Powered By Blogger

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

II. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI: TRẠNG THÁI CƠ BẢN CỦA DASEIN

12. Phác thảo về Hữu-thể-trong-Thế-giới

[Tr.78] Trong các thảo luận chuẩn bị của mình (Mục 9), chúng ta đã nêu bật một số đặc điểm của Hữu thể sẽ cung cấp cho chúng ta một ánh sáng vững chắc cho khảo sát tiếp theo, nhưng đồng thời cũng sẽ trở nên cụ thể về mặt cấu trúc khi tiếp tục khảo sát đó. Dasein là một hiện hữu mà, trong chính Hữu thể của nó, tự cư xử một cách thấu hiểu đối với Hữu thể đó. Khi nói điều này, chúng ta đang lưu ý đến khái niệm hình thức của sự tồn tại. Dasein tồn tại. Hơn nữa, Dasein là một hiện hữu mà trong mỗi trường hợp thì lại chính tôi là cái hiện hữu đó. Jemeinigkeit Tính của tôi [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Jemeinigkeit ‘tính của tôi’ đề cập đến thực tế nền tảng là Dasein con người, trong mỗi trường hợp, luôn là của riêng mỗi người; điều đó có nghĩa là tôi không phải là một đối tượng trừu tượng; cuộc sống của tôi về cơ bản được đặc trưng bởi quyền sở hữu cá nhân và sự can dự của ngôi thứ nhất; các khía cạnh cốt lõi của Jemeinigkeit bao gồm i) Hiện hữu cá nhân hóa, đó không bao giờ chỉ là một khái niệm chung chung; nó luôn luôn là cuộc sống của tôi, những lựa chọn của tôi và cái chết của tôi; tôi không thể ủy thác hiện hữu của mình cho kẻ khác; ii) Không phải là một đối tượng, bởi vì Jemeinigkeit, con người không thể được nghiên cứu một cách khách quan từ bên ngoài như thể chúng ta chỉ là những tảng đá hay những con số; hiện hữu của chúng ta được định nghĩa bởi mối quan tâm nội tâm và lợi ích cá nhân của chúng ta trong việc chúng ta là ai; iii) Cái ‘Tôi là’ - cấu trúc này đòi hỏi bất cứ khi nào chúng ta nói về Dasein, chúng ta phải sử dụng các đại từ nhân xưng như ‘Tôi là’ hoặc ‘Anh là’; iv) Nền tảng cho sự lựa chọn - Jemeinigkeit là trung lập; nó chỉ đơn giản là bối cảnh làm cho cả cuộc sống chân thực và không chân thực đều có thể xảy ra; vì hiện hữu của tôi về cơ bản là thuộc về tôi, nên tôi phải có lập trường về điều đó; v) Tính chân thực - tôi chủ động nắm lấy những khả tính của mình và định hình con đường riêng; tính không chân thực - tôi từ bỏ quyền sở hữu cá nhân này bằng cách để cái das Man ‘Họ/chúng’ vô danh quyết định cách tôi nên sống, suy nghĩ và hành động.-HHN] thuộc về bất kỳ Dasein vẫn tồn tại nào, và thuộc về nó như là điều kiện làm cho tính chân thực và tính không chân thực trở nên khả thể. Trong mỗi trường hợp, Dasein tồn tại ở một trong hai phương thức này, hoặc là không phân biệt về mặt phương thức.1 Nhưng cả hai đều là những cách thức mà Hữu thể của Dasein mang một đặc điểm xác định, và chúng phải được xem xét và lý giải một cách tiên nghiệm là dựa trên trạng thái của Hữu thể mà chúng ta đã gọi là ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Cần diễn giải về trạng thái cấu thành này nếu chúng ta muốn thiết lập phân tích Dasein một cách chính xác.

Cụm từ ghép ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ chỉ ra, theo chính cái cách thức mà chúng ta đã tạo ra, đó là nó đại diện cho một hiện tượng đơn nhất. Dữ liệu cơ bản này phải được xem xét như một tổng thể. Nhưng trong khi ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ không thể bị chia nhỏ thành các nội dung có thể được ghép lại với nhau, thì điều đó vẫn không ngăn cản nó có một số yếu tố cấu thành trong cấu trúc của nó. Thật vậy, dữ liệu hiện tượng mà cách biểu hiện của chúng ta chỉ ra là một dữ liệu có thể, trên thực tế, được xem xét theo ba cách. Nếu chúng ta nghiên cứu nó, giữ vững toàn bộ hiện tượng trong tâm trí trước đó, thì có thể nhấn mạnh các hạng mục sau đây: Thứ nhất, ‘trong-thế-giới’. Liên quan đến điều này, nảy sinh nhiệm vụ tìm hiểu cấu trúc bản thể luận của ‘thế giới’ và định nghĩa ý niệm về Weltlichkeit [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Weltlichkeit Tính trần thế đề cập đến cấu trúc cơ bản làm cho thế giới trở thành một ‘thế giới’ ngay từ đầu. Nó không phải là một địa điểm vật lý hay một vật chứa đựng các đối tượng, mà là một mạng lưới toàn diện, có ý nghĩa về các mối quan hệ và mục đích trong đó khai mở sự tồn tại của con người. Để hiểu Weltlichkeit, cần xem xét cách thức mà Heidegger phân tích khái niệm này thành các yếu tố chính: i). Đó là một Khái niệm Bản thể học, không phải là Khái niệm ontic Thực hữu; Ontic Thực hữu đề cập đến những sự vật đơn thuần, các đối tượng, hoặc tập hợp các thực thể trong thế giới. Một hòn đá, một cái cây, hoặc một nguyên tử đều ‘ở trong’ thế giới, nhưng chúng không tạo nên Weltlichkeit. Là một khái niệm Bản thể học, Weltlichkeit là ‘Hữu thể’ của thế giới; nó là điều kiện nền tảng cho phép chúng ta đối mặt với bất cứ điều gì như là ‘một cái gì đó’; ii) Mạng lưới Ý nghĩa - theo Heidegger chúng ta chủ yếu tiếp xúc với thế giới không phải như một không gian hình học chứa đầy các đối tượng khoa học trừu tượng, mà như một xưởng chế tạo dụng cụ mà chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Ý nghĩa của một đối tượng - ví dụ một cái búa - được xác định bởi tính toàn thể quan hệ của nó, mà Heidegger gọi là cấu trúc Um-zu ‘để-làm-’; cái búa nhằm mục đích đóng đinh, cái đinh nhằm mục đích cố định ván sàn, ván sàn nhằm mục đích làm cho ngôi nhà vững chắc, v.v. Weltlichkeit chính là mạng tham chiếu và mục đích toàn diện, vô hình này, khiến cho các hạng mục riêng lẻ trở nên hữu ích và dễ hiểu đối với chúng ta; iii) ‘Thế giới’ Weltlichkeit gắn bó sâu sắc với Dasein con người, mà ông dịch theo nghĩa đen là being-there ‘hiện hữu’. Dasein không bao giờ chỉ là một bộ não tách rời, không có thân xác suy nghĩ về vũ trụ; nó vốn In-der-Welt-sein Hiện-hữu-trong-thế-giới. ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ có nghĩa là quen thuộc với nó, hòa mình vào nó, và luôn quan tâm đến các dự án và khả tính của chúng ta trong đó; iv) Cách thức Bộc lộ qua Công cụ Bị hỏng: theo Heidegger chúng ta hiếm khi nhìn trực tiếp vào Weltlichkeit - Khi một thiết bị hoạt động hoàn hảo, nó lùi vào hậu trường, và chúng ta sử dụng nó gần như vô thức; tuy nhiên, công cụ bị hỏng, dòng chảy liền mạch của cuộc sống hàng ngày bị gián đoạn; trong khoảnh khắc đổ vỡ này, mạng lưới mục đích sụp đổ, và Weltlichkeit thì cái bản tính thế gian của môi trường chúng ta tự bộc lộ. Chúng ta đột nhiên buộc phải nhìn mọi thứ trong sự hiện diện vật lý thô sơ của chúng chứ không chỉ là những công cụ ‘sẵn-sàng-để-sử dụng’.-HHN] vị thế thế giới theo đúng nghĩa. (Chương Ba của Phần này.)

[Tr.79] Thứ hai, cái hiện hữu mà trong mọi trường hợp đều có ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ như là cách thức tồn tại của nó. Ở đây chúng ta đang tìm kiếm điều mà người ta tìm hiểu khi đặt câu hỏi ‘Ai?’. Bằng một chứng minh hiện tượng học2, chúng ta sẽ xác định ai đang ở trong trạng thái trung bình thường nhật của Dasein. (Xem chương thứ tư của Phần này.) Thứ ba, In-sein Hiện-hữu-trong  theo đúng nghĩa. Chúng ta phải trình bày cái Cấu thành bản thể luận của chính cái trạng thái Inheit kia. [Chen ngang: Inheit là một khái niệm quan trọng mang nghĩa ‘tính nội tại’ hoặc ‘tình trạng bên trong’ của Martin Heidegger. Trong triết học của ông, Inheit/Inhood ‘tính nội tại/vị thế bên trong’ định nghĩa cách thức độc đáo mà Dasein con người tồn tại trong thế giới. Nó khác với quan niệm truyền thống cho rằng con người là những tâm trí cô lập quan sát một vũ trụ bên ngoài tách biệt; cách thức hoạt động của khái niệm này bao gồm: i) Hữu-thể-trong-thế-giới - Heidegger lập luận rằng con người luôn luôn ‘ở bên trong’ thế giới, đắm chìm sâu sắc trong đó và tương tác với các công cụ, môi trường và con người của nó. Tình trạng Inheit ở bên trong mô tả cấu trúc nội tại của sự đắm chìm đó. ‘Hiện-hữu-trong’ không có nghĩa là ở bên trong một vật chứa như một chiếc giày trong hộp; thay vào đó, nó có nghĩa là ‘cư trú’, ‘sống’ hoặc ‘thân thuộc với’ thế giới. Cái Woraufhin ‘Trên-cái-mà’ - Khi Heidegger thảo luận về ý nghĩa của Hữu thể, ông đề cập đến nó như là cái Woraufhin ‘trên-cái-mà’ (hay chân trời) mà nhờ đó mọi thứ trở nên dễ hiểu đối với chúng ta. Mọi thứ có ý nghĩa khi chúng ta có thể đưa chúng vào các hoạt động hàng ngày và phản ứng với chúng một cách cảm tính. Cái Woraufhin chỉ định chân trời hoặc bối cảnh mà dựa vào đó chúng ta hiểu ý nghĩa của một điều gì đó. Ví dụ, chúng ta hiểu một cái búa trong bối cảnh Woraufhin mục đích rộng lớn hơn là xây một ngôi nhà. Woraufhin là một khái niệm nền tảng trong Hữu thể và Thời gian. Nó hoạt động trong hai bối cảnh chính: i) Dự án Hiểu biết (Entwurf): Heidegger lập luận rằng sự tồn tại của Dasein con người liên tục tự phóng chiếu vào các khả tính. Khi chúng ta tự phóng chiếu bản thân hướng tới một mục tiêu nhất định—chẳng hạn như ‘trở thành một sinh viên’ hoặc ‘sửa mái nhà’—chúng ta không làm điều đó một cách mù quáng. Chúng ta tự phóng chiếu bản thân trên một nền tảng hiểu biết. Cái Woraufhin nền tảng này cho phép khả tính cụ thể đó tạo ra ý nghĩa đối với chúng ta; ii) Định nghĩa về Sinn Ý nghĩa Heidegger cho rằng ‘Ý nghĩa là Woraufhin ‘nền tảng’ của một phóng chiếu, nhờ đó mà một cái gì đó trở nên dễ hiểu với tư cách là một cái gì đó.” Điều đó có nghĩa là: Một sự vật không tự nó sở hữu ý nghĩa nội tại; Ý nghĩa chỉ xuất hiện khi một đối tượng hoặc một khả tính được đặt trong cái Woraufhin khuôn khổ rộng hơn, mang lại ngữ cảnh và khả năng hiểu cho nó.-HHN]. (Xem chương thứ năm của Phần này.) Việc nhấn mạnh vào bất kỳ yếu tố nào trong những yếu tố cấu thành này đều có nghĩa là những yếu tố khác cũng được nhấn mạnh cùng với nó; điều này có nghĩa là trong bất kỳ trường hợp nào như vậy, toàn bộ hiện tượng đều được nhìn thấy. Tất nhiên, Hữu-thể-trong-thế-giới là trạng thái của Dasein3 cần thiết lối tiên nghiệm, nhưng còn xa mới đủ xác định hoàn toàn Hữu thể của Dasein. Trước khi biến ba hiện tượng này thành chủ đề cho các phân tích đặc biệt, chúng ta sẽ cố gắng định hướng để mô tả yếu tố thứ ba trong số này.

Hữu-thể-trong’ có nghĩa là gì? Phản ứng gần gũi của chúng ta là làm tròn cách diễn đạt này thành “Hữu-thể-trong ‘trong thế giới’”, và chúng ta có khuynh hướng hiểu Hữu-thể-trong này là ‘Hữu-thể-trong một cái gì đó’. Thuật ngữ sau ấy chỉ định loại Hữu thể mà một hiện hữu có khi nó ở ‘trong’ một hiện hữu khác, như nước ở ‘trong’ cốc, hoặc quần áo ở ‘trong’ tủ. Từ ‘trong’ ở đây có nghĩa là mối quan hệ Hữu thể giữa hai hiện hữu được mở rộng ‘trong’ không gian với nhau liên quan đến vị trí của chúng trong không gian đó. Cả nước và cốc, quần áo và tủ, đều ở ‘trong’ không gian và ‘ở’ một vị trí, và cả hai đều theo cùng một cách. Mối quan hệ Hữu thể này có thể được mở rộng: ví dụ, ghế dài ở trong giảng đường, giảng đường ở trong trường đại học, trường đại học ở trong thành phố, v.v., cho đến khi ta có thể nói rằng ghế dài ở ‘trong không gian-thế giới’. Do đó tất cả các hiện hữu mà Hữu thể của nó ở ‘trong’ nhau có thể được mô tả như vậy đều có cùng một loại Hữu thể - đó là Hữu thể của loại Hiện-hữu-hiện-diện-trong-tay như những Sự vật xảy ra ‘bên trong’ thế giới.             

Hiện-hữu-hiện-diện-trên-tay ‘trong’ một cái gì đó vốn cũng hiện-diện-trên-tay, và Hiện-hữu-hiện-diện-trên-tay-cùng-với [Mitvorhandensein] theo nghĩa mối quan hệ-vị trí xác định với một cái gì đó khác có cùng loại Hữu thể, là những đặc điểm bản thể luận mà chúng ta gọi là có tính ‘phân loại’: chúng thuộc về những hiện hữu mà loại Hữu thể của chúng không mang đặc điểm của Dasein. Mặt khác, Hiện-hữu-trong là một trạng thái Hữu thể của Dasein; nó là một existentiale hiện sinh. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger existentiale, số nhiều existentialia là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người. Đó là những cấu trúc phổ quát, tiên nghiệm tạo nên cuộc sống con người và định hình cách chúng ta trải nghiệm thế giới, chẳng hạn như sự hữu hạn, sự hiểu biết và tâm trạng; 1. Existentialia so với Categories: Heidegger vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa cách chúng ta mô tả con người và cách chúng ta mô tả các vật thể trong thế giới vật chất; Categories Mô tả các vật thể và thực thể vật lý chỉ đơn giản là ‘tồn tại’ - ví dụ: trọng lượng, khối lượng, kích thước không gian -các khách thể có thuộc tính. Existentialia - mô tả các khả tính cấu trúc của cuộc sống con người, ví dụ hiện-hữu-trong-thế-giới, sự quan tâm, tình trạng bị ném vào trần thế. Thay vì các thuộc tính cố định, con người có những cách thức hiện hữu. 2. Existential so với Existentiell: Heidegger phân biệt giữa cấu trúc phổ quát của sự tồn tại và những lựa chọn cụ thể, hàng ngày mà chúng ta thực hiện. Existential là tồn tại mang tính bản thể: Cấp độ hình thức, cấu trúc; nó đề cập đến những điều kiện phổ quát áp dụng cho toàn bộ con người, chẳng hạn toàn bộ con người vốn dĩ đều hữu hạn và phải đưa ra lựa chọn. Thực hữu Ontic là cấp độ cá nhân, hàng ngày, đề cập đến những lựa chọn cụ thể, hữu hình mà bạn đưa ra trong cuộc sống thực tế của mình; ví dụ cách tôi chọn sử dụng thời gian trong ngày; con đường sự nghiệp tôi theo đuổi. Hiện-hữu-trong-thế giới: là Ý tưởng cho rằng con người không phải là những chủ thể cô lập tách biệt khỏi vũ trụ; về cơ bản, chúng ta đắm chìm, được sắp đặt và dấn thân vào một thế giới với tình trạng bị ‘ném vào’ một thời điểm, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể mà chúng ta không lựa chọn, nhưng buộc phải vượt qua. Befindlichkeit Trạng thái tâm trí bao gồm sự hòa hợp về mặt cảm xúc như xao xuyến hay tâm trạng, tiết lộ mối quan hệ của chúng ta với thế giới ngay cả trước khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ một cách lý trí. Verstehen - Sự hiểu biết là chúng ta hình dung bản thân trong những khả tính tương lai và hiểu ý nghĩa cuộc sống dựa trên mục tiêu của mình. Hữu-thể-hướng-tới-cái-chết là nhận thức hiện sinh về sự hữu hạn của chính mình, khiến cho cuộc sống của chúng ta rơi vào trạng thái cấp bách và có ý nghĩa đích thực.-HHN]. Vì vậy, existentiale trạng thái tồn tại khiến cho người ta không thể coi nó như là sự Hiện-hữu-hiện-diện-vô-tri của một Sự vật hữu hình nào đó (như cơ thể người) ‘trong’ một hiện hữu đang hiện-diện-vô-tri.

[Ghi chú thêm về present-at-hand đang hiện-diện-vô-tri: Trong triết học của Martin Heidegger, present-at-hand hay Vorhandensein – là hiện diện hay tồn tại khách quan - dùng để chỉ trạng thái khi một sự vật mất đi tính năng sử dụng thực tiễn và chỉ còn trơ lại như một đối tượng vật lý thuần túy để con người quan sát, phân tích hoặc đo đếm. Heidegger thường đặt nó trong sự đối lập với trạng thái quen thuộc hàng ngày: i) Phân biệt các phương thức tồn tại của sự vật Zuhandensein – Ready-to-hand - Sẵn sàng sử dụng: Đây là cách chúng ta tương tác với thế giới mỗi ngày. Khi tôi dùng một cái búa để đóng đinh, tôi không nhìn chằm chằm vào cái búa; nó trở thành một phần mở rộng của cánh tay bạn và dường như ‘vô hình’. Còn Vorhandensein – Present-at-hand Hiện-diện-trên-tay xuất hiện khi công cụ bị hỏng, búa bị gãy. Nó không còn hoạt động được nữa và đột nhiên thu hút sự chú ý của bạn như một vật thể độc lập. Lúc này, bạn lùi lại, chiêm nghiệm và nhìn nó với tư cách một nhà khoa học: cân, đo, đong, đếm các đặc tính vật lý chẳng hạn chiều dài, chất liệu, khối lượng, v.v.). Ý nghĩa triết học của hai phương thức hiện diện đó được Heidegger quan niệm như sau: các nhà triết học truyền thống như Descartes đã sai lầm khi mô tả thế giới hoàn toàn dựa trên góc nhìn present-at-hand – xem vạn vật chỉ như những khối vật chất tĩnh tại. Trên thực tế, kinh nghiệm sống và tương tác hàng ngày của con người với thế giới chủ yếu dựa trên góc nhìn ready-to-hand thực tiễn, sử dụng. Chẳng hạn chiếc điện thoại của tôi khi nó hoạt động tốt và tôi đang lướt mạng, chiếc điện thoại ở trạng thái ready-to-hand, nó hòa quyện vào trải nghiệm của tôi. Nhưng khi điện thoại đột ngột sập nguồn hoặc hỏng hóc, nó mất đi tính hữu dụng - lúc này, tôi lật qua lật lại, soi xét nguyên do hỏng hóc hay cấu tạo của nó – đây chính là trạng thái present-at-hand của sự vật.-HHN]

Thuật ngữ Hữu-thể-trong không có nghĩa là [tr.80] ‘trạng thái-trong-nhau’ của sự vật present-at-hand hiện diện tĩnh trong không gian, cũng như từ ‘trong’ ban đầu không biểu thị mối quan hệ không gian kiểu này.i ‘Trong’ bắt nguồn từ ‘innan’ –‘habitare’, sich aufhalten, ‘ở’, ‘cư trú’?4. ‘An’ biểu thị ý nghĩa là ‘Tôi quen thuộc’, ‘Tôi biết rõ’, ‘Tôi chăm sóc cái gì đó’.5 Nó có nghĩa là ‘colo’ theo nghĩa của các từ Latin liên quan ‘habito’ và ‘diligo’. [Chen ngang: 1. Colo - Đối với Martin Heidegger, động từ Latin colo và dạng nguyên thể colere là từ nguyên có nghĩa là Sorge Chăm sóc và cư ngụ của ông. Tiếng Latin colo có nghĩa kép phong phú, vừa là ‘trồng trọt/cày cấy’ như trong nông nghiệp, vừa là ‘sinh sống/cư ngụ’. Heidegger sử dụng các nghĩa ẩn chứa trong colo để định nghĩa bản chất cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người: colo có nghĩa là vun trồng, chăm sóc, trân trọng, bảo vệ và quan tâm đến một điều gì đó, hoặc giúp nó phát triển. Đối với Heidegger, cách tồn tại chính của chúng ta được đặc trưng bởi Sorge ‘Chăm sóc’. Chúng ta không phải là những người quan sát thụ động trong thế giới; thay vào đó, chúng ta tích cực tham gia, vun đắp môi trường của mình và chịu trách nhiệm cho những thứ và những người xung quanh chúng ta mà tiếng Đức là Fürsorge và Besorgen. Về nghĩa Cư ngụ - gốc từ colo cũng có nghĩa là cư trú, sống hoặc sinh sống ở một nơi nào đó. Heidegger đã mở rộng luận điểm này trong các tác phẩm sau này của mình, cho rằng sự tồn tại của con người về cơ bản mang nghĩa ‘cư ngụ’ - nghĩa là trân trọng, bảo vệ và giữ gìn sự bình yên an toàn trong thế giới; nghĩa ‘thờ phụng’ – colo trong tiếng Latin, cũng là gốc từ chỉ việc vun đắp mối quan hệ với thần thánh - thờ phụng/tôn kính. Heidegger sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa gần như tôn kính: nhân loại là ‘kẻ chăn chiên của hiện hữu’, có nhiệm vụ tôn vinh và bảo vệ ý nghĩa của hiện hữu. 2. habito: Heidegger sử dụng động từ Latin habito (cư trú hoặc sinh sống) không chỉ đơn thuần là một khái niệm không gian, địa lý; nó là nền tảng bản thể học của sự tồn tại của con người. Đối với động từ esse tồn tại, Heidegger sử dụng nó để đánh giá lại cách con người chiếm hữu và liên hệ với thế giới. Ý nghĩa của habito trong triết học của ông được chia thành ba ý tưởng chính: i) Hiện-hữu-trong với tư cách cư trú: Heidegger cho rằng Dasein con người về cơ bản là ‘Hiện-hữu-trong-thế- giới’. Ông lưu ý rằng giới từ ‘trong’ về mặt từ nguyên bắt nguồn từ từ innan cư trú trong tiếng Đức cổ, phù hợp với từ Latin habito. Với tư cách con người Dasein không phải là một tâm trí tách rời, khách quan, mà là cư trú hoặc sinh sống trong một thế giới quen thuộc, có ý nghĩa. ‘Một phương thức sở hữu sâu sắc’: Khi truy tìm nguồn gốc của habito, Heidegger kết nối nó với động từ Latinh colo trồng trọt, chăm sóc hoặc trân trọng. Cư trú là một phương thức đặc biệt, sâu sắc ‘để có được’ một thứ gì đó. Nó vượt xa sự sở hữu đơn thuần, mang ý nghĩa có một thứ gì đó thân thiết đến mức tôi thuộc về nó, chăm sóc nó và quen thuộc với nó. Cư ngụ như là bản chất của Hữu thể: Trong bài luận Xây dựng, Cư ngụ, Tư duy, Heidegger cho rằng tiếng Đức bauenbuan ‘xây dựng’ ban đầu có nghĩa là ‘cư ngụ’. Wohnen Cư ngụ - hành động cốt lõi được chỉ ra từ habito - là đặc tính thiết yếu của tồn tại người. Con người tồn tại trong thế giới bằng cách tích cực chăm sóc, bảo tồn và cư ngụ trong chân lý của Hữu thể. -HHN]

[Chen ngang: diligo tiếng Latin có nghĩa là coi trọng, kính trọng hoặc yêu quý, biểu thị một hình thức yêu thương có chủ đích và suy nghĩ thấu đáo. Đối với Martin Heidegger, nguồn gốc của thuật ngữ này liên quan trực tiếp đến khái niệm hiện tượng học về Sorge chăm sóc của ông, cấu trúc nên cách thức tồn tại của Dasein con người liên hệ một cách cơ bản với thế giới và các hiện hữu khác. Về mặt từ nguyên, diligo xuất phát từ tiền tố dis- có nghĩa là ‘tách biệt’ hoặc ‘hoàn toàn’, còn lego có nghĩa là ‘chọn’ hoặc ‘tập hợp’; để yêu thương hoặc chăm sóc ‘siêng năng’ một thứ gì đó có nghĩa là lựa chọn, tách biệt và tập hợp nó một cách cẩn thận từ giữa những sự vật bình thường. Heidegger thường liên kết diligo với động từ colo trồng trọt, sinh sống hoặc cư ngự. Đối với ông, loại tình yêu này không phải là một cảm xúc trừu tượng hay lãng mạn, mà là một sự gắn kết tích cực, Besorgen quan tâm tới thế giới. Ý nghĩa bên trong ‘Sự quan tâm’ của Dasein được Heidegger cho là trạng thái cơ bản của con người. Điều này có nghĩa là thế giới không bao giờ chỉ là một tập hợp các vật thể vô tri, vô hồn đối với chúng ta. Thay vào đó, nhờ khả tính diligo - trân trọng, thu thập và quan tâm - của chúng ta, những thứ xung quanh chúng ta trở nên có ý nghĩa to lớn. Heidegger sử dụng khung khái niệm này để minh họa một số điểm: i) Trạng thái chú tâm đến Hữu thể: Quan tâm (Sorge / colo / diligo) đòi hỏi chúng ta phải ‘để cho các hiện hữu tồn tại’ - chúng ta nhận ra, trân trọng và dành không gian cho các hiện hữu và con người tồn tại trong chân lý của riêng chúng/họ thay vì chỉ coi chúng/họ như những công cụ để chúng ta tiêu thụ. Sự trân trọng có chủ đích hơn là đam mê: Trong khi từ Latin amare đại diện cho một tình yêu bản năng hoặc đam mê hơn, thì diligo ngụ ý một sự lựa chọn dựa trên sự trân trọng. Heidegger diễn giải điều này theo quan điểm bản thể luận: sự tồn tại đích thực bao gồm việc chủ động ‘lựa chọn’ và ‘thu thập’ những gì quan trọng đối với chúng ta từ những ồn ào của đời sống thường nhật.

Đối với Heidegger, Besinnung quan tâm có chủ đích thay vì đam mê tượng trưng cho sự chuyển dịch từ sự nắm bắt mù quáng, cảm tính về sự vĩ đại cá nhân, sang sự buông bỏ tĩnh lặng, suy tư đối với ‘ý nghĩa của Hữu thể’. Sự chuyển đổi từ đam mê hiện sinh mãnh liệt sang sự quan tâm suy tư này đề cập đến một số phân biệt triết học quan trọng: i). Từ Leidenschaft Đam mê đến Besinnung ‘Quan tâm’ Heidegger thường miêu tả sự tồn tại đích thực như một sự kiên quyết đầy đam mê, anh hùng và gần như điên cuồng khi đối mặt với cái chết. Tuy nhiên, trong triết học sau này của mình, ông đã chỉ trích cách tiếp cận trước đó là quá mạnh mẽ, cố chấp và tập trung vào ‘chủ thể’ cá nhân. Ông đã thay thế đam mê anh hùng bằng Besinnung với các ý nghĩa khác nhau là sự cân nhắc, suy niệm hoặc quan tâm suy tư. Thay vì áp đặt ý chí của mình lên thế giới, sự quan tâm có chủ đích bao gồm: Gelassenheit Để mọi thứ diễn ra tự nhiên. Một sự chú ý tĩnh lặng, tỉnh táo đối với sự phát triển lịch sử của chân lý; ii) Hiểm họa của ‘Ý chí quyền lực’: Heidegger coi đam mê không kiềm chế là bản chất mang tính phóng chiếu, chủ động và đòi hỏi. Ông liên hệ điều này với tư duy công nghệ hiện đại cố gắng thống trị, kiểm soát và khai thác ý nghĩa từ thiên nhiên và con người. Ngược lại, ‘quan tâm có chủ đích’ mang tính thụ động ở mức cao nhất. Nó đòi hỏi phải lùi lại khỏi ham muốn chinh phục hoặc thao túng, cho phép thực tại tự bộc lộ theo cách riêng của nó mà không ép buộc nó vào các khuôn khổ khái niệm do con người tạo ra; iii) Vượt qua tính vị kỷ: Những nỗ lực đầy đam mê thường mang tính vị kỷ—chúng xoay quanh việc ‘làm chủ’ cuộc sống của mình, đạt được tính chân thực cá nhân và tránh sự tầm thường phù hợp với Das Man Chúng/Họ. Mối quan tâm có chủ đích thì thực tế hơn, nó mở rộng tầm nhìn từ những thành tựu cá nhân sang việc nhận ra mình thuộc về vận mệnh lịch sử rộng lớn hơn của Hữu thể nói chung.-HHN]

Cái Hữu thể mà theo nghĩa này Hữu-thể-trong thuộc về, lại chính là cái Hữu thể mà chúng ta đã mô tả - thứ Hữu thể trong mỗi trường hợp là chính bản thân tôi. Biểu đạt ‘bin’ ‘là’ được kết nối với ‘bei’ ‘bởi’, và do đó ‘ich bin’ [‘Tôi là’] lần lượt có nghĩa là ‘Tôi cư trú’ hoặc ‘ở bên cạnh’ thế giới, như là cái mà tôi quen thuộc theo cách này hay cách khác.6 Hữu thể [Sein], như là nguyên thể của ‘ich bin’ (tức là, khi được hiểu là một existentiale đặc điểm hiện sinh mang tính bản thể luận), có nghĩa là ‘cùng tồn tại với...’, ‘quen thuộc với...’. Do đó ‘Hữu-thể-trong’ là biểu hiện hiện sinh hình thức cho Hữu thể của Dasein, vốn có Hữu-thể-trong-thế-giới như trạng thái cốt yếu của nó. Trong khi đó,Hữu-thể-cùng’ thế giới theo nghĩa được hòa mình vào thế giới7 [tr.81] (một nghĩa cần được diễn giải kỹ lưỡng hơn nữa) là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người được xây dựng trên Hữu-thể-trong. Trong các phân tích này, vấn đề là nhìn thấy một cấu trúc nguyên thủy của Hữu thể của Dasein - một cấu trúc mà theo nội dung hiện tượng của nó, các khái niệm về Hữu thể phải được Diễn giải; vì điều này, và vì cấu trúc này về nguyên tắc là một cấu trúc không thể nắm bắt được bằng các phạm trù bản thể luận truyền thống, nên ‘hiện-hữu-cùng' này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn nữa. Chúng ta sẽ lại chọn phương pháp đối chiếu nó với một mối quan hệ của Hữu thể vốn khác biệt về bản chất về mặt bản thể học - tức là mang tính phạm trù - nhưng chúng ta diễn đạt bằng cùng một phương tiện ngôn ngữ. Những khác biệt bản thể luận cơ bản dễ dàng bị xóa bỏ; và nếu chúng được hình dung theo hiện tượng học theo cách này, thì điều đó phải được thực hiện một cách rõ ràng, ngay cả khi có nguy cơ thảo luận về điều ‘hiển nhiên’. Tuy nhiên, thực trạng của phân tích bản thể luận lại cho thấy chúng ta còn rất xa mới có thể diễn giải những vấn đề hiển nhiên này một cách đầy đủ, huống chi là xem xét đến ý nghĩa của Hữu thể của chúng; và chúng ta càng xa hơn nữa trong việc sở hữu một thuật ngữ ổn định cho các khái niệm cấu trúc thích hợp.

Với tư cách existentiale là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người; đó là những cấu trúc phổ quát, tiên nghiệm tạo nên cuộc sống con người và định hình cách chúng ta trải nghiệm thế giới, chẳng hạn như sự hữu hạn, sự hiểu biết và tâm trạng thực thể hiện sinh, ‘Hiện hữu bên cạnh’ thế giới không bao giờ có nghĩa giống như Sự tồn tại hiện hữu cùng nhau của các Sự vật xảy ra. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Sein-bei - Being alongside ‘Hiện hữu bên cạnh’ mô tả cách thức cơ bản, thực tiễn mà Dasein con người liên hệ với thế giới và các vật thể trong đó. Điều đó có nghĩa là chúng ta không trải nghiệm thế giới như những nhà khoa học quan sát tách rời, mà là những người nhập thân, gắn bó mật thiết với các công cụ, địa điểm và nhiệm vụ. Khái niệm Sein-bei cốt lõi - Ông sử dụng giới từ ‘bei’ trong tiếng Đức có nghĩa là ‘ở cạnh’, thay vì quan điểm truyền thống của Descartes về chủ thể ‘ở trong’ một cái hộp. Nó biểu thị sự cư ngụ, liên kết hoặc bận rộn với một điều gì đó. Ở bên cạnh có nghĩa là mối liên hệ chính của chúng ta với mọi thứ không phải là tri ​​thức lý thuyết, mà là sự dấn thân thực tiễn. Ví dụ kinh điển về cái búa của Heidegger: khi tôi sử dụng một cái búa, tôi không chỉ quan sát cán gỗ và đầu búa kim loại; tôi đang ‘ở bên cạnh’ cái búa như một công cụ sẵn có cho một dự án cụ thể. Điều đó liên quan đến tính thường nhật - tôi ‘đã ở bên cạnh’ thế giới - hàm ý một trạng thái được ở nhà, thoải mái và định hướng trong môi trường của chính tôi/chúng ta. Về sự khác biệt giữa vật thể và con người - Heidegger đưa ra một sự phân biệt quan trọng dựa trên những gì tôi ‘ở bên cạnh’ để cho thấy sự quan tâm của chúng ta thay đổi như thế nào tùy thuộc vào hiện hữu - Sein-bei Ở bên cạnh các vật thể  đề cập đến sự tham gia thực tiễn của chúng ta với thiết bị, công cụ và môi trường vật chất, được Heidegger mô tả là Besorgen quan tâm. Trong khi đó Mitsein-Ở cùng kẻ  khác - khi liên hệ với những kẻ khác, Heidegger sử dụng thuật ngữ Mitsein Ở cùng. Thay vì vận hành các vật thể, chúng ta tương tác với các chủ thể, và mối quan hệ này được đặc trưng bởi Fürsorge mối bận tâm/chăm lo kẻ khác. Điều này quan trọng vì khái niệm này bác bỏ ý tưởng truyền thống của Descartes về con người như những tâm trí cô lập quan sát một vũ trụ bên ngoài, vô tri vô giác. Đối với Heidegger Sein-bei Ở bên cạnh là một cấu trúc nền tảng của Dasein. Bản ngã không phải là một thực thể riêng biệt; thay vào đó, con người chúng ta được định hình và phản ánh bởi những gì chúng ta ở bên cạnh và tham gia trong thế giới.-HHN].

Điều đó cho thấy không có cái gọi là trạng thái Beisammensein/Side-by-side-ness ‘song tồn’ [Chen ngang nữa: Trong triết học của Martin Heidegger, Song tồn-Bei-einander-sein - mô tả một mối quan hệ thờ ơ, thuần túy không gian, hoặc khách quan giữa các hiện hữu. Heidegger sử dụng thuật ngữ này để bác bỏ quan điểm tiêu chuẩn Descartes về tồn tại người. Theo ông Dasein con người và môi trường xung quanh nó - Thế giới - không chỉ đơn giản là hai thứ riêng biệt nằm cạnh nhau như những vật thể. Đối với Heidegger, khái niệm này hoạt động theo hai cách cụ thể: i) Bác bỏ khách thể hóa - Ông khẳng định không có cái gọi là sự kề bên của một hiện hữu được gọi là ‘Dasein’ với một hiện hữu khác được gọi là ‘Thế giới’. Thay vào đó, cách tồn tại chính yếu của chúng ta là In-der-Welt-sein hoàn toàn đắm chìm và quen thuộc vào thế giới, chứ không phải đứng ngoài cuộc như một kẻ quan sát thụ động. Vì vậy mới có cái gọi là Critiquing Conformity: Phê phán sự tuân thủ: Khi thảo luận về sự tồn tại xã hội hàng ngày, Heidegger sử dụng thuật ngữ này để phê phán không gian công cộng giả tạo, giống như bầy đàn. Ông khẳng định rằng việc cùng tồn tại hàng ngày ‘không hề là sự đứng cạnh nhau một cách thờ ơ’, mà là sự giám sát lẫn nhau căng thẳng, cảnh giác và tham gia sâu sắc. Quan điểm ‘Phê phán sự tuân thủ’ của Martin Heidegger bắt nguồn từ phân tích của ông về Das Man Cái Chúng/Họ. Ông cho rằng sự tồn tại hàng ngày của con người bị ảnh hưởng bởi sự giả tạo tuân thủ, nơi các cá nhân từ bỏ quyền tự chủ của mình cho các chuẩn mực xã hội và dư luận. Cốt lõi của sự phê phán: Das Man. Heidegger lập luận rằng Das Man quyết định những gì chúng ta mặc, cách chúng ta das Gerede chuyện phiếm, những gì chúng ta đọc và cách chúng ta đánh giá thế giới. Chúng ta tuân theo những quy tắc bất thành văn này để tránh nổi bật và tìm kiếm sự thoải mái trong sự tuân thủ của công chúng - Das Man tước bỏ tính cá nhân, nó làm lu mờ tất cả những khả tính chân thực và những góc nhìn độc đáo, biến chúng thành một sự tầm thường nhạt nhẽo và đồng nhất. Bằng tuân thủ, các cá nhân đánh mất liên hệ với tiềm năng tồn tại của chính mình và chấp nhận một cuộc sống không chân thực, nơi ‘Chúng/Họ’ đưa ra quyết định thay cho mình. Heidegger cho rằng cách duy nhất để thoát khỏi cái bẫy tuân thủ này là thông qua Eigentlichkeit Tính chân thực - bao gồm việc nhận ra sự hữu hạn của chính mình và đón nhận một lối sống cá nhân hóa, mà Heidegger gọi là Entschlossenheit Tính kiên quyết. Bằng cách đối mặt với thực tại của cái chết, một cá nhân bị tách rời khỏi đám đông theo khuôn mẫu và buộc phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn của chính mình.-HHN] của một hiện hữu được gọi là ‘Dasein’ với một hiện hữu khác được gọi là ‘thế giới’.

Tất nhiên, khi hai sự vật hiện hữu cùng nhau bên cạnh nhau,8 chúng ta thường diễn đạt điều này đôi khi bằng những câu như “Cái bàn đặt ‘bên cạnh’ cửa” hoặc “Cái ghế ‘chạm’ vào tường”. Xét một cách nghiêm ngặt, ‘chạm’ không bao giờ là điều chúng ta đang nói đến trong những trường hợp như vậy, không phải vì việc tái xem xét chính xác suy cho cùng sẽ luôn xác định được rằng có một khoảng trống giữa ghế và tường, mà vì về nguyên tắc, ghế không bao giờ có thể chạm vào tường, ngay cả khi khoảng trống giữa chúng bằng không. Nếu ghế có thể chạm vào tường, điều này sẽ giả định rằng tường là loại vật thể ‘cho’ cái mà một chiếc ghế có thể chạm được.9 Một hiện hữu hiện diện kiểu present-at-hand tĩnh tại vô tri trong thế giới chỉ có thể được chạm bởi một hiện hữu khác nếu về bản chất, hiện hữu khác kia có Hiện-hữu-trong như là loại Hữu thể của chính nó - chỉ khi, với Hiện-hữu ở đó/Có đó/Da-sein của nó, một cái gì đó giống như thế giới đã được tiết lộ cho nó, để từ bên ngoài thế giới đó, một hiện hữu khác có thể tự thân biểu hiện bằng cách chạm vào, và do đó trở nên có thể tiếp cận được trong Hiện-hữu-hiện-diện-vô tri của nó. Khi hai hiện hữu hiện-diện-vô tri trong thế giới, và hơn nữa trong tự thân chúng lại ‘vô thế giới’, thì chúng không bao giờ có thể ‘chạm’ vào nhau, [tr.82] cũng như không hiện hữu nào ‘ở’ ‘bên cạnh’ hiện hữu kia được.

Cái mệnh đề ‘hơn nữa lại vô thế giới’ không được bỏ qua; bởi vì ngay cả những hiện hữu không ‘vô thế giới’ - ví dụ như chính Dasein - cũng hiện diện ‘trong’ thế giới, hay nói chính xác hơn, trong một số trường hợp và trong những giới hạn nhất định, có thể được coi đơn thuần là vô tri hiện diện. Để làm được điều này, người ta phải hoàn toàn bỏ qua hoặc đơn giản là không nhìn thấy trạng thái hiện sinh của Hiện-hữu-trong như là đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người. Nhưng thực tế thì ‘Dasein’ có thể được coi là thứ hiện diện vô tri và chỉ đơn thuần là hiện diện, không nên bị nhầm lẫn với một kiểu ‘hiện diện’ nhất định vốn là của chính Dasein. Kiểu hiện diện này trở nên dễ tiếp cận không phải bằng cách bỏ qua các cấu trúc đặc thù của Dasein mà chỉ bằng cách hiểu chúng trước. Dasein hiểu cái Hữu thể tối cao của chính nó theo nghĩa của một ‘Hiện-hữu-hiện-diện-vô-tri thực tính’ nhất định.ii Tuy nhiên, cái ‘thực tính’ của Tatsache sự thật của riêng Dasein về bản chất lại khác biệt về mặt bản thể luận so với sự xuất hiện thực tính của một loại khoáng chất nào đó, chẳng hạn. Bất cứ khi nào Dasein hiện hữu, thì nó đều hiện hữu như một Sự thật; và thực tính của Sự thật đó là điều mà chúng ta sẽ gọi là ‘thực tính’ của Dasein.10 Đây là một cách xác định Hữu-thể Seinsbestimmtheit, [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Hữu thể không phải là một hiện hữu khách quan. Nó không thể được ‘xác định’ như một khách thể, được định nghĩa, hoặc được quy giản về một khái niệm cao hơn. Thay vào đó, tính xác định của Hữu thể tự bộc lộ với tư cách là ý nghĩa của Hữu thể, được Dasein con người tiếp cận và thấu hiểu trong dòng thời gian và trong sự tương tác hàng ngày của họ với thế giới. Các khía cạnh trung tâm của Seinsbestimmtheit tính xác định của Hữu thể là: i) Tính không thể định nghĩa – Hữu thể không được coi là một ‘sự vật tồn tại’; do đó, logic và định nghĩa truyền thống (xác định loại) không áp dụng ở đây; ii) Thời tính - Dòng thời gian với tư cách một chân trời - Heidegger cho rằng ý nghĩa của Hữu thể gắn liền mật thiết với thời gian (Thời tính/Dòng thời gian). Thời gian là chân trời mà từ đó chúng ta có thể hiểu được ‘Hữu thể’ có nghĩa là gì; iii) Vai trò của Dasein con người chiếm một vị trí đặc quyền, nó được đặc trưng bởi thực tế là chính hiện hữu của nó liên quan đến tự thân hiện hữu ấy.-HHN] và nó có một cấu trúc phức tạp thậm chí không thể nắm bắt được như một vấn đề cho đến khi các trạng thái hiện sinh cơ bản của Dasein được làm rõ. Khái niệm ‘thực tính’ ngụ ý một hiện hữu ‘trong-thế-giới’ có Hữu-thể-trong-thế-giới giúp nó có thể hiểu chính mình gắn liền ‘số phận’ của nó với Hữu thể của các hiện hữu mà nó chạm trán trong thế giới của riêng nó.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tübingen

Notes

1 'Zum existierenden Dasein gehiirt die Jemeinigkeit als Bedingung der Miiglichkeit von Eigentlichkeit und Uneigentlichkeit. Dasein existiert je in einem dieser Modi, bzw. in der modalen lndifferenz ihrer.' [p.78]

2 Here we follow the older editions in reading, 'Ausweisung'. The newer editions have 'Aufweisung' ('exhibition'). [p.79]

3 ‘….Verfassung des Daseins….’ The earliest editions read 'Wesens' instead 'Daseins'. Correction is made in a list oferrata. [p.79]

4. Đọc 'innan-wohnen'. Như Heidegger đã chỉ ra trong chú thích của mình, đoạn văn khó hiểu này có nguồn gốc từ Kleinere Schrijten của Grimm, Tập VII, trang 247 trở đi, nơi chúng ta tìm thấy hai bài viết ngắn, bài đầu tiên có tiêu đề 'IN' và bài thứ hai là 'IN UND BEl'. Bài viết đầu tiên bắt đầu bằng cách so sánh một số từ tiếng Đức cổ có nghĩa là 'domus' (nhà), tất cả đều có hình thức tương tự như từ 'inn' trong tiếng Anh của chúng ta, mà Grimm đã đề cập. Ông tiếp tục đưa ra giả thuyết về 'một động từ mạnh "innan", hẳn có nghĩa là "habitare" (nơi ở), "domi esse" (nhà), hoặc "recipere in domum" (mặc dù thực tế chỉ tìm thấy một dạng phái sinh yếu là 'innian'), với một thì quá khứ mạnh còn tồn tại được viết là 'an' hoặc 'ann'. Grimm tiếp tục lập luận rằng giới từ 'in' được bắt nguồn từ động từ, chứ không phải động từ được bắt nguồn từ giới từ. [trang 80]

5 ‘…. 'an' bedeutet: ich bin gewohnt, vertraut mit, ich pflege etwas….' Trong bài viết thứ hai của Grimm, ông nói thêm:'cũng có một từ "ann" dị thường với số nhiều "unnum", thể hiện "amo", "diligo", ''faveo", và "gonnen" và "Gunst" của chúng ta có liên quan ngay lập tức, như đã được công nhận từ lâu. "Ann" thực sự có nghĩa là "ich bin eingewohnt", "pflege zu bauen"; sự chuyển đổi khái niệm này có thể được thể hiện bằng độ phức tạp tối thiểu trong tiếng Latin "colo", viết tắt của "habito" cũng như "diligo".' Không hoàn toàn rõ ràng liệu cuộc thảo luận của Heidegger về 'an' nhằm mục đích làm sáng tỏ giới từ 'an' (tương ứng trong một số cách sử dụng với giới từ 'at' trong tiếng Anh, và ông vừa sử dụng giới từ này khi nhận xét rằng nước và cốc đều ở một vị trí), hay đúng hơn là để giải thích thì quá khứ của 'an' trong 'innan'. Người đọc nên lưu ý rằng trong khi động từ 'wohnen' thường có nghĩa là 'cư trú' hoặc 'ở', thì cụm từ 'ich bin gewohnt' có nghĩa là 'tôi đã quen với', và 'ich bin eingewohnt' có nghĩa là 'tôi đã quen với nơi tôi cư trú - với môi trường xung quanh tôi'. Tương tự, 'ich pf!ege etwas' có thể có nghĩa là 'tôi đã quen làm điều gì đó' hoặc 'tôi chăm sóc điều gì đó' hoặc 'tôi cống hiến hết mình cho nó'. (Cụm từ 'pf!ege zu bauen' của Grimm có lẽ có nghĩa là 'tôi đã quen đặt niềm tin vào điều gì đó', 'tôi có thể xây dựng dựa trên nó'.) Từ Latinh 'colo' có nghĩa tương tự như 'Tôi chăm sóc một thứ gì đó' hoặc 'yêu quý' nó ('diligo') và 'Tôi sống' hoặc 'Tôi ở' ('habito'). [tr.80]

6'…. ich wohne, Halte mich auf bei…. der Welt, als dem so und so Vertrauten.' Giới từ 'bei', giống như 'an', không có phạm vi ngữ nghĩa rộng như bất kỳ giới từ tiếng Anh nào. Từ 'alongside' của chúng ta, mà chúng ta sẽ dịch khi các cách dịch khác có vẻ kém thỏa đáng hơn, đặc biệt là trong cụm từ 'Being alongside' ('Sein bei'), thường khá gây hiểu nhầm; nghĩa ở đây gần với nghĩa của 'at' trong các biểu thức như 'at home' hoặc 'at my father's', hoặc nghĩa của từ 'che;r.' trong tiếng Pháp. Ở đây, Heidegger dường như lại dựa vào Grimm, người tiếp tục (loc. cit.) kết nối 'bei' với 'bauen' ('build') và 'bin'. [trang 80]

7 ‘….in dem…Sinne des Aufgehens in der Welt…'' 'Aufgehen' nghĩa đen là 'đi lên', hoặc 'nổi lên' theo nghĩa mặt trời 'mọc' hoặc bột 'nở'. Nhưng khi theo sau bởi giới từ 'in', nó mang những nghĩa khác. Vì vậy 5 'geht auf' thành go theo nghĩa là nó 'đi vào' mà không có phần còn lại; một quốc gia 'đi vào' một quốc gia khác mà nó bị sáp nhập hoặc hấp thụ; một người 'đi vào' bất cứ điều gì mà người đó cống hiến hết mình, cho dù đó là một hoạt động hay một người khác. Chúng ta thường sẽ dịch 'aufgehen' bằng một dạng nào đó của 'hấp thụ'. [trang 81]

8 ‘Das Beisammen zweier Vorhandener….’ [p.81]

9 ‘Voraussetzung dafür wäre, dass die Wand ‘für’ den Stuhl begegnen könnte.' (Cf. also H. 97 below.) [p.81]

10 'Die Tatsächlichkeit des Faktums Dasein, als welches jeweilig jedes Dasein ist, nennen wir seine Faktizität.' Theo quy định, chúng tôi sẽ dịch 'Tatsachlichkeit' là 'tính thực tế' và 'Faktizität' là 'tính thực tế', tuân theo các quy ước của chúng tôi về 'tatsachlich' và 'faktisch'. (Xem ghi chú 2, trang 2 7, H. 7 ở trên.) Đoạn văn hiện tại gợi ý sự phân biệt có thể so sánh được giữa các danh từ 'Tatsache' và 'Faktum'; vì vậy, trong khi chúng tôi tìm thấy nhiều đoạn văn mà những từ này dường như được sử dụng thay thế cho nhau, chúng tôi dịch 'Faktum' là 'Sự thật' với chữ viết hoa đầu tiên, sử dụng 'sự thật' cho 'Tatsache' và nhiều cách diễn đạt khác. Về ‘xác thực tính’ factuality và ‘thực tính’ facticity cũng xem H. 1 35 dưới đây. [tr.82]

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN I: DIỄN GIẢI DASEIN - THỜI GIAN: CHÂN TRỜI SIÊU VIỆT CỦA HỮU THỂ

MỤC I: PHÂN TÍCH CƠ BẢN CHUẨN BỊ VỀ DASEIN

[Tr.74] Nhưng điều cản trở câu hỏi cơ bản về Hữu thể của Dasein (hay dẫn nó đi chệch hướng) là một định hướng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi nhân học của Kitô giáo và thế giới cổ đại, mà nền tảng bản thể học không đầy đủ của nó đã bị bỏ qua bởi cả triết học về sự sống và nhân cách luận. Có hai yếu tố quan trọng trong nhân học truyền thống này:

1. ‘Con người’ ở đây được định nghĩa là ζῷον λόγον ἔχον (zoon logon echon), và điều này được Diễn giải là một lý trí động vật, một thứ gì đó sống có lý tính. Nhưng loại Hữu thể thuộc về ζῷο zoo được hiểu theo nghĩa xảy ra và Hiện-hữu-trong-tầm-tay. [Chen ngang: Vorhandenheit ‘hiện hữu trong tầm tay’ là một khái niệm triết học mô tả cách chúng ta nhận thức một đối tượng khi chúng ta loại bỏ công dụng thực tiễn của nó và xem nó thuần túy như một đối tượng lý thuyết, độc lập với các thuộc tính vật lý. Để hiểu khái niệm ‘hiện hữu trong tầm tay’, Heidegger đối lập nó với khái niệm Zuhandenheit ‘Sẵn sàng trong tầm tay’, đề cập đến cách chúng ta tương tác thông thường với thế giới. Sẵn sàng trong tầm tay là khi sử dụng một cái búa, tôi không suy nghĩ một cách có ý thức về hình dạng, trọng lượng hoặc màu sắc của nó. Nó chỉ là một phần mở rộng của cơ thể tôi, một công cụ tôi sử dụng để hoàn thành một công việc. Ý nghĩa của nó nằm hoàn toàn ở công dụng thực tiễn của nó. Trong khi đó Vorhandenheit Hiện hữu trong tầm tay sẽ rõ nghĩa khi cái búa đột nhiên bị gãy, công dụng thực tiễn của nó biến mất, tôi không thể sử dụng chiếc búa gãy, mà bắt đầu nhìn nhận nó như một vật thể đơn thuần. Tôi quan sát các thuộc tính vật lý của nó, chẳng hạn như chất liệu, trọng lượng và vết gãy. Sự thay đổi về góc nhìn này biến đổi đối tượng từ trạng thái sẵn có để dùng sang trạng thái hiện diện trước mặt, điều này quan trọng vì nó đại diện cho cái nhìn khách quan, khoa học hoặc tách biệt mà con người dùng để quan sát thế giới; Heidegger cho rằng trạng thái hiện diện mang tính phái sinh; chúng ta chỉ gặp các đối tượng như những thứ mang tính lý thuyết sau khi sự tương tác thực tiễn, hàng ngày của chúng ta với thế giới bị phá vỡ hoặc bị gián đoạn một cách có chủ ý.-HHN] còn λόγος là một năng lực cao hơn; tuy nhiên, loại Hữu thể thuộc về nó vẫn còn khá mơ hồ hệt như toàn bộ hiện hữu được cấu thành như vậy.

2. Yếu tố thứ hai để xác định Hữu thể và bản chất của con người lại là một manh mối thần học: καὶ εἶπεν ὁ θεός Ποιήσωμεν ἄνθρωπον κατ' εἰκόνα ἡμετέραν καὶ καθ' ὁμοίωσιν· - ‘faciamus hominem ad imaginem nostram et similitudinem’.vii ‘Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta’ [Chen ngang: Đoạn trên được trích từ Sáng Thế ký của Cựu ước 1:26 đến 1:31: Gen 1:26 nguyên văn được viết bằng tiếng Hy Lạp cổ như sau: καὶ εἶπεν ὁ θεός Ποιήσωμεν ἄνθρωπον κατ' εἰκόνα ἡμετέραν καὶ καθ' ὁμοίωσιν· καὶ ἀρχέτωσαν τῶν ἰχθύων τῆς θαλάσσης καὶ τῶν πετεινῶν τοῦ οὐρανοῦ καὶ τῶν κτηνῶν καὶ πάσης τῆς γῆς καὶ πάντων τῶν ἑρπετῶν τῶν ἑρπόντων ἐπὶ τῆς γῆς. 1:27 καὶ ἐποίησεν ὁ θεὸς τὸν ἄνθρωπον, κατ' εἰκόνα θεοῦ ἐποίησεν αὐτόν· ἄρσεν καὶ θῆλυ ἐποίησεν αὐτούς. 1:28 καὶ ηὐλόγησεν αὐτοὺς ὁ θεὸς λέγων Αὐξάνεσθε καὶ πληθύνεσθε, καὶ πληρώσατε τὴν γῆν καὶ κατακυριεύσατε αὐτῆς, καὶ ἄρχετε τῶν ἰχθύων τῆς θαλάσσης καὶ τῶν πετεινῶν τοῦ οὐρανοῦ καὶ πάντων τῶν κτηνῶν καὶ πάσης τῆς γῆς καὶ πάντων τῶν ἑρπετῶν τῶν ἑρπόντων ἐπὶ τῆς γῆς. 1:29 καὶ εἶπεν ὁ θεός Ἰδοὺ δέδωκα ὑμῖν πᾶν χόρτον σπόριμον σπεῖρον σπέρμα, ὅ ἐστιν ἐπάνω πάσης τῆς γῆς· καὶ πᾶν ξύλον, ὃ ἔχει ἐν ἑαυτῷ καρπὸν σπέρματος σπορίμου· [ὑ]μῖν ἔσται εἰς βρῶσιν, 1:30 καὶ πᾶσι [τοῖ]ς θηρίοις τῆς γῆς καὶ πᾶσι [τοῖ]ς πετεινοῖς τοῦ οὐρανοῦ [καὶ π]αντὶ ἑρπετῷ τῷ ἕρπον[τι ἐπὶ τῆς] γῆς, ὃ ἔχει ἐν ἑαυτῷ [ψυχὴ]ν ζωῆς· καὶ πάντα χόρ[τον χλ]ωρὸν εἰς βρῶσιν. καὶ [ἐγένετ]ο οὕτως. 1:31 [καὶ ἴδεν ὁ] θεὸς τὰ πάντα ὅσα ἐποίη[σεν, καὶ] ἰδοὺ καλὰ λίαν. καὶ ἐγέ[νετο ἑσ]πέρα καὶ ἐγένετο πρωί, [ἡμέρα ἕ]κτη. Bản dịch tiếng Việt: 1:26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. 1:27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. 1:28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. 1:29 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi. 1:30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy. 1:31 Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu. (Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, United Bible Societies, Vietnamese 53V-ubs 1990-18.1M Printed in Korea, Sáng Thế ký, tr.2)-HHN]

Với xuất phát điểm này, nhân học của thần học Kitô giáo, cùng với định nghĩa cổ xưa, đi đến một cách diễn giải về cái hiện hữu mà chúng ta gọi là ‘con người’. Nhưng cũng giống như Hữu thể của Thiên Chúa được Diễn giải về phương diện bản thể luận thông qua bản thể luận cổ đại, thì cái Hữu thể của cái ens finitum hiện hữu giới hạn cũng vậy, và ở mức độ thậm chí còn lớn hơn. Trong thời hiện đại, định nghĩa của Kitô giáo đã bị tước bỏ đặc tính thần học của nó. Nhưng ý tưởng về ‘siêu việt’ – cho rằng con người là một cái gì đó vượt lên chính mình - bắt nguồn từ giáo lý Kitô giáo, vốn khó có thể nói là đã biến Hữu thể của con người thành một vấn đề bản thể luận. Ý tưởng về siêu việt, theo đó con người không chỉ đơn thuần là một thứ gì đó được ban cho trí tuệ, đã tự phát triển với nhiều biến thể khác nhau. Các trích dẫn sau đây sẽ minh họa những điều này có nguồn gốc như thế nào: ‘His praeclaris dotibus excelluit prima hominis conditio, ut rate, Intellectia, Prudential, Judicium non modo ad terrenae vitae gubernationem suppeterent, sed quibus superiorere tusque ad Deum et aeternam felicitatem.’viii “Trạng thái nguyên thủy của loài người vượt trội về những năng khiếu ưu tú này, đến nỗi lý trí, trí tuệ, tính cẩn trọng và năng lực phán đoán không chỉ đủ để cai quản cuộc sống trần thế, mà nhờ đó, [con người] có thể siêu thoát đến với Thượng đế và hạnh phúc vĩnh cửu.” “Denn dass der Mensch sein Aufsehen hat auft und [p.75] sein Wort, zeigt er klarlich an, dass er nach seiner Natur etwas Gott näher anerborn [angeboren], etwas mehr nachschlägt [ihm ähnlicher ist], etwas Zuzug zu ihm hat, das alles ohn' Zweifel darus [daraus] flüsst, dass er nach dem Bildnis Gottes geschaffen ist.”ix  “Vì con người có ánh mắt hướng lên và có tiếng nói của mình, điều đó rõ ràng cho thấy rằng theo bản chất của mình, con người gần gũi với Chúa hơn, giống Ngài hơn, có mối liên hệ nào đó với Ngài, tất cả điều này chắc chắn xuất phát từ việc con người được tạo ra theo hình ảnh của Chúa.” ix

Hai nguồn tư liệu có liên quan đến nhân học truyền thống—định nghĩa của người Hy Lạp và manh mối mà thần học đã cung cấp—chỉ ra rằng, ngoài nỗ lực xác định bản chất của ‘con người’ như một hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể của con người vẫn bị lãng quên, và cái Hữu thể này được hình dung như một điều hiển nhiên hoặc ‘tự-chứng’ theo nghĩa Vorhandenheit Hiện-hữu-trong-tầm-tay của những Vật thể khác đã được tạo ra. Hai manh mối này trở nên đan xen trong nhân học thời hiện đại, nơi mà res cogitans vật tư duy, ý thức và tính liên kết của Kinh nghiệm đóng vai trò là điểm xuất phát cho công việc nghiên cứu có phương pháp. Nhưng vì ngay cả những cogitations suy tư [cogitations: quá trình suy nghĩ sâu sắc và cẩn thận về một vấn đề, hoặc suy tư được cân nhắc kỹ lưỡng; từ này có gốc động từ Latin cogitate - suy ngẫm hoặc nghiền ngẫm - và thường được sử dụng trong các ngữ cảnh trang trọng, văn chương hoặc triết học.-HHN] cũng ở trong tính trạng hoặc bị bỏ ngỏ về mặt bản thể học, hoặc được ngầm định như một điều gì đó ‘tự-chứng’ mà ‘Hữu thể’ của nó không cần phải đặt câu hỏi, nên nền tảng bản thể học quyết định của các vấn đề nhân học vẫn chưa được xác định. 

Điều này cũng đúng với ‘tâm lý học’, mà ngày nay thường trở thành các khuynh hướng nhân học là điều không thể nhầm lẫn. Chúng ta cũng không thể bù đắp cho sự thiếu hụt nền tảng bản thể luận bằng cách lấy nhân học và tâm lý học để đắp bồi vào khuôn khổ của một ngành sinh học tổng quát. Theo thứ tự mà bất kỳ sự hiểu biết và diễn giải nào cũng phải tuân theo, sinh học với tư cách là một ‘khoa học về sự sống’ được xây dựng trên nền tảng bản thể học về Dasein, dù không hoàn toàn. Sự sống, tự thân nó, là một loại Hữu thể; nhưng về bản chất, nó chỉ có thể tiếp cận được trong Dasein. Bản thể luận của sự sống được hoàn thành thông qua một Diễn giải phủ định; nó xác định điều gì phải xảy ra nếu có thể có bất cứ thứ gì giống như sự sống đơn thuần [Nur-noch-leben]. Sự sống không chỉ đơn thuần là một Hiện-hữu-hiện-diện, cũng không phải là Dasein. Do đó, Dasein không bao giờ được định nghĩa về mặt bản thể luận bằng cách coi nó là sự sống (theo cách không xác định về mặt bản thể luận) cộng với một cái gì đó khác.

Khi cho rằng nhân học, tâm lý học và sinh học đều không thể đưa ra câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về mặt bản thể luận cho câu hỏi về loại Hữu thể thuộc về những hiện hữu vốn là chính chúng ta, chúng ta không hề phán xét công việc nghiên cứu tích cực của các ngành này. Tuy nhiên, chúng ta luôn phải ghi nhớ rằng những nền tảng bản thể luận này không bao giờ có thể được làm sáng tỏ bởi các giả thuyết tiếp theo được rút ra từ dữ liệu thực nghiệm, mà chúng luôn ‘có đó’ ngay cả khi dữ liệu thực nghiệm đó chỉ đơn giản được thu thập. Nếu nghiên cứu thực chứng không nhận thấy những nền tảng này và coi là hiển nhiên, thì vẫn không có nghĩa là chúng không phải là nền tảng cơ bản hoặc không có vấn đề theo nghĩa triệt để hơn bất kỳ luận điểm nào của khoa học thực chứng.X

[Chèn nguyên bản Đức văn để đối sánh với bản dịch Anh văn): Dasselbe gilt nicht minder von der »Psychologie«, deren anthropologische Tendenzen heute unverkennbar sind. Das fehlende ontologische Fundament kann auch nicht dadurch ersetzt werden, daß man Anthropologie und Psychologie in eine allgemeine Biologie einbaut. In der Ordnung des möglichen Erfassens und Auslegens ist die Biologie als »Wissenschaft vom Leben« in der Ontologie des Daseins fundiert, wenn auch nicht ausschließlich in ihr. Leben ist eine eigene Seinsart, aber wesenhaft nur zugänglich im Dasein. Die Ontologie des Lebens vollzieht sich auf dem Wege einer privativen Interpretation; sie bestimmt das, was sein muß, daß so etwas wie Nur-noch-leben sein kann. Leben ist weder pures Vorhandensein, noch aber auch Dasein. Das Dasein wiederum ist ontologisch nie so zu bestimmen, daß man es ansetzt als Leben – (ontologisch unbestimmt) und als überdies noch etwas anderes. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.49-50–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Điều tương tự cũng áp dụng ngay cả đối với ‘tâm lý học’, mà ngày nay những khuynh hướng nhân học của nó là không thể nhầm lẫn. Nền tảng bản thể học còn thiếu không thể được thay thế bằng cách kết hợp nhân học và tâm lý học vào một ngành sinh học đại cương. Theo trật tự khả năng hiểu và diễn giải, sinh học, với tư cách là ‘khoa học về sự sống’, được đặt nền tảng trên bản thể luận của Dasein, mặc dù không hoàn toàn chỉ dựa vào nó. Sự sống là một phương thức hiện hữu riêng biệt, nhưng về bản chất chỉ có thể tiếp cận được trong phạm vi Dasein. Bản thể luận của sự sống hé mở từ diễn giải phủ định; nó xác định điều gì phải có để một cái gì đó ‘chỉ-để-sống’ tồn tại. Sự sống không phải là hiện diện thuần túy cũng không phải là Dasein. Ngược lại, Dasein không bao giờ có thể được định nghĩa về mặt bản thể luận - đặt để nó là sự sống—(không xác định về mặt bản thể luận) và hơn nữa, là một cái gì đó khác.”

Mit dem Hinweis auf das Fehlen einer eindeutigen, ontologisch zureichend begründeten Antwort auf die Frage nach der Seinsart dieses Seienden, das wir selbst sind, in der Anthropologie, Psychologie und Biologie, ist über die positive Arbeit dieser Disziplinen kein Urteil gefällt. Andrerseits muß aber immer wieder zum Bewußtsein gebracht werden, daß diese ontologischen Fundamente nie nachträglich aus dem empirischen Material hypothetisch erschlossen werden können, daß sie vielmehr auch dann immer schon »da« sind, wenn empirisches Material auch nur gesammelt wird. Daß die positive Forschung diese Fundamente nicht sieht und für selbstverständlich hält, ist kein Beweis dafür, daß sie nicht zum Grunde liegen und in einem radikaleren Sinne problematisch sind, als es je eine These der positiven Wissenschaft sein kann. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.50–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Bằng cách chỉ ra sự thiếu vắng một câu trả lời rõ ràng, có cơ sở bản thể luận đầy đủ trong nhân học, tâm lý học và sinh học đối với câu hỏi về bản chất hiện hữu của chính chúng ta, lại không hề có sự phán xét nào về công trình nghiên cứu thực chứng của các ngành này. Mặt khác, cần phải nhấn mạnh nhiều lần rằng những nền tảng bản thể luận này không bao giờ có thể được suy luận theo cách giả thuyết từ dữ liệu thực nghiệm; thay vào đấy, chúng luôn luôn ‘có đó’ ngay cả khi dữ liệu thực nghiệm chỉ được thu thập. Việc nghiên cứu thực chứng không nhận ra những nền tảng này và coi chúng là điều hiển nhiên không phải là bằng chứng cho thấy chúng không mang tính nền tảng và có vấn đề theo nghĩa triệt để hơn bất kỳ luận điểm nào của khoa học thực chứng.”

11. Phân tích Hiện sinh và Diễn giải về Dasein Nguyên thủy. Những khó khăn trong việc đạt được ‘Quan niệm Tự nhiên về Thế giới'

[Tr.76] Tuy nhiên, Diễn giải Dasein trong đời sống thường nhật không đồng nhất với việc mô tả một giai đoạn nguyên thủy nào đó của Dasein mà chúng ta có thể làm quen bằng thực nghiệm thông qua phương tiện nhân học. Đời sống thường nhật không trùng khớp với tính nguyên thủy, mà đúng hơn là một phương thức Hữu thể của Dasein, ngay cả khi Dasein đó hoạt động trong một nền văn hóa phát triển cao và khác biệt - và chính xác là khi đó. Hơn nữa, ngay cả Dasein nguyên thủy cũng có những khả tính của một Hữu thể không thuộc loại thường nhật, và nó có một đời sống thường nhật đặc thù của riêng nó. Việc định hướng phân tích Dasein hướng tới ‘đời sống của các dân tộc nguyên thủy’ có thể có ý nghĩa tích cực [Bedeutung] như một phương pháp bởi vì ‘các hiện tượng nguyên thủy’ thường ít bị che giấu và ít phức tạp hơn bởi sự tự diễn giải rộng rãi từ phía Dasein được đề cập. Khái niệm Dasein nguyên thủy thường nói với chúng ta trực ti ếp hơn trong khuôn khổ của sự hấp thụ nguyên thủy vào các ‘hiện tượng’ (theo nghĩa tiền-hiện tượng luận). Một cách nhận thức mọi thứ, có lẽ từ quan điểm của chúng ta, có thể khá vụng về và thô thiển, lại có thể hữu ích trong việc làm sáng tỏ cấu trúc bản thể luận của các hiện tượng một cách chân thực.

Nhưng cho đến nay, thông tin của chúng ta về các nhóm nguyên thủy được ngành dân tộc học cung cấp. Và ngành dân tộc học hoạt động với những quan niệm và diễn giải sơ bộ nhất định về Dasein con người nói chung, ngay cả khi lần đầu tiên ‘tiếp nhận’ tài liệu, sàng lọc và xử lý nó. Liệu tâm lý học thường nhật hay thậm chí tâm lý học và xã hội học khoa học mà nhà dân tộc học mang theo có thể cung cấp bất kỳ sự đảm bảo khoa học nào giúp chúng ta có thể tiếp cận đúng đắn các hiện tượng mà chúng ta đang nghiên cứu, có thể diễn giải và truyền đạt chúng một cách chính xác hay không, thì lại vẫn chưa được xác định. Ở đây, chúng ta cũng phải đối mặt với tình trạng tương tự như trong các ngành khác mà chúng ta đã thảo luận. Bản thân dân tộc học đã giả định một phân tích Dasein không đầy đủ như là manh mối của nó. Nhưng vì các khoa học thực chứng vừa ‘không thể’ và cũng không nên chờ đợi những công trình triết học về bản thể luận được hoàn thành, nên hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ không mang hình thức ‘tiến bộ’ mà sẽ được thực hiện bằng cách tóm tắt những gì đã được khám phá về mặt bản thể luận, và bằng cách thanh lọc nó theo cách minh bạch hơn về mặt bản thể luận.xi

Cho dù việc chỉ ra sự khác biệt về hình thức giữa vấn đề bản thể luận và nghiên cứu ontic thực hữu có dễ dàng đến đâu, vẫn còn những khó khăn trong việc thực hiện phân tích hiện sinh, đặc biệt là trong việc bắt đầu. Nhiệm vụ này bao gồm một mong muốn mà triết học từ lâu đã thấy khó khăn nhưng liên tục từ chối đạt được: đó là xây dựng ý tưởng về một ‘quan niệm tự nhiên về thế giới’. Kho tàng thông tin phong phú hiện có về nhiều nền văn hóa và hình thức Dasein kỳ lạ nhất [tr.77] dường như lại thuận lợi cho việc chúng ta bắt tay vào nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Nhưng đây chỉ là vẻ ngoài. Về cơ bản, sự phong phú của thông tin này có thể khiến chúng ta không nhận ra vấn đề thực sự. Chúng ta sẽ không thể có được tri ​​thức đích thực về bản chất chỉ bằng hoạt động tổng hợp của việc so sánh và phân loại phổ quát. Việc lập bảng biểu cho sự đa dạng không đảm bảo bất kỳ cách hiểu biết thực sự nào về những gì nằm trước mắt chúng ta khi được sắp xếp theo trật tự như vậy. Nếu một nguyên tắc sắp xếp là chân thực, nó có nội dung riêng của nó với tư cách một Sachgehalt sự vật, vốn không bao giờ được tìm thấy bằng phương pháp sắp xếp như vậy, mà đã được giả định trước trong đó. Vì vậy, nếu muốn sắp xếp các hình ảnh khác nhau về thế giới theo thứ tự, người ta phải có một ý niệm rõ ràng về thế giới theo đúng nghĩa. Và nếu chính ‘thế giới’ là thứ cấu thành nên Dasein, thì cần phải có cái nhìn sâu sắc về các cấu trúc cơ bản của Dasein để có thể xử lý hiện tượng thế giới về khái niệm.

Trong chương này, chúng ta đã mô tả một số điều theo hướng khẳng định và đưa ra quan điểm phủ định đối với những điều khác; trong cả hai trường hợp, mục tiêu của chúng ta là thúc đẩy hiểu biết đúng đắn về xu hướng tiềm ẩn trong phần Diễn giải sau đây và loại câu hỏi mà nó đặt ra. Bản thể luận chỉ có thể đóng góp một cách gián tiếp vào việc phát triển các ngành khoa học thực chứng như chúng ta thấy ngày nay. Nó có mục tiêu riêng, ngay cả khi, ngoài thu thập thông tin về các hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể là động lực thúc đẩy mọi hoạt động tìm kiếm khoa học.

[Chèn nguyên bản Đức văn Mục 11. “Phân tích Hiện sinh và Diễn giải về Dasein Nguyên thủy…” (để đối sánh với bản dịch Anh văn): Die Interpretation des Daseins in seiner Alltäglichkeit ist aber nicht identisch mit der Beschreibung einer primitiven Daseinsstufe, deren Kenntnis empirisch durch die Anthropologie vermittelt sein kann. Alltäglichkeit deckt sich nicht mit Primitivität. Alltäglichkeit ist vielmehr ein Seinsmodus des Daseins auch dann und gerade dann, wenn sich das Dasein in einer hochentwickelten und differenzierten [p.51] Kultur bewegt. Andrerseits hat auch das primitive Dasein seine Möglichkeiten des unalltäglichen Seins, es hat seine spezifische Alltäglichkeit. Die Orientierung der Daseinsanalyse am »Leben der primitiven Volker« kann positive methodische Bedeutung haben, sofern »primitive Phänomene« oft weniger verdeckt und kompliziert sind durch eine schon weitgehende Selbstauslegung des betr. Daseins. Primitives Dasein spricht oft direkter aus einem ursprünglichen Aufgehen in den »Phänomenen« (im vorphänomenologischen Sinne genommen). Die, von uns aus gesehen, vielleicht unbeholfene und grobe Begrifflichkeit kann positiv förderlich sein für eine genuine Heraushebung der ontologischen Strukturen der Phänomene. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.50-51–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Việc Diễn giải Daseins trong đời sống thường nhật của nó không đồng nhất với việc mô tả một giai đoạn nguyên thủy nào đó của Dasein, mà tri ​​thức về giai đoạn này có thể được truyền đạt một cách thực nghiệm thông qua nhân học. Tính đời thường không đồng nghĩa với tính nguyên thủy. Thay vào đó, tính đời thường là một phương thức tồn tại của Dasein ngay cả và đặc biệt là khi Dasein vận động trong một nền văn hóa phát triển và phân hóa cao [tr. 51]. Mặt khác, Dasein nguyên thủy cũng có những khả tính hiện hữu phi-thường nhật; nó có tính thường nhật đặc thù của nó. Việc định hướng phân tích Dasein hướng tới ‘cuộc sống của các dân tộc nguyên thủy’ có thể có ý nghĩa phương pháp luận tích cực, bởi vì ‘các hiện tượng nguyên thủy’ thường ít bị che khuất và phức tạp hơn bởi tự-diễn-giải mở rộng về Dasein được đề cập. Dasein nguyên thủy thường nói trực tiếp hơn từ sự hấp thụ nguyên thủy vào ‘các hiện tượng’ (theo nghĩa tiền-hiện tượng học). Thuật ngữ, với chúng ta có vẻ vụng về và thô thiển, thực sự lại có lợi cho việc làm nổi bật chân thực các cấu trúc bản thể luận của các hiện tượng.”

Aber bislang wird uns die Kenntnis der Primitiven durch die Ethnologie bereitgestellt. Und diese bewegt sich schon bei der ersten »Aufnahme« des Materials, seiner Sichtung und Verarbeitung in bestimmten Vorbegriffen und Auslegungen vom menschlichen Dasein überhaupt. Es ist nicht ausgemacht, ob die Alltagspsychologie oder gar die wissenschaftliche Psychologie und Soziologie, die der Ethnologe mitbringt, für eine angemessene Zugangsmöglichkeit, Auslegung und Übermittelung der zu durchforschenden Phänomene die wissenschaftliche Gewähr bieten. Auch hier zeigt sich dieselbe Sachlage wie bei den vorgenannten Disziplinen. Ethnologie setzt selbst schon eine zureichende Analytik des Daseins als Leitfaden voraus. Da aber die positiven Wissenschaften auf die ontologische Arbeit der Philosophie weder warten »können« noch sollen, wird sich der Fortgang der Forschung nicht vollziehen als »Fortschritt«, sondern als Wiederholung und ontologisch durchsichtigere Reinigung des ontisch Entdeckten.1 (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.51–HHN] Tạm dịch nghĩa: “Nhưng cho đến nay, tri ​​thức của chúng ta về các nền văn hóa nguyên thủy chủ yếu được môn dân tộc học cung cấp. Và lĩnh vực này, ngay từ khâu ‘ghi chép’ đầu tiên về tư liệu—việc xem xét và xử lý—đã hoạt động trong khuôn khổ những định kiến ​​và cách diễn giải nhất định về Dasein con người nói chung. Không chắc chắn liệu tâm lý học thường nhật, hay thậm chí cả tâm lý học và xã hội học khoa học mà các nhà dân tộc học mang đến, có cung cấp sự đảm bảo khoa học cho một phương tiện thích hợp để tiếp cận, diễn giải và truyền đạt các hiện tượng đang được nghiên cứu hay không. Ở đây, tình huống tương tự cũng nảy sinh như với các ngành khoa học đã đề cập. Bản thân dân tộc học đã giả định một phân tích đầy đủ về Daseins như một nguyên tắc dẫn đường. Nhưng vì khoa học thực chứng ‘không thể’ và không nên chờ đợi công trình triết học bản thể luận, nên bước tiến nghiên cứu sẽ không diễn ra với tư cách ‘tiến bộ’, mà với tư cách lặp lại và thanh lọc minh bạch hơn về bản thể luận đối với cái đã được khám phá ontisch về thực hữu.

Notes (Đức văn) 1 Neuerdings hat E. Cassirer das mythische Dasein zum Thema einer philosophischen Interpretation gemacht, vgl. »Philosophie der symbolischen Formen«. Zweiter Teil: Das mythische Denken. 1925. Der ethnologischen Forschung werden durch diese Untersuchung umfassendere Leitfäden zur Verfügung gestellt. Von der philosophischen Problematik her gesehen bleibt die Frage, ob die Fundamente der Interpretation hinreichend durchsichtig sind, ob insbesondere die Architektonik von Kants Kritik d. r. V. und deren systematischer Gehalt überhaupt den möglichen Aufriß für eine solche Aufgabe bieten können, oder ob es hier nicht eines neuen und ursprünglicheren Ansatzes bedarf. Cassirer sieht selbst die Möglichkeit einer solchen Aufgabe, wie die Anmerkung S. 16 f. zeigt, wo C. auf die von Husserl erschlossenen phänomenologischen Horizonte hinweist. In einer Aussprache, die der Verf. gelegentlich eines Vortrags in der Hamburgischen Ortsgruppe der Kantgesellschaft im Dezember 1923 über »Aufgaben und Wege der phänomenologischen Forschung« mit C. pflegen konnte, zeigte sich schon eine Übereinstimmung in der Forderung einer existenzialen Analytik, die in dem genannten Vortrag skizziert wurde. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, Note 1, p.51–HHN] Tạm dịch nghĩa: Gần đây, E. Cassirer đã đưa Dasein thần thoại trở thành đối tượng của một diễn giải triết học; xem Triết học Hình thức Biểu tượng, Phần hai: Tư tưởng thần thoại, 1925. Nghiên cứu này cung cấp những hướng dẫn toàn diện hơn cho nghiên cứu dân tộc học. Từ góc độ triết học, câu hỏi đặt ra là liệu nền tảng của diễn giải có đủ minh bạch hay không, liệu, đặc biệt, tri ​​trúc Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant và nội dung hệ thống của nó thậm chí có thể cung cấp một khuôn khổ khả thi cho nhiệm vụ như vậy hay không, hay liệu cần một cách tiếp cận mới và độc đáo hơn. Bản thân Cassirer cũng nhận thấy khả năng của nhiệm vụ này, như ghi chú ở trang 16-17 cho thấy, nơi Cassirer đề cập đến những chân trời hiện tượng học được Husserl mở ra. Trong một cuộc thảo luận của Tác giả [Heidegger] với Cassirer nhân dịp một bài giảng tại nhóm địa phương Hamburg của Hội Kant vào tháng 12 năm 1923 về ‘Nhiệm vụ và Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận’, đã có sự đồng thuận về đòi hỏi một phân tích hiện sinh, được nêu trong bài giảng nói trên.-HHN]

[P.52] So leicht die formale Abgrenzung der ontologischen Problematik gegenüber der ontischen Forschung sein mag, die Durchführung und vor allem der Ansatz einer existenzialen Analytik des Daseins bleibt nicht ohne Schwierigkeiten. In ihrer Aufgabe liegt ein Desiderat beschlossen, das seit langem die Philosophie beunruhigt, bei dessen Erfüllung sie aber immer wieder versagt: die Ausarbeitung der Idee eines »natürlichen Weltbegriffes«. Einer fruchtbringenden Inangriffnahme dieser Aufgabe scheint der heute verfügbare Reichtum an Kenntnissen der mannigfaltigsten und entlegensten Kulturen und Daseinsformen günstig zu sein. Aber das ist nur Schein. Im Grunde ist solche überreiche Kenntnis die Verführung zum Verkennen des eigentlichen Problems. Das synkretistische Allesvergleichen und Typisieren gibt nicht schon von selbst echte Wesenserkenntnis. Die Beherrschbarkeit des Mannigfaltigen in einer Tafel gewährleistet nicht ein wirkliches Verständnis dessen, was da geordnet vorliegt. Das echte Prinzip der Ordnung hat seinen eigenen Sachgehalt, der durch das Ordnen nie gefunden, sondern in ihm schon vorausgesetzt wird. So bedarf es für die Ordnung von Weltbildern der expliziten Idee von Welt überhaupt. Und wenn »Welt« selbst ein Konstitutivum des Daseins ist, verlangt die begriffliche Ausarbeitung des Weltphänomens eine Einsicht in die Grundstrukturen des Daseins. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.52– HHN] Tạm dịch nghĩa: [Tr.52] Dù việc phân định ranh giới hình thức giữa các vấn đề bản thể học và nghiên cứu ontischen thực hữu có vẻ dễ dàng, nhưng việc thực hiện và trên hết là cách tiếp cận của một phân tích hiện sinh về Daseins vẫn không phải là không gặp khó khăn. Nhiệm vụ của nó chứa đựng một điều mong muốn đã làm đau đầu triết học từ lâu, nhưng lại liên tục thất bại trong thực hiện điều đó: việc hoàn thiện ý tưởng về một ‘khái niệm tự nhiên về thế giới’. Ngày nay sự phong phú của tri ​​thức sẵn có về các nền văn hóa cùng các hình thái đa dạng và xa xôi nhất do Dasein tạo dựng dường như lại rất thuận lợi cho việc tiếp cận với nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Nhưng đây chỉ là một ảo tưởng. Về bản chất, sự phong phú của tri ​​thức như vậy là một cám dỗ dẫn đến việc hiểu sai vấn đề thực sự. Việc so sánh tổng hợp và phân loại mọi thứ tự nó không mang lại sự thấu hiểu thực sự về bản chất của sự vật. Năng lực quản lý sự đa dạng trong một bảng biểu không đảm bảo sự hiểu biết chân thực về những gì được trình bày ở đó một cách có trật tự. Nguyên tắc chân thực của trật tự có nội dung riêng của nó, vốn không bao giờ được khám phá thông qua việc sắp xếp trật tự, mà đã được giả định sẵn trong đó. Do đó, việc sắp xếp thế giới quan đòi hỏi ý tưởng rõ ràng về tự thân thế giới. Và nếu ‘thế giới’ tự nó là yếu tố cấu thành của Dasein, thì việc hoàn thiện khái niệm về hiện tượng thế giới lại đòi hỏi thấu hiểu cấu trúc cơ bản của Dasein.

Die positiven Charakteristiken und negativen Erwägungen dieses Kapitels hatten den Zweck, das Verständnis der Tendenz und Fragehaltung der folgenden Interpretation in die rechte Bahn zu lenken. Zur Förderung der bestehenden positiven Disziplinen kann Ontologie nur indirekt beitragen. Sie hat für sich selbst eine eigenständige Abzweckung, wenn anders über eine Kenntnisnahme von Seiendem hinaus die Frage nach dem Sein der Stachel alles wissenschaftlichen Suchens ist. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.52– HHN] Tạm dịch nghĩa: [Tr.52] Những đặc điểm khẳng định và những cân nhắc phủ định của Chương này nhằm mục đích hướng dẫn hiểu biết về xu hướng và cách tiếp cận đặt câu hỏi của phần Diễn giải tiếp theo một cách đúng hướng. Bản thể luận chỉ có thể đóng góp gián tiếp vào sự tiến bộ của các ngành khoa học thực chứng hiện có. Nó có mục đích độc lập của riêng mình, nếu, vượt ra ngoài nhận thức đơn thuần về các hiện hữu, thì câu hỏi về Hữu thể là động lực thúc đẩy mọi nghiên cứu khoa học.–HHN]

__________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 Neuerdings hat E. Cassirer das mythische Dasein zum Thema einer philosophischen Interpretation gemacht, vgl. »Philosophie der symbolischen Formen«. Zweiter Teil: Das mythische Denken. 1925. Der ethnologischen Forschung werden durch diese Untersuchung umfassendere Leitfäden zur Verfügung gestellt. Von der philosophischen Problematik her gesehen bleibt die Frage, ob die Fundamente der Interpretation hinreichend durchsichtig sind, ob insbesondere die Architektonik von Kants Kritik d. r. V. und deren systematischer Gehalt überhaupt den möglichen Aufriß für eine solche Aufgabe bieten können, oder ob es hier nicht eines neuen und ursprünglicheren Ansatzes bedarf. Cassirer sieht selbst die Möglichkeit einer solchen Aufgabe, wie die Anmerkung S. 16 f. zeigt, wo C. auf die von Husserl erschlossenen phänomenologischen Horizonte hinweist. In einer Aussprache, die der Verf. gelegentlich eines Vortrags in der Hamburgischen Ortsgruppe der Kantgesellschaft im Dezember 1923 über »Aufgaben und Wege der phänomenologischen Forschung« mit C. pflegen konnte, zeigte sich
schon eine Übereinstimmung in der Forderung einer existenzialen Analytik, die in dem genannten Vortrag skizziert wurde. (Heidegger, Martin. (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, Note 1, p.51–HHN]

Tạm dịch nghĩa: “Gần đây, E. Cassirer đã đưa Dasein thần thoại trở thành đối tượng của một diễn giải triết học; xem Triết học Hình thức Biểu tượng, Phần hai: Tư tưởng thần thoại, 1925. Nghiên cứu này cung cấp những hướng dẫn toàn diện hơn cho nghiên cứu dân tộc học. Từ góc độ triết học, câu hỏi đặt ra là liệu nền tảng của diễn giải có đủ minh bạch hay không, liệu, đặc biệt, tri ​​trúc Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant và nội dung hệ thống của nó thậm chí có thể cung cấp một khuôn khổ khả thi cho nhiệm vụ như vậy hay không, hay liệu cần một cách tiếp cận mới và độc đáo hơn. Bản thân Cassirer cũng nhận thấy khả năng của nhiệm vụ này, như ghi chú ở trang 16-17 cho thấy, nơi Cassirer đề cập đến những chân trời hiện tượng học được Husserl mở ra. Trong một cuộc thảo luận của Tác giả [Heidegger] với Cassirer nhân dịp một bài giảng tại nhóm địa phương Hamburg của Hội Kant vào tháng 12 năm 1923 về ‘Nhiệm vụ và Phương pháp Nghiên cứu Hiện tượng luận’, đã có sự đồng thuận về đòi hỏi một phân tích hiện sinh, được nêu trong bài giảng nói trên.”