Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
III. TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CHÂN THỰC CỦA DASEIN, THỜI GIAN TÍNH: Ý NGHĨA BẢN THỂ LUẬN CỦA CHĂM LO
[Tr. 377] Thời gian tính hoàn toàn không phải là một thực thể. Nó không ‘là’ một thực thể, mà tự thân thời gian hóa. Tuy nhiên, chúng ta khó tránh khỏi việc phải diễn đạt rằng: Thời gian tính ‘là’… ý nghĩa của Sorge/ care chăm lo, hay “Thời gian tính ‘là’…được định nghĩa theo cách này hay cách khác”. Điều này chỉ có thể được hiểu rõ khi chúng ta đã làm sáng tỏ khái niệm về ‘Hữu thể’ và ý nghĩa của ‘là’ nói chung. Thời gian tính thời gian hóa, và nó thực sự thời gian hóa các phương thức khả thể của chính nó. Các phương thức này làm cho tính đa dạng trong các phương thức Hữu thể của Dasein trở nên khả thể, đặc biệt là khả tính căn bản về Eigentliche Existenz xuất-hiện đích thực hoặc Uneigentliche Existenz xuất-hiện không đích thực. Cái tương lai, tính chất ‘đã-từng-là’ (quá khứ), và Hiện tại biểu thị các đặc điểm hiện tượng của các trạng thái ‘hướng-về-chính-mình’, ‘quay-trở-lại-với’, và ‘để-cho-bản-thân-được-gặp-gỡ- bởi’.1
Các hiện tượng của cái ‘hướng về’, ‘tới’, và ‘ở bên cạnh’ làm cho thời gian tính hiện ra như là εκστατικόν ekstatikon cấu thành xuất-thân theo nghĩa thuần túy và giản đơn. Thời gian tính, tự thân nó, chính là cái ‘xuất-thân’ bản nguyên trong tự thân và cho tự thân. Do đó, chúng ta gọi các hiện tượng về cái tương lai, tính chất đã-từng-là, và cái Hiện tại là những trạng thái xuất-thân ἔκστασις ékstasis của thời gian tính.2 Thời gian tính không phải là một thực thể tồn tại trước rồi sau đó mới tự xuất hiện; bản chất của nó chính là quá trình thời gian hóa trong nhất tính của các ἔκστασις ékstasis cấu thành xuất-thân này. Đặc điểm của ‘thời gian’ mà chúng ta có thể tiếp cận theo cách hiểu thông thường bao gồm một chuỗi thuần túy các ‘bây giờ’ thuần túy, không có điểm bắt đầu cũng chẳng có điểm kết thúc, trong đó tính chất xuất-thân của thời gian tính bản nguyên đã bị san phẳng. Tuy nhiên, chính sự san phẳng này, theo nghĩa hữu thể của nó, lại có nền tảng từ cái khả tính của một loại thời gian hóa xác định; theo đó, thời gian tính thời gian hóa với tư cách không-đích-thực, là loại ‘thời gian’ mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Do đó, nếu chứng minh được rằng ‘thời gian’ mà ý thức thông thường của Dasein có thể tiếp cận không phải là thời gian bản nguyên, mà nó nảy sinh từ thời gian tính đích thực, thì theo nguyên tắc ‘a potiori fit denominatio’ - gọi tên dựa trên yếu tố chiếm ưu thế, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để gọi thời gian tính mà chúng ta vừa làm sáng tỏ là ‘thời gian bản nguyên’.
[Tr. 378] Khi liệt kê các ἔκστασις ékstasis cấu thành xuất-thân, chúng ta luôn nhắc đến tương lai trước tiên. Chúng ta làm như vậy để chỉ ra rằng tương lai giữ vị trí ưu tiên trong nhất tính xuất-thân của thời gian tính bản nguyên và đích thực. Điều này đúng ngay cả khi thời gian tính không hình thành thông qua một chuỗi tích lũy các cấu thành xuất-thân, mà thay vào đó, trong mỗi trường hợp, nó tự thời gian hóa trong tính đồng bản nguyên của chúng. Tuy nhiên, trong tính đồng bản nguyên này, các phương thức thời gian hóa lại khác nhau. Sự khác biệt ấy nằm ở chỗ bản chất thời gian hóa có thể được xác định chủ yếu dựa trên các cấu thành xuất-thân khác nhau. Thời gian tính bản nguyên và đích thực tự thời gian hóa trong khuôn khổ cái tương lai đích thực; theo cách đó, bằng việc đã-từng về phương diện tương lai, trước hết nó đánh thức cái Hiện tại.3 Hiện tượng chủ đạo của thời gian tính nguyên thủy và đích thực chính là cái tương lai. Vị thế ưu tiên của cấu thành tương lai sẽ thay đổi tùy theo cách thức mà quá trình thời gian hóa của thời gian tính phi đích thực tự thân biến đổi, nhưng nó vẫn luôn hiện diện rõ nét ngay cả trong loại ‘thời gian’ phái sinh.4 Chăm lo chính là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết. Chúng ta đã định nghĩa ‘tính quyết đoán tiên liệu’ với tư cách Hữu thể đích thực hướng tới cái khả tính mà chúng ta từng mô tả là bất khả tính tuyệt đối của Dasein. Trong loại Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục này, Dasein hiện hữu một cách trọn vẹn đích thực—như chính cái thực thể mà nó có thể trở thành khi ‘bị ném vào cái chết’. Thực thể này không có một chung cục mà tại đó nó chỉ việc dừng lại; thay vào đó, nó hiện hữu một cách hữu hạn.5 Tương lai đích thực được thời gian hóa chủ yếu bởi chính thời gian tính tạo nên ý nghĩa của tính quyết đoán tiên liệu; như vậy, nó tự bộc lộ là hữu hạn.6 Nhưng chẳng phải ‘thời gian vẫn cứ trôi’ bất chấp Dasein của riêng tôi không hiện hữu nữa sao?7 Và chẳng phải vô số sự vật vẫn có thể còn ‘trong tương lai’ để rồi xuất hiện hay sao?
[Chen ngang: Heidegger dùng ékstasis tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là ‘đứng bên ngoài chính mình’ để mô tả bản chất của thời gian tính, vốn không phải là những khoảnh khắc tuyến tính trôi qua mà là cấu trúc đan cài giúp cho Dasein hiện hữu người luôn ‘vượt ra ngoài’ chính nó để kiến tạo thế giới và ý nghĩa. Thay vì coi thời gian là một chuỗi các khoảng khắc trôi từ quá khứ đến tương lai như đồng hồ, Heidegger lập luận rằng Dasein tồn tại bằng cách đồng thời hướng về ba chiều kích thời gian—được gọi là ba chiều kích xuất thân của thời gian tính: i) Tương lai: Dasein luôn đi trước chính mình, tự phóng chiếu bản thân về phía trước để hướng tới các khả tính và mục tiêu tương lai; ii) Quá khứ đã-từng-là: Dasein ở trong trạng huống ‘bị ném vào’ một thế giới, một bối cảnh văn hóa và lịch sử sẵn có mà nó không tự chọn, nhưng vẫn phải mang theo; iii) Hiện tại: Dasein hành động ở hiện tại bằng cách biến các sự vật, hiện tượng xung quanh trở nên hiển hiện và sẵn sàng cho các công việc cụ thể. Ba chiều kích này không tách rời mà đan cài, thống nhất chặt chẽ để tạo nên ‘không gian’ cho ý nghĩa hiện hữu người xuất hiện. Khái niệm này liên quan trực tiếp đến thuật ngữ Ek-sistenz/ Ek-sistence xuất thân, nhấn mạnh rằng Dasein không phải là một khối vật chất tĩnh, mà là một thực thể luôn đứng khai mở ra ngoài và bộc lộ trước chân lý của cấu thành bản thể.-HHN]
Chúng ta phải trả lời khẳng định cho những câu hỏi này. Tuy nhiên, các câu hỏi đó không chứa đựng bất kỳ phản đối nào đối với cái hữu hạn của thời gian tính bản nguyên, bởi vì vấn đề này không còn nằm trong phạm vi xem xét. Câu hỏi không phải là về mọi thứ có thể xảy ra ‘trong một thời gian cứ tiếp diễn’, hay về loại nào của cái để-cho-điều-gì-đó-đến-với- chính-mình nào mà chúng ta có thể bắt gặp ‘từ loại thời gian này’, mà là về cách thức ‘đến-với-chính-mình’, theo đúng nghĩa, phải được xác định về phương diện bản nguyên. Tính hữu hạn của nó không đơn thuần là sự dừng lại, mà là một đặc tính của chính quá trình thời gian hóa. Tương lai bản nguyên và đích thực chính là ‘hướng-đến-chính-mình’ (hướng về bản thân!),8 xuất hiện [tr.379] với tư cách là cái khả tính của hư vô – loại khả tính không được bỏ lại phía sau. Tính chất xuất-thân của tương lai bản nguyên nằm chính ở chỗ: tương lai khép lại tiềm-năng-cho-Hữu-thể của một kẻ nào đó; nghĩa là, bản thân tương lai đó khép kín đối với kẻ ấy,9 và theo đúng nghĩa, nó mở ra khả năng cho một sự thấu hiểu thực hữu cụ thể đầy quyết đoán về tính hư vô. Việc ‘đến-với-chính-mình’ một cách bản nguyên và đích thực chính là ý nghĩa của sự xuất-hiện trong chính tính hư vô riêng tư nhất của kẻ đó. Khi khẳng định thời gian tính vốn hữu hạn bản nguyên, ta không hề phủ nhận ‘thời gian vẫn cứ tiếp diễn’, mà chỉ đơn thuần bám sát vào đặc tính hiện tượng của thời gian tính bản nguyên – một đặc tính tự bộc lộ trong những gì được phóng chiếu thông qua hành động phóng chiếu hữu thể/ cấu thành bản thể bản nguyên của Dasein.
Cám dỗ bỏ qua tính hữu hạn của tương lai bản nguyên và đích thực – do đó là tính hữu hạn của chính thời gian tính – hoặc giả định a priori tiên nghiệm rằng tính hữu hạn như vậy là bất khả, nảy sinh từ cách hiểu thông thường về thời gian luôn tự đẩy mình lên vị thế hàng đầu. Ngay cho dù cách hiểu thông thường là đúng khi nhận biết một loại thời gian vô tận – và chỉ biết đến điều đó – thì cũng chưa có gì chứng minh rằng nó thực sự thấu hiểu loại thời gian này cùng với ‘tính vô tận’ của nó. Vậy, việc nói rằng ‘Thời gian vẫn tiếp diễn’ hay ‘Thời gian cứ trôi qua’ nghĩa là gì? Ý nghĩa ‘trong thời gian’ nói chung, cũng như các cách biểu đạt ‘trong tương lai’ và đến ‘từ tương lai’ nói riêng là gì? Theo nghĩa nào thì ‘thời gian’ là vô tận? Những vấn đề này cần được làm sáng tỏ, nếu không, các phản đối thông thường đối với tính hữu hạn của thời gian bản nguyên sẽ vẫn còn thiếu cơ sở.
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể soi sáng những vấn đề đó một cách hiệu quả nếu tìm ra được phương thức đặt vấn đề phù hợp liên quan đến tính hữu hạn và tính vô hạn.10 Cách đặt vấn đề như vậy chỉ nảy sinh khi chúng ta nhìn nhận hiện tượng bản nguyên của thời gian một cách thấu đáo. Vấn đề không nằm ở chỗ làm thế nào11 để thời gian vô hạn ‘phái sinh’— nơi mà cái sẵn-có-để-dùng nảy sinh và biến mất — trở thành tính thời gian hữu hạn bản nguyên; vấn đề là làm thế nào để thời gian tính không đích thực nảy sinh từ thời gian tính đích thực hữu hạn, và làm thế nào để thời gian tính không đích thực — với tư cách không đích thực — lại thời gian hóa một loại thời gian vô hạn từ chính cái hữu hạn đó. Chỉ vì thời gian bản nguyên là hữu hạn nên thời gian ‘phái sinh’ mới có thể tự thời gian hóa như là loại thời gian vô hạn. Trong cái trật tự mà chúng ta nắm bắt các sự vật thông qua sự thấu hiểu, thì tính hữu hạn của thời gian lại không thực sự trở nên rõ nét cho đến khi chúng ta đã trưng ra được ‘thời gian vô tận’ để có thể đối sánh.
[Tr.380] Phân tích của chúng ta về thời gian tính bản nguyên cho đến thời điểm này có thể được tóm lược qua các luận điểm sau: Thời gian mang tính bản nguyên với tư cách là tiến trình thời gian hóa thời gian tính, và nhờ đó, nó làm cho Cấu thành của cấu trúc chăm lo trở nên khả thể. Thời gian tính về bản chất mang tính xuất-thân. Thời gian tính tự thời gian hóa theo cách bản nguyên từ tương lai. Thời gian bản nguyên là hữu hạn. Tuy nhiên, phép Diễn giải về chăm lo như là thời gian tính không thể chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp như đã đạt được, dù rằng nó đã giúp chúng ta thực hiện những bước đầu tiên trong việc nhìn nhận cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể bản nguyên và đích thực của Dasein. Luận điểm cho rằng ý nghĩa của Dasein chính là thời gian tính cần phải được xác nhận thông qua nội dung cụ thể trong trạng thái căn bản của thực thể này, như đã được trình bày trước đó.
66. Thời gian tính của Dasein và Nhiệm vụ nảy sinh Từ đó: Lặp lại Phân tích Hữu thể theo Cách thức Ban nguyên
Hiện tượng thời gian tính mà chúng ta đã làm sáng tỏ không chỉ đòi hỏi một sự xác nhận bao quát hơn về năng lực cấu thành của nó, mà chính thông qua sự xác nhận đó, bản thân nó mới bộc lộ rõ các khả tính cơ bản tự thời gian hóa. Việc chứng minh khả tính trạng thái Hữu thể của Dasein dựa trên nền tảng thời gian tính sẽ được chỉ định một cách ngắn gọn, dù chỉ là tạm thời, là ‘phép Diễn giải mang tính thời gian’. Nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là vượt ra ngoài phép phân tích thời gian về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein, cũng như vượt ra ngoài việc mô tả khái quát cái thời gian tính của chăm lo, để từ đó làm sáng tỏ tính không đích thực của Dasein thông qua chính thời gian tính đặc thù của nó. Thời gian tính lần đầu tiên tự xuất hiện trong trạng thái quyết đoán mang tính tiên liệu. Đây là phương thức đích thực của trạng thái ‘khai mở’; tuy nhiên, trạng thái này phần lớn lại duy trì trong tính không đích thực — nơi mà das Man cái ‘họ’ tự diễn giải chính mình theo lối sa ngã. Khi mô tả thời gian tính của trạng thái ‘khai mở’ nói chung, nó dẫ chúng ta đến sự thấu hiểu mang tính thời gian về loại Hữu-thể-trong-thế-giới đầy bận tâm vốn gần gũi nhất với chúng ta; từ đó, ta hiểu được trạng thái chưa phân hóa trung bình của Dasein – điểm khởi đầu làm cơ sở cho phép phân tích hữu thể/cấu thành bản thể của nó.xxiv Chúng ta gọi loại Hữu thể trung bình này của Dasein – trạng thái mà nó tự duy trì trong phần lớn thời gian – là ‘tính thường nhật’. Bằng cách xem xét lại các phân tích trước đó, chúng ta phải làm sáng tỏ tính thường nhật trong ý nghĩa thời gian của nó, để những vấn đề bao hàm trong thời gian tính được bộc lộ, đồng thời cái đặc tính dường như ‘hiển nhiên’ của các phân tích chuẩn bị cũng hoàn toàn biến mất. Thật vậy, thời gian tính được xác nhận thông qua tất cả các cấu trúc thiết yếu cấu thành nên nền tảng của Dasein. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ đơn thuần lặp lại các phân tích cũ một cách hời hợt, máy móc theo đúng trình tự trình bày trước đây. Tiến trình phân tích mang tính thời gian lần này khác biệt hơn: nó nhằm làm rõ [tr.381] mối liên kết giữa các lập luận trước đó, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên hoặc có vẻ võ đoán. Tuy nhiên vượt khỏi những đòi hỏi về phương pháp, chính bản thân hiện tượng này cũng cung cấp những lý do thôi thúc chúng ta phải trình bày lại các phân tích của mình theo một cách khác.
Cấu trúc bản thể luận của cái thực thể mà trong mỗi trường hợp chính là bản thân tôi, tập trung vào Selbstständigkeit tính tự lập của sự xuất-hiện. Vì cái Tự ngã không thể được quan niệm như một Substanz/ substance bản thể hay một subject chủ thể, mà thay vào đó lại bắt rễ từ chính sự xuất-hiện, nên phân tích của chúng ta về cái Tự ngã không đích thực, tức là das Man cái ‘họ’, đã hoàn toàn phụ thuộc vào phép Diễn giải chuẩn bị về Dasein.xxv [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Substanz/ substance bản thể vốn bắt nguồn từ thuật ngữ οὖσα ousia trong tiếng Hy Lạp và substantia trong tiếng Latin được chuyển ngữ sang tiếng Đức và tái định nghĩa thông qua hai thuật ngữ riêng biệt, tùy thuộc vào trường hợp ông phê phán siêu hình học truyền thống hay trường hợp xác định một phương thức hiện hữu cụ thể: 1). Substanz - đối tượng phê phán trong Siêu hình học: i) Heidegger sử dụng thuật ngữ Substanz tương đương trực tiếp của từ tiếng Đức khi phê phán siêu hình học phương Tây truyền thống, đặc biệt là triết học của Aristotle và Descartes; ii) Phê phán của Heidegger - trong triết học truyền thống, một Substanz/bản thể được xem là một chỉnh thể độc lập, tự thân, sở hữu các thuộc tính tĩnh tại chẳng hạn một hòn đá hay một khúc gỗ. Heidegger lập luận rằng việc quy giản thực tại thành một tập hợp các thực thể độc lập đã tạo ra sự phân tách giả thành cái chủ thể [tâm trí con người] và cái khách thể [thế giới]. 2). Vorhandenheit - hiện diện vô tri/khách quan trước mắt: i) Ý nghĩa - khi loại bỏ những gánh nặng siêu hình học truyền thống gắn liền với khái niệm ‘bản thể’ để mô tả cách chúng ta tiếp cận các sự vật tĩnh tại trong thế giới một cách khách quan, Heidegger sử dụng thuật ngữ Vorhandenheit thường được dịch là ‘hiện diện khách quan trước mắt’ hay ‘hiện-diện-vô-tri’; ii) Bối cảnh trong tư tưởng Heidegger - trong Sein und Zeit, thuật ngữ này mô tả phương thức hiện hữu của một sự vật khi chúng ta quan sát nó bằng cái nhìn tách biệt, mang tính khoa học; chẳng hạn, nếu một chiếc búa bị hỏng, chúng ta ngừng sử dụng nó và đột nhiên nhìn chằm chằm vào nó như một vật thể gồm gỗ và kim loại—lúc này, ta nhận thức nó như một ‘thực thể’ Vorhanden hiện diện vô tri thay vì một công cụ. 3) Sự tương phản: Dasein và Wesen - Heidegger đưa ra lập luận nổi tiếng rằng con người không phải là các substances ‘thực thể’: i) Để phân biệt con người với các thực thể vô tri, ông sử dụng thuật ngữ Dasein Có-đó; ii) Ông khẳng định rằng Wesen bản thể/thực thể của Dasein nằm trọn vẹn trong chính sự xuất-hiện của nó—nghĩa là con người được định nghĩa bởi những lựa chọn, hành động và cam kết liên tục với thế giới, chứ không phải bởi các thuộc tính cố định hay tĩnh tại.-HHN]
Giờ đây, khi Selbsthei/ Selfhood Tự ngã tính đã được đưa trở lại một cách tường minh vào cấu trúc Sorge/ care chăm lo, và do đó, vào cấu trúc của thời gian tính, thì phép Diễn giải mang tính thời gian về Selbstständigkeit Tự-ngã-kiên-định-tính và Phi-Tự-ngã-kiên-định-tính12 của nó lại trở nên đặc biệt quan trọng. Phép Diễn giải này cần được thực hiện một cách tách biệt và theo chủ đề. Tuy nhiên, nó không chỉ giúp chúng ta tránh được các ngụy biện hay những câu hỏi sai lệch về mặt bản thể luận liên quan đến Hữu thể của cái ‘Tôi’ nói chung, mà — nhờ vào chức năng trung tâm của mình — nó còn mang lại một phép thấu thị bản nguyên hơn về cấu-trúc-thời-gian-hóa của thời gian tính, vốn tự bộc lộ như là sử tính của Dasein. Mệnh đề ‘Dasein mang tính lịch sử’ được xác nhận là một khẳng định bản thể luận hữu thể/cấu thành bản thể nền tảng. Khẳng định này khác xa với việc chỉ đơn thuần xác lập thuấn túy ontish thực hữu cái sự thật là Dasein xuất hiện trong một ‘lịch sử-thế giới’. Thay vào đó, tính lịch sử của Dasein chính là nền tảng cho một kiểu thấu hiểu về diễn ngôn lịch sử, từ đó mở ra khả năng nắm bắt đặc thù về sự phát triển của diễn ngôn lịch sử historiology với tư cách là một ngành khoa học.
[Chen ngang: Heidegger sử dụng từ Weltgeschichte Lịch sử Thế giới để phân biệt cách nhìn nhận thông thường, hời hợt về lịch sử với phân tích bản thể luận nền tảng của ông về Dasein hiện hữu người. 1). Sự phân biệt giữa cái mang tính ontish thực hữu và cái thuộc về bản thể luận: i) Weltgeschichte/ World-history Lịch sử Thế giới dưới góc độ thực hữu - Khi nói rằng Dasein hiện hữu người xuất hiện trong một ‘Lịch sử-thế giới’, đó chỉ là một phát biểu mang tính ontish thực hữu, coi lịch sử như một dòng thời gian tuần tự, một chiếc hộp chứa đựng các sự kiện quá khứ, hay một chuỗi các biến cố khách quan xảy ra trong thời gian, nơi con người chỉ tình cờ xuất hiện rồi biến mất; ii) Geschichtlichkeit Tính lịch sử với tư cách bản thể luận - Heidegger lập luận rằng lịch sử chân thực không phải là thứ gì đó tình cờ xảy ra với chúng ta hay tồn tại tách biệt bên ngoài chúng ta; thay vào đó Dasein mang tính lịch sử ngay từ cội rễ, nhờ vào cấu trúc nền tảng của thời gian tính (sự tương tác năng động giữa tương lai, cái đã-từng-là/quá khứ, và cái Hiện tại). 2). Dasein làm cho ‘Lịch sử Thế giới’ trở nên khả thể: i) Heidegger đảo ngược quan điểm truyền thống - Không phải Lịch sử Thế giới tạo ra Dasein, mà chính quá trình lịch sử hóa mang tính bản nguyên của Dasein mới là yếu tố làm cho Lịch sử thế giới trở nên khả thể; iii) Vì Dasein hiện hữu người về bản chất được cấu thành bởi cái quá khứ của tình trạng ‘bị ném vào’ thế giới, bởi những dự phóng chủ động hướng tới tương lai, và bởi cuộc dấn thân vào thế giới của chính mình, nên nó luôn mang theo quá khứ, dù nó có nhận thức rõ điều đó hay không. Tóm lại khi Heidegger bác bỏ quan niệm cho rằng Dasein chỉ đơn thuần ‘xuất hiện trong một Lịch sử thế giới’, ông muốn nói rằng việc nhìn nhận con người như những thực thể thụ động trôi dạt trên dòng sông thời gian lịch sử thông thường là chưa nắm bắt được bản chất vấn đề. Dasein không chỉ ‘ở trong lịch sử’, mà trong căn cội của mình, nó đã mang tính lịch sử; còn ‘Lịch sử thế giới’ theo cách hiểu thông thường chỉ là kết quả phái sinh của thời gian tính hữu thể/cấu thành bản thể sâu xa hơn của chính Dasein.-HHN]
[Chen ngang tiếp: Đối với Heidegger thì Historie/ Historiology được hiểu là khoa học lịch sử hoặc sử học—tức là ngành nghiên cứu mang tính học thuật, lý thuyết và khách quan hóa về các sự kiện trong quá khứ. Để hiểu rõ ngọn nguồn khái niệm này cần phải đặt nó đối lập với khái niệm Geschichte/ history lịch sử. Heidegger đã thực hiện một sự phân biệt ngôn ngữ học và triết học sâu sắc giữa hai thuật ngữ này để vạch trần giới hạn của khoa học lịch sử truyền thống. 1) Sự khác biệt cốt lõi giữa Historie và Geschichte: i) Historie/ Historiology/ Khoa học Lịch sử là khoa học về quá khứ, biến quá khứ thành một đối tượng nghiên cứu tĩnh, thu thập dữ liệu, phân tích nguyên nhân và kết quả; ii) Khách quan hóa quá khứ: Heidegger cho rằng Historiology Khoa học Lịch sử nhìn nhận lịch sử như một chuỗi các sự kiện đã qua, ‘đã chết’ và được xếp vào lưu trữ để phân tích mổ xẻ; iii) Khoa học Lịch sử biến lịch sử thành một thứ đồ vật để chiếm lĩnh về mặt tri thức. 2). Căn nguyên từ Sử tính Geschichtlichkeit/ Historicity): Heidegger nhấn mạnh rằng khoa học lịch sử không tự nhiên mà có; nó chỉ khả thể vì Dasein hiện hữu người mang tính lịch sử sâu sắc; nó ‘bị ném vào’ một thế giới có sẵn truyền thống, ngôn ngữ và văn hóa; chính vì hiện hữu với quá khứ, hiện tại, tương lai giao thoa qua Temporality Thời gian tính, nên sử tính Geschichtlichkeit của Dasein mới là nguyên cớ để có thể có một ngành khoa học để nghiên cứu lại quá khứ đó. 3). Mối nguy của Historicism Chủ nghĩa lịch sử: i) Heidegger cảnh báo rằng nếu quá phụ thuộc vào Historie Lịch sử học, con người dễ rơi vào việc thu thập sự kiện một cách vô hồn, biến lịch sử thành một thứ kiến thức bách khoa xa lạ, tách rời khỏi các quyết định hữu thể/cấu thành bản thể của Dasein hiện hữu người ở hiện tại; ii) Kế thừa từ triết gia Friedrich Nietzsche, Heidegger chỉ ra rằng một Khoa học Lịch sử chân thực phải phục vụ cho sự sống và được định hình bởi chính ba chiều kích Thời gian của Dasein, đó là - Sử học tượng đài (Monumental historiology): Hướng về những khả năng lớn lao trong quá khứ để làm động lực cho tương lai; - Sử học cổ vật Antiquarian historiology - Gìn giữ và tôn kính cội nguồn nhằm bảo tồn hiện tại; - Sử học phê phán (Critical historiology): Phán xét và rũ bỏ những gánh nặng quá khứ để giải phóng Dasein khỏi những truyền thống đã thoái hóa. Tóm lại, với Heidegger, Historiology là tầng mặt—ngành khoa học nghiên cứu các dữ kiện lịch sử. Nhưng để không trở thành đống tài liệu vô tri, nó phải luôn bám rễ, soi chiếu vào Geschichte và Geschichtlichkeit—tức là dòng chảy lịch sử sống động mà Dasein hiện hữu người luôn trực tiếp dấn thân và kiến tạo hàng ngày.-HHN]
Thông qua việc Diễn giải tính thường nhật và sử tính về phương diện thời gian, chúng ta sẽ có được cái nhìn đủ rõ nét về thời gian bản nguyên, từ đó làm sáng tỏ nó như là điều kiện khiến cho trải nghiệm thường nhật về thời gian trở nên vừa khả thể, vừa tất yếu. Là một thực thể mà chính Hữu thể của nó là một vấn đề, Dasein chủ yếu tự vận dụng chính mình cho chính mình — dù là một cách tường minh hay không. Một cách trực tiếp nhất và phần lớn, chăm lo biểu hiện dưới dạng một mối bận tâm có tính bao quát cẩn trọng. Trong việc sử dụng chính mình vì lợi ích của chính mình, Dasein ‘tiêu hao chính mình’. Khi tiêu hao chính mình, Dasein sử dụng chính mình—tức là, sử dụng thời gian của chính nó.13 Và khi sử dụng thời gian, Dasein cũng đồng thời tính toán với nó. Thời gian được phát hiện lần đầu tiên trong mối bận tâm có tính toán [tr.382] cẩn trọng, và mối bận tâm này dẫn đến việc hình thành một phương thức tính toán thời gian. Việc tính toán với thời gian là yếu tố cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế-giới. Việc khám phá đầy bận tâm và thận trọng, trong hành động tính toán thời gian cho phép các sự vật mà chúng ta đã phát hiện ra, và vốn là những sự vật sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri, đều có thể được bắt gặp trong thời gian. Như vậy, các thực thể bên-trong-thế-giới trở nên có thể tiếp cận với tư cách ‘hiện hữu trong thời gian’. Chúng ta gọi thuộc tính thời gian của các thực thể bên-trong-thế-giới là die Innerzeitkeit ‘tính-ở-trong-thời-gian’. Loại ‘thời gian’ được tìm thấy trước hết về phương diện ontish thực hữu thông qua ‘tính-ở-trong-thời-gian’ này, trở thành nền tảng hình thành nên quan niệm truyền thống thông thường về thời gian. Tuy nhiên, thời gian — dưới dạng ‘tính-ở-trong-thời-gian’ — lại nảy sinh từ một loại thời gian hóa thiết yếu của thời gian tính bản nguyên. Chính sự thật đây chính là nguồn gốc của nó cho thấy rằng thời gian — cái ‘trong-cái- mà’, vốn hiện-diện-vô-tri lại nảy sinh rồi mất đi, là một hiện tượng thời gian chân thực; nó đâu phải là loại ngoại tại hóa một ‘thời gian định tính’ thành không gian, như phép Diễn giải Bergson về thời gian, vốn là phép Diễn giải mơ hồ, không thỏa đáng về phương diện bản thể luận - thì lẽ nào ta phải tin.
[Chen ngang: Henri Bergson cho rằng thời gian thực sự của ý thức là một dòng chảy liên tục, định tính, các trạng thái tâm thức thâm nhập vào nhau mà không thể tách rời hay đếm được. Vì vậy ông đã ‘không gian hóa thời gian’ vì cho rằng vì nhu cầu thực tiễn và khoa học như đo đạc, tính toán, con người đem ‘thời gian’ trải lên một mặt phẳng không gian—biến dòng chảy liên tục thành một chuỗi các ‘khoảnh khắc’ đứng yên, nối tiếp nhau như các điểm trên một đường thẳng hay các vạch trên đồng hồ. Với Bergson, đây là sự hiểu sai thời gian do thói quen không gian hóa. 1). Sự hiểu lầm và chỉ trích của Heidegger đối với Bergson và Heidegger phê phán chính cấu trúc tư duy này của Bergson ở hai điểm cốt lõi: i) Ông cho rằng Bergson vẫn giữ ‘không gian’ làm điểm tựa và cáo buộc rằng khi Bergson định nghĩa thời gian durée nội tâm rồi đối lập nó với việc ‘ngoại hóa thành không gian’, Bergson vô tình vẫn nhìn thời gian qua lăng kính truyền thống bắt nguồn từ Aristotle và Kant, tức là lấy ‘chuỗi liên tục’ ra làm nền tảng, rồi xem thời gian như một cái gì đó được đặt vào hoặc bị tách ra khỏi không gian; ii) Bất định bản thể luận và không thỏa đáng - Heidegger cho rằng quan niệm của Bergson là không gian hóa thời gian nên vẫn mang tính tâm lý học, coi thời gian như một thuộc tính của ý thức chủ thể, chứ chưa chạm đến được bản thể luận gốc gác của thời gian. 2). Thời gian đích thực theo quan niệm của Heidegger: i) Đối với Heidegger, thời gian không phải là một ‘thứ’ dù là định tính hay định lượng nằm bên trong ý thức rồi bị ngoại hóa ra ngoài, cũng không phải là dòng chảy đồng hồ; ii) Dasein hiện hữu người là thời gian - nó không ‘tồn tại trong thời gian’, mà chính Dasein hiện hữu người là Zeitlichkeit/ temporality thời gian tính; iii) Primordial temporality Thời gian bản nguyên của Heidegger là sự phóng chiếu thống nhất của Dasein hướng về tương lai phóng chiếu khả tính, gắn liền với quá khứ của tính đã-từng-là, và Hiện tại của Sorge/care Chăm lo, chứ không phải một đại lượng bị ném vào không gian.-HHN]
Khi phân tích ‘thời gian tính’ của Dasein dưới các khía cạnh như tính thường nhật, tính lịch sử và tính-ở-trong-thời-gian, chúng ta sẽ lần đầu tiên có được cái nhìn sâu sắc và thấu đáo về những phức tạp trong một bản thể luận bản nguyên về Dasein. Với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein tồn tại một cách thực tế cùng với và bên cạnh các thực thể mà nó bắt gặp trong-thế-giới. Do đó, Hữu thể của Dasein chỉ trở nên minh bạch về phương diện bản thể luận một cách toàn diện khi đặt trong một chân trời14 trong đó cái Hữu thể của các thực thể khác Dasein, bao gồm cả những thực thể không thuộc loại sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri mà chỉ đơn thuần ‘tồn tại’, đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nếu các biến thể của Hữu thể cần được diễn giải cho mọi sự vật mà ta khẳng định rằng ‘Nó hiện hữu’, thì ta cần có một ý niệm về Hữu thể nói chung; và ý niệm này cần phải làm sáng tỏ từ trước. Chừng nào chưa đạt tới ý niệm đó, thì việc phân tích tính thời gian của Dasein, dù có được lặp lại, vẫn sẽ mãi dang dở và đầy rẫy những điểm mù; đó là chưa kể đến các khó khăn khách quan khác. Về phần mình, phép phân tích hữu thể-mang tính thời gian đối với Dasein đòi hỏi phải được thực hiện lại từ đầu, trong một khuôn khổ mà khái niệm Hữu thể phải được thảo luận một cách căn bản.
IV THỜI GIAN TÍNH VÀ TÍNH THƯỜNG NHẬT
67. Nội dung Cơ bản Cấu thành Hữu thể của Dasein và Phác thảo Sơ bộ về phép Diễn giải Cấu thành Mang tính thời gian đó
[Tr. 383] Phân tích chuẩn bị của chúng ta đã mở ra vô số hiện tượng có thể tiếp cận; và dù chúng ta có tập trung sâu đến đâu vào tổng thể cấu trúc nền tảng Sorge/care Chăm lo, thì những hiện tượng đó cũng không được phép biến mất khỏi tầm nhìn hiện tượng luận của chúng ta. Tổng thể tính bản nguyên trong cấu thành của Dasein không những không loại trừ một loại đa bội tính như vậy, mà ngược lại, chính cấu thành đó lại đòi hỏi nó phải được diễn giải. Tính bản nguyên của một trạng thái Hữu thể không đồng nhất với tính giản đơn hay tính duy nhất của một yếu tố cấu trúc tối hậu nào đó. Nguồn gốc bản thể luận Hữu thể của Dasein không hề ‘thấp kém’ hơn những gì nảy sinh từ nó; trái lại, ngay từ đầu, nguồn gốc ấy đã vượt trội về sức mạnh. Trong lĩnh vực bản thể luận, bất kỳ sự ‘nảy-sinh-từ’ nào cũng đều là một dạng thoái hóa. Nếu thâm nhập được đến ‘nguồn gốc’ bản thể luận, thì sẽ không bắt gặp những điều vốn hiển nhiên về phương diện thực hữu đối với ‘hiểu biết thông thường’; thay vào đó, chính tính chất đầy nghi vấn của những điều hiển nhiên ấy lại mở ra trước chúng ta.
Khi đưa các hiện tượng đã tìm thấy trong phân tích chuẩn bị trở lại tầm nhìn hiện tượng luận, thì chỉ cần nhắc lại những giai đoạn mà chúng ta đã đi qua là đủ. Định nghĩa Sorge/care Chăm lo của chúng ta xuất phát từ phân tích về Erschlossenheit/disclosedness trạng thái khai mở, vốn cấu thành nên cái Hữu thể của cái ‘có-đó’. Việc làm sáng tỏ hiện tượng này đòi hỏi chúng ta phải đưa ra phép Diễn giải tạm thời về Hữu-thể-trong-thế-giới, trạng thái cơ bản của Dasein. Nghiên cứu của chúng ta bắt đầu bằng việc mô tả Hữu-thể-trong-thế-giới, ngay từ đầu nhằm đảm bảo một chân trời hiện tượng luận thỏa đáng, đối lập với những cách tiếp cận không phù hợp, thường mơ hồ, vốn đã định hình bản chất của Dasein từ trước về phương diện bản thể luận. Hữu-thể-trong-thế-giới trước hết được đặc tả thông qua hiện tượng thế giới. Trong giải thích của chúng tôi, điều này được thực hiện bằng cách mô tả về phương diện thực hữu-bản thể luận những gì sẵn-có-để-dùng và hiện-diện-vô-tri ‘trong’ môi trường; từ đó làm nổi bật tính chất ở-trong-thế-giới, nhờ vậy mà hiện tượng die Weltlichkeit ‘tính thế giới’ nói chung có thể được hiển lộ. Tuy nhiên, sự thấu hiểu lại gắn kết cốt yếu với [tr.384] trạng-thái-khai-mở; và cấu trúc của ‘tính thế giới’, tức là biểu nghĩa, cho thấy mối gắn kết với cái mà sự thấu hiểu tự phóng chiếu vào, đó chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà vì nó Dasein mới xuất-hiện.
[Chen ngang: die Weltlichkeit/worldhood Tính thế giới: i) Lưu ý quan trọng của Heidegger là trong tiếng Đức thông thường, weltlich hay Weltlichkeit mang nghĩa là ‘trần tục/trần thế’ hay ‘thói đời’ của con người. Tuy nhiên, Heidegger tách hẳn từ này khỏi nghĩa thông dụng đó để dùng theo nghĩa bản thể luận-cấu thành bản thể. 1) Ý nghĩa của Weltlichkeit/ Worldhood của Heidegger: i) Weltlichkeit không phải là vật chất hay vũ trụ, không chỉ về vũ trụ vật lý, môi trường tự nhiên, hay một tập hợp các đồ vật nằm bên ngoài con người; ii) Cấu trúc ý nghĩa của Dasein hiện hữu người - là bản chất của việc là một thế giới—tức là mạng lưới các mối quan hệ, ý nghĩa và sự tương tác mà nhờ đó Dasein có thể hiểu và kết nối với các sự vật xung quanh; iii) Tính chất Hữu-thể-trong của Dasein: Thế giới không phải là một chiếc hộp chứa đựng các đồ vật, mà thế giới tính là cấu trúc sẵn có giúp con người luôn In-der-Welt-sein ở-trong-thế-giới một cách gắn bó, thực tiễn thay vì chỉ đứng ngoài quan sát thuần túy; iv) Zeug/ Equipment Mạng lưới công cụ - khi sống trong thế giới, chúng ta không nhìn thấy các sự vật như những vật thể hiện-diện-vô-tri một cách cô lập, mà trải nghiệm chúng qua dụng ích và các mối liên hệ hướng đến (để làm gì, cho ai, với cái gì); v) Weltlichkeit/ Worrldhood chính là điều kiện nền tảng làm cho những ý nghĩa này trở nên khả thể.-HHN]
Việc diễn giải mang tính thời gian đối với Dasein trong đời sống thường nhật phải bắt đầu từ chính những cấu trúc trong đó trạng-thái-khai-mở tự cấu thành: sự thấu hiểu, tâm thế, tình trạng sa ngã và diễn ngôn. Các phương thức mà thời gian tính thời gian hóa cần được làm sáng tỏ thông qua những hiện tượng này; đây sẽ là cơ sở để chúng ta xác định thời gian tính của Hữu-thể-trong-thế-giới. Điều này dẫn chúng ta trở lại với hiện tượng thế giới và cho phép xác định phạm vi các vấn đề mang tính thời gian đặc thù của Weltlichkeit/ Worrldhood tính thế giới. Để khẳng định điều này, cần mô tả loại Hữu-thể-trong-thế-giới gần gũi nhất với chúng ta trong đời sống thường nhật, đó là sự bận tâm mang tính sa ngã và xem xét cẩn trọng. Chính thời gian tính của các mối bận tâm này cho phép việc xem xét cẩn trọng đó biến đổi thành hành vi tri giác các sự vật, cũng như hình thành nên nhận thức lý thuyết vốn bắt rễ từ kiểu tri giác ấy.
Như vậy, thời gian tính của Hữu-thể-trong-thế-giới dần lộ diện, đồng thời trở thành nền tảng cho Räumlichkeit không gian tính đặc thù của Dasein. Chúng ta cũng cần chỉ ra cái Cấu thành mang tính thời gian của các khái niệm ‘xóa bỏ khoảng cách’ và ‘tính định hướng’. Xét một cách tổng thể, những phân tích này sẽ hé lộ khả tính cho hành vi thời gian hóa của thời gian tính, nơi mà tính không-chân-thực của Dasein được đặt nền tảng về phương diện bản thể luận; đồng thời, chúng đưa chúng ta đối diện với câu hỏi: làm thế nào để hiểu được đặc tính thời gian của đời sống thường nhật—tức là ý nghĩa mang tính thời gian ẩn sau cụm từ zunächst und zumeist ‘trước hết và phần lớn’ mà chúng ta vẫn thường xuyên sử dụng từ trước đến nay? [Chen ngang: Heidegger dung các từ tiếng Đức: zunächst und zumeist với ý nghĩa sau: i) zunächst có nächst là cấp so sánh hơn nhất của nah - gần: nghĩa đen là ‘ngay gần nhất’, ‘tiên khởi’, hoặc ‘thứ gần nhất’ không qua trung gian; nó chỉ cái hiện diện trước mắt, đập vào mắt ta ngay lập tức trong cách chúng ta dấn thân vào thế giới; ii) zumeist nghĩa là ‘hầu hết thời gian’, ‘phần lớn’, hay ‘thông thường’, chỉ thói quen, xu hướng lặp đi lặp lại trong đời sống thường nhật. 2). Heidegger dùng cụm từ này để mô tả cái Durchschnittlichkeit trạng thái thường nhật của Dasein: i) Cách Dasein hiện hữu người trước hết cấu thành bản thể: - Khi Dasein xuất-hiện, nó không bắt đầu bằng việc suy tư triết học, hoài nghi Descartes, hay phân tích khoa học; thay vào đó, nó ở-trong-thế-giới bằng mạng quan hệ với công việc, công cụ, và sống theo nề nếp của das Man cái ‘họ’; ii) Che giấu bản nguyên: - Chính vì Dasein hiện hữu người zunächst und zumeist cận kề và phần lớn thời gian bị cuốn vào các bận tâm thực tế thường nhật đó, nên bản chất sâu thẳm của Hữu thể bị khuất lấp đi; iii) Tính phi-chân-thực – Dasein cận kề và phần lớn thời gian là phi-chân-thực, tức là nó tự hiểu mình thông qua những gì das Man cái ‘họ’ đang làm, qua vai trò xã hội hoặc công việc hằng ngày, thay vì nắm bắt chân thực cái khả tính của chính mình.-HHN]. Bằng cách tập trung vào vấn đề này, chúng ta sẽ làm sáng tỏ cách thức lý giải hiện tượng vốn chưa được thấu hiểu đầy đủ, đồng thời cho thấy mức độ của thiếu sót đó. Vì vậy, chương này được chia thành các phần sau: Thời gian tính của trạng-thái-khai-mở (Mục 68); Thời gian tính của Hữu-thể-trong-thế-giới và cái siêu việt (Mục 69); Thời gian tính của không gian tính đặc thù ở Dasein (Mục 70); Ý nghĩa thời gian trong đời sống thường nhật của Dasein (Mục 71).
____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘Zukunft, Gewesenheit, Gegenwart zeigen die phänomenalen Charaktere des “Aufsich-zu”, des “Zurück auf”, des “Begegnenlassens von”.’ Về những cách diễn đạt này cf. H. 326 ở trên. [tr.377]
2 ‘Die Phänomene des zu…, auf…, bei…offenbaren die Zeitlichkeit als das εκστατικόν ekstatikon schlechthin. Zeitlichkeit ist das ursprüngliche "Ausser-sich" and undfür sich selbst. Wir nennen daher die charakterisierten Phänomene Zukunft, Gewesenheit, Gegenwart die Ekstasen der Zeitlichkeit.’ Mối liên hệ của các từ ‘zu’, ‘auf’ và ‘bei’ với các cách diễn đạt được liệt kê trong câu trước, hơi khó hiểu ngay cả trong tiếng Đức và được làm rõ nhất bằng cách nghiên cứu các trang trước. Tóm lại, mối tương quan dường như như sau: i) zu: Zukunft; aufsich zukommen; Auf-sich-zu; Sich-vorweg; Schon-sein-in; ii) auf: Gewesenheit; zurückkommen auf; Cảm thấy khó chịu; iii) bei: Gegenwart; Bắt đầu từ; Sein-bei. Nghĩa gốc của từ ‘ngây ngất’ (tiếng Hy Lạp ἔκστασις; tiếng Đức, ‘Ekstase’) là ‘đứng bên ngoài’. Thường được sử dụng trong tiếng Hy Lạp để chỉ “sự loại bỏ” hay “sự dịch chuyển” của một cái gì đó, nó được áp dụng cho những trạng thái tinh thần mà ngày nay chúng ta gọi là “ngây ngất”. Heidegger thường ghi nhớ nghĩa gốc cơ bản, nhưng ông cũng nhận thức sâu sắc về mối liên hệ chặt chẽ của nó với nghĩa gốc của từ ‘tồn tại’. [tr.377]
3 ‘…dass sie zukünftig gewesen allererst die Gegenwart weckt.’ [p.378]
4 ‘…noch in der abkünftigen “Zeit”.’ Ở đây Heidegger đang đối chiếu loại thời gian đích thực trong đó Dasein “tiến tới” chính nó trong tương lai [‘auf sich zukommt zukünftig’] với loại thời gian không xác thực ‘xuất phát’ từ cái này hoặc ‘bắt nguồn’ từ nó [‘abkommt’], và do đó nó có tính chất ‘phái sinh’ [‘abkünftig’]. [tr.378]
5 ‘…sondern Exiert endlich.’ [tr.378]
6 ‘Die eigentliche Zukunft, die primar die Zeitlichkeit zeitigt, die den Sinn der vorlaufenden Entschlossenheit ausmacht, enthielt sich damit selbst als endliche.’ [p.378]
7 ‘Allein “geht” trotz des Nichtmehrdaseins meiner selbst “die Zeit nicht weiter” ?'[p.378]
8 ‘…das Auf-sich-zu, aufsich…’ [p.378]
9 ‘…class sie das Seinkönnen achliesst, das heisst selbst geschlossen ist…Động từ ‘schliessen’, như được sử dụng ở đây, có thể có nghĩa là kết thúc hoặc đóng cửa, hoặc kết luận hoặc kết thúc. Có lẽ tác giả có cả hai giác quan trong tâm trí. [tr.379]
10 ‘…hinsichtlich der Endlichkeit và Un-endlichkeit…’ Chúng tôi đã cố gắng bảo tồn sự phân biệt chính tả của Heidegger giữa ‘Unendlichkeit’ và ‘Un-endlichkeit’ bằng cách dịch cái trước là ‘vô cực’, cái sau là ‘trong vô hạn’. Tương tự, chúng ta sẽ sử dụng ‘infinite’ và ‘in-finite’ cho ‘unendlich’ và ‘un-endlich’ tương ứng. [tr.379]
11 Từ này (‘wie’) chỉ được in nghiêng trong các lần xuất bản sau. [tr.379]
12 ‘…Selbst-standigkeit và Unselbst-standigkeit…’ Cf. ghi chú 2, tr. 369, H. 322. [tr.381]
13 ‘Umwillen seiner selbst verwendend, “verbraucht” sich das Dasein. Sichverbruchend braucht das Dasein sich selbst, dass heisst seine Zeit.’ Ở đây ba động từ, đôi khi tất cả đều có thể được dịch là ‘sử dụng’, tương phản nhau một cách tinh tế. ‘Verwenden’ có nghĩa đen là ‘đưa cái gì đó đi’, nhưng thường được dùng với nghĩa ‘chuyển cái gì đó vào tài khoản’, ‘tận dụng nó’ ; trong cấu trúc phản thân như chúng ta có ở đây, nó thường mang ý nghĩa đặc biệt hơn là ‘tự mình áp dụng’ thay mặt ai đó. (Trong các đoạn trước chúng ta thường dịch ‘verwenden’ là ‘sử dụng’.) ‘Verbrauchen’ có nghĩa là ‘tiêu thụ’ hoặc ‘sử dụng hết’. ‘Brauchen’ cũng có nghĩa là ‘sử dụng’; nhưng nó cũng có nghĩa là “cần”, và thật khó để nói Heidegger ở đây nghĩ đến giác quan nào trong số những giác quan này. [tr.381]
14 ‘Das Sein des Daseins empfangt daher seine umfassende ontologische Durchsichtigkeit erst im Horizont…’ Trong các ấn bản cũ hơn, ‘erst’ xuất hiện sau ‘daher’ thay vì sau ‘Durchsichtigkeit’. [tr.382]
