Powered By Blogger

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXIX)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

4. Các Tự ngã Khác và Thế giới Con người

[Tr.403] Tôi bị ném vào một tự nhiên, và tự nhiên ấy không chỉ hiện ra bên ngoài tôi, trong những vật thể không có lịch sử, mà còn có thể nhận thấy ở trung tâm của chủ thể tính. Những quyết định lý thuyết và thực tiễn của cuộc sống cá nhân có thể nắm giữ, từ xa, quá khứ và tương lai của tôi, và ban cho quá khứ của tôi, với tất cả những sự kiện ngẫu nhiên của nó, một ý nghĩa nhất định, bằng cách tiếp nối nó với một tương lai mà sau sự kiện sẽ được nhìn nhận như là đã được nó báo trước, do đó đưa tính lịch sử vào cuộc đời tôi. Tuy nhiên, những chuỗi sự kiện này luôn có điều gì đó giả tạo. Chính lúc này tôi mới nhận ra rằng hai mươi lăm năm đầu đời của tôi là một tuổi thơ kéo dài, định mệnh sẽ dẫn đến một sự chia cắt đau đớn cuối cùng dẫn đến sự độc lập. Nếu tôi quay trở lại những năm tháng đó như tôi thực sự đã sống và như tôi mang chúng trong mình, thì hạnh phúc của tôi vào thời điểm đó không thể được giải thích bằng bầu không khí được che chở của gia đình cha mẹ; thế giới tự nó đẹp hơn, mọi thứ hấp dẫn hơn, và tôi không bao giờ chắc chắn có thể hiểu quá khứ của mình trọn vẹn hơn chính nó đã hiểu vào thời điểm tôi sống qua nó, cũng như không thể dập tắt được sự phản kháng của nó. Cách diễn giải mà tôi đưa ra bây giờ gắn liền với niềm tin của tôi vào phân tâm học. Ngày mai, với nhiều kinh nghiệm và hiểu biết hơn, có thể tôi sẽ hiểu nó khác đi, và do đó tái cấu trúc quá khứ của mình theo một cách khác. Dù sao đi nữa, tôi [tr.404] cũng sẽ tiếp tục diễn giải những diễn giải hiện tại của mình, lần lượt tiết lộ nội dung tiềm ẩn của chúng và, để cuối cùng xác định giá trị chân lý của chúng, tôi cần phải ghi nhớ những khám phá này. Việc tôi nắm giữ quá khứ và tương lai là rất bấp bênh, còn việc sở hữu thời gian của riêng tôi lại luôn bị trì hoãn cho đến một giai đoạn mà tôi có thể hiểu đầy đủ về nó, nhưng khó mà đạt tới được giai đoạn này, vì nó sẽ chỉ là một khoảnh khắc nữa, bị giới hạn bởi chân trời tương lai của nó, và đến lượt nó lại đòi hỏi những phát triển tiếp theo cần được hiểu biết. Do đó, cuộc sống tự nguyện và lý trí của tôi nhận thức được rằng nó hòa nhập vào một sức mạnh khác cản trở sự hoàn thiện của nó, và luôn mang một cái nhìn thăm dò. Thời gian tự nhiên luôn có đó. Cái siêu việt của những khoảnh khắc thời gian vừa là nền tảng, vừa là trở ngại cho tính hợp lý của lịch sử cá nhân tôi: là nền tảng bởi vì nó mở ra một tương lai hoàn toàn mới cho tôi, trong đó tôi có thể suy ngẫm về yếu tố mờ đục trong hiện tại của mình, một nguồn hiểm họa bởi vì tôi sẽ không bao giờ nắm bắt được hiện tại mà tôi đang sống với sự chắc chắn tuyệt đối, và vì cuộc sống đã trải qua không bao giờ hoàn toàn dễ hiểu, những gì tôi hiểu không bao giờ hoàn toàn trùng khớp với kinh nghiệm sống của tôi, tóm lại, tôi không bao giờ hoàn toàn hòa hợp với chính mình. Đó là số phận của một sinh linh được sinh ra, nghĩa là, một lần  duy nhất đã được trao cho chính mình như một điều gì đó cần phải hiểu. Vì thời gian tự nhiên vẫn nằm ở trung tâm lịch sử của mình, nên tôi thấy mình bị nó vây quanh. Việc những năm tháng đầu đời của tôi nằm lại phía sau như một vùng đất xa lạ không phải do ngẫu nhiên quên lãng hay bởi không nhớ lại đầy đủ: không có gì để biết trong những vùng đất chưa được khám phá này. Ví dụ, trong sự tồn tại trước khi sinh ra, không có gì được tri giác, và do đó không có gì để nhớ lại. Không có gì ngoài nguyên liệu thô và bản phác họa của một tự ngã tự nhiên và một thời gian tự nhiên. Cuộc sống vô danh này chỉ đơn thuần là hình thức cực đoan của sự phân tán thời gian luôn đe dọa hiện tại lịch sử. Để có được một manh mối nào đó về bản chất của sự tồn tại vô định hình đã có trước lịch sử của chính mình, và đưa nó đến hồi kết, tôi chỉ cần nhìn vào bên trong mình vào thời điểm mà nó theo đuổi tiến trình độc lập của riêng nó, và thứ mà cuộc sống cá nhân của tôi sử dụng nhưng không hoàn toàn phủ lên. Bởi vì tôi được sinh ra trong sự tồn tại cá nhân bởi một thời điểm mà tôi không cấu thành, nên toàn bộ các tri giác của tôi đều nổi bật trên nền tảng của tự nhiên. Trong khi tôi tri giác, và ngay cả khi không có bất kỳ tri ​​thức nào về các điều kiện hữu cơ của tri giác mình, tôi nhận thức được việc kết nối [tr. 405] những ‘ý thức’ có phần lơ đãng và phân tán: thị giác, thính giác và xúc giác, với các trường của chúng, vốn ở phía trước và vẫn xa lạ với cuộc sống cá nhân của tôi. Đối tượng tự nhiên là dấu vết do sự tồn tại tổng quát này để lại. Và mọi đối tượng, trước hết và ở một khía cạnh nào đó, sẽ là một đối tượng tự nhiên, được tạo thành từ màu sắc, phẩm chất xúc giác và thính giác, trong chừng mực nó được định sẵn để đi vào cuộc đời tôi.

Hệt như tự nhiên len lỏi vào cốt lõi cuộc sống cá nhân tôi và trở nên gắn bó không thể tách rời, các mô thức hành vi cũng lắng đọng vào tự nhiên đó, được lưu giữ dưới dạng một thế giới văn hóa. Tôi không chỉ có một thế giới vật chất, không chỉ sống giữa đất, không khí và nước, mà xung quanh tôi còn có đường đi, đồn điền, làng mạc, phố xá, nhà thờ, dụng cụ, một cái chuông, một cái thìa, một cái tẩu thuốc. Mỗi vật thể này đều được định hình theo hành động của con người mà nó phục vụ. Mỗi vật thể lan tỏa xung quanh nó một bầu không khí nhân văn, có thể được xác định ở mức độ thấp, như trường hợp vài dấu chân trên cát, hoặc ngược lại, rất rõ ràng, nếu tôi đi vào từng phòng từ trên xuống dưới của một ngôi nhà vừa mới bỏ trống. Giờ đây, mặc dù có thể không đáng ngạc nhiên khi các chức năng cảm giác và tri giác tạo ra một thế giới tự nhiên trước chúng, vì chúng là tiền-cá nhân, nhưng có vẻ kỳ lạ khi những hành động tự phát mà con người đã dùng để định hình cuộc sống của mình lại được lưu giữ, giống như một loại trầm tích, bên ngoài bản thân họ và tồn tại vô danh như những vật thể. Nền văn minh mà tôi đang tham gia tồn tại một cách hiển nhiên đối với tôi thông qua những công cụ mà nó tự tạo ra. Nếu đó là một nền văn minh chưa được biết đến hoặc xa lạ, thì nhiều cách thức tồn tại hoặc sinh sống có thể tìm thấy chỗ đứng của chúng trong những tàn tích hoặc những công cụ bị hỏng mà tôi khám phá, hoặc trong cảnh quan mà tôi lang thang. Thế giới văn hóa khi đó mơ hồ, nhưng nó đã hiện diện. Trước mắt tôi là một xã hội cần được hiểu biết. Một Tinh thần Khách quan ngự trị trong những tàn tích và cảnh vật. Làm sao điều đó lại trở nên khả thể? Trong đối tượng văn hóa, tôi cảm nhận được sự hiện diện gần gũi của những kẻ khác ẩn sau bức màn ẩn danh tính. Ai đó dùng tẩu để hút thuốc, dùng thìa để ăn, dùng chuông để gọi, và chính thông qua tri giác về một hành động của con người và một người khác mà có thể minh định được tri giác về một thế giới văn hóa. Làm thế nào một hành động hay một suy nghĩ của con người có thể được nắm bắt theo phương thức của ‘kẻ kia’ khi, về bản chất, nó là một hoạt động của ngôi thứ nhất, không thể tách rời khỏi một cái Tôi? Thật dễ dàng để đáp lại rằng đại từ bất định ở đây không hơn gì một công thức mơ hồ để chỉ nhiều ‘Tôi’ hoặc thậm chí là một ‘Tôi’ chung. [Tr.406] Người ta sẽ nói rằng tôi trải nghiệm một môi trường văn hóa nhất định cùng với hành vi tương ứng với nó: khi đối mặt với tàn tích của một nền văn minh đã tuyệt chủng, tôi hình dung một cách tương tự về kiểu người đã sống trong đó. Nhưng nhu cầu đầu tiên là phải biết tôi trải nghiệm thế giới văn hóa của chính mình, nền văn minh của chính mình như thế nào. Câu trả lời sẽ lại là tôi thấy những kẻ khác sử dụng những công cụ xung quanh tôi theo một cách nhất định, và tôi diễn giải hành vi của họ bằng cách tương tự với hành vi của chính mình, thông qua kinh nghiệm nội tâm của tôi, thứ dạy tôi ý nghĩa và mục đích của những cử chỉ được tri giác. Cuối cùng, theo lý thuyết này, hành động của kẻ khác luôn được thấu hiểu thông qua hành động của chính tôi; ‘kẻ kia’ hoặc ‘chúng mình’ thông qua cái ‘Tôi’. Nhưng đây chính xác là câu hỏi: làm thế nào để từ ‘Tôi’ có thể được dùng ở dạng số nhiều, làm thế nào để hình thành một ý niệm chung về cái ‘Tôi’, làm thế nào để tôi có thể nói về một cái ‘Tôi’ khác với chính mình, làm thế nào để tôi biết rằng có những ‘Tôi’ khác, làm thế nào để ý thức, vốn dĩ mang bản chất và tự thân-tri thức, hoạt động theo phương thức của cái ‘Tôi’, có thể được nắm bắt theo phương thức của ‘Mày’, và thông qua đó, trong thế giới của cái ‘Một’? Đối tượng văn hóa đầu tiên, quan trọng nhất, và là nền tảng của tất cả những đối tượng khác, chính là thân thể của kẻ khác như là phương tiện của một hình thức hành vi. Cho dù đó là vấn đề về dấu tích hay thân thể của kẻ khác, vẫn cần biết làm sao một vật thể trong không gian có thể trở thành dấu tích hùng hồn của một tồn tại; ngược lại, làm sao một ý định, một suy nghĩ hay một dự án có thể tách rời khỏi chủ thể cá nhân và trở nên khả kiến bên ngoài hắn dưới hình dạng cơ thể và trong môi trường mà hắn tự tạo ra cho mình. Cấu thành của kẻ khác không hoàn toàn làm sáng tỏ cấu thành của xã hội, vốn không phải là loại tồn tại chỉ gồm hai hay ba kẻ, mà là đồng-tồn tại của một lượng ý thức vô hạn. Tuy nhiên, phân tích tri giác của kẻ khác gặp khó khăn về nguyên tắc do thế giới văn hóa đặt ra, vì nó phải giải quyết nghịch lý của một ý thức được nhìn từ bên ngoài, của một tư tưởng trú ngụ trong thế giới bên ngoài, và do đó, đã trở nên vô danh và phi chủ thể so với tư tưởng của tôi.

Những gì chúng ta đã nói về cơ thể cung cấp giải pháp khởi đầu cho vấn đề này. Tồn tại của những kẻ khác là một khó khăn và một sự xúc phạm đối với tư duy khách quan. Nếu các sự kiện trên thế giới, theo lời của Lachelier, là một mạng lưới các thuộc tính chung nằm ở điểm giao nhau của các mối quan hệ chức năng mà về nguyên tắc, cho phép [tr.407] phân tích về những sự kiện trước đó được thực hiện, và nếu cơ thể thực sự là một lãnh địa của thế giới, nếu nó là đối tượng mà nhà sinh vật học nói đến, sự kết hợp của các quá trình được phân tích trong các luận thuyết logic sinh lý, tập hợp các cơ quan được thể hiện trong các hình minh họa của sách giải phẫu, thì kinh nghiệm của tôi không thể là gì khác ngoài cuộc đối thoại giữa ý thức trần trụi và hệ thống các mối tương quan khách quan mà nó hình dung. Cơ thể của kẻ khác, giống như của tôi, không phải là nơi cư ngụ, mà là một đối tượng đứng trước ý thức suy nghĩ về hoặc cấu thành nó. Những kẻ khác, và bản thân tôi, được xem như những hiện hữu thực nghiệm, chỉ là những mảnh cơ cấu được vận hành bởi các lò xo, nhưng chủ thể thực sự không thể lặp lại, vì ý thức ẩn giấu trong rất nhiều thịt và máu là phẩm chất huyền bí khó hiểu nhất. Ý thức của tôi, đồng tồn với những gì có thể tồn tại cho tôi và tương ứng với toàn bộ hệ thống kinh nghiệm, không thể gặp trong hệ thống đó một ý thức khác có năng lực ngay lập tức rọi sáng trong cái thế giới mà bối cảnh của nó tôi lại không biết, năng lực của các hiện tượng riêng của nó. Có hai phương thức hiện hữu, và chỉ có hai: hiện hữu tự thân, đó là phương thức của các vật thể được sắp xếp trong không gian, và hiện hữu cho chính nó, đó là phương thức của ý thức. Giờ đây, một kẻ khác dường như đứng trước tôi như một hiện hữu tự-thân nhưng lại tồn tại cho-tự-thân-hắn, do đó đòi hỏi tôi, để được tri giác, phải có một thao tác mâu thuẫn, vì tôi phải vừa phân biệt kẻ đó khỏi bản thân mình, lại vừa đặt kẻ đó vào thế giới các vật thể, và nghĩ về kẻ đó như một ý thức, tức là loại hiện hữu không có bên ngoài và không có các bộ phận, mà tôi chỉ có thể tiếp cận được bởi vì hiện hữu đó là bản thân tôi, và bởi vì kẻ tư duy và đối tượng tư duy được hợp nhất trong kẻ đó. Do đó, không có chỗ cho những kẻ khác và nhiều ý thức khác nhau trong tư duy khách quan. Trong chừng mực cấu thành thế giới, tôi không thể hình dung một ý thức khác, vì nó cũng phải cấu thành thế giới và, ít nhất là với quan điểm khác về thế giới, tôi không phải là tác nhân cấu thành. Ngay cả khi tôi thành công khi nghĩ về nó như là cấu thành thế giới, thì chính tôi mới là kẻ cấu thành ý thức theo đúng nghĩa, và tôi lại là tác nhân cấu thành duy nhất.

Nhưng trên thực tế, chúng ta đã học cách nghi ngờ tư duy khách quan, và đã tiếp xúc, ở phía bên kia của các biểu hiện khoa học về thế giới và cơ thể, với một trải nghiệm về cơ thể và thế giới mà những phương pháp khoa học này không thể bao quát thành công. [Tr.408] Cơ thể tôi và thế giới không còn là những đối tượng được phối hợp với nhau bởi loại mối quan hệ chức năng mà vật lý thiết lập. Hệ thống kinh nghiệm trong đó chúng giao tiếp với nhau không được trải rộng trước mặt tôi và được bao quát bởi một ý thức cấu thành. Tôi có thế giới như một cá thể chưa hoàn thiện, thông qua tác động của cơ thể tôi như là tiềm năng tính của thế giới này, và tôi có sự định vị các đối tượng thông qua cơ thể tôi, hoặc ngược lại, sự định vị cơ thể tôi thông qua các đối tượng, không phải theo bất kỳ sự suy luận logic nào, như cách chúng ta xác định một kích thước chưa biết thông qua các mối quan hệ khách quan của nó với các kích thước đã cho, mà là theo một sự suy luận thực sự, và bởi vì cơ thể tôi là một chuyển động hướng tới thế giới, và thế giới là điểm tựa của cơ thể tôi. Lý tưởng của tư duy khách quan—hệ thống kinh nghiệm được hình thành như một cụm các tương quan vật lý-toán học—được đặt nền tảng trong tri giác của tôi về thế giới như một cá thể hài hòa với chính nó, và khi khoa học cố gắng đưa cơ thể tôi vào trong các mối quan hệ tồn tại trong thế giới khách quan, đó là bởi vì nó đang cố gắng, theo cách riêng của mình, chuyển dịch sự kết nối của cơ thể hiện tượng của tôi lên thế giới nguyên thủy. Đồng thời khi cơ thể rút khỏi thế giới khách quan, và hình thành giữa chủ thể thuần túy và đối tượng một chi hiện hữu thứ ba, thì chủ thể mất đi tính thuần khiết và tính minh bạch của nó. Các vật thể đứng trước tôi và ném lên võng mạc tôi một hình chiếu nhất định của chính chúng, và tôi tri giác chúng. Không còn có thể có vấn đề biệt lập, trong tái hiện sinh lý của hiện tượng này, các hình ảnh trên võng mạc và phần tương ứng trong não bộ của chúng khỏi toàn bộ trường, thực tế và khả thể, mà chúng xuất hiện trong đó nữa. Sự kiện sinh lý chỉ đơn thuần là sơ đồ trừu tượng của sự kiện tri giác.1 Cũng không thể viện dẫn, dưới danh nghĩa hình ảnh tinh thần, những quan điểm phối cảnh không liên tục tương ứng với các hình ảnh võng mạc liên tiếp, hoặc cuối cùng đưa ra một ‘kiểm tra tâm trí’ khôi phục lại đối tượng vượt ra ngoài những phối cảnh méo mó. Chúng ta phải hình dung các phối cảnh và góc nhìn như sự hòa nhập của chúng ta vào thế giới với tư-cách-là-một-cá-nhân, và tri giác, không còn là cấu thành của đối tượng thực sự, mà là cố hữu của chúng ta trong sự vật. Ý thức tự khám phá ra trong chính nó, cùng với các trường cảm giác và với thế giới như là trường của mọi trường, tính mờ đục của một quá khứ sơ khai. Nếu tôi trải nghiệm hành động cố hữu này của ý thức tôi trong cơ thể và thế giới của nó, thì tri giác [tr.409] về những kẻ khác và đa nguyên tính của các ý thức không còn gây khó khăn gì nữa. Nếu, đối với bản thân tôi, kẻ đang suy ngẫm về tri giác, thì chủ thể tri giác, dường như được cung cấp một bối cảnh nguyên thủy liên quan đến thế giới, kéo theo thứ vật thể hữu hình mà sự vắng mặt của nó sẽ không có những thứ khác cho nó, thì tại sao những cơ thể khác mà tôi tri giác lại không được cư ngụ bởi các ý thức tương tự? Nếu ý thức của tôi có một cơ thể, tại sao những cơ thể khác lại không ‘có’ ý thức? Rõ ràng điều này liên quan đến một sự biến đổi sâu sắc về các khái niệm cơ thể và ý thức. Xét về cơ thể, ngay cả cơ thể của kẻi khác, chúng ta vẫn phải học cách phân biệt nó với cơ thể khách quan như đã được trình bày trong các tác phẩm về sinh lý học. Đây không phải là cơ thể có năng lực chứa đựng ý thức. Chúng ta phải nắm bắt lại trên các cơ thể hữu hình những hình thức hành vi được phác họa ở đó và xuất hiện trên chúng, nhưng thực sự không chứa đựng trong chúng.2 Làm thế nào mà ý nghĩa và ý hướng tính có thể tồn tại trong các cấu trúc phân tử hoặc khối lượng tế bào là một điều không bao giờ có thể hiểu được, và ở đây chủ nghĩa Descartes là đúng. Nhưng dù sao đi nữa, không có câu hỏi nào về một nỗ lực phi lý như vậy. Đó chỉ đơn giản là vấn đề nhận ra rằng cơ thể, như một cấu trúc hóa học hoặc một tập hợp các mô, được hình thành, bằng một quá trình suy giảm, từ một hiện tượng nguyên thủy của cơ-thể-cho-ta, cơ thể của kinh nghiệm con người hoặc cơ thể được tri giác, mà xung quanh nó tư duy khách quan hoạt động, nhưng không cần phải đưa ra giả thuyết về sự phân tích hoàn chỉnh của nó. Đối với ý thức, nó phải được hình dung, không còn là một ý thức cấu thành và, như thể, một hiện-hữu-cho-tự- thân thuần túy, mà là một ý thức tri giác, với tư cách là chủ thể của một mô thức hành vi, với tư các hiện-hữu-trong-thế-giới hay tồn tại, bởi chỉ có như vậy thì một cái khác mới có thể xuất hiện ở đỉnh cao cơ thể hiện tượng của mình, và được ban cho một loại ‘tính cục bộ’. Trong những điều kiện này, các antinomies nghịch lý của tư duy khách quan biến mất. Bằng phép phản tư hiện tượng học, tôi khám phá ra thị giác, không phải là ‘tư duy về nhìn’, theo cách diễn đạt của Descartes, mà là một cái nhìn nắm bắt thế giới khả kiến, đó là lý do tại sao tôi có thể có cái nhìn của kẻ khác; công cụ biểu đạt được gọi là khuôn mặt đó có thể mang tồn tại, giống như tồn tại của chính tôi được cơ thể tôi - bộ máy thu nhận tri thức đó - chuyên chở.

[Tr.410] Khi tôi hướng tới tri giác, và chuyển từ tri giác trực tiếp sang suy nghĩ về tri giác đó, tôi tái hiện lại nó, và tìm thấy trong các giác quan nhận thức của mình một tư duy cổ xưa hơn chính bản thân tôi mà các giác quan đó chỉ là dấu vết. Cũng theo cách đó, tôi hiểu sự tồn tại của những người khác. Ở đây, một lần nữa tôi chỉ có dấu vết của một ý thức mà tôi không thể nắm bắt được trong thực tại của nó, và khi ánh mắt tôi gặp một ánh mắt khác, tôi tái hiện lại sự tồn tại xa lạ đó dưới dạng phản chiếu. Ở đây không có gì giống với ‘suy lý bằng phép loại suy’. Như Scheler đã tuyên bố rất đúng, suy lý bằng phép loại suy giả định những gì nó được dùng để giải thích. Ý thức khác chỉ có thể được suy ra nếu các biểu hiện cảm xúc của kẻ khác được so sánh và đồng nhất với của tôi, và các mối tương quan chính xác được nhận ra giữa hành vi thể chất của tôi và ‘các sự kiện tâm linh’ của tôi. Giờ đây, tri giác về kẻ khác có trước và là điều kiện của những quan sát đó, những quan sát đó không cấu thành nên tri giác. Một đứa trẻ mười lăm tháng tuổi sẽ mở miệng nếu tôi nghịch ngợm ngậm một ngón tay của nó giữa răng và giả vờ cắn. Thế nhưng, nó hầu như chưa từng nhìn mặt mình trong gương, và răng của nó cũng chẳng giống răng tôi chút nào. Thực tế là, miệng và răng của chính nó, khi nó cảm nhận từ bên trong, ngay lập tức trở thành một bộ phận để cắn, và hàm của tôi, khi đứa bé nhìn thấy từ bên ngoài, ngay lập tức cũng có khả năng thực hiện những ý định tương tự. ‘Cắn’ ngay lập tức mang ý nghĩa liên chủ thể đối với nó. Nó tri giác các ý hướng của mình trong cơ thể nó, và cơ thể tôi trong cơ thể của chính nó, và do đó, ý định của tôi trong chính cơ thể nó. Những mối tương quan được quan sát giữa hành vi thể chất của tôi và của kẻ khác, giữa ý hướng của tôi và cử chỉ của tôi, có thể cung cấp cho tôi manh mối bằng nỗ lực đúng phương pháp để hiểu kẻ khác và trong những trường hợp tri giác trực tiếp thất bại, nhưng chúng không dạy tôi về sự tồn tại của kẻ khác. Giữa ý thức và cơ thể mà tôi trải nghiệm, giữa cơ thể hiện tượng này của tôi và của kẻ khác mà tôi nhìn thấy từ bên ngoài, tồn tại một mối quan hệ nội tại khiến kẻ khác xuất hiện như là sự hoàn thiện của hệ thống. Kẻ khác có thể hiển hiện với tôi bởi vì tôi không minh bạch với chính mình, và bởi vì chủ thể tính của tôi kéo theo thân thể nó. Chúng ta đã nói trước đó: chừng nào kẻ khác còn trú ngụ trong thế giới, còn khả kiến ở đó, và tạo thành một phần trong trường của tôi, thì kẻ đó không bao giờ là một Ego cái Tôi theo nghĩa mà tôi là một đối với chính mình. Để nghĩ về kẻ đó như một Tôi đích thực, tôi phải nghĩ về bản thân mình như một vật thể đơn thuần đối với kẻ đó, điều mà tôi bị ngăn cản bởi tri ​​thức mà tôi có về chính mình. [Tr.411] Nhưng nếu thân thể của kẻ khác không phải là khách thể đối với tôi, cũng như thân thể của tôi không phải là khách thể đối với kẻ đó, nếu cả hai đều là hiện thân của hành vi, thì việc thừa nhận địa vị của kẻ khác không quy giản tôi thành một khách thể trong trường của kẻ đó, cũng như tri giác của tôi về kẻ khác không quy giản kẻ đó thành vị thế một khách thể trong trường của tôi. Kẻ khác không bao giờ thực sự là một hiện hữu cá nhân, nếu bản thân tôi hoàn toàn là một, và nếu tôi tự nắm bắt bản thân mình như một hiện hữu hiển nhiên. Nhưng nếu tôi tìm thấy trong chính mình, thông qua phép  phản tư, cùng với chủ thể tri giác, một chủ thể tiền cá nhân tự cho mình, và nếu tri giác của tôi tập trung bên ngoài tôi như những nguồn gốc của sáng kiến ​​và phán đoán, nếu thế giới được tri giác vẫn ở trong trạng thái trung lập, không được xác minh như một đối tượng cũng không được thừa nhận như một giấc mơ, thì không phải mọi thứ xuất hiện trong thế giới đều được bày ra trước mắt tôi, và do đó hành vi của kẻ khác có thể có vị trí của nó ở đó. Thế giới này có thể vẫn không bị chia cắt giữa tri giác của tôi và của hắn, tự ngã tri giác không có một vị trí đặc quyền nào loại trừ một tự ngã được tri giác; cả hai, không phải là cogitationes [‘cogitationes’ là một từ tiếng Latinh, số nhiều của cogitatio, có nghĩa là ‘những suy nghĩ’, ‘tư duy’, ‘sự suy ngẫm’ hoặc ‘ý tưởng’. Nó xuất phát từ động từ cogitare tư duy, suy nghĩ; từ này thường được sử dụng trong các bối cảnh triết học, pháp lý và tôn giáo để chỉ các hoạt động tư duy nội tâm hoặc ý định, ví dụ như cụm từ pháp lý Cogitationes poenam nemo patitur không ai bị trừng phạt vì suy nghĩ-HHN] những tư duy bị giam hãm trong nội tại của chính chúng, mà là những hiện hữu bị thế giới của chúng vượt qua, và do đó, chúng cũng có thể bị vượt qua nhau. Khẳng định về một ý thức xa lạ đứng đối lập với ý thức của tôi sẽ ngay lập tức biến trải nghiệm của tôi thành một cảnh tượng riêng tư, vì nó sẽ không còn đồng-tồn tại với hiện hữu nữa. Cái cogito Tôi tư duy của kẻ khác tước đoạt mọi giá trị của cái Tôi tư duy của chính tôi, và khiến tôi mất đi sự chắc chắn mà tôi từng được hưởng dụng trong sự cô độc của mình về việc tiếp cận với hiện hữu duy nhất mà tôi có thể hình dung được, hiện hữu, tức là, như nó hướng đến và được tôi cấu thành cho. Nhưng chúng ta đã hiểu được trong tri giác cá nhân để không nên coi các quan điểm của chúng ta độc lập với nhau; chúng ta biết rằng chúng hòa quyện vào nhau và cuối cùng được hợp nhất trong sự vật. Tương tự như vậy, chúng ta phải học cách tìm thấy sự giao tiếp giữa ý thức này và ý thức khác trong cùng một thế giới. Trên thực tế, kẻ khác không bị giam cầm trong quan điểm của tôi về thế giới, bởi vì tự thân quan điểm này không có giới hạn nhất định, bởi vì nó tự nhiên hòa quyện vào quan điểm của kẻ khác, và bởi vì cả hai đều được hợp nhất trong một thế giới duy nhất mà tất cả chúng ta đều tham gia với tư cách là những chủ thể tri giác vô danh.

Trong chừng mực tôi có các chức năng cảm giác, một trường thị giác, thính giác và xúc giác, tôi đã giao tiếp với những kẻ khác được coi là những chủ thể tâm lý-thể chất tương tự. Ngay khi ánh mắt tôi chạm vào một cơ thể sống đang hoạt động, các vật thể xung quanh nó lập tức [tr.412] mang một lớp ý nghĩa mới: chúng không còn đơn thuần là những gì tôi có thể tạo ra từ chúng, mà là những gì mô thức hành vi khác sắp tạo ra từ chúng. Xung quanh cơ thể được tri giác, một vòng xoáy hình thành, hướng về phía mà cái thế giới của tôi bị hút vào, và nói cách khác: đến mức này, nó không còn chỉ là của tôi, và không còn chỉ hiện diện, nó hiện diện đối với x, đối với hiện thân hành vi khác bắt đầu hình thành trong nó. Cơ thể khác đã không còn là một mảnh vỡ đơn thuần của thế giới, mà trở thành sân khấu của một quá trình xử lý nhất định, và có thể nói, một ‘quan điểm’ nhất định về thế giới. Ở đó đang diễn ra một sự thao túng nhất định của sự vật đối với tài sản của tôi. Kẻ nào đó đang sử dụng những vật thể quen thuộc của tôi. Nhưng đó có thể là ai? Tôi nói rằng đó là một kẻ khác, một tự ngã thứ hai, và tôi biết điều này trước hết bởi vì cơ thể sống này có cấu trúc giống hệt như của tôi. Tôi trải nghiệm cơ thể của chính mình như loại mạnh tiếp nhận những hình thức hành vi nhất định và một thế giới nhất định, và tôi chỉ được trao cho chính mình như một cách nắm giữ nhất định đối với cái thế giới này; giờ đây, chính cơ thể tôi tri giác cơ thể của kẻ khác, và khám phá ra trong cơ thể kia một cuộc kéo dài kỳ diệu những ý hướng của chính tôi, một cách quen thuộc để đối phó với thế giới. Từ nay trở đi, với tư cách là các bộ phận của cơ thể tôi cùng tạo thành một hệ thống, do vậy cơ thể tôi và cơ thể kẻ khác là một thể thống nhất, hai mặt của cùng một hiện tượng, và cuộc tồn tại vô danh mà cơ thể tôi là dấu vết luôn được đổi mới từ nay đồng thời cư ngụ trong cả hai cơ thể.3 Tất cả những điều đó tạo nên một hiện hữu sống khác, nhưng chưa phải là một kẻ người khác. Và cuộc đời khác lạ này, giống như cuộc đời tôi mà nó đang giao tiếp, là một cuộc đời để ngỏ. Nó không hoàn toàn được giải thích bởi một số chức năng sinh học hoặc cảm giác nhất định. Nó chiếm đoạt các vật thể tự nhiên bằng cách chuyển hướng chúng khỏi ý nghĩa trực tiếp của chúng, nó tạo ra công cụ cho tự thân và tự phóng chiếu mình vào môi trường dưới hình dạng các vật thể văn hóa. Đứa trẻ tìm thấy chúng xung quanh mình ngay từ khi sinh ra hệt như những thiên thạch từ một hành tinh khác. Nó chiếm hữu chúng và học cách sử dụng chúng như những kẻ khác cũng làm, bởi vì hình ảnh cơ thể đảm bảo sự tương ứng tức thì giữa những gì nó thấy đã được thực hiện và những gì chính nó tự làm, và bởi vì theo cách đó, việc thực thi được cố định trong tâm trí nó như một manipulandum bị thao túng rành rành, và những kẻ khác như là các trung tâm của hành động con người. Có một [tr.413] khách thể văn hóa đặc biệt được định sẵn để đóng vai trò quan trọng trong tri giác của kẻ khác: ngôn ngữ. Trong trải nghiệm đối thoại, giữa kẻ khác và tự thân tôi có một nền tảng chung đã được cấu thành; suy nghĩ của tôi và của gã đan xen thành một thể dệt duy nhất, ngôn từ của tôi và của kẻ đối thoại được gợi lên bởi trạng thái của cuộc thảo luận, và chúng được đưa vào một hoạt động chung mà không ai trong chúng ta là kẻ tạo ra. Ở đây chúng ta có một hiện hữu kép, nơi kẻ khác đối với tôi không chỉ còn là một phần hành vi đơn thuần trong trường siêu việt của tôi, cũng như tôi không còn trong trường siêu việt của gã; chúng ta là những kẻ cộng tác với nhau trong cuộc có đi có lại hoàn hảo. Quan điểm của chúng ta hòa quyện vào nhau, và chúng ta cùng tồn tại trong một thế giới chung. Trong cuộc đối thoại này, tôi được giải thoát khỏi chính mình, bởi vì suy nghĩ của kẻ kia chắc chắn là của gã; chúng không phải do tôi tạo ra, mặc dù tôi nắm bắt được chúng ngay khi chúng hiện hữu, hoặc thậm chí dự đoán được chúng. Và quả thực, lối phản đối mà kẻ đối thoại đưa ra đối với những gì tôi nói đã khơi gợi trong tôi những suy nghĩ mà tôi không hề biết mình sở hữu, vì vậy, cùng lúc tôi cho gã mượn các suy nghĩ, gã cũng đáp lại bằng cách khiến tôi suy nghĩ. Chỉ khi nhìn lại, lúc tôi đã rút lui khỏi cuộc đối thoại và nhớ lại nó, tôi mới có thể tái hòa nhập nó vào cuộc đời mình và biến nó thành một chương trong lịch sử riêng tư của tôi, còn kẻ kia lùi vào cõi vắng mặt của gã, hoặc, nếu gã/ả vẫn hiện diện cho tôi, thì nỗi cảm nhận chẳng khác nào một mối đe dọa. Tri giác về kẻ khác và cái thế giới liên chủ thể tính kia chỉ là vấn đề nan giải đối với người lớn. Đứa trẻ sống trong một thế giới mà nó tin tưởng một cách không do dự rằng tất cả mọi người xung quanh đều có thể tiếp cận được. Nó không nhận thức được bản thân hay kẻ khác như những chủ thể tính riêng biệt, cũng không nghi ngờ rằng tất cả chúng ta, kể cả bản thân nó, đều bị giới hạn trong một quan điểm nhất định về thế giới. Đó là lý do tại sao nó không phê phán bất kỳ suy nghĩ nào của mình, mà nó tin tưởng như chúng tự thân hiện diện, không cố liên kết chúng với nhau, cũng không cố liên kết ngôn từ của chúng ta. Nó không có tri ​​thức về các quan điểm. Đối với nó, con người chỉ là những cái đầu rỗng hướng về một thế giới duy nhất, hiển nhiên, nơi mọi thứ diễn ra, ngay cả những giấc mơ, mà nó nghĩ là ở trong phòng mình, và ngay cả suy nghĩ, vì cũng chẳng khác gì lời nói. Đối với nó, kẻ khác chỉ là những ánh mắt soi xét mọi vật, và có một sự tồn tại gần như vật chất, đến nỗi đứa trẻ tự hỏi làm thế nào những ánh mắt này không bị gãy vỡ khi chúng gặp nhau.4 Piaget nói rằng, ở khoảng mười hai tuổi [tr.414], đứa trẻ đạt được cái cogito Tôi tư duy và đạt đến những chân lý của chủ nghĩa duy lý. Ở giai đoạn này, người ta cho rằng, đứa trẻ khám phá ra bản thân mình vừa là một quan điểm về thế giới, vừa được kêu gọi vượt lên trên quan điểm đó, và xây dựng một khách quan tính ở cấp độ phán đoán. Piaget đưa đứa trẻ đến một cái nhìn trưởng thành như thể những suy nghĩ của người lớn là tự-túc và đã loại bỏ được mọi mâu thuẫn. Nhưng, trên thực tế phải ở chỗ quan điểm của đứa trẻ bằng cách nào đó được biện minh chống lại quan điểm của người lớn cũng như chống lại Piaget, và lối suy nghĩ đơn giản của những năm đầu đời vẫn là một sự tiếp thu không thể thiếu làm nền tảng cho sự trưởng thành, nếu người lớn muốn có một thế giới liên chủ thể duy nhất. Nhận thức của tôi về việc kiến tạo một chân lý khách quan sẽ không bao giờ mang lại cho tôi điều gì hơn ngoài một chân lý khách quan cho chính tôi, và nỗ lực lớn nhất của tôi để đạt được sự công bằng cũng sẽ không bao giờ giúp tôi vượt qua được chủ thể tính của mình - như Descartes đã diễn đạt rất hay bằng giả thuyết về con quỷ độc ác - nếu như, ẩn sâu trong các phán đoán của tôi, tôi không có sự chắc chắn nguyên thủy về việc tiếp xúc với tự thân hiện hữu, nếu như, trước khi tự nguyện chấp nhận một lập trường nào đó, tôi đã bị đặt định trong một thế giới liên chủ thể tính, và nếu khoa học cũng không được duy trì bởi cái chân lý cơ bản δοξα này. [Ghi chú dài về δόξα Doxa: động từ δοκεῖν, dokein ‘xuất hiện, có vẻ, nghĩ, chấp nhận’ là một niềm tin phổ biến hoặc quan điểm phổ biến; trong thuật hùng biện cổ điển, doxa được đối lập với episteme ‘tri thức’; giữa thế kỷ thứ 3 và thứ 1 trước Công nguyên, thuật ngữ này có thêm một nghĩa khác, sử dụng doxa để dịch từ tiếng Do Thái trong Kinh thánh có nghĩa là kavod ‘vinh quang’; bản dịch tiếng Hy Lạp này của Kinh thánh tiếng Do Thái, được Giáo hội sơ khai sử dụng, đã dẫn đến việc sử dụng thường xuyên thuật ngữ này trong Tân Ước; từ này cũng được sử dụng trong các nghi lễ thờ phượng của Giáo hội Chính thống Hy Lạp, nơi việc tôn vinh Thiên Chúa được coi là niềm tin chân chính; trong bối cảnh đó, doxa phản ánh hành vi hoặc thực hành trong thờ phượng và niềm tin của toàn thể giáo hội hơn là ý kiến ​​cá nhân; sự thống nhất của nhiều ý nghĩa này của doxa xuất hiện trong các thuật ngữ hiện đại orthodoxyheterodoxy; sự hợp nhất ngữ nghĩa này trong từ doxa cũng được thấy trong từ слава slava tiếng Nga, có nghĩa là ‘vinh quang’, nhưng được sử dụng với nghĩa ca ngợi hoặc thờ phượng trong các từ như православие pravoslavie, có nghĩa là ‘chính thống’ hoặc, theo nghĩa đen là ‘niềm tin chân chính’, ‘cách thờ phượng chân chính’ liên quan đến động từ славить – ‘ca ngợi’ nhưng được dịch từ tiếng Hy Lạp ὀρθοδοξία orthodoxia; trong Cuộc đối thoại Gorgias, Plato trình bày các nhà ngụy biện như những bậc thầy ngôn từ, đã gài bẫy và sử dụng doxa dễ uốn nắn của đám đông để có lợi cho họ mà không hề xấu hổ; trong các tác phẩm của mình, Plato coi doxa là một niềm tin, không liên quan đến lý trí, nằm ở những phần thấp kém, không có lý trí của linh hồn; quan điểm này mở rộng thành khái niệm doxasta trong lý thuyết về các hình thức của Plato, trong đó nêu rằng các đối tượng vật lý là biểu hiện của doxa và do đó không ở dạng thực sự của chúng; việc Plato định hình doxa như là đối thủ của tri thức đã dẫn đến sự đối lập cổ điển giữa sai lầm và chân lý, điều này kể từ đó đã trở thành một mối quan tâm chính trong triết học phương Tây; tuy nhiên, trong Theaetetus và trong Meno, Plato đã để Socrates gợi ý rằng tri thức là orthos doxa mà người ta có thể cung cấp một logos, do đó khởi xướng định nghĩa truyền thống về tri thức là ‘niềm tin đúng đắn được chứng minh’; do đó, sai lầm được coi là hoàn toàn tiêu cực, có thể mang nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức ảo tưởng; trong khi doxa được sử dụng như một công cụ để hình thành lập luận, thì nó cũng được hình thành từ lập luận; Socrates không cam kết với loại ‘chân lý’ này, tuy nhiên, nó lại rất cần thiết cho một nền dân chủ; Aristotle, học trò của Plato, đã phản đối lý thuyết doxa của Plato, ông nhận thấy giá trị của doxa nằm ở tính thực tiễn và cách sử dụng phổ biến, trái ngược với sự thuần khiết triết học của Plato khi coi doxa là sự lừa dối; hơn nữa, Aristotle coi doxa là bước đầu tiên trong việc tìm kiếm episteme tri thức, vì doxa đã được ứng dụng trong thế giới vật chất, theo đó những người nắm giữ nó đã trải qua rất nhiều thử nghiệm để chứng minh và do đó có lý do để tin tưởng; Aristotle làm rõ điều này bằng cách phân loại những chân lý được chấp nhận của thế giới vật chất được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác là endoxa là một niềm tin ổn định hơn doxa, bởi vì nó đã được ‘kiểm chứng’ trong các cuộc tranh luận ở Polis bởi những người đối thoại trước đó; thuật ngữ endoxa được sử dụng trong Organon, TopicsRhetoric của Aristotle; trong xã hội học và nhân học hiện đại Pierre Bourdieu đã sử dụng thuật ngữ doxa để chỉ những chân lý được xã hội coi là hiển nhiên và không bị nghi ngờ; Bourdieu tin rằng doxa bắt nguồn từ quá trình xã hội hóa, vì xã hội hóa cũng liên quan đến những niềm tin bắt nguồn từ xã hội; khi chúng ta lớn lên trong môi trường đó, chúng ta có xu hướng tin vào những gì xã hội nói với chúng ta là đúng; bổ sung cho ví dụ trước đó của mình, Bourdieu cho rằng đó là một quan niệm sai lầm được xã hội chấp nhận rằng nếu bạn không đạt điểm cao bằng kẻ khác, thì rõ ràng bạn không thông minh bằng họ; điểm số không chứng minh rằng một người thông minh hơn, bởi vì có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến điểm số của bạn trong một bài kiểm tra; mọi người có thể xuất sắc trong một chủ đề nhất định và thất bại ở một chủ đề khác; tuy nhiên, mặc dù đó là một quan niệm sai lầm, mọi người vẫn có xu hướng tham gia vào các hoạt động phổ biến để khiến bản thân cảm thấy tốt hơn; Bourdieu tin rằng doxa không chỉ là niềm tin phổ biến: nó còn có tiềm năng tạo ra hành động phổ biến; điều đó cho thấy quan niệm về trật tự xã hội như một điều tự nhiên xảy ra đã bị hiểu sai, bỏ qua việc nó được tạo ra bởi lập luận chính trị; do đó doxa có thể được hiểu là được tạo ra bởi lập luận cũng như được sử dụng trong việc hình thành lập luận, điều cần thiết cho việc thiết lập các chính sách dân chủ. Dẫn theo Szaif, Jan (2007). Doxa and Episteme as Modes of Acquaintance in Republic V. Les Études Platoniciennes. IV (4). Les Belles Lettres: 253–272; Bourdieu, Pierre, and Terry Eagleton (1992). Doxa and common life. New Left Review. pp. 111–121, 199. HHN]. Với vấn đề Cogito ‘Tôi tư duy’, cuộc đấu tranh giữa các ý thức bắt đầu, mỗi ý thức, như Hegel nói, đều tìm kiếm sự diệt vong của ý thức khác. Để cuộc đấu tranh có thể bắt đầu, và để mỗi ý thức có khả năng nghi ngờ sự hiện diện xa lạ mà nó phủ nhận, tất cả nhất thiết phải có một số điểm chung và phải ý thức được sự cùng tồn tại hòa bình của chúng trong thế giới tuổi thơ.

Nhưng liệu chúng ta có thực sự tiếp cận những kẻ khác bằng cách này? Về bản chất, điều chúng ta làm là xóa nhòa ranh giới giữa cái ‘Tôi’ và cái ‘Mày’ trong một trải nghiệm được số đông chia sẻ, từ đó đưa yếu tố phi cá nhân vào cốt lõi của chủ thể tính và loại bỏ cá nhân tính của các quan điểm. Nhưng trong sự hỗn loạn chung này, chẳng phải chúng ta đã loại bỏ cả cái ‘Tôi khác’ cũng như cái ‘Tôi’ hay sao? Chúng ta đã nói trước đó rằng chúng loại trừ lẫn nhau. Nhưng điều này chỉ bởi vì cả hai đều đưa ra cùng một yêu sách, và bởi vì cái ‘Tôi khác’ kia tuân theo tất cả các biến thể của cái ‘Tôi’: nếu cái ‘Tôi’ tri giác thực sự là một cái ‘Tôi’, nó không thể nhận thức một cái ‘Tôi’ khác; nếu chủ thể tri giác là vô danh, thì kẻ khác mà nó tri giác cũng vậy; vì thế, khi, trong ý thức tập thể này, chúng ta cố gắng làm nổi bật tính đa dạng của các ý thức, chúng ta sẽ thấy mình lại gặp phải những khó khăn mà chúng ta tưởng rằng đã bỏ lại phía sau. Tôi tri giác kẻ khác như một mẩu hành vi, ví dụ [tr.415], tôi tri giác nỗi đau buồn hay sự tức giận của kẻ khác qua hành vi, nét mặt hay bàn tay của họ, mà không cần dựa vào bất kỳ trải nghiệm ‘nội tâm’ nào về đau khổ hay tức giận, và bởi vì đau buồn và tức giận là những biến thể của việc thuộc về thế giới, không tách rời giữa thể xác và ý thức, và cũng áp dụng được cho hành vi của kẻ khác, khả kiến trong thể xác hiện tượng của họ, cũng như trong hành vi của chính tôi khi nó trình hiện trước tôi. Nhưng sau đó, hành vi của kẻ khác, và thậm chí cả lời nói của họ, lại không phải là kẻ khác đó. Nỗi đau buồn và sự tức giận của kẻ khác không bao giờ có ý nghĩa giống hệt đối với gã như đối với tôi. Đối với gã, những tình huống này được nghiệm sinh, còn đối với tôi, chúng được thể hiện. Hoặc trong chừng mực tôi có thể, bằng một cử chỉ thân thiện nào đó, trở thành một phần của nỗi đau buồn hay sự tức giận đó, thì chúng vẫn là nỗi đau buồn và sự tức giận của anh bạn Paul tôi: Paul đau khổ vì mất vợ, hoặc tức giận vì bị mất đồng hồ, trong khi tôi đau khổ vì Paul buồn bã, hoặc tôi tức giận vì anh ấy tức giận, và hoàn cảnh của chúng tôi không thể chồng lên nhau. Hơn nữa, nếu chúng ta cùng thực hiện một dự án chung, thì dự án chung đó không phải là một dự án duy nhất, nó không hiện ra dưới cùng một ánh sáng đối với cả hai chúng ta, chúng ta không cùng nhiệt tình như nhau về nó, hoặc ít nhất là không theo cùng một cách, đơn giản vì Paul là Paul và tôi là tự thân mình. Mặc dù ý thức của gã và của tôi, thông qua hoàn cảnh riêng mỗi kẻ, có thể tạo ra một hoàn cảnh chung để giao tiếp, nhưng chính từ chủ thể tính của mỗi kẻ mà từng kẻ phóng chiếu cái thế giới ‘duy nhất’ này. Những khó khăn vốn có trong tri giác về kẻ khác không phải tất cả đều bắt nguồn từ tư duy khách quan, cũng không phải tất cả đều biến mất khi khám phá ra hành vi, hay đúng hơn là tư duy khách quan và tính độc nhất của Cogito Tôi tư duy bắt nguồn từ nó không phải là hư cấu, nhưng lai là những hiện tượng có cơ sở vững chắc mà chúng ta cần phải tìm kiếm nền tảng của nó. Xung đột giữa tôi và kẻ khác không chỉ bắt đầu khi chúng ta cố gắng nghĩ về bản thân mình như kẻ khác, và nó không biến mất nếu chúng ta tái hòa nhập tư tưởng vào ý thức phi-đặt định và cuộc sống phi-phản tư; nó đã có đó nếu tôi cố gắng sống trải kinh nghiệm của kẻ khác, ví dụ như trong hy sinh mù quáng. Tôi cam kết hòa hoãn với kẻ kia, quyết sống trong một liên-thế giới nơi tôi dành chỗ cho những kẻ kia ngang bằng với chính mình. Nhưng cái liên-thế giới ấy vẫn là một dự án của tôi, và sẽ là đạo đức giả nếu vờ vịt rằng tôi kiếm tìm hạnh phúc của kẻ khác cứ như thể đó là hạnh phúc của mình vậy, bởi vì chính sự gắn bó với lợi ích của kẻ khác vẫn bắt nguồn từ tôi.

__________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

1 La Structure du Comportement, p. 125.

2 This task we have tried to perform elsewhere. (La Structure du Comportement, Chaps. I and II.)

3 That is why disturbances affecting a subject’s body image can be unearthed by requiring him to point out on the doctor’s body the part of his own which is being touched.

4 Piaget, La Représentation du monde chez l’enfant, p. 21.

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXVIII)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

3. Vật thể và Thế giới Tự nhiên

Thông qua trường tri giác của tôi, với những chân trời không gian của nó, tôi hiện diện với môi trường xung quanh, tôi cùng tồn tại với tất cả những cảnh quan khác trải dài phía xa, và tất cả những viễn cảnh này cùng nhau tạo thành một làn sóng thời gian duy nhất, một trong những khoảnh khắc của thế giới. Thông qua trường tri giác của tôi với những chân trời thời gian của nó, tôi hiện diện với hiện tại của mình, với tất cả quá khứ đã qua và với tương lai. Đồng thời, sự hiện diện khắp nơi này không hoàn toàn là hiện thực, mà rõ ràng chỉ là có ý hướng tính. Mặc dù cảnh quan trước mắt tôi có thể báo trước những đặc điểm của cảnh quan ẩn sau ngọn đồi, nhưng điều đó chỉ xảy ra ở mức độ tính bất định: đây là đồng cỏ, đằng kia có lẽ là rừng cây, và trong bất kỳ trường hợp nào, vượt qua chân trời gần, tôi chỉ biết rằng sẽ có đất liền hoặc biển, xa thêm là đại dương hoặc biển băng, xa hơn nữa là đất hoặc trời, và đối với giới hạn của bầu khí quyển trái đất, nói một cách tổng quát nhất, tôi chỉ biết có điều gì đó để tri giác, và về những vùng xa xôi đó, tôi chỉ sở hữu thứ phong cách, theo lối trừu tượng. Tương tự như vậy, mặc dù mỗi quá khứ đều dần dần được bao bọc hoàn toàn trong quá khứ gần đây hơn theo sau nó, nhờ sự đan xen của các ý hướng tính, quá khứ suy tàn, và những năm tháng đầu đời tôi biến mất trong sự tồn tại chung của cơ thể tôi, mà giờ đây tôi chỉ biết rằng vào thời điểm đó, nó đã tiếp xúc với màu sắc và âm thanh, và một thứ tự nhiên tương tự như những gì tôi đang thấy trước mắt. Do đó, tôi sở hữu cái quá khứ xa xôi kia, cũng như sở hữu tương lai, chỉ mang tính nguyên tắc, và cuộc sống của tôi đang trượt khỏi tôi từ mọi phía và bị bao quanh bởi những cõi phi cá nhân. Mâu thuẫn mà chúng ta tìm thấy giữa thực tại của thế giới và tính không hoàn chỉnh của nó là mâu thuẫn giữa cách hiện diện khắp nơi của ý thức và cuộc dấn thân của nó vào một trường hiện diện. Nhưng chúng ta hãy xem xét kỹ hơn để xem liệu trên thực tế chúng ta có một mâu thuẫn và một tình thế tiến thoái lưỡng nan ở đây hay không. Mặc dù tôi có thể nói rằng tôi bị giam hãm trong hiện tại của mình, bởi vì trên hết, chúng ta trải qua, bằng những chuyển đổi không thể nhận biết, từ hiện tại đến quá khứ, từ gần đây đến quá khứ xa xôi, và bởi vì không thể tách rời hoàn toàn hiện tại khỏi những gì chỉ hiện bày trong hiện thực, sự siêu việt của những trải nghiệm xa xôi xâm lấn hiện tại của tôi và mang đến nỗi nghi ngờ về tính phi thực tại ngay cả đối với những điều mà tôi tin là trùng khớp với cái tự ngã hiện tại của tôi. Mặc dù tôi đang ở đây và bây giờ, nhưng tôi lại không ở đây và bây giờ. Mặt khác, chừng nào tôi xem xét các mối quan hệ có ý hướng tính của mình với quá khứ và [tr.387] ‘nơi khác’ như là yếu tố cấu thành nên thứ quá khứ và nơi khác đó, và chừng nào tôi cố gắng giải phóng ý thức khỏi bất kỳ sự định vị và nơi cư ngụ nào về thời gian, chừng nào tôi còn ở khắp mọi nơi mà tri giác và ký ức của tôi dẫn dắt tôi, thì tôi không thể sống trong bất kỳ thời gian nào, và do đó, cùng với thực tại độc nhất vô nhị có sức thuyết phục, thứ xác định hiện tại của tôi ở đây và bây giờ, làm biến mất cái thực tại của những hiện tại trước đây hoặc những hiện tại khả thể của tôi. Nếu việc tổng hợp có thể là chân thực và kinh nghiệm của tôi tạo thành một hệ thống khép kín, nếu sự vật và thế giới có thể được định nghĩa một lần duy nhất, nếu các chân trời không-thời gian, ngay cả về mặt lý thuyết, có thể được làm rõ và thế giới được hình dung từ không có điểm nhìn nào, thì sẽ chẳng có gì tồn tại; tôi sẽ lơ lửng trên thế giới, đến mức là tất cả thời gian và không gian, thay vì đồng thời trở nên hiện thực, thì lại trở nên phi hiện thực, bởi vì tôi sẽ không sống trong bất kỳ nơi nào trong số đó và sẽ không liên quan đến bất cứ nơi nào. Nếu tôi hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi, thì tôi lại không hiện diện ở bất kỳ lúc nào, nơi nào cả. Do đó, không có sự lựa chọn nào được đưa ra giữa tính bất toàn của thế giới và sự tồn tại của nó, giữa sự tham gia cụ thể và sự hiện diện khắp nơi của ý thức, giữa siêu việt và nội tại, vì mỗi thuật ngữ này khi được phát âm riêng lẻ đều gợi đến mặt trái ngược của nó. Điều cần hiểu là vì cùng một lý do, tôi hiện diện ở đây và bây giờ, và hiện diện ở nơi khác và luôn luôn, và cũng vắng mặt ở đây và bây giờ, và vắng mặt ở mọi nơi và mọi thời điểm. Tính mơ hồ này không phải là một khiếm khuyết nào đó của ý thức hay tồn tại, mà là định nghĩa về chúng. Thời gian, theo nghĩa rộng nhất, tức là trật tự của đồng-tồn tại cũng như kế tiếp, một bối cảnh mà người ta chỉ có thể tiếp cận và hiểu được bằng cách đặt mình vào một vị trí trong đó, và nắm bắt toàn bộ nó thông qua các chân trời của tình huống đó. Thế giới, hạt nhân của thời gian, tồn tại nhờ vào hành động duy nhất vừa tách biệt vừa kết nối cái thực sự đã hiện diện và cái đang hiện diện; còn ý thức, trú xứ của tư duy minh bạch, thì lại chính là nơi ngự trị tính mơ hồ.    

Trong những hoàn cảnh này, nếu muốn, người ta có thể nói rằng không có gì tồn tại tuyệt đối, và thực tế, sẽ chính xác hơn nếu nói rằng không có gì tồn tại và mọi thứ đều được ‘thời gian hóa’. Nhưng thời tính đâu có là loại tồn tại nửa vời. Hiện hữu khách quan cũng không phải là vẹn toàn tồn tại. Trước mắt chúng ta cái mô hình được hiện bày thoạt nhìn có vẻ hoàn toàn xác định: hòn đá này màu trắng, cứng, mát, và dường như thế giới được kết tinh trong đó, hơn nữa nó không cần [tr.388] thời gian để tồn tại, điều đó có nghĩa là nó hoàn toàn tự bộc lộ trong khoảnh khắc, và bất kỳ sự tồn tại bổ sung nào cũng sẽ khiến nó phải trải qua một hiện hữu mới, vì vậy chúng ta bị cám dỗ để nghĩ rằng thế giới, nếu nó có tồn tại, chỉ có thể là một tập hợp các sự vật tương tự như hòn đá này, và thời gian là một tập hợp các khoảnh khắc hoàn hảo. Đó là thế giới và thời gian của Descartes, và quả thực, quan niệm ấy về hiện hữu gần như không thể tránh khỏi, bởi vì tôi có một trường thị giác với các đối tượng được xác định rõ ràng, cùng một hiện tại khả giác, và bởi vì mọi ‘nơi khác’ đều được coi là một nơi khác ở đây, mọi quá khứ và mọi tương lai đều là hiện tại đã qua hoặc vẫn còn ở phía trước. Tri giác về một sự vật duy nhất mãi mãi đặt nền tảng cho cái lý tưởng về tri thức khách quan hay tri thức tường minh mà logic cổ điển phát triển. Nhưng ngay khi chúng ta tập trung vào những điều chắc chắn này, và ngay khi chúng ta khơi dậy đời sống có ý hướng tính tạo ra chúng, thì chúng ta chợt nhận ra rằng chính hiện hữu khách quan lại bắt nguồn từ tính mơ hồ của thời gian. Tôi không thể hình dung thế giới như một tổng thể của sự vật, cũng như thời gian như một tổng thể của những ‘khoảnh khắc hiện tại’ tức thời, bởi vì mỗi sự vật chỉ có thể tự xuất trình đầy đủ tính xác định của nó nếu những sự vật khác lùi vào tính mơ hồ của khoảng cách xa xôi, và mỗi hiện tại chỉ có thể mang thực tại của nó bằng cách loại trừ cái hiện diện đồng thời của các hiện tại trước đó và sau đó, chính vì vậy, tổng thể của sự vật hoặc của các hiện tại trở nên vô nghĩa. Sự vật và khoảnh khắc chỉ có thể liên kết với nhau để tạo thành một thế giới thông qua phương tiện của việc hiện hữu mơ hồ được gọi là chủ thể tính, và chỉ có thể hiện diện với nhau từ một điểm nhìn và ý hướng nhất định. Thời gian khách quan, vốn trôi chảy và tồn tại từng phần, thậm chí sẽ không bị nghi ngờ nếu nó không bị phong kín bằng một thời gian lịch sử được phóng chiếu từ hiện tại sống động hướng tới quá khứ và tương lai. Cái được cho là đầy đủ của khách thể và của khoảnh khắc chỉ nảy sinh khi đối mặt với sự bất toàn của hiện hữu có ý hướng tính. Một hiện tại không có tương lai, hay một hiện tại vĩnh cửu, chính xác là định nghĩa về cái chết; hiện tại sống động bị giằng xé giữa một quá khứ mà nó tiếp nhận và một tương lai mà nó chiếu rọi. Do đó, bản chất của sự vật và thế giới là tự trình hiện mình là ‘mở’, để đưa chúng ta vượt khỏi các hiện thân xác định của chúng, luôn hứa hẹn với chúng ta ‘còn có thứ để thấy biết’. Điều đó đôi khi được diễn tả bằng cách nói rằng sự vật và thế giới là bí ẩn. Chúng thực sự bí ẩn, khi chúng ta không giới hạn bản thân vào khía cạnh khách quan của chúng, mà đặt chúng trở lại trong bối cảnh chủ thể tính. Chúng thậm chí còn là một bí ẩn tuyệt đối, không thể giải thích được, và điều này không phải do một khoảng trống tạm thời [tr.389] trong tri ​​thức của chúng ta, vì trong trường hợp đó nó sẽ trở lại vị thế của một vấn đề đơn thuần, mà bởi vì nó không thuộc về trật tự tư duy khách quan vốn có những giải pháp. Không có gì được nhìn thấy bên ngoài các chân trời của chúng ta, ngoại trừ những phong cảnh khác và vẫn còn những chân trời khác, và không có gì bên trong sự vật ngoài những sự vật khác nhỏ hơn. Cái lý tưởng về tư duy khách quan vừa dựa trên thời gian tính, laị vừa bị nó hủy hoại. Thế giới, theo nghĩa đầy đủ của từ này, không phải là một khách thể, bởi vì mặc dù nó có một phong bao gồm các thuộc tính khách quan và xác định, nhưng nó cũng có những vết nứt và khoảng trống mà trong đó các chủ thể tính trượt vào trú ngụ, hay đúng hơn lại là chính những chủ thể tính đó. Giờ đây chúng ta hiểu tại sao những thứ, vốn nhờ đó mà có ý nghĩa, lại không phải là những ý nghĩa được xuất trình cho trí tuệ, mà chỉ là những cấu trúc mờ đục, và tại sao ý nghĩa cuối cùng của chúng vẫn còn lẫn lộn. Thứ sự vật và thế giới chỉ tồn tại khi chúng được tôi hoặc những đối tượng giống tôi trải nghiệm, bởi vì cả hai đều là sự kết hợp các quan điểm của chúng ta, nhưng chúng lại vượt lên trên mọi quan điểm vì chuỗi này mang tính thời gian và bất toàn. Tôi có cảm giác rằng bản thân cái thế giới tồn tại bên ngoài tôi, giống như những cảnh quan vắng mặt vẫn tồn tại ngoài tầm nhìn của tôi, và như quá khứ của tôi đã từng sống ở phía trước hiện tại của tôi. Ảo giác khiến cái thực tại tan rã trước mắt chúng ta, và đặt một cận-thực tại vào vị trí của nó, ở cả hai khía cạnh ấy, hiện tượng này đưa chúng ta trở lại nền tảng tiền logic của tri thức và xác nhận những gì đã được nói về sự vật và thế giới. Điểm quan trọng nhất là bệnh nhân, trong phần lớn thời gian, đều phân biệt được giữa ảo giác và tri giác của họ.

Những người mắc chứng tâm thần phân liệt trải nghiệm ảo giác xúc giác như bị châm chích hoặc như có ‘dòng điện’ sẽ giật mình khi cảm thấy bị tiêm ethyl chloride hoặc bị điện giật thật: Họ nói với bác sĩ, ‘Lần đó chính ông gây ra, vì ông sắp phẫu thuật cho tôi.’ Một người mắc chứng tâm thần phân liệt khác – kẻ từng nói đã nhìn thấy một người đàn ông đứng trong vườn dưới cửa sổ nhà mình, và chỉ vào vị trí đó, mô tả quần áo và dáng vẻ chung của người đàn ông - đã rất kinh ngạc khi thực sự có một người ở trong vườn tại vị trí đó, mặc đúng bộ quần áo và có cùng tư thế như vậy. Anh ta nhìn kỹ và thốt lên: ‘Đúng, có người ở đó, nhưng là người khác.’ Anh ta không thừa nhận có hai người đàn ông trong vườn. Một bệnh nhân chưa bao giờ có bất kỳ nghi ngờ nào về những giọng nói mà cô ấy từng biết, [tr.390] bỗng nghe những giọng nói tương tự được phát trên máy hát, ngừng công việc, ngẩng đầu lên mà không quay lại, và nhìn thấy một thiên thần trắng xuất hiện, như mọi khi cô ấy nghe thấy những giọng nói của mình, nhưng cô ấy không coi trải nghiệm này là một ‘giọng nói’ của ngày hôm đó: vì lần này nó không cùng giọng ấy, mà là một giọng nói ‘trực tiếp’, có lẽ là của bác sĩ. Một bà lão mắc chứng mất trí nhớ tuổi già, phàn nàn về việc tìm thấy bột trong giường, giật mình khi thấy thực tế chỉ là một lớp bột trang điểm mỏng ở đó: ‘Cái gì thế này?’ bà hỏi, ‘bột này ẩm, bột kia thì khô’. Người bệnh trong cơn mê sảng run rẩy, coi tay bác sĩ như một con chuột lang, ngay lập tức nhận ra sự thật khi một con chuột lang thật được đặt vào tay kia của mình.63 Việc bệnh nhân thường xuyên nói rằng có người đang nói chuyện với họ qua điện thoại hoặc radio, cần được hiểu chính xác là biểu hiện cho thấy thế giới bệnh hoạn là nhân tạo, và nó thiếu một thứ gì đó cần thiết để trở thành một ‘thực tại’. Những giọng nói đó là những giọng nói thô kệch, hoặc là giọng nói của ‘những kẻ giả vờ thô kệch’, hoặc có thể là một thanh niên bắt chước giọng nói của một ông già, hoặc ‘như thể một người Đức đang cố nói tiếng Yiddish’.64 [Tiếng Yiddish là ngôn ngữ lịch sử và văn hóa của người Do Thái Ashkenazi gốc Trung và Đông Âu, phát triển từ thế kỷ 10-13; là sự pha trộn độc đáo giữa ngữ pháp tiếng Đức thời trung cổ, từ vựng tiếng Do Thái, Aram, và các ngôn ngữ Slav; Yiddish được viết bằng bảng chữ cái Hebrew và thường được coi là mameloshen ‘tiếng mẹ đẻ’ thay vì ngôn ngữ tôn giáo-HHN] ‘Nó giống như khi một người nói điều gì đó với ai đó, nhưng không hề phát ra bất kỳ âm thanh nào’.65 Chẳng phải những lời thừa nhận như vậy đã chấm dứt mọi tranh luận về ảo giác sao? Vì ảo giác không phải là nội dung cảm giác, nên dường như không còn cách nào khác ngoài việc coi nó như một phán đoán, một diễn giải hoặc một niềm tin. Nhưng mặc dù những bệnh nhân này không tin vào ảo giác của họ theo nghĩa người ta tin vào các đối tượng được tri giác, thì một lý thuyết trí tuệ về ảo giác cũng vẫn bất khả thể. Alain trích dẫn lời của Montaigne về những người điên ‘những kẻ tin rằng họ nhìn thấy những gì họ thực sự không nhìn thấy’.66 Nhưng trên thực tế, những người điên không tin rằng họ nhìn thấy, hoặc, khi được hỏi, họ sửa lại lời nói của mình về điểm này. Ảo giác không phải là một phán đoán hay một niềm tin vội vàng, vì những lý do tương tự ngăn cản nó trở thành một nội dung cảm giác: phán đoán hay niềm tin chỉ bao gồm việc coi ảo giác là đúng, đây chính là điều bệnh nhân không làm. Ở cấp độ phán đoán, họ [tr.391] phân biệt ảo giác với tri giác, và trong mọi trường hợp đều phản bác ảo giác của họ: chuột không thể chui ra khỏi miệng rồi lại chui vào dạ dày.67 Một bác sĩ nghe thấy tiếng nói sẽ leo lên thuyền và chèo ra khơi để tự thuyết phục mình rằng thực sự không ai đang nói chuyện với anh ta.68 Khi cơn ảo giác ập đến, con chuột và những giọng nói vẫn còn đó.

Tại sao chủ nghĩa kinh nghiệm và tri thức luận lại không thể hiểu được ảo giác, và bằng phương pháp nào khác thì có khả năng thành công? Chủ nghĩa kinh nghiệm cố gắng giải thích ảo giác theo cùng một cách như nó giải thích tri giác: thông qua tác động của một số nguyên nhân sinh lý nhất định, ví dụ như sự kích thích của một số trung tâm thần kinh, dữ liệu giác quan xuất hiện như chúng xuất hiện trong tri giác thông qua tác động của các kích thích vật lý lên chính những trung tâm thần kinh đó. Thoạt nhìn, không có điểm chung nào giữa các giả thuyết sinh lý này và quan niệm của tri thức luận. Trên thực tế, như chúng ta sẽ thấy, có điểm chung là cả hai học thuyết đều giả định tính ưu việt của tư duy khách quan, và chỉ có trong tay một phương thức hiện hữu duy nhất, đó là hiện hữu khách quan, nên cố gắng gán hiện tượng ảo giác vào đó. Bằng cách này, chúng hiểu sai về nó, và bỏ qua phương thức chắc chắn của chính nó và ý nghĩa nội tại của nó vì, theo chính người bệnh, ảo giác không có chỗ đứng trong hiện hữu khách quan. Đối với chủ nghĩa kinh nghiệm, ảo giác là một sự kiện trong chuỗi sự kiện diễn ra từ kích thích đến trạng thái ý thức. Trong tri thức luận, người ta nỗ lực loại bỏ ảo giác một cách đúng nghĩa, xây dựng nó và suy luận xem nó có thể là gì từ một ý niệm nhất định về ý thức. Lý thuyết Cogito ‘Tôi tư duy’ dạy chúng ta rằng sự tồn tại của ý thức không thể phân biệt được với ý thức về sự tồn tại, và do đó không thể có gì trong nó mà nó không nhận thức được, và ngược lại, mọi thứ mà nó biết chắc chắn đều nằm trong chính nó; do đó, tính đúng hay sai của một trải nghiệm không nằm ở mối quan hệ của nó với thực tại bên ngoài, mà phải có năng lực được rút ra từ thực tại đó như những thuộc tính nội tại, nếu không có những thuộc tính này thì chúng không bao giờ có thể được nhận ra. Như vậy, những tri giác sai lầm hoàn toàn không phải là những tri giác chân chính. Nạn nhân của ảo giác không thể nghe hoặc nhìn theo nghĩa thực sự của những từ này. Anh ta phán đoán và tin rằng anh ta nhìn thấy hoặc [tr.392] nghe thấy, nhưng anh ta thực sự không nhìn thấy hoặc nghe thấy. Kết luận này thậm chí không giữ nguyên lý thuyết Cogito ‘Tôi tư duy”, vì câu hỏi đặt ra là làm thế nào một chủ thể có thể tin rằng mình nghe thấy trong khi thực tế thì không. Nếu người ta trả lời rằng niềm tin này chỉ đơn thuần là khẳng định, và đó là tri ​​thức loại thứ nhất, một trong những hiện tượng mơ hồ mà người ta không tin theo nghĩa đầy đủ của từ này, và chỉ tồn tại khi thiếu sự xem xét kỹ lưỡng, tóm lại chỉ là một trạng thái thực tế của tri ​​thức chúng ta, thì câu hỏi đặt ra là làm thế nào một ý thức có thể ở trong trạng thái thiếu hụt này mà không nhận thức được nó, hoặc nếu nó nhận thức được nó, thì làm thế nào nó có thể vẫn ở trong trạng thái đó.69 Cái Cogito theo tri thức luận chỉ để lại trước mắt nó một cogitatum thuần túy mà nó sở hữu và cấu thành toàn bộ. Thật là một nhiệm vụ vô vọng khi cố gắng hiểu làm thế nào nó có thể nhầm lẫn về một đối tượng mà nó cấu thành. Do đó, chính việc quy giản kinh nghiệm của chúng ta thành quá nhiều đối tượng, thì quyền ưu tiên của tư duy khách quan, ở đây cũng như trước đó, khiến chúng ta mất đi tầm nhìn về hiện tượng ảo giác. Giữa giải thích theo chủ nghĩa kinh nghiệm và suy tư theo tri thức luận có một mối quan hệ cơ bản, đó là sự thiếu hiểu biết chung của chúng về các hiện tượng. Cả hai đều xây dựng hiện tượng ảo giác thay vì trải nghiệm nó. Ngay cả tính mới lạ và tính hợp lệ trong tri thức luận—sự khác biệt về bản chất mà nó thiết lập giữa tri giác và ảo giác—cũng bị suy yếu bởi tính ưu tiên dành cho tư duy khách quan: nếu chủ thể bị ảo giác biết hoặc nghĩ một cách khách quan về ảo giác của mình là chính nó, thì làm thế nào mà sự lừa dối bằng ảo giác lại trở nên khả thể? Tất cả những khó khăn phát sinh từ thực tế là tư duy khách quan, sự quy giản những thứ được trải nghiệm thành các đối tượng, chủ thể tính thành Cogitatio cái Tôi tư duy, không để lại chỗ cho sự gắn bó mơ hồ của chủ thể với các hiện tượng tiền khách quan. Do đó, hậu quả là rõ ràng. Chúng ta phải ngừng xây dựng ảo giác, hoặc thực sự ý thức nói chung, theo một bản chất hoặc ý niệm nhất định về chính nó, điều buộc chúng ta phải định nghĩa nó bằng khuôn khổ của một loại tương xứng tuyệt đối nào đó và khiến cho ngừng phát triển trở nên không thể tưởng tượng được. Chúng ta học cách hiểu ý thức giống như học cách hiểu bất cứ điều gì khác. Khi nạn nhân ảo giác [tr.393] tuyên bố rằng anh ta nhìn thấy và nghe thấy, chúng ta không được tin anh ta,70 vì anh ta cũng tuyên bố điều ngược lại; thứ chúng ta phải làm là hiểu anh ta.

Chúng ta không nên bằng lòng với những ý kiến ​​của ý thức tỉnh táo về vấn đề ý thức ảo giác của chủ thể, và tự coi mình là những kẻ duy nhất phán xét ý nghĩa đặc biệt của ảo giác. Chắc chắn sẽ có người đáp lại rằng tôi không có cách nào tiếp cận được ảo giác như chính nó vốn có. Người trải nghiệm ảo giác, hoặc một kẻ khác, hoặc quá khứ của chính mình, không bao giờ trùng khớp với ảo giác, hoặc với kẻ kia, hoặc với quá khứ của chính mình như nó đã từng diễn ra. Tri thức không bao giờ có thể vượt qua giới hạn thực tại này. Điều này đúng, nhưng không được sử dụng để biện minh cho những cấu thành võ đoán. Đúng là chúng ta sẽ không bao giờ nói về bất cứ điều gì nếu chúng ta bị giới hạn chỉ nói về những trải nghiệm trùng khớp với chúng ta, vì ngôn ngữ vốn dĩ đã là một sự tách biệt. Hơn nữa, không có trải nghiệm nào mà không có ngôn ngữ, vì những gì được sống thuần túy không có vai trò gì trong đời sống ngôn từ của con người. Tuy nhiên, thực tế vẫn là ý nghĩa chính yếu của ngôn từ nằm ở văn bản kinh nghiệm mà nó đang cố gắng truyền đạt. Điều đang được tìm kiếm không phải là sự trùng hợp giả tạo giữa bản thân tôi và kẻ khác, giữa bản thân hiện tại của tôi với quá khứ, giữa bác sĩ với bệnh nhân; chúng ta không thể chiếm đoạt hoàn cảnh của kẻ khác, sống lại quá khứ trong thực tại của nó, hay căn bệnh như chính bệnh nhân đã trải qua. Ý thức của kẻ khác, quá khứ, hay bệnh tật, không bao giờ có thể bị thu hẹp trong tồn tại của chúng xuống mức mà tôi biết về chúng. Nhưng ý thức của chính tôi, trong chừng mực nó tồn tại và được cam kết, cũng không thể chỉ đơn giản là những gì tôi biết về nó. Nếu một triết gia tạo ra ảo giác cho chính mình bằng cách tiêm insulin, thì hoặc anh ta khuất phục trước xung động ảo giác, trong trường hợp đó ảo giác là một trải nghiệm sống động đối với anh ta chứ không phải là một đối tượng của tri thức, hoặc anh ta vẫn giữ được một phần năng lực phản tư của mình, và luôn có thể thách thức lời chứng của anh ta, vốn không phải là lời chứng của một kẻ rối loạn tâm thần ‘cam kết’ với ảo giác của mình. Như vậy, không có tri thức tự thân đặc quyền, và những kẻ khác không còn là những hệ thống khép kín hơn bản thân tôi. Thứ được đưa ra không phải là bản thân tôi đối lập với những kẻ khác, hiện tại của tôi đối lập với quá khứ của tôi, ý thức tỉnh táo với cogito cái tôi tư duy của nó đối lập với ý thức bị ảnh hưởng bởi ảo giác, mà ý thức tỉnh táo là kẻ duy nhất [tr.394] phán xét ý thức bị ảnh hưởng và bị giới hạn, trong mối quan hệ với nó, với những suy đoán nội tại của nó—đó là bác sĩ với bệnh nhân, bản thân tôi với những kẻ khác, quá khứ của tôi trên đường chân trời hiện tại của bản thân mình. Khi tôi nhớ lại quá khứ của mình vào thời điểm hiện tại, tôi bóp méo nó, nhưng tôi có thể chấp nhận những bóp méo này, bởi vì chúng được truyền đến tôi bằng độ căng được tạo ra giữa quá khứ đã qua mà tôi đang hướng tới và những diễn giải võ đoán của tôi. Tôi đã hiểu lầm một kẻ khác bởi vì tôi nhìn anh ta từ quan điểm của riêng mình, nhưng sau đó tôi nghe anh ta phản bác, và cuối cùng tôi nhận ra kẻ kia là trung tâm của các phối cảnh. Trong hoàn cảnh của chính tôi, hoàn cảnh của bệnh nhân mà tôi đang đặt vấn đề cũng xuất hiện và, trong hiện tượng lưỡng cực này, tôi học cách hiểu cả bản thân mình và kẻ khác. Chúng ta phải đặt mình trở lại tình huống thực tế mà trong đó ảo giác và ‘thực tại’ trình hiện cho chúng ta, và nắm bắt sự khác biệt cụ thể của chúng vào thời điểm chúng hoạt động trong quá trình giao tiếp với bệnh nhân. Tôi đang ngồi trước đối tượng của mình và trò chuyện với anh ấy; anh ấy đang cố gắng mô tả cho tôi những gì anh ấy ‘nhìn thấy’ và những gì anh ấy ‘nghe thấy’; vấn đề không phải là tin lời anh ấy, hay quy giản trải nghiệm của anh ấy thành của tôi, hay trùng khớp với anh ấy, hay bám vào quan điểm của riêng tôi, mà là làm rõ trải nghiệm của tôi, và cả trải nghiệm của anh ấy như được truyền đạt cho tôi trong niềm tin của chính tôi, cùng niềm tin ảo giác của anh ấy và niềm tin thực sự của tôi, để hiểu cái này thông qua cái kia. Việc tôi phân loại những giọng nói và hình ảnh của người đối thoại là ảo giác có nghĩa là tôi không tìm thấy điều gì tương tự trong thế giới thị giác hay thính giác của mình. Do đó, tôi nhận thức được việc nắm bắt, thông qua thính giác và đặc biệt là thị giác, một hệ thống hiện tượng không chỉ tạo nên một cảnh tượng riêng tư, mà còn là cảnh tượng duy nhất có thể xảy ra đối với tôi, thậm chí cả với những kẻ khác, và đây chính là điều được gọi là thực tại. Thế giới được tri giác không chỉ là thế giới của tôi, mà còn là thế giới mà tôi thấy hành vi của những kẻ khác hình thành, bởi vì hành vi của họ cũng nhắm đến thế giới này, vốn là mối tương quan không chỉ với ý thức của tôi, mà còn với bất kỳ ý thức nào mà tôi có thể gặp phải. Những gì tôi nhìn thấy bằng mắt đã bao trùm mọi khả tính thị giác đối với tôi. Đúng là tôi chỉ nhìn thấy những gì tôi thấy từ một góc độ nhất định, và tôi thừa nhận rằng một người quan sát ở vị trí khác sẽ nhìn thấy những gì tôi chỉ có thể phỏng đoán. Nhưng những cảnh tượng khác này đang ẩn hiện trong tôi vào lúc này, giống như mặt trái hoặc mặt dưới của các vật thể được tri giác đồng thời với khía cạnh có khả kiến của chúng, hoặc giống như căn phòng kế bên đã tồn tại từ trước so với tri giác mà tôi lẽ ra [tr.395] phải có nếu tôi bước vào đó. Trải nghiệm của những kẻ khác hoặc những trải nghiệm đang chờ đợi tôi nếu tôi thay đổi vị trí chỉ đơn thuần phát triển những gì được gợi ý bởi chân trời trải nghiệm hiện tại của tôi, và không bổ sung thêm gì vào đó. Tri giác của tôi mang đến đồng-tồn tại của vô số chuỗi tri giác nếu được theo dõi, sẽ xác nhận nó về mọi mặt và phù hợp với nó. Mắt và tay tôi biết rằng bất kỳ sự thay đổi vị trí thực tế nào cũng sẽ tạo ra phản ứng hợp lý hoàn toàn theo kỳ vọng của tôi, và tôi có thể cảm nhận được vô số tri giác chi tiết hơn đang tràn ngập dưới ánh nhìn của mình mà tôi dự đoán, và mà tôi đã nắm bắt được. Do đó, tôi ý thức được việc tri giác một bối cảnh không ‘khoan dung’ cho bất cứ điều gì ngoài những gì đã được viết hoặc được báo trước trong tri giác của tôi, và hiện tại tôi đang giao tiếp với một sự trọn vẹn tuyệt đối.71 Nạn nhân của ảo giác không hưởng niềm tin như vậy: hiện tượng ảo giác không phải là một phần của thế giới, nghĩa là, nó không thể tiếp cận được, không có con đường xác định nào dẫn từ nó đến tất cả những trải nghiệm còn lại của kẻ bị ảo tưởng, hoặc đến trải nghiệm của người tỉnh táo. ‘Anh không nghe thấy giọng nói của tôi sao?’ bệnh nhân hỏi; ‘vậy thì tôi chắc hẳn là người duy nhất nghe thấy chúng.’72 Ảo giác diễn ra trên một sân khấu khác với cái thế giới được tri giác, và theo cách chồng lên nhau: ‘Anh có biết không,’ một bệnh nhân nói, ‘trong khi chúng ta đang nói chuyện, thì ai đó cũng đang nói điều này hay điều khác với tôi. Vậy tất cả những điều đó từ đâu mà ra?’73 Sự thật ảo giác không diễn ra trong thế giới ổn định và liên chủ thể đồng nghĩa với việc nó thiếu đi tính trọn vẹn, cách diễn đạt nội tâm, thứ khiến cho sự vật thực sự tồn tại ‘trong tự thân’, hành động và tồn tại tự thân. Sự vật ảo giác không giống như sự vật thực sự, được lấp đầy bởi những tri giác nhỏ bé duy trì sự tồn tại của nó. Nó là một ý nghĩa ngầm và không thể diễn đạt. Khi đối mặt với sự vật thực sự, hành vi của chúng ta tự mình cảm thấy mình được thúc đẩy bởi những ‘kích thích’ lấp đầy và chứng minh ý hướng của nó. Nơi mà một ảo tưởng có liên quan, thì sáng kiến ​​xuất hiện từ chúng ta, và nó không có đối tác bên ngoài.74 Sự vật ảo giác không giống như sự vật thực sự, không phải là một hình thức hiện hữu có chiều sâu, nén [tr.396] bên trong nó một độ dày của thời gian; cũng không phải ảo giác, giống như tri giác, là cú nắm cụ thể của tôi về thời gian trong hiện tại sống động. Nó lướt qua thời gian cũng như lướt qua bề mặt của thế giới. Kẻ nói chuyện với tôi trong giấc mơ vừa mở miệng thì suy nghĩ của họ đã được truyền đến tôi một cách kỳ diệu; tôi biết kẻ đó đang nói gì với tôi trước khi họ nói bất cứ điều gì. Ảo giác không ở trong thế giới mà ‘ở trước’ thế giới, bởi vì cơ thể của bệnh nhân không còn tận hưởng sự gắn kết của nó với hệ thống hiện tượng nữa. Tất cả ảo giác ban đầu đều tác động lên chính cơ thể của kẻ đó. “Cứ như thể tôi nghe bằng miệng vậy.’ ‘Kẻ đang nói lại ở trên môi tôi,’ các bệnh nhân tâm sự như vậy.75 Trong leibhaften Bewusstheiten ‘ý thức hiện thân’, bệnh nhân cảm nhận được sự hiện diện của một kẻ mà họ không bao giờ nhìn thấy ở gần, phía sau hoặc trên người họ, và họ trải nghiệm sự hiện diện đó như đang đến gần hơn hoặc lùi xa hơn. Một phụ nữ bị tâm thần phân liệt liên tục có ấn tượng rằng cô ấy đang bị ai đó từ phía sau nhìn thấy mình khỏa thân.

George Sand có một bản sao mà bà chưa từng nhìn thấy, nhưng kẻ đó luôn nhìn thấy bà và gọi tên bà bằng chính giọng nói của bà.76 [Nhà văn Amantine Lucile Aurore Dupin, sau này là George Sand, sinh ngày 1 tháng 7 năm 1804 trên phố Meslay ở Paris, con gái của Maurice Dupin de Francueil và Sophie-Victoire Delaborde. Bà là chắt gái bên nội của Thống chế Pháp Maurice de Saxe, và về phía mẹ, ông nội của bà là Antoine Delaborde. Trong phần lớn thời thơ ấu, bà được bà ngoại Marie-Aurore de Saxe , Madame Dupin de Francueil, nuôi dưỡng tại nhà của bà ngoại ở làng Nohant , thuộc tỉnh Berry của Pháp. Sand thừa kế ngôi nhà vào năm 1821 khi bà ngoại qua đời, và đã sử dụng bối cảnh này trong nhiều tiểu thuyết của mình - HHN]. Tình trạng giải nhân cách hóa và rối loạn hình ảnh cơ thể ngay lập tức được chuyển thành ảo ảnh bên ngoài, bởi vì đối với chúng ta, việc tri giác cơ thể và tri giác tình huống của mình trong một bối cảnh vật lý và con người nhất định là một và cùng một thứ, vì cơ thể của chúng ta không gì khác ngoài chính tình huống đó chừng nào nó còn được hiện thực hóa và thực tại hóa. Trong ảo giác ngoại vi*, bệnh nhân tin rằng anh ta nhìn thấy một người đàn ông phía sau mình, và anh ta đồng thời nhìn thấy được theo mọi hướng xung quanh mình, anh ta có thể nhìn qua một cửa sổ nằm phía sau lưng mình.77 Do đó, ảo giác nhìn thấy ít giống với thứ trình hiện một đối tượng ảo hơn là sự lan rộng và, có thể nói, sự bùng phát của một sức mạnh thị giác đã mất đi bất kỳ đối trọng cảm giác nào. Ảo giác xuất hiện bởi vì thông qua cơ thể hiện tượng, chúng ta luôn có mối quan hệ với một môi trường mà cơ thể đó được phóng chiếu vào, và bởi vì, khi tách rời khỏi môi trường thực sự, cơ thể vẫn có khả năng triệu hồi, thông qua các bối cảnh riêng của chính nó, tình trạng giả-hiện-diện của môi trường đó [tr.397]. Đến mức đó, vật thể trong ảo giác không bao giờ được nhìn thấy và không bao giờ có thể nhìn thấy. Một đối tượng, dưới tác dụng của mescalin gây ảo giác, nhìn thấy con ốc vít của một thiết bị như một bóng đèn thủy tinh hoặc một chỗ lồi trên một quả bóng cao su. Nhưng chính xác thì anh ta nhìn thấy gì? ‘Tôi tri giác một thế giới được bao phủ bởi những chỗ phồng lên… Nó giống như tri giác của tôi đột nhiên thay đổi để trở thành tri giác phồng lên, giống như người ta chơi một bản nhạc ở giọng Đô hoặc Si giáng… Ngay lúc đó, toàn bộ tri giác của tôi đã biến đổi và, trong khoảnh khắc, tôi tri giác được một bóng cao su. Điều đó có nghĩa là tôi không nhìn thấy gì khác sao? Không, nhưng tôi có cảm giác như được chuyển đến một khung cảnh mà tôi không thể tri giác theo bất kỳ cách nào khác. Niềm tin chiếm lấy tôi bởi ý nghĩ thế giới là như vậy… Sau đó, một thay đổi khác đã diễn ra….’ Mọi thứ dường như vừa nhớp nháp vừa có vảy, giống như một loài rắn lớn nào đó mà tôi từng thấy đang duỗi mình ở Vườn thú Berlin. Rồi tôi bị nỗi sợ hãi như thể đang ở trên một hòn đảo nhỏ xung quanh đầy rắn.’78 Ảo giác không cho tôi thấy những khúc lồi lõm, lớp vảy hay từ ngữ như những thực tại nặng nề dần dần hé lộ ý nghĩa của chúng. Nó chỉ đơn thuần tái tạo lại cho tôi cái cách thức mà những thực tại này tác động đến tôi bằng hiện hữu cảm xúc và ngôn ngữ của tôi. Khi bệnh nhân từ chối thức ăn vì nó bị ‘nhiễm độc’, chúng ta cần nhận ra rằng đối với anh ta, từ này không có nghĩa như đối với một nhà hóa học:79 bệnh nhân không tin rằng thức ăn có những đặc tính thực sự gây độc cho cơ thể khách quan. Chất độc trong trường hợp này là một thực thể cảm xúc, một sự hiện diện kỳ ​​diệu có thể so sánh với bệnh tật hoặc bất hạnh. Phần lớn ảo giác không phải là những thứ có nhiều khía cạnh khác nhau, mà là những hiện tượng ngắn ngủi, chẳng hạn như cảm giác châm chích, giật mình, tiếng nổ, gió lùa, sóng lạnh hoặc nóng, tia lửa, điểm sáng chói, ánh sáng phát quang hoặc tiễn ảnh - hình bóng nổi bật đường viền.80 Khi đó là những thứ có thật, ví dụ như một con chuột, chúng chỉ được tái hiện bằng phong cách hoặc trông mặt mà bắt hình dong. Những hiện tượng rời rạc này không có mối liên hệ nhân quả chính xác với nhau. Mối quan hệ duy nhất giữa chúng là đồng-tồn tại—một đồng-tồn tại luôn có ý nghĩa đối với bệnh nhân, vì tri giác về tính ngẫu nhiên đòi hỏi những chuỗi nhân quả xác định và riêng biệt, và vì chúng ta đang ở giữa những tàn tích kỳ lạ [tr.398] của một thế giới đổ nát. ‘Chảy nước mũi trở thành một dòng chảy cụ thể, và việc ngủ gật trên tàu điện ngầm mang một ý nghĩa kỳ lạ và độc đáo’.81

Ảo giác chỉ liên quan đến một lĩnh vực cảm giác nhất định khi mỗi lĩnh vực cảm giác cung cấp cho sự biến dạng tồn tại những khả tính biểu đạt cụ thể. Ảo giác của người tâm thần phân liệt chủ yếu là thính giác và xúc giác, bởi vì thế giới thính giác và xúc giác, nhờ cấu trúc tự nhiên của nó, có khả năng thể hiện tốt hơn một sự tồn tại bị chiếm hữu, bị đe dọa và bị giải cá nhân hóa. Người nghiện rượu nặng chủ yếu trải nghiệm ảo giác thị giác bởi vì thị giác cung cấp cho các quá trình rối loạn một phương tiện để triệu hồi một đối thủ hoặc một nhiệm vụ cần phải đối mặt.82 Nạn nhân của ảo giác không nhìn và nghe theo nghĩa bình thường, mà sử dụng các lĩnh vực cảm giác và sự hòa nhập tự nhiên của mình vào một thế giới để gây dựng, từ những mảnh vỡ của thế giới này, một thế giới nhân tạo đáp ứng toàn bộ ý hướng hiện hữu của mình. Nhưng mặc dù ảo giác không phải là một quá trình cảm giác, thì nó lại càng không phải là một phán đoán. Nó không được trao cho chủ thể như một cấu trúc, và không có chỗ trong ‘thế giới địa lý’, trong hiện hữu, tức là, thứ mà chúng ta biết và đánh giá, trong mạng lưới các sự kiện tuân theo các quy luật, nhưng chỉ trong ‘cảnh quan’ cá nhân83 mà qua đó thế giới tác động lên chúng ta, và nhờ đó chúng ta có các giao tiếp sống động với nó. Một bệnh nhân nữ khai rằng có người nhìn cô ấy ở chợ, và cô ấy cảm thấy ánh mắt đó như một cú đánh vào mình, nhưng không thể nói nó đến từ đâu. Cô ấy không thể tự mình nói rằng trong không gian sở hữu chung có một người bằng xương bằng thịt đang nhìn về phía cô ấy—và [tr.399] chính vì sự từ chối này mà những lập luận có thể đưa ra chống lại cô ấy hoàn toàn không lay chuyển được cô ấy. Đối với cô, đó không phải là vấn đề những gì xảy ra trong thế giới khách quan, mà là những gì cô ấy gặp phải, những gì chạm vào cô ấy hoặc tác động đến cô ấy. Thức ăn bị nạn nhân của ảo giác từ chối chỉ bị nhiễm độc đối với anh ta, nhưng đến mức độ này, nó bị nhiễm độc một cách không thể chối cãi. Ảo giác không phải là tri giác, nhưng nó có giá trị của hiện thực, và chỉ riêng nó mới có ý nghĩa đối với nạn nhân. Thế giới đã mất đi sức mạnh biểu đạt của nó,84 và hệ thống ảo giác đã chiếm đoạt nó. Mặc dù ảo giác không phải là tri giác, nhưng có một sự lừa dối ảo giác, và đây là điều chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được nếu chúng ta coi ảo giác là một vận hành trí tuệ. Dù khác biệt với tri giác đến đâu, ảo giác cũng phải có khả năng thay thế nó, và tồn tại đối với bệnh nhân ở mức độ cao hơn so với tri giác của chính họ. Điều này chỉ có thể xảy ra chừng nào ảo giác và tri giác là các phương thức của một chức năng nguyên thủy duy nhất, trên cơ sở đó chúng ta sắp xếp xung quanh mình một bối cảnh có cấu trúc nhất định, để rồi thông qua đó có thể đặt mình vào một thời điểm công bằng minh bạch trong thế giới, và vào một thời điểm khác bên lề của nó. Sự tồn tại của bệnh nhân bị dịch chuyển khỏi trung tâm của nó, không còn được thực hiện thông qua việc giao tiếp với một thế giới khắc nghiệt, kháng cự và khó nắm bắt, một thế giới không hề biết gì về chúng ta, nhưng lại tiêu phí bản chất của nó trong biệt lập để tạo ra một bối cảnh hư cấu cho chính nó. Nhưng hư cấu này chỉ có thể có giá trị của thực tại bởi vì trong chủ thể bình thường, chính tự thân thực tại cũng trải qua một quá trình tương tự. Bởi vì anh ta cũng có các trường cảm giác và một cơ thể, nên người bình thường cũng bị ảnh hưởng bởi vết thương toang hoác mà qua đó ảo tưởng có thể xâm nhập. Cách tái hiện thế giới của anh ta cũng không kém phần dễ bị tổn thương. Chừng nào còn tin vào những gì mình thấy, thì chúng ta làm vậy mà không cần bất kỳ sự kiểm chứng nào, và sai lầm của các lý thuyết tri giác truyền thống là đưa vào chính tri giác các thao tác trí tuệ và cách xem xét phê phán các bằng chứng từ các giác quan, mà trong thực tế chúng ta chỉ cần đến khi tri giác trực tiếp gặp phải sự mơ hồ. Trong trường hợp của chủ thể bình thường, kinh nghiệm cá nhân, độc lập với bất kỳ sự xác minh rõ ràng nào, liên kết với chính nó và với những kinh nghiệm có nguồn gốc bên ngoài, sao cho cảnh quan mở ra một thế giới địa lý và hướng tới sự viên mãn tuyệt đối. Người bình thường không tìm thỏa mãn trong chủ thể tính, hắn [tr.400] chạy trốn khỏi nó, và thực sự quan tâm đến hiện hữu trong thế giới, cách nắm bắt thời gian của hắn trực tiếp và không suy xét, trong khi kẻ bị ảo giác chỉ đơn giản khai thác hiện hữu của mình trong thế giới để tạo ra một khu vực riêng cho mình trong thế giới sở hữu chung, và liên tục đụng độ với cái siêu việt của thời gian. 

Ẩn sâu bên dưới những hành động cụ thể cho phép tôi đặt trước mặt mình một vật thể ở khoảng cách nhất định, đứng trong mối quan hệ xác định với các vật thể khác, và có những đặc điểm cụ thể có thể quan sát được, ẩn sâu bên dưới những tri giác được hiểu đúng đắn, thì ở đó việc duy trì chúng là một chức năng sâu sắc hơn mà nếu thiếu nó, các vật thể được tri giác sẽ thiếu dấu hiệu đặc trưng của thực tại, như đối với người tâm thần phân liệt, và thông qua đó chúng bắt đầu được xem xét đến hoặc có giá trị đối với chúng ta. Đó là động lực đưa chúng ta vượt ra ngoài chủ thể tính, cho chúng ta vị trí của mình trong thế giới trước bất kỳ khoa học và bất kỳ sự xác minh nào, thông qua một loại ‘niềm tin’ hay ‘quan điểm sơ cấp’85—hoặc mặt khác, có thể bị sa lầy trong những biểu hiện riêng tư của chúng ta. Trong lĩnh vực quan điểm sơ cấp này, ảo giác có thể xảy ra ngay cả khi ảo giác không bao giờ là tri giác, và mặc dù thế giới thực luôn được bệnh nhân nghi ngờ là ở đó, ngay cả khi anh ta quay lưng lại với nó, bởi vì chúng ta vẫn đang ở trong thế giới tiền-vị ngữ, và bởi vì mối liên hệ giữa diện mạo và toàn bộ trải nghiệm chỉ là ngầm định và giả định, ngay cả trong trường hợp tri giác thực sự. Đứa trẻ quy những giấc mơ của mình, cũng như những tri giác của mình, cho thế giới; nó tin rằng giấc mơ được diễn ra trong phòng của nó, dưới chân giường, sự khác biệt duy nhất so với tri giác là giấc mơ chỉ hiển thị với người đang ngủ.86  Thế giới vẫn là sân khấu mơ hồ của mọi trải nghiệm. Một mặt nó tiếp nhận không phân biệt các vật thể thực và mặt khác những ảo ảnh cá nhân và nhất thời— bởi vì nó là một cá thể bao trùm mọi thứ chứ không phải là một tập hợp các vật thể được liên kết bởi các mối quan hệ nhân quả. Có ảo giác và nói chung là tưởng tượng, là khai thác thứ khoan dung này từ phía thế giới dự đoán trước, và sự gần gũi đến khó hiểu của chúng ta với toàn bộ hiện hữu trong trải nghiệm tổng hợp. Do đó, chúng ta chỉ thành công trong việc giải thích sự lừa dối của ảo giác bằng cách loại bỏ sự chắc chắn tuyệt đối khỏi tri giác và [tr.401] tự-chủ hoàn toàn khỏi ý thức tri giác. Tồn tại của đối tượng tri giác không bao giờ là tất yếu, bởi vì tri giác bao hàm một quá trình minh định phải theo đuổi đến vô tận và hơn nữa, không thể tiến triển theo một hướng mà không mất đi theo hướng khác, và không phải đối mặt với rủi ro thời gian. Nhưng lại không thể kết luận rằng cái được tri giác chỉ là khả tính hoặc xác suất, và có thể được thu hẹp, chẳng hạn, thành một khả tính tri giác vĩnh viễn. Khả tính và xác suất giả định kinh nghiệm sai lầm trước đó, tương ứng với một trạng thái nghi ngờ. Tri giác vẫn luôn tồn tại, bất chấp mọi giáo dục phê phán, ở phía bên kia nghi ngờ và chứng minh. Mặt trời ‘mọc’ đối với nhà khoa học cũng giống như đối với người không được học hành, và những mô tả khoa học về hệ mặt trời vẫn chỉ là những lời đồn đại, giống như cảnh quan mặt trăng, và chúng ta không bao giờ tin vào chúng theo nghĩa mà chúng ta tin vào hiện tượng mặt trời mọc lên.

Mặt trời mọc và tri giác nói chung là ‘có thật’, và chúng ta tự nhiên coi chúng là một phần của thế giới. Mỗi tri giác, mặc dù luôn có khả năng bị ‘hủy bỏ’ và xếp vào loại ảo ảnh, chỉ biến mất để nhường chỗ cho một tri giác khác nhằm điều chỉnh nó. Mỗi sự vật, sau khi xảy ra, có thể xuất hiện không chắc chắn, nhưng điều chắc chắn đối với chúng ta là có sự vật, nghĩa là có một thế giới. Tự hỏi liệu thế giới có thật hay không là không hiểu được điều mình đang hỏi, vì thế giới không phải là tổng hợp của những sự vật có thể luôn bị đặt câu hỏi, mà là nguồn dự trữ vô tận từ đó mọi thứ được rút ra. Tri giác được xem xét toàn diện, với chân trời thế giới báo hiệu cả sự tách rời có thể có và sự thay thế có thể có của nó bằng một tri giác khác, chắc chắn không đánh lừa chúng ta. Không thể có sai lầm khi chưa có chân lý mà chỉ có hiện thực, và chưa có cái tất yếu mà chỉ có tính hiện thực. Tương ứng, chúng ta phải từ chối gán cho ý thức tri giác việc sở hữu trọn vẹn chính nó, và tính nội tại sẽ loại trừ bất kỳ ảo ảnh nào có thể xảy ra. Nếu ảo giác là có thể xảy ra, thì điều cần thiết là ý thức, tại một thời điểm nào đó, phải ngừng nhận thức được những gì nó đang làm, nếu không nó sẽ ý thức được việc tạo ra một ảo ảnh, và sẽ không chấp nhận nó, do đó sẽ không còn ảo ảnh nào nữa. Và nếu, như chúng ta đã nói, vật ảo ảnh và vật thật không có cùng cấu trúc, để bệnh nhân chấp nhận ảo ảnh, anh ta phải quên hoặc kìm nén thế giới thực, và ngừng tham chiếu trở lại nó, và giữ lại ít nhất khả năng quay trở lại sự nhầm lẫn ban đầu giữa cái thật và cái giả. Tuy nhiên, chúng ta không cắt đứt ý thức khỏi chính nó, điều này sẽ ngăn cản mọi tiến bộ của tri thức vượt ra ngoài ý kiến ​​sơ cấp, và đặc biệt là việc xem xét triết học về ý kiến ​​sơ cấp như là cơ sở của mọi tri thức. Tất cả những gì cần thiết là sự trùng hợp của bản thân với chính mình, như đạt được trong cogito Tôi tư duy, sẽ không bao giờ là một sự trùng hợp thực sự, mà chỉ là một sự trùng hợp có chủ ý và mang tính giả định. Thực tế, giữa tôi, kẻ vừa nghĩ ra điều này, và tôi, kẻ đang nghĩ rằng mình đã nghĩ ra điều đó, đã có một khoảng thời gian dày đặc xen vào, đến nỗi tôi luôn nghi ngờ liệu suy nghĩ đã qua đó có thực sự như tôi hiện đang thấy hay không. Hơn nữa, vì tôi không có bằng chứng nào khác về quá khứ của mình ngoài lời chứng hiện tại, nhưng lại có ý niệm về quá khứ, nên tôi không có lý do gì để đặt cái không phản tư, như một cái không thể biết, đối lập với phép phản tư áp dụng vào nó. Nhưng niềm tin vào phép phản tư cuối cùng cũng dẫn đến việc tôi chấp nhận và hành động dựa trên thực tế về thời gian tính, và thực tế về thế giới như là khuôn khổ bất biến của mọi ảo tưởng và mọi sự vỡ mộng: Tôi chỉ biết bản thân mình vốn cố hữu trong thời gian và trong thế giới, nghĩa là, tôi chỉ biết bản thân mình trong tính mơ hồ.

__________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

63 Zucker, Experimentelles über Sinnestäuschungen, pp. 706–64.

64 Minkowski, Le problème des hallucinations et le problème de l’espace, p. 66.

65 Schröder, Das Halluzinieren, p. 606.

66 Système des Beaux-Arts, p. 15.

67 Specht, Zur Phänomenologie und Morphologie der pathologischen Wahrnehmungstäuschungen, p. 15.

68 Jaspers, Über Trugwahrnehmungen, p. 471.

69 Hence Alain’s hesitation: if consciousness always knows itself, it must immediately distinguish the percept from the figment of imagination, and we shall say that the imaginary is not visible. (Système des Beaux-Arts, pp. 15 and ff.) But if there is hallucinatory deception, then the imaginary must be able to be taken for the percept, and we shall say that the judgement entails vision. (Quatre-vingtun chapitres sur l’esprit et les passions, p. 18.)

70 As Alain accuses the psychologists of doing.

71 Minkowski, Le Problème des hallucinations et le problème de l’espace, p. 66.

72 Ibid., p. 64.

73 Ibid., p. 66.

74 That is why Palagyi could assert that perception is a ‘direct phantasm’, hallucination an ‘inverse phantasm’. Schorsch, Zur Theorie der Halluzinationen, p. 64.

* I.e. when the patient believes he perceives outside the sensory field presented to him (Translator’s note).

75 Schröder, Das Halluzinieren, p. 606.

76 Menninger-Lerchental, Das Truggebilde der Eigenen Gestalt, pp. 76 and ff.

77 Ibid., p. 147.

78 Unpublished self-observation of J. P. Sartre.

79 Straus, Vom Sinn der Sinne, p. 290.

80 Minkowski, Le Problème des hallucinations et le problème de l’espace, p. 67.

81 Minkowski, Le Problème des hallucinations et le problème de l’espace, p. 68.

82 Straus, op. cit., p. 288.

83 Ibid. The patient ‘lives within the horizon of his landscape, under the sway of univocal impressions which, lacking any motif or basis, are no longer made to fit into the universal order of the world of things, or into the universal sense-relationships of language. The things to which patients refer by familiar names have ceased to be the same things for them that they are for us. What they have retained and made into parts of their landscape are mere broken remnants of our world, and even these do not remain what they were as parts of the whole.’ Things for the schizophrenic are frozen and inert, whereas those of delirium are communicative and living to a greater degree than are ours. ‘If the illness grows worse, the disintegration of thought and the disappearance of speech reveal the loss of geographical space, and the blunted feelings reveal the impoverishment of the landscape.’ (Straus, op. cit., p. 291.)

84 Hallucination, says Klages, supposes a ‘Verminderung des Ausdrucksgehaltes der äusseren Erscheinungswelt’. Quoted by Schorsch, Zur Theorie der Halluzinationen, p. 71.

85 Urdoxa or Urglaube, of Husserl.

86 Piaget, La Représentation du monde chez l’enfant, pp. 69 and ff.