Powered By Blogger

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (VIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz

§3. Ý niệm Chân lý và các Nguyên tắc của Tri thức

[Tr.52] Bản chất của chân lý nằm ở đồng nhất tính giữa chủ ngữ và vị ngữ. Theo đó, tri thức về chân lý chính là sự nắm bắt các đồng nhất tính. Có những dấu hiệu và tiêu chí khác nhau cho chân lý của nhận thức, tùy thuộc vào việc các đồng nhất tính đó là hiển nhiên hay phải được chứng minh trước, và được chứng minh theo cả hai nghĩa là chân lý tất yếu và chân lý ngẫu nhiên. Quan niệm thông thường về các nguyên tắc tri thức trong triết học của Leibniz dựa trên ý tưởng cho rằng cần bổ sung một sự phân biệt song song giữa hai nguyên tắc cơ bản vào sự phân biệt giữa chân lý suy lý và chân lý sự kiện. Chân lý suy lý tuân theo luật bất mâu thuẫn, và chân lý sự kiện tuân theo nguyên tắc lý do đầy đủ (Xem Monadologie, n. 31ff.). Những người theo trường phái Leibniz như Wolff và Baumgarten (Metaphysica, phần 19ff.) thậm chí còn đi xa hơn khi chứng minh cả nguyên tắc thứ hai từ nguyên tắc ban đầu và cuối cùng đặt tất cả tri thức dưới nguyên tắc bất mâu thuẫn. Được coi là biểu hiện phủ định của nguyên tắc đồng nhất tính, vậy là nguyên tắc bất mâu thuẫn trở thành nguyên tắc cơ bản của mọi nhận thức, của mọi chân lý như là các đồng nhất tính. Có một số lý do chính đáng cho xu hướng diễn giải này, một xu hướng dù sao cũng đi ngược lại với Leibniz và đặc biệt là với chính các vấn đề, như sau đây lập tức sẽ trở nên rõ ràng. Chúng ta sẽ bắt đầu với lớp chân lý đầu tiên. Các đồng nhất tính rõ ràng, các chân lý cơ bản, mang đặc tính đồng nhất của chúng để mọi người đều thấy. Cái chỉ ra chân lý của chúng chính là bản thân đồng nhất tính hiển nhiên này (A là A). Nếu chúng ta biến tiêu chí cho chân lý của các chân lý cơ bản này thành một nguyên tắc, thì chính nguyên tắc đó sẽ là: A là A, nguyên tắc đồng nhất. Nguyên tắc của tri thức về các chân lý cơ bản không gì khác hơn là nguyên tắc cơ bản nhất. Đó là thiết yếu.

[Tr.53] Tiêu chí, đồng nhất tính, tự nó là chân lý đầu tiên và là nguồn gốc của chân lý. Theo đó, chúng ta nên lưu ý rằng nguyên tắc này không nằm ngoài những phát ngôn nhận thức mà nó là nguyên tắc hướng dẫn. Thay vào đó, chính nó thuộc về các phát ngôn như là phát ngôn đầu tiên của chúng. Những chân lý này là những chân lý quarum ratio reddi non potest vốn không thể đưa ra lý do nào (xem đoạn trích trong De Libertate đã dẫn ở trên, tr. 41). Điều này không có nghĩa là chúng vô căn cứ, mà ngược lại, bản thân chúng đã có căn cứ, do đó chúng không cần đến sự chứng minh hay suy luận. Chúng chính xác là veritates originariae những chân lý nguồn cội. Những chân lý thông thường, tất yếu và ngẫu nhiên, cần có căn cứ. Chúng thuộc về principium rationis nguyên tắc suy lý, hay nói đúng hơn là principium reddendae rationis nguyên tắc chứng minh căn cứ, tức là nguyên tắc resolutio giải quyết (nguyên tắc về sự cần thiết của bằng chứng). Do đó, không chỉ có loại chân lý phái sinh, chân lý ngẫu nhiên, thuộc về nguyên tắc suy lý, mà mỗi chân lý phái sinh về bản chất đều thuộc về nguyên tắc suy lý này. Tuy nhiên, veritates necessariae những chân lý tất yếu  được quy về một nguyên tắc đặc biệt: principium contradictionis nguyên tắc mâu thuẫn. Loại chân lý thứ hai bao gồm các chân lý tất yếu, có thể quy giản trực tiếp về các đồng nhất tính. Absolute necessaria propositio est quae resolvi potest in identicas, seu cujus oppositum implicat contradictionem… Quod vera implicat contradictionem, seu cujus oppositum est necessarium, id impossible appellatur (C. 17) [Một mệnh đề tất yếu tuyệt đối là mệnh đề có thể quy giản thành các đồng nhất tính hoặc mệnh đề mà mệnh đề đối lập của nó hàm chứa một mâu thuẫn…Bởi vì bất cứ điều gì hàm chứa một mâu thuẫn, hoặc có một mệnh đề đối lập là tất yếu, đều được gọi là bất khả tính].

Tiêu chí của các chân lý tất yếu, phù hợp với bản chất của chúng, là khả tính quy giản thành các đồng nhất tính. Tuy nhiên, khả tính quy giản thành các đồng nhất tính lại biểu thị sự phù hợp với các đồng nhất tính. Những gì không phù hợp mà trái ngược với các đồng nhất tính thì  contra-diets là những món ‘kiêng kỵ đối lập’ với các đồng nhất tính và chứa đựng một mâu thuẫn. Khả tính quy giản thành các đồng nhất tính biểu thị tính không mâu thuẫn. Bất cứ điều gì chứa đựng một mâu thuẫn là điều hoàn toàn không thể tồn tại, vì esse là/tồn tại biểu thị inesse ở trong/thuộc về và điều này biểu thị idem esse tương đồng/giống hệt. Về cơ bản, điều không thể tồn tại là bất khả. Tuy nhiên, chừng nào các chân lý tất yếu này tuân theo nguyên tắc không mâu thuẫn như là nguyên tắc về khả tính quy giản của chúng, tức là khả tính chứng minh của chúng, thì principium reddendae rationis nguyên tắc lý do đầy đủ cũng áp dụng cho chúng. Thực tế, người ta có thể và phải nói ngược lại rằng nguyên tắc lý do đầy đủ còn quan trọng hơn cả nguyên tắc bất mâu thuẫn. 

Để chắc chắn, Leibniz còn nói: [tr.54] Absolute autem et in se ilIa demum propositio est vera, quae vel est identica, vel ad identicas potest reduci, hoc est quae potest demonstrari a priori seu cujus praedicati cum subjecto connexio explicari potest, ita ut semper appareat ratio. Et quidem nihil omnino fit sine aliqua ratione, seu nulla est propositio praeter identicas in qua connexio inter praedicatum et subjectum non possit distincte explicari, nam in identicis praedicatum et subjectum coincidunt aut in idem redeunt. Et hoc est inter prima principia omnis ratiocinationis humanae, et post principium contradictionis maximum habet usum in omnibus scientiis. (C. 513 f.) “Nhưng mệnh đề nào tuyệt đối và tự thân là chân thì mệnh đề đó hoặc là một đồng nhất tính hoặc có thể quy giản thành một đồng nhất tính, tức là mệnh đề đó có thể được chứng minh tiên nghiệm hoặc mối liên hệ giữa vị ngữ và chủ ngữ có thể được làm rõ ràng sao cho nguyên do của nó luôn luôn xuất hiện. Và thực sự không gì có thể xảy ra mà không có lý do nào đó, hoặc, ngoại trừ các đồng nhất tính, không có mệnh đề nào mà mối liên hệ giữa vị ngữ và chủ ngữ không thể được làm rõ ràng, vì trong các đồng nhất tính, các khuôn khổ vị ngữ và chủ ngữ trùng nhau hoặc có thể được quy giản thành cùng một khuôn khổ. Đây là một trong những nguyên tắc đầu tiên trong quá trình suy lý của con người và sau nguyên tắc bất mâu thuẫn, nó có ứng dụng lớn nhất trong tất cả các ngành khoa học.”

Ở đây, vị trí bản thể luận của principium rationis nguyên tắc suy lý vẫn chưa được làm rõ, chỉ có ‘công dụng’ của nguyên tắc này được thảo luận. Nhưng nguyên tắc suy lý là nguyên tắc khai mở đồng nhất tính vốn cần được bộc lộ. Mặt khác, vì nguyên tắc bất mâu thuẫn về bản chất là nguyên tắc đồng nhất, nên nó không thể bị giới hạn trong một lớp các đồng nhất tính, mà phải liên hệ với mọi đồng nhất tính, và do đó cũng liên hệ với các chân lý ngẫu nhiên. Trong việc chứng minh các chân lý ngẫu nhiên, chúng ta không thực sự sử dụng nguyên tắc này vì không thể thực hiện phép quy giản về các đồng nhất tính. Do đó, có hai điều xảy ra: 1) Mối quan hệ giữa cả hai nguyên tắc này, hoặc giữa ba nguyên tắc, không rõ ràng một cách trực tiếp, ngay cả trong chính Leibniz. 2) Ngay cả khi Leibniz thường xuyên liên hệ rõ ràng cả hai nguyên tắc với hai lớp chân lý tất yếu và ngẫu nhiên, ông vẫn nói, trong những đoạn quan trọng của ba tác phẩm chính, rằng cả hai nguyên tắc đều là chân trong cả hai lớp, nghĩa là, là chân với tất cả các chân lý phái sinh.

(Lưu ý: Đầu tiên, hãy so sánh trong phần phụ lục của Theodizee (1710), trong phần giải quyết những tranh cãi về cuốn sách của King, phần 14, “Về Nguồn gốc của Cái ác”: Absolute necessaria propositio est quae resolvi potest in identicas, seu cujus oppositum implicat contradictionem…. Quod vero implicat [p.55] contradictionem, seu cujus oppositum est necessarium, id impossible appellatur. (cf. C. VI, 4 14) “Nguyên tắc này và nguyên tắc kia có giá trị không chỉ trong lĩnh vực các chân lý tất yếu mà còn trong lĩnh vực các chân lý ngẫu nhiên…. Vì theo một nghĩa nào đó, người ta có thể nói rằng những nguyên tắc này được bao hàm trong định nghĩa chân và giả.” Trong luận thuyết về Primae veritates Các chân lý đầu tiên, Leibniz nói, sau khi ông chỉ rõ đồng nhất tính là bản chất của chân lý: Ex his propter nimiam facilitatem suam non satis consideratis multa consequuntur magni momenti. Statim enim hinc nascitur moma receptum: nihil esse sine ratione, seu: nullum effectum esse absque causa. Alioqui veritas daretur, quae non posset, probari a priori, seu quae non resolveretur in identicas, quod est contra naturam veritatis, quae semper vel expresse vel implicite identica est. (C. 519)  “Những vấn đề này chưa được xem xét thỏa đáng, bởi vì chúng quá dễ dàng, nhưng từ đó kéo theo nhiều điều có tầm quan trọng lớn lao. Ngay lập tức chúng làm phát sinh tiên đề đã được chấp nhận: không có gì mà không có lý do, hoặc không có kết quả nào không có nguyên nhân. Nếu không thì sẽ có chân lý không thể được chứng minh tiên nghiệm hoặc không thể phân giải thành các đồng nhất tính - trái ngược với bản chất của chân lý, vốn luôn rõ ràng hoặc ngầm định giống hệt.” [L. 268]

Điều đó có nghĩa là: nhiều điều quan trọng khác sẽ được suy ra từ những gì đã được giải thích về đồng nhất tính và chân lý, vốn do tính hiển nhiên của nó nên chưa được nghiên cứu đầy đủ. Từ định nghĩa về chân lý, suy ra nguyên tắc lý do đầy đủ. Nếu nguyên tắc cơ sở không phải là nguyên tắc ban đầu của chân lý đó, thì sẽ không có bằng chứng tiên nghiệm, không có sự quy giản thành đồng nhất tính, điều này trái ngược với bản chất của chân lý. Cuối cùng, trong Monadologie Đơn tử luận (1714), ở phần 36, ông nói: “Tuy nhiên, lý do đầy đủ cũng phải là lý do có thể tìm thấy trong các chân lý ngẫu nhiên hoặc chân lý sự kiện, nghĩa là, trong sự liên kết tương hỗ của tất cả mọi vật được tạo ra.” Ở đây Leibniz đề cập đến phần 33, nơi ông gợi ý rằng với các chân lý tất yếu, người ta có thể ‘tìm thấy cơ sở thông qua phân tích’ và thông qua đó đi đến các đồng nhất tính (xem G. VI, 612). Bản tóm tắt các nguyên tắc tri thức này cho thấy mối liên hệ của chúng với đồng nhất tính như là bản chất của chân lý. Tuy nhiên, đồng nhất tính là đặc điểm hiện hữu cơ bản của tất cả mọi hiện hữu. Trong số các nguyên tắc thì nguyên tắc lý tính giữ vị trí hàng đầu, mặc dù không rõ ràng. Một mối liên hệ xuất hiện giữa lý tính, hay nền tảng, chân lý và hiện hữu, liên quan đến đồng nhất tính. Tuy nhiên, ý nghĩa cơ bản của nguyên tắc lý tính chỉ trở nên rõ ràng khi người ta nhận ra rằng các nguyên tắc chính của siêu hình học Leibniz dựa trên nó [tr.56] và Leibniz thậm chí còn suy ra các nguyên tắc siêu hình của mình từ đó (xem Primae veritates). Vì vậy nảy sinh mối hồ nghi sâu rộng trong cái principium rationis nguyên tắc lý tính này: các nguyên tắc hài hòa, tính nhất quán, tính phù hợp hay melius cái tốt hơn, tồn tại, đồng nhất tính của những thứ bất khả phân biệt, tất cả đều được kết nối hoặc đồng nhất với principium rationis nguyên tắc lý tính.

Nhìn chung, rõ ràng là xu hướng đồng hóa cả hai hình thức cơ bản của chân lý veritas rationis chân lý lý tính và ventas facti chân lý sự kiện, do đó, mối liên hệ giữa hai nguyên tắc cơ bản này, mặc dù vẫn chưa rõ ràng, nhưng đều bắt nguồn từ scientia Dei Tri thức Thiên Chúa, ý niệm về tri thức tuyệt đối. Câu hỏi đặt ra là liệu Leibniz định nghĩa ý niệm về tri thức nói chung như thế nào, trong đó ông xem bản chất của nhận thức theo đúng nghĩa. Vì chân lý là đặc tính thiết yếu của tri thức - giả tri thức không phải là tri thức - nên bản chất của chân lý, cho đến nay vẫn được định nghĩa là đồng nhất tính, phải trở nên rõ ràng hơn khi ý niệm về tri thức được làm sáng tỏ. Nhưng để trở nên chân thì đồng nghĩa với việc được bao hàm và đồng nhất. Do đó, bằng cách làm sáng tỏ ý niệm về tri thức, chúng ta sẽ có thể hiểu sâu sắc hơn về các mối liên hệ cơ bản mà chúng ta đang xem xét. Câu hỏi đặt ra là: Theo cấu trúc thiết yếu của chúng, những điều sau đây liên kết với nhau như thế nào: phán đoán, chân lý, đồng nhất tính, tri thức, hiện hữu và các nguyên tắc cơ bản của tri thức? (Lưu ý: Điều đáng chú ý là chúng ta liên tục vận động trong cùng một chiều không gian của các hiện tượng cơ bản với những khuôn khổ như vậy, mà vẫn chưa thể nhận ra một trật tự phụ thuộc lẫn nhau rõ ràng. Thực sự thì có lẽ không có trật tự nào mà cái này có thể được suy luận ‘tuyến tính’ từ cái kia. Và trên thực tế, không có hiện tượng cơ bản nào nguyên thủy hơn hiện tượng khác. Chúng đều nguyên thủy như nhau. Nhưng chính vì lý do đó mà có một vấn đề liên quan trung tâm: 1) cấu tạo bên trong của tính nguyên thủy như nhau này, và 2) cơ sở tính khả thể. Câu hỏi liên quan đến bản chất của tính toàn vẹn (không thể phân rã) của chiều không gian nguyên thủy như nhau này của cái siêu nghiệm.

Tóm tắt

Chúng ta đang tìm kiếm một logic triết học và từ đó là một lời giới thiệu về thực hành triết học. Chúng ta đang cố gắng nắm bắt nền tảng của logic, theo truyền thống vốn chỉ được giải thích một cách hời hợt, kỹ thuật. Chúng ta đang cố gắng hiểu những cơ sở cơ bản của những gì logic thường đề cập đến. Những cơ sở và nền tảng này chỉ đạt được thông qua siêu hình học; do đó tiêu đề của chúng tôi là: ‘Nền tảng Siêu hình của Logic’. Trong phần giới thiệu, chúng tôi đã chỉ ra cách thức mà các hiện tượng chính [tr.57] được thảo luận trong logic đều quy về siêu hình học. Chân lý quy về siêu việt, nền tảng quy về tự do, khái niệm quy về lược đồ, copula kết nối quy về hiện hữu. Bởi vì mối liên hệ này rất quan trọng, nó đã phải được khẳng định lại nhiều lần trong triết học trước đây, mặc dù có một xu hướng, mà ngày nay càng nổi lên hơn bao giờ hết, là cô lập logic và đặt nền tảng của logic lên chính bản thân nó.

Ngược lại, nếu muốn đặt nền tảng siêu hình học cho logic, chúng ta cần phải giao tiếp với lịch sử triết học, bởi vì chính siêu hình học cần phải được đặt nền tảng lại. Bởi vì chúng ta không sở hữu một siêu hình học hoàn chỉnh để có thể xây dựng logic trên đó, nhưng việc phá bỏ logic tự nó là một phần của việc đặt nền tảng cho siêu hình học. Nhưng đây không gì khác hơn là một cuộc đối đầu về các nguyên tắc với toàn bộ truyền thống trước đó. Vì vậy, trước tiên chúng ta tìm cách tiến lên trên các con đường lịch sử vào chiều kích của nền tảng siêu hình học của logic. Chúng ta không chọn một định hướng võ đoán nào, mà vì những lý do đã nêu, định hướng cho mình từ chính Leibniz. Phần chính này do đó có tiêu đề: ‘Tháo dỡ học thuyết phán đoán của Leibniz xuống đến những vấn đề siêu hình cơ bản’. Nhiệm vụ được chia thành bảy đề mục, ba trong số đó đã được đề cập: 1) đặc điểm của cấu trúc tổng quát của phán đoán - lý thuyết bao hàm, 2) ý niệm về chân lý, lý thuyết đồng nhất tính và các hình thức cơ bản của chân lý veritas rationis chân lý lý tínhveritas facti chân lý sự kiến, 3) ý niệm về chân lý và các nguyên tắc nhận thức principium contradictionis nguyên tắc mâu thuẫnprincipium rationis sufficientis nguyên tắc lý do đầy đủ. Đến lúc này, tiền đề về một ý niệm về chân lý tuyệt đối đã trở nên rõ ràng. Tri thức được hướng tới một lý tưởng nhất định. Mọi định hướng lịch sử chỉ thực sự sống động khi chúng ta học cách nhận ra rằng điều cốt yếu cuối cùng là do sự diễn giải của chính chúng ta trong quá trình tư duy lại tự do, nhờ đó chúng ta đạt được sự tách rời khỏi mọi tri ​​thức uyên bác.

§4. Ý niệm về Tri thức theo đúng nghĩa

Trong việc mô tả scientia Dei Tri thức Chúa Trời, chúng tôi đi đến những kết luận sau: đó là một intuitus praesens omnia subjecta sibi praesentialiter một trực giác hiện tại mà mọi sự đều tuân theo trong tính hiện tại của chúng. Trực giác là sự nhìn thấy, quan sát trực tiếp, và praesens có nghĩa là ‘hiện tại’, trái ngược với cum successione kế tiếp. Tri thức của Chúa không đạt được trong một chuỗi các hành động trực giác những sự vật riêng lẻ mà nó xảy ra mà không cần kế tiếp, tất cả cùng một lúc trong một khoảnh khắc. Nhưng đó là một khoảnh khắc không chỉ kéo dài trong chốc lát mà vẫn giữ nguyên như vậy cho đến muôn đời. Vì vậy, nó có aetemitas tính vĩnh hằng. Nó là nunc stans hiện tại vĩnh hằng, [tr.58] Hiện tại trường tồn và còn lại, hiện tại vĩnh cửu. Trực giác hiện tại này, luôn hiện diện trong Chúa, về phần nó, có mọi thứ gegenwartig ‘bây giờ’ trước mặt nó. Nghĩa là...Trực giác hằng hiện diện này có đối tượng được trực giác của nó - toàn bộ những gì thực sự đã, đang và sẽ tồn tại - nằm trước nó với tư cách anwesend hiện diện. Tri thức là intuitus trực giác, visio thị kiến, hằng thấy trực tiếp mọi thứ trong Anwesenheit tính hiện diện của nó. Tuy nhiên, ý niệm về tri thức này bắt nguồn từ tính vĩnh hằng của Thiên Chúa. Vĩnh hằng là cái luôn luôn có đó totum simul tất cả cùng một lúc. Vĩnh hằng là mensura temporis phép đo thời gian. Nhưng bản thân tính vĩnh hằng được suy ra từ immutabilitas bất biến, từ simplicitas đơn nhất. Do đó, suy luận được tái cấu trúc như sau: simplicitas-immutabilitas-aeternitas-intuitus praesens đơn nhất-bất biến-vĩnh hằng-trực giác hiện tại. Cái mà về bản chất là bất biến thì không thể bị thay đổi bởi việc bổ sung tri thức mới. Cái bất biến là vĩnh hằng, và vì là vĩnh hằng nên nó phải sở hữu mọi thứ cùng một lúc mà không thay đổi. Do đó, phương thức nhận thức về một hữu thể tuyệt đối như vậy phải có đặc tính intuitus praesens trực giác hiện tại omnia sibi praesentialiter subjiciens đưa mọi thứ ra trước chính nó trong tính hiện diện của nó.

Leibniz đã trả lời câu hỏi về ý niệm, về bản chất của tri thức nói chung, trong một chuyên luận nhỏ, Meditationes de Cognitione, Veritate et Ideis Trầm tư Nhận thức, Chân lý và các Ý niệm do chính ông xuất bản, một hoàn cảnh bất thường đối với ông, (tháng 11 năm 1684, trong Acta Eruditorum Lipsiensium - Hành động của Người uyên bác Leipzig, tr. 537-42, hai năm trước Discours; G. IV. 422-26) [L. 291]. [Ghi chú dài về Acta Eruditorum - Tạp chí khoa học của các vùng nói tiếng Đức ở châu Âu, được xuất bản từ năm 1682 đến năm 1782; Acta Eruditorum do Otto Mencke sáng lập vào năm 1682 tại Leipzig , ông trở thành biên tập viên đầu tiên với sự hỗ trợ đắc lực của Gottfried Leibniz ở Hanover, người đã đóng góp 13 bài báo trong bốn năm đầu tiên của tạp chí. Tạp chí được Johann Friedrich Gleditsch xuất bản, với sự tài trợ của Công tước xứ Saxony. Tạp chí được xuất bản hàng tháng, hoàn toàn bằng tiếng Latinh, với các đoạn trích từ các tác phẩm mới, bài đánh giá, tiểu luận và ghi chú. Hầu hết các bài báo đều tập trung vào khoa học tự nhiên và toán học, bao gồm các đóng góp của các nhà khoa học ngoài Leibniz như Jakob Bernoulli, Humphry Ditton, Leonhard Euler, Ehrenfried Walther von Tschirnhaus , Pierre-Simon Laplace và Jérôme Lalande, cũng như từ các nhà nhân văn và triết học như Veit Ludwig von Seckendorff, Stephan Bergler, Christian Thomasius và Christian Wolff. Sau khi Otto Mencke qua đời năm 1707, Acta Eruditorum được con trai ông, Johann Burckhardt Mencke điều hành, ông qua đời năm 1732. Tạp chí lúc đó đã đổi tên thành Nova Acta Eruditorum. Bắt đầu từ năm 1756, tạp chí có chủ soái mới là Karl Andreas Bel. Mặc dù Mencke từng trao đổi thư từ và ấn phẩm với Isaac Newton, nhưng Newton không phải là người viết thư cho Acta. Cuộc tranh chấp giữa Newton và Leibniz về công lao phát triển phép tính vi phân bắt đầu với một bài đóng góp của Leibniz cho số tháng 5 năm 1697 của Acta Eruditorum. Trong cuộc tranh cãi gay gắt sau đó, tờ tạp chí phần lớn đóng vai trò là tiếng nói cho phe của Leibniz, giống như Philosophical Transactions đã làm cho phe của Newton. Mencke đã cố gắng làm dịu bớt cuộc tranh chấp, nhưng những lời phản bác từ cả hai phía đều quá mạnh mẽ. Cuộc tranh chấp này cũng ảnh hưởng đến Acta trong việc thể hiện tình cảm đoàn kết dân tộc và xác định học thuật Đức trong phạm vi ảnh hưởng quốc tế.- HHN]

Theo Descartes, vào thời điểm đó những người theo chủ nghĩa Descartes đã thường xuyên đề cập đến chủ đề về bản chất của tri thức. Các câu hỏi bước vào một giai đoạn mới thông qua một bài luận phản bác được Antoine Arnauld xuất bản chống lại Malebranche đã đề cập ở trên, Traite des vraies et des fausses idees Luận về các Ý niệm Chân và Giả. [Ghi chú dài về Antoine Arnauld 1612-1694, là một trong những nhân vật lớn của Grand Siècle ‘Đại Kỷ nguyên’ dùng để chỉ thời kỳ hoàng kim của lịch sử Pháp trong thế kỷ XVII, dưới triều đại của vua Louis XIII và đặc biệt là vua Louis XIV. Đây là thời kỳ bùng nổ rực rỡ của nghệ thuật, văn học và sự trỗi dậy của nước Pháp như một thế lực thống trị Châu Âu], người vừa đóng vai trò quyết định trong đời sống triết học của thời đại, vừa bị lu mờ bởi những vĩ nhân cùng thời. Là một nhà tư tưởng toàn diện, vừa là triết gia vừa là nhà toán học, vừa là nhà thần học vừa là nhà logic học, Arnauld vĩ đại dường như được ghi danh trong lịch sử triết học chủ yếu nhờ Descartes, người mà ông đã gửi đến những Lời Phản Đối Thứ Tư nổi tiếng khi tác phẩm Méditations Trầm tư được xuất bản. Trong những lời phản đối này, ông bày tỏ sự nghi ngờ của mình về khái niệm causa sui nguyên nhân tự thân đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng giữa câu nói cogito Tôi tư duy nên tôi tồn tại của Descartes và một số đoạn văn của Thánh Augustine. Descartes thường coi đây là những lời phản đối hay nhất từng được đưa ra chống lại ông, và trên thực tế, ông đã nhượng bộ người đối thoại của mình vấn đề tri thức về linh hồn. Là một người theo chủ nghĩa Jansenisme, [Ghi chú của ghi chú: Jansensisme là một phong trào thần học Kitô giáo thế kỷ 17 và 18 trong Giáo hội Công giáo , bắt nguồn từ các tác phẩm của giám mục người Hà Lan Cornelius Jansen , đặc biệt là cuốn sách Augustinus xuất bản năm 1640, nhấn mạnh sự cần thiết của ân sủng thiêng liêng và vai trò hạn chế của ý chí tự do của con người trong sự cứu rỗi , dựa nhiều vào các giáo lý của Thánh Augustine thành Hippo; nó chủ yếu nổi lên ở Pháp và Hà Lan như một phản ứng nghiêm khắc chống lại sự lỏng lẻo về đạo đức và thần học được cho là gắn liền đặc biệt với Dòng Tên; những người theo phái Jansen đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi, đặc biệt là ở Pháp, nơi năm luận điểm, bao gồm học thuyết về sự chuộc tội có giới hạn và ân điển không thể cưỡng lại , đã bị các nhà thần học thù địch với Jansen lên án là dị giáo; năm 1653, Giáo hoàng Innocent X đã lên án năm ý tưởng từ phái Jansen trong hiến pháp tông đồ Cum occasione [Cụm từ Cum occasione là một tiêu đề văn kiện lịch sử nổi tiếng trong tiếng Latin; ý nghĩa của cụm từ này là tên gọi của một Tông sắc (Papal Bull) do Giáo hoàng Innocent X ban hành vào năm 1653, dùng để lên án năm mệnh đề trọng tâm của phái Jansenius thời bấy giờ ‘khi có cơ hội/hoàn cảnh đó’. - HHN xen thêm], khiến phái Jansen chính thức bị coi là dị giáo; những người theo phái Jansen bắt đầu gắn liền với sự phản đối chế độ quân chủ Pháp; điều này khiến họ trở thành mục tiêu của Vua Louis XIV và Giáo hoàng Clement XI, những người đã có những hành động mạnh mẽ chống lại họ; năm 1708, Tu viện Port-Royal, một trung tâm tư tưởng Jansen, đã bị đóng cửa; năm 1713, Clement XI đã ban hành sắc lệnh Unigenitus, lên án thêm các giáo lý Jansen. HHN] ông đã cùng với Pierre Nicole viết chung một tác phẩm nổi tiếng và vẫn được nghiên cứu rộng rãi cho đến ngày nay, La logique ou l’art de penser Logic, hay Logic hay Nghệ thuật tư duy, xuất bản năm 1662 và thường được gọi là Logic của Port-Royal vì mối liên hệ của các tác giả với phong trào Jansen được thành lập tại Port-Royal. Tuy nhiên, tác phẩm mà chúng ta muốn phân tích bắt nguồn từ một cuộc thảo luận khác, đó là cuộc thảo luận giữa Arnauld và Malebranche về khái niệm ý niệm. Denis Moreau, một chuyên gia về cả Malebranche và Arnauld, đã xuất bản một ấn bản xuất sắc vào năm 2011 của tác phẩm nổi tiếng Des vraies et des fausses idées Ý niệm Chân và Giả bằng tiếng Pháp hiện đại với nhiều chú thích sáng tỏ. Mặc dù Malebranche và Arnauld dường như là bạn thân, nhưng một cuộc tranh luận khá sôi nổi, thậm chí gay gắt, đã nảy sinh giữa họ, trong đó những lời trao đổi thường trở nên khá nặng nề. Tác phẩm Des vraies et des fausses idées Ý niệm Chân và Giả, xuất bản năm 1683, xuất hiện như là tác phẩm đầu tiên trong một loạt các cuộc tấn công sẽ ngày càng gay gắt, đỉnh điểm là Réflexions sur le nouveau système de la nature et de la grâce Những Suy tư về Hệ thống Mới của Tự nhiên và Ân sủng năm 1685—tất cả đều là những tranh luận liên quan đến mối quan hệ với Chúa, từ vấn đề khó khăn về ý niệm đến vấn đề về ý chí. Antoine Arnauld sinh năm 1612; khi ông xuất bản luận văn này vào năm 1683, ông đã 71 tuổi và đang đề cập đến một chủ đề không hoàn toàn thuộc về lĩnh vực của mình. Trong lời giới thiệu dài dòng, Denis Moreau nhắc nhở chúng ta rằng tác giả là một chuyên gia về ân sủng và nhấn mạnh rằng công việc này, rất mới mẻ đối với ông, và hơn nữa được bắt đầu ở độ tuổi cao so với thời đó, không hề dễ dàng. Bất chấp những trở ngại này, tác phẩm đã có tác động thực sự và vẫn giữ giá trị triết học không thể phủ nhận cho đến ngày nay, mặc dù nó phụ thuộc vào một cuộc tranh luận có thể được coi là lỗi thời ở một số khía cạnh. Một trong những ưu điểm quan trọng của phần giới thiệu của Denis Moreau là làm rõ lý do tồn tại của tác phẩm; như chúng ta đã nói, Arnauld là một học giả xuất sắc về các vấn đề xoay quanh ân điển, nhưng ông lại tấn công triết học nhận thức của Malebranche thay vì trực tiếp đề cập đến văn bản đã gây ra cuộc tranh cãi, cụ thể là Luận về Tự nhiên và Ân điển của Malebranche, được xuất bản năm 1680. Tại sao lại như vậy? Bởi vì, giống như Fénelon, Arnauld tin chắc rằng nền tảng triết học của luận văn năm 1680 thực sự dựa trên khái niệm về ý niệm được phát triển trong tác phẩm Đi tìm Chân lý (1675), và do đó, để làm suy yếu các ý tưởng xoay quanh ân điển, cần phải tấn công vào nền tảng đó trước tiên. “Sự phê bình triết học về nền tảng ngầm của Luận thuyết nhằm mục đích làm lời mở đầu cho sự bác bỏ thần học chính thức.”3 Ở đây, chúng ta có một minh họa hấp dẫn về một chiến lược lập luận mà thay vì trực tiếp đối đầu với suy tư thần học, lại xem xét điều gì tạo nên bản chất của các phát triển thần học và suy luận, theo một cách rất Descartes, rằng việc phá hủy công trình từng viên đá một là vô ích nếu không tấn công trước tiên vào những gì nâng đỡ nó. Đây chính xác là những gì Arnauld thực hiện trong tác phẩm của mình. Theo  Gress, T. (No date). Antoine Arnauld : Des vraies et des fausses idées. Actu Philosophia. - HHN]

Đó là sự đối đầu cơ bản với Descartes và các nguyên tắc tri thức của ông, đồng thời là một giai đoạn quan trọng trên con đường từ Descartes đến Kant về vấn đề ‘phạm trù’. Leibniz bắt đầu chuyên luận của mình bằng cách đưa ra quan điểm đối với những tranh cãi đó: Quoniam hodie inter Viros egregios de veris et falsis ideis controversiae agitantur, eaque res magni ad veritatem cognoscendam momenti est, in qua nec ipse Cartesius usquequaque satisfecit, placet quid mihi de discriminibus atque criteriis idearum et cognitionum statuendum videatur, explicare paucis. (op. cit., 422) “Bởi vì những con người xuất sắc ngày nay đang tham gia vào các cuộc tranh luận về các ý tưởng chân và giả, một vấn đề có tầm quan trọng to lớn để hiểu được chân lý và là một vấn đề mà ngay cả Descartes cũng không hoàn toàn công bằng, tôi muốn giải thích ngắn gọn những gì tôi nghĩ có thể được thiết lập về các loại khác nhau cùng các tiêu chí của các ý tưởng và của tri ​​thức.” [L. 291]

[Tr.59] Sau đó là câu văn, được diễn đạt ngắn gọn, dự báo nội dung của luận thuyết tiếp theo. Est ergo cognitio vel obscura vel clara, et clara rursus vel confusa vel distincta, et distincta vel inadaequata vel adaequata, item vel symbolica vel intuitiva: et quidem si simul adaequata et intuitiva sit, perfectissima est. “Tri thức hoặc mơ hồ hoặc rõ ràng; tri thức rõ ràng hoặc là mơ hồ hoặc là khác biệt; tri thức khác biệt hoặc không đầy đủ hoặc đầy đủ, lại nữa, hoặc mang tính biểu tượng, hoặc trực giác. Tri thức hoàn hảo nhất vừa đầy đủ vừa mang tính trực giác.” Leibniz dần dần chỉ ra hai đặc điểm trái ngược của tri thức; phân chia thêm đặc điểm tích cực đang nổi lên, và sau đó kết luận bằng ý tưởng về tri thức hoàn hảo nhất. Tri thức hoàn hảo nhất là adaequata đầy đủ, và intuitive trực giác. Sơ đồ quá trình diễn tiến như sau: Chúng ta sẽ cố gắng giải thích ngắn gọn các đặc điểm của tri thức đã đề cập.

Một “notio obscura, quae non sufficit ad rem repraesentatam agnoscendam “Một khái niệm là mơ hồ nếu nó không đủ để nhận ra sự vật được biểu thị”. Tri thức về hoặc sự quen thuộc với một điều gì đó bị che khuất khi tri thức đó không đủ để nhận ra bản chất của chính sự vật đó, trong trường hợp người ta bắt gặp nó. Ví dụ, tôi có hiểu biết về một loài động vật nhất định mà tôi đã nhìn thấy trước đây. Trong trường hợp tôi gặp lại loài động vật này, nhưng không nhận ra nó dựa trên tri ​​thức của mình, mà lại nhầm nó với một loài động vật khác, thì tri ​​thức của tôi bị che khuất. Nhận thức bị che khuất là những nhận thức dẫn đến sự nhầm lẫn giữa những sự vật [tr.60] khác nhau. Trong triết học cũng có những thuật ngữ khó hiểu, chẳng hạn như khái niệm ἐντελέχειᾰ entelecheia của Aristotle [ἐντελέχειᾰ được Aristotle đặt ra; theo Sachs Aristotle đã tạo ra từ này bằng cách kết hợp ἐντελής entelēs, ‘hoàn chỉnh, trưởng thành’ với ‘echein’ = hexis, ở một trạng thái nhất định nhờ nỗ lực duy trì trạng thái đó, đồng thời chơi chữ với ἐνδελέχεια endelecheia sự kiên trì bằng cách chèn thêm τέλος telos hoàn thành; đây là một từ ngữ đa nghĩa, nằm ở trung tâm của mọi tư tưởng của Aristotle, bao gồm cả định nghĩa về chuyển động; do đó, Sachs đề xuất một từ ngữ mới phức tạp của riêng mình, ‘being-at-work-staying-the-same’ đang-làm-việc-vẫn-như-vậy; một bản dịch khác trong những năm gần đây là ‘being-at-an-end’ ở-điểm-kết-thúc, mà Sachs cũng đã sử dụng; entelecheia, như có thể thấy qua nguồn gốc của nó, là một sự hoàn chỉnh, trong khi ‘điểm kết thúc và sự hoàn thiện của bất kỳ thực thể đích thực nào đều là tình trạng ἐνέργεια energeia đang-làm-việc của nó’; entelecheia là một energeia sự đang-làm-việc liên tục khi một thứ gì đó đang thực hiện ‘công việc’ hoàn thiện của nó; vì lý do này, ý nghĩa của hai từ hội tụ, và cả hai đều phụ thuộc vào ý tưởng rằng ‘tính vật chất’ của mọi thứ là một loại công việc, hay nói cách khác là một cách cụ thể để tồn tại trong chuyển động; tất cả những thứ tồn tại hiện tại, chứ không chỉ tiềm năng, đều là những thực thể đang-làm-việc, và tất cả chúng đều có xu hướng hướng tới việc đang-làm-việc theo một cách cụ thể mà sẽ là cách thích hợp và ‘hoàn chỉnh’ của chúng; Sachs giải thích sự hội tụ của energeia – hoạt động/vận hànhentelecheia như sau, và sử dụng từ thực tế để mô tả sự chồng chéo giữa chúng: cũng như energeia mở rộng đến entelecheia vì nó là hoạt động làm cho một vật trở thành chính nó, entelecheia mở rộng đến energeia vì nó là mục đích hoặc sự hoàn hảo chỉ tồn tại trong, thông qua và trong suốt hoạt động. Theo Sachs, Joe (1995) Aristotle's Physics: a Guided Study, Rutgers University Press; and Sachs, Joe (1999). Aristotle's Metaphysics, a New Translation by Joe Sachs, Santa Fe, NM: Green Lion Books.- HHN] được giải thích quá ít, hoặc cả khái niệm causa nguyên nhân cũng vậy. Unde propositio quo que obscura fit, quam notio talis ingreditur [Do đó, một mệnh đề cũng trở nên khó hiểu chừng nào khái niệm đó là một thành phần của nó]. Clara ergo cognitio est, cum habeo unde rem repraesentatam agnoscere possim. “Tri thức đó rõ ràng cho phép tôi nhận ra một hiện hữu mà tôi gặp là cùng một hiện hữu mà tôi đã thấy trước đó, nắm bắt nó như là cùng một hiện hữu, để ‘đồng nhất’ nó.”

Giờ đây, có thể tôi thực sự có một khái niệm rõ ràng và do đó có thể chắc chắn phân biệt được, mọi lúc, một con diều hâu với một con kền kền, nhưng lại không thể cung cấp chi tiết những đặc điểm dựa trên đó cả hai loài động vật có thể được phân biệt một cách đầy đủ. Khái niệm rõ ràng vẫn có thể bị nhầm lẫn. Tri thức là confusa, nhầm lẫn, hay chính xác hơn là ‘hòa quện cùng nhau’, cum scilicet non possum notas ad rem ab aliis discernendam sufficientes separatim enumerare, licet res illa tales notas atque requisita revera habeat, in quae notio ejus resolvi possit, “nhận thức hỗn mang, đó là khi chúng ta không thể liệt kê tách biệt các đặc điểm đủ để phân biệt một sự vật này với các sự vật khác, mặc dù sự vật đó thực sự có những đặc điểm và yếu tố cấu thành có thể dùng để phân tích ý niệm về nó”. Khái niệm nota, ‘dấu hiệu’ hay ý nghĩa chứa trong một thuật ngữ, có nghĩa là thuộc tính thiết yếu và đặc điểm riêng biệt. Requisita, ‘thành phần cấu tạo’, là những khoảnh khắc mà tri thức về một sự vật có thể được phân tích. (Cr., trong phần tiếp theo, là sự xác định kép của cognitio distincta nhận thức rõ ràng. Về mối quan hệ giữa notae dấu hiệurequisite thành phần cấu tạo, xem sự khác biệt giữa đồng nhất ngầm định và đồng nhất rõ ràng trong § II.) Leibniz đưa ra những ví dụ sau về những ý tưởng rõ ràng nhưng dễ gây nhầm lẫn: màu sắc có thể phân biệt được với mùi hương và Havors satis clare với đủ mức độ rõ ràng, sed simplici sensuum testimonio, non vera notis enuntiabilibus “nhưng chỉ bằng chứng cứ đơn giản của các giác quan chứ không phải bằng những dấu hiệu có thể diễn đạt được”. Với người mù, màu đỏ không thể được giải thích bằng định nghĩa mà chỉ có thể bằng cách eos in rem praesentem ducendo đưa họ đến gần sự vật hiện diện. Các nghệ sĩ biết rõ ràng tuyệt đối quid recte, quid vitiose factum sit cái gì làm tốt và cái gì làm dở, nhưng khi được hỏi làm thế nào hoặc bằng cách nào, họ chỉ có thể nói có điều gì đó còn thiếu, nescio quid điều gì đó, tôi không biết là gì.

Mặt khác, một kiến ​​thức ‘rõ ràng’ là distincta rõ ràng, mạch lạc khi chúng ta có notae et examina sufficientia ad rem ab aliis…. similibus discernendam “những dấu hiệu và [tr.61] đặc điểm đủ để phân biệt sự vật này với những sự vật tương tự khác”. Ví dụ, chúng ta có tri ​​thức rõ ràng như vậy về những gì chung cho nhiều giác quan (Aristotle's τὰ κοινά việc công): số lượng, độ lớn và hình dạng. Theo Nouveaux Essais sur l'Entendement Tiểu luận Mới về Hiểu biết của Con người (11,5; G. V 1 16), những khái niệm này xuất phát từ chính tâm trí, và là những ý tưởng của sự hiểu biết thuần túy (cf. Kant, De mundi sensibilis atque intelligibilis forma et principiis - Về Hình thức và Nguyên tắc của Thế giới Cảm tính và Thế giới Khả niệm - là luận văn nổi tiếng nhậm chức giáo sư năm 1770 của Immanuel Kant. Tác phẩm này đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi Kant bắt đầu rời bỏ triết học duy lý truyền thống để xây dựng nền tảng cho ‘triết học phê phán’ của riêng ông; mội dung cốt lõi của tác phẩm bao gồm: i) Mundus sensibilis Thế giới cảm tính là thế giới các hiện tượng mà con người nhận thức được thông qua các giác quan; theo Kant, thời gian và không gian không phải là các thực thể khách quan hay thuộc tính của vạn vật, mà chính là các pure intuitions trực giác thuần túy mang tính chủ quan của con người để sắp xếp các dữ liệu giác quan; ii) Mundus intelligibilis Thế giới khả niệm là thế giới của bản thể hay các noumenon sự vật tự thân; con người không thể nhận thức thế giới này qua cảm giác, nhưng có thể hiểu được nó thông qua pure intellectual concepts trí năng thuần túy; iii) Phân định ranh giới, Kant chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa nhận thức cảm tính - đạt được thông qua các ấn tượng bên ngoài - và nhận thức trí tuệ - đạt được thông qua bản tính bẩm sinh của lý trí; việc phân định sai lầm giữa hai điều này sẽ dẫn đến những sai lầm của siêu hình học truyền thống.- HHN]. Chúng ta cũng có hiểu biết rõ ràng về các cảm xúc như sợ hãi và hy vọng.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

 

 

 

 

 


Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (VII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz

[Tr.45] Intuitus [intuitus là một danh từ và cả động từ phân từ mang nghĩa gốc là ‘nhìn vào’, ‘chiêm nghiệm’, ‘xem xét kỹ lưỡng’ hoặc ‘nhìn nhận’; intuitus có từ căn ‘intueor’ hoặc intuor, trong đó ‘in’-hướng vào, ở trong, tueor là nhìn, ngắm, bảo vệ, chăm sóc; với ý nghĩa ‘nhìn sâu vào bên trong’, từ này dần phát triển và được sử dụng rộng rãi trong triết học và ngôn ngữ hiện đại để chỉ khả năng nhận biết hoặc hiểu vấn đề một cách tức thì mà không cần qua suy luận phức tạp; vì vậy nó là nguồn gốc của các từ intuition mang nghĩa ‘trực giác’ hay intuitive ‘trực quan’ trong tiếng Anh hiện đại.-HHN] có nghĩa là một sự thấu hiểu trực tiếp, một tri ​​thức bao quát toàn bộ thời gian trong một lần duy nhất mà không cần sự kế tiếp. Visio [Trong triết học, visio ‘thị giác’, ‘nhìn’ chủ yếu đề cập đến nghiên cứu triết học về tri giác thị giác - cách thức chúng ta nhìn thế giới, và khái niệm thần học hoặc khoa học huyền bí về ‘thị kiến tâm linh’, đặc biệt là nhận thức trí tuệ về những chân lý siêu việt hoặc Thần thánh; chủ đề này bao gồm ba phạm trù triết học chính: i) Triết học về Tri giác Thị giác - Triết học nhận thức & Tâm trí, nghiên cứu cơ chế và độ tin cậy của thị giác; vấn đề về Tri giác với câu hỏi liệu mắt chúng ta có khả tính truy cập trực tiếp vào thực tại, chủ nghĩa hiện thực trực tiếp, hay chúng ta chỉ nhận thức được các biểu tượng tinh thần của thế giới - chủ nghĩa hiện thực gián tiếp; quang học thời Trung cổ với các nhà tư tưởng như Roger Bacon đã nghiên cứu vật lý của ánh sáng và sinh học của mắt để hiểu cách tâm trí xử lý ‘tính ý hướng khả kiến’; ii) Thị kiến và Trí tuệ của Thần bí học & Thần học: trong các truyền thống siêu hình và thần học, visio là hành động nhìn vượt ra ngoài thực tại vật chất để nắm bắt những chân lý khả tri, vĩnh cửu hoặc linh thánh; Thánh Augustine đã phát triển một kiểu phân loại thị kiến có ảnh hưởng rất lớn; ông phân biệt giữa visio corporalis thị giác vật thể, visio spiritalis thị giác tinh thần, tưởng tượng trong tâm trí, và visio intellectualis trực giác trí tuệ thuần túy về chân lý; Visio Dei, là một khái niệm trung tâm của Triết học Trung cổ - Thị kiến ​​Thiên Chúa, đề cập đến sự chiêm nghiệm sâu sắc về mặt trí tuệ và tâm linh về Thiên Chúa; về mặt lịch sử, nó đồng nghĩa với Thị kiến Phúc lạc, đại diện cho đỉnh cao triết học và thần học của sự phát triển toàn diện của con người, nơi tâm trí đạt được chân lý trí tuệ tối thượng và hạnh phúc trọn vẹn; trong triết học kinh viện thời Trung cổ, Visio Dei là cầu nối giữa nhận thức luận và siêu hình học; các Thánh Augustine và Thomas Aquinas đã định hình nên diễn ngôn này; Augustine cho rằng telos mục tiêu tối thượng của nhân loại là nhìn thấy Thiên Chúa; ông cho rằng tâm trí con người được thiết kế cho hạnh phúc trọn vẹn, chỉ có thể được thỏa mãn bằng cách chiêm ngưỡng Chân lý vĩnh hằng; Aquinas trong tác phẩm Summa Contra Gentiles - Tổng luận chống Kẻ ngoại, quan niệm rằng khát vọng tự nhiên của bất kỳ sinh vật trí tuệ nào đều là hiểu được bản chất của Nguyên nhân Đầu tiên - Thiên Chúa. Hạnh phúc trọn vẹn đòi hỏi visio Dei, một hành động trí tuệ trong đó tâm trí được nâng cao bởi ân sủng để trực tiếp thấu hiểu thực tại tối thượng. - HHN] với tư cách praesens intuitus [Trong triết học, praesens intuitus ‘trực giác hiện tại’ hoặc ‘hiện diện tức thì’ mô tả sự nhận thức trực tiếp, không qua trung gian về một chân lý hoặc một đối tượng như nó tồn tại trước tâm trí; nó nhấn mạnh việc nắm bắt trực tiếp, ‘mặt đối mặt’ với thực tại, không bị che khuất bởi suy luận logic hoặc sự bóp méo giác quan; các bối cảnh triết học chính bao gồm i) Chủ nghĩa kinh viện thời Trung cổ [Duns Scotus & Thomas Aquinas] trong triết học cuối thời Trung cổ, intuitus thường được đối lập với notitia abstractiva nhận thức trừu tượng; các nhà tư tưởng như John Duns Scotus cho rằng nhận thức trực giác đòi hỏi đối tượng phải là praesens actualiter hiện diện một cách thực sự và trực tiếp và tức thì đối với chủ thể nhận thức; nó cho phép tâm trí xác minh sự tồn tại và hiện diện thực tế của một sự vật; tương tự, Thomas Aquinas đã khám phá simplex intuitus trực giác đơn giản như một cái nhìn sâu sắc tức thì, không mang tính diễn ngôn về chân lý; ii) Triết học Cartesian với René Descartes đã nâng intuitus lên thành một công cụ nhận thức luận nền tảng; ông định nghĩa trực giác không phải là sự chứng thực dao động của các giác quan, mà là “khái niệm của một tâm trí minh mẫn và chú tâm, dễ hiểu và rõ ràng đến mức không còn chỗ cho sự nghi ngờ.”; đối với Descartes, trực giác lý tính đích thực là đồng thời—nắm bắt ‘tất cả cùng một lúc’—và cung cấp nền tảng hiển nhiên, không thể nghi ngờ cho lý luận diễn dịch; iii) Boethius và Nhận thức Thần thánh vào cuối thời cổ đại, Boethius nổi tiếng đã sử dụng từ intuitus; ông đối lập tâm trí con người mang tính lý luận, di chuyển chậm chạp từ tiền đề này sang tiền đề khác, với tâm trí thần thánh; tri thức của Chúa được mô tả là một praesens intuitus—một cái nhìn duy nhất, vĩnh cửu bao trùm tất cả thời gian, vĩnh hằng, quan phòng và ý chí tự do của con người ‘tất cả cùng một lúc’; trong khi praesens intuitus theo truyền thống biểu thị tính chắc chắn và minh bạch thần thánh hoặc lý tính, thì các trào lưu triết học sau này đã mở rộng khái niệm về trực giác; Spinoza liên kết nó với hình thức scientia intuitiva tri thức cao nhất, tri thức nhận thức được bản chất của sự vật thông qua các thuộc tính vĩnh hằng của Thượng đế; Henri Bergson xem trực giác như một phương tiện để đi vào nội tâm tuyệt đối của một chủ thể nhằm nắm bắt thực tại như một chỉnh thể liên tục, thay vì nhìn nhận nó một cách rời rạc.- HHN] là một cái nhìn phải được thực hiện để bao quát toàn bộ, như hiện diện trước mặt Chúa, Đấng có mọi thứ hiện hữu trước mặt Ngài. Trực giác hiện tại của Chúa vươn tới toàn bộ thời gian và vào tất cả mọi tồn tại trong bất kỳ thời điểm nào, như vào các đối tượng hiện hữu trước mặt Ngài. Praesens intuitus Dei fertur in totum tempus et in omnia, quae sunt in quocumque tempore, sicut in subjecta sib; praesentialiter. The scientia simplicis intelligentiae [tri thức về trí tuệ đơn giản] không phải là một visio thị kiến, mà là một sự hiểu biết đơn giản, vì những khả năng thuần túy không được hiện thực hóa bên ngoài Thượng đế. Chúng nội tại trong Thượng đế như những khả năng tư duy, trong khi bất kỳ sự nhìn thấy nào đều liên quan đến bên ngoài. Tất cả các hữu thể trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều được xem là hiện diện trong praesens intuitus của visio. Quan điểm vĩnh cửu này bao gồm các sự kiện có thể xảy ra và chỉ mang tính ‘võ đoán’ được hiện thực hóa theo cách ngẫu nhiên, chân lý thực tế, cái lịch sử theo nghĩa rộng nhất. Do đó, trong trực giác này, Chúa không chỉ biết những hiện hữu in actu. [Trong tiếng Latin, cụm từ in actu có nghĩa là ‘trong hành động’, ‘trong thực tế’ hoặc ‘đang thực hiện’; cụm từ này thường được dùng để chỉ một trạng thái hiện hữu thực sự, khi một sự việc hoặc potential khả tính được chuyển hóa thành hành động cụ thể; trong triết học và thần học, đặc biệt là Scholasticism triết học Kinh viện, in actu thường được đặt ngang hàng với khái niệm ‘in potentia’ trong tiềm năng; một vật có khả năng - tiềm năng - in potential - trở thành một vật khác, nhưng khi nó thực sự trải qua quá trình biến đổi để trở thành vật đó, thì nó lại đang tồn tại in actu trong thực tế. -HHN] mà còn cả những điều trong tương lai, đối với chúng ta vốn là ngẫu nhiên. Điều 13 Utrum scientia Dei sit futurorum contingentium [Liệu tri thức của Thiên Chúa có bao gồm những sự kiện ngẫu nhiên trong tương lai hay không (P. I, q. 14, a. 13) được Thánh Thomas Aquinas giải thích trong tác phẩm Summa Theologiae Thần học Tổng luận như sau: Thiên Chúa biết một cách hoàn hảo và không thể sai lầm về những sự kiện ngẫu nhiên trong tương lai; câu hỏi này nảy sinh từ thực tế là tri thức của Thiên Chúa là nguyên nhân của mọi sự và hành động của Thiên Chúa là vĩnh cửu; nếu Thiên Chúa biết từ muôn thuở rằng điều gì đó sẽ xảy ra, dường như điều đó là tất yếu và quyền tự do lựa chọn bị loại bỏ; nhưng câu trả lời là một phân biệt, chúng tồn tại trong cõi vĩnh hằng, bởi vì Thiên Chúa ở ngoài thời gian, tất cả các thời điểm đều hiện diện trước Ngài trong tính hiện tại của chúng; Ngài không chỉ biết các sự kiện tương lai, mà còn nhìn thấy chúng trong sự tồn tại của chúng, như chúng đang diễn ra; những sự kiện ngẫu nhiên không bị mất đi, mặc dù tầm nhìn của Thiên Chúa là không thể sai lầm, nhưng bản thân mọi sự vẫn diễn ra một cách ngẫu nhiên từ các nguyên nhân gần; Thiên Chúa sắp đặt mọi sự sao cho những sự vật hiện tại và tương lai đều chứa đựng sự tự do của chúng. HHN] giải thích chính xác hơn cách Chúa biết những điều trong tương lai. Cái ngẫu nhiên [tr.46] có thể được nhìn thấy, trước hết, trong chính nó, tức là, như là praesens hiện diện, như là determinatum in unum được xác định là một. [Determinatum in unum là một cụm từ triết học tiếng Latin thường được nhà thần học và triết gia Thomas Aquinas sử dụng là determinatum ad unum—có nghĩa là ‘được định sẵn cho một điều’; trong triết học kinh viện, cụm từ này đối lập hành vi của các vật thể tự nhiên với các sinh vật có lý trí, các tác nhân tự nhiên và bản năng: tự nhiên, động vật không phải con người và các định luật vật lý là determinatum ad unum; điều này có nghĩa là chúng vốn dĩ cố định hoặc bị giới hạn ở một kết quả, phản ứng hoặc con đường tự nhiên cụ thể duy nhất, chẳng hạn, lửa được định sẵn để cháy hướng lên trên, và động vật ăn thịt hành động theo bản năng chứ không phải đưa ra lựa chọn chủ động, có chủ ý; sinh vật có lý trí và ý chí tự do, chẳng hạn như con người, sở hữu ý chí và trí tuệ không bị định sẵn cho một kết quả cụ thể; bởi vì trí tuệ có thể cân nhắc giữa nhiều lựa chọn khác nhau, nên ý chí và suy lý của con người vẫn mở ra nhiều khả năng; tính mở và khả năng cân nhắc cơ bản này chính là điều cho phép có ý chí tự do; Aquinas đã khám phá sâu rộng các khái niệm này khi phân tích sự khác biệt giữa khuynh hướng tự nhiên, tri thức thần thánh và tự do của con người.- HHN]. Nó thực sự là ngẫu nhiên; nó cũng có thể không tồn tại, nhưng hiện tại nó đang tồn tại trên thực tế, và như vậy tôi có thể coi nó in se ipso trong chính nó. Theo đúng nghĩa một thực tính, nó đã được xác định liên quan đến một khả tính xác định. Nó đã chuyển sang thực tính của nó, và đến mức độ đó nó được xác định là một. Cái ngẫu nhiên in se ipso trong chính nó có thể là đối tượng của một tri ​​thức chắc chắn không thể sai lầm, cụ thể là, trong một sự xác định thực tế dựa trên trực giác giác quan, infallibiliter subdi potest certae cognitioni. Tri thức như vậy không gặp phải vấn đề. [Cụm từ tiếng Latin infallibiliter subdi potest certae cognitioni nghĩa đen là ‘tuyệt đối không thể sai lầm đối với một số tri ​​thức nhất định’; cụm từ này xuất hiện trong Thần học Tổng luận của học giả thời trung cổ Thomas Aquinas, bàn về bản chất tri thức của Chúa - HHN]      

Thứ hai, cái ngẫu nhiên có thể được xem xét như nó vốn có trong nguyên nhân của nó, ut est in sua causa, như là tương lai, như là nondum determinatum ad unum chưa được xác định cho một điều gì đó. Trong trường hợp này, cái ngẫu nhiên được xem xét từ quan điểm của nguyên nhân của nó, như là điều chưa được hiện thực hóa; nó được coi là futurum tương lai, và như vậy nó vẫn còn mở ra những khả tính xác định. Về khả năng nhận thức đối với loại ngẫu nhiên này, no ceria cognitio không thể có tri ​​thức chắc chắn nào về nó. Bởi vì bất cứ ai chỉ xem xét kết quả từ nguyên nhân thì chỉ có một cognitio conjecturalis phỏng đoán; nó có thể diễn ra theo cách này hoặc cách khác. Theo Aquinas, Chúa biết những contingens futurum ngẫu nhiên trong tương lai, cũng như những contingens in se ipso ngẫu nhiên trong tự thân nó. Ngài biết contingentia non solum ut in suis causis, sed etiam prout unumquodque eorum est actu in se ipso, non tamen successive, sed simul [những sự vật ngẫu nhiên không chỉ như chúng tồn tại trong nguyên nhân của chúng mà còn như mỗi sự vật thực sự tồn tại trong chính nó, không phải tuần tự mà là đồng thời]. Ngài biết theo cách này bởi vì trong hiện tại vĩnh hằng của Ngài, Ngài đã tiên đoán mọi thứ trong tương lai. Chúa biết theo cách như vậy, dường như Ngài thấy mọi thứ hiện diện như nhau trong cách hiện diện [Gegenwartigkeit] của mình. [Gegenwärtigkeit của Heidegger thường được dịch là ‘hiện diện’ hoặc ‘tính hiện diện’ là một chiều kích cơ bản của thời gian; không giống như một ‘hiện tại’ tĩnh, nó là cách thức chủ động, hiện sinh mà Dasein/ hiện hữu tương tác với thế giới hiện tại bằng cách đưa các đối tượng, tình huống và chính bản thân nó vào trọng tâm có ý nghĩa; Gegenwärtigkeit đề cập đến cách Heidegger định nghĩa lại thời gian trong kiệt tác Hữu thể và Thời gian của ông; đối với ông, thời gian không chỉ đơn thuần là một chuỗi sự kiện giống như đồng hồ; mà nó là một cấu trúc của Dasein/ hiện hữu được định nghĩa bởi ‘chăm sóc’ và được điều khiển bởi ba trạng thái Ek-sistence xuất thân thời gian cốt lõi: i) Hiện tại chỉ có ý nghĩa khi liên hệ với quá khứ và tương lai của chúng ta; ii) Tương lai (Zu-kunft), Dasein luôn tự phóng chiếu về phía trước vào những khả tính - những gì chúng ta quan tâm, những gì chúng ta hướng tới; iii) Quá khứ, Geworfenheit  chúng ta bị ‘liệng’ vào thế giới với một lịch sử và hoàn cảnh mà mình không lựa chọn; Hiện diện Gegenwart / Gegenwärtigkeit hiện diện tích cực, cuộc dấn thân của chúng ta trong khoảnh khắc hiện tại; chủ động tạo ra hiện tại, Heidegger sử dụng thuật ngữ Gegenwärtigkeit để nhấn mạnh rằng hiện tại không phải là điều gì đó chỉ xảy ra một cách thụ động với Dasein; thay vào đó, nó là một cuộc ‘tạo ra hiện tại’ tích cực; đó là hành động nhận thức và tham gia vào các thực thể trong môi trường của Dasein — chẳng hạn như sử dụng công cụ, tương tác với kẻ khác và trải nghiệm thế giới; hiện tại tức thời của Dasein được định hình và thúc đẩy bởi tương lai được dự phóng và quá khứ được ghi nhớ của Dasein; cách biểu hiện của Gegenwärtigkeit thay đổi dựa trên tính chân thực, khi chúng ta bị cuốn vào sự tuân thủ mù quáng hoặc bị phân tâm bởi những lời bàn tán thường nhật của ‘họ’, thì ‘hiện tại’ của Dasein chỉ được đặc trưng bởi sự nhìn ngắm hoặc tò mò thoáng qua; chúng ta bị phân tâm bởi cái ‘bây giờ’ hời hợt; hiện tại chân thực, Augenblick khoảnh khắc, trong những khoảnh khắc kiên quyết chân thực, chẳng hạn như đối mặt với sự hữu hạn của chính mình, Dasein ngừng bị phân tâm một cách vô thức, Augenblick là phiên bản chân thực của Gegenwärtigkeit—một sự nắm bắt sắc bén, rõ ràng và quyết đoán về khoảnh khắc hiện tại, dựa trên quá khứ và hướng tới tương lai chân thực của Dasein. HHN]; Chúa thấy omnia prout sunt in sua praesentialitate [mọi sự vật đúng như chúng hiện hữu trong tính hiện diện của chúng].

Tất cả điều này hiện diện trước mắt thần thánh không chỉ trong khả năng thiết yếu của nó mà, như Thomas Aquinas nhấn mạnh, trong sự hiện thực hóa riêng lẻ của nó. Và nhờ sự hiện hữu này, bức tranh toàn cảnh thần thánh được hoàn thành một cách bất khả sai lầm. Ngược lại, theo hình ảnh trong câu trả lời của Aquinas tại điểm 3, chúng ta, con người, biết theo cách của một người đi trên đường mà không nhìn thấy những người đi phía sau; nhưng người nhìn bao quát toàn bộ con đường từ vị trí cao hơn sẽ thấy tất cả mọi người đang đi trên đường. Điều 14 Utrum Deus cognoscat enunciabilia [Utrum Deus cognoscat enunciabilia là một cụm từ tiếng Latin ‘Liệu Thiên Chúa có nhận biết các mệnh đề/câu có thể diễn đạt được không?’; đây là tựa đề của Bài 14, Tiết 1, Phần Một trong bộ đại tác phẩm triết học - thần học đồ sộ Summa Theologica Thần học Tổng luận của triết gia kiêm thần học gia vĩ đại thời Trung Cổ, Thánh Thomas Aquinas; bối cảnh và câu hỏi cốt lõi là trong triết học và thần học Trung Cổ, các học giả thường tranh luận về bản chất tri thức của Thiên Chúa; vấn đề đặt ra trong chủ đề này là Liệu tri thức của Chúa có bao gồm tất cả các enunciabilia mệnh đề mà con người có thể lập ra hay không?; một mệnh đề là những câu có thể mang giá trị chân hoặc giả; ví dụ như câu ‘Trời đang mưa’; Aquinas lập luận rằng Thiên Chúa hoàn toàn nhận biết tất cả các mệnh đề vì Thiên Chúa là Đấng Toàn tri, hiểu biết mọi điều và là cội nguồn của mọi chân lý;  mọi mệnh đề, dù được con người tư duy hay biểu đạt ở bất cứ thời điểm nào, đều có thể quy về việc mô tả một khía cạnh của thực tại mà chính Thiên Chúa đã tạo ra và nắm giữ; Aquinas cũng làm rõ sự khác biệt trong cách tiếp nhận và xử lý các ‘mệnh đề’ giữa trí tuệ siêu việt của Thiên Chúa và trí tuệ hữu hạn của con người; con người nhận biết các mệnh đề một cách rời rạc, có trình tự, phải đi từ tiền đề để suy ra kết luận, và bị giới hạn bởi không gian, thời gian, còn Thiên Chúa bao quát toàn bộ thực tại cùng một lúc;  Ngài không cần phải ghép nối các mệnh đề hay suy luận từng bước như con người, bởi vì trí tuệ của Ngài đồng nhất với chính Chân lý Vĩnh cửu.- HHN] đề cập đến việc liệu tri thức của Chúa có bao gồm omnia enuntiabilia quae forman possunt tất cả những gì có thể được phát biểu dưới dạng mệnh đề hay không. Enunciabilia đề cập đến tất cả các phát biểu - tất cả các chân lý khả thể. Chúng ta đã biết [tr.47] rằng một mệnh đề là một συμπλοκή symplokē, một σύνθεσις synthesis một composition kết hợp và διαίρεσις diairésis division chia tách. Ở đây, diễn giải của Aquinas có ý nghĩa trung tâm đối với chúng ta. Câu hỏi đặt ra là liệu Thượng đế có biết các phát biểu khả thẻ theo phương thức cấu thành và phân chia hay không. Đây là bản chất của tri thức hữu hạn, diễn ra một cách tuần tự: intellectus noster de uno in aliud discurrit [trí tuệ của chúng ta tiến triển từ điều này sang điều khác]. Tuy nhiên, ở Thượng đế không có sự tuần tự; không phải là ban đầu Ngài không thể có điều gì đó.

Ví dụ, nếu chúng ta biết quid est homo con người là gì, điều này có nghĩa là non ex hoc intelligimus alia, quae ei insunt chúng ta không hiểu được những điều khác liên quan đến con người từ tri thức này. Khi một người hiểu biết một chủ thể, anh ta không thể rút ra từ đó tất cả các vị ngữ hoàn chỉnh của chủ thể. Thay vào đó, do tính tuần tự, anh ta phải biến những gì đã biết thành một thể thống nhất bằng cách cấu thành hoặc phân chia trong quá trình hình thành các mệnh đề. Nhưng ngược lại, Đức Chúa Trời biết toàn bộ bản chất trong mỗi trường hợp và quaecumque eis accidere possunt bất cứ điều gì có thể diễn ra. Bởi vì Ngài biết per simplicem intelligentiam bằng sự hiểu biết đơn thuần, trong đó tất cả các thuộc tính thuộc về một chủ thể đều được nắm bắt cùng một lúc như thể chúng nằm trong chủ thể đó, được nắm bắt trong bản chất của chúng. Cái với chúng ta là sự gán ghép thuộc tính riêng biệt và kế tiếp nhau thì đối với Đức Chúa Trời lại là một thống nhất nguyên thủy, một đồng nhất tính, một bản thể duy nhất. Điều 7 Utrum scientia Dei sit discursiva - Phải chăng sự hiểu biết (sự nhận thức) của Thiên Chúa mang tính suy luận? một lần nữa khẳng định rằng tri thức của Thiên Chúa không hề mang tính diễn ngôn, nullo modo discursiva, mà theo bản chất của Ngài (xem Điều 4 và 5 của cùng một vấn đề), tri thức của Ngài là sự nhìn thấy toàn thể theo cách nguồn cội, cùng một lúc và trong một khoảnh khắc duy nhất: Deus autem omnia videt in uno - Thiên Chúa nhìn thấy vạn vật trong một thể thống nhất - hoặc Thiên Chúa nhìn thấy tất cả trong một. Chúng ta phải ghi nhớ rằng trong Thiên Chúa có hai loại tri thức, một loại cần thiết và một loại tự do. Nhưng cả hai đều tuyệt đối và tiên nghiệm. Nghĩa là, Thiên Chúa cũng có trước một khái niệm hoàn chỉnh về mọi sự kiện, và biết chắc chắn tuyệt đối điều gì sẽ xảy ra và sẽ xảy ra như thế nào. Ngài sở hữu tất cả các chân lý về tạo vật, và các chân lý về tạo vật cũng cần thiết và chắc chắn đối với Ngài như các chân lý về những gì khả thể. Trong cả hai loại chân lý, đó là vấn đề nhận biết từ khái niệm hiện hữu cụ thể, một tiến hóa đơn giản các xác định hàm ý, tức là của các đồng nhất tính thuần túy.

Giờ đây, rõ ràng động cơ quyết định của Leibniz nằm ở nơi liên quan đến sự đồng hóa giữa veritates facti chân lý sự kiện và veritates rationis chân lý lý trí. Những gì đúng với tinh thần tuyệt đối của Chúa, Leibniz cũng coi đó là lý tưởng nhận thức của con người. Ông [tr.48] định nghĩa ý niệm và bản chất của tri thức con người, tức là, của chân lý và của phát ngôn, từ ý niệm về scientia Dei tri thức Thiên chúa. Nhưng, vì tri thức con người là hữu hạn, nên nó không có visio libera thị kiến tự do tuyệt đối. Ví dụ, chúng ta không có tiên nghiệm, trước mọi kinh nghiệm, một khái niệm toàn diện về Julius Caesar như một chủ thể cá nhân xác định này, do đó khi sở hữu khái niệm chủ thể này, chúng ta có thể phát triển tất cả các vị ngữ/thuộc tính từ nó như là tất yếu thuộc về nó. Leibniz thậm chí còn nói rõ ràng hơn về bản chất của các chân lý ngẫu nhiên - veritates Facti chân lý sự kiện: “Sed in veritatibus contingentibus, etsi praedicatum insit topico, Nuquam tamen de eo potest demostrari, neque unquam ad aequationem seu identitatem revocari potest propositio, sedsolution procedit in infinitum, Deo solo vidente non quidem Finem analyzeis qui nullus est, sed tamen connexionem (terminorum) seu involutionem praedicati in topico, quia ipse videt quidquid seriei inest.” (De Libertate, F. 182). “Tuy nhiên, trong các chân lý ngẫu nhiên, mặc dù vị ngữ/thuộc tính nằm trong chủ ngữ, chúng ta không bao giờ có thể chứng minh điều này, cũng như mệnh đề không bao giờ có thể được quy giản thành một phương trình hay một đồng nhất tính, mà sự phân tích tiến tới vô tận, chỉ có Thiên Chúa mới có thể nhìn thấy, không phải là chung cục của phân tích, vì không có chung cụ, mà là mối liên hệ giữa các thuật ngữ hoặc sự bao hàm của vị ngữ/thuộc tính trong chủ ngữ, vì Ngài nhìn thấy mọi thứ theo chuỗi.” [Về Tự do, L. 265]. Mặc dù với các chân lý ngẫu nhiên, vị ngữ cũng nằm trong chủ ngữ (một đồng nhất tính ẩn tàng), không bao giờ có thể thực hiện được một bằng chứng chặt chẽ. Mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ không thể được quy giản thành một phương trình toán học, mà phép phân tích lại ad infinitum tiến tới vô tận. Trong phép phân tích như vậy về các chân lý lịch sử thành các đồng nhất tính của chúng, chỉ có Thiên Chúa mới nhìn thấy không phải là chung cục của quá trình, vì không có chung cục, mà là toàn bộ sự bao hàm của các vị ngữ trong chủ ngữ, bởi vì Ngài nhìn thấy, và không phải thông qua một quy trình từng bước, những gì nằm trong chuỗi các vị ngữ. (Về vấn đề phân tích các khái niệm và sự cần thiết của phân tích, xem thêm đoạn trích dẫn của Couturat trong La logique de Leibniz Logic của Leibniz, tr.183, chú thích 3: ostenditur ad perfectas demonstrationes veritatum non require perfectos conceptus rerum [người ta chỉ ra rằng các khái niệm hoàn hảo về sự vật không cần thiết cho các chứng minh hoàn hảo về chân lý].)      

Thứ chân lý cần phải phân biệt thì luôn có mối quan hệ với số thông qua khái niệm về chuỗi vô hạn (xem De Libertate – Về Tự do). Chân lý ngẫu nhiên có liên hệ với chân lý tất yếu giống như các đại lượng không thể so sánh được, không thể quy giản về bất kỳ thước đo chung nào, có liên hệ với các đại lượng có thể so sánh được. Nhưng cũng giống như các đại lượng không thể so sánh được [tr.49] cũng chịu sự chi phối của một loại toán học hướng tới adaequatio, tức là tới đồng nhất tính, thì các chân lý ngẫu nhiên cũng chịu sự chi phối của visio Dei thị kiến Thiên Chúa, không cần đến tính diễn ngôn theo chuỗi. Sự phân biệt giữa chân lý suy lý và chân lý sự kiện có thể được nắm bắt theo một cách khác, một cách cũng được định hình trước bởi bản thể học truyền thống. “Hinc jam discimus alias esse propositiones quae pertinent ad Essentias, alias vero quae ad Existentias rerum; Essentiales nimirum sunt quae ex resolutione Terminorum possunt demonstrari (: veritates aeternae)….Ab his vero toto genere differunt Existentiales sive contingentes, quarum veritas a sola Mente infinita a priori intelligitur.” (C. 18, cf. 20) “Do đó, bây giờ chúng ta biết rằng có một số mệnh đề gắn liền với bản chất của sự vật, và những mệnh đề khác gắn liền với sự tồn tại của sự vật. Chắc chắn, những mệnh đề thiết yếu là những mệnh đề có thể được chứng minh thông qua việc phân tích các thuật ngữ veritates aeternae - những chân lý vĩnh hằng…. Thuộc một loại hoàn toàn khác là những mệnh đề hiện sinh hoặc ngẫu nhiên mà chân lý của chúng chỉ được hiểu một cách tiên nghiệm bởi Tâm trí vô hạn.” [Cụm từ Mente infinita không phải là một cụm từ Latin hoàn chỉnh, mà là sự kết hợp giữa hai từ mang nghĩa ‘tâm trí vô tận’ hoặc ‘trí tuệ vô hạn’; trong tiếng Latin cổ, ở các tác phẩm triết học, cụm từ này được viết là Mens infinita - ‘Tâm trí vô cực’ hoặc ‘Trí tuệ vô hạn’: danh từ Mens mang nghĩa là tâm trí, trí tuệ, suy nghĩ, linh hồn hoặc lý trí; tính từ Infinita nghĩa là vô hạn, không có điểm dừng, vô tận, bao la; cụm từ này thường xuất hiện trong các tác phẩm triết học, thần học hoặc văn học cổ điển phương Tây; nó thường được dùng để chỉ Đấng Tối cao - Chúa/Thượng đế - Một trí tuệ hoặc nhận thức vượt ra ngoài mọi giới hạn không gian và thời gian của con người; nó còn diễn ta sự vô hạn của vũ trụ, một số triết gia cổ đại như Epicure được Cicero nhắc đến, đã dùng khái niệm này để mô tả bản chất vô tận của vũ trụ hoặc tự nhiên.-HHN]

Nhưng bất chấp sự khác biệt toto genere về mọi phương diện này, bản chất của các chân lý (các tuyên bố) thiết yếu và hiện sinh vẫn giống nhau ở chỗ cả hai đều là những đồng nhất tính. Nguồn gốc của những chân lý này khác nhau. “Necessariae (veritates), quales Arithmeticae, Geometricae, Logicae fundantur in divino intellectu a voluntate independents…. At Veritates contingentes oriuntur a voluntate Dei non mera, sed optimi seu convenientissimi considerationibus, ab intellectu directa.” (Letter to Bourget, April II, 1710, G. III, 550). “Các chân lý tất yếu, chẳng hạn như các chân lý của số học, hình học và logic, có nền tảng trong trí tuệ thần thánh một cách độc lập với ý chí thần thánh…. Nhưng các chân lý ngẫu nhiên khởi hiện từ ý chí của Thiên Chúa, không chỉ đơn thuần, mà từ một ý chí được định hướng bởi trí tuệ, thông qua những cân nhắc về điều gì là tốt nhất hoặc phù hợp nhất.” - (Thư gửi Bourget, ngày 11 tháng 4 năm 1710, G. III, 550)

Các chân lý tất yếu liên quan đến các khả tính thuần túy có nền tảng trong sự hiểu biết thần thánh, độc lập với ý chí của Chúa. Leibniz bổ sung điều này bởi vì Descartes dạy rằng các chân lý toán học và logic cũng phụ thuộc vào ý chí của Chúa. Nhưng các chân lý ngẫu nhiên, tri ​​thức về những gì thực sự xảy ra, xảy ra như thế nào, và sự tồn tại của những gì được biết trong nhận thức này, phụ thuộc vào ý chí của Chúa, tuy nhiên, không phải vào ý chí thuần túy của Ngài, mà là vào một ý chí được hướng dẫn bởi hiểu biết của Ngài, và tri thức đó lại được hướng dẫn bởi sự cân nhắc về điều gì là tốt nhất và phù hợp nhất, bởi vì thế giới hiện thực là thế giới tốt nhất trong tất cả các thế giới.

[Tr.50] Và trong một đoạn văn khác, Leibniz nói: Ut veritates necessariae solum mindum divinum involvunt, ita contingentes voluntatis decreta (C. 23) [Vì những chân lý tất yếu chỉ liên quan đến trí tuệ linh thánh, nên những chân lý ngẫu nhiên liên quan đến các sắc lệnh của ý chí]. Hoặc: Quodsi propositio sit contingens, non est necessaria connexio, sed tempore variatur et ex suppositio divino decreto, et Libera voluntate pendet (C. 402) [Nếu một mệnh đề là ngẫu nhiên thì không có mối liên hệ cần thiết nào, mà nó thay đổi theo thời gian và theo giả định tùy thuộc vào sắc lệnh linh thánh và ý chí tự do]. Do đó, cũng có hai loại khả tính không thể xảy ra: cái bất khả tính ‘hợp lý’ của tự-mâu thuẫn, và cái không hoàn hảo của những gì là bất khả thể ‘về phương diện đạo đức’ mặc dù không phải là tự-mâu thuẫn. Chân lý là đồng nhất tính. Về nguyên tắc, có thể quy giản tất cả các chân lý về các đồng nhất tính. Các chân lý phái sinh được chia thành hai loại: tất yếu và ngẫu nhiên; chân lý suy lý và chân lý sự kiện, chân lý bản chất và chân lý tồn tại. Nhất tính của cả ba lớp chân lý này bắt nguồn từ scientia Dei Tri thức/Khoa học về Đức Chúa Trời.

Sự đồng hóa các chân lý sự kiện với các chân lý suy lý là lý tưởng về một loại tri thức liên quan đến các hiện hữu thực sự, một tri thức từ các khái niệm thuần túy của lý trí về những gì có thể được trải nghiệm bằng kinh nghiệm, một tri thức về các hiện hữu từ lý tính thuần túy. Lý thuyết này, vốn là động lực phát triển của triết học hiện đại, đã được đưa ra để phê phán, và điều này đã tạo nên tiêu đề cho tác phẩm chính của Kant, Phê phán Lý tính Thuần túy. Đây là mối liên hệ nội tại giữa lý thuyết phán đoán của Leibniz và vấn đề cơ bản của Kant. Một ý định kép đã định hình quan niệm về chân lý của Leibniz. Ông đã cố gắng vừa quy giản các chân lý ngẫu nhiên về các đồng nhất tính, vừa đồng thời duy trì các đặc điểm riêng biệt của các chân lý sự kiện ngẫu nhiên. Điều đó dẫn ông đến việc định nghĩa các nguyên tắc cơ bản của tri thức một cách tương ứng.

Tưởng nhớ Max Scheler

Max Scheler đã qua đời. Ông đang ở giữa một công trình vĩ đại và có phạm vi rộng lớn, ở giai đoạn của một cách tiếp cận mới để tiến tới cái tối thượng và toàn diện, ở khởi đầu của một thời kỳ giảng dạy mới mà ông đặt nhiều hy vọng. Max Scheler, ngoài quy mô và chất lượng đồ sộ của năng suất, còn là lực lượng triết học mạnh mẽ nhất ở Đức hiện đại, thậm chí là ở châu Âu đương đại và ngay cả trong triết học đương đại theo đúng nghĩa. Những khởi đầu triết học của ông được Eucken dẫn dắt; ông bắt đầu với một khoa học thực chứng, sinh học. Ông nhận được động lực quyết định từ Husserl và bộ Khảo sát Logic. Scheler nhận thấy rõ ràng những khả năng mới của hiện tượng học. Ông không tiếp nhận nó [tr.51] một cách hời hợt và sử dụng nó, mà đã phát triển nó về bản chất và thống nhất nó trực tiếp với các vấn đề trung tâm của triết học. Đặc biệt là các phê phán của ông đối với chủ nghĩa hình thức đạo đức là minh chứng cho điều này. Cuộc gặp gỡ với Bergson cũng rất quan trọng đối với ông. (Nhưng những dịp, những thôi thúc và những cơ hội sẽ vẫn vô hiệu nếu chúng không gặp nhau và được biến đổi bởi một ý chí sống động sẵn có. Điều quan trọng không phải là kết quả và sự tiến bộ - những điều này chỉ có thể tìm thấy trong lĩnh vực mà về bản chất là không liên quan.) Tính chất quyết định và đặc trưng trong bản chất của Scheler chính là tính toàn diện trong những câu hỏi của ông. Đứng giữa toàn thể các hiện hữu, ông có một sự nhạy bén khác thường đối với tất cả các khả tính và sức mạnh mới đang khai mở. Ông có một động lực đặc biệt không thể kìm nén để luôn suy nghĩ và diễn giải mọi thứ một cách toàn diện.

Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Scheler, người được nuôi dạy theo đạo Công giáo, trong thời đại sụp đổ, lại đi theo con đường triết học của mình theo hướng ‘Công giáo’ như một sức mạnh thế giới mang tính lịch sử phổ quát, không phải theo nghĩa của Giáo hội. Augustine và Pascal đã có được ý nghĩa mới - mới như những câu trả lời đồng thuận và chống lại Nietzsche. Nhưng khả tính mới này đối với Max Scheler rốt cuộc cũng sụp đổ. Một lần nữa, câu hỏi ‘Con người là gì?’ lại trở thành trọng tâm trong tác phẩm của ông. Ông đặt vấn đề này trong toàn bộ triết học, theo nghĩa thần học của Aristotle. Với sự táo bạo phi thường, ông đã nhìn nhận ý tưởng về một Thiên Chúa yếu đuối, một Đấng không thể là Thiên Chúa nếu không có con người, do đó chính con người được coi là ‘kẻ cộng tác của Thiên Chúa’. Toàn bộ điều này khác xa với chủ nghĩa hữu thần tự mãn hay chủ nghĩa phiếm thần mơ hồ. Hệ tư tưởng của Scheler hướng tới một nhân học triết học, một nỗ lực để làm rõ vị trí đặc biệt của con người. Phải chăng những quan điểm thay đổi của ông là dấu hiệu của tình trạng thiếu nội dung, của sự trống rỗng bên trong? Nhưng người ta nhận ra ở đây - điều mà tất nhiên chỉ một số ít người có thể trực tiếp trải nghiệm trong những cuộc trò chuyện và tranh luận suốt ngày đêm với ông - một nỗi ám ảnh về triết học, điều mà chính ông không thể làm chủ và sau đó ông phải theo đuổi, điều mà trong sự đổ vỡ của tồn tại đương thời thường đẩy ông đến sự bất lực và tuyệt vọng. Nhưng nỗi ám ảnh này chính là bản chất của ông. Và với mỗi sự thay đổi, ông vẫn trung thành với định hướng nội tâm này của bản chất mình trong những cách tiếp cận cùng các nỗ lực luôn mới mẻ. Và lòng trung thành này hẳn là nguồn cội của thiện lành như trẻ thơ mà ông thường thể hiện.

Ngày nay không một nhà triết học nghiêm túc nào lại không mang ơn ông, không ai có thể thay thế khả năng sống động của triết học đã biến mất cùng ông. Tuy nhiên, tính không thể thay thế này lại là dấu hiệu cho tầm vóc vĩ đại của ông. Tầm vóc vĩ đại của một tồn tại như vậy chỉ có thể được đo lường bằng [tr.52] những tiêu chuẩn mà chính nó phải đặt ra. Tầm vóc vĩ đại trong tồn tại triết học của Scheler nằm ở sự đối mặt không ngừng nghỉ với những gì thời gian chỉ mờ nhạt cho phép chúng ta thấy, một cuộc đối mặt với những gì khó có thể tính toán dễ dàng đã được truyền lại cho chúng ta, một cuộc đối mặt với nhân loại không cho phép nhượng bộ và san bằng thông qua chủ nghĩa nhân văn khô khan quay trở lại thời cổ đại. Những gì Dilthey và Max Weber đã gặp phải, mỗi người theo cách riêng của mình, ở Scheler lại đầy nội lực theo một cách hoàn toàn độc đáo và với sức mạnh triết học kiên cường nhất. Max Scheler đã chết. Chúng ta cúi đầu trước số phận của ông. Một lần nữa, con đường triết học lại chìm vào bóng tối.

[Ghi chú dài về Max Scheler: Trong Lời tựa của tập sách Các hình thức tri thức và xã hội, Scheler nhận xét rằng các tác phẩm trong tập sách Xã hội học tri thức, Nhận thức và Lao động là phương tiện để hiểu cả nhân học triết học và siêu hình học của ông.  Nhân học triết học là một nỗ lực nhằm cung cấp một cách giải thích thống nhất về ý nghĩa của con người. Trong một tác phẩm trước đó rất lâu, Ý niệm về Con người, Scheler viết rằng con người là không thể định nghĩa được. Con người không phải là một vật thể, mà đúng hơn là một ‘sự hình thành’, một thứ ‘ở giữa’, một ‘thực thể tự vượt lên chính mình’. Do đó, nỗ lực tìm kiếm một cách giải thích thống nhất không phải là tìm kiếm một định nghĩa, mà là nỗ lực làm rõ chính xác điều gì khiến con người không thể định nghĩa được, điều gì cho thấy con người như một sự hình thành của con người. Nhân học triết học mang tính lịch sử ở chỗ nó nghiên cứu các thế giới quan thống trị chứa đựng một cái nhìn sâu sắc cơ bản về ý nghĩa của việc làm người. Ba cái nhìn sâu sắc thống trị mà Scheler muốn thống nhất là: i) con người với tư cách là homo faber ‘kẻ chế tạo công cụ’, cái nhìn sâu sắc của thuyết tiến hóa Darwin và khoa học; ii) con người với tư cách là động vật có lý trí, cái nhìn sâu sắc định hướng thế giới quan Hy Lạp cổ đại; iii) con người với tư cách là con của Chúa, cái nhìn sâu sắc của thế giới quan Do Thái-Kitô giáo. Đối với Scheler, mỗi cái nhìn sâu sắc đều tiết lộ một khía cạnh đặc thù của con người. Vấn đề là cho đến nay chưa ai chỉ ra được làm thế nào những hiểu biết này được kết hợp lại để tạo thành một chỉnh thể duy nhất, cái thống nhất chính là con người. Trong nhân học triết học của mình, Scheler cố gắng chứng minh rằng con người cũng tham gia vào sự vận động của tinh thần và tinh thần về bản chất khác với sự vận động của sự sống. Con người có một vị trí ‘đặc biệt’ trong vũ trụ bởi vì con người tham gia vào cả sự vận động của sự sống và tinh thần, bởi vì mỗi con người là một tinh thần hiện thân, tức là một cá nhân hữu hạn. Có ít nhất bốn cách để Scheler phân biệt tinh thần với sự sống: i) Tinh thần là hoạt động khách quan hóa, là sự diễn giải thế giới và các thực thể theo ý nghĩa của chúng. Ngược lại, những sinh vật sống đơn thuần liên hệ với các vật thể trong môi trường của chúng không phải như những vật thể, mà như những thứ thỏa mãn các bản năng. Ví dụ, đối với một sinh vật sống, quả táo được trải nghiệm chỉ đơn thuần là thứ để thỏa mãn ham muốn, trong khi đối với một thực thể tinh thần, quả táo được trao tặng như chính quả táo, như một loại thức ăn; ii) Liên quan đến đặc điểm đầu tiên này là phẩm chất tiềm ẩn về giá trị của tinh thần. Sự vận động của tinh thần là sự bộc lộ giá trị. Theo Scheler, khát vọng sống mù quáng về giá trị và chỉ được thúc đẩy bởi sự thỏa mãn lớn hơn. Tinh thần được thúc đẩy bởi điều thiện và được cấu trúc theo agape, một tình yêu thương bác ái và hy sinh; iii) Tinh thần là ý thức về bản thân. Mỗi sinh vật sống, nhờ có thân thể, thể hiện một loại ý thức về thân thể, một mối quan hệ của bản thân với người khác trong một môi trường nhất định. Những sinh linh tâm linh không chỉ có thể tự coi mình là đối tượng để phản chiếu, và do đó có thể phê phán bản thân mình là ai hoặc là gì, mà còn nhận thức được bản thân mình đang được người khác nhìn nhận, có một thế giới trải nghiệm khác biệt so với người khác; iv) Đặc điểm phân biệt cuối cùng là phẩm chất cởi mở với thế giới của tinh thần. Những sinh linh tâm linh không bị giới hạn trong sự phản chiếu của họ vào hiện tại, hoặc thậm chí vào bối cảnh cụ thể của những mối quan tâm trước mắt trong cuộc sống của họ. Loại cởi mở với thế giới này chính là điều được nắm bắt bởi cảm giác kinh ngạc của người Hy Lạp, một sự kinh ngạc và sửng sốt siêu hình rằng có cái gì đó chứ không phải là hư vô. Những sinh linh tâm linh có thể chiêm nghiệm ý nghĩa của sự tồn tại, thời gian, cái chết cũng như mục đích của sự tồn tại. Đây không chỉ là những mối quan tâm lý thuyết, mà là những điều vượt lên trên, hoặc nằm ngoài, cuộc sống.

Chính cảm giác về tinh thần như một thế giới cởi mở đã dẫn Scheler đến những suy ngẫm cuối cùng của ông về nền tảng của mọi sự tồn tại hay Weltgrund. Những suy ngẫm cuối cùng này không được nhìn nhận từ quan điểm tôn giáo, mà từ quan điểm siêu hình. Ở giai đoạn cuối cùng trong tư tưởng của mình, Scheler ngày càng phê phán tôn giáo và nhận thấy rằng triết học vẫn trung thực hơn với ý nghĩa của con người như một thế giới mở. Scheler viết rằng tôn giáo có xu hướng che giấu sự mở cửa này bằng cách đặt ra một khái niệm cố định hoặc chắc chắn nào đó về Thượng đế. Ngược lại, sự mở cửa triệt để của tinh thần cho thấy rằng nền tảng của mọi sự tồn tại tự nó đang bị cuốn vào một quá trình trở thành. Quan niệm của Scheler về Thượng đế cũng thay đổi. Trong tư tưởng sau này của ông, Thượng đế là một sự trở thành diễn ra trong và thông qua hành động của tất cả các sinh linh tâm linh. Cần có lòng can đảm lớn lao để đối mặt với một thế giới không có ý nghĩa cố định, một thế giới mà ý nghĩa của nó phụ thuộc vào hành động của mỗi con người. Nỗ lực xây dựng siêu hình học của Scheler là một cách tiếp cận mang tính suy đoán hơn đối với việc xem xét sự tồn tại của con người, nhưng bước đi mang tính suy đoán này được thúc đẩy bởi sự hiểu biết đầy đủ hơn về sự cởi mở nguyên thủy và đầy yêu thương mà con người dành cho thế giới. Theo Davis, Zachary and Anthony Steinbock (2024). Max Scheler, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Spring 2024 Edition), Edward N. Zalta & Uri Nodelman (eds.).- HHN]

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.