Powered By Blogger

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

II SỰ CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN

56. Đặc tính của Lương tâm như một Tiếng gọi

[Tr. 317] Mọi diễn ngôn đều gắn liền với nội dung được đề cập trong đó. Diễn ngôn cung cấp thông tin về một điều gì đó, và thực hiện điều này dưới một khía cạnh xác định. Từ nội dung được đề cập đó, diễn ngôn rút ra những gì nó đang nói—tức là điều được diễn đạt trong cuộc trò chuyện theo đúng nghĩa. Trong diễn ngôn với tư cách là sự giao tiếp, đối với Dasein nội dung này trở nên có thể tiếp cận với của những Kẻ Khác, chủ yếu thông qua việc diễn đạt nó bằng ngôn ngữ. Trong tiếng gọi của lương tâm, điều gì được đề cập đến – hay nói cách khác, tiếng gọi hướng tới điều gì? Hiển nhiên là chính Dasein. Câu trả lời này vừa không thể chối cãi lại vừa bất định. Nếu tiếng gọi có một đích đến mơ hồ như vậy, thì cùng lắm nó chỉ là dịp để Dasein chú ý đến chính mình. Tuy nhiên, một yếu tố cốt lõi của Dasein là: song hành với die Erschlossenheit ihrer Welt trạng thái khai mở cái thế giới của nó, thì chính nó cũng được khai mở với bản thân, nhờ đó nó luôn thấu hiểu chính mình. Tiếng gọi tìm đến Dasein ngay trong cách tự thấu hiểu này – một cách thấu hiểu đầy quan tâm theo lối sống thường nhật, trung bình. Tiếng gọi chạm tới das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ của Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác đầy quan tâm ấy.

Và khi đó, tiếng gọi hướng ta đến điều gì?1 Hướng về chính cái Tự ngã của mình. Không phải hướng về những gì Dasein tính toán, có thể thực hiện, hay bận tâm trong đời sống công cộng cùng người khác; cũng không phải hướng về những gì nó đã nắm bắt, bắt tay vào làm, hay để bản thân bị cuốn theo. Hình thái Dasein vốn được hiểu theo lối thức ‘thế giới dành cho những Kẻ Khác và cho cả chính mình’ bị bỏ qua trong tiếng gọi này; tiếng gọi hướng về cái Tự ngã hoàn toàn không đoái hoài gì đến khía cạnh đó. Và vì chỉ có cái Tự ngã của cái Tự-ngã-họ mới được kêu gọi và được đánh thức để lắng nghe, nên das Man cái ‘họ’ liền sụp đổ. Tuy nhiên, việc tiếng gọi bỏ qua cả cái ‘họ’ lẫn cách thức Dasein được diễn giải trong đời sống công cộng hoàn toàn không có nghĩa là cái ‘họ’ không bị tác động. Chính nhờ việc bỏ qua cái ‘họ’ (vốn luôn khao khát danh tiếng nơi công cộng), nên tiếng gọi đã đẩy nó vào cái Bedeutungslosigkeit trạng thái vô nghĩa. Ngược lại, Tự ngã – vốn bị tiếng gọi tước mất chỗ trú ngụ và nơi ẩn náu ấy – lại được đưa trở về với chính mình.

[Tr. 318] Khi das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ được kêu gọi, nó được triệu hồi hướng về phía cái Tự ngã.2 Nhưng nó không bị triệu hồi về phía cái Tự ngã có thể tự biến mình thành một ‘khách thể’ để phán xét, cũng không phải về phía cái Tự ngã thụ động mổ xẻ ‘đời sống nội tâm’ của mình với sự tò mò vụn vặt, hay về phía cái Tự ngã mà người ta hình dung khi nhìn ngắm một cách ‘phân tích’ các trạng thái tâm lý và những gì ẩn sau chúng. Lời kêu gọi hướng tới cái Tự ngã trong das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ không ép buộc nó phải quay vào bên trong chính mình để rồi tự tách biệt khỏi ‘thế giới bên ngoài’. Lời kêu gọi lướt qua và xua tan tất cả những điều đó, chỉ nhằm triệu hồi duy nhất cái Tự ngã mà, bất chấp mọi điều ấy, không tồn tại theo cách nào khác ngoài việc là Hữu-thể-trong-thế-giới. Nhưng làm thế nào để xác định cái được nói đến thuộc về kiểu diễn ngôn này? Lương tâm kêu gọi điều gì ở kẻ mà nó đang hướng tới? Xét một cách nghiêm ngặt, thì chẳng có gì cả. Lời kêu gọi không khẳng định điều gì, không cung cấp thông tin về các sự kiện-thế giới, và cũng chẳng có gì để kể lại. Nó càng không hề có ý định khơi mào das Selbstgespräch một cuộc ‘độc thoại’ bên trong cái Tự ngã vừa được triệu hồi. ‘Không-gì-cả’ là điều được gọi đến cái Tự ngã này, nhưng bản thân nó đã được triệu hồi về tự thân – nghĩa là, về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính nó. Khuynh hướng của tiếng gọi không phải là đặt cái Tự ngã – đối tượng được hướng tới – vào một cuộc ‘xét xử’; thay vào đó, nó triệu hồi Dasein bước ra (và ‘tiến về phía trước’) để đến với những khả tính cốt yếu nhất của chính mình, như một lời hiệu triệu hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó đích thực nhất của chính nó.3

Tiếng gọi này không sử dụng bất kỳ kiểu phát ngôn nào. Nó hoàn toàn không diễn đạt bằng ngôn từ; tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó mơ hồ hay bất định. Lương tâm chỉ và luôn luôn lên tiếng theo phương thức giữ im lặng. Theo cách này, nó không những không mất đi khả tính nhận biết, mà còn buộc Dasein—thực thể đang được kêu gọi và triệu hồi—phải bước vào trạng thái tự giữ mình trong sự im lặng. Việc nội dung của tiếng gọi không được diễn đạt thành lời không làm cho hiện tượng này trở nên mơ hồ như một giọng nói bí ẩn; nó chỉ cho thấy rằng sự thấu hiểu của chúng ta về điều được ‘gọi’ không nên bị trói buộc vào kỳ vọng về một sự truyền đạt thông tin thông thường.

Tuy nhiên, cái mà tiếng gọi khai mở lại vô cùng rõ ràng, dù nó có thể được diễn giải khác nhau ở mỗi Dasein tùy thuộc vào những khả tính thấu hiểu riêng của nó. Trong khi nội dung của tiếng gọi dường như bất định, thì hướng đi của nó lại rất chắc chắn và không thể bị bỏ qua. Tiếng gọi không đòi hỏi chúng ta phải mò mẫm tìm kiếm đối tượng mà nó hướng tới, cũng không cần bất kỳ dấu hiệu nào để nhận biết liệu kẻ đó có phải là đối tượng được nhắm đến hay không. Khi những ‘ảo tưởng’ nảy sinh trong lương tâm, nguyên nhân không phải do tiếng gọi có sai sót (gọi nhầm),4  mà chỉ vì cách tiếng gọi được lắng nghe: thay vì  [tr.319] được thấu hiểu một cách đích thực, nó bị das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ lôi kéo vào một cuộc độc thoại biện hộ, khiến khuynh hướng khai mở của nó bị biến tướng. Cần lưu ý rằng khi coi lương tâm là một ‘tiếng gọi’, thì tiếng gọi ấy chính là lời kêu gọi hướng tới das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ ngay trong chính Tự ngã của nó; theo đúng nghĩa một tiếng gọi, nó triệu vời cái Tự ngã hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó của chính mình, và qua đó thúc đẩy Dasein bước tới những khả tính của chính nó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể đạt tới một sự lý giải thỏa đáng về mặt bản thể luận đối với lương tâm cho đến khi làm sáng tỏ được không chỉ ai là người được gọi và ai là người cất tiếng gọi, mà còn cả mối tương quan giữa kẻ được kêu gọi với kẻ cất tiếng gọi, cũng như cách thức mà ‘mối quan hệ’ này cần được nhìn nhận về phương diện bản thể luận—như một phương thức kết nối giữa họ ngay trong chính Hữu thể của mình.

57. Lương tâm như là Tiếng gọi Chăm lo

Lương tâm triệu vời cái Tự ngã của Dasein thoát khỏi tình trạng lưu lạc trong das Man cái ‘họ’. Cái Tự ngã được tiếng gọi này nhắm đến vẫn bất định và trống rỗng trong cái ‘là gì’ của nó. Khi Dasein tự diễn giải bản thân dựa trên những gì nó bận tâm, thì tiếng gọi ấy vượt qua khỏi hình ảnh mà Dasein – theo cách thức gần gũi và phổ biến nhất – thường dùng để tự hiểu về chính mình. Tuy nhiên, cái Tự ngã ấy đã thực sự được chạm đến, một cách dứt khoát và không thể nhầm lẫn. Tiếng gọi không chỉ hướng đến người được gọi vốn ‘không thiên vị bất kỳ ai’, mà ngay cả chủ thể cất tiếng gọi cũng lồ lộ kẹt trong một tình trạng bất định. Nếu ta hỏi về tên tuổi, địa vị, nguồn gốc hay danh tiếng của chủ thể cất tiếng gọi, nó không chỉ từ chối trả lời mà còn không để lại bất kỳ cơ hội nào để ta biến nó thành một thứ gì đó quen thuộc – điều thường xảy ra khi sự hiểu biết về Dasein mang định hướng ‘thế tục’. Mặt khác, nó hoàn toàn không che giấu bản thân trong tiếng gọi. Thứ cất lên tiếng gọi ấy đơn giản là giữ khoảng cách với mọi cách thức trở nên nổi tiếng, và điều đó thuộc về bản chất hiện tượng của nó. Việc để bản thân bị lôi cuốn vào sự bàn tán hay xem xét của người đời đi ngược lại với loại Hữu thể của nó.5 Tính bất định đặc thù của kẻ gọi và việc không thể xác định rõ hơn cái kẻ gọi đó là gì không phải là hư vô; chúng là những đặc điểm mang tính khẳng định đối với nó. Chúng cho ta thấy rằng kẻ gọi chỉ chuyên tâm vào việc triệu vời ta hướng tới một điều gì đó, và nó chỉ được lắng nghe đúng với tư cách ấy, và hơn nữa, nó không để mình bị dụ dỗ. Nhưng nếu vậy, chẳng phải việc gác lại câu hỏi ‘kẻ cất tiếng gọi là gì’ là hoàn toàn phù hợp với hiện tượng này sao? Đúng vậy, khi ta lắng nghe tiếng gọi thật của lương tâm theo cách existentiell thực hữu cá nhân cụ thể, nhưng không phải khi ta phân tích theo nghĩa existentially cấu thành hữu thể về thực tính của hành động gọi và existentiality tính cấu thành hữu thể của hành động lắng nghe.

[Tr.320] Nhưng liệu có thực sự cần thiết phải liên tục đặt ra câu hỏi một cách tường minh rằng ai là kẻ cất tiếng gọi hay không? Chẳng phải câu hỏi về việc tiếng gọi hướng đến ai đã được giải đáp cho Dasein một cách dứt khoát như câu hỏi về chính tiếng gọi đó hay sao? Trong lương tâm, Dasein tự gọi chính mình. Sự thấu hiểu về kẻ gọi này có thể tỉnh thức ở mức độ nhiều hay ít trong quá trình thực sự lắng nghe tiếng gọi. Tuy nhiên, xét về mặt bản thể luận, sẽ không đủ nếu chỉ trả lời rằng Dasein đồng thời vừa là kẻ gọi vừa là kẻ mà tiếng gọi hướng tới. Khi Dasein được gọi, chẳng phải nó đang ‘có đó’ theo một cách khác biệt so với khi chính nó thực hiện hành động gọi hay sao? Liệu ta có thể nói rằng cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó có đóng vai trò là kẻ gọi không? Quả thực, tiếng gọi chính là cái mà bản thân chúng ta không hề lên kế hoạch, chuẩn bị hay chủ động thực hiện, và chúng ta cũng chưa từng làm như vậy. ‘Nó’ cất tiếng gọi,6 bất chấp những kỳ vọng và thậm chí cả ý muốn của chúng ta. Mặt khác, tiếng gọi chắc chắn không đến từ một kẻ nào khác đang cùng hiện diện với tôi trong thế giới. Tiếng gọi đến từ chính tôi nhưng đồng thời cũng đến từ một nơi vượt ra ngoài tôi.7

Những phát hiện mang tính hiện tượng này không thể bị gạt bỏ hay giải thích một cách hời hợt. Suy cho cùng, chúng đã được dùng làm điểm khởi đầu để lý giải tiếng nói lương tâm như một thế lực xa lạ chi phối Dasein. Nếu phép diễn giải tiếp tục theo hướng này, thì người ta sẽ gán cho thế lực được giả định đó một chủ thể sở hữu,8 hoặc coi chính thế lực ấy là một nhân vị tự bộc lộ—cụ thể là Thượng đế. Ngược lại, người ta cũng có thể cố gắng bác bỏ cách giải thích coi kẻ cất tiếng gọi là biểu hiện xa lạ của một thế lực như vậy, đồng thời tìm cách lý giải lương tâm về phương diện ‘sinh học’. Cả hai cách giải thích này đều bỏ qua những phát hiện hiện tượng một cách quá vội vàng. Những cách tiếp cận như vậy được thúc đẩy bởi một luận điểm chỉ đạo—vốn không được diễn đạt thành lời nhưng lại mang tính giáo điều về mặt bản thể luận—cho rằng cái gì ‘là’ (nói cách khác, bất cứ điều gì có thật như tiếng gọi) thì nhất thiết phải là một sự vật ‘hiện-diện-vô-tri’, và cái gì không thể được chứng minh một cách khách quan như là ‘hiện-diện-vô-tri’ thì đơn giản là không hề tồn tại.

Tuy nhiên, xét về mặt phương pháp luận, điều này là quá vội vàng. Thay vào đó, chúng ta phải kiên định không chỉ với phát hiện mang tính hiện tượng rằng tôi tiếp nhận tiếng gọi như thể nó đến từ cả chính tôi lẫn từ bên ngoài tôi, mà còn với hàm ý rằng hiện tượng này—ở đây—được phác họa về mặt bản thể luận như là một hiện tượng của Dasein. Chỉ có cấu trúc cấu thành hữu thể của thực thể này mới có thể cung cấp cho chúng ta manh mối để diễn giải về loại Hữu thể của cái ‘nó’ vốn cất lên tiếng gọi đó. Liệu phép phân tích trước đây của chúng ta về trạng thái Hữu thể của Dasein có chỉ ra cách thức để hiểu được—về mặt bản thể luận—loại Hữu thể thuộc về kẻ gọi, và cùng với nó, loại Hữu thể thuộc về chính hành động gọi hay không? Việc tiếng gọi không phải là điều do tôi thực hiện một cách tường minh, mà đúng hơn [tr.321] là ‘nó’ thực hiện hành động gọi, không biện minh cho việc tìm kiếm kẻ gọi ở một thực thể nào đó có đặc tính khác với Dasein. Tuy nhiên, mọi Dasein đều luôn hiện hữu thực tính. Nó không phải là một sự tự phóng chiếu lơ lửng tự do; trái lại, đặc tính của nó được quy định bởi trạng thái bị ném vào như là một Sự thật của chính cái thực thể là bản thân nó; và khi được quy định như vậy, trong mỗi trường hợp, nó đã được phó mặc cho việc hiện hữu, và luôn duy trì trạng thái đó. Dẫu vậy, Faktizität/ facticity [事實性 sự thật tính] thực tính của Dasein về bản chất lại khác biệt với Tatsächlichkeit/ factuality [實際性 thật tế tính] Tính thực tế của một cái gì đó ‘hiện-diện-vô-tri. [Chen ngang: Đối với Heidegger, sự khác biệt giữa Faktizität/ facticity Thực tính của Dasein và Tatsächlichkeit/ factuality Thực tế tính của các sự vật nằm ở cách thức một hiện hữu được bắt gặp và liệu nó có mối liên hệ mang tính trải nghiệm và tính thời gian với chính sự tồn tại của nó hay không. 1). Faktizität/ facticity Thực tính của Dasein bao gồm: i) Geworfenheit/ Thrownness Trạng thái bị ném vào – Thực tính đề cập đến trạng thái Dasein hiện hữu người ‘bị ném vào’ một hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và gia đình cụ thể mà chính nó không hề lựa chọn hay tạo ra; ii) Mang tính trải nghiệm và ý nghĩa – Thực tính đó không phải là tập hợp các dữ liệu chết hay trung tính; trái lại, đó là một reality thực tại đang vận hành mà Dasein chủ động mang theo, diễn giải và phản hồi thông qua các tâm thế và những lựa chọn của mình; iii) Thực tính đó gắn bó mật thiết với phép phóng chiếu – Thực tính không thể tách rời khỏi existentiality tính cấu thành hữu thể của Dasein - năng lực phóng chiếu bản thân hướng tới các khả tính trong tương lai; Dasein không bao giờ chỉ là tập hợp các ràng buộc của quá khứ, mà là sự dấn thân sống động vào chính những ràng buộc đó; iv) Thực tính đó mang tính bản thể luận vì đặc tính cấu thành hữu thể của nó - nó thuộc về chính cấu trúc Hữu thể của Dasein với tư cách Sorge ‘Chăm lo’. 2). Tatsächlichkeit/ factuality Tính thực tế bao gồm: i) Các sự kiện khách quan, thuần túy - Tính thực tế áp dụng cho các thực thể không phải là Dasein—chẳng hạn như các vật thể vật lý, công cụ hoặc các hiện tượng tự nhiên; ii) Bản chất của Tính thực tế là Vorhanden hiện-diện-vô-tri; đây chỉ đơn thuần là các thuộc tính, sự kiện hoặc trạng thái khách quan, ví dụ một tảng đá có trọng lượng nhất định, một sự kiện xảy ra vào một năm cụ thể có thể được quan sát một cách trung lập hoặc theo phương pháp khoa học; iii) Tính thực tế không có chiều góc cấu thành hữu thể: Các sự vật mang Tatsächlichkeit/ factuality tính thực tế theo nghĩa thuần túy kategorial phạm trù hoặc ontic thực hữu; chúng không ‘sở hữu’, diễn giải hay quan tâm đến các sự kiện của mình, cũng như không phóng chiếu các khả tính vào tương lai.-HHN]. Dasein vẫn tồn tại không bắt gặp chính mình như một vật thể hiện-diện-vô-tri trong-thế-giới. Nhưng cái trạng thái bị-ném-vào cũng không gắn liền với Dasein như một đặc điểm không thể tiếp cận và chẳng có ý nghĩa gì đối với sự tồn tại của nó. Là một thực thể bị-ném-vào, Dasein đã bị ném vào hiện hữu. Nó tồn tại như một thực thể buộc phải là chính nó—như nó hiện tại và như nó có thể trở thành.

Việc nó tồn tại một cách thực tính như vậy có thể vẫn còn mơ hồ và bị che giấu xét về cái ‘tại sao’ của nó; nhưng chính cái Dass-sein ‘nó-có-đó’ đã tự phơi bày cho Dasein.9 Trạng thái bị-ném-vào của thực thể này thuộc về tính khai mở của cái ‘có-đó’ và liên tục tự bộc lộ trong trạng tâm thế hiện thời của nó. Tâm thế này đưa Dasein—một cách ít nhiều tường minh và đích thực—đối diện với sự thật rằng ‘đó-là-nó’, và nó phải là một cái gì đó với một tiềm-năng-cho-Hữu-thể với tư cách là nó chính là cái thực thể đó.10 Tuy nhiên, phần lớn thời gian, tâm trạng của nó lại khiến cho trạng-thái-ném-vào này bị che lấp. Khi đối diện với trạng-thái-bị-ném-vào của mình, Dasein trốn chạy để tìm sự nhẹ nhõm với cái tự do giả tạo của cái ‘Tự-ngã-họ’. Cuộc trốn chạy này được mô tả như một hành động chạy trốn khỏi cái Unheimlichkeit tình cảnh ‘bất an không nhà’—yếu tố về cơ bản mang tính quyết định đối với cái Hữu-thể-trong-thế-giới cá nhân hóa. Cảm giác bất an không nhà này tự bộc lộ một cách đích thực trong tâm thế cơ bản là lo âu; và, với tư cách là cách thức cơ bản nhất mà qua đó Dasein vốn bị-ném vào đời được khai mở, nó đặt cái Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein đối diện với cái ‘hư vô’ ấy của thế giới; trước cái ‘hư vô’ này, Dasein cảm thấy lo âu về chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt lõi nhất của mình. Sẽ ra sao nếu cái Dasein này—kẻ đang thấy mình nằm sâu trong cảm giác bất an không nhà của chính nó—lại chính là kẻ cất lên tiếng gọi của lương tâm? Không có gì phủ nhận điều này; trái lại, tất cả những hiện tượng mà chúng ta đã trình bày trước đó để mô tả kẻ-gọi và hành động gọi của nó đều ủng hộ giả thuyết này.

Trong cái ‘ai’ của nó, kẻ-gọi hoàn toàn không thể được định nghĩa theo cung cách ‘có tính trần thế’. Kẻ-gọi chính là Dasein trong trạng thái bất an không nhà của nó: loại Hữu-thể-trong-thế-giới bản nguyên, bị-ném vào đời với tư cách là kẻ ‘không-ở-nhà’—một sự hiện hữu trần trụi ‘đó-là-nó’ giữa cái ‘hư vô’ của thế giới. Kẻ gọi này xa lạ đối với cái Tự-ngã-họ thường nhật; nó tựa như một giọng nói xa lạ. Còn điều gì xa lạ hơn đối với cái ‘họ’ — vốn đang lạc lối trong [tr.322] cái ‘thế giới’ đa tạp của những mối bận tâm của nó — so với cái Tự ngã vốn đã được cá nhân hóa thành tự thân nó trong tình trạng bất an không nhà và bị ném vào cái ‘hư vô’? ‘Nó’ cất tiếng gọi, mặc dù chẳng mang lại điều gì cho đôi tai vốn tò mò và bận tâm kia để có thể kể lại hay phiếm đàm nơi công cộng. Nhưng Dasein có thể tường thuật điều gì từ tình trạng bất an không nhà của cái Hữu-thể-bị-ném-vào của nó? Còn lại gì cho nó ngoài cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của riêng nó được bộc lộ trong nỗi lo âu? Và ‘nó’ có thể cất tiếng gọi bằng cách nào khác ngoài việc triệu vời Dasein hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này — điều duy nhất thực trở thành vấn đề quan trọng?

Tiếng gọi không tường thuật các sự kiện; nó gọi mà không thốt ra bất cứ lời nào. Tiếng gọi diễn ngôn theo phương thức bất an không nhà của sự im lặng. Và nó làm điều này chỉ vì, khi lên tiếng gọi cái kẻ được nhắm đến, nó không lôi kéo kẻ ấy vào những phiếm đàm công cộng của cái ‘họ’, mà gọi kẻ ấy rời nơi đó quay trở lại với trạng thái kín tiếng của tiềm-năng-cho-Hữu-thể vẫn hiện hữu ở chính hắn. Khi kẻ gọi chạm đến cái kẻ được nhắm đến, nó mang theo một sự xác tín lạnh lùng — một sự xác tín đầy bất an không nhà nhưng hoàn toàn không minh nhiên. Cơ sở cho sự xác tín này nằm ở đâu, nếu không phải ở chỗ: khi Dasein đã được cá nhân hóa về với tự thân trong tình trạng đầy bất an không nhà ấy, tự thân nó trở thành một cái gì đó tuyệt đối không thể bị nhầm lẫn với bất cứ thứ gì khác? Điều gì đã triệt để tước bỏ của Dasein cái khả tính tự hiểu lầm mình thông qua bất kỳ kiểu ‘bào chữa’ hay ‘lý do thoái thác’ nào để không nhận ra chính mình, nếu không phải là tình trạng Verlassenheit bị-bỏ-mặc cho chính mình?

Trạng thái bất an không nhà là dạng thức cơ bản của Hữu-thể-trong-thế-giới, mặc dù trong đời sống thường nhật, nó đã bị che lấp. Từ chiều sâu của loại Hữu thể này, chính Dasein—với tư cách là lương tâm—đã cất tiếng gọi. Việc ‘es ruft mich’ ‘nó gọi tôi’ là một loại diễn ngôn đặc thù đối với Dasein. Tiếng gọi với tâm trạng được định hình bởi lo âu—chính là điều kiện tiên quyết cho phép Dasein phóng chiếu bản thân mình vào tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó. Tiếng gọi của lương tâm, khi được thấu hiểu về phương diện cấu thành hữu thể, lần đầu tiên làm sáng tỏ cái mà trước đây chúng ta mới chỉ dừng lại ở mức phỏng đoánvii rằng trạng thái bất an không nhà luôn đeo bám Dasein và đe dọa trạng thái đánh mất chính mình vào nơi mà Dasein đã đánh mất mình trong đó. Cái mệnh đề cho rằng Dasein đồng thời vừa là kẻ gọi vừa là kẻ được gọi nay đã không còn mang tính hình thức sáo rỗng hay vẻ hiển nhiên đơn thuần nữa. Lương tâm tự biểu hiện như là tiếng gọi của ‘chăm lo’: kẻ gọi chính là Dasein—kẻ mà trong trạng thái ‘bị ném vào’ (trong cái Hữu-thể-đã-ở-trong), luôn mang nỗi lo âu11 về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình. Kẻ được gọi cũng chính là Dasein ấy, được triệu vời hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của mình (vượt trước chính mình...). Dasein đang rơi vào cái ‘họ’ (trong Hữu-thể-đã-ở bên cạnh cái thế giới mà nó quan tâm), và tiếng gọi ấy triệu vời nó thoát khỏi tình trạng sa ngã kia. Tiếng gọi của lương tâm—hay chính là bản thân lương tâm—có cái [tr.323] khả tính bản thể luận của nó ở sự thật là Dasein, ngay trong nền tảng Hữu thể của nó, chính là ‘chăm lo’.

Do đó, chúng ta không cần phải viện đến những quyền năng có tính chất khác biệt với Dasein; thực vậy, việc trông cậy vào những sức mạnh đó chẳng những không làm sáng tỏ được trạng thái bất an không nhà của tiếng gọi, mà trái lại, còn triệt tiêu nó. Suy cho cùng, chẳng phải lý do khiến các cách ‘giải thích’ về lương tâm đi chệch hướng nằm ở chỗ chúng ta đã không quan sát đủ lâu để xác lập những phát hiện mang tính hiện tượng về tiếng gọi ấy, và ở chỗ ta đã mặc định Dasein sở hữu một loại trạng thái xác định hay bất định nào đó về mặt bản thể luận, cho dù nó có rơi vào hoàn cảnh nào đi nữa? Tại sao ta lại phải tìm kiếm thông tin từ những quyền năng xa lạ trước khi chắc chắn rằng, ngay khi bắt đầu phân tích, ta đã không đánh giá quá thấp Hữu thể của Dasein—khi coi nó như một chủ thể vô hại được phú cho ý thức cá nhân và tồn tại theo một cách thức hoặc ngẫu nhiên nào khác? Tuy nhiên, nếu kẻ gọi—vốn ‘không là ai cả’ khi nhìn theo cung cách của cái thế giới— được diễn giải như một quyền năng, thì điều này dường như là sự thừa nhận vô tư về một thứ gì đó mà ta có thể ‘bắt gặp một cách Khách quan’. Thế nhưng, khi nhìn nhận đúng đắn, cách diễn giải này thực chất chỉ là hành động trốn chạy khỏi lương tâm—một cách để Dasein lẩn tránh khỏi cái bức vách mỏng manh ngăn cách das Man cái ‘họ’ với trạng thái bất an không nhà trong Hữu thể của chính nó.

Phép diễn giải về lương tâm này tự khoác lên mình vẻ ngoài của việc thừa nhận tiếng gọi như một mệnh lệnh có tính ràng buộc ‘phổ quát’, cất lên theo cách ‘không chỉ mang tính chủ quan’. Hơn nữa, thứ lương tâm ‘phổ quát’ ấy còn được tôn lên thành ‘lương tâm-thế giới’—một thứ vẫn mang đặc tính hiện tượng của cái ‘nó’ và ‘không ai cả’, nhưng lại cất tiếng—ngay trong ‘chủ thể’ cá nhân—như một cái gì đó bất định. Nhưng cái ‘lương tâm công cộng’ này—nó là gì nếu không phải là tiếng nói của cái ‘họ’? ‘Lương tâm-thế giới’ là một sự hư cấu đáng ngờ; và Dasein chỉ có thể đi đến quan niệm này bởi lẽ lương tâm, xét về nền tảng và bản chất, luôn là của chính tôi—không chỉ theo nghĩa tiếng gọi ấy hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của một kẻ, mà còn bởi tiếng gọi ấy xuất phát từ chính cái thực thể là bản thân tôi trong mỗi trường hợp cụ thể. Với phép Diễn giải về kẻ gọi này—một cách diễn giải hoàn toàn phù hợp với tính chất hiện tượng của chính tiếng gọi—thì cái ‘quyền năng’ của lương tâm không hề bị suy giảm hay bị biến thành ‘thuần túy mang tính chủ quan’. Trái lại, chỉ bằng cách này, tính tất yếu và tính dứt khoát, không thể chối cãi của tiếng gọi mới thực sự trở nên tự do. Phép Diễn giải này lần đầu tiên thực sự tôn trọng cái ‘Khách thể tính’ của lời kêu gọi bằng cách chấp nhận cái ‘chủ thể tính’ của nó—điều tất nhiên sẽ tước bỏ quyền chi phối của cái Tự-ngã-họ. Tuy nhiên, cách lý giải lương tâm như là tiếng gọi của ‘chăm lo’ sẽ vấp phải câu hỏi: liệu có thể đứng vững được không nếu một cách lý giải về [tr.324] lương tâm lại tách biệt quá xa khỏi ‘trải nghiệm tự nhiên’? Làm sao lương tâm có thể đóng vai trò là kẻ triệu vời ta hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính mình, trong khi ở mức độ gần gũi và phổ biến nhất, nó dường như chỉ đưa ra những lời cảnh báo và quở trách? Phải chăng lương tâm lên tiếng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của ta một cách mơ hồ và trống rỗng như vậy? Hay đúng hơn, chẳng phải nó lên tiếng một cách dứt khoát và cụ thể về những thất bại, thiếu sót đã xảy ra hoặc những điều ta còn phải đối mặt hay sao? Liệu lời kêu gọi được đề cập đó xuất phát từ một lương tâm ‘xấu’ hay một lương tâm ‘tốt’? Liệu lương tâm có mang lại cho ta bất cứ điều gì tích cực không? Hay nó chỉ hoạt động theo cách thức phê phán mà thôi?

Những cân nhắc như vậy chắc chắn nằm trong quyền hạn của nó. Tuy nhiên, ta có thể yêu cầu rằng trong bất kỳ phép Diễn giải nào về lương tâm, ‘kẻ kia’ phải nhận ra trong nó cái hiện tượng đang được đề cập đến đúng như cách nó được trải nghiệm theo cách thức thường nhật. Song, việc thỏa mãn yêu cầu này không có nghĩa là cách hiểu thông thường mang tính ontic thực hữu về lương tâm phải được công nhận là erste Instanz phán quyết Sơ thẩm cho một phép Diễn giải mang tính bản thể luận. Mặt khác, những cân nhắc mà chúng ta vừa đưa ra vẫn còn là quá sớm chừng nào phép phân tích về lương tâm gắn liền với những cân nhắc đó vẫn chưa đạt được mục đích của nó. Cho đến đây, chúng ta mới chỉ cố gắng truy nguyên lương tâm – với tư cách là một hiện tượng của Dasein – đến được cái cấu thành bản thể luận của thực thể đó. Việc này nhằm chuẩn bị làm sáng tỏ lương tâm như một sự chứng thực tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính Dasein – một chứng thực nằm ngay trong bản thân Dasein.

Nhưng điều mà lương tâm chứng thực chỉ trở nên hoàn toàn xác định khi ta đã vạch rõ đặc tính lắng nghe vốn thực sự tương ứng với việc gọi. Sự thấu hiểu đích thực ‘tiếp nối’ tiếng gọi không phải là một yếu tố bổ sung đơn thuần gắn vào hiện tượng lương tâm thông qua một quá trình có thể xảy ra hoặc không. Chỉ từ sự thấu hiểu tiếng gọi và cùng với sự thấu hiểu đó, ta mới có thể nắm bắt được trọn vẹn Trải nghiệm về lương tâm. Nếu trong mọi trường hợp, kẻ gọi và kẻ được gọi đều chính là bản thân Dasein, thì bất kỳ tính trạng không nghe thấy tiếng gọi hay sự lắng nghe sai lệch về bản thân đều hàm chứa một loại Hữu thể xác định của Dasein. Về phương diện cấu thành hữu thể, một tiếng gọi lơ lửng không dẫn đến kết quả gì là một điều hư cấu bất khả. Đối với Dasein, việc ‘không dẫn đến kết quả gì’ lại mang một ý nghĩa tích cực. Do đó, chỉ bằng phép phân tích cách thức tiếng gọi được thấu hiểu, ta mới có thể đi đến thảo luận một cách tường minh về cái mà tiếng gọi truyền tải cho ta hiểu. Tuy nhiên, chỉ với sự mô tả khái quát mang tính hữu thể luận về lương tâm đã nêu ở trên, ta mới có thể hình dung theo cách cấu thành hữu thể về tiếng gọi [tr.325] ‘Có tội!’ 12 của lương tâm. Mọi trải nghiệm và phép diễn giải về lương tâm đều thống nhất ở điểm: chúng khiến cho ‘tiếng nói’ của lương tâm cất lên, theo một cách nào đó, về ‘tội lỗi’.

58. Thấu hiểu Tiếng gọi và Tội lỗi

Để nắm bắt về phương diện hiện tượng những gì ta nghe được khi hiểu lời kêu gọi, ta cần quay trở lại xem xét lời kêu gọi đó một lần nữa. Lời kêu gọi hướng tới ‘Tự-ngã-họ’ mang ý nghĩa triệu hồi cái ‘Tự ngã’ đích thực nhất của mỗi người về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình—và tất nhiên, đó với tư cách là Dasein, tức là một Hữu-thể-trong-thế-giới đầy quan tâm và là Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác. Do đó, khi Diễn giải theo cách cấu thành hữu thể về điều mà tiếng gọi hướng tới, ta không thể cố gắng khu biệt bất kỳ khả tính tồn tại cụ thể, đơn lẻ nào, miễn là ta hiểu đúng các khả tính và nhiệm vụ phương pháp luận mà một cách lý giải như vậy hàm chứa. Cái có thể được xác lập—và cũng là cái hướng tới được xác lập— lại không phải là cái được triệu vời và đến cái triệu vời với mỗi Dasein xét từ lập trường existentiell thực hữu cá nhân cụ thể, mà thay vào đó là điều kiện existential cấu thành hữu thể cho cái khả tính của tiềm-năng-cho-Hữu-thể thực hữu cá nhân cụ thể thực tính của nó.13

Khi tiếng gọi được thấu hiểu bằng một cách lắng nghe mang tính thực hữu cá nhân cụ thể, thì sự thấu hiểu đó càng trở nên đích thực khi Dasein lắng nghe và thấu hiểu cái Hữu-thể-được-gọi-về của riêng nó theo cách không-liên-đới, và khi ý nghĩa của lời kêu gọi ít bị bóp méo bởi những gì người đời bàn tán hay bởi những chuẩn mực được coi là phù hợp và được chấp nhận. Vậy, điều gì hàm chứa cốt yếu khi lời kêu gọi được thấu hiểu đích thực? Đâu là điều cốt yếu mà lời kêu gọi mang lại cho ta để thấu hiểu tại bất kỳ thời điểm nào, ngay cả khi trên thực tế, không phải lúc nào nó cũng được thấu hiểu?

Tuy nhiên, chúng ta đã trả lời câu hỏi này trong luận điểm cho rằng tiếng gọi không ‘nói’ bất cứ điều gì có thể trở thành chủ đề bàn luận, cũng như không cung cấp thông tin về các sự kiện. Tiếng gọi hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein, và nó thực hiện điều này như một tiếng gọi xuất phát từ trạng thái bất an không nhà.14 Quả thực, kẻ gọi là bất định; nhưng cái ‘nguồn cội’ phát ra tiếng gọi lại vẫn được coi là yếu tố không quan trọng đối với chính hành động gọi đó. Cái ‘nguồn cội’ này—tức là trạng thái bất an không nhà của cái cá nhân hóa do bị-ném-vào-thế-giới—cũng được gọi lên cùng với tiếng gọi; nghĩa là, nó cũng được khai mở cùng lúc. Khi tiếng gọi thúc giục ta hướng về một điều gì đó, thì ‘nguồn cội’ của hành động gọi lại chính là cái ‘đích đến’ mà ta được gọi quay trở về. Khi tiếng gọi mang đến cho ta một tiềm-năng-cho-Hữu-thể để thấu hiểu, thì nó không đưa ra một tiềm năng mang tính lý tưởng hay phổ quát; thay vào đó, nó khai mở cái tiềm năng ấy như một thứ đã được cá nhân hóa trong hiện tại và vốn thuộc về chính cái Dasein cụ thể đó. Ta chưa thể xác định trọn vẹn bản chất của tiếng gọi như một khai mở cho đến khi hiểu nó là tiếng gọi vừa thúc giục ta hướng tới phía trước, lại vừa gọi ta quay trở về. Nếu thấu hiểu tiếng gọi theo cách này và định hướng bản thân dựa vào nó, trước hết phải tự hỏi nó mang lại điều gì để thấu hiểu.

Nhưng liệu câu hỏi về điều mà tiếng gọi ấy lên tiếng chẳng phải sẽ được giải đáp dễ dàng và chắc chắn hơn nếu chúng ta ‘đơn giản’ chỉ cần viện dẫn đến cái mà ta thường nghe thấy—hoặc không nghe thấy—trong bất kỳ trải nghiệm nào về lương tâm hay sao: cụ thể là việc tiếng gọi hoặc trực tiếp kêu Dasein là ‘Có tội!’, hoặc—như trong trường hợp lương tâm đưa ra lời cảnh báo—ám chỉ đến một khả năng ‘Có tội!’ có thể xảy ra, hoặc khẳng định (với tư cách là một lương tâm ‘tốt’) cái khả năng mà ta ‘không ý thức được bất kỳ tội lỗi nào’? Dù lương tâm được trải nghiệm hay diễn giải theo cách nào đi nữa, thì mọi trải nghiệm của chúng ta đều ‘đồng thuận’ về điều này: ‘Có tội!’. Giá mà nó không bị định nghĩa theo những cách hoàn toàn khác biệt đến thế! Và ngay cả khi ý nghĩa của từ ‘Có tội!’ này có thể được hiểu theo một cách mà mọi người đều đồng thuận, thì cái quan niệm cấu thành hữu thể về cái Hữu-thể-tội-lỗi này vẫn sẽ còn mơ hồ.

Tuy nhiên, nếu Dasein tự gọi chính mình là ‘Có tội!’, thì nó có thể lấy ý niệm về tội lỗi từ đâu nếu không phải từ phép Diễn giải về chính Hữu thể của nó? Dẫu vậy, câu hỏi mới lại nảy sinh: ai là kẻ nói cho ta biết ta có tội như thế nào và ‘tội lỗi’ có nghĩa là gì? Mặt khác, ý niệm về tội lỗi không phải là thứ có thể được tưởng tượng ra một cách tùy tiện rồi áp đặt lên Dasein. Nếu việc thấu hiểu bản chất của tội lỗi là khả thể, thì cái khả tính đó hẳn đã phải được phác thảo sẵn trong Dasein. Làm thế nào để ta tìm ra manh mối dẫn đến việc hé lộ hiện tượng này? Mọi khảo sát bản thể luận về các hiện tượng như tội lỗi, lương tâm và cái chết đều phải bắt đầu từ những gì mà phép diễn giải thường nhật về Dasein ‘nói’ về chúng. Bởi vì Dasein với tư cách là loại Hữu thể ‘sa ngã’, nên cách Dasein được diễn giải phần lớn đều bị ‘định hướng’ theo lối không-chân-thực và không chạm tới được ‘bản chất’; lý do là vì phương thức đặt câu hỏi mang tính hữu thể luận thích hợp theo cách bản nguyên vẫn còn xa lạ đối với Dasein. Tuy nhiên, bất cứ khi nào ta nhìn nhận sai lệch về một điều gì đó, thì đồng thời cũng hé lộ một chỉ dẫn nào đó về cái ‘ý niệm’ bản nguyên của hiện tượng ấy.

Thế nhưng, ta sẽ lấy đâu ra cái tiêu chuẩn cho ý nghĩa cấu thành hữu thể bản nguyên của từ ‘Có tội!’? Từ thực tế là kẻ ‘Có tội!’ này xuất hiện như một vị ngữ cho cái ‘Tôi là’. Vậy thì liệu có thể điều được hiểu là ‘có tội’ trong cách diễn giải thiếu tính chân thực của chúng ta lại nằm ngay trong chính Hữu thể của Dasein, và nằm ở chỗ: hễ Dasein nào thực sự hiện hữu trên thực tế, thì Dasein đó cũng có tội? Như vậy, việc viện dẫn tiếng gọi ‘Có tội!’ — vốn ai cũng thừa nhận là mình nghe thấy — vẫn chưa giải đáp được câu hỏi về ý nghĩa cấu thành hữu thể của cái [tr.327] đã được xướng lên trong tiếng gọi đó. Cái được gọi lên cần phải khái niệm hóa trước tiên nếu ta muốn hiểu ý nghĩa của tiếng gọi ‘Có tội!’, cũng như hiểu tại sao và bằng cách nào mà ý nghĩa của nó bị biến dạng qua cách diễn giải thường nhật. Quan niệm thông thường hàng ngày trước hết hiểu Schuldigsein ‘Hữu-thể-có-tội’ theo nghĩa ‘nợ nần’, là ‘có một khoản phải trả’.15 Đó là việc phải hoàn trả cho Kẻ khác một thứ gì đó mà họ có quyền đòi hỏi. Cái Schuldigsein ‘Hữu-thể-có-tội’ hiểu theo nghĩa Schulden haben ‘mắc nợ’ này là một cách thức Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác trong phạm vi bận tâm, chẳng hạn như việc cung cấp hay mang đến một cái gì đó. Các phương thức khác của mối bận tâm này bao gồm: tước đoạt, vay mượn, giữ lại, chiếm lấy, trộm cắp, hoặc không đáp ứng — theo cách này hay cách khác — những yêu cầu mà những Kẻ Khác đặt ra đối với các tài sản của họ. Loại ‘Hữu-thể-có-tội’ này gắn liền với những gì mà ta có thể bận tâm đến. ‘Hữu-thể-có-tội’ còn mang ý nghĩa là ‘chịu trách nhiệm về’ — tức là trở thành nguyên nhân hay tác giả của một cái gì đó, hoặc thậm chí chỉ ‘là cái cớ’ dẫn đến sự việc đó. Theo nghĩa ‘có trách nhiệm’ về một điều gì đó, ta có thể ‘có tội’ mà không nhất thiết phải ‘nợ’ bất cứ ai hay rơi vào tình trạng ‘nợ’ kẻ đó. Ngược lại, ta có thể nợ kẻ khác một điều gì đó mà bản thân ta không phải là người chịu trách nhiệm về nó. Một kẻ khác có thể ‘gánh nợ’ với những Kẻ khác ‘thay cho tôi’.16

Những ý nghĩa thông thường của ‘Hữu-thể-có-tội’ với tư cách là ‘mắc nợ ai đó’ và ‘chịu trách nhiệm về điều gì đó’ – có thể song hành và xác định một kiểu hành vi mà ta gọi là ‘tự nhận trách nhiệm’; nghĩa là, khi chịu trách nhiệm về một khoản nợ, một kẻ có thể vi phạm luật lệ và khiến bản thân phải chịu chế tài trừng phạt.17 Tuy nhiên, yêu cầu mà một kẻ không đáp ứng được không nhất thiết phải liên quan đến tài sản của bất kỳ ai; nó có thể quy định chính cái cách thức mà chúng ta hiện diện cùng nhau trong không gian công cộng. Việc ‘tự nhận trách nhiệm’ thông qua hành vi vi phạm luật lệ – theo cách định nghĩa nêu trên – quả thực cũng có thể mang tính chất của việc ‘trở thành kẻ mang nợ những Kẻ Khác’.18 Điều này không chỉ xảy ra đơn thuần qua hành vi vi phạm luật lệ, mà còn thông qua việc tôi chịu trách nhiệm về tồn tại của Kẻ khác bị đe dọa, bị dẫn dắt sai lầm, hay thậm chí bị hủy hoại. Kiểu ‘trở thành kẻ mang nợ’ điều gì đó [tr.328] với những Kẻ Khác này có thể diễn ra mà không cần phải vi phạm luật lệ ‘công cộng’. Do đó, khái niệm hình thức về ‘Hữu-thể-có-tội’ — hiểu theo nghĩa đã mắc nợ một Kẻ Khác điều gì đó — có thể được định nghĩa như sau: ‘Hữu-thể-Cơ-sở cho sự thiếu hụt một điều gì đó trong cái Dasein hiện hữu người của Kẻ Khác, theo cách mà chính cái Hữu-thể-Cơ-sở này tự xác định mình như là ‘thiếu hụt theo một cách thức nào đó’ theo khuôn khổ của cái mà nó là cơ sở.’19 Kiểu thiếu hụt này chính là việc không đáp ứng được một yêu cầu nào đó vốn áp dụng cho cái Hữu-thể-với-những-Kẻ-Khác vẫn hiện hữu.

__________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Và nó được triệu gọi đến với điều gì?’ (tr.317)

2 ‘Cái tôi được triệu gọi.’ (tr.318)

3 ‘Theo khuynh hướng triệu gọi của nó, cái tôi được triệu gọi không tự mình chịu sự “thương lượng”, mà đúng hơn, như một lời kêu gọi đến bản thể sâu thẳm nhất của chính nó, nó là một lời kêu gọi hướng tới sự tồn tại vào những khả năng sâu thẳm nhất của chính nó.’ Các động từ ‘anrufen’, ‘aufrufen’ và ‘vorrufen’ đều có thể được sử dụng theo nghĩa pháp lý của một ‘lệnh triệu tập’. (tr.318)

4 ‘…một sự hiểu lầm (một sự hiểu lầm) về lời kêu gọi…’ (tr.318)

5 ‘Nó đi ngược lại bản chất tồn tại của nó khi để bản thân bị cuốn vào sự chiêm nghiệm và thảo luận.’ (tr.319)

6 ‘Nó đang gọi…’ Ở đây, đại từ ‘es’ được sử dụng khá phi cá nhân, và các tài liệu không đề cập lại đến chính ‘lời kêu gọi’ (‘Der Ruf’). (tr.320)

7 “Lời kêu gọi đến từ tôi nhưng lại ở trên tôi.” (tr.320)

8 “…người ta gán cho quyền lực đã được thiết lập một chủ sở hữu…” (tr.320)

9 “Việc nó là sự thật có thể bị che giấu về lý do tại sao, nhưng chính ‘điều đó’ lại được tiết lộ cho Dasein.” (Xem H. 135 ở trên.) (tr.321)

10 “Điều này đưa Dasein đến trước sự tồn tại của nó một cách rõ ràng và đúng đắn hơn, “rằng nó là và phải có khả năng là sự tồn tại mà nó là.”” (tr.321)

11 “…lo lắng…” Các ấn bản cũ hơn có cụm từ “sich iingstend”, về cơ bản có cùng nghĩa và đặc trưng hơn cho phong cách của Heidegger. (tr.322)

12 ‘…để nắm bắt theo cách cấu thành hữu thể “tội lỗi” được kêu gọi trong lương tâm.’ Như Heidegger sẽ chỉ ra, các từ ‘schuldig’, ‘Schuld’ và các từ phái sinh của chúng có nhiều nghĩa khác nhau, không chỉ tương ứng với ‘món nợ’, như chúng ta đã thấy ở H. 242 ở trên, mà còn với ‘tội lỗi’ và ‘trách nhiệm’. Trong chương này, chúng ta sẽ dịch chúng bằng ‘guilty’ và ‘guilt’ bất cứ khi nào có thể, mặc dù những cách diễn đạt này không phải lúc nào cũng hoàn toàn phù hợp. (tr.325)

13 ‘Không phải cái được kêu gọi theo cách cấu thành hữu thể trong Dasein tương ứng có thể và sẽ được hợp nhất vào điều này, mà đúng hơn là cái thuộc về điều kiện cấu thành hữu thể của cái khả tính về tiềm- năng-cho-Hữu-thể của Dasein thực tínhg.’ Trong các ấn bản cũ hơn, chúng ta thấy ‘an dieses’ thay vì ‘in dieses’, và ‘zur’ xuất hiện bằng kiểu chữ giãn cách. (tr.325)

14 ‘Lời kêu gọi chỉ ra sự tồn tại tiềm năng của nó, và đó như một lời kêu gọi từ điều kỳ lạ.’ (tr.325)

15 ‘Sự hiểu biết hàng ngày ban đầu diễn giải “có tội” theo nghĩa “nợ”, “có điều gì đó trên lương tâm của ai đó”.’ Mặc dù đây là cách sử dụng rất quen thuộc của từ ‘Schuldigsein’ trong tiếng Đức, nhưng tất nhiên nó không phải là cách sử dụng thông thường của từ ‘being-guilty’ trong tiếng Anh, xuất phát từ một ý nghĩa hoàn toàn khác. (tr.327)

16 ‘Theo nghĩa “có tội” về điều gì đó, người ta có thể “có tội” mà không “nợ” hoặc trở nên “có tội” với người khác. Ngược lại, người ta có thể nợ người khác điều gì đó mà bản thân không có lỗi. Người khác có thể “mắc nợ” với người khác.’ Về ‘trở nên “có tội”, xem chú thích 1 của chúng tôi, tr.334, H. 287 bên dưới. (trang 327)

17 “…điều mà chúng ta gọi là “tự làm cho mình có tội”, tức là vi phạm một quyền và phạm tội bằng cách mắc nợ.” (tr.327)

18 “…trở nên có tội đối với người khác.” (tr.327)

19 “…cơ sở thiếu hụt trong tồn tại của kẻ khác, sao cho chính cơ sở này được xác định bởi bản chất của nó là “thiếu hụt.” (tr.328)






 

 

 

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXII)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT
53. Phóng chiếu hữu thể: Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực
[P.309] Khả năng này được bộc lộ bởi vì nó trở nên khả thể thông qua Vorlaufen tiên liệu. Việc duy trì bản thân trong chân lý này—tức là xác tín về điều đã được bộc lộ—đòi hỏi con người càng phải tiên liệu nhiều hơn nữa. Chúng ta không thể tính toán sự xác thực của cái chết bằng cách xác định số lượng các trường hợp tử vong mà ta bắt gặp. Sự xác thực này hoàn toàn không thuộc loại xác thực tự duy trì trong chân lý của cái ‘hiện-diện-vô-tri’. Khi một sự vật ‘hiện-diện-vô-tri’ được phơi bày, ta bắt gặp nó một cách thuần khiết nhất nếu chỉ nhìn vào thực thể đó và để nó tự bộc lộ chính nó. Dasein trước hết phải đánh mất chính mình trong các sự kiện thực tế [Sachverhalte] (đây có thể là một trong những nhiệm vụ và khả năng của chính cấu trúc chăm lo [Sorge/ Care] nếu muốn đạt được tính khách quan thuần khiết—tức là sự vô tư/bàng quan—của bằng chứng hiển nhiên tất yếu (apodictic evidence). [Chen ngang: Sorge/ Care chăm lo - Trong triết học của Martin Heidegger, chăm lo không phải là một hoạt động thể chất đơn thuần hay một thái độ tâm lý, mà là cấu trúc bản thể luận nền tảng của Dasein hiện hữu người. 1). Chăm lo không đơn thuần là một hoạt động, vì: i) Hoạt động là điều bạn thực hiện (như sửa chữa công cụ hay giúp đỡ bạn bè; ii) Nó là nền tảng của hành động - đối với Heidegger, chăm lo chính là yếu tố tiên quyết cho phép mọi hoạt động hay tương tác với thế giới diễn ra. Tôi chỉ có thể tương tác với sự vật hay con người vì chính phương thức Hữu thể của tôi đã được định hình bởi cấu trúc chăm lo này; iii) Chăm lo không đơn thuần là một thái độ vì nó không phải là trạng thái tinh thần - thái độ là cảm xúc, tâm trạng hoặc lập trường tâm lý chủ quan mà bạn có thể chọn có hoặc bỏ đi; chăm lo là điều kiện của hiện hữu - Sorge/chăm lo có trước tâm lý học. Nó mô tả cách con người ‘bị ném’ vào thế giới, phóng chiếu bản thân về phía tương lai, và thấy mình gắn kết với các sự vật cũng như những người khác; iii) Thực tại bản thể luận: Hữu-thể-trong-thế-giới: chăm lo nghĩa là các sự vật có ý nghĩa đối với chúng ta. Dù là khi ta xử lý các công cụ/vật dụng hay khi tương tác với người khác, toàn bộ sự hiện hữu của ta đều được định hình qua cấu trúc toàn vẹn này: luôn hướng về phía trước, vượt trước chính mình, đã ở sẵn trong thế giới, và bị cuốn hút bởi các thực thể bên trong thế giới đó. 3) Ba thành phần tạo nên tính toàn vẹn về mặt cấu trúc của Sorge của chăm lo được Diễn giải như sau: i) Hữu-thể-hướng-về-phía-trước-chính-mình: Heidegger gọi đây là Existenzialität trạng thái hiện hữu của Dasein. Nó đề cập đến định hướng của Dasein đối với tương lai. Con người không phải là những vật thể tĩnh tại; chúng ta liên tục phóng chiếu bản thân vào những khả tính trong tương lai, đưa ra các lựa chọn và thấu hiểu bản thân dựa trên đích đến mà mình đang hướng tới; ii) Định nghĩa cấu trúc: Sich-vorweg ‘Hướng về phía trước chính mình’; iii) Tình trạng bị ném vào thế giới. Khái niệm: Heidegger gọi đây là Faktizität thực tính. Nó đề cập đến quá khứ. Chúng ta không chọn sự tồn tại của mình, cũng không chọn thời đại lịch sử, nền văn hóa, gia đình hay cơ thể mà mình sinh ra trong đó. Chúng ta thấy mình đã ‘bị ném’ vào một thế giới có sẵn, với những giới hạn và bối cảnh mà ta buộc phải đối mặt; iv) Định nghĩa cấu trúc: Schon-sein-in-einer-Welt ‘Đã-hiện-diện-trong-một-thế-giới’. 4) Verfallensein Sự sa ngã: Nó đề cập đến hiện tại. Đó là khuynh hướng con người đánh mất chính mình trong thế giới thường nhật, tức thời. Thay vì sống một cách đích thực, chúng ta thường bị cuốn vào những xao nhãng thường ngày, chuyện phiếm và những kỳ vọng của xã hội - điều mà Heidegger gọi là Das Man hay cái ‘họ’.- HHN] Nếu Hữu-thể-chắc-chắn về cái chết không mang đặc tính này, thì điều đó không có nghĩa là nó ở cấp độ thấp hơn, mà là nó hoàn toàn không thuộc về trật tự phân cấp của các loại bằng chứng mà ta có thể có đối với cái ‘hiện-diện-vô-tri’.

Việc công nhận cái chết là chân (cái chết là của riêng mỗi người) cho thấy một loại xác thực khác, và mang tính bản nguyên hơn bất kỳ sự xác thực nào liên quan đến các thực thể được bắt gặp trong thế giới, hay các khách thể hình thức; bởi vì nó xác tín về Hữu-thể-trong-thế-giới. Như vậy, việc công nhận cái chết là chân không chỉ đòi hỏi một kiểu hành xử nhất định ở Dasein, mà đòi hỏi chính Dasein [tr.310] trong hiện hữu đích thực trọn vẹn của nó.xviii Thông qua tiên liệu, Dasein mới có thể xác tín về cái Hữu thể cốt yếu nhất của chính mình trong tính toàn vẹn—một tổng thể tính không thể bị vượt qua hay bỏ lại phía sau. Do đó, tính chất hiển nhiên thuộc về trạng thái cho sẵn trực tiếp của các Trải nghiệm, của cái ‘Tôi’, hay của ý thức, tất yếu phải xếp sau tính chắc chắn bao hàm trong tiên liệu. Tuy nhiên, điều này không phải do phương thức nắm bắt chúng thiếu đi tính chặt chẽ, mà bởi vì về nguyên tắc, phương thức nắm bắt ấy không thể xác nhận là chân (được khai mở) mà về cốt lõi vốn vẫn kiên định đòi hỏi phải ‘có ở đó’ với tư cách là chân: đó chính là bản thân Dasein—mà chính là tôi—và là thứ hiện hữu với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, tôi chỉ có thể hiện hữu một cách đích thực thông qua tiên liệu.

Khả năng riêng biệt nhất—vốn không mang tính tương quan, không thể bị vượt qua và mang tính chắc chắn—lại bất định về mặt tính chắc chắn của chính nó. Phép tiên liệu khai mở đặc điểm này của khả tính đặc thù của Dasein như thế nào? Sự thấu hiểu mang tính tiên liệu phóng chiếu chính nó lên một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vừa chắc chắn vừa thường trực, theo cách mà yếu tố ‘khi nào’—thời điểm mà bất khả tính tuyệt đối của hiện hữu trở thành khả thể—vẫn luôn bất định? Khi tiên liệu trạng thái chắc chắn bất định của cái chết, Dasein mở lòng mình ra trước một mối đe dọa thường trực nảy sinh từ chính cái ‘có-đó’ của nó. Ngay trong mối đe dọa này, trạng thái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục phải duy trì chính nó. Nó không những không thể làm giảm nhẹ mối đe dọa này, mà trái lại, còn phải nuôi dưỡng trạng thái bất định của tính chắc chắn đó. Làm thế nào để mối đe dọa thường trực này có thể được bộc lộ một cách đích thực về phương diện hữu thể? Mọi sự thấu hiểu đều đi kèm với một tâm thế. Tâm trạng của Dasein đưa nó đối diện với trạng thái bị-ném-vào của ‘trạng thái nó vẫn có đó’. Tuy nhiên, cái tâm thế kia có thể giữ cho mối đe dọa tuyệt đối và thường trực—vốn nảy sinh từ chính cái Hữu thể cá nhân hóa cao độ của Dasein—chính là nỗi lo âu.xx1 Trong tâm thế này, Dasein thấy mình đối diện với ‘cái hư vô’ của cái bất khả tính khả thể của hiện hữu bản thân nó. Nỗi lo âu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của cái thực thể mang định mệnh như thế, và qua đó, nó khai mở cái khả tính tột cùng này. Phép tiên liệu cá nhân hóa Dasein một cách triệt để, và cho phép nó—ngay trong cái cá nhân hóa bản thân ấy—trở nên chắc chắn về tổng thể tính tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình.

Vì lý do này, nỗi lo âu—với tư cách là một tâm thế cơ bản—thuộc về sự tự thấu hiểu như vậy của Dasein, dựa trên chính bản thân Dasein.2 Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, về bản chất, chính là nỗi lo âu. Điều này được minh chứng một cách không thể chối cãi—dù chỉ là gián tiếp—thông qua Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như chúng ta đã mô tả: [p.311] khi nó biến đổi nỗi lo âu thành nỗi sợ hèn nhát, và trong quá trình vượt qua nỗi sợ ấy, nó lại chỉ bộc lộ chính tâm trạng hèn nhát của mình khi đối diện với nỗi lo âu. Giờ đây, ta có thể tóm tắt lại những đặc điểm của Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực theo cách mà ta đã phác họa trên bình diện hữu thể: phép tiên liệu phơi bày cho Dasein thấy tình trạng đánh mất chính mình trong cái they-self ‘tự ngã họ’, đồng thời đặt Dasein đối diện với cái khả tính tự-là-chính-mình—một trạng thái không dựa vào sự quan tâm lo lắng của người khác, mà thay vào đó là tình trạng tự-là-chính-mình trong một sự tự do đầy nhiệt huyết hướng về cái chết; đó là loại tự do đã thoát khỏi những ảo tưởng của cái ‘họ’, một sự tự do mang tính hiện thực, tự xác tín và đầy lo âu.

Tất cả các mối liên hệ thuộc về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết — xét đến toàn bộ nội dung của khả tính tột cùng của Dasein như chúng ta đã mô tả — đều cấu thành nên một tiên liệu; chúng cùng nhau bộc lộ, khai mở và nắm giữ khả tính này như chính cái làm cho khả tính ấy trở nên khả thể. Existential projection Phép phóng chiếu hữu thể — trong đó tiên liệu đã được xác định giới hạn — đã làm hiển lộ cái khả tính bản thể luận về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết mang tính thực hữu, cá nhân, cụ thể vốn đích thực. Tuy nhiên, cùng với nó, cái khả tính để Dasein đạt tới một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực cũng xuất hiện, nhưng chỉ như một khả tính bản thể luận mà thôi. Trong quá trình phóng chiếu hữu thể của tiên liệu, tất nhiên chúng ta vẫn bám sát các cấu trúc của Dasein đã được xác lập trước đó; và chúng ta để cho chính Dasein tự phóng chiếu bản thân mình vào cái khả tính này, thay vì áp đặt một lý tưởng hiện hữu với bất kỳ ‘nội dung’ cụ thể nào đó hay cưỡng ép Dasein phải theo một lý tưởng như vậy ‘từ bên ngoài’. Tuy nhiên, thứ Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ‘khả thể’ về phương diện existentially cấu thành hữu thể này — khi xét từ góc độ existentiell thực hữu cá nhân cụ thể — vẫn chỉ là eine phantastische Zumutung một đòi hỏi mang tính viển vông. [Chen ngang: eine phantastische Zumutung là một thuật ngữ quan trọng của Heidegger. Ý nghĩa của thuật ngữ: Trong ngữ cảnh của Heidegger: Cụm từ này được dùng để chỉ việc Dasein hiện hữu người bị ‘đòi hỏi’ phải phản diện và dự phần trước cái Hữu thể hướng đến cái chết của chính mình một cách chân thực. Thuật ngữ này giúp thừa nhận một vấn đề: Về phương diện bản thể luận, việc con người hướng tới cái chết là một khả tính; nhưng từ góc độ thực hữu cá nhân cụ thể, đó lại là một ‘đòi hỏi bất kỳ ảo’ hay một yêu cầu hoang đường – bởi vì trong cuộc sống thường nhật, không ai thực sự tỉnh táo, sẵn sàng hay chứng minh được công việc của mình liên tục sống trong sự đối diện với cái chết.-HHN] Việc một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực là khả thể về mặt bản thể luận đối với Dasein sẽ chẳng có ý nghĩa gì, chừng nào một tiềm-năng-cho-Hữu-thể tương ứng ở bình diện ontish thực hữu chưa được chứng minh ngay trong chính Dasein. Liệu Dasein có bao giờ thực sự tự ném mình vào một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy hay không? Liệu Dasein có đòi hỏi — ngay từ chính bản chất Hữu thể cốt lõi của mình — một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực được quyết định bởi tiên liệu hay không? Trước khi giải đáp những câu hỏi này, ta cần xem xét liệu Dasein có đưa ra bất kỳ sự chứng thực nào — xuất phát từ chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt lõi của nó — về khả năng đạt tới trạng thái đích thực trong hiện hữu của nó hay không; sao cho nó không chỉ cho thấy trạng thái đích thực đó là khả thể về phương diện cấu thành hữu thể, mà còn tự mình đòi hỏi điều đó. Câu hỏi về Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein và về các cấu thành hữu thể của nó vẫn còn treo trong không trung. Vấn đề này chỉ có thể được đặt trên một nền tảng hiện tượng vững chắc nếu nó có thể bám vào tính chân thực khả thể thuộc về Hữu thể của chính nó, một tính chân thực được chính Dasein xác chứng. Nếu thành công trong việc làm sáng tỏ sự chứng thực đó về hiện tượng học, cùng với nội dung được chứng thực, thì sẽ nảy sinh một vấn đề mới: việc tiên liệu về cái chết—điều mà cho đến nay chúng ta mới chỉ phác thảo dưới khía cạnh khả tính bản thể luận—có mối liên hệ thiết yếu nào với tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn đã được kiểm chứng hay không.

II SỰ CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN

[Chen ngang: Tính Quyết đoán Entschlossenheit/ resoluteness của Heidegger - Từ gốc động từ erschließen, có nghĩa là ‘mở ra’, ‘mở khóa’ hoặc ‘phơi bày/hé lộ’. Theo nghĩa đen Entschlossenheit mang ý nghĩa là ‘trạng thái không còn bị đóng kín’ hay được hé lộ, chứ không đơn thuần là sự bướng bỉnh, quyết tâm hay ý chí mạnh mẽ theo nghĩa tâm lý học thông thường. Heidegger định nghĩa lại trạng thái/tính quyết đoán, tách biệt nó khỏi ý chí đạo đức hay sự quyết định cứng nhắc thường thấy trong đời sống thường nhật. Thay vào đó, đây là một khái niệm mang tính hữu thể: i) Tách khỏi Das Man cái họ - Sự quyết đoán có nghĩa là để bản thân được đánh thức và quay trở về từ trạng thái bị cuốn vào những lời bàn tán nơi công cộng, tuân theo đám đông và các chuẩn mực xã hội vô danh của das Man; ii) Trạng thái khai mở, đó là khi Dasein hiện hữu người mở lòng đón nhận khả tính hữu thể cốt lõi nhất của chính mình; quyết đoán nghĩa là Dasein tự làm cho mình trở nên minh bạch và sẵn sàng đón nhận sự thật về hoàn cảnh của chính mình; iii) Trạng thái quyết đoán mang tính dự phóng vorwegnehmende Entschlossenheit - Quyết đoán đích thực là việc đối diện với tính hữu hạn của con người—cụ thể là ‘Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết’—nhận lãnh tình trạng ‘bị ném vao’ của mình - những điều kiện cụ thể, không do ta chọn lựa trong cuộc đời - và phóng chiếu bản thân vào hành động đích thực ngay trong ‘khoảnh khắc của sự thấu thị’ Augenblick ở hiện tại; iv) Mở ra cho Kẻ Khác - nghịch lý là sự quyết đoán đích thực không cô lập cái tôi; trái lại, nó giải phóng Dasein, cho phép Kẻ khác được là chính họ một cách đích thực thay vì lôi kéo họ vào sự tuân theo các chuẩn mực das Man cái họ nông cạn. - HHN]

54. Vấn đề Cách thức một Khả tính Thực hữu Cá nhân Cụ thể đích thực  được chứng thực.

[Tr.312] Điều chúng ta đang tìm kiếm là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein, một khả tính sẽ được chính Dasein chứng thực là Existenziell/ existenzielle Möglichkeit/ existentiell possibility khả tính thực hữu cá nhân cụ thể của nó. Tuy nhiên, bản thân sự chứng thực này trước hết phải ở dạng thức mà chúng ta có thể nhận diện được. Nếu thông qua sự chứng thực này, chính Dasein—với tư cách là thực thể có khả năng hiện hữu đích thực—được ‘ban cho’ Dasein để ‘thấu hiểu’,3 thì sự chứng thực đó phải bắt rễ từ chính Hữu thể của Dasein. Do đó, khi trình bày nó về phương diện hiện tượng học, chúng ta cũng đồng thời chứng minh rằng nó có nguồn gốc từ trạng thái Hữu thể của Dasein. Trong sự chứng thực này, một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó đích thực được trao cho chúng ta để thấu hiểu. Câu hỏi về cái ‘ai’ của Dasein đã được giải đáp bằng khái niệm Self ‘Tự Ngã’.4 Selbstheit Vị thế Tự ngã của Dasein đã được định nghĩa một cách hình thức như là một cách thức hiện hữu, và do đó không phải là một thực thể hiện-diện-vô-tri. Phần lớn thời gian, bản thân tôi không phải là cái ‘ai’ của Dasein; mà ‘Tự-ngã-cái-họ mới chính là cái ‘ai’ của nó. Cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó đích thực có hình thức xác định của một existentiell modification biến đổi thực hữu cá nhân cụ thể từ cái họ; và sự biến đổi này cần được định nghĩa về existentially phương diện cấu thành hữu thể.ii Sự biến đổi này hàm ý điều gì, và cái gì là các điều kiện bản thể luận cho khả tính của nó?.

[Chen ngang: Selbstheit/Selfhood của Heidegger, Vị thế Tự ngã của Dasein không phải là một thực thể tĩnh tại, một tâm trí hay một cái ‘tôi’ (ego), mà là một phương thức hiện hữu đầy tính động, trong đó chủ thể tự chịu trách nhiệm về sự tồn tại của chính mình. Heidegger bác bỏ dứt khoát quan điểm của Descartes về cái tôi (coi cái tôi là một chủ thể biệt lập hay một ‘vật tư duy’ quan sát thế giới khách quan). Thay vào đó, vì bản chất của Dasein là Hữu-thể-trong-thế-giới, nên tính tự thân được định hình bởi cách Dasein tương tác với các khả tính, thời gian và thực tại xã hội của chính mình. Các khía cạnh cốt lõi của Vị thế Tự ngã ở Dasein: 1) Tự ngã Động Dynamic Self so với Cái Tôi Descartes Cartesian Ego - Triết học truyền thống thường coi cái tôi như một đối tượng hoặc một chiếc bình chứa đầy những suy nghĩ. Đối với Heidegger, cái tôi là một ‘cách thức Hữu thể’ chứ không phải là một ‘vật thể’ hay ‘cái gì đó’ cụ thể. Dasein luôn trải dài theo dòng thời gian (bao gồm quá khứ, hiện tại và các dự phóng tương lai) và gắn liền với một môi trường sống. Tính tự thân chính là quá trình không ngừng định hướng trong trường hành động này và kiến ​​tạo nên bản sắc của chúng ta thông qua những lựa chọn; 2) Hai phương thức của Vị thế Tự ngã được Heidegger giải thích rằng Vị thế Tự ngã tồn tại trong trạng thái căng thẳng thường trực giữa hai phương thức cấu trúc: i) Das Man-Selbst/ the ‘They-Self’ Tự ngã Không-đích-thực hay ‘Tự-ngã-cái-họ’): Trong đời sống thường nhật, Dasein thường tồn tại trong trạng thái ‘sa ngã’. Chúng ta không hành động dựa trên lựa chọn của chính mình; thay vào đó, ta hành động theo cách cái ‘họ’ thường làm, nói theo cách cái ‘họ’ thường nói và tin vào những điều mà cái ‘họ’ tin. Ở phương thức này, tính tự thân của Dasein bị phân tán, thiếu phản tư và bị chi phối bởi sự tuân theo các chuẩn mực xã hội; ii) Eigentlichkeit/ The Authentic Self/ Ownedness Tự ngã Đích thực hay ‘Tính-thuộc-về-chính-mình’: Vị thế Tự ngã đích thực xuất hiện khi Dasein giành lại hiện hữu của mình từ ‘Tự-ngã-của-cái-họ. Điều này không có nghĩa là tìm kiếm một bản sắc nội tại thuần khiết hay ẩn giấu nào đó. Thay vào đó, nó có nghĩa là làm chủ các lựa chọn của mình, thừa nhận những giới hạn của bản thân và nhận thức rằng cuộc đời này là của riêng mình để sống. 3. Cách thức hiện thực hóa Tự ngã đích thực - Dasein chuyển từ trạng thái từ They-Self ‘Tự ngã Cái họ’ vô danh sang Tự ngã đích thực thông qua một số trải nghiệm khai mở/cấu thành hữu thể mang tính đột phá: i) Trạng thái lo âu: Một tâm thế nền tảng giúp gạt bỏ những xao nhãng thường nhật, qua đó phơi bày cho Dasein thấy rằng nó bị ném vào thế giới một mình và buộc phải tự chọn lấy ý nghĩa cho chính mình; ii) Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết: Việc đối diện với giới hạn tột cùng của sự tồn tại—tính hữu tử—đã phá vỡ ảo tưởng về ‘Tự ngã-Cái họ’. Nó buộc Dasein phải nhận thức rằng thời gian của mình là hữu hạn và mọi lựa chọn đều quan trọng; iii) Entschlossenheit Trạng thái quyết đoán là cam kết tập trung, tĩnh tại để hành động một cách đích thực và làm chủ hoàn cảnh của chính mình, ngay cả khi phải đối mặt với cảm giác tội lỗi và sự bất định.-HHN]

Với tình trạng Dasein bị mất hút vào das Man cái ‘họ’, thì cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể thực tính gần gũi nhất với nó—tức là các nhiệm vụ, quy tắc, chuẩn mực, cũng như tính cấp bách và phạm vi của cái Hữu-thể-trong-thế-giới đầy quan tâm lo lắng—đã được định đoạt từ trước. Cái ‘họ’ luôn ngăn cản Dasein nắm bắt những khả tính Hữu-thể này. Cái ‘họ’ thậm chí còn che giấu cách thức mà nó đã âm thầm gánh thay cho Dasein cái gánh nặng phải đích thân lựa chọn những khả tính ấy. Rốt cuộc, chẳng ai xác định được ai là kẻ ‘thực sự’ đã đưa ra lựa chọn. Vì thế, Dasein không tự mình lựa chọn gì cả, mà cứ để cho cái ‘không-ai-cả’ cuốn đi, và do đó tự giam hãm mình trong trạng thái phi-chân-thực. Quá trình này chỉ có thể đảo ngược nếu Dasein chủ động đưa bản thân trở về với chính mình từ trạng thái mất hút trong cái ‘họ’. Tuy nhiên, việc đưa trở về này phải có một loại Hữu thể mà chính việc bỏ lơ nó đi [tr.313] đã khiến Dasein đánh mất bản thân trong trạng thái phi-chân thực. Vì vậy khi Dasein tự đưa mình trở lại từ cái ‘họ’ như vậy, thì Tự-ngã-cái-họ sẽ được biến đổi theo phương thức thực hữu cá nhân cụ thể, để rồi trở thành Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó chân thực. Điều này phải được thực hiện thông qua Nachholen einer Wahl ‘lựa chọn lại một lựa chọn’. Nhưng việc ‘tái lựa chọn’ ấy lại mang ý nghĩa là: lựa chọn thực hiện chính sự lựa chọn này—tức là quyết định chọn một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, và đưa ra quyết định đó từ chính cái Tự ngã của mình. Khi thực hiện việc lựa chọn này, Dasein—trước hết và quan trọng nhất—đã mở ra tiềm-năng-cho-Hữu-thể chân thực của chính nó. Song, vì Dasein đang lạc lối trong cái ‘họ’, nên trước tiên nó phải tìm lại được chính mình. Để có thể tìm thấy bản thân, nó cần được tự ‘phơi bày’ về tính chân thực khả thể của mình. Xét về mặt khả tính, Dasein vốn dĩ đã là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó, nhưng nó cần được xác chứng cho tiếm năng này.

Trong Diễn giải tiếp theo, chúng tôi sẽ khẳng định rằng tiềm năng này được minh chứng bởi điều mà, trong phép tự diễn giải thường nhật của Dasein, vốn quen thuộc với chúng ta như là Stimme des Gewissens ‘tiếng nói của lương tâm’.iii Chính cái ‘sự thật’ lương tâm bị tranh cãi, mà chức năng của nó như một tòa án tối cao đối với hiện hữu của Dasein được đánh giá theo nhiều cách khác nhau, và sự thật ‘cái mà lương tâm lên tiếng’ bị diễn giải theo vô số kiểu—tất cả những điều này có thể dễ dàng khiến ta gạt bỏ hiện tượng này, nếu như chính ‘tính đáng ngờ’ của Sự thật đó—hoặc của cái cách thức mà nó được diễn giải—lại không chứng minh rằng ở đây ta đang đối diện với một hiện tượng bản nguyên của Dasein. Trong phần phân tích sau đây, lương tâm sẽ được xem như một cái gì đó mà ta đã nắm bắt được về mặt lý thuyết từ trước, và nó sẽ được khảo sát purely existential manner theo phương thức thuần túy cấu thành hữu thể, nhằm hướng tới bản thể học nền tảng của chúng ta.   

Trước hết, chúng tôi sẽ truy nguyên lương tâm về các nền tảng và cấu trúc existential cấu thành hữu thể của nó, đồng thời làm hiển lộ nó như một hiện tượng của Dasein, trong khi vẫn kiên định với những gì ta đã xác định được về trạng thái Hữu thể của thực thể này. Phép phân tích bản thể luận về lương tâm mà chúng tôi đang tiến hành có vị thế ưu tiên so với bất kỳ sự mô tả hay phân loại nào về các Trải nghiệm lương tâm, đồng thời nằm ngoài bất kỳ ‘giải thích’ mang tính sinh học nào về hiện tượng này (là cái vốn có nghĩa là tình trạng phân hủy của nó). Tuy nhiên, nó cũng hoàn toàn tách biệt khỏi việc diễn giải lương tâm theo thần học hay việc sử dụng hiện tượng này để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế hoặc để thiết lập một ý thức ‘trực tiếp’ về Thượng đế. Dẫu vậy, ngay cả khi phạm vi khảo sát về lương tâm bị giới hạn như thế, chúng ta cũng không được phép phóng đại kết quả đạt được hay đưa ra những khẳng định sai lệch làm giảm giá trị của nó. Là một hiện tượng của Dasein, lương tâm không chỉ đơn thuần là một sự thật xảy ra và đôi khi hiện-diện-vô-tri. Nó chỉ ‘có’ trong loại Hữu thể của Dasein, và chỉ bộc lộ mình như một Sự thật cùng với và ngay trong sự hiện hữu thực tính. Cái yêu cầu phải đưa ra một ‘bằng chứng thực nghiệm quy nạp’ cho ‘thực tính khách quan’ của lương tâm và cho tính chính đáng của ‘tiếng nói’ của nó, thực chất dựa trên một cách hiểu sai lệch về mặt bản thể học đối với [tr.314] hiện tượng này. [Chen ngang: ‘Thực tính’ của lương tâm được định danh chính xác bằng thuật ngữ Faktizität/Facticity, vẫn được dịch là ‘kiện tính’, còn với chúng tôi nó là Thực tính [hiện hữu người]. 1). Thuật ngữ tiếng Đức: Faktizität đối lập với Tatsächlichkeit - Heidegger phân biệt rất nghiêm ngặt giữa hai trạng thái mang nghĩa thực tính: i) Tatsächlichkeit/ Factuality/ Thực tại tính [khách quan]: Đây là thuộc tính của những vật thể ở trạng thái Vorhandenheit hiện diện vô tri, như hòn đá, cái bàn. Chúng chỉ đơn thuần hiện diện như những dữ kiện vật lý hay đối tượng kiểm nghiệm khoa học; ii) Faktizität/ Facticity/ Thực tính - Đây là thực tính độc quyền của Dasein hiện hữu người. Bản chất sự thực của con người không phải là một đồ vật tĩnh tại, mà là sự thực rằng chúng ta luôn luôn thấy mình đã bị ném vào một thế giới (Geworfenheit) có sẵn. Chúng ta không tự chọn thời đại, ngôn ngữ, hay cái chết của chính mình, nhưng chúng ta buộc phải gánh vác và sống với những thực tế đó. 2). Ý nghĩa của Faktizität/ Facticity/ Thực tính trong Lương tâm - Khi Heidegger phân tích về Lương tâm (Gewissen) thì Thực tính của nó mang những ý nghĩa cốt lõi sau: i) Đột phá khỏi đạo đức luận truyền thống - Lương tâm theo Heidegger không phải là một thực thể tâm lý hay ‘tiếng nói của Chúa’ phán xét đúng sai. Thực tính của lương tâm có nghĩa nó là một cấu trúc hữu thể có sẵn mang tính nền tảng của con người. Dù bạn có muốn hay không, lương tâm luôn ở đó như một sự thực tất yếu của Hữu thể; ii) Der Ruf der Geworfenheit Tiếng gọi của Trạng thái ‘bị ném vào’: Lương tâm hoạt động như một Ruf Tiếng gọi. Ai gọi? Chính Dasein trong sự bất an cô độc đang gọi chính nó. Tiếng gọi này có ‘Thực tính’ vì nó lay tỉnh con người ra khỏi sự lặn ngụp vô định trong das Man/ Cái họ. Nó gọi con người quay về đối diện trực tiếp với thực tính tối hậu của mình: một hiện hữu thể bị ném vào thế giới, giới hạn và Sein-zum-Tode hướng đến cái chết; iii) Lương tâm và Schuld Sự mắc nợ cấu thành hữu thể: Trong tiếng Đức, từ Schuld vừa có nghĩa là tội lỗi/mắc nợ đạo đức, vừa mang nghĩa gốc bản thể luận là ‘hư vô/ thiếu hụt’. Thực tính của lương tâm phơi bày cho con người thấy một Sự thật’ gốc rễ: Bản chất con người là một khoảng trống tự do, chúng ta phải tự lựa chọn số phận của mình dựa trên những gì có sẵn. Việc không thể tự làm chủ gốc rễ của tình trạng ‘bị ném vào đời’ chính là faktische Schuldigsein sự Mắc nợ thực tính. Lương tâm gọi ta gánh vác trách nhiệm đó; iv) Tóm lại Faktizität/ Facticity của lương tâm đối với Heidegger nghĩa là: Lương tâm không phải một lý thuyết hay một tòa án đạo đức do xã hội dựng lên, mà là một cấu thành hữu thể nền tảng. Nó là tiếng gọi thực tế, thầm lặng buộc con người phải thức tỉnh khỏi sự tha hóa thường nhật để tự quyết định và chịu trách nhiệm về sự tồn tại hữu hạn của chính mình.- HHN] Tuy nhiên, cách hiểu sai lệch kia lại là đặc điểm chung của mọi lối phê phán mang tính ‘thượng đẳng’, trong đó lương tâm bị xem như một điều gì đó chỉ xuất hiện chốc lát thay vì là một ‘Sự thật được xác lập và có thể xác định một cách phổ quát’. Giữa những lập luận chứng minh và phản chứng như vậy, cái Sự thật lương tâm lại hoàn toàn không thể tự hiện diện.  

Đây không phải là khiếm khuyết của chính nó, mà chỉ là dấu hiệu để ta nhận ra rằng, xét về mặt bản thể luận, nó thuộc một loại hình khác biệt so với những gì hiện-diện-vô-tri trong môi trường xung quanh. Lương tâm mang đến cho ta ‘một điều gì đó’ để thấu hiểu; nó thực hiện sự khai mở. Khi mô tả hiện tượng này theo cách thức hình thức như vậy, ta thấy mình được thôi thúc phải quy chiếu nó trở lại trạng thái khai mở của Dasein. Trạng thái khai mở này—vốn là trạng thái cơ bản của cái mà cái thực thể vốn là bản thân chúng ta—được cấu thành bởi tâm thế, sự thấu hiểu, tình trạng sa ngã và diễn ngôn. Nếu phân tích lương tâm một cách sâu sắc hơn, ta sẽ thấy nó hiện ra như một Ruf tiếng gọi. Việc cất tiếng gọi chính là một phương thức của diễn ngôn. Tiếng gọi của lương tâm mang tính chất của một lời kêu gọi hướng tới Dasein, triệu gọi nó về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-chính-nó đích thực nhất; và điều này được thực hiện thông qua việc triệu gọi vời nó về với cái Hữu-thể-tội-lỗi đích thực nhất của chính nó.5

Cách diễn giải mang tính cấu thành hữu thể này tất yếu khác xa với lẽ thường tình ontish thực hữu trong đời sống thường nhật, mặc dù nó trình bày các nền tảng bản thể luận cho những gì mà cách diễn giải thông thường về lương tâm vẫn luôn hiểu trong những giới hạn nhất định và khái niệm hóa thành một ‘lý thuyết’ về lương tâm. Theo đó, cách diễn giải mang tính cấu thành hữu thể của chúng ta cần được xác nhận thông qua việc phê phán cách thức mà lương tâm thường được diễn giải. Khi hiện tượng này đã được phơi bày, chúng ta có thể làm rõ mức độ mà nó chứng thực cho một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein. Tương ứng với tiếng gọi của lương tâm là một khả năng lắng nghe. Sự thấu hiểu của chúng ta về lời kêu gọi này bộc lộ chính nó như là Gewissenhabenwollen mong muốn có lương tâm. Nhưng ẩn chứa trong hiện tượng này chính là cách lựa chọn existentiell mang tính thực hữu cá nhân cụ thể mà chúng ta đang tìm kiếm—kiểu lựa chọn để chọn lấy một loại Hữu-thể-Tự-ngã-của-mình mà, xét theo cấu trúc cấu thành hữu thể của nó, chúng ta gọi là Entschlossenheit ‘tính quyết đoán’.6 Như vậy, ta có thể thấy cách phân chia các nội dung phân tích trong chương này: các nền tảng hữu thể luận-cấu thành hữu thể [tr.315] của lương tâm (Mục 55); tính chất của lương tâm như một tiếng gọi (Mục 56); lương tâm như là tiếng gọi của quan tâm/lo âu (Mục 57); sự thấu hiểu tiếng gọi và tình trạng tội lỗi (Mục 58); cách diễn giải cấu thành hữu thể về lương tâm và cách lương tâm thường được diễn giải (Mục 59); cấu trúc cấu thành hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực được chứng thực trong lương tâm (Mục 60).

55. Nền tảng Hữu thể luận-Cấu thành hữu thể của Lương tâm

Trong hiện tượng lương tâm, chúng ta nhận thấy—mà chưa cần đến sự phân biệt chi tiết hơn là — bằng cách nào đó, nó mang lại cho chúng ta điều gì đó để thấu hiểu. Phép phân tích của chúng ta bắt đầu từ cách phát hiện này. Lương tâm khai mở, và do đó thuộc về phạm vi các hiện tượng cấu thành hữu thể cấu thành nên Hữu-thể của cái ‘có-đó’ như là trạng thái khai mở.iv Chúng ta đã phân tích các cấu trúc phổ quát nhất của tâm thế, sự thấu hiểu, diễn ngôn và tình trạng sa ngã. Nếu đưa lương tâm vào bối cảnh hiện tượng này, thì đó không phải là vấn đề áp dụng một cách máy móc các cấu trúc này vào một ‘trường hợp’ phơi bày đặc biệt của Dasein. Ngược lại, phép Diễn giải về lương tâm không chỉ phát triển thêm phép phân tích trước đó về tình trạng khai mở của cái ‘có-đó’, mà còn nắm bắt nó một cách bản nguyên hơn liên quan đến cái Hữu thể đích thực của Dasein.

Thông qua tình trạng khai mở, cái thực thể mà chúng ta gọi là ‘Dasein’ luôn ở trong cái khả tính là chính cái ‘có-đó’ của nó. Cùng với thế giới của mình, nó có đó cho chính nó—và quả thực, trước hết và phần lớn là theo cách thức mà nó đã tự khai mở cho chính mình cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó trong khuôn khổ của cái ‘thế giới’ quan tâm của nó. Dasein tồn tại như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà, trong mỗi trường hợp, đã tự phó mặc cho những khả tính xác định.7 Và nó tự phó mặc cho những khả tính này bởi vì nó là một thực thể đã bị ném vào, và là một thực thể mà trạng thái bị ném đó được bộc lộ rõ ​​ràng và ấn tượng hơn hay kém tùy thuộc vào tâm trạng của nó. Sự thấu hiểu luôn gắn liền một cách bình đẳng và đồng bản nguyên với bất kỳ tâm thế hay tâm trạng nào. Theo cách này, Dasein ‘biết’ bản chất và khả năng của chính mình, tùy thuộc vào việc nó đã tự phóng chiếu bản thân vào các khả tính của chính mình hay đã bị cuốn vào das Man cái ‘họ’ đến mức để cho những khả tính đó được trình ra trước nó thông qua cách thức mà cái ‘họ’ diễn giải sự vật một cách công khai. Tuy nhiên, việc đưa trình các khả tính này trở nên khả thể existentially về phương diện cấu thành hữu thể nhờ vào cái sự thật là Dasein—với tư cách là một Hữu-thể-với vốn thấu hiểu—có thể lắng nghe những Kẻ Khác. Khi đánh mất chính mình trong tính công khai và phiếm đàm của cái ‘họ’, nó đã không nghe thấy cái Tự ngã của chính mình vì mải lắng nghe das Man-Selbst tự-ngã-của-cái-họ.

Nếu Dasein muốn được đưa trở lại từ trạng thái đánh mất bản thân do không nghe thấy chính mình, và nếu điều này phải được thực hiện bởi chính nó, thì trước hết nó phải có khả tính tìm thấy chính mình—tìm thấy [tr.316] chính mình như một thực thể đã không nghe thấy bản thân, và thực thể đó không nghe thấy chính mình vì mải hướng sự lắng nghe ra bên ngoài về phía cái ‘họ’.8 Sự lắng nghe hướng ra bên ngoài này cần phải bị cắt đứt; nói cách khác, cái khả tính về một kiểu lắng nghe khác—kiểu lắng nghe sẽ làm gián đoạn sự lắng nghe hiện tại—phải do chính Dasein đưa cho.9 Cái khả tính bị ngắt quãng như vậy bắt nguồn từ việc Dasein được kêu gọi một cách trực tiếp, không qua trung gian. Dasein thường không nghe thấy chính mình mà lại hướng sự chú ý ra bên ngoài, lắng nghe das Man cái ‘họ’; và sự lắng nghe hướng ngoại này bị phá vỡ bởi tiếng gọi, nếu tiếng gọi ấy—đúng với bản chất của nó—khơi dậy một kiểu lắng nghe khác; kiểu lắng nghe này, khi đặt trong tương quan với kiểu lắng nghe đã bị đánh mất kia,10 lại mang đặc tính hoàn toàn trái ngược. Nếu trong kiểu lắng nghe đã bị đánh mất đó, người ta từng bị mê hoặc bởi cuồn cuộn thanh âm ‘om sòm’ của vô vàn những điều mơ hồ—thứ vốn hiện diện trong những cuộc phiếm đàm với vẻ ‘mới mẻ’ thường nhật—thì tiếng gọi kia phải cất lên mà không hề om sòm và đầy dứt khoát, không để lại bất kỳ kẽ hở nào cho sự tò mò bám víu. Thứ mang lại cho ta sự thấu hiểu thông qua cách thức kêu gọi như vậy, chính là lương tâm.

Chúng ta coi tiếng gọi như một phương thức của diễn ngôn. Diễn ngôn làm sáng tỏ tính khả tri. Việc mô tả lương tâm như một tiếng gọi không chỉ đơn thuần là đưa ra một ‘hình ảnh’, chẳng hạn như cách Kant hình dung lương tâm như một tòa án công lý. Tuy nhiên, việc phát âm thành tiếng không phải là yếu tố cốt yếu của diễn ngôn, và do đó cũng không phải của tiếng gọi; điều này không được phép bỏ qua. Diễn ngôn vốn đã được tiền giả định trong bất kỳ sự biểu đạt hay Ausrufen ‘lên tiếng’ nào. Nếu cách hiểu thông thường thừa nhận một ‘tiếng nói’ của lương tâm, thì người ta không thực sự nghĩ đến một lời phát ngôn (vì trên thực tế, ta không bao giờ bắt gặp điều đó); ‘tiếng nói’ ấy được hiểu đúng hơn là một sự truyền đạt để ta thấu hiểu. Trong khuynh hướng bộc lộ vốn thuộc về tiếng gọi, ẩn chứa động lực của một sự thúc đẩy—một sự đánh thức đột ngột. Tiếng gọi vang lên từ xa và hướng về phía xa. Nó chạm đến kẻ đang muốn được đưa trở lại. Nhưng với cách mô tả lương tâm này, chúng ta mới chỉ phác thảo chân trời hiện tượng để phân tích cấu trúc cấu thành hữu thể của nó. Chúng ta không [tr.317] so sánh hiện tượng này với một tiếng gọi thông thường; chúng ta hiểu nó như một dạng diễn ngôn—trong khuôn khổ của trạng thái khai mở vốn cấu thành nên Dasein. Khi xem xét điều này, ngay từ đầu chúng ta đã tránh con đường đầu tiên thường được chọn cho một phép Diễn giải lương tâm—đó là quy nó về một năng lực tâm lý nào đó như sự hiểu biết, ý chí, hay cảm xúc, hoặc giải thích nó như một sự pha trộn giữa các yếu tố này. Khi đối diện với một hiện tượng như lương tâm, ta nhận thấy sự bất cập—xét về mặt bản thể luận-nhân học của một khuôn khổ các năng lực tâm lý hay hành động cá nhân thả nổi và chỉ được phân loại một cách máy móc.vi

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Die Befindlichkeit aber, welche die ständige und schlechthinnige, aus dem eigensten vereinzelten Sein des Dasiens aufsteigende Bedrohung seiner selbst offen zu stopen vermag, ist die Angst.’ Lưu ý rằng ‘welche’ có thể được hiểu là chủ ngữ hoặc tân ngữ trực tiếp của mệnh đề quan hệ. [tr.310]

2 ‘… gehört zu dieem Sichverstehen des Daseins aus seinem Grunde die Grund-. befindlichkeit der Angst.’ Không rõ về mặt ngữ pháp liệu 'seinem' ám chỉ 'Sichverstehen' hay 'Daseins' [tr.310].

3 ‘…wenn sie dem Dasein es selbst in seiner moglichen eigentlichen Existem; “zu verstehen geben”…' [p.312]

4 'Der Gewissensruf hat den Charakter des Anrufs des Daseins auf sein eigenstes Selbstseinkonnen und das in der Weise des Aufrufs zum eigensten Schuldigsein.' Bản dịch của chúng tôi về 'Anruf' là 'sự kêu gọi' và 'Aufruf' là 'sự triệu tập' đã che giấu mối liên hệ từ nguyên của những cách diễn đạt này với 'Ruf', mà ở đây chúng tôi dịch là 'gọi' - một từ mà chúng tôi đã sử dụng khi dịch các cách diễn đạt như 'nennen', 'heissen', và một số từ khác. Động từ 'anrufen' ('khiếu nại') có nghĩa đen là 'gọi đến'; 'einen auf etwas anrufen' có nghĩa là 'gọi ai đó và gọi anh ta đến điều gì đó'. Tương tự 'aujrufen' ('triệu tập') có nghĩa là 'gọi lên' ; 'einen zu etwas aufrufen' có nghĩa là 'kêu gọi ai đó làm việc gì đó mà anh ta phải làm', theo nghĩa thách thức anh ta hoặc 'kêu gọi' anh ta đạt đến mức hiệu suất cao hơn. [tr.314]

5 ‘…das gesuchte exenzielle Wahlen der Wahl cines Se!bstseins, das wir, seiner tồn tại Struktur entsprechend, die Entschlossenheit nennen.' Mặc dù bản dịch của chúng tôi vẫn giữ lại sự mơ hồ về mặt ngữ pháp của nguyên bản tiếng Đức, nhưng từ đoạn H. 298, có thể thấy rõ rằng từ quy chiếu (tiền ngữ) của mệnh đề quan hệ thứ hai là 'Selbstsein' ('một dạng thức của việc-là-chính-mình'), chứ không phải 'Wahlen' ('việc lựa chọn'). [tr.314]

6 'Das Seinkonnen, als welches das Dasein existiert, hat sich je schon bestimmten Moglichkeiten iiberlassen.’ [tr.315]

7 ‘…sich selbst, das sich iiberhort hat und iiberhort im Hinhiiren auf das Man.’ Trong đoạn này, Heidegger khai thác ba biến thể của động từ ‘horen’ (nghe/lắng nghe): ‘horen auf…’ (tương đương với ‘lắng nghe...’ trong tiếng Anh), ‘iiberhoren’ (‘không nghe thấy’ hoặc ‘bỏ qua không nghe’), và 'hinhoren' ('hướng sự chú ý lắng nghe ra bên ngoài'). Động từ 'iiberhoren' có hai cách dùng khá khác biệt. Nó có thể mang nghĩa là hành động 'nghe' của một giáo viên khi họ 'nghe' học sinh đọc thuộc lòng bài học; nhưng nó cũng có thể mang nghĩa là 'không nghe thấy', thậm chí là 'phớt lờ' điều gì đó. Đây dường như là ý nghĩa mà Heidegger chú trọng nhất; tuy nhiên, có lẽ ông cũng muốn ám chỉ rằng khi một người bị cuốn vào cái "họ" (das Man), người đó chỉ 'nghe' thấy Bản thân mình theo kiểu một giáo viên làm việc chiếu lệ: 'nghe' học sinh đọc bài mà không 'thực sự lắng nghe' nội dung đó. Trong tiếng Đức thông thường, động từ 'hinhoren' hầu như chỉ có nghĩa đơn thuần là 'lắng nghe'; nhưng Heidegger lại nhấn mạnh vào tiền tố 'hin-', gợi ý rằng người ta đang lắng nghe một điều gì đó khác biệt với chính mình—tức là hướng sự chú ý lắng nghe ra bên ngoài, và trong trường hợp này là lắng nghe cái 'họ'. Các động từ khác liên quan đến nghe và lắng nghe, xem Mục 34 ở trên, đặc biệt là từ đoạn H. 163 trở đi. [tr.316]

8 ‘Dieses Hinhoren muss gebrochen, das heisst es muss vom Dasein selbst die Moglichkeit eines Horens gegeben werden, das jenes unterbricht.’ [tr.316]

9 ‘…zum verlorenen Horen…’ Người ta có thể nghi ngờ rằng 'mất thính lực' là khả năng nghe mà người ta 'mất' do 'không nghe được' ; nhưng Heidegger có thể muốn nói đúng hơn là kiểu nghe mà người ta thực hiện khi người ta lạc vào “họ”-‘Uberhoren’ của Bản ngã của chính mình và ‘Hinhoren’ đối với ‘họ’. [tr.316]

10 'Bạn có đang tức giận không?' [tr.217]