Powered By Blogger

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT

[Tr. 289] Chung cục không nhất thiết đồng nghĩa với việc hoàn tất chính mình. Do đó, vấn đề trở nên cấp thiết hơn khi ta tự hỏi: theo nghĩa nào—nếu có—thì cái chết phải được quan niệm là chung cục của Dasein? Trước hết, ‘chung cục’ mang nghĩa ‘ngừng lại’, và từ này mang nghĩa đó theo những cách thức khác biệt về mặt bản thể luận. Cơn mưa ngừng rơi; nó không còn hiện-diện-vô-tri nữa. Con đường kết thúc; kết thúc như vậy không làm con đường biến mất, nhưng ngừng lại vẫn mang tính quy định đối với con đường—với tư cách là con đường cụ thể này—vốn đang hiện-diện-vô-tri. Vì thế, chung cục—với tư cách là ngừng lại—có thể mang nghĩa ‘chuyển sang trạng thái không còn hiện-diện-vô-tri hoặc là ‘chỉ hiện-diện-vô-tri khi chung cục ập đến’. Loại chung cục thứ hai này, đến lượt nó, có thể mang tính quy định đối với một sự vật đang hiện-diện-vô-tri nhưng theo cách chưa hoàn tất—chẳng hạn như khi một con đường bị ngắt quãng giữa chừng vì đang trong quá trình thi công; hoặc đúng hơn, nó có thể cấu thành nên Endigkeit/ Beendigung/ finishedness ‘trạng thái hoàn tất’ của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, chẳng hạn như bức tranh được hoàn tất với nét cọ cuối cùng. Tuy nhiên, chung cục theo nghĩa ‘được hoàn tất’ lại không bao hàm Erfüllung/Fulfilling trạng thái viên mãn. [Chen ngang: Trong các bản dịch tiếng Anh tác phẩm Sein und Zeit của Martin Heidegger, thuật ngữ ‘finishedness’ được dịch từ Endigkeit hoặc Beendigung / vollendet sein trong những ngữ cảnh cụ thể, trong khi fulfilling viên mãn/hoàn thành trọn vẹn được dịch từ Erfüllung gắn liền với Erfüllen hoặc Vollenden. Heidegger đưa ra các thuật ngữ này để khảo sát tính toàn vẹn về mặt cấu trúc, cái chết và thời gian tính của Dasein: 1). Endigkeit/ Beendigung/ Finishedness - Khi phân tích cách Dasein hiện hữu người đi đến chung cục, Heidegger phân biệt cái chết của con người với trạng thái ‘hoàn tất’ đơn thuần của các vật thể vô tri. Khái niệm: Một món công cụ hay một ngôi nhà được coi là ‘hoàn tất’  khi công việc chế tạo hoặc xây dựng chúng đã xong. Một khi đã hoàn tất, nó trở thành vật thể vorhanden hiện-diện-vô-tri. Tuy nhiên, Dasein không bao giờ đơn thuần ‘hoàn tất’ theo cách này cho đến khi cái chết cận kề; bởi lẽ, chừng nào còn tồn tại, nó luôn là một tập hợp các khả tính chưa hoàn tất. Các thuật ngữ tiếng Đức Endigkeit Tính hữu hạn/Trạng thái chung cục; Beendigung kết thúc/ chấm dứt; Fertigsein Trạng thái hoàn tất/sẵn sàng—dùng để mô tả khi một sản phẩm vật lý hoặc công cụ đã được hoàn thiện. 2) Erfüllung/ Vollendung/ Fulfilling Heidegger lưu ý rằng chung cục không nhất thiết đồng nghĩa với việc hiện thực hóa các tiềm năng. Một cuộc đời có thể đi đến chung cục mà không đạt được sự viên mãn, và ngược lại, tình trạng viên mãn có thể diễn ra trước khi cái chết về mặt thể xác xảy ra. Khái niệm Fulfilling viên mãn/hoàn thành trọn vẹn - là một phương thức cụ thể của trạng thái hoàn tất. Nó biểu thị sự hiện thực hóa triệt để khả năng hiện hữu cốt yếu nhất của chính cái Seinkönnen tiềm-năng-cho-Hữu-thể. Điều này có nghĩa là đạt đến độ chín muồi hoặc sự trọn vẹn đầy hoa trái của một sự hiện hữu, thay vì chỉ đơn thuần là dừng lại hay cạn kiệt thời gian. Các thuật ngữ tiếng Đức Erfüllung hoàn thành/ viên mãn, Vollendung trọn vẹn/ hoàn hảo, Ausreifen chín muồi—Heidegger nổi tiếng với việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ về quả chín để diễn tả một kết thúc viên mãn thay vì chỉ là sự dừng lại đơn thuần.- HHN].

Mặt khác, bất cứ điều gì cần đạt đến viên mãn thì thực sự phải đạt được trạng thái hoàn tất khả dĩ đối với nó. Viên mãn là một phương thức của ‘trạng thái hoàn tất’ và được xây dựng dựa trên nó. Bản thân trạng thái hoàn tất chỉ có thể tồn tại như một hình thức xác định của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri hoặc sẵn-có-để-dùng. Ngay cả chung cục theo nghĩa ‘biến mất’ cũng có thể có những biến thể tùy thuộc vào loại Hữu thể mà một thực thể sở hữu. Cơn mưa kết thúc—nghĩa là nó đã biến mất. Ổ bánh mì kết thúc—nghĩa là nó đã bị dùng hết và không còn sẵn-có-để-dùng nữa. Không phương thức kết thúc nào trong số này có thể mô tả một cách thỏa đáng cái chết như là ‘chung cục’ của Dasein. Nếu cái chết—với tư cách là Zu-Ende-sein/ Being-at-an-end Hữu-thể-tại-một-chung-cục—được hiểu theo nghĩa một chung cục thuộc loại hình mà chúng ta đã thảo luận, thì khi đó Dasein sẽ bị xem như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri hoặc sẵn-có-để-dùng. Trong cái chết, Dasein không đạt đến sự viên mãn cũng không đơn thuần biến mất; nó không trở nên hoàn tất và cũng không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát như một vật thể sẵn-có-để-dùng.

Ngược lại, cũng như Dasein vốn dĩ đã là cái ‘vẫn-chưa’ của chính mình—và liên tục là cái ‘vẫn-chưa’ đó chừng nào nó còn tồn tại—thì nó cũng đã là chung cục của chính mình. Cái ‘chung cục’ mà chúng ta nhắm đến khi nói về cái chết không biểu thị trạng thái Zu-Ende-sein/ Being-at-an-end Hữu-thể-tại-một-chung-cục của Dasein, mà biểu thị một Sein zum Ende Being-towards-the-end Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục của thực thể này. Cái chết là một cách thức hiện hữu mà Dasein tiếp nhận ngay khi nó bắt đầu tồn tại. ‘Ngay khi con người bước vào cuộc sống, hắn cũng đã đủ già để chết.’iv [Chen ngang: „Sobald ein Mensch zum Leben kommt, sogleich ist er alt genug zu sterben.“ Câu nói nổi tiếng mà Martin Heidegger trích dẫn ở đây thuộc Chương XX của tác phẩm trung cổ Der Ackermann aus Böhmen - Người cày ruộng xứ Bohemia – của Johannes von Tepl viết khoảng năm 1400 bằng tiếng Đức. Câu này nhấn mạnh quan điểm của Heidegger cho rằng cái chết không phải là một sự kiện xảy ra ở cuối đời, mà là một khả năng hữu thể thuộc về Dasein hiện hữu người ngay từ khoảnh khắc họ sinh ra.-HHN] Cái kết cục—với tư cách là Sein zum Ende/ Being-towards-the-end/ Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục—cần được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận dựa trên loại Hữu thể của Dasein. Và có lẽ, cái khả tính về một Hữu thể của cái ‘vẫn-chưa’ – cái nằm ‘trước’ cái ‘chung cục’1 – sẽ chỉ trở nên [tr.290] dễ hiểu nếu bản chất của cái chung cục được xác định về phương diện hữu thể. Việc làm sáng tỏ tính hữu thể về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục, ngay từ đầu, cũng sẽ mang lại cho chúng ta một cơ sở thỏa đáng để xác định ý nghĩa của việc bàn luận về tổng thể tính của Dasein, nếu quả thực tổng thể tính này được cấu thành bởi cái chết với tư cách là cái ‘chung cục’.

Nỗ lực của chúng ta nhằm thấu hiểu tổng thể tính của Dasein –bằng cách chọn xuất phát điểm là việc làm rõ khái niệm ‘vẫn chưa’ và tiếp tục với việc mô tả đặc tính của ‘chung cục’ – đã không đưa chúng ta đến đích. Nó chỉ cho thấy, theo cách phủ định, rằng cái ‘vẫn-chưa’ mà Dasein vốn luôn là như vậy trong mọi trường hợp, không thể được Diễn giải như một điều gì đó còn dang dở, chưa hoàn tất. Cái chung cục mà Dasein hướng tới trong quá trình hiện hữu của mình vẫn chưa được định nghĩa thỏa đáng nếu chỉ dựa vào khái niệm Zu-Ende-sein/ Being-at-an-end Hữu-thể-tại-một-chung-cục. Tuy nhiên, những suy xét này đồng thời cũng cho thấy cần phải thay đổi hướng tiếp cận. Việc mô tả khẳng định các hiện tượng đang được xem xét (Hữu-thể-vẫn-chưa, cái chung cục, tổng thể tính) chỉ có thể thành công khi nó định hướng một cách dứt khoát vào trạng thái Hữu thể của Dasein. Nhưng nếu chúng ta có được sự thấu hiểu về phạm vi thuộc tính của các cấu trúc ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ vốn cần phải được lý giải về mặt bản thể luận gắn liền với Dasein – thì điều này sẽ giúp bảo đảm, theo cách phủ định, rằng cách tiếp cận dứt khoát đó không đi chệch hướng. Nếu thực hiện việc diễn giải khẳng định về cái chết và đặc tính với tư cách ‘kết thúc’ của nó thông qua phân tích hữu thể, thì chúng ta phải lấy trạng thái cơ bản của Dasein mà ta đã xác định được – là hiện tượng ‘chăm lo’ – làm đầu mối.

49. Phân biệt giữa Phân tích hữu thể về Cái chết và các Diễn giải Khả dĩ khác về Hiện tượng này

Tính chất dứt khoát trong phép Diễn giải mang tính bản thể luận của chúng ta về cái chết trước hết cần được củng cố bởi việc chúng ta kỳ vọng nó sẽ cung cấp bất kỳ thông tin hay chỉ dẫn nào về vấn đề này.2 Xét theo nghĩa rộng nhất, cái chết là một hiện tượng của sự sống. Sự sống cần được hiểu là một loại Hữu thể mang trong mình đặc tính Hữu-thể-trong-thế-giới. Chỉ khi loại Hữu thể này được định hướng theo cách thức loại trừ đối với Dasein, thì ta mới có thể xác định bản chất của nó về phương diện bản thể luận. Ngay cả Dasein cũng có thể được xem xét thuần túy như là sự sống. Khi câu hỏi được đặt ra từ quan điểm sinh học và sinh lý học, thì Dasein bước vào phạm vi của Hữu thể như là thế giới của động vật và thực vật. Trong lĩnh vực này, ta có thể thu thập dữ liệu và số liệu thống kê về tuổi thọ của thực vật, động vật và con người bằng cách xác định chúng ở bình diện ontish thực hữu. Người ta có thể nhận thấy các mối liên hệ giữa tuổi thọ, sự sinh sôi nảy nở và [tr.291] tăng trưởng. Đồng thời, cũng có thể khảo sát các ‘kiểu’ chết, các nguyên nhân, các ‘cơ cấu’ cũng như những phương thức mà cái chết ập đến.v Ẩn sau cuộc khảo sát mang tính sinh học-thực hữu về cái chết này là một vấn đề thuộc phạm vi bản thể luận. Chúng ta vẫn phải đặt câu hỏi rằng bản chất bản thể luận của cái chết được định nghĩa như thế nào trong khuôn khổ bản chất bản thể luận của sự sống. Theo một cách nào đó, điều này vốn đã được xác định ngay trong quá trình khảo sát mang tính ontish thực hữu về cái chết. Các cuộc khảo sát như vậy vận hành dựa trên những quan niệm sơ bộ về sự sống và cái chết—những quan niệm đã được làm sáng tỏ ở mức độ nhất định. Những quan niệm sơ bộ này cần được phác thảo lại bởi bản thể luận về Dasein. Trong khuôn khổ bản thể luận về Dasein—vốn có vị thế bao trùm lên bản thể luận về sự sống—thì phép phân tích hữu thể về cái chết lại chịu sự chi phối bởi việc mô tả trạng thái cơ bản của Dasein. Chúng ta gọi chung cục của thực thể sống là ‘lụi tàn’.

Dasein cũng ‘có’ cái chết của mình, theo cách thức phù hợp với bất kỳ thực thể sống nào; và nó sở hữu cái chết đó không phải trong sự tách biệt mang tính ontish thực hữu, mà là dưới sự đồng quy định bởi loại Hữu thể bản nguyên của nó. Chính vì vậy, Dasein có thể chung cục mà không thực sự ‘chết’, mặc dù mặt khác, với tư cách là Dasein, nó không đơn thuần chỉ ‘lụi tàn’. Chúng ta gọi hiện tượng trung gian này là ‘qua đời’3. Hãy quy ước thuật ngữ ‘chết’ để chỉ cách thức Hữu thể mà trong đó Dasein hướng về cái chết4 của chính mình. Theo đó, ta phải khẳng định rằng Dasein không bao giờ ‘lụi tàn’. Tuy nhiên, Dasein chỉ có thể Ableben ‘ra đi’ chừng nào nó còn đang trong quá trình ‘chết’. [Chen ngang: Danh từ tiếng Đức Ableben có nghĩa là ra đi/qua đời/từ trần hoặc ‘cái chết’ là một động từ được chuyển thành danh từ, hình thành từ sự kết hợp của hai thành phần: tiền tố ab- và động từ gốc leben. Quá trình phát triển lịch sử của từ này cho thấy một sự chuyển đổi đáng chú ý về nghĩa, từ ‘sống trọn những ngày tháng của mình’ sang ‘chung cục cuộc đời’: 1.) Phân tích cấu trúc Tiền tố ab-: i) Trong ngữ cảnh này, tiền tố đóng vai trò biểu thị sự hoàn tất, tách biệt, rời đi hoặc sự hao mòn/kết thúc - tương tự như các từ ‘off’, ‘away’ hoặc ‘down’ trong tiếng Anh; ii) Động từ leben nghĩa là ‘sống’, có gốc từ tiếng Đức Thượng cổ lēbēn và tiếng Đức nguyên thủy libjaną – vốn bản nguyên từ Ngữ hệ Ấn-Âu nguyên thủy mang nghĩa ‘bám víu’, ‘nán lại’ hoặc ‘duy trì’. 2) Sự thay đổi nghĩa theo thời gian: i) Từ này không phải lúc nào cũng mang nghĩa ‘chết’, các nhà ngôn ngữ học lịch sử xác định nó đã phát triển qua các giai đoạn rõ rệt của Thế kỷ 14–16: Trong tiếng Đức cổ aflēven và tiếng Đức mới giai đoạn đầu, thì động từ ableben ban đầu có nghĩa là ‘sống qua’, ‘trải qua’ hoặc ‘dành thời gian để sống’. Đến Thế kỷ 17 nghĩa của từ chuyển dịch theo hướng ẩn dụ thành ‘sống trọn cuộc đời đến phút cuối’ hoặc ‘kết thúc cuộc đời’. Hệ quả là ableben chuyển thành động từ mang nghĩa ‘qua đời’ hoặc ‘chấm dứt sự sống’ - theo nghĩa đen là kết thúc cuộc sống. Thế kỷ 19 đến nay - mặc dù hiếm gặp động từ ableben và nó mang sắc thái cổ, dạng danh từ hóa das Ableben—lại được định hình vững chắc như một danh từ trang trọng, tao nhã và mang tính uyển ngữ để mô tả cái chết của ai đó. Ngày nay, thường chỉ bắt gặp từ Ableben trong các ngữ cảnh chính thức, văn chương hoặc mang tính trang trọng, chẳng hạn như trong cáo phó hoặc các văn bản pháp lý.-HHN]. Các nghiên cứu y học và sinh học về cuộc ‘ra đi’ có thể hàm ngụ những kết quả mang ý nghĩa bản thể luận, miễn là định hướng cơ bản cho phép Diễn giải hữu thể về cái chết đã được xác lập vững chắc. Hay liệu bệnh tật và cái chết—ngay cả dưới góc độ y học nói chung—có cần phải được quan niệm trước hết như là các hiện tượng mang tính hữu thể hay không?

Việc diễn giải mang tính hữu thể về cái chết có vị thế ưu tiên so với bất kỳ nghiên cứu sinh học hay bản thể luận nào về sự sống. Đồng thời, nó cũng là nền tảng cho mọi cuộc khảo sát về cái chết thuộc các lĩnh vực như tiểu sử, lịch sử, dân tộc học hay tâm lý học. Trong bất kỳ ‘loại hình học’ nào về ‘cái chết’ (như một cách mô tả các điều kiện và phương thức mà cuộc ‘ra đi’ được ‘trải nghiệm’), thì khái niệm về cái chết vốn đã được mặc nhiên thừa nhận. Hơn nữa, tâm lý học về ‘cái chết’ thường cung cấp thông tin về đời sống của người đang hấp hối/chết hơn là về chính bản chất của cái chết. Điều này đơn giản phản ánh thực tế rằng khi Dasein chết đi – và ngay cả khi nó chết một cách đích thực – thì nó không nhất thiết phải ‘trải nghiệm’ về sự chấm dứt mang tính thực tại của chính mình, hay chết trong một trải nghiệm như vậy. Tương tự, cách thức cái chết được nhìn nhận [tr.292]  ở các dân tộc sơ khai, cũng như cách họ ứng xử với nó thông qua ma thuật và nghi lễ, chủ yếu làm sáng tỏ sự hiểu biết về Dasein; tuy nhiên, việc Diễn giải hiểu biết này lại đòi hỏi một phép phân tích hữu thể và một quan niệm tương ứng về cái chết.

Mặt khác, trong phép phân tích bản thể luận về ‘Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục’, không có tiên liệu nào về việc chúng ta sẽ chọn một lập trường hữu thể cụ thể nào đó đối với cái chết. Nếu ‘cái chết’ được định nghĩa là ‘chung cục’ của Dasein – tức là của Hữu-thể-trong-thế-giới – thì điều này không hàm ý bất kỳ quyết định mang tính ontish thực hữu nào về việc liệu ‘sau cái chết’ có thể tồn tại một dạng Hữu thể khác hay không (dù cao hơn hoặc thấp hơn), hay liệu Dasein có ‘sống tiếp’, ‘tồn tại vượt quá’ chính nó, hoặc ‘bất tử’ hay không. Cũng không có quyết định ontish thực hữu nào được đưa ra về ‘thế giới bên kia’ và khả năng tồn tại của nó, cũng như về ‘thế giới này’;5 vấn đề không phải là đề xuất các chuẩn mực hay quy tắc ứng xử với cái chết nhằm mục đích ‘giáo hóa’. Thay vào đó, phép phân tích của chúng ta về cái chết vẫn hoàn toàn ‘thuộc về trần thế này’, theo nghĩa nó chỉ diễn giải hiện tượng đó dựa trên cách thức nó thâm nhập vào một Dasein cụ thể như một khả tính Hữu thể của nó. Chỉ khi cái chết được quan niệm trong toàn bộ bản chất bản thể luận của nó, chúng ta mới có cơ sở phương pháp luận vững chắc để đặt câu hỏi về những gì có thể xảy ra sau cái chết; chỉ khi đó, câu hỏi này mới mang ý nghĩa và sự biện minh xác đáng. Việc liệu một câu hỏi như vậy có phải là một câu hỏi lý thuyết khả thể hay không sẽ không được quyết định tại đây. Phép diễn giải bản thể luận về cái chết gắn liền với cái trần thế này có vị thế ưu tiên so với bất kỳ sự suy đoán hữu thể luận nào về thế giới bên kia. Cuối cùng, cái có thể thảo luận dưới chủ đề ‘siêu hình học về cái chết’ đều nằm ngoài phạm vi phân tích hữu thể về cái chết. Những câu hỏi về việc cái chết đã ‘đi vào thế giới’ như thế nào và khi nào, cũng như ‘ý nghĩa’ của nó—với tư cách là cái ác và nỗi thống khổ trong tổng thể các thực thể—là những câu hỏi tất yếu đòi hỏi phải hiểu biết không chỉ về tính chất của Hữu thể gắn liền với cái chết, mà còn về cái bản thể luận của tổng thể các hiện hữu nói chung, và đặc biệt là việc làm sáng tỏ về mặt bản thể luận đối với cái ác và tính phủ định nói chung.

Về mặt phương pháp luận, phép phân tích hữu thể đóng vai trò bao trùm đối với các vấn đề thuộc về sinh học, tâm lý học, biện thần luận hay thần học về cái chết. Khi xét ở bình diện ontish thực hữu, các kết quả phân tích cho thấy tính hình thức và trạng thái trống rỗng đặc thù của bất kỳ sự mô tả đặc tính nào về mặt bản thể luận. Tuy nhiên, điều đó không được phép che khuất tầm nhìn của chúng ta trước cấu trúc phong phú và phức tạp của hiện tượng này. Nếu Dasein nói chung không bao giờ có thể được tiếp cận như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri — bởi lẽ Hữu-thể-khả-thể theo cách thức riêng của nó lại thuộc về loại Hữu thể của Dasein — thì ta càng khó có thể kỳ vọng sẽ đọc ra được cấu trúc bản thể luận của cái chết một cách đơn giản, nếu cái chết thực sự là một khả tính đặc thù của Dasein. Mặt khác, phép phân tích ấy không thể cứ mãi bám víu vào một quan niệm về cái chết [tr.293] vốn được hình thành một cách ngẫu nhiên và tùy tiện. Ta chỉ có thể chế ngự thái độ tùy tiện này bằng cách xác định trước đặc tính bản thể luận của loại Hữu thể mà trong đó cái ‘chung cục’ đi vào đời sống thường nhật trung bình của Dasein.

Để làm được điều đó, ta phải hình dung trọn vẹn các cấu trúc của đời sống thường nhật mà ta đã trình bày trước đó. Việc các khả tính existentiell thực hữu cụ thể của ‘Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết’ hòa hợp với phép phân tích hữu thể về cái chết là điều được hàm chứa trong bản chất của mọi khảo sát bản thể luận. Hơn bao giờ hết, việc định nghĩa hữu thể đối với các khái niệm phải tách biệt khỏi mọi cam kết thực hữu cụ thể,6 đặc biệt là đối với cái chết — nơi mà đặc tính của Dasein với tư cách là khả tính cho phép nó tự bộc lộ một cách chính xác nhất. Vấn đề mang tính hữu thể chỉ nhắm tới việc trình bày cấu trúc bản thể luận về ‘Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục’ của Dasein.vi

50. Phác thảo Sơ bộ về Cấu trúc Hữu thể-Bản thể luận của cái chết

Từ những xem xét của chúng ta về tổng thể tính, chung cục và những gì còn dang dở, đã nảy sinh sự cần thiết phải Diễn giải hiện tượng cái chết như là ‘Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục’, và thực hiện điều đó theo khuôn khổ trạng thái cơ bản của Dasein. Chỉ bằng cách đó, ta mới có thể làm sáng tỏ mức độ mà Hữu-thể-một-chỉnh-thể— vốn được cấu thành bởi Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục—trở nên khả thể ở tự thân Dasein, phù hợp với cấu trúc Hữu thể của nó. Chúng ta đã thấy rằng chăm lo là trạng thái cơ bản của Dasein. Ý nghĩa bản thể luận của thuật ngữ ‘chăm lo’ đã được diễn đạt qua ‘định nghĩa’: ‘Hữu-thể-vượt-trước-chính-mình- -đã-ở-trong (thế giới) với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh các hiện hữu mà ta bắt gặp (bên-trong-thế-giới)’.vii Trong định nghĩa này, các đặc tính nền tảng về Hữu thể của Dasein được biểu đạt: Existenz/ existence tính hiện hữu (trong cái ‘vượt-trước-chính-mình’), Faktizität/ facticity thực tính (trong cái Hữu-thể-đã-ở-trong), và sự sa ngã (trong cái ‘Hữu-thể-bên-cạnh’). Nếu quả thực cái chết thuộc về Hữu thể của Dasein theo một nghĩa đặc thù, thì cái chết (hay Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục) phải được định nghĩa theo khuôn khổ các đặc tính này.

Trước hết, chúng ta cần làm sáng tỏ — thông qua một phác thảo sơ bộ — cách thức mà Existenz/ existence tính hiện hữu, Faktizität/ facticity thực tính và sự sa ngã của Dasein bộc lộ mình trong hiện tượng cái chết. Phép Diễn giải coi cái vẫn-chưa — và cùng với nó là cái vẫn-chưa tột-cùng, tức là cái chung cục của Dasein — như một điều gì đó còn đang chờ hoàn tất, đã bị bác bỏ vì không thỏa đáng; lý do là nó chứa đựng sự sai lệch về mặt bản thể luận khi biến Dasein thành một cái gì đó hiện-diện-vô-tri. Hữu-thể-tại-một-chung-cục xét về mặt existentially hữu thể hàm ý Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục. Cái cái vẫn-chưa tột cùng mang đặc tính của một cái gì đó hướng tới cái mà Dasein hành xử. Cái chung cục là cái đang chực chờ đối với Dasein. Cái chết không phải là một điều gì đó chưa hiện-diện-vô-tri, cũng không phải là điều gì đó rốt cuộc vẫn [tr.294] còn chờ hoàn tất nhưng đã được thu hẹp lại ở mức tối thiểu. Cái chết là điều gì đó đứng trước chúng ta — một điều gì đó đang chực chờ.7 Tuy nhiên, có rất nhiều điều có thể đang chực chờ đối với Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Cái đặc tính đang chực chờ không phải là nét đặc thù riêng của cái chết. Trái lại, phép Diễn giải này thậm chí có thể khiến ta cho rằng cái chết phải được hiểu theo nghĩa của một sự kiện đang chực chờ nào đó mà ta bắt gặp trong môi trường xung quanh. Ví dụ, một cơn bão, việc sửa sang lại ngôi nhà, hay sự xuất hiện của một người bạn có thể là những điều đang chực chờ; và đây là những thực thể lần lượt vốn hiện-diện-vô-tri, sẵn-có-để-dùng, và có-đó-cùng-ta. Cái chết đang chực chờ không sở hữu loại Hữu thể như vậy.

Nhưng cũng có thể có những điều đang chực chờ đối với Dasein, chẳng hạn như một chuyến đi, một cuộc tranh luận với những Kẻ Khác, hay việc từ bỏ một cái gì đó thuộc loại mà chính Dasein có thể trở thành — tức là các khả tính Hữu thể của chính nó, vốn dựa trên cái Hữu thể với những Kẻ Khác. Cái chết là một khả-tính-của-Hữu thể mà chính Dasein phải đảm nhận trong mọi trường hợp. Với cái chết, Dasein đứng trước chính mình trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của bản thân nó. Đây là một khả tính mà vấn đề không gì khác ngoài cái Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein. Cái chết của nó là cái khả tính không-còn-có-thể-hiện-hữu-ở-đó-nữa.8 Nếu Dasein đứng trước chính mình với tư cách là khả tính này, thì nó đã hoàn toàn được quy định bởi cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính nó. Khi nó đứng trước chính mình theo cách đó, mọi mối liên hệ của nó với bất kỳ Dasein nào khác đều bị xóa bỏ.9 Cái khả tính riêng biệt nhất và không-có-tính-liên-hệ10 này đồng thời cũng là khả tính tột cùng. Với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, Dasein không thể vượt qua khả tính về cái chết. Chết là cái khả tính về bất khả tính tuyệt đối của Dasein. Như vậy, cái chết tự bộc lộ là khả tính thuộc về riêng mỗi cá nhân, không có tính liên hệ, và là vốn không thể bị vượt qua. Theo đúng nghĩa, cái chết là một điều gì đó đang chực chờ theo cách đặc thù. Cái khả tính hữu thể existential possibility của nó dựa trên thực tế là Dasein về bản chất disclosed to itself tự khai mở với chính mình, và thực sự khai mở như là một hiện hữu luôn đi-trước-chính-mình. Yếu tố này trong cấu trúc chăm lo có sự cụ thể hóa bản nguyên nhất trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết. Như một hiện tượng, Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục [tr.295] trở nên rõ ràng hơn khi được hiểu là Hữu-thể-hướng-đến đặc thù đó của Dasein mà chúng ta đã mô tả.

Tuy nhiên, cái khả tính riêng biệt nhất, không có tính liên hệ và không thể bị vượt qua này, không phải là thứ mà Dasein sau đó hay ngẫu nhiên mới tự tạo ra cho mình trong quá trình Hữu thể của nó. Trái lại, nếu Dasein hiện hữu, thì nó đã bị ném vào khả tính này rồi. Thông thường và phần lớn thời gian, Dasein không có bất kỳ tri thức tường minh hay thậm chí tri thức lý thuyết nào về việc nó đã bị phó mặc cho cái chết, và do đó cái chết thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới. Tình trạng bị-ném-vào-cái-chết tự bộc lộ với Dasein theo một cách thức bản nguyên và ấn tượng hơn trong cái tâm thế mà chúng ta gọi là lo âu.viii Lo âu khi đối diện với cái chết chính là tâm thế lo âu ‘đối mặt với’ tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn thuộc về riêng mỗi cá nhân, không có tính liên hệ và không thể bị vượt qua. Khi đối diện với cái mà ta lo âu lại chính là Hữu-thể-trong-thế-giới. Đối tượng của nỗi lo âu này chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein. Không được nhầm lẫn lo âu trước cái chết với nỗi sợ hãi trước sự chấm dứt sự sống của bản thân. Nỗi lo âu này không phải là một trạng thái tâm lý ngẫu nhiên hay nhất thời biểu hiện sự ‘yếu đuối’ ở một cá nhân nào đó; trái lại, với tư cách là một trạng thái tâm thức cơ bản của Dasein, nó chính là trạng thái disclosedness khai mở của cái sự thật là Dasein hiện hữu như một Hữu-thể-bị-ném về điểm chung cục của chính mình. Như vậy, khái niệm hữu thể về cơn ‘hấp hối’ được làm sáng tỏ như là Hữu-thể-bị-ném về phía tiềm-năng-cho-Hữu-thể tột cùng của chính mình—một tiềm năng mang tính phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua hay thay thế. Mức độ chính xác trong cách hiểu này đạt được nhờ việc phân biệt nó với tình trạng biến mất thuần túy, với cảnh lụi tàn đơn thuần, và cuối cùng là với “Trải nghiệm’ cuộc dã từ.11    

Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục không nảy sinh từ một thái độ xuất hiện ngẫu nhiên nào đó, cũng không hình thành như một thái độ đơn thuần; nó thuộc về bản chất trạng thái bị-ném-vào của Dasein—vốn tự bộc lộ qua một tâm thế theo cách này hay cách khác. Việc Dasein thực sự ‘biết’ hay ‘không biết’ về chính cái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục của mình chỉ là cái biểu đạt cái existentiell khả tính thực hữu cụ thể về những cách thức khác nhau để duy trì bản thân trong Hữu thể này. Trên thực tế, có nhiều người—trước hết và phần lớn—không biết gì về cái chết; nhưng điều này không thể bị coi là cơ sở để chứng minh rằng Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không thuộc về Dasein một cách ‘phổ quát’. Nó chỉ chứng minh rằng, trước hết và phần lớn, Dasein che đậy chính Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của mình và trốn chạy để khỏi phải đối diện với nó. Trên thực tế, Dasein đang hấp hối chừng nào nó còn hiện hữu, nhưng trước hết và phần lớn, nó thực hiện điều đó qua nẻo sa ngã. Bởi lẽ, sự hiện hữu thực tế không chỉ đơn thuần là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới một cách chung chung và không phân biệt, mà nó còn luôn bị cuốn hút vào cái ‘thế-giới’ với những mối bận tâm của nó. Trong nẻo Hữu-thể-bên-cạnh sa ngã này, việc trốn chạy khỏi tính trạng thái xa lạ/bất an bắt đầu lộ diện; và điều này đồng nghĩa với việc trốn chạy cuộc diện kiến với chính Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của bản thân. Hiện hữu tính, thực tính và sa ngã tất cả đều đặc trưng cho cái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục, và do đó, chúng cấu thành nên quan niệm hữu thể về cái chết. Xét về khả tính bản thể luận, cơn hấp hối bắt rễ từ chăm lo.

Nhưng nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thuộc về bản chất và cội nguồn Hữu thể của Dasein, thì nó cũng phải được trưng ra trong đời sống thường nhật, dù là theo một cách thức ‘không-chân-thực’ ngay từ ban đầu.12 Và nếu Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục mang lại khả tính hữu thể cho một Hữu-thể-một-chỉnh-thể mang tính thực hữu cụ thể của Dasein, thì điều này sẽ cung cấp sự xác nhận mang tính hiện tượng cho cái luận điểm cho rằng ‘chăm lo’ chính là khuôn khổ bản thể luận cho tổng thể tính cấu trúc chỉnh thể của Dasein. Tuy nhiên, nếu muốn đưa ra một sự biện minh đầy đủ về mặt hiện tượng cho nguyên lý này, thì việc phác thảo sơ bộ mối liên hệ giữa Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và chăm lo là chưa đủ; trên hết, ta cần thấy được mối liên hệ này trong hình thái cụ thể gần gũi nhất với Dasein - đó là tính thường nhật của nó.       

51. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và Tính thường nhật của Dasein

Khi trình bày về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ở mức độ thường nhật phổ quát, ta cần định hướng dựa trên những cấu trúc của tính thường nhật mà ta đã xác định trước đó. Trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, Dasein tự định hướng bản thân như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt. Tuy nhiên, cái Tự ngã trong tính thường nhật lại chính là das Man cái ‘họ’.ix Cái ‘họ’ được cấu thành bởi cách thức mà sự vật được diễn giải công khai, vốn bộc lộ qua phiếm đàm. Theo đó, phiếm đàm phải hiển hiện cách thức mà Dasein thường nhật tự diễn giải về loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của chính mình. Nền tảng của bất kỳ diễn giải nào cũng là một hành vi thấu hiểu; hành vi này luôn đi kèm với một Befindlichkeit tâm thế, hay nói cách khác, nó mang một tâm trạng. Vì vậy, cần đặt câu hỏi: Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết được khai mở như thế nào bằng thấu hiểu vốn ẩn trong phiếm đàm của cái ‘họ’ cùng tâm thế của nó? Cái ‘họ’ thể hiện thấu hiểu ra sao với khả tính riêng biệt nhất của Dasein—vốn phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua? Tâm thế nào khai mở cho cái ‘họ’ biết rằng nó đã bị phó mặc cho cái chết, và theo cách thức nào?

Trong trạng thái công khai của sự tương tác giữa người với người ở mức độ thường nhật, cái chết được ‘biết đến’ như một sự cố xảy ra liên tục—với tư cách là một ‘trường hợp tử vong’. 14  Ai đó ‘chết’, dù là người láng giềng hay người xa lạ. [tr.297] Những người mà ta không quen biết vẫn đang ‘hấp hối’ mỗi ngày, mỗi giờ. ‘Cái chết’ được bắt gặp như một sự kiện quen thuộc diễn ra ngay trong-thế-giới. Với tư cách đó, nó vẫn giữ vẻ không-gây-chú-ý đặc trưng cho những gì ta bắt gặp trong đời sống thường nhật. Cái ‘họ’ đã kịp thời ‘cất giữ’ một phép diễn giải cho sự kiện này. Người ta nói về nó bằng cách lảng tránh—hoặc nói thẳng ra, hay là theo lối e dè, ngập ngừng—như thể muốn bảo rằng: “Rồi cũng sẽ có ngày đến lượt mình; nhưng lúc này chuyện đó chẳng liên quan gì đến chúng ta cả.”15 Việc phân tích cụm từ ‘người ta chết’ bộc lộ một cách rõ ràng loại Hữu thể vốn thuộc về cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật. Trong cách nói năng như vậy, cái chết được hiểu như một cái gì đó bất định; trên hết, nó hẳn sẽ đến từ một nơi nào đó, nhưng trước mắt thì vẫn chưa hiện-diện-vô-tri ngay bên cạnh đối với cá nhân, và do đó không gây ra mối đe dọa nào. Cách diễn đạt ‘người ta chết’ lan truyền quan điểm cho rằng đối tượng bị cái chết chạm tới, theo một nghĩa nào đó, chính là cái ‘họ’. Trong lối diễn giải công cộng của Dasein, người ta nói rằng ‘người ta chết’, bởi vì cả kẻ khác lẫn chính bản thân ta đều có thể tự thuyết phục mình rằng ‘trong bất cứ trường hợp nào thì cũng không phải là chính tôi’, vì cái ‘người ta’ này thực chất là ‘không ai cả’.16

‘Hấp hối’ bị san phẳng thành một sự kiện tuy có tác động đến Dasein nhưng lại chẳng thuộc về riêng ai cả. Nếu các phiếm đàm luôn mang tính đa nghĩa, thì cách nói về cái chết này cũng vậy. Chết — vốn dĩ mang tính cá nhân sâu sắc đến mức không ai có thể thay thế hay đại diện cho ta được — lại bị biến tướng thành một sự kiện mang tính công cộng mà cái ‘họ’ phải đối mặt. Trong lối nói năng mà chúng ta vừa mô tả, cái chết được nhắc đến như một ‘trường hợp’ xảy ra liên tục. Cái chết bị coi như một điều gì đó luôn ‘hiện thực’; bản chất của nó như một khả tính bị che giấu đi, và cùng với nó là hai đặc tính khác gắn liền với nó: tính không-quan-hệ và tính không-thể-vượt-qua. Chính trạng thái mô hồ này lại khiến cho Dasein tự đặt mình vào tình thế đánh mất bản thân vào trong cái ‘họ’ đối với một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc biệt thuộc về cái Tự ngã đích thực nhất của chính Dasein. Cái ‘họ’ tán thành và làm gia tăng sự cám dỗ muốn che giấu khỏi chính mình loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực nhất của bản thân.xi Sự che giấu mang tính né tránh khi đối diện với cái chết này chi phối đời sống thường nhật một cách ngoan cố đến mức, trong cái Hữu-thể-với-nhau, những kẻ ‘láng giềng’ thường vẫn thuyết phục kẻ ‘hấp hối’ tin rằng hắn sẽ thoát khỏi cái chết và sớm quay trở lại với nhịp sống thường nhật êm ả trong thế giới mà hắn quan tâm.

Thái độ ‘ân cần’ như vậy thực chất nhằm mục đích ‘an ủi’ hắn. Nó khăng khăng kéo hắn trở lại với cái Dasein hiện hữu người, đồng thời [tr.298] giúp hắn che giấu hoàn toàn cái khả-tính-của-Hữu-thể-riêng biệt và không-quan-hệ hoàn toàn bị che đậy của chính hắn. Theo cách đó, cái ‘họ’ mang lại một trạng thái an tâm thường trực về cái chết. Tuy nhiên, xét cho cùng, trạng thái an tâm này không chỉ dành cho kẻ đang ‘lâm chung’ mà còn cho cả những kẻ đang ‘an ủi’ gã đó. Và ngay cả khi cái chết thực sự xảy ra, công chúng vẫn không muốn sự an ổn của mình bị xáo trộn bởi sự kiện này, hay bị làm phiền trong thái độ vô tư lự mà họ vẫn duy trì.17 Quả thực, cái chết của những Kẻ Khác thường bị xem là một sự bất tiện về mặt xã hội, thậm chí là một hành động thiếu tế nhị, điều mà công chúng cần phải tránh né.xii

Nhưng song hành với sự an tâm này – thứ vốn đẩy Dasein ra xa khỏi cái chết của chính mình – thì cái ‘họ’ đồng thời tự khẳng định tính đúng đắn và sự đáng trọng của mình bằng thủ thuật ngầm định ra cách thức mà một cá nhân phải ứng xử trước cái chết. Việc coi ‘suy tư về cái chết’ là biểu hiện của nỗi sợ hèn nhát, là dấu hiệu của sự bất an của Dasein, và là một cách trốn chạy u ám khỏi thế giới, đã trở thành quan niệm được công chúng chấp nhận. Cái ‘họ’ không cho phép ta có đủ can đảm để đối diện với nỗi lo âu trước cái chết. Sự thống trị của cách diễn giải công khai do cái ‘họ’ áp đặt đã định đoạt sẵn tâm thế nào sẽ chi phối thái độ của ta đối với cái chết. Trong nỗi lo âu trước cái chết, Dasein bị đặt vào tình thế phải đối diện với chính mình như một hiện hữu bị phó mặc cho cái khả tính tất yếu không thể vượt qua hay thay thế được. Cái ‘họ’ tìm cách chuyển hóa trạng thái lo âu này thành nỗi sợ hãi trước một sự kiện sắp xảy ra. Thêm vào đó, trạng thái lo âu vốn đã bị đánh tráo thành nỗi sợ hãi này lại bị coi là một điểm yếu mà một Dasein tự tin không bao giờ được phép mắc phải. Điều được coi là ‘phù hợp’–theo mệnh lệnh ngầm của cái ‘họ’– chính là thái độ bình thản, dửng dưng trước ‘sự thật’ rằng con người rồi sẽ chết. Việc nuôi dưỡng sự dửng dưng ‘cao thượng’ như vậy sẽ tách rời Dasein khỏi cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt và không-có-tính-liên-đới của bản thân nó.

Song, mối cám dỗ, nỗi trấn an và tình trạng tha hóa là những dấu hiệu đặc trưng của kiểu Hiện hữu được gọi là ‘sa ngã’. Với tư cách sa ngã, cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật là một cuộc trốn chạy liên tục trước cái chết. Việc Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục mang hình thái né tránh đối với chính cái kết ấy—bằng việc đưa ra những cách lý giải mới, hiểu nó một cách không-đích-thực và che giấu nó. Trên thực tế, Dasein của riêng người ta luôn luôn đang chết; nghĩa là, nó đang ở trong trạng thái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục của mình. Và nó che giấu sự thật này với chính mình bằng cách biến đổi khái niệm ‘cái chết’ thành chỉ là một ‘trường hợp tử vong’ ở những Kẻ Khác—một sự kiện thường nhật mà, khi cần thiết, lại càng khẳng định rõ ràng hơn rằng ‘bản thân’ vẫn đang ‘sống’. Tuy nhiên, chính trong cuộc sa ngã và trốn chạy trước cái chết như vậy, tính thường nhật của Dasein chứng thực rằng bản thân cái ‘họ’ cũng đã mang đặc tính xác định của [tr.299] Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, ngay cả khi nó không hề chủ động ‘suy tư về cái chết’. Ngay cả trong trạng thái thông thường hàng ngày, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể tối hậu này — vốn không mang tính liên quan và không thể bị vượt qua — vẫn luôn là một vấn đề đối với Dasein. Điều này đúng ngay cả khi mối bận tâm của Dasein chỉ dừng lại ở trạng thái thờ ơ, không chút bận lòng trước khả tính tột cùng của sự hiện hữu.18

Tuy nhiên, khi trình bày về loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết trong đời sống thường nhật, đồng thời chúng ta cũng cần phải nỗ lực xác lập một quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục, thông qua một sự diễn giải sâu sắc hơn; trong đó, loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết mang tính ‘sa ngã’ được nhìn nhận như một sự lẩn tránh trước cái chết. Điều mà chủ thể trốn chạy khỏi đó đã được hiển lộ theo một cách thức thỏa đáng về mặt hiện tượng. Trên cơ sở đó, ta cần phải có khả năng phác họa—theo phương pháp hiện tượng học—cách thức mà chính Dasein đang lẩn tránh tự thấu hiểu về cái chết của mình.xiii

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…die Möglichkeit eines existierenden Seins des Noch-nicht, das "vor" dem "Ende" liegt…’ The earlier editions have ‘…das ja ‘vor’ dem ‘Ende’. [p.289]

2 ‘…wonach diese nicht fragen, und worüber eine Auskunft und Anweisung von ihr vergeblich erwartet werden kann.’ The older editions have ‘kann’ after ‘fragen’, and ‘muss’ where the newer editions have ‘kann’. [p.290]

3 'Abkben'. This term, which literally means something like 'living out' one's life, is used in ordinary German as a rather legalistic term for a person's death. We shall translate it as 'demise' (both as a noun and as a verb), which also has legalistic connotations. But this translation is an arbitrary one, and does not adequately express the meaning which Heidegger is explaining. [p.291]

4 ‘…Seinsweise, in der das Dasein zu seinem Tode ist.’ [p.291]

5 ‘Ober das “Jenseits” und seine Moglichkeit wird ebensowenig ontisch entschicden wie iiber das “Dicsscits”…’. The quotation marks around “Dicsseits” appear only in the later editions. [p.292]

6 ‘Urn so ausdrücklicher muss mit der existenzialen Begriffsbestimmung die existenzielle Unverbindlichkeit zusammengehen…’ [p.293]

7 ‘…sondem eher ein Bevorstand.' While we shall ordinarily use various forms of 'impend' to translate 'Bevorstand', 'bevorstehen', etc., one must bear in mind that the literal meaning of these expressions is one of 'standing before', so that they may be quite plausibly contrasted with 'Ausstehen', etc. ('standing out') . Thus we shall occasionally use forms of 'stand before' when this connotation seems to be dominant. [p.294]

8 'Nicht-mehr-dasein-konnens.' Notice that the expressions 'Seinkonnen' (our 'potentiality-for-Being') and 'Nichtmehrdasein' (our 'no-longer-Dasein') are here fused. Cf. H. 237-242. [p.294]

9 'So sich bevorstehend sind in ihm aile Beziige zu anderem Dasein gelost.' [p.294]

10 'unbeziigliche'. This term appears frequently throughout the chapter, and, as the present passage makes clear, indicates that in death Dasein is cut off from relations with others. The term has accordingly been translated as 'non-relational', in the sense of 'devoid of relationships'. [p.294]

11 ‘…gegen ein ‘Erleben’ des Ablebens.’ (Cf. Section 49 above.) [p.295]

12 ‘…dann muss es auch-wenngleich zunachst uneigentlich-in der Alltaglichkeit aufweisbar seino’ The earlier editions have another 'auch'just before ‘in der Alltaglichkeit’. [p.296]

13 ‘…das sich in der öffentlichen Ausgelegtheit konstituiert, die sich im Gerede aussprichto’ The earlier editions have ‘…konstituiert. Sie spricht sich aus im Gerede’. [p.296]

14 'Die Offentlichkeit des alltaglichen Miteinander ‘kennt’ den Tod als standig vorkommendes Begegnis, als ‘Todesfall’. [p.296]

15 ‘…man stirbt am Ende auch einmal, aber zunachst bleibt man selbst unbetroffen.’  [p.297]

16 ‘Die öffentliche Daseinsauslegung sagt : ‘man stirbt’, weil damit jeder andere und man selbst sich einreden kann: je nicht gerade ich ; denn dieses Man ist das Niemand.’ While we have usually followed the convention of translating the indefinite pronoun 'man' as 'one' and the expression ‘das Man’ as 'the ‘they’, to do so here would obscure the point. [p.297]

17 'Und selbst im Falle des Ablebens noch soli die Offentlichkeit durch das Ereignis nicht in ihrer besorgten Sorglosigkeit gestOrt und beunruhigt werden.' [p.298]

18 ‘…wenn auch nur im Modus des Besorgens einer unbehelligten Gleichgültigkeit gegen die äußerste Möglichkeit seiner Existenz’ Ordinarily the expression ‘Gleichgültigkeit gegen’ means simply 'indifference towards'. But Heidegger's use of boldface type suggests that here he also has in mind that 'gegen' may mean 'against' or 'in opposition to'. [p.299]

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT

46. Bất khả tính Giả tượng về Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein từ phương diện Bản thể luận và Việc xác định

[Tr.279] Cần phải vượt qua cái thực trạng khiếm khuyết của die hermeneutische Situation Tình huống tường giải – vốn đã làm nảy sinh các phân tích trước đó về Dasein. Chúng ta cần phải đưa toàn bộ Dasein vào cái ‘có-trước’ của mình. Theo đó, ta phải đặt câu hỏi liệu thực thể này, với tư cách là một cái đang hiện hữu, có bao giờ có thể được tiếp cận trong cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó hay không. Ngay trong chính trạng thái Hữu thể của Dasein, có những lý do quan trọng dường như phủ nhận cái khả tính của Vorgabe trạng thái cho trước nó theo cách thức được yêu cầu. [Chen ngang: Heidegger dùng từ Vorgabe/ pre-givenness/ presentation trạng thái cho trước/ trình diện trước trong hai văn cảnh cụ thể: 1) Heidegger sử dụng khái niệm Gegebenheit sự cho sẵn/trạng thái được ban cho và các khái niệm liên đới như das Gegebene cái cho sẵn hay Vorgabe cái cho trước: i) Đối với Heidegger, trước khi thực hiện bất kỳ một hành vi suy luận lý thuyết hay nhận thức luận nào về một đối tượng, đối tượng đó hoặc thế giới xung quanh đã phải hiện diện hoặc lộ diện sẵn trong trải nghiệm thực tế của chúng ta rồi; ii) Vorgabe chính là những cấu trúc, hoàn cảnh hoặc ý nghĩa mang tính chất ‘tiền đề’, được ban cho hoặc đặt để trước Dasein hiện hữu người trước khi chúng ta kịp phân tích hay suy nghĩ về nó. 2) Cần phân biệt với Vorhabe/ Fore-having - Có trước: i) Rất dễ nhầm lẫn giữa Vorgabe và Vorhabe do cấu trúc từ gần giống nhau – Vorhabe/ Fore-having / Cái có trước); ii) Đi cùng với Vorsicht Cái nhìn trước và Vorgriff Cái nắm bắt trước, Vorhabe cấu thành nên cấu trúc diễn giải của con người, nó biểu thị những hiểu biết nền tảng mà chúng ta đã ‘sở hữu sẵn’ khi tiếp cận một điều gì đó; iii) Vorgabe (Pre-givenness) – trạng thái cho trước thường thiên về trạng thái mang tính khách quan hoặc thụ động hơn — tức là những gì được cấu trúc hoặc ‘giao phó /trình diện trước’ cho trải nghiệm của chúng ta từ thế giới. -HHN]. Cái khả tính Hữu-thể-một-chỉnh-thể của thực thể này rõ ràng là không tương thích với ý nghĩa bản thể luận của Sorge/Care/Chăm lo – vốn hình thành nên tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc của Dasein.

Tuy nhiên, yếu tố tiên quyết trong sự quan tâm chính là trạng thái Sich-vorweg ‘vượt-trước-chính-mình’; điều này có nghĩa là trong mọi trường hợp, Dasein hiện hữu vì bản thân nó. ‘Chừng nào còn hiện hữu’ – cho đến chung cục của mình – nó vẫn luôn hướng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình. Ngay cả khi vẫn hiện hữu nhưng không còn gì ở ‘phía trước’ và abgeschlossen đã ‘hoàn tất’, thì Hữu thể của nó vẫn được quy định bởi cái Sich-vorweg trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’. Chẳng hạn, nỗi tuyệt vọng không tách rời Dasein khỏi các khả tính của nó, mà chỉ là một trong những phương thức Hữu thể hướng đến các khả tính đó của chính nó. Ngay cả khi một kẻ không còn ảo tưởng và Gefasstsein auf Alles ‘sẵn sàng cho mọi sự’, thì ở đó vẫn ẩn giấu Sich-vorweg trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’. Trạng thái Sich-vorweg ‘vượt-trước-chính-mình’ – với tư cách là một yếu tố trong cấu trúc chăm lo – cho ta thấy rõ ràng rằng ở Dasein luôn tồn tại một điều gì đó còn dang dở;1 điều này, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính Dasein, vẫn chưa trở thành hiện thực. Một đặc điểm cốt yếu trong cấu thành cơ bản của Dasein là luôn có eine ständige Unabgeschlossenheit một thứ chưa được hoàn tất. Sự thiếu vắng tính trọn vẹn này biểu thị rằng vẫn còn điều gì đó chưa được thực hiện trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể của một kẻ nào đó.

[Tr.280] Tuy nhiên, ngay khi Dasein ‘hiện hữu’ theo cách vốn hoàn toàn không còn điều gì chưa được thực hiện nữa, thì chính vì lý do đó, nó đã trở thành Nicht-mehr-da-sein trạng thái ‘không-còn-Hữu-thể-ở-đó’. Hữu thể của nó bị triệt tiêu khi những gì còn dang dở trong Hữu thể đó đã được thanh toán. Chừng nào Dasein còn tồn tại như một hiện hữu, thì nó chưa thể nào đạt tới ‘tính chỉnh thể’ của mình.2 Nhưng nếu nó đạt được ‘tính chỉnh thể’ ấy, thì thành quả đó lại trở thành sự mất mát hoàn toàn trạng thái Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong trường hợp đó, nó không bao giờ còn có thể được trải nghiệm như một hiện hữu nữa. Lý do cho cái bất khả tính trải nghiệm Dasein về phương diện ontish thực hữu như một als seiendes Ganzes chỉnh thể hiện hữu — và do đó không thể xác định đặc tính của nó về phương diện bản thể luận trong trạng thái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó — không nằm ở bất kỳ sự khiếm khuyết nào trong năng lực nhận thức của chúng ta. Trở ngại thực sự nằm ở chính cái Hữu thể của hiện hữu này. Bất cứ điều gì không thể tương thích với những gì mà một trải nghiệm — vốn tự cho là nắm bắt được Dasein — tuyên bố, thì về nguyên tắc, điều đó hoàn toàn nằm ngoài khả năng được trải nghiệm.3 Nhưng nếu vậy, chẳng phải việc cố gắng nhận diện tổng thể tính bản thể luận Hữu thể của Dasein lại là một nỗ lực vô vọng sao?

Chúng ta không thể loại bỏ yếu tố trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’ ra khỏi cái cấu trúc cốt yếu của ‘chăm lo’. Tuy nhiên, những kết luận rút ra được từ đó có thực sự xác đáng? Phải chăng việc không thể nắm bắt cái chình thể của Dasein đã được suy luận dựa trên một lập luận chỉ mang tính hình thức? Hay sâu xa hơn, chẳng phải chúng ta đã vô tình mặc định rằng Dasein là một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, mà phía trước nó liên tục tự chen vào một cái gì đó chưa hiện-diện-vô-tri? Trong lập luận của mình, liệu chúng ta có hiểu khái niệm das Noch-nicht-sein/ Being-not-yet Hữu-thể-chưa-có và cái ‘vượt-trước’ theo đúng nghĩa existenzial/existential hữu thể đích thực hay không? Liệu bàn luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ có thực sự phù hợp với Dasein về phương diện hiện tượng? Liệu khái niệm ‘cái chết’ có mang ý nghĩa sinh học, ý nghĩa hữu thể-bản thể luận, hay là bất kỳ ý nghĩa nào đã được xác định một cách thỏa đáng và chắc chắn? Liệu chúng ta đã thực sự khai thác mọi khả tính để tiếp cận Dasein trong tính chỉnh thể của nó hay chưa?

Chúng ta phải giải đáp những câu hỏi này trước khi vấn đề về tổng thể tính của Dasein có thể bị gạt bỏ như một điều vô nghĩa. Câu hỏi này—bao gồm cả câu hỏi thực hữu cụ thể [existentiell] về việc liệu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể có khả thể hay không, lẫn câu hỏi hữu thể [existential] về trạng-thái-Hữu-thể của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’—chứa đựng nhiệm vụ thực hiện một phép phân tích mang tính khẳng định đối với một số hiện tượng hiện hữu vốn vẫn bị bỏ qua cho đến hiện nay. Trọng tâm của những suy tư này là nhiệm vụ xác định về mặt bản thể luận cái trạng thái Hữu-thể-tại-một-chung-cục của Dasein và đạt tới một quan niệm hữu thể [tr.281] về cái chết. Các nghiên cứu liên quan đến những chủ đề này được phân chia như sau: khả tính trải nghiệm cái chết của những Kẻ Khác và khả tính nắm bắt Dasein như một chỉnh thể (Mục 47); điều còn lại chưa hoàn tất, cái chung cục và tổng thể tính (Mục 48); cách thức phân biệt giữa phân tích hữu thể về cái chết với các phép Diễn giải khác về hiện tượng này (Mục 49); phác thảo sơ bộ về cấu trúc hữu thể-bản thể luận của cái chết (Mục 50); Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và tính thường nhật của Dasein (Mục 51); Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật và quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái chết (Mục 52); sự phóng chiếu hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực (Mục 53).

47. Khả tính Trải nghiệm Cái chết của Kẻ Khác và Khả tính Nắm bắt Dasein như một Chỉnh thể

Khi Dasein đạt đến trạng thái chỉnh thể của mình trong cái chết, đồng thời nó cũng đánh mất cái Hữu thể ‘có-đó’ của chính nó. Thông qua sự chuyển biến sang trạng thái Nichtmehrdasein không-còn-là-Dasein, nó bị tách biệt hoàn toàn khỏi khả tính trải nghiệm sự chuyển đổi này cũng như khả tính thấu hiểu nó như một cái gì đó đã được trải nghiệm. Chắc chắn rằng điều đó là bất khả đối với bất kỳ Dasein cụ thể nào trong mối tương quan với chính nó. Tuy nhiên, chính điều đó lại làm cho cái chết của những Kẻ Khác lại trở nên đáng chú ý hơn. Theo cách này, sự chấm dứt của Dasein trở nên có thể tiếp cận được vè phương diện ‘Khách thể’. Nhờ đó, Dasein có thể thu nhận trải nghiệm về cái chết, đó là bởi vì về bản chất, Dasein chính là Hữu-thể-với-Kẻ-khác. Trong trường hợp đó, việc cái chết được đưa ra theo cách ‘Khách thể’ như vậy hẳn phải cho phép xác định giới hạn bản thể luận về tổng thể tính của Dasein. Do đó, từ loại Hữu thể mà Dasein sở hữu với tư cách là Hữu-thể-với-một-kẻ-khác, thì ta có thể rút ra một thông tin khá hiển nhiên rằng: khi Dasein của những Kẻ Khác đã tới hồi chung cục, nó có thể được chọn làm chủ đề thay thế cho phép phân tích tổng thể tính của Dasein. Nhưng liệu điều này có dẫn ta đến mục tiêu đã định?

Ngay cả Dasein của những Kẻ Khác, khi đã đạt đến sự trọn vẹn trong cái chết, cũng không-còn-là-Dasein nữa, theo nghĩa là không-còn-Hữu-thể-trong-thế-giới. Chẳng phải chết nghĩa là bước ra khỏi thế giới và đánh mất sự Hữu-thể-trong-thế-giới của mình sao? Tuy nhiên, khi một người đã chết, trạng thái Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới-nữa (nếu hiểu theo nghĩa cực đoan) thì vẫn là một loại Hữu thể, nhưng theo nghĩa Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-không-hơn của một Vật thể hữu hình mà ta bắt gặp. Trong cái chết Kẻ Khác, ta có thể trải nghiệm hiện tượng Hữu thể đáng chú ý, có thể được định nghĩa là sự chuyển-đổi của một thực thể từ loại Hữu thể của Dasein (hay sự sống) sang trạng thái không-còn-là-Dasein. Cái chung cục của thực thể với tư cách là Dasein lại là khởi đầu của chính thực thể đó với tư cách là một cái gì đó hiện-diện-vô-tri.  

Tuy nhiên, phép Diễn giải chuyển-đổi từ Dasein sang [tr.282] Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-và-không-hơn này đã bỏ sót nội dung hiện tượng, bởi lẽ trong cái thực thể còn lại đó không đơn thuần chỉ là một Vật thể hữu hình. Xét từ góc độ lý thuyết, ngay cả cái xác đang hiện-diện-vô-tri cũng vẫn là một đối tượng khả thể cho nhà nghiên cứu giải phẫu bệnh lý – là kẻ có hiểu biết hướng đến ý niệm về sự sống. Cái thực thể chỉ-còn- hiện-diện-vô-tri-không-hơn này lại ‘hơn’ cả một Vật thể vật chất vô tri. Ở đó, ta bắt gặp một cái gì đó không sinh khí, một cái đã mất đi sự sống.4 Tuy nhiên, ngay cả cách mô tả về das Nochverbleibenden ‘cái còn lại’ này cũng chưa lột tả hết những dữ kiện hiện tượng liên quan đến Dasein. Der ‘Verstorbene’ ‘Người đã khuất’ — khác biệt với dem Gestorbenen ‘người đã chết’ — đã bị tách rời khỏi den ‘Hinterbliebenen’ những người ‘ở lại’ và trở thành đối tượng ‘quan tâm’ thông qua các nghi thức tang lễ, việc mai táng và tục thờ cúng mộ phần. Sở dĩ như vậy là vì Der ‘Verstorbene’/ the deceased  ‘Người đã khuất’, xét theo loại Hữu thể của mình, ‘còn hơn cả’ một món đồ sẵn-có-để-dùng trong môi trường mà ta có thể bận tâm đến. Khi nán lại bên cạnh người đã khuất trong niềm thương tiếc và sự tưởng nhớ, những người ở lại đang hiện diện cùng người ấy trong một thái độ ân cần đầy tôn kính. Do đó, mối-quan-hệ-của-Hữu-thể mà ta dành cho người chết không thể được xem đơn thuần là loại Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm đối với một cái gì đó sẵn-có-để-dùng.

Trong cái ‘Hữu-thể-với’ dem Toten người chết như vậy, bản thân người đã khuất không còn hiện diện một cách thực tế ‘có đó’ nữa. Tuy nhiên, khi nói đến ‘Hữu-thể-với’, ta luôn hướng đến cái Hữu thể với một kẻ khác trong cùng một thế giới. Kẻ đã khuất đã từ bỏ và để lại cái ‘thế giới’ của chúng ta. Song, trong khuôn khổ của cái thế giới ấy, những người còn sống vẫn có thể hiện hữu cùng hắn. Trạng thái phù hợp về mặt hiện tượng càng cao trong cách ta nhìn nhận cái trạng thái không-còn-là-Dasein của người đã khuất, thì càng thấy rõ rằng: trong kiểu ‘Hữu-thể-với’ người chết ấy, cái Zuendegekommensein ‘Hữu-thể-đi-tới-một-chung-cục’ đích thực của người đã khuất lại chính là điều mà ta không thực sự trải nghiệm. Cái chết quả thực bộc lộ như một sự mất mát, nhưng là sự mất mát được trải nghiệm bởi những người còn sống.

Tuy nhiên, khi gánh chịu sự mất mát này, ta không có cách nào tiếp cận được với chính tình trạng ‘mất-mát-của-Hữu-thể’ mà kẻ đang hấp hối phải ‘gánh chịu’. Cái chết của những Kẻ Khác không phải là điều ta trải nghiệm theo nghĩa đích thực; cùng lắm ta cũng chỉ luôn ‘có đó bên cạnh’ mà thôi.5 Và ngay cả cái Hữu-thể-bên-cạnh như vậy cho phép ta làm sáng tỏ ‘về mặt tâm lý’ cái chết của Kẻ Khác, thì điều đó cũng không thể [tr.283] giúp ta nắm bắt được phương-thức-hiện-hữu mà ta đang hướng tới—tức là trạng thái ‘đi-đến-chung-cục’. Chúng ta đang truy vấn về ý nghĩa bản thể luận tình trạng hấp hối của người chết, với tư cách là một khả-tính-của-Hữu-thể vốn thuộc về chính Hữu-thể của hắn. Chúng ta không hỏi về cách thức mà kẻ đã khuất có Dasein-với hay Nochdasein vẫn-là-một-Dasein với những kẻ còn sống. Nếu cái chết—như được trải nghiệm ở những Kẻ Khác—là cái mà chúng ta được yêu cầu để phân tích về chúng cục và tổng thể tính của Dasein, thì nó không thể mang lại cho ta—dù là về phương diện ontish thực hữu hay phương diện bản thể luận—những thứ mà nó được kỳ vọng sẽ mang lại.

Song trên hết, quan điểm cho rằng cái chết của những Kẻ Khác là một chủ đề thay thế cho việc phân tích bản thể luận về tổng thể tính của Dasein và việc giải quyết vấn đề về sự kết thúc của nó, lại dựa trên một tiền giả định hoàn toàn6 không nhận thức được loại Hữu thể của Dasein. Đây là điều người ta mặc nhiên thừa nhận khi cho rằng bất kỳ Dasein nào cũng có thể được thay thế ngẫu nhiên bởi một Dasein khác, sao cho những gì không thể trải nghiệm được trong Dasein của chính mình lại có thể tiếp cận được thông qua Dasein của một kẻ xa lạ. Nhưng liệu tiền giả định này có thực sự thiếu cơ sở đến vậy? Không thể phủ nhận rằng việc một Dasein có thể được đại diện bởi một Dasein khác là một phần trong các khả tính Hữu thể của nó trong  ‘Hữu-thể-với-một-kẻ-khác’ trong thế giới. Trong những mối quan tâm thường nhật, việc sử dụng liên tục và đa dạng được tạo bởi tính đại diện như vậy. Bất cứ khi nào ta đi bất cứ đâu hay cần đóng góp điều gì, ta đều có thể được đại diện bởi một kẻ nào đó trong phạm vi cái ‘môi trường’ mà ta gắn bó mật thiết nhất. Tính đa tạp của các cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới—nơi một kẻ có thể được đại diện bởi kẻ khác—không chỉ mở rộng sang các phương thức tinh tế hơn của việc hiện hữu cùng nhau nơi công cộng, mà còn liên quan đến những khả tính quan tâm vốn bị giới hạn trong các phạm vi nhất định, phù hợp với nghề nghiệp, địa vị xã hội hay lớp tuổi của mỗi kẻ. Tuy nhiên, ý nghĩa cốt lõi của kiếu đại diện ấy luôn ở ‘trong’ một điều gì đó—nghĩa là, trong quá trình ta bận tâm đến một sự vật hay sự việc nào đó. 

Song, trước hết và chủ yếu, Dasein thường nhật tự thấu hiểu bản thân thông qua những gì nó thường xuyên bận tâm. ‘Ta là’ những gì ta làm. Liên quan đến loại Hữu thể này (cách thức thường nhật mà chúng ta gắn kết với nhau trong cuộc đắm mình vào ‘thế giới’ mà ta bận tâm), khả năng biểu thị không chỉ hoàn toàn khả thi mà còn mang tính cấu thành đối với hiện hữu cùng nhau [tr.284] của chúng ta. Tại đây, —trong những giới hạn nhất định— một Dasein có thể và phải ‘là’ một Dasein khác. Tuy nhiên, khả tính biểu thị này hoàn toàn sụp đổ nếu vấn đề nằm ở việc biểu đạt cái khả-tính-của-Hữu-thể vốn cấu thành nên cuộc đi đến ‘chung cục’ của Dasein, và chính nhờ đó mà mang lại cho nó tính chỉnh thể. Không ai có thể gánh thay cái chết của Kẻ khác. Tất nhiên, có thể ‘đi đến cái chết vì kẻ khác’. Nhưng điều đó luôn có nghĩa là hy sinh bản thân vì Kẻ Khác ‘trong một sự việc cụ thể nào đó’. ‘Chết thay’ như vậy không bao giờ có nghĩa là Kẻ Kia đã được sẻ gánh cái chết của mình, dù chỉ một chút ít.

Cái chết là điều mà mỗi Dasein phải tự mình gánh vác vào thời điểm đó. Theo bản chất của nó, cái chết trong mọi trường hợp đều là của riêng tôi, chừng nào nó còn ‘hiện hữu’. Và quả thực, cái chết biểu thị một khả tính-của-Hữu-thể đặc thù, trong đó chính Hữu thể của Dasein là vấn đề cốt yếu. Trong cái chết, ta thấy rằng ‘tính của tôi’ còn sự hiện hữu thì mang tính cấu thành về mặt bản thể luận đối với cái chết.1 Cái chết không phải là một sự kiện; nó là một hiện tượng cần được thấu hiểu về phương diện hữu thể; và cần được hiểu theo một ý nghĩa đặc biệt mà ta cần phải xác định ranh giới một cách chặt chẽ hơn nữa. Tuy nhiên, nếu hành vi ‘chung cục’ — tức hấp hối — mang tính cấu thành đối với tổng thể tính của Dasein, thì chính cái Hữu thể của trạng thái chỉnh thể này phải được quan niệm như một hiện tượng hữu thể của một Dasein trong mỗi trường hợp, vốn luôn là ‘của riêng kẻ đó’. Trong hành vi ‘chung cục’ và trong cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein — mà đối với nó hành vi ‘chung cục’ mang tính cấu thành — thì xét về bản chất, hoàn toàn không có hành vi đại diện. Đó là các sự thật mang tính hữu thể của vấn đề; người ta sẽ không nhận ra điều này khi cố tình dùng cái chết của những Kẻ Khác làm chủ đề thay thế cho việc phân tích tổng thể tính.

Như vậy, một lần nữa, nỗ lực làm cho ‘Hữu-thể-một-chỉnh-thể’ của Dasein trở nên có thể tiếp cận theo cách thức phù hợp với chính các hiện tượng đã bị thất bại. Tuy nhiên, kết quả các suy tư của chúng ta không mang tính phủ định; chúng đã được định hướng bởi chính các hiện tượng, dù chỉ ở mức sơ lược. Chúng ta đã chỉ ra rằng cái chết là một hiện tượng hữu thể. Do đó, cuộc khảo sát buộc phải đi theo định hướng thuần túy hữu thể đối với Dasein—mà trong mọi trường hợp luôn là riêng của mỗi kẻ. Khả năng duy nhất còn lại để phân tích cái chết với tư cách là hành trình dying ‘hấp hối’ là: hoặc hình thành một quan niệm thuần túy hữu thể về hiện tượng này, hoặc từ bỏ mọi thấu hiểu mang tính bản thể luận về nó. Khi mô tả trạng thái chuyển tiếp từ Dasein sang ‘không-còn-là-Dasein’ với tư cách ‘Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới-nữa’, chúng ta cũng đã chỉ ra rằng việc Dasein ‘rời-khỏi-thế-giới’ theo nghĩa ‘hấp hối’ cần phải được phân biệt với tình trạng ‘rời-khỏi-thế-giới’ của những thực thể chỉ đơn thuần des Nur-lebenden có sự sống. [Chen ngang:des Nur-lebenden đối với Heidegger có nghĩa là ‘cái chỉ đơn thuần sống’ hoặc ‘thực thể thuần túy có sự sống’ liên quan đến động vật hoặc các sinh vật hữu cơ nói chung kể cả thực vật. Chúng có sự sống nhưng thiếu đi những đặc tính cấu trúc bản thể luận đặc biệt của con người. Khái niệm này được hiểu qua các khía cạnh cốt lõi sau: i) Đối lập với Dasein hiện hữu người Heidegger phân biệt nghiêm ngặt giữa Dasein – loại hiện hữu có khả năng tự ý thức và ưu tư về chính sự tồn tại của mình - với das Nur-lebende - thực thể chỉ có bản năng sinh học, không có thế giới theo nghĩa đầy đủ hoặc ‘nghèo tính thế giới’; ii) Vấn đề về Thời gian - Heidegger cho rằng việc định nghĩa bản thể luận về cách các giác quan bị kích thích ở một Nur-Lebenden thực thể chỉ đơn thuần sống, hay liệu thực thể này có được cấu thành bởi một dạng ‘thời gian’ nào không, vẫn là một bài toán riêng biệt đầy thách thức; iii) Sự khác biệt về cái chết giữa Verenden vs. Sterben - đối với các thực thể Nur-lebenden chỉ đơn thuần sống, khi kết thúc vòng đời sinh học, chúng đơn thuần Verenden ‘tiêu vong’. Ngược lại, chỉ có Dasein hiện hữu người mới thực sự có trải nghiệm cái chết theo nghĩa triết học, gọi là Sterben ‘tử vong’ hay ‘chết đúng nghĩa’.-HHN].

Trong thuật ngữ của chúng tôi, hành vi chung cục của bất kỳ sinh vật sống nào cũng được gọi là Verenden tàn lụi/chết sinh học. Chúng ta chỉ có thể thấy được sự khác biệt này nếu phân biệt được loại hành vi chung cục mà Dasein trải qua với cuộc chung cục một cuộc đời.ii Tất nhiên, ‘hấp hối’ cũng có thể được nhìn nhận dưới góc độ sinh lý học và sinh học. [Tr.285] Tuy nhiên, khái niệm y học về ‘exitus’ sự ra đi/cái chết lại không trùng khớp với khái niệm chỉ hành vi Verenden ‘tàn lụi’. Từ những thảo luận trước đó về khả tính nắm bắt cái chết mang tính bản thể luận, đồng thời cũng thấy rõ rằng các phụ-cấu trúc của những thực thể mang loại Hữu thể khác (như ‘hiện-diện-vô-tri’ hay ‘sự sống’) lại vô tình trỗi dậy và đe dọa gây nhầm lẫn cho phép Diễn giải hiện tượng này—thậm chí gây trở ngại ngay cả cho cách thức trình bày phù hợp đầu tiên về nó. Chỉ có thể tiếp cận hiện tượng này bằng cách tìm kiếm ở các phân tích tiếp theo một phương thức định nghĩa phù hợp về bản thể luận đối với các hiện tượng cấu thành nó, chẳng hạn như ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’.

48. Cái còn Dang dở; cái Chung cục; Tổng thể tính

Trong khuôn khổ cuộc khảo sát này, việc mô tả mang tính bản thể luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ chỉ có thể mang tính tạm thời. Để thực hiện nhiệm vụ này một cách thỏa đáng, chúng ta không chỉ cần trình bày cấu trúc hình thức của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ nói chung; mà còn phải gỡ rối các biến thể cấu trúc khả dĩ của chúng trong những lĩnh vực khác nhau—tức là các biến thể đã được phi hình thức hóa, được đặt vào mối liên hệ với những loại thực thể xác định đóng vai trò là ‘chủ đề’, và có đặc tính được quy định bởi chính cái Hữu thể của các thực thể đó. Đổi lại, nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một phép Diễn giải đủ rõ ràng và khẳng định về các loại Hữu thể vốn quy định việc phân chia tập hợp các thực thể thành những lĩnh vực như vậy. Tuy nhiên, để hiểu được các phương thức Hữu thể này, chúng ta cần có một quan niệm minh bạch về Hữu thể nói chung. Nhiệm vụ phân tích bản thể luận về chung cục và tổng thể tính theo cách thức thích hợp gặp trở ngại không chỉ vì phạm vi chủ đề quá rộng, mà còn do một khó khăn về nguyên tắc: để nhiệm vụ này được thành công, chúng ta buộc phải giả định rằng điều mà ta đang tìm kiếm trong cuộc khảo sát này—tức ý nghĩa của Hữu thể nói chung—là thứ mà ta đã tìm thấy và đã hoàn toàn quen thuộc.

Trong những suy tư tiếp theo, các ‘biến thể’ mà chúng ta đặc biệt quan tâm là những biến thể của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’; đây là những phương thức giúp Dasein có được một bản chất xác định về mặt bản thể luận, và do đó, chúng sẽ dẫn đến một sự diễn giải bản nguyên về thực thể này. Luôn lưu tâm đến cái cấu thành hữu thể của Dasein đã được trình bày trước đó, chúng ta cần xem xét mức độ không phù hợp về mặt bản thể luận của những quan niệm về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ vốn thường xuất hiện ngay từ đầu—bất kể chúng có thể còn mơ hồ về mặt phạm trù đến mức nào. Zurückweisung hành vi bác bỏ các khái niệm như vậy phải được phát triển thành một Zuweisung hành vi xác quyết khẳng định vị trí của chúng trong các lĩnh vực cụ thể tương ứng. Bằng cách này, hiểu biết của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’—dưới các biến thể là existentialia các yếu tố hữu thể—sẽ được củng cố, và điều này [tr.286] sẽ đảm bảo khả năng thực hiện một phép Diễn giải bản thể luận về cái chết. Tuy nhiên, ngay cả khi phép phân tích cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ của Dasein mang định hướng quá rộng như vậy, thì điều đó vẫn không có nghĩa là các khái niệm hữu thể về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ có thể đạt được bằng phép diễn dịch. Ngược lại, ý nghĩa hữu thể về hồi-chung-cục của Dasein phải được rút ra từ chính Dasein, và ta phải chỉ ra cách thức mà ‘hồi chung cục’ ấy có thể cấu thành nên Hữu-thể-một-chỉnh-thể cho cái thực thể vốn vẫn hiện hữu ấy. Chúng ta có thể tóm lược cuộc thảo luận về cái chết cho đến thời điểm này qua ba luận điểm: 1) Thuộc về Dasein, chừng nào nó còn hiện hữu, là một trạng thái ‘vẫn-chưa’ mà nó sẽ trở thành—một điều gì đó luôn luôn còn bỏ ngỏ; 2) Cuộc-đi-đến-chung-cục của cái-chưa-đến-chung-cục (trong đó cái còn bỏ ngỏ kia bị triệt tiêu xét về phương diện Hữu thể của nó) mang đặc tính của trạng thái ‘không-còn-là-Dasein-nữa; 3) Cuộc-đi-đến-chung-cục hàm ý một phương thức Hữu thể, trong đó cái Dasein cụ thể hoàn toàn không thể được đại diện bởi bất kỳ kẻ nào khác.

Ở Dasein, không thể phủ nhận luôn tồn tại một tình trạng ‘thiếu vắng tổng thể tính’ – trạng thái này chỉ đến hồi chung cục cùng cái chết. Trạng thái ‘vẫn-chưa’ này ‘thuộc về’ Dasein chừng nào nó còn hiện hữu; đó là thực trạng xét về phương diện hiện tượng. Liệu điều này có nên được Diễn giải như là một hành vi chưa hoàn tất hay không?8 Chúng ta nói về cái chưa hoàn tất trong mối liên hệ với những thực thể nào? Khi dùng cụm từ này, ta đang nhắm đến điều thực sự ‘thuộc về’ một thực thể nhưng vẫn còn thiếu vắng. Tình trạng chưa hoàn tất – một dạng thức thiếu vắng – vốn dựa trên chính cái quan hệ ‘thuộc về’ ấy.9 Ví dụ, khoản dư chưa được thu về khi thanh toán dứt điểm một món nợ chính là khoản vẫn ‘còn thiếu’. Cái vẫn ‘còn thiếu’ là thứ chưa nằm trong tầm kiểm soát hay sự sở hữu của ta. Khi món nợ được trả xong, khoản ‘còn thiếu’ đó được tất toán; điều này có nghĩa là tiền ‘được thu về’, hay phần còn lại lần lượt được bổ sung vào. Thông qua quá trình này, trạng thái ‘vẫn chưa’ dần được lấp đầy cho đến khi tổng số tiền nợ được tập hợp lại ‘trọn vẹn’.10

Do đó, trạng thái ‘còn thiếu’ có nghĩa là những thành phần thuộc về nhau vẫn chưa hiện diện đầy đủ cùng nhau. Xét về mặt bản thể luận, điều này hàm ý tình trạng ‘chưa-sẵn-có-để-dùng’ của những phần chưa được đóng góp vào. Những phần này mang cùng một loại Hữu thể với những phần đã sẵn-có-để-dùng; và đến lượt chúng, những phần sau không bị biến đổi về phương diện Hữu thể khi có phần còn lại gia nhập vào. Bất kỳ Das bestehende Unzusammen ‘tình trạng thiếu gắn kết’ nào còn tồn tại đều được ‘bù đắp’ bằng việc chắp nối tích lũy. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Das bestehende Unzusammen có nghĩa là 1). ‘Tình trạng thiếu vắng tính gắn kết còn tồn tại’ hoặc ‘Tình trạng thiếu hụt tổng thể tính hiện hữu’. Nó được dùng để mô tả vấn đề triết học cơ bản về việc Dasein hiện hữu người vốn dĩ không trọn vẹn và rời rạc cho đến khi cái chết kề cận. Heidegger sử dụng khái niệm này để phê phán quan điểm truyền thống về thời gian và cuộc sống con người. 2) Các thành phần cốt lõi của khái niệm này được phân tích như sau: i) Vấn đề về Das Noch-nicht/Not-yet/ahead-of-itself ‘Cái-chưa-có’/Cái-đi-trước-bản-thân:  chừng nào còn sống, tôi không bao giờ là một sản phẩm đã hoàn thiện. Luôn có điều gì đó ‘còn dang dở’/chưa được thanh toán dứt điểm trong cuộc đời —những lựa chọn cần đưa ra, những ngày tháng cần sống và những tiềm năng chưa được hiện thực hóa. Vì một phần hiện hữu của tôi luôn nằm ở tương lai, nên cuộc đời tôi thiếu đi một sự trọn vẹn gắn kết. Nó không hoàn chỉnh về mặt cấu trúc. ii) Phê phán quan điểm tính toán kiểu ‘từng phần một’: Heidegger sử dụng phép ẩn dụ về nợ tài chính để giải thích cách con người sai lầm khi cố gắng khắc phục bản chất rời rạc này. Nếu bạn nợ ai đó tiền, khoản nợ đó vẫn ‘còn lại đó’ chưa thanh toán cho đến khi được trả dần từng phần một; iii) Bản thể luận truyền thống coi cuộc sống con người giống như khoản nợ này. Nó xem quãng đời là một chuỗi các khoảnh khắc riêng biệt, hiện-diện-vô-tri, tích tụ dần theo thời gian; iv) Theo quan điểm sai lầm này, cái ‘das bestehende Unzusammen’ tình trạng thiếu vắng tính gắn kết còn tồn tại đơn thuần được ‘trả dứt’ hoặc lấp đầy dần dần khi bạn gạch bỏ từng ngày trên lịch cho đến khi mọi thứ cuối cùng trở nên ‘trọn vẹn’. 3) Ý nghĩa đích thực của Heidegger đó là Tổng thể tính của Dasein: i) Heidegger lập luận rằng tôi không thể đối xử với cuộc sống con người như một cuốn sổ cái tài chính hay một đống gạch đang thiếu vài viên. Dasein không trở nên ‘chỉnh thể’ chỉ bằng cách cộng dồn thêm nhiều ngày tháng; ii) Thay vào đó, ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ nằm ngay trong cấu trúc của hiện hữu. Tôi luôn đi trước chính mình, phóng chiếu vào tương lai, trong khi vẫn neo giữ vào quá khứ; iii) Điều duy nhất khép lại khoảng cách này và mang lại một ‘chung cục’ dứt khoát cho các khả tính của tôi chính là cái chết. Tuy nhiên, khi cái chết đang cận kề, Dasein không trở thành một khách thể đã hoàn thiện; thay vào đó, cuộc hiện hữu của nó bị triệt tiêu hoàn toàn. 4) Bảng tóm tắt so sánh quan điểm về cuộc sống và cách tiếp cận ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ cũng như chung cục: i) Quan điểm truyền thống/thiếu tính chân thực coi cuộc sống như một món nợ; ta chắp vá từng khoảnh khắc lại với nhau cho đến khi tổng thể được lấp đầy, xem cuộc sống là chuỗi các sự kiện tĩnh tại và chóng qua; ii) Ngược lại, quan điểm chân thực của Heidegger thừa nhận rằng ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ là một điều kiện hữu thể của hiện hữu tự do và hướng về tương lai; iii) Tôi chỉ đạt được tính chỉnh thể/tổng thể tính bằng cách đối diện với cái chết của chính mình, đó chính là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết.-HNN].

Những thực thể mà ở đó vẫn còn điều gì đó chưa hoàn tất sẽ có loại Hữu thể của một cái gì đó [tr.287] sẵn-có-để-dùng. Tính gắn kết này được đặc trưng như một ‘tổng số’, và tình trạng thiếu vắng tính gắn kết dựa trên nó cũng vậy. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vắng tính gắn kết vốn thuộc về phương thức gắn kết như vậy—tức là trạng thái vắng mặt do chưa hoàn tất—không thể nào định nghĩa về mặt bản thể luận cái ‘vẫn-chưa’ vốn thuộc về Dasein như là cái chết khả thể của nó. Dasein hoàn toàn không có loại Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tính gắn kết của một thực thể thuộc kiểu Dasein—khi ‘trải qua lộ trình’ cho đến lúc cái ‘lộ trình’ đó hoàn tất—không được cấu thành bởi việc chắp-nối liên tục các thực thể vốn đã sẵn-có-để-dùng theo cách riêng của chúng ở đâu đó.11

Việc cho rằng Dasein chỉ thực sự ‘gắn kết’ trọn vẹn khi cái ‘vẫn-chưa’ của nó đã được lấp đầy là hoàn toàn sai lầm; bởi lẽ, chính vào lúc đó, Dasein không còn hiện hữu nữa. Mọi Dasein luôn hiện hữu theo cách mà cái ‘vẫn-chưa’ luôn thuộc về chính nó. Tuy nhiên, liệu có tồn tại những thực thể—vốn hiện hữu như chúng vốn có và có thể bao hàm một cái ‘vẫn-chưa’—nhưng lại không nhất thiết phải có loại Hữu thể của Dasein hay không? Chẳng hạn, ta có thể nói: ‘Giai đoạn trăng khuyết vẫn chưa hoàn tất cho đến khi trăng tròn’. Cái ‘vẫn-chưa’ này giảm dần khi bóng tối che khuất biến mất. Nhưng ở đây, mặt trăng luôn hiện-diện-vô-tri như một chỉnh thể đã thành. Chưa kể đến sự thật là ta không bao giờ có thể nắm bắt trọn vẹn mặt trăng ngay cả khi nó tròn, thì cái ‘vẫn-chưa’ này hoàn toàn không biểu thị một Hữu-thể-vẫn-chưa-gắn-kết của các bộ phận vốn thuộc về mặt trăng, mà chỉ liên quan đến cách ta tri giác và nắm bắt nó. Cái ‘vẫn-chưa’ vốn thuộc về Dasein, tuy nhiên không chỉ đơn thuần là một cái gì đó tạm thời và đôi khi không thể tiếp cận được đối với trải nghiệm của chính mình hay thậm chí của kẻ lạ; nó hoàn toàn vẫn chưa hề ‘là’ ‘hiện thực’. Vấn đề của chúng ta không nằm ở việc nắm bắt cái ‘vẫn-chưa’ mang đặc tính của Dasein; mà nằm ở cái Hữu thể khả thể hoặc không-phải-Hữu-thể của cái ‘vẫn-chưa’ này.

Dasein, với tư cách là chính nó, phải trở thành—nghĩa là, phải hiện hữu như—cái mà nó ‘vẫn-chưa’ là. Do đó, nếu muốn thông qua so sánh— để xác định cái Hữu thể của ‘vẫn-chưa’, vốn mang tính chất của Dasein, thì chúng ta phải xem xét những thực thể mà đối với chúng, sự trở thành thuộc về loại Hữu thể của chúng. Chẳng hạn, khi một trái cây chưa chín, thì nó ‘hướng tới’ trạng thái chín của mình. Trong quá trình chín này, cái mà trái cây ‘vẫn-chưa’ chín là không hề được chắp vá thêm vào như một thứ gì đó ‘vẫn-chưa’ hiện-diện-vô-tri. Trái cây tự đưa mình đến trạng thái chín, và hành động tự đưa mình như vậy là một đặc điểm Hữu thể của nó với tư cách là một trái cây. Không gì có thể tưởng tượng được cái mà ta có thể tác động vào nó lại có thể loại bỏ trạng thái chưa chín của trái cây, nếu bản thân thực thể này không tự mình đạt đến [tr.288] trạng thái chín. Khi nói về cái ‘vẫn-chưa’ của trạng thái chưa chín, chúng ta không nhắm đến một thứ gì khác đứng bên ngoài, thứ mà—hoàn toàn dửng dưng với trái cây—có thể hiện-diện-vô-tri trong nó và cùng với nó. Cái mà chúng ta nhắm đến chính là bản thân trái cây trong loại Hữu thể đặc thù của nó. Một tổng số chưa hoàn tất, với tư cách là một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, thì tình trạng ‘dửng dưng’ đối với phần còn thiếu và chưa sẵn-có-để-dùng, mặc dù xét một cách chặt chẽ, nó không thể dửng dưng cũng không thể không dửng dưng đối với phần còn thiếu đó.12 Tuy nhiên, quả đang chín không những không dửng dưng với tình trạng chưa chín của mình như thể đó là một cái gì khác biệt với chính nó, mà nó chính là tình trạng chưa chín đó trong quá trình chín. Cái ‘vẫn-chưa’ đã bao gồm ngay trong chính Hữu thể của trái cây, không phải như một đặc tính ngẫu nhiên, mà như một thứ mang tính cấu thành. Tương tự như vậy, chừng nào một Dasein còn hiện hữu, thì nó cũng đã là cái ‘vẫn-chưa’ của chính mình.iii

Cái vốn gây nên tình trạng ‘thiếu vắng tổng thể tính’ ở Dasein—tức trạng thái luôn ‘vượt trước chính mình’—không phải là một cái gì đó vẫn còn thiếu hụt trong một trạng thái gắn kết cộng dồn, cũng không phải là một cái gì đó chưa thể tiếp cận được. Mà đó là một trạng thái ‘vẫn-chưa’ mà bất kỳ Dasein nào—với tư cách là thực thể mà nó vốn là thế—đều phải hiện hữu. Tuy nhiên, phép so sánh với trạng thái chưa chín của trái cây cho thấy những khác biệt cốt yếu, mặc dù vẫn có những điểm tương đồng nhất định. Nếu lưu tâm đến những khác biệt này, ta sẽ nhận ra rằng cuộc bàn luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘đi đến chung cục’ bấy lâu nay còn mơ hồ đến mức nào. Dần chín chính là Hữu thể đặc thù của trái cây. Đó cũng là một loại Hữu thể của trạng thái ‘vẫn-chưa’ (của trạng thái chưa chín); và theo đúng nghĩa một loại Hữu thể, nó có sự tương đồng về mặt hình thức với Dasein, ở chỗ Dasein—cũng giống như trái cây—luôn luôn đã là trạng thái ‘vẫn-chưa’ của chính mình theo một nghĩa nào đó cần được định nghĩa thêm. Song, điều này không có nghĩa là trạng thái chín với tư cách là một ‘chung cục’ và cái chết với tư cách là một ‘chung cục’ trùng khớp với nhau về mặt cấu trúc hữu thể luận của chúng với tư cách là các chung cục. Với tình trạng chín, trái cây đạt đến sự viên mãn của chính nó.13 Nhưng liệu cái chết mà Dasein đi tới có phải là một loại viên mãn theo nghĩa này không? Khi đối diện với cái chết, Dasein quả thực đã ‘hoàn tất hành trình’ của mình. Nhưng liệu khi làm vậy, nó có nhất thiết đã tận dụng hết các khả tính đặc thù của mình không? Hay đúng hơn, chẳng phải chính những khả tính đó lại là thứ bị tước bỏ khỏi Dasein sao? Ngay cả một Dasein ‘chưa viên mãn’ cũng đi đến chung cục. Mặt khác, hoàn toàn không có chuyện Dasein chỉ đạt đến độ chín khi đối diện với cái chết; trái lại, Dasein hoàn toàn có thể đã đi qua độ chín trước khi chung cục.14 Phần lớn các trường hợp, Dasein kết thúc trong tình trạng chưa viên mãn, hoặc sau khi đã phân rã và cạn kiệt.

________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…im Dasein immer noch etwas aussteht…’. The verb 'ausstehen' and the noun ‘Ausstand’ (which we usually translate as 'something still outstanding', etc.), are ordinarily used in German to apply to a debt or a bank deposit which, from the point of view of the lender or depositor, has yet to be repaid to him, liquidated, or withdrawn. [P.279]

2 ‘Die Behebung des Seinsausstandes besagt Vernichtung seines Seins. Solange das Dasein als Seiendes ist, hat es seine “Gänze” nie erreicht.’ The verb ‘beheben’ is used in the sense of closing one’s account or liquidating it by withdrawing money from the bank. The noun ‘Ganze’, which we shall translate as 'wholeness', is to be distinguishedfrom ‘Ganze’ (‘whole’, or occasionally ‘totality’) and ‘Ganzheit’ (‘totality’). [p.280]

3 'Was so gar nicht erst sein kann, wie ein Erfahren das Dasein zu erfassen priitendiert, entzieht sich grundsiitzlich einer Erfahrbarkeit.' [p.280]

4 ‘Das Nur-noch-Vorhandene ist "mehr" als ein lebloses materielles Ding. Mit ihm begegnet ein des Lebens verlustig gegangenes Unlebendiges.’ [p.282]

5 ‘…sind… “dabei”.’ Literally the verb ‘dabeisein’ means simply 'to be at that place’, ‘to be there alongside’ ; but it also has other connotations which give an ironical touch to this passage, for it may also mean, 'to be engaged in' some activity, ‘to be at it’, ‘to be in the swim’, ‘to be ready to be “counted in”’. [p.282]

6 ‘…eine viillige Verkennung…’. The older editions have 'totale' rather than 'viillige'. [p.283]

7 'Vertretbarkeit'. The verb 'vertreten' means 'to represent' in the sense of 'deputizing' for someone. It should be noted that the verb 'vorstellen' is also sometimes translated as 'to represent', but in the quite different sense of 'affording a "representation" or "idea" of something'. [p.283]

8 'Aber darf der phanomenale Tatbestand, dass zum Dasein, solange es ist, dieses Noch-nicht "gehort", als Ausstand interpretiert werden ?' The contrast between 'Tatbestand' and 'Ausstand' is perhaps intentional. [p.286]

9 Ausstehen als Fehlen griindet in einer Zugehorigkeit.' [p.286]

10 'Tilgung der "Schuld" als Behebung des Ausstandes bedeutet das "Eingehen", das ist Nacheinanderankommen des Restes, wodurch das Noch-nicht gleichsam aufgefullt wird, bis die geschuldete Summe "beisammen" ist.' On 'Schuld' see note 1, p. 325, H. 280. [p.286]

11 Throughout this sentence Heidegger uses words derived from the verb 'laufen', 'to run'. Thus, 'in running its course' represents 'in seinem Verlauf', ' "its course" has been completed' represents 'es "seinem Lauf" vollendet hat'; 'continuing' represents 'fortlaufende'. [p.287]

12 'Die noch nicht volle Summe ist als Zuhandenes gegen den fehlenden unzuhand'enen Rest "gleichgiiltig". Streng genommen kann sie weder ungleichgiiltig, noch gleichgiiltig dagegen sein.' [p.288]

13 'Mit der Reife vollendet sich die Frucht.' Notice that the verb 'vollenden', which we here translate as 'fulfil', involves the verb 'enden' ('to end'). While 'vollenden' may mean 'to bring fully to an end' or 'to terminate', it may also mean 'to complete' or 'to perfect'. [p.288]

14 While we have translated 'Reife' by its cognate 'ripeness', this word applies generally to almost any kind of maturity, even that of Dasein-not merely the maturity of fruits and vegetables. [p.288]