Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT
52. Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục trong đời sống thường nhật và Quan niệm Hữu thể Trọn vẹn về cái Chết
[Tr. 299] Phần phác thảo hữu thể sơ bộ, Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đã được định nghĩa là Hữu-thể-hướng-đến tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính mình—vốn mang tính phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua hay thay thế. Hữu-thể-hướng-đến cái khả tính này—với tư cách là một Hữu thể vẫn tồn tại—được đặt đối diện trực tiếp với cái bất khả tính tuyệt đối của chính hiện hữu. Vượt khỏi cách mô tả có vẻ trống rỗng về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết này, thì tính cụ thể của Hữu thể ấy trong phương thức thường nhật đã được hé lộ. Theo khuynh hướng sa ngã—vốn là bản chất của đời sống thường nhật—Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết bộc lộ ra như một sự lẩn tránh trước cái chết; một sự lẩn tránh mang tính che đậy. Trong khi quá trình nghiên cứu từ trước đến nay của chúng ta đi từ phác thảo hình thức về cấu trúc bản thể luận của cái chết sang phân tích cụ thể về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục trong đời sống thường nhật, thì giờ đây hướng đi đó sẽ được đảo ngược; chúng ta sẽ đạt tới quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái chết bằng cách hoàn thiện phép Diễn giải về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục trong đời sống thường nhật. Khi lý giải về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật, chúng ta đã bám vào những phiếm đàm của cái gọi là das Man cái ‘họ’, với quan điểm cho rằng: “Ai rồi cũng chết, vào một lúc nào đó, nhưng không phải ngay bây giờ.”1 Tất cả những gì chúng ta đã diễn giải cho đến nay chỉ mới dừng lại ở khía cạnh ‘ai cũng chết’ (hay ‘người ta chết’) theo đúng nghĩa của từ đó. Trong cụm từ ‘vào một lúc nào đó, nhưng không phải ngay bây giờ’, đời sống thường nhật đã thừa nhận một điều gì đó tương tự như sự chắc chắn về cái chết. Không ai nghi ngờ việc con người sẽ chết. Tuy nhiên, cái ‘không nghi ngờ’ này không nhất thiết hàm ý một loại ‘Hữu-thể-chắc-chắn’ tương ứng với cách thức mà cái chết—theo nghĩa là khả tính đặc thù đã được mô tả - bám lấy Dasein. Tính thường nhật giới hạn mình để thừa nhận [tr.300] ‘tính chắc chắn’ về cái chết bằng cách thức mơ hồ, chỉ nhằm làm suy yếu trạng thái chắc chắn đó bằng cách che đậy quá trình hấp hối kỹ càng hơn, và để xoa dịu cảm giác về tình trạng bản thân mình ‘bị ném’ vào cái chết.
Ngay trong ý nghĩa của nó, sự che đậy mang tính né tránh này khi đối diện với cái chết không thể thực sự ‘chắc chắn’ về cái chết, nhưng tuy nhiên, nó lại chắc chắn về điều đó. Chúng ta phải nói gì về ‘trạng thái chắc chắn của cái chết’? Chắc chắn về một hiện hữu có nghĩa coi nó là đúng, là một điều gì đó xác thực.2 Nhưng ‘chân lý’ biểu thị Entdecktheit/ uncoveredness trạng thái ‘bộc lộ’ của một hiện hữu nào đó, và mọi trạng thái ‘bộc lộ’ đều có cơ sở bản thể luận ở cái chân lý bản nguyên nhất: Erschlossenheit/disclosedness trạng thái ‘khai mở’ của Dasein.xiv Là một hiện hữu vừa được khai mở vừa tự khai mở, và là thứ hiện hữu bộc lộ, Dasein về bản chất là ‘ở trong chân lý’ [‘Das Dasein ist als konstituiert durch die Erschlossenheit wesenhaft in der Wahrheit’ - Dasein, với tư cách được cấu thành bởi trạng thái ‘khai mở’, nên về bản chất là nằm trong chân lý]. Song, tính chắc chắn lại có cơ sở ở chân lý, hoặc thuộc về chân lý theo cách thức đồng bản nguyên. Thuật ngữ ‘tính chắc chắn’, cũng giống như thuật ngữ ‘chân lý’, mang hai tầng nghĩa. Về phương diện bản nguyên, ‘chân lý’ đồng nghĩa với ‘Hữu-thể-mang-tính-khai-mở’, như một phương thức hành xử của Dasein. Từ đó nảy sinh nghĩa phái sinh: Entdecktheit/ uncoveredness trạng thái ‘bộc lộ’ của các hiện hữu. Tương ứng, ‘tính chắc chắn’, theo nghĩa bản nguyên, đồng nghĩa với Hữu-thể-chắc-chắn, như một loại Hữu thể thuộc về Dasein. Tuy nhiên, theo nghĩa phái sinh, bất kỳ hiện hữu nào mà Dasein có thể chắc chắn về nó cũng sẽ được gọi là một điều gì đó ‘chắc chắn’. Một phương thức của tính chắc chắn là niềm xác tín. Trong niềm xác tín, Dasein để cho phép chứng thực từ chính sự vật đã được bộc lộ (tự thân sự vật chân thực đó) trở thành yếu tố quyết định duy nhất cho cách nó trở thành Hữu thể hướng đến sự vật ấy bằng thấu hiểu.3 Việc coi một điều gì đó là ‘chân’ thì đúng là phương thức thỏa đáng để duy trì bản thân trong chân lý, miễn là nó được đặt nền tảng trên chính cái hiện hữu đã được bộc lộ, và nếu—với tư cách là Hữu thể đến cái hiện hữu đã bộc lộ đó—nó trở nên minh bạch đối với chính nó về trạng thái phù hợp của nó với hiện hữu ấy. Trong bất kỳ hư cấu võ đoán nào hay khi chỉ đơn thuần có một ‘quan điểm’ về một hiện hữu, thì loại sự vật này lại thiếu vắng.
Tính thỏa đáng của việc ‘cho-là-chân’ được đo lường dựa trên tuyên bố về chân lý mà nó thuộc về. Một tuyên bố như vậy có được sự biện minh từ loại Hữu thể của cái hiện hữu được ‘khai mở’, và từ hướng ‘khai mở’ đó. Loại hình chân lý—và cùng với đó là tính chắc chắn—thay đổi tùy theo sự khác biệt giữa các hiện hữu, đồng thời tương ứng với khuynh hướng chủ đạo và phạm vi khai mở. Những suy tư hiện tại của chúng ta sẽ chỉ giới hạn ở [tr.301] việc phân tích cái Hữu-thể-chắc-chắn liên quan đến cái chết; và cái Hữu-thể-chắc-chắn này, rốt cuộc, sẽ cho thấy một trạng thái chắc chắn đặc thù của Dasein. Phần lớn thời gian, trong đời sống thường nhật Dasein che đậy cái khả tính riêng biệt nhất cái Hữu thể của nó—cái khả tính mang tính phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua. Khuynh hướng thực tính nhằm che đậy này xác nhận luận điểm của chúng ta cho rằng Dasein, với tư cách là một hiện hữu thực tính, luôn ở trong cái ‘phi-chân-lý’.xv Do đó, tính chắc chắn thuộc về việc che đậy Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy hẳn phải là một cách ‘cho-là-chân’ không thích hợp, chứ không phải, chẳng hạn, một trạng thái bất chắc theo nghĩa hoài nghi. Trong trạng thái chắc chắn không thích hợp, là cái thuộc về thứ mà người ta tin chắc lại bị che đậy. Nếu ‘ai đó’ hiểu cái chết như một sự kiện gặp phải trong môi trường sống, thì cái trạng thái chắc chắn liên quan đến các sự kiện như vậy không thuộc về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục.
Người ta nói: “Chắc chắn là ‘Cái chết’ đang đến.”4 Họ nói vậy, và cái ‘họ’ ấy bỏ qua thực tế rằng để có thể chắc chắn về cái chết, bản thân Dasein—trong mọi trường hợp—phải chắc chắn về tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất và phi-quan-hệ của chính mình. Họ nói: ‘Cái chết là điều chắc chắn’; và khi nói như vậy, họ gieo vào Dasein cái ảo tưởng rằng chính nó đang chắc chắn về cái chết của mình. Vậy cái gì là cơ sở cho cái Hữu-thể-chắc-chắn trong đời sống thường nhật? Rõ ràng, đó không chỉ đơn thuần là sự thuyết phục lẫn nhau. Tuy nhiên, ‘cơn hấp hối’ của những Kẻ Khác là điều mà người ta trải nghiệm hàng ngày. Cái chết là một ‘sự thật của trải nghiệm’ không thể chối cãi. Cái cách mà Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật thấu hiểu trạng thái chắc chắn được xác lập theo cách này sẽ tự bộc lộ chân tướng khi nó cố gắng ‘suy tư’ về cái chết, ngay cả khi nó thực hiện điều đó với sự tiên liệu đầy tính phê phán—tức là theo một phương thức thích đáng. Theo những gì người ta biết, mọi người đều ‘chết’. Cái chết có xác suất xảy ra cao nhất đối với mỗi người, song nó lại không chắc chắn một cách ‘vô điều kiện’. Xét nghiêm ngặt, cái chết ‘chỉ’ có thể được gán cho một trạng thái kinh nghiệm chắc chắn. Trạng thái đó tất yếu không đạt tới mức độ chắc chắn cao nhất—tính chắc chắn tất định—mà ta có thể đạt được trong một số lĩnh vực tri thức lý thuyết.
Trong sự xác định mang tính ‘phê phán’ này về trạng thái chắc chắn của cái chết cũng như tính chất chực chờ của nó, trong ví dụ đầu tiên—một lần nữa lại thất bại trong việc nhận thức đúng loại Hữu thể của Dasein và loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết vốn thuộc về Dasein—một sự thất bại đặc trưng cho tính thường nhật. Sự thậy thì việc chấm dứt sự sống—với tư cách là một sự kiện diễn ra—‘chỉ’ chắc chắn về mặt kinh nghiệm, hoàn toàn không mang tính quyết định đối với tính chắc chắn của cái chết. Các trường hợp chết có thể là dịp thực tế để Dasein bắt đầu chú ý đến cái chết. Tuy nhiên, chừng nào Dasein còn mắc kẹt trong trạng thái chắc chắn mang tính kinh nghiệm đã nêu, thì cái chết—theo cách thức mà nó ‘hiển thị’—vẫn là một cái gì đó mà Dasein không thể nào dám chắc. Mặc dù trong tính công cộng của cái ‘họ’, Dasein [tr.302] dường như chỉ ‘phán’ về trạng thái chắc chắn ‘mang tính kinh nghiệm’ này của cái chết, nhưng về bản chất, Dasein không chỉ hay chủ yếu bám víu vào những trường hợp chết đơn thuần diễn ra. Ngay cả khi lảng tránh cái chết của chính mình, lối Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục thường nhật vẫn thực sự chắc chắn về cái chết theo một cách khác so với những gì nó muốn tin dựa trên các suy xét thuần túy lý thuyết. ‘Cách khác’ này chính là điều mà tính thường nhật phần lớn tự che giấu khỏi chính nó. Tính thường nhật không dám để cho bản thân trở nên minh bạch theo cách thức như vậy. Chúng ta đã mô tả cái tâm thế thường nhật, vốn mang dáng vẻ của sự tự cho mình là hơn hẳn khi đối diện với ‘sự thật’ về cái chết—một thái độ tự mãn vượt trội đầy ‘âu lo’ nhưng lại có vẻ như chẳng hề lo âu. Trong tâm thế này, tính thường nhật thừa nhận một trạng thái chắc chắn ‘cao hơn’ so với cái trạng thái chỉ thuần túy mang tính thực nghiệm. Người ta biết về tính chắc chắn của cái chết, nhưng lại không thực sự xác tín về cái chết của chính mình. Tính thường nhật sa ngã của Dasein tuy biết rõ cái chết là chắc chắn, nhưng lại né tránh Hữu-thể-chắc-chắn. Nhưng chính hành động này—khi xét đến điều bị né tránh—lại minh chứng hiện tượng là cái chết phải được quan niệm là khả tính riêng biệt nhất của mỗi người: một khả tính không thể chia sẻ với ai khác, không thể vượt qua, và—trên hết—là điều chắc chắn sẽ xảy ra.
Người ta thường nói: ‘Cái chết chắc chắn sẽ đến, nhưng không phải ngay bây giờ’. Với chữ ‘nhưng’ này, das Man cái ‘họ’ phủ nhận tính chắc chắn của cái chết. Cụm từ ‘không phải ngay bây giờ’ không đơn thuần là một lời phủ định, mà là cách thức cái ‘họ’ tự diễn giải về chính mình. Thông qua cách diễn giải này, cái ‘họ’ hướng sự chú ý vào những gì gần gũi, dễ tiếp cận và phù hợp với mối bận tâm của Dasein. Tính thường nhật lao vào tình trạng cấp bách của những mối bận tâm, đồng thời rũ bỏ gánh nặng của kiểu ‘suy tư thụ động và mệt mỏi về cái chết’. Cái chết bị trì hoãn sang một ‘thời điểm nào đó về sau’, và điều này được thực hiện bằng cách viện dẫn cái gọi là ‘quan điểm chung’. Như vậy, cái ‘họ’ đã che đậy cái đặc thù trong tính chắc chắn của cái chết—điều có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào. Đi đôi với tính chắc chắn của cái chết là trạng thái bất định về ‘khi nào’ nó sẽ đến. Trong đời sống thường nhật, Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết né tránh sự bất định này bằng cách gán cho nó một trạng thái xác định. Tuy nhiên, cách thức này không có nghĩa là tính toán xem khi nào thì cái chết sẽ ập đến. Đối diện với tính xác định như vậy, Dasein thà chọn cách trốn chạy còn hơn. Sự bận tâm thường nhật biến trạng thái bất định của cái chết chắc chắn thành một điều xác định đối với chính nó, bằng cách đặt vào giữa nó và cái chết những vấn đề cấp bách hay những khả tính có thể nắm bắt ngay tức thì—những điều thuộc về các sự việc thường nhật gần gũi nhất với chúng ta. Nhưng khi trạng thái bất định này bị che đậy, thì tính chắc chắn của cái chết cũng bị che đậy theo. Do đó, tính chất cốt lõi nhất của cái chết—với tư cách là một khả tính— là bị che khuất; đó là một khả tính vừa chắc chắn lại vừa bất định, nghĩa là có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào.
Giờ đây, sau khi đã hoàn tất phép Diễn giải cách thức thường nhật mà cái ‘họ’ bàn luận về cái chết cũng như cách thức mà cái chết [tr.303] thâm nhập vào Dasein, chúng ta đã nhận diện được các đặc trưng về tính chắc chắn và tính bất định. Khái niệm mang tính hữu thể-bản thể luận về cái chết giờ đây có thể định nghĩa như sau: cái chết, với tư cách chung cục, là khả tính riêng biệt nhất của chính Dasein—một khả tính phi tương quan, chắc chắn và do đó bất định, và là cái không thể vượt qua. Là chung cục của Dasein, cái chết hiện diện ngay trong chính Hữu thể của hiện hữu này khi nó hướng về cái chung cục của nó. Việc xác định cấu trúc hữu thể của Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục giúp làm sáng tỏ một loại Hữu thể của Dasein, trong đó Dasein—với tư cách là Dasein—có thể trở nên trọn vẹn.
Sự thật là ngay cả Dasein trong đời sống thường nhật cũng đã luôn hướng về cái chung cục của mình—tức là không ngừng đối diện với cái chết, dù là theo một cách thức ‘lẩn tránh’—cho thấy rằng kiểu chung cục này, vốn mang tính dứt khoát và quyết định đối với Hữu-thể-một-chỉnh-thể, không phải là điều mà Dasein rốt cuộc chỉ chạm tới khi lâm chung. Trong Dasein—với tư cách là hiện hữu hướng đến cái chết—đã bao hàm sẵn cái ‘vẫn-chưa’ tột cùng của chính nó; đó là cái ‘vẫn-chưa’ mà mọi cái ‘vẫn-chưa’ khác đều chờ đón nó.5 Do đó, nếu ta đưa ra một Diễn giải không phù hợp về mặt bản thể luận đối với cái ‘vẫn-chưa’ của Dasein—coi nó đơn thuần là một điều gì đó còn dang dở—thì bất kỳ suy luận hình thức nào cho rằng Dasein thiếu đi tổng thể tính dựa trên cách hiểu đó đều sẽ không chính xác. Hiện tượng cái ‘vẫn-chưa’ này được kế thừa từ cái đặc tính ‘vượt-trước-chính-mình’; cũng như cấu trúc-chăm lo nói chung, nó không thể đóng vai trò như một Tòa án cấp trên phán quyết bác bỏ khả tính về một Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện hữu; thực ra, chính cái ‘vượt-trước-chính-mình’ này mới là yếu tố tiên quyết làm cho Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy trở nên khả thể. Vấn đề về cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể khả thể của cái thực thể là mỗi chúng ta, lại chính là một vấn đề xác đáng nếu chăm lo – với tư cách là trạng thái cơ bản của Dasein – luôn ‘kết nối’ với cái chết, tức khả tính tột cùng của thực thể đó. Tuy nhiên, vẫn còn câu hỏi bỏ ngỏ là vấn đề này đã được giải quyết thấu đáo hay chưa. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết luôn có cơ sở ở chăm lo. Dasein, với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới ở trạng thái bị ném vào, luôn bị phó mặc cho cái chết của nó. Khi hiện hữu hướng tới cái chết, Dasein đang chết về phương diện thực tính và liên tục, chừng nào chưa đi đến hồi kết.
Khi nói rằng Dasein đang chết về phương diện thực tính, ta đồng thời khẳng định rằng trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của mình Dasein luôn tự quyết định bản thân theo cách này hay cách khác. Sự lảng tránh cái chết trong đời sống thường nhật – một dạng thức sa ngã – là một loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ‘không đích thực’. Song, tính không đích thực lại dựa trên khả năng của tính đích thực.xvi Nhưng tính không đích thực đặc trưng cho một loại Hữu thể mà Dasein có thể hướng mình vào – và phần lớn thời gian là luôn hướng mình vào đó; tuy nhiên, Dasein không nhất thiết và không bắt buộc phải luôn hướng mình vào loại Hữu thể này. Vì Dasein tồn tại, nó tự xác định [tr.304] bản chất của chính mình như là loại hiện hữu mà nó vốn vậy, và nó thực hiện điều đó trong mọi trường hợp dựa trên một khả tính của chính nó và cũng là một khả tính mà nó thấu hiểu.6 Liệu Dasein có thể thấu hiểu một cách đích thực cái khả tính riêng biệt nhất của chính mình – khả tính mang tính phi-quan-hệ, không thể bị vượt qua, chắc chắn nhưng lại bất định về mặt thời điểm – hay không? Nói cách khác, liệu Dasein có thể duy trì bằng thứ Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đích thực của mình? Chừng nào Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực này chưa được trình bày và định nghĩa về bản thể luận, thì phép Diễn giải hữu thể về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục vẫn còn thiếu một yếu tố cốt lõi. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực biểu thị một khả tính thực hữu cụ thể của Dasein. Cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính ontish thực hữu này, đến lượt nó, phải mang tính khả thể về mặt bản thể luận. Vậy thì những gì là điều kiện hữu thể cho cái khả tính này? Làm thế nào để chính chúng trở nên dễ tiếp cận?
53.
Phóng chiếu hữu thể của Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực
Về phương diện thực tính, Dasein thường duy trì bản thân mình—trước hết và phần lớn—bằng một loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không đích thực. Làm thế nào để xác định một cách ‘Khách quan’ cái khả tính bản thể luận của một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực, nếu rốt cuộc Dasein không bao giờ thực sự ứng xử một cách đích thực đối với cái chung cục của chính mình, hoặc nếu—theo đúng ý nghĩa của chính nó—cái Hữu thể đích thực này buộc phải ẩn giấu khỏi những Kẻ Khác? Chẳng phải là một nỗ lực viển vông sao khi phóng chiếu cái khả tính hữu thể của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể existentiell thực hữu cụ thể đầy nghi vấn như vậy? Cần có những gì để phép phóng chiếu này vượt ra khỏi khuôn khổ của một cấu thành võ đoán và thuần túy hư cấu? Liệu chính Dasein có cung cấp cho chúng ta bất kỳ chỉ dẫn nào để thực hiện điều đó không? Và liệu có thể tìm thấy cơ sở cho tính chính đáng mang tính hiện tượng của nó ngay từ chính Dasein hay không? Liệu phép phân tích về Dasein cho đến thời điểm này có thể mang lại những chỉ dẫn nào cho nhiệm vụ bản thể luận vừa đặt ra, để những gì đang hiện diện trước mắt chúng ta có thể được duy trì trên một lộ trình mà chúng ta hoàn toàn chắc chắn?
Quan niệm hữu thể về cái chết đã được thiết lập; và cùng với đó, chúng ta cũng đã xác định được cái mà một Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đích thực cần phải hướng tới. Chúng ta cũng đã mô tả đặc điểm của Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không đích thực, và qua đó, chúng ta đã xác định—theo hướng phủ định [cấm đoán]—những gì mà Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực không được phép tồn tại. Chính dựa trên những chỉ dẫn mang tính khẳng định và cấm đoán này mà cấu trúc hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực mới có thể được phóng chiếu. Dasein được cấu thành bởi Erschlossenheit/disclosedness trạng thái ‘khai mở’—tức là sự thấu hiểu gắn liền với một Befindlichkeit tâm thế. [Chen ngang: Befindlichkeit theo nghĩa khái quát là tình thế thấy-mình-như-thế-nào [tâm thế], Heidegger dùng khái niệm này để chỉ cách thức mà Dasein hiện hữu người luôn luôn nhận thức và cảm nhận được sự hiện hữu của chính mình trong một hoàn cảnh cụ thể. I) Ý nghĩa cốt lõi của Befindlichkeit bao gồm: i) Tình trạng Geworfenheit/ thrownness bị ném vào thế giới - Befindlichkeit biểu thị thực tế là con người không tự tạo ra chính mình hay tự chọn cách sinh ra; thay vào đó, chúng ta luôn trong trạng thái ‘bị ném vào’ một thế giới, một thời đại và một hoàn cảnh đã có sẵn trước; ii) Vượt qua ranh giới chủ quan - khách quan: Befindlichkeit phá vỡ quan điểm truyền thống chia cắt thế giới thành ‘bên trong tâm trí’ và ‘bên ngoài khách quan’ - Befindlichkeit chỉ ra rằng cảm nhận của ta về thế giới xảy ra ngay từ gốc rễ - thế giới đã có ý nghĩa và tác động đến ta trước khi ta kịp suy lý; iii) Biểu hiện qua tâm trạng Stimmung/ Mood - Trạng thái Befindlichkeit bộc lộ rõ nhất qua các tâm trạng như sự lo âu, nỗi buồn, sự chán nản hay niềm vui. Đối với Heidegger, tâm trạng không phải là một thứ cảm xúc hời hợt bên trong nội tâm, mà là lăng kính bản nguyên giúp thế giới mở ra/ hoặc khép lại -trước mặt chúng ta; iv) Tính đồng bản nguyên Gleichursprünglichkeit Equiprimordiality - Trong cấu trúc hữu thể của con người, Befindlichkeit đứng ngang hàng và gắn bó chặt chẽ với hai yếu tố khác là Sự thấu hiểu Verstehen và Ngôn từ/Diễn ngôn Rede. II) Gleichursprünglichkeit/ Equiprimordiality Tính Đồng bản nguyên: 1) Trong triết học truyền thống, các nhà tư tưởng thường cố gắng tìm ra một nguyên lý tối cao duy nhất để giải thích mọi thứ khác, ví dụ: coi ý thức có trước vật chất, hoặc ngược lại. Tuy nhiên, Heidegger sử dụng thuật ngữ Gleichursprünglichkeit để chỉ ra rằng: i) Một hiện tượng triết học hoặc các cấu trúc hữu thể của Dasein hiện hữu người không cái nào sinh ra từ cái nào; thay vào đó, chúng cùng có trước như nhau, có chung một nguồn gốc cấu trúc và phụ thuộc lẫn nhau một cách không thể tách rời; ii) Heidegger cho rằng Befindlichkeit/Tâm thế và Verstehen/Thấu hiểu là hai cấu trúc đồng bản nguyên: Tôi không thể thấu hiểu điều gì mà không ở trong một tâm trạng hay tình thế nhất định, và ngược lại; chúng xuất hiện cùng nhau và tạo nên cấu trúc toàn vẹn của con người.-HHN] Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực không thể né tránh khả tính riêng biệt nhất và phi-quan-hệ của chính nó, không thể che đậy khả tính này bằng cách trốn chạy [tr.305] khỏi nó, hay đưa ra một cách giải thích mới để phù hợp với quan niệm thông thường của das Man cái ‘họ’. Do đó, trong sự phóng chiếu hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực, chúng ta phải trình bày những yếu tố cấu thành nên Hữu thể này như là một sự thấu hiểu về cái chết—và là sự thấu hiểu theo nghĩa Hữu thể hướng tới khả tính này mà không trốn tránh hay che đậy nó.
Trước hết, chúng ta phải xác định Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như là một lối Hữu thể hướng đến một khả tính—thực ra là hướng đến một khả tính đặc thù của chính Dasein. Hữu thể hướng đến một khả tính—tức là hướng tới một điều gì đó có thể xảy ra—có thể mang nghĩa là Aussein auf ‘Hữu thể tìm kiếm’ một điều gì đó khả thể, như khi ta bận tâm đến việc hiện thực hóa nó. Những khả tính như vậy thường xuyên xuất hiện trong phạm vi của những gì sẵn-có-để-dùng và hiện-diện-vô-tri—tức là những gì có thể đạt được, kiểm soát được, thực hiện được, v.v. Trong cái ‘Hữu thể tìm kiếm’ một điều gì đó khả thể, thường có xu hướng triệt tiêu cái khả tính của cái khả thể bằng cách biến nó thành thứ sẵn có cho ta. Nhưng việc hiện thực hóa đầy quan tâm đối với các thiết bị sẵn-có-để-dùng (như sản xuất, chuẩn bị, điều chỉnh lại chúng, v.v.) luôn chỉ mang tính tương đối; bởi lẽ, ngay cả khi đã được hiện thực hóa, chúng vẫn được xác định bởi các mối liên hệ chức năng—thực ra, chính điều này mới đặc trưng hóa được cái Hữu thể của chúng. Dù đã được hiện thực hóa, vật đó—với tư cách là cái hiện thực—vẫn là một cái gì đó có khả năng phục vụ cho một hành động; nó được xác định bởi một mục đích để-làm-gì. Điều mà phân tích của chúng ta cần làm rõ đơn giản là cách thức mà sự bận tâm hướng tới một điều gì đó ứng xử với cái ‘có-thể’: nó không thực hiện điều này bằng cách xem xét lý thuyết-chủ đề về cái có-thể với tư cách có thể, hay chú trọng vào khả tính của nó theo đúng nghĩa, mà thay vào đó, nó hướng cái nhìn bao quát ra khỏi chính cái có thể đó để nhìn vào cái mà nhờ đó nó trở thành das Wofür-möglich cái khả thể-vì-mục-đích-của-cái-mà. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, cụm từ tiếng Đức das Wofür-möglich là cái khả thể-vì-mục-đích-của-cái-mà. Đây là sự kết hợp giữa hai khái niệm cốt lõi của Heidegger: 1). Das Wofür / Das Worum-willen - ‘Cái-vì--mục-đích-của-cái-mà’. Khái niệm này chỉ mục đích, đích đến hoặc vai trò tối hậu định hướng hành động của con người. Ví dụ, một người thợ mộc hành động vì chính vai trò là người thợ mộc của mình. 2). Möglich – ‘có thể’ hoặc ‘khả năng’, đối với Heidegger, khả năng không chỉ là một lựa chọn trừu tượng, mà là một tiềm năng hiện thực và thiết thực để con người có thể chọn lựa phóng chiếu bản thân vào đó. Do đó, ‘Wofür-möglich’ mô tả một khả tính như là mục đích tối hậu hoặc đích đến hữu thể mà Dasein hướng tới và phóng chiếu bản thân vào đó - một cách thức Hữu thể, mang lại ý nghĩa và định hướng cho những gì tôi đang thực hiện ở hiện tại.-HHN]
Rõ ràng là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết – điều đang được xem xét ở đây – không thể mang tính chất của một Aussein auf ‘Hữu thể tìm kiếm’ bận tâm nhằm hiện thực hóa chính nó. Trước hết, cái chết với tư cách là một khả tính không phải là một khả tính thuộc dạng sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri, mà là một khả tính thuộc về Hữu thể của Dasein. Do đó, việc bận tâm hiện thực hóa cái mang tính khả thể này sẽ đồng nghĩa với việc ‘gây ra cái chết cho chính mình’. Nhưng nếu điều đó được thực hiện, thì Dasein sẽ tự tước bỏ nền tảng cho chính một loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đang hiện hữu. Như vậy, nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không nhắm đến việc ‘hiện thực hóa’ cái chết, thì cũng không thể có nghĩa là chúng ta “chăm chăm nghĩ về cái chung cục trong khả tính của nó”. Đó là cách người ta cư xử khi ‘nghĩ về cái chết’, khi suy ngẫm xem liệu cái khả tính này có thể trở thành hiện thực vào lúc nào và bằng cách nào. Tất nhiên, việc suy tư dai dẳng về cái chết như vậy không hoàn toàn tước bỏ các đặc trưng như một khả tính của nó. Quả thực, người ta luôn suy tư về nó như một điều gì đó sắp xảy ra; nhưng trong sự suy tư đó, ta lại làm suy yếu nó bằng cách tính toán [tr.306] xem làm thế nào để nắm bắt hay kiểm soát được nó. Với tư cách là một cái gì đó khả thể, nó tỏ ra là càng ít khai mở khả tính của mình càng tốt. Mặt khác, nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết phải khai mở cái khả tính mà ta đã mô tả về phương diện thấu hiểu, và nếu nó phải khai mở nó như là một khả tính, thì trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đó, cái khả tính này lại không được làm suy yếu: nó phải được thấu hiểu như một khả tính, nó phải được nuôi dưỡng như một khả tính, và ta phải chấp nhận nó như một khả tính trong cách ta cư xử với nó. Tuy nhiên, Dasein cư xử với một điều gì đó khả thể – ngay trong cái khả tính của nó – bằng cách mong đợi nó. Bất cứ ai chú tâm vào một điều gì đó khả thể đều có thể bắt gặp nó mà không bị cản trở hay suy giảm về cái thực tế là ‘liệu nó có xảy ra hay không, hoặc cho đến rốt cuộc liệu nó có xảy ra hay không’.7 Tuy nhiên, với hiện tượng mong đợi này, chẳng phải phép phân tích của chúng ta đã chạm đến cùng một loại Hữu thể hướng đến cái khả thể mà ta từng lưu ý khi mô tả cái Aussein auf ‘Hữu thể tìm kiếm một điều gì đó’ theo cách thức đầy quan tâm hay sao? Vorlaufen tiên liệu một điều gì đó khả thể luôn là thấu hiểu nó và ‘có được’ nó xét về việc liệu nó có thực sự hiện-diện-vô-tri hay không, cũng như khi nào và bằng cách nào nó sẽ hiện diện như vậy.
Vorlaufen tiên liệu không chỉ đơn thuần là sự rời mắt khỏi cái khả thể để hướng về sự hiện thực hóa khả thể của nó, nhưng về bản chất, đó là sự chờ đợi sự hiện thực hóa ấy. Ngay cả trong lúc Vorlaufen tiên liệu, người ta cũng ‘nhảy’ khỏi cái khả thể để đặt chân vào cái hiện thực. Điều được ‘tiên liệu’ chính là được ‘tiên liệu’ vì tính hiện thực của nó. Theo chính bản chất của sự ‘tiên liệu’, cái khả thể bị kéo vào cái hiện thực, nảy sinh từ cái hiện thực và quay trở lại với nó.8 Thế nhưng, Hữu thể hướng đến khả tính này — tức là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết — lại đòi hỏi ta phải cư xử với cái chết sao cho, trong chính Hữu thể này và vì nó, cái chết tự bộc lộ như một khả tính. Thuật ngữ của chúng ta cho loại Hữu-thể-hướng-đến-khả-tính này là Vorlaufen ‘tiên liệu’ cái khả tính ấy.9 Tuy nhiên, trong cách hành xử này, chẳng phải có sự tiến lại gần cái khả thể hay sao? Và khi ta ở gần cái khả thể, chẳng phải sự hiện thực hóa của nó sẽ xuất hiện hay sao? Dẫu vậy, với loại tiến lại gần này, người ta không hướng tới việc rất mực quan tâm tạo ra thứ hiện thực có sẵn; thay vào đó, khi ta tiến lại gần hơn bằng sự thấu hiểu, thì cái khả tính của cái khả thể ấy lại trở nên ‘lớn lao’ hơn.
Trạng thái gần gũi nhất mà ta có thể đạt được trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như một khả tính, lại là trạng thái xa cách nhất so với bất kỳ điều gì [tr.307] hiện thực. Cái khả tính này càng được thấu hiểu một cách tường minh, thì sự thấu hiểu càng thâm nhập thuần khiết vào nó như là cái khả tính về cái bất khả tính của bất kỳ sự tồn tại nào. Cái chết, với tư cách là một khả tính, không mang lại cho Dasein bất cứ điều gì để được ‘hiện thực hóa’, cũng không mang lại bất cứ điều gì mà Dasein — với tư cách hiện thực — có thể tự mình trở thành. Đó là cái khả tính của cái bất khả tính của mọi cách thức tự ứng xử đối với bất cứ điều gì, của mọi cách thức tồn tại. Khi ta Vorlaufen ‘tiên liệu’ cái khả tính ấy, nó trở nên ‘ngày càng lớn lao hơn’; nghĩa là, khả tính ấy tự bộc lộ như một điều không có bất kỳ thước đo nào—không có chuyện nhiều hay ít—mà biểu thị cái khả tính về cái bất khả tính vô biên của tồn tại. Theo bản chất của mình, cái khả tính này không cung cấp điểm tựa nào để ta dồn tâm trí vào một điều gì đó, hay để ta 'hình dung' về cái hiện thực tính vốn là khả thể, và do đó quên đi chính cái khả tính của nó. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, với tư cách là Vorlaufen tiên liệu về khả tính, lại chính là điều đầu tiên làm cho cái khả tính này trở nên khả thể, đồng thời giải phóng nó với tư cách khả tính. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết là Vorlaufen việc tiên liệu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể của cái thực thể mà loại Hữu thể của nó chính là Vorlaufen tiên liệu.10 Trong sự bộc lộ mang tính tiên liệu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể này, Dasein tự khai mở với chính mình về cái khả tính tột cùng của mình. Tuy nhiên, việc phóng chiếu bản thân vào cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính mình đồng nghĩa với việc có thể thấu hiểu bản thân trong cái Hữu thể của hiện hữu được bộc lộ như vậy—tức là, tồn tại. Vorlaufen việc tiên liệu hóa ra lại chính là cái khả tính thấu hiểu tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất và tột cùng của chính mình—nghĩa là, cái khả tính của tồn tại đích thực. Cấu thành bản thể luận của việc tồn tại như vậy cần được làm sáng tỏ bằng cách trình bày cấu trúc cụ thể của việc tiên liệu về cái chết.
Làm thế nào để chúng ta xác định cấu trúc này về phương diện hiện tượng? Rõ ràng, ta phải thực hiện điều đó bằng cách xác định những đặc tính cần thiết của một sự khai mở mang tính tiên liệu, để nó có thể trở thành sự thấu hiểu thuần túy về khả tính riêng biệt nhất đó—một khả tính không mang tính tương quan, không thể bị vượt qua, vốn chắc chắn nhưng lại bất định về thời điểm. Cần lưu ý rằng thấu hiểu không chủ yếu có nghĩa là chỉ nhìn ngắm một ý nghĩa, mà đúng hơn là thấu hiểu bản thân trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể vẫn tự bộc lộ qua phóng chiếu.xvii Cái chết là khả tính riêng biệt nhất của Dasein. Hữu thể hướng đến khả tính này khai mở cho Dasein thấy tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính nó, nơi mà chính Hữu thể của nó là điều cốt yếu. Ở đây, Dasein có thể nhận thấy rõ ràng rằng trong cái khả tính đặc thù này của chính bản thân mình, nó đã tách mình ra khỏi das Man cái ‘họ’. Thế có nghĩa là trong tiên liệu, bất kỳ Dasein nào cũng có thể tách mình ra khỏi cái ‘họ’ trước. Tuy nhiên, đây là điều mà Dasein ‘có thể’ đã thực hiện, và điều đó chỉ bộc lộ tình trạng lạc lối thực tế của nó trong tính thường nhật của bản-ngã-cái-họ.
[Tr.308] Cái khả tính riêng biệt nhất luôn mang tính phi-tương-quan. Vorlaufen việc tiên liệu cho phép Dasein thấu hiểu rằng tiềm-năng-cho-hiện-hữu—nơi mà Hữu thể riêng biệt nhất của chính nó là điều cốt yếu—phải được đảm nhận bởi riêng Dasein mà thôi. Cái chết không chỉ ‘thuộc về’ Dasein của một ai đó theo một cách thức chung chung, không phân biệt; cái chết đòi hỏi nó với tư cách là một Dasein cá thể. Tính chất phi-quan-hệ của cái chết, khi được thấu hiểu trong tiên liệu, luôn cá nhân hóa Dasein về lại với chính nó. Động thái cá nhân hóa này là một cách thức mà qua đó cái ‘có đó’ được khai mở cho tồn tại. Nó làm hiển hiện thứ mà mọi Hữu-thể-bên-cạnh các sự vật mà ta quan tâm, và mọi Hữu-thể-với Kẻ Khác, đều sẽ không còn giá trị khi vấn đề cốt yếu là tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính ta. Dasein chỉ có thể thực sự là chính mình nếu nó tự mình làm cho điều đó trở nên khả thể. Tuy nhiên, việc quan tâm và thái độ ân cần không còn giá trị thì điều đó lại không hề có nghĩa là các cách thức này của Dasein bị cắt đứt khỏi cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-chính-nó một cách đích thực. Với tư cách là những cấu trúc thiết yếu đối với sự cấu thành của Dasein, các cấu trúc này góp phần quy định cái khả tính của bất kỳ sự tồn tại nào. Dasein chỉ thực sự là chính mình khi—với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh rất mực quan tâm và Hữu-thể-với đầy ân cần—nó phóng chiếu chính mình vào tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của mình thay vì vào cái khả tính của Tự-ngã-cái-họ. Hiện hữu nào tiên liệu cái khả tính phi-quan-hệ của chính mình thì, chính nhờ sự tiên liệu đó, bị buộc phải bước vào cái khả tính tự mình tiếp nhận cái Hữu thể riêng biệt nhất của mình, và thực hiện điều đó bằng chính ý chí của mình.
Cái khả tính phi-quan-hệ, riêng biệt nhất này là điều không thể vượt qua hay né tránh được. Hữu thể hướng về khả tính này cho phép Dasein thấu hiểu rằng sự từ bỏ chính mình đang chờ đợi nó như là khả tính tột cùng tồn tại của nó. Tuy nhiên, Vorlaufen việc tiên liệu—khác với lối Hữu-thể-hướng-đên-cái-chết không đích thực—không né tránh sự thật là cái chết là điều không thể vượt qua; thay vào đó, việc tiên liệu giải phóng chính nó để chấp nhận điều này. Khi, nhờ tiên liệu, để được tự do đối với cái chết của chính mình, kẻ đó thoát khỏi tình trạng lạc lối trong những khả tính có thể tình cờ ập đến với mình; và sự giải phóng này diễn ra theo cách mà lần đầu tiên, người đó có thể thấu hiểu và lựa chọn một cách đích thực giữa các khả tính hiện thực nằm phía trước cái khả tính không thể vượt qua kia.11
Vorlaufen việc tiên liệu khai mở cho sự hiện hữu cái mà khả tính tột cùng của nó nằm ở việc từ bỏ chính mình, và do đó, nó phá vỡ mọi sự bám víu ngoan cố vào bất kỳ tồn tại nào mà ta đã đạt tới. Trong tiên liệu, Dasein tự bảo vệ mình khỏi việc tụt lại phía sau chính mình, hoặc tụt lại phía sau tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà nó đã thấu hiểu. Nó tự bảo vệ mình khỏi việc ‘trở nên quá già cỗi cho những chiến thắng của chính mình’ (Nietzsche). Được tự do hướng tới những khả tính cốt yếu nhất của bản thân—những khả tính được quy định bởi cái chung cục và do đó được hiểu là có giới hạn—Dasein xua tan cái nguy cơ là do sự hiểu biết có giới hạn về tồn tại, nó có thể không nhận ra mình đang bị vượt qua bởi các khả tính tồn tại của những Kẻ Khác, hoặc đúng hơn là nó có thể diễn giải sai lệch các khả tính này và [tr.309] quy chúng về lại với chính mình, để rồi từ đó chối bỏ tồn tại thực tính cốt yếu nhất của bản thân. Với tư cách là khả tính phi-quan-hệ, cái chết cá nhân hóa—nhưng theo cách thức mà, với tư cách là khả tính không thể bị vượt qua, nó khiến Dasein—với tư cách là Hữu-thể-với—có được sự thấu hiểu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của những Kẻ Khác. Vì việc tiên liệu về cái khả tính vốn không được vượt qua này cũng đồng thời khai mở mọi khả tính nằm phía sau cái khả tín đó, nên sự tiên liệu này bao hàm cả cái khả tính nắm bắt toàn bộ Dasein từ trước theo một phương thức thực hữu cụ thể; nghĩa là, nó bao hàm cái khả tính của tồn tại với tư cách là một chỉnh thê tiềm-năng-cho-Hữu-thể. Cái khả tính riêng biệt, phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua này là điều chắc chắn. Cách thức để xác tín về nó được quy định bởi chân lý tương ứng với nó (tính khai mở). Tuy nhiên, khả tính chắc chắn về cái chết lại khai mở Dasein như một khả tính, nhưng chỉ khi tiên liệu khả tính này, Dasein mới làm cho khả tính ấy trở nên khả thể cho chính mình như là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của bản thân nó.12
________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘…man stirbt aucb einmal, aber vorlaufig noch nicht.’ [p.299]
2 'Eines Seienden gewiss-sein besagt : es als wahres ftir wahr Halten.' Các phiên bản trước có 'Gewisssein' thay vì 'gewiss-sein'. Bản dịch theo nghĩa đen nhưng khá đơn điệu của chúng tôi đối với cụm từ 'ftir wahr Halten' có vẻ đáng mong đợi khi xét đến việc Heidegger sử dụng rộng rãi động từ 'halten' ('giữ') trong các đoạn tiếp theo nơi cụm từ này xuất hiện, mặc dù điều này bị che khuất bởi cách dịch 'halten sich in...' của chúng tôi là 'duy trì chính nó trong...' và 'halten sich an…như bám vào…hoặc hút vào…'[p.300]
3 ‘In ihr lässt sich das Dasein einzig durch das Zeugnis der entdeckten (wahre) Sache selbst sein verstehendes Sein zu dieer bestimmen.’ Mối liên hệ giữa ‘Überzeugung’ (‘sự kết án’) và ‘Zeugnis’ (lời chứng) bị che khuất trong bản dịch của chúng tôi. [tr.300]
4 ‘Man sagt: es ist gewiss, dass ‘der’ Tod kommt.’ [tr.301]
5 ‘…dem aile anderen vorgelagert sind. …Mệnh đề này không rõ ràng, cả trong tiếng Đức lẫn bản dịch của chúng tôi, mặc dù ý nghĩa khá rõ ràng. Cái 'chưa' cuối cùng không phải là cái mà tất cả những người khác 'đi trước' theo nghĩa là họ nằm ngoài nó hoặc theo sau nó; vì không có gì có thể 'đi trước nó' theo nghĩa này. Nhưng chúng có thể “đi trước nó” theo nghĩa là chúng có thể được hiện thực hóa trước khi cái “chưa” cuối cùng được hiện thực hóa. (Đối chiếu đoạn văn này với H. 302, trong đó phân từ tương tự 'vorgelagert' rõ ràng được áp dụng theo nghĩa trước cho chính cái chết.) [tr.303]
6 ‘Weil das Dasein Exiert, bestimmt es sich als Seiendes, wie es ist, je aus einer Möglichkeit, die es selbst ist und versteht.’ [p.304]
7 'Fur ein Gespanntsein auf es vermag ein Mögliches in seinem "ob oder nicht oder schliesslich doch" ungehindert und ungeschmalert zu begegnen.' [tr.306]
8 'Auch im Erwarten liegt ein Abspringen vom Moglichen und Fussfassen im Wirklichen, dafiir das Erwartete erwartet ist. Vom Wirklichen aus und auf es zu wird das Mögliche in das Wirkliche erwartungsmassig hereingezogen.' [tr.306]
9 ‘…Vorlaufen in die Möglichkeit.’ Trong khi chúng tôi sử dụng 'precipate' để dịch 'vorgreifen', điều này hiếm khi xảy ra, chúng tôi cũng sẽ sử dụng nó - ít theo nghĩa đen hơn - để dịch 'vorlaufen', xuất hiện rất thường xuyên trong các trang tiếp theo, và có ý nghĩa đặc biệt là 'chạy về phía trước'. Nhưng như nhận xét của Heidegger đã chỉ ra, loại ‘dự đoán’ liên quan đến Hữu thể hướng tới cái chết, không bao gồm việc ‘chờ đợi’ cái chết hay ‘sống trong nó’ hay hiện thực hóa’ nó trước khi nó thường đến; cũng như việc 'chạy thẳng vào nó' theo nghĩa này cũng không có nghĩa là chúng ta 'lao đầu vào đó'. [tr.306]
10 ‘… dessen Seinsart das Vorlaufen selbst ist.' Các phiên bản trước có 'hat' thay vì 'ist'. [tr.307]
11 ‘…die der unüberholbaren vorgelagert sind.' Xem chú thích 1, tr. gog, H. 259 ở trên. [tr.308]
12 ‘Die gewisse Möglichkeit des Todes erschliesst das Dasein aber
als Möglichkeit nur so, dass es vorlaufend zu ihr diese Möglichkeit als eigenstes Seinkönnen für sich ermöglicht.’ Trong khi chúng tôi lấy 'Die gewisse Möglichkeit des Todes' làm chủ ngữ của câu khó hiểu này, thì 'das Dasein' có thể là chủ ngữ thay thế. Việc sử dụng giới từ 'zu' thay vì 'in' thông thường sau 'vorlaufend' gợi ý rằng khi đoán trước khả năng xảy ra cái chết, Dasein ở đây được coi là 'chạy trước' về phía nó hoặc hướng tới nó hơn là vào trong nó. Khi cấu trúc này xuất hiện trong những đoạn văn sau, chúng ta sẽ biểu thị nó bằng cách nối phụ ‘zu’ trong ngoặc. [tr.309]
