Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT
46. Bất khả tính Giả tượng về Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein từ phương diện Bản thể luận và Việc xác định
[Tr.279] Cần phải vượt qua cái thực trạng khiếm khuyết của die hermeneutische Situation Tình huống tường giải – vốn đã làm nảy sinh các phân tích trước đó về Dasein. Chúng ta cần phải đưa toàn bộ Dasein vào cái ‘có-trước’ của mình. Theo đó, ta phải đặt câu hỏi liệu thực thể này, với tư cách là một cái đang hiện hữu, có bao giờ có thể được tiếp cận trong cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó hay không. Ngay trong chính trạng thái Hữu thể của Dasein, có những lý do quan trọng dường như phủ nhận cái khả tính của Vorgabe trạng thái cho trước nó theo cách thức được yêu cầu. [Chen ngang: Heidegger gùng từ Vorgabe/ pre-givenness/ presentation trạng thái cho trước/ trình diện trước trong hai văn cảnh cụ thể: 1) Heidegger sử dụng khái niệm Gegebenheit sự cho sẵn/trạng thái được ban cho và các khái niệm liên đới như das Gegebene cái cho sẵn hay Vorgabe cái cho trước: i) Đối với Heidegger, trước khi thực hiện bất kỳ một hành vi suy luận lý thuyết hay nhận thức luận nào về một đối tượng, đối tượng đó hoặc thế giới xung quanh đã phải hiện diện hoặc lộ diện sẵn trong trải nghiệm thực tế của chúng ta rồi; ii) Vorgabe chính là những cấu trúc, hoàn cảnh hoặc ý nghĩa mang tính chất ‘tiền đề’, được ban cho hoặc đặt để trước Dasein hiện hữu người trước khi chúng ta kịp phân tích hay suy nghĩ về nó. 2) Cần phân biệt với Vorhabe/ Fore-having - Có trước: i) Rất dễ nhầm lẫn giữa Vorgabe và Vorhabe do cấu trúc từ gần giống nhau – Vorhabe/ Fore-having / Cái có trước); ii) Đi cùng với Vorsicht Cái nhìn trước và Vorgriff Cái nắm bắt trước, Vorhabe cấu thành nên cấu trúc diễn giải của con người, nó biểu thị những hiểu biết nền tảng mà chúng ta đã ‘sở hữu sẵn’ khi tiếp cận một điều gì đó; iii) Vorgabe (Pre-givenness) – trạng thái cho trước thường thiên về trạng thái mang tính khách quan hoặc thụ động hơn — tức là những gì được cấu trúc hoặc ‘giao phó /trình diện trước’ cho trải nghiệm của chúng ta từ thế giới. -HHN]. Cái khả tính Hữu-thể-một-chỉnh-thể của thực thể này rõ ràng là không tương thích với ý nghĩa bản thể luận của Sorge/Care/Chăm lo – vốn hình thành nên tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc của Dasein.
Tuy nhiên, yếu tố tiên quyết trong sự quan tâm chính là trạng thái Sich-vorweg ‘vượt-trước-chính-mình’; điều này có nghĩa là trong mọi trường hợp, Dasein hiện hữu vì bản thân nó. ‘Chừng nào còn hiện hữu’ – cho đến chung cục của mình – nó vẫn luôn hướng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình. Ngay cả khi vẫn hiện hữu nhưng không còn gì ở ‘phía trước’ và abgeschlossen đã ‘hoàn tất’, thì Hữu thể của nó vẫn được quy định bởi cái Sich-vorweg trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’. Chẳng hạn, nỗi tuyệt vọng không tách rời Dasein khỏi các khả tính của nó, mà chỉ là một trong những phương thức Hữu thể hướng đến các khả tính đó của chính nó. Ngay cả khi một kẻ không còn ảo tưởng và Gefasstsein auf Alles ‘sẵn sàng cho mọi sự’, thì ở đó vẫn ẩn giấu Sich-vorweg trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’. Trạng thái Sich-vorweg ‘vượt-trước-chính-mình’ – với tư cách là một yếu tố trong cấu trúc chăm lo – cho ta thấy rõ ràng rằng ở Dasein luôn tồn tại một điều gì đó còn dang dở;1 điều này, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính Dasein, vẫn chưa trở thành hiện thực. Một đặc điểm cốt yếu trong cấu thành cơ bản của Dasein là luôn có eine ständige Unabgeschlossenheit một thứ chưa được hoàn tất. Sự thiếu vắng tính trọn vẹn này biểu thị rằng vẫn còn điều gì đó chưa được thực hiện trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể của một kẻ nào đó.
[Tr.280] Tuy nhiên, ngay khi Dasein ‘hiện hữu’ theo cách vốn hoàn toàn không còn điều gì chưa được thực hiện nữa, thì chính vì lý do đó, nó đã trở thành Nicht-mehr-da-sein trạng thái ‘không-còn-Hữu-thể-ở-đó’. Hữu thể của nó bị triệt tiêu khi những gì còn dang dở trong Hữu thể đó đã được thanh toán. Chừng nào Dasein còn tồn tại như một hiện hữu, thì nó chưa thể nào đạt tới ‘tính chỉnh thể’ của mình.2 Nhưng nếu nó đạt được ‘tính chỉnh thể’ ấy, thì thành quả đó lại trở thành sự mất mát hoàn toàn trạng thái Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong trường hợp đó, nó không bao giờ còn có thể được trải nghiệm như một hiện hữu nữa. Lý do cho cái bất khả tính trải nghiệm Dasein về phương diện ontish thực hữu như một als seiendes Ganzes chỉnh thể hiện hữu — và do đó không thể xác định đặc tính của nó về phương diện bản thể luận trong trạng thái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó — không nằm ở bất kỳ sự khiếm khuyết nào trong năng lực nhận thức của chúng ta. Trở ngại thực sự nằm ở chính cái Hữu thể của hiện hữu này. Bất cứ điều gì không thể tương thích với những gì mà một trải nghiệm — vốn tự cho là nắm bắt được Dasein — tuyên bố, thì về nguyên tắc, điều đó hoàn toàn nằm ngoài khả năng được trải nghiệm.3 Nhưng nếu vậy, chẳng phải việc cố gắng nhận diện tổng thể tính bản thể luận Hữu thể của Dasein lại là một nỗ lực vô vọng sao?
Chúng ta không thể loại bỏ yếu tố trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’ ra khỏi cái cấu trúc cốt yếu của ‘chăm lo’. Tuy nhiên, những kết luận rút ra được từ đó có thực sự xác đáng? Phải chăng việc không thể nắm bắt cái chình thể của Dasein đã được suy luận dựa trên một lập luận chỉ mang tính hình thức? Hay sâu xa hơn, chẳng phải chúng ta đã vô tình mặc định rằng Dasein là một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, mà phía trước nó liên tục tự chen vào một cái gì đó chưa hiện-diện-vô-tri? Trong lập luận của mình, liệu chúng ta có hiểu khái niệm das Noch-nicht-sein/ Being-not-yet Hữu-thể-chưa-có và cái ‘vượt-trước’ theo đúng nghĩa existenzial/existential hữu thể đích thực hay không? Liệu bàn luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ có thực sự phù hợp với Dasein về phương diện hiện tượng? Liệu khái niệm ‘cái chết’ có mang ý nghĩa sinh học, ý nghĩa hữu thể-bản thể luận, hay là bất kỳ ý nghĩa nào đã được xác định một cách thỏa đáng và chắc chắn? Liệu chúng ta đã thực sự khai thác mọi khả tính để tiếp cận Dasein trong tính chỉnh thể của nó hay chưa?
Chúng ta phải giải đáp những câu hỏi này trước khi vấn đề về tổng thể tính của Dasein có thể bị gạt bỏ như một điều vô nghĩa. Câu hỏi này—bao gồm cả câu hỏi thực hữu cụ thể [existentiell] về việc liệu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể có khả thể hay không, lẫn câu hỏi hữu thể [existential] về trạng-thái-Hữu-thể của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’—chứa đựng nhiệm vụ thực hiện một phép phân tích mang tính khẳng định đối với một số hiện tượng hiện hữu vốn vẫn bị bỏ qua cho đến hiện nay. Trọng tâm của những suy tư này là nhiệm vụ xác định về mặt bản thể luận cái trạng thái Hữu-thể-tại-một-chung-cục của Dasein và đạt tới một quan niệm hữu thể [tr.281] về cái chết. Các nghiên cứu liên quan đến những chủ đề này được phân chia như sau: khả tính trải nghiệm cái chết của những Kẻ Khác và khả tính nắm bắt Dasein như một chỉnh thể (Mục 47); điều còn lại chưa hoàn tất, cái chung cục và tổng thể tính (Mục 48); cách thức phân biệt giữa phân tích hữu thể về cái chết với các phép Diễn giải khác về hiện tượng này (Mục 49); phác thảo sơ bộ về cấu trúc hữu thể-bản thể luận của cái chết (Mục 50); Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và tính thường nhật của Dasein (Mục 51); Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật và quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái chết (Mục 52); sự phóng chiếu hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực (Mục 53).
47. Khả tính Trải nghiệm Cái chết của Kẻ Khác và Khả tính Nắm bắt Dasein như một Chỉnh thể
Khi Dasein đạt đến trạng thái chỉnh thể của mình trong cái chết, đồng thời nó cũng đánh mất cái Hữu thể ‘có-đó’ của chính nó. Thông qua sự chuyển biến sang trạng thái Nichtmehrdasein không-còn-là-Dasein, nó bị tách biệt hoàn toàn khỏi khả tính trải nghiệm sự chuyển đổi này cũng như khả tính thấu hiểu nó như một cái gì đó đã được trải nghiệm. Chắc chắn rằng điều đó là bất khả đối với bất kỳ Dasein cụ thể nào trong mối tương quan với chính nó. Tuy nhiên, chính điều đó lại làm cho cái chết của những Kẻ Khác lại trở nên đáng chú ý hơn. Theo cách này, sự chấm dứt của Dasein trở nên có thể tiếp cận được vè phương diện ‘Khách thể’. Nhờ đó, Dasein có thể thu nhận trải nghiệm về cái chết, đó là bởi vì về bản chất, Dasein chính là Hữu-thể-với-Kẻ-khác. Trong trường hợp đó, việc cái chết được đưa ra theo cách ‘Khách thể’ như vậy hẳn phải cho phép xác định giới hạn bản thể luận về tổng thể tính của Dasein. Do đó, từ loại Hữu thể mà Dasein sở hữu với tư cách là Hữu-thể-với-một-kẻ-khác, thì ta có thể rút ra một thông tin khá hiển nhiên rằng: khi Dasein của những Kẻ Khác đã tới hồi chung cục, nó có thể được chọn làm chủ đề thay thế cho phép phân tích tổng thể tính của Dasein. Nhưng liệu điều này có dẫn ta đến mục tiêu đã định?
Ngay cả Dasein của những Kẻ Khác, khi đã đạt đến sự trọn vẹn trong cái chết, cũng không-còn-là-Dasein nữa, theo nghĩa là không-còn-Hữu-thể-trong-thế-giới. Chẳng phải chết nghĩa là bước ra khỏi thế giới và đánh mất sự Hữu-thể-trong-thế-giới của mình sao? Tuy nhiên, khi một người đã chết, trạng thái Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới-nữa (nếu hiểu theo nghĩa cực đoan) thì vẫn là một loại Hữu thể, nhưng theo nghĩa Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-không-hơn của một Vật thể hữu hình mà ta bắt gặp. Trong cái chết Kẻ Khác, ta có thể trải nghiệm hiện tượng Hữu thể đáng chú ý, có thể được định nghĩa là sự chuyển-đổi của một thực thể từ loại Hữu thể của Dasein (hay sự sống) sang trạng thái không-còn-là-Dasein. Cái chung cục của thực thể với tư cách là Dasein lại là khởi đầu của chính thực thể đó với tư cách là một cái gì đó hiện-diện-vô-tri.
Tuy nhiên, phép Diễn giải chuyển-đổi từ Dasein sang [tr.282] Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-và-không-hơn này đã bỏ sót nội dung hiện tượng, bởi lẽ trong cái thực thể còn lại đó không đơn thuần chỉ là một Vật thể hữu hình. Xét từ góc độ lý thuyết, ngay cả cái xác đang hiện-diện-vô-tri cũng vẫn là một đối tượng khả thể cho nhà nghiên cứu giải phẫu bệnh lý – là kẻ có hiểu biết hướng đến ý niệm về sự sống. Cái thực thể chỉ-còn- hiện-diện-vô-tri-không-hơn này lại ‘hơn’ cả một Vật thể vật chất vô tri. Ở đó, ta bắt gặp một cái gì đó không sinh khí, một cái đã mất đi sự sống.4 Tuy nhiên, ngay cả cách mô tả về das Nochverbleibenden ‘cái còn lại’ này cũng chưa lột tả hết những dữ kiện hiện tượng liên quan đến Dasein. Der ‘Verstorbene’ ‘Người đã khuất’ — khác biệt với dem Gestorbenen ‘người đã chết’ — đã bị tách rời khỏi den ‘Hinterbliebenen’ những người ‘ở lại’ và trở thành đối tượng ‘quan tâm’ thông qua các nghi thức tang lễ, việc mai táng và tục thờ cúng mộ phần. Sở dĩ như vậy là vì Der ‘Verstorbene’/ the deceased ‘Người đã khuất’, xét theo loại Hữu thể của mình, ‘còn hơn cả’ một món đồ sẵn-có-để-dùng trong môi trường mà ta có thể bận tâm đến. Khi nán lại bên cạnh người đã khuất trong niềm thương tiếc và sự tưởng nhớ, những người ở lại đang hiện diện cùng người ấy trong một thái độ ân cần đầy tôn kính. Do đó, mối-quan-hệ-của-Hữu-thể mà ta dành cho người chết không thể được xem đơn thuần là loại Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm đối với một cái gì đó sẵn-có-để-dùng.
Trong cái ‘Hữu-thể-với’ dem Toten người chết như vậy, bản thân người đã khuất không còn hiện diện một cách thực tế ‘có đó’ nữa. Tuy nhiên, khi nói đến ‘Hữu-thể-với’, ta luôn hướng đến cái Hữu thể với một kẻ khác trong cùng một thế giới. Kẻ đã khuất đã từ bỏ và để lại cái ‘thế giới’ của chúng ta. Song, trong khuôn khổ của cái thế giới ấy, những người còn sống vẫn có thể hiện hữu cùng hắn. Trạng thái phù hợp về mặt hiện tượng càng cao trong cách ta nhìn nhận cái trạng thái không-còn-là-Dasein của người đã khuất, thì càng thấy rõ rằng: trong kiểu ‘Hữu-thể-với’ người chết ấy, cái Zuendegekommensein ‘Hữu-thể-đi-tới-một-chung-cục’ đích thực của người đã khuất lại chính là điều mà ta không thực sự trải nghiệm. Cái chết quả thực bộc lộ như một sự mất mát, nhưng là sự mất mát được trải nghiệm bởi những người còn sống.
Tuy nhiên, khi gánh chịu sự mất mát này, ta không có cách nào tiếp cận được với chính tình trạng ‘mất-mát-của-Hữu-thể’ mà kẻ đang hấp hối phải ‘gánh chịu’. Cái chết của những Kẻ Khác không phải là điều ta trải nghiệm theo nghĩa đích thực; cùng lắm ta cũng chỉ luôn ‘có đó bên cạnh’ mà thôi.5 Và ngay cả cái Hữu-thể-bên-cạnh như vậy cho phép ta làm sáng tỏ ‘về mặt tâm lý’ cái chết của Kẻ Khác, thì điều đó cũng không thể [tr.283] giúp ta nắm bắt được phương-thức-hiện-hữu mà ta đang hướng tới—tức là trạng thái ‘đi-đến-chung-cục’. Chúng ta đang truy vấn về ý nghĩa bản thể luận tình trạng hấp hối của người chết, với tư cách là một khả-tính-của-Hữu-thể vốn thuộc về chính Hữu-thể của hắn. Chúng ta không hỏi về cách thức mà kẻ đã khuất có Dasein-với hay Nochdasein vẫn-là-một-Dasein với những kẻ còn sống. Nếu cái chết—như được trải nghiệm ở những Kẻ Khác—là cái mà chúng ta được yêu cầu để phân tích về chúng cục và tổng thể tính của Dasein, thì nó không thể mang lại cho ta—dù là về phương diện ontish thực hữu hay phương diện bản thể luận—những thứ mà nó được kỳ vọng sẽ mang lại.
Song trên hết, quan điểm cho rằng cái chết của những Kẻ Khác là một chủ đề thay thế cho việc phân tích bản thể luận về tổng thể tính của Dasein và việc giải quyết vấn đề về sự kết thúc của nó, lại dựa trên một tiền giả định hoàn toàn6 không nhận thức được loại Hữu thể của Dasein. Đây là điều người ta mặc nhiên thừa nhận khi cho rằng bất kỳ Dasein nào cũng có thể được thay thế ngẫu nhiên bởi một Dasein khác, sao cho những gì không thể trải nghiệm được trong Dasein của chính mình lại có thể tiếp cận được thông qua Dasein của một kẻ xa lạ. Nhưng liệu tiền giả định này có thực sự thiếu cơ sở đến vậy? Không thể phủ nhận rằng việc một Dasein có thể được đại diện bởi một Dasein khác là một phần trong các khả tính Hữu thể của nó trong ‘Hữu-thể-với-một-kẻ-khác’ trong thế giới. Trong những mối quan tâm thường nhật, việc sử dụng liên tục và đa dạng được tạo bởi tính đại diện như vậy. Bất cứ khi nào ta đi bất cứ đâu hay cần đóng góp điều gì, ta đều có thể được đại diện bởi một kẻ nào đó trong phạm vi cái ‘môi trường’ mà ta gắn bó mật thiết nhất. Tính đa tạp của các cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới—nơi một kẻ có thể được đại diện bởi kẻ khác—không chỉ mở rộng sang các phương thức tinh tế hơn của việc hiện hữu cùng nhau nơi công cộng, mà còn liên quan đến những khả tính quan tâm vốn bị giới hạn trong các phạm vi nhất định, phù hợp với nghề nghiệp, địa vị xã hội hay lớp tuổi của mỗi kẻ. Tuy nhiên, ý nghĩa cốt lõi của kiếu đại diện ấy luôn ở ‘trong’ một điều gì đó—nghĩa là, trong quá trình ta bận tâm đến một sự vật hay sự việc nào đó.
Song, trước hết và chủ yếu, Dasein thường nhật tự thấu hiểu bản thân thông qua những gì nó thường xuyên bận tâm. ‘Ta là’ những gì ta làm. Liên quan đến loại Hữu thể này (cách thức thường nhật mà chúng ta gắn kết với nhau trong cuộc đắm mình vào ‘thế giới’ mà ta bận tâm), khả năng biểu thị không chỉ hoàn toàn khả thi mà còn mang tính cấu thành đối với hiện hữu cùng nhau [tr.284] của chúng ta. Tại đây, —trong những giới hạn nhất định— một Dasein có thể và phải ‘là’ một Dasein khác. Tuy nhiên, khả tính biểu thị này hoàn toàn sụp đổ nếu vấn đề nằm ở việc biểu đạt cái khả-tính-của-Hữu-thể vốn cấu thành nên cuộc đi đến ‘chung cục’ của Dasein, và chính nhờ đó mà mang lại cho nó tính chỉnh thể. Không ai có thể gánh thay cái chết của Kẻ khác. Tất nhiên, có thể ‘đi đến cái chết vì kẻ khác’. Nhưng điều đó luôn có nghĩa là hy sinh bản thân vì Kẻ Khác ‘trong một sự việc cụ thể nào đó’. ‘Chết thay’ như vậy không bao giờ có nghĩa là Kẻ Kia đã được sẻ gánh cái chết của mình, dù chỉ một chút ít.
Cái chết là điều mà mỗi Dasein phải tự mình gánh vác vào thời điểm đó. Theo bản chất của nó, cái chết trong mọi trường hợp đều là của riêng tôi, chừng nào nó còn ‘hiện hữu’. Và quả thực, cái chết biểu thị một khả tính-của-Hữu-thể đặc thù, trong đó chính Hữu thể của Dasein là vấn đề cốt yếu. Trong cái chết, ta thấy rằng ‘tính của tôi’ còn sự hiện hữu thì mang tính cấu thành về mặt bản thể luận đối với cái chết.1 Cái chết không phải là một sự kiện; nó là một hiện tượng cần được thấu hiểu về phương diện hữu thể; và cần được hiểu theo một ý nghĩa đặc biệt mà ta cần phải xác định ranh giới một cách chặt chẽ hơn nữa. Tuy nhiên, nếu hành vi ‘chung cục’ — tức hấp hối — mang tính cấu thành đối với tổng thể tính của Dasein, thì chính cái Hữu thể của trạng thái chỉnh thể này phải được quan niệm như một hiện tượng hữu thể của một Dasein trong mỗi trường hợp, vốn luôn là ‘của riêng kẻ đó’. Trong hành vi ‘chung cục’ và trong cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein — mà đối với nó hành vi ‘chung cục’ mang tính cấu thành — thì xét về bản chất, hoàn toàn không có hành vi đại diện. Đó là các sự thật mang tính hữu thể của vấn đề; người ta sẽ không nhận ra điều này khi cố tình dùng cái chết của những Kẻ Khác làm chủ đề thay thế cho việc phân tích tổng thể tính.
Như vậy, một lần nữa, nỗ lực làm cho ‘Hữu-thể-một-chỉnh-thể’ của Dasein trở nên có thể tiếp cận theo cách thức phù hợp với chính các hiện tượng đã bị thất bại. Tuy nhiên, kết quả các suy tư của chúng ta không mang tính phủ định; chúng đã được định hướng bởi chính các hiện tượng, dù chỉ ở mức sơ lược. Chúng ta đã chỉ ra rằng cái chết là một hiện tượng hữu thể. Do đó, cuộc khảo sát buộc phải đi theo định hướng thuần túy hữu thể đối với Dasein—mà trong mọi trường hợp luôn là riêng của mỗi kẻ. Khả năng duy nhất còn lại để phân tích cái chết với tư cách là hành trình dying ‘hấp hối’ là: hoặc hình thành một quan niệm thuần túy hữu thể về hiện tượng này, hoặc từ bỏ mọi thấu hiểu mang tính bản thể luận về nó. Khi mô tả trạng thái chuyển tiếp từ Dasein sang ‘không-còn-là-Dasein’ với tư cách ‘Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới-nữa’, chúng ta cũng đã chỉ ra rằng việc Dasein ‘rời-khỏi-thế-giới’ theo nghĩa ‘hấp hối’ cần phải được phân biệt với tình trạng ‘rời-khỏi-thế-giới’ của những thực thể chỉ đơn thuần des Nur-lebenden có sự sống. [Chen ngang:des Nur-lebenden đối với Heidegger có nghĩa là ‘cái chỉ đơn thuần sống’ hoặc ‘thực thể thuần túy có sự sống’ liên quan đến động vật hoặc các sinh vật hữu cơ nói chung kể cả thực vật. Chúng có sự sống nhưng thiếu đi những đặc tính cấu trúc bản thể luận đặc biệt của con người. Khái niệm này được hiểu qua các khía cạnh cốt lõi sau: i) Đối lập với Dasein hiện hữu người Heidegger phân biệt nghiêm ngặt giữa Dasein – loại hiện hữu có khả năng tự ý thức và ưu tư về chính sự tồn tại của mình - với das Nur-lebende - thực thể chỉ có bản năng sinh học, không có thế giới theo nghĩa đầy đủ hoặc ‘nghèo tính thế giới’; ii) Vấn đề về Thời gian - Heidegger cho rằng việc định nghĩa bản thể luận về cách các giác quan bị kích thích ở một Nur-Lebenden thực thể chỉ đơn thuần sống, hay liệu thực thể này có được cấu thành bởi một dạng ‘thời gian’ nào không, vẫn là một bài toán riêng biệt đầy thách thức; iii) Sự khác biệt về cái chết giữa Verenden vs. Sterben - đối với các thực thể Nur-lebenden chỉ đơn thuần sống, khi kết thúc vòng đời sinh học, chúng đơn thuần Verenden ‘tiêu vong’. Ngược lại, chỉ có Dasein hiện hữu người mới thực sự có trải nghiệm cái chết theo nghĩa triết học, gọi là Sterben ‘tử vong’ hay ‘chết đúng nghĩa’.-HHN].
Trong thuật ngữ của chúng tôi, hành vi chung cục của bất kỳ sinh vật sống nào cũng được gọi là Verenden tàn lụi/chết sinh học. Chúng ta chỉ có thể thấy được sự khác biệt này nếu phân biệt được loại hành vi chung cục mà Dasein trải qua với cuộc chung cục một cuộc đời.ii Tất nhiên, ‘hấp hối’ cũng có thể được nhìn nhận dưới góc độ sinh lý học và sinh học. [Tr.285] Tuy nhiên, khái niệm y học về ‘exitus’ sự ra đi/cái chết lại không trùng khớp với khái niệm chỉ hành vi Verenden ‘tàn lụi’. Từ những thảo luận trước đó về khả tính nắm bắt cái chết mang tính bản thể luận, đồng thời cũng thấy rõ rằng các phụ-cấu trúc của những thực thể mang loại Hữu thể khác (như ‘hiện-diện-vô-tri’ hay ‘sự sống’) lại vô tình trỗi dậy và đe dọa gây nhầm lẫn cho phép Diễn giải hiện tượng này—thậm chí gây trở ngại ngay cả cho cách thức trình bày phù hợp đầu tiên về nó. Chỉ có thể tiếp cận hiện tượng này bằng cách tìm kiếm ở các phân tích tiếp theo một phương thức định nghĩa phù hợp về bản thể luận đối với các hiện tượng cấu thành nó, chẳng hạn như ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’.
48. Cái còn Dang dở; cái Chung cục; Tổng thể tính
Trong khuôn khổ cuộc khảo sát này, việc mô tả mang tính bản thể luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ chỉ có thể mang tính tạm thời. Để thực hiện nhiệm vụ này một cách thỏa đáng, chúng ta không chỉ cần trình bày cấu trúc hình thức của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ nói chung; mà còn phải gỡ rối các biến thể cấu trúc khả dĩ của chúng trong những lĩnh vực khác nhau—tức là các biến thể đã được phi hình thức hóa, được đặt vào mối liên hệ với những loại thực thể xác định đóng vai trò là ‘chủ đề’, và có đặc tính được quy định bởi chính cái Hữu thể của các thực thể đó. Đổi lại, nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một phép Diễn giải đủ rõ ràng và khẳng định về các loại Hữu thể vốn quy định việc phân chia tập hợp các thực thể thành những lĩnh vực như vậy. Tuy nhiên, để hiểu được các phương thức Hữu thể này, chúng ta cần có một quan niệm minh bạch về Hữu thể nói chung. Nhiệm vụ phân tích bản thể luận về chung cục và tổng thể tính theo cách thức thích hợp gặp trở ngại không chỉ vì phạm vi chủ đề quá rộng, mà còn do một khó khăn về nguyên tắc: để nhiệm vụ này được thành công, chúng ta buộc phải giả định rằng điều mà ta đang tìm kiếm trong cuộc khảo sát này—tức ý nghĩa của Hữu thể nói chung—là thứ mà ta đã tìm thấy và đã hoàn toàn quen thuộc.
Trong những suy tư tiếp theo, các ‘biến thể’ mà chúng ta đặc biệt quan tâm là những biến thể của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’; đây là những phương thức giúp Dasein có được một bản chất xác định về mặt bản thể luận, và do đó, chúng sẽ dẫn đến một sự diễn giải bản nguyên về thực thể này. Luôn lưu tâm đến cái cấu thành hữu thể của Dasein đã được trình bày trước đó, chúng ta cần xem xét mức độ không phù hợp về mặt bản thể luận của những quan niệm về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ vốn thường xuất hiện ngay từ đầu—bất kể chúng có thể còn mơ hồ về mặt phạm trù đến mức nào. Zurückweisung hành vi bác bỏ các khái niệm như vậy phải được phát triển thành một Zuweisung hành vi xác quyết khẳng định vị trí của chúng trong các lĩnh vực cụ thể tương ứng. Bằng cách này, hiểu biết của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’—dưới các biến thể là existentialia các yếu tố hữu thể—sẽ được củng cố, và điều này [tr.286] sẽ đảm bảo khả năng thực hiện một phép Diễn giải bản thể luận về cái chết. Tuy nhiên, ngay cả khi phép phân tích cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ của Dasein mang định hướng quá rộng như vậy, thì điều đó vẫn không có nghĩa là các khái niệm hữu thể về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ có thể đạt được bằng phép diễn dịch. Ngược lại, ý nghĩa hữu thể về hồi-chung-cục của Dasein phải được rút ra từ chính Dasein, và ta phải chỉ ra cách thức mà ‘hồi chung cục’ ấy có thể cấu thành nên Hữu-thể-một-chỉnh-thể cho cái thực thể vốn vẫn hiện hữu ấy. Chúng ta có thể tóm lược cuộc thảo luận về cái chết cho đến thời điểm này qua ba luận điểm: 1) Thuộc về Dasein, chừng nào nó còn hiện hữu, là một trạng thái ‘vẫn-chưa’ mà nó sẽ trở thành—một điều gì đó luôn luôn còn bỏ ngỏ; 2) Cuộc-đi-đến-chung-cục của cái-chưa-đến-chung-cục (trong đó cái còn bỏ ngỏ kia bị triệt tiêu xét về phương diện Hữu thể của nó) mang đặc tính của trạng thái ‘không-còn-là-Dasein-nữa; 3) Cuộc-đi-đến-chung-cục hàm ý một phương thức Hữu thể, trong đó cái Dasein cụ thể hoàn toàn không thể được đại diện bởi bất kỳ kẻ nào khác.
Ở Dasein, không thể phủ nhận luôn tồn tại một tình trạng ‘thiếu vắng tổng thể tính’ – trạng thái này chỉ đến hồi chung cục cùng cái chết. Trạng thái ‘vẫn-chưa’ này ‘thuộc về’ Dasein chừng nào nó còn hiện hữu; đó là thực trạng xét về phương diện hiện tượng. Liệu điều này có nên được Diễn giải như là một hành vi chưa hoàn tất hay không?8 Chúng ta nói về cái chưa hoàn tất trong mối liên hệ với những thực thể nào? Khi dùng cụm từ này, ta đang nhắm đến điều thực sự ‘thuộc về’ một thực thể nhưng vẫn còn thiếu vắng. Tình trạng chưa hoàn tất – một dạng thức thiếu vắng – vốn dựa trên chính cái quan hệ ‘thuộc về’ ấy.9 Ví dụ, khoản dư chưa được thu về khi thanh toán dứt điểm một món nợ chính là khoản vẫn ‘còn thiếu’. Cái vẫn ‘còn thiếu’ là thứ chưa nằm trong tầm kiểm soát hay sự sở hữu của ta. Khi món nợ được trả xong, khoản ‘còn thiếu’ đó được tất toán; điều này có nghĩa là tiền ‘được thu về’, hay phần còn lại lần lượt được bổ sung vào. Thông qua quá trình này, trạng thái ‘vẫn chưa’ dần được lấp đầy cho đến khi tổng số tiền nợ được tập hợp lại ‘trọn vẹn’.10
Do đó, trạng thái ‘còn thiếu’ có nghĩa là những thành phần thuộc về nhau vẫn chưa hiện diện đầy đủ cùng nhau. Xét về mặt bản thể luận, điều này hàm ý tình trạng ‘chưa-sẵn-có-để-dùng’ của những phần chưa được đóng góp vào. Những phần này mang cùng một loại Hữu thể với những phần đã sẵn-có-để-dùng; và đến lượt chúng, những phần sau không bị biến đổi về phương diện Hữu thể khi có phần còn lại gia nhập vào. Bất kỳ Das bestehende Unzusammen ‘tình trạng thiếu gắn kết’ nào còn tồn tại đều được ‘bù đắp’ bằng việc chắp nối tích lũy. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Das bestehende Unzusammen có nghĩa là 1). ‘Tình trạng thiếu vắng tính gắn kết còn tồn tại’ hoặc ‘Tình trạng thiếu hụt tổng thể tính hiện hữu’. Nó được dùng để mô tả vấn đề triết học cơ bản về việc Dasein hiện hữu người vốn dĩ không trọn vẹn và rời rạc cho đến khi cái chết kề cận. Heidegger sử dụng khái niệm này để phê phán quan điểm truyền thống về thời gian và cuộc sống con người. 2) Các thành phần cốt lõi của khái niệm này được phân tích như sau: i) Vấn đề về Das Noch-nicht/Not-yet/ahead-of-itself ‘Cái-chưa-có’/Cái-đi-trước-bản-thân: chừng nào còn sống, tôi không bao giờ là một sản phẩm đã hoàn thiện. Luôn có điều gì đó ‘còn dang dở’/chưa được thanh toán dứt điểm trong cuộc đời —những lựa chọn cần đưa ra, những ngày tháng cần sống và những tiềm năng chưa được hiện thực hóa. Vì một phần hiện hữu của tôi luôn nằm ở tương lai, nên cuộc đời tôi thiếu đi một sự trọn vẹn gắn kết. Nó không hoàn chỉnh về mặt cấu trúc. ii) Phê phán quan điểm tính toán kiểu ‘từng phần một’: Heidegger sử dụng phép ẩn dụ về nợ tài chính để giải thích cách con người sai lầm khi cố gắng khắc phục bản chất rời rạc này. Nếu bạn nợ ai đó tiền, khoản nợ đó vẫn ‘còn lại đó’ chưa thanh toán cho đến khi được trả dần từng phần một; iii) Bản thể luận truyền thống coi cuộc sống con người giống như khoản nợ này. Nó xem quãng đời là một chuỗi các khoảnh khắc riêng biệt, hiện-diện-vô-tri, tích tụ dần theo thời gian; iv) Theo quan điểm sai lầm này, cái ‘das bestehende Unzusammen’ tình trạng thiếu vắng tính gắn kết còn tồn tại đơn thuần được ‘trả dứt’ hoặc lấp đầy dần dần khi bạn gạch bỏ từng ngày trên lịch cho đến khi mọi thứ cuối cùng trở nên ‘trọn vẹn’. 3) Ý nghĩa đích thực của Heidegger đó là Tổng thể tính của Dasein: i) Heidegger lập luận rằng tôi không thể đối xử với cuộc sống con người như một cuốn sổ cái tài chính hay một đống gạch đang thiếu vài viên. Dasein không trở nên ‘chỉnh thể’ chỉ bằng cách cộng dồn thêm nhiều ngày tháng; ii) Thay vào đó, ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ nằm ngay trong cấu trúc của hiện hữu. Tôi luôn đi trước chính mình, phóng chiếu vào tương lai, trong khi vẫn neo giữ vào quá khứ; iii) Điều duy nhất khép lại khoảng cách này và mang lại một ‘chung cục’ dứt khoát cho các khả tính của tôi chính là cái chết. Tuy nhiên, khi cái chết đang cận kề, Dasein không trở thành một khách thể đã hoàn thiện; thay vào đó, cuộc hiện hữu của nó bị triệt tiêu hoàn toàn. 4) Bảng tóm tắt so sánh quan điểm về cuộc sống và cách tiếp cận ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ cũng như chung cục: i) Quan điểm truyền thống/thiếu tính chân thực coi cuộc sống như một món nợ; ta chắp vá từng khoảnh khắc lại với nhau cho đến khi tổng thể được lấp đầy, xem cuộc sống là chuỗi các sự kiện tĩnh tại và chóng qua; ii) Ngược lại, quan điểm chân thực của Heidegger thừa nhận rằng ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ là một điều kiện hữu thể của hiện hữu tự do và hướng về tương lai; iii) Tôi chỉ đạt được tính chỉnh thể/tổng thể tính bằng cách đối diện với cái chết của chính mình, đó chính là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết.-HNN].
Những thực thể mà ở đó vẫn còn điều gì đó chưa hoàn tất sẽ có loại Hữu thể của một cái gì đó [tr.287] sẵn-có-để-dùng. Tính gắn kết này được đặc trưng như một ‘tổng số’, và tình trạng thiếu vắng tính gắn kết dựa trên nó cũng vậy. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vắng tính gắn kết vốn thuộc về phương thức gắn kết như vậy—tức là trạng thái vắng mặt do chưa hoàn tất—không thể nào định nghĩa về mặt bản thể luận cái ‘vẫn-chưa’ vốn thuộc về Dasein như là cái chết khả thể của nó. Dasein hoàn toàn không có loại Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tính gắn kết của một thực thể thuộc kiểu Dasein—khi ‘trải qua lộ trình’ cho đến lúc cái ‘lộ trình’ đó hoàn tất—không được cấu thành bởi việc chắp-nối liên tục các thực thể vốn đã sẵn-có-để-dùng theo cách riêng của chúng ở đâu đó.11
Việc cho rằng Dasein chỉ thực sự ‘gắn kết’ trọn vẹn khi cái ‘vẫn-chưa’ của nó đã được lấp đầy là hoàn toàn sai lầm; bởi lẽ, chính vào lúc đó, Dasein không còn hiện hữu nữa. Mọi Dasein luôn hiện hữu theo cách mà cái ‘vẫn-chưa’ luôn thuộc về chính nó. Tuy nhiên, liệu có tồn tại những thực thể—vốn hiện hữu như chúng vốn có và có thể bao hàm một cái ‘vẫn-chưa’—nhưng lại không nhất thiết phải có loại Hữu thể của Dasein hay không? Chẳng hạn, ta có thể nói: ‘Giai đoạn trăng khuyết vẫn chưa hoàn tất cho đến khi trăng tròn’. Cái ‘vẫn-chưa’ này giảm dần khi bóng tối che khuất biến mất. Nhưng ở đây, mặt trăng luôn hiện-diện-vô-tri như một chỉnh thể đã thành. Chưa kể đến sự thật là ta không bao giờ có thể nắm bắt trọn vẹn mặt trăng ngay cả khi nó tròn, thì cái ‘vẫn-chưa’ này hoàn toàn không biểu thị một Hữu-thể-vẫn-chưa-gắn-kết của các bộ phận vốn thuộc về mặt trăng, mà chỉ liên quan đến cách ta tri giác và nắm bắt nó. Cái ‘vẫn-chưa’ vốn thuộc về Dasein, tuy nhiên không chỉ đơn thuần là một cái gì đó tạm thời và đôi khi không thể tiếp cận được đối với trải nghiệm của chính mình hay thậm chí của kẻ lạ; nó hoàn toàn vẫn chưa hề ‘là’ ‘hiện thực’. Vấn đề của chúng ta không nằm ở việc nắm bắt cái ‘vẫn-chưa’ mang đặc tính của Dasein; mà nằm ở cái Hữu thể khả thể hoặc không-phải-Hữu-thể của cái ‘vẫn-chưa’ này.
Dasein, với tư cách là chính nó, phải trở thành—nghĩa là, phải hiện hữu như—cái mà nó ‘vẫn-chưa’ là. Do đó, nếu muốn thông qua so sánh— để xác định cái Hữu thể của ‘vẫn-chưa’, vốn mang tính chất của Dasein, thì chúng ta phải xem xét những thực thể mà đối với chúng, sự trở thành thuộc về loại Hữu thể của chúng. Chẳng hạn, khi một trái cây chưa chín, thì nó ‘hướng tới’ trạng thái chín của mình. Trong quá trình chín này, cái mà trái cây ‘vẫn-chưa’ chín là không hề được chắp vá thêm vào như một thứ gì đó ‘vẫn-chưa’ hiện-diện-vô-tri. Trái cây tự đưa mình đến trạng thái chín, và hành động tự đưa mình như vậy là một đặc điểm Hữu thể của nó với tư cách là một trái cây. Không gì có thể tưởng tượng được cái mà ta có thể tác động vào nó lại có thể loại bỏ trạng thái chưa chín của trái cây, nếu bản thân thực thể này không tự mình đạt đến [tr.288] trạng thái chín. Khi nói về cái ‘vẫn-chưa’ của trạng thái chưa chín, chúng ta không nhắm đến một thứ gì khác đứng bên ngoài, thứ mà—hoàn toàn dửng dưng với trái cây—có thể hiện-diện-vô-tri trong nó và cùng với nó. Cái mà chúng ta nhắm đến chính là bản thân trái cây trong loại Hữu thể đặc thù của nó. Một tổng số chưa hoàn tất, với tư cách là một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, thì tình trạng ‘dửng dưng’ đối với phần còn thiếu và chưa sẵn-có-để-dùng, mặc dù xét một cách chặt chẽ, nó không thể dửng dưng cũng không thể không dửng dưng đối với phần còn thiếu đó.12 Tuy nhiên, quả đang chín không những không dửng dưng với tình trạng chưa chín của mình như thể đó là một cái gì khác biệt với chính nó, mà nó chính là tình trạng chưa chín đó trong quá trình chín. Cái ‘vẫn-chưa’ đã bao gồm ngay trong chính Hữu thể của trái cây, không phải như một đặc tính ngẫu nhiên, mà như một thứ mang tính cấu thành. Tương tự như vậy, chừng nào một Dasein còn hiện hữu, thì nó cũng đã là cái ‘vẫn-chưa’ của chính mình.iii
Cái vốn gây nên tình trạng ‘thiếu vắng tổng thể tính’ ở Dasein—tức trạng thái luôn ‘vượt trước chính mình’—không phải là một cái gì đó vẫn còn thiếu hụt trong một trạng thái gắn kết cộng dồn, cũng không phải là một cái gì đó chưa thể tiếp cận được. Mà đó là một trạng thái ‘vẫn-chưa’ mà bất kỳ Dasein nào—với tư cách là thực thể mà nó vốn là thế—đều phải hiện hữu. Tuy nhiên, phép so sánh với trạng thái chưa chín của trái cây cho thấy những khác biệt cốt yếu, mặc dù vẫn có những điểm tương đồng nhất định. Nếu lưu tâm đến những khác biệt này, ta sẽ nhận ra rằng cuộc bàn luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘đi đến chung cục’ bấy lâu nay còn mơ hồ đến mức nào. Dần chín chính là Hữu thể đặc thù của trái cây. Đó cũng là một loại Hữu thể của trạng thái ‘vẫn-chưa’ (của trạng thái chưa chín); và theo đúng nghĩa một loại Hữu thể, nó có sự tương đồng về mặt hình thức với Dasein, ở chỗ Dasein—cũng giống như trái cây—luôn luôn đã là trạng thái ‘vẫn-chưa’ của chính mình theo một nghĩa nào đó cần được định nghĩa thêm. Song, điều này không có nghĩa là trạng thái chín với tư cách là một ‘chung cục’ và cái chết với tư cách là một ‘chung cục’ trùng khớp với nhau về mặt cấu trúc hữu thể luận của chúng với tư cách là các chung cục. Với tình trạng chín, trái cây đạt đến sự viên mãn của chính nó.13 Nhưng liệu cái chết mà Dasein đi tới có phải là một loại viên mãn theo nghĩa này không? Khi đối diện với cái chết, Dasein quả thực đã ‘hoàn tất hành trình’ của mình. Nhưng liệu khi làm vậy, nó có nhất thiết đã tận dụng hết các khả tính đặc thù của mình không? Hay đúng hơn, chẳng phải chính những khả tính đó lại là thứ bị tước bỏ khỏi Dasein sao? Ngay cả một Dasein ‘chưa viên mãn’ cũng đi đến chung cục. Mặt khác, hoàn toàn không có chuyện Dasein chỉ đạt đến độ chín khi đối diện với cái chết; trái lại, Dasein hoàn toàn có thể đã đi qua độ chín trước khi chung cục.14 Phần lớn các trường hợp, Dasein kết thúc trong tình trạng chưa viên mãn, hoặc sau khi đã phân rã và cạn kiệt.
________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘…im Dasein immer noch etwas aussteht…’. The verb 'ausstehen' and the noun ‘Ausstand’ (which we usually translate as 'something still outstanding', etc.), are ordinarily used in German to apply to a debt or a bank deposit which, from the point of view of the lender or depositor, has yet to be repaid to him, liquidated, or withdrawn. [P.279]
2 ‘Die Behebung des Seinsausstandes besagt Vernichtung seines Seins. Solange das Dasein als Seiendes ist, hat es seine “Gänze” nie erreicht.’ The verb ‘beheben’ is used in the sense of closing one’s account or liquidating it by withdrawing money from the bank. The noun ‘Ganze’, which we shall translate as 'wholeness', is to be distinguishedfrom ‘Ganze’ (‘whole’, or occasionally ‘totality’) and ‘Ganzheit’ (‘totality’). [p.280]
3 'Was so gar nicht erst sein kann, wie ein Erfahren das Dasein zu erfassen priitendiert, entzieht sich grundsiitzlich einer Erfahrbarkeit.' [p.280]
4 ‘Das Nur-noch-Vorhandene ist "mehr" als ein lebloses materielles Ding. Mit ihm begegnet ein des Lebens verlustig gegangenes Unlebendiges.’ [p.282]
5 ‘…sind… “dabei”.’ Literally the verb ‘dabeisein’ means simply 'to be at that place’, ‘to be there alongside’ ; but it also has other connotations which give an ironical touch to this passage, for it may also mean, 'to be engaged in' some activity, ‘to be at it’, ‘to be in the swim’, ‘to be ready to be “counted in”’. [p.282]
6 ‘…eine viillige Verkennung…’. The older editions have 'totale' rather than 'viillige'. [p.283]
7 'Vertretbarkeit'. The verb 'vertreten' means 'to represent' in the sense of 'deputizing' for someone. It should be noted that the verb 'vorstellen' is also sometimes translated as 'to represent', but in the quite different sense of 'affording a "representation" or "idea" of something'. [p.283]
8 'Aber darf der phanomenale Tatbestand, dass zum Dasein, solange es ist, dieses Noch-nicht "gehort", als Ausstand interpretiert werden ?' The contrast between 'Tatbestand' and 'Ausstand' is perhaps intentional. [p.286]
9 Ausstehen als Fehlen griindet in einer Zugehorigkeit.' [p.286]
10 'Tilgung der "Schuld" als Behebung des Ausstandes bedeutet das "Eingehen", das ist Nacheinanderankommen des Restes, wodurch das Noch-nicht gleichsam aufgefullt wird, bis die geschuldete Summe "beisammen" ist.' On 'Schuld' see note 1, p. 325, H. 280. [p.286]
11 Throughout this sentence Heidegger uses words derived from the verb 'laufen', 'to run'. Thus, 'in running its course' represents 'in seinem Verlauf', ' "its course" has been completed' represents 'es "seinem Lauf" vollendet hat'; 'continuing' represents 'fortlaufende'. [p.287]
12 'Die noch nicht volle Summe ist als Zuhandenes gegen den fehlenden unzuhand'enen Rest "gleichgiiltig". Streng genommen kann sie weder ungleichgiiltig, noch gleichgiiltig dagegen sein.' [p.288]
13 'Mit der Reife vollendet sich die Frucht.' Notice that the verb 'vollenden', which we here translate as 'fulfil', involves the verb 'enden' ('to end'). While 'vollenden' may mean 'to bring fully to an end' or 'to terminate', it may also mean 'to complete' or 'to perfect'. [p.288]
14 While we have translated 'Reife' by its cognate 'ripeness', this word applies generally to almost any kind of maturity, even that of Dasein-not merely the maturity of fruits and vegetables. [p.288]
