Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. Vấn đề Cơ bản của Triết học và Câu hỏi về Con người
[Tr.15] Việc triết học phải đặt câu hỏi về sự tồn tại của các hữu thể không phải là một phát minh tùy ý của Aristotle; triết học cổ đại đã quan tâm đến câu hỏi này ngay từ thuở ban đầu. Đó không phải là một câu hỏi có thể tùy tiện thay thế bằng một câu hỏi khác, như trường hợp, chẳng hạn, khi người ta xem xét liệu bây giờ nên nghiên cứu về côn trùng hay động vật có vú. Và cũng vì lý do tương tự, bởi vì câu hỏi về sự tồn tại không phải là võ đoán và không được áp dụng cho con người một cách ngoại tại, mà ít nhiều khuấy động trong con người chừng nào hắn còn tồn tại với tư cách là con người, và bởi vì Dasein Hiện hữu/Có đó của con người dường như đảm nhận câu hỏi này cùng với sự tồn tại của con người, nên câu hỏi này, như một vấn đề đang phát triển, có những nhu cầu riêng của nó. Đó là lý do tại sao những nhu cầu này thể hiện rõ ngay từ những bước đi đầu tiên của triết học. Đặc biệt ở đây, lĩnh vực này trở nên khả kiến, mặc dù vẫn còn mơ hồ, trên đó diễn ra Γιγαντομαχία, Gigantomakhia Γιγαντομαχία περί του όντος, cuộc chiến của những người khổng lồ để giành lấy Hữu thể. [Ghi chú về việc này được viết trong Σοφιστής ἢ περὶ τοῦ Ὄντος, λογικός τοῦ Πλάτωνος Sophist 246a4–246c3 của Plato: Καὶ μὴν ἔοικέ γε ἐν αὐτοῖς οἷον γιγαντομαχία τις εἶναι διὰ τὴν ἀμφισβήτησιν περὶ τῆς οὐσίας πρὸς ἀλλήλους. {ΘΕΑΙ.} Πῶς; {ΞΕ.} Οἱ μὲν εἰς γῆν ἐξ οὐρανοῦ καὶ τοῦ ἀοράτου πάντα ἕλκουσι, ταῖς χερσὶν ἀτεχνῶς πέτρας καὶ δρῦς περιλαμβάνοντες. τῶν γὰρ τοιούτων ἐφαπτόμενοι πάντων διισχυρίζονται τοῦτο εἶναι μόνον ὃ παρέχει προσβολὴν καὶ ἐπαφήν τινα, ταὐτὸν σῶμα καὶ οὐσίαν ὁριζόμενοι, τῶν δὲ ἄλλων εἴ τίς <τι> φήσει μὴ σῶμα ἔχον εἶναι, καταφρονοῦντες τὸ παράπαν καὶ οὐδὲν ἐθέλοντες ἄλλο ἀκούειν. {ΘΕΑΙ.} Ἦ δεινοὺς εἴρηκας ἄνδρας· ἤδη γὰρ καὶ ἐγὼ τούτων συχνοῖς προσέτυχον. {ΞΕ.} Τοιγαροῦν οἱ πρὸς αὐτοὺς ἀμφισβητοῦντες μάλα εὐλαβῶς ἄνωθεν ἐξ ἀοράτου ποθὲν ἀμύνονται, νοητὰ ἄττα καὶ ἀσώματα εἴδη βιαζόμενοι τὴν ἀληθινὴν οὐσίαν εἶναι· τὰ δὲ ἐκείνων σώματα καὶ τὴν λεγομένην ὑπ’ αὐτῶν ἀλήθειαν κατὰ σμικρὰ διαθραύοντες ἐν τοῖς λόγοις γένεσιν ἀντ’ οὐσίας φερομένην τινὰ προσαγορεύουσιν. ἐν μέσῳ δὲ περὶ ταῦτα ἄπλετος ἀμφοτέρων μάχη τις, ὦ Θεαίτητε, ἀεὶ συνέστηκεν. Phiên bừa: KHÁCH: Thế chẳng lẽ các vị không hay bên trong họ có cái gì đó giống hệt cuộc chiến giữa các vị thần và những gã khổng lồ, để giành giật bản thể ư?. THEAETETUS: Sao vậy? KHÁCH: Những kẻ từ cõi thiên đường vô dạng giáng trần đều trúng thương, chúng vụng về dùng tay ghì chặt những tảng đá sắc, gốc sồi già sần sùi. Khi túm lấy tất cả những thứ này, chúng khăng khăng rằng chỉ những gì có thể xúc chạm mới tồn tại, vì chúng coi bản thể cũng giống hệt với thân thể. Nhưng đối với bất kỳ kẻ nào khác coi một thứ gì đó không tồn tại thân thể, thì chúng hoàn toàn khinh thường và sẽ không thèm nghe hắn nữa.— THEAETETUS: Ông đang nói về những kẻ đáng sợ đấy; vì chính ta cũng thường gặp phải chúng. KHÁCH: Những thứ mà bọn đó tranh luận cho rằng chúng đang tự vệ từ bên trên, là những thực thể phi vật chất, khả tri và chúng đang tấn công dữ dội vào bản thể chân thực; nhưng chúng, bằng cách phá vỡ thân xác và chân lý mà chúng nói ra, lại tuyên bố rằng chúng được tạo ra thay vì bản thể. Và trong tình huống đó, hỡi Theaetetus, một trận chiến lớn giữa hai bên đã bùng nổ.” HHN]. Đối với Parmenides, việc minh định bản thể diễn ra bằng cách phản ánh về νοεῖν noein ‘tư duy’, biết εῖναi einai là tri thức về các hiện hữu. Khám phá của Plato về những ‘ý tưởng’, vốn là những quy định về bản thể, hướng đến cuộc trò chuyện giữa linh hồn với bản thân cái φυχή λόγος psykhē logos - logos linh hồn. Được dẫn dắt bởi câu hỏi về οὐσία ousia bản thể, Aristotle thu được các phạm trù bằng cách quy chiếu đến tri thức vị ngữ của lý trí: λόγος-νοῦς -Lý trí-Tâm trí. Trong cuộc tìm kiếm substantia bản thể, Descartes đặt nền móng cho prima philosophia ‘triết học đầu tiên’ một cách rõ ràng trên res cogitans thực thể tư duy, tức là animus phần vô thức nam tính trong tâm thức phụ nữ. Vấn đề siêu nghiệm, tức là vấn đề bản thể học, hướng tới sự tồn tại của Kant (câu hỏi về khả tính kinh nghiệm) di chuyển trong chiều kích của ý thức, của chủ thể hành động tự do (tính tự phát của cái tôi). Đối với Hegel, bản chất được định nghĩa từ chủ thể. Cuộc tranh giành bản thể chuyển sang lĩnh vực tư duy, của việc đưa ra các tuyên bố, của linh hồn, của chủ thể tính. Dasein/ hiện hữu của con người chuyển lên vị trí trung tâm! Tại sao lại như vậy? Có phải là ngẫu nhiên mà cuộc chiến chuyển sang lĩnh vực này? Có phải là do ý thích của các nhà triết học, theo quan điểm thế giới hoặc đạo đức mà mỗi người mong muốn, theo mức độ quan trọng mà họ cho là cái ‘Tôi’ trong mỗi trường hợp? Phải chăng đó là một sự nhiệt tình kỳ lạ, phi lý đối với chiều sâu tâm hồn, hay một sự trân trọng đặc biệt đối với nhân cách tự do, hay một chủ thể luận mù quáng, mà ở đây, trong vấn đề cơ bản này, đã chọn Dasein của con người, như vậy, làm chiến trường? Không phải tất cả những điều đó! Thay vào đó, nội dung liên quan đến chính vấn đề cơ bản, và chỉ riêng điều này, mới đòi hỏi chiến trường này, biến chính Dasein con người thành chiến trường đặc quyền này.
Bởi vì đây không phải là một kịch trường thờ ơ mà trận chiến từng được đặt bày trên đó [tr.16], mà trận chiến nảy sinh từ chính mảnh đất của chiến trường này, bùng phát từ Dasein con người như vậy - cụ thể là bởi vì câu hỏi về tồn tại, nỗ lực hiểu biết về tồn tại, là yếu tố quyết định cơ bản của tồn tại.* [*Ở đây, từ ‘Existenz’ đã mang trọn ý nghĩa về sự tồn tại trong thế giới, vốn được phát triển trong tác phẩm ‘Being and Time’ Hữu thể và Thời gian và được những người khác phát triển thành Existentialism chủ nghĩa hiện sinh và Existenzphilosophie triết học hiện sinh.] Một khi hiểu rõ, thì nhiệm vụ duy nhất, là nhận ra rằng Dasein con người tự nó là một hữu thể và do đó cũng thuộc về câu hỏi Hữu thể của các hiện hữu. Nhưng nếu Dasein, theo đúng nghĩa, cấu thành nên chiến trường cho vấn đề triết học trung tâm, thì nó sẽ càng được khai mở rõ ràng, sắc bén và độc đáo hơn khi chính chiến trường đó rõ ràng, sắc bén và độc đáo hơn - liên quan đến vấn đề dẫn dắt về hữu thể. Vậy thì hữu thể về bản chất là nền tảng và cơ sở cho vấn đề, Dasein của con người, trước hết phải được định nghĩa đầy đủ trong hữu thể cụ thể của nó liên quan đến vấn đề dẫn dắt của hữu thể.
Theo hướng vấn đề cơ bản này, việc xác quyết Dasein con người nằm ở cách thấu hiểu cái mà chúng ta gọi là sự hiểu-biết-về-hữu-thể thuộc về cấu thành hữu thể luận của Dasein. Dasein con người là một hữu thể với một loại hữu thể mà về bản chất nó phụ thuộc để hiểu một cái gì đó giống như hữu thể. Chúng ta gọi đây là cái siêu việt của Dasein, cái siêu việt nguyên thủy (xem phần chính thứ hai của khóa học). Chính trên cơ sở siêu việt mà Dasein hành xử với các hiện hữu, luôn luôn đã được liệng vào các hiện hữu như một tổng thể. Hiểu biết về hữu thể không phải là một năng lực trong số những năng lực khác, mà là điều kiện cơ bản cho khả tính của Dasein theo đúng nghĩa. Bởi vì việc hiểu biết về bản thể thuộc về cấu thành thiết yếu của con người, nên câu hỏi về hữu thể, được hiểu theo cách đã đề cập, là một loại câu hỏi, thậm chí là câu hỏi quan trọng nhất, về bản thân con người. Trong lịch sử sâu xa nhất của nó, Dasein con người mang trong mình số phận của triết học. Chỉ có Dasein mới trao số phận này và giao phó nó hết lần này đến lần khác cho những khả tính của con người. Câu hỏi cơ bản của triết học, câu hỏi về hữu thể, nếu được hiểu đúng đắn, tự nó là câu hỏi về con người. Nếu được hiểu đúng đắn, đó là một câu hỏi về con người ẩn giấu trong lịch sử triết học và trong lịch sử này nó sẽ tiếp tục tiến về phía trước, nhưng sẽ phải được đưa ra ánh sáng một cách mới mẻ theo từng khoảnh khắc. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nêu vấn đề về con người bằng cái nhìn về vấn đề hữu thể. Khi đó, vấn đề này hoàn toàn khác xa với bất kỳ cách thức tự cho mình là quan trọng ồn ào nào liên quan đến đời sống tâm hồn của chính mình hoặc của những kẻ khác. [tr.17]
Câu hỏi triết học cơ bản này về con người vẫn luôn có trước mọi tâm lý học, nhân học và tính cách học, [Tính cách học, từ tiếng Hy Lạp cổ χαρακτήρ character tính cách và –λογία logia là ngành nghiên cứu học thuật về tính cách, vốn nổi bật ở các nước nói tiếng Đức vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20; nó được coi là một nhánh lịch sử của tâm lý học tính cách, mở rộng sang phân tâm học và xã hội học; tên gọi này có từ năm 1867, do nhà triết học người Đức Julius Bahnsen giới thiệu, mặc dù bản thân ngành học này có từ thời cổ đại; trong tâm lý học Đức, thuật ngữ ‘tính cách’ thường được sử dụng thay cho personality ‘nhân cách’; như vậy, tính cách học là nghiên cứu về nhân cách, sự phát triển của nó và sự khác biệt giữa các cá nhân; tuy nhiên, thuật ngữ ‘nhân cách’ , vốn chiếm ưu thế trong tiếng Anh, lại được ưa chuộng hơn sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc-HHN] cũng như trước mọi đạo đức học và xã hội học. Thực tế thì những lĩnh vực nói trên xuất hiện ở bất cứ nơi nào câu hỏi này được nêu ra một cách rõ ràng, thậm chí còn được coi là thiết yếu thay thế nó, chỉ chứng tỏ một điều: câu hỏi này, và cùng với đó là vấn đề cơ bản của triết học, không dễ tiếp cận và sẽ không bao giờ dễ tiếp cận. Vì lý do này, nó cũng liên tục bị phép ngụy biện đe dọa. Còn gì dễ hơn, bằng cách thoải mái và thú vị, khiến cho con người quan tâm đến những con người khác, liệt kê cho họ những phức cảm, tiềm năng, quan điểm, sự phiến diện và những thiếu sót của họ, và nói rằng đó là triết học? Điều quan trọng là con người, theo nghĩa ngụy biện này, trở nên hoàn toàn không liên quan đến câu hỏi triết học cơ bản về con người được hiểu đúng đắn. Triết học không bao giờ hối hả ‘bận rộn’ với con người, trong đó con người không bao giờ tự cho mình là đủ quan trọng. Một sai lầm cơ bản của thời đại chúng ta là tin rằng hiểu biết ‘sâu sắc’ về con người có thể đạt được bằng cách mò mẫm trong những điều nông cạn tầm thường.
Dasein/ Hiện hữu người chỉ đạt được chiều sâu khi nó tự mình thành công, trong sự tồn tại của chính nó, bằng cách trước hết vượt lên chính mình – đến giới hạn của nó. Chỉ từ độ cao của sự phóng chiếu này, nó mới thoáng thấy được chiều sâu thực sự của mình. Việc câu hỏi hữu thể luận cơ bản của triết học bằng cách nào đó liên quan đến toàn thể hiện hữu, cũng như do đó liên quan đến sự tồn tại của con người và theo cách mà sự tồn tại của một kẻ làm triết học được quyết định trong mỗi trường hợp, điều này được thể hiện trong Aristotle qua thực tế là ‘triết học đầu tiên’ đồng thời lại θεολογίκή theologikē mang tính thần học. Triết học, trong nền tảng sâu sắc nhất của nó, là tri thức khái niệm triệt để, phổ quát và chặt chẽ nhất. Nhưng chân lý của tri thức này không phải là chân lý của những mệnh đề trôi nổi, có thể biết được một cách võ đoán về bất kỳ sự kiện nào. Bằng chứng của chân lý triết học chỉ nằm ở lòng trung thành mà cá nhân triết học hóa dành cho chính mình.
Chúng ta không triết lý để trở thành triết gia, cũng không phải để tạo dựng cho bản thân và những kẻ khác một thế giới quan có ích có thể mua được như áo khoác và mũ. Mục tiêu của triết học không phải là một hệ thống thông tin thú vị, cũng không phải là sự giáo dục tình cảm cho những tâm hồn đang lung lay. Chỉ kẻ nào đã quyết tâm trao phẩm giá tự do cho Dasein trong những khả năng căn bản và phổ quát của nó, điều duy nhất khiến nó phù hợp để chống chọi với sự bất định còn lại [tr.18] và sự bất hòa sâu sắc, đồng thời không bị ảnh hưởng bởi tất cả những lời nói suông của ngày hôm nay, mới có thể triết lý. Thực tế, có một thế giới quan triết học, nhưng nó không phải là kết quả của triết học và không được gắn liền với nó như một công thức thực tiễn cho cuộc sống. Nó nằm ở chính bản thân việc triết lý. Do đó, không bao giờ đọc ra được từ những gì nhà triết học có thể nói rõ ràng về các vấn đề đạo đức, mà nó chỉ bắt đầu hiện hình trong toàn bộ tác phẩm triết học. Như vậy, kết quả của một nỗ lực triết học cũng có một đặc điểm khác biệt về cơ bản so với việc tiếp thu các ngành khoa học cụ thể. Chắc chắn rồi, triết lý - và đặc biệt là triết học - luôn phải được tiến hành thông qua một kiến thức khái niệm chặt chẽ và phải luôn nằm trong phạm vi của tri thức đó, nhưng tri thức này chỉ được nắm bắt trong nội dung đích thực của nó khi toàn bộ sự tồn tại được nắm bắt từ gốc rễ mà triết học tìm kiếm - trong tự do và bởi tự do. Vấn đề về hiện hữu, và các biến thể cùng khả tính của nó, về bản chất là vấn đề về con người được hiểu đúng đắn. So với sự trường tồn của các thiên hà trong vũ trụ, thì tồn tại và lịch sử con người thật là phù du, chỉ như một ‘khoảnh khắc’. Nhưng đó lại là phương thức hiện hữu cao nhất khi nó trở thành một tồn tại bên ngoài tự do và hướng tới tự do. Cấp độ và loại hình hiện hữu không phụ thuộc vào thời gian!
V. Vấn đề Cơ bản của Logic Triết học
Những chỉ dẫn sơ lược về triết học cần làm rõ hai điều: (1) Triết học là trithức khái niệm chặt chẽ về Hiện hữu; (2) Tuy nhiên, điều này chỉ đúng nếu việc nắm bắt trong tự thân khái niệm này là nhận thức triết học về Dasein/Hiện hữu trong tự do. Lưu ý: Bạn không thể đến với triết học bằng cách đọc nhiều sách triết học khác nhau, cũng không phải bằng cách tự hành hạ mình bằng việc giải mã những bí ẩn của vũ trụ, mà chỉ và chắc chắn bằng cách không né tránh những gì cốt yếu trong những gì bạn gặp phải trong Dasein hiện tại của bạn dành cho việc học tập hàn lâm. Không né tránh là rất quan trọng, vì triết học vẫn tiềm ẩn trong mọi tồn tại người và không cần phải được thêm vào từ nơi nào khác nữa. Nhưng ‘logic’ có liên quan gì đến tất cả những điều này? Logic có liên quan gì đến tự do của tồn tại? Ở đây câu hỏi cơ bản về hiện hữu thuộc về là như thế nào? Logic không trực tiếp đề cập đến hiện hữu, mà đề cập đến tư duy. ‘Tư duy’ dĩ nhiên là một hoạt động và hành vi của con người, nhưng vẫn chỉ là một hoạt động trong số nhiều hoạt động khác. Việc nghiên cứu tư duy như một hình thức hoạt động của con người [tr.19] sẽ thất bại dưới góc độ khoa học về con người, dưới góc độ nhân học. Tất nhiên, nhân học không phải là trọng tâm triết học, mà chỉ báo cáo về cách mọi thứ diễn ra khi con người tư duy. Nó báo cáo về các hình thức khác nhau mà con người có thể tư duy, cách thức mà các dân tộc nguyên thủy ‘tư duy’ khác với chúng ta và tuân theo các quy luật khác nhau. Những câu hỏi nhân học và tâm lý học về các hình thức và loại hình tư duy này chắc chắn không phải là triết học. Nhưng liệu đây có phải là những câu hỏi duy nhất và thậm chí là những câu hỏi cơ bản duy nhất hay không thì vẫn còn bỏ ngỏ. Nếu tư duy là một phương thức hành xử của Dasein và nếu nó không bị bỏ mặc cho tình trạng võ đoán mà tuân theo các quy luật, thì câu hỏi cần được đặt ra là: Nói chung các quy luật cơ bản thuộc về tư duy theo đúng nghĩa là gì? Nói chung, đặc điểm của tính quy luật và sự điều chỉnh này là gì? Chỉ có thể có được câu trả lời bằng cách giải thích cụ thể các quy luật cơ bản của tư duy thuộc về bản chất của nó nói chung.
‘Nguyên tắc cơ bản’ có nghĩa là gì, và bản chất của chúng là gì? Có những nguyên tắc nào? Truyền thống cho chúng ta các nguyên tắc sau: principium identitatis nguyên tắc đồng nhất, principium contradictionis nguyên tắc không mâu thuẫn, principium exclusi tertii nguyên tắc bài trung, principium rationis sufficientis nguyên tắc lý do đầy đủ. [Ghi chú về bốn nguyên tắc cơ bản của logic học cổ điển, thường được gọi là Các quy luật tư duy - Laws of Thought, trong đó ba quy luật đầu do Aristotle thiết lập, và nguyên tắc thứ tư được Gottfried Wilhelm Leibniz bổ sung. Dưới đây là tóm tắt chi tiết về từng nguyên tắc: 1). Principium Identitatis Quy luật Đồng nhất định nghĩa: Một vật là chính nó; tư duy phải thống nhất, không thay đổi nội dung trong suốt quá trình lập luận; Công thức: A = A (A là A), ý nghĩa: một khái niệm hay mệnh đề phải mang một ý nghĩa xác định trong một bối cảnh nhất định; nếu không tuân thủ, lập luận sẽ mắc lỗi ngụy biện ‘đánh tráo khái niệm’.2). Principium Contradictionis Quy luật Phi mâu thuẫn, định nghĩa: Hai mệnh đề mâu thuẫn nhau không thể cùng đúng tại cùng một thời điểm và trong cùng một quan hệ. Công thức: ¬ (A A ∧¬ A) Không thể vừa là A vừa không phải là A; ý nghĩa: một tư duy hợp logic không thể khẳng định và phủ định cùng một vấn đề cùng lúc; nếu có mâu thuẫn, ít nhất một trong hai nhận định là sai.3). Principium Exclusi Tertii Quy luật Bài trung/Loại trừ cái thứ ba; định nghĩa: Một mệnh đề chỉ có thể đúng hoặc sai, không có khả năng thứ ba (tertium non datur); công thức: A ∨¬ A (A hoặc không phải A); ý nghĩa: trong hai mệnh đề mâu thuẫn nhau, nếu nhận định này sai thì nhận định kia bắt buộc phải đúng, không thể có trạng thái ‘lấp lửng’ ở giữa. 4). Principium Rationis Sufficientis Quy luật Lý do đầy đủ; định nghĩa: mọi nhận định, kết luận muốn được coi là đúng đắn thì phải có lý do/căn cứ đầy đủ; mọi sự vật tồn tại đều có lý do của nó; công thức: ‘Nihil sine ratione’ Không có gì không có lý do; ý nghĩa: quy luật này đòi hỏi tính chặt chẽ trong lập luận: không chấp nhận một nhận định vô căn cứ hoặc không được chứng minh - HHN]. Có phải tất cả đều như vậy? Chúng được sắp xếp theo thứ tự nào? Chúng có mối liên hệ nội tại nào? Nền tảng và tính tất yếu của chúng xuất phát từ đâu? Chúng ta đang bàn đến các quy luật tự nhiên, quy luật tâm lý hay đạo đức? Hay chúng thuộc loại nào mà Dasein phải tuân theo? Nhưng việc giải thích các quy luật chi phối tư duy lại đẩy chúng ta trở lại câu hỏi về điều kiện khả tính của chúng. Cái hữu thể tuân theo những quy luật đó, tự thân Dasein, phải được cấu thành như thế nào để có thể bị chi phối bởi các quy luật đó? Dasein ‘là’ như thế nào theo bản chất của nó để một nghĩa vụ như việc bị chi phối bởi các quy luật logic có thể phát sinh trong và đối với Dasein? Nguyên tắc cơ bản này [Grund-Sätze] không phải là quy tắc đi kèm lối tư duy được xác định từ nơi khác, mà là những căn cứ [Gründe] cho các phát biểu [Sätze] nói chung, những căn cứ làm cho tư duy trở nên khả thể. Hơn nữa, chúng chỉ là như vậy bởi vì chúng là nền tảng [Gründe] cho sự hiểu biết, sự tồn tại, sự hiểu biết về hiện hữu, Dasein, và sự siêu việt nguyên thủy.
Rõ ràng là với những vấn đề như vậy, chúng ta đã ngay lập tức bước vào lĩnh vực của câu hỏi liên quan đến cấu thành hiện hữu của Dasein. Hơn nữa, nghĩa vụ và hiện hữu được điều chỉnh bởi quy luật, tự bản thân chúng, giả định tự do là cơ sở cho khả tính của riêng chúng. Chỉ những gì tồn tại như một hiện hữu tự do mới có thể [tr.20] bị ràng buộc bởi một luật lệ bắt buộc. Chỉ có tự do mới có thể là nguồn gốc của nghĩa vụ. Một vấn đề cơ bản của logic, tính chất được điều chỉnh bởi quy bắt buộc của tư duy, tự bộc lộ là một vấn đề về sự tồn tại của con người trong nền tảng của nó, vấn đề về tự do. [Ghi chú dài về die „Gesetzmäßigkeit des Denkens“ : Theo cách đọc của Heidegger, sự phê phán của Kant đối với lý tính thuần túy đặt câu hỏi về tính thuần khiết nội tại được cho là của kẻ nhận thức cá nhân bằng cách thách thức ý tưởng rằng một cá nhân có thể biết bất cứ điều gì một cách độc lập với ‘thế giới bên ngoài’. Ẩn chứa trong thách thức này là sự bác bỏ ý tưởng cho rằng một cá nhân có thể thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của tồn tại vật chất và đạt được tri thức về phạm vi tiềm tàng vô hạn. Giờ đây, chúng ta có thể thấy sự hữu hạn và khiêm nhường đã nảy sinh như thế nào đối với Kant trong phản ứng của ông đối với vấn đề do Descartes đưa ra khi xác định các điều kiện quyết định tính vật chất của sự vật trong lý tính thuần túy của cái ‘Tôi’ tư duy. Bằng cách đặt ‘Tôi tư duy’ làm nền tảng của tri thức, Descartes đã tạo ra sự cấp thiết cho câu hỏi ‘Tôi là gì?’ hay nói chung hơn, ‘Con người là gì?’ Cái ‘Tôi’ không chỉ là một lĩnh vực trong số những lĩnh vực khác, mà chính xác là lĩnh vực mà tri thức về tất cả các lĩnh vực khác phải được truy ngược lại. Do đó câu hỏi ‘Sự vật là gì?’ lại tất yếu dẫn trở ngược về câu hỏi ‘Con người là gì?’ Bởi vì Kant chấp nhận quan điểm của Descartes về con người như một thực thể tư duy, nên câu hỏi về con người đối với ông trở thành một câu hỏi về tư duy. Theo Heidegger, câu hỏi chính của Kant do đó là câu hỏi về việc một cá nhân con người phải như thế nào để có thể tư duy. Descartes đã cung cấp một manh mối: đó là, cá nhân, với tư cách là một thực thể tư duy, bị ràng buộc bởi quy luật bất mâu thuẫn. Theo Heidegger, Kant nắm bắt manh mối này và phát triển nó thành một khảo sát về bản chất của cái ‘Tôi’ để có thể bị ràng buộc bởi các quy luật. Nói cách khác, sự phê phán của Kant đối với lý tính thuần túy tìm kiếm các điều kiện khả tính cho tư duy tuân theo quy luật hoặc quy tắc. Heidegger gọi việc diễn đạt các điều kiện này là ‘một vấn đề cơ bản đối với logic’. Việc tìm kiếm lời giải cho vấn đề này là việc tìm kiếm ‘logic triết học, hay nói đúng hơn, nền tảng siêu hình của logic’.88 Theo cách hiểu của Heidegger, khảo sát của Kant về law-governedness of thinking tính tuân thủ quy luật của tư duy là một khảo sát siêu hình về các điều kiện bản thể luận làm cho tri thức khoa học trở nên khả thi. Ông cho rằng cuộc khảo sát này có trước và cơ bản hơn các khảo sát điển hình của tâm lý học, nhân học, đạo đức học hoặc xã hội học. Trong khi các lĩnh vực khảo sát sau này, theo quan điểm của Heidegger, coi sự chiếu xạ cụ thể của bản chất sự vật quyết định chủ đề cụ thể của chúng là điều hiển nhiên, thì một cuộc khảo sát bản thể luận tổng quát hơn phải giải quyết các điều kiện làm cho những quyết định đó trở nên khả thi. Hơn nữa, Heidegger lập luận rằng “chỉ khi là hiện tượng học thì bản thể luận mới khả thi”. Do đó, đối với Heidegger, một cuộc khảo sát về các điều kiện tồn tại quyết định khả năng của logic là một cuộc khảo sát hiện tượng học về nền tảng của khoa học. Đối với ông, logic là một loại khoa học đặc biệt, “khoa học về các quy tắc của tư duy”. Theo đó, ông lập luận rằng một thành tựu quan trọng trong Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant là để mở ‘tư tưởng’ của Descartes về ‘Tôi tư duy’ cho khảo sát hiện tượng học. Cụ thể, Heidegger đọc Kant như đang khám phá cơ sở bản thể học cho khả năng của chủ thể tuân theo các quy luật cấu trúc tư duy khoa học, trong đó quan trọng nhất là quy luật bất mâu thuẫn. Với bước đi này, quy luật bất mâu thuẫn, vốn được Descartes coi là nguyên tắc cao nhất của mọi tri thức, đã “bị loại bỏ khỏi vị trí thống trị của nó”. Điều giờ đây thống trị là những đặc điểm khách quan của chủ thể cho phép ‘Tôi’ tự tuân theo các quy tắc chi phối tư duy. Bằng cách khai mở tư duy cho khảo sát hiện tượng học, Kant đã tái khai mở một câu hỏi mà Plato và Aristotle đã đề cập rõ ràng nhưng sau đó bị Descartes khép lại: đó là câu hỏi về logos như là cái có chức năng kết hợp các khái niệm một cách có ý nghĩa. Như chúng ta đã thấy trước đó, Plato đặt hiện tượng này trong ý niệm về cái thiện, được khái niệm hóa bằng phép tương tự với vị thần sáng tạo, kẻ sản xuất thuần túy và đơn giản. Ngược lại, Aristotle khái niệm hóa nó bằng phép tương tự với ‘là’ của mệnh đề, do đó đặc trưng hóa nó không phải một vật thể mà là cái theo đó các vật thể được kết hợp lại. Bằng cách chuyển hiện tượng kết hợp bản thể học từ ‘là’ sang chủ thể của mệnh đề, sau đó Descartes đã coi nó như một vật thể mà bản chất của nó chống lại sự phân tích sâu hơn. Kant, bằng cách nghiên cứu hiện tượng này như một đặc điểm tích cực, phi vật thể thuộc chủ thể tính của chủ thể tư duy, đã bắt đầu soi sáng hiện tượng học về những gì trước đó Descartes đã che giấu trong bóng tối. Theo Heidegger, Kant đặt hiện tượng kết hợp bản thể học trong sức mạnh tưởng tượng [Einbildungskraft] của chủ thể cá nhân. Đối với Kant, tưởng tượng là một ‘năng lực hình thành’. Điều này gợi nhớ lại khái niệm của Plato về mối quan hệ giữa các vật thể và tư duy bằng phép tương tự với sản xuất. Cũng như một người thợ thủ công, hay một vị thần sáng tạo, biến những vật liệu khác nhau thành một chỉnh thể hoàn chỉnh và thống nhất, trí tưởng tượng của chủ thể cũng biến mớ hỗn độn của cảm giác thô sơ thành một trải nghiệm có trật tự và dễ hiểu. Do đó, trí tưởng tượng làm cho trải nghiệm dễ hiểu trở nên khả thể. Trong Phê phán Lý tính Thuần túy, Kant lập luận rằng ‘[các] điều kiện khả thi của trải nghiệm nói chung đồng thời cũng là điều kiện khả thể của các đối tượng trải nghiệm.’ Heidegger lập luận rằng đoạn văn này phản ánh một ‘lập trường cơ bản’ trong lịch sử loài người, một lập trường mà chúng ta không thể tránh khỏi. Cả trải nghiệm dễ hiểu và những thứ tự thể hiện một cách có ý nghĩa trong trải nghiệm đó — tức là cả tư duy và những thứ được tư duy — đều phụ thuộc vào khả năng tưởng tượng. Đối với Kant, một trải nghiệm dễ hiểu bao gồm sự thống nhất có cấu trúc của hai khả năng riêng biệt: tính tự phát và tính tiếp nhận, hay tính kiến tạo và tính cảm xúc. Theo Heidegger, khái niệm về trí tưởng tượng của Kant mô tả gốc rễ chung từ đó hai nhánh riêng biệt của tính tự phát và tính tiếp nhận cùng phát triển. Ông viết rằng sức mạnh của trí tưởng tượng là ‘sự thống nhất nguyên thủy’ của cả hai. Kant mô tả khía cạnh xây dựng của trí tưởng tượng dưới dạng một ‘năng lực của các quy tắc.’ Hơn nữa, ông lập luận rằng các quy tắc, trong chừng mực chúng mang tính khách quan, cũng có thể được gọi là ‘quy luật.’ Do đó, sức mạnh của trí tưởng tượng, và đặc biệt là khía cạnh xây dựng của nó, cung cấp các điều kiện khả tính để tuân theo, trong số các quy tắc cơ bản khác của logic, luật bất mâu thuẫn. Do đó logic tìm thấy nguồn gốc hiện tượng học, tức là nguồn gốc bản thể học của nó trong trí tưởng tượng của chủ thể cá nhân. Tuy nhiên, Heidegger nhấn mạnh rằng, đối với Kant, chủ thể tính của chủ thể cá nhân không cấu thành nên quy luật. Thay vào đó, quy luật là cái mà chủ thể hướng tới, và chính thông qua sự hướng tới đó mà cá nhân lần đầu tiên nhận ra các khả tính hành động mở ra cho kẻ ấy với tư cách là một cá nhân độc nhất. Nói một cách chính xác, quy luật không phải là một cấu trúc hoàn toàn tự phát của chủ thể cá nhân. Nhưng cũng không hoàn toàn là một đối tượng của khả năng cảm nhận, hay khả năng tiếp nhận, của cá nhân. Theo Heidegger, quy luật không phải là thứ gì đó mang tính kinh nghiệm. Nó không phải là thứ cần được khám phá trong thế giới. Thay vào đó, nó là một cấu trúc được tìm thấy trong lý trí. Theo nghĩa này, chủ thể cá nhân khám phá ra quy luật bên trong chính mình như một thứ mà cuối cùng hắn được tự do tuân theo hoặc bỏ qua, nhưng dù sao hắn vẫn gặp phải nó như một nghĩa vụ. Do đó, Heidegger diễn giải Kant lập luận rằng lý trí là một ‘tính tự phát tiếp nhận’, trong đó các quy tắc chi phối nó không được chủ thể cá nhân tự do xây dựng mà được cô ấy gặp phải như những ràng buộc cần thiết làm cho lý trí, như vậy, trở nên khả thi. Chấp nhận những ràng buộc này, do đó, có nghĩa là tự phục tùng một ‘sự cần thiết tự đặt ra’. Heidegger viết rằng, đối với Kant, khi phục tùng quy luật, ‘tôi phục tùng chính mình’. Do đó, chúng ta trải nghiệm các quy tắc của lý trí như là sự tự xác nhận. Chúng ta nhận ra chúng thông qua nghĩa vụ mà chúng ta cảm thấy đối với chúng, và chúng ta cũng trải nghiệm chúng như là nguồn gốc của nghĩa vụ đó. Theo Heidegger, chính vì mối quan hệ của chủ thể với các quy tắc được đánh dấu bởi cả tính xây dựng và tính tiếp nhận mà Kant đã đặt các quy tắc trong sức mạnh của trí tưởng tượng, một sức mạnh cung cấp một gốc rễ chung cho cả hai. Về mặt logic, một sự vật không thể vừa là chim vừa không phải là chim. Nếu S là P, thì S không thể đồng thời không phải là P. Điều này sẽ là một điều bất khả thi về mặt logic, một mâu thuẫn. Nếu chúng ta muốn suy luận một cách logic, thì chúng ta phải tuân theo nguyên tắc, hay định luật, về tính không mâu thuẫn. Định luật này nằm ở nền tảng của logic. Nó đặt ra một ràng buộc tiên nghiệm đối với tư duy như Aristotle đã xây dựng dựa trên mô hình mệnh đề. Tính tất yếu của định luật do đó được kết hợp với tính tất yếu của việc tư duy theo các thuật ngữ mệnh đề một cách nghiêm ngặt. Chúng ta chỉ buộc phải tuân theo định luật không mâu thuẫn chừng nào chúng ta cũng cảm thấy buộc phải diễn đạt bản thân một cách hợp lý về mặt logic. Ví dụ, một nhà thơ có thể mô tả một sự vật theo cách mơ hồ giữa việc nó là chim và không phải là chim. Tư duy thi ca không nhất thiết phải là tư duy logic. Do đó, chúng ta được tự do bỏ qua quy luật bất mâu thuẫn đến mức chúng ta cảm thấy tự do suy nghĩ theo những cách không bị chi phối bởi logic của mệnh đề. Các quy tắc logic có thể buộc chúng ta phải suy nghĩ theo những cách nhất định được xác định nghiêm ngặt, nhưng bản thân sự bắt buộc đó không phải là sự xác định. Sau cùng, chúng ta có thể chọn hành động khác đi, bất kể cái giá phải trả là gì. Heidegger rút ra nhận định này từ cuộc thảo luận của Kant về vai trò của các quy tắc trong lý luận lý thuyết, tìm thấy ở đó ý tưởng rằng ‘[t]ự do đã nằm trong bản chất của sự hiểu biết thuần túy, tức là của lý tính lý thuyết thuần túy, trong chừng mực điều này có nghĩa là đặt mình dưới một sự cần thiết tự đặt ra.’ Hơn nữa, bởi vì tự do là một vấn đề của hành động, lý tính lý thuyết gắn liền một cách quan trọng với lý tính thực tiễn. Do đó, Kant viết trong Phê phán Lý tính Thuần túy: ‘Mọi thứ đều là thực tiễn nếu có thể thông qua tự do.’ Do đó, Heidegger đọc Kant như đang cố gắng giải thích lý thuyết theo thuật ngữ hành động bằng cách ưu tiên lý tính thực tiễn hơn lý tính lý thuyết. Tuy nhiên, theo quan điểm của ông, công việc này vẫn còn mơ hồ, vì Kant giả định một trong hai thái cực: hoặc là khả năng tiếp nhận và hoặc là tính tự phát, hoặc là thụ động và chủ động, do đó cuối cùng đã không thể hoàn thành nhiệm vụ truy tìm cả hai về một nguồn gốc chung trong sức mạnh của trí tưởng tượng. Heidegger viết rằng Kant, khi khám phá ra tính tự phát tiếp nhận trong mối quan hệ của chúng ta với các quy tắc, đã ‘nhìn thấy điều chưa biết’ và ‘phải lùi bước’. Sự rút lui của Kant được thể hiện qua sự thay đổi trọng tâm giữa phiên bản A và B của Phê phán lý tính thuần túy. Trong phiên bản đầu tiên, tư duy tuân theo quy tắc bắt nguồn từ tính tự phát tiếp nhận thống nhất và không thể giản lược của trí tưởng tượng. Trong phiên bản thứ hai, Kant đã rời bỏ lập trường thống nhất này, và thay vào đó đồng hóa tính tuân theo quy tắc, và trí tưởng tượng nói chung, với tính tự phát thuần túy.” Theo Kochan Jeff (2017). Things, Thinking, and the Social Foundations of Logic, Chapter Four, in Science as Social Existence: Heidegger and the Sociology of Scientific Knowledge (Cambridge: Open Book Publishers, 2017), 151–224, doi.org.HHN] Chúng ta hãy xem lại phần mở đầu về ý tưởng logic hình thức và đối tượng của nó. Trong tư duy như là suy nghĩ về một điều gì đó, có ý hướng tự so sánh bản thân với điều mà nó suy nghĩ và xác định trong quá trình tư duy, tức là làm cho điều mà nó suy nghĩ được biểu lộ ra, khám phá ra nó và để cho những gì được khám phá trở nên dễ tiếp cận. Tư duy xác định là khám phá hoặc che giấu. Nghĩa là, nó hoặc đúng hoặc sai. Sai là một hình thức phủ định của đúng, là không-đúng. Tư duy như vậy ở một dạng thức nào đó luôn luôn là sự khám phá, là sự hiện hữu-chân thực.
Làm sao điều đó trở nên khả thể, làm sao bất cứ điều gì thuộc loại này có thể áp dụng cho tư duy như một hoạt động của Dasein: để là chân lý, để vận động trong phạm vi hoặc là đúng hoặc là sai? Chân lý là gì? Chân lý ‘tồn tại’ theo cách nào, vì nó không phải là một vật thể cũng không giống bất cứ vật thể nào? Và nó thuộc về tự thân Dasein của con người như thế nào? Câu hỏi về hiện-hữu-trong-chân-lý này dẫn chúng ta trở lại vấn đề về tính siêu việt của Dasein. Và chừng nào chân lý của tư duy được đồng xác định bởi tính quy luật, thì vấn đề về chân lý được kết hợp với vấn đề về tính quy luật và, điều đó có nghĩa là, với vấn đề về tự do. Khi tự đánh giá bản thân so với cái mà nó suy nghĩ, thì tư duy chân thực tìm kiếm trong hiện hữu tự thân cái mà nó dựa vào và làm nền tảng cho chính nó. Toàn bộ tư duy chân thực đều tìm thấy nền tảng và có những khả tính xác định để làm nền tảng. Do đó, có một câu hỏi nữa, làm thế nào mà chân lý của tư duy và chính tư duy phải có một cái gì đó giống như một nền tảng - và có thể có một nền tảng? Nền tảng theo đúng nghĩa có thể là gì? Nền tảng và Dasein có mối quan hệ như thế nào với nhau? Nền tảng, chân lý, tính quy luật và tự do liên hệ với nhau như thế nào trong tư duy? Như chúng ta đã nói, tư duy là xác định, mang tính quyết định; ở dạng đơn giản nhất: xác định một cái gì đó như một cái gì đó, - ‘như’ một cái gì đó: như thế này thế kia. Câu hỏi đặt ra là, cụm từ ‘như một cái gì đó’ này hàm ý điều gì, việc tham chiếu đến một cái khác mà từ đó một cái gì đó được cho là xác định? Ở đây, hình thức cơ bản của loại nắm bắt mà chúng ta gọi là hình dung và khái niệm đó được giả định đến mức nào? Khái niệm hóa liên quan đến nền tảng và do đó liên quan đến chân lý và tính quy luật như thế nào? Khái niệm và tự do liên hệ với nhau như thế nào? Và cuối cùng, tư duy xác định, như tư duy về các hiện hữu, theo cách riêng của nó, mang lại sự hiện hữu của các hiện hữu cho sự biểu đạt. Câu nói đơn giản ‘A là b’ thể hiện điều này một cách cơ bản nhất.
[Tr.21] Tuy nhiên, ‘là’ không nhất thiết phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ. Nó cũng được chứa đựng trong những câu nói như ‘chiếc xe đi được’; ‘trời mưa’ (pluit latin = như trút). Động từ ‘là’ nguyên dạng xuất hiện trong câu được gọi là động từ nối. Việc tư duy xác định, ở dạng cơ bản, gắn trực tiếp với cái ‘là’, với sự là, cho thấy phải có một mối liên hệ đặc biệt giữa tư duy và hiện hữu - chưa kể rằng bản thân tư duy là một hiện hữu và theo đúng nghĩa nó hướng tới các hiện hữu. Và câu hỏi sẽ nảy sinh, sự tồn tại này với tư cách là động từ nối có liên quan như thế nào đến khái niệm, nền tảng, chân lý, tính quy luật, tự do? Việc xem xét khá sơ lược về tư duy như vậy đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn sơ bộ về nhiều mối liên hệ cực kỳ quan trọng chỉ thẳng đến chiều kích của các vấn đề triết học cơ bản. Khả tính và sự cần thiết của một logic triết học trở nên quen thuộc hơn. Nhưng thực tế cũng trở nên rõ ràng là chỉ khi chúng ta chuẩn bị trước cho một sự hiểu biết triết học thực sự về ý nghĩa của các thuật ngữ chân lý, nền tảng, tính quy luật, tự do, khái niệm, sự tồn tại, thì chỉ khi đó chúng ta mới có thể hiểu được hình thức Dasein mà chúng ta hành động với tư cách là những con người cam kết với khoa học. Việc chúng ta học cách tư duy, theo nghĩa thực sự, bằng logic hay không phụ thuộc vào việc chúng ta có đạt được sự hiểu biết về tư duy trong khả tính nội tại của nó hay không, tức là, liên quan đến tính quy luật, chân lý, nền tảng, khái niệm, hiện hữu và tự do. Khi tự mình đạt được hiểu biết này, dù chỉ vài nét cơ bản, thì chúng ta mới có cơ sở để làm sáng tỏ ngành khoa học thực chứng cụ thể mà mình nghiên cứu, vượt ra khỏi những giới hạn nội tại của nó, và chỉ khi đó chúng ta mới nắm giữ được khoa học, như một sự sở hữu tự do. Và khoa học, khi được nắm giữ như vậy, và chỉ có khoa học như vậy mới là trường tư duy đích thực trong mọi điều kiện.
_____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes
*Ở đây, từ ‘Existenz’ đã mang trọn vẹn ý nghĩa về sự tồn tại trong thế giới, điều đã được phát triển trong tác phẩm ‘Hữu thể và Thời gian’ và được những người khác phát triển thành ‘Existentialism’ Chủ nghĩa Hiện sinh và ‘Existential Philosophy’ Triết học Hiện sinh.
