thay vì một tâm trí biệt lập (res cogitans) quan sát một vật thể mở rộng (res extensa) tách rời, Heidegger đề xuất rằng sự tồn tại của con người (Dasein) về cơ bản gắn bó mật thiết với thế giới. Thế giới là bối cảnh quen thuộc, có ý nghĩa của các hoạt động của chúng ta hơn là một không gian thuần túy hình học.-HHN]. Ở Descartes, chúng ta thấy xu hướng cực đoan nhất hướng tới một bản thể luận như vậy về ‘thế giới’, thực tế là có sự phản định hướng đối với res cogitans thực thể tư duy - điều này không trùng khớp với Dasein cả về mặt ontic thực hữu lẫn bản thể luận [Chen ngang: res cogitans ‘thực thể tư duy’ theo quan điểm của Descartes - trong triết học của Heidegger lại là mục tiêu phê phán của deconstruction giải cấu trúc. Heidegger chỉ trích nó vì đã biến tự ngã con người thành một chủ thể bị cô lập, phi thân thể, nhìn thế giới như một khách thể cần được tính toán, bỏ qua tương tác thực tiễn, cơ bản của chúng ta với thế giới. Heidegger xem xét khái niệm của René Descartes về con người như một res cogitans thực thể tư duy - tách biệt khỏi res extensa thực thể vật chất mở rộng. Heidegger lập luận rằng thuyết nhị nguyên này đã tạo ra một vấn đề nền tảng sai lầm: nếu con người là những tâm trí bị cô lập, mắc kẹt trong chính đầu óc của mình, làm sao chúng ta có thể chắc chắn rằng thế giới vật chất (thế giới bên ngoài) thực sự tồn tại? Heidegger cho rằng Descartes đã coi ego sum ‘Tôi tồn tại’ là điều hiển nhiên và không đặt câu hỏi đúng đắn về Hữu thể của chủ thể tư duy này. Bằng cách quy giản tồn tại con người chỉ còn là một Res Cogitans vật thể biết tư duy, Descartes đã áp dụng một thuyết bản thể luận thời trung cổ chưa được xem xét kỹ lưỡng. Ông coi tâm trí như một thực thể tĩnh, biệt lập, chỉ đơn giản Vorhanden hiện-diện-vô-tri, giống như một vật thể, thay vì nhìn vào cách thức tồn tại năng động, mang tính thời gian của con người trong thực tế. Từ Res Cogitans đến Dasein - để thay thế cho khái niệm res cogitans phi-thân thể, Heidegger đã đề xuất khái niệm Dasein ‘hiện hữu ở đó’ và nhấn mạnh rằng cái Weltlichkeit Thế gian đến trước - thay vì một tâm trí tách rời khỏi thế giới, Dasein về cơ bản là ‘ở-trong-thế-giới’. Trải nghiệm cơ bản của chúng ta không phải là sự nghi ngờ về mặt nhận thức luận, mà là tham gia thực tiễn, thường nhật, với các công cụ, môi trường và những kẻ khác. Hiểu biết hơn là tư duy - thay vì một res cogitans thực thể tư duy hình thành các biểu tượng về thực tại trong đầu, Dasein tự hiểu chính mình bằng cách lý giải tạo ý nghĩa cho thế giới và dự phóng những khả tính cho sự tồn tại của chính nó. Hiện thân và thời gian - Dasein không phải là một thực thể tinh thần phi không gian, phi thời gian, mà là một hiện hữu mang tính thời gian vốn có, sự tồn tại của nó được xác định bởi tính khả tử, sự chăm sóc và hoàn cảnh lịch sử.-HHN]. Phân tích về Weltlichkeit Thế gian mà chúng ta đang cố gắng thực hiện ở đây có thể được làm rõ hơn nếu chúng ta chỉ ra sự khác biệt của nó so với xu hướng bản thể luận như vậy. Phân tích sẽ được hoàn thành trong ba giai đoạn: (A) phân tích về tính môi trường và thế gian tính nói chung; (B) tương phản minh họa giữa phân tích về thế gian tính của chúng ta và bản thể luận về ‘thế giới’ của Descartes; (C) tính bao quanh [das Umhafte] của môi trường và ‘không gian tính’ của Dasein.4
A. Phân tích về Tính Môi trường và Tính Thế giới nói chung
15. Bản thể của các Hiện hữu gặp trong Môi trường
Bản thể của các hiện hữu mà chúng ta gặp gần gũi nhất có thể được thể hiện về phương diện hiện tượng luận nếu chúng ta lấy manh mối là cái Hữu-thể-trong-thế-giới thường nhật của mình, mà chúng ta cũng gọi là Umgang ‘giao dịch/tương tác’5 [Chen ngang: Theo Martin Heidegger, Umgang các giao dịch đề cập đến các tương tác thực tiễn, hàng ngày của chúng ta với thế giới và các vật thể trong đó. Thay vì xem các vật thể như những thứ lý thuyết, tách rời chỉ để quan sát, Heidegger lập luận rằng chúng ta chủ yếu hiểu và tương tác với thế giới thông qua việc sử dụng trực tiếp: i) Umgang khái niệm cốt lõi ‘giao dịch/tương tác’ có nghĩa là tương tác với môi trường của tôi một cách tự động, không cần phản xạ. Ví dụ, khi tôi sử dụng một cái búa, tôi không dừng lại để phân tích kích thước vật lý của nó mà chỉ đơn giản là sử dụng nó để đóng đinh; ii) Zuhandenheit Có sẵn để sử dụng - các vật thể mà Heidegger gọi là ‘thiết bị’ hay Zeug ‘công cụ’ chỉ có ý nghĩa đối với chúng ta thông qua những giao dịch thực tiễn này. Tính hữu dụng định nghĩa chúng nhiều hơn là các đặc tính khoa học, trực quan; iii) Umsicht Sự thận trọng - các giao dịch của chúng ta được hướng dẫn bởi một dạng trí tuệ thực tiễn phi lý thuyết, hay ‘thận trọng’ - một loại nhận thức thực tiễn về cách thức mà mọi thứ kết hợp với nhau; iv) Cách ‘Giao dịch’ định hình ý nghĩa - Heidegger đã thách thức các quan điểm triết học truyền thống cho rằng con người chỉ là những ‘tâm trí’ cô lập đơn thuần quan sát một vũ trụ gồm những vật thể vô tri vô giác. Thay vào đó, ông lập luận rằng Ý nghĩa xuất hiện từ việc sử dụng - chúng ta không nhận thức một vật thể trước rồi mới gán cho nó một ý nghĩa. Thay vào đó, ý nghĩa của vật thể đã được tích hợp vào cách chúng ta sử dụng nó: ‘mục-đích-để’ trong các nhiệm vụ hàng ngày của chúng ta. Chúng ta là Hữu-thể-trong-thế-giới - tồn tại người Dasein - về cơ bản được đặc trưng bởi sự quan tâm, lo lắng và các giao dịch tích cực của chúng ta với môi trường. Ý nghĩa được tạo ra từ sự tham gia tích cực này.-HHN] của chúng ta trong thế giới và với các hiện hữu trong-thế-giới. Những tương tác như vậy đã phân tán thành nhiều cách quan tâm khác nhau.6 Loại tương tác gần gũi nhất với chúng ta, như đã chỉ ra, không phải là nhận thức tri giác đơn thuần, mà là loại quan tâm thao túng mọi thứ và sử dụng chúng; nó có loại ‘tri thức' riêng của nó. Câu hỏi hiện tượng học áp dụng trước hết cho Hữu thể của những hiện hữu mà chúng ta gặp trong mối quan tâm đó. Để đảm bảo loại quan sát cần thiết ở đây, trước tiên chúng ta phải đưa ra một nhận xét về phương pháp.
Trong việc bộc lộ và giải thích Hữu thể, các hiện hữu trong mọi trường hợp đều là chủ đề sơ bộ và đồng thời của chúng ta; nhưng chủ đề thực sự của chúng ta lại là Hữu thể. Trong phạm vi phân tích hiện tại, các hiện hữu mà chúng ta sẽ xem xét làm chủ đề sơ bộ là những hiện hữu tự thể hiện trong mối quan tâm của chúng ta với môi trường. Những hiện hữu như vậy không phải là đối tượng để hiểu biết ‘thế giới’ về phương diện lý thuyết; chúng chỉ đơn giản là những gì được sử dụng, những gì được sản xuất, v.v. Là những hiện hữu được bắt gặp như vậy, chúng trở thành chủ đề sơ bộ cho phạm vi của một ‘hiểu biết’ mà, với tư cách là có tính hiện tượng luận, chủ yếu hướng tới Hữu thể, và khi lấy Hữu thể làm chủ đề của mình, thì lấy những hiện hữu này là chủ đề đi kèm. Do đó, diễn giải hiện tượng luận này không phải là một cách để biết [tr.96] những đặc điểm của các hiện hữu tự chúng có; mà đúng hơn là một sự xác định cấu trúc của Hữu thể mà các hiện hữu sở hữu.
Nhưng với tư cách là một khảo sát về Hữu thể, nó đạt đến hoàn thiện, một cách tự chủ và rõ ràng, cái mà hiểu biết về Bản thể vốn đã thuộc về Dasein và 'sống dậy' trong bất kỳ sự tương tác nào của nó với các hiện hữu. Những hiện hữu đóng vai trò là chủ đề sơ bộ về mặt hiện tượng học – trong trường hợp này, là những hiện hữu được sử dụng hoặc được tìm thấy trong quá trình sản xuất – trở nên dễ tiếp cận khi chúng ta đặt mình vào vị trí quan tâm đến chúng theo một cách nào đó. Nếu hiểu theo nghĩa đen, cách nói về việc ‘đặt mình vào vị trí như vậy’ là sai lầm; bởi vì loại Hữu thể thuộc về những mối quan tâm như vậy không phải là loại mà chúng ta cần đặt mình vào trước tiên. Đây là cách mà Dasein hàng ngày luôn tồn tại: ví dụ, khi tôi mở cửa, tôi dùng chốt cửa. Việc đạt được khả năng tiếp cận hiện tượng luận đối với các hiện hữu mà chúng ta gặp phải, đúng hơn là việc gạt bỏ những khuynh hướng diễn giải của chúng ta, những khuynh hướng cứ liên tục tác động lên chúng ta và đồng hành cùng chúng ta, và che giấu không chỉ hiện tượng của ‘mối quan tâm’ đó, mà còn hơn thế nữa, chính những hiện hữu đó khi chúng được gặp gỡ một cách tự nhiên trong mối quan tâm của chúng ta với chúng. Những sai lầm vướng mắc này trở nên rõ ràng nếu trong quá trình khảo sát, chúng ta đặt câu hỏi những hiện hữu nào sẽ được coi là chủ đề sơ bộ và được thiết lập làm cơ sở tiền hiện tượng luận cho nghiên cứu của chúng ta.
Người ta có thể trả lời: ‘Vật thể.’ Nhưng với câu trả lời hiển nhiên này, có lẽ chúng ta đã bỏ lỡ cơ sở tiền-hiện tượng luận mà chúng ta đang tìm kiếm. Bởi vì khi gọi những hiện hữu này là res ‘Vật thể’, chúng ta đã ngầm dự đoán đặc tính bản thể luận của chúng. Khi phân tích bắt đầu với những hiện hữu như vậy và tiếp tục tìm hiểu về Hữu thể, cái mà nó gặp phải là Tính vật thể và Thực tại. Sự giải thích bản thể luận, khi tiến hành, khám phá ra những đặc điểm của Hữu thể với tư cách là tính bản chất, tính vật chất, tính mở rộng, tính song hành, v.v. Nhưng ngay cả về phương diện tiền-bản thể luận, trong Bản thể như thế này, các hiện hữu mà chúng ta quan tâm đều bị che giấu một cách gần gũi. Khi người ta coi Vật thể là những hiện hữu ‘được cho sẵn một cách gần gũi’, người ta đã đi lạc hướng về mặt bản thể luận, mặc dù về mặt ontic thực hữu người ta có một điều khác nữa trong tâm trí. Điều người ta thực sự nghĩ đến vẫn chưa được xác định. Nhưng giả sử người ta mô tả những 'Vật thể' này với tư cách là Vật thể ‘được đầu tư giá trị’? ‘Giá trị’ có nghĩa là gì về mặt bản thể luận? Chúng ta nên phân loại sự ‘đầu tư’ này và Hữu-thể-được-đầu-tư như thế nào? Bỏ qua sự mơ hồ của cấu trúc gán giá trị này, liệu chúng ta đã gặp được đặc tính hiện tượng của Hữu thể thuộc về những gì chúng ta bắt gặp trong các tương tác quan tâm của mình chưa?
Người Hy Lạp có một thuật ngữ thích hợp cho ‘Sự vật’: πράγματα - nghĩa là, những thứ mà người ta phải liên quan đến trong các giao dịch quan tâm của mình [tr.97] (πρᾶξις). Nhưng về mặt bản thể luận, đặc tính ‘thực dụng’ cụ thể của πράγματα chính là điều mà người Hy Lạp đã để lại trong sự mơ hồ; họ coi những thứ này ‘gần gũi’ như là ‘những Sự vật đơn thuần’. Chúng ta sẽ gọi những hiện hữu mà chúng ta gặp phải trong các giao dịch quan tâm là ‘thiết bị’.7 Trong các giao dịch của mình, chúng ta bắt gặp thiết bị để viết, may vá, làm việc, vận chuyển, đo lường. Loại Hữu thể mà thiết bị sở hữu phải được trưng ra. Đầu mối để làm điều này nằm ở việc trước tiên chúng ta định nghĩa điều gì làm cho một vật dụng trở thành thiết bị - cụ thể là tính chất thiết bị của nó. Theo nghĩa chặt chẽ, không có thứ gọi là thiết bị. Một toàn thể tính của thiết bị trong đó nó có thể là cái thiết bị là bản thân nó đó lại luôn thuộc về Hữu thể của bất cứ thiết bị nào ở đó. Thiết bị về bản chất là ‘cái gì đó để…’. Một toàn thể tính của thiết bị được cấu thành bởi nhiều cách thức của cái ‘để-làm’ đó, chẳng hạn như khả năng phục vụ, tính thuận lợi, tính khả dụng, tính khả thao tác. Trong cái ‘để-làm’ với tư cách là một cấu trúc đó, ẩn chứa một sự gán ghép hoặc tham chiếu của cái gì đó đối với cái gì đó.8 Chỉ trong các phân tích tiếp theo, cái hiện tượng mà thuật ngữ ‘gán ghép’ này chỉ ra mới có thể được làm rõ trong nguồn gốc bản thể luận của nó. Tạm thời, chỉ cần có một cái nhìn mang tính hiện tượng vào vô số các gán ghép như vậy. Thiết bị - phù hợp với tính thiết bị của nó - luôn luôn tồn tại trong khuôn khổ sự thuộc về thiết bị khác của nó: lọ mực, bút, mực, giấy, miếng thấm mực, bàn, đèn, đồ nội thất, cửa sổ, cửa ra vào, căn phòng. Những ‘Sự vật’ này [tr.98] không bao giờ tự thể hiện mình một cách gần gũi như bản thân chúng, để rồi cộng lại thành một tổng thể các vật thể thực và lấp đầy một căn phòng. Cái mà chúng ta gặp gần gũi nhất (mặc dù không phải là một chủ đề) là căn phòng; và chúng ta gặp nó không phải là thứ ‘nằm giữa bốn bức tường’ theo nghĩa không gian hình học, mà là trang thiết bị để cư trú. Từ đó, ‘sự sắp xếp’ xuất hiện, và chính trong điều này mà bất kỳ vật dụng trang thiết bị ‘riêng lẻ’ nào cũng đều tự thể hiện mình. Trước khi điều đó xảy ra, toàn bộ trang thiết bị đã được phát hiện.
Thiết bị chỉ có thể thực sự thể hiện mình trong các giao dịch được đo lường theo đúng quy mô của nó (ví dụ như dùng búa đóng đinh); nhưng trong những giao dịch như vậy, một hiện hữu thuộc loại này không được nắm bắt theo chủ đề như một Sự vật đang xuất hiện, cũng như cấu trúc thiết bị không được biết đến theo đúng nghĩa ngay cả trong quá trình sử dụng. Việc đóng đinh không chỉ đơn thuần có kiến thức về đặc tính của búa như một thiết bị, mà nó còn chiếm hữu thiết bị này theo một cách không thể phù hợp hơn. Trong những giao dịch như thế này, khi một thứ gì đó được đưa vào sử dụng, thì mối quan tâm của chúng ta tự đặt dưới sự chi phối của mục đích ‘để-làm’ cái vốn là yếu tố cấu thành nên thiết bị mà chúng ta đang sử dụng vào thời điểm đó; càng ít nhìn chằm chằm vào cái búa-Sự vật, và càng nắm lấy nó và sử dụng nó, thì mối quan hệ của chúng ta với nó càng trở nên nguyên thủy hơn, và nó càng được bộc lộ rõ ràng hơn như chính sự tồn tại của nó – với tư cách một thiết bị. Chính việc đóng búa đã làm lộ ra khả năng ‘thao tác’ cụ thể của cái búa. Loại Hữu thể mà thiết bị sở hữu - trong đó nó tự hiện thân - chúng ta gọi là "sự sẵn sàng sử dụng" [Zuhandenheit].9
[Chen ngang: Zuhandenheit, ‘sẵn có để dùng’, là một khái niệm trung tâm của Martin Heidegger. Nó mô tả cách chúng ta tương tác với thế giới hàng ngày - không phải với tư cách là những người quan sát tách rời, xem xét các vật thể trung lập, mà là những người tham gia tích cực sử dụng công cụ, nơi mọi thứ lùi vào hậu cảnh của ý thức để chúng ta có thể tập trung vào nhiệm vụ của mình. Ví dụ về chiếc búa - khi tôi dùng búa để đóng một cái kệ, tôi không nhìn chằm chằm vào nó hoặc nghĩ về các đặc tính vật lý của nó. Thay vào đó, tôi tập trung vào chính hành động đóng búa. Trong trạng thái này, công cụ là zuhanden - tôi đắm chìm trong nó, và nó hoạt động như một phần mở rộng trong suốt của cơ thể và mục tiêu của tôi. Zuhandenheit tương phản với Vorhandenheit - Hiện diện vô tri - Heidegger đối lập Zuhandenheit với Vorhandenheit, trong tình huống Vorhandenheit là cách chúng ta nhận thức các vật thể khi chúng bị vỡ hoặc khi chúng ta lùi lại để phân tích chúng về mặt lý thuyết như một nhà khoa học. Ví dụ, nếu đầu búa bị văng ra, tôi đột nhiên dừng công việc của mình và nhìn vào chính chiếc búa như một vật thể vật lý tách rời. Nó chuyển từ trạng thái ‘sẵn có để dùng’ với tư cách là một công cụ hữu ích - sang trạng thái Vorhandenheit/ present-at-hand hiện-diện-vô-tri. Trong các tình huống đó, bối cảnh có vai trò của mình - chúng ta không gặp phải các thực thể riêng lẻ; chúng ta gặp các vật thể như là một phần của một hệ thống tiện ích liên kết với nhau. Chiếc búa gợi lên hình ảnh chiếc đinh, chiếc đinh gợi lên hình ảnh gỗ, và gỗ gợi lên hình ảnh việc xây dựng một nơi trú ẩn. Zuhandenheit cho thấy rằng mối quan hệ chính của chúng ta với thế giới về cơ bản là thực tiễn và trải nghiệm, chứ không phải lý thuyết hay trí tuệ.-HHN]
Loại Hữu thể mà thiết bị sở hữu - trong đó nó tự hiện thân - chúng ta gọi là ‘sẵn có để dùng’ - Zuhandenheit.9 Chỉ vì thiết bị có cái Hữu-thể-tự-thân này và không chỉ đơn thuần xuất hiện, nên nó mới có thể được thao tác theo nghĩa rộng nhất và nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta. Cho dù chúng ta chỉ nhìn vào ‘vẻ bề ngoài’ của Sự vật dưới bất kỳ hình thức nào, thì chúng ta cũng không thể phát hiện ra bất cứ thứ gì ‘sẵn có để dùng’. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào Sự vật một cách ‘lý thuyết’, thì chúng ta có thể sống mà không cần hiểu về tình trạng ‘sẵn có để dùng’. Nhưng khi chúng ta giao tiếp với chúng bằng cách sử dụng và thao tác với chúng, thì hoạt động này không phải là một hoạt động mù quáng; nó có loại tầm nhìn riêng, nhờ đó thao tác của chúng ta được hướng dẫn và từ đó nó có được đặc tính Sự vật cụ thể của nó. Việc giao tiếp với thiết bị phụ thuộc vào vô số nhiệm vụ của cái ‘để-làm’. Và tầm nhìn mà chúng tự điều chỉnh theo đó chính là sự cẩn trọng.10
____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen
Notes
1 ‘Welt’, ‘weltlich’, ‘Weltlichkeit’, ‘Weltmiissigkeit’. Thông thường, chúng ta sẽ dịch 'Welt' là 'Thế giới' hoặc 'một Thế giới’, theo cách diễn đạt tiếng Anh, mặc dù Heidegger thường bỏ mạo từ khi ông muốn đề cập đến 'Welt' như một 'đặc điểm' của Dasein. Trong tiếng Đức thông thường, tính từ 'weltlich' và danh từ phái sinh 'Weltlichkeit' có ý nghĩa tương tự như các từ 'worldly' và 'worldliness' trong tiếng Anh; nhưng ý nghĩa mà Heidegger gán cho chúng (H. 65) lại hoàn toàn khác với các từ cùng gốc trong tiếng Anh. Để tránh làm lu mờ mối liên hệ từ nguyên và đôi khi gây hiểu lầm cho người đọc, chúng ta sẽ dịch 'weltlich' là 'worldly', 'Weltlichkeit' là 'worldhood', và 'Weltmiissigkeit' là 'worldly character'. Tuy nhiên, người đọc phải ghi nhớ rằng ở đây không có gợi ý nào về 'tính thế tục' của 'người đàn ông của thế gian'. [tr.91]
2 ‘…die “eigene” und nachste (hausliche) Umwelt.’ Từ 'Umwelt', thường được dịch là 'environment', nghĩa đen là 'thế giới xung quanh' hoặc 'thế giới về'. Tuy nhiên, tiền tố 'urn-' không chỉ có thể có nghĩa là 'xung quanh' hoặc 'về', mà, như chúng ta sẽ thấy, cũng có thể được sử dụng trong một biểu thức như 'urn zu…', dễ dịch nhất là 'để'. Phần 15 sẽ chủ yếu dành cho việc nghiên cứu một số từ có cùng tiền tố này, mặc dù điều này hoàn toàn không rõ ràng trong các từ mà chúng ta đã chọn để đại diện cho chúng: 'Umgang' ('giao dịch'); 'das Um-zu' ('the “in-order-to”'); 'Umsicht' ('sự thận trọng'). [tr.93]
3 'Das Seiende als Natur k.ann das Dasein nur in einem bestimmten Modus seines Inder-Welt-seins entdecken.' [tr.94]
4 A được xem xét trong Phần 1 5-18; B trong Phần 19-2 1; C trong Phần 22-24. [trang 95]
5 'Umgang'. Từ này theo nghĩa đen có nghĩa là 'đi vòng quanh' hoặc 'đi loanh quanh', theo nghĩa không quá khác biệt so với những gì chúng ta nghĩ đến khi nói rằng ai đó đang 'lo việc của mình'. 'Giao dịch' không phải là bản dịch chính xác, nhưng có lẽ là bản dịch tiện lợi nhất. 'Giao tiếp' và 'buôn bán' cũng là những bản dịch khả thi. [tr.95]
6 Xem ở trên, H. 57, chú thích 1, trang 83. [tr.95]
7 'das <;eug'. Từ 'Zeug' không có từ tương đương chính xác trong tiếng Anh. Mặc dù nó có thể có nghĩa là bất kỳ dụng cụ, công cụ hoặc thiết bị nào, nhưng Heidegger chủ yếu sử dụng nó như một danh từ tập thể, tương tự như từ 'gear' tương đối cụ thể của chúng ta (như trong 'gear for fishing') hoặc từ 'paraphernalia' phức tạp hơn, hoặc từ 'equipment' tổng quát hơn nữa, mà chúng ta sẽ sử dụng xuyên suốt bản dịch này. Theo nghĩa tập thể này, 'Zeug' đôi khi có thể được sử dụng theo cách tương tự như cách sử dụng từ 'stuff' trong các câu như 'there is plenty of stuff lying around'. (Xem H. 74.) Tuy nhiên, nhìn chung, ý nghĩa tiêu cực này không tồn tại. Phần lớn Heidegger sử dụng thuật ngữ này như một danh từ tập thể, để ông có thể nói rằng không có thứ gọi là 'an equipment'; nhưng đôi khi ông vẫn sử dụng nó với mạo từ không xác định để chỉ một công cụ hoặc dụng cụ cụ thể nào đó - một vật phẩm hoặc một phần của thiết bị. [tr.97]
8 'Trong cấu trúc "Um-zu" có một sự quy chiếu của một thứ gì đó.' Không có từ tương đương gần nhất trong tiếng Anh cho từ 'Verweisung', xuất hiện nhiều lần trong chương này. Ẩn dụ cơ bản dường như là việc hướng một thứ gì đó ra xa về phía một thứ khác, hoặc chỉ nó ra xa, như khi người ta 'tham chiếu', 'giao phó', 'giáng chức' hoặc 'chỉ định' một thứ gì đó cho một thứ khác, cho dù người ta 'tham chiếu' một biểu tượng đến những gì nó tượng trưng, 'tham chiếu' một người ăn xin đến một cơ quan phúc lợi, 'giao phó' một người để xét xử, 'giáng chức' hoặc 'trục xuất' anh ta đến Siberia, hoặc thậm chí 'chỉ định' thiết bị cho một mục đích mà nó sẽ được sử dụng. Do đó, 'Verweisung' thực hiện một phần công việc của 'tham chiếu', 'giao phó', 'chỉ định', 'giáng chức', 'trục xuất'; nhưng nó không thực hiện tất cả công việc của bất kỳ biểu thức nào trong số này. Để một doanh nhân 'tham khảo' một bức thư, để một biểu tượng 'tham khảo' những gì nó tượng trưng, để một người 'thực hiện hành vi trộm cắp hoặc giết người' hoặc chỉ đơn thuần là 'cam kết' với một số quan điểm phe phái nhất định, để một giáo viên giao cho học sinh một 'bài tập' dài, hoặc thậm chí để một nhà báo nhận một 'nhiệm vụ' đến Vatican, chúng ta sẽ phải tìm một động từ khác ngoài 'verweisen'. Tuy nhiên, chúng ta sẽ sử dụng các động từ 'assign' và 'refer' và các từ phái sinh của chúng như những từ thay thế ít gây hiểu nhầm nhất, sử dụng từ nào có vẻ phù hợp hơn trong ngữ cảnh, và đôi khi sử dụng cấu trúc hendiadys như trong đoạn văn hiện tại. Xem Mục 1 7 để thảo luận thêm. (Khi các từ khác như 'anweisen' hoặc 'zuweisen' được dịch là 'assign', chúng ta thường sẽ thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn.) [tr.97]
9 Chỉ in nghiêng trong các ấn bản trước đó. [tr.98]
10 Từ 'Umsicht', mà chúng ta dịch là 'sự thận trọng', ở đây được trình bày như là đại diện cho một loại 'Sicht' ('thị giác') đặc biệt. Ở đây, cũng như ở những nơi khác, Heidegger đang tận dụng thực tế rằng tiền tố 'urn' có thể có nghĩa là 'xung quanh' hoặc 'để'. Do đó, 'Umsicht' có thể được hiểu là 'nhìn xung quanh' hoặc 'tìm kiếm xung quanh một cái gì đó' hoặc 'tìm kiếm xung quanh một cách để hoàn thành một việc gì đó'. Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, 'Umsicht' dường như có cùng ý nghĩa với 'sự thận trọng' của chúng ta - một loại nhận thức trong đó người ta nhìn xung quanh trước khi quyết định chính xác những gì mình nên làm tiếp theo. Nhưng Heidegger dường như đang khái quát hóa khái niệm này cũng như thu hút sự chú ý đến mức độ mà sự thận trọng theo nghĩa hẹp hơn xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. (Sự phân biệt giữa 'thị giác' (Sicht') và 'nhìn thấy' (Sehen') sẽ được trình bày chi tiết hơn trong Phần 3, 1 và 36 bên dưới.) [tr.98-99]
