Powered By Blogger

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XVIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§1. Siêu việt của Dasein

a) Khái niệm Siêu việt

[Tr.159] Chúng ta đang hỏi về bản chất của cơ sở [hay lý trí], tức là khả tính nội tại của bất cứ thứ gì giống như cơ sở theo đúng nghĩa. Sự phát triển của câu hỏi này đã dẫn chúng ta đến thấu suốt rằng việc đặt ra và trả lời câu hỏi chỉ có thể diễn ra trong chiều kích của câu hỏi về Hữu thể theo đúng nghĩa. Các bước mà chúng ta quay trở lại chiều kích này được chỉ ra bởi các thuật ngữ sau: các cơ sở, nguyên tắc lý tính, quy luật tư duy, phán đoán, mệnh đề, chân lý, mối quan hệ có tính ý hướng, siêu việt bản thể, siêu việt Hữu thể luận, Hữu thể luận, vấn đề về sự Hữu thể theo đúng nghĩa, siêu hình học. Cách tiếp cận để xử lý cụ thể vấn đề cơ sở nằm ở vấn đề về Hữu thể theo đúng nghĩa. Tuy nhiên, vấn đề Hữu thể được chuẩn bị bằng phân tích Dasein, và phân tích là bộc lộ siêu việt là một hiện tượng cơ bản. Để không phải đi lại toàn bộ con đường từ đầu, chúng ta sẽ bắt đầu với vấn đề siêu việt, không duy nhất xử lý nó mà chủ yếu dựa trên phân tích Dasein, Hữu thể luận cơ bản. Thay vào đó, chúng ta xử lý nó trong mối quan hệ với vấn đề cơ sở. Từ những gì đã nói trước đó, có thể dự đoán rằng một cách diễn giải đầy đủ về siêu việt sẽ tự nó, như thể, đụng độ với hiện tượng và bản chất của cơ sở vậy. Giờ đây, chúng ta phải giữ nguyên quan điểm về vấn đề như đã nêu ở trên, đồng thời cho phép nó mờ dần đi, để có thể tập trung vào hiện tượng siêu việt. Ý nghĩa chung của từ này là gì, định nghĩa ngôn từ của nó là gì, và nó có nghĩa gì với tư cách là một thuật ngữ triết học?     

[Tr.160] Chúng ta sẽ bắt đầu với định nghĩa ngôn từ và sau đó cố gắng xác định các ý nghĩa được tìm thấy trong cách sử dụng cách diễn đạt ‘siêu việt’. Ý nghĩa ngôn từ transcendere tiếng Latin xuất phát từ là vượt qua, bước qua, băng qua. Do đó, siêu việt có nghĩa là sự vượt qua, bang qua. Và cái siêu việt có nghĩa là cái mà sự vượt qua hướng tới, cái cần phải vượt qua để có thể tiếp cận và đạt được, cái ở bên kia, cái đối diện. Cuối cùng, cái thực hiện hành động siêu việt chính là cái thực hiện bước vượt qua. Vậy là ý nghĩa ngôn từ bao gồm những điều sau: 1) một hoạt động theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ, một hành động, 2) theo nghĩa hình thức, một mối quan hệ: chuyển đổi từ Y qua X, 3) một cái gì đó cần vượt qua, một giới hạn, một hạn chế, một khoảng trống, một cái gì đó ‘nằm giữa’. Đây chỉ là một phần cần làm rõ tổng quát về phạm vi các khái niệm của chúng ta khi chúng ta hiểu ý nghĩa của ‘siêu việt’.

Giờ đây chúng ta phải mô tả cách sử dụng từ này như một thuật ngữ trong triết học. Chúng ta không cần đi sâu vào tất cả các biến thể của nó; chỉ cần xem xét hai ý nghĩa chính mà từ đó tất cả các ý nghĩa khác được suy ra, và chúng ta sẽ xử lý khái niệm về cái siêu việt và đặc trưng hóa ý nghĩa triết học của nó liên quan đến các khái niệm đối lập quan trọng của nó. Thuật ngữ này có nghĩa là: 1) cái siêu việt trái ngược với cái nội tại, 2) cái siêu việt trái ngược với cái ngẫu nhiên. Về điểm 1), cái siêu việt trái ngược với cái nội tại, cái nội tại là cái vẫn còn bên trong, có nghĩa là cái nằm trong chủ thể, trong tâm hồn, vẫn còn trong ý thức. Do đó, cái siêu việt là cái không còn ở bên trong mà ở bên ngoài, cái nằm ngoài tâm hồn và ý thức. Cái nằm ngoài ranh giới và bức tường bao quanh của ý thức, khi được nói từ góc sâu thẳm nhất của ý thức này, đã vượt qua bức tường bao quanh và đứng bên ngoài. Giờ đây, chừng nào ý thức này còn có nhận thức, thì nó liên hệ với cái bên ngoài, và do đó, cái siêu việt là một cái gì đó có sẵn ở bên ngoài, đồng thời, cũng là cái đứng đối diện.

Ở đây, chủ thể được coi như một loại hộp có bên trong/nội thất, có các bức tường của hộp, và có bên ngoài/ngoại thất. Tất nhiên, quan điểm thô sơ không được đưa ra rằng ý thức thực sự là một cái hộp, nhưng điều cốt yếu đối với sự tương đồng và điều thuộc về chính khái niệm về cái siêu việt là phải vượt qua một rào cản giữa bên trong và bên ngoài. Điều này có nghĩa là bên trong, trước hết, thực sự bị hạn chế bởi rào cản và trước tiên phải phá vỡ nó, trước tiên phải loại bỏ những hạn chế. Do đó cái siêu việt, được coi là mối quan hệ mà bằng cách nào đó [tr.161] duy trì một lối đi giữa bên trong và bên ngoài chiếc hộp bằng cách nhảy qua hoặc xuyên qua bức tường của chiếc hộp. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để giải thích cái khả tính của một lối đi như vậy. Người ta cố gắng giải thích nó theo quan điểm nhân quả, tâm lý hoặc sinh lý; hay bằng cách nào đó người ta nhờ đến sự trợ giúp của ý hướng tính; hoặc cho rằng nỗ lực này là vô vọng nên người ta ở lại trong hộp, cố gắng giải thích, từ bên trong nó, làm thế nào để hiểu được những gì đi vào ý tưởng của chúng ta từ những gì được cho là ở bên ngoài.

Trong trường hợp bên ngoài, một quan điểm khác về tính nội tại được xem xét, và quan niệm về ý thức cũng thay đổi theo đó. Nhưng dù vấn đề siêu việt được đặt ra ở đâu và bằng cách nào, dù là định hướng rõ ràng hay ngầm định về khái niệm ngược lại của tính nội tại, thì về nguyên tắc, vẫn có khái niệm về chủ thể, về Dasein, như một cái hộp ở nền tảng của nó. Nếu không có nó, vấn đề vượt qua rào cản hay biên giới sẽ trở nên vô nghĩa! Và sẽ rõ ràng là vấn đề siêu việt phụ thuộc vào cách người ta định nghĩa chủ thể tính của chủ thể, cấu thành cơ bản của Dasein. Khái niệm cái hộp này có giá trị tiên nghiệm nào hay không? Tuy nhiên, nếu không, tại sao nó lại xuất hiện dai dẳng như vậy? Nói cách khác, giờ đây đã rõ ràng rằng siêu việt không phải là một thuộc tính bổ sung mà tôi gán cho một chủ thể, mà câu hỏi đặt ra là liệu bản chất của chủ thể tính có thể được nắm bắt, trước hết và trên hết, thông qua một sự siêu việt được hiểu đúng hay không. Trên cơ sở khái niệm siêu việt mà chúng ta đã mô tả, với khái niệm trái ngược là nội tại, ta có thể có được cái gọi là lý thuyết tri thức [tri thức luận]. Vì vậy, chúng ta gọi quan niệm này là siêu việt tri thức luận. Nếu quan niệm này được chứng minh là không chính đáng, vì nó dựa trên một giả định vội vàng, thì điều tương tự cũng được chứng minh đối với tri thức luận theo đúng nghĩa. Điều này không có nghĩa là nhận thức không phải là một vấn đề triết học. Quan niệm tri thức luận này chúng ta phân biệt với quan niệm thần học rộng hơn về siêu việt.

2) Siêu việt có thể được coi là đối lập với tính tùy thuộc. Cái tùy thuộc là những gì chạm vào chúng ta, những gì thuộc về chúng ta, những gì mà chúng ta cùng chung một vị thế ngang bằng, những gì thuộc về kiểu loại và giống loài chúng ta. Ngược lại, cái siêu việt là những gì vượt ra ngoài tất cả những điều này, là những gì chi phối chúng, là những gì vô điều kiện, nhưng đồng thời cũng là những gì thực sự không thể đạt được, những gì das Überschwängliche vượt quá chúng ta. [Ghi chú về das Überschwängliche - trong triết học của Heidegger, đó là ‘cái vượt quá’ hoặc ‘cái vượt ra ngoài chúng ta’; thuật ngữ này được sử dụng để mô tả chiều kích vô điều kiện của sự siêu việt; Heidegger sử dụng thuật ngữ này để định nghĩa cách thức tồn tại của con người (Dasein) vươn ra ngoài thế giới thường nhật, bình thường hướng tới Hữu thể tự thân; cần hiểu được das Überschwängliche liên quan đến việc xem xét hai ý tưởng chính trong triết học của Heidegger: i) Hai ý nghĩa của Siêu việt Heidegger đối lập hai cách mà con người ‘vượt lên’ hoàn cảnh của họ -vượt qua tính tùy thuộc của thế giới thường nhật - chúng ta liên tục vượt lên môi trường thực tế, trực tiếp của mình bằng cách tự đặt mình vào các mục tiêu, kế hoạch và khả năng thường nhật; chúng ta ngang hàng với những thứ thuộc về thế giới này; vươn tới cái vô điều kiện - Das Überschwängliche - đây là siêu việt sâu sắc hơn, mang tính siêu hình; đó là ‘vượt lên’ đầy hân hoan, nơi Dasein không phải hướng đến các đối tượng hay nhiệm vụ khác trong thế giới, mà hướng đến toàn bộ Hữu thể; bởi vì Hữu thể không phải là một đối tượng vật lý, nó vượt quá, áp đảo và nằm hoàn toàn ngoài sự hiểu biết thường nhật, có điều kiện của chúng ta; ii) Sự vượt quá của Hữu thể - đối với Heidegger, das Überschwängliche nhấn mạnh rằng Hữu thể là vô tận và không thể chứa đựng; đó là trạng thái ‘quá nhiều’ của thực tại vượt ra khỏi bất kỳ khuôn khổ khái niệm nào mà chúng ta cố gắng nhốt vào; nó nhắc nhở chúng ta về tính hữu hạn của chính mình; bởi vì Dasein người bị giới hạn bởi tính hữu hạn và những mối quan tâm hàng ngày, nên chúng ta chỉ có thể thoáng thấy sự vượt quá của Hữu thể trong những khoảnh khắc kinh ngạc, ngạc nhiên hoặc xao xuyến. - HHN] Siêu việt là sự vượt-trên theo nghĩa nằm ngoài các hiện hữu có điều kiện. Trong trường hợp này, siêu việt cũng là một khái niệm quan hệ, nhưng không phải [tr.162] giữa chủ thể và khách thể. Mối quan hệ diễn ra giữa các hiện hữu có điều kiện nói chung, bao gồm chủ thể và tất cả các khách thể khả thể, và cái hữu thể vô điều kiện. Ngược lại, trong trường hợp này, khái niệm siêu việt được định nghĩa về cơ bản bởi sự hình thành và quan niệm về cái mà siêu việt vượt lên trên, bởi cái nằm ngoài cái tùy thuộc. Hữu thể-vượt ngoài, trong trường hợp này, đồng thời thể hiện sự khác biệt về mức độ tồn tại, hay nói đúng hơn, sự khác biệt vô hạn giữa cái được tạo ra và Kẻ Tạo ra, nếu chúng ta thay thế Thiên Chúa, như cách hiểu Kitô giáo, bằng cái siêu việt, là điều mà chúng ta không cần phải làm. Vì cái siêu việt, trong khái niệm thứ hai này, luôn có nghĩa là cái vô điều kiện, cái Tuyệt đối dưới một hình thức nào đó, và cái Tuyệt đối đó chủ yếu có nghĩa là thần thánh, nên ở đây chúng ta có thể nói đến một quan niệm thần học về siêu việt.

Giờ đây, cả hai quan niệm về siêu việt, nhận thức luận và thần học, đều có thể được kết hợp – điều luôn luôn xảy ra và luôn luôn tái diễn. Bởi vì một khi quan niệm nhận thức luận về siêu việt được thừa nhận, dù rõ ràng hay ngầm định, thì một hiện hữu được đặt ra bên ngoài chủ thể, và nó đối lập với chủ thể đó. Tuy nhiên, trong số các hiện hữu được đặt đối lập, có một cái gì đó vượt lên trên tất cả, là nguyên nhân của mọi thứ. Do đó, nó vừa là cái gì đó đối lập với [chủ thể] vừa là cái gì đó siêu việt hơn tất cả các hiện hữu có điều kiện đối lập với [chủ thể]. Cái siêu việt, theo nghĩa kép này, là Cái Cao cả, là hữu thể vượt lên trên mọi kinh nghiệm. Vì vậy, việc tìm hiểu về cái cấu thành khả thể của cái siêu việt theo nghĩa nhận thức luận gắn liền với việc tìm hiểu về khả tính hữu tri khách thể siêu việt theo nghĩa thần học. Trên thực tế, việc khảo sát thần học, theo một nghĩa nào đó, là động lực cho việc khảo sát nhận thức luận. Do đó, vấn đề về sự tồn tại của thế giới bên ngoài và xem liệu nó có thể được tri nhận hay không đều liên quan đến vấn đề tri thức của Thiên Chúa và cái khả tính chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa.

Toàn bộ siêu hình học thần học, cũng như toàn bộ thần học hệ thống, đều hoạt động thông qua sự đan xen của cả hai vấn đề siêu việt. Nếu chúng ta gán thêm sự phân biệt giữa cái hữu lý và cái phi lý vào sự phân biệt giữa cái siêu việt và cái tùy thuộc, thì sẽ hoàn toàn nhầm lẫn. Mớ bòng bong của những vấn đề được đặt ra một phần và sai lầm này liên tục bị nhầm lẫn trong triết học Hữu thể luận và thần học hệ thống; mớ bòng bong được truyền từ tay kẻ này sang kẻ khác và trạng thái vướng víu càng trở nên rối rắm hơn khi được đặt một cái tên mới. Triết học không đáng để nỗ lực theo đuổi sợi dây của sự nhầm lẫn này hoặc thậm chí là gỡ rối nó. Tôi đang đề cập đến nó vì [tr.163] một lý do khác và với mục đích giải quyết vấn đề trung tâm của chúng ta. Nhìn một cách khái quát, cảnh huống bện dệt giữa hai vấn đề siêu việt này là một động lực cấp thiết ngay cả và đặc biệt là trong khuôn khổ các nghiên cứu của Kant, và điều này đúng với mọi giai đoạn triết học của ông. Tuy nhiên, việc đặt những mối liên hệ thông thường này làm nền tảng cho việc diễn giải triết học Kant là một sự bóp méo cơ bản. Điều quan trọng hơn là phải xem Kant đã cố gắng giải phóng mình khỏi những ràng buộc của vấn đề siêu việt như thế nào, một nỗ lực chỉ thành công một phần và không đặt tính siêu việt làm trọng tâm trong triết học của ông.

Chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn đến vấn đề siêu việt trong triết học Kant, bắt đầu với một đoạn văn trong đó ông khẳng định ý nghĩa kép của cụm từ ‘bên ngoài chúng ta’ liên quan đến sự phân biệt giữa hiện tượng và vật tự thân:7 “Do đó, cách diễn đạt ‘bên ngoài chúng ta’ không thể tránh khỏi sự mơ hồ về nghĩa, đôi khi biểu thị những gì tồn tại như một vật tự thân tách biệt khỏi chúng ta, và đôi khi biểu thị những gì chỉ thuộc về diện mạo bên ngoài. Vì vậy, để làm cho khái niệm này, theo nghĩa mà câu hỏi tâm lý về thực tại của trực giác bên ngoài của chúng ta phải được hiểu - hoàn toàn rõ ràng, chúng ta sẽ phân biệt các khách thể bên ngoài theo kinh nghiệm với những khách thể có thể được coi là bên ngoài theo nghĩa siêu nghiệm, bằng cách đặt tên rõ ràng cho cụm từ này là ‘những thứ được tìm thấy trong không gian.’” (Phê phán lý tính thuần túy, A 373; không tìm thấy trong B) [bản dịch của N. K. Smith].

Do đó, ‘bên ngoài chúng ta’ có nghĩa là 1) Tự thân hữu thể độc lập, 2) Tự thân Hữu thể được hình dung, tuy nhiên, như một khách thể khả thể của tri thức tuyệt đối không khả thể đối với chúng ta, được hình dung là nằm ngoài khả tính kinh nghiệm của chúng ta. ‘Bên ngoài chúng ta’, theo một nghĩa nào đó, có nghĩa là những gì mà chính chúng ta không phải là, những sự vật hiện hữu mà, tuy nhiên, chỉ có thể biểu hiện như vậy trong sự siêu việt đầy hưng phấn của Dasein được ném vào như một hữu thể trong thế giới. Nhưng ‘bên ngoài chúng ta’ cũng có thể có nghĩa là những gì không chỉ không phải là chính chúng ta, mà còn là những gì nằm ngoài tầm với của một sự siêu việt hữu hạn, xuất-thân — cụ thể là Erscheinungen các diện mạo, trong chừng mực chúng được xem xét trong tự thân. ‘Bên ngoài chúng ta’ trong trường hợp này có nghĩa là bên ngoài ‘chúng ta’, theo nghĩa của toàn bộ Dasein hữu hạn và các khả tính của nó. Bản thân diện mạo có ‘hai mặt’ (A 38, B 55): vật tự thân như một hiện hữu tồn tại tự thân và là cái biểu hiện đối với tôi, một chủ thể hữu hạn. Điều này có nghĩa là, trước hết, khách thể được xem xét trong  [tr.164] tự thân, bất kể cách thức nó được trực giác thông qua cảm tính [của cái khả tri]; nó được trực giác trong sự hiểu biết vô hạn, trong intuitus originarius trực giác nguồn cội. [Intuitus originarius là trực giác trí tuệ - một dạng nhận thức phi cảm tính, nơi Hiện hữu như Thiên Chúa tự tạo ra đối tượng mà mình trực giác; trong hệ thống triết học Kant, nhận thức của con người bị giới hạn và được chia làm hai loại tương phản chính - Intuitus originarius - trực giác nguồn cội/Thần thánh - sáng tạo đối tượng thông qua tư duy thuần túy; trực giác này không cần chịu tác động bởi thế giới bên ngoài vì nó tự thân vô hạn; Intuitus derivativus - trực giác phái sinh/Con người - là trực giác thụ động, bị giới hạn trong không gian và thời gian; con người chỉ có thể nhận thức được đối tượng nhờ các giác quan tác động, đồng thời cần sự hỗ trợ của các phạm trù lý giải để tổng hợp thông tin. - HHN] Thứ hai, việc xem xét là về hình thức mà trong đó Hữu thể trở nên có thể tiếp cận được đối với một chủ thể hữu hạn; khi đó Hữu-thể-tự-thân là một diện mạo. (Xem thêm A 251 f.)

Một trong những hiểu lầm thô thiển nhất của những diễn giải Kant chính xác và sâu sắc nhất, đó là của Trường phái Marburg, [Ghi chú: Trường phái Marburg là một phong trào nổi bật của chủ nghĩa Tân Kantian tại Đại học Marburg vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20; dưới sự lãnh đạo của Hermann Cohen, Paul Natorp và Ernst Cassirer, trường phái này bác bỏ chủ nghĩa duy vật thế kỷ 19 và diễn giải triết học của Kant một cách nghiêm ngặt như một phương pháp luận cho nhận thức khoa học và văn hóa nhân loại rộng lớn hơn; Trường phái Marburg đã phát triển một số nguyên tắc nền tảng định hình nhận thức luận và triết học khoa học hiện đại như Chủ nghĩa duy tâm phương pháp luận - những người theo trường phái Marburg hoàn toàn bác bỏ ý tưởng của Immanuel Kant về ‘vật tự thân’ - một thực tại siêu hình tồn tại độc lập với nhận thức của con người; họ lập luận rằng các khách thể không được đưa vào tâm trí một cách ngẫu nhiên; thay vào đó, chúng được xây dựng liên tục thông qua tư duy toán học và logic; họ bác bỏ chủ nghĩa tâm lý - Cohen và những người theo ông lập luận rằng logic phải hoàn toàn độc lập với tâm lý học; họ tin rằng logic xử lý các nội dung khách quan và các quy luật của chân lý, trong khi tâm lý học chỉ nghiên cứu các hành động tư duy chủ quan; Triết học Khoa học & Toán học - Trường phái này xem các lý thuyết khoa học không phải là những mô tả theo nghĩa đen về một thế giới tĩnh, mà là các hệ thống năng động của các khái niệm chức năng; trong triết học toán học của mình, Natorp và Cassirer đề xuất rằng các đối tượng toán học hoàn toàn mang tính cấu trúc và quan hệ; phê phán văn hóa - dưới thời Ernst Cassirer, trường phái này đã mở rộng ‘phê phán lý tính’ thành ‘phê phán văn hóa’; Cassirer lập luận rằng kinh nghiệm của con người được tổ chức không chỉ thông qua khoa học, mà còn thông qua nhiều hình thức biểu tượng khác nhau như ngôn ngữ, thần thoại và nghệ thuật; chủ nghĩa Kantianism cánh tả và chủ nghĩa xã hội - phong trào này đã đặt nền tảng tư tưởng cho chủ nghĩa Kantianism cánh tả, kết hợp đạo đức Kant và quan điểm mục đích luận về tính hợp lý để ủng hộ chủ nghĩa xã hội và phê phán chủ nghĩa tư bản. - HHN] nằm ở chỗ họ đã hiểu vật-tự-thân là một cái gì đó tách biệt và sau đó tìm cách loại bỏ nó. Trong Opus Postumum – Tác phẩm xuất bản sau khi tác giả qua đời, Kant viết: “Vật-tự-thân không phải là một tồn tại nào khác ngoài cái hiện tượng, nhưng cả hai chỉ thể hiện ‘một respectus mối bận tâm khác mà biểu tượng dành cho cùng một khách thể’: Cùng một tồn tại có thể là tương quan của một intuitus originarius trực giác nguồn cội/Thần thánh hoặc một intuitus derivatus trực giác phái sinh/Con người; sự khác biệt nằm ở ‘sự khác biệt của mối quan hệ, cách thức… chủ thể… chịu ảnh hưởng.’”8 Siêu nghiệm, theo nghĩa Kantian, trên hết, hướng đến hai cách thức khả thể để nắm bắt Hữu-thể-trong-tự-thân, trên hai loại trực giác khác nhau về bản chất. Sự diễn đạt siêu việt này rất quan trọng bởi vì nó không được phát triển liên quan đến một lý thuyết tâm lý học, mà dựa trên mối quan hệ trực tiếp mà chủ thể có với Hữu thể tự thân. Khái niệm về vật-tự-thân không thể bị loại bỏ bằng cách giải quyết nó về mặt nhận thức luận, nhưng khái niệm này (với tư cách tương quan của một loại hiểu biết tuyệt đối) chỉ có thể bị loại bỏ nếu người ta có thể chứng minh rằng tiền đề của một hiểu biết tuyệt đối là không cần thiết về phương diện triết học.

Do đó, chúng ta phải phân biệt vật tự thân với tư cách là diện mạo/hiện tượng và với tư cách là vật tự thân. 1) Xuất phát từ khái niệm vật tự thân được hiểu đúng, người ta có thể suy ra một cách hợp lệ khái niệm hiện tượng với tư cách là đối tượng ‘hữu hạn’. 2) Xuất phát từ diện mạo, người ta có thể chỉ ra rằng ‘X’ nội tại trong nó như chính bản thân sự vật, tuy nhiên, nó không phải là ‘sự vật tự thân’ theo nghĩa chặt chẽ. Lưu ý: Hai câu hỏi nảy sinh ở đây: 1) Khái niệm ‘tính vô hạn’ được giả định như một khái niệm dẫn dắt đến mức nào? 2) Ở Kant, chúng ta tìm thấy chức năng vẫn mang tính vấn đề cơ bản hơn thứ mà cái ontic có tính hữu thể có so với cái Hữu thể luận đến mức nào? [Ghi chú ontic: Trong triết học của Martin Heidegger, ‘ontic’ đề cập đến các đặc điểm cụ thể, thực nghiệm và thực tế của các thực thể cụ thể; nó trái ngược hoàn toàn với ‘ontological’ có tính hữu thể luận, vốn đặt câu hỏi về ý nghĩa, cấu trúc hoặc bản chất cơ bản của chính Hữu thể; ontic liên quan đến các thực thể, sự kiện, đối tượng hoặc lĩnh vực cụ thể; nó đề cập đến các thuộc tính của một tảng đá, hoạt động của một ngành khoa học như vật lý hoặc sinh học, hoặc những lựa chọn hàng ngày mà một người đưa ra; ontological - ý nghĩa - liên quan đến bản thân hữu thể; nó đặt câu hỏi về ý nghĩa cơ bản của sự tồn tại của các hiện hữu hoặc những điều kiện nào làm cho việc hiểu bất cứ điều gì trở nên khả thể; ví dụ xem xét việc nghiên cứu về con người mà Heidegger gọi là Dasein - câu hỏi Hữu thể luận - Nghề nghiệp của tôi là gì? Những đặc điểm thể chất cụ thể của tôi là gì? Tôi có phải là một kẻ người đang ngồi trong một căn phòng không? Câu hỏi Hữu thể luận – ‘Làm người trong thế giới này có nghĩa là gì? Những cấu trúc về sự chăm sóc, thời gian và sự hữu hạn định nghĩa hiện hữu người nói chung là gì?; khác biệt Hữu thể luận - Heidegger lập luận rằng triết học truyền thống thường thất bại vì nó làm lu mờ ‘sự khác biệt Hữu thể luận’; các nhà tư tưởng trong lịch sử đã cố gắng giải thích khái niệm về Bản thể bằng cách coi nó như thể nó chỉ là một đối tượng ‘bản thể luận’ khác trong thế giới - một sai lầm cơ bản; ‘Hữu thể luận cơ bản’ của Heidegger nhằm mục đích sửa chữa điều này bằng cách khám phá Hữu thể như là chân trời làm cho tất cả các hiện hữu đều có thể hiểu được.-HHN] Hữu thể luận được đặt nền tảng trên cái ontic, nhưng tuy nhiên vấn đề siêu nghiệm lại được phát triển từ những gì được đặt cơ sở như vậy, và trước hết cái siêu nghiệm cũng làm sáng tỏ chức năng của cái ontic.

Toàn bộ Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant xoay quanh [tr.165] vấn đề siêu việt - theo nghĩa cơ bản nhất, lại không phải là vấn đề nhận thức luận, mà là vấn đề tự do - là thứ Kant vẫn chưa thể xác định được hiện tượng siêu việt này một cách triệt để từ nền móng. Tuy nhiên, cần phải đọc tác phẩm của ông để hiểu ý nghĩa mà ông muốn truyền đạt. Nhìn chung, tầm quan trọng của những phân biệt này đã bị bỏ qua trong tư tưởng của Hume, Leibniz, Wolff và những người khác. Đối với cả hai loại quan niệm về siêu việt, nhận thức luận và thần học, về nguyên tắc, chúng ta phải nói rằng siêu việt không phải là mối quan hệ giữa thế giới bên trong và bên ngoài sao cho một rào cản thuộc về chủ thể bị vượt qua, một rào cản ngăn cách chủ thể với thế giới bên ngoài. Nhưng siêu việt cũng không chủ yếu là mối quan hệ nhận thức mà chủ thể có với khách thể, một mối quan hệ thuộc về chủ thể bên cạnh chủ thể tính của nó. Siêu việt không chỉ đơn thuần là thuật ngữ chỉ những gì vượt quá và không thể tiếp cận được bằng tri thức hữu hạn.9      

1) Chính xác hơn, siêu việt là cấu thành nguyên thủy chủ thể tính của chủ thể. Chủ thể siêu việt với tư cách là chủ thể; nó sẽ không phải là chủ thể nếu nó không siêu việt. Là một chủ thể có nghĩa là siêu việt. Điều này có nghĩa là Dasein không tồn tại một cách nào đó rồi thỉnh thoảng đạt được sự vượt qua bên ngoài chính nó, mà sự tồn tại cội nguồn có nghĩa là vượt qua. Dasein tự nó là sự vượt qua. Và điều này ngụ ý rằng siêu việt không chỉ là một trong những hành vi khả thể (trong số những hành vi khác) của Dasein đối với các hiện hữu khác, mà nó là cấu thành cơ bản Hữu thể của nó, trên cơ sở đó Dasein có thể liên hệ với các hiện hữu ngay từ đầu. Dasein có thể học cách liên hệ với các hiện hữu theo nhiều cách khác nhau và đối mặt với các hiện hữu [tr.166] chỉ bởi vì Dasein, với tư cách là đang tồn tại, đang ở trong một thế giới; nhưng không phải do đó mà trước hết đến được với các hiện hữu. 2) Siêu việt không có nghĩa là vượt qua một rào cản đã ngăn cách chủ thể trong một không gian nội tâm. Nhưng thứ bị vượt qua chính là Hữu thể tự thân, có thể hiện thân cho chủ thể trên cơ sở siêu việt của chủ thể. Bởi vì trạng thái vượt qua tồn tại cùng với Dasein, và bởi vì nhờ nó mà những hiện hữu không phải là Dasein bị vượt qua, những hiện hữu như vậy trở nên hiện thân theo đúng nghĩa, tức là trong tự thân chúng. Không gì khác ngoài siêu việt, vốn đã vượt qua các hiện hữu từ trước, mới là thứ đầu tiên cho phép các hiện hữu đã bị vượt qua trước đó trở nên [Dasein] đối lập về mặt hữu thể và với tư cách đối lập, phải được nhận thức trong chính chúng. Do đó, thứ mà Dasein vượt qua trong trạng thái siêu việt của nó không phải là một khoảng cách hay rào cản ‘giữa’ chính nó và các khách thể. Nhưng những hiện hữu, trong đó Dasein cũng hiện diện trên thực tế, lại bị Dasein vượt qua. Các khách thể bị vượt qua từ trước; chính xác hơn, các hiện hữu bị vượt qua và sau đó có thể trở thành khách thể. Dasein là hiện hữu thực bị ném vào, hoàn toàn giữa tự nhiên thông qua tính thể chất, và siêu việt ở thực tế là những hiện hữu này, trong đó Dasein hiện diện và thuộc về, lại bị Dasein vượt qua. Nói cách khác, với tư cách siêu việt, Dasein vượt ngoài tự nhiên, mặc dù, thực tại nó vẫn bị tự nhiên bao quanh. Với tư cách siêu việt, tức là tự do, Dasein là một cái gì đó xa lạ với tự nhiên.

3) ‘Cái mà’ chủ thể với tư cách chủ thể, siêu việt tới lại không phải là một khách thể, hoàn toàn không phải là hiện hữu này hay hiện hữu khác - dù là một vật cụ thể hay một sinh vật cùng loài Dasein hay một sinh vật sống nào khác. Khách thể hay hiện hữu có thể chạm gặp là cái bị vượt qua, chứ không phải là ‘cái mà’ được hướng tới. Cái mà chủ thể siêu việt hướng tới là cái mà chúng ta gọi là thế giới. 4) Bởi vì siêu việt là cấu thành cơ bản của Dasein, nên nó trước hết thuộc về Hữu thể của nó mà không phải là một hành vi được hình thành sau này. Và bởi vì Hữu thể nguyên thủy này của Dasein, với tư cách là vượt qua, siêu lên một thế giới, chúng ta mô tả hiện tượng cơ bản của siêu việt Dasein bằng cách diễn đạt hiện hữu trong-thế-giới. Chừng nào Dasein còn tồn tại, tức là chừng nào một hiện-hữu-trong-thế-giới còn tồn tại, thì các hiện hữu (tự nhiên) cũng đã bị vượt qua, và do đó các hiện hữu sở hữu khả tính tự hiện thân trong chính mình. Chừng nào Dasein còn tồn tại, thì các khách thể cũng đã trở nên có thể tiếp cận được với Dasein, mặc dù phương thức khách thể tính khả thể mà nhờ đó các khách thể được nắm bắt hoàn toàn được để mở và khả biến; có những giai đoạn khác nhau của khả tính mà nhờ đó Dinge selbst vật tự thân có thể được khám phá entdeckbar in ihrem An-sich-sein theo cách chúng tồn tại trong chính mình. [Ở đây Martin Heidegger sử dụng cụm từ entdeckbar in ihrem An-sich-sein để diễn giải rằng An-sich-sein cách thức mà các vật thể xuất hiện trong bản chất thực sự của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tồn tại của Dasein con người; mọi vật không chỉ tồn tại độc lập chờ được phân loại một cách khách quan; mà chúng tự bộc lộ khác nhau tùy thuộc vào cách con người tương tác với chúng; các khái niệm chính - tương đối tính của Dasein - Heidegger lập luận rằng khách tính của sự vật là tương đối so với sự tồn tại của con người; bởi vì con người về cơ bản là ‘mở’ với thế giới, nên các vật thể biểu hiện khác nhau trong các bối cảnh khác nhau, chẳng hạn một hiện tượng tự nhiên như mặt trời được người quan sát bình thường trải nghiệm khác với một nhà vật lý; Entdeckbar khả tính khám phá - thay vì một thực tại nghiêm ngặt, cố định tồn tại hoàn toàn tách biệt với người quan sát, các vật thể sở hữu những khả tính đa dạng, trong đó chúng tự bộc lộ; An-sich-sein Hữu-thể-tự-thân - Heidegger diễn giải lại ý tưởng triết học truyền thống này, thay vì là một bản chất biệt lập, không thể biết được, bản chất ‘tự thân’ của một vật thể là tiềm năng được bộc lộ hoặc được Dasein đưa vào tầm lý giải, khả tri; cuối cùng, điều này có nghĩa là sự tham gia thực tiễn và lý thuyết của chúng ta với thế giới chính là điều kiện cho phép mọi thứ xuất hiện như bản chất vốn có của chúng. - HHN]

[Tr.167] Scheler thực ra chưa nhìn thấy mối liên hệ nội tại này, nhưng ông là người đầu tiên có được một số hiểu biết sâu sắc về điều mà ông gọi là ‘tính tương đối Dasein của sự vật’ (ở đây ‘Dasein’ chỉ đơn thuần có nghĩa là tính hiện tồn). [Trong triết học của Max Scheler, tính hiện tồn thường tham chiếu đến các từ Dasein hoặc Vorhandenheit trong tiếng Đức biểu thị ‘tính hiện tồn hay sự hiện diện vật lý của một đối tượng, về cơ bản tách biệt sự tồn tại vật lý của một vật khỏi giá trị hoặc ý nghĩa cốt lõi của nó. Việc Scheler sử dụng khái niệm này một cách đặc biệt thường được phân tích thông qua một vài sự phân biệt triết học cốt lõi: i) Sự tách biệt giữa Sự tồn tại và Giá trị - Scheler lập luận rằng tính hiện tồn thuần túy của một vật không quyết định giá trị của nó; ông nổi tiếng với quan điểm cho rằng chỉ vì một thứ có giá trị, không có nghĩa là nó phải tồn tại về mặt vật chất, và chỉ vì một thứ tồn tại về mặt vật chất không có nghĩa là nó phải có giá trị; tính hiện tồn vật chất của một đối tượng hoàn toàn khác biệt với các thuộc tính khách quan, lý tưởng mà nó nắm giữ trong hệ thống phân cấp giá trị của Scheler; Tính tương đối-Dasein của sự vật (Dasein-Relativity of Things) - ở đây Martin Heidegger đã nhấn mạnh ý tưởng của Scheler cho rằng sự vật là ‘tương đối’, có nghĩa là tính hiện tồn thuần túy của một vật thể vật chất không thể được hiểu trong chân không; thay vào đó, các hiện hữu có nhiều ‘giai đoạn khám phá’ khác nhau, trong đó chúng tự hiện thân với chủ thể có ý thức; các khách thể không xuất hiện với chúng ta chỉ đơn giản với tư cách là tính hiện tồn hóa học trần trụi – chẳng hạn cách thức mà vật lý học nhìn nhận mặt trời - mà là những hiện tượng định tính phong phú, chẳng hạn cách con người cảm nhận mặt trời như hơi ấm và ánh sang; bản chất lý tưởng so với tồn tại thực tế - đối với Scheler, một bản thể luận nghiêm ngặt tách biệt các bản chất thuần túy, điển hình – ‘tính cái gì’ của một cái gì đó - khỏi tính hiện tồn thực tế của nó – ‘tính có đó’ của một cái gì đó; bản chất được trải nghiệm về mặt cảm xúc và có tính ý hướng thông qua các hành động hiện tượng học, chứ không phải được nắm bắt bằng cách quan sát khoa học tính hiện tồn vật lý của một khách thể.- HHN]

Theo Scheler, việc giả định sự vật rồi mới khảo sát khách tính của chúng là sai lầm. Các hiện hữu có các giai đoạn khám phá tính, các khả tính khác nhau mà chúng biểu hiện chính mình. Có nhiều giai đoạn khác nhau - và người ta không thể nói, chẳng hạn vật lý có tri ​​thức thực sự về quả cầu lửa mặt trời, trái ngược với sự hiểu biết tự nhiên của chúng ta về mặt trời. Bởi vì Dasein tồn tại với tư cách là hiện-hữu-trong-thế-giới, nó đã có đó cùng với các hiện hữu; và ngay cả cách nói này vẫn còn không chính xác vì ‘đã có đó ngoài kia’ giả định rằng Dasein đang ở một điểm nào đó bên trong. Ngay cả khi nói rằng hoạt động có tính ý hướng của Dasein luôn luôn mở ra với các hiện hữu, vì các hiện hữu, thì về cơ bản vẫn giả định rằng nó đã từng khép kín. Khái niệm siêu việt đang đề cập không thể tương thích với các cách diễn đạt trước đây và rất khó hiểu, xét theo phiên bản bế tắc thường thấy của vấn đề này. Cả Bergson - và đặc biệt là Dilthey - lẫn Husserl đều không nhận ra vấn đề và hiện tượng này; hai năm trước, Husserl đã kịch liệt phản đối vấn đề ngay từ đầu.

Nhưng nếu siêu việt theo nghĩa hiện-hữu-trong-thế-giới là cấu thành siêu hình cơ bản của Dasein, thì một siêu hình học về Dasein, với mục đích Hữu thể luận-cơ bản, nhất thiết phải đề cập đến cấu thành cơ bản này. Và chúng ta cần phải cố gắng làm rõ cấu thành cơ bản này, trước hết, bằng cách xuất phát từ khái niệm truyền thống về mối quan hệ chủ thể-khách thể nhận thức luận. Do đó, cuộc khảo sát trong ‘Hữu thể và Thời gian’, sau phần trình bày và chương đầu tiên, bắt đầu với: ‘Hiện-hữu-trong-thế-giới nói chung như là cấu thành cơ bản của Dasein’ và các phần §12 và §13 trình bày một phác thảo và làm quen ban đầu với hiện tượng này. Nếu người ta có chút nhạy bén về phương pháp, họ có thể kết luận rằng cấu thành cơ bản này rõ ràng là trọng tâm của siêu hình học về Dasein, và nó liên tục xuất hiện trở lại, thậm chí còn nguyên thủy hơn trong quá trình diễn giải; điều này có nghĩa là hiện tượng này ngày càng được làm sáng tỏ như một yếu tố trung tâm. Do đó, sau khi mô tả sơ bộ cấu thành cơ bản, cố gắng làm rõ các khía cạnh cấu trúc của nó và xây dựng chúng một cách chi tiết hơn thông qua các mối liên hệ mang lại khả năng tiếp cận cao nhất. Nhưng, vì toàn bộ khảo sát cố gắng làm nổi bật thời tính như là bản chất siêu hình của Dasein, nên siêu việt tự nó được hình dung thông qua thời tính; nhưng, với tư cách là cấu thành cơ bản, siêu việt phải luôn được đặt làm trọng tâm trong suốt quá trình khảo sát. Việc phân tích về tâm trạng Xao xuyến (§40), các vấn đề [tr.168] về Dasein, vị thế-thế giới và thực tại, cũng như việc diễn giải về lương tâm và khái niệm về cái chết - tất cả đều phục vụ cho sự phát triển dần dần của siêu việt, cho đến khi cuối cùng siêu việt được xem xét lại một cách mới mẻ và rõ ràng (§69) như một vấn đề, “Thời tính của Hiện-hữu-trong-Thế-giới và Vấn đề Siêu việt của Thế giới”. Ở đây, siêu việt lại xuất hiện, lần đầu tiên như một vấn đề. Bằng cách đề cập đến điều này, tôi muốn nói rằng vấn đề không bị đánh giá thấp và người ta phải có đủ sức lực để không bị kiệt lả ngay khi vấn đề mới bắt đầu. Và ngay tại điểm này, rõ ràng là (trang 363, chú thích) ý hướng tính là dựa trên cơ sở siêu việt và được xoáy vào như một vấn đề Hữu thể luận.

Siêu việt, hiện-hữu-trong-thế-giới, không bao giờ được đánh đồng và đồng nhất với ý hướng tính; nếu làm thế, như vẫn thường xảy ra, người ta chỉ chứng tỏ rằng mình còn lâu mới hiểu được hiện tượng này và hiện tượng này không thể nắm bắt ngay lập tức. Không phải bản thân cấu thành cơ bản, về nội dung và cấu trúc của nó, làm tăng thêm khó khăn trong việc hiểu đúng, mà là do chúng ta bị gánh nặng bởi các định kiến ​​và muốn kết thúc mọi việc quá vội vàng, hoặc do không coi trọng đúng mức những gì không thể nắm bắt ngay lập tức. Vì vậy, nỗ lực dành cho các diễn giải cụ thể không thể đủ lớn, cũng như không thể vạch ra cách thức đủ chặt chẽ để làm sáng tỏ hiện tượng siêu việt cơ bản này (xem Hữu thể và Thời gian, tr.351 trở đi). Tôi không tin rằng mình đã xây dựng được cấu thành cơ bản này theo cách mà người ta chỉ cần nhìn vào nó, như thể nhìn vào một tấm bảng đen, để ‘xác nhận’ nó. Ở đây hoàn toàn không có phát hiện nào theo nghĩa này! Nhưng kết quả của Phần Thứ hai là một diễn giải khả thể còn triệt để hơn cả những diễn giải trước đây của tôi; tuy nhiên, điều này thậm chí vẫn rất cần thiết, để có thể thấy từ thực tế là ngay cả Scheler cũng không hiểu ý nghĩa của siêu việt.10

__________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

7. Cf. bài giảng trong Phanomenoiogische Interpretation von Kants Kritik tier reinen Vemunft, Winter-Semester 1927-28 [được xuất bản thành tập 25 của Gesamtausgabe, do I. Gorland biên tập, Frankfurt a.M., 1977].

8. Kants Opus Postumum, do E. Adickes sắp xếp và biên tập, Berlin, 1920, tr. 653 (C 551) và tr. 695-96, chú thích 5 (C 565). [Ấn bản Akademie, tập 22, chứa các bản thảo viết tay trong Nachlass, tập 9, trang 26 và 43.]

9. Vấn đề siêu việt phải được đưa trở lại cuộc khảo sát về thời tính và tự do, mà chỉ từ đó mới có thể chỉ ra mức độ mà sự hiểu biết về Hữu thể với tư cách là Obermachtig Quyền năng tối cao, với tư cách là sự thánh thiện, thuộc về tự thân siêu việt như một sự khác biệt về Hữu thể luận. Vấn đề không phải là chứng minh Linh thánh về phương diện Hữu thể luận, trong ‘sự tồn tại’ của nó, mà là làm rõ nguồn cội của hiểu-biết-về-Hữu-thể này bằng phương tiện siêu việt của Dasein, tức là làm rõ ý tưởng về Hữu thể này thuộc về hiểu-biết-về-Hữu-thể như thế nào. (Hãy so sánh ý tưởng của Scheler về cuộc Tạo sinh như vậy.) Ý tưởng về tồn tại như một sức mạnh tối cao chỉ có thể được hiểu từ bản chất của ‘Hữu thể’ và siêu việt, chỉ trong và từ sự phân tán đầy đủ thuộc về bản chất của siêu việt (xem 110, mục 6), chứ không phải bằng một cách diễn giải đề cập đến một Đấng Khác tuyệt đối [Dul, cũng không phải đề cập đến bonum [cái thiện] như một giá trị hay như là cái Vĩnh hằng. (Vẫn còn phải xem xét là Hữu thể và δαιμόνιον Đấng Linh thánh, sự hiểu biết về Hữu thể và δαιμόνιον Đấng Linh thánh. Hữu thể như là cơ sở! Hữu thể và hư vô - Nỗi Xao xuyến.) Những điều trên cố tình không được đề cập trong các bài giảng, bởi vì chính ở đây và bây giờ, với sự sùng đạo giả tạo vô cùng lớn, ảo tưởng biện chứng đặc biệt lớn. Tốt hơn là nên chấp nhận lời buộc tội rẻ tiền về chủ nghĩa vô thần, mà nếu nó được hiểu theo nghĩa bản thể, thì trên thực tế là hoàn toàn chính xác. Nhưng liệu niềm tin bản thể vào Thiên Chúa có phải là tính vô thần ở tận cùng hay không? Và liệu nhà siêu hình học chân chính có thể sùng đạo hơn những tín đồ thông thường, hơn các thành viên của một ‘giáo hội’ hay thậm chí hơn cả các ‘nhà thần học’ của mọi giáo phái không?

10. Cf. ldealismus-Realismus, op.cit., tr. 293 ở trên [Gesammelte Werke, tập 9, tr. 2 15 bên dưới].

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XVII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga  

Phần II Siêu hình học Nguyên tắc Lý tính - Nền tảng của Logic 

b) Ý hướng tính và Siêu việt

Nhưng việc chúng ta đề cập đến một sai lầm phổ biến, một sai lầm khiến cho tất cả những gì được gọi là quan tâm đến siêu hình học về cơ bản trở thành một nỗ lực vô ích, vẫn chỉ mang tính phủ định. Việc khái quát hóa vấn đề Hữu thể theo hướng khẳng định có nghĩa là chỉ ra những câu hỏi cơ bản phụ thuộc lẫn nhau nào được chứa đựng trong câu hỏi về Hữu thể. Những vấn đề cơ bản nào được chỉ ra bằng thuật ngữ đơn giản ‘Hữu thể’ khi chúng ta hỏi về Hữu thể và Thời gian? Vấn đề Hữu thể luận không chỉ không đồng nhất với câu hỏi về ‘thực tại’ của thế giới bên ngoài, mà câu hỏi sau còn giả định một vấn đề Hữu thể luận thực sự. Nó giả định việc làm rõ phương thức tồn tại của sự vật và cấu thành khu vực của chúng. Hơn nữa, sự tồn tại của các sự vật vật chất trong tự nhiên không phải là sự tồn tại duy nhất; còn có lịch sử và các tác phẩm nghệ thuật. Tự nhiên có nhiều phương thức khác nhau: không gian và số, sự sống, chính sự tồn tại của con người. Có rất nhiều modi existendi phương thức tồn tại, và mỗi tồn tại này là một phương thức thuộc về một hiện hữu với nội dung cụ thể, một phẩm chất xác định. Thuật ngữ ‘Hữu thể’ được hiểu là bao gồm phạm vi của tất cả các khu vực khả thể. Nhưng vấn đề về tính đa dạng khu vực của Hữu thể, nếu được đặt ra một cách phổ quát, bao gồm việc khảo sát nhất tính của thuật ngữ ‘Hữu thể’ khái quát này vào cách thức mà thuật ngữ thuật ngữ ‘Hữu thể’ khái quát thay đổi với các ý nghĩa khu vực khác nhau. Đây là vấn đề về nhất tính của ý niệm về Hữu thể và các biến thể khu vực của nó. Liệu có phải nhất tính của Hữu thể có nghĩa là tổng quát tính dưới một hình thức và ý hướng khác? Trong bất kỳ trường hợp nào, thì vấn đề vẫn là nhất tính và tổng quát tính của Hữu thể nói chung. Chính vấn đề này mà Aristotle đã đặt ra, mặc dù ông không giải quyết được nó. Điều quan trọng là, trong mọi trường hợp, tổng quát tính của khái niệm Hữu thể tại được hình dung như thế nào. 

[Tr.152] Nhưng đa tính khu vực chỉ là một khía cạnh mà vấn đề Hữu thể phải được khái quát hóa trước. Trong việc làm rõ ý nghĩa của οὐσία ousia tồn tại/bản chất/thực thể, chúng ta đã lưu ý rằng Hữu thể cũng đề cập đến bản chất đó nói chung và bản-chất-gì. Cách diễn đạt này về Hữu thể đã được chấp nhận từ thời cổ đại. Người ta coi nó là điều hiển nhiên, mà không cần hỏi về nguồn gốc của nó, về khả tính nội tại của việc diễn đạt ý niệm về Hữu thể theo đúng nghĩa. Tại sao mọi cái gì đó tồn tại, bất kể chủ đề cụ thể của nó là gì, được xác định bởi đặc tính cái gì của nó và bởi một khả thể cái-đó-là-gì? Bởi vì ngay cả một cái gì đó mang tính hình thức, một cái gì đó mà chúng ta nói là không thể hiện nội dung vật chất xác định, lại được phân biệt chính xác bởi thực tế là nó thiếu một nội dung nội tại xác định (Chúng ta không thể đi sâu vào vấn đề cái hình thức ở điểm này). Hữu thể không chỉ có nghĩa là đa tính của các vùng và các modi existendi phương thức tồn tại cùng essendi bản chất tương ứng của chúng, mà ý tưởng đó còn hướng đến Hữu thể trong sự liên kết thiết yếu của nó thành các existendi tồn tại và essendi bản chất. Liên kết này là vấn đề cơ bản của Hữu thể luận, vấn đề liên kết cơ bản của Hữu thể.

Cho đến nay, chúng ta đã đưa ra hai vấn đề cơ bản liên quan đến chính Hữu thể, mà không chú ý đến thực tế rằng Hữu thể, như vậy, luôn luôn là Hữu thể của các hiện hữu, cũng như trong mỗi trường hợp nó được liên kết thành essentia bản chất cùng existentia tồn tại và được phân vùng. Hữu thể, theo đúng nghĩa và trong mọi ý nghĩa của nó, là Hữu thể của các hiện hữu. Hữu thể khác với các hiện hữu, và chỉ có sự khác biệt này nói chung, khả tính phân biệt này, mới đảm bảo một sự hiểu-biết-về-Hữu-thể. Nói cách khác, trong hiểu-biết-về-Hữu-thể, thì phân biệt này của Hữu thể với các hiện hữu mới được thực hiện. Chính sự phân biệt này đã làm cho bất cứ điều gì giống như một Hữu thể luận ngay từ đầu đã trở nên khả thể. Do đó, chúng ta gọi sự phân biệt này, điều đầu tiên cho phép hiểu-biết-về-Hữu-thể, là sự khác biệt Hữu thể luận. Chúng ta cố ý sử dụng thuật ngữ trung lập ‘sự phân biệt’, vì vấn đề thực sự là cách thức mà những gì được phân biệt ở đây, Hữu thể và các hiện hữu, khác nhau hoặc thậm chí tách biệt. Rõ ràng, với vấn đề về sự khác biệt Hữu thể luận, vấn đề nguyên thủy của Hữu thể và việc nghiên cứu Hữu thể trở thành trọng tâm. Hơn nữa, không cần phải nói thêm, sự khác biệt Hữu thể luận này, phải được xem xét trong toàn bộ phạm vi của các vấn đề đã đề cập về sự liên kết và phân vùng cơ bản. Liên quan chặt chẽ với vấn đề về sự khác biệt Hữu thể luận này, và những vấn đề khác đã đề cập, là vấn đề mà chúng ta đã liên tục hướng tới, mặc dù từ hướng ngược lại: mối liên hệ nội tại giữa Hữu thể và chân lý, đặc tính chân lý của Hữu thể. Việc nghiên cứu mối liên hệ nguyên thủy giữa chân lý và Hữu thể, đặc tính xác thực của Hữu thể thuộc về logic với tư cách siêu hình học.

[Tr.153] Khái niệm chung về ‘Hữu thể’ bao gồm bốn vấn đề cơ bản sau đây: 1) Sự khác biệt về Hữu thể luận, 2) Cấu thành cơ bản của Hữu thể, 3) Tính chất xác thực của Hữu thể, 4) Tính khu vực của Hữu thể và nhất tính về ý niệm Hữu thể. Do đó, vấn đề về Hữu thể đã được làm rõ với tư cách mang tính chất trung tâm, phổ quát và triệt để. Chúng ta đã có được một số hiểu biết về ý nghĩa của việc khảo sát khả tính nội tại của việc tồn tại một cái gì đó giống như hiểu-biết-về-Hữu-thể, một sự hiểu biết là đặc quyền thiết yếu của tồn tại người. Nhưng, khi mô tả sự siêu việt hữu thể được hiểu chung như nó xảy ra trong ý hướng tính, chúng ta thấy rằng mối quan hệ với các hiện hữu, mối quan hệ hữu thể, giả định một hiểu-biết-về-Hữu-thể; chúng ta thấy rằng sự siêu việt hữu thể tự nó dựa trên sự siêu việt nguyên thủy, do đó có liên quan đến sự hiểu-biết-về-Hữu-thể. Vậy là cấu trúc của vấn đề này đã được chỉ ra, và điều đó cho thấy, khi nhìn lại các vấn đề về siêu việt, về chân lý, về lý tính [các cơ sở], chỉ có thể khảo sát trong chiều kích được phác họa bởi vấn đề về Hữu thể nói chung. Nói cách khác, vấn đề về siêu việt phải được đặt ra một cách phổ quát và triệt để như vấn đề về Hữu thể theo đúng nghĩa. Do đó, nó không phải là một vấn đề có thể bị giới hạn vào mối quan hệ mà chủ thể có với những sự vật độc lập với nó, và nó không chỉ là một câu hỏi về một vùng nhất định của các hiện hữu. Người ta cũng không thể dừng lại hay bắt đầu với mối quan hệ chủ thể-khách thể, như thể bằng cách nào đó nó từ trên trời rơi xuống; mà đối với siêu việt, cũng như đối với vấn đề về Hữu thể, chính chủ thể tính của chủ thể mới tự thân là câu hỏi trung tâm.

Có thể thêm ba luận điểm sau đây: 1) Các hiện hữu tự thân là loại hiện hữu mà chúng có, và theo cách mà chúng hiện hữu, ngay cả khi, ví dụ, Dasein không tồn tại. 2) Hữu thể không phải ‘là’, mà Hữu thể es gibt có đó, chừng nào Dasein còn tồn tại. Trong bản chất của sự tồn tại có sự siêu việt, tức là sự ban cho thế giới trước đó và cho tất cả các hiện-hữu-hướng-tới-và-giữa các hiện hữu nội-trần thế. 3) Chỉ khi nào Dasein tồn tại tự ban cho mình bất cứ điều gì giống như Hữu thể thì các hiện hữu mới có thể xuất hiện trong-bản-thân-chúng, tức là luận điểm đầu tiên cũng có thể được hiểu và được xem xét. Lưu ý: Bởi vì Hữu thể không ‘là’, và do đó không bao giờ tồn tại cùng với hiện hữu khác, nên hoàn toàn không có ý nghĩa hoặc tính hợp thức nào khi hỏi Hữu thể là gì đối với các hiện hữu tự thân. Tuy nhiên, người ta có thể hỏi, trong các hiện hữu, điều gì tương ứng với Hữu thể (mà không phải là) vốn ‘chỉ’ có đó. Hữu thể gibt sich tự ban cho một cách nguyên thủy và tự thân khi nó cho phép tiếp cận các hiện hữu của nó. Cũng không thể nào khảo sát được Hữu thể của chúng trong tự thân. Chúng ta luôn chỉ biết đến các hiện hữu, mà không bao giờ biết đến Hữu thể như một hiện hữu. Điều này trở nên rõ ràng từ bản chất của sự siêu việt và sự khác biệt Hữu thể luận. [Tr.154] Và như vậy, chúng ta đã đạt được điều mình mong muốn trong phần đầu của phần chính thứ hai, đó là trình bày các chiều kích của vấn đề cơ sở - không gì khác hơn là các chiều kích của một lĩnh vực khảo sát theo hướng trung tâm của nghiên cứu siêu hình học theo đúng nghĩa. Trước khi chuyển sang phần thứ hai để phát triển vấn đề cơ sở trong chiều kích mà chúng ta đã đạt được, trước hết, chúng ta cần mô tả ngắn gọn bằng một Phụ lục và chỉ ra cách thức mà nó có thể được thực hiện. Chúng ta gọi chiều kích vấn đề này và lời giải thích của nó là fundamental ontology Hữu thể luận cơ bản.

Phụ lục: Về một Hữu thể luận Cơ bản

Bằng cái tên Hữu thể luận cơ bản ở đây chúng ta muốn nói đến nền tảng cơ bản của Hữu thể luận nói chung. Điều này bao gồm: 1) Một nền tảng thể hiện khả tính nội tại của câu hỏi về Hữu thể như là vấn đề cơ bản của siêu hình học – sự diễn giải Dasein như là Zeitlichkeit thời tính; 2) Một sự phân giải các vấn đề cơ bản chứa đựng trong câu hỏi về Hữu thể – trình bày về thời gian của vấn đề về Hiện hữu; 3) Việc phát triển của tự-hiểu- biết về vấn đề này, nhiệm vụ và giới hạn của nó – cuộc lật đổ. Đối với những gì tiếp theo, và trong bối cảnh của khóa học này, phải có đủ một phác thảo khá tổng quát. Điều quan trọng là không nên hiểu Hữu thể luận cơ bản quá hẹp hoặc từ một quan điểm duy nhất. Các câu hỏi hướng dẫn ở đây là: Tại sao Hữu thể luận cơ bản ngay từ đầu lại là một phân tích hiện sinh? ‘Sự tồn tại’ ở đây có nghĩa là gì? Và đến mức độ nào mà phân tích hiện sinh với tư cách lịch sử siêu hình học và cái humanitas ‘nhân bản’ có được ý nghĩa từ khái niệm đầy đủ của siêu hình học?

Chỉ với và thông qua Hữu thể luận cơ bản này, chúng ta mới nắm bắt được, từ một quan điểm xác định, đời sống nội tại và ẩn giấu trong trào lưu cơ bản của triết học phương Tây. Chúng ta đã thấy bằng nhiều cách các đặc điểm cơ bản của vấn đề này được thể hiện rõ ràng ngay từ đầu. Và điều quan trọng là phải đưa những đặc điểm này ra ánh sáng càng nhiều càng tốt và không để chúng bị che giấu bởi sự thờ ơ. Và chúng ta nên làm điều này, không phải vì những vấn đề này đã được đề cập nhiều lần trong các thời đại trước, cũng không phải vì tính cổ xưa đáng kính của chúng, thứ mang lại cho chúng một sự tôn trọng nhất định, mà ngược lại, bởi vì Hữu thể luận cơ bản bao gồm các vấn đề mà, về bản chất vấn đề, bản thân chúng thuộc về sự tồn tại của các hiện hữu người, thuộc về bản chất siêu hình của Dasein, khi nó trở nên hữu hình đối với chúng ta; chỉ vì và chính xác vì lý do đó mà những vấn đề này đã được đưa ra ánh sáng dưới một hình dáng cụ thể, rõ ràng vào buổi đầu của triết học phương Tây. Hữu thể luận cơ bản luôn chỉ là sự lặp lại của cái hiện thân cổ xưa, ban sơ này. Nhưng cái cổ xưa được truyền đến cho chúng ta bằng lặp lại, chỉ khi chúng ta thừa nhận khả tính biến đổi của nó. Bởi vì về bản chất, những vấn đề này thúc bách chẳng kém. Tất cả điều đó đều có cơ sở, như chúng ta sẽ trình bày chi tiết, trong sử tính hiểu-biết-về-Hữu-thể. Và đặc trưng là truyền thống, tức là cách truyền đạt ngoại tại hóa, tước đoạt khỏi vấn đề chính sự biến đổi này bằng lặp lại. Truyền thống chuyển giao những mệnh đề và quan điểm nhất định, những cách thức cố định để đặt câu hỏi và thảo luận về vạn vật. Truyền thống ngoại tại về các quan điểm và góc nhìn vô danh này hiện được gọi là Problemgeschichtel ‘lịch sử vấn đề’. Truyền thống ngoại tại, việc sử dụng nó trong lịch sử triết học, phủ nhận sự sống của các vấn đề, có nghĩa là nó tìm cách kìm hãm sự biến đổi của chúng, và vì vậy chúng ta phải chống lại cái truyền thống đó.

Không phải là nên vượt qua cái cổ xưa - nếu về phương diện này có bất cứ ý nghĩa nào đối với việc ‘phê phán’ (một cái gì đó không phải là chính yếu nhưng vẫn cần thiết trong mọi tình huống). Nhưng chính những kẻ bảo vệ truyền thống bất tài mới là đối tượng cần phải chống lại. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu chính chúng ta nỗ lực tạo ra cơ hội cho sự biến đổi của các vấn đề cơ bản, cho metaphysica naturalis thứ siêu hình học tự nhiên trong chính Dasein. [Ghi chú về metaphysica naturalis khuynh hướng siêu hình tự nhiên - một thế giới quan triết học cho rằng không có gì tồn tại ngoài thế giới vật chất tự nhiên; nó khẳng định rằng vũ trụ vận hành hoàn toàn theo các định luật vật lý và bác bỏ mọi hiện tượng siêu nhiên, chẳng hạn như phép màu, thần thánh và các mục đích không liên quan đến thực tại khoa học; các nguyên tắc cốt lõi của nó bao gồm Thực tại cốt lõi - đồng nghĩa với duy vật luận hoặc chủ nghĩa vật lý - niềm tin cho rằng mọi thứ trong thực tế cuối cùng đều được cấu tạo từ vật chất và năng lượng; việc diễn giải về sự sống được giả định rằng tất cả các hiện tượng (bao gồm cả nguồn gốc của sự sống và ý thức con người) đều có nguyên nhân vật lý có thể kiểm chứng được và cuối cùng có thể được hiểu thông qua khoa học tự nhiên; bác bỏ siêu nhiên - phủ nhận sự tồn tại của thần thánh, ma quỷ hoặc bất kỳ sự can thiệp nào của thần linh vào vũ trụ; khác biệt chính yếu - chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận so với chủ nghĩa tự nhiên siêu hình -chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận là một chiến lược nghiên cứu thực tiễn được sử dụng trong phương pháp khoa học - nó chỉ đơn giản giả định rằng mọi thứ đều có nguyên nhân tự nhiên để tiến hành thực nghiệm; chủ nghĩa tự nhiên siêu hình tiến thêm một bước nữa, khẳng định rằng siêu nhiên không tồn tại và không thể tồn tại.- HHN] Đây là điều cần nói về tháo dỡ truyền thống. Vấn đề không phải là xóa bỏ hai thiên niên kỷ và tự đặt mình vào vị trí của họ. Cũng như việc chúng ta phải tìm đường trở lại với sức mạnh cơ bản của những vấn đề trung tâm hình thành trong tính phổ quát và triệt để của nó, và sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu chúng ta tuyệt đối hóa chính những vấn đề này và do đó phủ nhận chức năng thiết yếu của chúng.

Con người chúng ta có xu hướng, không chỉ ngày nay hay chỉ thỉnh thoảng, mà với xu hướng này chúng ta hoặc nhầm lẫn điều gì là trọng tâm triết học với điều gì đó thú vị hoặc dễ tiếp cận, hoặc chúng ta tuyệt đối hóa một điểm trung tâm ngay lập tức, một cách mù quáng, và một khi nắm bắt được nó, chúng ta lại tập trung vào một giai đoạn tiềm năng duy nhất của vấn đề ban đầu và biến nó thành một nhiệm vụ vĩnh cửu, thay vì triệu hồi và chuẩn bị cái khả tính của những cội nguồn mới. Để chuẩn bị cho cái khả tính đó, không cần [tr.156] phải dự đoán những cội nguồn này. Người ta chỉ cần liên tục làm việc với những khả tính thực tế, bởi vì tính hữu hạn của Dasein. Vì thực hành triết học - về bản chất là một vấn đề hữu hạn, nên đến lượt mình, mọi cụ thể hóa của triết học thực tế đều phải chịu cảnh là nạn nhân của thực tính này. Tình cảnh hụt hơi cố hữu của việc đặt câu hỏi và tư duy thật khó vượt qua, nhưng chúng ta phải cố gắng để không vô tình khuất phục trước nó. Chỉ hiếm khi chúng ta có khả năng bao quát toàn bộ phạm vi của một vấn đề và giữ gìn được sức sống cũng như tiềm năng chuyển đổi của nó. Hoặc, nếu chúng ta có thể làm được điều đó, thì khi ấy chúng ta có thể đã không còn đủ sức để tiếp tục suy nghĩ về những khả tính quan trọng khác. Hoặc, nếu chúng ta có thể làm được điều đó, thì việc phân tích cần thiết sẽ khó khăn hơn, bởi vì về bản chất, không thể tách rời vấn đề ấy khỏi những vấn đề trước đó. Và vì vậy, trong mọi trường hợp đều có xé toang những chân trời; điều quan trọng hoặc thiết yếu luôn được trao lại cho tương lai với tư cách là di sản thực sự. Nhưng điều thiết yếu không phải là thứ có thể bị các thời đại luận chiến và bác bỏ. (Nếu Kant chỉ đơn thuần là người mà những kẻ đương thời của ông để mắt, người mà họ bác bỏ hết lần này đến lần khác, thì quả thực ông sẽ ở trong tình trạng đáng thương.)

Tính hữu hạn của triết học không nằm ở chỗ nó gặp phải giới hạn và không thể tiến xa hơn. Điều cốt yếu nằm ở chỗ: trong tính duy nhất và đơn giản của vấn đề trung tâm, triết học ẩn chứa một sự phong phú đòi hỏi sự thức tỉnh liên tục. Điều cần ghi nhớ, đặc biệt là đối với Hữu thể luận cơ bản, là chính tính triệt để và tính phổ quát của vấn đề trung tâm này, và chỉ riêng nó, mới giúp chúng ta nhận ra rằng những vấn đề này thực sự là trọng tâm; nhưng chính vì lý do đó, về tầm quan trọng và bản chất, chúng không bao giờ là những vấn đề duy nhất. Nói cách khác, Hữu thể luận cơ bản không vét kiệt khái niệm siêu hình học. Vì Hữu thể có đó chỉ khi các hiện hữu đã rim Da có đó, nên Hữu thể luận cơ bản tiềm ẩn khuynh hướng hướng tới một sự biến đổi siêu hình học nguyên thủy, chỉ có thể xảy ra khi Hữu thể được hiểu trong toàn bộ vấn đề của nó. Đối với Hữu thể luận tính cần thiết nội tại để quay trở lại điểm xuất phát của nó có thể được làm rõ bằng cách tham chiếu đến hiện tượng nguyên thủy của tồn tại người: Hữu thể ‘người’ hiểu về Hữu thể; hiểu-biết-về-Hữu-thể tạo ra sự phân biệt giữa Hữu thể và các hiện hữu; hiện hữu chỉ có đó khi hiểu về Hữu thể. Nói cách khác, cái khả tính mà hiện hữu có đó trong hiểu biết giả định sự tồn tại thực tế của Dasein, và điều này đến lượt nó giả định tồn tại tính thực tế của tự nhiên. Ngay trong chân trời vấn đề [tr.157] Hữu thể, khi được đặt ra một cách triệt để, dường như tất cả điều này đều có thể nhìn thấy và có thể được hiểu là Hữu thể, chỉ khi một tổng thể tính khả thể của các hiện hữu đã có đó.

Do đó, chúng ta cần một vấn đề đặc biệt có chủ đề chính là das Seiende im Ganzen các hiện hữu như một tổng thể. Cuộc khảo sát mới này nằm trong bản chất của chính Hữu thể luận và là kết quả Umschlag đảo ngược của nó, sự thay đổi, chuyển đổi, bước ngoặt. Tôi gọi tập hợp các câu hỏi này là Siêu Hữu thể luận. [Metontologie Siêu hữu thể luận là một thuật ngữ do triết gia Martin Heidegger đặt ra vào năm 1928, đóng vai trò là cầu nối giữa Bản thể học trừu tượng - nghiên cứu về tồn tại như một tổng thể và lĩnh vực cụ thể, hàng ngày của kinh nghiệm con người - lĩnh vực hiện hữu, đặc biệt đề cập đến các chủ đề như đạo đức và các mối quan hệ giữa con người; thuật ngữ này đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng thực tế, cụ thể của con người lĩnh vực ontic để làm nền tảng bổ sung cho bản thể luận nền tảng. Các khía cạnh chính của khái niệm này bao gồm: i) Phân biệt với Hữu thể luận Ontology - nếu ontology nghiên cứu về những câu hỏi rộng lớn, trừu tượng về sự tồn tại của vạn vật, thì metontology tập trung vào các trải nghiệm thực tế cụ thể của con người như đạo đức, giới tính hay xã hội; mối liên hệ với đạo đức học - theo Heidegger, metontology chính là lĩnh vực mà ‘nhà triết học có thể đặt ra những câu hỏi về đạo đức học lần đầu tiên’; từ này thường bị nhầm lẫn với meta-ontology - ngành học phân tích xem bản thể học là gì và giải nghĩa các tuyên bố tồn tại - hoặc Methontology - một phương pháp kỹ thuật phần mềm dùng để xây dựng và phân tích các hệ tri thức).- HHN] Và trong lĩnh vực đặt câu hỏi về Siêu Hữu thể luận-hiện sinh, cũng là lĩnh vực của siêu hình học về sự tồn tại (ở đây, câu hỏi về đạo đức có thể được đặt ra lần đầu tiên một cách thích đáng). Khoa học thực chứng cũng có các hiện hữu làm đối tượng nghiên cứu, Siêu hữu thể luận không phải tính bản thể tổng hợp theo nghĩa một khoa học tổng quát tập hợp thực nghiệm các kết quả của các khoa học riêng lẻ thành một cái gọi là ‘bức tranh thế giới’, để từ đó suy ra một thế giới quan và kim chỉ nam cho cuộc sống. Một điều gì đó tương tự, bằng cách nào đó, hiện diện trong Dasein tiền khoa học, mặc dù Dasein có cấu trúc khác; cái khả tính và cấu trúc của thế giới quan tự nhiên thực sự là một vấn đề riêng biệt.

Việc liên tục có những nỗ lực tóm tắt thông tin bản thể và gọi đó là ‘siêu hình học quy nạp’ cho thấy một vấn đề tất yếu nảy sinh lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử. Siêu Hữu thể luận chỉ khả thể trên cơ sở và trong viễn cảnh của vấn đề Hữu thể luận triệt để và khả thể cùng với nó. Chính sự cấp tiến hóa Hữu thể luận cơ bản dẫn đến sự đảo lộn Hữu thể luận từ chính bản thân nó như đã đề cập ở trên. Ở đây những gì chúng ta dường như tách biệt, bằng các ‘ngành học’, và gán cho chúng những nhãn mác, thực chất là một - cũng giống như sự khác biệt về Hữu thể luận là một, hay là hiện tượng nguyên thủy của tồn tại người! Việc suy nghĩ về Hữu thể như là Hữu thể của các hiện hữu và hình dung vấn đề Hữu thể một cách triệt để và phổ quát cũng đồng nghĩa với việc biến các hiện hữu thể thành chủ đề trong tổng thể tính của chúng dưới ánh sáng của Hữu thể luận.

Sẽ là hời hợt và giáo điều nếu tin rằng một khi Hữu thể luận cơ bản được thành lập như một ngành học, thì một Hữu thể luận khác với một tiêu đề mới sẽ được gắn liền với nó. Hơn nữa, Hữu thể luận cơ bản không phải là một ngành học cố định mà, một khi đã được đặt tên, sẽ mãi mãi chiếm giữ vị trí trống trước đây dành cho nó trong một hệ thống triết học giả định nào đó - một ngành học cần được phát triển và hoàn thiện để đưa triết học đến một kết thúc có hậu trong vài thập kỷ (như người bình thường hoặc người theo chủ nghĩa thực chứng tưởng tượng). Trên thực tế, ‘vị trí’ đó, trong mọi triết học, là một vị trí đã được chiếm giữ, và trong mỗi trường hợp nó đều được biến đổi. Sự giáo điều của một hệ thống sơ đồ không nên bị nhầm lẫn [tr.158] với sự nghiêm ngặt của việc đặt câu hỏi. Người ta phải luôn ghi nhớ rằng trong phân tích, chúng ta chỉ nắm bắt được những gì mà mọi phương pháp phân tích hàm ý như là sự thống nhất và toàn vẹn ban đầu của nó, như một sự tổng hợp mà chúng ta chưa từng thực hiện một cách rõ ràng trước đây nhưng, dù sao đi nữa, chừng nào chúng ta còn tồn tại, thì nó luôn luôn được thực hiện đồng thời với và bởi chúng ta. Chúng ta không chỉ cần phân tích nói chung, mà còn phải tạo ra ảo tưởng rằng nhiệm vụ đang thực hiện là nhiệm vụ duy nhất và cần thiết. Chỉ người nào hiểu được nghệ thuật tồn tại này, chỉ người nào trong quá trình hành động có thể coi những gì được nắm bắt trong mỗi trường hợp là hoàn toàn độc nhất, đồng thời vẫn nhận ra tính hữu hạn của hoạt động này, chỉ kẻ như vậy mới hiểu được sự tồn tại hữu hạn và có thể hy vọng đạt được điều gì đó trong nó. Nghệ thuật tồn tại không phải là tự-phản tỉnh không dính líu, khi lục tìm động cơ và phức cảm để được trấn an và miễn trừ hành động. Điều đó chỉ là tính minh bạch của chính hành động, một cuộc săn tìm những khả tính hiện thực.

Kết quả của chúng ta là điều mà vấn đề cơ bản của siêu hình học, trong sự triệt để hóa và phổ quát hóa của nó, đòi hỏi một diễn giải về Dasein trên cơ sở thời tính; và từ diễn giải này, khả tính nội tại của việc hiểu về Hữu thể và do đó về Hữu thể luận sẽ trở nên rõ ràng - nhưng không chỉ để làm cho khả tính nội tại này được biết đến. Điều đó chỉ được hiểu rõ khi thực hiện, khi giải quyết tự thân vấn đề cơ bản (trong bốn vấn đề chính đã trình bày). Hữu thể luận cơ bản là toàn bộ quá trình hình thành và phát triển Hữu thể luận ấy; còn Hữu thể luận cơ bản là 1) Phân tích Dasein, và 2) Phân tích thời tính của Hữu thể. Nhưng phân tích thời gian đồng thời là sự đảo ngược [Kehre], nơi Hữu thể luận tự nó quay trở lại với tính hữu thể siêu hình mà nó luôn ngầm ẩn chứa đựng. Thông qua vận động cấp tiến và phổ quát hóa, mục đích đưa Hữu thể luận đến Umschlag đảo ngược tiềm ẩn của nó. Ở đây, Kehre đảo ngược được thực hiện, và nó được chuyển hóa thành Metontologie Siêu hữu thể luận.

Trong sự thống nhất của chúng, Hữu thể luận cơ bản và Siêu Hữu thể luận cấu thành nên khái niệm siêu hình học. Nhưng ở đây thể hiện sự biến đổi của một vấn đề cơ bản của chính triết học, vấn đề đã được đề cập ở trên và trong phần giới thiệu dưới quan niệm kép về triết học với tư cách là πρώτη φιλοσοφία Triết học thứ nhất và θεολογία Thần học. Và đây chỉ là sự cụ thể hóa đặc biệt của sự khác biệt hữu thể luận, tức là sự cụ thể hóa của việc thực hiện hiểu-biết-về-Hữu-thể. Nói cách khác, triết học là sự cụ thể hóa trung tâm và toàn diện bản chất siêu hình của tồn tại. [Tr.159] Chỉ dẫn chung chung và ngắn gọn này về ý tưởng và chức năng của Hữu thể luận cơ bản là cần thiết để chúng ta có thể thấy được bề rộng của chân trời vấn đề, và cũng không đánh mất con đường hẹp mà chúng ta nhất thiết phải đi theo trong việc xử lý cụ thể vấn đề sau đây.

[Ghi chú về số phận của thuật ngữ Metontologie Siêu Hữu thể luận: Kehre Bước ngoặt trong tư tưởng của Heidegger đã được thảo luận và tranh luận rất nhiều. Việc giới thiệu khái niệm Metontologie Siêu Hữu thể luận vào năm 1927 đã góp phần tích cực vào cuộc tranh luận này vì nó hàm chứa mối quan tâm đến lĩnh vực Hữu thể luận của Heidegger, điều không có trong các tác phẩm trước đó. Tuy nhiên, việc khái niệm này biến mất ngay sau khi được giới thiệu đã đặt ra thách thức cho đóng góp của nó vào cuộc tranh luận này. Thật ra sự biến mất của Siêu hữu thể luận không hàm ý sự biến mất mối quan tâm của Heidegger đối với lĩnh vực Hữu thể luận, mà ngược lại. Chính Freeman đã nói về sự căng thẳng giữa cái hiện hữu và cái Hữu thể luận trong tư tưởng của Heidegger vào giữa đến cuối những năm 1920, dẫn đến sự ra đời của Siêu hữu thể luận vào năm 1927. Sau đó, diễn giải của McNeill về sự biến mất của Siêu hữu thể luận như là hệ quả của quan điểm của Heidegger vào giữa những năm 1930 cho rằng sự phóng chiếu tiên nghiệm của Hữu thể là Entzug des Seins sự rút lui của Hữu thể cho phép nói rằng sự biến mất này không kéo theo việc Heidegger đột ngột không còn quan tâm đến Hữu thể. Bằng cách xem xét phân tích của Heidegger về "toán học" trong Die Frage nach dem Ding, cuối cùng có thể thấy rằng Siêu hữu thể luận biến mất khỏi tư tưởng của Heidegger bởi vì sự phụ thuộc của nó vào Hữu thể luận ngăn cản nó giải thích một cách đúng đắn mối quan tâm ngày càng tăng của ông đối với cái hiện hữu.  Theo Crichton, C. (2022). Metontology and Heidegger’s Concern for the Ontic after Being and Time: challenging the a priori. Trans/form/ação: revista de Filosofia da Unesp, v. 46, n.3, p. 33-58, 2022.- HHN]

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.