Powered By Blogger

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (IV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

7. Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận

[T.49] Khi tạm thời mô tả cái khách thể đóng vai trò là chủ đề trong nghiên cứu của chúng ta (Hữu thể của các hiện hữu, hay ý nghĩa của Hữu thể nói chung), dường như chúng ta cũng đã vạch ra phương pháp cần sử dụng. Nhiệm vụ của Bản thể luận là giải thích chính Hữu thể và làm nổi bật Hữu thể của các hiện hữu một cách đầy đủ. Và phương pháp bản thể luận vẫn còn gây tranh cãi ở mức độ cao nhất chừng nào chúng ta chỉ tham khảo những bản thể luận đã được lưu truyền trong lịch sử, hoặc các bài luận khác có tính chất tương tự. Vì thuật ngữ ‘bản thể luận’ được sử dụng trong nghiên cứu này theo nghĩa rộng về mặt hình thức, nên bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm rõ phương pháp bản thể luận bằng cách truy tìm lịch sử của nó đều tự động bị loại trừ. [Ghi chú nguyên bản để so sánh: “Mit der vorläufigen Charakteristik des thematischen Gegenstandes der Untersuchung (Sein des Seienden, bzw. Sinn des Seins überhaupt) scheint auch schon ihre Methode vorgezeichnet zu sein. Die Abhebung des Seins vom Seienden und die Explikation des Seins selbst ist Aufgabe der Ontologie. Und die Methode der Ontologie bleibt im höchsten Grade fragwürdig, solange man etwa bei geschichtlich überlieferten Ontologien oder dergleichen Versuchen Rat erbitten wollte. Da der Terminus Ontologie für diese Untersuchung in einem formal weiten Sinne gebraucht wird, verbietet sich der Weg, ihre Methode im Verfolg ihrer Geschichte zu klären, von selbst.” (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.27. HHN chú thêm: Khi dẫn đoạn nguyên văn trên người đọc chỉ muốn bạn đọc so sánh các từ chủ chốt của bản Đức văn Sein des Seienden [cùng gốc Sein] và bản Anh văn the Being of entities [khác gốc to be] mà thôi. Như chúng ta đều biết trong tiếng Đức, ‘Seienden’ thường được dùng với mạo từ das hoặc ein là thuật ngữ triết học dùng để chỉ ‘các hiện hữu’, ‘các vật thể’ hoặc ‘những thứ tồn tại’; nó là một phân từ hiện tại được danh từ hóa, bắt nguồn từ động từ sein giống như to be trong tiếng Anh; sein là động từ nguyên dạng mang nghĩa như to beto exist trong tiếng Anh; phân từ -end: khi thêm hậu tố -end thì động từ trở thành danh động từ hoặc phân từ như being trong tiếng Anh, mang nghĩa ‘being-hiện hữu’ hoặc ‘existing-tồn tại’; ví dụ seiend có nghĩa là existent vẫn ‘tồn tại’; danh từ (-en) - viết hoa và thêm -en sẽ chuyển đổi nó về mặt ngữ pháp thành một danh từ mô tả chính khách thể/đối tượng - một being ‘hiện hữu’ hoặc thing ‘vật thể’; vì vậy das Seiende hiểu theo nghĩa đen là ‘cái đang là/hiện hữu/tồn tại’; trong lịch sử siêu hình học, các nhà triết học đã dịch khái niệm Hy Lạp τὸ ὄν và từ Latin ens thực thể sang tiếng Đức là das Seiende. Martin Heidegger dùng Sein như là Bản/Hữu thể tự thân Being itself, hay trạng thái tồn tại, và das Seiende beings các hiện hữu/thực thể, là những sự vật, đồ vật hoặc con người riêng lẻ tồn tại; ông đã tạo ra sự phân biệt Ontological Hữu thể luận và Ontic Thực hữu này khi đặt câu hỏi tại sao bất cứ điều gì lại tồn tại, tách biệt khái niệm Hữu thể khỏi các thực hữu.- HHN)]. Hơn nữa, khi chúng ta sử dụng thuật ngữ ‘bản thể học’, chúng ta không nói về một ngành triết học cụ thể nào đó có mối liên hệ với các ngành khác. Ở đây, người ta không cần phải đáp ứng các nhiệm vụ của một số ngành học đã được trình bày trước đó; ngược lại, chỉ khi xét đến những nhu cầu khách quan của các câu hỏi quyết định và loại xử lý mà ‘bản thân sự vật’ đòi hỏi, thì mới phát triển được ngành học đó.

Với câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, nghiên cứu của chúng ta [tr.50] đặt ra câu hỏi cơ bản của triết học. Đây là một câu hỏi cần được xử lý theo phương pháp hiện tượng luận. Do đó, luận thuyết của chúng ta không tán thành một ‘quan điểm’ hay đại diện cho bất kỳ ‘hướng đi’ đặc biệt nào; bởi vì hiện tượng luận không phải là bất kỳ loại nào trong số đó, và nó cũng không thể trở thành như vậy chừng nào nó còn tự hiểu chính mình. Thuật ngữ ‘hiện tượng luận’ chủ yếu biểu thị một quan niệm phương pháp luận. Thuật ngữ này không mô tả cái gì là đối tượng của nghiên cứu triết học với tư cách là chủ đề nghiên cứu, mà là cách thức tiến hành nghiên cứu đó. Khái niệm phương pháp luận càng được xây dựng một cách chân thực và càng xác định một cách toàn diện các nguyên tắc mà một ngành khoa học cần được tiến hành, thì nó càng bắt nguồn sâu xa từ cách chúng ta tiếp cận chính bản thân sự vật,1  và càng xa rời những gì chúng ta gọi là ‘thiết bị kỹ thuật’, mặc dù có rất nhiều thiết bị như vậy ngay cả trong các ngành lý thuyết. Do đó, thuật ngữ ‘hiện tượng luận’ thể hiện một châm ngôn có thể được diễn đạt là zu den Sachen selbst! ‘Hướng đến chính bản thân sự vật!’ Nó phản đối mọi cấu trúc không có căn cứ và những phát hiện ngẫu nhiên; nó phản đối việc tiếp nhận bất kỳ khái niệm nào chỉ có vẻ được chứng minh; nó phản đối những câu hỏi giả tạo tự xưng là ‘vấn đề’, thường kéo dài qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng, nguyên tắc này hiển nhiên đến mức đáng kinh ngạc, và hơn nữa, nó thể hiện nguyên tắc cơ bản của bất kỳ tri ​​thức khoa học nào. Tại sao một điều hiển nhiên như vậy lại cần được đề cập rõ ràng khi đặt tên cho một ngành nghiên cứu? Trên thực tế, vấn đề ở đây là một loại ‘hiển nhiên’ mà chúng ta muốn làm rõ hơn, chừng nào việc đó còn quan trọng để làm sáng tỏ quy trình của luận văn này. Chúng ta sẽ chỉ trình bày khái niệm sơ bộ [Vorbegriff] về hiện tượng luận.

Thuật ngữ này có hai thành phần: ‘hiện tượng’ và ‘logos’. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: φαινόμενονλόγος. Xét một cách hời hợt, thuật ngữ ‘hiện tượng luận’ được hình thành giống như ‘thần học’, ‘sinh học’, ‘xã hội học’ - những tên gọi có thể được dịch là ‘khoa học về Thượng đế’, ‘khoa học về sự sống’, ‘khoa học về xã hội’. Điều này sẽ biến hiện tượng luận thành khoa học về các hiện tượng. Chúng ta sẽ trình bày khái niệm sơ bộ về hiện tượng luận bằng cách mô tả những gì người ta nghĩ đến trong hai thành phần của thuật ngữ, ‘hiện tượng’ và ‘logos’, và bằng cách thiết lập ý nghĩa của tên gọi mà chúng được ghép lại với nhau. Lịch sử của chính từ này, được cho là xuất hiện trong Schule Wolffs Trường phái Wolffs, ở đây không có ý nghĩa gì. [tr.51]

A. Khái niệm Hiện tượng

Từ tiếng Hy Lạp φαινόμενον, mà thuật ngữ ‘hiện tượng’ quay trở lại với nó, có gốc động từ φαίνεσθαι, nghĩa là ‘tự thể hiện’. Vì vậy φαινόμενον có nghĩa là das, was sich zeigt, das Sichzeigende, das Offenbare cái tự thể hiện, tự biểu hiện. Bản thân từ φαίνεσθαι là một thể trung động Middle-voiced form [Ghi chen ngang tý chút: Ai đã từng lướt qua lớp học tiếng Hy Lạp cổ đều rõ, đây là một dạng của động từ nằm giữa thể chủ động và thể bị động; chủ ngữ trong câu vừa là người thực hiện hành động, vừa là người/vật nhận kết quả của hành động đó. Để thấy sự khác biệt mà người Hy Lạp tạo ra giữa thể Active Voice chủ động và thể Middle Voice trung động trong động từ ngoại động, hãy xem xét ví dụ sau: ví dụ ta có một con ngựa, nếu ai đó thả con ngựa đó ra, thì động từ đó ở thể chủ động trong tiếng Hy Lạp: λύει τὸν ἵππον μου Hắn thả ngựa của tôi; nhưng nếu chính tôi cởi dây buộc ngựa của mình để cưỡi nó, thì đó sẽ là thể trung động trong tiếng Hy Lạp: λύομαι τὸν ἵππον Tôi thả ngựa của mình ra. Một số động từ tiếng Hy Lạp, có thể có sự khác biệt quan trọng về nghĩa giữa thể chủ động và thể trung động; ví dụ: αἱρέω ở thể chủ động Tôi lấy, nhưng λανθάνω ở thể trung động Tôi chọn; σταθμάω ở thể chủ động Tôi đo lường; λανθμάω ở thể trung động lại là Tôi tính toán; σκοπέω ở thể chủ động là Tôi nhìn vào; λανθάνω ở thể trung động lại là Tôi xem xét; πορεύω ở thể chủ động Tôi mang; λανθάνω ở thể chủ động lại là Tôi trốn tránh sự chú ý của; λανθάνω ở thể chủ động Tôi quên.- HHN] xuất phát từ φαίνω - đưa ra ánh sáng, đặt trước ánh sáng. φαίνω xuất phát từ gốc φα-, giống như φῶς, nghĩa là ánh sáng, cái gì đó sáng sủa - nói cách khác, là cái mà trong đó một cái gì đó có thể trở nên hiển hiện, tự nó có thể nhìn thấy được. Vì vậy, chúng ta phải ghi nhớ rằng thuật ngữ ‘hiện tượng’ biểu thị cái tự hiển lộ, cái hiển hiện. Theo đó, φαινόμενα hay ‘hiện tượng’ là toàn bộ những gì nằm trong ánh sáng ban ngày hoặc có thể được đưa ra ánh sáng - điều mà người Hy Lạp đôi khi đồng nhất đơn giản với τὰ ὄντα (các hiện hữu).

Giờ đây, một thực thể có thể tự hiển lộ từ chính nó [von ihm selbst her] theo nhiều cách, trong từng trường hợp, tùy thuộc vào loại tiếp cận mà chúng ta có được với nó. Thậm chí, một thực thể còn có thể tự hiển lộ như một cái gì đó không phải là bản thân nó. Khi nó tự hiển lộ theo cách này, nó 'trông giống như cái gì đó khác' [‘sieht’… ‘so aus wie…’]. Kiểu tự thể hiện này là điều chúng ta gọi là ‘dường như’ [Scheinen]. Tương tự như vậy, trong tiếng Hy Lạp, cụm từ φαινόμενον (‘hiện tượng’) biểu thị cái trông giống như một cái gì đó, cái ‘semblant’, ‘semblance’ [das ‘Scheinbare’, der ‘Schein’). φαινόμενον άγάθων có nghĩa là một điều tốt đẹp trông giống như, nhưng ‘thực tế’ không phải là những gì nó tự thể hiện. Nếu muốn hiểu sâu hơn về khái niệm hiện tượng, mọi thứ phụ thuộc vào việc chúng ta nhận thấy mối liên hệ cấu trúc giữa cái được chỉ định trong nghĩa thứ nhất của φαινόμενον (‘hiện tượng’ như cái tự biểu hiện) và cái được chỉ định trong nghĩa thứ hai (‘hiện tượng’ như hình thức bề ngoài). Chỉ khi ý nghĩa của một thứ gì đó khiến nó tự nhận là đang tự biểu hiện – tức là, là một hiện tượng – thì nó mới có thể tự biểu hiện như một thứ mà nó không phải; chỉ khi đó nó mới có thể ‘chỉ trông giống như cái này cái kia’. Khi φαινόμενον có nghĩa là ‘hình thức bề ngoài’, thì nghĩa nguyên thủy (hiện tượng như cái hiển hiện) đã được bao gồm như là nền tảng của nghĩa thứ hai. Chúng ta sẽ dùng thuật ngữ ‘hiện tượng’ để chỉ ý nghĩa tích cực và nguyên thủy này của φαινόμενον, và phân biệt phenomenon ‘hiện tượng’ với semblance ‘dáng vẻ’, là dạng phủ định của ‘hiện tượng’ được định nghĩa như vậy. Nhưng những gì cả hai thuật ngữ này thể hiện về cơ bản không liên quan gì đến cái gọi là ‘sự xuất hiện’, hoặc càng không phải là ‘sự xuất hiện đơn thuần’.2

[Tr.52] Đây là điều được đề cập đến Krankheitserscheinungen ‘các triệu chứng của một căn bệnh’. Ở đây, người ta đang nghĩ đến một số hiện tượng nhất định trong cơ thể tự biểu hiện và, khi tự biểu hiện như vậy, lại indizieren ‘chỉ ra’ một điều gì đó không tự biểu hiện. Sự xuất hiện của những hiện tượng như vậy, sự biểu hiện của chúng, đi đôi với sự hiện diện của những rối loạn không tự biểu hiện. Sự xuất hiện với tư cách sự xuất hiện ‘của điều gì đó’ do đó không có nghĩa là: tự biểu hiện, mà đúng hơn là sự báo hiệu của điều gì đó không tự biểu hiện, thông qua điều gì đó tự biểu hiện. Sự xuất hiện là một sự không biểu hiện. Nhưng từ ‘không’ mà chúng ta thấy ở đây hoàn toàn không được nhầm lẫn với từ ‘không’ phủ định mà chúng ta đã sử dụng để định nghĩa cấu trúc của sự tương đồng.3 Cái gì xuất hiện thì không tự biểu hiện; và bất cứ điều gì không tự biểu hiện ra cũng là thứ gì đó không bao giờ có thể xuất hiện. 4 Tất cả các dấu hiệu, biểu hiện, triệu chứng và biểu tượng đều có cấu trúc hình thức cơ bản này của sự xuất hiện, mặc dù chúng khác nhau.

[Nguyên bản Đức văn: So ist die Rede von »Krankheitserscheinungen«. Gemeint sind Vorkommnisse am Leib, die sich zeigen und im Sichzeigen als diese Sich zeigenden etwas »indizieren«, was sich selbst nicht zeigt. Das Auftreten solcher Vorkommnisse, ihr Sichzeigen, geht zusammen mit dem Vorhandensein von Störungen, die selbst sich nicht zeigen. Erscheinung als Erscheinung »von etwas« besagt demnach gerade nicht: sich selbst zeigen, sondern das Sichmelden von etwas, das sich nicht zeigt, durch etwas, was sich zeigt. Erscheinen ist ein Sich-nicht-zeigen. Dieses »Nicht« darf aber keineswegs mit dem privativen Nicht zusammengeworfen werden, als welches es die Struktur des Scheins bestimmt. Was sich in der Weise nicht zeigt, wie das Erscheinende, kann auch nie scheinen. Alle Indikationen, Darstellungen, Symptome und Symbole haben die angeführte formale Grundstruktur des Erscheinens, wenngleich sie unter sich noch verschieden sind. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.29. “Do đó, chúng ta nói về ‘triệu chứng bệnh tật’. Đây là những hiện tượng trong cơ thể tự biểu hiện và, khi biểu hiện, ‘chỉ ra’ điều gì đó mà bản thân nó không biểu hiện. Sự xuất hiện của những hiện tượng này, sự biểu hiện của chúng, trùng khớp với sự hiện diện của những rối loạn mà bản thân chúng không biểu hiện. Sự xuất hiện với tư cách là sự xuất hiện ‘của một cái gì đó’ do đó không có nghĩa là: tự biểu hiện, mà là sự truyền đạt của một cái gì đó không tự biểu hiện thông qua một cái gì đó tự biểu hiện. Sự xuất hiện là sự không biểu hiện. Tuy nhiên, ‘sự không biểu hiện’ này không được nhầm lẫn với trạng thái không tồn tại mang tính phủ định, như nó xác định cái cấu trúc của sự xuất hiện. Cái gì không tự biểu hiện theo cùng một cách với cái biểu hiện thì không bao giờ có thể xuất hiện. Tất cả các dấu hiệu, biểu tượng, triệu chứng và biểu trưng đều có cấu trúc hình thức cơ bản của sự xuất hiện đã đề cập ở trên, mặc dù chúng khác nhau.” - HHN]     

[Tr.53] Mặc dù thực tế là ‘sự xuất hiện’ không bao giờ là sự tự biểu hiện theo nghĩa của ‘hiện tượng’, sự xuất hiện chỉ có thể xảy ra nhờ sự tự biểu hiện của một cái gì đó. Nhưng sự tự biểu hiện này, giúp cho sự xuất hiện trở nên khả thể, lại không phải chính là sự xuất hiện. Sự xuất hiện là das Sich-melden tự thông báo thông qua một cái gì đó tự biểu hiện. Nếu sau đó người ta nói rằng với từ ‘sự xuất hiện’ chúng ta ám chỉ một cái gì đó trong đó một cái gì đó xuất hiện mà bản thân nó không phải là một sự xuất hiện, thì người ta không định nghĩa khái niệm hiện tượng: đúng hơn là người ta đã giả định nó. Tuy nhiên, giả định này vẫn được che giấu; vì khi người ta nói điều này về ‘sự xuất hiện’, thì cách biểu đạt ‘xuất hiện’ được sử dụng theo hai cách. “Cái mà trong đó một cái gì đó ‘xuất hiện’” có nghĩa là cái mà trong đó một cái gì đó tự tuyên bố bản thân, và do đó nó không tự biểu hiện; và bằng Rede những câu từ “mà bản thân nó không phải là một ‘sự xuất hiện’”, thì ‘sự xuất hiện’ lại biểu nghĩa sự tự- biểu hiện. Nhưng sự tự biểu hiện này về bản chất lại thuộc về ‘cái trong đó’ mà ở đó một cái gì đó tự tuyên bố về bản thân. Theo đó, các hiện tượng không bao giờ là sự xuất hiện, mặc dù mặt khác, mọi sự xuất hiện đều phụ thuộc vào các hiện tượng.

Nếu người ta định nghĩa ‘hiện tượng’ bằng cách sử dụng một khái niệm về ‘sự xuất hiện’ vẫn còn mơ hồ, thì mọi thứ sẽ bị đảo lộn, và trên cơ sở này một ‘phê bình’ hiện tượng luận chắc chắn là một việc làm đáng chú ý. Vì vậy, một lần nữa, chính thuật ngữ ‘sự xuất hiện’ có thể có hai nghĩa: thứ nhất, xuất hiện, theo nghĩa tự tuyên bố sự tồn tại của nó, như là không tự hiển thị; và tiếp theo, việc mà nó thực hiện tuyên bố [das Meldende selbst] điều mà trong sự tự hiển thị của nó chỉ ra một cái gì đó không tự hiển thị. Và cuối cùng, người ta có thể dùng từ ‘xuất hiện’ để chỉ nghĩa đích thực của ‘hiện tượng’ như là sự tự biểu hiện. Nếu ta chỉ định ba điều khác nhau này là ‘sự xuất hiện’, thì thật khó tránh khỏi bối rối. Nhưng sự bối rối này về cơ bản còn tăng lên bởi vì một thực tế là ‘sự xuất hiện’ có thể mang một ý nghĩa khác nữa. Điều mà việc thực hiện thông báo - cái mà trong sự tự biểu hiện của nó, chỉ định một điều gì đó không-biểu hiện có thể được hiểu là điều mà cái xuất hiện trong chính cái không-biểu hiện đó, và cái phát ra [ausstrahlt] từ nó theo cách mà cái không-biểu hiện được coi là một điểu gì đó về bản chất không bao giờ biểu hiện.

Khi điều mà việc thực hiện thông báo được hiểu theo cách này, ‘sự xuất hiện’ tương đương với việc ‘đem đến’ hoặc ‘cái gì đó được tạo ra’, nhưng là cái không tạo nên Hữu thể thực sự của cái sản sinh ra nó: ở đây ta có một sự xuất hiện theo nghĩa ‘chỉ là sự xuất hiện đơn thuần’. Điều mà việc thực hiện thông báo và được đưa ra, dĩ nhiên, tự bộc lộ, và theo cách mà, như một sự phát ra từ cái mà nó thông báo, nó luôn che giấu chính điều này trong bản thân nó. Mặt khác, việc không bộc lộ mà che giấu này không phải là một hình thức bề ngoài. Kant sử dụng thuật ngữ ‘sự xuất hiện’ theo hai cách này. Theo ông, những ‘sự xuất hiện’ trước hết [tr.54] là ‘đối tượng của trực giác kinh nghiệm’: chúng là cái tự bộc lộ trong trực giác đó. Nhưng cái tự bộc lộ như vậy (cái ‘hiện tượng’ theo nghĩa nguyên thủy đích thực) đồng thời là một ‘sự xuất hiện’ như một sự phát ra từ cái gì đó tự che giấu trong sự xuất hiện đó - một sự phát ra mang tính thông báo. Trong chừng mực một hiện tượng cấu thành nên ‘sự xuất hiện’ trong ý nghĩa của việc tự thông báo thông qua cái gì đó tự bộc lộ, mặc dù hiện tượng như vậy có thể mang hình thức biến thể của vẻ ngoài, thì sự xuất hiện cũng có thể trở thành vẻ ngoài đơn thuần. Trong một số điều kiện ánh sáng nhất định, ai đó có thể trông như thể má mình ửng đỏ; và sắc đỏ đó có thể được coi là dấu hiệu của sự hiện diện của cơn sốt, từ đó cho thấy một số rối loạn trong cơ thể. ‘Hiện tượng’, tức là sự tự biểu hiện, biểu thị một cách thức đặc biệt mà một sự vật có thể được bắt gặp.5 [20] Mặt khác ‘sự xuất hiện’, có nghĩa là một mối quan hệ tham chiếu nằm trong chính thực thể đó,6 và theo đó, cái mà việc thực hiện tham chiếu (hoặc thông báo) chỉ có thể hoàn thành chức năng khả thể của nó nếu nó tự biểu hiện trong tự thân và do đó là một ‘hiện tượng’.

Cả sự xuất hiện và vẻ ngoài đều dựa trên hiện tượng, mặc dù theo những cách khác nhau. Sự đa dạng đến khó hiểu của các ‘hiện tượng’ được chỉ định bởi các từ ‘hiện tượng’, ‘vẻ ngoài’, ‘sự xuất hiện’, ‘chỉ là xuất hiện’, không thể được tháo gỡ trừ khi khái niệm về hiện tượng ngay từ đầu được hiểu là cái tự biểu hiện trong chính nó. Nếu khi tiếp cận khái niệm ‘hiện tượng’ theo cách này, chúng ta để ngỏ việc xác định những hiện hữu nào được coi là ‘hiện tượng’, và để ngỏ việc liệu cái tự bộc lộ có phải là một hiện hữu hay đúng hơn là một đặc điểm nào đó mà một hiện hữu có trong Hữu thể của nó, thì chúng ta chỉ mới đạt đến quan niệm hình thức về ‘hiện tượng’. Nếu bằng ‘cái mà nó tự bộc lộ’ mà chúng ta hiểu các hiện hữu đó vốn có thể tiếp cận được thông qua ‘trực giác’ kinh nghiệm, chẳng hạn theo Kant, thì quan niệm hình thức về ‘hiện tượng’ thực sự sẽ được sử dụng một cách hợp thức. Trong cách dùng này, ‘hiện tượng’ mang ý nghĩa của quan niệm thông thường về hiện tượng.

Nhưng quan niệm thông thường này không phải là quan niệm hiện tượng luận. Nếu giữ nguyên trong chân trời vấn đề Kantian, thì chúng ta có thể đưa ra một minh họa về những gì được hình dung về phương diện hiện tượng luận như là một ‘hiện tượng’, với những lưu ý về các khác biệt khác; vì khi đó chúng ta có thể nói rằng cái đã tự bộc lộ trong sự xuất hiện như là có trước ‘hiện tượng’ như [tr.55] thường được hiểu và đi kèm với nó trong mọi trường hợp, mặc dù nó có thể tự bộc lộ một cách phi chủ đề như vậy, thì vẫn có thể được đưa vào tự biểu hiện theo cách thức chủ đề; và do đó cái tự biểu hiện trong tự thân nó (các ‘hình thức của trực giác’) sẽ là các ‘hiện tượng’ của hiện tượng luận. Rõ ràng không gian và thời gian phải có khả năng tự biểu hiện theo cách này - chúng phải có khả năng trở thành các hiện tượng - nếu Kant tuyên bố khẳng định siêu nghiệm dựa trên các thực tế khi ông nói rằng không gian là cái ‘bên trong-cái mà’ tiên nghiệm của một trật tự.7 [Đức văn: Denn offenbar müssen sich Raum und Zeit so zeigen können, sie müssen zum Phänomen werden können, wenn Kant eine sachgegründete transzendentale Aussage damit beansprucht, wenn er sagt, der Raum sei das apriorische Worinnen einer Ordnung. Vì rõ ràng không gian và thời gian phải có khả năng tự biểu hiện theo cách này, nên chúng phải có khả năng trở thành một hiện tượng, nếu Kant khẳng định một tuyên bố siêu nghiệm có cơ sở thực tế khi cho rằng không gian là cái chứa đựng tiên nghiệm của một trật tự.”  Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.31.-HHN]  

Tuy nhiên, nếu quan niệm hiện tượng luận về hiện tượng được hiểu, bất kể chúng ta có thể tiến gần hơn đến việc xác định bản chất của cái tự biểu hiện đến mức nào, thì điều này chắc chắn giả định rằng chúng ta phải có cái nhìn sâu sắc về ý nghĩa của quan niệm hình thức về hiện tượng và việc sử dụng nó một cách hợp thức theo một ý nghĩa thông thường. - Nhưng trước khi thiết lập quan niệm sơ bộ của chúng ta về hiện tượng luận, chúng ta cũng phải định nghĩa ý nghĩa của λόγος để làm rõ hiện tượng luận có thể là một ‘khoa học về’ hiện tượng theo nghĩa nào.

B. Khái niệm Logos

Trong các tác  phẩm của Plato và Aristotle, khái niệm λόγος logos có nhiều ý nghĩa cạnh tranh, không có ý nghĩa cơ bản nào thực sự chiếm ưu thế. Tuy nhiên, trên thực tế, đây chỉ là một vẻ ngoài, vốn sẽ tự duy trì chừng nào việc Diễn giải của chúng ta không thể nắm bắt được ý nghĩa cơ bản một cách chính xác trong nội dung chính của nó. Nếu chúng ta nói rằng ý nghĩa cơ bản của λόγος là ‘diễn ngôn’,8 thì cách dịch từ-ra-từ này sẽ không được xác thực cho đến khi chúng ta xác định được ý nghĩa của chính ‘diễn ngôn’. Ý nghĩa thực sự của ‘diễn ngôn’, vốn khá rõ ràng, liên tục bị che khuất bởi lịch sử sau này của từ λόγος, và đặc biệt là bởi vô số các Diễn giải tùy tiện mà triết học sau này đã đưa ra. λόγος được ‘dịch’ - và điều này có nghĩa là nó luôn bị diễn giải - thành ‘lý trí’, ‘phán đoán’, ‘khái niệm’, ‘định nghĩa’, ‘cơ sở’ hoặc ‘mối quan hệ’.9 Nhưng làm thế nào mà ‘diễn ngôn’ lại dễ bị biến đổi đến mức λόγος có thể mang tất cả những ý nghĩa mà chúng ta đã liệt kê ở trên, và trong cách sử dụng học thuật chính xác? Ngay cả khi λόγος được hiểu theo nghĩa ‘khẳng định’, nhưng ‘khẳng định’ lại được hiểu là ‘phán đoán’, thì lối dịch có vẻ hợp lý này vẫn có thể bỏ sót ý nghĩa cơ bản, đặc biệt nếu ‘phán đoán’ được hiểu theo nghĩa tiếp thu từ một số ‘lý thuyết phán đoán’ đương đại. Λόγος không có nghĩa là ‘phán đoán’, và chắc chắn nó không chủ yếu mang nghĩa này [tr.56] - nếu người ta hiểu ‘phán đoán’ là cách ‘liên kết’ cái này với cái khác, hoặc ‘đứng về một phía’ - cho dù bằng cách chấp nhận hay bác bỏ.

Λόγος - với tư cách là ‘diễn ngôn’ có nghĩa tương tự như δηλοῦν: làm cho những gì người ta đang ‘nói về’ trong diễn ngôn của mình trở nên rõ ràng.10 Aristotle đã giải thích chức năng này của diễn ngôn một cách chính xác hơn là ἀποφαίνεσθαι. Λόγος - cho phép nhìn thấy điều gì đó φαίνεσθαι, cụ thể là diễn ngôn nói về điều gì; và nó làm như vậy hoặc cho người đang nói - người trung gian - hoặc cho những người đang nói chuyện với nhau, tùy trường hợp. Diễn ngôn ‘cho phép nhìn thấy điều gì đó’ ἀπο….: nghĩa là, nó cho phép chúng ta nhìn thấy điều gì đó từ chính điều mà diễn ngôn nói đến.11 Trong απόφανσις diễn ngôn miễn là nó chân thực, was geredet ist những gì được nói được rút ra từ điều mà cuộc nói chuyện đề cập đến, do đó, giao tiếp diễn ngôn, trong in ihrem Gesagten những gì nó nói, làm cho điều mà nó đang nói đến trở nên rõ ràng, và do đó làm cho bên này có thể tiếp cận được với bên kia. Đây là cấu trúc của λόγος – với tư cách απόφανσις. Phương thức làm cho hiển hiện này theo nghĩa cho phép nhìn thấy điều gì đó bằng cách chỉ ra nó, không phù hợp với tất cả các loại ‘diễn ngôn’. Ví dụ: εὐχή việc yêu cầu cũng tạo nên sự hiển lộ, nhưng theo một cách khác.

Khi hoàn toàn cụ thể, hành động diễn ngôn - để một cái gì đó được nhìn thấy - có đặc tính Sprechens là nói - tuyên bố bằng phát ra âm thanh với các ngôn từ. Λόγος – là φωνή, và quả thực, φωνή μετὰ φαντασίας phone meta phantasia - lời nói, âm thanh phát ra từ cổ họng đi kèm với sự hình dung, trí tưởng tượng, hoặc sự xuất hiện của một hình ảnh trong nhận thức. Và chỉ vì chức năng của λόγος – với tư cách απόφανσις - nằm ở việc cho phép một cái gì đó được nhìn thấy bằng cách chỉ ra nó, nên λόγος - mới có dạng cấu trúc của σύνθεσις synthesis tổng hợp. Ở đây, ‘tổng hợp’ không có nghĩa là sự ràng buộc và liên kết các biểu tượng, một sự thao túng các hiện tượng tâm lý mà ‘vấn đề’ nảy sinh ở chỗ làm thế nào những sự ràng buộc này, như một cái gì đó bên trong, lại phù hợp với một cái gì đó ‘vật lý bên ngoài’. Ở đây, σύν syn [Chen ngang: Về phương diện từ nguyên học, tiền tố σύν syn trong từ σύνθεσις synthesis có nghĩa là ‘cùng nhau’, ‘với’ hoặc ‘kết hợp’, được ghép từ hai thành tố: σύν syn cùng nhau, kết hợp và θέσις thesis đặt, để, vị trí, từ này mang ý nghĩa là tổng hợp – sự kết hợp của hai hoặc nhiều yếu tố, thành phần lại với nhau để tạo thành một cái gì đó mới và hoàn chỉnh; tiền tố σύν cũng được sử dụng rất phổ biến trong nhiều từ vựng hiện đại mang sắc thái kết hợp, ví dụ như Συνέργεια Synergy - Hiệp lực / Đồng hợp; Σύνθεση Synthesis - Tổng hợp; Συγχρονισμός Synchronize - Đồng bộ hóa - cùng xảy ra; Σύνδρομο Syndrome - Hội chứng - các triệu chứng cùng xảy ra.- HHN] mang nghĩa phủ định thuần túy và để cho một cái gì đó được nhìn thấy trong sự gắn kết [Beisammen] của nó với một cái gì đó khác - để cho nó được nhìn thấy như một cái gì đó khác. Hơn nữa, bởi vì λόγος là việc để cho một cái gì đó được nhìn thấy, do đó nó có thể chân hoặc giả.

Nhưng ở đây, mọi thứ phụ thuộc vào việc chúng ta tránh xa bất kỳ quan niệm nào về chân lý được hiểu theo nghĩa ‘đồng thuận’. Ý tưởng này hoàn toàn không phải là ý tưởng chính trong khái niệm ἀλήθεια chân lý. Cái ‘Là-chân’ của λόγος với tư cách ἀληθεύω [alētheúō là một động từ trong tiếng Hy Lạp cổ đại, mang ý nghĩa gốc là ‘nói chân thật’, sống chân thật’, hoặc ‘làm theo lẽ chân thật’. HHN] có nghĩa là trong λέγειν với tư cách απόφαίνεσθαι, [Chen ngang: động từ ἀποφαινεσθαι tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là ‘chỉ ra’, ‘làm cho hiển lộ’, ‘biểu đạt’ hoặc ‘hình thành một quan điểm’. Trong triết học, từ này được liên kết trực tiếp với động từ φαινεσθαι phainesthai là dạng nguyên thể trung bình - bị động của động từ φαίνω phainō trong tiếng Hy Lạp cổ đại, có nghĩa gốc là ‘xuất hiện’, ‘bộc lộ’, hoặc ‘tỏ rõ’. Nó mang hai tầng ý nghĩa chính - sự xuất hiện bề ngoài / có vẻ như - mô tả cách một sự vật hiện ra với giác quan hoặc tâm trí con người (không nhất thiết phản ánh đúng bản chất bên trong; sự phơi bày / sáng tỏ - làm cho điều gì đó vốn bị che giấu được đưa ra ánh sáng. Martin Heidegger sử dụng nó trong đó cụm từ ‘αποφαινεσθαι τα φαινομενα’ có nghĩa là: Cho phép cái tự hiển lộ được tự biểu lộ rõ ​​ràng trong chính nó, chính xác theo cách nó tự thể hiện. Trong cách sử dụng thông thường hơn của tiếng Hy Lạp cổ, nó thường được dùng để mô tả một người đưa ra lập trường hoặc công khai bày tỏ quan điểm của mình - ví dụ trong tòa án hoặc hội nghị - trình bày bằng chứng hoặc lập luận. - HHN] các thực thể mà người ta đang nói đến phải được đưa ra khỏi sự ẩn giấu của chúng; người ta phải để chúng được nhìn thấy như một thứ gì đó ἀληθής không bị che giấu) [Chen nữa: ἀληθής alḗthēs là một tính từ trong tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa là thật, chân thật, hoặc đúng đắn. Từ này thường được dùng để mô tả một sự việc, một lời nói hoặc một thực tế không thể bác bỏ, không bị che giấu và phù hợp với thực tại. Từ ἀληθής được cấu tạo từ tiền tố phủ định ‘ἀ’ a- ‘không’ và gốc từ ληθή ‘lēthē’ - lãng quên hoặc bị che khuất. Theo đó, ý nghĩa gốc của nó là ‘không bị che khuất’ hay ‘không bị lãng quên’, từ đó phát triển thành khái niệm về chân lý/sự thật. Các thuật ngữ liên quan Ἀλήθεια (alḗtheia): Danh từ xuất phát từ tính từ ἀληθής, thường được triết học Hy Lạp cổ đại sử dụng để chỉ chân lý hoặc sự tỏ bày/tiết lộ sự thật. Ἀληθινός alēthinōs - một tính từ khác cũng mang nghĩa ‘thật’, nhưng thường được dùng để nhấn mạnh tính đích thực, xác thực và đáng tin cậy của một sự vật/chủ thể. - HHN]; [tr.57] nghĩa là, chúng phải được khám phá.11[26] Tương tự, ψεύδεσθαι ‘sai sự thật’ [Chen thêm: ψεύδεσθαι pséudesthai là một động từ nguyên thể, mang nghĩa nói dối, lừa dối, hoặc sai lầm. Từ này có gốc từ nguyên thủy mang nghĩa gốc liên quan đến ‘sự sai lệch’ hoặc ‘điều không có thật’. Đây là thể trung gian/bị động ở dạng nguyên thể, xuất phát từ động từ gốc ψεύδω pseúdō thường được dùng trong các văn bản cổ điển để chỉ hành động tự lừa dối bản thân, nói sai sự thật vì lợi ích cá nhân, hoặc bị lừa dối. Từ này xuất hiện nhiều trong các tác phẩm triết học Hy Lạp cổ, ví dụ như trong cuốn Republic Cộng hòa của Plato, nơi Socrates thảo luận về sự dối trá, sự thiếu hiểu biết, và bản chất của cái gọi là sự lừa dối. - HHN] tương đương với việc lừa dối theo nghĩa verdecken che đậy: đặt một thứ gì đó trước một thứ gì đó - để nó được nhìn thấy - và do đó giả vờ nó là một thứ không phải là nó.

Nhưng vì ‘chân lý’ có ý nghĩa này, và vì λόγος là một phương thức xác định để cho cái gì đó được nhìn thấy, nên λόγος không phải là loại sự vật có thể được coi là ‘vị trí’ chính của chân lý. Nếu, như ngày nay đã trở nên khá phổ biến, người ta định nghĩa ‘chân lý’ là thứ gì đó ‘thực sự’ liên quan đến phán đoán,12 và nếu sau đó người ta viện dẫn sự ủng hộ của Aristotle với luận điểm này, thì điều này không chỉ không chính đáng mà trên hết, quan niệm về chân lý của người Hy Lạp đã bị hiểu sai. Αἴσθησις, nhận thức giác quan thuần túy về một cái gì đó, là ‘chân lý’ theo nghĩa của người Hy Lạp, và thực sự nguyên thủy hơn λόγος mà chúng ta đã thảo luận. Cũng như việc nhìn hướng đến màu sắc, bất kỳ αἴσθησις nào cũng hướng đến ἴδια của nó (những hiện hữu thực sự chỉ có thể tiếp cận được thông qua nó và vì nó); và đến mức độ đó, nhận thức này luôn luôn đúng. Điều đó có nghĩa là việc nhìn luôn luôn khám phá ra màu sắc, và việc nghe luôn luôn khám phá ra âm thanh. Νοεῖν thuần túy là nhận thức về những cách thức xác định đơn giản nhất của Hữu thể mà các hiện hữu theo đúng nghĩa có thể sở hữu, và nó nhận thức chúng chỉ bằng cách nhìn vào chúng.13 Vậy thì νοεῖν này là ‘chân’ theo nghĩa thuần khiết và nguyên thủy nhất; nghĩa là, nó chỉ đơn thuần khám phá, và nó làm như vậy theo cách mà nó không bao giờ có thể che đậy. Rõ ràng νοεῖν này không bao giờ có thể che đậy; nó không bao giờ có thể giả; tệ nhất là nó vẫn có thể là một trạng thái không nhận thức, ἀγνοεῖν không biết, lừ đi, không hiểu được không đủ để tiếp cận một cách thẳng thắn và phù hợp. Khi một thứ gì đó không còn mang hình thức đơn thuần để một thứ gì đó được nhìn thấy, mà luôn quay trở lại một thứ khác mà nó trỏ tới, để cho một thứ gì đó được nhìn thấy như một thứ gì đó, thì nó sẽ có được một cấu trúc tổng hợp, và với điều này, nó nắm lấy khả tính che đậy.

Tuy nhiên, ‘chân lý của các phán đoán’ chỉ đơn thuần là ngược lại với sự che đậy này, một hiện tượng thứ cấp của chân lý, không chỉ có một loại nền tảng.14 Cả chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm - với mức độ triệt để như nhau – đều đã bỏ lỡ ý nghĩa của quan niệm về chân lý của người Hy Lạp, mà trong khuôn khổ đó chỉ có [tr.58] duy nhất cái khả tính của một thứ gì đó giống như ‘học thuyết về ý tưởng’ mới có thể được hiểu là tri ​​thức triết học. Và bởi vì chức năng của λόγος chỉ đơn thuần là cho phép nhìn thấy một cái gì đó, im Vernehmenlassen des Seienden cho phép nhận thức các hiện hữu, nên λόγος có thể biểu thị Vemunft lý do. Hơn nữa, bởi vì λόγος được sử dụng không chỉ với ý nghĩa của λέγειν mà còn với ý nghĩa của λεγόμενον – là thứ gì đó được nói đến, và bởi vì thứ đó không gì khác hơn là ὑποκείμενον, là thứ nằm dưới - với tư cách là hiện hữu, nằm ở zum Grunde gốc rễ của bất kỳ quy trình nào nhằm giải quyết hoặc thảo luận về nó, nên λόγος với tư cách λεγόμενον có nghĩa là nền tảng, là lý lẽ. Và cuối cùng, vì λόγος với tư cách λεγόμενον cũng biểu thị điều gì đó với tư cách là thứ mà người ta hướng tới, trở nên rõ ràng trong mối quan hệ của nó với thứ gì đó trong ‘mối quan hệ’ của nó, λόγος có được ý nghĩa của các mối quan hệ và liên hệ.15 Diễn giải này về ‘diễn ngôn tường minh’ có thể đủ làm rõ chức năng chính của λόγος.

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘….was man ‘Erscheinung’ oder gar ‘blosse Erscheinung’ nennt.’ Mặc dù danh từ 'Erscheinung' và động từ 'erscheinen' có cách diễn đạt rất giống với 'appearance' và 'appear' trong tiếng Anh, nên phần thảo luận tiếp theo tương đối ít gây khó khăn cho người dịch về mặt này, đoạn văn vẫn cho thấy một số dấu hiệu của lối diễn đạt vội vàng, và một vài nhận xét có thể hữu ích. Chúng ta được nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng 'appearance' và 'phenomenon' cần được phân biệt rõ ràng; tuy nhiên, chúng ta cũng được nhắc nhở rằng có một nghĩa mà chúng trùng nhau, và thậm chí nghĩa này dường như có hai mặt, mặc dù không rõ Heidegger có hoàn toàn nhận thức được điều này hay không. Toàn bộ cuộc thảo luận dựa trên hai sự phân biệt nữa: sự phân biệt giữa ‘thể hiện’ (‘zeigen’), ‘thông báo’ (‘melden’) và ‘đưa ra’ (‘hervorbringen’), và sự phân biệt giữa (‘x’) cái ‘tự thể hiện’ (‘das Sichzeigende’) hoặc cái ‘thực hiện việc thông báo’ (‘das Meldende’) hoặc cái ‘được đưa ra’ (‘das Hervorgebrachte’), và cái ‘tự thông báo’ (‘das Sichmeldende’) hoặc cái thực hiện việc đưa ra. Do đó, Heidegger có thể đưa ra các nghĩa sau của ‘Erscheinung’ hay ‘sự xuất hiện’:

1a. một sự kiện có thể quan sát được, chẳng hạn như một triệu chứng thông báo một căn bệnh x bằng cách tự thể hiện, và trong hoặc thông qua đó x tự thông báo mà không tự thể hiện;

1b. sự tự thể hiện của y;

1c. x tự xưng danh trong hoặc thông qua y;

1e. 'Sự xuất hiện đơn thuần' y mà x có thể /iringjOTth khi x thuộc loại mà bản chất thực sự của nó không bao giờ có thể được biểu lộ; 3b. 'Sự xuất hiện đơn thuần' là sự xuất hiện của một 'sự xuất hiện đơn thuần' theo nghĩa 1f. Heidegger làm rõ rằng nghĩa 2 là nghĩa thích hợp của 'sự xuất hiện' và các nghĩa 3a và 3b là các nghĩa thích hợp của 'sự xuất hiện đơn thuần'. Về H. 30 và 31, ông thừa nhận rằng nghĩa 1b tương ứng với nghĩa nguyên thủy của 'hiện tượng'; nhưng cuộc thảo luận của ông về H. 28 cho thấy rằng 1a tương ứng với điều này chính xác hơn, và ông quay trở lại lập trường này vào cuối H. 30. [pp. 51, 52]

2 ‘….als welches es die Struktur des Scheins bestimmt.' (The older editions omit the 'es'.) [p.52]

3 'Was sich in der Weise nicht zeigt, wie das Erscheinende, kann auch nie scheinen.' Đoạn văn này mơ hồ, nhưng có lẽ 'das Erscheinende' được hiểu là thex trong chú thích 1, trang 51 của chúng tôi, chứ không phải oury. Người đọc nên lưu ý rằng bản dịch chuẩn hóa của chúng tôi về 'scheinen' là 'seem' ở đây trở nên khá gây hiểu nhầm, mặc dù những từ này tương ứng khá tốt trong cách sử dụng thông thường. Khi phân biệt giữa 'scheinen' và 'erscheinen', Heidegger dường như nhấn mạnh rằng 'scheinen' chỉ có thể được thực hiện bởi y, cái 'tự thể hiện' hoặc 'thực hiện việc thông báo', chứ không phải bởi x, cái 'tự thông báo' trong hoặc thông qua y, mặc dù cách sử dụng tiếng Đức không phân biệt các động từ này rõ ràng như vậy. [p.52]

4 ‘….eine ausgezeichnete Begegnisart von etwas.' The noun 'Begegnis' is derived from the verb 'begegnen', which is discussed in note 2, p. 70, H. 44 below. [p.54]

5 ‘….einen seienden Verweisungsbezug im Seienden selbst…’ The verb ‘verweisen’, which we shall translate as 'refer' or 'assign', depending upon the context, will receive further attention in Section 17 below. See also our note 2, p. 97, H. 68 below. [p.54]

6 Cf. Critique ofPure Reason2, 'Transcendental Aesthetic', Section 1, p. 34· [p.55]

7 On .\oyos, 'Rede', etc., see note 3, p. 47, H. 25 above. [p.55]

8 ‘….Vernunft, Urteil, Begriff, Definition, Grund, Verhaltnis.’ [p.55]

9 ‘….offenbar machen das, wovon in der Rede "die Rede" ist.’ [p.56]

10 ‘….von dem selbst her, wovon die Rede ist. [p.56]   

11 The Greek words for 'truth' (ἡ ἀλήθεια, το ἀληθές) are compounded of the privative prefix - ('not') and the verbal stem -λἀθ- ('to escape notice', 'to be concealed'). The truth may thus be looked upon as that which is un-concealed, that which gets discovered or uncovered ('entdeckt'). [p.57]

12 'Wenn man…Wahrheit als das bestimmt, was "eigentlich" demUrteil zukommt….’ [p.57]

13 ‘….das schlicht hinsehende Vernehmen der einfachsten Seinsbestimmungen des Seienden als solchen.’ [p.57]

14 ‘Was nicht mehr die Vollzugsform des reinen Sehenlassens hat, sondern je im Aufweisen auf ein anderes rekurriert und soje etwas als etwas sehen lasst, das iibernimmt mit dieser Synthesisstruktur die Moglichkeit des Verdeckens.’ [p.57]

15 ‘….ein mehrfach fundiertes Phiinomen von Wahrheit.’ A ‘secondary’ or ‘founded’ phenomenon is one which is based upon something else. The notion of ‘Fundierung’ is one which Heidegger has taken over from Husserl. See our note 1, p. 86, on H. 59 below. [p.57]