Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI
C. Hoàn cảnh Môi trường và Tính không gian của Dasein
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính định hướng thuộc về việc xóa bỏ tách rời được xây dựng trên Hữu-thể-trong-thế-giới. Trái và phải không phải là thứ gì đó có tính ‘chủ quan’ mà chủ thể có cảm giác; chúng là hướng của trạng thái định hướng của ai đó vào một thế giới đã sẵn-có-để-dùng. ‘Chỉ bằng cảm giác về sự khác biệt giữa hai bên của tôi’ xxi, tôi không bao giờ có thể tìm được đường đi trong thế giới. Chủ thể với ‘cảm giác đơn thuần’ về sự khác biệt này là một kiến tạo được dựng đặt mà không xét đến trạng thái thực sự cấu thành nên bất kỳ chủ thể nào - đó là, bất cứ khi nào Dasein có ‘cảm giác đơn thuần’ như vậy, nó đã ở trong một thế giới và phải ở trong đó để có thể tự định hướng. Điều này trở nên rõ ràng từ ví dụ mà Kant cố gắng làm sáng tỏ hiện tượng định hướng. [Tr.144] Giả sử tôi bước vào một căn phòng quen thuộc nhưng tối tăm, và đã được sắp xếp lại trong thời gian tôi vắng mặt, sao cho mọi thứ trước đây ở bên phải tôi giờ đều ở bên trái tôi. Nếu tôi muốn định hướng bản thân, thì ‘cảm giác đơn thuần về sự khác biệt’ giữa hai bên sẽ hoàn toàn vô ích chừng nào tôi chưa nhận thức được một đối tượng cụ thể nào đó ‘mà vị trí của nó’, như Kant nhận xét một cách tình cờ, ‘tôi đang nghĩ đến’. Nhưng điều này có ý nghĩa gì ngoài việc bất cứ khi nào điều này xảy ra, tôi nhất thiết phải định hướng bản thân cả trong và từ sự hiện hữu của mình bên cạnh một thế giới ‘quen thuộc’?1 Bối cảnh-thiết bị của một thế giới hẳn đã được trình hiện cho Dasein.
Việc tôi đã ở trong một thế giới cũng có tính cấu thành đối với khả tính định hướng không kém gì cảm giác về phải và trái. Mặc dù trạng thái Hữu thể này của Dasein là một điều hiển nhiên, nhưng chúng ta không được phép bỏ qua vai trò cấu thành về mặt bản thể luận của nó. Ngay cả Kant cũng không bỏ qua nó, cũng như bất kỳ Diễn giải nào khác về Dasein. Tuy nhiên, thực tế thì đây là một trạng thái mà chúng ta liên tục sử dụng, không miễn trừ chúng ta khỏi việc đưa đến một lời giải thích bản thể luận phù hợp, mà đúng hơn là đòi hỏi một lời giải thích như vậy. Lối Diễn giải tâm lý theo đó cái ‘Tôi’ có cái gì đó ‘trong ký ức’ về bản chất là một cách ám chỉ đến trạng thái cấu thành hiện sinh của Hữu-thể-trong-thế-giới. Vì Kant không nhận ra cấu trúc này, ông cũng không nhận ra tất cả các mối liên hệ mà sự cấu thành của bất kỳ định hướng khả thể nào hàm ý. Trạng thái định hướng đối với phải và trái dựa trên tính định hướng thiết yếu của Dasein nói chung, và tính định hướng này đến lượt nó về cơ bản được đồng xác định bởi Hữu-thể-trong-thế-giới. Tất nhiên, ngay cả Kant cũng không coi định hướng là một chủ đề để Diễn giải. Ông chỉ muốn cho thấy rằng mọi định hướng đều cần một ‘nguyên tắc chủ quan’. Ở đây ‘chủ quan’ có nghĩa là nguyên tắc này là tiên nghiệm.2 Tuy nhiên, tính chất tiên nghiệm của trạng thái định hướng đối với phải và trái dựa trên tính tiên nghiệm ‘chủ quan’ của Hữu-thể-trong-thế-giới, không liên quan gì đến bất kỳ đặc tính xác định nào bị giới hạn trước đó đối với một chủ thể không có thế giới. Việc xóa bỏ tách rời và tính định hướng, với tư cách là những đặc điểm cấu thành của Hữu-thể-trong, mang tính quyết định đối với tính không gian của Dasein - đối với sự hiện hữu theo cách quan tâm và thận trọng của nó trong không gian, trong một không gian được khám phá và bên-trong-thế-giới. Chỉ có lời giải thích mà chúng ta vừa đưa ra về tính không gian của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới và tính không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới mới cung cấp các điều kiện tiên quyết để làm rõ hiện tượng tính không gian của thế giới và hình thành vấn đề bản thể luận về không gian.
24. Không gian và Tính không gian của Dasein
[Tr.145] Với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein đã khám phá ra một ‘thế giới’ bất cứ lúc nào. Khám phá này, được xây dựng trên Weltlichkeit tính thế gian của thế giới, là một khám phá mà chúng ta đã mô tả như là việc giải phóng các thực thể cho một tổng thể Beteiligung các can dự. Việc giải phóng một cái gì đó và cho phép nó can dự được thực hiện bằng cách quy chiếu hoặc tự gán cho mình một cách thận trọng, và điều này đến lượt nó dựa trên ý nghĩa mà kẻ đó đã hiểu trước đó. Giờ đây chúng ta đã chứng minh rằng Hữu-thể-trong-thế-giới thận trọng là có tính không gian. Và chỉ vì Dasein là không gian theo cách xóa bỏ tách rời và tính định hướng nên những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới mới có thể được chạm trán trong không gian của nó. Giải phóng tổng thể tính các can dự, mang tính thiết bị nguyên sơ, là để cho một cái gì đó được tham gia vào một vùng, và làm như vậy bằng cách xóa bỏ tách rời và tạo ra tính định hướng; điều này tương đương với việc giải phóng sự thuộc về không gian ở đâu đó của những thứ sẵn-có-để-dùng. Trong ý nghĩa mà Dasein (với tư cách là Hữu-thể-trong quan tâm) quen thuộc, nằm ở trạng thái đồng tiết lộ thiết yếu của không gian.3
Không gian được bộc lộ cùng với Weltlichkeit tính thế gian của thế giới vẫn thiếu đi tính đa tạp thuần túy của ba chiều. Trong trạng thái bộc lộ gần gũi nhất ấy với chúng ta, không gian, với tư cách là das reine ‘Worin’/ wherein cái trong-đó thuần túy mà trong đó các vị trí được sắp xếp theo phép đo và tình trạng của sự vật được xác định, vẫn còn ẩn giấu. Trong hiện tượng vùng mà chúng ta đã chỉ ra, trên cơ sở đó không gian được khám phá trước trong Dasein. Theo chúng tôi hiểu, ‘vùng’ ở đây được hiểu là wohin/ whither ‘nơi đến’ mà một bối cảnh thiết bị sẵn-có-để-dùng có thể thuộc về, khi bối cảnh đó có tính chất như thể nó được bắt gặp với tư cách xóa bỏ tách rời về hướng - tức là, như thể nó đã được đặt định.4 Trạng thái Gehorigkeit thuộc về này được xác định dựa trên ý nghĩa cấu thành nên thế giới, và nó diễn đạt ‘nơi đến’ và ‘nơi đi’ trong phạm vi ‘nơi đến’ khả thể. Nói chung, ‘nơi đến’ được quy định bởi một tổng thể tham chiếu đã được cố định trong một mối quan tâm ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’, và trong đó việc cho phép một thứ gì đó tham gia bằng cách giải phóng nó, tự gán cho nó. Với bất cứ thứ gì được bắt gặp với tư cách sẵn-có-để-dùng, luôn có sự can dự vào một vùng. Đối với tổng thể tính các can dự tạo nên cái Hữu-thể của cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới, có một sự can dự mang tính không gian vốn có đặc tính của một vùng. Do sự can dự như vậy, nên cái sẵn-có-để-dùng trở thành thứ mà chúng ta có thể bắt gặp và xác định là có hình dạng và phương hướng.5 Với Hữu thể thực sự của [tr.146] Dasein, những gì sẵn-có-để-dùng trong thế giới được Entfernung xóa bỏ khoảng cách* và được xác định hướng, tùy thuộc vào mức độ minh bạch có thể đạt được nhờ sự thận trọng quan tâm.
Khi chúng ta để cho các thực thể trong-thế-giới được bắt gặp theo cách thức cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế-giới, thì chúng ta ‘trao không gian cho chúng’. Việc ‘trao không gian’ này—điều mà ta cũng gọi là ‘dành chỗ’ cho chúng6—nằm ở việc giải phóng cái ‘sẵn-có-để-dùng’ để nó bộc lộ không gian tính của mình. Là một phương thức khám phá và trình hiện một tổng thể tính không gian khả thể được quy định bởi các cam kết, thì hành động ‘dành chỗ’ này chính là cái tạo điều kiện cho sự định hướng thực sự của một kẻ nào đó tại một thời điểm nhất định trở nên khả thể. Khi quan tâm theo cách sự thận trọng với thế giới, Dasein có thể di chuyển sự vật, dời chúng đi chỗ khác hoặc ‘dành chỗ’ cho chúng, chỉ bởi vì hành động ‘dành chỗ’—vốn được hiểu như một Hữu tính hiện sinh [existentiale số nhiều existentialia - là một cấu trúc hoặc đặc tính bản thể luận xác định phương thức hiện hữu cốt yếu của sự tồn tại người Dasein.]—thuộc về cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó. Tuy nhiên, cả vùng không gian đã được khám phá trước đó lẫn tính không gian hiện tại nói chung đều không phải là đối tượng được nhìn nhận một cách tường minh. Trong tự thân, nó hiện diện đối với sự thận trọng ấy ngay trong trạng thái kín đáo của những cái ‘sẵn-có-để-dùng’—những thứ mà sự thận trọng kia đang mải mê bận tâm tới. Cùng với Hữu-thể-trong-thế-giới, không gian được khám phá trước hết thông qua tính không gian này. Trên cơ sở tính không gian được khám phá như vậy, chính không gian mới trở nên có thể tiếp cận đối với nhận thức.
Không gian không nằm trong chủ thể, và thế giới cũng không nằm trong không gian. Thay vào đó, không gian nằm ‘trong’ thế giới, theo nghĩa không gian đã được bộc lộ bởi chính Hữu-thể-trong-thế-giới—cái cấu thành nên Dasein. Không gian không phải là thứ được tìm thấy trong chủ thể, và chủ thể cũng không quan sát thế giới ‘như thể’ thế giới đó nằm trong một không gian; trái lại, ‘chủ thể’ (Dasein)—nếu được hiểu đúng đắn về phương diện bản thể luận—vốn mang tính không gian. Và bởi vì Dasein mang tính không gian theo cách thức mà chúng ta đã mô tả, không gian tự biểu lộ như một cái gì đó có tính a priori tiên nghiệm. Thuật ngữ này không hàm ý một điều gì đó thuộc về chủ thể ngay từ trước—một chủ thể vốn ban đầu chưa có thế giới và tự mình phát lộ ra không gian. Ở đây, apriority tính ‘tiên nghiệm’ có nghĩa là tính chất ‘có trước’ mà theo đó không gian được bắt gặp (như một vùng) mỗi khi các sự vật ‘sẵn-có-để-dùng’ được bắt gặp về phương diện môi trường.
Tính không gian của những gì ta bắt gặp trước hết thông qua sự thận trọng có thể trở thành chủ đề cho chính sự thận trọng đó, cũng như trở thành nhiệm vụ cho việc tính toán và đo đạc, chẳng hạn như trong các hoạt động xây dựng và trắc địa. Việc chủ đề hóa tính chất không gian của môi trường như vậy, về cơ bản, vẫn là một hành vi của sự thận trọng – qua đó, bản thân không gian đã hiện ra theo một cách thức nhất định. Không gian tự bộc lộ theo cách này có thể được nghiên cứu thuần túy bằng sự quan sát, miễn là ta từ bỏ phương thức tiếp cận duy nhất trước đây: sự tính toán dựa trên quan sát định hướng. Khi không gian được ‘trực giác hóa về phương diện hình thức’, thì các khả tính thuần túy [tr.147] của những mối quan hệ không gian sẽ được khám phá. Tại đây, ta có thể trải qua một loạt các giai đoạn để làm lộ rõ không gian thuần túy đồng nhất: từ hình thái học thuần túy của các dạng thức không gian, chuyển sang analysis situs (phân tích vị trí - mô tả giai đoạn thứ hai trong quá trình không gian thuần túy, đồng nhất được trừu tượng hóa một cách khoa học từ môi trường sống thực tiễn của chúng ta), và cuối cùng là khoa học về không gian thuần túy mang tính đo đạc. Trong nghiên cứu hiện tại, chúng tôi sẽ không xem xét mối liên hệ giữa tất cả các yếu tố này.xxii Vấn đề trọng tâm của chúng tôi chỉ nhằm xác lập – trên bình diện bản thể luận – cơ sở hiện tượng luận để từ đó có thể biến việc khám phá không gian thuần túy thành một chủ đề nghiên cứu và triển khai nó.
Khi không gian được khám phá theo lối phi-cẩn trọng – tức là chỉ thông qua sự quan sát thuần túy – thì các vùng môi trường sẽ bị trung hòa thành những chiều kích thuần túy. Các địa điểm – và thực ra là tổng thể tính các địa điểm thuộc về các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ vốn được định hướng bởi sự quan sát thực tiễn – đều bị quy giản thành vô số vị trí dành cho các Sự vật ngẫu nhiên. Không gian tính của những gì ‘sẵn-có-để-dùng’ bên-trong-thế-giới sẽ mất đi đặc tính ‘can dự’ của nó, và bản thân các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ cũng mất đi tính chất đó. Thế giới mất đi tính chất ‘hoàn cảnh’ đặc thù của nó; môi trường trở thành thế giới của Tự nhiên. ‘Thế giới’ – vốn là tổng thể tính các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ – bị không gian hóa thành một bối cảnh các Sự vật có quảng tính, vốn chỉ đơn thuần ‘hiện-diện-vô-tri’ không hơn. Không gian đồng nhất của Tự nhiên chỉ tự bộc lộ khi các thực thể mà ta bắt gặp được khám phá theo cách thức mà trong đó, tính chất thế gian của các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ bị tước bỏ đi chính cái Weltlichkeit/ Worldhood ‘tính thế gian’ của nó.7
Dựa trên cấu trúc ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ của mình, Dasein luôn thấy không gian hiện ra như một cái gì đó đã được khám phá, mặc dù không phải dưới dạng một chủ đề nghiên cứu tường minh. Mặt khác, bản thân không gian – xét theo khía cạnh nó bao hàm các khả tính thuần túy về Hữu-thể-không-gian của một sự vật – thì thoạt đầu vẫn còn bị che giấu. Việc không gian tự bộc lộ một cách cốt yếu bên trong một thế giới vẫn chưa phải là yếu tố quyết định đối với loại Hữu thể mà nó sở hữu. Không nhất thiết không gian phải mang loại Hữu thể đặc trưng của một vật thể vốn ‘sẵn-có-để-dùng’ hay ‘hiện-diện-vô-tri’ trong không gian. Kiểu Hữu thể của không gian cũng không phải là kiểu Hữu thể thuộc về Dasein. Mặc dù bản thân Hữu thể của không gian không thể được quan niệm như kiểu Hữu thể thuộc về một res extensa vật thể có quảng tính, nhưng điều đó không có nghĩa là nó phải được định nghĩa về mặt bản thể luận như là một ‘hiện tượng’ của một vật thể như vậy. (Nếu vậy, xét về mặt Hữu thể, nó sẽ không thể phân biệt được với một vật thể như vậy.) Cũng không thể đồng nhất Hữu thể của không gian với Hữu thể của res cogitans thực thể tư duy và coi nó thuần túy là ‘mang tính chủ thể’—chưa kể đến bản chất đầy nghi vấn của Hữu thể của một chủ thể như thế.
Việc diễn giải về Hữu thể của không gian cho đến nay vẫn là một vấn đề gây bối rối; nguyên nhân không hẳn nằm ở chỗ chúng ta chưa am hiểu đầy đủ về nội dung của chính không gian như một sự vật, [tr.148] mà chủ yếu là do các khả tính của Hữu thể nói chung chưa thực sự minh bạch về mặt nguyên tắc, đồng thời còn thiếu vắng một sự diễn giải chúng dựa trên các khái niệm bản thể luận. Để thấu hiểu vấn đề bản thể luận về không gian, thì tầm quan trọng quyết định là phải giải phóng câu hỏi về Hữu thể khỏi sự hạn hẹp của những khái niệm vốn có một cách ngẫu nhiên và phần lớn còn thô sơ; đồng thời, cần định hướng việc khảo sát vấn đề Hữu thể của không gian (xét cả về chính hiện tượng này lẫn các dạng thức không gian tính hiện tượng khác nhau) sao cho làm sáng tỏ được các khả tính của Hữu thể nói chung. Trong hiện tượng không gian, ta không tìm thấy đặc tính bản thể luận tiên khởi cái Hữu thể của các thực thể bên-trong-thế-giới — dù là đặc tính duy nhất hay chỉ là một trong số nhiều đặc tính. Không gian càng không phải là yếu tố cấu thành nên hiện tượng ‘thế giới’. Nếu không quay về với ‘thế giới’, ta không thể quan niệm được không gian. Không gian chỉ trở nên có thể tiếp cận khi môi trường xung quanh bị tước bỏ cái thế-gian của nó; và không gian tính hoàn toàn không thể được khám phá nếu không dựa trên nền tảng của ‘thế giới’. Quả thực, không gian vẫn là một trong những yếu tố cấu thành nên ‘thế giới’, cũng như không gian tính của chính Dasein là thiết yếu đối với trạng thái cơ bản Hữu-thể-trong-thế-giới của nó.8
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’9
[Tr.149] Phân tích của chúng ta về cái thế-gian của thế giới luôn hướng tới việc đưa toàn bộ hiện tượng Hữu-thể-trong-thế-giới vào tầm nhìn, mặc dù không phải tất cả các hạng mục cấu thành của nó đều bộc lộ rõ nét ở cấp độ hiện tượng như tự thân hiện tượng thế giới. Chúng ta đã diễn giải ‘thế giới’ về phương diện bản thể luận thông qua cái ‘sẵn-có-để-dùng’ bên-trong-thế-giới; và cách Diễn giải này được ưu tiên hàng đầu vì Dasein — trong đời sống thường nhật (vốn là chủ đề nghiên cứu xuyên suốt về Dasein) — không chỉ tồn tại trong một thế giới mà còn định hình thái độ của mình đối với thế giới đó bằng một loại Hữu thể chủ đạo. Trước hết và phần lớn, Dasein bị cuốn hút vào thế giới của nó. Do đó, Dasein đắm mình trong thế giới; kiểu Hữu thể mà nó sở hữu theo cách này, và nhìn chung là cái Hữu-thể-trong vốn làm nền tảng cho nó, đóng vai trò thiết yếu trong việc xác định đặc tính của hiện tượng mà chúng ta sắp nghiên cứu. Chúng ta sẽ tiếp cận hiện tượng này bằng cách đặt câu hỏi: Dasein là ai trong đời sống thường nhật của nó? Tất cả các cấu trúc Hữu thể thuộc về Dasein, cùng với hiện tượng vốn cung cấp câu trả lời cho câu hỏi về cái ‘ai’ này, đều là các phương thức của Hữu thể của nó. Việc mô tả các cấu trúc này về phương diện bản thể luận cũng chính là mô tả các cấu trúc đó về phương diện hiện sinh.
Vì vậy, chúng ta phải đặt câu hỏi một cách đúng đắn và phác thảo cái quy trình đưa một phạm vi hiện tượng rộng lớn hơn về đời sống thường nhật của Dasein vào tầm nhìn. Bằng cách định hướng nghiên cứu vào cái hiện tượng mang lại lời đáp cho câu hỏi về cái ‘ai’, chúng ta sẽ được dẫn dắt đến những cấu trúc nhất định của Dasein vốn có tính đồng khởi thủy với Hữu-thể-trong-thế-giới: đó là Mitsein Hữu-thể-với và Mitdasein Dasein-với. Phương thức Hữu-thể-của-ai-đó-Tự-thân hàng ngày này được đặt nền tảng trong loại Hữu thể này; việc lý giải phương thức này sẽ cho phép chúng ta nhận diện cái có thể gọi là ‘chủ thể’ của đời sống thường nhật – tức là cái ‘Chúng/Họ’. Chương bàn về cái ‘ai’ của Dasein ở mức độ trung bình sẽ được chia thành các phần như sau: 1. Tiếp cận câu hỏi hiện sinh về cái ‘ai’ của Dasein (Mục 25); 2. Cái ‘Dasein-với’ của những Kẻ khác và Hữu-thể-với thường nhật (Mục 26); 3. Hữu-thể-của-ai-đó-Tự-thân hàng ngày và cái ‘Chúng/Họ’ (Mục 27).
25. Tiếp cận Câu hỏi Hiện sinh về cái ‘Ai’ của Dasein
Lời đáp cho câu hỏi Dasein là ai dường như đã được đưa ra ở Mục 9, nơi chúng ta đã chỉ ra một cách hình thức các đặc điểm cơ bản của Dasein. Dasein là một thực thể mà trong mỗi trường hợp chính là bản thân Tôi; Hữu thể của nó, trong mỗi trường hợp, là của tôi. Định nghĩa này chỉ ra một trạng thái mang tính cấu thành về mặt bản thể luận, nhưng nó mới chỉ dừng lại ở mức độ chỉ ra trạng thái đó mà thôi. Đồng thời, điều này cho chúng ta biết về mặt ontic thực hữu (dù theo cách thức sơ lược) rằng trong mỗi trường hợp, chính ‘Tôi’ – chứ không phải những Kẻ khác – là thực thể này. Câu hỏi về việc cái ‘ai’ tự tìm thấy lời giải đáp trong khuôn khổ của bản thân cái ‘Tôi’, cái ‘chủ thể’, cái ‘Tự ngã’.10 Cái ‘ai’ ở đây là cái tự duy trì sự đồng nhất của chính mình xuyên suốt những biến đổi trong các trải nghiệm và cách thức hành xử, đồng thời tự liên hệ tính đa tạp luôn biến đổi đó trong quá trình ấy. Về mặt hữu thể luận, ta hiểu nó như một cái gì đó luôn hiện-diện-vô-tri trong mỗi trường hợp – vừa ở trong vừa dành cho một phạm vi khép kín – và đóng vai trò cơ sở, theo một nghĩa rất đặc biệt, với tư cách là cái subjectum chủ thể. Là một cái gì đó đồng nhất giữa muôn vàn sự khác biệt,11 nó mang đặc tính của cái ‘Tự ngã’. Ngay cả khi ta bác bỏ khái niệm ‘bản chất linh hồn’ và cái Dinglichkeit/Thinghood trạng thái Sự vật của ý thức, hay phủ nhận việc coi con người là một khách thể, thì về phương diện bản thể luận, ta vẫn đang mặc nhiên thừa nhận một cái gì đó mà Hữu thể của nó mang ý nghĩa hiện-diện-vô-tri — bất kể điều này có được thừa nhận một cách tường minh hay không. Tính substantiality chất thể chính là manh mối bản thể luận để xác định thực thể nào sẽ đưa ra lời đáp cho câu hỏi cái ‘ai’. Dasein thường được mặc nhiên hình dung từ trước như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri. Ý nghĩa này của Hữu thể luôn tiềm ẩn trong mọi trường hợp mà cái Hữu thể của Dasein chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, hiện-diện-vô-tri lại là kiểu Hữu thể đặc trưng cho những thực thể không mang đặc tính của Dasein.
Việc khẳng định rằng chính tôi là kẻ hiện hữu trong mỗi trường hợp của Dasein là điều hiển nhiên về mặt ontisch thực hữu; nhưng điều này không được khiến ta lầm tưởng rằng con đường dẫn đến Diễn giải về mặt bản thể luận đối với những gì ‘được cho’ theo cách này đã được vạch ra một cách chắc chắn và không thể nhầm lẫn. Thực ra, vẫn còn một câu hỏi bỏ ngỏ là liệu nội dung thuần túy mang tính thực hữu của khẳng định trên có thực sự phản ánh đúng bản chất của các hiện tượng thuộc về Dasein trong đời sống thường nhật hay không. Có thể cái ‘ai’ của Dasein thường nhật lại không phải là cái ‘bản thân Tôi’. [Tr.151] Nếu việc đưa ra các khẳng định mang tính thực hữu –bản thể luận thì khẳng định đó đòi hỏi phải trình bày các hiện tượng theo khuôn khổ của chính loại Hữu thể mà tự thân các thực thể sở hữu, và nếu cách trình bày này cần giữ được vị thế ưu tiên so với cả những câu trả lời thông thường, hiển nhiên nhất cũng như so với bất kỳ cách đặt vấn đề nào bắt nguồn từ những câu trả lời đó, thì việc Diễn giải hiện tượng luận về Dasein cần phải được bảo vệ trước nguy cơ sai lệch trong cách đặt vấn đề khi chúng ta tiếp cận câu hỏi sắp được nêu ra. Tuy nhiên, chẳng phải là trái với các quy tắc của mọi phương pháp đúng đắn hay sao khi tiếp cận một vấn đề mà không bám sát vào những gì được coi là hiển nhiên trong phạm vi chủ đề của chúng ta? Và còn điều gì chắc chắn hơn cái trạng thái được cho của cái ‘Tôi’? Chẳng phải trạng thái được cho này bảo cho chúng ta rằng nếu muốn làm sáng tỏ vấn đề một cách nguyên thủy, ta phải gạt bỏ mọi thứ khác cũng ‘được cho’ – không chỉ là một ‘thế giới’ đang hiện hữu, mà thậm chí cả cái Hữu thể của những cái ‘Tôi’ khác hay sao? Kiểu ‘cho’ mà chúng ta có ở đây chỉ là nhận thức mang tính phản tư, thuần túy và có tính hình thức về cái ‘Tôi’; và có lẽ cái mà nó cho đó quả thực là hiển nhiên. 12 Sự thấu hiểu này thậm chí còn mở ra một hướng tiếp cận hiện tượng luận theo đúng nghĩa, mà về nguyên tắc, hướng tiếp cận này mang ý nghĩa thiết lập một khuôn khổ như là một ‘hiện tượng học hình thức về ý thức’.
Trong bối cảnh phân tích hiện sinh về Dasein thực tại, nảy sinh câu hỏi liệu việc xác định cái ‘Tôi’ theo cách đã nêu có thực sự là bộc lộ Dasein trong tính thường nhật của nó hay không – hay liệu nó có thực sự bộc lộ Dasein chút nào không. Liệu có hiển nhiên một cách a priori tiên nghiệm rằng việc tiếp cận Dasein chỉ có thể đạt được thông qua nhận thức phản tư thuần túy về cái ‘Tôi’ của các hành động hay không? Điều gì xảy ra nếu kiểu ‘tự-cho' này của Dasein lại dẫn dắt sự phân tích hiện sinh của chúng ta đi chệch hướng, và thực sự lại làm điều đó theo một cách bắt rễ ngay trong chính Hữu thể của tự thân Dasein? Có lẽ khi Dasein tự hướng về chính mình theo cách gần gũi nhất, nó luôn nói ‘Tôi là thực thể này’, và về lâu dài, nó lại nói điều đó to nhất ngay khi nó ‘không’ phải là thực thể này. Dasein trong mỗi trường hợp đều là của tôi, và đây chính là cấu trúc của nó; nhưng sẽ ra sao nếu đây lại chính là lý do khiến cho, ở mức độ trực tiếp và phổ biến nhất, Dasein lại không phải là chính nó? Sẽ ra sao nếu cách tiếp cận đã nêu—vốn bắt đầu với trạng thái đem cho của cái ‘Tôi’ đối với chính Dasein, cùng với một sự tự-diễn-giải khá hiển nhiên về Dasein—lại dẫn dắt phân tích hiện sinh rơi vào một cái bẫy? Nếu những gì có thể tiếp cận được nhờ việc ‘đem cho’ đơn thuần có thể được xác định, thì hẳn phải có một chân trời bản thể luận để xác định nó; nhưng sẽ ra sao nếu chân trời này, về mặt nguyên tắc, vẫn không thể xác định được? Rất có thể việc nói về thực thể này rằng ‘Tôi’ là nó luôn đúng đắn ở bình diện ontic thực hữu. Tuy nhiên, việc phân tích bản thể luận khi sử dụng những khẳng định như vậy, về nguyên tắc vẫn phải đặt ra những dè dặt nhất định về chúng. Từ ‘Tôi’ chỉ nên [tr.152] được hiểu theo nghĩa là một chỉ dấu hình thức không mang tính cam kết, biểu thị một điều gì đó có thể sẽ tự bộc lộ như là ‘cái đối lập’ với chính nó trong một bối cảnh hiện tượng cụ thể nào đó của Hữu thể. Trong trường hợp đó, cái ‘không-Tôi’ hoàn toàn không đồng nghĩa với một thực thể thiếu vắng Ichheit ‘Tôi-tính’, mà đúng hơn là một kiểu Hữu thể xác định mà tự thân cái ‘Tôi’ sở hữu, chẳng hạn như trạng thái Selbstverlorenheit đánh mất chính mình.
[Chen ngang: Ichheit ‘Tính Tôi’ ở Martin Heidegger biểu thị khái niệm siêu hình học truyền thống về Tự ngã, Tự ngã tính, hoặc chủ thể tính vốn hoàn toàn xoay quanh một cái ‘Tôi’ biệt lập. Khi phê phán về cái Tôi và bác bỏ Chủ thể biệt lập Heidegger cho rằng việc khởi đầu triết học từ Ichheit —Tính Tôi thuần túy, có sẵn của Descartes hay của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm—là một sai lầm. Một chủ thể trần trụi hay một cái tôi biệt lập không bao giờ tồn tại độc lập ngay từ đầu. Hữu-thể-trong-thế-giới - Hiện hữu người Dasein luôn gắn liền với thế giới và được chia sẻ cùng Mitsein những kẻ khác. Việc tập trung vào Ichheit khiến ta bỏ lỡ thực tại mang tính tương quan nền tảng này. Heidegger truy nguyên cách triết học hiện đại đề cao Ichheit thành nền tảng tối hậu cho mọi chân lý và thực tại - Đối với Heidegger, sự cố chấp vào Ichheit giam hãm tư duy con người trong khuôn khổ chủ quan, che khuất tầm nhìn của chúng ta trước câu hỏi lớn hơn về chính Hữu thể. Bản chất đích thực của cái tôi được tìm thấy khi ta bước ra khỏi ‘nhà tù’ của cái tôi này để đến với sự cởi mở mang tính tương quan. HHN]
Tuy nhiên, ngay cả Diễn giải tích cực về Dasein mà chúng ta đã đưa ra cho đến nay cũng đã ngăn cản chúng ta bắt đầu với tính cho sẵn hình thức của cái ‘Tôi’, nếu mục đích của chúng ta là trả lời câu hỏi về cái ‘ai’ theo một cách thỏa đáng về mặt hiện tượng. Khi làm sáng tỏ khái niệm Hữu-thể-trong-thế-giới, chúng ta đã chỉ ra rằng một chủ thể trơ trọi, không có thế giới, thì không bao giờ ‘hiện hữu’ theo nghĩa trực tiếp, cũng như không bao giờ được đưa ra như một sự hiện diện được cho sẵn. Như vậy, xét cho cùng, một cái ‘Tôi’ biệt lập – tách rời khỏi những ‘Kẻ khác’ – hoàn toàn không phải là cái được ban cho một cách trực tiếp, gần gũi. Tuy nhiên, nếu những ‘Kẻ khác’ đã hiện diện cùng ta trong cấu trúc Hữu-thể-trong-thế-giới, và nếu điều này được xác nhận về phương diện hiện tượng, thì thực tế đó cũng không được phép khiến ta lầm tưởng rằng cấu trúc bản thể luận của cái được ‘ban cho’ như vậy là điều hiển nhiên, không cần phải khảo sát thêm. Nhiệm vụ của chúng ta là làm bộc lộ về mặt hiện tượng kiểu tồn tại mà ‘Dasein-với’ – trong tính thường nhật gần gũi nhất – thuộc về kiểu tồn tại đó, đồng thời diễn giải nó theo một cách thức thích hợp về mặt bản thể luận. Cũng như tính hiển nhiên về mặt ontic thực hữu của Hữu-thể-trong-tự-thân của các thực thể bên-trong- thế-giới khiến ta lầm tưởng rằng ý nghĩa của cái Hữu thể này là hiển nhiên về mặt bản thể luận, đồng thời làm ta bỏ qua hiện tượng thế giới, thì tính hiển nhiên về mặt thực hữu của sự kiện mà Dasein trong mỗi trường hợp đều là của tôi cũng che giấu cái khả tính là vấn đề bản thể luận vốn thuộc về nó đã bị dẫn đi sai hướng. Trước hết, cái ‘ai’ của Dasein không chỉ là một vấn đề về mặt bản thể luận; ngay cả về mặt thực hữu, nó vẫn bị che giấu. Nhưng liệu điều này có nghĩa là không có bất kỳ manh mối nào để trả lời câu hỏi về cái ‘ai’ bằng cách phân tích hiện sinh? Chắc chắn là không.
Trong số các cách thức mà chúng ta đã chỉ ra một cách hình thức về cấu thành của Hữu thể Dasein ở các Mục 9 và 12 nêu trên, thì cái cách thức mà chúng ta đang thảo luận tất nhiên không đóng vai trò là manh mối hiệu quả bằng cách thức coi ‘Bản chất’ của Dasein được đặt nền tảng trên sự tồn tại của chính nó.13 Nếu cái ‘Tôi’ là một đặc tính cốt yếu của Dasein, thì nó phải được diễn giải về phương diện hiện sinh. Trong trường hợp đó, cái ‘Ai?’ chỉ có thể được giải đáp bằng cách phô bày—về mặt hiện tượng—một loại Hữu thể xác định mà Dasein sở hữu. Nếu Dasein trong mỗi trường hợp chỉ là Tự Ngã của nó đang tồn tại, thì tính nhất quán của cái Tự ngã—cũng như cái [tr.153] khả tính ‘không thể tự đứng vững’14 của nó—đòi hỏi chúng ta phải đặt ra câu hỏi này về phương diện hiện sinh và bản thể luận với tư cách là lối tiếp cận duy nhất thích hợp đối với vấn đề này. Tuy nhiên, nếu cái Tự Ngã chỉ được quan niệm như một cung cách Hữu thể của thực thể này, thì điều đó dường như đồng nghĩa với việc làm tan biến ‘cốt lõi’ thực sự của Dasein. Mọi nỗi e ngại nảy sinh từ quan điểm này đều bắt nguồn từ một giả định sai lầm: cho rằng cái thực thể đang được xét đến—về bản chất— là loại Hữu thể vốn thuộc về cái gì đó hiện-diện-vô-tri, ngay cả khi ai đó không hề gán cho nó tính rắn chắc của một Vật thể hữu hình hiện diện cụ thể. Song, ‘bản chất’ của con người không phải là tinh thần với tư cách là sự tổng hợp giữa linh hồn và thể xác; mà đúng hơn, đó chính là tồn tại.
26. Dasein-với của những Kẻ khác và Hữu-thể-với Thường nhật.
Lời đáp cho câu hỏi về cái ‘ai’ của Dasein thường nhật có thể đạt được thông qua việc phân tích loại Hữu-thể mà trong đó Dasein duy trì chính mình một cách gần gũi và trong phần lớn thời gian. Cuộc khảo sát của chúng ta định hướng từ Hữu-thể-trong-thế-giới — trạng thái cơ bản của Dasein, yếu tố đồng-quyết định mọi phương thức Hữu thể của nó. Nếu nhận định của chúng ta là đúng ở chỗ bằng việc giải thích về thế giới ở trên, các hạng mục cấu trúc còn lại của Hữu-thể-trong-thế-giới đã bắt đầu bộc lộ — thì điều này hẳn cũng đã chuẩn bị cho chúng ta, theo một cách nào đó, để trả lời câu hỏi về cái ‘ai’. Trong phần ‘mô tả’ về môi trường gần gũi nhất với chúng ta — chẳng hạn như thế giới-công việc của người thợ thủ công — kết quả cho thấy rằng, bên cạnh các thiết bị hiện diện khi ta đang làm việc, thì những Kẻ khác — còn ‘bắt gặp’ cả những kẻ mà ‘sản phẩm’ đó hướng tới.15 Nếu các thiết bị đó là ‘sẵn-có-để-dùng’, thì trong loại Hữu thể vốn thuộc về nó (tức là trong sự can dự/tương quan của nó) ẩn chứa một sự quy chiếu hoặc chỉ dấu thiết yếu đến những kẻ có thể sử dụng nó — chẳng hạn như người mà nó cần được ‘may đo cho vừa vặn’. Tương tự, khi sử dụng nguyên liệu, ta bắt gặp người sản xuất hoặc ‘nhà cung cấp’ của nó như một người ‘phục vụ’ tốt hoặc tồi. Ví dụ, khi ta đi dọc theo một cánh đồng nhưng lại ở ‘bên ngoài nó’, cánh đồng đó hiện ra như thuộc về một người nào đó và được họ chăm sóc chu đáo; cuốn sách ta đã dùng được mua tại cửa hàng của một người nào đó và do [tr.154] một người nào đó tặng, v.v. Chiếc thuyền neo đậu bên bờ, trong chính Hữu-thể-tự-thân của nó, được gắn kết với một người quen — người thường thực hiện các chuyến hải trình trên đó; nhưng ngay cả khi đó là một ‘chiếc thuyền xa lạ’ đối với ta thì nó vẫn là dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của những Kẻ-khác. Những Kẻ-khác ‘bắt gặp’ theo cách này — trong bối cảnh môi trường của các công cụ/vật dụng ‘sẵn-có-để-dùng’ — không phải là những thực thể được tư duy thêm vào một Sự vật vốn chỉ đang hiện-diện-vô-tri một cách thuần túy; những ‘Sự vật’ như vậy được bắt gặp từ chính thế giới nơi chúng hiện diện dưới dạng sẵn-có-để-dùng đối với những Kẻ-khác — một thế giới mà ngay từ đầu cũng luôn là thế giới của chính tôi. Trong phần phân tích trước, phạm vi của những gì được bắt gặp bên-trong-thế-giới ban đầu đã được thu hẹp lại thành các thiết bị sẵn-có-để-dùng hoặc Tự nhiên hiện-diện-vô-tri, và do đó là những thực thể có đặc tính khác biệt so với Dasein. Sự hạn chế này là cần thiết không chỉ để đơn giản hóa việc lý giải, mà quan trọng hơn là vì loại Hữu thể thuộc về Dasein của những Kẻ-khác — khi ta bắt gặp họ trong-thế-giới—lại khác biệt so với tính sẵn-có-để-dùng và hiện-diện-vô-tri. Như vậy, thế giới của Dasein giải phóng những thực thể không chỉ hoàn toàn khác biệt với thiết bị và các Sự vật, mà còn phù hợp với loại Hữu thể của chính chúng với tư cách là Dasein— ‘trong’ cái thế giới đồng thời được bắt gặp, và chúng tồn tại ‘trong’ nó bằng phương thức Hiện-hữu-trong-thế-giới.16
Những thực thể này không phải là hiện-diện-vô-tri hay sẵn-có-để-dùng; trái lại, chúng giống như chính Dasein vốn đã giải phóng chúng, ở chỗ chúng cũng có đó, và có đó cùng với Dasein kia. Do đó, nếu muốn đồng nhất thế giới nói chung với các thực thể bên-trong-thế-giới, ta buộc phải nói rằng bản thân Dasein cũng là ‘thế giới’.17 Như vậy, khi mô tả việc bắt gặp những Kẻ-khác, trong mỗi trường hợp ta vẫn luôn định hướng dựa trên Dasein của chính mình. Tuy nhiên, ngay cả trong cách mô tả này, liệu ta có đang bắt đầu bằng việc xác định và tách biệt cái ‘Tôi’ để rồi sau đó phải tìm cách bước sang phía những Kẻ-khác từ chủ thể bị cô lập ấy hay không? Để tránh sự hiểu lầm này, ta cần lưu ý đến ý nghĩa của cụm từ ‘những-Kẻ-khác’. Bằng ‘những-Kẻ-khác’, ta không có ý nói đến tất cả những kẻ khác ngoài tôi—những kẻ mà cái ‘Tôi’ đứng tách biệt đối lập với họ. Thay vào đấy, đó là những kẻ mà ta thường không tách biệt bản thân mình khỏi họ—những kẻ mà ta cũng hiện diện cùng bọn họ. Cái Hữu-thể-có-đó này không mang tính chất bản thể luận của một Hữu-hể-hiện-diện-vô-tri-cùng-với [Vorhandensein] chúng/họ bên trong một thế giới. Từ ‘cùng’ này mang đặc tính của Dasein; còn từ ‘cũng’ biểu thị tính giống hệt của Hữu thể, với tư cách là sự Hữu-thể-trong-thế-giới quan tâm và cẩn trọng. Các từ ‘cùng’ và ‘cũng’ cần được hiểu theo nghĩa existentially bản tính hiện sinh, chứ không phải theo nghĩa categorially phạm-trù-học. Chính vì nguyên do mithaft gắn kết Hữu-thể-trong-thế-giới này mà thế giới luôn là thế giới tôi chia sẻ với những Kẻ-khác. Thế giới của Dasein là một thế-giới-cùng-với [Mitwelt]. Hiện-hữu-trong chính là Hiện-hữu-cùng với Những-người-khác. Cái Hữu-thể-tự-thân của chúng/họ bên-trong-thế-giới chính là Dasein-cùng-với [Mitdasein]. Khi bắt gặp ‘Kẻ khác’, thì đó không phải là trường hợp mà cái chủ thể của chính mình hiện-diện-vô-tri ngay ở đó, và phần còn lại của các chủ thể —vốn cũng là những thực thể hiện hữu—mới được phân biệt và nhận thức; cũng không phải họ được bắt gặp thông qua hành động tiên khởi là nhìn vào bản thân để xác định cực đối lập của một sự phân biệt. Chúng được thấy từ chính thế giới—nơi mà Dasein, với sự quan tâm và cẩn trọng, thực sự cư ngụ. Các ‘giải thích’ lý thuyết dựng đặt về cái Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của những Kẻ khác rất dễ lấn át tư duy chúng ta; nhưng đối lập với những cách giải thích đó, ta phải kiên định với các sự kiện mang tính hiện tượng đã được chỉ ra, cụ thể là Kẻ khác được bắt gặp trong bối cảnh môi trường xung quanh.
____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘… in und aus einem je schon sein bei einer "bekannten" Welt.' The
earlier editions have 'Sein' for 'sein'.
2 Here we follow the later editions in reading ‘…bedeuten woüen : a priori.’ The earlier editions omit the colon, making the passage ambiguous.
3 ‘… die wesenhafte Miterschlossenheit des Raumes.'
4 'Wir verstehen sie als das Wohin der moglichen Zugehorigkeit des zuhandenen Zeugzusammenhanges, der als ausgerichtet entfernter, d. h. platzierter sol! Begegnen konnen.'
5 'Auf deren Grunde wird das Zuhandene nach Form und Rich tung vorfindlich und bestimmbar'. The earliest editions have 'erfindlich', which has been corrected to 'vorfindlich' in a list of errata.
6 Both 'Raum-geben' (our 'giving space') and 'Einriiumen' (our 'making room') are often used in the metaphorical sense of 'yielding', 'granting', or 'making concessions'. 'Einriiumen' may also be used for 'arranging' furniture, 'moving it in', or 'stowing it away'.
7 ‘…die den Charakter einer spezifischen Entweltlichung der Weltmassigkeit des Zuhandenen hat.’
8 ‘…so zwar, class der Raum die Welt doch mitkonstituiert, entsprechend der wesenhaften Riiumlichkeit des Daseins selbst hinsichtlich seiner Grundverfassung des In-derWelt-seins.’
9 ‘The They’ 'Das Man'. In German one may write 'man glaubt' where in French one would write 'on croit', or in English 'they believe', 'one believes', or 'it is believed'. But the German 'man' and the French 'on' are specialized for such construction in a way in which the pronouns 'they', 'one', and 'it' are not. There is accordingly no single idiomatic translation for the German 'man' which will not sometimes lend itself to ambiguity, and in general we have chosen whichever construction seems the most appropriate in its context. But when Heidegger introduces this word with a definite article and writes ‘das Man’, as he does very often in this chapter, we shall translate this expression as the ‘they’, trusting that the reader will not take this too literally.
10 dem ‘Selbst’. While we shall ordinarily translate the intensivt 'selbst' by the corresponding English intensi":es 'itself', 'oneself', 'myself', etc., according to the context, we shall translate the substantwe 'Selbst' by the substantive 'Self' with a capital.
11 ‘…als Selbiges in der vielfaltigen Andersheit…’ While the words 'identisch' and 'selbig' are virtually synonyms in ordinary- German, Heidegger seems to be intimating a d1stmctwn between them. We shall accordmgly translate the former by 'identical' and the latter by 'selfsame' to show its etymological connection with 'selbst'. Cf. H. 130 below.
12 'Vielleicht ist in der Tat das, was diese Art von Gebung, das schlichte, formale, reflektive Ichvemehmen gibt, evident.'
13 'as such a clue' : here we read 'aIs solcher', following the later editions. The earliest editions have 'als solche', which has been corrected in the list oferrata. "Essence " : while we ordinarily use 'ess ence' and 'essential' to translate 'Wesen' and 'wesenhaft', we shall usc ‘Essence’ and Essential' (with initial capitals) to translate the presumably synonymous but far less frequent 'Essenz' and 'essenticll'. The two 'formal indications' to which Hcideggcr refers are to be found on H. 42 above.
14 “…die Standigkeit des Selbst ebensosehr wie seine mogliche ‘Unselbstandigkeit’…” The adjectiw: 'standig', which we have usually translated as 'constant' in the sense of 'permanent' or 'continuing', goes back to the root meaning of 'standing', as do the adjectives 'selbstandig" ('independent') and 'unselbstandig' ('dependent'). These concepts will be discussed more fully in Section 64 below, especially H. 322, where 'Unselbstandigkeit' will be rewritten not as 'Un-selbstandkeit' ('failure to stand by one's Self') but as 'Unsclbst-standigkeit' ('constancy to the Unself'). See also H. 1 28. (The connection with the concept of existence will perhaps be clearer if one recalls that the Latin verb 'existere' may also be derived from a verb of standing, as Heidegger points out in his later writings.)
15 Cf. Section 15 above, especially H. 7of.
16 ‘…sondern gema$ seiner Seinsart als Dasein selbst in der Weise des In-der-Weltseins ‘in’ der Welt ist, in der es zugleich innerweltlich begegnet.’
17 'Dieses Seiende ist weder vorhanden noch zuhanden, sondern ist so, wie das freigebende Dasein selbst-es ist auch und mit da. Wollte man denn schon Welt iiberhaupt mit dem innerweltlich Seienden identifizieren, dann miisste man sagen, "Welt" ist auch Dasein.'
