Powered By Blogger

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXVI)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

3. Vật thể và Thế giới Tự nhiên

Bóng tối không thực sự trở thành bóng tối (và tương ứng, đĩa tròn không được coi là màu trắng) cho đến khi nó không còn hiện diện trước mặt chúng ta như một thứ để nhìn thấy, mà bao quanh chúng ta, trở thành môi trường mà chúng ta tự thiết lập. Hiện tượng này chỉ trở nên dễ hiểu nếu cảnh tượng, không phải là một tập hợp các vật thể, một bức tranh khảm các phẩm chất được sắp xếp trước một chủ thể phi vũ trụ, [Trong triết học, acosmism thuyết phi vũ trụ là quan điểm cho rằng Thượng đế là thực tại duy nhất, tối thượng, còn các vật thể và sự kiện hữu hạn không có sự tồn tại độc lập; thuyết phi vũ trụ thường được đồng nhất với pantheism phiếm thần luận, tin rằng mọi thứ đều là Thượng đế; G.W.F. Hegel đã đặt ra thuật ngữ này để bảo vệ Benedict de Spinoza, người bị buộc tội vô thần vì đã bác bỏ quan điểm truyền thống về một thế giới được tạo ra tồn tại bên ngoài Thượng đế; Hegel lập luận rằng Spinoza không thể là người vô thần vì những người theo thuyết phiếm thần cho rằng mọi thứ đều là Thượng đế, trong khi những người vô thần loại trừ hoàn toàn Thượng đế và coi một thế giới không có Thượng đế là thực tại duy nhất; hơn nữa, vì vũ trụ của Spinoza là một phần của Thượng đế, nên nó không phải là những gì chúng ta thấy; ông ta theo thuyết phi vũ trụ ở chỗ ‘phi vũ trụ’ dường như phủ nhận vũ trụ - tuy nhiên quan điểm này rất xa lạ với tư tưởng của Spinoza. HHN] len lỏi quanh chủ thể và mời gọi sự tương tác với nó. Ánh sáng không đứng về phía vật thể, nó là điều chúng ta giả định, điều chúng ta coi là chuẩn mực, trong khi vật thể được chiếu sáng nổi bật trước mặt chúng ta và đối diện với chúng ta. Ánh sáng không phải là màu sắc, tự nó cũng không phải là ánh sáng, nó tồn tại trước sự phân biệt giữa màu sắc và độ sáng. Đó là lý do tại sao nó luôn có xu hướng trở nên ‘trung tính’ đối với chúng ta. Vùng bán tối mà chúng ta đang ở trong đó trở nên tự nhiên đến mức nó thậm chí không còn được nhận thức là vùng bán tối nữa. Ánh sáng điện, xuất hiện màu vàng ngay khi rời khỏi ánh sáng ban ngày, chẳng mấy chốc sẽ không còn màu sắc xác định nào đối với chúng ta nữa, và nếu một chút ánh sáng ban ngày còn sót lại lọt vào phòng thì chính thứ ánh sáng ‘trung tính khách quan’ này dường như lại có màu xanh lam.26 Chúng ta không được nói rằng, vì ánh sáng điện màu vàng được cảm nhận là màu vàng, nên chúng ta tính đến nó trong việc đánh giá các hiện tượng và do đó về mặt lý thuyết khám phá ra màu sắc thực sự của các vật thể. Chúng ta cũng không được nói rằng khi ánh sáng vàng trở nên bao trùm tất cả thì ta nhìn thấy nó như ánh sáng ban ngày, và bằng cách này màu sắc của các vật thể khác vẫn thực sự không đổi. Chúng ta phải nói rằng ánh sáng vàng, khi đảm nhận chức năng chiếu sáng, có xu hướng trở nên ưu tiên hơn bất kỳ màu sắc nào, có xu hướng hướng tới sự vắng mặt của màu sắc, và tương ứng, các vật thể phân phối các màu sắc của quang phổ của chúng theo mức độ và phương thức [tr.363] kháng cự của chúng đối với bầu không khí mới này. Do đó, mọi màu sắc như một quale thuộc tính đều được trung gian bởi một hàm màu, [Trong khoa học máy tính, color function đề cập đến các hàm trong mạng Petri xác định số lượng và màu sắc của các dấu hiệu được tiêu thụ hoặc tạo ra trong quá trình bắn; các hàm này bao gồm Identity, Diffusion và Successor, mỗi hàm phục vụ một mục đích cụ thể trong việc mô hình hóa quá trình chọn đối tượng, đồng bộ hóa và lựa chọn trong mạng. HHN] và trở nên xác định liên quan đến một mức độ có thể thay đổi. Mức độ được thiết lập, và cùng với đó là tất cả các giá trị màu sắc phụ thuộc vào nó, ngay khi chúng ta bắt đầu sống trong bầu không khí hiện hành và phân bổ lại cho các vật thể màu sắc của quang phổ theo yêu cầu của quy ước cơ bản này. Cư ngụ trong một khung màu sắc nhất định, kéo theo chuyển đổi, là một hoạt động của cơ thể, và tôi không thể thực hiện theo cách nào khác là bước vào bầu không khí mới, bởi vì cơ thể là sức mạnh tổng quát để tôi cư ngụ trong tất cả các môi trường mà thế giới chứa đựng, là chìa khóa cho tất cả những chuyển đổi và tương đương giữ cho nó ổn định. Do đó, ánh sáng chỉ là một yếu tố của một cấu trúc phức tạp, các yếu tố khác là tổ chức của trường như cơ thể tạo ra và vật thể được chiếu sáng trong sự ổn định của nó. Các tương quan chức năng có thể được phát hiện giữa ba hiện tượng này chỉ là biểu hiện của tình trạng ‘cùng tồn tại thiết yếu’ của chúng.27

Điều này có thể được làm rõ hơn bằng cách xem xét kỹ hai yếu tố sau. Chúng ta nên hiểu gì về tổ chức của trường? Chúng ta đã thấy rằng, nếu đặt một tờ giấy trắng vào chùm ánh sáng phát ra từ đèn hồ quang – chùm ánh sáng trước đó được hòa quyện với đĩa mà nó chiếu vào và được tri giác như một hình nón đặc – thì ngay lập tức chùm ánh sáng và đĩa bị tách rời và ánh sáng mang đặc tính của ánh sáng. Việc đưa tờ giấy vào chùm ánh sáng, bằng cách buộc ta phải nhận ra rõ ràng ‘tính không đặc’ của hình nón ánh sáng, đã làm thay đổi ý nghĩa của nó so với đĩa đỡ nó và làm nổi bật đặc tính của nó như là ánh sáng. Dường như có một sự không tương thích, được trải nghiệm rõ rệt, giữa hình ảnh tờ giấy được chiếu sáng và hình ảnh một hình nón đặc, và dường như ý nghĩa của một phần của cảnh tượng đã dẫn đến việc đánh giá lại ý nghĩa của toàn bộ. Tương tự như vậy, chúng ta đã thấy rằng trong các phần khác nhau của trường thị giác được xem xét riêng lẻ, một mặt, màu sắc đặc trưng của vật thể và mặt khác, ánh sáng là không thể phân biệt được, nhưng trong trường thị giác được xem xét toàn bộ và thông qua một loại tác động tương hỗ trong đó mỗi phần được hưởng lợi từ cấu hình của phần còn lại, một hiệu ứng ánh sáng tổng thể xuất hiện và ban cho mỗi màu sắc cục bộ giá trị ‘thực’ của nó. Ở đây, một lần nữa, dường như [tr.364] các phần của cảnh tượng, không thể tự mình gợi lên tầm nhìn về ánh sáng, đã làm cho điều này trở nên khả thể nhờ sự kết hợp của chúng, và cũng như thể, gợi lên các giá trị màu sắc trải rộng khắp trường, mà ai đó đã đọc được khả tính của một biến đổi có hệ thống. Khi một họa sĩ muốn miêu tả một vật thể nổi bật nào đó, anh ta làm điều đó không phải bằng cách áp dụng một màu sáng cho vật thể đó mà bằng cách phân bổ ánh sáng và bóng tối phù hợp trên các vật thể xung quanh.28 Nếu ta thoáng thấy một họa tiết rỗng như một hình nổi, ví dụ như một con dấu, ta đột nhiên có ấn tượng về một ánh sáng kỳ diệu phát ra từ bên trong vật thể. Điều này là do mối quan hệ giữa ánh sáng và bóng tối trên con dấu khi đó ngược lại với những gì đáng lẽ phải có do ánh sáng tại thời điểm đó. Nếu ta di chuyển một chiếc đèn xung quanh một bức tượng bán thân ở một khoảng cách không đổi, ngay cả khi bản thân chiếc đèn không nhìn thấy được, ta vẫn thấy sự quay của nguồn sáng trong phức hợp ánh sáng và màu sắc thay đổi, đó là tất cả những gì được cho.29 Khi đó, có một ‘logic của ánh sáng’30 hoặc một ‘sự tổng hợp của ánh sáng’,31 một khả năng kết hợp của các phần của trường thị giác, có thể được xác định rõ ràng trong các mệnh đề phân tách, như khi họa sĩ cố gắng biện minh cho tác phẩm của mình với một nhà phê bình nghệ thuật, nhưng chủ yếu được trải nghiệm như sự nhất quán của bức tranh hoặc thực tế của cảnh tượng. Hơn nữa, có một logic tổng thể của bức tranh hoặc cảnh tượng, một sự mạch lạc cảm nhận được về màu sắc, hình thức không gian và ý nghĩa của vật thể. Một bức tranh trong phòng trưng bày nghệ thuật, khi được nhìn ở khoảng cách thích hợp, có ánh sáng nội tại giúp mỗi mảng màu không chỉ có giá trị màu sắc mà còn có một giá trị đại diện nhất định. Khi nhìn quá gần, nó bị ảnh hưởng bởi ánh sáng chủ đạo của phòng trưng bày nghệ thuật, và các màu sắc ‘khi đó không còn hoạt động theo cách đại diện nữa, và không còn cho chúng ta thấy hình ảnh của các vật thể nhất định, mà chỉ giống như những nét vẽ nguệch ngoạc trên một tấm vải’.32 Khi nhìn vào một cảnh núi, ta áp dụng thái độ phê phán và tách riêng một phần khung cảnh, thì chính màu sắc sẽ thay đổi, và màu xanh lá cây, vốn là màu xanh đồng cỏ, khi được tách ra khỏi bối cảnh của nó, sẽ mất đi độ đậm và màu sắc cũng như giá trị đại diện của nó [tr.365].33

Màu sắc không bao giờ chỉ đơn thuần là một màu sắc, mà là màu sắc của một vật thể nhất định, và màu xanh của một tấm thảm sẽ không bao giờ giống như vậy nếu nó không phải là màu xanh của len. Màu sắc của trường thị giác, như chúng ta đã thấy trước đó, tạo thành một hệ thống có trật tự xung quanh một yếu tố chủ đạo, đó là ánh sáng được xem như một cấp độ. Giờ đây, chúng ta bắt đầu thấy một ý nghĩa sâu sắc hơn trong sự tổ chức của một trường: đó không chỉ là màu sắc, mà còn là các hình dạng hình học, tất cả dữ liệu cảm giác và ý nghĩa của các vật thể tạo thành một hệ thống. Toàn bộ tri giác của chúng ta được thúc đẩy bởi một logic gán cho mỗi vật thể những đặc điểm xác định của nó dựa trên những đặc điểm của phần còn lại, và loại bỏ tất cả dữ liệu lạc lõng như là không có thật; nó hoàn toàn được duy trì bởi sự chắc chắn của thế giới. Bằng cách này, cuối cùng chúng ta thấy được ý nghĩa thực sự của các hằng số tri giác. Hằng số của màu sắc chỉ là một thành phần trừu tượng của hằng số sự vật, mà đến lượt nó lại dựa trên hằng số nguyên thủy của thế giới như là chân trời của tất cả kinh nghiệm của chúng ta. Vậy nên, không phải vì tôi nhận thấy màu sắc không đổi dưới nhiều loại ánh sáng khác nhau mà tôi tin vào sự tồn tại của vạn vật, cũng không phải vạn vật là một tập hợp các đặc điểm không đổi. Ngược lại, chính vì tri giác của tôi tự nó mở ra với một thế giới và với vạn vật mà tôi khám phá ra những màu sắc không đổi. Hiện tượng bất biến là một hiện tượng tổng quát. Người ta đã thấy có thể nói về sự bất biến của âm thanh,34 nhiệt độ, trọng lượng,35 và thực sự là dữ liệu theo nghĩa chặt chẽ của xúc giác, một sự bất biến tự nó được trung gian bởi một số cấu trúc nhất định, một số ‘phương thức xuất hiện’ của các hiện tượng trong mỗi trường cảm giác này. Tri giác về trọng lượng vẫn không thay đổi bất kể các cơ bắp nào được huy động và bất kể vị trí ban đầu của chúng. Khi một vật được nâng lên với đôi mắt nhắm lại, thì trọng lượng của nó không khác nhau, bất kể tay có mang thêm trọng lượng hay không, và bất kể trọng lượng này tạo áp lực lên mu bàn tay hay lực kéo lên lòng bàn tay—bất kể tay được tự do hay bị buộc chặt theo cách mà chỉ các ngón tay hoạt động—bất kể một hay nhiều ngón tay thực hiện nhiệm vụ—bất kể vật được nâng lên bằng tay hay bằng đầu, chân hoặc răng—và cuối cùng bất kể vật được nâng lên trong không khí hay trong [tr.366] nước. Như vậy, ấn tượng xúc giác được ‘diễn giải’ dựa trên bản chất và số lượng các bộ phận cơ thể tham gia, và thậm chí cả các hoàn cảnh vật lý mà nó xuất hiện; do đó, các ấn tượng, tự bản thân chúng rất khác nhau, chẳng hạn như áp lực lên da trán và lên bàn tay, đều truyền đạt cùng một tri giác về trọng lượng. Ở đây không thể giả định rằng việc diễn giải dựa trên bất kỳ sự quy nạp rõ ràng nào, và trong thí nghiệm trước đó, chủ thể đã có thể đo lường tác động của các biến số khác nhau này lên trọng lượng thực tế của vật thể. Có lẽ ông ta chưa bao giờ có dịp diễn giải áp lực phía trước theo trọng lượng hoặc, để tìm ra thang đo trọng lượng thông thường, cộng thêm vào ấn tượng cục bộ của các ngón tay thì trọng lượng của cánh tay đã giảm đi do nhúng trong nước. Ngay cả khi thừa nhận rằng, thông qua việc sử dụng cơ thể, đối tượng đã dần dần phát triển một thang đo tương đương trọng lượng, và học được rằng một ấn tượng nhất định được tạo ra thông qua các cơ ở ngón tay tương đương với một ấn tượng khác bắt nguồn từ toàn bộ bàn tay, thì những suy luận như vậy - vì chúng được áp dụng cho các bộ phận cơ thể chưa bao giờ được sử dụng để nâng vật nặng - dù sao cũng phải được thực hiện trong khuôn khổ một tri ​​thức toàn diện về cơ thể, bao quát một cách có hệ thống tất cả các bộ phận của nó. Sự bất biến của trọng lượng không phải là một sự bất biến thực sự, hay sự tồn tại vĩnh viễn trong chúng ta của một số ‘ấn tượng về trọng lượng’, có được thông qua những bộ phận cơ thể được sử dụng thường xuyên nhất, và đạt được bằng sự liên tưởng trong các trường hợp còn lại. Vậy, liệu trọng lượng của vật thể có thể được coi là một đại lượng bất biến về mặt lý thuyết, và tri giác về trọng lượng là một phán đoán mà nhờ đó, ấn tượng và các hoàn cảnh vật lý mà nó xảy ra được đưa vào mối quan hệ với nhau trong mỗi trường hợp, chúng ta nhận ra bằng một loại vật lý tự nhiên một mối quan hệ không đổi giữa hai biến số này? Nhưng điều này chỉ có thể đúng theo một cách nói nào đó: chúng ta không hiểu cơ thể mình và sức mạnh, trọng lượng và phạm vi hoạt động của các cơ quan như một kỹ sư hiểu cỗ máy mà anh ta đã lắp ráp từng phần. Và khi chúng ta so sánh công việc của bàn tay với công việc của các ngón tay, thì chính trên nền tảng tiềm năng toàn diện của các chi chúng ta đã biết cho đến nay chúng vốn được phân biệt hoặc đồng nhất, và trong sự thống nhất của một cái ‘Tôi có thể’ mà các hoạt động của các bộ phận khác nhau của cơ thể xuất hiện tương đương. Tương ứng, những ‘ấn tượng’ do mỗi ấn tượng đó mang lại không thực sự khác biệt và liên quan đến nhau chỉ bằng một cách giải thích rõ ràng, mà ngay lập tức hiện lên như [tr.367] những biểu hiện khác nhau của trọng lượng ‘thực’, và nhất tính tiền khách quan của sự vật tương quan với nhất tính tiền khách quan của cơ thể. Như vậy, trọng lượng xuất hiện như một thuộc tính có thể nhận biết được của một vật thể trên nền tảng cơ thể chúng ta như một hệ thống các cử chỉ tương đương. Phân tích về tri giác trọng lượng này làm sáng tỏ toàn bộ tri giác xúc giác: chuyển động của chính cơ thể mình đối với xúc giác cũng giống như ánh sáng đối với thị giác vậy.36

Tất cả các tri giác xúc giác, trong khi mở ra một ‘thuộc tính’ khách quan, đều bao gồm một thành phần thể chất; ví dụ, việc xác định vị trí xúc giác của một vật thể cho biết vị trí của nó so với các điểm chính của hình ảnh cơ thể. Thuộc tính này, thoạt nhìn, tạo ra sự phân biệt tuyệt đối giữa xúc giác và thị giác, trên thực tế lại cho phép kết hợp chúng lại với nhau. Đúng là vật thể hữu hình nằm trước mặt chúng ta chứ không phải trên mắt chúng ta, nhưng chúng ta đã thấy rằng cuối cùng, vị trí, kích thước hoặc hình dạng hữu hình được xác định bởi hướng, phạm vi và sự tập trung của ánh mắt chúng ta vào chúng. Đúng là xúc giác thụ động - ví dụ như xúc giác bên trong tai hoặc mũi, và nói chung ở tất cả các bộ phận cơ thể thường được che phủ - hầu như không cho chúng ta biết gì ngoài trạng thái của chính cơ thể chúng ta và hầu như không nói gì về vật thể. Ngay cả trên những phần nhạy cảm nhất của bề mặt xúc giác, áp lực mà không kèm theo chuyển động cũng tạo ra một hiện tượng khó nhận biết.37 Nhưng cũng có thị giác thụ động, không có ánh nhìn cụ thể hướng đến, như trường hợp ánh sáng chói lóa, không mở ra một không gian khách quan trước mắt chúng ta, và trong đó ánh sáng không còn là ánh sáng mà trở thành thứ gì đó đau đớn xâm chiếm chính mắt chúng ta. Và giống như ánh nhìn khám phá của thị giác thực sự, ‘chạm biết’38 [‘Knowing touch’ thường ám chỉ khả năng nhận biết, hiểu hoặc cảm nhận thế giới thông qua haptic perception xúc giác, nơi đôi bàn tay hoặc cơ thể ‘trò chuyện’ với môi trường để thu thập thông tin; nó kết hợp cảm giác vật lý với nhận thức tri giác, thường được nghiên cứu trong tâm lý học nhận thức hoặc trong các lĩnh vực trị liệu như osteopathic thao tác xương. HHN] đưa chúng ta ra ngoài cơ thể thông qua chuyển động. Khi một tay tôi chạm vào tay kia, bàn tay chuyển động đóng vai trò là chủ thể và bàn tay kia là đối tượng.39 Có những hiện tượng xúc giác, những phẩm chất xúc giác được cho là có, như độ thô ráp và độ mịn, sẽ biến mất hoàn toàn nếu chuyển động khám phá bị loại bỏ. Chuyển động và thời gian không chỉ là điều kiện khách quan của cảm giác ‘chạm biết’, mà còn là thành phần hiện tượng của dữ liệu xúc giác. Chúng tạo ra mô hình của các hiện tượng xúc giác, giống như ánh sáng làm nổi bật cấu hình của một bề mặt có thể nhìn thấy [tr.368].40 Độ mịn không phải là tập hợp các áp lực tương tự, mà là cách mà một bề mặt sử dụng thời gian mà chúng ta dành cho việc khám phá bằng xúc giác hoặc điều chỉnh chuyển động của bàn tay chúng ta. Phong cách của những điều chỉnh này đặc trưng hóa rất nhiều chế độ xuất hiện của hiện tượng xúc giác, không thể quy giản về nhau và không thể suy ra từ một cảm giác xúc giác cơ bản. Có những hiện tượng Oberflächen Tastungen ‘chạm bề mặt’ trong đó một vật thể xúc giác hai chiều được đưa ra để chạm vào và ít nhiều chống lại sự xâm nhập, môi trường xúc giác ba chiều, tương tự như các vùng màu, ví dụ như luồng không khí hoặc nước mà chúng ta cho phép chảy qua tay mình—và cũng có tính Durchtastete Flächen trong suốt xúc giác. Độ ẩm, độ nhờn và độ dính thuộc về một lớp cấu trúc phức tạp hơn.41 Khi chạm vào một mảnh gỗ khắc, lập tức ta phân biệt được vân gỗ do cấu trúc tự nhiên của nó khác cấu trúc nhân tạo mà người thợ chạm tạo ra, giống như tai phân biệt được một nốt nhạc từ một tập hợp các âm thanh.42 Ở đây có nhiều cấu trúc khác nhau của chuyển động khám phá, các hiện tượng tương ứng không thể được coi là tập hợp ấn tượng xúc giác cơ bản, vì các ấn tượng thành phần thậm chí không được cung cấp cho đối tượng: tôi chạm vào mảnh vải lanh hoặc cái bàn chải, giữa các sợi lông của bàn chải và các sợi của vải lanh, không có một khoảng trống xúc giác, mà là một không gian xúc giác không có vật chất, một nền xúc giác.43

Hiện tượng xúc giác phức tạp thực sự khó có thể phân tích được, vì những lý do tương tự, cũng không thể phân tích được về mặt lý thuyết, và nếu chúng ta cố gắng định nghĩa độ cứng hay độ mềm, độ thô ráp hay độ mịn, cát hay mật ong như những quy luật chi phối sự phát triển của trải nghiệm xúc giác, thì vẫn cần phải bao gồm trong phần sau tri ​​thức về các yếu tố mà quy luật ấy điều phối. Người chạm vào và nhận ra cái thô ráp và cái mịn màng không đặt ra các yếu tố của chúng hoặc mối quan hệ giữa các yếu tố đó, cũng không suy nghĩ về chúng một cách triệt để. Không phải ý thức chạm vào hay cảm nhận, mà là bàn tay, và bàn tay, như Kant nói, là ‘một [tr.369] bộ não bên ngoài của con người’.44 Trong kinh nghiệm thị giác, đẩy sự khách thể hóa đi xa hơn kinh nghiệm xúc giác, ít nhất là thoạt nhìn, chúng ta có thể tự huyễn hoặc rằng mình cấu thành thế giới, bởi vì nó trình bày cho ta một cảnh tượng trải rộng trước mặt ở một khoảng cách nhất định, và cho chúng ta ảo tưởng về việc hiện diện ngay lập tức ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả. Mặt khác, kinh nghiệm xúc giác bám vào bề mặt cơ thể chúng ta; chúng ta không thể trải nó ra trước mặt, và nó không bao giờ thực sự trở thành một đối tượng. Tương ứng, với tư cách là chủ thể của xúc giác, tôi không thể tự huyễn hoặc rằng tôi ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả; trong trường hợp này, tôi không thể quên rằng chính qua cơ thể mình mà tôi tiếp xúc với thế giới, và trải nghiệm xúc giác diễn ra ‘phía trước’ tôi, chứ không tập trung vào tôi. Không phải tôi chạm vào, mà là cơ thể tôi; khi tôi chạm, tôi không nghĩ đến tính đa dạng, mà đôi tay tôi khám phá lại một phong cách nhất định, vốn là một phần tiềm năng vận động của chúng, và đây là điều chúng ta muốn nói khi đề cập đến trường tri giác. Tôi chỉ có thể chạm một cách hiệu quả nếu hiện tượng đó tìm thấy sự cộng hưởng bên trong tôi, nếu nó phù hợp với một bản chất nhất định của ý thức tôi, và nếu cơ quan tiếp nhận nó được đồng bộ hóa với nó. Nhất tính và đồng nhất tính của hiện tượng xúc giác không xuất hiện thông qua bất kỳ sự tổng hợp nhận thức nào trong khái niệm, mà được xây dựng dựa trên nhất tính và đồng nhất tính của cơ thể như một tổng thể hiệp đồng. ‘Vào ngày đứa trẻ sử dụng bàn tay của mình như một công cụ duy nhất để nắm bắt, nó cũng trở thành một công cụ duy nhất để chạm vào’.45 Tôi không chỉ sử dụng các ngón tay và toàn bộ cơ thể mình như một cơ quan duy nhất, mà còn, nhờ sự thống nhất này của cơ thể, các tri giác xúc giác thu được thông qua một cơ quan được chuyển dịch ngay lập tức sang ngôn ngữ của phần còn lại; ví dụ, sự tiếp xúc của lưng hoặc ngực chúng ta với vải lanh hoặc len vẫn còn trong trí nhớ dưới dạng tiếp xúc bằng tay,46 và có thể nói một cách tổng quát hơn rằng, trong hồi tưởng, chúng ta có thể chạm vào một vật thể bằng các bộ phận cơ thể mà thực tế chưa bao giờ tiếp xúc với nó.47 Do đó, mỗi lần tiếp xúc của một vật thể với một phần cơ thể khách quan của chúng ta thực chất là một lần tiếp xúc với toàn bộ cơ thể hiện tượng hiện tại hoặc khả thể. Đó là cách mà tính bất biến của một vật thể xúc giác có thể xuất hiện thông qua [tr.370] các biểu hiện khác nhau của nó. Nó là một tính bất biến-đối với-cơ thể -tôi, một bất biến trong toàn bộ hành vi của nó. Cơ thể được đưa đến trải nghiệm xúc giác bởi tất cả các bề mặt và tất cả các cơ quan của nó cùng một lúc, và mang theo một cấu trúc điển hình nhất định của ‘thế giới’ xúc giác.

Giờ đây, chúng ta có thể tiếp cận việc phân tích sự vật như một thực thể liên giác quan. Sự vật được thể hiện qua thị giác [đĩa mặt trăng nhợt nhạt] hoặc xúc giác [hộp sọ của tôi, như tôi có thể cảm nhận khi chạm vào nó], và vẫn giữ nguyên như vậy đối với chúng ta qua một loạt trải nghiệm, không phải là một quale phẩm chất tồn tại thực sự, cũng không phải là khái niệm hay ý thức về một thuộc tính khách quan như vậy, mà là những gì được khám phá hoặc tiếp nhận bởi ánh nhìn hoặc chuyển động của chúng ta, một câu hỏi mà những sự vật này cung cấp một câu trả lời hoàn toàn thích hợp. Đối tượng được thể hiện qua ánh nhìn hoặc xúc giác khơi gợi một ý định vận động nhất định, không hướng đến chuyển động của chính cơ thể mà từ đó, như thể, những chuyển động ấy được treo lơ lửng. Và chừng nào bàn tay tôi biết được độ cứng và độ mềm, và ánh mắt tôi biết được ánh sáng của mặt trăng, thì đó là một cách nhất định để kết nối với hiện tượng và giao tiếp với nó. Độ cứng và độ mềm, độ nhám và độ mịn, ánh trăng và ánh nắng mặt trời, hiện diện trong ký ức của chúng ta, không phải chủ yếu như những nội dung cảm giác, mà như những kiểu cộng sinh nhất định, những cách thức nhất định mà thế giới bên ngoài xâm chiếm chúng ta và những cách thức nhất định mà chúng ta đối phó với sự xâm chiếm này, và ký ức ở đây chỉ đơn thuần giải phóng khuôn khổ của tri giác khỏi nơi nó bắt nguồn. Nếu các hằng số của mỗi giác quan được hiểu như vậy, thì câu hỏi về việc định nghĩa thực thể liên giác quan mà chúng hợp nhất thành như một tập hợp các thuộc tính ổn định hay như khái niệm về tập hợp này, sẽ không nảy sinh. Các ‘thuộc tính’ cảm giác của một vật thể cùng nhau tạo thành một và cùng một vật thể, giống như ánh nhìn, xúc giác và tất cả các giác quan khác của tôi cùng nhau là sức mạnh của một và cùng một cơ thể được tích hợp vào một và cùng một hành động. Bề mặt mà tôi sắp nhận ra là bề mặt của chiếc bàn, khi nhìn thoáng qua, đã thôi thúc tôi tập trung vào nó, và đòi hỏi những chuyển động hội tụ sẽ ban cho nó khía cạnh ‘thực’ của nó. Tương tự, bất kỳ vật thể nào được trình bày cho một giác quan đều tự gợi lên hoạt động hài hòa của tất cả các giác quan khác. Tôi nhìn thấy màu sắc bề mặt bởi vì tôi có một trường thị giác, và bởi vì sự sắp xếp của trường đó dẫn ánh nhìn của tôi đến bề mặt đó—tôi tri giác một vật thể bởi vì tôi có một trường tồn tại và bởi vì mỗi hiện tượng, [tr.371] khi xuất hiện, thu hút toàn bộ cơ thể tôi như một hệ thống năng lực tri giác về phía trường đó. Tôi chạy xuyên qua các hình ảnh và đạt đến màu sắc thực sự hoặc hình dạng thực sự khi trải nghiệm của tôi đạt đến độ rõ nét tối đa, bất chấp việc Berkeley có thể phản bác rằng một con ruồi sẽ nhìn thấy cùng một vật thể khác nhau hoặc một kính hiển vi mạnh hơn sẽ biến đổi nó: những hình ảnh khác nhau này đối với tôi là những hình ảnh của một cảnh tượng thực sự nhất định, trong đó cấu hình được tri giác, với mức độ rõ nét đủ, đạt đến độ phong phú tối đa của nó.48 Tôi có các vật thể thị giác bởi vì tôi có một trường thị giác trong đó độ phong phú và độ rõ nét tỷ lệ nghịch với nhau, và bởi vì hai yêu cầu này, mỗi yêu cầu được xem xét riêng lẻ có thể được đưa đến vô cùng, khi được kết hợp lại, tạo ra một đỉnh cao nhất định và sự cân bằng tối ưu trong quá trình tri giác. Tương tự như vậy, điều mà tôi gọi là trải nghiệm về sự vật hay về thực tại—không chỉ là thực tại dành cho thị giác hay xúc giác, mà là một thực tại tuyệt đối—chính là sự cùng tồn tại trọn vẹn của tôi với hiện tượng, vào thời điểm nó đạt đến mức độ biểu đạt tối đa về mọi mặt, và ‘dữ liệu của các giác quan khác nhau’ được hướng về cực điểm này, vì ‘mục đích’ của tôi khi nhìn qua kính hiển vi dao động quanh một ‘mục tiêu’ nổi bật. Tôi không có ý định gán thuật ngữ ‘sự vật thị giác’ cho một hiện tượng, giống như các vùng màu, vốn không thể hiện khả năng hiển thị tối đa thông qua các trải nghiệm khác nhau mà tôi có về nó, hoặc giống như bầu trời, xa xôi và mỏng manh ở đường chân trời, không định vị và lan tỏa ở đỉnh điểm, cho phép bản thân bị ảnh hưởng bởi các cấu trúc gần nhất mà không tạo ra bất kỳ cấu hình nào của riêng mình đối lập với chúng. Nếu một hiện tượng—ví dụ, một sự phản chiếu hay một cơn gió nhẹ—chỉ tác động đến một giác quan của tôi, thì nó chỉ là một ảo ảnh, và nó sẽ chỉ gần với sự tồn tại thực sự nếu, bằng một cách nào đó, nó có khả năng giao tiếp với các giác quan khác của tôi, giống như gió, ví dụ, khi nó thổi mạnh và có thể nhìn thấy trong sự hỗn loạn mà nó gây ra ở vùng nông thôn xung quanh. Cézanne tuyên bố rằng một bức tranh thậm chí còn chứa đựng cả mùi hương của phong cảnh.49 Ông muốn nói rằng sự sắp xếp màu sắc trên vật thể - và trong tác phẩm nghệ thuật, nếu nó nắm bắt được toàn bộ vật thể - tự nó biểu thị tất cả các phản ứng sẽ được gợi ra thông qua cách nắm bắt của các giác quan còn lại; và một vật thể sẽ không có màu sắc này nếu nó không có hình dạng này, các đặc tính xúc giác này, kiểu cộng hưởng này, mùi hương này, vả vật thể là sự trọn vẹn tuyệt đối mà cuộc tồn tại không chia cắt của tôi chiếu rọi trước chính nó.

Sự thống nhất của sự vật vượt ra ngoài mọi thuộc tính cố định của nó không phải là một nền tảng, một X trống rỗng, một chủ thể trong đó các thuộc tính tồn tại, mà là điểm nhấn độc nhất vô nhị được tìm thấy trong mỗi thuộc tính đó, cách tồn tại độc nhất vô nhị mà chúng là biểu hiện bậc hai. Ví dụ, tính dễ vỡ, độ cứng, độ trong suốt và âm vang của thủy tinh đều thể hiện một cách tồn tại duy nhất. Nếu một người bệnh nhìn thấy ma quỷ, anh ta đồng thời nhìn thấy mùi, ngọn lửa và khói của nó, bởi vì nhất tính có ý nghĩa ‘ma quỷ’ chính là bản chất nồng nặc, lửa và lưu huỳnh đó. Có một biểu tượng trong sự vật liên kết mỗi phẩm chất cảm giác với phần còn lại. Nhiệt đi vào trải nghiệm như một loại rung động của sự vật: mặt khác, với màu sắc, dường như sự vật bị đẩy ra ngoài bản thân nó, và theo cách tiên nghiệm, một vật cực nóng sẽ chuyển sang màu đỏ, vì chính sự rung động quá mức của nó khiến nó bùng cháy.50 Sự truyền đạt các thông tin cảm giác trước mắt hoặc dưới tay chúng ta, có thể nói là một ngôn ngữ tự dạy, và trong đó ý nghĩa được ẩn giấu bởi chính cấu trúc của các dấu hiệu, và đây là lý do tại sao lại có thể nói theo nghĩa đen rằng các giác quan của chúng ta đặt câu hỏi cho sự vật và sự vật trả lời chúng. ‘Sự xuất hiện khả giác là cái Kundgibt tiết lộ, và thể hiện như vậy những gì nó không phải là chính nó’.51 Chúng ta hiểu sự vật như chúng ta hiểu một loại hành vi mới, tức là không phải thông qua bất kỳ hoạt động trí tuệ nào của sự bao hàm, mà bằng cách tự mình tiếp nhận phương thức tồn tại mà các dấu hiệu quan sát được phác họa trước mắt chúng ta. Một hình thức hành vi phác thảo một cách thức nhất định để đối xử với thế giới. Tương tự như vậy, khi các sự vật tương tác thì mỗi sự vật đều được đặc trưng bởi một loại tiên nghiệm mà nó luôn trung thành trong mọi cuộc chạm trán với thế giới bên ngoài. Ý nghĩa của một sự vật cư ngụ trong chính sự vật đó như linh hồn cư ngụ trong thể xác vậy: nó không nằm sau vẻ bề ngoài. Ý nghĩa của cái gạt tàn - ít nhất là ý nghĩa toàn thể và riêng biệt của nó [tr.373], như được thể hiện trong tri giác - không phải là một ý niệm nhất định về cái gạt tàn điều phối các khía cạnh cảm giác của nó và chỉ có thể tiếp cận được bằng lý trí, nó làm cho cái gạt tàn sống động, và hiển nhiên được thể hiện trong đó. Đó là lý do tại sao chúng ta nói rằng trong tri giác, sự vật được trao cho chúng ta ‘trực tiếp’, hay ‘bằng xương bằng thịt’. Trước và độc lập với những người khác, sự vật đạt được phép màu của sự biểu hiện: một thực tại bên trong tự bộc lộ ra bên ngoài, một ý nghĩa hiện xuống với thế giới và bắt đầu tồn tại ở đó, và chỉ có thể được hiểu đầy đủ khi đôi mắt tìm kiếm nó ở chính vị trí của nó. Như vậy, sự vật có mối tương quan với thân thể tôi và, nói một cách tổng quát hơn, với sự tồn tại của tôi, mà thân thể tôi chỉ là cấu trúc ổn định của nó. Nó được hình thành trong sự nắm giữ mà thân thể tôi nắm giữ; trước hết nó không phải là một ý nghĩa cho sự hiểu biết, mà là một cấu trúc có thể được cơ thể kiểm tra, và nếu chúng ta cố gắng mô tả thực tại như nó xuất hiện với chúng ta trong kinh nghiệm tri giác, thì chúng ta thấy nó được phủ lên bởi các thuộc tính nhân học. Mối quan hệ giữa các sự vật hoặc các khía cạnh của sự vật luôn có thân thể của chúng ta làm phương tiện, toàn bộ tự nhiên là bối cảnh của cuộc sống của chính chúng ta, hoặc kẻ đối thoại của chúng ta trong một dạng đối thoại nào đó. Đó là lý do tại sao cuối cùng chúng ta không thể hình dung bất cứ điều gì không được tri giác hoặc khả thể tri giác. Như Berkeley nói, ngay cả một sa mạc chưa được khám phá cũng có ít nhất một kẻ quan sát nó, đó là chính tôi khi tôi nghĩ về nó, tức là khi tôi tri giác nó trong kinh nghiệm tinh thần thuần túy. Sự vật không thể tách rời khỏi kẻ tri giác nó, và không bao giờ thực sự trong tự thân bởi vì những biểu hiện của nó chính là sự tồn tại của chúng ta, và bởi vì nó nằm ở đầu kia của tầm nhìn hoặc ở điểm kết thúc của một sự khám phá giác quan, thứ đã ban cho nó tính nhân văn. Đến mức độ này, mọi tri giác đều là một sự giao tiếp hoặc một sự kết nối, là sự tiếp nhận hoặc hoàn thiện của chúng ta đối với một ý định bên ngoài nào đó, hoặc mặt khác, là sự biểu hiện trọn vẹn bên ngoài bản thân chúng ta về năng lực tri giác và là cuộc giao hợp, có thể nói như vậy, giữa cơ thể chúng ta với sự vật. Có một thực tế là điều này có thể chưa được nhận ra sớm hơn là do bất kỳ nhận thức nào về thế giới tri giác cũng đều bị cản trở bởi những định kiến ​​phát sinh từ tư duy khách quan.

Chức năng của tư duy khách quan là quy giản tất cả các hiện tượng chứng minh sự thống nhất giữa chủ thể và thế giới, đặt vào đó ý niệm rõ ràng về đối tượng như là trong tự thân nó và chủ thể là ý thức thuần túy. Do đó, nó cắt đứt các mối liên hệ kết nối vật thể và chủ thể hiện thân [tr.374], chỉ còn lại các phẩm chất cảm giác tạo nên thế giới của chúng ta - loại trừ các phương thức xuất hiện mà chúng ta đã mô tả, -  và tốt hơn hết là các phẩm chất thị giác, bởi vì chúng tạo ấn tượng về tính tự chủ, và còn bởi vì chúng ít liên kết trực tiếp với cơ thể chúng ta hơn và trình bày cho chúng ta một vật thể hơn là đưa chúng ta vào một bầu không khí. Nhưng trên thực tế, tất cả mọi thứ đều là sự cụ thể hóa của một bối cảnh, và bất kỳ tri giác rõ ràng nào về một vật thể đều tồn tại nhờ vào sự giao tiếp trước đó với một bầu không khí nhất định. Chúng ta không phải là ‘một tập hợp mắt, tai và các cơ quan xúc giác với các hình chiếu não bộ của chúng… Cũng như tất cả các tác phẩm văn học… chỉ là những trường hợp cụ thể của các hoán vị có thể có của các âm thanh tạo nên ngôn ngữ và các dấu hiệu theo nghĩa đen của chúng, thì các phẩm chất hoặc cảm giác đại diện cho các yếu tố tạo nên thơ ca vĩ đại của cái Umwelt thế giới chúng ta. Nhưng chắc chắn rằng, cũng giống như kẻ chỉ biết âm thanh và chữ cái sẽ không hiểu được văn học, và sẽ bỏ lỡ không chỉ bản chất cuối cùng của nó mà còn mọi thứ về nó, thì thế giới không phải là thứ có sẵn và mọi thứ không thể tiếp cận được đối với những người coi ‘cảm giác’ là thứ có sẵn.’52 Cái được tri giác không nhất thiết là một đối tượng hiện diện trước mắt tôi như một mảnh tri ​​thức cần được tiếp thu, nó có thể là một ‘nhất tính về giá trị’ chỉ hiện diện với tôi một cách thực tế. Nếu một bức tranh bị gỡ bỏ khỏi phòng khách, chúng ta có thể nhận thấy rằng đã có một sự thay đổi mà không thể nói rõ đó là gì. Tôi tri giác mọi thứ thuộc về môi trường của mình, và môi trường của tôi bao gồm ‘mọi thứ mà sự tồn tại hay không tồn tại, bản chất hay sự thay đổi của chúng đều có ý nghĩa thực tiễn đối với tôi’;53 cơn bão chưa ập đến, những dấu hiệu của nó tôi thậm chí không thể liệt kê và tôi thậm chí không thể dự đoán được, nhưng tôi đã ‘lo lắng’ và chuẩn bị sẵn sàng cho nó—vùng ngoại vi của trường thị giác mà chủ thể cuồng loạn không nắm bắt được một cách rõ ràng, nhưng dù sao nó cũng cùng quyết định chuyển động và định hướng của anh ta—sự tôn trọng của những kẻ khác, hay tình bạn trung thành mà tôi coi là điều hiển nhiên, nhưng dù sao chúng vẫn hiện hữu đối với tôi, bởi vì chúng khiến tôi về mặt đạo đức trở nên lơ lửng giữa không trung khi tôi bị tước đoạt mất chúng.54 Tình yêu hiện hữu trong những bông hoa do Félix de Vandenesse chuẩn bị cho Madame de Mortsauf, rõ ràng như trong một cái vuốt ve: ‘Tôi [tr.375] nghĩ rằng màu sắc và tán lá có một sự hài hòa và một chất thơ hiện lên trong sự hiểu biết bằng cách làm say đắm ánh mắt, giống như những giai điệu âm nhạc đánh thức vô số ký ức trong trái tim yêu thương và được yêu thương. Nếu màu sắc là ánh sáng được sắp xếp, chẳng lẽ nó không có ý nghĩa gì sao, giống như các sự kết hợp khác nhau của không khí vậy… Tình yêu có dấu hiệu riêng của nó và nữ bá tước đã bí mật giải mã được điều đó. Nàng nhìn tôi bằng ánh mắt sắc bén, giống như tiếng kêu của một người bệnh khi bị chạm vào vết thương: nàng vừa bối rối vừa thích thú.’ Những bông hoa rõ ràng là một bó hoa tình yêu, nhưng không thể nói được điều gì trong chúng tượng trưng cho tình yêu, và đó thậm chí là lý do tại sao bà de Mortsauf có thể nhận chúng mà không vi phạm lời thề của mình. Không có cách nào hiểu được chúng ngoài việc nhìn vào chúng, nhưng đối với người nhìn, chúng nói lên ý nghĩa của chúng. Ý nghĩa của chúng là dấu vết của một sự tồn tại, có thể đọc được và hiểu được đối với một sự tồn tại khác. Tri giác tự nhiên không phải là một khoa học, nó không đặt ra những điều mà khoa học nghiên cứu, nó không tạo ra khoảng cách để quan sát, mà sống cùng với chúng; đó là ‘quan điểm’ hay ‘niềm tin cơ bản’ ràng buộc chúng ta với thế giới như với quê hương mình, và sự hiện hữu của những gì được tri giác là hiện hữu tiền định mà toàn bộ sự tồn tại của chúng ta hướng tới.

____________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là ‘hữu thể luận gián tiếp hay hữu thể luận xác thịt của thế giới(la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

26 Koffka, Principles of Gestalt Psychology, pp. 255 and ff. See La Structure du Comportement, pp. 108 and ff.

27 Wesenskoexistenz, Gelb, Farbenkonstanz, p. 671.

28 Katz, Farbwelt, p. 36.

29 Ibid., pp. 379–81.

30 Ibid., p. 213.

31 Ibid., p. 456.

32 Ibid., p. 382.

33 Ibid., p. 261.

34 Von Hornbostel, Das Räumliche Hören.

35 Werner, Grundfragen der Intensitätspsychologie, pp. 68 and ff. Fischel, Transformationserscheinungen bei Gewichtshebungen, pp. 342 and ff.

36 See Katz, Der Aufbau der Tastwelt, p. 58.

37 Ibid., p. 62.

38 Ibid., p. 20.

39 Ibid.

40 See Katz, Der Aufbau der Tastwelt, p. 58.

41 Ibid., pp. 24–35.

42 Ibid., pp. 38–9.

43 Ibid., p. 42.

44 Quoted without reference by Katz, ibid., p. 4.

45 Cf. Katz, Der Aufbau der Tastwelt, p. 160.

46 Ibid., p. 46.

47 Ibid., p. 51.

48 Schapp, Beiträge zur Phänomenologie der Wahrnehmung, pp. 59, ff.
49 J. Gasquet, Cézanne, p. 81.

50. Nhất tính này của các trải nghiệm giác quan dựa trên sự tích hợp của chúng trong một đời sống duy nhất, mà nhờ đó chúng trở thành bằng chứng và biểu tượng hữu hình. Thế giới được tri giác không chỉ là một hệ thống các biểu tượng của mỗi giác quan xét theo các giác quan khác, mà còn là một tập hợp các biểu tượng của đời sống con người, như được chứng minh bởi ‘ngọn lửa’ của đam mê, ‘ánh sáng’ của tinh thần và rất nhiều ẩn dụ và thần thoại khác. H. Conrad-Martius, Realontologie, tr. 302.

51 H. Conrad-Martius, ibid., p. 196. The same author (Zur Ontologie und Erscheinungslehre der realen Aussenwelt) speaks of a Selbstkundgabe of the object (p. 371).

52 Scheler, Der Formalismus in der Ethik und die materiale Wertethik, pp. 149–51.
53 Ibid., p. 140.

54 Ibid.

 

 

 

 

 

 

 

Hiện tượng luận Tri giác (XXV)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

3. Vật thể và Thế giới Tự nhiên

[Tr.348] Một vật thể có những ‘đặc điểm’ hay ‘tính chất’ ổn định, ngay cả khi chúng không hoàn toàn dùng để định nghĩa nó, và chúng tôi đề xuất tiếp cận hiện tượng thực tại bằng cách nghiên cứu các hằng số tri giác. Trước hết, một vật thể có kích thước và hình dạng thay đổi theo góc nhìn, những thay đổi này chỉ mang tính bề ngoài. Chúng ta không gán những hình dạng này cho chính vật thể, mà coi chúng là một đặc điểm ngẫu nhiên trong mối quan hệ của chúng ta với nó, chứ không phải là thuộc về nó. Chúng ta muốn nói gì bằng điều này, và dựa trên cơ sở nào chúng ta đánh giá rằng hình dạng hay kích thước là hình dạng và kích thước của vật thể? Nhà tâm lý học sẽ khẳng định rằng, trong trường hợp của mỗi vật thể, những gì được trình bày cho chúng ta là kích thước và hình dạng luôn thay đổi theo góc nhìn, và theo quy ước, người ta coi kích thước mà vật thể có khi ở trong tầm với, hoặc hình dạng mà nó có khi nằm trên mặt phẳng song song với hình chiếu chính diện là đúng. Những điều này không đúng hơn bất kỳ điều nào khác, nhưng vì khoảng cách và khía cạnh này đều điển hình và được phát triển nhờ sự trợ giúp của cơ thể chúng ta, vốn luôn là một hướng dẫn hiện diện cho mục đích này, nên chúng ta luôn có thể nhận ra chúng, và do đó, chính chúng cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn để xác định và phân biệt giữa những hình ảnh thoáng qua; nói tóm lại là để xây dựng tính khách quan. Hình vuông nhìn xiên, như một thứ gì đó gần giống hình thoi, chỉ được phân biệt với hình thoi thực sự [tr.349] nếu chúng ta ghi nhớ hướng, ví dụ, nếu chúng ta coi khía cạnh chính diện là hình ảnh quan trọng và liên hệ bất kỳ hình ảnh nào với những gì nó sẽ được hình dung trong bối cảnh này. Nhưng sự tái cấu trúc tâm lý về kích thước hoặc hình dạng khách quan này coi điều cần được giải thích là điều hiển nhiên, đó là một loạt các kích thước và hình dạng xác định mà từ đó chỉ cần chọn một cái làm kích thước hoặc hình dạng thực sự. Chúng ta đã nói rằng đối với cùng một vật thể đang lùi lại hoặc quay tròn, tôi không có một tập hợp các ‘hình ảnh tinh thần’ giảm dần kích thước hoặc ngày càng bị biến dạng, và giữa chúng tôi đưa ra một lựa chọn thông thường. Trong chừng mực tôi giải thích tri giác của mình theo những thuật ngữ này, đến mức đó tôi đã giới thiệu thế giới với những hình dạng và kích thước khách quan của nó. Câu hỏi không chỉ là làm thế nào một kích thước hay hình dạng nào đó, trong số tất cả các kích thước hay hình dạng rõ ràng, được coi là bất biến: đó là một câu hỏi sâu xa hơn nhiều. Đó là hiểu được cách thức làm sao một hình dạng hay kích thước xác định—thực sự hay thậm chí chỉ là biểu kiến—có thể hiện ra trước mắt tôi, được kết tinh trong dòng chảy kinh nghiệm của tôi và, nói tóm lại, được trao cho tôi. Tóm lai, làm sao có thể có tính khách quan?

Dường như, ít nhất là thoạt nhìn, có một cách để né tránh câu hỏi, đó là bằng cách thừa nhận rằng trên thực tế, kích thước và hình dạng không bao giờ được tri giác như là thuộc tính của một đối tượng duy nhất, và chúng chỉ đơn giản là tên gọi cho các mối quan hệ giữa các phần của trường hiện tượng. Trong trường hợp này, sự bất biến của kích thước hay hình dạng thực sự được duy trì thông qua các góc nhìn khác nhau chỉ đơn thuần là sự bất biến trong các mối quan hệ giữa hiện tượng và các điều kiện đi kèm với sự trình bày của nó. Ví dụ, kích thước thực sự của cây bút máy của tôi không phải là một đặc tính vốn có trong bất kỳ tri giác nào của tôi về cây bút; nó không được cho sẵn hoặc ghi nhận trong tri giác, giống như màu đỏ, sự ấm áp hay vị ngọt. Việc nó vẫn không đổi không được giải thích bằng việc tôi nhớ lại bất kỳ trải nghiệm nào trước đây mà tôi đã quan sát nó. Nó là bất biến, hay quy luật chi phối sự biến đổi của hình ảnh thị giác liên quan đến khoảng cách rõ ràng. Thực tại không phải là một hình ảnh quan trọng nằm dưới phần còn lại, mà là khuôn khổ của các mối quan hệ mà tất cả các hình ảnh đều phù hợp. Nếu tôi cầm bút gần mắt sao cho nó che khuất gần như toàn bộ khung cảnh trước mặt, kích thước thực sự của nó vẫn nhỏ, bởi vì cây bút che khuất mọi thứ cũng là cây bút được nhìn ở cự ly gần, và bởi vì điều kiện này, [tr.350] luôn được truyền đạt đến tôi trong tri giác của tôi, làm giảm hình ảnh một lần nữa xuống tỷ lệ khiêm tốn. Hình vuông được trình bày cho tôi một cách xiên vẫn là hình vuông, không phải vì hình dạng kim cương rõ ràng này gợi nhớ đến hình dạng quen thuộc của hình vuông được nhìn thấy trực diện, mà bởi vì hình dạng kim cương trong cách trình bày xiên ngay lập tức giống hệt với hình dạng hình vuông trong cách trình bày trực diện, bởi vì, cùng với mỗi cấu hình này, tôi được cung cấp hướng của vật thể cho phép điều đó, và bởi vì những hình dạng này được trình bày trong một bối cảnh của các mối quan hệ mà, a priori một cách tiên nghiệm, đánh đồng các cách trình bày phối cảnh khác nhau với nhau. Hình lập phương với các mặt bị biến dạng bởi phối cảnh tuy nhiên vẫn là hình lập phương, không phải vì tôi tưởng tượng các khía cạnh kế tiếp của sáu mặt nếu tôi xoay hình lập phương trong tay, mà bởi vì sự biến dạng phối cảnh không phải là dữ liệu thô, cũng giống như hình dạng đối xứng hoàn hảo đang đối diện với tôi. Mỗi yếu tố của khối lập phương, nếu ta khai triển tất cả ý nghĩa được tri giác từ nó, sẽ cho ta biết quan điểm hiện tại mà người quan sát đang nắm giữ về nó. Một hình dạng hoặc kích thước chỉ mang tính bề ngoài là một thứ chưa có vị trí trong hệ thống gắn kết chặt chẽ được hình thành bởi các hiện tượng và cơ thể tôi. Ngay khi nó tìm thấy vị trí của mình trong hệ thống đó, nó sẽ tìm thấy sự thật của nó, và sự biến dạng phối cảnh không còn được chịu đựng một cách thụ động nữa, mà được hiểu. Vẻ bề ngoài gây hiểu lầm và theo nghĩa đen chỉ là vẻ bề ngoài khi nó không xác định. Câu hỏi làm thế nào mà có được những hình dạng hoặc kích thước thực sự, hoặc những hình dạng khách quan hay có thật, tương đương với việc hỏi làm thế nào mà chúng ta có những hình dạng xác định. Và có những hình dạng xác định như ‘hình vuông’ hoặc ‘hình thoi’, hoặc bất kỳ cấu hình không gian thực tế nào, bởi vì cơ thể chúng ta như một điểm nhìn về sự vật, và sự vật như những yếu tố trừu tượng của một thế giới duy nhất, tạo thành một hệ thống trong đó mỗi khoảnh khắc ngay lập tức thể hiện mọi khoảnh khắc khác. Một cách nhất định để hướng ánh nhìn của tôi đối với vật thể biểu thị một vẻ bề ngoài nhất định của vật thể và của các vật thể lân cận. Trong mọi hình thức xuất hiện, vật thể vẫn giữ nguyên các đặc điểm bất biến, tự nó vẫn bất biến và là một vật thể bởi vì tất cả các giá trị có thể có liên quan đến kích thước và hình dạng mà nó có thể đảm nhận đều được gắn liền từ trước trong công thức về mối quan hệ của nó với bối cảnh. Điều chúng ta khẳng định trong hiện hữu cụ thể của vật thể, thực chất là một facies totius universi [là một khái niệm quan trọng trong triết học của Baruch Spinoza, nghĩa là ‘bộ mặt của toàn thể vũ trụ’ hay ‘bộ mặt của toàn bộ tự nhiên’; nó đại diện cho thể thống nhất vô hạn của các vật thể/thân thể hợp thành vũ trụ, biểu hiện ở mức độ vô hạn trong thuộc tính mở rộng của thực tại. HHN] vẫn không thay đổi, và trong đó là nền tảng của sự tương đương của tất cả các hình thức xuất hiện của nó và sự đồng nhất tính hiện hữu của nó. Khi theo đuổi logic về kích thước và hình dạng khách quan [tr.351], chúng ta nên, cùng với Kant, thấy rằng nó đề cập đến việc thiết lập một thế giới như một hệ thống liên kết chặt chẽ, và chúng ta không bao giờ bị bao bọc trong vẻ bề ngoài, tóm lại, chỉ có vật thể mới có thể xuất hiện đầy đủ.

Như vậy, chúng ta đặt mình trực tiếp vào bên trong đối tượng, chúng ta bỏ qua các vấn đề của nhà tâm lý học, nhưng liệu chúng ta đã thực sự bỏ lại chúng phía sau chưa? Khi người ta nói rằng kích thước hoặc hình dạng thực sự không có gì hơn là quy luật bất biến mà theo đó sự xuất hiện, khoảng cách và hướng thay đổi, người ta cho rằng chúng có thể được coi là các biến số hoặc kích cỡ có thể đo được, và do đó chúng đã được xác định, trong khi điều chúng ta quan tâm lại chính là cách thức khiến chúng trở nên như vậy. Kant đúng khi nói rằng tri giác, về bản chất, bị phân cực hướng về đối tượng. Nhưng điều không thể hiểu được trong lý thuyết của ông là sự xuất hiện với tư cách là sự xuất hiện. Vì các quan điểm phối cảnh của đối tượng được thiết lập trực tiếp và ngay lập tức vào hệ thống khách quan của thế giới, chủ thể tư duy hơn là tri giác sự tri giác của mình và tính chân lý của nó. Ý thức tri giác không cung cấp cho chúng ta thứ tri giác như một khối tri ​​thức có tổ chức, hoặc kích cỡ và hình dạng của đối tượng như là các quy luật; các thông số kỹ thuật số của khoa học phác thảo lại cấu trúc của thế giới đã được hiện thực hóa trước khi hình dạng và kích cỡ bắt đầu hiện hữu. Giống như nhà khoa học, Kant coi kết quả của kinh nghiệm tiền khoa học này là điều hiển nhiên, và chỉ có thể bỏ qua chúng bởi vì ông đã sử dụng chúng. Khi tôi chiêm ngưỡng đồ đạc trong phòng mình, chiếc bàn với hình dạng và kích cỡ của nó đối với tôi không phải là một quy luật hay quy tắc chi phối chuỗi hiện tượng, và một mối quan hệ bất biến: chính vì tôi tri giác được chiếc bàn với hình dạng và kích thước xác định của nó mà tôi cho rằng, với mỗi sự thay đổi về khoảng cách hoặc hướng, sẽ có một sự thay đổi tương ứng về hình dạng và kích cỡ, chứ không phải ngược lại. Xa rời quan điểm cho rằng sự vật có thể quy giản về các mối quan hệ bất biến, chính trong tính hiển nhiên của sự vật mà tính bất biến của các mối quan hệ này lại có cơ sở. Đối với khoa học và tư duy khách quan, một vật thể có vẻ nhỏ khi nhìn từ khoảng cách 100 thước Anh không thể phân biệt được với cùng một vật thể đó khi nhìn từ khoảng cách 10 thước Anh ở một góc độ lớn hơn, và vật thể đó không gì khác ngoài tích số bất biến của khoảng cách nhân với kích thước biểu kiến. Nhưng đối với kẻ tri giác là tôi, vật thể cách xa một trăm thước không có thực và hiện diện theo nghĩa như nó hiện diện ở khoảng cách mười thước, và tôi nhận diện vật thể ở mọi vị trí, mọi khoảng cách, mọi hình dạng, miễn là tất cả các góc nhìn đều hội tụ [tr.352] về tri giác mà tôi có được ở một khoảng cách nhất định và với một hướng điển hình nhất định. Tri giác đặc quyền này đảm bảo nhất tính của quá trình tri giác và bao hàm tất cả các hình dạng khác. Đối với mỗi vật thể, cũng như đối với mỗi bức tranh trong một phòng trưng bày nghệ thuật, đều có một khoảng cách tối ưu mà từ đó nó cần được nhìn thấy, một hướng nhìn mà từ đó nó thể hiện được phần lớn bản thân: ở khoảng cách gần hơn hoặc xa hơn, chúng ta chỉ có một tri giác mờ nhạt do thừa hoặc thiếu. Do đó, chúng ta hướng tới khả năng quan sát tối đa và tìm kiếm sự tập trung tốt hơn, giống như khi sử dụng kính hiển vi.1 Điều này đạt được thông qua cân bằng nhất định giữa chân trời bên trong và bên ngoài: một cơ thể sống, nhìn quá gần, tách rời mọi phông nền làm nó nổi bật, không còn là một cơ thể sống nữa, mà là một khối vật chất kỳ lạ như cảnh quan mặt trăng, có thể thấy khi kiểm tra một phần da qua kính lúp. Ngược lại, nhìn từ khoảng cách quá xa, cơ thể mất đi giá trị sống động của nó, và chỉ được thấy như một con rối hoặc một cỗ máy tự động.

Bản thân cơ thể sống xuất hiện khi cấu trúc vi mô của nó không quá rõ ràng cũng không quá mờ nhạt, và khoảnh khắc này cũng quyết định kích thước và hình dạng thực sự của nó. Khoảng cách từ tôi đến vật thể không phải là một kích thước tăng hay giảm, mà là một sự căng thẳng dao động xung quanh một chuẩn mực. Vị trí nghiêng của vật thể so với tôi không được đo bằng góc mà nó tạo thành với mặt phẳng khuôn mặt tôi, mà được cảm nhận như một sự mất cân bằng, như một sự phân bố không đồng đều các ảnh hưởng của nó lên tôi. Những biến đổi về hình thức không hẳn là sự tăng giảm kích thước, hay những biến dạng thực sự. Đơn giản là đôi khi các bộ phận hòa lẫn và trở nên khó phân biệt, lúc khác chúng liên kết lại thành một tổng thể rõ ràng, và bộc lộ sự phong phú về chi tiết. Có một đỉnh điểm trong tri giác của tôi đồng thời thỏa mãn cả ba chuẩn mực này, và toàn bộ quá trình tri giác nhận thức đều hướng tới điểm đó. Nếu tôi kéo vật thể lại gần hơn hoặc xoay nó trong tay để ‘nhìn rõ hơn’, đó là bởi vì mỗi tư thế của cơ thể tôi, ngay lập tức, là sức mạnh để đạt được một hình ảnh nhất định, và bởi vì mỗi hình ảnh là như vậy đối với tôi trong một tình huống vận động nhất định. Nói cách khác, bởi vì cơ thể tôi luôn ở trước sự vật để tri giác chúng và ngược lại, hình ảnh luôn được bao bọc đối với tôi trong một tư thế cơ thể nhất định. Do đó, trong chừng mực mà tôi [tr.353] biết mối quan hệ giữa các hiện tượng và tình huống vận động, điều này không phải nhờ bất kỳ quy luật nào hay theo bất kỳ công thức nào, mà là ở mức độ tôi có một cơ thể, và thông qua cơ thể đó tôi đang tương tác với thế giới. Cũng giống như các thái độ tri giác không được tôi biết đến riêng lẻ, mà được ngầm hiểu như những giai đoạn trong hành động dẫn đến thái độ tối ưu, tương ứng, các quan điểm tương quan không đặt ra trước tôi một cách tuần tự, mà chỉ xuất hiện như những bước tiến tới chính sự vật với kích thước và hình dạng của nó. Kant đã thấy vấn đề không phải là làm thế nào các hình dạng và kích thước xác định xuất hiện trong kinh nghiệm của tôi, vì nếu không có chúng thì sẽ không có kinh nghiệm, và vì bất kỳ kinh nghiệm nội tại nào chỉ có thể có được trên nền tảng của kinh nghiệm bên ngoài. Kết luận của Kant: tôi là một ý thức bao trùm và cấu thành thế giới, và hành động phản tư này đã khiến ông bỏ qua hiện tượng của cơ thể và của sự vật.

Thực tế là, nếu muốn mô tả nó, ta phải nói rằng trải nghiệm của ta bộc lộ ra thành từng sự vật và tự vượt lên chính mình trong chúng, bởi vì nó luôn hình thành trong khuôn khổ của một bối cảnh nhất định liên quan đến thế giới được định nghĩa bởi cơ thể ta. Kích thước và hình dạng chỉ đơn thuần cung cấp phương thức cho sự nắm bắt toàn diện này đối với thế giới. Vật thể được coi là lớn nếu ánh mắt ta không thể bao quát hết, là nhỏ nếu ta dễ dàng bao quát được, và các kích thước trung gian có thể phân biệt được tùy thuộc vào việc, khi đặt ở cùng một khoảng cách với ta, chúng gây ra sự giãn đồng tử ít hơn hoặc nhiều hơn, hoặc sự giãn đồng tử bằng nhau ở các khoảng cách khác nhau. Vật thể được gọi là hình tròn nếu, tất cả các cạnh của nó đều ở gần tôi như nhau, nó không gây ra sự lệch hướng nào đối với độ cong đều đặn của ánh nhìn của tôi, hoặc nếu những lệch hướng được gây ra là do sự trình bày xiên, theo tri​​thức về thế giới được truyền đạt cho tôi thông qua cơ thể tôi.2 Do đó, hoàn toàn đúng là bất kỳ tri giác nào về một [tr.354] vật, một hình dạng hoặc kích thước là có thật, bất kỳ sự ổn định tri giác nào cũng đều quy về việc đặt ra một thế giới và một hệ thống kinh nghiệm trong đó cơ thể tôi không thể tách rời khỏi các hiện tượng. Nhưng hệ thống kinh nghiệm không được bày ra trước mắt tôi như thể tôi là Chúa, nó được tôi trải nghiệm từ một quan điểm nhất định; tôi không phải là người quan sát, tôi tham gia, và chính sự tham gia của tôi vào một quan điểm đã tạo điều kiện cho cả tính hữu hạn tri giác của tôi và sự mở rộng của nó ra toàn bộ thế giới như một chân trời của mọi tri giác. Theo như tôi biết, một cái cây ở đường chân trời vẫn giữ nguyên hình dạng và kích thước thực của nó khi được quan sát kỹ hơn. Điều này đơn giản có nghĩa là đường chân trời đó chính là đường chân trời của môi trường xung quanh tôi, và việc dần dần tri giác được những thứ chứa đựng trong đó là điều chắc chắn đối với tôi. Nói cách khác, những trải nghiệm tri giác gắn kết với nhau, thúc đẩy và hàm ý lẫn nhau; tri giác về thế giới chỉ đơn giản là sự mở rộng phạm vi hiện diện của tôi mà không vượt ra ngoài những cấu trúc thiết yếu của nó, và cơ thể vẫn ở trong đó nhưng không bao giờ trở thành một vật thể trong đó. Thế giới là một thể thống nhất mở và vô định, trong đó tôi có vị trí của mình, như Kant đã chỉ ra trong Phép biện chứng Siêu việt, nhưng dường như ông lại quên điều đó trong Phép biện chứng Phân tích.

Những phẩm chất của sự vật, ví dụ như màu sắc, độ cứng hay trọng lượng của nó, cho chúng ta biết nhiều hơn về nó so với các thuộc tính hình học của nó. Chiếc bàn có màu nâu, và vẫn giữ nguyên màu nâu, bất chấp sự thay đổi của ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo. Vậy, trước hết, màu sắc thực sự này là gì, và làm thế nào chúng ta có thể tiếp cận được nó? Chúng ta có thể dễ dàng trả lời rằng đó là màu sắc mà tôi thường thấy nhất thuộc về chiếc bàn, màu sắc mà nó thể hiện dưới ánh sáng ban ngày, ở khoảng cách gần, trong điều kiện ‘bình thường’, tức là những điều kiện xảy ra thường xuyên nhất. Khi khoảng cách quá xa hoặc khi ánh sáng có màu sắc riêng, như lúc hoàng hôn hoặc dưới ánh sáng điện, tôi thay thế màu sắc thực tế bằng một màu sắc đã nhớ,3 màu sắc này chiếm ưu thế vì nó được in sâu trong tôi bởi vô số trải nghiệm. Trong trường hợp này, sự ổn định của màu sắc là một sự ổn định thực sự. Nhưng ở đây chúng ta chỉ có một sự tái tạo nhân tạo của hiện tượng. Bởi vì, xét về bản thân tri giác, không thể nói rằng màu nâu của chiếc bàn thể hiện cùng một màu nâu trong mọi loại ánh sáng, cùng một chất lượng thực sự được ghi nhớ. Một mảnh giấy trắng [tr.355] khi nhìn trong bóng tối và được nhận ra bản chất của nó, không hoàn toàn chỉ đơn giản là màu trắng, nó ‘không cho phép nó được đặt một cách thỏa đáng vào chuỗi trắng-đen’.4 Một bức tường trắng có sẵn trong bóng râm và một mảnh giấy xám trong ánh sáng, không thể nói rằng bức tường vẫn trắng và tờ giấy vẫn xám; tờ giấy tạo ra tác động mạnh mẽ hơn đến mắt,5 nó sáng hơn và rõ hơn, trong khi bức tường tối hơn và xỉn hơn, những gì còn lại bên dưới sự thay đổi của ánh sáng, nói một cách dễ hiểu, chỉ là ‘bản chất của màu sắc’.6 Sự bất biến của màu sắc không ngăn cản ‘một sự biến đổi không thể phủ nhận trong đó chúng ta tiếp tục nhận được trong thị giác của mình phẩm chất cơ bản và, nói một cách dễ hiểu, cái cốt lõi trong đó’.7 Chính lý do này sẽ ngăn cản chúng ta coi sự bất biến của màu sắc như một sự bất biến lý tưởng có thể quy cho phán đoán. Để một phán đoán có khả năng phân biệt trong một hình dạng nhất định yếu tố được giải thích bởi ánh sáng cụ thể đó cuối cùng phải dẫn đến việc xác định màu sắc thực sự của vật thể, và chúng ta đã thấy rằng điều này trên thực tế không giữ nguyên. Điểm yếu của cả chủ nghĩa kinh nghiệm và tri thức luận nằm ở chỗ chúng từ chối công nhận bất kỳ màu sắc nào khác ngoài những đặc tính cố định xuất hiện trong tư thế phản chiếu, trong khi màu sắc trong tri giác sống động là một con đường dẫn vào sự vật. Chúng ta phải loại bỏ ảo tưởng, được khuyến khích bởi vật lý, rằng thế giới được tri giác tạo thành từ các đặc tính màu sắc. Như các họa sĩ đã nhận thấy, trong tự nhiên có rất ít màu sắc. Tri giác màu sắc phát triển muộn ở trẻ em, và dù sao cũng phụ thuộc vào sự hình thành của thế giới. Người Maori có 3.000 tên gọi màu sắc, không phải vì họ tri giác được rất nhiều màu, mà ngược lại, vì họ không thể nhận diện chúng khi chúng thuộc về các vật thể có cấu trúc khác nhau.8 Như Scheler đã nói, tri giác đi thẳng đến vật thể và bỏ qua màu sắc, giống như nó có thể tập trung vào biểu cảm của ánh nhìn mà không cần chú ý đến màu mắt. Chúng ta sẽ không thành công trong việc hiểu tri giác trừ khi chúng ta tính đến chức năng màu sắc có thể vẫn tồn tại ngay cả khi hình thức chất lượng bị thay đổi. Tôi nói rằng bút máy của tôi [tr.356] màu đen, và tôi thấy nó màu đen dưới ánh nắng mặt trời. Nhưng màu đen này ít mang tính chất cảm nhận của màu đen hơn là một sức mạnh u ám tỏa ra từ vật thể, ngay cả khi nó bị phủ bởi ánh sáng phản chiếu, và nó chỉ hiển thị theo nghĩa mà màu đen về mặt đạo đức hiển thị. Màu sắc thực sự tồn tại bên dưới vẻ bề ngoài cũng như nền tồn tại bên dưới hình ảnh, nghĩa là không phải như một phẩm chất được nhìn thấy hoặc nghĩ đến, mà thông qua sự hiện diện phi giác quan. Vật lý và cả tâm lý học đưa ra một định nghĩa tùy ý về màu sắc, mà trên thực tế chỉ phù hợp với một trong những phương thức xuất hiện của nó và từ lâu đã che khuất phần còn lại. Hering yêu cầu rằng trong việc nghiên cứu và so sánh màu sắc, chúng ta chỉ quan tâm đến màu sắc thuần túy, bỏ qua tất cả các hoàn cảnh bên ngoài.

Chúng ta phải làm việc ‘không phải trên các màu sắc thuộc về một đối tượng xác định, mà trên một quale [quale - số nhiều qualia - là một thuật ngữ triết học chỉ trải nghiệm chủ quan, định tính của các giác quan, ví dụ như ‘độ đỏ’ của màu đỏ, vị mặn của muối, hay cảm giác đau; đây là cách thế giới hiện hữu trong tâm trí bạn, khác biệt với các mô tả vật lý thuần túy. HHN] thuộc tính, dù là phẳng hay lan tỏa khắp không gian, tồn tại độc lập mà không cần phương tiện xác định’.9 Các màu sắc của quang phổ gần như đáp ứng các điều kiện này. Nhưng những Flächenfarben vùng màu này trên thực tế chỉ là một trong những cấu trúc màu sắc có thể có, và màu của một mảnh giấy hoặc Oberflächenfarbe màu bề mặt không còn tuân theo cùng một quy luật nữa. Các ngưỡng khác biệt thấp hơn trong trường hợp màu bề mặt so với các vùng màu.10 Các vùng màu thực sự nằm ở một khoảng cách, mặc dù mơ hồ; chúng có vẻ ngoài xốp, trong khi màu sắc bề mặt thì đậm đặc và thu hút ánh nhìn vào bề mặt của chúng. Hơn nữa, các vùng màu luôn song song với mặt phẳng phía trước, trong khi màu sắc bề mặt có thể thể hiện bất kỳ hướng nào. Cuối cùng, các vùng màu luôn phẳng hơn hoặc ít hơn, và không thể - nếu không muốn mất đi đặc tính riêng biệt của chúng - mang một hình dạng cụ thể và xuất hiện cong hoặc trải rộng trên bề mặt.11 Tuy nhiên, cả hai chế độ xuất hiện này đều được tìm thấy trong thí nghiệm của các nhà tâm lý học, hơn nữa, nơi chúng thường bị nhầm lẫn. Nhưng còn nhiều chế độ khác mà các nhà tâm lý học từ lâu đã im lặng: màu sắc của các vật thể trong suốt, chiếm Raumfarbe màu sắc căn phòng; Glanz độ bóng; Glühen ánh sáng; Leuchten độ rực rỡ và nói chung là màu sắc của ánh sáng, khác xa với màu sắc của nguồn sáng đến mức họa sĩ có thể [tr.357] thể hiện cái trước bằng sự phân bố ánh sáng và bóng tối trên các vật thể và bỏ qua hoàn toàn cái sau.12 Chúng ta có khuynh hướng tin rằng ở đây chúng ta có những sự sắp xếp khác nhau của tri giác về màu sắc vốn tự nó là bất biến, những hình thức khác nhau được gán cho cùng một vật liệu khả giác. Trên thực tế, chúng ta có những chức năng màu sắc khác nhau trong đó vật liệu được cho là biến mất hoàn toàn, vì hành động tạo hình được thực hiện thông qua sự thay đổi trong chính các thuộc tính khả giác. Điều đặc biệt đúng là sự phân biệt giữa ánh sáng và màu sắc riêng của vật thể không phải là kết quả của bất kỳ phân tích trí tuệ nào, hoặc việc gán ý nghĩa khái niệm cho một vật liệu khả giác, mà là một sự tổ chức nhất định của chính màu sắc, sự hình thành một cấu trúc ánh sáng cho vật được chiếu sáng, điều mà chúng ta cần mô tả chi tiết hơn nếu muốn hiểu được tính bất biến của màu sắc ‘riêng’ của một vật.13

Dưới ánh đèn khí, một tờ giấy màu xanh trông có màu xanh. Tuy nhiên, nếu chúng ta quan sát nó bằng máy đo ánh sáng, chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng nó phát ra cùng một hỗn hợp tia sáng đến mắt như một tờ giấy nâu dưới ánh sáng ban ngày.14 Một bức tường trắng được chiếu sáng yếu ớt, với những lưu ý đã nêu, trông có vẻ trắng đối với tầm nhìn không bị cản trở, lại hiện ra màu xám xanh nếu ta nhìn nó qua cửa sổ của một tấm chắn che khuất nguồn sáng. Họa sĩ đạt được kết quả tương tự mà không cần tấm chắn và có thể nhìn thấy màu sắc như chúng được xác định bởi số lượng và chất lượng của ánh sáng phản xạ, miễn là anh ta tách chúng ra khỏi môi trường xung quanh, bằng cách nhắm hờ mắt chẳng hạn. Sự thay đổi về hình thức này không thể tách rời khỏi sự thay đổi cấu trúc trong màu sắc: bằng hành động đặt tấm chắn [tr.358] giữa mắt chúng ta và cảnh vật, và nhắm hờ mắt, chúng ta giải phóng màu sắc khỏi tính khách quan mà chúng có được trên bề mặt của các vật thể và khôi phục lại cho chúng trạng thái đơn giản của các vùng sáng. Chúng ta không còn nhìn thấy những vật thể thực sự, chẳng hạn như bức tường hay tờ giấy, với màu sắc xác định và vị trí của chúng trong thế giới, mà là những mảng màu nằm trên cùng một mặt phẳng ‘hư cấu’.15 Màn hình hoạt động chính xác như thế nào? Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn điều này nếu quan sát hiện tượng tương tự trong các điều kiện khác nhau. Nếu chúng ta lần lượt nhìn qua lỗ nhòm của hai chiếc hộp lớn được sơn màu đen và trắng tương ứng ở bên trong, một hộp được chiếu sáng mờ, hộp kia được chiếu sáng mạnh, sao cho lượng ánh sáng mà mắt nhận được trong mỗi trường hợp là như nhau, và nếu chúng ta sắp xếp sao cho bên trong các hộp không có bóng hoặc sự thiếu đồng nhất trong lớp sơn, thì chúng trở nên không thể phân biệt được, và trong mỗi trường hợp chúng ta chỉ thấy một không gian trống rỗng bị bao phủ bởi màu xám. Toàn bộ hiệu ứng sẽ thay đổi nếu đặt một tờ giấy trắng vào hộp đen, hoặc một tờ giấy đen vào hộp trắng. Ngay lập tức, tờ giấy trắng xuất hiện màu đen và được chiếu sáng mạnh, tờ giấy đen xuất hiện màu trắng và được chiếu sáng mờ. Do đó, để trình bày cấu trúc chiếu sáng vật thể được chiếu sáng, cần ít nhất hai bề mặt có khả năng phản xạ khác nhau.16

Nếu ta sắp xếp sao cho chùm tia sáng của đèn hồ quang chiếu chính xác vào một đĩa đen, và nếu đĩa này được đặt chuyển động để loại bỏ ảnh hưởng của độ nhám luôn hiện diện trên bề mặt của nó—đĩa sẽ hiện ra, giống như phần còn lại của căn phòng, được chiếu sáng mờ ảo, và chùm ánh sáng là một khối màu trắng với đĩa làm nền. Nếu sau đó ta đặt một mảnh giấy trắng trước đĩa, ‘ngay lập tức ta thấy đĩa ‘đen’, giấy ‘trắng’, và cả hai đều dưới ánh sáng mạnh.’17 Sự biến đổi hoàn toàn đến mức người ta có cảm giác như đang nhìn thấy một đĩa mới. Những thí nghiệm mà màn chắn không đóng vai trò gì làm sáng tỏ những thí nghiệm mà màn chắn có vai trò: yếu tố quyết định trong hiện tượng hằng số, mà màn chắn loại bỏ, và có thể hoạt động trong tầm nhìn tự do, là sự thể hiện toàn bộ trường thị giác, sự phong phú và tinh tế của các cấu trúc của nó. Khi nhìn qua cửa sổ của một tấm bình phong, chủ thể không còn có thể überschauen ‘giám sát’ các mối quan hệ được tạo ra bởi ánh sáng, [tr.359] tri giác, tức là, trong không gian hữu hình, toàn thể phụ thuộc, mỗi tổng thể có sự khác biệt riêng, nổi bật lên trên nền của tổng thể khác.18 Khi họa sĩ khép hờ mắt, anh ta loại bỏ sự sắp xếp chiều sâu của trường và cùng với nó, sự tương phản chính xác của ánh sáng, do đó không còn bất kỳ vật thể xác định nào với màu sắc riêng của chúng nữa. Nếu thí nghiệm với tờ giấy trắng trong bóng tối và tờ giấy xám được chiếu sáng được lặp lại, và nếu các ảnh dư của hai tri giác được chiếu lên màn hình, thì người ta quan sát thấy rằng hiện tượng hằng số không được bảo toàn, như thể hằng số và cấu trúc ánh sáng - vật thể được chiếu sáng chỉ có thể xảy ra trong vật thể chứ không phải trong không gian khuếch tán của ảnh dư.19 Bằng cách thừa nhận rằng các cấu trúc này phụ thuộc vào sự tổ chức của trường, chúng ta ngay lập tức đi đến sự hiểu biết về tất cả các quy luật thực nghiệm chi phối hiện tượng hằng số.20 Thứ nhất, nó tỷ lệ thuận với kích thước của vùng võng mạc mà vật thể được chiếu lên, và càng rõ rệt hơn khi, trong không gian võng mạc liên quan, một mảnh thế giới rộng lớn hơn và được thể hiện phong phú hơn được chiếu lên. Nó kém hoàn hảo hơn ở thị giác ngoại vi so với thị giác trung tâm, ở thị giác đơn nhãn so với thị giác song nhãn, trong tầm nhìn ngắn so với tầm nhìn kéo dài; nó bị suy giảm ở khoảng cách xa; và nó thay đổi tùy thuộc vào từng cá nhân theo sự phong phú của thế giới tri giác của họ, và cuối cùng, nó kém hoàn hảo hơn trong ánh sáng màu, vốn làm mất đi cấu trúc bề mặt của các vật thể và đưa tiềm năng phản chiếu của các bề mặt khác nhau lên một mức độ chung, so với ánh sáng không màu, vốn giữ nguyên những khác biệt về cấu trúc này.21 Do đó, mối liên hệ giữa hiện tượng hằng số, sự liên kết của trường và hiện tượng chiếu sáng có thể được coi là một sự thật đã được thiết lập. Nhưng mối quan hệ chức năng này cho đến nay vẫn chưa làm rõ được cả các thuật ngữ mà nó liên kết, hoặc do đó, mối liên hệ cụ thể của chúng, và lợi ích lớn nhất của khám phá này sẽ bị mất đi nếu ta chỉ bằng lòng với việc thiết lập một biến thể tương quan giữa ba thuật ngữ được hiểu theo nghĩa thông thường của chúng. Theo nghĩa nào chúng ta có thể nói màu sắc của [tr.360] vật thể vẫn không đổi? Tổ chức của cảnh tượng và trường mà nó được cấu thành là gì?

Cuối cùng, ánh sáng là gì? Sự quy nạp tâm lý vẫn mù quáng chừng nào chúng ta chưa thể quy tụ ba biến số mà nó hàm chứa vào một hiện tượng duy nhất, và chừng nào nó chưa dẫn dắt chúng ta đến một trực giác nào đó mà trong đó các ‘nguyên nhân’ hoặc ‘điều kiện’ được cho là của hiện tượng hằng số sẽ xuất hiện như những ‘khoảnh khắc’ của hiện tượng đó và có mối quan hệ thiết yếu với nó.22 Vậy thì chúng ta hãy xem xét các hiện tượng vừa được tiết lộ cho chúng ta, và cố gắng xem chúng thúc đẩy lẫn nhau như thế nào trong tri giác toàn diện. Trước hết, chúng ta hãy xem xét phương thức xuất hiện đặc biệt của ánh sáng hoặc màu sắc mà chúng ta gọi là ánh sáng. Điều gì đặc biệt về nó? Điều gì xảy ra khi một mảng sáng nhất định được coi là ánh sáng thay vì chính nó? Chỉ sau nhiều thế kỷ hội họa, các nghệ sĩ mới nhận ra sự phản chiếu trên mắt mà nếu thiếu nó thì mắt vẫn trở nên mờ đục và vô hồn như trong các bức tranh của các bậc thầy thời kỳ đầu.23 Hình ảnh phản chiếu không được nhìn nhận theo đúng nghĩa, vì trên thực tế nó đã có thể không bị chú ý trong một thời gian dài, nhưng nó vẫn có chức năng trong tri giác, bởi vì sự vắng mặt của nó đã tước đi sự sống và biểu cảm của các vật thể và khuôn mặt. Hình ảnh phản chiếu chỉ được nhìn thấy một cách ngẫu nhiên. Nó không được trình bày cho tri giác của chúng ta như một đối tượng, mà như một yếu tố phụ trợ hoặc trung gian. Bản thân nó không được nhìn thấy, nhưng nó khiến chúng ta nhìn thấy phần còn lại. Hình ảnh phản chiếu và ánh sáng trong nhiếp ảnh thường được tái tạo kém vì chúng được biến đổi thành vật thể, và nếu, ví dụ trong một bộ phim, một người đi vào hầm rượu cầm đèn, chúng ta không nhìn thấy chùm ánh sáng như một thực thể phi vật chất đang khám phá bóng tối và chọn ra các vật thể, bởi vì nó đã bị cứng hóa và không còn có thể hiển thị cho chúng ta vật thể ở đầu xa của nó nữa. Ánh sáng di chuyển trên một bức tường chỉ tạo ra [tr.361] những vũng sáng chói lóa được định vị không phải trên tường, mà trên bề mặt màn hình. Do đó, ánh sáng và sự phản chiếu chỉ phát huy tác dụng nếu chúng ở lại trong hậu cảnh như những trung gian kín đáo, dẫn dắt ánh nhìn của chúng ta thay vì thu hút nó.24 Nhưng chúng ta nên hiểu điều đó như thế nào? Khi tôi được dẫn qua một căn hộ lạ đến chỗ chủ nhân của nó, có một ai đó thay mặt tôi biết rõ, đối với gã, diễn biến của cảnh tượng thị giác có ý nghĩa, và kẻ đó đang hướng tới một mục tiêu, và tôi tin tưởng hoặc cho phép bản thân mình tiếp nhận thứ hiểu biết mà tôi không sở hữu. Khi một chi tiết nào đó trong một phong cảnh, mà tôi không thể tự mình phân biệt lại được chỉ ra cho tôi, thì có một kẻ đã nhìn thấy nó, kẻ đó đã biết phải đứng ở đâu và nhìn vào đâu để thấy nó. Ánh sáng hướng dẫn ánh nhìn của tôi và khiến tôi nhìn thấy vật thể, vì vậy, theo một nghĩa nào đó, nó biết và nhìn thấy vật thể. Nếu tôi tưởng tượng một nhà hát không có khán giả, trong đó tấm màn vén lên trên một khung cảnh được chiếu sáng, tôi có ấn tượng rằng chính cảnh tượng tự thân hiển hiện hoặc sẵn sàng được nhìn thấy, và ánh sáng dò xét hậu cảnh và tiền cảnh, làm nổi bật bóng tối và thấm đẫm toàn bộ khung cảnh, theo một cách nào đó, dự đoán được tầm nhìn của chúng ta. Ngược lại, tầm nhìn của chúng ta chỉ đơn thuần tự mình đảm nhận và thực hiện việc bao quát toàn cảnh bằng những con đường được vạch ra cho nó bởi ánh sáng, giống như khi nghe một câu, chúng ta ngạc nhiên khi phát hiện ra dấu vết của một suy nghĩ xa lạ.

Chúng ta tri giác phù hợp với ánh sáng, cũng như chúng ta suy nghĩ phù hợp với những kẻ khác trong giao tiếp bằng lời nói. Và cũng giống như giao tiếp giả định - ngay cả khi vượt trội và làm phong phú thêm nó trong trường hợp biểu đạt mới và chân thực –một bối cảnh ngôn ngữ nhất định mà qua đó ý nghĩa nằm trong các từ, thì nhận thức cũng giả định trong chúng ta một bộ máy có khả năng đáp ứng những thúc đẩy của ánh sáng phù hợp với ý nghĩa của chúng* - nghĩa là, phù hợp với cả hướng và ý nghĩa của chúng, vốn là một-, tập trung khả tính thị giác phân tán và hoàn thiện những gì chỉ được báo trước trong cảnh tượng. Bộ máy này là cái nhìn, nói cách khác là mối tương quan tự nhiên giữa các hiện tượng và sự phát triển vận động [tr.362], một điều không được biết đến thông qua một quy luật, mà được trải nghiệm như sự tham gia của cơ thể vào các cấu trúc điển hình của một thế giới. Ánh sáng và sự ổn định của vật được chiếu sáng, là yếu tố tương quan của nó, phụ thuộc trực tiếp vào tình trạng cơ thể của chúng ta. Nếu, trong một căn phòng sáng sủa, chúng ta quan sát một đĩa trắng đặt trong một góc tối, thì sự ổn định của màu trắng là không hoàn hảo. Nó được cải thiện khi chúng ta tiến đến vùng tối chứa đĩa. Nó trở nên hoàn hảo khi chúng ta thực sự bước vào đó.25

________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

1 Schapp, Beiträge zur Phänomenologie der Wahrnehmung, pp. 59 and ff.

2. Tính bất biến của hình dạng và kích thước trong nhận thức do đó không phải là một chức năng trí tuệ, mà là một chức năng hiện sinh, có nghĩa là nó phải liên quan đến hành động tiền logic mà qua đó chủ thể chiếm vị trí của mình trong thế giới. Khi một chủ thể con người được đặt ở trung tâm của một hình cầu mà trên đó có gắn các đĩa có đường kính bằng nhau, người ta nhận thấy rằng tính bất biến hoàn hảo hơn nhiều ở mặt phẳng ngang so với mặt phẳng thẳng đứng. Mặt trăng khổng lồ trên đường chân trời tương phản với mặt trăng rất nhỏ ở thiên đỉnh chỉ là một trường hợp đặc biệt của cùng một quy luật. Mặt khác, đối với loài vượn, chuyển động thẳng đứng trên cây là tự nhiên, cũng như chuyển động ngang trên mặt đất đối với chúng ta, dẫn đến tính bất biến theo chiều dọc là hoàn hảo. Koffka, Principles of Gestalt Psychology, pp. 94 and ff.

3 Gedächtnisfarbe of Hering.

4 Gelb, Die Farbenkonstanz der Sehdinge, p. 613.

5 It is eindringlicher.

6 Stumpf, quoted by Gelb, p. 598.

7 Gelb, op. cit., p. 671.

8 Katz, Der Aufbau der Farbwelt, pp. 4–5.

9 Quoted by Katz, Farbwelt, p. 67.

10 Ackermann, Farbschwelle und Feldstruktur.

11 Katz, Farbwelt, pp. 8–21.

12 Ibid., 47–8. Ánh sáng là một yếu tố dữ liệu phi thường, trực tiếp như màu sắc bề mặt. Trẻ em nhìn nhận nó như một đường lực chạy xuyên qua trường thị giác, và đó là lý do tại sao bóng của các vật thể và tương ứng với nó ngay lập tức được đặt trong mối quan hệ sống động với ánh sáng: trẻ nói rằng bóng “đang chạy trốn khỏi ánh sáng”. J. Piaget, La Causalité physique chez l’enfant, Chap. VIII, p. 21.

13 Thật vậy, người ta đã chứng minh [Gelb and Goldstein, Psychologische Analysen Hirnpathologischer Fälle, Über den Wegfall der Wahrnehmung von Oberflächenfarben Gelb và Goldstein, Phân tích tâm lý các bệnh lý não, về con đường nhận thức màu sắc bề mặt] rằng tính ổn định màu sắc có thể được tìm thấy ở những người đã mất khả năng tiếp nhận màu sắc bề mặt hoặc ánh sáng. Có vẻ như tính ổn định là một hiện tượng cơ bản hơn nhiều. Nó được tìm thấy ở các loài động vật có nhiều loại thiết bị cảm giác đơn giản hơn mắt. Do đó, cấu trúc ánh sáng - vật thể được chiếu sáng là một loại ổn định đặc biệt và có tổ chức cao. Nhưng nó vẫn cần thiết cho một tính ổn định chính xác và khách quan, và cho sự nhận thức về sự vật. (Gelb, Die Farbenkonstanz der Sehdinge, p. 677.)

14 The experiment is already reported by Hering, Grundzüge der Lehre von Lichtsinn, p. 15.

15 Gelb, Farbenkonstanz, p. 600.

16 Ibid., p. 673.

17 Ibid., p. 674.

18 Ibid., p. 675.

19 Ibid., p. 677.

20 These are the laws set out by Katz in Farbwelt.

21 Gelb, Farbenkonstanz, p. 677.

22 Trên thực tế, nhà tâm lý học, dù cố gắng duy trì chủ nghĩa thực chứng đến đâu, chắc chắn cũng cảm thấy rằng toàn bộ giá trị của nghiên cứu quy nạp là dẫn chúng ta đến một quan điểm về các hiện tượng, và ông ta không bao giờ hoàn toàn cưỡng lại được cám dỗ gợi ý, ít nhất là về sự nhận thức mới này. Vì vậy, P. Guillaume (Traité de Psychologie, tr. 175), khi trình bày các quy luật chi phối tính ổn định của màu sắc, đã viết rằng mắt ‘tính đến ánh sáng’. Các nghiên cứu của chúng ta, theo một nghĩa nào đó, chỉ khuếch đại tuyên bố ngắn gọn này. Nó không có ý nghĩa gì trong bối cảnh của một cách tiếp cận hoàn toàn thực chứng. Mắt không phải là tâm trí, mà là một cơ quan vật chất. Làm sao nó có thể ‘tính đến’ bất cứ điều gì? Nó chỉ có thể làm như vậy nếu chúng ta đưa cơ thể hiện tượng vào bên cạnh cơ thể khách quan, nếu chúng ta biến nó thành một cơ thể nhận thức, và tóm lại, nếu chúng ta thay thế ý thức, với tư cách là chủ thể của nhận thức, sự tồn tại, hoặc hiện hữu trong thế giới thông qua một cơ thể.

23 Schapp, Beiträge zur Phänomenologie der Wahrnehmung, p. 91.

* The French word ‘sens’ may be equivalent to either ‘direction’ or ‘meaning’ in English (Translator’s note).

24 In order to describe the essential function of lighting, Katz borrows from painters the term Lichtführung (Farbwelt, pp. 379–81).

25 Gelb, Farbenkonstanz, p. 633.