Powered By Blogger

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XVII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

27. Hữu-thể-Chính-mình Thường nhật và cái ‘Họ’

[Tr.166] Nằm trong những đặc tính của Hữu thể mà chúng ta đã trình bày—cái Hữu-thể-giữa-nhau thường nhật, tính giữ khoảng cách, tính trung bình, sự san bằng, tính công cộng, sự trút bỏ gánh nặng Hữu thể của ai đó, và sự thích nghi—chính là ‘tính nhất quán’ của Dasein, cái gần gũi nhất với chúng ta. ‘Tính nhất quán’ này không thuộc về Vorhandensein Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri bền bỉ của một sự vật nào đó, mà đúng hơn là thuộc về loại Hữu thể của Dasein với tư cách Hữu-thể-với (Mitsein). [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Vorhandensein hay chính xác hơn là Vorhandenheit có nghĩa là ‘Hiện diện vô tri’ hay ‘phát sinh tính’ [occurrentness]. Thuật ngữ này mô tả phương thức tồn tại của các vật thể vô tri khi chúng chỉ nằm đó như những sự kiện trung tính, tách biệt khỏi sự sử dụng tích cực của con người hay bối cảnh thực tiễn. Ý nghĩa cốt lõi là Tồn tại thụ động - những vật thể chỉ hiện diện vật lý trên thế giới; trọng tâm lý thuyết là cách ta nhìn nhận một vật thể khi ngừng sử dụng nó và chỉ quan sát hoặc phân tích các thuộc tính của nó một cách khoa học. Thực tại trừu tượng - đã bị tước bỏ ý nghĩa thực tiễn hoặc mục đích của con người- ví dụ về chiếc búa: khái niệm Vorhandensein được đối lập với Zuhandensein – tình trạng sẵn có để dung, nhằm làm rõ cách chúng ta trải nghiệm các sự vật thường ngày: Zuhandensein sẵn có để dùng: Khi dùng búa để đóng đồ, tôi không nghĩ về bản thân chiếc búa. Nó là một công cụ vận hành nhịp nhàng trong tay tôi; bản chất tồn tại của nó nằm ở công năng thực tiễn. Vorhandensein Hiện diện vô tri - Nếu chiếc búa bị hỏng, tôi sẽ ngừng làm việc và xem xét nó. Lúc này, chiếc búa không còn là công cụ hữu dụng nữa. Nó trở thành một vật thể đơn thuần với các thuộc tính như trọng lượng, hình dáng, chất liệu nằm ngay trước mắt tôi. Nó chuyển từ trạng thái ‘sẵn-có-để- dùng’ sang trạng thái ‘hiện-diện-vô-tri’.-HHN]. Cả Tự ngã của chính Dasein lẫn Tự ngã của Kẻ khác đều chưa tự tìm thấy hay đánh mất chính mình chừng nào chúng còn seiend hiện hữu theo những phương thức mà chúng ta đã đề cập. Trong những phương thức này, cách thức Hiện hữu của một người là Uneigentlichkeit tính không chân thực và sự không trụ vững bằng cái Tự Ngã1 của mình. Hiện hữu theo cách này không có nghĩa là làm giảm bớt Faktizität/ Facticity Thực tính của Dasein, cũng như ‘họ’ (das Man)—với tư cách là ‘kẻ-không-là-ai-cả’ (Niemand)—hoàn toàn không phải là hư vô. Trái lại, trong loại Hữu thể này, Dasein là một ens realissimum thực thể hiện thực nhất, nếu ta hiểu ‘Tính hiện thực’ là một sự Hiện hữu mang đặc tính của Dasein. Tất nhiên, cái ‘họ’ cũng ít hiện-diện-vô-tri giống như tự thân Dasein. Cái ‘họ’ càng bộc lộ rõ ​​ràng thì càng khó nắm bắt và càng tinh vi, nhưng điều đó không có nghĩa là nó không hiện hữu. Nếu ta ‘nhìn’ nó theo nhãn quan ontico-ontological thực hữu-bản thể luận bằng một cặp mắt không thành kiến, thì nó sẽ bộc lộ mình là ‘chủ thể Hiện thực nhất’ của đời sống thường nhật. Và ngay cả khi nó không thể được tiếp cận như một hòn đá hiện-diện-vô-tri, thì điều đó cũng chẳng hề mang tính quyết định đối với loại Hữu thể của nó. Người ta không thể vội vàng kết luận rằng cái ‘họ’ này ‘thực sự’ là hư vô, cũng không thể cho rằng ta có thể diễn giải hiện tượng này về mặt bản thể luận bằng cách ‘giải thích’ nó như là cái nảy sinh từ cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của nhiều chủ thể rồi khớp chúng với nhau. Trái lại, khi xây dựng các khái niệm Hữu thể, ta phải định hướng theo những hiện tượng này, những thứ vốn không thể bị gạt sang một bên. Hơn nữa, das Man cái ‘họ’ không phải là một cái gì đó giống như một ‘chủ thể phổ quát’ lơ lửng bên trên vô số các chủ thể khác. Người ta chỉ có thể hiểu theo cách này nếu coi Hữu thể của các ‘chủ thể’ như vậy có một đặc tính khác với đặc tính của Dasein, và nếu coi chúng là những trường hợp thuộc Gattung von Vorhandenen/ genus of occurrents - một giống loài của các thực thể vorhanden hiện-diện-vô-tri – những trường hợp hiện hữu như những sự vật có sẵn. Với cách tiếp cận này, cái khả tính duy nhất về mặt bản thể luận là mọi thứ không thuộc loại này đều phải được hiểu theo nghĩa của giống và loài.

Cái ‘họ’ không phải là giống loài mà Dasein cá nhân thuộc về, và ta cũng không thể bắt gặp nó trong các thực thể như vậy với tư cách là một đặc tính bền vững. Việc ngay cả logic truyền thống cũng bất lực khi đối diện với những hiện tượng này là điều không có gì đáng ngạc nhiên, nếu ta nhớ rằng nó được xây dựng trên nền tảng của một [tr.167] bản thể luận về cái hiện-diện-vô-tri – hơn nữa một bản thể luận vẫn còn rất thô sơ. Vì vậy, dù logic này có được cải tiến và mở rộng theo bao nhiêu cách đi nữa, thì về nguyên tắc, nó cũng không thể trở nên linh hoạt hơn. Những cuộc cải cách logic như thế, vốn hướng về các ‘khoa học nhân văn’, chỉ làm gia tăng sự rối rắm về mặt bản thể luận. Cái ‘họ’ là một existentiale - một cấu trúc hiện sinh; và với tư cách là một hiện tượng nguyên thủy, nó thuộc về cái cấu thành thực chứng của Dasein. Bản thân nó lại có những khả tính khác nhau để cụ thể hóa thành một cái gì đó đặc trưng của Dasein. Mức độ mà sự thống trị của nó trở nên hấp dẫn, hiển nhiên thì có thể thay đổi theo dòng lịch sử. Cái Tự ngã của Dasein trong đời sống thường nhật chính là das Man-selbst/ They-Self cái ‘Họ-Tự ngã’, mà ta vốn phân biệt với cái Tự ngã đích thực – tức là từ cái Tự ngã vốn đã được nắm bắt theo cách riêng của chính nó. Với tư cách là They-Self cái ‘Họ-Tự ngã’, Dasein cá biệt đã bị phân tán vào trong cái ‘họ’ và trước hết phải tự tìm lại chính mình. Sự phân tán này đặc trưng cho cái ‘chủ thể’ của loại Hữu thể mà ta biết đến như là sự đắm mình đầy quan tâm vào thế giới gần gũi nhất với ta. Nếu Dasein quen thuộc với chính mình như là cái ‘Họ-Tự ngã’, thì điều đó đồng thời có nghĩa là chính cái ‘họ’ quy định cách diễn giải thế giới và cái Hữu-thể-trong-thế-giới gần gũi nhất đó. Dasein hiện hữu vì lợi ích của das Man cái ‘họ’ theo lối sống thường nhật, và chính cái ‘họ’ đó Khớp nối thành bối cảnh quy chiếu của ý nghĩa.3   

Khi chạm trán các thực thể, thế giới của Dasein giải phóng chúng vào một tổng thể tính các can dự mà cái ‘họ’ đã quen thuộc, và nằm trong những giới hạn được thiết lập bởi tính trung bình của cái ‘họ’. Trước hết, Dasein chân thực [factical Dasein] hiện hữu trong cái với-thế giới, vốn được khám phá theo cách thức trung bình. Trước hết, không phải ‘Tôi’ — theo nghĩa Tự ngã của riêng tôi — đang ‘là’, mà là những Kẻ khác, mà cách thức của họ là cách thức của cái ‘họ’.4 Trong khuôn khổ cái ‘họ’, và với tư cách là cái ‘họ’, tôi được ‘trao’ cho ‘chính mình’ ngay từ bước đầu. Trước hết, Dasein là ‘họ’, và phần lớn thời gian nó vẫn duy trì trạng thái đó. Nếu Dasein khám phá thế giới theo cách riêng của mình và đưa thế giới lại gần, nếu nó tự bộc lộ cho chính mình thấy cái Hữu thể đích thực của mình, thì việc khám phá ‘thế giới’ và sự bộc lộ Dasein này luôn được thực hiện như một quá trình dỡ bỏ những che đậy và các lớp mờ đục, như là việc phá vỡ những lớp ngụy trang mà Dasein dùng để tự ngăn trở chính mình. Với cách lý giải ấy về Hữu-thể-với và Hữu-thể-Tự-ngã-của-Ai-đó trong [tr.168] cái ‘họ’, thì câu hỏi về cái ‘ai’ trong tính thường nhật của Hữu-thể-với-nhau đã có lời đáp. Đồng thời, những suy tư này cũng mang lại cho chúng ta sự hiểu biết cụ thể về cấu thành cơ bản của Dasein: Hữu-thể-trong-thế-giới — trong trạng thái thường nhật và trung bình của nó — đã trở nên hiển lộ.    

Từ loại Hữu thể vốn thuộc về cái ‘họ’ — loại Hữu thể vốn gần gũi nhất — Dasein thường nhật rút ra cách diễn giải tiền-bản thể luận về Hữu thể của chính mình. Trước hết, cách diễn giải mang tính bản thể luận thường đi theo khuynh hướng diễn giải nó theo cách này: nó hiểu Dasein trong khuôn khổ thế giới và bắt gặp Dasein như một thực thể ở-trong-thế giới. Nhưng chưa hết: ngay cả ý nghĩa của Hữu thể trên cơ sở đó để hiểu các thực thể ‘chủ thể’ này — cũng được thứ bản thể luận về Dasein ‘gần gũi’ nhất với chúng ta trình bày bằng khuôn khổ ‘thế giới’. Tuy nhiên, vì chính hiện tượng thế giới bị bỏ qua trong sự đắm chìm vào thế giới, nên vị trí của nó bị thay thế bởi cái hiện-diện-vô-tri-trong-thế-giới, cụ thể là các Sự vật. Cái Hữu thể của những thực thể vốn có đó với chúng ta được quan niệm như là sự hiện-diện-vô-tri. Như vậy, bằng cách phơi bày hiện tượng thực chứng của loại Hữu-thể-trong-thế-giới thường nhật gần gũi nhất, chúng ta đã có thể hiểu được lý do tại sao việc Diễn giải mang tính bản thể luận về trạng thái Hữu thể này lại bị bỏ sót. Chính trạng thái Hữu thể này5 — trong loại Hữu thể thường nhật của nó — là cái mà ngay từ đầu đã tự đánh mất và tự che giấu chính mình. Nếu cái Hữu thể của Hữu-thể-với-nhau thường nhật vốn dĩ đã khác biệt về nguyên tắc so với sự hiện-diện-vô-tri thuần túy — bất chấp việc chúng dường như rất gần gũi nhau về mặt bản thể luận — thì cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-Ai-đó đích thực lại càng không thể được quan niệm như là sự hiện-diện-vô-tri. Hữu-thể-Tự-ngã-của-Ai-đó đích thực không dựa trên một trạng thái đặc biệt nào đó của cái chủ thể — một trạng thái đã tách rời khỏi cái ‘họ’ — mà đúng hơn, nó là một sự biến đổi hiện sinh của cái ‘họ’ - của cái ‘họ’ với tư cách là một yếu tố hiện sinh cốt yếu. Nhưng trong trường hợp đó, xét về mặt bản thể luận, vẫn có một khoảng cách tách biệt Selbigkeit tính đồng nhất tự thân của cái Tự ngã đang tồn tại đích thực với đồng nhất tính của cái ‘Tôi’ vốn tự thân duy trì xuyên suốt các Trải nghiệm đa dạng của nó.

V. HỮU-THỂ-TRONG THEO ĐÚNG NGHĨA

28. Nhiệm vụ Phân tích theo Chủ đề về Hữu-thể-trong

[Tr.169] Trong giai đoạn chuẩn bị cho việc phân tích hiện sinh về Dasein, chủ đề dẫn dắt của chúng ta là trạng thái cơ bản của thực thể này: Hữu-thể-trong-thế-giới. Mục tiêu đầu tiên của chúng ta là làm nổi bật—về phương diện hiện tượng—cái cấu trúc nguyên thủy và đơn nhất về Hữu thể của Dasein; chính dựa trên cấu trúc này mà các khả tính cũng như các cách thức ‘hiện hữu’ của Dasein được xác định về mặt bản thể luận. Cho đến nay, sự mô tả mang tính hiện tượng của chúng ta về Hữu-thể-trong-thế-giới đã nhắm đến ‘thế giới’ như một yếu tố cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới và cố gắng giải đáp câu hỏi về cái ‘ai’ của thực thể này trong đời sống thường nhật của nó. Tuy nhiên, ngay từ khi vạch ra các nhiệm vụ cho việc phân tích cơ bản mang tính chuẩn bị về Dasein, chúng ta đã đưa ra định hướng sơ bộ về Hữu-thể-trong theo đúng nghĩa, đồng thời minh họa nó bằng phương thức cụ thể là sự hiểu biết về thế giới.ii Việc chúng ta sớm chú ý đến yếu tố cấu trúc trọng yếu này xuất phát từ mục tiêu: ngay từ đầu, phải đặt việc phân tích các yếu tố riêng lẻ vào khuôn khổ của một cái nhìn nhất quán, ổn định về cấu trúc, đồng thời tránh làm đứt gãy hay chia cắt hiện tượng vốn mang tính đơn nhất này.

. Giờ đây, với những gì đã đạt được qua việc phân tích cụ thể về thế giới và cái ‘ai’, chúng ta cần hướng Diễn giải của mình trở lại với hiện tượng ‘Hữu-thể-trong’. Tuy nhiên khi xem xét hiện tượng này một cách sâu sắc hơn, chúng ta không chỉ có được cái nhìn hiện tượng học mới mẻ và chắc chắn hơn về tổng thể tính cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới, mà còn mở đường cho việc nắm bắt cái Hữu thể nguyên thủy của tự thân Dasein—đó là Sorge ‘Quan tâm’. Nhưng còn điều gì cần làm rõ hơn nữa về cái Hữu-thể-trong-thế-giới, bên cạnh các mối quan hệ cốt yếu như: Hữu-thể-bên-thế-giới (sự bận tâm/quan tâm), Hữu-thể-với (solicitude ân cần), và Hữu-thể-Tự-ngã-của-Ai-đó (cái ‘ai’)? Nếu cần thiết, vẫn còn khả tính mở rộng phạm vi phân tích bằng cách so sánh và mô tả các biến thể của sự bận tâm cùng cái nhìn cẩn trọng, về thái độ ân cần, chu đáo gắn liền với nó; ngoài ra, vẫn còn khả tính đối lập Dasein với các thực thể không có đặc tính của Dasein, thông qua việc giải thích chính xác hơn về cái Hữu thể của mọi thực thể khả thể [tr.170] bên-trong-thế-giới. Chắc chắn vẫn còn những nhiệm vụ dang dở trong lĩnh vực này.

Cho đến giờ những gì chúng ta đã trình bày cần được hoàn thiện thêm về nhiều mặt bằng cách triển khai đầy đủ và xem xét kỹ lưỡng cái a priori tiên nghiệm hiện sinh của nhân học triết học. Tuy nhiên, đó không phải là mục đích của cuộc khảo sát này. Mục đích của nó thuộc về bản thể luận cơ bản. Do đó, khi lấy Hữu-thể-trong làm chủ đề nghiên cứu, chúng ta không thể chấp nhận việc triệt tiêu đặc tính nguyên thủy của hiện tượng này bằng cách tìm nguồn gốc của nó từ các hiện tượng khác—tức là bằng một kiểu phân tích không phù hợp, theo nghĩa sự phân rã hay chia tách nó ra. Nhưng sự thật là một điều gì đó mang tính nguyên thủy và không thể tìm nguồn gốc từ cái khác không loại trừ cái khả tính mà một đa tạp các đặc tính của Hữu thể cùng tham gia cấu thành nên nó. Nếu các đặc tính này bộc lộ ra, thì xét về mặt hiện sinh, chúng có tính equiprimordial đồng bản nguyên. Hiện tượng đồng bản nguyên tính của các yếu tố cấu thành thường bị bỏ qua trong bản thể luận, do một khuynh hướng thiếu kiềm chế về mặt phương pháp luận: khuynh hướng muốn quy mọi thứ và bất cứ thứ gì về một Urgrund ‘nền tảng nguyên thủy’ đơn giản nào đó. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Urgrund nền tảng nguyên thủy hay cơ sở khởi nguyên biểu thị nguồn cội nền tảng, khởi thủy, từ đó các hiện hữu và Hữu thể nảy sinh. Thay vì là một nguyên nhân vật lý, nó là chiều sâu thẳm, không có nền tảng nào khác bên dưới, cho phép vạn vật hiện hữu. Heidegger thường liên kết hoặc đối lập khái niệm này với Abgrund vực thẳm và Ungrund  phi-nền tảng để chỉ ra rằng Hữu thể không có lời giải thích hợp lý nào sâu xa hơn hay một nền tảng cuối cùng nào khác. Các chiều góc cốt lõi của Urgrund bao gồm: i) Nguồn cội nguyên thủy - điểm khởi đầu sớm nhất, triệt để nhất Ur- đi trước và nâng đỡ mọi thực thể cụ thể cũng như sự cư ngụ của con người; ii) Nền tảng phi-nền tảng – vì Urgrund không có nguyên nhân sâu xa nào bên dưới nó, nó phân chia ranh giới với Abgrund Vực thẳm — nghĩa là nền tảng tối hậu của thực tại về cơ bản là không có nền tảng; iii) Đối thoại với các nhà thơ và nhà tư tưởng - Heidegger khai thác sâu khái niệm này khi đọc các nhà tư tưởng như Friedrich Schelling hay các nhà thơ như Rainer Maria Rilke, qua đó tìm hiểu những cách thức mà con người sử dụng để tương quan với khoảng sáng ẩn giấu này của Hữu thể.- HHN] Chúng ta cần hướng cái nhìn về đâu để có thể mô tả ‘Hữu-thể-trong’ theo đúng bản chất hiện tượng của nó? Câu trả lời nằm ở việc nhớ lại những gì chúng ta cần lưu tâm về phương diện hiện tượng luận khi đề cập đến hiện tượng này: ‘Hữu-thể-trong’ khác biệt với trạng thái bên trong hiện-diện-vô-tri của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri ‘trong’ một cái gì đó khác vốn cũng hiện-diện-vô-tri; ‘Hữu-thể-trong’ không phải là một đặc tính được hoàn thành—hay thậm chí chỉ được khơi gợi—trong một chủ thể hiện-diện-vô-tri bởi cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của ‘thế giới’; trái lại, ‘Hữu-thể-trong’ là một loại Hữu-thể cốt yếu của tự thân thực thể này. Nhưng nếu vậy, thì liệu có điều gì khác được phơi bày cùng với hiện tượng này ngoài cái commercium mối tương tác hiện-diện-vô-tri giữa một chủ thể hiện-diện-vô-tri và một khách thể hiện-diện-vô-tri hay không?

Cách diễn giải như vậy sẽ tiệm cận hơn với nội dung hiện tượng nếu ta nói rằng Dasein chính là cái Hữu thể của ‘khoảng giữa’ này. Tuy nhiên, việc định hướng dựa trên ‘khoảng giữa’ đó vẫn sẽ dẫn đến sai lầm. Bởi lẽ, với cách định hướng như vậy, chúng ta sẽ ngầm giả định các thực thể nằm ở hai đầu của cái ‘khoảng giữa’ ấy, theo đúng nghĩa ‘là có’ và ta thực hiện điều đó theo một cách thức mơ hồ về mặt bản thể luận. Cái ‘ở-giữa’ vốn đã được quan niệm như là kết quả của cái convenientia tương hợp giữa hai sự vật đang ‘hiện-diện-vô-tri’. Tuy nhiên, việc giả định trước những điều này luôn làm phân mảnh hiện tượng, và không còn hy vọng gì vào việc ghép nối lại chúng từ những mảnh vụn đó. Chúng ta không chỉ thiếu đi chất ‘gắn kết’; mà ngay cả cái ‘lược đồ’ – thứ quy định cách thức thực hiện sự ghép nối này – cũng đã bị chia cắt hoặc chưa từng được hé lộ. Điều có tính quyết định đối với bản thể luận là ngăn chặn sự phân rã của hiện tượng – nói cách khác, là bảo toàn nội dung hiện tượng tích cực của nó. Việc khẳng định rằng điều này đòi hỏi những nghiên cứu sâu rộng và chi tiết thực chất chỉ là cách diễn đạt một sự thật là: những gì vốn dĩ hiển nhiên về mặt ontic thực hữu, theo cách tiếp cận truyền thống [tr.171] đối với ‘vấn đề tri thức’, thường bị che đậy về mặt bản thể luận đến mức hoàn toàn bị bỏ quên. Cái thực thể được cấu thành cốt yếu bởi ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ tự thân nó, trong mọi trường hợp, chính là cái ‘có đó’ của nó. Theo nghĩa thông thường của từ ngữ, cái ‘có đó’ chỉ đến ra một cái ‘ở đây’ và một cái ‘ở kia’. Cái ‘ở đây’ của một ‘Tôi-ở đây’ luôn được hiểu trong mối tương quan với một cái ‘ở kia’ đang ‘sẵn-có-để-dùng’, theo nghĩa một ‘Hữu-thể-hướng về cái ‘ở kia’ này – một ‘Hữu-thể vốn vượt khoảng cách, mang tính định hướng và đầy quan tâm. Không gian tính hiện sinh của Dasein – yếu tố quy định ‘vị trí’ của nó – tự thân nó có nền móng từ ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Cái ‘ở kia’ chắc chắn thuộc về một sự vật nào đó được bắt gặp bên-trong-thế-giới. ‘Ở-đây’ và ‘ở kia’ chỉ khả thể trong một cái ‘ở đó’ – nghĩa là, chỉ khi có một thực thể đã khai mở không gian tính với tư cách là cái Hữu thể của cái ‘ở đó’. Thực thể này mang trong chính Hữu thể cốt lõi của mình đặc tính không bị khép kín. Bằng cách diễn đạt ‘ở đó’, chúng ta đang nhắm đến trạng thái khai mở cốt yếu này. Nhờ vào tính khai mở này, cái thực thể Dasein ấy, cùng với cái Hữu-thể-ở-đó6 của thế giới, chính là ‘ở đó’ cho chính nó.

Khi ta nói về thứ lumen naturale ánh sáng tự nhiên ở con người theo một cách diễn đạt mang tính hình ảnh ontic thực hữu, ta không nhắm đến điều gì khác ngoài cấu trúc hiện sinh-bản thể luận của thực thể này, việc nó hiện hữu theo cách thức ‘ở đó’ của chính nó. Việc nói rằng nó được ‘chiếu sáng’ có nghĩa là, với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, tự thân nó đã được làm sáng tỏ—không phải nhờ vào một thực thể nào khác, mà theo cách thức tự thân nó là sự sáng tỏ ấy.7 Chỉ đối với một thực thể được làm cho sáng tỏ về mặt hiện sinh theo cách này, thì cái ‘hiện-diện-vô-tri’ mới trở nên có thể tiếp cận trong ánh sáng hoặc bị che giấu trong bóng tối. Theo bản chất của mình, Dasein luôn mang theo mình cái ‘ở-đó’ của nó. Nếu thiếu đi cái ‘ở-đó’ này, thì thực sự nó không còn là thực thể mang bản chất Dasein; thực vậy, nó hoàn toàn không còn là thực thể ấy nữa. Dasein chính là tình trạng khai mở của nó. Chúng ta sẽ trình bày cái Cấu thành của Hữu thể này. Tuy nhiên, trong chừng mực mà bản chất của thực thể này chính là tồn tại, thì cái mệnh đề hiện sinh ‘Dasein là trạng thái khai mở của chính nó’ đồng thời mang ý nghĩa là cái Hữu thể vốn là vấn đề cốt yếu đối với thực thể này ngay trong chính Hữu thể của nó, lại chính là cái ‘ở đó’ của nó. Bên cạnh việc mô tả cái Cấu thành căn bản của cái Hữu của trạng thái khai mở, theo tiến trình phân tích, chúng ta còn cần phải Diễn giải về loại Hữu thể mà qua đó thực thể này là cái ‘ở đó’ theo lối thường nhật của nó. Chương này – sẽ lý giải về ‘Hữu-thể-trong’ theo đúng nghĩa (tức là về cái Hữu-thể của cái ‘ở đó’) – được chia thành hai phần: A. Cấu thành hiện sinh của cái ‘ở đó’; B. Hữu thể thường nhật của cái ‘ở đó’ và Verfallenheit tình trạng đọa lạc của Dasein. 

Bằng thấu hiểu và trạng thái tâm thế, chúng ta sẽ thấy hai cách thức [tr.172] cấu thành nên cái ‘ở đó’; và chúng có tính equiprimordial đồng bản nguyên. Để phân tích chúng, cần có sự xác nhận mang tính hiện tượng; trong cả hai trường hợp, điều này sẽ đạt được thông qua Diễn giải một phương thức cụ thể vốn quan trọng đối với các vấn đề sẽ được xem xét tiếp theo. Befindlichkeit und Verstehen Tâm thế và thấu hiểu được đặc trưng hóa một cách nguyên thủy ngang nhau bởi diễn ngôn. [Chen ngang: Befindlichkeit khái niệm Tâm thế của Martin Heidegger là cách thức mà một cá nhân nhận thấy chính mình, hay tâm trạng/tính cảm xúc; còn Verstehen thấu hiểu là năng lực phóng chiếu bản thân vào các khả tính. Cả hai đều là những cấu trúc cốt lõi và bình đẳng của Dasein-hiện hữu người, bao gồm: 1) Befindlichkeit Tâm thế -theo nghĩa đen là i) ‘Trạng thái mà tại đó ai đó có thể được tìm thấy’ hay cách ai đó cảm nhận sự hòa hợp của bản thân với thế giới; ii) Mối liên hệ - Gắn liền với Geworfenheit tình trạng bị ném vào—thực tế là ta bị đặt vào một hiện thực không hề được lựa chọn; iii) Vai trò - cho thấy ta luôn quan tâm đến thế giới thông qua Stimmung các tâm trạng ngay cả trước khi ta kịp suy nghĩ về nó. 2) Verstehen Sự thấu hiểu: i) Không chỉ là sự nắm bắt bằng tư duy, mà còn là một trạng thái ‘có thể là’ đầy chủ động hay Entwurf phóng chiếu hướng tới các khả tính trong tương lai; ii) Mối liên hệ - gắn liền với cách ta định hình cuộc sống và xử lý các công cụ hay vai trò trong thế giới; iii) Vai trò - cung cấp cho ta những hiểu biết thực tiễn để định hướng và ứng phó với những điều quan trọng đối với mình. 3) Cách chúng vận hành cùng nhau: i) Gleichursprünglich Đồng bản nguyên - chúng không tạo dựng dựa vào nhau; chúng diễn ra cùng một lúc; ii) Cơ chế vận hành - Befindlichkeit Tâm trạng thụ động thiết lập nền tảng cơ bản, trong khi Verstehen sự phóng chiếu chủ động thúc đẩy ta tiến về phía trước ngay trong chính tâm trạng đó.- HHN]. Theo mục A (Cấu thành hiện sinh của cái ‘ở đó’), chúng ta sẽ lần lượt xem xét: Hữu-thể-ở-đó như là tâm-thế (Mục 29); nỗi sợ như một phương thức của tâm thế (Mục 30); Hữu-thể-ở-đó như là thấu hiểu (Mục 31); thấu hiểu và diễn giải (Mục 32); khẳng định như một phương thức phái sinh của diễn giải (Mục 33); Hữu-thể-ở-đó, diễn ngôn và ngôn ngữ (Mục 34). Việc phân tích các đặc tính Hữu thể của Hữu-thể-ở-đó là một sự phân tích mang tính hiện sinh. Điều đó có nghĩa là các đặc tính đó không phải là những thuộc tính của một vật thể hiện-diện-vô-tri, mà về bản chất là các phương thức hiện sinh hiện hữu. Do đó, chúng ta phải trình bày loại Hữu thể của chúng trong tính thường nhật. Theo mục B (Hữu thể thường nhật của cái ‘ở đó’ và tình trạng đọa lạc của Dasein), chúng ta sẽ phân tích chuyện phiếm (Mục 35), tính tò mò (Mục 36) và trạng thái mơ hồ (Mục 37) như là các phương thức hiện sinh thuộc về Hữu thể thường nhật của cái ‘ở đó’; chúng ta sẽ phân tích chúng như là những yếu tố tương ứng lần lượt với hiện tượng cấu thành của diễn ngôn, cái nhìn vốn nằm trong thấu hiểu, và diễn giải vốn thuộc về thấu hiểu. Trong các phương thức hiện tượng này, một loại Hữu thể cơ bản của cái ‘ở đó’ sẽ trở nên khả kiến—một loại Hữu thể mà chúng ta diễn giải là tình trạng đọa lạc; và lối đọa lạc này thể hiện loại vận động mang tính hiện sinh đặc thù của chính nó.8

A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’

29. Hữu-thể Ở-đó như là Tâm thế

Điều mà chúng ta chỉ ra về mặt hữu thể luận thông qua thuật ngữ Befindlichkeit ‘tâm thế’9 thì về mặt ontic thực hữu lại là thứ quen thuộc và thường nhật nhất; tâm trạng của chúng ta, cái trạng thái thấu cảm của chúng ta.10 [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Befindlichkeit và Stimmung còn có nghĩa là trạng thái hòa điệu thể cái hiện thực là chúng ta luôn bị ‘ném’ vào thế giới với một khuynh hướng cảm xúc nền tảng. Tâm trạng này định hình cách mọi sự vật trở nên quan trọng đối với chúng ta ngay cả trước khi ta kịp suy nghĩ. Thuật ngữ Stimmung - nghĩa đen là ‘lên dây’ hoặc ‘tâm trạng’, giống như việc chỉnh cao độ cho một nhạc cụ; nó thể hiện cách thức mà tâm trí của chúng ta cộng hưởng với thế giới. Befindlichkeit có gốc từ sich befinden - cách thức mà người ta nhận ra chính mình; nó mô tả nhận thức cơ bản của chúng ta về việc thấy mình vẫn đang tồn tại. Trong khi đó Dasein chỉ sự hiện hữu của con người, có nghĩa là ‘hiện-hữu-ở-đó/có đó’. Ta luôn ở trong một tâm trạng nào đó - không bao giờ hoàn toàn trung lập hay thoát khỏi tâm trạng; ngay cả tư duy logic thuần túy cũng bắt nguồn từ một trạng thái hòa điệu ngầm định. Đối với Dasein đó là tình trạng khải lộ thế giới - các trạng thái hòa điệu mở ra thực tại cho ta; sự vật trở nên quan trọng với ta chính là nhờ cảm nhận của ta trong hoàn cảnh hiện tại. Nó còn là nỗi xao xuyến hiện sinh nền tảng - những trạng thái hòa điệu giúp gạt bỏ những xao nhãng thường nhật, qua đó khải lộ vị trí đích thực và tồn tại hữu hạn của tôi trong thế giới.-HHN] Trước khi đi vào bất kỳ lý thuyết tâm lý học nào về tâm trạng — một lĩnh vực dù sao cũng vẫn còn bị bỏ ngỏ — thì cần phải nhìn nhận hiện tượng này như một yếu tố hiện sinh nền tảng và phác thảo cấu trúc của nó. Cả trạng thái bình thản không bị xáo trộn lẫn tâm trạng bực dọc, ức chế trong những bận tâm thường nhật của chúng ta—cũng như cách ta chuyển từ trạng thái này sang trạng thái kia, hay trượt vào những tâm trạng tồi tệ—hoàn toàn không phải là hư vô xét về mặt bản thể luận;11 ngay cả khi những hiện tượng này thường bị bỏ qua vì bị coi là những điều hời hợt và thoáng qua nhất ở Dasein. Việc tâm trạng có thể trở nên tồi tệ đi và thay đổi đơn giản có nghĩa là, trong mọi trường hợp, Dasein luôn ở trong một trạng thái tâm trạng nhất định. Thiếu vắng tâm trạng hay Ungestimmtheit ‘vô-tâm-thế’ — một trạng thái nhạt nhòa, cân bằng đều đặn và thường kéo dài, không được nhầm lẫn với tâm trạng tồi tệ—hoàn toàn không phải là hư vô. Trái lại, trong trạng thái này, Dasein trở nên chán ngán chính mình. Hữu thể hiện thân như một gánh nặng. Tại sao lại như vậy thì không ai biết được.

Và Dasein không thể biết được điều đó, bởi lẽ các khả tính bộc lộ vốn thuộc về nhận thức có tầm với quá hạn hẹp so với sự bộc lộ bản nguyên thuộc về tâm trạng—trong đó Dasein được đặt diện kiến ​​với Hữu thể của chính mình với tư cách là ‘ở đó’. Hơn nữa, một tâm trạng hân hoan có thể làm nhẹ bớt gánh nặng hiển nhiên của Hữu thể; việc một tâm trạng như vậy có thể tồn tại cũng đồng thời phơi bày tính chất nặng nề của Dasein, ngay cả khi chính nó vẫn làm giảm nhẹ cái gánh nặng ấy. Tâm trạng làm hiển lộ cái wie einem ist und wirdtâm trạng bản thân cảm thấy thế nào và đang chuyển biến ra sao’. Trong cái ‘như thế nào’ ấy, việc mang một tâm trạng sẽ đưa Hữu thể đến với cái ‘ở đó’ của nó. Khi ở trong một tâm trạng, Dasein luôn được hiển lộ—thông qua chính tâm trạng đó—như là cái thực thể mà nó đã bị phó mặc vào trong Hữu thể của mình; và theo cách này, nó bị phó mặc cho chính cái Hữu thể mà nó buộc phải hiện hữu trong quá trình tồn tại. ‘Được bộc lộ’ không có nghĩa là ‘được nhận biết như một sự vật thuộc loại này hay loại kia’. Và ngay cả trong trạng thái thường nhật dửng dưng và vô hại nhất, thì cái Hữu thể của Dasein cũng có thể bùng phát như một thứ trần trụi ở chỗ ‘als nacktes ‘Dass es est ist und zu sein hat’ ‘nó hiện hữu và phải hiện hữu’. Cái ‘đó nó là’ thuần túy tự phơi bày, nhưng cái ‘từ đâu’ và cái ‘về đâu’ thì vẫn chìm trong bóng tối. Việc Dasein thường không ‘nhượng bộ’ trước những tâm trạng như vậy—nói cách khác, không theo đuổi sự phơi bày của chúng và không để bản thân bị dẫn dắt đến trước điều được phơi bày—không phải là bằng chứng chống lại các sự kiện mang tính hiện tượng của trường hợp mà trong đó Hữu thể của cái ‘ở đó’ được phơi bày qua tâm trạng ở khía cạnh ‘đó-nó-là’;12 trái lại, đấy chính là bằng chứng xác thực cho nó. Theo nghĩa [tr.174] ontisch-existentiell thực hữu-hiện sinh, phần lớn thời gian Dasein né tránh cái Hữu thể được phơi bày trong tâm trạng. Theo nghĩa [tr.174] ontologisch-existentiell bản thể luận-hiện sinh, điều này có nghĩa là ngay cả trong những gì mà tâm trạng đó không chú ý tới, thì Dasein vẫn được bộc lộ ở trạng thái bị phó mặc cho cái ‘ở-đó’. Ngay trong chính sự né tránh đó, cái ‘ở đó’ vẫn là một điều gì đó được phơi bày. Đặc tính này trong Hữu thể của Dasein—cái ‘đó-nó-là’—bị che khuất bởi ‘từ đâu’ và ‘đến đâu’ của nó, nhưng lại tự bộc lộ một cách trọn vẹn và rõ ràng hơn cả; chúng ta gọi đó là trạng thái thực thể này ‘bị ném’13 vào cái ‘ở đó’ của nó; quả thực, nó bị ném theo cách thức mà, với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, thì nó chính là cái ‘ở đó’. Trạng thái 'bị ném vào’ nhằm gợi lên cái Faktizität/Facticity Thực tính của việc nó bị phó mặc hay bị đặt vào đó.14  

[Chen ngang: Faktizität/ facticity Thực tính của Martin Heidegger là khái niệm mô tả trạng thái cụ thể của Dasein hiện hữu người - trạng thái ‘bị ném’ vào một thế giới vật lý, lịch sử và xã hội đã tồn tại từ trước. Các ý nghĩa chính của Faktizität Thực tính bao gồm: i) Geworfenheit Trạng thái bị ném vào – chúng ta không tự chọn tồn tại của mình mà thấy bản thân đã hiện diện trong một thời gian, địa điểm và nền văn hóa cụ thể; ii) Không phải là một sự thật thô sơ (khác với Tatsache/ sự thật, thực tế hoặc sự việc có thật – nhưng là một sự kiện khoa học khách quan, đơn thuần về một vật thể như hòn đá, cái cây  – còn Faktizität lại gắn liền với sự hiện hữu sống động của con người và được chúng ta chủ động trải nghiệm hoặc mang theo; và iii) Phép Tường giải về Thực tính - trong các bài giảng thời kỳ đầu tại Freiburg, chẳng hạn như Tập 63 trong bộ Gesamtausgabe – Tổng tập tác phẩm – của mình, Heidegger đã sử dụng cụm từ Hermeneutik der Faktizität Phép Tường giải về Thực tính để mô tả phương pháp diễn giải đời sống con người từ chính hoàn cảnh thực tế mà chúng ta đang sống, thay vì từ một góc nhìn trừu tượng và tách biệt.-HHN] Cái ‘đó-nó-là và phải là’—vốn được bộc lộ trong tâm thế của Dasein—lại không giống hệt với cái ‘đó-nó-là’ vốn diễn tả, về phương diện ontologisch-kategorial bản thể luận-phạm trù, cái thực tính factuality) thuộc về sự hiện-diện-vô-tri. [Chen ngang: Martin Heidegger dùng Tatsächlichkeit/Factuality – Thực tính vô tri - một đặc tính khách quan thuần túy – để phân biệt với Faktizität/ facticity – Thực tính hiện sinh mô tả Dasein tồn tại người như một trạng thái vốn đã ‘bị ném’ vào một thế giới cụ thể, hữu hình với những giới hạn lịch sử và văn hóa độc nhất. Các thuật ngữ tiếng Đức và ý nghĩa HHN]. Thực tính vô tri chỉ có thể được tiếp cận nếu ta xác định nó thông qua việc quan sát. Trái lại, cái ‘đó-nó-là’ được bộc lộ trong tâm thế của Dasein phải được hiểu như một thuộc tính hiện sinh của cái thực thể có phương thức Hữu thể là Hữu-thể-trong-thế-giới. Faktizität Thực tính hiện sinh không phải là thực tính vô tri của cái factum brutum sự thật thô sơ của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, mà là một đặc trưng Hữu thể của Dasein—một đặc tính đã được tiếp nhận vào tồn tại, ngay cả khi thoạt đầu nó có thể bị gạt sang bên. Cái ‘đó-nó-là của Faktizität Thực tính hiện sinh không bao giờ trở thành một thứ mà ta có thể bắt gặp chỉ bằng cách nhìn ngắm nó.

Một thực thể mang tính chất của Dasein là cái ‘ở đó’ của nó theo cách thức mà—dù có tường minh hay không—nó vẫn luôn thấy mình đang ở trong trạng thái ‘bị ném vào’ của chính mình. Trong một trạng thái tâm thế, Dasein luôn được đặt trước chính nó và luôn tự thấy mình—không phải theo nghĩa tình cờ bắt gặp bản thân thông qua việc tự tri giác, mà theo nghĩa nhận ra chính mình trong chính tâm trạng mà nó đang có.15 Là một thực thể đã bị phó mặc cho Hữu thể của mình, nó cũng đồng thời bị phó mặc cho cái thực tế là nó luôn phải tự nhận ra mình—nhưng nhận ra không phải từ việc chủ động tìm kiếm trực tiếp, mà lại từ sự trốn chạy. Cái cách thức mà trong đó tâm trạng bộc lộ không phải là cách thức mà chúng ta ngắm nhìn tình trạng bị ném vào, mà là cái cách thức chúng ta hướng về hoặc quay lưng lại với nó. Phần lớn thời gian, tâm trạng không hướng về cái đặc tính nặng nề của Dasein vốn hiện thân trong chính tâm trạng đó; và điều này càng ít xảy ra hơn trong trạng thái hân hoan khi gánh nặng ấy đã trở nên vơi bớt. Chính thông qua tâm thế mà hành động quay lưng ấy mới thực sự là chính nó.

[Tr.175] Về phương diện hiện tượng, chúng ta sẽ hoàn toàn sai lầm nếu không nhận ra cả nội dung lẫn phương thức bộc lộ của tâm trạng, khi đem so sánh cái được bộc lộ đó với những gì Dasein quen thuộc, hiểu biết và tin tưởng ‘ngay tại thời điểm’ khi nó mang tâm trạng ấy. Ngay cả khi Dasein cảm thấy ‘chắc chắn’ về niềm tin ‘đến đâu’ của nó, hay khi nhờ sự sáng tỏ của lý trí mà nó tưởng rằng mình biết rõ mình đi ‘từ đâu’, thì tất cả những điều đó đều trở nên vô nghĩa khi đặt cạnh các sự kiện hiện tượng: bởi lẽ tâm trạng đưa Dasein đối diện với cái ‘đó-nó-là’ của cái ‘ở đó’ của nó; và sự kiện này, theo đúng nghĩa, chằm chằm nhìn nó ngay trước mắt với tính đầy thách thức bí ẩn16. Từ quan điểm hiện sinh-bản thể luận, hoàn toàn không có cơ sở nào để xem nhẹ những gì ‘hiển nhiên’ trong các tâm thế bằng cách đem chúng so sánh với tính chắc chắn tuyệt đối của nhận thức lý thuyết về một sự vật thuần túy hiện-diện-vô-tri. Tuy nhiên, các hiện tượng này cũng sẽ bị bóp méo không kém nếu chúng bị đẩy vào lãnh địa của cái phi lý trí. Khi chủ nghĩa phi lý tính—với tư cách là đối trọng của chủ nghĩa duy lý—đề cập đến những điều mà chủ nghĩa duy lý không nhìn thấy, thì nó cũng chỉ nhìn nhận chúng một cách lệch lạc.

Trên thực tế, Dasein có thể, nên, và phải làm chủ các tâm trạng của mình thông qua tri thức và ý chí; trong một số phương thức tồn tại nhất định, điều này có thể biểu thị sự ưu tiên của ý chí và nhận thức. Tuy nhiên, ta không được để điều này làm mình lầm tưởng mà phủ nhận rằng, xét về mặt bản thể luận, tâm trạng là một loại Hữu thể bản nguyên của Dasein, mà trong đó Dasein tự bộc lộ với chính mình trước mọi nhận thức và ý chí, cũng như vượt ngoài phạm vi bộc lộ của chúng. Hơn nữa, khi ta chế ngự một tâm trạng, ta thực hiện điều đó bằng một tâm trạng đối trọng; ta không bao giờ thoát khỏi các tâm trạng. Do đó, xét về mặt bản thể luận, đặc điểm thiết yếu đầu tiên của các tâm thế là chúng bộc lộ Dasein trong trạng thái ‘bị ném vào’ của nó, mà —trước hết và phần lớn là—theo cách thức quay lưng né tránh. Từ những điều đã nói, ta có thể thấy rằng tâm thế hoàn toàn khác biệt với việc tình cờ bắt gặp một trạng thái tâm lý thông qua loại nhận thức ‘quay qua quay lại’. Thực ra, nó khác biệt đến mức chỉ nhờ vào việc cái ‘ở đó’ đã được bộc lộ trong một tâm thế, thì phép phản tư nội tại mới có thể bắt gặp được các ‘Trải nghiệm’. ‘Tâm trạng thuần túy’ bộc lộ cái ‘ở đó’ một cách bản nguyên hơn, nhưng đồng thời, nó cũng khép kín cái ‘ở đó’ lại một cách ngoan cố hơn bất kỳ hành động phi-tri giác nào. Điều này được thể hiện rõ qua những tâm trạng tồi tệ. Trong những trạng thái này, Dasein trở nên mù mờ về chính mình, môi trường mà nó quan tâm trở nên bị che khuất, và tầm nhìn bao quát cẩn trọng của sự quan tâm bị dẫn dắt sai lệch.

Các trạng thái tâm trí không hề là đối tượng của sự phản tư; trái lại, chúng tấn công Dasein ngay trong sự dấn thân không-phản-tư của nó vào cái ‘thế giới’ mà nó quan tâm và nơi nó dốc cạn [tr.176] chính mình. Một tâm trạng tấn công ta. Nó không đến từ ‘bên ngoài’ cũng chẳng đến từ ‘bên trong’, mà nảy sinh từ chính Hữu-thể-trong-thế-giới, như một cách thức của Hữu thể đó. Tuy nhiên, từ sự phân biệt mang tính phủ định giữa tâm thế và sự nắm bắt có tính phản tư về một điều gì đó ‘bên trong’, chúng ta đã đạt được một sự thấu hiểu thực chứng về đặc tính của chúng như là sự bộc lộ. Tâm trạng đã bộc lộ, trong mọi trường hợp, Hữu-thể-trong-thế-giới như một tổng thể, và trước hết, nó tạo điều kiện cho việc hướng bản thân về phía một điều gì đó. Việc mang một tâm trạng không liên quan đến cái tâm lý học ngay từ đầu, và bản thân nó không phải là một trạng thái nội tại vốn sau đó lan tỏa ra bên ngoài theo một cách bí ẩn để in dấu ấn lên sự vật và con người. Chính tại đây, đặc tính thiết yếu thứ hai của các trạng thái tâm thế tự bộc lộ. Chúng ta đã thấy rằng thế giới, Dasein-với và tồn tại được bộc lộ về phương diện đồng bản nguyên; [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Gleichursprünglich - đồng bản nguyên có nghĩa là hai hay nhiều sự vật có cùng tính chất nguyên thủy, nền tảng và phụ thuộc lẫn nhau. Không có yếu tố nào xuất hiện trước, gây ra các yếu tố khác hay có vị thế cao hơn chúng. 1) Ý nghĩa cốt lõi của đồng bản nguyên là: i) Chúng cùng khởi phát ở cùng một cấp độ nền tảng; ii) Phụ thuộc lẫn nhau - không thể quy giản cái này về cái kia, và không thể hiểu cái này nếu thiếu cái kia; iii) Không phân cấp - không có trình tự kiểu ‘con gà và quả trứng’; cái này không được xây dựng dựa trên cái kia. 2) Các ví dụ chính: i) Heidegger lập luận rằng bản thân chủ thể, những kẻ khác và thế giới vật chất không tồn tại tách biệt ngay từ đầu; ii) Chúng là những cấu trúc đồng bản nguyên của Dasein hiện hữu người; iii) Trạng thái tâm thức và ‘Sự thấu hiểu’ - Khi phân tích cách con người trải nghiệm thực tại, ông khẳng định rằng Befindlichkeit - tâm trạng/trạng thái tâm thức và Verstehen - sự thấu hiểu mang tính đồng bản nguyên. Tâm trạng không tạo ra thấu hiểu, và thấu hiểu cũng không tạo ra tâm trạng; chúng diễn ra đồng thời như những phương thức cơ bản để chúng ta tương tác với thế giới. HHN] và trạng thái tâm thế là một loài hiện sinh cơ bản của tính bộc lộ đó, bởi lẽ chính trạng thái bộc lộ này, về bản chất, là Hữu-thể-trong-thế-giới.17

_____________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 'Man ist in der Weise der Unselbstandigkdt und Uneigentlichkeit.' Về 'Standigkeit' và 'Unselbstandigkeit' xem ghi chú 1 của chúng tôi, tr. 153, H. 1 1 7 ở trên.

2 ‘….das Man-selbst…’ Cách diễn đạt này cũng được phân biệt với 'das Man selbst' ('chính 'họ''), xuất hiện ở chỗ khác trong đoạn này. Trong cách diễn đạt đầu tiên, 'selbst' xuất hiện như một thực thể, trong cách diễn đạt thứ hai chỉ là một ý nghĩa chuyên sâu.

3 'Das Man selbst, worum-willen das Dasein alltägliche ist, artikuliert den Verweisungszusammenhang der Bedeutsamkeit.' Cũng có thể hiểu ‘alltägliche’ như một tính từ vị ngữ sau ‘ist’ ; trong trường hợp đó chúng ta nên đọc: 'Dasein là hàng ngày vì lợi ích của 'họ'.'

4 'Zuniichst ‘bin’ nicht ‘ich’ im Sinne des eigenen Selbst, sondern die Anderen in der Weise des Man. 'Trong các ấn bản trước đó có dấu phẩy sau 'ich' và 'Anderen', điều này gợi ý một cách giải thích hơi khác.

5 Chúng tôi diễn giải đại từ 'Sie' của Heidegger là đề cập đến 'Seinsverfassung' (Cấu thành Hữu thể); nhưng có những từ khác trong câu trước mà nó có thể đề cập đến với tính hợp lý ngữ pháp tương tự, đặc biệt là 'Interpretation'.

6 'Da-sein'. Xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 27, H. 7 ở trên.

7 'Lichtung'. Từ này thường được dùng để chỉ một 'khoảng trống' trong rừng, chứ không phải là một 'sự làm rõ'; động từ 'lichten' cũng được sử dụng tương tự. Sức mạnh của đoạn văn này nằm ở chỗ những từ này là từ đồng nguyên của danh từ 'Licht' ('ánh sáng').

8 Mặc dù thông thường chúng ta sẽ dành từ 'falling' cho 'Verfallen' (xem chú thích 2, trang 42, H. 21 ở trên), trong câu này nó đại diện cho trước tiên là 'Verfallen' và sau đó là 'Fallen', từ tiếng Đức thông thường có nghĩa là 'rơi'. 'Fallen' và 'Verfallen' không hoàn toàn đồng nghĩa; từ sau thường có thêm hàm ý 'suy tàn' hoặc 'xuống cấp', mặc dù Heidegger sẽ cố gắng chỉ ra rằng trong cách sử dụng của ông, nó 'không thể hiện bất kỳ đánh giá tiêu cực nào'. Xem Phần 38 bên dưới.

9 'Befindlichkeit. Theo nghĩa đen hơn: 'trạng thái mà người ta có thể được tìm thấy'. (Thành ngữ tiếng Đức phổ biến 'Wie befinden Sie sich ?' đơn giản có nghĩa là 'Bạn khỏe không?' hoặc 'Bạn cảm thấy thế nào?') Bản dịch của chúng tôi, 'state-of-mind', khá sát với ý nghĩa; nhưng cần làm rõ rằng 'of-mind' thuộc về thành ngữ tiếng Anh, không có từ tương đương theo nghĩa đen trong cấu trúc của từ tiếng Đức, và không thể hiện được ý nghĩa quan trọng của việc tìm thấy chính mình.

10 ‘…die Stimmung, das Gestimmtsein.' Danh từ 'Stimmung' ban đầu có nghĩa là điều chỉnh nhạc cụ, nhưng nó đã mang một số nghĩa khác và là từ thông thường để chỉ tâm trạng hoặc tính khí của một người. Chúng ta thường dịch nó là 'mood', và chúng ta thường dịch cả 'Gestimmtsein' và 'Gestimmtheit' là 'having a mood', mặc dù đôi khi, như trong câu hiện tại, chúng ta thích nhấn mạnh đến ẩn dụ gốc của 'Gestimmtsein' bằng cách viết 'Being-attuned', v.v.

11 Trong câu này, 'equanimity' đại diện cho 'Gleichmut', 'ill-humour' đại diện cho 'Missrout', và 'bad moods' đại diện cho 'Verstimmungen'.

12 ‘…den phanomenalen Tatbestand der stimmungsmassigen Erschlossenheit des Seins des Da in seinem Dass…’ Sẽ sát nghĩa hơn nếu chỉ viết đơn giản là ‘trong ‘cái đó’ của nó; nhưng để tránh nhầm lẫn rất tự nhiên giữa liên từ 'cái đó' và đại từ 'cái đó', chúng ta sẽ dịch 'das Dass' là ‘cái ‘đó-là’, mặc dù chúng ta sử dụng cùng một cách diễn đạt unhl.f!henated cho das ‘Dass es ist’ trong đoạn này và trong đoạn tiếp theo. (Sự tương phản nổi bật giữa ‘Da’ và ‘Dass’ tất nhiên bị mất đi trong bản dịch.)

13 'Geworfenheit'. Thuật ngữ quan trọng này, được Heidegger giới thiệu ở đây, sẽ được thảo luận thêm ở Phần 38.

14 'Der Ausdruck Geworfenheit đất chết Faktizitiit der Oberantwortung andeuten.' Về sự khác biệt giữa 'tính thực tế' và 'tính thực tế', xem H. 56 ở trên.

15 Trong câu này có sự tương phản giữa 'wahrnehmendes Sich-vorfinden' ('bắt gặp chính nó bằng cách nhận thức') và 'gestimmtes Sichbefinden' ('thấy chính nó trong tâm trạng mà nó có'). Mặt khác, trong câu tiếp theo, 'tìm thấy' và 'tìm thấy' đại diện cho 'gefunden' và 'Finden'.

16 ‘…so Verschliigt das alles nichts gegen den phänomenalen Tatbestand, dass die Stimmung das Dasein vor das Dass seines Da mangt, als welches es ihm in unerbittlicher Rätselhaftigkeit entgegenstarrt.' Đại từ 'es' (sự tham chiếu của nó không hoàn toàn rõ ràng) chỉ xuất hiện trong các phiên bản sau này.

17 ‘…weil diese selbst wesenhaft In-der-Welt-sein ist.' ‘…bởi vì bản thân điều này mang tính bản chất là sự Hữu-thể-trong-thế-giới (In-der-Welt-sein)."Không rõ tiền thân của 'diese' là 'Existenz' ('tồn tại') hay 'Erschlossenheit' ('bộc lộ').

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2026

Hữu thể và Thời gian (XVI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

26. Dasein-với của những Kẻ khác và Hữu-thể-với Thường nhật.

[Tr.155] Kiểu chạm trán mang tính thế gian, cơ bản này—vốn thuộc về Dasein và gần gũi nhất với nó—đáng ngạc nhiên đến mức ngay cả Dasein của chính mình cũng trở thành một cái gì đó chỉ có thể được ‘bắt gặp’ khi nó rời mắt khỏi những ‘Trải nghiệm’ và cái ‘trung tâm hành động’ của nó, hoặc khi nó chưa hề ‘nhìn thấy’ những thứ đó. Dasein tìm thấy ‘chính mình’ trước hết trong những gì nó làm, sử dụng, mong đợi, hay né tránh—trong những sự vật có-sẵn-để-dùng thuộc môi trường xung quanh mà nó quan tâm đến. Và ngay cả khi Dasein tự gọi mình một cách tường minh là ‘Tôi ở đây’, thì cách định danh vị trí này phải được hiểu theo khuôn khổ không gian tính hiện sinh của Dasein. Khi diễn giải điều này (Mục 23), chúng tôi đã gợi ý rằng ‘Tôi-ở-đây’ không có nghĩa là một điểm đặc quyền—như kiểu một ‘Sự vật-Tôi’—mà phải được hiểu là ‘Hữu-thể-trong’ theo khuôn khổ của cái ‘đằng kia’ của thế giới có-sẵn-để-dùng —cái ‘đằng kia’ chính là nơi cư ngụ của Dasein với tư cách quan tâm. 1

W. von Humboldtii từng đề cập đến một số ngôn ngữ diễn đạt cái ‘Tôi’ bằng từ chỉ ‘ở đây’, từ ‘bạn’ bằng từ chỉ ‘ở đó’, và từ ‘anh ấy/cô ấy’ bằng từ chỉ ‘đằng kia’—tức là chuyển đổi các đại từ nhân xưng thành các trạng từ chỉ vị trí (theo khuôn khổ ngữ pháp). Vẫn còn nhiều tranh cãi về việc liệu ý nghĩa nguyên thủy của các cách diễn đạt chỉ vị trí này thực chất là trạng từ hay đại từ. Tuy nhiên, cuộc tranh luận này sẽ mất đi cơ sở nếu ta nhận thấy rằng các trạng từ chỉ nơi chốn có mối liên hệ với cái ‘Tôi’ với tư cách là Dasein. Các từ ‘ở đây’, ‘ở đó’ và ‘đằng kia’ về cơ bản không chỉ đơn thuần là những cách xác định vị trí của các thực thể ‘hiện-diện-vô-tri’  bên-trong-thế-giới tại các vị trí không gian; thay vào đó, chúng là những đặc tính thuộc về tính không gian [tr.156] nguyên thủy của Dasein. Những trạng từ mang tính chỉ vị trí này thực chất là các định danh cho Dasein; ý nghĩa của chúng mang tính hiện sinh là chủ yếu, chứ không phải tính phạm trù. Song, chúng cũng không phải là đại từ; ý nghĩa của chúng có trước sự phân biệt giữa trạng từ chỉ nơi chốn và đại từ nhân xưng: những cách diễn đạt này mang ý nghĩa Dasein vốn dĩ mang tính không gian, và là minh chứng cho thấy khi ta diễn giải Dasein mà không bị bóp méo bởi các lý thuyết, ta có thể nhận thấy ngay nó như là ‘Hữu-thể-kề-bên’ cái thế giới mà nó tự thân quan tâm, và với tư cách ‘Hữu-thể-kề-bên’ nó về phương diện không gian—nghĩa là, với tư cách ‘xóa bỏ khoảng cách’ và đem lại phương hướng tính. Trong cái ‘ở đây’, Dasein—vốn đang đắm mình vào thế giới của nó—không hướng lời nói về phía chính mình mà hướng ra xa khỏi bản thân để nhắm tới cái ‘đằng kia’ của một sự vật đang ‘sẵn-có-để-dùng’ được nhận biết qua sự quan sát trong không gian tính hiện sinh của nó; tuy nhiên, nó vẫn giữ được sự tự-ý-thức về bản thân trong tính không gian hiện sinh của mình. Dasein tự thấu hiểu bản thân mình trước hết và phần lớn là thông qua thế giới của nó; và cái Dasein-với của những Kẻ-khác thường được bắt gặp thông qua những gì sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tuy nhiên, ngay cả khi những Kẻ-khác trở thành đối tượng—chẳng hạn như nghiên cứu chính Dasein của họ—thì họ cũng không bị bắt gặp như những ‘Sự-vật-người’ hiện-diện-vô-tri: ta gặp họ ‘đang làm việc’, nghĩa là, gặp họ chủ yếu trong cái ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ của họ. Ngay cả khi thấy Kẻ khác ‘chỉ đứng đó’, thì hắn cũng không bị nắm bắt như một Sự-vật-người’ hiện-diện-vô-tri; trái lại, hành động ‘đứng đó’ của kẻ ấy là một phương thức Hữu thể hiện sinh – một sự nấn ná không cẩn trọng, không bận tâm, bên cạnh mọi sự vật và hư vô. Kẻ khác kia được bắt gặp trong Dasein-với của hắn ngay trong thế giới.

Tuy nhiên, thuật ngữ ‘Dasein’ cho thấy rõ ràng rằng, ‘trước hết’, hiện hữu này không liên quan đến những Kẻ khác, và tất nhiên, sau đó nó vẫn có thể ‘cùng’ với những Kẻ khác. Dẫu vậy, ta không được bỏ qua việc thuật ngữ ‘Dasein-với’ được dùng để chỉ định cái Hữu thể mà nhờ đó, những Kẻ khác - những kẻ thực sự hiện hữu - được giải phóng bên-trong-thế- giới. Cái ‘Dasein-với’ này của những Kẻ-khác được bộc lộ bên-trong-thế- giới đối với một Dasein—và cũng đối với những kẻ cùng là các Daseins như chúng ta — những Mitdaseienden—chỉ bởi vì Dasein trong tự thân chính là Hữu-thể-với. Khẳng định mang tính hiện tượng luận cho rằng ‘Dasein về bản chất là Hữu-thể-với’ mang ý nghĩa hữu-thể-luận hiện sinh. Nó không nhằm xác lập trên bình diện ontic thực hữu rằng, trên thực tế, tôi không đơn độc hiện-diện-vô-tri mà có tồn tại những Kẻ khác cùng loại với tôi. Nếu đó là ý nghĩa của mệnh đề cho rằng Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein được cấu thành về mặt bản chất bởi Hữu-thể-với, thì Hữu-thể-với sẽ không còn là một thuộc tính hiện sinh mà Dasein tự mình có được từ chính phương thức kiểu Hữu thể của mình nữa. Thay vào đó, nó sẽ trở thành một điều gì đó nảy sinh trong từng trường hợp cụ thể chỉ vì sự xuất hiện của những Kẻ-khác. Hữu-thể-với là một đặc tính hiện sinh của Dasein ngay cả khi, trên thực tế, không có Kẻ khác nào đang hiện-diện-vô-tri hay được tri giác. Ngay cả trạng thái Alleingsein ‘Hữu-thể-độc’ của Dasein cũng là một dạng Mitsein Hữu-thể-với [tr.157] trong thế giới. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, đặc biệt là trong ‘Hữu thể và Thời gian’, cả Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ và Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với đều thuộc về bình diện bản thể luận - cụ thể là các existentialia – những đặc tính cấu trúc thuộc về Hữu thể của Dasein. Heidegger cho rằng Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với là a priori điều kiện tiên nghiệm nền tảng của tồn tại người, còn Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ chỉ là một phương thức khiếm khuyết hoặc thiếu hụt của trạng thái Hữu-thể-với nguyên thủy đó, chứ không phải là một trạng thái ontic thực hữu cụ thể biệt lập. Về vị thế bản thể luận: Đây là cấu trúc hiện sinh: Hữu-thể-với  và ‘Hữu-thể-độc’ định nghĩa bản chất của chúng ta, cấu trúc Hữu thể của ta, chứ không phải cách thức mà một cá nhân cụ thể hành động hay tương tác trong một ngày nhất định. Đây không phải là sự tích tụ ở bình diện ontic Thực hữu cụ thể: Hiện diện vật lý hay việc thiếu vắng những Kẻ khác xung quanh ta (những hiện hữu hiện-diện-vô-tri không tạo ra hay triệt tiêu các cấu trúc này. Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ là phương thức khiếm khuyết – việc ở một mình không có nghĩa là người khác vắng mặt trong thực tại của ta; trái lại, nó chứng minh rằng trạng thái nền tảng của ta mang tính chất tương quan, bởi lẽ ta chỉ có thể cảm thấy hoặc thực sự ‘cô độc’ khi đặt trong bối cảnh của Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với. HHN]

‘Kẻ khác’ chỉ có thể vắng mặt trong2 và đối với2 một phương thức Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với. Alleingsein/ Being-alone ‘Hữu-thể-độc’ là một phương thức khiếm khuyết của Hữu-thể-với; chính khả tính của nó là bằng chứng cho điều này. Mặt khác, phương thức ‘Hữu-thể-độc’ thực sự không bị triệt tiêu bởi sự xuất hiện của một hiện hữu người thứ hai ‘bên cạnh’ tôi, hay thậm chí mười cá thể như vậy. Ngay cả khi những cá thể này (và nhiều hơn nữa) hiện-diện-vô-tri, thì Dasein vẫn có thể cô độc. Do đó, Hữu-thể-với và thực tính của Hữuthể với nhau không dựa trên sự xuất hiện đồng thời của một số ‘chủ thể’. Tuy nhiên, Hữu-thể-độc ‘giữa’ đám đông, xét về mặt Hữu thể không có nghĩa là họ chỉ đơn thuần là những kẻ hiện-diện-vô-tri ở đó bên cạnh chúng ta. Ngay cả khi Hữu thể của chúng ta ‘ở giữa họ’, thì họ vẫn có đó cùng chúng ta; cái Dasein-với của họ được bắt gặp theo một phương thức mà ở đó họ tỏ ra thờ ơ và xa lạ. Sự vắng mặt và trạng thái ‘đi vắng’ [Chen ngang: Das Fehlen und ‘Fortsein’ của Martin Heidegger mô tả những cách thức khiếm khuyết hoặc phái sinh mà trong đó tồn tại con người liên hệ với những kẻ khác, nằm trong cấu trúc nền tảng của Mitsein/ Being-with Hữu-thể-với. Heidegger cho rằng Dasein/ tồn tại người không bao giờ bị cô lập; về bản chất, nó là ‘Hữu-thể-với-kẻ-khác’ ngay từ đầu. Ngay cả khi tôi hoàn toàn ở một mình trong phòng hay tại một nơi hẻo lánh, thì những kẻ khác vẫn có ý nghĩa đối với tôi. Các phương thức khiếm khuyết - Das Fehlen (kẻ khác bị thiếu khuyết hoặc vắng mặt) và ‘Fortsein’ (kẻ khác mất đi hoặc vắng mặt) không phải là sự phá hủy của Mitsein Hữu-thể-với. Thay vào đó, chúng là những biến thể mang tính phủ định hoặc trống rỗng của cấu trúc này. Minh chứng cho thực tại xã hội: Một người vắng mặt hay thiếu vắng chỉ có thể được cảm nhận là ‘thiếu vắng’ bởi vì bản chất tồn tại của con người được định hình để kỳ vọng và gặp gỡ những kẻ khác. Nếu cốt lõi tự nhiên của chúng ta không mang tính xã hội, thì sự vắng mặt sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với chúng ta cả. HHN] là các phương thức của Hữu-thể-với, và chúng chỉ xảy ra vì Dasein—với tư cách là Hữu-thể-với —cho phép Dasein của những kẻ khác được bắt gặp trong thế giới của chính nó. Hữu-thể-với luôn là một đặc tính thuộc về Dasein của ai đó; Dasein-với đặc trưng cho Dasein của nhửng Kẻ khác ở mức độ mà Dasein ấy được thế giới của nó giải phóng để bước vào trạng thái Hữu-thể-với. Chỉ khi Dasein riêng mang cấu trúc cốt yếu của Hữu-thể-với, thì nó mới trở thành Dasein-với có thể được những Kẻ khác bắt gặp. 3

Nếu Dasein-với đóng vai trò cấu thành về mặt hiện sinh đối với trạng thái Hữu-thể-trong-thế-gới, thì cũng giống như những tương tác mang tính quan sát bao quát của chúng ta với các thực thể ‘sẵn-có-để-dùng’ trong thế giới (cái mà ta đã gọi trước là ‘quan tâm’), nó phải được diễn giải dựa trên hiện tượng ‘chăm sóc’; bởi vì ‘chăm sóc’ chính là khái niệm dùng để định nghĩa4  cái Hữu thể của Dasein nói chung. (Hãy so sánh với Chương 6 của Phần này.) ‘Quan tâm’ là một đặc-tính-của-Hữu-thể mà Hữu-thể-với không thể sở hữu như của riêng mình, mặc dù Hữu-thể-với—giống như quan tâm—cũng là một dạng Hữu thể hướng về các thực thể được bắt gặp trong-thế-giới. Tuy nhiên, những thực thể mà Dasein – với tư cách là Hiện-hữu-với hướng tới lại không có loại Hữu thể vốn thuộc về các thiết bị sẵn-có-để-dùng; bản thân chúng cũng chính là Dasein. Những hiện hữu này không phải chỉ là đối tượng quan tâm, mà còn là đối tượng quan tâm ở cấp độ ân cần (solicitude).5

[Tr. 158] Ngay cả việc ‘quan tâm’ đến chuyện ăn mặc hay chăm sóc thân xác ốm đau cũng là những hình thức của thái độ ân cần. Tuy nhiên, chúng ta hiểu thuật ngữ thái độ ‘ân cần’ theo cách tương ứng với cách ta dùng từ concern ‘quan tâm’ như một thuật ngữ chỉ một existentiae đặc tính hiện sinh. Ví dụ, Fürsorge ‘công tác phúc lợi xã hội’ — với tư cách là một sự sắp đặt xã hội mang tính thực tế — vốn bắt rễ từ trạng thái Hữu thể của Dasein với tư cách là Hữu-thể-với. Tính cấp bách thực tế của nó nảy sinh từ việc Dasein thường duy trì sự hiện hữu của mình — trước hết và phần lớn — trong các phương thức khiếm khuyết của cấp độ ân cần. Thái độ vì nhau, chống lại nhau, hay không màng đến nhau, lướt qua nhau, hay tâm thế không ‘có ý nghĩa’ gì với nhau — đó đều là những cách thức khả thể của cấp độ ân cần. Và chính những phương thức khiếm khuyết hay thờ ơ kể trên mới là nét đặc trưng cho lối Hữu-thể-với-nhau thường nhật và bình thường. Những phương thức hiện hữu này lại bộc lộ các đặc tính như trạng thái không nổi bật và tính hiển nhiên — những đặc tính vốn thuộc về lối Dasein-với thường nhật của những Kẻ khác trong-thế-giới, cũng giống như đặc tính sẵn-có-để-dùng của các thiết bị mà ta quan tâm trong cuộc sống hàng ngày. Những phương thức Hữu-thể-với-nhau mang tính Thờ ơ này có thể dễ dàng khiến việc diễn giải mang tính bản thể luận lầm tưởng rằng kiểu Hữu thể này chỉ đơn thuần là ‘Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của vài chủ thể. Dường như chỉ có những biến thể không đáng kể của cùng một loại Hữu thể trước mắt ta; tuy nhiên, xét về mặt bản thể luận, có một sự khác biệt cốt yếu giữa cách thức ‘thờ ơ’ khi các Sự vật ngẫu nhiên xuất hiện cùng nhau và cách thức mà các thực thể đang hiện hữu cùng nhau lại không ‘có ý nghĩa’ gì với nhau.

Xét về các phương thức thực chứng, thái độ ân cần có hai khả tính cực đoan. Nó có thể, theo một nghĩa nào đó, gánh vác thay mối ‘quan tâm’ của Kẻ khác và tự đặt mình vào vị trí của kẻ đó trong việc quan tâm: nó có thể ‘nhảy vào’ làm thay cho kẻ kia.6 Kiểu ân cần này thay cho Kẻ khác tiếp nhận công việc mà lẽ ra kẻ kia phải tự mình bận tâm thực hiện. Theo đó, Kẻ khác bị đẩy ra khỏi vị trí của chính hắn; kẻ kia lùi lại để rồi sau đó, khi công việc đã được hoàn tất, hắn có thể tiếp nhận nó như một thứ đã xong xuôi và sẵn sàng sử dụng,7 hoặc trút bỏ hoàn toàn gánh nặng về nó. Bằng cấp độ ân cần đến như vậy, Kẻ khác có thể trở thành kẻ bị chi phối và lệ thuộc, ngay cả khi sự chi phối này diễn ra ngầm và bản thân hắn không nhận ra. Cấp độ ân cần này—vốn nhảy vào và tước bỏ gánh nặng ‘lo âu’ của kẻ khác—đóng vai trò quyết định lớn đối với ‘Hữu-thể-với-nhau’, và phần lớn liên quan đến mối bận tâm của chúng ta đối với những gì ‘sẵn-có-để-dùng’. Trái lại, còn có một khả tính của loại quan tâm lo lắng khác: thay vì nhảy vào thay cho Kẻ khác, hắn lại ‘nhảy vọt lên trước’ họ [tr.159] trong chính tiềm tính existenzielles Seinkönnen hiện-sinh-vì-Hữu-thể của hắn; [Chen ngang: Với Martin Heidegger, tiềm-tính-hiện-sinh-vì-Hữu-thể ám chỉ những lựa chọn cụ thể, mang tính cá nhân và những khả năng được thực thi trong đời sống, qua đó một Dasein chủ động định hình và xác định cuộc đời mình, thay vì chỉ chạy theo đám đông vô danh. Ý nghĩa cốt lõi: Hiện sinh thuần túy Existentiell (cấp độ ontological – bản thể luận) trái ngược với - ontic thuộc cấp độ thực hữu: đề cập đến những lựa chọn thực tế, thường nhật và mang tính cá nhân của tôi; đó là những gì tôi thực sự làm, cảm nhận và quyết định trong cuộc đời độc nhất của chính mình. Trong khi đó Existentiell thuộc về bản thể luận -  Đề cập đến khuôn khổ cấu trúc mang tính phổ quát của sự hiện hữu con người—những quy luật tiềm ẩn tạo nên nền tảng cho sự tồn tại của con người. Seinkönnen Tiềm-tính-hiện-sinh-vì-Hữu-thể: nghĩa là con người không bao giờ là những thực thể cố định; chúng ta luôn là một tập hợp mở của các khả tính, không ngừng hướng bản thân về phía tương lai. Các đặc điểm chính của khái niệm này: Làm chủ Cá nhân: Tôi phải sống cuộc đời của chính mình, không ai khác có thể đưa ra những lựa chọn mang tính existentiell hiện sinh thay cho tôi. Điều quan trọng khác, đó là Eigentlichkeit Tính chân thực so với Uneigentlichkeit Tính không chân thực: Bạn có thể trôi dạt theo những gì ‘người ta’ thường làm (Uneigentlichkeit không chân thực), hoặc nắm lấy các lựa chọn của đời mình trong khi đối diện trực tiếp với những giới hạn của bản thân (Eigentlichkeit chân thực). Endlichkeit Tính hữu hạn và der Tod cái chết: Khả năng này gắn liền với khả tử tính của con người. Việc nhận thức được rằng cuộc sống sẽ kết thúc khiến cho những lựa chọn cá nhân của chúng ta thực sự trở nên quan trọng. HHN] mục đích không phải là tước bỏ gánh nặng ‘lo âu’ của hắn, mà là trả lại nó cho hắn một cách đích thực theo đúng nghĩa đối với lần đầu tiên. Kiểu quan tâm lo lắng ở cấp độ ân cần này gắn liền cốt yếu với ‘lo âu’ đích thực—tức là hướng về tồn tại của Kẻ khác, chứ không phải hướng về một ‘cái gì’ mà hắn đang bận tâm; nó giúp Kẻ khác trở nên sáng tỏ với bản thân hắn trong ‘lo âu’ của hắn và đạt được sự tự do đối với nó.

Thái độ ân cần bộc lộ thành một trạng thái thuộc về Hữu thể của Dasein—một trạng thái mà, tùy theo các khả tính khác nhau, gắn kết chặt chẽ với cái Hữu thể hướng về thế giới mà nó bận tâm, cũng như với cái Hữu thể đích thực của nó đối với chính mình. Hữu-thể-với-nhau thường dựa vào—và đôi khi chỉ dựa vào—những mối bận tâm chung bằng loại Hữu thể như vậy. Một loại Hữu-thể-với-nhau nảy sinh từ việc cùng làm một công việc giống như kẻ khác, không chỉ phần lớn duy trì trong phạm vi giới hạn bên ngoài, mà còn bước vào trạng thái giữ khoảng cách và sự dè dặt. Cái Hữu-thể-với-nhau của những kẻ cùng được thuê làm một công việc thường chỉ tồn tại dựa trên sự ngờ vực lẫn nhau. Ngược lại, khi họ cùng dấn thân vào một công việc chung, hành động đó được định hình bởi cách thức mà Dasein của mỗi người—theo cách riêng của mình—được khơi dậy và nắm bắt.8 Nhờ đó, họ gắn kết với nhau một cách đích thực, tạo điều kiện cho một kiểu khách thể tính đúng đắn—vốn giúp giải phóng Kẻ khác, để họ được tự do là chính mình. Cái Hữu-thể-với-nhau thường nhật luôn duy trì trạng thái nằm giữa hai thái cực của trạng thái quan tâm lo lắng ân cần: một bên là kiểu ân cần nhảy vào và chi phối, và bên kia là kiểu ân cần nhảy vọt lên trước và giải phóng. Nó đưa nhiều dạng thức hỗn hợp đến độ chín muồi;9 việc mô tả và phân loại chúng sẽ vượt quá phạm vi của cuộc khảo sát này. Cũng như thái độ cẩn trọng  thuộc về lối quan tâm như một phương thức khám phá cái sẵn-có-để-dùng, thì kiểu ân cần đối với kẻ khác lại được dẫn dắt bởi tính chu đáo và lòng khoan dung.10 Giống như kiểu ân cần đối với kẻ khác, các phương thức này có thể biến chuyển từ những trạng thái khiếm khuyết và thờ ơ tương ứng của chúng, cho đến mức độ thiếu chu đáo hoặc trạng thái làm cho có lệ mà thái độ thờ ơ chính là khởi nguồn.11

[Tr.160] Thế giới không chỉ giải phóng cái ‘sẵn-có-để-dùng’ như những thực thể có thể bắt gặp ngay trong-thế-giới; nó còn giải phóng cả Dasein, cũng như những ‘Kẻ khác’ trong cái Dasein-với của họ. Tuy nhiên, ý nghĩa hiện hữu cốt yếu nhất trong Hữu thể của Dasein là ở chỗ: thực thể này (vốn đã được giải phóng về phương diện môi trường) lại chính là Hữu-thể-trong ngay trong cùng cái thế giới mà ở đó, với tư cách có thể gặp được đối với những Kẻ khác, nó lại có đó cùng họ. Chúng ta đã diễn giải tính thế gian như là một tổng thể tính quy chiếu vốn cấu thành nên ý nghĩa (Mục 18). Trong Hữu thể-thân thuộc với ý nghĩa này và sự thấu hiểu từ trước về nó, Dasein để cho cái sẵn-có-để-dùng được bắt gặp như một thực thể đã được khai mở trong các can dự của nó. Trong Hữu thể của Dasein, bối cảnh của các quy chiếu hay các nhiệm vụ mà tính ý nghĩa hàm chứa lại gắn liền với chính cái Hữu thể của Dasein— một loại Hữu thể về bản chất không có sự can dự, mà trái lại, là cái Hữu thể vì mục đích của cái mà tự thân Dasein hiện hữu là chính nó.

Theo phân tích mà chúng ta vừa hoàn tất, cái Hữu-thể-với những Kẻ khác thuộc về cái Hữu thể của Dasein—vốn là một vấn đề đối với Dasein trong chính Hữu thể của nó.12 Như vậy, với tư cách là Hữu-thể-với, Dasein về cơ bản ‘là’ vì lợi ích của những Kẻ khác. Điều này cần được hiểu như một khẳng định mang tính hiện sinh về bản chất của nó. Ngay cả khi một Dasein cụ thể thực tại không hướng về những Kẻ khác, và cho rằng nó không cần đến họ hay có thể xoay xở mà không cần họ, thì nó vẫn đang hiện hữu theo phương thức của Hữu-thể-với. Trong Hữu-thể-với—với tư cách là cấu trúc hiện sinh ‘vì-lợi-ích-của’ của những Kẻ khác—thì chính những Kẻ khác ấy đã được bộc lộ trong cái Dasein của họ. Cùng với Hữu-thể-với của họ, trạng thái được bộc lộ của họ đã được xác lập từ trước; do đó, trạng thái được bộc lộ này cũng góp phần tạo nên ý nghĩa—tức là cái thế gian. Và ý nghĩa—với tư cách là cái thế gian—gắn liền với yếu tố hiện sinh ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’.13 Vì tính thế gian của cái thế giới mà trong đó mỗi Dasein về bản chất đã hiện hữu vốn được cấu thành như vậy, nên nó cho phép ta bắt gặp những gì sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường như là một cái gì đó mà ta quan tâm một cách cẩn trọng; và nó thực hiện điều này theo cách mà cùng với nó, ta cũng bắt gặp sự cái Dasein-với của những Kẻ khác. Cấu trúc tính thế gian của thế giới là ở chỗ những Kẻ khác không hiện-diện-vô-tri ngay từ đầu như những chủ thể lơ lửng tách biệt cùng với các Sự-vật khác, mà tự bộc lộ trong thế giới qua Hữu-thể đặc biệt trong môi trường của họ; điều này diễn ra theo  những gì sẵn-có-để-dùng trong thế giới đó.

Hữu-thể-với là ở chỗ trạng thái bộc lộ của cái Dasein-với của những Kẻ khác [p.161] thuộc về nó; điều này có nghĩa là, vì Hữu thể của Dasein chính là Hữu-thể-với, nên sự thấu hiểu về Hữu thể của nó đã bao hàm sẵn sự thấu hiểu về những Kẻ khác. Sự thấu hiểu này—cũng như mọi sự thấu hiểu khác—không phải là sự quen biết nảy sinh từ tri thức về họ, mà là một loại Hữu thể mang tính hiện sinh nguyên thủy; chính nó, hơn bất cứ điều gì khác, tạo điều kiện cho tri thức và sự quen biết như vậy trở nên khả thể.14 Việc quen biết nhau bắt rễ từ Hữu-thể-với — vốn thấu hiểu nguyên thủy. Nó vận hành trước hết phù hợp với loại Hữu thể gần gũi nhất với chúng ta: Hữu-thể-trong-thế-giới với tư cách Hữu-thể-với; và nó thực hiện điều này thông qua sự quen thuộc với những gì mà Dasein—cùng với những Kẻ khác bắt gặp trong sự cẩn trong về môi trường và tự quan tâm đến — một sự quen thuộc mà trong đó Dasein thấu hiểu. Mối quan tâm mang tính ân cần được hiểu trong khuôn khổ của những gì ta quan tâm và gắn liền với hiểu biết của ta về nó. Do đó, chính trong trạng thái ân cần này mà Kẻ khác được bộc lộ ngay từ đầu. Tuy nhiên, vì sự ân cần thường hiện diện trước hết và chủ yếu ở những phương thức khiếm khuyết hoặc ít nhất là các phương thức thờ ơ (sự thờ ơ khi lướt qua nhau), nên loại quen biết bản thân mang tính cốt yếu và gần gũi nhất đòi hỏi ai đó phải làm quen với chính mình.15  Và khi việc tự-biết-mình bị lạc lối trong trạng thái xa cách, tự giấu mình, hay khoác lớp vỏ ngụy trang, thì cái Hữu-thể-với-nhau  buộc phải đi theo những lộ trình riêng biệt để có thể đến gần Kẻ khác, hay thậm chí là ‘nhìn thấu’ họ.

Song, cũng như việc tự bộc lộ hay tự khép kín bản thân vốn bắt rễ từ việc ai đó có thứ Hữu-thể-với-nhau như là một loại Hữu thể tại thời điểm đó—và thực chất không gì khác hơn điều đó—thì sự bộc lộ tường minh về Kẻ khác trong trạng thái ân cần cũng chỉ nảy sinh từ Hữu thể của kẻ nào đó với hắn trong từng trường hợp cụ thể. Sự bộc lộ về Kẻ khác như vậy (vốn mang tính chủ đề, nhưng không theo kiểu tâm lý học lý thuyết) dễ dàng trở thành hiện tượng xuất hiện trước tiên khi ta xem xét vấn đề lý thuyết về việc thấu hiểu ‘đời sống tâm hồn của Kẻ khác’. Theo cách thức ‘gần gũi’ về mặt hiện tượng học này, nó thể hiện một phương thức Hữu thể với nhau đầy thấu hiểu; nhưng đồng thời, nó lại được coi là yếu tố cấu thành nên—một cách nguyên thủy và ‘ngay từ khởi đầu’—loại Hữu thể hướng về những Kẻ khác và làm cho mối quan hệ đó trở nên khả thể.

[Tr. 162] Hiện tượng này—vốn được gọi bằng cái tên không mấy vui vẻ là ‘thấu cảm’—sau đó được cho là sẽ tạo ra chiếc cầu nối bản thể luận đầu tiên từ chủ thể của chính mình vốn ban đầu được nhận biết như thể đang đơn độc sang chủ thể khác vốn ban đầu hoàn toàn khép kín. Tất nhiên, Hữu thể hướng về Kẻ khác về mặt bản thể luận khác biệt với Hữu thể hướng về Sự vật vốn hiện-diện-vô-tri. Cái Thực thể vốn ‘khác’ đó tự nó mang cùng một loại Hữu thể như Dasein. Do đó, trong Hữu thể với và Hữu thể hướng về Kẻ khác tồn tại một Seinsverhältnis mối quan hệ Hữu thể từ Dasein này sang Dasein kia. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Seinsverhältnis Quan hệ hữu thể chỉ định phương thức chủ động và mang tính kiến ​​tạo mà qua đó hiện hữu người Dasein quan hệ với Hữu thể và các thực thể khác. Thay vì là một đối tượng tĩnh tại, Dasein được xác định bởi sự gắn kết đầy năng động và tất yếu này với tồn tại. Các khía cạnh cốt lõi của Seinsverhältnis bao gồm: Thái độ ứng xử chủ động: Dasein không chỉ tồn tại một cách thụ động; nó luôn có một thái độ, sự thấu hiểu hoặc cách ứng xử có chủ đích đối với Hữu thể. Vượt qua sự cô lập: Khái niệm này bác bỏ quan niệm về một chủ thể tách biệt, thay vào đó khẳng định rằng con người gắn kết mật thiết với thế giới và vạn vật thông qua mối tương quan chủ động này. Mối liên kết bản thể luận nền tảng - đóng vai trò là cầu nối để vạn vật có được ý nghĩa và tự bộc lộ bản chất của mình trong chân trời nghiệm sống của chúng ta. HHN] Tuy nhiên, có thể lập luận rằng mối quan hệ này vốn đã mang tính cấu thành đối với chính Dasein của mỗi kẻ—một Dasein tự bản thân nó đã có sự thấu hiểu về Hữu thể và nhờ đó tự liên hệ16 hướng tới Dasein. Khi ấy, mối quan hệ của Hữu thể mà ta có đối với Kẻ khác sẽ trở thành một sự Phóng chiếu17 của chính Hữu-thể-hướng-về-bản-thân ‘sang một cái gì đó khác’. Kẻ khác khi đó sẽ chỉ là bản sao của cái Tự ngã. Dù những suy luận này có vẻ hiển nhiên, nhưng ta vẫn dễ dàng nhận thấy chúng thiếu cơ sở vững chắc. Cái tiền đề mà lập luận này đòi hỏi—cho rằng Hữu thể hướng về Kẻ khác của Dasein thực chất là Hữu thể hướng về chính mình—là không đứng vững. Chừng nào tính xác đáng của tiền đề này chưa được chứng minh rõ ràng, người ta vẫn có thể băn khoăn về việc làm thế nào mà mối quan hệ của Dasein với chính nó lại có thể được bộc lộ cho Kẻ khác với tư cách là Kẻ khác.Hữu thể hướng về Kẻ khác không chỉ là một mối quan hệ Hữu thể độc lập và không thể quy giản: mối quan hệ này—với tư cách là Hữu-thể-với—là thứ vốn đã hiện hữu ngay trong chính Hữu thể của Dasein.18 Tất nhiên, không thể phủ nhận rằng sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc dựa trên nền tảng Hữu-thể-với thường phụ thuộc vào mức độ mà Dasein của riêng ai đó tự thấu hiểu chính mình tại thời điểm đó; nhưng điều này có nghĩa là nó chỉ phụ thuộc vào cái các thức mà Hữu thể với Kẻ khác đã trở nên minh bạch và không tự che giấu mình.19 Và điều đó chỉ khả thể nếu Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới —vốn đã hiện hữu cùng với những Kẻ khác. ‘Thấu cảm’ không phải là yếu tố khởi đầu tạo nên Hữu thể với; chỉ trên cơ sở của Hữu thể với thì ‘thấu cảm’ mới trở nên khả thể: nó lấy động lực từ tính chất phi xã hội tính của các phương thức thống trị của Hữu thể với.20

[Tr.163] Tuy nhiên, việc ‘thấu cảm’ không phải là một hiện tượng hiện sinh nguyên thủy—cũng giống như việc biết nhau nói chung—không có nghĩa là nó không chứa đựng những vấn đề nan giải. Phép tường giải đặc thù về thấu cảm sẽ phải chỉ ra cách thức mà Hữu thể với nhau và việc tự hiểu mình của Dasein bị lạc lối và bị cản trở bởi các khả tính đa dạng của Hữu thể mà chính Dasein sở hữu; hệ quả là một ‘thấu hiểu’ đích thực bị kìm hãm, và Dasein tìm nơi trú ẩn ở những thứ thay thế; cái khả tính hiểu biết đúng đắn về kẻ lạ đòi hỏi phải có một phép tường giải làm điều kiện hiện sinh tích cực của nó.21 Phân tích của chúng tôi đã chỉ ra rằng Hữu thể với là một thành tố hiện sinh của Hữu-thể-trong-thế-giới. Dasein-with Hiện-hữu-với đã được chứng minh là một loại Hữu thể mà các thực thể được bắt gặp trong-thế-giới sở hữu như là cái riêng có của chúng. Chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì Hữu-thể-với-nhau vẫn là loại Hữu thể của nó.

Điều này không thể được quan niệm như là kết quả cộng gộp từ sự xuất hiện của nhiều ‘chủ thể’. Ngay cả việc bắt gặp một số lượng các ‘chủ thể’ cũng chỉ trở nên khả thể nếu những Kẻ khác—vốn hiện diện ngay từ đầu trong Dasein-với của họ—bị đối xử đơn thuần như những ‘con số’. Một số lượng các ‘chủ thể’ như vậy chỉ được phát hiện thông qua một kiểu Hữu-thể-với-và-hướng-về-nhau xác định. Kiểu Hữu-thể-với ‘thiếu quan tâm’ này ‘tính toán’ đến những Kẻ khác mà không thực sự ‘trông cậy vào họ’, hay thậm chí không hề muốn ‘dính dáng’ gì đến họ. Dasein/Hiện hữu của chính ta, cũng như Dasein-với/Hiện-hữu-với của những Kẻ khác, được bắt gặp trước hết và chủ yếu trong khuôn khổ của cái với-thế-giới — với cái mà ta đang bận tâm và tương tác trong môi trường sống. Khi Dasein đắm chìm trong thế giới của những mối bận tâm—tức là đồng thời đắm chìm trong Hữu-thể-với hướng về những Kẻ khác—thì nó không còn là chính nó nữa. Vậy thì, ai là kẻ đã tiếp quản cái Hữu thể với tư cách là Hữu-thể-với-nhau thường nhật?

27. Hữu-thể-Chính-mình Thường nhật và cái ‘Họ’

Kết quả có ý nghĩa về mặt bản thể luận từ sự phân tích của chúng ta về Hữu-thể-với chính là sự thấu hiểu rằng ‘đặc tính chủ thể’ của Dasein/ hiện hữu của chính ta và của những Kẻ khác cần được xác định về phương diện hiện sinh—tức là, trong khuôn khổ của các cách thức mà ai đó có thể hiện hữu. Trong những gì ta bận tâm đến ở môi trường xung quanh, ta bắt gặp những Kẻ khác đúng như bản chất của họ; họ chính là những gì họ đang thực hiện. Khi ta bận tâm đến những gì mình đang nắm bắt—dù là cùng với, vì, hay chống lại những Kẻ khác—luôn có đó một sự quan tâm thường trực về việc ta khác biệt với họ như thế nào: liệu sự khác biệt đó chỉ là điều cần được san bằng, hay Dasein của ta đang tụt hậu so với họ và muốn [tr.164] bắt kịp họ, hay Dasein của ta đã có vị thế ưu trội hơn và tìm cách kìm hãm họ. Sự bận tâm về khoảng cách này gây xáo trộn cho trạng thái Hữu-thể-với-nhau, mặc dù sự xáo trộn ấy lại bị che giấu khỏi chính trạng thái đó. Nếu diễn đạt theo thuật ngữ hiện sinh, thì kiểu Hữu-thể-với-nhau này mang đặc tính của ‘tính khoảng cách’. Kiểu Hữu thể này càng ít gây chú ý đối với chính Dasein thường nhật bao nhiêu, thì nó lại càng vận hành một cách ngoan cố và nguyên thủy bấy nhiêu. Tuy nhiên, tính khoảng cách vốn thuộc về ‘Hữu-thể-với này lại khiến cho Dasein—với tư cách là Hữu-thể-với-nhau thường nhật—rơi vào thế lệ thuộc vào những Kẻ khác. Bản thân nó không còn là chính nó nữa1; Hữu thể của nó đã bị những Kẻ khác tước đoạt. Các khả tính Hữu thể thường nhật của Dasein bị phó mặc cho những Kẻ khác tùy ý định đoạt. Hơn nữa, những Kẻ khác này lại không phải là những Kẻ khác cụ thể nào đó. Trái lại, bất kỳ ai khác cũng có thể đại diện cho họ. Điều mang tính quyết định chính là sự thống trị âm thầm của những Kẻ khác—một sự thống trị mà Dasein với tư cách là Hữu-thể-với đã vô tình chấp nhận từ lúc nào không hay. Bản thân ta thuộc về những Kẻ khác và góp phần củng cố quyền lực của họ. ‘Những Kẻ khác’—cách gọi mà ta dùng để che đậy sự thật rằng về bản chất, chính ta cũng thuộc về họ—là những kẻ hiện diện ngay trước mắt và chiếm ưu thế trong Hữu-thể-với-nhau thường nhật. Cái ‘ai’ ấy không phải là kẻ này, không phải người kia, không phải chính bản thân ta, không phải một nhóm người nào đó, và cũng không phải tổng hòa của tất cả họ. Cái ‘ai’ ấy là một thực thể trung tính, cái ‘họ’.

Trước đó, chúng ta đã chỉ ra rằng trong môi trường gần gũi nhất với ta, ‘môi trường’ công cộng đã sẵn-có-để-dùng và trở thành đối tượng của sự quan tâm. Khi sử dụng các phương tiện giao thông công cộng hay các dịch vụ thông tin như báo chí, mỗi Kẻ khác đều giống hệt như bất kỳ ai. Kiểu Hữu-thể-với-nhau này hòa tan hoàn toàn Dasein/hiện hữu của cá nhân vào loại Hữu thể của ‘những Kẻ khác’, đến mức mà chính những Kẻ khác—vốn có thể phân biệt và xác định rõ ràng—lại ngày càng trở nên mờ nhạt và biến mất. Chính trong sự không nổi bật, không cụ thể đó, nền chuyên chế thực sự của cái ‘họ’ được khai mở. Ta tìm thấy niềm vui và sự thích thú giống như cách ‘họ’ tìm thấy chúng; ta đọc, xem và đánh giá văn học nghệ thuật theo cách ‘họ’ nhìn nhận và đánh giá; ta cũng e ngại ‘đám đông’ theo cách ‘họ’ e ngại; ta coi những gì ‘gây sốc’ giống như cách ‘họ’ nhìn nhận. ‘Họ’—một thực thể không có định nghĩa cụ thể nhưng lại bao hàm tất cả mọi người (dù không phải theo kiểu cộng dồn đơn thuần)—chính là nhân tố quy định loại Hữu thể của đời sống thường nhật.

‘Họ’ có những phương thức hiện hữu riêng biệt. Khuynh hướng ‘Hữu-thể-với-nhau mà ta gọi là ‘tính giãn cách’ [Chen ngang: Abständigkeit tính giãn cách - thường chỉ trạng thái, phẩm chất hoặc điều kiện của việc ở xa, tách biệt hoặc tách rời. Thuật ngữ này mô tả cách con người trong cuộc sống thường nhật liên tục đo lường khoảng cách, sự khác biệt hoặc khe hở giữa bản thân họ và những kẻ khác. Đây là một đặc điểm cơ bản trong cách con người tương tác với đám đông xã hội hay cái gọi là das Man ‘họ’. Con người quan tâm đến tính bình thường và vị thế. Họ cố gắng duy trì một mức độ hoặc khoảng cách tương đối nào đó với kẻ khác—hoặc bằng cách cố gắng bắt chước những gì kẻ khác làm, hoặc bằng cách đảm bảo mình tạo ra sự khác biệt nhỏ nào đó để giữ khoảng cách với đám đông. Khái niệm này góp phần định hình tính chất công cộng và hành vi xã hội thường nhật bằng cách khiến con người luôn ý thức về vị thế và chuẩn mực xã hội. HHN] bắt nguồn từ thực tế là Hữu-thể-với-nhau này luôn hướng tới trạng thái ‘trung bình’—một đặc tính hiện sinh của ‘họ’. Trong Hữu thể của mình, ‘họ’ luôn [tr.165] chú trọng điều này. Do đó, ‘họ’ duy trì sự tồn tại thực tế của mình trong trạng thái trung bình đối với những gì thuộc về nó: những gì nó vốn công nhận là hợp lệ hay không, những gì nó cho phép thành công hay phủ nhận thành công. Trong trạng thái trung bình dùng để quy định những gì có thể và được phép thử nghiệm này, ‘họ’ luôn giám sát mọi điều khác biệt, nổi trội có ý định vươn lên. Mọi hình thức ưu trội đều bị kìm hãm một cách lặng lẽ. Chỉ trong chốc lát, mọi điều nguyên thủy đều bị lướt qua như thể đó là những chuyện đã quá đỗi quen thuộc. Mọi thành quả đạt được qua đấu tranh đều trở thành thứ bị thao túng. Mọi bí mật đều mất đi sức mạnh của mình. Khuynh hướng thiên về trạng thái ‘trung bình’ này bộc lộ một xu hướng cốt yếu của Dasein, mà ta gọi là sự ‘san phẳng’ mọi khả tính của Hữu thể. Tính giãn cách, trạng thái trung bình và sự san phẳng—vốn là các phương thức Hữu thể của cái gọi là ‘họ’—cấu thành nên cái mà ta biết đến là Öffentlichkeit ‘tính công cộng’. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, tính công cộng Öffentlichkeit là phương thức vô danh, thường nhật mà qua đó thế giới xã hội hay das Man cái ‘họ’ định hình tư duy, ngôn ngữ và thực tại của chúng ta. Nó che mờ sự thấu hiểu đích thực của cá nhân bằng cách khiến mọi thứ trở nên đồng nhất, quen thuộc và tầm thường. Các đặc điểm cốt lõi của tính công cộng bao gồm: i) Tính trung bình - mọi người cố gắng hành động, suy nghĩ và cảm nhận giống như một người bình thường; ii) Sự san bằng - những ý tưởng độc đáo và chân lý cá nhân sâu sắc bị xóa nhòa, mọi thứ bị giản lược thành những điều an toàn và dễ nắm bắt; và iii) Tính giãn cách - mọi người liên tục so sánh mình với những kẻ khác trong nhóm, lo lắng về việc hòa nhập và làm những gì mà ‘họ/người ta’ thường làm. Tính công cộng ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày thông qua: i) Những chuyện phiếm - ngôn ngữ trở nên hời hợt, người ta lặp lại ý kiến ​​nghe được từ nơi khác thay vì tự mình khám phá chân lý; ii) Thiếu tính đích thực - thay vì đưa ra những lựa chọn thực sự và có ý thức, con người sống như một das Man-selbst/They-Self ‘Tự ngã-Họ’ và chấp nhận các chuẩn mực chung mà không hề đặt câu hỏi; và iii) Tình trạng che khuất Hữu thể - Heidegger cho rằng tính công cộng che mờ ý nghĩa đích thực và sâu xa của tồn tại, thay thế sự thấu hiểu sâu sắc bằng tính minh bạch hời hợt bề mặt. - HHN]. Tính công cộng chi phối trực tiếp mọi cách thức diễn giải về thế giới và về Dasein, và nó luôn luôn đúng—không phải vì nó có một mối quan-hệ-Hữu-thể đặc thù và nguyên thủy nào đó với các Sự vật, hay vì nó tận dụng được sự minh bạch về phía Dasein mà nó đã chiếm hữu một cách tường minh, mà bởi vì nó hoàn toàn vô cảm trước mọi sự khác biệt về đẳng cấp hay tính đích thực, và do đó, chẳng bao giờ chạm tới được ‘căn cội của vấn đề’. Tính công cộng khiến mọi thứ trở nên lu mờ, và những gì bị che đậy theo cách đó lại được coi là cái gì đó thân thuộc, dễ tiếp cận đối với tất cả mọi người.

Cái ‘họ’ hiện diện ở khắp mọi nơi, nhưng lại luôn lẩn tránh ngay khi Dasein cần đưa ra một quyết định. Tuy nhiên, vì cái "họ" tự nhận mọi phán đoán và quyết định là của chính mình, nó tước đi khả năng chịu trách nhiệm của cá nhân Dasein. Cái ‘họ’ có thể, theo một cách nào đó, khiến người ta phải liên tục viện dẫn đến nó. Nó có thể dễ dàng nhận trách nhiệm về mọi thứ, bởi vì nó không phải là một cá nhân cụ thể cần phải đứng ra bảo đảm cho bất cứ điều gì. Luôn là cái ‘họ’ đã thực hiện hành động đó, nhưng đồng thời cũng có thể nói rằng ‘không ai cả’ đã làm điều đó. Trong đời sống thường nhật của Dasein, tác nhân đứng sau hầu hết các sự việc lại là cái mà ta buộc phải nói là ‘không ai cả’. Như vậy, cá nhân Dasein trong đời sống thường nhật được cái ‘họ’ gánh vác, giảm gánh nặng. Không chỉ có vậy; bằng cách giảm gánh nặng Hữu thể này, cái ‘họ’ chiều theo Dasein nếu nó có khuynh hướng muốn mọi việc trở nên dễ dàng và nhẹ nhàng. Và vì cái ‘họ’ liên tục chiều theo cá nhân Dasein bằng cách gánh vác bớt trách nhiệm về Hữu thể của nó, nên cái ‘họ’ càng củng cố và gia tăng quyền thống trị đầy ngoan cố của mình. Ai cũng là kẻ khác, và chẳng ai là chính mình. Cái ‘họ’ – thứ đưa ra [tr.166] lời đáp cho câu hỏi về cái ‘ai’ trong đời sống thường nhật của Dasein – chính là ‘không ai cả’, cái mà mọi Dasein đều đã phó mặc chính mình vào đó trong trạng thái Untereinandersein ‘Hữu-thể-giữa-mình-và-kẻ-khác.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…dass dieses Ich-hier nicht einen ausgezeichneten Punkt des Ichdinges meint, sondern sich versteht als In-sein aus dem Dort dcr zuhandenen Welt, bei dem Dasein als Besorgen sich aufhalt.' The older editions have 'In-Sein' for 'ln-sein', and 'dabei' for 'bei dem'.

2 Italics supplied in the later editions.

3 ‘….Mitdasein charakterisiert das Dasein anderer, sofern es für ein Mitsein durch dessen Welt freigegeben ist. Das eigene Dasein ist, sofern es die Wesensstruktur des Mitseins hat, als für Andere begegnend Mitdasein.'
4 ‘…als welche das Sein des Daseins
überhaupt bestimmt wird.' The older editions omit 'wird'.

5 'Dieses Seiende wird nicht besorgt, sondern steht in der  Fürsorge’. There is no good English equivalent for  Fürsorge’, which we shall usually translate by 'solicitude'. The more literal 'caring-for' has the connotation of 'being fond of', which we do not want here; 'personal care' suggests personal hygiene; 'personal concern' suggests one's personal business or affairs. ‘Fürsorge’ is rather the kind of care which we find in 'prenatal care' or 'taking care of the children', or even the kind of care which is administered by welfare agencies. Indeed the word ‘Fürsorge’ is regularly used in contexts where we would speak of 'welfare work' or 'social welfare; this is the usage which Heidegger has in mind in his discussion of ‘Fürsorge’ as 'a factical social arrangement'. (The etymological connection between 'Sorge ('care'), ‘Fürsorge’ ('solicitude'), and 'Besorgen ('concern'), is entirely lost in our translation.)

6 ‘….sich an seine Stelle setzen, für ihn einspringen.’ Here, as on H. 100 (See our note 2, p. 133), 1t would be more idiomatic to translate 'für ihn einspringen' as 'intervene for him', 'stand in for him' or 'serve as deputy for him' ; but since 'einspringcn' is to be contrated with 'vorspringen', 'vorausspringcn' and perhaps even 'entspringen' in the following paragraphs, we have chosen a translation which suggests the etymological connection.

7 ‘…urn nachtraglich das Besorgte als fertig Verfügbares zu übernehmen…’

8 'Umgekehrt ist das gemeinsame Sicheinsetzen für dieselbe Sache aus dem je eigens ergriffenen Dasein bestimmt.'

9 Reading ‘…und zeitigt mannigfache Mischformen…’ with the older editions. The later editions have 'zeigt' ('shows') instead of 'zeitigt' ('brings to maturity'). On 'zeitigen' see H. 304 and our note ad loc.

10 'Wie dem Besorgen als Weise des Entdeckens des Zuhandenen die Umsicht zugehort, so ist die Fürsorg : geleitet durch die Rücksicht und Nachsicht.' Heidegger is here calling attention to the etymological kinship of the three words which he italicizes, each of which stands for a special kind of sight or seeing ('Sicht'). The italicization of 'Umsicht' ('circumspection') is introduced in the newer editions.

11 ‘…bis zur Rücksichtslosigkeit und dem Nachsehen, das die Gleichgültigkeit leitet.' This passage is ambiguous both syntactically and semantically. It is not clear, for instance, whether the subject of the relative clause is 'die Gleichgültigkeit' or the pronoun 'das', though we prefer the former interpretation. 'Nachsehen', which is etymologically
akin to 'Nachsicht', means to 'inspect' or 'check' something ; but it often means to do this in a very perfunctory manner, and this latter sense may well be the one which Heidegger has in mind.

12 ‘…zum Sein des Daseins, urn das es ihm in seinem Sein selbst geht…’
The older editions have 'darum' instead of'um das'.

13 'Diese mit dem Mitscin vorgiingig konstituierte Erschlossenheit der Anderen macht demnach auch die Bedeutsamkeit, d.h. die Weltlichkeit mit aus, als welche sie im existenzialen Worum-willen festgemacht ist.' The word 'sie' appears only in the later editions.

14 'Dieses Verstehen ist, wie Verstehen iiberhaupt, nicht eine aus Erkennen erwachsene Kenntnis, sondern eine urspriinglich existenziale Seinsart die Erkennen und Kenntnis allererst moglich macht'. While we have here translated 'Kenntnis' as 'acquaintance' and 'Erkennen' as 'knowledge about', these terms must not be understood in the special
senses exploited by Lord Russell and C. I. Lewis. The 'acquaintance' here involved is of the kind which may be acquired whenever one is well informed about something, whether one has any direct contact with it or not.

15 ‘…bedarf das nächste und wesenhafte Sichkennen eines Sichkennenlernens.' 'Sichkennen' ('knowing oneself') is to be distinguished sharply from 'Selbsterkenntnis' ('knowledge of the Self'), which will be discussed on H. 1 46. See our note 1, p. 186.

16 ‘….sich…verhalt…’ We have often translated this expression as 'comports' itself', compromising between two other possible meanings : 'relates itself' and 'behaves or 'conducts itself'. In this passage, however, and in many others where this expression is tied up with 'Verhaltnis' ('relationship') rather than with 'Verhalten' ('behaviour or 'conduct'), only 'relates itself' seems appropriate.

17 'Projektion'. Here we are dealing with 'projection' in the familiar psychological sense, not in the sense which would be expressed by 'Entwurf'. See H. 1 45 ff.

18 'Das Sein zu Anderen ist nicht nur ein eigenstandiger, irreduktibler Seinsbezug, er ist als Mitsein mit dem Sein des Daseins schon seiend.'

19 ‘…wie weit es das wesenhafte Mitsein mit anderen sich durchsichtig gemacht und nicht verstellt hat…’ (The older editions have ‘…sich nicht undurchsichtig gemacht und verstellt hat…’.)

20 ‘Einfühlung’ konstituiert nicht erst das Mitsein, sondem ist auf dessen Grunde erst moglich und durch die vorherrschenden defizienten Modi des Mitseins in ihrer Unumganglichkeit motiviert.’

21  ‘…welche positive existenziale Bedingung rechtes Fremdverstehen fiir seine Miiglichkeit voraussetzt.' We have construed 'welche' as referring back to 'Hermeneutik', though this is not entirely clear.

22 'Das Man kann es sich gleichsam leisten, dass "man" sich stiindig auf es beruft.'