Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz
[Tr.27] Nếu bây giờ chúng ta sắp hiểu học thuyết phán đoán của Leibniz, điều này không có nghĩa là thu thập một số thông tin tùy ý về những gì một trong những nhà triết học trước đó đã dạy về phán đoán. Đúng ra thì đó là một con đường suy ngẫm cụ thể về những gì làm cho tư duy trở nên khả thể. Do đó, chúng ta phải tập trung vào cách tư duy được đưa ra ở đây, những cấu trúc cơ bản nào nó xác định, những cấu trúc này sẽ được dựa trên cơ sở rộng rãi như thế nào, và điều gì cung cấp nền tảng cho đặc điểm này của tư duy. Tư duy trong mỗi trường hợp là tư duy về các đối tượng, và điều đó có nghĩa là về các thực thể. Là một tư duy về một cái gì đó, tư duy có mối quan hệ với các thực thể. Tư duy và các thực thể có mối quan hệ như thế nào? Bản thân tư duy là một hoạt động của Dasein và do đó là một cách tồn tại - tồn tại như một thực thể, Dasein, đối với các thực thể khác. Nếu tư duy trở thành chủ đề của chúng ta, thì nhờ đó mà các mối quan hệ Hữu thể luận trở thành chủ đề.
[Ghi chú dài về Gottfried Wilhelm Leibniz (1646 - 1716) là một nhà bác học người Đức hoạt động trong lĩnh vực toán học, triết học, khoa học và ngoại giao. Ông được ghi nhận, cùng với Isaac Newton, là người sáng tạo ra phép tính vi phân và tích phân, bên cạnh nhiều nhánh toán học khác, chẳng hạn như số học nhị phân và thống kê. Leibniz được gọi là ‘thiên tài toàn năng cuối cùng’ do kiến thức chuyên môn rộng lớn của ông trên nhiều lĩnh vực, điều trở nên hiếm hoi sau thời ông với sự ra đời của Cách mạng Công nghiệp và sự lan rộng của lao động chuyên môn hóa. Ông là một nhân vật nổi bật trong cả lịch sử triết học và lịch sử toán học. Ông đã viết các tác phẩm về triết học, thần học, đạo đức, chính trị, luật pháp, lịch sử, ngữ văn học, trò chơi, âm nhạc, kinh tế học và các nghiên cứu khác. Leibniz cũng có những đóng góp lớn cho vật lý và công nghệ tương lai; ông dự đoán những khái niệm xuất hiện muộn hơn nhiều trong lý thuyết xác suất, sinh học, y học, địa chất học, tâm lý học, ngôn ngữ học và khoa học máy tính. Leibniz đã đóng góp cho lĩnh vực khoa học thư viện, phát triển một hệ thống lập mục lục, sau này trở thành mô hình cho nhiều thư viện lớn nhất châu Âu. Những đóng góp của ông cho nhiều lĩnh vực khác nhau được rải rác trong nhiều tạp chí học thuật, trong hàng chục nghìn bức thư và trong các bản thảo chưa được xuất bản. Ông viết bằng nhiều ngôn ngữ, chủ yếu là tiếng Latinh, tiếng Pháp và tiếng Đức. Với tư cách là một nhà triết học, ông là một đại diện hàng đầu của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy tâm thế kỷ 17. Với tư cách là một nhà toán học, thành tựu chính của ông là sự phát triển của phép tính vi phân và tích phân, độc lập với những phát triển đương thời của Newton. Ký hiệu của Leibniz được ưa chuộng như là cách diễn đạt thông thường và chính xác hơn của phép tính vi phân và tích phân. Ngoài công trình nghiên cứu về phép tính vi phân và tích phân, ông còn được ghi nhận là người đã nghĩ ra hệ thống số nhị phân hiện đại, vốn là nền tảng của truyền thông hiện đại và điện toán kỹ thuật số. Ông đã hình dung ra lĩnh vực tôpô tổ hợp ngay từ năm 1679, và giúp khởi xướng lĩnh vực phép tính vi phân phân số. Trong thế kỷ 20, các khái niệm của Leibniz về định luật liên tục và định luật siêu việt về tính đồng nhất đã tìm thấy một công thức toán học nhất quán bằng phương pháp phân tích phi tiêu chuẩn. Ông cũng là người tiên phong trong lĩnh vực máy tính cơ học. Trong khi nghiên cứu việc bổ sung phép nhân và chia tự động vào máy tính của Pascal, ông là người đầu tiên mô tả máy tính bánh răng vào năm 1685 và phát minh ra bánh xe Leibniz, sau này được sử dụng trong máy tính số học, máy tính cơ học sản xuất hàng loạt đầu tiên. Trong triết học và thần học, Leibniz nổi tiếng nhất với chủ nghĩa lạc quan, tức là kết luận của ông cho rằng thế giới của chúng ta, theo một nghĩa nhất định, là thế giới tốt nhất mà Chúa có thể tạo ra, một quan điểm đôi khi bị các nhà tư tưởng khác chế giễu, chẳng hạn như Voltaire trong tiểu thuyết châm biếm Candide. Leibniz, cùng với René Descartes và Baruch Spinoza, là một trong ba nhà duy lý có ảnh hưởng nhất thời kỳ đầu hiện đại. Triết học của ông cũng tiếp thu các yếu tố của truyền thống kinh viện, đáng chú ý là giả định rằng một số kiến thức thực chất về thực tại có thể đạt được bằng cách suy luận từ các nguyên tắc đầu tiên hoặc các định nghĩa có trước. Tác phẩm của Leibniz đã dự đoán trước logic hiện đại và vẫn ảnh hưởng đến triết học phân tích đương đại, chẳng hạn như việc sử dụng thuật ngữ mundus possibilis ‘thế giới khả thể’ để định nghĩa các khái niệm đơn tử. Tư tưởng triết học của Leibniz có vẻ rời rạc vì các tác phẩm triết học của ông chủ yếu bao gồm nhiều đoạn ngắn: các bài báo trên tạp chí, các bản thảo được xuất bản rất lâu sau khi ông qua đời, và thư từ gửi cho các cộng sự. Ông đã viết hai luận văn triết học dài, trong đó chỉ có Essais de Théodicée sur la bonté de Dieu, la liberté de l'homme et l'origine du mal Các bài luận về Thuyết biện minh cho sự Tốt lành của Chúa, Tự do của con người và Nguồn gốc của cái ác - thường được biết đến với tên gọi đơn giản là Théodicée được xuất bản năm 1710, khi ông còn sống. Cuốn sách giới thiệu thuật ngữ thuyết biện minh cho sự tốt lành của Chúa, và cách tiếp cận lạc quan của nó đối với vấn đề cái ác được cho là đã truyền cảm hứng cho tác phẩm Candide của Voltaire, mặc dù mang tính châm biếm. Phần lớn tác phẩm bao gồm phản hồi đối với các ý tưởng của nhà triết học người Pháp Pierre Bayle và dựa trên cuộc trò chuyện của tác giả với Sophia Charlotte của Hanover, người mà Leibniz đã tranh luận trong nhiều năm. Leibniz phân biệt ba hình thức của cái ác: đạo đức, thể chất và siêu hình. Cái ác đạo đức là tội lỗi, cái ác thể chất là đau đớn, và cái ác siêu hình là sự hạn chế. Chúa cho phép cái ác về mặt đạo đức và thể xác vì lợi ích của những điều tốt đẹp hơn, và cái ác siêu hình - sự hạn chế - là không thể tránh khỏi vì bất kỳ vũ trụ nào được tạo ra cũng nhất thiết không thể đạt được sự hoàn hảo tuyệt đối của Chúa. Ý chí tự do của con người phù hợp với sự biết trước của Chúa, bởi vì mặc dù tất cả các sự kiện trong vũ trụ đều được dự đoán và định trước, nhưng chúng không phải là bắt buộc - tức là cần thiết về mặt logic, và chỉ khi các lựa chọn của con người là bắt buộc thì ý chí tự do mới là ảo tưởng. Khởi đầu của ông với tư cách là một nhà triết học bắt đầu từ Luận về Siêu hình học, mà ông đã viết vào năm 1686 như một lời bình luận về cuộc tranh luận đang diễn ra giữa Nicolas Malebranche và Antoine Arnauld. Năm 1695, Leibniz chính thức bước vào giới triết học châu Âu với một bài viết có tựa đề ‘Hệ thống mới về bản chất và sự truyền đạt của các chất’. Leibniz cũng viết một bài báo ngắn, ‘Primae veritates’ Chân lý đầu tiên, được Louis Couturat xuất bản lần đầu vào năm 1903 tóm tắt quan điểm của ông về siêu hình học. Không giống như Descartes và Spinoza, Leibniz được đào tạo đại học về triết học, chịu ảnh hưởng của giáo sư Jakob Thomasius ở Leipzig, người cũng hướng dẫn luận văn Cử nhân Nghệ thuật về triết học của ông. Leibniz rất quan tâm đến các phương pháp và kết luận mới của các nhà khoa học và tư tưởng đường thời Descartes, Huygens, Newton và Boyle - HHN]
Chúng ta sẽ xác định mối quan hệ giữa tư duy và hiện hữu từ đâu? Mối quan hệ nào gần gũi nhất? Đối với Descartes, Spinoza và Leibniz, tư duy là điều gần gũi nhất. Vậy hiện hữu có theo sau tư duy không? Trong trường hợp đó, một hiện hữu phải hoàn toàn và về nguyên tắc theo cách mà nó hoàn toàn có thể được xác định bằng tư duy. Theo tiên đề về khả năng hiểu thấu đáo này, các điều kiện của chân lý là [tr.28] những tiền đề của hiện hữu. Cum Deus calculat et cogitationem exercet, fit mundus.1 “Khi Chúa tính toán (bằng các dấu hiệu khả kiến) và chuyển tư duy của Ngài thành hành động, thì thế giới hiện khởi.”2 [Đây là một ghi chú bên lề trong bản thảo ‘Dialogus’ (1677) của ông, được tìm thấy trong Die philosophischen Schriften von Gottfried Wilhelm Leibniz Các Tác phẩm Triết học của Gottfried Wilhelm Leibniz (G VII, tr. 191). HHN] Để xác định các hiện hữu theo đúng nghĩa, tức là hiện hữu, người ta phải xuất phát từ bản chất của tư duy, bằng cách vạch ra những gì thuộc về một cái gì đó được nghĩ theo đúng nghĩa, bằng tiến trình tư duy. Con đường đi từ bản chất của tư duy đến bản chất của hiện hữu, từ logic đến Hữu thể luận. Hay ngược lại, logic có được xây dựng trên Hữu thể luận không? Người ta biết rằng lịch sử phát triển của logic phần lớn được xác định bởi mối quan hệ này. Đó là điều hiển nhiên rằng logic của Aristotle được đặt nền tảng trong siêu hình học của ông. Chủ nghĩa duy lý hiện đại, bị chi phối bởi triết lý cogito sum ‘tôi tư duy nên tôi tồn tại’, đặt ra cho mình nhiệm vụ giải phóng logic khỏi sự ràng buộc này. Việc đánh giá mối quan hệ giữa logic và siêu hình học trong tư tưởng của Leibniz còn gây tranh cãi.3 Tuy nhiên, việc lựa chọn giữa hai quan điểm thay thế chính là không hiệu quả. Mối quan hệ giữa các ngành học phải được quyết định từ chính các vấn đề và đối tượng nghiên cứu; các ngành học không nên được coi là những lãnh thổ cố định. Có thể trong cả hai ngành, các lãnh thổ đều không được định nghĩa một cách đầy đủ. Chúng tôi muốn trình bày học thuyết về phán đoán và các chiều kích của nó của Leibniz, vì vậy chúng tôi chỉ có thể đề cập đến cuộc tranh luận một cách thoáng qua. Chúng tôi muốn nghiên cứu các chiều kích của phán đoán, những mối liên hệ mà trên cơ sở đó bất cứ điều gì giống như một phán đoán đều có thể xảy ra. Người ta đã nhiều lần chỉ ra rằng phán đoán, tuyên bố, tự nó có một cấu trúc. Là một xác định vị ngữ, phán đoán hướng đến tri thức, đến chân lý. Là một hành vi, phán đoán tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Là một tri thức về các hiện hữu, nó có liên quan đến các hiện hữu theo đúng nghĩa. Vì vậy, chúng tôi sẽ trình bày phân tích mang tính giải gỡ [Phân tích giải gỡ trong triết học của Martin Heidegger, được gọi là Destruktion dỡ ra hoặc Abbau tháo dỡ, không phải là một quá trình hủy diệt, mà là một phương pháp tháo dỡ mang tính phê phán được sử dụng để khám phá những trải nghiệm nền tảng, nguyên thủy về Bản thể đã bị che khuất bởi lịch sử siêu hình học phương Tây; đó là một phần quan trọng trong phương pháp hiện tượng học của ông trong tác phẩm Hữu thể và Thời gian, được thiết kế để ‘nới mở’ các khái niệm truyền thống - như vật chất, chủ thể và thời gian - và khôi phục lại ý nghĩa đích thực, nguyên thủy của chúng; các khía cạnh Destruktion giải gỡ cốt lõi của Heidegger: tháo dỡ, không phải tiêu hủy - Heidegger đã khẳng định rõ ràng rằng tháo dỡ không có nghĩa là tiêu diệt, mà là gỡ ra, thanh lý, hoặc gạt sang một bên những khẳng định lịch sử đơn thuần và những giả định cứng nhắc của triết học truyền thống; đó là việc tháo dỡ các khái niệm truyền thống để quay trở lại kinh nghiệm ban đầu, ‘nền tảng’ dẫn đến sự hình thành của chúng; một công cụ cho ‘Hữu thể luận Nền tảng’: Tháo dỡ là điều cần thiết cho ‘Hữu thể luận Nền tảng’ - nghiên cứu về chính Hữu thể - bởi vì lịch sử siêu hình học đã ‘che đậy’ câu hỏi thực sự về Bản thể; nó mở đường cho việc đặt lại câu hỏi về Hữu thể; sự ‘che đậy’ của truyền thống: Heidegger lập luận rằng lịch sử triết học phương Tây đã ‘vật hóa’ các khái niệm ban đầu là những cách thức năng động để trải nghiệm thực tại; việc giải gỡ có tác dụng tháo dỡ ‘mái che’ các hiện tượng này; nhắm vào Siêu hình học là mục tiêu chính của cuộc tháo dỡ này đối với các khái niệm siêu hình truyền thống như ‘bản chất’, ‘ý thức’ và định nghĩa về Being/Hữu thể như là hiện diện vĩnh cửu; mục tiêu là Khôi phục (Lặp lại): Mục tiêu của sự phá hủy không chỉ đơn giản là để lại triết học trong đống đổ nát, mà là để ‘khôi phục’ hoặc Wiederholung lặp lại những hiểu biết nguyên bản, đích thực của các nhà tư tưởng trong quá khứ, giải phóng chúng khỏi các lớp diễn giải lịch sử tích lũy; phân tích Dasein: Phân tích giải gỡ gắn liền với phân tích Dasein/ Hiện hữu người của Heidegger, nhằm mục đích cho thấy rằng sự hiểu biết truyền thống về ‘cái tôi’ hay ‘chủ thể’ đã bị mất đi trong ‘bất kỳ ai’, bất kỳ công chúng vô danh nào; các Khái niệm Chính trong Phương pháp tháo dỡ: Destruktion/Abbau: Dù dịch là phá hủy nhưng Destruktion và Abbau liên quan cần được hiểu là tháo dỡ, hoặc giải cấu trúc, phá dỡ. Verfallen ‘Sự sa ngã’: Tháo dỡ là cách giải quyết ‘sa ngã’ của Dasein, nơi chúng ta bị cuốn vào thế giới vật chất hàng ngày và đánh mất ý thức đích thực về hiện hữu của mình; Hiện tượng học Tường giải: Tháo dỡ là một phần của phương pháp ‘tường giải’, có nghĩa là nó tìm cách giải thích và làm sáng tỏ những ý nghĩa ‘ẩn giấu’ hoặc ‘bị che đậy’ của Hữu thể. HHN] đối với học thuyết phán đoán của Leibniz như sau:
[Ghi chú nữa: Trong tư tưởng của mình, Martin Heidegger đã diễn giải lại một cách triệt để khái niệm truyền thống về chân lý. Ông chỉ trích quan điểm cổ điển, vốn hiểu chân lý chủ yếu là Richtigkeit tính đúng đắn (adaequatio/ veritas), và truy tìm nguồn gốc của nó từ một trải nghiệm nguyên thủy hơn: Enthüllung hay Unverborgenheit khải lộ hay aletheia không che giấu; theo cách hiểu biết truyền thống: chân lý thường được định nghĩa là adaequatio sự tương ứng của rei ad intellectum một phát ngôn với sự vật; theo Heidegger quan điểm này - thường được gọi là veritas hay rectitude - không sai, nhưng nó mang tính phái sinh; nó đã giả định rằng tâm trí liên hệ với một thực thể và quên mất cách thức mà chính thực thể đó trở nên có thể tiếp cận được; chân lý như là Enthüllung Aletheia khải lộ: Heidegger đề cập đến khái niệm Aletheia của Hy Lạp, mà ông diễn giải là Unverborgenheit ‘không che giấu’ hoặc Entbergen ‘mở ra’ [Entbergen không phải là một động từ phổ biến trong tiếng Đức tiêu chuẩn; nó được cấu tạo từ tiền tố ent- + bergen, theo nghĩa đen, nghĩa văn học có thể hiểu là ‘lấy ra khỏi nơi ẩn dấu’, ‘làm lộ ra’, hoặc ‘làm hiện ra’, ngược lại với bergen - ẩn nấp, che dấu, lưu trữ; Heidegger lập luận rằng kinh nghiệm nguyên thủy về chân lý như là Aletheia khải lộ cái đã bị che khuất trong tiến trình triết học phương Tây bởi sự cố chấp vào chân lý mệnh đề veritas tính đúng đắn; Tình trạng Seinsvergessenheit Lãng quên Hữu thể: đối với Heidegger, tái tường giải là một phần của siêu hình học phương Tây, vốn đã quên đi chính Bản thể và chỉ tập trung vào các thực thể như những đối tượng mang tính đúng đắn. - HHN] [Tr.29] 1). Đặc điểm cấu trúc tổng quát của phán đoán - lý thuyết bao hàm; 2). Phán đoán và ý niệm về chân lý. Các hình thức cơ bản của chân lý: veritas rationis và veritas facti, vérité de raison và vérité de fait; [Ghi chú M. Heidegger thảo luận về veritas chân lý tiếng Latin và phân biệt với khái niệm Hy Lạp cổ đại alētheia không che giấu – theo Heidegger, chuyển dịch của alētheia thành veritas chân lý/sự chính xác - đánh dấu một thay đổi cơ bản trong lịch sử triết học, nơi chân lý chuyển từ việc ‘để sự vật hiện ra’ sang correspondence tương ứng với ‘đúng đắn trong tư duy’; sau đây là các khía cạnh chính trong lập luận của Heidegger về veritas: Veritas est adaequatio intellectus et rei: Heidegger thường xuyên dẫn lại công thức Latin này, nghĩa là ‘chân lý là sự tương ứng giữa trí tuệ và sự vật’. Ông xem đây là công thức truyền thống định hình quan điểm về chân lý là Richtigkeit tính chính xác, thay vì Verschüttung che giấu. Veritas vs. Alētheia: Ông cho rằng từ Latin veritas và từ tiếng Đức Wahrheit không chứa ‘tiếng vang’ về trải nghiệm chân lý như không che giấu mà người Hy Lạp thấu hiểu. Ông nhấn mạnh alētheia nên được hiểu là tình trạng ‘không che giấu’ thay vì chỉ là ‘chân lý’ theo nghĩa tương ứng. Sự biến chất của khái niệm: Trong triết học của mình, Heidegger cố gắng truy tìm lại gốc rễ của chân lý trước khi nó bị biến thành veritas - chân lý trong tư duy - và trở thành tính chính xác của tri thức. Tóm lại, đối với Heidegger, veritas trong tiếng Latin đại diện cho sự suy giảm ý nghĩa của chân lý từ việc sự vật alētheia tự hiện ra thành một thuộc tính của tư duy hay adaequatio - tương ứng, phù hợp, làm cho bằng nhau hoặc điều chỉnh -HHN] 3). Chân lý và các nguyên tắc cơ bản của tri thức: principium identitatis, principium contradictionis, và principium rationis sufficientis. [Ba thuật ngữ nền tảng của logic và triết học: Principium Identitatis Nguyên lý Đồng nhất) Một vật là chính nó (A = A); mọi sự vật, hiện tượng đều đồng nhất với bản thân nó; Principium Contradictionis Nguyên lý Phi mâu thuẫn: Một sự vật không thể vừa là nó, vừa không phải là nó cùng một lúc, trong cùng một quan hệ (A không thể là không-A); hai câu khẳng định trái ngược không thể cùng đúng; Principium Rationis Sufficientis Nguyên lý Lý do Đầy đủ: Mọi sự vật, hiện tượng hay chân lý đều phải có lý do, căn cứ hoặc nguyên nhân đầy đủ giải thích tại sao nó như thế này mà không phải thế khác. HHN] (Mathesis universalis Học vấn Phổ quát và tính thống nhất của tri thức); 4).Ý niệm về tri thức như vậy; intuitus cái nhìn; 5). Xác định bản chất tồn tại của các thực thể đích thực như những đối tượng khả thể của tri thức - đơn tử; 6). Khái niệm cơ bản về tồn tại như vậy – essential bản chất, conatus khuynh hướng và existentiae tồn tại; 7). Lý thuyết phán đoán và khái niệm tồn tại - logic và Hữu thể luận.
[Ghi chú dài thêm về quan niệm chân lý của Heidegger: Thông thường chúng ta hiểu ‘chân lý’ là gì? Từ ‘chân lý’ cao cả nhưng đồng thời cũng mệt mỏi và gần như nhạt nhòa này có nghĩa là điều làm cho một thứ được coi là đúng. Thứ đúng là gì? Ví dụ, chúng ta nói: ‘Thật là một niềm vui khi được hợp tác hoàn thành nhiệm vụ này.’ Chúng ta muốn nói rằng đó thực sự là một niềm vui. Cái đúng là cái hiện thực. Do đó, chúng ta nói về vàng thật để phân biệt với vàng giả. Vàng giả không thực sự là những gì nó thể hiện. Nó chỉ là một ‘hình thức’ và do đó không phải là hiện thực. Cái không phải là hiện thực được coi là trái ngược với cái hiện thực. Nhưng cái chỉ có vẻ là vàng thì vẫn là một cái gì đó hiện thực. Do đó, chúng ta nói chính xác hơn, vàng thật là vàng đích thực. Tuy nhiên, cả hai đều là ‘hiện thực’, vàng giả đang lưu hành cũng không kém gì vàng đích thực. Vì vậy, điều đúng về vàng đích thực không thể được chứng minh chỉ bằng tính hiện thực của nó. Câu hỏi lại được đặt ra: ‘đích thực’ và ‘chân thực’ ở đây có nghĩa là gì? Vàng thật là vàng thực sự mà tính hiện thực của nó phù hợp [in der Ubereinstimmung steht] với những gì, luôn luôn và từ trước giúp chúng ta hiểu một cách ‘thích đáng’ là ‘vàng’. Ngược lại, bất cứ khi nào nghi ngờ vàng giả, chúng ta nói: ‘Ở đây có gì đó không phù hợp’ [stimmt nicht]. Mặt khác, chúng ta nói về bất cứ điều gì ‘đúng như nó nên có’: Nó phù hợp’. Vấn đề phù hợp [Die Sache stimmt]. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ gọi là đúng một niềm vui thực sự, vàng thật, và tất cả những thứ thuộc loại đó, mà còn và trên hết, chúng ta gọi là đúng hay sai những phát ngôn của chúng ta về những thứ, bản thân chúng có thể là thật hoặc không thật tùy thuộc vào loại của chúng, có thể như vậy hoặc khác đi trong tính hiện thực của chúng. Một phát ngôn là đúng nếu những gì nó có nghĩa và nói phù hợp với vấn đề mà phát ngôn đó đề cập đến. Ở đây chúng ta cũng nói, ‘Nó phù hợp’. Tuy nhiên, bây giờ không phải vấn đề phù hợp mà là mệnh đề. Cái chân the true, dù là vấn đề hay mệnh đề, là cái phù hợp, cái tương ứng [das Stimmende]. Sự thật và chân lý ở đây đều mang nghĩa tương ứng, và theo hai nghĩa: một mặt, là sự hòa hợp [Einstimmigkeit] của một vấn đề với những gì được giả định trước về nó, và mặt khác, là sự phù hợp của ý nghĩa được nêu trong phát biểu với vấn đề đó. Tính chất kép này của sự tương ứng được làm sáng tỏ bởi định nghĩa truyền thống về chân lý: veritas est adaequatio rei et intellectus. Điều này có thể được hiểu là: chân lý là sự tương ứng [Angleichung] của vấn đề với tri thức. Nhưng điều đó cũng có thể được hiểu: chân lý là sự tương ứng của tri thức với vấn đề. Phải thừa nhận rằng, định nghĩa trên thường chỉ được nêu trong công thức veritas est adaequatio intellectus ad rem [chân lý là sự phù hợp giữa trí tuệ và sự vật]. Tuy nhiên, chân lý được hiểu theo cách này, chân lý mệnh đề, chỉ có thể có trên cơ sở chân lý vật chất [Sachwahrheit], của adaequatio rei ad intellectum [sự phù hợp giữa sự vật và trí tuệ]. Cả hai khái niệm về bản chất của veritas đều liên tục hướng đến sự phù hợp với… [Sichrichten nach…] và do đó coi chân lý là tính chính xác [Richtigkeit]. Tuy nhiên, khái niệm này không chỉ đơn thuần là sự đảo ngược của khái niệm kia. Ngược lại, trong mỗi trường hợp, intellectus trí tuệ và res sự vật được hiểu theo những cách khác nhau. Để nhận ra điều này, chúng ta phải truy tìm công thức thông thường cho khái niệm chân lý phổ biến trở lại nguồn gốc gần đây nhất của nó (tức là thời Trung cổ). Veritas với tư cách là adaequatio rei ad intellectum không hàm ý quan niệm siêu nghiệm sau này của Kant — chỉ có thể dựa trên cơ sở tính chủ quan của bản chất con người — rằng ‘các đối tượng phù hợp với tri thức của chúng ta’. Thay vào đó, nó hàm ý niềm tin thần học Kitô giáo cho rằng, xét về bản chất và sự tồn tại của nó, một vật chất, ens creatum khi được tạo ra, chỉ tồn tại khi nó tương ứng với ý niệm được hình thành trong intellectus divinus, tức là trong trí tuệ linh thánh, và do đó phù hợp với ý niệm (là đúng) và theo nghĩa này là ‘chân lý’. Intellectus humanus trí tuệ con người cũng là một ens creatum được tạo ra. Là một năng lực được Chúa ban cho con người, nó phải thỏa mãn ý niệm của nó. Nhưng sự hiểu biết chỉ phù hợp với ý niệm bằng cách hoàn thành trong các mệnh đề của nó sự tương ứng giữa những gì được suy nghĩ với vật chất, mà đến lượt nó phải phù hợp với ý niệm. Nếu tất cả mọi sinh vật đều được ‘tạo ra’, thì khả năng về chân lý của tri thức con người được dựa trên thực tế là vật chất và mệnh đề đều tương xứng với ý niệm theo cùng một cách và do đó phù hợp với nhau trên cơ sở sự thống nhất của kế hoạch sáng tạo thiêng liêng. Veritas as adaequatio rei (creandae) ad intellectum (divinum) guarantees veritas as adaequatio intellectus (humani) ad rem (creatam). Chân lý là sự phù hợp của vật được tạo ra với trí tuệ (Thiên Chúa)—đảm bảo cho chân lý nhận thức luận (con người) —sự phù hợp của trí tuệ con người với vật (được tạo ra). Xuyên suốt, veritas về bản chất hàm ý convenientia, sự hòa hợp của chính các hữu thể, với tư cách là những sinh vật được tạo ra, với Đấng Tạo Hóa, một “sự hòa hợp” liên quan đến cách chúng được xác định trong trật tự tạo hóa. Nhưng trật tự này, tách rời khỏi khái niệm tạo hóa, cũng có thể được biểu diễn một cách tổng quát và không xác định như một trật tự thế giới. Trật tự tạo hóa được hình dung theo thần học được thay thế bằng khả năng của tất cả các đối tượng được lập kế hoạch bằng một lý trí thế tục [Weltvernunft] cung cấp luật cho chính nó và do đó cũng khẳng định rằng quy trình của nó có thể hiểu ngay lập tức (điều được coi là ‘logic’). Bản chất của chân lý mệnh đề nằm ở tính đúng đắn của các phát biểu không cần thêm bằng chứng đặc biệt nào nữa. Ngay cả khi có nỗ lực — với sự thiếu thành công rõ rệt — để giải thích tính đúng đắn xảy ra như thế nào, thì nó đã được giả định là bản chất của chân lý. Tương tự, chân lý vật chất luôn biểu thị sự phù hợp của một sự vật hiện hữu với khái niệm ‘lý trí’ về bản chất của nó. Ấn tượng nảy sinh là định nghĩa về bản chất của chân lý này độc lập với sự giải thích về bản chất của Sự tồn tại của tất cả các hữu thể, vốn luôn bao gồm một sự giải thích tương ứng về bản chất của con người với tư cách là người mang và thực thi trí tuệ. Do đó, công thức về bản chất của chân lý veritas est adaequatio intellectus et rei Chân lý là sự phù hợp giữa trí tuệ và sự vật có giá trị chung như một điều hiển nhiên đối với mọi người. Dưới sự chi phối của tính hiển nhiên mà khái niệm chân lý này dường như có nhưng lại ít được chú ý đến về cơ sở bản chất của nó, người ta cho rằng cũng hiển nhiên rằng chân lý có một mặt đối lập, và rằng có sự không chân thực. Tính không chân thực của mệnh đề (tính không chính xác) là sự không phù hợp của phát ngôn với sự vật. Sự không chân thực của sự vật (tính không chân thực) biểu thị sự không phù hợp của một hữu thể với bản chất của nó. Trong mỗi trường hợp, sự không chân thực được coi là sự không phù hợp. Cái sau nằm ngoài bản chất của chân lý. Do đó, khi vấn đề là thấu hiểu bản chất thuần túy của chân lý, thì sự phi chân lý, như một đối lập của chân lý, có thể được gạt bỏ. Nhưng liệu có còn cần thiết phải làm sáng tỏ thêm bản chất của chân lý nữa không? Chẳng phải bản chất thuần túy của chân lý đã được thể hiện đầy đủ trong khái niệm được chấp nhận rộng rãi, một khái niệm không bị lật đổ bởi bất kỳ lý thuyết nào và được đảm bảo bởi tính hiển nhiên của nó hay sao? Hơn nữa, nếu coi việc truy ngược chân lý mệnh đề về chân lý vật chất là điều từ đầu nó thể hiện, cụ thể là một lời giải thích thần học, và nếu sau đó chúng ta giữ định nghĩa triết học hoàn toàn thuần khiết, không pha trộn với thần học và giới hạn khái niệm chân lý ở chân lý mệnh đề, thì chúng ta gặp phải một truyền thống tư duy cũ - mặc dù không phải là lâu đời nhất - theo đó chân lý là ὁμοίωσις homoiosis sự phù hợp của một λόγος logos phát ngôn/lý trí với một πρᾶγμα pragma vấn đề/sự vật. Điều gì ở các phát ngôn ở đây vẫn còn đáng để đặt câu hỏi - giả sử rằng chúng ta biết ý nghĩa của sự phù hợp giữa một phát ngôn với vấn đề? Chúng ta có biết điều đó không? Theo Martin Heidegger (1943). On the Essence of Truth, translated by John Sallis, The fourth edition of the essay (1961) - HHN].
§l. Đặc điểm cấu trúc tổng quát của phán đoán
Ngày nay, chúng ta đang dần nhận thấy rõ hơn mối liên hệ giữa triết học hiện đại với chủ nghĩa kinh viện thời trung cổ và từ đó với thời cổ đại, đặc biệt là Aristotle. Chúng ta có thể kỳ vọng học thuyết phán đoán của Leibniz không hoàn toàn mới mẻ mà chịu ảnh hưởng của truyền thống, của thời trung cổ và thời cổ đại. Khi còn trẻ, Leibniz đặc biệt nghiên cứu kỹ lưỡng chủ nghĩa kinh viện, nhất là Francisco Suarez, đại diện hàng đầu của chủ nghĩa kinh viện cuối thời kỳ Cải cách Phản kháng. Tác phẩm Disputationes Metaphysicae Những tranh luận Siêu hình học năm 1597 của ông đã hệ thống hóa các học thuyết truyền thống về siêu hình học và ảnh hưởng lớn đến Descartes và chủ nghĩa kinh viện Tin lành trong thế kỷ XVI và XVII. [Tr.30] Nhưng Leibniz cũng nghiên cứu trực tiếp Aristotle. Vì vậy, chúng ta lại phải quay trở lại những điều đã đề cập trước đó, mặc dù chúng ta đã đề cập đến một số trong số đó. Chúng ta đã nói rằng, theo tư tưởng của Aristotle, người coi λόγος logos là συμπλοκή (sumplokḗ) (giao tranh/va chạm; đan xen/liên hệ/ kết nối; hay σύνθεσις sýnthesis, tổng hợp, kết hợp, hợp thành hoặc sắp đặt với nhau - phán đoán được định nghĩa là một compositio vel division Hợp thành hoặc Phân chia. Thomas Aquinas, trong Quaestiones Disputatae de Veritate Những Câu hỏi Tranh luận về Chân lý, q. XIV, a. 1, nói về operatio intellectus, secundum quam componit vel dividit, affirmando et negando [hoạt động của trí tuệ mà nhờ đó nó kết hợp hoặc tách rời, trong việc khẳng định và phủ định]. Theo nghĩa hình thức rộng nhất, phán đoán là mối quan hệ giữa các biểu tượng, và giữa các khái niệm. Đây là những cách diễn đạt nghe có vẻ giống nhau và dường như nói cùng một điều. Tuy nhiên, đằng sau chúng ẩn chứa một sự mơ hồ và bất hòa lớn trong lý thuyết. Kant cũng nói điều này (trong Phê phán Lý tính Thuần túy B 140/41).
Tôi chưa bao giờ chấp nhận được cách giải thích mà các nhà logic học đưa ra về phán đoán nói chung. Họ tuyên bố rằng đó là sự biểu hiện của một mối quan hệ giữa hai khái niệm. Tôi không tranh luận với họ về những thiếu sót trong cách giải thích này… Tôi chỉ cần chỉ ra rằng định nghĩa này không xác định được mối quan hệ được khẳng định bao gồm những gì. Những nỗ lực giải thích nó vẫn còn gây tranh cãi cho đến ngày nay. Thiếu sót quan trọng là các điều kiện của vấn đề chưa được làm rõ. Mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là một λέγειν τι κατά τινος legein ti kata tinos: ‘nói điều gì đó chống lại ai/cái gì,’ hoặc ‘cáo buộc ai về điều gì’ de aliquot ‘về một ai đó’ hoặc ‘về một cái gì đó’. Cái ‘về cái mà’ là cái nằm bên dưới, ὑποκείμενον hypokeimenon, subjectum. [ὑποκείμενον (hupokeimenon/hypokeimenon) là một thuật ngữ quan trọng trong triết học Hy Lạp cổ đại, nghĩa đen là ‘thứ nằm bên dưới’; về nghĩa từ nguyên: từ này có gốc động từ ὑπόκειμαι hupókeimai - nằm bên dưới; trong triết học Siêu hình học, được Aristotle và các triết gia sau đó sử dụng để chỉ ‘chủ thể vật chất’ (material substratum/subject), tức là bản chất cơ bản, chất liệu tồn tại dai dẳng bên dưới sự vật, đóng vai trò là cơ sở cho các thuộc tính hoặc biến đổi; về nghĩa ngôn ngữ υποκείμενο - ypokeímeno được dùng với nghĩa ‘chủ ngữ’ trong câu, ví dụ trong một sự thay đổi (như nước đá tan thành nước), hypokeimenon là chất liệu thực sự (nước) nằm bên dưới các trạng thái biến đổi rắn -> lỏng-HHN] Vị ngữ là điều được nói về điều gì đó, do đó, thuật ngữ vị ngữ là một ‘dấu hiệu’ của điều gì đó đã nói, như Aristotle nói (de Interpret. 3, 16b 1Of.): ρήμα…και αεί τῶν καθ' έτερον λεγόμενον σημεῖον ἐστίν οἰῶν τῶν καθ' ὑποκείμενον ἤ ἐν ὑποκειμένῳ động từ...và cái gọi là dấu hiệu luôn luôn là của những gì thuộc chủ ngữ hoặc trong chủ ngữ. Nói cách khác, vị ngữ là những gì được nói về cái tiềm ẩn đó hoặc được nói là nằm trong cái tiềm ẩn đó. Quan điểm này trước hết được thúc đẩy bởi sự cân nhắc hiển nhiên rằng những gì được cho là có thể nói về một cái gì đó, và được nói một cách chính xác, trung thực, phải áp dụng cho chủ ngữ (esse de ratione subjecti), phải được chứa đựng trong chủ ngữ ὑπάρχειν αὑτῷ. Sự cân nhắc tưởng chừng như rõ ràng này ngay lập tức trở nên mơ hồ và không rõ ràng khi chúng ta hỏi: chủ ngữ có nghĩa là gì?
[Tr.31] Trong câu nói ‘cái bảng màu đen’, liệu chính cái bảng có phải là chủ ngữ hay là khái niệm, nội dung tinh thần, hay ý nghĩa của từ ‘cái bảng’? Tương ứng, có một câu hỏi liên quan đến ‘đen’ và việc nó được chứa đựng trong chủ ngữ. Liệu ở đây có sự chứa đựng lẫn nhau của các khái niệm, ý niệm, hay thuộc tính của chính sự vật? Việc được chứa đựng hay được bao gồm trong chính cái gì đó có phải là thuộc về vật thể, tinh thần hay khái niệm? Có sự tương ứng nào giữa các mối quan hệ chứa đựng khác nhau này không? Và làm thế nào để định nghĩa những mối quan hệ này, là sự tương ứng, là sự mô tả, hay là sự phối hợp? ‘Bảng đen’, ‘viên phấn rơi khỏi bàn’ - làm thế nào mà ‘đen’ và ‘rơi khỏi bàn’ được chứa đựng trong chủ ngữ tương ứng của chúng? Và ‘được chứa đựng trong’ có nghĩa là gì? Và liệu có nên nói điều gì như thế này không? Hay việc nói về sự chứa đựng chỉ là một lý thuyết, một nỗ lực để giải thích phán đoán? Dù thế nào đi nữa, quan niệm về λόγος logos của Leibniz cũng hướng tới một lý thuyết như vậy về việc vị ngữ được chứa đựng trong chủ ngữ. Đó là một lý thuyết về sự bao hàm. Nếu lý thuyết đó không được đặc trưng một cách hời hợt, thì rõ ràng một quan niệm riêng biệt về sự chứa đựng, về in-esse, phải được phát triển trong đó và điều này có nghĩa là một quan niệm về esse, về sự tồn tại. Thực tế, với Leibniz, lý thuyết bao hàm được thể hiện và đặt nền tảng rất cụ thể. Trước tiên, có một vài dẫn chứng để mô tả học thuyết phán đoán của Leibniz. (1) Trong tác phẩm Discours de Metaphysique Diễn ngôn Siêu hình học năm 1686 (xuất bản lần đầu năm 1846 từ các bản thảo sau khi tác giả qua đời), một trong những tác phẩm chính trong bối cảnh nghiên cứu của chúng ta, Leibniz nói trong § 8 (G. IV, 432/33, bản dịch Buchenau): Tất nhiên, khi một số vị ngữ được gán cho một chủ ngữ duy nhất trong khi chủ ngữ này không được gán cho bất kỳ chủ ngữ nào khác, thì nó được gọi là một thực thể cá thể. Nhưng điều này là chưa đủ, và định nghĩa như vậy chỉ mang tính danh nghĩa. Vậy thì, chúng ta phải xem xét ý nghĩa của việc được thực sự gán cho một chủ ngữ nhất định. Giờ đây, chắc chắn rằng mọi vị ngữ đúng đều có quelque fondement một cơ sở nào đó trong bản chất của sự vật, và khi một mệnh đề không phải là một đồng nhất tính, nghĩa là, khi vị ngữ không được compris chứa đựng rõ ràng trong chủ ngữ, thì nó phải được bao gồm trong đó theo cách ảo. Đây là điều mà các nhà triết học gọi là in-esse đang tồn tại trong khi họ nói rằng vị ngữ est dans ở trong chủ ngữ.
[Tr.32] Vì vậy, thuật ngữ chủ ngữ phải luôn bao gồm thuật ngữ vị ngữ theo cách mà bất kỳ ai hiểu hoàn hảo khái niệm chủ ngữ cũng sẽ biết rằng vị ngữ thuộc về nó. [Dòng 307] Ý tưởng trong đoạn văn này chủ yếu đề cập đến khái niệm ‘cái đơn tử’ (monad) [Monad Đơn tử trong triết học, đặc biệt là triết học của Gottfried Leibniz, là thực thể đơn giản, phi vật chất, không thể phân chia và là đơn vị cơ bản cấu tạo nên vũ trụ; chúng được coi là những linh hồn hoặc nguyên tố nhỏ bé, tự hoạt động, phản ánh trật tự thế giới và khác biệt nhau qua nhận thức bên trong - HHN], với πρώτη οὐσία (the τόδε τι) ‘bản thể thứ nhất’ hay ‘thực thể đầu tiên’ của Aristotle. Ở đây Leibniz đề cập rõ ràng đến định nghĩa truyền thống về chất, vốn có nguồn gốc từ Aristoteles: Oὐσία δέ ἐστιν ῇ κυριώτατα τε καὶ πρῶτος καὶ μάλιστα λεγόμενε ἢ μήτε καθ' ὑποκείμενον τίνος λέγεται μήτε ἐν ‘Bản thể, theo nghĩa đúng nhất, tiên khởi nhất và chủ yếu nhất, là cái không được vị ngữ hóa trên một chủ thể nào và cũng không nằm trong một chủ thể nào…” Đây là một trong những điều bạn cần làm để đạt được điều đó. (Loại 5, 2a 11ff.). Oὐσία Bản thể….chúng tôi gọi cái không được đặt tên và được nói liên quan đến một sự vật cơ bản khác cũng như không được hiểu là một cái gì đó nằm trong một sự vật cơ bản khác, ví dụ, nó là người đàn ông này ở đây, con ngựa này ở đây.”
Bởi οὐσία chất thể mà Aristotle hiểu rằng cái đó hiện diện độc lập, sự hiện diện độc lập. Về ý nghĩa của ἐν ὑποκείμενῷ trong chủ thể, Aristotle nói (Cùng nguồn 2, la 24f.): ἐν ὑποκείμενῷ δὲ λἐγω ὸ ἐν τινί μὴ ώς μἐρος ὐπαρχον ἀδύνατον χωρίς εἶναι τοῦ ἐν ᾧ ἐστιν. “Khi nói ‘trong chủ thể’, tôi không có ý nói hiện diện trong nó như những bộ phận được chứa đựng trong một tổng thể; tôi muốn nói là nó không thể tồn tại ngoài chủ thể được đề cập đến.” Nghĩa là, về cơ bản nó không độc lập. Nó có ý nghĩa tương tự trong Siêu hình học (Z13, 1038b 8ff.): ἔοικε γάρ ἀδύνατον είναι οὐσίαν είναι ὁτιοῦν τὧν καθόλου λεγόμενον πρώτη μὲν γὰρ οὐσία ἴδιος ἑκάστῳ ἤ οὐχ υπάρχει ἄλλῳ τὁ δὲ καθόλου κοινόν τοῦτο γὰρ λέγετα καθόλου ὁ πλείοσιν ὑπάρχειν πέφυκεν “Vì dường như không thể có bất kỳ thuật ngữ phổ quát nào có thể là bản chất. Bản chất đầu tiên là đặc thù của mỗi cá thể và không thuộc về bất cứ thứ gì khác, trong khi bản chất phổ quát là chung, bởi vì nó có nghĩa là cái mà về bản chất thuộc về nhiều thứ.” Trong cách giải thích về bản chất cá nhân ở đoạn trích dẫn từ Discours de Metaphysique, λέγειν legein diễn ngôn được đề cập đến theo nghĩa: bản chất cá nhân về cơ bản là không thể được gán cho một cái gì đó tiềm ẩn; về cơ bản nó là độc lập (và không bao giờ có thể được gán cho một cái gì đó). Leibniz nhận thấy rằng cách giải thích bản chất này bắt nguồn từ sự gán thuộc tính, và do đó, một sự xác định triệt để về bản chất của sự gán thuộc tính, của phán đoán, nhất thiết phải cung cấp một khái niệm nguyên thủy về bản chất. Khái niệm về bản chất này là khái niệm về chủ thể. Trong đoạn văn này, Leibniz nói rằng trong mọi phát biểu đúng, chủ thể phải chứa đựng vị ngữ trong chính nó, dù là rõ ràng hay ngầm định. Ở nơi nó được chứa đựng rõ ràng (A là A) thì có một đồng nhất tính; khi nó không được chứa đựng một cách rõ ràng, thì chúng ta đối diện với một [tr.33] đồng nhất tính ẩn giấu. Một tuyên bố đúng ngụ ý vị ngữ nằm trong chủ ngữ, vị ngữ được bao hàm trong chủ ngữ. Bất cứ ai có cái nhìn thấu đáo và đầy đủ về một chủ ngữ đều có thể đưa ra tất cả các phán đoán đúng về chủ ngữ này; kẻ đó chỉ cần làm rõ chúng.
Đoạn trích từ tác phẩm Diễn ngôn đầu tiên được dẫn một cách có chủ đích. Nó chỉ ra vấn đề trung tâm, đó là ý nghĩa đa dạng của khái niệm ‘chủ ngữ’ và mối liên hệ của nó với khái niệm bản thể. ‘Chủ ngữ’ là 1) ὑποκείμενον hypokeimenon bản thể cá nhân, hiện hữu độc lập cá nhân, chủ thể tồn tại; 2) chủ ngữ của tuyên bố, chủ ngữ logic; không phải mọi chủ ngữ logic đều cần phải là một bản thể, và do đó khái niệm này rộng hơn; 3) cái ‘Tôi’ trái ngược với đối tượng, là chủ ngữ nổi bật của các tuyên bố và là hiện hữu cá thể độc lập nổi bật. Ở đây trong Leibniz, chủ thể tồn tại, cái bản chất, được hiểu từ quan điểm của chủ thể logic, từ chủ thể của một tuyên bố. Nhưng điều ngược lại cũng hoàn toàn có thể xảy ra, tức là, hiểu chủ thể logic từ chủ thể tồn tại: chủ thể nào có ưu quyền hơn, chủ thể tồn tại hay chủ thể logic? Hoặc cả hai đều không?
_________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Note
*This ‘Deatruktion’ is the same kritiacher Abbau spoken of in the introduction (German text p. 27). The image here is not one of total demolition but of a de-construction by which the original impulses, long buried in sedimentation, are reactivated. The image of dismantling an old structure serves to translate the de-struction to which Heidegger refers.
1. Die philosophischen Schriften von Gottfried Wilhelm Leibniz, ed. C. I. Gerhardt, 7 volumes (Berlin 1875-90) [reprint, Hildesheim, 1960-61], volume 7, p. 191 note. The statement is well known: Cum Deus calculate….fit mundU8; it also provides the motto for L. Coutu rat, La Logique de Leibniz. D'apres des documents inedita (Paris, 1901) [reprint, Hildesheim, 1961].
2. Following D. Mahnke, Leibnizens Synthese von Universalmathematik und lndividualmetaph!lsik in }ahrbuch fiir Philosophie und phiJnomenologische Forschung, volume 7; printed separately in Halle, 1925 [reprint, Stuttgart-Bad Cannstatt, 19641, p. 43.
3. Logic as the foundation of Leibniz's metaphySics is the thesis of Bertrand Russell's A Critical Exposition of the Philosophy of Leibniz (Cambridge, 1900), as well as of Louis Couturat's book, cited in note I, which is the best known. Counterarguments to this view have not yet succeeded in refuting it.
4. For modem developments and the contemporary state of logic see the following: Die Logik von Port ROllal: lA Logique ou l'Art de PeMer, 1662, frequently reprinted and translated; Kant's VorlesuRg über Logik, ed. Jische, 1800, Akademie edition, volume 9; C. Sigwart, Logik, 2 volumes, 1873, 4th edition, 1911; H. Lotze, Logfk, 1874, 2nd edition, 1879, and 1912 edition with a valuable introduction by G. Misch, also Sigwart's smaller Logik of 1843; W. Schuppe, Erkenntni8theoreti8che Logik, 1878; J. Bergmann, Reine Logik, 1879; Husserl's Logische Untersuchungen, 1900- 1901; A. Pfander, Logik, ]ahrbuch für Philosophie und phanomenologische Forschung, Volume 4, published separately in 1921, truly a handbook; otherwise, for related material, see C. Prantl, Geschfchte der Logik im Abendlande, 4 volumes, 1855-70.
5. cr. Leibniz's dissertation, Disputatio Metaphllsica de Principio lndividuf, 1663; Gerhardt 4, 15-26.
6. G.W. Leibniz. Hauptschriften zur Grundlegung tier Philosophie, trans. A. Buchenau, revised and edited with introductions and discussions by Ernst Cassirer, 2 volumes (Philosophische Bibliotek, volumes 107 and 108), Leipzig 1904-6 [3rd e dition, Hamburg, 1966]; volume 2, p. 143.
