Powered By Blogger

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (V)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần I. Phân tích Học thuyết Phán đoán của Leibniz

[Tr.27] Nếu bây giờ chúng ta sắp hiểu học thuyết phán đoán của Leibniz, điều này không có nghĩa là thu thập một số thông tin tùy ý về những gì một trong những nhà triết học trước đó đã dạy về phán đoán. Đúng ra thì đó là một con đường suy ngẫm cụ thể về những gì làm cho tư duy trở nên khả thể. Do đó, chúng ta phải tập trung vào cách tư duy được đưa ra ở đây, những cấu trúc cơ bản nào nó xác định, những cấu trúc này sẽ được dựa trên cơ sở rộng rãi như thế nào, và điều gì cung cấp nền tảng cho đặc điểm này của tư duy. Tư duy trong mỗi trường hợp là tư duy về các đối tượng, và điều đó có nghĩa là về các thực thể. Là một tư duy về một cái gì đó, tư duy có mối quan hệ với các thực thể. Tư duy và các thực thể có mối quan hệ như thế nào? Bản thân tư duy là một hoạt động của Dasein và do đó là một cách tồn tại - tồn tại như một thực thể, Dasein, đối với các thực thể khác. Nếu tư duy trở thành chủ đề của chúng ta, thì nhờ đó mà các mối quan hệ Hữu thể luận trở thành chủ đề.

[Ghi chú dài về Gottfried Wilhelm Leibniz (1646 - 1716) là một nhà bác học người Đức hoạt động trong lĩnh vực toán học, triết học, khoa học và ngoại giao. Ông được ghi nhận, cùng với Isaac Newton, là người sáng tạo ra phép tính vi phân và tích phân, bên cạnh nhiều nhánh toán học khác, chẳng hạn như số học nhị phân và thống kê. Leibniz được gọi là ‘thiên tài toàn năng cuối cùng’ do kiến ​​thức chuyên môn rộng lớn của ông trên nhiều lĩnh vực, điều trở nên hiếm hoi sau thời ông với sự ra đời của Cách mạng Công nghiệp và sự lan rộng của lao động chuyên môn hóa. Ông là một nhân vật nổi bật trong cả lịch sử triết học và lịch sử toán học. Ông đã viết các tác phẩm về triết học, thần học, đạo đức, chính trị, luật pháp, lịch sử, ngữ văn học, trò chơi, âm nhạc, kinh tế học và các nghiên cứu khác. Leibniz cũng có những đóng góp lớn cho vật lý và công nghệ tương lai; ông dự đoán những khái niệm xuất hiện muộn hơn nhiều trong lý thuyết xác suất, sinh học, y học, địa chất học, tâm lý học, ngôn ngữ học và khoa học máy tính. Leibniz đã đóng góp cho lĩnh vực khoa học thư viện, phát triển một hệ thống lập mục lục, sau này trở thành mô hình cho nhiều thư viện lớn nhất châu Âu. Những đóng góp của ông cho nhiều lĩnh vực khác nhau được rải rác trong nhiều tạp chí học thuật, trong hàng chục nghìn bức thư và trong các bản thảo chưa được xuất bản. Ông viết bằng nhiều ngôn ngữ, chủ yếu là tiếng Latinh, tiếng Pháp và tiếng Đức. Với tư cách là một nhà triết học, ông là một đại diện hàng đầu của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy tâm thế kỷ 17. Với tư cách là một nhà toán học, thành tựu chính của ông là sự phát triển của phép tính vi phân và tích phân, độc lập với những phát triển đương thời của Newton. Ký hiệu của Leibniz được ưa chuộng như là cách diễn đạt thông thường và chính xác hơn của phép tính vi phân và tích phân. Ngoài công trình nghiên cứu về phép tính vi phân và tích phân, ông còn được ghi nhận là người đã nghĩ ra hệ thống số nhị phân hiện đại, vốn là nền tảng của truyền thông hiện đại và điện toán kỹ thuật số.  Ông đã hình dung ra lĩnh vực tôpô tổ hợp ngay từ năm 1679, và giúp khởi xướng lĩnh vực phép tính vi phân phân số. Trong thế kỷ 20, các khái niệm của Leibniz về định luật liên tục và định luật siêu việt về tính đồng nhất đã tìm thấy một công thức toán học nhất quán bằng phương pháp phân tích phi tiêu chuẩn. Ông cũng là người tiên phong trong lĩnh vực máy tính cơ học. Trong khi nghiên cứu việc bổ sung phép nhân và chia tự động vào máy tính của Pascal, ông là người đầu tiên mô tả máy tính bánh răng vào năm 1685 và phát minh ra bánh xe Leibniz, sau này được sử dụng trong máy tính số học, máy tính cơ học sản xuất hàng loạt đầu tiên. Trong triết học và thần học, Leibniz nổi tiếng nhất với chủ nghĩa lạc quan, tức là kết luận của ông cho rằng thế giới của chúng ta, theo một nghĩa nhất định, là thế giới tốt nhất mà Chúa có thể tạo ra, một quan điểm đôi khi bị các nhà tư tưởng khác chế giễu, chẳng hạn như Voltaire trong tiểu thuyết châm biếm Candide. Leibniz, cùng với René Descartes và Baruch Spinoza, là một trong ba nhà duy lý có ảnh hưởng nhất thời kỳ đầu hiện đại. Triết học của ông cũng tiếp thu các yếu tố của truyền thống kinh viện, đáng chú ý là giả định rằng một số kiến ​​thức thực chất về thực tại có thể đạt được bằng cách suy luận từ các nguyên tắc đầu tiên hoặc các định nghĩa có trước. Tác phẩm của Leibniz đã dự đoán trước logic hiện đại và vẫn ảnh hưởng đến triết học phân tích đương đại, chẳng hạn như việc sử dụng thuật ngữ mundus possibilis ‘thế giới khả thể’ để định nghĩa các khái niệm đơn tử. Tư tưởng triết học của Leibniz có vẻ rời rạc vì các tác phẩm triết học của ông chủ yếu bao gồm nhiều đoạn ngắn: các bài báo trên tạp chí, các bản thảo được xuất bản rất lâu sau khi ông qua đời, và thư từ gửi cho các cộng sự. Ông đã viết hai luận văn triết học dài, trong đó chỉ có Essais de Théodicée sur la bonté de Dieu, la liberté de l'homme et l'origine du mal Các bài luận về Thuyết biện minh cho sự Tốt lành của Chúa, Tự do của con người và Nguồn gốc của cái ác - thường được biết đến với tên gọi đơn giản là Théodicée được xuất bản năm 1710, khi ông còn sống. Cuốn sách giới thiệu thuật ngữ thuyết biện minh cho sự tốt lành của Chúa, và cách tiếp cận lạc quan của nó đối với vấn đề cái ác được cho là đã truyền cảm hứng cho tác phẩm Candide của Voltaire, mặc dù mang tính châm biếm. Phần lớn tác phẩm bao gồm phản hồi đối với các ý tưởng của nhà triết học người Pháp Pierre Bayle và dựa trên cuộc trò chuyện của tác giả với Sophia Charlotte của Hanover, người mà Leibniz đã tranh luận trong nhiều năm. Leibniz phân biệt ba hình thức của cái ác: đạo đức, thể chất và siêu hình. Cái ác đạo đức là tội lỗi, cái ác thể chất là đau đớn, và cái ác siêu hình là sự hạn chế. Chúa cho phép cái ác về mặt đạo đức và thể xác vì lợi ích của những điều tốt đẹp hơn, và cái ác siêu hình - sự hạn chế - là không thể tránh khỏi vì bất kỳ vũ trụ nào được tạo ra cũng nhất thiết không thể đạt được sự hoàn hảo tuyệt đối của Chúa. Ý chí tự do của con người phù hợp với sự biết trước của Chúa, bởi vì mặc dù tất cả các sự kiện trong vũ trụ đều được dự đoán và định trước, nhưng chúng không phải là bắt buộc - tức là cần thiết về mặt logic, và chỉ khi các lựa chọn của con người là bắt buộc thì ý chí tự do mới là ảo tưởng. Khởi đầu của ông với tư cách là một nhà triết học bắt đầu từ Luận về Siêu hình học, mà ông đã viết vào năm 1686 như một lời bình luận về cuộc tranh luận đang diễn ra giữa Nicolas Malebranche và Antoine Arnauld. Năm 1695, Leibniz chính thức bước vào giới triết học châu Âu với một bài viết có tựa đề ‘Hệ thống mới về bản chất và sự truyền đạt của các chất’. Leibniz cũng viết một bài báo ngắn, ‘Primae veritates’ Chân lý đầu tiên, được Louis Couturat xuất bản lần đầu vào năm 1903 tóm tắt quan điểm của ông về siêu hình học. Không giống như Descartes và Spinoza, Leibniz được đào tạo đại học về triết học, chịu ảnh hưởng của giáo sư Jakob Thomasius ở Leipzig, người cũng hướng dẫn luận văn Cử nhân Nghệ thuật về triết học của ông. Leibniz rất quan tâm đến các phương pháp và kết luận mới của các nhà khoa học và tư tưởng đường thời Descartes, Huygens, Newton và Boyle - HHN]

Chúng ta sẽ xác định mối quan hệ giữa tư duy và hiện hữu từ đâu? Mối quan hệ nào gần gũi nhất? Đối với Descartes, Spinoza và Leibniz, tư duy là điều gần gũi nhất. Vậy hiện hữu có theo sau tư duy không? Trong trường hợp đó, một hiện hữu phải hoàn toàn và về nguyên tắc theo cách mà nó hoàn toàn có thể được xác định bằng tư duy. Theo tiên đề về khả năng hiểu thấu đáo này, các điều kiện của chân lý là [tr.28] những tiền đề của hiện hữu. Cum Deus calculat et cogitationem exercet, fit mundus.1 “Khi Chúa tính toán (bằng các dấu hiệu khả kiến) và chuyển tư duy của Ngài thành hành động, thì thế giới hiện khởi.”2 [Đây là một ghi chú bên lề trong bản thảo ‘Dialogus’ (1677) của ông, được tìm thấy trong Die philosophischen Schriften von Gottfried Wilhelm Leibniz Các Tác phẩm Triết học của Gottfried Wilhelm Leibniz (G VII, tr. 191). HHN] Để xác định các hiện hữu theo đúng nghĩa, tức là hiện hữu, người ta phải xuất phát từ bản chất của tư duy, bằng cách vạch ra những gì thuộc về một cái gì đó được nghĩ theo đúng nghĩa, bằng tiến trình tư duy. Con đường đi từ bản chất của tư duy đến bản chất của hiện hữu, từ logic đến Hữu thể luận. Hay ngược lại, logic có được xây dựng trên Hữu thể luận không? Người ta biết rằng lịch sử phát triển của logic phần lớn được xác định bởi mối quan hệ này. Đó là điều hiển nhiên rằng logic của Aristotle được đặt nền tảng trong siêu hình học của ông. Chủ nghĩa duy lý hiện đại, bị chi phối bởi triết lý cogito sum ‘tôi tư duy nên tôi tồn tại’, đặt ra cho mình nhiệm vụ giải phóng logic khỏi sự ràng buộc này. Việc đánh giá mối quan hệ giữa logic và siêu hình học trong tư tưởng của Leibniz còn gây tranh cãi.3 Tuy nhiên, việc lựa chọn giữa hai quan điểm thay thế chính là không hiệu quả. Mối quan hệ giữa các ngành học phải được quyết định từ chính các vấn đề và đối tượng nghiên cứu; các ngành học không nên được coi là những lãnh thổ cố định. Có thể trong cả hai ngành, các lãnh thổ đều không được định nghĩa một cách đầy đủ. Chúng tôi muốn trình bày học thuyết về phán đoán và các chiều kích của nó của Leibniz, vì vậy chúng tôi chỉ có thể đề cập đến cuộc tranh luận một cách thoáng qua. Chúng tôi muốn nghiên cứu các chiều kích của phán đoán, những mối liên hệ mà trên cơ sở đó bất cứ điều gì giống như một phán đoán đều có thể xảy ra. Người ta đã nhiều lần chỉ ra rằng phán đoán, tuyên bố, tự nó có một cấu trúc. Là một xác định vị ngữ, phán đoán hướng đến tri thức, đến chân lý. Là một hành vi, phán đoán tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Là một tri thức về các hiện hữu, nó có liên quan đến các hiện hữu theo đúng nghĩa. Vì vậy, chúng tôi sẽ trình bày phân tích mang tính giải gỡ [Phân tích giải gỡ trong triết học của Martin Heidegger, được gọi là Destruktion dỡ ra hoặc Abbau tháo dỡ, không phải là một quá trình hủy diệt, mà là một phương pháp tháo dỡ mang tính phê phán được sử dụng để khám phá những trải nghiệm nền tảng, nguyên thủy về Bản thể đã bị che khuất bởi lịch sử siêu hình học phương Tây; đó là một phần quan trọng trong phương pháp hiện tượng học của ông trong tác phẩm Hữu thể và Thời gian, được thiết kế để ‘nới mở’ các khái niệm truyền thống - như vật chất, chủ thể và thời gian - và khôi phục lại ý nghĩa đích thực, nguyên thủy của chúng; các khía cạnh Destruktion giải gỡ cốt lõi của Heidegger: tháo dỡ, không phải tiêu hủy - Heidegger đã khẳng định rõ ràng rằng tháo dỡ không có nghĩa là tiêu diệt, mà là gỡ ra, thanh lý, hoặc gạt sang một bên những khẳng định lịch sử đơn thuần và những giả định cứng nhắc của triết học truyền thống; đó là việc tháo dỡ các khái niệm truyền thống để quay trở lại kinh nghiệm ban đầu, ‘nền tảng’ dẫn đến sự hình thành của chúng; một công cụ cho ‘Hữu thể luận Nền tảng’: Tháo dỡ là điều cần thiết cho ‘Hữu thể luận Nền tảng’ - nghiên cứu về chính Hữu thể - bởi vì lịch sử siêu hình học đã ‘che đậy’ câu hỏi thực sự về Bản thể; nó mở đường cho việc đặt lại câu hỏi về Hữu thể; sự ‘che đậy’ của truyền thống: Heidegger lập luận rằng lịch sử triết học phương Tây đã ‘vật hóa’ các khái niệm ban đầu là những cách thức năng động để trải nghiệm thực tại; việc giải gỡ có tác dụng tháo dỡ ‘mái che’ các hiện tượng này; nhắm vào Siêu hình học là mục tiêu chính của cuộc tháo dỡ này đối với các khái niệm siêu hình truyền thống như ‘bản chất’, ‘ý thức’ và định nghĩa về Being/Hữu thể như là hiện diện vĩnh cửu; mục tiêu là Khôi phục (Lặp lại): Mục tiêu của sự phá hủy không chỉ đơn giản là để lại triết học trong đống đổ nát, mà là để ‘khôi phục’ hoặc Wiederholung lặp lại những hiểu biết nguyên bản, đích thực của các nhà tư tưởng trong quá khứ, giải phóng chúng khỏi các lớp diễn giải lịch sử tích lũy; phân tích Dasein: Phân tích giải gỡ gắn liền với phân tích Dasein/ Hiện hữu người của Heidegger, nhằm mục đích cho thấy rằng sự hiểu biết truyền thống về ‘cái tôi’ hay ‘chủ thể’ đã bị mất đi trong ‘bất kỳ ai’, bất kỳ công chúng vô danh nào; các Khái niệm Chính trong Phương pháp tháo dỡ: Destruktion/Abbau: Dù dịch là phá hủy nhưng Destruktion và Abbau liên quan cần được hiểu là tháo dỡ, hoặc giải cấu trúc, phá dỡ. Verfallen ‘Sự sa ngã’: Tháo dỡ là cách giải quyết ‘sa ngã’ của Dasein, nơi chúng ta bị cuốn vào thế giới vật chất hàng ngày và đánh mất ý thức đích thực về hiện hữu của mình; Hiện tượng học Tường giải: Tháo dỡ là một phần của phương pháp ‘tường giải’, có nghĩa là nó tìm cách giải thích và làm sáng tỏ những ý nghĩa ‘ẩn giấu’ hoặc ‘bị che đậy’ của Hữu thể. HHN] đối với học thuyết phán đoán của Leibniz như sau:

[Ghi chú nữa: Trong tư tưởng của mình, Martin Heidegger đã diễn giải lại một cách triệt để khái niệm truyền thống về chân lý. Ông chỉ trích quan điểm cổ điển, vốn hiểu chân lý chủ yếu là Richtigkeit tính đúng đắn (adaequatio/ veritas), và truy tìm nguồn gốc của nó từ một trải nghiệm nguyên thủy hơn: Enthüllung hay Unverborgenheit khải lộ hay aletheia không che giấu; theo cách hiểu biết truyền thống: chân lý thường được định nghĩa là adaequatio sự tương ứng của rei ad intellectum một phát ngôn với sự vật; theo Heidegger quan điểm này - thường được gọi là veritas hay rectitude - không sai, nhưng nó mang tính phái sinh; nó đã giả định rằng tâm trí liên hệ với một thực thể và quên mất cách thức mà chính thực thể đó trở nên có thể tiếp cận được; chân lý như là Enthüllung Aletheia khải lộ: Heidegger đề cập đến khái niệm Aletheia của Hy Lạp, mà ông diễn giải là Unverborgenheit ‘không che giấu’ hoặc Entbergen ‘mở ra’ [Entbergen không phải là một động từ phổ biến trong tiếng Đức tiêu chuẩn; nó được cấu tạo từ tiền tố ent- + bergen, theo nghĩa đen, nghĩa văn học có thể hiểu là ‘lấy ra khỏi nơi ẩn dấu’, ‘làm lộ ra’, hoặc ‘làm hiện ra’, ngược lại với bergen - ẩn nấp, che dấu, lưu trữ; Heidegger lập luận rằng kinh nghiệm nguyên thủy về chân lý như là Aletheia khải lộ cái đã bị che khuất trong tiến trình triết học phương Tây bởi sự cố chấp vào chân lý mệnh đề veritas tính đúng đắn; Tình trạng Seinsvergessenheit Lãng quên Hữu thể: đối với Heidegger, tái tường giải là một phần của siêu hình học phương Tây, vốn đã quên đi chính Bản thể và chỉ tập trung vào các thực thể như những đối tượng mang tính đúng đắn. - HHN] [Tr.29] 1). Đặc điểm cấu trúc tổng quát của phán đoán - lý thuyết bao hàm; 2). Phán đoán và ý niệm về chân lý. Các hình thức cơ bản của chân lý: veritas rationisveritas facti, vérité de raisonvérité de fait; [Ghi chú M. Heidegger thảo luận về veritas chân lý tiếng Latin và phân biệt với khái niệm Hy Lạp cổ đại alētheia không che giấu – theo Heidegger, chuyển dịch của alētheia thành veritas chân lý/sự chính xác - đánh dấu một thay đổi cơ bản trong lịch sử triết học, nơi chân lý chuyển từ việc ‘để sự vật hiện ra’ sang correspondence tương ứng với ‘đúng đắn trong tư duy’; sau đây là các khía cạnh chính trong lập luận của Heidegger về veritas: Veritas est adaequatio intellectus et rei: Heidegger thường xuyên dẫn lại công thức Latin này, nghĩa là ‘chân lý là sự tương ứng giữa trí tuệ và sự vật’. Ông xem đây là công thức truyền thống định hình quan điểm về chân lý là Richtigkeit tính chính xác, thay vì Verschüttung che giấu. Veritas vs. Alētheia: Ông cho rằng từ Latin veritas và từ tiếng Đức Wahrheit không chứa ‘tiếng vang’ về trải nghiệm chân lý như không che giấu mà người Hy Lạp thấu hiểu. Ông nhấn mạnh alētheia nên được hiểu là tình trạng ‘không che giấu’ thay vì chỉ là ‘chân lý’ theo nghĩa tương ứng. Sự biến chất của khái niệm: Trong triết học của mình, Heidegger cố gắng truy tìm lại gốc rễ của chân lý trước khi nó bị biến thành veritas - chân lý trong tư duy - và trở thành tính chính xác của tri thức. Tóm lại, đối với Heidegger, veritas trong tiếng Latin đại diện cho sự suy giảm ý nghĩa của chân lý từ việc sự vật alētheia tự hiện ra thành một thuộc tính của tư duy hay adaequatio - tương ứng, phù hợp, làm cho bằng nhau hoặc điều chỉnh -HHN] 3). Chân lý và các nguyên tắc cơ bản của tri thức: principium identitatis, principium contradictionis, và principium rationis sufficientis. [Ba thuật ngữ nền tảng của logic và triết học: Principium Identitatis Nguyên lý Đồng nhất) Một vật là chính nó (A = A); mọi sự vật, hiện tượng đều đồng nhất với bản thân nó; Principium Contradictionis Nguyên lý Phi mâu thuẫn: Một sự vật không thể vừa là nó, vừa không phải là nó cùng một lúc, trong cùng một quan hệ (A không thể là không-A); hai câu khẳng định trái ngược không thể cùng đúng; Principium Rationis Sufficientis Nguyên lý Lý do Đầy đủ: Mọi sự vật, hiện tượng hay chân lý đều phải có lý do, căn cứ hoặc nguyên nhân đầy đủ giải thích tại sao nó như thế này mà không phải thế khác. HHN] (Mathesis universalis Học vấn Phổ quát và tính thống nhất của tri thức); 4).Ý niệm về tri thức như vậy; intuitus cái nhìn; 5). Xác định bản chất tồn tại của các thực thể đích thực như những đối tượng khả thể của tri thức - đơn tử; 6). Khái niệm cơ bản về tồn tại như vậy – essential bản chất, conatus khuynh hướng và existentiae tồn tại; 7). Lý thuyết phán đoán và khái niệm tồn tại - logic và Hữu thể luận.

[Ghi chú dài thêm về quan niệm chân lý của Heidegger: Thông thường chúng ta hiểu ‘chân lý’ là gì? Từ ‘chân lý’ cao cả nhưng đồng thời cũng mệt mỏi và gần như nhạt nhòa này có nghĩa là điều làm cho một thứ được coi là đúng. Thứ đúng là gì? Ví dụ, chúng ta nói: ‘Thật là một niềm vui khi được hợp tác hoàn thành nhiệm vụ này.’ Chúng ta muốn nói rằng đó thực sự là một niềm vui. Cái đúng là cái hiện thực. Do đó, chúng ta nói về vàng thật để phân biệt với vàng giả. Vàng giả không thực sự là những gì nó thể hiện. Nó chỉ là một ‘hình thức’ và do đó không phải là hiện thực. Cái không phải là hiện thực được coi là trái ngược với cái hiện thực. Nhưng cái chỉ có vẻ là vàng thì vẫn là một cái gì đó hiện thực. Do đó, chúng ta nói chính xác hơn, vàng thật là vàng đích thực. Tuy nhiên, cả hai đều là ‘hiện thực’, vàng giả đang lưu hành cũng không kém gì vàng đích thực. Vì vậy, điều đúng về vàng đích thực không thể được chứng minh chỉ bằng tính hiện thực của nó. Câu hỏi lại được đặt ra: ‘đích thực’ và ‘chân thực’ ở đây có nghĩa là gì? Vàng thật là vàng thực sự mà tính hiện thực của nó phù hợp [in der Ubereinstimmung steht] với những gì, luôn luôn và từ trước giúp chúng ta hiểu một cách ‘thích đáng’ là ‘vàng’. Ngược lại, bất cứ khi nào nghi ngờ vàng giả, chúng ta nói: ‘Ở đây có gì đó không phù hợp’ [stimmt nicht]. Mặt khác, chúng ta nói về bất cứ điều gì ‘đúng như nó nên có’: Nó phù hợp’. Vấn đề phù hợp [Die Sache stimmt]. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ gọi là đúng một niềm vui thực sự, vàng thật, và tất cả những thứ thuộc loại đó, mà còn và trên hết, chúng ta gọi là đúng hay sai những phát ngôn của chúng ta về những thứ, bản thân chúng có thể là thật hoặc không thật tùy thuộc vào loại của chúng, có thể như vậy hoặc khác đi trong tính hiện thực của chúng. Một phát ngôn là đúng nếu những gì nó có nghĩa và nói phù hợp với vấn đề mà phát ngôn đó đề cập đến. Ở đây chúng ta cũng nói, ‘Nó phù hợp’. Tuy nhiên, bây giờ không phải vấn đề phù hợp mà là mệnh đề. Cái chân the true, dù là vấn đề hay mệnh đề, là cái phù hợp, cái tương ứng [das Stimmende]. Sự thật và chân lý ở đây đều mang nghĩa tương ứng, và theo hai nghĩa: một mặt, là sự hòa hợp [Einstimmigkeit] của một vấn đề với những gì được giả định trước về nó, và mặt khác, là sự phù hợp của ý nghĩa được nêu trong phát biểu với vấn đề đó. Tính chất kép này của sự tương ứng được làm sáng tỏ bởi định nghĩa truyền thống về chân lý: veritas est adaequatio rei et intellectus. Điều này có thể được hiểu là: chân lý là sự tương ứng [Angleichung] của vấn đề với tri thức. Nhưng điều đó cũng có thể được hiểu: chân lý là sự tương ứng của tri thức với vấn đề. Phải thừa nhận rằng, định nghĩa trên thường chỉ được nêu trong công thức veritas est adaequatio intellectus ad rem [chân lý là sự phù hợp giữa trí tuệ và sự vật]. Tuy nhiên, chân lý được hiểu theo cách này, chân lý mệnh đề, chỉ có thể có trên cơ sở chân lý vật chất [Sachwahrheit], của adaequatio rei ad intellectum [sự phù hợp giữa sự vật và trí tuệ]. Cả hai khái niệm về bản chất của veritas đều liên tục hướng đến sự phù hợp với… [Sichrichten nach…] và do đó coi chân lý là tính chính xác [Richtigkeit]. Tuy nhiên, khái niệm này không chỉ đơn thuần là sự đảo ngược của khái niệm kia. Ngược lại, trong mỗi trường hợp, intellectus trí tuệ và res sự vật được hiểu theo những cách khác nhau. Để nhận ra điều này, chúng ta phải truy tìm công thức thông thường cho khái niệm chân lý phổ biến trở lại nguồn gốc gần đây nhất của nó (tức là thời Trung cổ). Veritas với tư cách là adaequatio rei ad intellectum không hàm ý quan niệm siêu nghiệm sau này của Kant — chỉ có thể dựa trên cơ sở tính chủ quan của bản chất con người — rằng ‘các đối tượng phù hợp với tri thức của chúng ta’. Thay vào đó, nó hàm ý niềm tin thần học Kitô giáo cho rằng, xét về bản chất và sự tồn tại của nó, một vật chất, ens creatum khi được tạo ra, chỉ tồn tại khi nó tương ứng với ý niệm được hình thành trong intellectus divinus, tức là trong trí tuệ linh thánh, và do đó phù hợp với ý niệm (là đúng) và theo nghĩa này là ‘chân lý’. Intellectus humanus trí tuệ con người cũng là một ens creatum được tạo ra. Là một năng lực được Chúa ban cho con người, nó phải thỏa mãn ý niệm của nó. Nhưng sự hiểu biết chỉ phù hợp với ý niệm bằng cách hoàn thành trong các mệnh đề của nó sự tương ứng giữa những gì được suy nghĩ với vật chất, mà đến lượt nó phải phù hợp với ý niệm. Nếu tất cả mọi sinh vật đều được ‘tạo ra’, thì khả năng về chân lý của tri thức con người được dựa trên thực tế là vật chất và mệnh đề đều tương xứng với ý niệm theo cùng một cách và do đó phù hợp với nhau trên cơ sở sự thống nhất của kế hoạch sáng tạo thiêng liêng. Veritas as adaequatio rei (creandae) ad intellectum (divinum) guarantees veritas as adaequatio intellectus (humani) ad rem (creatam). Chân lý là sự phù hợp của vật được tạo ra với trí tuệ (Thiên Chúa)—đảm bảo cho chân lý nhận thức luận (con người) —sự phù hợp của trí tuệ con người với vật (được tạo ra). Xuyên suốt, veritas về bản chất hàm ý convenientia, sự hòa hợp của chính các hữu thể, với tư cách là những sinh vật được tạo ra, với Đấng Tạo Hóa, một “sự hòa hợp” liên quan đến cách chúng được xác định trong trật tự tạo hóa. Nhưng trật tự này, tách rời khỏi khái niệm tạo hóa, cũng có thể được biểu diễn một cách tổng quát và không xác định như một trật tự thế giới. Trật tự tạo hóa được hình dung theo thần học được thay thế bằng khả năng của tất cả các đối tượng được lập kế hoạch bằng một lý trí thế tục [Weltvernunft] cung cấp luật cho chính nó và do đó cũng khẳng định rằng quy trình của nó có thể hiểu ngay lập tức (điều được coi là ‘logic’). Bản chất của chân lý mệnh đề nằm ở tính đúng đắn của các phát biểu không cần thêm bằng chứng đặc biệt nào nữa. Ngay cả khi có nỗ lực — với sự thiếu thành công rõ rệt — để giải thích tính đúng đắn xảy ra như thế nào, thì nó đã được giả định là bản chất của chân lý. Tương tự, chân lý vật chất luôn biểu thị sự phù hợp của một sự vật hiện hữu với khái niệm ‘lý trí’ về bản chất của nó. Ấn tượng nảy sinh là định nghĩa về bản chất của chân lý này độc lập với sự giải thích về bản chất của Sự tồn tại của tất cả các hữu thể, vốn luôn bao gồm một sự giải thích tương ứng về bản chất của con người với tư cách là người mang và thực thi trí tuệ. Do đó, công thức về bản chất của chân lý veritas est adaequatio intellectus et rei  Chân lý là sự phù hợp giữa trí tuệ và sự vật có giá trị chung như một điều hiển nhiên đối với mọi người. Dưới sự chi phối của tính hiển nhiên mà khái niệm chân lý này dường như có nhưng lại ít được chú ý đến về cơ sở bản chất của nó, người ta cho rằng cũng hiển nhiên rằng chân lý có một mặt đối lập, và rằng có sự không chân thực. Tính không chân thực của mệnh đề (tính không chính xác) là sự không phù hợp của phát ngôn với sự vật. Sự không chân thực của sự vật (tính không chân thực) biểu thị sự không phù hợp của một hữu thể với bản chất của nó. Trong mỗi trường hợp, sự không chân thực được coi là sự không phù hợp. Cái sau nằm ngoài bản chất của chân lý. Do đó, khi vấn đề là thấu hiểu bản chất thuần túy của chân lý, thì sự phi chân lý, như một đối lập của chân lý, có thể được gạt bỏ. Nhưng liệu có còn cần thiết phải làm sáng tỏ thêm bản chất của chân lý nữa không? Chẳng phải bản chất thuần túy của chân lý đã được thể hiện đầy đủ trong khái niệm được chấp nhận rộng rãi, một khái niệm không bị lật đổ bởi bất kỳ lý thuyết nào và được đảm bảo bởi tính hiển nhiên của nó hay sao? Hơn nữa, nếu coi việc truy ngược chân lý mệnh đề về chân lý vật chất là điều từ đầu nó thể hiện, cụ thể là một lời giải thích thần học, và nếu sau đó chúng ta giữ định nghĩa triết học hoàn toàn thuần khiết, không pha trộn với thần học và giới hạn khái niệm chân lý ở chân lý mệnh đề, thì chúng ta gặp phải một truyền thống tư duy cũ - mặc dù không phải là lâu đời nhất - theo đó chân lý là ὁμοίωσις homoiosis sự phù hợp của một λόγος logos phát ngôn/lý trí với một πρᾶγμα pragma vấn đề/sự vật. Điều gì ở các phát ngôn ở đây vẫn còn đáng để đặt câu hỏi - giả sử rằng chúng ta biết ý nghĩa của sự phù hợp giữa một phát ngôn với vấn đề? Chúng ta có biết điều đó không? Theo Martin Heidegger (1943). On the Essence of Truth, translated by John Sallis, The fourth edition of the essay (1961) - HHN].

§l. Đặc điểm cấu trúc tổng quát của phán đoán

Ngày nay, chúng ta đang dần nhận thấy rõ hơn mối liên hệ giữa triết học hiện đại với chủ nghĩa kinh viện thời trung cổ và từ đó với thời cổ đại, đặc biệt là Aristotle. Chúng ta có thể kỳ vọng học thuyết phán đoán của Leibniz không hoàn toàn mới mẻ mà chịu ảnh hưởng của truyền thống, của thời trung cổ và thời cổ đại. Khi còn trẻ, Leibniz đặc biệt nghiên cứu kỹ lưỡng chủ nghĩa kinh viện, nhất là Francisco Suarez, đại diện hàng đầu của chủ nghĩa kinh viện cuối thời kỳ Cải cách Phản kháng. Tác phẩm Disputationes Metaphysicae Những tranh luận Siêu hình học năm 1597 của ông đã hệ thống hóa các học thuyết truyền thống về siêu hình học và ảnh hưởng lớn đến Descartes và chủ nghĩa kinh viện Tin lành trong thế kỷ XVI và XVII. [Tr.30] Nhưng Leibniz cũng nghiên cứu trực tiếp Aristotle. Vì vậy, chúng ta lại phải quay trở lại những điều đã đề cập trước đó, mặc dù chúng ta đã đề cập đến một số trong số đó. Chúng ta đã nói rằng, theo tư tưởng của Aristotle, người coi λόγος logosσυμπλοκή (sumplokḗ) (giao tranh/va chạm; đan xen/liên hệ/ kết nối; hay σύνθεσις sýnthesis, tổng hợp, kết hợp, hợp thành hoặc sắp đặt với nhau - phán đoán được định nghĩa là một compositio vel division Hợp thành hoặc Phân chia. Thomas Aquinas, trong Quaestiones Disputatae de Veritate Những Câu hỏi Tranh luận về Chân lý, q. XIV, a. 1, nói về operatio intellectus, secundum quam componit vel dividit, affirmando et negando [hoạt động của trí tuệ mà nhờ đó nó kết hợp hoặc tách rời, trong việc khẳng định và phủ định]. Theo nghĩa hình thức rộng nhất, phán đoán là mối quan hệ giữa các biểu tượng, và giữa các khái niệm. Đây là những cách diễn đạt nghe có vẻ giống nhau và dường như nói cùng một điều. Tuy nhiên, đằng sau chúng ẩn chứa một sự mơ hồ và bất hòa lớn trong lý thuyết. Kant cũng nói điều này (trong Phê phán Lý tính Thuần túy B 140/41).

Tôi chưa bao giờ chấp nhận được cách giải thích mà các nhà logic học đưa ra về phán đoán nói chung. Họ tuyên bố rằng đó là sự biểu hiện của một mối quan hệ giữa hai khái niệm. Tôi không tranh luận với họ về những thiếu sót trong cách giải thích này… Tôi chỉ cần chỉ ra rằng định nghĩa này không xác định được mối quan hệ được khẳng định bao gồm những gì. Những nỗ lực giải thích nó vẫn còn gây tranh cãi cho đến ngày nay. Thiếu sót quan trọng là các điều kiện của vấn đề chưa được làm rõ. Mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ là một λέγειν τι κατά τινος legein ti kata tinos:nói điều gì đó chống lại ai/cái gì,’ hoặccáo buộc ai về điều gì’ de aliquot ‘về một ai đó’ hoặcvề một cái gì đó’. Cái ‘về cái mà’ là cái nằm bên dưới, ὑποκείμενον hypokeimenon, subjectum. [ὑποκείμενον (hupokeimenon/hypokeimenon) là một thuật ngữ quan trọng trong triết học Hy Lạp cổ đại, nghĩa đen là ‘thứ nằm bên dưới’; về nghĩa từ nguyên: từ này có gốc động từ ὑπόκειμαι hupókeimai - nằm bên dưới; trong triết học Siêu hình học, được Aristotle và các triết gia sau đó sử dụng để chỉ ‘chủ thể vật chất’ (material substratum/subject), tức là bản chất cơ bản, chất liệu tồn tại dai dẳng bên dưới sự vật, đóng vai trò là cơ sở cho các thuộc tính hoặc biến đổi; về nghĩa ngôn ngữ υποκείμενο - ypokeímeno được dùng với nghĩa ‘chủ ngữ’ trong câu, ví dụ trong một sự thay đổi (như nước đá tan thành nước), hypokeimenon là chất liệu thực sự (nước) nằm bên dưới các trạng thái biến đổi rắn -> lỏng-HHN] Vị ngữ là điều được nói về điều gì đó, do đó, thuật ngữ vị ngữ là một ‘dấu hiệu’ của điều gì đó đã nói, như Aristotle nói (de Interpret. 3, 16b 1Of.): ρήμα…και αεί τῶν καθ' έτερον λεγόμενον σημεῖον ἐστίν οἰῶν τῶν καθ' ὑποκείμενον ἤ ἐν ὑποκειμένῳ động từ...và cái gọi là dấu hiệu luôn luôn là của những gì thuộc chủ ngữ hoặc trong chủ ngữ. Nói cách khác, vị ngữ là những gì được nói về cái tiềm ẩn đó hoặc được nói là nằm trong cái tiềm ẩn đó. Quan điểm này trước hết được thúc đẩy bởi sự cân nhắc hiển nhiên rằng những gì được cho là có thể nói về một cái gì đó, và được nói một cách chính xác, trung thực, phải áp dụng cho chủ ngữ (esse de ratione subjecti), phải được chứa đựng trong chủ ngữ ὑπάρχειν αὑτῷ. Sự cân nhắc tưởng chừng như rõ ràng này ngay lập tức trở nên mơ hồ và không rõ ràng khi chúng ta hỏi: chủ ngữ có nghĩa là gì?

[Tr.31] Trong câu nói ‘cái bảng màu đen’, liệu chính cái bảng có phải là chủ ngữ hay là khái niệm, nội dung tinh thần, hay ý nghĩa của từ ‘cái bảng’? Tương ứng, có một câu hỏi liên quan đến ‘đen’ và việc nó được chứa đựng trong chủ ngữ. Liệu ở đây có sự chứa đựng lẫn nhau của các khái niệm, ý niệm, hay thuộc tính của chính sự vật? Việc được chứa đựng hay được bao gồm trong chính cái gì đó có phải là thuộc về vật thể, tinh thần hay khái niệm? Có sự tương ứng nào giữa các mối quan hệ chứa đựng khác nhau này không? Và làm thế nào để định nghĩa những mối quan hệ này, là sự tương ứng, là sự mô tả, hay là sự phối hợp? ‘Bảng đen’, ‘viên phấn rơi khỏi bàn’ - làm thế nào mà ‘đen’ và ‘rơi khỏi bàn’ được chứa đựng trong chủ ngữ tương ứng của chúng? Và ‘được chứa đựng trong’ có nghĩa là gì? Và liệu có nên nói điều gì như thế này không? Hay việc nói về sự chứa đựng chỉ là một lý thuyết, một nỗ lực để giải thích phán đoán? Dù thế nào đi nữa, quan niệm về λόγος logos của Leibniz cũng hướng tới một lý thuyết như vậy về việc vị ngữ được chứa đựng trong chủ ngữ. Đó là một lý thuyết về sự bao hàm. Nếu lý thuyết đó không được đặc trưng một cách hời hợt, thì rõ ràng một quan niệm riêng biệt về sự chứa đựng, về in-esse, phải được phát triển trong đó và điều này có nghĩa là một quan niệm về esse, về sự tồn tại. Thực tế, với Leibniz, lý thuyết bao hàm được thể hiện và đặt nền tảng rất cụ thể. Trước tiên, có một vài dẫn chứng để mô tả học thuyết phán đoán của Leibniz. (1) Trong tác phẩm Discours de Metaphysique Diễn ngôn Siêu hình học năm 1686 (xuất bản lần đầu năm 1846 từ các bản thảo sau khi tác giả qua đời), một trong những tác phẩm chính trong bối cảnh nghiên cứu của chúng ta, Leibniz nói trong § 8 (G. IV, 432/33, bản dịch Buchenau): Tất nhiên, khi một số vị ngữ được gán cho một chủ ngữ duy nhất trong khi chủ ngữ này không được gán cho bất kỳ chủ ngữ nào khác, thì nó được gọi là một thực thể cá thể. Nhưng điều này là chưa đủ, và định nghĩa như vậy chỉ mang tính danh nghĩa. Vậy thì, chúng ta phải xem xét ý nghĩa của việc được thực sự gán cho một chủ ngữ nhất định. Giờ đây, chắc chắn rằng mọi vị ngữ đúng đều có quelque fondement một cơ sở nào đó trong bản chất của sự vật, và khi một mệnh đề không phải là một đồng nhất tính, nghĩa là, khi vị ngữ không được compris chứa đựng rõ ràng trong chủ ngữ, thì nó phải được bao gồm trong đó theo cách ảo. Đây là điều mà các nhà triết học gọi là in-esse đang tồn tại trong khi họ nói rằng vị ngữ est dans ở trong chủ ngữ.

[Tr.32] Vì vậy, thuật ngữ chủ ngữ phải luôn bao gồm thuật ngữ vị ngữ theo cách mà bất kỳ ai hiểu hoàn hảo khái niệm chủ ngữ cũng sẽ biết rằng vị ngữ thuộc về nó. [Dòng 307] Ý tưởng trong đoạn văn này chủ yếu đề cập đến khái niệm ‘cái đơn tử’ (monad) [Monad Đơn tử trong triết học, đặc biệt là triết học của Gottfried Leibniz, là thực thể đơn giản, phi vật chất, không thể phân chia và là đơn vị cơ bản cấu tạo nên vũ trụ; chúng được coi là những linh hồn hoặc nguyên tố nhỏ bé, tự hoạt động, phản ánh trật tự thế giới và khác biệt nhau qua nhận thức bên trong - HHN], với πρώτη οὐσία (the τόδε τι) ‘bản thể thứ nhất’ haythực thể đầu tiên’ của Aristotle. Ở đây Leibniz đề cập rõ ràng đến định nghĩa truyền thống về chất, vốn có nguồn gốc từ Aristoteles: Oὐσία δέ ἐστιν ῇ κυριώτατα τε καὶ πρῶτος καὶ μάλιστα λεγόμενε ἢ μήτε καθ' ὑποκείμενον τίνος λέγεται μήτε ἐν ‘Bản thể, theo nghĩa đúng nhất, tiên khởi nhất và chủ yếu nhất, là cái không được vị ngữ hóa trên một chủ thể nào và cũng không nằm trong một chủ thể nào…” Đây là một trong những điều bạn cần làm để đạt được điều đó. (Loại 5, 2a 11ff.). Oὐσία Bản thể….chúng tôi gọi cái không được đặt tên và được nói liên quan đến một sự vật cơ bản khác cũng như không được hiểu là một cái gì đó nằm trong một sự vật cơ bản khác, ví dụ, nó là người đàn ông này ở đây, con ngựa này ở đây.”

Bởi οὐσία chất thể mà Aristotle hiểu rằng cái đó hiện diện độc lập, sự hiện diện độc lập. Về ý nghĩa của ἐν ὑποκείμενῷ trong chủ thể, Aristotle nói (Cùng nguồn 2, la 24f.): ἐν ὑποκείμενῷ δὲ λἐγω ὸ ἐν τινί μὴ ώς μἐρος ὐπαρχον ἀδύνατον χωρίς εἶναι  τοῦ ἐν ᾧ ἐστιν. “Khi nói ‘trong chủ thể’, tôi không có ý nói hiện diện trong nó như những bộ phận được chứa đựng trong một tổng thể; tôi muốn nói là nó không thể tồn tại ngoài chủ thể được đề cập đến.” Nghĩa là, về cơ bản nó không độc lập. Nó có ý nghĩa tương tự trong Siêu hình học (Z13, 1038b 8ff.): ἔοικε γάρ ἀδύνατον είναι οὐσίαν είναι ὁτιοῦν τὧν καθόλου λεγόμενον πρώτη μὲν γὰρ οὐσία ἴδιος ἑκάστῳ ἤ οὐχ υπάρχει ἄλλῳ τὁ δὲ καθόλου κοινόν  τοῦτο γὰρ λέγετα καθόλου ὁ πλείοσιν ὑπάρχειν πέφυκεν “Vì dường như không thể có bất kỳ thuật ngữ phổ quát nào có thể là bản chất. Bản chất đầu tiên là đặc thù của mỗi cá thể và không thuộc về bất cứ thứ gì khác, trong khi bản chất phổ quát là chung, bởi vì nó có nghĩa là cái mà về bản chất thuộc về nhiều thứ.” Trong cách giải thích về bản chất cá nhân ở đoạn trích dẫn từ Discours de Metaphysique, λέγειν legein diễn ngôn được đề cập đến theo nghĩa: bản chất cá nhân về cơ bản là không thể được gán cho một cái gì đó tiềm ẩn; về cơ bản nó là độc lập (và không bao giờ có thể được gán cho một cái gì đó). Leibniz nhận thấy rằng cách giải thích bản chất này bắt nguồn từ sự gán thuộc tính, và do đó, một sự xác định triệt để về bản chất của sự gán thuộc tính, của phán đoán, nhất thiết phải cung cấp một khái niệm nguyên thủy về bản chất. Khái niệm về bản chất này là khái niệm về chủ thể. Trong đoạn văn này, Leibniz nói rằng trong mọi phát biểu đúng, chủ thể phải chứa đựng vị ngữ trong chính nó, dù là rõ ràng hay ngầm định. Ở nơi nó được chứa đựng rõ ràng (A là A) thì có một đồng nhất tính; khi nó không được chứa đựng một cách rõ ràng, thì chúng ta đối diện với một [tr.33] đồng nhất tính ẩn giấu. Một tuyên bố đúng ngụ ý vị ngữ nằm trong chủ ngữ, vị ngữ được bao hàm trong chủ ngữ. Bất cứ ai có cái nhìn thấu đáo và đầy đủ về một chủ ngữ đều có thể đưa ra tất cả các phán đoán đúng về chủ ngữ này; kẻ đó chỉ cần làm rõ chúng. 

Đoạn trích từ tác phẩm Diễn ngôn đầu tiên được dẫn một cách có chủ đích. Nó chỉ ra vấn đề trung tâm, đó là ý nghĩa đa dạng của khái niệm ‘chủ ngữ’ và mối liên hệ của nó với khái niệm bản thể. ‘Chủ ngữ’ là 1) ὑποκείμενον hypokeimenon bản thể cá nhân, hiện hữu độc lập cá nhân, chủ thể tồn tại; 2) chủ ngữ của tuyên bố, chủ ngữ logic; không phải mọi chủ ngữ logic đều cần phải là một bản thể, và do đó khái niệm này rộng hơn; 3) cái ‘Tôi’ trái ngược với đối tượng, là chủ ngữ nổi bật của các tuyên bố và là hiện hữu cá thể độc lập nổi bật. Ở đây trong Leibniz, chủ thể tồn tại, cái bản chất, được hiểu từ quan điểm của chủ thể logic, từ chủ thể của một tuyên bố. Nhưng điều ngược lại cũng hoàn toàn có thể xảy ra, tức là, hiểu chủ thể logic từ chủ thể tồn tại: chủ thể nào có ưu quyền hơn, chủ thể tồn tại hay chủ thể logic? Hoặc cả hai đều không?

_________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Note

*This ‘Deatruktion’ is the same kritiacher Abbau spoken of in the introduction (German text p. 27). The image here is not one of total demolition but of a de-construction by which the original impulses, long buried in sedimentation, are reactivated. The image of dismantling an old structure serves to translate the de-struction to which Heidegger refers.

1. Die philosophischen Schriften von Gottfried Wilhelm Leibniz, ed. C. I. Gerhardt, 7 volumes (Berlin 1875-90) [reprint, Hildesheim, 1960-61], volume 7, p. 191 note. The statement is well known: Cum Deus calculate….fit mundU8; it also provides the motto for L. Coutu rat, La Logique de Leibniz. D'apres des documents inedita (Paris, 1901) [reprint, Hildesheim, 1961].

2. Following D. Mahnke, Leibnizens Synthese von Universalmathematik und lndividualmetaph!lsik in }ahrbuch fiir Philosophie und phiJnomenologische Forschung, volume 7; printed separately in Halle, 1925 [reprint, Stuttgart-Bad Cannstatt, 19641, p. 43.

3. Logic as the foundation of Leibniz's metaphySics is the thesis of Bertrand Russell's A Critical Exposition of the Philosophy of Leibniz (Cambridge, 1900), as well as of Louis Couturat's book, cited in note I, which is the best known. Counterarguments to this view have not yet succeeded in refuting it. 

4. For modem developments and the contemporary state of logic see the following: Die Logik von Port ROllal: lA Logique ou l'Art de PeMer, 1662, frequently reprinted and translated; Kant's VorlesuRg über Logik, ed. Jische, 1800, Akademie edition, volume 9; C. Sigwart, Logik, 2 volumes, 1873, 4th edition, 1911; H. Lotze, Logfk, 1874, 2nd edition, 1879, and 1912 edition with a valuable introduction by G. Misch, also Sigwart's smaller Logik of 1843; W. Schuppe, Erkenntni8theoreti8che Logik, 1878; J. Bergmann, Reine Logik, 1879; Husserl's Logische Untersuchungen, 1900- 1901; A. Pfander, Logik, ]ahrbuch für Philosophie und phanomenologische Forschung, Volume 4, published separately in 1921, truly a handbook; otherwise, for related material, see C. Prantl, Geschfchte der Logik im Abendlande, 4 volumes, 1855-70. 

5. cr. Leibniz's dissertation, Disputatio Metaphllsica de Principio lndividuf, 1663; Gerhardt 4, 15-26. 

6. G.W. Leibniz. Hauptschriften zur Grundlegung tier Philosophie, trans. A. Buchenau, revised and edited with introductions and discussions by Ernst Cassirer, 2 volumes (Philosophische Bibliotek, volumes 107 and 108), Leipzig 1904-6 [3rd e dition, Hamburg, 1966]; volume 2, p. 143.







 

 

 

 

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (IV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

VI. Phân loại Logic Truyền thống và Nền tảng của Logic này

[Tr.21] Khi quay trở lại những vấn đề như chân lý theo đúng nghĩa, cơ sở, khái niệm, tính quy luật và tự do, chúng ta đang tìm kiếm một logic triết học, hay nói đúng hơn, cái nền tảng siêu hình của logic (initia logicae). Chúng ta tìm cách quay trở lại những vấn đề cơ bản này, và do đó, trở lại với một lối vào bản thân triết học một cách cụ thể, bằng con đường phân tích phê phán logic truyền thống xuống đến những nền tảng ẩn giấu của nó. Tuy nhiên, lịch sử của logic, chính xác là nếu người ta không chỉ nhìn vào kết quả mà trong mỗi trường hợp, còn nhìn vào sự xuất hiện ít nhiều rõ ràng của nó từ triết học thì vấn đề không chỉ rộng lớn và phức tạp. Nó còn thể hiện một số giai đoạn quan trọng chủ yếu cần phải gọi tên: Plato, Aristotle, trường phái Khắc kỷ, thời Trung cổ, Leibniz, [tr.22] Kant, Hegel, trong thế kỷ XIX và giai đoạn chuyển tiếp sang thế kỷ XX: Lotze, Sigwart, Husserl. Trong khóa học này, không thể phát triển một bức tranh về lịch sử logic cùng với việc xử lý các vấn đề. Dựa trên vấn đề trọng tâm đang hướng tới, chúng ta phải cố gắng tìm đến một điểm tựa thích hợp cho việc hồi tưởng từ lịch sử. Nói cách khác, một điểm tựa thích hợp có nghĩa là, chúng ta phải tìm thấy ở đó một sự sắp xếp các chủ đề truyền thống của logic sao cho, đồng thời, nó cho phép tiến hành một cách nhất quán từ đó trở lại các vấn đề cơ bản đã đề cập trước đó. Một điểm tựa lịch sử như vậy thực sự có thể được tìm thấy ở Leibniz (1646-1716). Không chỉ truyền thống logic cổ đại và trung cổ hội tụ trong ông dưới một hình thức mới độc lập; ông còn trở thành động lực để đặt ra những câu hỏi mới, đưa ra những gợi ý cho các nhiệm vụ mà một phần chỉ được thực hiện trong thời gian gần đây. Từ Leibniz, chúng ta có thể tạo ra cho mình những góc nhìn quay trở lại thời cổ đại và hướng tới hiện tại, những góc nhìn quan trọng đối với các vấn đề nền tảng của logic.

Chắc chắn, trong Leibniz, chúng ta không trình bày một cách hệ thống về logic, bởi vì ngay cả những điều quan trọng mà ông để lại cũng nằm rải rác trong các bức thư, các chuyên luận nhỏ, các bài viết lẻ tẻ và các chương trình. Vì vậy, chúng ta không thể nghĩ đến việc xây dựng một bản trình bày đầy đủ về những lời dạy của ông. Chúng ta không cần một bản báo cáo lịch sử, mà muốn nắm bắt cơ hội để đi sâu vào chính các vấn đề. Nhưng trước tiên, ngay cả khi muốn tập trung vào Leibniz, thì câu hỏi vẫn còn đó: Chúng ta nên chọn những đối tượng logic truyền thống nào? Logic tự thân đề cập đến điều gì? Hãy quay lại khái niệm logic hình thức như đã mô tả. Theo đó, logic là một khoa học về λόγος logos, về những phát ngôn xác định một cái gì đó là một cái gì đó. ‘Phát ngôn’ ở đây mang tính mơ hồ. Nó có thể có nghĩa là đưa ra một phát ngôn, giao tiếp, trái ngược với việc im lặng và giữ kín điều gì đó cho riêng mình. Kiểu phát ngôn này luôn luôn cần thiết là một phát ngôn ngôn ngữ. Tuy nhiên, ‘phát ngôn’ cũng có nghĩa, và ở đây chủ yếu có nghĩa là, nói điều gì đó về một cái gì đó, ‘A là b,’ để xác định b thuộc về A. Đây là phát ngôn theo nghĩa vị ngữ. Đặc tính mệnh đề này của λόγος logos được thể hiện rõ nhất trong mô tả của Aristotle về nó. Cách xử lý rõ ràng của Aristotle đối với λόγος nằm trong một chuyên luận nhỏ và khó, có tựa đề Περί Εμένειας (de Interprete), ‘Về Diễn giải’. Ở đây Aristotle nói (Chương 4, 16b, 26ff.): Λόγος δὲ έστι φωνέ σημαντικἡ, ἡς τών μερών τι σημαντικόν έστι κεχωρισμένον ως φασις ἀλλ᾿ οὐχ ως κατάφασις λέγω δέ οἷον ἄνθρωπος σημαίνειν μέν τι, ἀλλ᾿ οὐχ ως ὄτι ἢ οὐχ έστιν. Đây là một điều đáng chú ý [p.23] άπόφασις, έάν τι προστεθῇ. Chúng tôi dịch như sau: ‘Lời nói, phát ngôn, là một hình thức phát âm bằng giọng nói có nghĩa, chứa đựng nội dung ý nghĩa theo cách mà trong mỗi trường hợp, một phần của phát ngôn này, khi được tách riêng, vẫn có nghĩa như một φασις lời nói đơn thuần chứ không phải là một κατάφασις khẳng định chắc chắn, ‘gã kia đang bị kích động’; κατά có nghĩa là ‘nhìn cái gì đó từ trên xuống dưới’. Vì vậy, ví dụ, từ ‘gã kia’ tự nó có nghĩa (chúng ta nói rằng chúng ta có thể nghĩ về một điều gì đó khi nghe từ này), nhưng chỉ bằng việc nói ra từ riêng lẻ này, người ta không thể khẳng định liệu gã kia có tồn tại hay không. Nhưng khi thêm một điều gì đó (cụ thể là việc anh ta tồn tại hay không) vào từ đứng riêng lẻ (‘gã’), thì câu này trở thành κατάφασις khẳng định chắc chắn hoặc άπόφασις, một khẳng định hoặc phủ nhận.

Mỗi mệnh đề, với tư cách là sự xác định một cái gì đó là một cái gì đó, vì vậy hoặc là một khẳng định hoặc là một phủ định. Những cách diễn đạt này phải được hiểu theo nghĩa đen. Khẳng định có nghĩa là xác nhận một cái gì đó thuộc-về, và phủ định có nghĩa là bác bỏ một cái gì đó không thuộc-về. Trong các bản dịch tác phẩm của Aristotle và trong các bài bình luận về sách logic và về Porphyry, Boethius (khoảng 480-524) dịch φασιςdiction [ Dictio trong tiếng Latin, là danh động từ dicere – nói, có nghĩa là một câu nói, cách diễn đạt, từ ngữ, hoặc ngôn luận; nó thường ám chỉ nghệ thuật lựa chọn từ vựng hoặc phong cách diễn đạt (cách nói/viết) của một ai đó; xuất phát từ gốc từ dict- của dicere, có ý nghĩa liên quan đến hành động ‘nói’, ‘bảo’, hoặc ‘phát biểu’; trong ngôn ngữ từ này là gốc của các từ tiếng Anh như diction cách diễn đạt, dictionary từ điển, và dictation đọc cho ai đó viết - HHN] κατάφασιςaffirmatio [Từ affirmation tiếng Anh, lời khẳng định, sự xác nhận thì trong tiếng Latin là adfirmatio hoặc affirmatio danh từ, giống cái, thuộc biến cách 3; ý nghĩa: sự khẳng định, củng cố niềm tin, lời quả quyết, sự xác nhận; từ liên quan: adfirmare/affirmare động từ: khẳng định, làm vững chắc; gốc từ: các cách diễn đạt khác liên quan đến khẳng định trong tiếng Latin là cách nói thông thường để diễn đạt ‘vâng’ hoặc ‘đúng vậy’, thể hiện sự đồng ý/khẳng định- HHN] và άπόφασιςnegation [Trong ngữ pháp tiếng Latin, negation phủ định, được thể hiện chủ yếu thông qua các từ ngữ đặc biệt như non không, nemo không ai, nihil không gì, nullus không cái nào, và nunquam không bao giờ; dưới đây là các điểm chính về phủ định trong tiếng Latin: từ phủ định cơ bản non là từ phổ biến nhất để phủ định động từ; đại từ/trạng từ phủ định nemo không ai (người), nihil không gì (vật), nullus không cái nào (tính từ), nunquam không bao giờ (thời gian); tiền tố phủ định: nhiều tiền tố trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Latin như in-, un-, non-, dis-; các tiền tố này được thêm vào trước từ gốc để đảo ngược nghĩa của từ đó, ví dụ in- thường dùng cho các từ có nguồn gốc Latin; cấu trúc câu tiếng Latin có thể sử dụng các hình thức phủ định kép, trong đó hai từ phủ định được sử dụng cùng nhau, thường để nhấn mạnh sự phủ định; nhìn chung, negation trong tiếng Latin là hệ thống các công cụ ngôn ngữ để bác bỏ, cự tuyệt hoặc thể hiện sự tiêu cực trong câu-HHN]. Các phán đoán tích cực và tiêu cực sau này tương ứng với sự phân biệt này. ‘Phán đoán’ là cách diễn đạt được sử dụng thường xuyên nhất hiện nay cho λόγος. Chúng ta thấy ngay cách tiếp cận của Aristotle vẫn hướng mạnh mẽ đến hình thức ngôn ngữ của λόγος, khi ông trình bày λόγος như một συμπλοκἠ, nexus, connexio sự kết nối của nhiều từ có nghĩa riêng. Ví dụ, từ Latin pluit, nghĩa là trời đang mưa, cũng chính xác là một λόγος, và κατάφασις khẳng định - tuy nhiên chỉ được tạo thành từ một 'từ' duy nhất: Đây chắc chắn là một vấn đề riêng biệt. Vậy thì ý nghĩa mà từ ‘mưa’ được khẳng định là gì; ‘nó [trời] đang mưa’ – thì ‘nó’ có nghĩa là gì?

Dù sao đi nữa, trong cách giải thích quyết định đầu tiên, λόγος được hình dung như một sự kết nối các khái niệm, như một sự liên kết các ý nghĩa, như một sự ràng buộc các ý niệm lại với nhau. Do đó, các thành phần cơ bản của λόγος là những khái niệm, ý nghĩa, khái niệm riêng lẻ này; τὰ μὲν οὐν ​​ὀνόματα αὐτὰ καὶ τὰ ῥήματα ἔοικε τὡ ἄνευ συνθἐσεως καὶ διαὶρἐσεως νοήματι (de Interpret. 1, 16a 13f.) [Bản thân một danh từ hoặc một động từ rất giống một khái niệm hoặc ý nghĩ, không kết hợp cũng không rời rạc. Về Diễn giải 1, 16a 13f.]. Vì vậy, để làm rõ λόγος, phương pháp được đề xuất dường như là bắt đầu từ cái tạo nên nó; yếu tố cơ bản của λόγος là khái niệm. Do đó, học thuyết về khái niệm phải đi trước học thuyết về λόγος với tư cách là phán đoán. Mặt khác, sau đó tư duy lại hoạt động để kết nối các mệnh đề riêng lẻ thành các hình thức kết nối cụ thể: A là B, [tr.24] B là C, do đó A là C. Sự liên kết các phán đoán này được gọi là suy luận. Như vậy, chúng ta đi đến ba phân chia chính của logic: học thuyết về khái niệm, về phán đoán và về suy luận. Aristotle thực sự đã xử lý cả ba thành phần cơ bản này - mà không hề có kế hoạch phát triển một bộ môn theo cách này. Điều đó chỉ xảy ra sau này trong quá trình phát triển triết học Aristotelian của trường phái Kinh viện. Từ thời kỳ đó cũng xuất hiện sự sắp xếp và đặt tên cho các tác phẩm xử lý các vấn đề về bản chất logic dưới tiêu đề Ὄργανον Organon công cụ, phương tiện. Khái niệm logic mang tính kỹ thuật bề ngoài được thể hiện ngay trong tiêu đề này. Từ đó, Ὄργανον Organon được dùng để chỉ logic học của Aristotle. Ὄργανον Organon này bao gồm năm hoặc sáu khảo sát khác nhau về các vấn đề logic; và thứ tự truyền thống xuất phát từ việc sử dụng các quan điểm sư phạm. Các phần gồm: Phạm trù, Về diễn giải, Phân tích Tiên nghiệm (về suy luận), Phân tích Hậu nghiệm (về các nguyên tắc chứng minh và tri thức; có liên quan chặt chẽ hơn đến bản thể luận so với Phân tích Tiên nghiệm), Chủ đề (suy luận xác suất), và Về Bác bỏ Ngụy biện (về các lỗi ngụy biện; thường được coi là một phần của Chủ đề).4

[Ghi chú dài Về Diễn giải Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation của Aristotles, Κεφάλαιον 1 [16a.1]: Πρῶτον δεῖ θέσθαι τί ὄνομα καὶ τί ῥῆμα, ἔπειτα τί ἐστιν ἀπόφασις καὶ κατάφασις καὶ ἀπόφανσις καὶ λόγος. Ἔστι μὲν οὖν τὰ ἐν τῇ φωνῇ τῶν ἐν τῇ ψυχῇ παθημάτων σύμβολα, καὶ τὰ γραφόμενα τῶν ἐν τῇ φωνῇ. καὶ ὥσπερ οὐδὲ γράμματα πᾶσι τὰ αὐτά, οὐδὲ φωναὶ αἱ αὐταί· ὧν μέντοι ταῦτα σημεῖα πρώτων, ταὐτὰ πᾶσι παθήματα τῆς ψυχῆς, καὶ ὧν ταῦτα ὁμοιώματα πράγματα ἤδη ταὐτά. περὶ μὲν οὖν τούτων εἴρηται ἐν τοῖς περὶ ψυχῆς, — ἄλλης γὰρ πραγματείας· — ἔστι δέ, ὥσπερ ἐν τῇ ψυχῇ ὁτὲ μὲν νόημα ἄνευ τοῦ ἀληθεύειν ἢ ψεύδεσθαι ὁτὲ δὲ ἤδη ᾧ ἀνάγκη τούτων ὑπάρχειν θάτερον, οὕτω καὶ ἐν τῇ φωνῇ· περὶ γὰρ σύνθεσιν καὶ διαίρεσίν ἐστι τὸ ψεῦδός τε καὶ τὸ ἀληθές. τὰ μὲν οὖν ὀνόματα αὐτὰ καὶ τὰ ῥήματα ἔοικε τῷ ἄνευ συνθέσεως καὶ διαιρέσεως νοήματι, οἷον τὸ ἄνθρωπος ἢ λευκόν, ὅταν μὴ προστεθῇ τι· οὔτε γὰρ ψεῦδος οὔτε ἀληθές πω. σημεῖον δ᾿ ἐστὶ τοῦδε· καὶ γὰρ ὁ τραγέλαφος σημαίνει μέν τι, οὔπω δὲ ἀληθὲς ἢ ψεῦδος, ἐὰν μὴ τὸ εἶναι ἢ μὴ εἶναι προστεθῇ ἢ ἁπλῶς ἢ κατὰ χρόνον.” Phiên bừa: Mục 1 [16a.1]:  “Trước tiên, chúng ta phải định nghĩa các thuật ngữ ‘danh từ’ và ‘động từ’, sau đó là các thuật ngữ ‘phủ định’ và ‘khẳng định’, rồi ‘mệnh đề’ và ‘câu’. Các từ được nói ra là biểu tượng của kinh nghiệm tinh thần và các từ được viết ra là biểu tượng của các từ được nói ra. Cũng như không phải tất cả mọi người đều có cùng một cách viết, thì không phải tất cả mọi người đều có cùng một âm thanh lời nói, nhưng những kinh nghiệm tinh thần mà những âm thanh này trực tiếp biểu trưng thì đối với tất cả mọi người lại giống nhau, cũng như những sự vật mà kinh nghiệm của chúng ta là hình ảnh của chúng. Tuy nhiên, vấn đề này đã được thảo luận trong luận văn của tôi về linh hồn, vì nó thuộc về một khảo sát khác biệt với những gì đang có trước mắt chúng ta. Cũng như trong tâm trí có những suy nghĩ không bao hàm chân hay giả, và cũng có những suy nghĩ phải là đúng hoặc sai, thì trong lời nói cũng vậy. Bởi vì chân và giả hàm chứa sự kết hợp và tách biệt. Danh từ và động từ, miễn là không có gì được thêm vào, cũng giống như những suy nghĩ không có sự kết hợp hoặc tách biệt; ‘người’ và ‘trắng’, với tư cách là những thuật ngữ riêng lẻ, vẫn chưa phải là chân hay giả. Để chứng minh điều này, hãy xem xét từ τραγέλαφος tragélaphos, [mô tả một sinh vật tưởng tượng nửa dê τράγος tragos và nửa nai/hươu έλαφος - elaphos; vật trang trí, một loại cốc uống nước có khắc hình sinh vật này; nghĩa ẩn dụ/khác, đôi khi dùng để chỉ một thứ gì đó kỳ dị, không có thật, tương tự như khái niệm ‘hircocervus’ trong tiếng Latin mô tả một sinh vật nửa thân trên là dê (hircus) nửa thân dưới là cervus hươu/ nai, về nguồn gốc triết học, sinh vật này thường được Aristotle và Plato thảo luận như một ví dụ về một khái niệm có thể mô tả được vì có hình ảnh trong tâm trí, mặc dù nó không thực sự tồn tại trong tự nhiên. HHN] Nó có ý nghĩa, nhưng không có đúng hay sai tuyệt đối nào về nó, trừ khi thêm từ ‘là’ hoặc ‘không phải là’, ở thì hiện tại hoặc ở một thì khác.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 2 [16a.20]: Ὄνομα μὲν οὖν ἐστὶ φωνὴ σημαντικὴ κατὰ συνθήκην ἄνευ χρόνου, ἧς μηδὲν μέρος ἐστὶ σημαντικὸν κεχωρισμένον· ἐν γὰρ τῷ Κάλλιππος τὸ ιππος οὐδὲν καθ᾿ αὑτὸ σημαίνει, ὥσπερ ἐν τῷ λόγῳ τῷ καλὸς ἵππος. οὐ μὴν οὐδ᾿ ὥσπερ ἐν τοῖς ἁπλοῖς ὀνόμασιν, οὕτως ἔχει καὶ ἐν τοῖς πεπλεγμένοις· ἐν ἐκείνοις μὲν γὰρ οὐδαμῶς τὸ μέρος σημαντικόν, ἐν δὲ τούτοις βούλεται μέν, ἀλλ᾿ οὐδενὸς κεχωρισμένον, οἷον ἐν τῷ ἐπακτροκέλης τὸ κελης. τὸ δὲ κατὰ συνθήκην, ὅτι φύσει τῶν ὀνομάτων οὐδέν ἐστιν, ἀλλ᾿ ὅταν γένηται σύμβολον· ἐπεὶ δηλοῦσί γέ τι καὶ οἱ ἀγράμματοι ψόφοι, οἷον θηρίων, ὧν οὐδέν ἐστιν ὄνομα. — τὸ δ᾿ οὐκ ἄνθρωπος οὐκ ὄνομα· οὐ μὴν οὐδὲ κεῖται ὄνομα ὅ τι δεῖ καλεῖν αὐτό, — οὔτε γὰρ λόγος οὔτε ἀπόφασίς ἐστιν· — ἀλλ᾿ ἔστω ὄνομα ἀόριστον. τὸ δὲ Φίλωνος ἢ Φίλωνι καὶ ὅσα τοιαῦτα οὐκ ὀνόματα ἀλλὰ πτώσεις ὀνόματος. λόγος δέ ἐστιν αὐτοῦ τὰ μὲν ἄλλα κατὰ τὰ αὐτά, ὅτι δὲ μετὰ τοῦ ἔστιν ἢ ἦν ἢ ἔσται οὐκ ἀληθεύει ἢ ψεύδεται, — τὸ δ᾿ ὄνομα ἀεί, — οἷον Φίλωνός ἐστιν ἢ οὐκ ἔστιν· οὐδὲν γάρ πω οὔτε ἀληθεύει οὔτε ψεύδεται.” Phiên bừa: Mục 2 [16a.20]: “Theo nghĩa của từ danh từ, chúng ta hiểu đó là một âm thanh có ý nghĩa theo quy ước, không liên quan đến thời gian, và không có phần nào của nó có ý nghĩa độc lập với phần còn lại. Trong từ danh từ καλὸς kalos hay, tốt, tuyệt vời ἵππος hippos chiến mã, phần ἵππος không có ý nghĩa riêng lẻ, như trong cụm từ καλὸς ἵππος. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa danh từ đơn và danh từ kép; vì trong danh từ đơn, phần đó không có ý nghĩa gì, còn trong danh từ kép, nó góp phần vào ý nghĩa của toàn bộ, mặc dù nó không có nghĩa độc lập. Ví dụ, trong từ ἐπακτροκέλης thuyền cướp biển, từ κέλης không có nghĩa gì ngoại trừ khi là một phần của toàn bộ từ. [ἐπακτροκέλης Epaktrokelēs là một loại tàu nhỏ, nhẹ và nhanh thường được cướp biển sử dụng trong thời cổ đại, nó kết hợp các đặc điểm của κέλης keleis tàu nhanh và ἐπακτρον epaktron tàu của cướp biển, có hình dạng hơi tròn hơn; do tốc độ cao nên nó là một phương tiện lý tưởng cho các cuộc tấn công của cướp biển; từ nguyên ἔπακτρον tính từ dùng để chỉ tàu cướp biển và κέλης keleis tàu nhanh- HHN] Như vậy, trong từ ἐπακτροκέλης ‘thuyền cướp biển’, từ κέλης ‘thuyền’ không có nghĩa gì ngoại trừ khi nó là một phần của toàn bộ từ. Giới hạn ‘theo quy ước’ được đưa ra vì bản chất không có gì là danh từ hay tên riêng - nó chỉ là danh từ khi trở thành một biểu tượng; những âm thanh không rõ nghĩa, chẳng hạn như âm thanh mà loài vật tạo ra, có ý nghĩa, nhưng không âm thanh nào trong số đó cấu thành một danh từ. Cụm từ ‘không phải người’ không phải là một danh từ. Thực tế không có thuật ngữ nào được công nhận để chúng ta có thể dùng để chỉ một cụm từ như vậy, vì nó không phải là một câu hay một sự phủ định. Vậy thì hãy gọi nó là một danh từ bất định. Các cụm từ ‘của Philo’, ‘đến Philo’, v.v., không phải là danh từ, mà là các trường hợp của một danh từ. Định nghĩa của những trường hợp này của danh từ về các khía cạnh khác giống với định nghĩa của danh từ riêng, nhưng khi kết hợp với ‘là’, ‘đã là’ hoặc ‘sẽ là’, chúng không tạo thành một mệnh đề đúng hay sai, trong khi danh từ riêng luôn tạo thành một mệnh đề đúng ở những hoàn cảnh này. Hãy xem các từ ‘của Philo là’ hoặc ‘của’ hoặc ‘ của Philo không là’; những từ này, khi đứng riêng lẻ, không tạo thành một mệnh đề đúng hay sai.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 3 [16b.5]: Ῥῆμα δέ ἐστι τὸ προσσημαῖνον χρόνον, οὗ μέρος οὐδὲν σημαίνει χωρίς· ἔστι δὲ τῶν καθ᾿ ἑτέρου λεγομένων σημεῖον. λέγω δ᾿ ὅτι προσσημαίνει χρόνον, οἷον ὑγίεια μὲν ὄνομα, τὸ δ᾿ ὑγιαίνει ῥῆμα· προσσημαίνει γὰρ τὸ νῦν ὑπάρχειν. καὶ ἀεὶ τῶν ὑπαρχόντων σημεῖόν ἐστιν, οἷον τῶν καθ᾿ ὑποκειμένου. — τὸ δὲ οὐχ ὑγιαίνει καὶ τὸ οὐ κάμνει οὐ ῥῆμα λέγω· προσσημαίνει μὲν γὰρ χρόνον καὶ ἀεὶ κατά τινος ὑπάρχει, τῇ διαφορᾷ δὲ ὄνομα οὐ κεῖται· ἀλλ᾿ ἔστω ἀόριστον ῥῆμα, ὅτι ὁμοίως ἐφ᾿ ὁτουοῦν ὑπάρχει καὶ ὄντος καὶ μὴ ὄντος. ὁμοίως δὲ καὶ τὸ ὑγίανεν ἢ τὸ ὑγιανεῖ οὐ ῥῆμα, ἀλλὰ πτῶσις ῥήματος· διαφέρει δὲ τοῦ ῥήματος, ὅτι τὸ μὲν τὸν παρόντα προσσημαίνει χρόνον, τὰ δὲ τὸν πέριξ. — αὐτὰ μὲν οὖν καθ᾿ αὑτὰ λεγόμενα τὰ ῥήματα ὀνόματά ἐστι καὶ σημαίνει τι, — ἵστησι γὰρ ὁ λέγων τὴν διάνοιαν, καὶ ὁ ἀκούσας ἠρέμησεν, — ἀλλ᾿ εἰ ἔστιν ἢ μή οὔπω σημαίνει· οὐ γὰρ τὸ εἶναι ἢ μὴ εἶναι σημεῖόν ἐστι τοῦ πράγματος, οὐδ᾿ ἐὰν τὸ ὂν εἴπῃς ψιλόν. αὐτὸ μὲν γὰρ οὐδέν ἐστιν, προσσημαίνει δὲ σύνθεσίν τινα, ἣν ἄνευ τῶν συγκειμένων οὐκ ἔστι νοῆσαι. Phiên bừa: Mục 3 [16b.5]: “Động từ là từ, ngoài nghĩa thông thường, còn mang theo khái niệm về thời gian. Không có bộ phận nào của nó có nghĩa độc lập, và đó là dấu hiệu của một điều gì đó được nói về một điều khác. Tôi sẽ giải thích ý nghĩa của việc nói rằng nó mang theo khái niệm về thời gian. ‘Sức khỏe’ ὑγίεια hygieia là một danh từ, nhưng ὑγιαίνει hygiainei ‘khỏe lên’ là một động từ; bởi vì ngoài nghĩa thông thường, nó còn chỉ ra sự tồn tại hiện tại của trạng thái được đề cập. Hơn nữa, động từ luôn là dấu hiệu của một điều gì đó được nói về một điều khác, tức là của một điều gì đó có thể được gán cho hoặc hiện diện trong một sự vật khác. Những biểu hiện như ‘không khỏe mạnh’, ‘không ốm’, tôi không mô tả chúng là các động từ; vì mặc dù chúng mang thêm ý nghĩa về thời gian và luôn tạo thành một vị ngữ, nhưng không có tên gọi cụ thể nào cho loại này; nhưng hãy gọi chúng là động từ bất định, vì chúng áp dụng thỏa đáng như nhau cho cả cái tồn tại và cái không tồn tại. Tương tự, ὑγίανεν anh ấy ‘đã khỏe mạnh’, ὑγιανεῖ anh ấy ‘sẽ khỏe mạnh’, không phải là động từ, mà là thì của động từ; [Ghi chú ngữ pháp tiếng Hy Lạp: từ ὑγίανεν hygianen trong tiếng Hy Lạp cổ là một dạng đã chia của động từ ὑγιαίνω hygiainō, mang các ý nghĩa chính sau: ‘mạnh khỏe’, ‘khỏe’, ‘vững vàng’, ‘lành mạnh’; đây thường là thì bất định hoặc thì chưa hoàn thành, ngôi thứ ba số ít: anh ấy/cô ấy/nó đã mạnh khỏe; từ này thường được dùng để chỉ tình trạng sức khỏe thể chất tốt hoặc sự lành mạnh trong tư tưởng, lời nói, chẳng hạn ὑγιαίνω (hygiainō): Tôi khỏe mạnh; ὑγίεια (hygieia) sức khỏe; trong khi đó từ ὑγιανεῖ hygianei cũng là một dạng chia của động từ ὑγιαίνω (hygiainō), mang các ý nghĩa chính sau: ‘sẽ khỏe mạnh’, ‘sẽ lành lặn’ hoặc ‘sẽ chữa lành’; đây là ngôi thứ 3, số ít, thì tương lai của động từ ὑγιαίνω; nghĩa đen: Anh ấy/Cô ấy/Nó sẽ khỏe mạnh - HHN]. Khác biệt ở chỗ động từ chỉ thời điểm hiện tại, trong khi thì của động từ chỉ những thời điểm ngoài hiện tại. Bản thân động từ là danh từ và có ý nghĩa, vì sử dụng các biểu hiện như vậy thu hút người nghe và tập trung chú ý của họ; nhưng ở dạng từ nguyên, chúng không thể hiện bất kỳ phán xét nào, dù tích cực hay tiêu cực. Bởi vì cả εἶναι tồn tạiμὴ εἶναι không tồn tại cũng không mang ý nghĩa của bất kỳ sự kiện nào, trừ khi có thêm điều gì đó được bổ sung; vì bản thân chúng không chỉ ra điều gì, mà chỉ hàm ý một sự kết hợp, mà chúng ta không thể hình dung ra nếu tách rời khỏi những thứ được kết hợp.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 4 [16b.25] Λόγος δέ ἐστι φωνὴ σημαντική, ἧς τῶν μερῶν τι σημαντικόν ἐστι κεχωρισμένον, ὡς φάσις ἀλλ᾿ οὐχ ὡς κατάφασις. λέγω δέ, οἷον ἄνθρωπος σημαίνει τι, ἀλλ᾿ οὐχ ὅτι ἔστιν ἢ οὐκ ἔστιν (ἀλλ᾿ ἔσται κατάφασις ἢ ἀπόφασις ἐάν τι προστεθῇ)· ἀλλ᾿ οὐχ ἡ τοῦ ἀνθρώπου συλλαβὴ μία· οὐδὲ γὰρ ἐν τῷ μῦς τὸ υς σημαντικόν, ἀλλὰ φωνή ἐστι νῦν μόνον. ἐν δὲ τοῖς διπλοῖς σημαίνει μέν, ἀλλ᾿ οὐ καθ᾿ αὑτό, ὥσπερ εἴρηται. ἔστι δὲ λόγος ἅπας μὲν σημαντικός, οὐχ ὡς ὄργανον δέ, ἀλλ᾿ ὥσπερ εἴρηται κατὰ συνθήκην· ἀποφαντικὸς δὲ οὐ πᾶς, ἀλλ᾿ ἐν ᾧ τὸ ἀληθεύειν ἢ ψεύδεσθαι ὑπάρχει· οὐκ ἐν ἅπασι δὲ ὑπάρχει, οἷον ἡ εὐχὴ λόγος μέν, ἀλλ᾿ οὔτ᾿ ἀληθὴς οὔτε ψευδής. οἱ μὲν οὖν ἄλλοι ἀφείσθωσαν, — ῥητορικῆς γὰρ ἢ ποιητικῆς οἰκειοτέρα ἡ σκέψις, — ὁ δὲ ἀποφαντικὸς τῆς νῦν θεωρίας. Phiên bừa: Mục 4 [16b.25]: “Câu là một phần quan trọng của lời nói, trong đó một số bộ phận có nghĩa độc lập, tức là, như một phát ngôn, mặc dù không phải là sự thể hiện của bất kỳ phán đoán tích cực nào. Hãy để tôi giải thích. Từ ἄνθρωπος ánthrōpos ‘con người’ có nghĩa, nhưng không cấu thành một mệnh đề, dù là tích cực hay tiêu cực. Chỉ khi thêm các từ khác vào thì toàn bộ câu mới tạo thành một khẳng định hoặc phủ định. Nhưng nếu ta tách một âm tiết của từ ἄνθρωπος ‘con người’ ra khỏi âm tiết khác, nó sẽ không có nghĩa; tương tự như vậy trong từ μῦς mys ‘con chuột’, phần ‘ῦς’ tự nó không có nghĩa, mà chỉ là một φωνή phōnḗ âm thanh. Trong các từ ghép, các bộ phận góp phần tạo nên nghĩa của toàn bộ câu; tuy nhiên, chúng không có nghĩa độc lập. Mỗi câu đều có nghĩa, không phải là phương tiện tự nhiên để thực hiện một khả năng vật lý, mà là theo quy ước. Tuy nhiên, không phải mọi câu đều là một mệnh đề; chỉ những câu có chứa đựng sự thật hoặc sai lầm mới là mệnh đề. Do đó, một lời cầu nguyện là một câu, nhưng nó không đúng cũng không sai. Do đó, chúng ta hãy loại bỏ tất cả các loại câu khác ngoại trừ mệnh đề, vì mệnh đề này liên quan đến việc khảo sát hiện tại của chúng ta, trong khi việc khảo sát các loại câu khác thuộc về lĩnh vực nghiên cứu phép tu từ hoặc thi ca.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 5 [17a.8]: Ἔστι δὲ εἷς πρῶτος λόγος ἀποφαντικὸς κατάφασις, εἶτα ἀπόφασις· οἱ δὲ ἄλλοι συνδέσμῳ εἷς. ἀνάγκη δὲ πάντα λόγον ἀποφαντικὸν ἐκ ῥήματος εἶναι ἢ πτώσεως· καὶ γὰρ ὁ τοῦ ἀνθρώπου λόγος, ἐὰν μὴ τὸ ἔστιν ἢ ἔσται ἢ ἦν ἤ τι τοιοῦτο προστεθῇ, οὔπω λόγος ἀποφαντικός (διότι δὲ ἕν τί ἐστιν ἀλλ᾿ οὐ πολλὰ τὸ ζῷον πεζὸν δίπουν, — οὐ γὰρ δὴ τῷ σύνεγγυς εἰρῆσθαι εἷς ἔσται, — ἔστι δὲ ἄλλης τοῦτο πραγματείας εἰπεῖν). ἔστι δὲ εἷς λόγος ἀποφαντικὸς ἢ ὁ ἓν δηλῶν ἢ ὁ συνδέσμῳ εἷς, πολλοὶ δὲ οἱ πολλὰ καὶ μὴ ἓν ἢ οἱ ἀσύνδετοι. τὸ μὲν οὖν ὄνομα καὶ τὸ ῥῆμα φάσις ἔστω μόνον, ἐπεὶ οὐκ ἔστιν εἰπεῖν οὕτω δηλοῦντά τι τῇ φωνῇ ὥστ᾿ ἀποφαίνεσθαι, ἢ ἐρωτῶντός τινος, ἢ μὴ ἀλλ᾿ αὐτὸν προαιρούμενον. τούτων δ᾿ ἡ μὲν ἁπλῆ ἐστὶν ἀπόφανσις, οἷον τὶ κατὰ τινὸς ἢ τὶ ἀπὸ τινός, ἡ δ᾿ ἐκ τούτων συγκειμένη, οἷον λόγος τις ἤδη σύνθετος.” Phiên bừa: Mục 5 [17a.8]: “Loại mệnh đề đơn giản đầu tiên là khẳng định đơn giản, tiếp theo là phủ định đơn giản; tất cả các loại khác chỉ là một mệnh đề duy nhất bằng cách kết hợp các phần. Mỗi mệnh đề phải chứa một động từ hoặc thì của động từ. Cụm từ xác định loài ‘người’, nếu không thêm động từ ở thì hiện tại, quá khứ hoặc tương lai, thì không phải là một mệnh đề. Có thể hỏi làm thế nào mà cụm từ ‘một loài động vật có hai chân’ lại được gọi là đơn nhất; vì không phải việc các từ nối tiếp nhau không bị gián đoạn mới tạo nên tính thống nhất. Tuy nhiên, câu hỏi này nằm trong một nghiên cứu khác với khảo sát trước mắt chúng ta. Chúng ta gọi những mệnh đề là đơn nhất khi chúng chỉ ra một sự kiện duy nhất, hoặc sự kết hợp các phần của chúng tạo thành một thể thống nhất: mặt khác, những mệnh đề là riêng biệt và có số lượng nhiều, khi chúng biểu thị nhiều sự kiện, hoặc các phần của chúng không có sự kết hợp nào. Hơn nữa, chúng ta hãy thống nhất gọi một danh từ hoặc một động từ chỉ là một cách biểu hiện, chứ không phải là một mệnh đề, vì con người không thể nói theo cách này khi đang diễn đạt điều gì đó, theo cách tạo thành một tuyên bố, cho dù lời nói của họ là câu trả lời cho một câu hỏi hay một hành động do chính họ khởi xướng. Tóm lại: trong các mệnh đề, một loại là mệnh đề đơn giản, tức là mệnh đề khẳng định hoặc phủ định điều gì đó về một điều gì đó, loại kia là mệnh đề phức hợp, tức là mệnh đề được cấu thành từ các mệnh đề đơn giản. Một mệnh đề đơn giản là một tuyên bố có nghĩa, về sự hiện diện của một điều gì đó trong một chủ ngữ hoặc sự vắng mặt của nó, trong hiện tại, quá khứ hoặc tương lai theo các phân chia thời gian. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 6 [17a.23]: Ἔστι δ᾿ ἡ μὲν ἁπλῆ ἀπόφανσις φωνὴ σημαντικὴ περὶ τοῦ εἰ ὑπάρχει τι ἢ μὴ ὑπάρχει, ὡς οἱ χρόνοι διῄρηνται· κατάφασις δέ ἐστιν ἀπόφανσις τινὸς κατὰ τινός, ἀπόφασις δέ ἐστιν ἀπόφανσις τινὸς ἀπὸ τινός. ἐπεὶ δὲ ἔστι καὶ τὸ ὑπάρχον ἀποφαίνεσθαι ὡς μὴ ὑπάρχον καὶ τὸ μὴ ὑπάρχον ὡς ὑπάρχον καὶ τὸ ὑπάρχον ὡς ὑπάρχον καὶ τὸ μὴ ὑπάρχον ὡς μὴ ὑπάρχον, καὶ περὶ τοὺς ἐκτὸς δὲ τοῦ νῦν χρόνους ὡσαύτως, ἅπαν ἂν ἐνδέχοιτο καὶ ὃ κατέφησέ τις ἀποφῆσαι καὶ ὃ ἀπέφησε καταφῆσαι· ὥστε δῆλον ὅτι πάσῃ καταφάσει ἐστὶν ἀπόφασις ἀντικειμένη καὶ πάσῃ ἀποφάσει κατάφασις. καὶ ἔστω ἀντίφασις τοῦτο, κατάφασις καὶ ἀπόφασις αἱ ἀντικείμεναι· λέγω δὲ ἀντικεῖσθαι τὴν τοῦ αὐτοῦ κατὰ τοῦ αὐτοῦ, — μὴ ὁμωνύμως δέ, καὶ ὅσα ἄλλα τῶν τοιούτων προσδιοριζόμεθα πρὸς τὰς σοφιστικὰς ἐνοχλήσεις. Phiên bừa: Mục 6 [17a.23]: “Khẳng định là một tuyên bố tích cực về điều gì đó liên quan đến điều gì đó, còn phủ định là một tuyên bố tiêu cực. Giờ đây, có thể khẳng định và phủ định sự hiện diện của một thứ đang hiện hữu hoặc không hiện hữu, và vì những khẳng định và phủ định này cũng có thể được thực hiện đối với những thời điểm nằm ngoài hiện tại, nên có thể gặp mâu thuẫn với bất kỳ khẳng định hay phủ định nào. Như vậy, rõ ràng mọi khẳng định đều có một phủ định trái ngược, và tương tự, mọi phủ định đều có một khẳng định trái ngược. Vậy thì một cặp mệnh đề như vậy là mâu thuẫn. Những mệnh đề tích cực và tiêu cực được gọi là mâu thuẫn khi chúng có cùng chủ ngữ và vị ngữ. Tính đồng nhất của chủ ngữ và vị ngữ không được ‘mơ hồ’. Thực tế, ngoài ra còn có những điều kiện xác định khác có thể đưa ra để đối phó với những xảo lý của các nhà ngụy biện. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 7 [17a.38]: Ἐπεὶ δέ ἐστι τὰ μὲν καθόλου τῶν πραγμάτων τὰ δὲ καθ᾿ ἕκαστον, — λέγω δὲ καθόλου μὲν ὃ ἐπὶ πλειόνων πέφυκε κατηγορεῖσθαι, καθ᾿ ἕκαστον δὲ ὃ μή, οἷον ἄνθρωπος μὲν τῶν καθόλου Καλλίας δὲ τῶν καθ᾿ ἕκαστον, — ἀνάγκη δ᾿ ἀποφαίνεσθαι ὡς ὑπάρχει τι ἢ μή, ὁτὲ μὲν τῶν καθόλου τινί, ὁτὲ δὲ τῶν καθ᾿ ἕκαστον. ἐὰν μὲν οὖν καθόλου ἀποφαίνηται ἐπὶ τοῦ καθόλου ὅτι ὑπάρχει ἢ μή, ἔσονται ἐναντίαι ἀποφάνσεις, — λέγω δὲ ἐπὶ τοῦ καθόλου ἀποφαίνεσθαι καθόλου, οἷον πᾶς ἄνθρωπος λευκός, οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός· — ὅταν δὲ ἐπὶ τῶν καθόλου μέν, μὴ καθόλου δέ, οὐκ εἰσὶν ἐναντίαι, τὰ μέντοι δηλούμενα ἔστιν εἶναι ἐναντία, — λέγω δὲ τὸ μὴ καθόλου ἀποφαίνεσθαι ἐπὶ τῶν καθόλου, οἷον ἔστι λευκὸς ἄνθρωπος, οὐκ ἔστι λευκὸς ἄνθρωπος· καθόλου γὰρ ὄντος τοῦ ἄνθρωπος οὐχ ὡς καθόλου χρῆται τῇ ἀποφάνσει· τὸ γὰρ πᾶς οὐ τὸ καθόλου σημαίνει ἀλλ᾿ ὅτι καθόλου. — ἐπὶ δὲ τοῦ κατηγορουμένου τὸ καθόλου κατηγορεῖν καθόλου οὐκ ἔστιν ἀληθές· οὐδεμία γὰρ κατάφασις ἔσται, ἐν ᾗ τοῦ κατηγορουμένου καθόλου τὸ καθόλου κατηγορηθήσεται, οἷον ἔστι πᾶς ἄνθρωπος πᾶν ζῷον. Phiên bừa: Mục 7 [17a.38]: Một số thứ mang tính phổ quát, một số khác mang tính cá nhân. Thuật ngữ ‘phổ quát’ ở đây có nghĩa là những thứ có bản chất có thể được gán cho nhiều đối tượng, còn ‘cá nhân’ có nghĩa là những thứ không được gán như vậy. Ví dụ, ‘con người’ là một khái niệm phổ quát, ‘Callias’ là một khái niệm cá nhân. Các mệnh đề của chúng ta đôi khi liên quan đến một đối tượng phổ quát, đôi khi liên quan đến một đối tượng cá nhân. Nếu một người đưa ra một mệnh đề khẳng định và một mệnh đề phủ định có tính chất phổ quát đối với một khái niệm phổ quát, thì hai mệnh đề này là ‘trái ngược nhau’. Cụm từ ‘một mệnh đề có tính chất phổ quát đối với một khái niệm phổ quát’ ám chỉ những mệnh đề như ‘mọi người đều da trắng’, ‘không ai da trắng’. Mặt khác, khi các mệnh đề khẳng định và phủ định, mặc dù có liên quan đến một khái niệm phổ quát, nhưng lại không có tính chất phổ quát, thì chúng sẽ không trái ngược nhau, mặc dù ý nghĩa được dự định đôi khi là trái ngược nhau. Ví dụ về các mệnh đề được đưa ra liên quan đến một khái niệm phổ quát, nhưng không có tính chất phổ quát, ta có thể lấy các mệnh đề ‘con người da trắng’, ‘con người không da trắng’. ‘Con người’ là một khái niệm phổ quát, nhưng mệnh đề kia không được đưa ra với tính chất phổ quát; vì từ ‘mọi’ không làm cho chủ ngữ trở thành một khái niệm phổ quát, mà chỉ làm cho mệnh đề mang tính chất phổ quát. Tuy nhiên, nếu cả vị ngữ và chủ ngữ đều được phân chia, thì mệnh đề được cấu thành như vậy là trái với chân lý; trong những trường hợp như vậy, không một khẳng định nào là đúng. Mệnh đề ‘mọi người đều là mọi loài động vật’ là một ví dụ về loại này. Một khẳng định trái ngược với một phủ định theo nghĩa mà tôi dùng thuật ngữ ‘mâu thuẫn’, khi, trong khi chủ ngữ vẫn giữ nguyên, thì khẳng định mang tính chất phổ quát còn phủ định thì không. Khẳng định ‘mọi người đều da trắng’ là mâu thuẫn với phủ định ‘không phải mọi người đều da trắng’, hoặc mệnh đề ‘không ai da trắng’ mâu thuẫn với mệnh đề ‘một số là người da trắng’. Nhưng các mệnh đề được coi là đối lập khi cả khẳng định và phủ định đều mang tính phổ quát, như trong các câu ‘mọi người đều da trắng’, ‘không ai da trắng’, ‘mọi người đều công bằng’, ‘không ai công bằng’. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 7 [17b.16]: Ἀντικεῖσθαι μὲν οὖν κατάφασιν ἀποφάσει λέγω ἀντιφατικῶς τὴν τὸ καθόλου σημαίνουσαν τῷ αὐτῷ ὅτι οὐ καθόλου, οἷον πᾶς ἄνθρωπος λευκός — οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός — ἔστι τις ἄνθρωπος λευκός· ἐναντίως δὲ τὴν τοῦ καθόλου κατάφασιν καὶ τὴν τοῦ καθόλου ἀπόφασιν, οἷον πᾶς ἄνθρωπος δίκαιος — οὐδεὶς ἄνθρωπος δίκαιος· διὸ ταύτας μὲν οὐχ οἷόν τε ἅμα ἀληθεῖς εἶναι, τὰς δὲ ἀντικειμένας αὐταῖς ἐνδέχεται ἐπὶ τοῦ αὐτοῦ, οἷον οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, καὶ ἔστι τις ἄνθρωπος λευκός. ὅσαι μὲν οὖν ἀντιφάσεις τῶν καθόλου εἰσὶ καθόλου, ἀνάγκη τὴν ἑτέραν ἀληθῆ εἶναι ἢ ψευδῆ, καὶ ὅσαι ἐπὶ τῶν καθ᾿ ἕκαστα, οἷον ἔστι Σωκράτης λευκός — οὐκ ἔστι Σωκράτης λευκός· ὅσαι δ᾿ ἐπὶ τῶν καθόλου μὴ καθόλου, οὐκ ἀεὶ ἡ μὲν ἀληθὴς ἡ δὲ ψευδής· — ἅμα γὰρ ἀληθές ἐστιν εἰπεῖν ὅτι ἔστιν ἄνθρωπος λευκὸς καὶ ὅτι οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός, καὶ ἔστιν ἄνθρωπος καλὸς καὶ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος καλός· εἰ γὰρ αἰσχρός, καὶ οὐ καλός· καὶ εἰ γίγνεταί τι, καὶ οὐκ ἔστιν. — δόξειε δ᾿ ἂν ἐξαίφνης ἄτοπον εἶναι διὰ τὸ φαίνεσθαι σημαίνειν τὸ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός ἅμα καὶ ὅτι οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός· τὸ δὲ οὔτε ταὐτὸν σημαίνει οὔθ᾿ ἅμα ἐξ ἀνάγκης. — φανερὸν δ᾿ ὅτι καὶ μία ἀπόφασις μιᾶς καταφάσεως· τὸ γὰρ αὐτὸ δεῖ ἀποφῆσαι τὴν ἀπόφασιν ὅπερ κατέφησεν ἡ κατάφασις, καὶ ἀπὸ τοῦ αὐτοῦ, ἢ τῶν καθ᾿ ἕκαστά τινος ἢ ἀπὸ τῶν καθόλου τινός, ἢ ὡς καθόλου ἢ ὡς μὴ καθόλου· λέγω δὲ οἷον ἔστι Σωκράτης λευκός — οὐκ ἔστι Σωκράτης λευκός (ἐὰν δὲ ἄλλο τι ἢ ἀπ᾿ ἄλλου τὸ αὐτό, οὐχ ἡ ἀντικειμένη ἀλλ᾿ ἔσται ἐκείνης ἑτέρα), τῇ δὲ πᾶς ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, τῇ δὲ τὶς ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός, τῇ δὲ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός. Phiên bừa: Mục 7 [17b.16]: Ta thấy rằng trong một cặp mệnh đề như vậy, cả hai mệnh đề đều không thể cùng đúng, nhưng các mệnh đề trái ngược trong một cặp mệnh đề đối lập đôi khi đều có thể cùng đúng khi xét đến cùng một đối tượng; ví dụ, ‘không phải mọi người đều da trắng’ và ‘một số là người da trắng’ đều đúng. Đối với những mệnh đề khẳng định và phủ định tương ứng như vậy, khi xét đến các khái niệm phổ quát và có đặc trưng phổ quát, thì một mệnh đề phải đúng và mệnh đề kia phải sai. Điều này cũng đúng khi đối tượng được xét đến là các cá nhân, như trong các mệnh đề ‘Socrates da trắng’, ‘Socrates không phải da trắng’. Mặt khác, khi đối tượng được xét đến là các khái niệm phổ quát, nhưng các mệnh đề không mang tính phổ quát, thì không phải lúc nào một mệnh đề là đúng còn mệnh đề kia thì sai, bởi vì người ta có thể khẳng định đúng rằng con người da trắng và con người không da trắng, và con người đẹp và con người không đẹp; vì nếu một người bị dị dạng thì người đó trái ngược với cái đẹp, cũng như nếu người đó đang tiến gần đến cái đẹp thì người đó vẫn chưa đẹp. Thoạt nhìn, phát biểu này có vẻ mâu thuẫn, bởi vì mệnh đề ‘con người không phải là da trắng’ dường như tương đương với mệnh đề ‘không ai là người da trắng’. Tuy nhiên, điều này không đúng, và chúng cũng không nhất thiết phải cùng đúng hoặc cùng sai. Rõ ràng là sự phủ định tương ứng với một khẳng định duy nhất cũng là duy nhất; vì sự phủ định phải phủ định chính xác điều mà khẳng định khẳng định về cùng một chủ thể, và phải tương ứng với khẳng định cả về tính chất phổ quát hay cụ thể của chủ thể và về nghĩa phân tán hay không phân tán mà nó được hiểu. Ví dụ, khẳng định ‘Socrates là người da trắng’ có sự phủ định thích hợp của nó trong mệnh đề ‘Socrates không phải là người da trắng’. Nếu bất cứ điều gì khác được gán cho chủ thể một cách phủ định hoặc nếu bất cứ điều gì khác là chủ thể mặc dù vị ngữ vẫn giữ nguyên, thì sự phủ định sẽ không phải là sự phủ định thích hợp của khẳng định đó, mà là khác biệt. Sự phủ định thích hợp của khẳng định ‘mọi người đều là người da trắng’ là ‘không phải mọi người đều là người da trắng’; mệnh đề đúng với khẳng định ‘một số là người da trắng’ là ‘không ai là người da trắng’, trong khi mệnh đề đúng với khẳng định ‘người đàn ông là người da trắng’ là ‘người đàn ông không phải là người da trắng’. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

[Tr.24 tiếp] Aristotle tin rằng λόγος theo nghĩa định nghĩa mệnh đề, λόγος theo nghĩa phán đoán, rõ ràng thể hiện hiện tượng cơ bản của logic. Bởi vì, trước hết, λόγος là một thể thống nhất nguyên thủy. Mặc dù nó có thể được phân giải thành các khái niệm riêng lẻ, nhưng những yếu tố tách rời này vẫn không cấu thành nên toàn thể. Chúng thiếu chính xác sự thống nhất thiết yếu của chúng. Logos không phải là tổng hay tập hợp của hai khái niệm. Nhưng điều tạo nên sự thống nhất cuối cùng chính là điều thiết yếu trong νοεῖν tư duy, và trong διάνοεῖν ý hướng. Thứ hai, chỉ có sự thống nhất này mới thực sự đúng hoặc sai. Do đó, nó mang đặc điểm đặc trưng cho tri thức theo đúng nghĩa. Thời gian gần đây chính cân nhắc này cũng đã dẫn đến việc tìm kiếm cốt lõi của logic trong phán đoán và trong học thuyết về phán đoán. Không thể phủ nhận rằng có điều gì đó đúng đắn trong việc ưu tiên lý thuyết phán đoán (phát biểu) này - mặc dù những lý lẽ đưa ra vẫn còn khá hời hợt. Vì vậy, chúng tôi cũng muốn tập trung định hướng ban đầu của mình về các vấn đề cơ bản của logic từ Leibniz vào học thuyết phán đoán của ông và từ đó cố gắng vạch ra những đường nét chính của chúng vào chiều kích triết học của các vấn đề đã đề cập: tính quy luật của các nguyên tắc cơ bản, chân lý, khái niệm, nền tảng, tự do. Từ đó, chúng ta đi đến chủ đề chính của mình.

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

4. Still the best separate edition, with a (!ommentaIy by Theodor Waitz, Aristotelis Organon Graece, 2 volumes, (Leipzig, 1844 and 1846) [reprinted in Aalen in 19651.