Powered By Blogger

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XXIV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§ 14. Bản chất của Cơ sở/Nền tảng và Ý niệm về Logic

Logic, như chúng ta đã nói ở đầu các bài giảng này, là tri thức về λόγος, tức là phát biểu. Đặc điểm cơ bản của nó là chân lý. Hơn nữa, người ta nhận thấy rằng chân lý của các phát biểu chủ yếu dựa trên những ứng xử không mang tính chất của phát biểu, chẳng hạn như trực giác và những thứ tương tự. Những hành vi ấy mang tính chất [tr.217] bộc lộ và với tư cách là ontic truth chân lý thực hữu về các hiện hữu, chúng được đặt nền tảng trong hiểu-biết-về-hữu-thể, tức là trong những gì làm cho khả tính bộc lộ về các hiện hữu thể trở nên khả thể. Tuy nhiên, đó là gia nhập thế giới, và điều đó có nghĩa là cuộc nảy sinh của một hiện-hữu-trong-thế-giới. Hiểu-biết-về-Hữu-thể là siêu việt; toàn bộ hiểu-biết-về-hữu-thể, dù mang tính tiền-hữu thể luận phi chủ đề, hay mang tính chủ đề và mang tính hữu thể luận về phương diện khái niệm, đều là tiên nghiệm/siêu việt. Cái hiểu-biết-về-hữu-thể này và các phương thức cơ bản thiết yếu của nó là sự tiết lộ nằm trong nhất tính xuất-thân của thời tính, trong sự phá vỡ mang tính thời gian hóa của các chân trời. Sự bộc lộ này là cái là chân nguyên thủy về mặt siêu hình, là chân lý, chính là tự thân siêu việt, veritas transcendentalis chân lý tiên nghiệm. Die Bedingung für die Möglichkeit jeder ontisch-intentionalen Wahrheit Nó là điều kiện cho cái khả tính của mọi chân lý thực hữu-ý hướng tính. Với sự xuất hiện của siêu việt, của chân lý tiên nghiệm, các hiện hữu cũng đã được khám phá, mặc dù chúng ta thấy, từ bản chất của chân lý theo đúng nghĩa và sự khởi đầu siêu hình của sự xuất hiện của siêu việt, và các hiện hữu, trong trường hợp đầu tiên và cuối cùng, bị che giấu và chân lý phải được gọi là trạng thái không che giấu khi đề cập đến trạng thái che giấu ban đầu này.

Các hiện hữu nói chung bị che giấu, chừng nào vẫn không có sự kiện gia nhập thế giới. Do đó, có một ý tứ sâu xa trong từ Hy Lạp chỉ chân lý ἀ-λήθεια. Trước hết, các hiện hữu phải được xé toang khỏi mọi che giấu; tình trạng che giấu phải được loại bỏ khỏi các hiện hữu, và nó được loại bỏ khi thời tính thời gian hóa tạo cơ hội cho sự gia-nhập-thế-giới. Có thể thấy ở khắp mọi nơi trong triết học tiền Socrates, trong triết học của Plato và Aristotle cách diễn giải này về đặc tính phủ định đặc biệt của quan niệm về chân lý trong triết học Hy Lạp không phải là chuyện nhỏ nhặt về mặt từ nguyên học. Hãy lấy một câu nói của Heraclitus làm ví dụ (Đoạn 123): φύσις κρύπτεσθαι φιλεῖ Physis kryptesthai philei, Tự nhiên thích che giấu chính mình. Chân lý nằm ở bản chất của sự siêu việt; nó là chân lý tiên nghiệm nguyên thủy. Nhưng nếu chủ đề cơ bản của logic là chân lý, thì chính logic lại là siêu hình học nếu vấn đề siêu việt trình bày theo một cách khác cái chủ đề cơ bản của siêu hình học, như tôi đã cố gắng chứng minh. Giờ đây chỉ có một điều đúng trong sự nhấn mạnh truyền thống và thường thấy về hình thức phán đoán như là trung tâm của logic, đó là chân lý được chuyển thành trung tâm. Nhưng sau đó phải có một cuộc khảo sát triệt để về bản chất của chân lý. Siêu hình học không nên được chuyển vào logic, hoặc ngược lại. Vấn đề không phải là sự phân chia thành các ngành, mà hơn nữa, chính các ngành đó lại là vấn đề. Giờ đây chúng ta đã thấy rằng logic truyền thống là khoa học về mệnh đề, về tư duy, và mục đích chính của nó là định nghĩa các quy luật của tư duy [tr.218] và phát ngôn. Bản chất của những quy luật này (cho dù là quy luật tự nhiên, các chuẩn mực, hay quy luật thuộc loại hoàn toàn khác) vẫn còn đáng ngờ. Các quy luật thông thường theo trình tự thông thường là: nguyên tắc đồng nhất, nguyên tắc không mâu thuẫn, nguyên tắc căn cứ [Grund]. Và chúng ta đã thấy rằng, đối với Leibniz, chân lý tối thượng là identitas đồng nhất A=A, bởi vì ông thấy bản chất của chân lý nằm ở đồng nhất tính. Luận điểm của chúng ta là Grundsatzprinciple nguyên tắc nền tảng đầu tiên của logic là mệnh đề căn cứ. Tuy nhiên, luận điểm này không chỉ đơn thuần là sự đảo ngược trật tự truyền thống, mà nó được nói ra từ cấp tiến hóa của logic hướng tới siêu hình học. Mệnh đề căn cứ không phải là một quy tắc và chuẩn mực để đưa ra các khẳng định; hơn nữa, nó là Grundsatz mệnh đề căn cứ đầu tiên của logic với tư cách siêu hình học. Giờ đây chúng ta đã thấy rằng chủ đề chính của logic là chân lý tiên nghiệm, sự siêu việt. Việc viện dẫn đến mệnh đề căn cứ này có ý nghĩa gì? Và tương ứng, bản chất của những ‘mệnh đề’ mà chúng ta gọi là mệnh đề căn cứ [Grund-satze] là gì?

Những câu hỏi này chỉ có thể được trả lời bằng cách tham chiếu đến bản chất của cơ sở/nền tảng. Hiện tượng nguyên thủy của nền tảng là cái vì- lợi-ích-của. Nguồn gốc của ‘cơ sở/nền tảng’ nằm ở tự do với tư cách là tự do cho nền tảng. Tuy nhiên, cái vì-lợi-ích-của là đặc tính chính của thế giới. Phóng-chiếu-thế-giới trong tự do không gì khác hơn là thời gian hóa của việc lý-giải-về-hữu-thể. Nếu nền tảng với tư cách là cái vì-lợi-ích-của là đặc tính chính của thế giới, và tuy nhiên nếu thế giới là Hữu thể, như nó được hiểu trong sự hiểu biết về hữu thể, và nếu hữu thể thiết lập sự gia nhập vào thế giới cho các hiện hữu, tức là cho phép các hiện hữu được hiểu là các hiện hữu, thì ‘nền tảng’ về bản chất thuộc về hữu thể. Từ đó suy ra ý nghĩa siêu hình thực sự của nguyên tắc nền tảng. Nguyên tắc này khẳng định rằng đặc tính cơ bản, Grundcharacter đặc tính nền tảng của nền tảng theo đúng nghĩa thuộc về bản chất của hữu thể theo đúng nghĩa. Do vậy, từ đó quy tắc được suy ra, qua nhiều giai đoạn hình thành, là việc đưa ra các tuyên bố về các hiện hữu phải cung cấp cơ sở cho chính nó bởi vì các tuyên bố là những khẳng định tiết lộ về các hiện hữu. Chuỗi chứng minh trong lập luận ontic thực hữu không chủ yếu cấu thành bối cảnh chứng minh trong các khoa học thực chứng, mà đúng hơn là chúng có nền tảng trong Hữu thể luận. Các cơ sở chính, hay chính xác hơn là xu hướng thiết lập cơ sở, ở đây nằm ở hiểu-biết-về-hữu-thể. Khoa học phải đưa ra cơ sở vì nó mang tính ontic thực hữu (xử lý về các hiện hữu). Một khi tuyên bố về cơ sở đã được trình bày bằng một diễn giải siêu nghiệm, thì nội dung siêu hình của nó có thể dễ dàng được đọc ra theo cách hồi tưởng từ công thức thông thường của nguyên tắc lý tính, nihil est sine ratione: omne ens habet ratioem. ‘Mọi [tr.219] tồn tại đều có cơ sở/nền tảng/nguyên do của nó’ có nghĩa là các hiện hữu, trong chừng mực chúng tự bộc lộ mình là các hiện hữu, đều phải tự tạo nền tảng cho chính mình, bởi vì nền tảng thuộc về hữu thể của các hiện hữu. Tuy nhiên, ‘nền tảng’ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn và triệt để hơn nhiều so với khái niệm truyền thống về ratio lý trí/nguyên do. Giờ đây, cái đặc tính-phát biểu của phát biểu này cũng xuất hiện từ đó. Nó đơn giản là phát biểu-nền tảng đầu tiên [Grund-satz, nguyên tắc], bởi vì nó là phát biểu về nền tảng. Điều này có nghĩa là tất cả các phát biểu nền tảng cơ bản [Grund-sätze] đều được đặt nền tảng trong phát biểu về nền tảng, và điều này đúng theo những cách hoàn toàn khác nhau và không chỉ vì chúng chia sẻ đặc điểm hình thức với nguyên tắc nền tảng. Nhưng đặc biệt, ở đây không thể có bất kỳ suy nghĩ nào về kiểu suy luận tuyến tính từ một nguyên tắc duy nhất (chẳng hạn như suy luận mà Fichte đã cố gắng thực hiện từ nguyên tắc đồng nhất). Thay vào đó, nếu những nguyên tắc này được đặt nền tảng trong nguyên tắc về nền tảng, thì những nguyên tắc nền tảng này cũng chỉ có thể được diễn giải từ nền tảng của nền tảng, tức là từ tự do, và điều đó có nghĩa là từ thời tính.    

Ngay từ đầu, khi mô tả ý nghĩa thực sự của nguyên tắc lý tính trong triết học của Leibniz, chúng ta đã cố gắng chỉ ra rằng công thức thông thường nhấn mạnh một điều quan trọng, đó là potius quam hơn là. Có một đặc tính ưu tiên trong nguyên tắc lý tính. Những gì chúng ta đã chứng minh được một cách thực chứng về bản chất và nguồn gốc của nền tảng từ tự do, từ siêu việt, cho thấy mức độ mà sự ưu tiên thực sự thuộc về bản chất của nền tảng. Bởi vì cái potius thà này chỉ là biểu hiện của sự vượt trội của thế giới, sự khởi lên của tự do thành khả tính. Vậy thì cái đặc tính potius thà của nền tảng trông như thế nào trong thực tế và các phương thức của nền tảng, nền tảng hóa và đem cho nền tảng mỗi thứ trở nên đa dạng ra sao đều đòi hỏi những cân nhắc khó khăn. Nền tảng về bản chất thuộc về bản chất của Hữu thể. Với cái nhìn sâu sắc cụ thể vào mối liên hệ siêu hình này, tôi chỉ dẫn mọi người trở lại nơi mà Plato đã trụ lại khi ông viết những câu trong Republic Cộng hòa (Politeia VI, 509b 6- 10), mà tôi dùng làm kết luận: “Καὶ τοῖς γιγνωσκομένοις τοίνυν μὴ μόνον τὸ γιγνώσκεσθαι φάναι ὑπὸ τοῦ ἀγαθοῦ παρεῖναι, ἀλλὰ καὶ τὸ εἶναί τε καὶ τὴν οὐσίαν ὑπ’ ἐκείνου αὐτοῖς προσεῖναι, οὐκ οὐσίας ὄντος τοῦ ἀγαθοῦ, ἀλλ’ ἔτι ἐπέκεινα τῆς οὐσίας πρεσβείᾳ καὶ δυνάμει ὑπερέχοντος” “Vì vậy, tri thức không chỉ hiện diện đối với và cùng với chúng sinh được biết đến, hiện diện cụ thể trên cơ sở của cái thiện (cái thiện thiết lập cho chúng sinh không chỉ điều được biết đến và do đó gia nhập-thế giới) mà còn được ‘là’ và là/hữu thể-một-cái-gì được gán cho chúng sinh/hiện hữu từ đó (cụ thể là cái thiện). Tuy nhiên, cái vì-lợi-ích-của (sự siêu việt) không phải tự thân ‘là/hữu thể’, mà vượt lên trên ‘là/hữu thể’, và làm như vậy bởi vì nó vượt trội hơn chúng sinh/hiện hữu về phẩm giá và quyền năng.”

Phần bổ sung: Khoảng cách và Sự gần gũi

Suy ngẫm triết học có nghĩa là tồn tại từ nền tảng. Triết học không phải là một khoa học trong số những khoa học khác, cũng không phải là sản phẩm của các thế giới quan; nó nguyên thủy hơn mọi khoa học và đồng thời, nguyên thủy hơn mọi thế giới quan. Điều quan trọng là chúng ta phải làm điều đó một cách đúng đắn, nghĩa là, khi suy ngẫm triết học, chúng ta luôn luôn biến đổi mọi thứ trong chính mình và đối với chính mình. Chừng nào chúng ta còn dao động qua lại trên bề mặt bằng cách lặp lại các nguyên tắc lý thuyết và thực tiễn, thì chúng ta vẫn chưa thực sự ở trong triết học. Logic và siêu hình học được đặt nền tảng trên lý-giải-hữu-thể được xác định bởi sự khác biệt về hữu thể luận. Sự khác biệt này đối với chúng ta có vẻ trừu tượng, khô khan và trống rỗng, nhưng chúng ta vẫn phải hỏi: hiểu-biết-về-hữu-thể là gì? Tự do hướng tới nền tảng là sự vượt lên, trong sự khởi lên ấy, của những thứ cuốn chúng ta đi và tạo ra khoảng cách. Hiện hữu người là một loại tạo vật của khoảng cách. Và chỉ bằng khoảng cách nguyên thủy thực sự mà con người trong sự siêu việt của mình thiết lập đối với mọi hiện hữu, sự gần gũi thực sự với mọi thứ mới bắt đầu nảy nở trong hắn. Và chỉ năng lực lắng nghe từ xa mới khơi dậy sự thức tỉnh câu trả lời của những con người đáng lẽ phải ở gần.

Lời kết của biên tập viên

Loạt bài giảng được biên tập ở đây do Martin Heidegger trình bày, dưới tiêu đề ‘Logik’, vào mùa hè năm 1928, học kỳ cuối cùng của ông tại Đại học Marburglähn. Heidegger giảng bốn giờ một tuần, vào các ngày thứ Hai, thứ Ba, thứ Năm và thứ Sáu. Bài giảng đầu tiên diễn ra vào ngày 1 tháng 5, và bài giảng cuối cùng, kéo dài hai tiết, vào thứ Bảy, ngày 28 tháng 7. Vào thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 1928, Heidegger đã đọc bài tưởng niệm Max Scheler (trang 50-56), người đã qua đời vào ngày 19 tháng 5. Ông đã đọc phần ‘Tóm tắt’ (trang 56-56) sau giờ nghỉ Lễ Ngũ Tuần. Phần bổ sung ‘Khoảng cách và Sự gần gũi’ (tr.220), không được trình bày, là một văn bản để kết thúc khóa học. Bản thảo các bài giảng của Heidegger và các bản chép tay của các học trò cũ của ông, Hermann Morchen và Helene Weiss, đã có sẵn cho ấn bản này. Bản thảo gốc có 73 (hoặc, thông qua cách đánh số kép, 74) trang theo định dạng folio, viết ngang. Khoảng ba phần tư trong đó, ở phía bên trái, chứa văn bản liên tục được cấu trúc thành câu, với nhiều đoạn chèn vào được lồng ghép một phần với nhau và không phải lúc nào cũng được diễn đạt hoàn chỉnh. Nửa bên phải của trang có nhiều ghi chép bên lề, chủ yếu là dạng chú thích; kèm theo đó là một loạt các phần ghi chú và bổ sung. Bản sao đầu tiên, vốn đã được chỉnh sửa về mặt văn phong, do Hildegard Feick biên soạn. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với văn bản của bà, vì nó đã giúp ích rất nhiều trong việc nắm bắt khó khăn khi giải mã chữ viết tay của Heidegger, vốn khá nhỏ vào thời điểm đó.

Bản thảo của Hermann Morchen bao gồm các ghi chú chú thích về toàn bộ khóa học. Văn bản của Helene Weiss chỉ bắt đầu sau phần về Leibniz, gần cuối § 9; ngoại trừ những trang đầu tiên là trình bày sự phát triển của các ghi chú dạng chú thích của bà. Cả hai bản ghi chép đều phản ánh rất chính xác dòng chảy và nội dung khái niệm của khóa học, như được thể hiện bằng cách so sánh với các đoạn văn bản thảo mà Heidegger đã trình bày không thay đổi. Đồng thời, vì là ghi chú không phải tốc ký, chúng chỉ tái hiện lại các mạch suy nghĩ một cách rời rạc. Do đó, không thể tránh khỏi thiếu đi sự cô đọng của bản thảo viết tay. Một phần lớn sự căng thẳng trong dòng chảy tư tưởng, nơi mà ở những điểm cao trào của văn bản gốc, Heidegger đã phải vật lộn để tìm ra những suy nghĩ quyết định, cũng bị mất đi. Thường thì, bài giảng khi thuyết trình cũng đơn giản hơn nhiều so với bản viết. Do đó, nỗ lực lớn nhất của chúng tôi là tập trung vào việc bảo toàn toàn bộ nguồn lực của bản thảo viết; từ bản thảo gốc, chúng tôi đã xem xét [tr.223] mọi chú thích và mọi gợi ý về một suy nghĩ chứa đựng nhiều hơn là sự lặp lại đơn thuần. Xét đến tình trạng của văn bản, việc dựa vào các đoạn trích từ bản ghi chép hoặc các phần chèn vào văn bản thay vì dựa vào từ ngữ gốc cũng là điều bất khả. Nhưng từ các bản ghi chép, chúng tôi đã sử dụng những thứ sau: tất cả các suy nghĩ từ bản thảo được mở rộng hoặc phát triển thêm trong các bài giảng; các phần tóm tắt lặp lại trong chừng mực chúng chứa đựng các khái niệm mới hoặc các bước ngoặt tư duy mới; tất cả các công thức hoàn chỉnh của các phần bổ sung và ghi chú bên lề chỉ được đề cập trong các chú thích trong bản thảo; cũng như các biến thể đặc biệt phù hợp của một công thức. Nhìn chung, nhiệm vụ của chúng tôi là chọn lọc những nội dung cần xem xét từ các bài giảng và điều chỉnh chúng cho phù hợp với phong cách trình bày chặt chẽ hơn của văn bản viết.

Văn bản cuối cùng được biên soạn theo chỉ thị của chính Heidegger. Điều này có nghĩa là các phần chèn thêm, ghi chú bên lề và ghi chú bổ sung từ bản thảo, các phần được chọn lọc từ các bản sao, cũng như các cách diễn đạt khác nhau từ các tóm tắt bài giảng trong phần bổ sung hoặc các bản sao, đều được tích hợp vào văn bản chính một cách cẩn thận, phù hợp với phong cách Heideggerian của những năm đó, để sự thống nhất trong sự phát triển tư tưởng được tái hiện ở mức độ tối đa. Các bài giảng do chính tay Heidegger biên tập là hình mẫu cho chúng tôi về tính dễ đọc và sự rõ ràng liên quan đến mạch tư tưởng. Về mặt phong cách, chúng tôi đã hạn chế việc làm mượt văn bản của bản thảo nhiều hơn mức cần thiết để đảm bảo việc đọc không bị gián đoạn và tránh hiểu lầm.

Các từ đệm như ‘vậy là’, ‘cũng vậy,’ ‘tuy nhiên,’ v.v., phần lớn phải được giữ lại, cùng với một số lối diễn đạt và tính không đồng đều đặc trưng của Heidegger, trong khi phong cách bài giảng đặc trưng của ông vẫn được thể hiện rõ trong văn bản viết. Heidegger tự mình thực hiện việc chia văn bản thành các đoạn. Tôi chịu trách nhiệm về các phần chia trong phần giới thiệu và các phần nhỏ hơn của các mục 5, 9 và 11. Việc đặt tiêu đề cho mục 10 phù hợp với việc thực hiện thực tế của phần này. Việc chia văn bản thành các phần và dấu câu phần lớn được giao cho biên tập viên, vì trong bản thảo, Heidegger chỉ giới hạn mình ở việc chia văn bản chủ yếu thành các phần lớn và chỉ gợi ý các điểm ngắt cú pháp trong từng câu bằng cách sử dụng các dấu gạch ngang ngắn giữa các ý tưởng. Các trích dẫn bằng tiếng nước ngoài chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo trong bản thảo của Heidegger đã không được dịch ra. Khi cách diễn đạt của một trích dẫn có vẻ đặc biệt quan trọng đối với mạch tư tưởng, Heidegger cung cấp ít nhất một đoạn dịch, thường là đoạn dịch có thêm phần bình luận [tr.225], nhưng ngoài ra ông thường cung cấp cả trích dẫn bằng tiếng nước ngoài. Những quy tắc này đã được áp dụng trong ấn bản này liên quan đến bản thảo và bản sao chép. Dấu ngoặc đơn chỉ những phần bổ sung của Heidegger trong các trích dẫn và bản dịch trong văn bản chính; chú thích cuối trang chứa các ghi chú của biên tập viên [trong ngoặc đơn in nghiêng] liên quan đến các tài liệu tham khảo. Các phần trong văn bản chính được giới thiệu bởi N.B. [Lưu ý] là những nhận xét bên lề, mà chính Heidegger đã chỉ định như vậy trong bản thảo.

Các bài giảng không trình bày logic truyền thống hay hiện đại, mà theo đuổi ‘nền tảng siêu hình của logic’ dưới ánh sáng của câu hỏi về Hữu thể. Đây là tiêu đề mà bản thân Heidegger đã chọn cho phần chính của khóa học. Do đó, cách diễn đạt này đã được chọn làm tiêu đề của tập sách này. Để khám phá những nền tảng đó, trong nửa đầu các bài giảng, Heidegger đưa ra một cách diễn giải về siêu hình học của Leibniz, trải rộng trong nhiều văn bản và tuyên bố riêng lẻ, một cách diễn giải liên quan đến chức năng của siêu hình học này như là nền tảng cho logic của Leibniz và cho logic truyền thống nói chung. Cách diễn giải lớn đầu tiên này về Leibniz của Heidegger đặc biệt quan trọng đối với sự trình bày của ông về siêu hình học hiện đại của Leibniz về chủ thể tính. Định nghĩa về bản chất như là lực lượng và về lực lượng như là sự biểu hiện (hai chiều) dường như rất quyết định đối với Heidegger đến nỗi ông đã nhiều lần diễn giải Leibniz, cũng như Kant, trong các bài giảng này, trong một chuyên luận trong tập thứ hai của cuốn sách về Nietzsche, và trong các bài giảng Der Satz vom Grund Nguyên lý Lý do Đầy đủ. Heidegger đã xuất bản một phần diễn giải được đưa ra ở đây (xem § 5) trong Festschrift Tuyển tập dành cho Rudolf Bultmann nhân dịp sinh nhật lần thứ 80 của ông (Zeit und Geschichte Thời gian và Lịch sử, do E. DinkIer biên tập, Tübingen 1964, trang 491-507). Văn bản được in vào thời điểm đó chứa một số đoạn văn mà Heidegger đã chọn từ bản sao của Hildegard Feick, mà ông đã sửa chữa nhỏ và có giới thiệu ngắn gọn. Đối với ấn bản hiện tại, văn bản đó một lần nữa được hiệu đính so với bản thảo. Khi làm như vậy, tất cả các phần chèn, ghi chú bên lề và ghi chú còn lại chưa được Feick sao chép, và tất cả các tài liệu hỗ trợ có trong sao chép Mörchen [Thuật ngữ ‘Mörchen transcription’ là các bản chép tay và phụ lục chú thích của nhà triết học người Đức Frank-Otto Mörchen; các tài liệu này ghi lại những bài giảng và các văn bản gốc (Gesamtausgabe Tuyển tập) chưa xuất bản của Martin Heidegger], mà bà Feick chưa có được, đã được sử dụng để hoàn thiện câu chữ, sửa chữa các lỗi đọc riêng lẻ và sắp xếp một số câu và đoạn văn thành một trình tự tương ứng với mạch tư tưởng ban đầu mà Heidegger đã dự định. Có thể nói rằng, vào thời điểm này, chúng ta thực sự đang có trước mắt toàn bộ văn bản chính của bản diễn giải Leibniz đầu tiên của Heidegger.

Bài tưởng niệm Max Scheler, được Heidegger rút gọn [tr.226] và in trong Max Scheler im Gegenwartsgeschehen der Philosophie Diễn ngôn Triết học Đương đại do P. Good biên tập, (Bern và Munich, 1975, trang 9), cũng phụ thuộc vào bản ghi chép của Feick. Văn bản này cũng được trình bày đầy đủ ở đây. Bên cạnh việc diễn giải Leibniz, văn bản những bài giảng này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xem xét lại con đường tư tưởng của Heidegger, điều mà Gesamtausgabe Tuyển tập nên tạo điều kiện thuận lợi. Đặc biệt quan trọng trong nửa sau là các cuộc thảo luận về siêu việt và ý hướng tính, và cuộc đối đầu với Max Scheler, những tuyên bố hướng dẫn để hiểu về Hữu thể và Thời gian, phần giới thiệu về vấn đề thời gian, thông báo về sự chuyển đổi từ Hữu thể luận cơ bản sang Metontology Siêu-Hữu thể luận, và những nghiên cứu đặc biệt chi tiết về khái niệm thế giới kết hợp với vấn đề nền tảng. Luận thuyết Yom Wesen des Grundes Luận về Bản chất của các Nền tảng được phát triển từ những nghiên cứu này. Tập sách này sẽ không thể ra đời nếu không có sự hợp tác của T.S. Heinrich Hüni đã cùng tôi đối chiếu văn bản và đã thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết trước và sau đó với thái độ cẩn trọng và tận tâm. Để có thể hoàn thiện được văn bản cuối cùng, thường khá cam go, nên sự am hiểu sâu sắc của ông về tư tưởng và ngôn ngữ của Heidegger là điều may mắn lớn. Tôi vô cùng biết ơn ông. Tôi cũng xin cảm ơn bà Magdalena Prause đã giúp đánh máy. Wuppertal, nhân kỷ niệm một năm ngày mất của Martin Heidegger. Klaus Held

Lời bạt của người dịch ra tiếng Anh

Lời bạt của biên tập viên ghi lại lời kể của biên tập viên người Đức về quá trình biên soạn văn bản và các nguyên tắc được sử dụng trong việc biên tập ấn bản Gesamtausgabe Tuyển tập các tác phẩm của Martin Heidegger bằng tiếng Đức. Trong lời bạt này, tôi sẽ thông báo cho người đọc về cách tiếp cận của tôi đối với một số vấn đề đặc thù của tác phẩm ‘Cơ sở Siêu hình của Logic’. Có thể sớm dịch được các văn bản của Heidegger sang tiếng Anh bằng cách sử dụng các hệ thống truy xuất dữ liệu điện tử. Máy tính sẽ có thể phân loại các giải pháp dịch thuật trước đó và áp dụng chúng vào văn bản hiện tại một cách nhất quán về mặt kỹ thuật. Tính chính xác về mặt học thuật cũng có thể đòi hỏi chúng ta phải chờ đợi việc tiếp cận toàn bộ kho lưu trữ các bài báo, ghi chú và thư từ của Heidegger; một vốn từ vựng kỹ thuật chính xác về mặt ngữ văn học cho triết học của Heidegger có thể được đảm bảo khi dịch sang tiếng Anh. Tuy nhiên, bản dịch hiện tại không chờ đợi những khả năng đó. Quyết định xuất bản phiên bản tiếng Anh càng sớm càng tốt sau khi công bố bản tiếng Đức xuất phát từ quan niệm của Heidegger về Tuyển tập các tác phẩm của ông bằng tiếng Đức, trong đó văn bản hiện tại là Tập 26 trong kế hoạch tổng thể của bộ sưu tập. Heidegger tin rằng các tác phẩm của ông có tính thời sự đặc biệt đối với thời điểm lịch sử hiện tại của chúng ta, và với suy nghĩ đó, ông đã mô tả Tuyển tập là ‘những con đường - chứ không phải tác phẩm’ (Wege-nicht Werke); ông đã tránh sử dụng khái niệm đồ sộ về ‘Tuyển tập Tác phẩm’. Những con đường tư duy cho những lựa chọn mang tính lịch sử cần được làm sáng tỏ một cách kịp thời, điều này loại trừ sự chính xác hoàn hảo của một công trình vượt thời gian. Một công trình học thuật đồ sộ có thể cần thêm nửa thế kỷ nữa - nếu thực sự có một công trình như vậy.

Tính cấp bách mà Heidegger cảm nhận về Tuyển tập của mình được thể hiện trong lời tựa chưa hoàn chỉnh, được trích dẫn trong Lời bạt của Biên tập viên của Gesamtaugabe Tuyển tập, tập 1: Tuyển tập này cần phải thể hiện bằng nhiều cách khác nhau một quá trình đang diễn ra trong lĩnh vực tìm tòi tự chuyển hóa về nhiều ý nghĩa của câu hỏi về Hữu thể. Do đó, Tuyển tập này cần dẫn dắt người ta tiếp nhận và đặt ra câu hỏi [về Hữu thể], đặc biệt là đặt ra theo cách chất vấn nhiều hơn. Việc chất vấn nhiều hơn có nghĩa là lùi lại một bước, lùi lại trước khi dè dặt, lùi vào một cách nói gọi tên (‘lùi lại’ không phải theo nghĩa thời gian-lịch sử, mà ‘lùi lại’ như là đặc tính của cách tư duy). Mục đích là khơi gợi thảo luận về vấn đề tư duy (với tư cách là mối quan hệ [tr.227] với Hữu thể như là Hiện diện tính; Pannenides, Heraclitus: νοεῖν nhận thức, λόγος Ngôn trí, Lý tính, Trật tự) chứ không phải để truyền đạt ý kiến ​​của tác giả, không phải để mô tả quan điểm của người viết, và không phải để xếp ông ta vào chuỗi các quan điểm khác có thể xác định được trong lịch sử. Tất nhiên, những nỗ lực sau này có thể được thực hiện bất cứ lúc nào, đặc biệt là trong thời đại thông tin, nhưng chúng hoàn toàn không liên quan đến việc chuẩn bị một cách tiếp cận mang tính chất chất vấn đối với vấn đề tư duy.

Số lượng lớn các tập sách chứng tỏ tính chất đáng nghi vấn còn tồn tại của câu hỏi về Hữu thể và cung cấp nhiều cơ hội để tự kiểm nghiệm. Mặt khác, nỗ lực được tập hợp trong ấn bản này chỉ còn là một tiếng vọng yếu ớt của sự khởi đầu ngày càng xa vời: sự tự rút lui của ἀλήθεια aletheia chân lý. Ở một khía cạnh nào đó, sự tự phủ nhận của aletheia chân lý được thể hiện rõ ràng và liên tục được trải nghiệm; tuy nhiên, tính đặc thù của nó vẫn không được nhận ra ngay từ đầu, và tình trạng này đặt ra một sự hạn chế độc nhất vô nhị đối với mọi suy nghĩ sau này. Sẽ là một ảo tưởng nếu bây giờ muốn diễn giải những gì ban đầu được nhận ra thành những gì chúng ta biết hiện nay. Những nhận xét trước đó về tính cấp bách không hề được đưa ra như một lời bào chữa cho những sai sót trong dịch thuật hoặc sự cẩu thả về văn phong. Thay vào đó, chúng nhằm mô tả tinh thần mà bản dịch được thực hiện, không có sự hỗ trợ của máy tính, không có nhóm nghiên cứu, và với mức độ học tập hoặc thời gian rảnh rỗi tối thiểu. Sản phẩm cuối cùng chỉ có mức độ hoàn chỉnh mà một cá nhân hữu hạn có thể thiết kế; tác phẩm hoàn chỉnh không phải là một ‘ấn bản phê bình ngữ văn’ theo nghĩa của các thuật ngữ đó trong văn học Châu Âu. Do đó, mục tiêu của tôi là đưa ra một bản dịch sao cho chính xác nhất có thể nội dung của ấn bản tiếng Đức năm 1978 đến với độc giả nói tiếng Anh. Tôi đã để chú thích ở mức tối thiểu, ngoài một vài lỗi nhỏ do in ấn xác nhận và biên tập viên người Đức kiểm tra, tôi không cố cải thiện ấn bản tiếng Đức bằng cách đối chiếu với các bản thảo và bản sao được thảo luận trong Lời bạt của Biên tập viên ấn bản gốc.

Trong ấn bản gốc tiếng Đức, các đoạn dẫn dài bằng tiếng Pháp, Latin và Hy Lạp thường được trích trực tiếp trong văn bản mà không có dấu ngoặc kép hoặc chữ in nghiêng, một thủ tục phù hợp với thói quen của các giáo sư đại học Đức khi trích dẫn tác giả bằng ngôn ngữ gốc trong các bài giảng trên lớp. Để tránh gây nhầm lẫn cho người đọc nói tiếng Anh, các trích dẫn bằng tiếng Latin và tiếng Pháp đã được in nghiêng. Thỉnh thoảng, khi bản gốc sử dụng lặp đi lặp lại một từ hoặc cụm từ tiếng Latin, thì từ tương đương trong tiếng Anh sẽ được sử dụng thay thế. Ví dụ, một từ Latin thường dùng là propositio trở thành từ tiếng Anh đơn giản là ‘proposition’: Bản thảo tiếng Hy Lạp phân biệt [tr.229] các trích dẫn bằng ngôn ngữ đó, giống như trong văn bản tiếng Đức. Dấu ngoặc vuông được dành riêng cho các phần thêm vào của người dịch hoặc cho các bản dịch tiếng Anh của tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Latin. Các ký hiệu “( )” được sử dụng để phân biệt các phần thêm vào và nhận xét của Heidegger trong các bản dịch của chính ông hoặc trong các trích dẫn của tác giả khác. Các phần thêm vào của các dịch giả khác được trích dẫn và của biên tập viên của ấn bản Tiếng Đức được đặt trong ngoặc vuông in nghiêng. Chú thích cuối trang nằm ở cuối trang và được đánh số liên tiếp từ đầu mỗi phần chính; ghi chú của người dịch nằm ở cuối trang và được đánh dấu bằng dấu hoa thị hoặc dấu thập. Cần lưu ý rằng các trích dẫn từ tiếng Hy Lạp và Latin đã được dịch từ bản tiếng Đức của chính Heidegger thực sự đã tự dịch văn bản; ở những chỗ Heidegger không đưa ra bản dịch tiếng Đức, tôi tự dịch từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, tuy nhiên, luôn kiểm tra và đối chiếu với các bản dịch tiếng Anh chính của văn bản đang được đề cập. Tên các tác phẩm của tiếng Đức được nhắc đến trong văn bản thường được ghi bằng tiếng Đức, ngoại trừ những tác phẩm được nhắc đến thường xuyên có vị thế kinh điển, chẳng hạn như Phê phán Lý tính Thuần túy hay Hữu thể và Thời gian.

Trong trường hợp các từ ngữ tiếng Đức rất khó dịch, tôi đã đưa tiếng Đức vào trong ngoặc đơn hoặc ghi chú những khó khăn trong lựa chọn dịch thuật của mình ở cuối trang. Một số thuật ngữ vẫn còn phức tạp trong tiếng Đức của Heidegger, và nhiều sách và bài báo đã được viết nhằm cố gắng làm sáng tỏ cách sử dụng ngôn ngữ sáng tạo của ông. Ví dụ, từ ngữ Grund gợi ý các từ tiếng Anh như ‘reason’ lý tính/trí, ‘ground’ cơ sở/nền tảng, ‘cause’ nguyên nhân, ‘basis’ cơ sở, ‘fundament’ nền tảng, v.v. Vì văn bản hiện tại chứa nhiều đoạn văn liên quan đến der Satz vom Grund (nguyên tắc ‘lý trí’), điều tốt nhất tôi có thể làm là giới thiệu người đọc đến phần ghi chú và lời tựa dài dòng và sáng tỏ của Terrence Malick cho bản dịch Yom Wesen des Grundes của Heidegger, Luận về Bản chất của Lý trí, (Evanston: Nhà xuất bản Đại học Northwestern, 1969).

Nhìn chung, chiến lược của tôi là để ngữ cảnh quyết định một khía cạnh cụ thể của ý nghĩa của một từ, và do đó tôi không hề tìm cách khái quát hóa bằng cách dịch tương đương từ-ra-từ trong hai ngôn ngữ; cần có một chút tự do nghệ thuật ở đây nếu tiếng Anh thực sự muốn là tiếng Anh trong khi vẫn ‘chuyển ngữ’ được bản gốc tiếng Đức. Số trang tiếng Đức, được ghi ở đầu trang, cho phép người đọc tham khảo bản gốc để kiểm tra sự phù hợp của sắc thái mà tôi đã chọn hoặc để học giả có thể tìm thấy các khía cạnh ngữ nghĩa khác đáng quan tâm. Tôi nghĩ rằng người đọc có chút kiến ​​thức về tiếng Đức, tôi hy vọng sẽ thấy [tr.230] rằng bản dịch có thể được theo dõi từng từ một trong những bản gốc mà không cần bất kỳ sự lược bỏ hoặc bổ sung nào. Khó khăn chính trong việc đối chiếu với bản gốc sẽ xảy ra ở những đoạn văn mà cú pháp và nhịp điệu câu tiếng Anh chiếm ưu thế hơn so với cấu trúc câu phức tạp của tiếng Đức. Trong bản dịch này, tôi đã áp dụng cách tiếp cận của Albert Hofstadter trong việc dịch thuật ngữ trung tâm ‘being’ das Sein Hữu thể. Như Hofstadter đã làm trong bản dịch cuốn ‘Những vấn đề cơ bản của hiện tượng học’ (Bloomington: Nhà xuất bản Đại học Indiana, 1982), từ ‘being’ Hữu thể không được viết hoa. Tôi làm điều này không chỉ đơn thuần vì mục đích nhất quán trong một loạt các bản dịch. Hơn nữa, lý do của tôi dựa trên nhu cầu thay đổi của người đọc và nguồn lực ngôn ngữ thay đổi. Có thể phân biệt das Seiende với das Sein bằng cách dịch từ trước với dạng số nhiều ‘beings’ ‘các Hiện hữu’ và từ sau với dạng ‘being’ ‘Hữu thể’ (không viết hoa). Trước đây, trong tiếng Anh, cần phải lưu ý đến dạng nguyên thể tiếng Đức được sử dụng như một danh từ, das Sein, và việc viết hoa ‘Being’ nhằm cảnh báo người đọc về một cách diễn đạt không thể dịch chính xác trong tiếng Anh mà không ép buộc das Sein vào dạng ‘the to-be’. Nhưng giờ đây, khi sự tập trung đặc biệt của Heidegger vào vấn đề ‘being’ Hữu thể đã trở nên quen thuộc, thậm chí có lẽ là quá quen thuộc, dường như việc cho phép thuật ngữ này trở nên tự nhiên trong tiếng Anh là điều thích hợp, từ đó làm giảm bớt vị thế huyền thoại, xa vời của thuật ngữ này. Việc giải huyền thoại hóa the question of being vấn đề về Hữu thể cũng ngụ ý rằng vấn đề về sự khác biệt hữu thể luận, sự khác biệt giữa ‘being’ và các ‘beings’, sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và là vấn đề cần suy ngẫm nhiều hơn, một khi hào quang huyền thoại của từ ‘Being’ viết hoa đã bị loại bỏ và gợi ý rằng ‘being’ là một tên gọi khác cho vị thế riêng biệt của một Being thần thánh - một gợi ý mà tiếng Anh, vốn rất tiết kiệm trong việc viết hoa, chắc chắn sẽ nảy sinh khi từ ‘being’ được viết hoa. Khi bất kỳ cách biểu đạt nào cũng dễ bị tầm thường hóa thành huyền thoại, thì nhiệm vụ của tư duy dường như nằm ở việc nghĩ ra các chiến lược để giúp chúng ta tránh xa mọi-thứ-quá-quen-thuộc.

Trong số các tổ chức đã hỗ trợ cho việc xuất bản kịp thời tập sách này, trước hết tôi phải kể đến Quỹ Quốc gia về các Khoa Nhân văn (National Endowment for the Humanities - NEH); trong bảy tháng, NEH đã cho phép tôi tạm ngừng nhiều nhiệm vụ giảng dạy để tôi có thể dành toàn bộ thời gian hoàn thành dự án này. Bộ phận Nghiên cứu của Quỹ Quốc gia cũng yêu cầu tôi viết lời giới thiệu cho người dịch dành cho độc giả nói tiếng Anh, và lời giới thiệu này đã được cung cấp riêng. Inter Nationes, một quỹ của Đức, cũng đã hỗ trợ cho việc dịch thuật. Tôi xin cảm ơn ban quản lý tại Missouri Western State College, những người đã cho tôi được nghỉ phép [tr.231] để có thể dành toàn thời gian cho dự án. Tôi cũng phải bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với các tổ chức tài trợ đã tạo điều kiện cho ba năm học tập nâng cao tại các trường đại học Freiburg và Berlin của Đức; bao gồm Ủy ban Fulbright Hoa Kỳ, Chương trình Trao đổi Học thuật Đức (DAAD) và chương trình trao đổi trực tiếp của Văn phòng Hiệu trưởng Đại học Freie Universitat Berlin. Các giáo sư đã giúp đỡ tôi ngay lập tức bao gồm John Sallis, người có những nhận xét và đề xuất sâu sắc và dựa trên nền tảng học vấn đáng ngưỡng mộ; Joseph Kockelmans, người đã hào phóng xem xét kỹ lưỡng các bản thảo đầu tiên của toàn bộ bản dịch và đưa ra những nhận xét hữu ích; và Theodore Kisiel, người đã xem xét một bản thảo ban đầu và đưa ra nhiều gợi ý có giá trị. Albert Hofstadter, Manfred Frings và David Lachterman mỗi người đều đưa ra lời khuyên về các vấn đề học thuật. Friedrich-Wilhelm von Herrmann của Đại học Freiburg đã cung cấp sự giúp đỡ vô giá mười năm trước khi tôi nghiên cứu tác phẩm của Heidegger tại Freiburg. Alphonso Lingis là người đầu tiên đề nghị tôi thực hiện dự án này. Susan Mango tại Quỹ Quốc gia về Nhân văn đã đưa ra những lời khuyên quý giá trong giai đoạn lập kế hoạch của dự án. Các đồng nghiệp của tôi tại Missouri Western, James Mehl, Phil Mullins và John Tapia, đã luôn quan tâm và ủng hộ dự án một cách thân thiện; Gary Shapiro của Đại học Kansas đã nhắc nhở tôi một cách thân thiện rằng triết học, chứ không phải đàn cello, mới là tình yêu đầu tiên của tôi. Điều quan trọng nhất đối với cá nhân tôi là sự hiện diện của Joanna Popdan Heim và Michael Junior.

__________________________________________

(Hết) 

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

 

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XXIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§ 12. Siêu việt và Thời tính (Hư vô Nguồn cội)

[Tr.208] Thời gian hóa là sự dao động tự do của toàn bộ thời tính nguyên thủy; thời gian tự vươn tới và co lại chính nó. Và chỉ vì động lượng/đà mà có Geworfen cú ném, Faktizität thực tính, Geworfenheit tính bị ném; và chỉ vì sự dao động mà có phóng chiếu. Xem: So sánh vấn đề thời gian và Hữu thể được đề cập trong Hữu thể và Thời gian. Do đó, điều thiết yếu, khi lần đầu tiên định nghĩa cái die Einheit der Zeitlichkeit nhất tính của thời tính, là phải loại bỏ khái niệm về bất cứ thứ gì Dingähnlichkeit giống như vật thể, Gegenwart hiện hữu trong tay, Gewesensein nằm giữa, như thể, trạng thái Gewesensein đã-từng-là và Zukunft tương lai. Cũng không nên lén lút đưa vào bất kỳ trung tâm nào, hạt nhân cái tôi, mà bản chất thời gian nằm ở ekstatischen unitären Schwingung dao động nhất tính xuất thân. Nhất tính của chân trời thuộc về nhất tính này của thời gian.

[Ghi chú về ekstatischen unitären Schwingung Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm dao động nhất tính xuất thân mô tả cách thức năng động, nguyên thủy mà Thời gian/thời tính và Hữu thể khai mở. Các hiện hữu Dasein không chỉ đơn thuần ở trong thời gian, mà còn tồn tại như chính nhất tính này. Ba thành phần cốt lõi của khái niệm này có thể được phân tích như sau: Ekstatisch - Die Zeitigung Xuất thân - Thời gian hóa: Heidegger gọi Thời tính Zeitlichkeit là ekstatisch ‘xuất thân’ từ tiếng Hy Lạp ekstasis - bởi vì Dasein không chỉ dừng lại ở bây giờ. Nó luôn đồng thời hướng ra ngoài từ chính nó về phía tương lai (Vorlaufen Ưu tiên), Gewesenheit Cái-đã-từng-là (Wiederholung Lặp lại) và Gegenwart Bây giờ (Begegnenlassen cho phép gặp gỡ). Ba chiều này cùng nhau cấu thành không gian của thế giới. Unitär Tính duy nhất (Die Einheit Nhất tính): Ba chiều thời gian này không phải là những phần riêng biệt, mà là một sự kiện thống nhất, mạch lạc. Heidegger gọi nhất tính của cấu trúc này là ursprüngliche Zeitlichkeit thời tính nguyên thủy, tạo nền tảng hiểu biết của chúng ta về Sein Hữu thể và Welt Thế giới. Schwingung Rung động/Erschwingung Cộng hưởng - Heidegger sử dụng phép ẩn dụ âm nhạc hoặc sóng để mô tả cách thức mà Hữu thể và Thời gian không phải thứ tĩnh tại. Chúng ‘rung động’ hay ‘xuất hiện’ trong một quá trình liên tục Wurf ném ra, Entwurf phóng chiếu, và Rückzug rút lui. Dasein rung động trong mối liên hệ với Sein Hữu thể - cái gọi là Kehre bước ngoặt.- HHN]

Về điểm 2. Chúng ta hiểu thế nào về tính chất chân trời/bình tuyến của các trạng thái xuất thân? Chúng ta hiểu ‘chân trời’ là chu vi của trường thị giác. Nhưng ὁρίζειν horízein chân trời, lại chủ yếu không hoàn toàn liên quan đến việc nhìn và trực giác, mà tự nó chỉ đơn giản có nghĩa là cái giới hạn, cái bao lại, cái bao trùm. Và các trạng thái xuất thân, dĩ nhiên, không phải là nhận thức về, không phải là ý thức, và càng không phải là việc nhìn. Vậy là chúng ta nói mỗi trạng thái xuất thân tự bao lấy chính nó và làm như vậy chính xác với tư cách ἔκστασις ekstasis xuất-thân. Người ta có thể tin điều ngược lại là đúng, và việc bị-cuốn-đi chính là bước nhảy vọt qua mọi rào cản. [Ghi chú về tình trạng weggetragen warden bị-cuốn-đi: Trong bài giảng ‘Logic như là câu hỏi về bản chất của ngôn ngữ’ của Heidegger (Học kỳ hè năm 1934), cụm từ ‘bị cuốn đi’ (hay ‘bị cuốn đi qua chúng ta’) mô tả trải nghiệm về việc truyền thống (lịch sử) nắm bắt sự tồn tại của chúng ta và đẩy vận mệnh của chúng ta vượt ra ngoài ý chí thường nhật vào tương lai. Những điểm chính của khái niệm logic và ngôn ngữ: Heidegger lập luận rằng bản chất của ngôn ngữ không nằm ở logic của tư duy đơn thuần, mà nằm ở tính lịch sử của chúng ta. Nó kéo chúng ta ra khỏi ‘công việc hiện tại’ tầm thường. Thông qua di sản lịch sử, vận mệnh của chính chúng ta bị ‘cuốn trôi qua chúng ta’, và chúng ta được giao phó vào tay tương lai. Cái cốt yếu đến với chúng ta từ tương lai, miễn là chúng ta có thể tuân theo truyền thống.- HHN] Chắc chắn, tự nó, không có gì xác định trong tự thân mong đợi; nó không thể tự quyết định, và chắc hẳn không bao giờ một cách rõ ràng, trên cơ sở của nó, là điều gì có thể được mong đợi và làm thế nào nó có thể được mong đợi.

Nhưng trạng thái bị-cuốn-đi như vậy vẫn mang lại một điều gì đó, chỉ là một điều gì đó có tính tương lai theo đúng nghĩa, tương lai tính theo đúng nghĩa, tức là khả tính thuần túy và đơn giản. Tự bản thân trạng thái xuất thân không tạo ra một khả thể xác định, nhưng nó tạo ra chân trời khả tính nói chung, trong đó người ta mong đợi một khả thể xác định. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng trạng thái xuất thân vượt qua mọi hiện hữu và chân trời đó không nằm trong phạm vi của chủ thể. Do đó, chân trời này cũng không ở đâu cả, vì nó không thể hiện một Hữu thể xác định: nó không được định vị về không gian hay thời gian, theo nghĩa thông thường. Nó không ‘là’ theo đùng nghĩa, nhưng nó tự thời gian hóa chính nó. Chân trời biểu hiện trong và cùng với trạng thái xuất thân; đó là trạng thái xuất thân của nó (được hình thành một cách tương tự như, chẳng hạn, σύστημα sýstema hệ thống tương ứng với σύστασις systasis cấu thành hoặc σύνθημα synthema phương châm tương ứng với σύνθησις liên kết/tổng hợp). Và, tương ứng với nhất tính của các trạng thái xuất thân trong quá trình thời gian hóa của chúng, cái nhất tính của các chân trời là một nhất tính nguyên thủy. Nhất tính xuất thân này của chân trời thời tính không gì khác hơn là điều kiện thời gian cho khả tính của thế giới và hành động thuộc về thiết yếu của thế giới đối với siêu việt. Bởi vì siêu việt có khả tính của nó trong nhất tính của động lượng/đà xuất thân.

Sự dao động của các trạng thái xuất thân tự thời gian hóa này, như vậy, là [tr.209] khởi dựng, được coi là [dao động] hướng tới tất cả mọi hiện hữu khả thể thực sự gia nhập một thế giới ở đó. Trạng thái xuất thân tự thời gian hóa, dao động như một cuộc Welten hình thành thế giới. Việc gia nhập thế giới chỉ xảy ra khi một thứ gì đó giống như dao động xuất thân tự thời gian hóa thành một thời tính cụ thể. Việc gia nhập thế giới dựa trên thời gian hóa của thời tính. Sự kiện cơ bản, theo nghĩa siêu hình, là tình trạng có đó của bất cứ thứ gì giống như thời tính. Sự gia nhập thế giới của các hiện hữu là Urgeschichte nguyên sử thuần túy và đơn giản. Từ cái nguyên sử này, một vùng vấn đề phải được phát triển mà ngày nay chúng ta đang bắt đầu tiếp cận với sự rõ ràng hơn, vùng thần thoại. Siêu hình học của thần thoại phải được hiểu từ cái nguyên sử này, và điều đó có thể được thực hiện với sự trợ giúp của một cấu thành siêu hình về thời gian nguyên khởi, tức là thời gian mà tự thân nguyên sử bắt đầu. Bằng cách chỉ ra cấu thành-bản chất xuất thân và bình tuyến của thời gian với tư cách thời tính, mục đích của chúng ta là gợi ý khả tính siêu việt nội tại. Chỉ thông qua việc trình bày hiện tượng chăm bẵm, tại thời điểm này, chúng ta mới có thể đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về siêu việt. Chúng ta sẽ phải chỉ ra cách thức mà thực tính và cá nhân hóa được dựa trên thời tính, mà với tư cách thời gian hóa, tự thống nhất trong chính nó và cá thể hóa theo nghĩa siêu hình, với tư cách principium individuationis nguyên tắc cá thể hóa. Nhưng cách cá thể hóa này lại là tiền đề cho Umgang giao tiếp nguyên thủy giữa Dasein và Dasein.

Giờ đây ta thấy một sự tương ứng rõ ràng giữa điều này và thuyết đơn tử luận của Leibniz, nhưng cũng thấy những điểm khác biệt giữa chúng. Việc trình bày của chúng ta về đơn tử luận đã được hướng dẫn bởi cách diễn giải Dasein như là thời tính, đặc biệt là bởi một cái nhìn sâu sắc về bản chất của siêu việt. Tại thời điểm này, chúng ta có thể nói rằng cách diễn giải đơn tử luận mà tôi đã trình bày đã được phóng đại một cách có chủ đích, và phóng đại ở hai khía cạnh: 1) trong chừng mực chúng ta hình dung các yếu tố xác định cơ bản của cái đơn tử, repraesentatio tri giác và appetitus tổng giác, chủ yếu là các cấu trúc ý hướng tính; 2) trong chừng mực chúng ta làm rõ những yếu tố cấu trúc ý hướng tính là các cấu trúc siêu việt, tức là, trong mối liên hệ của chúng với vũ trụ, ‘thế giới’; vì lý do này, cái đơn tử có thể được định nghĩa là một mundus concentratus. [Tổ hợp từ mundus concentratus nghĩa là ‘thế giới tập trung’ chủ yếu gắn liền với quan điểm triết học của Gottfried Wilhelm Leibniz. Tuy nhiên, Martin Heidegger đã sử dụng khái niệm này một cách cụ thể trong Cơ sở Siêu hình của Logic để phê phán quan điểm của Leibniz, đối lập nó với khái niệm năng động của riêng ông về vị thế-thế giới của thế giới. Trong triết học của Heidegger, Weltlichkeit vị thế-thế giới đề cập đến cấu trúc nền tảng của ý nghĩa, các mối quan hệ và bối cảnh tạo nên trải nghiệm về một ‘thế giới’ ngay từ đầu. Nó không phải là vũ trụ vật chất hay một tập hợp các đối tượng, mà là khuôn khổ ý nghĩa mà qua đó con người hiểu và định hướng hiện hữu của mình. Cấu trúc của Weltlichkeit vị thế-thế giới trong tác phẩm kinh điển Hữu thể và Thời gian, đối với Heidegger là Dasein người về cơ bản là ‘hiện-hữu-trong-thế giới’. Weltlichkeit Thế giới cấu thành là điều kiện tiên nghiệm ràng buộc con người và môi trường của họ lại với nhau. Nó được chia thành ba khái niệm cốt lõi: Công cụ, và Cái sẵn có Zuhanden và Ý nghĩa: Chúng ta không trải nghiệm thế giới chủ yếu như một tập hợp các đối tượng khoa học, mà như một mạng thực tiễn các công cụ và tiện ích. Ví dụ, một cái búa chỉ được trải nghiệm trong mối quan hệ với đinh, gỗ và mục tiêu xây dựng. Những thực thể này là ‘sẵn có’. Thế giới cấu thành được dệt nên bởi ý nghĩa; tính đồng nhất và giá trị của một vật thể xuất phát từ vị trí của nó trong một mạng mục đích và tham chiếu bao quát. Vorhanden vật hiện diện - Khi một công cụ bị hỏng, nó mất đi giá trị ‘công cụ’ thực dụng và trở thành một vật thể đơn thuần, tách rời. Sự thay đổi này hé lộ thế giới ẩn sau sự hấp thụ thực tiễn hàng ngày của chúng ta. Tại sao điều này quan trọng? Khái niệm thế giới của Heidegger bác bỏ phân chia truyền thống của Descartes - coi con người là chủ thể tư duy biệt lập, tách rời khỏi thế giới vật chất. Thay vào đó, mối liên hệ của chúng ta với thế giới là trực tiếp, thực tiễn và có ý nghĩa. Thế giới là một quá trình tạo ra và tiết lộ ý nghĩa năng động, liên tục - không phải là sân khấu vật chất tĩnh tại.- HHN]

Khác biệt cơ bản giữa cách diễn giải đơn tử luận của Leibniz và cách diễn giải của tôi về Dasein như là thời tính là như sau: ở Leibniz, việc hiện thực hóa ý nghĩa siêu hình thực sự của quan niệm của ông bị cản trở bởi thực tế là về nguyên tắc, ông đặt ego cogito cái tôi tư duy của Descartes làm nền tảng cho quan niệm của ông về đơn tử, về Cái Tôi; còn là việc ông cũng coi đơn tử như một thực thể được bao bọc trong phạm vi của nó, mặc dù ông tích hợp [tr.210] toàn bộ thế giới trong tính nội tại này và nội dung [của đơn tử] của nó. Do đó, Leibniz mới có thể nói rằng: Các đơn tử không cần cửa sổ, bởi vì chúng đã có mọi thứ bên trong. Ngược lại, có thể nói rằng chúng không có cửa sổ, không phải vì chúng có mọi thứ bên trong, mà vì không có bên trong cũng như bên ngoài - bởi vì thời gian hóa (động lực) tự nó hàm chứa sự kiện xuất-thân của việc gia nhập thế giới, trong chừng mực siêu việt tự nó đã là bước nhảy khả thể vượt qua các hiện hữu khả thể có thể gia nhập một thế giới. Vì vậy, thời gian không phải là một mundus concentratus thế giới tập trung mà là ngược lại. Thời gian về bản chất là tự-khai-mở và mở rộng vào một thế giới.

Tôi sẽ không đi sâu hơn vào sự so sánh này, đặc biệt là câu hỏi về mức độ mà người ta có thể hình dung việc diễn giải Dasein như là thời tính theo cách Hữu thể luận phổ quát – hệt như đơn tử luận được trình bày như một phô diễn về toàn bộ vũ trụ của các hiện hữu. Đây là một câu hỏi mà chính tôi cũng không thể quyết định, một câu hỏi mà đối với tôi vẫn hoàn toàn không rõ ràng. Cũng cần phải làm rõ hơn xem là chúng ta có thể nói về thế giới rằng nó là hư vô đến mức độ nào. Hư vô kiểu gì vậy? Chừng nào ta còn xem xét thế giới, biến nó thành một vấn đề và cố gắng chứng minh nó là thiết yếu, thì đối với siêu việt tính, nó phải là một cái gì đó. Nếu nó là hư vô, thì nó không được là nihil negativum hư vô phủ định, tức là không phải là sự phủ định trống rỗng thuần túy đơn giản của một cái gì đó. Thế giới là hư vô theo nghĩa nó không phải cái gì đó ‘là’. Nó là hư vô nhưng lại là cái gì đấy ‘có đó’. Cái ‘có đó’ ‘es’ của ‘es gibt’ vốn là cái đây không phải-một-hiện-hữu tự nó không hiện hữu, mà là thời tính tự-thời gian hóa. Và cái mà thời tính thời gian hóa này, với tư cách là một nhất tính xuất-thân, thời gian hóa chính là nhất tính chân trời của nó – là thế giới. Thế giới là hư vô tự thân thời gian hóa theo cách nguyên thủy, là cái đơn giản phát sinh trong và cùng với thời gian hóa. Vì vậy, chúng ta gọi nó là nihil originarium hư vô nguồn cội.

Tuy nhiên, nguồn gốc của siêu việt chính là tự thân thời tính, và nó là nguồn cội theo cái cách mà siêu việt cũng vậy, và điều đó có nghĩa là gia nhập thế giới, xảy ra cùng với thời gian hóa. Thời gian, theo nghĩa thông thường, chỉ có đó cùng thời gian hóa của thời tính, khi xuất hiện sự gia nhập thế giới. Và cũng có những hiện hữu nội-thời gian tính, những thực thể xuất hiện ‘trong thời gian’ chỉ khi sự gia nhập thế giới xảy ra và những hiện hữu nội-thế gian bắt đầu hiển hiện đối với Dasein. Khi đó, chúng ta thấy được tính năng suất đặc biệt vốn có của thời tính, theo nghĩa sản phẩm chính xác là một hư vô đặc biệt, thế giới. Kant, lần đầu tiên, đã khám phá ra điều này. Năng suất nguyên thủy của ‘chủ thể’ trong học thuyết về trí tưởng tượng sản sinh siêu nghiệm của ông. Tất nhiên, ông đã không thành công trong việc đánh giá tri ​​thức này trong những hệ quả triệt để của nó, mà theo đó ông sẽ phải, như thể, phá bỏ chính tòa nhà của mình với sự trợ giúp của cái nhìn mới [tr.211]. Ngược lại, trực giác tuyệt vời này về nguyên tắc đã bị bỏ mất. Tuy nhiên, bước tiến đầu tiên này vào trí tưởng tượng siêu nghiệm, mà đối với Kant chỉ được kết nối một cách mơ hồ với thời gian, là khoảnh khắc đầu tiên trong lịch sử triết học mà siêu hình học đã cố gắng giải phóng mình khỏi logic, và khỏi một logic đã không tìm thấy và chưa bao giờ tìm thấy bản chất của chính nó trong siêu hình học, mà vẫn là một sự đào tạo trở nên hời hợt và hình thức. Có lẽ sự kiện thực sự trong lịch sử triết học luôn chỉ là Zeitigung thời gian hóa của những ‘khoảnh khắc’ như vậy trong những khoảng thời gian và nét vẽ xa xôi, những khoảnh khắc không bao giờ được biểu lộ với tư cách bản chất thực sự của chúng. Nhưng năng suất của chủ thể này - theo nghĩa siêu nghiệm, như thường lệ đối với một điều gì đó trọng tâm về mặt triết học, đã xuất hiện ở đâu đó trong tất cả thực tại triết học. Ví dụ, tôi xin dẫn lời Heraclitus (Đoạn 115): ψυχῆς ἐστι λόγος ἑωυτὸν αὔξων psyches esti logos heauton auxon Linh hồn chính là Lý trí tự Trưởng thành; Dasein là thứ hiện hữu tự làm giàu cho chính mình theo cách hiểu biết. Trong tự thân Dasein về bản chất là khả tính nội tại nguyên thủy làm giàu; Dasein luôn mang đặc tính là-giàu-hơn, đặc tính của sự vượt trội.

§ 13. Siêu việt Thời gian hóa trong Thời tính và Bản chất của Cơ sở

Thời tính tự thời gian hóa chủ yếu từ tương lai. Điều này có nghĩa là toàn thể xuất-thân của thời tính, và do đó nhất tính của chân trời, được xác định chủ yếu từ tương lai. Đó là cách nói siêu hình rằng thế giới, vốn không có gì khác hơn là chỉ dựa trên toàn thể tính xuất-thân của chân trời thời gian, tự thời gian hóa chủ yếu từ cái ‘vì-lợi-ích-của’. Cái ‘vì-lợi-ích-của’ này, trong mỗi trường hợp, là cái ‘vì-lợi-ích-của’ của ý chí, của tự do, tức là của sự siêu việt hướng tới chính mình. Nhưng cái ‘vì-lợi-ích-của’ này chỉ có khả tính nội tại của sự hướng tới chính mình theo phương thức ràng buộc chỉ trong thời gian hóa xuất-thân của việc làm-cho-hiện-diện nguyên thủy, tức là trong tương lai mà trong đó, hay nói đúng hơn, với tư cách là cái mà sự vận động ngược chiều của Dasein tự cấu thành. Nhưng về bản chất, tương lai không phải là một xuất-thân cô lập hay thậm chí tự cô lập. Ngược lại, càng mang tính tương lai nguyên thủy hơn, thì thời tính càng mang tính hồi quy hơn, và bằng cách này toàn bộ thời tính và cái thời gian hóa của chân trời xuất-thân của nó diễn ra. Hiện-hữu-trong-thế-giới, siêu việt hướng tới thế giới, tự thời gian hóa chính nó với tư cách thời tính và chỉ khả thể theo cách này. Điều đó ngụ ý rằng gia nhập-thế giới chỉ xảy ra nếu thời tính tự thời gian hóa chính nó.

[Tr.212] Và chỉ khi điều này xảy ra thì các hiện hữu mới có thể tự hiện thân như là cách hiện hữu. Nhưng chừng nào điều này chỉ khả thể trên cơ sở hiểu-biết-về-hiện-hữu, thì khả tính hiểu-biết-về-hiện-hữu phải nằm trong thời gian hóa của thời tính. Các hiện hữu gia nhập vào ‘thời gian’ trong và cùng với thời gian hóa của thời tính và sự gia-nhập-thế-giới của các hiện hữu; các hiện hữu được lý giải và xác định là mang tính nội-thời gian. Bởi vì sự kiện gia-nhập-thế-giới của các hiện hữu là sự kiện nguyên thủy và về bản chất là thời gian hóa, nên ngay cả trong thái độ tiền triết học đối với các hiện hữu và trong sự xác định tiền Hữu thể luận thông thường về Hữu thể, vẫn có xu hướng xác định Hữu thể bằng cách quy chiếu vào thời gian. Trong xu hướng bí ẩn và không hề tùy tiện để lý giải các hiện hữu với tư cách là nội thời gian, ngoại-thời gian và siêu-thời gian, chúng ta có bằng chứng về nguyên sử siêu hình của Dasein như là thời tính. Dasein như là thời tính do đó tự đặt ra nhiệm vụ lý giải chính mình trong thời gian hóa của nó. 

Nói cách khác, siêu hình học thuộc về bản chất của các hiện hữu người. Và vì lý do này, Dasein con người, về bản chất, có Vor-liebe xu hướng thiên về siêu hình học. Chúng ta cũng có thể nói rằng, tất cả những gì tồn tại đều đã là một quá trình triết học hóa. Triết học, như người ta vẫn luôn được biết, không nên bắt nguồn từ nơi khác, mà phải tự đặt cơ sở cho chính nó. Cái ‘tự’ này phát sinh bởi vì triết học về bản chất thuộc về Selbstsein Vị thế Tự ngã của Dasein. [Trong triết học của Martin Heidegger đặc biệt là trong tác phẩm Hữu thể và Thời gian, Selbstsein Vị thế Tự ngã không phải là một hiện hữu cố định hay một linh hồn bất biến. Đó là cách thức cụ thể mà Dasein chủ động nắm lấy Hữu thể của chính mình và định hình nó thông qua những ý định và hành động của riêng họ. Heidegger chia Selbstsein Vị thế Tự ngã thành hai phương thức hiện hữu cơ bản: 1). Selbstsein Vị thế Tự ngã không chân thực cái ‘chúng/họ’ - trong cuộc sống hàng ngày, Dasein thường lạc lối trong thế giới sự vật và trong các tương tác với kẻ khác. cái ‘chúng/họ’ - chúng ta định hướng bản thân theo các quy ước, kỳ vọng và xu hướng xã hội ‘Đứa làm thế này’, ‘Kẻ nói thế kia’; Entfremdung Sự tha hóa - Dasein vô thức chấp nhận các tiêu chuẩn ngoại lai. Selbstsein Vị thế Tự ngã chân thực vẫn ẩn giấu; trong cuộc sống hàng ngày, cá nhân bị tha hóa ‘với chính mình’. 2). Selbstsein Vị thế Tự ngã chân thực Die Entschlossenheit Quyết tính: Bản ngã chân thực không đạt được thông qua việc rút lui khỏi thế giới, mà thông qua một lập trường có ý thức trong thế giới. Das Gewissen Lương tâm và die Schuld Tội lỗi: Lương tâm kêu gọi Dasein từ cái ‘chúng/họ’ và đối mặt với nó bằng chính Schuldhaftigkeit Tính Tội lỗi của mình: Schuldhaftigkeit im Sinne des Nicht-aus-sich-selbst-sei-Könnens - Tội lỗi theo nghĩa Không-thể-tự-tồn-tại. Entschlossenheit Quyết tính: Dasein nhận ra tình trạng bị ném vào hoàn cảnh của chính mình - hoàn cảnh không thể thay đổi - và chủ động nắm bắt Möglichkeiten các Khả tính. Nó gánh vác Verantwortung trách nhiệm cho sự tồn tại của chính mình. Der Tod Cái chết như một Khả tính: Bằng cách dự đoán sự kết thúc den Tod của chính mình như một khả tính không thể tránh khỏi, Dasein bị ném trở lại chính mình. Điều này giải phóng nó khỏi những ràng buộc hời hợt và cho phép hành động chân thực, tự chịu trách nhiệm. Tóm lại, đối với Heidegger, Selbstsein Vị thế Tự ngã không phải là một trạng thái mà người ta chỉ đơn thuần sở hữu, mà là một nhiệm vụ liên tục. Đó là quá trình Sich-selbst-Entwerfens ‘tự thiết kế’, trong đó cá nhân phải tự do lựa chọn giữa việc chỉ tuân theo số đông hoặc một cuộc sống chân thực, tự quyết định. HHN] Trên thực tế, không có nghĩa đào tạo triết học là hoàn toàn cần thiết, cũng như ngược lại, nghiên cứu triết học hay xuất hiện một khối văn liệu tự xưng triết học, khác với việc triết lý hóa, không đảm bảo cho sự tồn tại của triết học. Nhưng, để tồn tại, mọi thứ chân chính đều cần có hình thức. Không có một triết học thuần túy nào, cũng không có một thứ ngụy biện nào độc quyền hoàn toàn. Cả hai cùng thuộc về một ‘nền văn hóa’ lịch sử cụ thể, có thể tồn tại theo nhiều cách khác nhau.

Cách thức mà chúng tôi đề xuất về sự tự khẳng định cơ sở của triết học không thể được tiếp tục ở đây. Mục đích của chúng tôi lại khác, mặc dù không kém phần quan trọng. Cuối cùng, chúng tôi đã làm sáng tỏ mối liên hệ thiết yếu giữa siêu việt và thời tính, mà chúng tôi đã tìm kiếm những đặc điểm chính. Các hiện hữu bước-vượt-lên trong siêu việt, được thực hiện hướng tới mọi chiều kích, được đặt nền tảng trong cấu thành xuất-thân của thời tính. Bước-sang-thế giới không có nghĩa gì khác ngoài việc nhất tính xuất-thân của thời tính, với tư cách nhất tính của hiện-hữu-bị-cuốn-đi, có một chân trời được thời gian hóa chủ yếu từ tương lai, cái vì-lợi-ích-của: thế giới. Siêu việt là hiện-hữu-trong-thế-giới. Nhưng chúng ta đã nỗ lực minh định về phương diện siêu hình về siêu việt tính nhằm mục đích tiết lộ bản chất của cơ sở. Tuy nhiên, bản chất của cơ sở [tr.213] là cả một vấn đề, bởi vì việc đưa ra Begründung und Begründbarkeit các lý tính và tính hợp lý lại thuộc về chân lý. Nhưng, nếu hiểu đúng đắn và xem xét một cách phổ quát, thì chân lý là chủ đề của logic. Làm rõ bản chất của cơ sở, hoặc con đường dẫn đến đó, không chỉ cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về bản chất này, mà đồng thời còn giúp chúng ta nhận ra rằng logic không gì khác ngoài siêu hình học của chân lý.

Vậy thì bản chất của cơ sở là gì? Điều quan trọng không kém, thậm chí còn quyết định hơn cả một câu trả lời thẳng thắn, có vẻ trấn an và dễ hiểu cho câu hỏi này, là sự quen thuộc với cách thức nó được hình thành. Đó là vì câu trả lời chỉ có thể được đưa ra bằng cách đi qua và lặp lại con đường của câu hỏi. Tuy nhiên, giờ đây, cần phải cố gắng trả lời câu hỏi về bản chất của cơ sở, nói cách khác, với tất cả mọi dè dặt mà bất kỳ câu trả lời nào như vậy đều chứa đựng khi được coi là một định nghĩa và một tuyên bố riêng lẻ. Khi tìm hiểu về bản chất của cơ sở, chúng ta không tìm kiếm những cơ sở cụ thể cho một điều gì đó, mà đang tìm kiếm sự thấu hiểu về ý nghĩa của cơ sở nói chung, về cách thức mà cơ sở theo đúng nghĩa vốn dĩ khả thể, và điều đó có nghĩa là nó cần thiết về mặt siêu hình như thế nào. Việc tìm hiểu về bản chất của cơ sở có thể được đưa vào một công thức, trong đó vấn đề được hình thành như sau: Không chỉ về mặt thực tế mà còn về bản chất, với tư cách Dasein, tại sao chúng ta lại hỏi về lý do? Tại sao lại có bất cứ điều gì như lý do tại sao và bởi vì sao? Bởi vì Dasein tồn tại, tức là bởi vì sự siêu việt trở nên thời gian hóa. Tuy nhiên, siêu việt là hiện-hữu-hướng-về-tự-thân mang tính xuất-thân theo phương thức ‘vì-mục-đích-của-tự-thân. Cái vì-mục-đích-của, như một đặc tính cơ bản của thế giới, tức là của sự siêu việt, là hiện tượng nguyên thủy của cơ sở theo đúng nghĩa. Bởi vì chúng ta tồn tại theo cách thức của một tồn tại siêu việt, theo cách thức hiện-hữu-trong-thế-giới, và cái cách thức đó là thời gian hóa, do đó chúng ta đặt câu hỏi về lý do tại sao. Nhưng tuyên bố này vẫn còn gây hiểu lầm. Điều đó không có nghĩa là, bởi vì chúng ta thực sự tồn tại, nên chúng ta cũng quan tâm đến nguồn cội và đích đến của mình. Hơn nữa, câu hỏi là: Về mặt siêu hình, mối quan tâm này nảy sinh từ đâu, mối quan tâm mà trong mọi trường hợp đều liên quan đến tất cả các hiện hữu chứ không chỉ riêng đối với bản thân ta? Nguồn cội của bất cứ điều gì giống như cơ sở đều nằm ở bản chất của tồn tại được xác định là siêu nghiệm, tức là ở tình trạng bị-cuốn-vào cái vì-lợi-ích-của-tự-thân của Dasein. Nếu vì-lợi-ích-của, theo đúng nghĩa, là hiện tượng nguyên thủy của cơ sở, thì cơ sở vượt lên trên tất cả mọi hiện hữu theo tất cả các modi essentiae phương thức tồn tại và existentiae mọi tồn tại khác nhau của chúng.

Cái vì-lợi-ích-của không phải là thứ trôi nổi, mà nó tự thời gian hóa trong tự do. Với tư cách tự-phóng-chiếu mang tính xuất-thân lên năng lực cho-hiện-hữu của chính nó [tr.214], thì tự do hiểu chính nó từ năng lực này và đồng thời coi năng lực này như một trách nhiệm. Do đó, tự do là nguồn cội của bất cứ thứ gì giống như cơ sở. Chúng ta có thể tóm gọn điều này bằng cách nói rằng tự do là bản chất siêu hình của Dasein siêu việt, đang tồn tại. Nhưng tự do với tư cách là tự do siêu việt hướng tới cơ sở. Là tự do là hiểu chính mình từ năng-lực-là của chính mình; nhưng ‘chính mình’ và ‘của riêng mình’ không được hiểu theo cách cá nhân hay vị kỷ, mà là phương diện siêu hình. Chúng được hiểu trong những khả tính cơ bản của Dasein siêu việt, trong năng-lực-tồn-tại-với với những kẻ khác, trong năng-lực-tồn-tại bởi những sự vật vẫn tồn tại, trong năng-lực –tồn-tại thực tế hiện sinh hướng tới chính mình trong mỗi trường hợp.

Lý giải bản thân từ cái vì-lợi-ích-của có nghĩa là hiểu bản thân từ nền tảng. Cách thức tự lý giải này hẳn đã tự biến đổi thành nhiều khả tính cơ bản của chính nó theo cái mà tôi gọi là sự lan tỏa nội tại của Dasein (§ 10). Bản chất của cơ sở tự phân hóa thành nhiều loại ‘nền tảng’ khác nhau (ví dụ: bốn nguyên nhân), không phải vì có những hiện hữu khác nhau, mà vì bản chất siêu hình của Dasein với tư cách là siêu việt có khả tính trước tiên thiết lập khả năng tiếp cận-thế giới cho các hiện hữu khác nhau. Và bởi vì Dasein siêu việt chính nó, Dasein có thể được đặt nền tảng tự lý giải của chính nó theo những hướng khả thể khác nhau có thể theo những cách khác nhau, mà không bao giờ theo một cách duy nhất. Với tư cách là một hiện hữu, Dasein thực tế có nhiều khả tính khác nhau để hiểu và nhận thức mang tính ontic thực hữu (lịch sử, sinh học, tâm lý học, vũ trụ học). Nhưng đa tính của nền tảng khả thể, tính đa dạng của các cách lý giải khả thể về Dasein, thực sự phải được diễn giải tự thân như một tính đa dạng và như một tính đa dạng mạch lạc. Cần phải chỉ ra cách thức mà bản chất của Dasein với tư cách là Dasein thực tế đòi hỏi, không chỉ đối với chính nó mà còn trong toàn bộ phạm vi siêu việt khả thể của nó, một loạt các cách thức tìm tòi, nhận thức, đặt nền tảng và chứng minh. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ có manh mối dẫn đường khi nó trở nên rõ ràng về nguồn gốc bản chất của cơ sở, cụ thể là trong sự tự do của Dasein với tư cách tự do hướng tới cơ sở. Và chỉ có loại tự do này mới ‘là’ và tự hiểu mình như là nguồn cội của trách nhiệm. Bởi vì cái ‘vì-lợi-ích-của’ là sự phản kháng vì-lợi-ích-của-tự-thân, nên tự do, do nhu cầu thiết yếu, cuối cùng là cơ sở của cơ sở.

Thậm chí chúng ta còn hỏi về lý do tại sao theo chính hình thức này: Tại sao lại là lý do tại sao? Và vì vậy, dường như người ta có thể hỏi thêm về lý do tại sao của lý do tại sao, v.v. Bản thân việc đặt câu hỏi thêm như vậy có vẻ như là một sự triệt để không bao giờ dừng lại, nhưng đó chỉ là một hình thức bề ngoài và thực chất là tình trạng thiếu suy nghĩ. Bởi vì trong câu hỏi về lý do tại sao của [tr.215] lý do tại sao, không chỉ đơn giản là hai lý do tại sao cùng nhau trong sự kết hợp hình thức, mà sau đó sự kết hợp này có thể được lặp lại theo một cách hình thức tương ứng. Thay vào đó, lý do tại sao đặt câu hỏi, tức là lý do tại sao đầu tiên hỏi về lý do tại sao thứ hai, được đặt nền tảng như vậy trong cái được hỏi, tức là trong lý do tại sao mà nó đặt ra câu hỏi. Do đó, cuối cùng, chính lý do tại sao đặt câu hỏi mới là điều cần được định nghĩa, và định nghĩa đó không gì khác hơn là bản chất của lý do tại sao được đưa ra câu hỏi. Trong việc làm rõ bản chất của cơ sở nói chung, chúng ta đã nêu ra hai vùng vấn đề: 1) Làm rõ nguồn cội đa tính của cơ sở, các hình thức của cơ sở, tức là sự phân bố của cơ sở; 2) Diễn giải về sự co rút thiết yếu của cơ sở trở lại một cơ sở duy nhất (tình trạng bị ném vào chính nó). Trình trạng co rút của  cơ sở này, tức là sự quay vòng của Dasein, là một vấn đề liên quan mật thiết nhất với vấn đề thứ nhất, như được thể hiện bởi ‘vòng tròn’ lý giải (xem Hữu thể và Thời gian). Chúng ta không thể đi sâu hơn vào cả hai nhóm vấn đề ở đây. Hơn nữa, chúng ta đang cố gắng làm rõ bản chất của cơ sở bằng một bước nữa, để đạt được mục tiêu của khóa học, đó là thấu hiểu logic như là siêu hình học của chân lý.

Hiện tượng nguyên thủy của cơ sở là cái vì-lợi-ích-của, vốn thuộc về siêu việt. Duy trì bản thân trong cái vì-lợi-ích-của và ràng buộc bản thân với nó, tự do là tự do hướng tới cơ sở. Tuy nhiên, hiện hữu-tự do là hiểu bản thân từ khả tính. Như đã nói trong phân tích về khái niệm thế giới, trong hiện tượng thế giới có cái mà chúng ta gọi là ‘vượt quá giới hạn’. Tự do, với tư cách là trạng thái xuất-thân hiện-hữu-hướng-tới-các-khả-tính, tự nó là một sự chuyển mình sang các khả tính. Vì vậy, chừng nào tự do -hiểu theo nghĩa siêu nghiệm - cấu thành bản chất của Dasein, thì Dasein, với tư cách đang tồn tại, về bản chất luôn luôn ‘vượt qua’ bất kỳ hiện hữu hiện thực nào. [Ghi chú về Die Überschreitung des Transzendentalen Tính Vượt qua của cái siêu nghiệm trong triết học của Martin Heidegger biểu thị sự chuyển hướng từ nhận thức luận Kant cổ điển sang Hữu thể luận. Thay vì hỏi chủ thể nhận thức xây dựng các đối tượng như thế nào, Heidegger hỏi làm thế nào Sein selbst das Dasein transzendiert (übersteigt) Hữu thể tự nó siêu việt Dasein, từ đó cho phép nó hiểu thế giới. 1). Dasein như là sự siêu việt Trong Hữu thể và Thời gian, Dasein con người về bản chất được đặc trưng bởi sự siêu việt. Nó liên tục ‘vượt qua’ sự tồn tại đơn thuần (vật chất) để hướng tới chính Bản thể. Tính siêu việt này là điều kiện cơ bản để chúng ta có thể gặp gỡ thế giới và vạn vật. 2). Die Überwindung des Subjekt-Objekt Vượt qua khoảng cách Chủ thể-Khách thể: Trái ngược với triết học siêu nghiệm truyền thống như của Kant hay Husserl, vốn giả định một chủ thể lý thuyết, Heidegger bắt đầu với beim In-der-Welt-sein hiện-hữu-trong-thế giới. Die Transzendenz ist kein theoretischer Erkenntnisakt, sondern eine praktische, existenziale Grundverfassung Siêu việt không phải là một hành động nhận thức lý thuyết, mà là một điều kiện cơ bản thực tiễn, hiện sinh. Con người luôn luôn tham gia vào thế giới theo một cách siêu việt. 3). Zeitlichkeit als Horizont Thời tính như là Chân trời, Die eigentliche Dimension dieser Überschreitung ist die Zeitlichkeit Chiều kích thực sự của sự siêu việt này là Thời tính. Die Transzendenz des Daseins auf das Sein geschieht primär durch die Zeit Sự siêu việt từ các Daseins/Hiện hữu đến Hữu thể diễn ra chủ yếu thông qua Thời gian. Die Zeitlichkeit - Ekstasen der Zeit: Zukunft, Gewesenheit, Gegenwart) bildet den transzendentalen Horizont, von dem her wir überhaupt Sein verstehen können Thời tính: Xuất-thân của Thời gian: tương lai, quá khứ, hiện tại - tạo thành chân trời siêu việt mà từ đó chúng ta có thể hiểu được Hữu thể. 4). Die Ontologische DifferenzDie Überschreitung gipfelt in der ontologischen Differenz – der strikten Unterscheidung zwischen dem Seienden (den Dingen) und dem Sein selbst. Die Transzendenz zielt auf das Sein, das jedoch kein weiteres Seiendes ist, sondern den Grund der Möglichkeit von Seienden darstellt Khác biệt Hữu thể luận - Siêu việt đạt đến đỉnh điểm trong sự khác biệt Hữu thể luận—sự phân biệt nghiêm ngặt giữa các thực thể sự vật và tự thân Hữu thể. Siêu việt hướng đến Hữu thể, tuy nhiên, Hữu thể không phải là một hiện hữu khác, mà đúng hơn là đại diện cho Cơ sở/Nền tảng của khả tính tồn tại của các Hiện hữu. 5). Die Kehre und das SeinsschicksalIm späteren Denken (der sogenannten "Kehre") ändert sich die Perspektive: Nicht mehr primär das Dasein transzendiert zum Sein, sondern das Sein selbst ereignet sich und schickt sich dem Menschen zu (Geschichte des Seyns). Die Überschreitung wird hier zu einem vom Sein selbst initiierten Geschehen. Bước ngoặt và số phận của Hữu thể, trong tư tưởng sau này, cái gọi là ‘bước ngoặt’, quan điểm thay đổi – Dasein/Hiện hữu không còn chủ yếu siêu việt đến Hữu thể nữa, mà chính Hữu thể xuất hiện và hướng đến con người - lịch sử của Hữu thể, siêu việt trở thành một sự kiện được khởi xướng bởi chính Hữu thể. HHN]

Trên cơ sở sự chuyển mình này, Dasein, trong mỗi trường hợp, đều vượt ngoài các hiện hữu, như chúng ta nói, nhưng nó vượt ngoài theo cách mà trước hết, nó trải nghiệm các hiện hữu trong sự kháng cự của chúng, mà Dasein siêu việt lại bất lực trước điều đó. Trạng thái bất lực này mang tính siêu hình, tức là phải được hiểu là có tính bản chất; nó không thể được xóa bỏ bằng cách viện dẫn sự chinh phục thiên nhiên, bằng công nghệ, thứ đang hoành hành trong ‘thế giới’ ngày nay như một con thú không bị ràng buộc; bởi vì sự thống trị thiên nhiên này là bằng chứng thực sự cho sự bất lực siêu hình của Dasein, thứ chỉ có thể đạt được tự do trong lịch sử của nó. (Lưu ý: Chắc chắn rằng, khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn không phải là hai nhóm khoa học khác nhau, khác biệt ở sự phát triển các khái niệm và phương pháp chứng minh, hay khác biệt ở chỗ nhóm này chuyên về axit sulfuric còn nhóm kia chuyên về thơ ca. Thay vào đó, chúng [tr.216] khác nhau như những khả tính cơ bản của sự gặp gỡ tự do giữa bản chất siêu hình của Dasein với thế giới của nó, mà tự bản thân nó là một và giống nhau. Chỉ vì, trong hành vi ý hướng tính thực tế của chúng ta đối với các hiện hữu thuộc mọi loại, chúng ta vượt lên trước, quay trở lại và tiếp cận các hiện hữu từ những khả tính, chỉ vì lý do này mà chúng ta mới có thể để cho bản thân các hiện hữu là những gì và như thế nào mà chúng vốn có. Và điều ngược lại cũng đúng. Bởi vì, với tư cách là tồn tại thực tế, đã siêu việt, trong mỗi trường hợp, gặp gỡ các hiện hữu, và bởi vì, với sự siêu việt và gia nhập thế giới, tình trạng bất lực, được hiểu theo nghĩa siêu hình, được biểu lộ, vì lý do này Dasein, chỉ có thể bất lực về phương diện siêu hình khi tự do, phải giữ mình trong điều kiện khả tính của tình trạng bất lực của nó, trong tự do để tạo dựng cơ sở. Và chính vì lý do này mà về cơ bản chúng ta đặt mọi hữu thể, với tư cách hữu thể, vào vòng nghi vấn về nguồn cội của nó.

Chúng ta tìm hiểu lý do tại sao trong cách ứng xử của mình đối với mọi hiện hữu, bởi vì trong chính bản thân chúng ta, khả tính cao hơn hiện thực, bởi vì với chính Dasein, cái hữu thể cao hơn này trở nên tồn tại. Cái Hữu-thể-cao-hơn của cái khả thể này, so với hiện thực, chỉ tồn tại khi thời tính tự thời gian hóa chính nó. Tuy nhiên, nếu người ta nhìn thấy trong thời gian hóa của thời tính cái Hữu thể của cái gì đó hữu thể hơn những hữu thể khác, thì đúng là πρότερον ἐνέργεια δυνάμεώς ἐστιν (Aristotle, Siêu hình học e 8, 1049 b 5): ‘Hiện thực có trước khả tính’ - tức là, chính xác bởi vì khả tính cao hơn hiện thực. Xét về bản chất siêu hình, Dasein là kẻ tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi ‘tại sao’. Con người không phải là kẻ chỉ biết phủ định (như Scheler đã nói trong một trong những tác phẩm cuối cùng của ông), nhưng cũng không phải là kẻ chỉ biết khẳng định. Con người đúng hơn là kẻ đặt câu hỏi ‘tại sao’. Nhưng chính vì con người vốn dĩ như vậy, nên họ mới có thể và phải, trong mỗi trường hợp, không chỉ nói là có hoặc không, mà về bản chất phải là có không. Trong logic học thuật truyền thống, những điều tầm thường tưởng chừng vô hại được tìm thấy dưới các thuật ngữ ‘phán đoán khẳng định và phủ định’ cuối cùng đều vận hành trong chiều kích này.

__________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XXII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§ 12. Siêu việt và Thời tính (Hư vô Nguồn cội)

[Tr.196] Là một hiện hữu tự do, Dasein tự phóng chiếu chính mình lên cái vì-lợi-ích-của-chính-nó, với tư cách tổng thể các khả tính thiết yếu trong năng-lực-tồn-tại của nó. Treo lại trước tự thân cái vì-lợi-ích-của-chính-nó và tồn tại trong thế đình chỉ ấy, cái hiện hữu này tự áp dụng, theo phương thức của nó, cho chính nó. Việc tự áp dụng cho tự thân này, như chúng ta đã lưu ý ở trên, không thể có nghĩa là tính ích kỷ duy ngã luận. Hơn nữa, chỉ vì Dasein như vốn có, với tư cách là một hiện hữu tự do, tự áp dụng cho chính nó, nên Dasein về bản chất là như vậy, trong mỗi trường hợp, nó thực sự đứng trước sự lựa chọn về cách thức, trong một trường hợp cụ thể, theo nghĩa hiện sinh-thực hữu, nó nên áp dụng cho kẻ khác và cho chính nó. Hoặc - cái cũng chỉ khả thể đối với tự do như là sự thiếu vắng của nó - Dasein hành xử một cách thiếu quyết đoán và để mọi việc diễn ra theo từng trường hợp tùy thuộc vào hoàn cảnh. Việc chúng ta hiếm khi tự do về mặt hiện sinh, trên thực tế lại không mâu thuẫn với bản chất siêu hình của Dasein, mà còn hỗ trợ nó. Thật sai lầm khi cho rằng người ta hiểu được tự do một cách thuần khiết nhất trong bản chất của nó nếu ta tách biệt nó như một võ đoán tính bất định. Hơn nữa, nhiệm vụ chính xác lại trái ngược, đó là hình dung tự do trong tính hữu hạn của nó và nhận thấy rằng, bằng cách chứng minh tính hữu hạn, người ta không làm tổn hại đến tự do cũng không tước đoạt bản chất của nó.    

Cái được minh định là tự do, hiện-hữu-trong-thế-giới, siêu việt tính, giờ đây cũng phải được hiểu theo cách mà chúng ta đã chỉ ra. Tất cả điều này không phải là một bộ máy ẩn giấu bên trong một chủ thể bị cô lập và nội tại tính của nó, mà chính tự do tự siêu việt, và cuộc siêu vượt của các hiện hữu diễn ra và luôn luôn đã diễn ra trong tự do; còn chúng ta thì luôn luôn bắt gặp những hiện hữu này với tư cách là hiện-hữu-tự-thân theo cách mà sau đó chúng ta trở lại với tự do, từ nguồn gốc và bên trong nó. Mọi hành vi thực hữu đối với các hiện hữu, dù có thuộc loại Dasein hay không, đều siêu việt, không chỉ ở chỗ nó mở ra, chừng nào nó còn đặt mình vào mối quan hệ mang tính ý hướng với các khách thể, mà mối quan hệ có tính ý hướng lại chỉ là phương thức thực tế đã cho để chiếm hữu những gì đã được vượt qua và do đó được tiết lộ nhờ siêu việt. Không bị rắc rối bởi những cách nhìn và đặt câu hỏi thâm căn cố đế, chúng ta phải học cách nhận thấy cái cách thức mà Dasein, trên cơ sở cấu thành siêu hình của nó, trên cơ sở hiện-hữu-trong-thế-giới, luôn luôn trong khả tính đã vượt ra ngoài mọi hiện hữu của chính nó. Và với hiện-hữu-vượt-ra này, không có hư vô tính tuyệt đối. Ngược lại, với hiện-hữu-vượt-ra này, Dasein lại giữ được cái cam kết ràng buộc với tư cách thế giới và trong cái thành trì này [tr.197], trước hết nó có thể và thậm chí phải giữ chính mình trước các hiện hữu. Giờ đây, chúng ta có nhiệm vụ lý giải về thời tính liên quan đến hiện tượng siêu việt cơ bản này.

Thời tính tự thân là gì và làm thế nào chúng ta có thể bắt tay vào phân tích nó? Người ta có thể suy đoán về thời gian theo nhiều cách khác nhau; có thể bắt đầu từ đâu đó để cố gắng phân tích và diễn giải nó. Nhưng vấn đề của chúng ta không liên quan đến những suy đoán triết học riêng rẽ thông thường về thời gian, vốn luôn hướng tới các vấn đề triết học khác. Thời gian, như chúng ta đã chỉ ra, có mối liên hệ nào đó, dù vẫn còn mơ hồ, với việc lý-giải-Hữu-thể nói chung. Do đó, thời gian khẳng định một chức năng hệ thống trung tâm trong siêu hình học theo đúng nghĩa; vậy là việc diễn giải thời gian phải được hướng dẫn chủ yếu bởi chức năng trung tâm đó trong siêu hình học. Con đường dẫn đến việc diễn giải thời gian không hề đơn giản. Con đường mà bản thân tôi đã đi không phải là con đường duy nhất, nhưng mọi con đường đều dài và gặp phải chướng ngại vật. Tôi đang chọn một phương pháp khác cho mục đích của chúng ta. Chúng ta sẽ cố gắng gợi ý bản chất của thời gian một cách trực tiếp và giáo điều hơn, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ gạt bỏ cách đặt câu hỏi thông thường về thời gian.

Tôi sẽ cố gắng liệt kê ngắn gọn những tuyến quan niệm chủ chốt phổ biến về thời gian: 1). Thời gian tự nó là một cái gì đó tồn tại ở đâu đó và bằng cách nào đó, nó đang chuyển động, nó luôn trôi đi; như chúng ta vẫn nói, ‘thời gian trôi qua’. 2). Là một khái niệm thoáng qua (ở một mức độ nhất định, đây là mô hình của sự thoáng qua nói chung), thời gian là thứ gì đó ‘trong tâm hồn’, trong chủ thể, bên trong ý thức; do đó, để có thời gian cần phải có một ý thức nội tại. Kết quả là, khả năng hình dung và diễn giải thời gian về cơ bản phụ thuộc vào quan niệm cụ thể về tâm hồn, chủ thể, ý thức, Dasein. 3). Thời gian là thứ gì đó đang trôi qua, diễn ra trong tâm hồn nhưng chưa thực sự thuộc về trung tâm của tâm hồn. Bởi vì thời gian từ lâu đã được xem xét trong mối liên hệ với không gian. Trong không gian, cái mang tính không gian là những gì chúng ta trải nghiệm bằng các giác quan của mình. Điều này cũng đúng với thời gian. Thời gian thuộc về tri giác tính của chúng ta (vẫn đúng cả trong quan niệm hiện tượng học của Husserl và Scheler). Tuy nhiên, dù người ta có thể lý giải tri giác tính, nhưng nó vẫn khác biệt với tâm trí và lý tính, mà bản thân chúng không mang tính thời gian mà nằm ngoài thời gian. Không hề ngoa là, đối với Kant, tính tự phát với tư cách tự do trụ sát cạnh thời gian. 4). Kể từ Plato, thời gian thường được phân biệt bằng cách đối lập vĩnh hằng, và bản thân tính vĩnh hằng được hình dung ít nhiều theo quan điểm thần học. Thời tính trở thành cái trần thế đối lập với thiên đường. Từ quan điểm này, thời gian sở hữu một phẩm chất quan điểm thế giới [tr.196] nhất định. Điều này đã góp phần khiến người ta chưa bao giờ thực sự hiểu được ý nghĩa siêu hình của hiện tượng thời gian.

Hết thảy các mô tả ấy về thời gian, được biết đến cả trong hiểu biết thông thường lẫn triết học, không thể chỉ đơn thuần là những bịa đặt và sáng tạo tùy tiện. Bản chất của thời gian phải tự nó làm cho những khái niệm này trở nên khả thể và thậm chí hợp lý. Tuy nhiên, lại không có khái niệm nào trong số đó chính xác chạm tới được bản chất siêu hình của thời gian. Do đó, nếu người ta đơn giản hóa vấn đề và từ những quan điểm thông thường này chỉ đơn thuần tiếp thu những gì mà phân tích hữu thể luận cơ bản về thời gian khám phá ra, thay vì trước tiên tiếp nhận khám phá này một cách độc lập và theo mục đích riêng của nó, thì mọi thứ sẽ trở nên rối rắm. Cần trình bày thực chứng những đặc điểm chính trong bản chất siêu hình của thời gian bằng năm điểm, tuy nhiên, chúng lại không trực tiếp tương ứng với bốn điểm đã được đề cập ở trên.              

1.) Bản chất của thời gian có tính ἔκστασις ek-stasis xuất-thân [tách ra ngoài bản thân]. 2.) Cùng với cấu trúc xuất thân này là ὅρισμος horismos, tính chất bình tuyến thuộc về thời gian. 3). Thời gian không trôi qua cũng không đứng yên mà tự thời gian hóa chính nó. Tính thời gian hóa là hiện tượng nguyên thủy của ‘chuyển động’: 4). Thời gian không tương đối so với tri giác tính mà còn nguyên thủy hơn cả tri giác tính, tâm trí và lý tính. Ở đây, tất nhiên, chúng ta giả định quan niệm duy nhất về lý tính mà chúng ta biết, đó là lý tính hữu hạn. 5). Về mặt phương pháp luận, chúng ta cần lưu ý rằng, bởi vì nó cấu thành liên tục tính siêu hình của Dasein, nên không thể lý giải được thời gian nếu Dasein được lý giải theo một loại sơ đồ lý thuyết nào đó, cho dù đó là một chỉnh thể tâm lý, một chủ thể nhận thức-ý chí, một loại tự-nhận thức, hay một nhất tính của thân thể, linh hồn và tâm trí. Hơn nữa, việc phân tích Dasein phải chọn chân trời dẫn dắt mà, trong sự tồn tại thực tế, liên tục hướng dẫn hiện-hữu-hướng-tới-tự-thân của Dasein trong hiện-hữu-với của nó với những kẻ khác và trong mối quan hệ của nó với các hiện hữu khác với Dasein trước mọi lý thuyết, bên ngoài mọi lý thuyết và bất chấp mọi lý thuyết.

Các văn bản kinh điển về vấn đề thời gian như sau: Vật lý của Aristotle, Δ10-14; Enneades của Plotinus. III,7; Lời thú tội của Augustine, Quyển XI; Phê phán lý tính thuần túy, Thẩm mỹ tiền đề, Suy diễn siêu việt, và chương về Chủ nghĩa giản đồ, Phân tích các nguyên tắc, Học thuyết về những nghịch lý; Encyclopedie der philosophischen Wissenschaften của Hegel (giai đoạn trước trong ‘Iena Logic’) và Hiện tượng địa lý; Bergson, tất cả các tác phẩm của ông; Husserl, in ldeen zu einer [tr.199] en Phanomenologie und phiinomenologischen Philosophie Quyển Một, chỉ nhận xét ngắn gọn; Oskar Becker, Beiträge zur phänomenologischen Begründung der Geometrie und ihrer physikalischen Anwendung (trong Jahrbuch fur Philosophie und Phänomenologische Forschung, tập VI, 1923, trang 385 trở đi; và bây giờ là Vorlesungen zur Phiinomenologie des inneren Zeitbewusstseins trong các ý tưởng về [tr.199] Hiện tượng học và Triết học Hiện tượng luận, Quyển Một, chỉ nhận xét ngắn gọn; So sánh với Oskar Becker, Đóng góp cho Nền tảng Hiện tượng học của Hình học và các Ứng dụng Vật lý của nó: (trong Kỷ yếu Nghiên cứu Triết học và Hiện tượng học, tập VI, 1923, trang 385 trở đi; và bây giờ là Các bài giảng về Hiện tượng học về Ý thức Thời gian Nội tại của chính Husserl, xuất hiện trong Tập IX của cùng Jahrbuch (xem thêm bên dưới). (Các nghiên cứu về thời gian của Aristotle và Augustine là những nghiên cứu quan trọng, và chúng có tính quyết định đối với các thời kỳ sau này. Dường như vô thức hơn là có chủ đích rõ ràng, sau này Kant đã đẩy vấn đề đi xa nhất vào chiều kích của một vấn đề triết học thực sự.)

Chúng ta sẽ chỉ thảo luận về những khía cạnh quan trọng nhất của hai điểm đầu tiên. Về điểm 1, Thời gian có tính chất ἔκστασις ek-stasis xuất-thân. Chúng ta muốn hiểu rõ đặc điểm thiết yếu này của thời gian. Để làm được điều này, chúng ta cần nhắc lại ngắn gọn quan niệm phổ biến về thời gian, hay chính xác hơn, Mối quan hệ thông thường của chúng ta với thời gian. Việc chúng ta nói về mối quan hệ với thời gian đã cho thấy rằng thời gian tồn tại như một thứ gì đó trong số nhiều sự vật khác, một thứ mà chúng ta cũng liên hệ hàng ngày (chẳng hạn như chúng ta liên hệ với không gian). Vấn đề đó và cách chúng ta liên hệ với thời gian được chứng minh bằng việc chúng ta thường đeo đồng hồ, một công cụ đo thời gian. Chúng ta không đo thời gian chỉ đơn thuần vì tò mò muốn biết bây giờ là mấy giờ. Thay vào đó, chúng ta đo thời gian theo cách tính toán thời gian. ‘Tính toán thời gian’ ở đây không có nghĩa là đếm thời gian bằng số. Thay vào đó, nó có nghĩa là xem xét thời gian, tức là tận dụng tối đa thời gian của chúng ta, sử dụng nó một cách đúng đắn, không lãng phí thời gian. Mọi người đều quen thuộc với thời gian và biết ý nghĩa của từ ‘thời gian’, nhưng hiếm khi họ có một khái niệm về thời gian. Tuy nhiên, chúng ta không tiếp thu sự quen thuộc tiền khái niệm này về thời gian bằng cách nhặt nhạnh nó từ kẻ khác và đưa vào bản thân. Chúng ta không bằng cách nào đó trở nên quen thuộc với thời gian! Điều chúng ta học được chỉ đơn giản là cách thức đo thời gian, những cách thức cụ thể thực tế mà qua đó chúng ta đối xử với thời gian một cách thực tế nhất. Nhưng mỗi Dasein đều bộc lộ chính thời gian – và dù vậy, thời gian vẫn là một điều gì đó kỳ lạ. Chỉ hiếm khi chúng ta nắm giữ được thời gian, thứ đang nắm giữ chính bản thân chúng ta theo nghĩa siêu hình; chỉ hiếm khi chúng ta trở thành chủ nhân của cái sức mạnh mà chính chúng ta sở hữu; chỉ hiếm khi chúng ta tồn tại một cách tự do.

Dù mỗi ngày chúng ta có bận tâm đến thời gian đến mức nào, ít nhiều một cách có ý thức, hoặc thậm chí một cách câu nệ, dù chúng ta có nói  [tr.200] về thời gian, gọi tên và thảo luận về nó thường xuyên đến đâu đi nữa, thì nó vẫn cứ xa vời và vô cảm với chúng ta. Và đây một phần là lý do tại sao chúng ta mù quáng trước bản chất thực sự của nó, hơn nữa, khi chúng ta muốn khái niệm hóa thời gian, chúng ta chỉ hình dung nó như cách chúng ta hình dung mọi thứ trực tiếp có thể tiếp cận được, như cách chúng ta làm việc. Điều quan trọng là phải giải phóng tầm nhìn của mình để thấy được bản chất toàn diện đặc thù của cái tự bộc lộ là thời gian. Ở đây, chúng ta chỉ có thể đặt một trong những hiện tượng trước mắt, hiện tượng khiến chúng ta trực tiếp hình dung ra tính chất thăng hoa của thời gian, và chúng ta muốn diễn giải ít nhất hiện tượng này một cách tương đối cụ thể. (Xem Die Grundprobleme der Phiinomenologie từ học kỳ hè năm 1927, phần hai, 12 cùng Hữu thể và Thời gian, phần một.)

Chúng ta đo thời gian bằng các con số và khoảng cách, bằng các đại lượng: từ lúc này ngược về quá khứ, từ bây giờ đến lúc đó, từ thời điểm này đến thời điểm kia. Chúng ta gọi tên chính thời gian bằng các từ ‘bây giờ’, ‘sau đó’, ‘vào thời điểm đó’. Và điều cần thiết là phải thấy cái cách mà những diễn đạt này nói về thời gian. Nếu ngay lập tức, tôi hoàn toàn không suy nghĩ, mà nói ‘bây giờ’, thì nó luôn có nghĩa là: ‘bây giờ - cánh cửa đóng sầm’, ‘bây giờ - tôi bắt đầu phân tích cấu trúc của thời gian’. Bằng từ ‘bây giờ’, chúng ta không có ý nói đến tự thân hiện tại, theo đúng chủ đề; chúng ta không tập trung vào nó theo cách như thể chúng ta muốn nói “cái bây giờ này có phẩm chất như vậy-như vậy; nó tiếp nối khoảnh khắc trước đó, và một thứ ngay lập tức theo sau cái bây giờ này.”

Thay vào đó, chúng ta muốn nói ‘bây giờ - cánh cửa đóng sầm’; chúng ta muốn nói đến cánh cửa, và nó đang đóng sầm ngay bây giờ. Chúng tôi không có ý nói rằng hiện tại và tiếng cửa đóng sầm trùng khớp nhau. Thay vào đó, chúng tôi muốn nói đến mối quan hệ đặc biệt giữa cả hai. Nhưng mối quan hệ giữa cả hai, giữa cái bây giờ và tiếng cửa đóng sầm, không phát sinh ngay từ khi cả hai cùng tồn tại trong một thời điểm. Thay vào đó, mối quan hệ này thuộc về chính cái bây giờ theo đúng nghĩa; tuy nhiên, điều chính xác diễn ra trong cái bây giờ này là ngẫu nhiên, tức là nó không được định trước trong cái bây giờ. Khi chúng ta nói ‘bây giờ’, chúng ta không tập trung vào cái bây giờ như một sự vật biệt lập, mà tự thân cái bây giờ hướng dẫn và thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước đến những gì đang diễn ra trong lúc bây giờ. Chức năng chỉ dẫn hướng tới tương lai này về bản chất thuộc về cái bây giờ. Điều này có nghĩa là cái bây giờ, về bản chất, là một ‘bây giờ khi điều này điều kia….’, một ‘bây giờ trong đó…’. Tương tự như vậy, các cách diễn đạt khác về thời gian cũng vậy: cái thì lúc đó luôn luôn, thường là không cần chúng ta diễn đạt, là một thứ ‘lúc đó khi…’, cái trước đó luôn luôn là một ‘trước đó khi…’. Như chúng ta đã nói, những định danh thời gian này có đặc điểm của [tr.201] các chỉ số hướng về phía trước, chỉ về phía trước đến những gì mà bây giờ, lúc đó, trước đây hiện diện. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách chính xác, nội dung hiện tượng của tình huống lại trái ngược: chúng ta không tập trung vào cái bây giờ để rồi được hướng dẫn về phía trước đến những sự vật và quá trình ‘trong’ thời gian. Thay vào đó, chúng ta quan tâm đến sự vật, liên quan đến chúng, và sau đó áp dụng cho chúng những định danh thời gian này với các phép đo số ít nhiều cố định. “Cánh cửa đóng sầm – bây giờ: bây giờ cánh cửa đóng sầm.” Nhưng liệu cái bây giờ vẫn tồn tại, phi chủ đề, trước mọi thứ? Dù sao thì khi nói ‘bây giờ’, tôi không biến cái bây giờ thành một khách thể chủ đề; tôi không hướng đến nó như vậy, như tôi hướng đến cánh cửa hay cái bảng đen.

Điều này cho thấy rằng chúng ta không tiếp cận cái bây giờ, khi đó và trước đây như cách chúng ta tiếp cận những thứ vẫn tồn tại, nhưng dù vậy, chúng ta vẫn nói ‘bây giờ’ với một tính tức thời đặc biệt. Chúng ta không có trước mắt một chuỗi các bây giờ được trải ra để rồi chọn một bây giờ, nắm lấy nó và gọi tên nó. Thậm chí chúng ta còn không cố ý tập trung vào thời gian, nhưng chúng ta vẫn có nó ngay lập tức ‘trong tầm tay’ ngay cả khi chúng ta không cố ý khẳng định ‘bây giờ’ và ‘trước đây’. Một lần nữa, ví dụ cơ bản nhất về điều này là việc chúng ta sử dụng đồng hồ, và chúng ta thậm chí không cần phải suy ngẫm về việc sử dụng một cách có ý thức. Bản chất của việc sử dụng đồng hồ là, khi tôi đọc giờ, tôi không hỏi, ‘Mấy giờ rồi?’ mà thay vào đó, chẳng hạn hỏi, ‘Mình còn bao nhiêu thời gian nữa?’ Tôi không nói rõ cái bây giờ, mà lại đọc ngay thời gian và chỉ nói một cách ngầm định ‘bây giờ’: Vậy thì do đâu mà chúng ta thực sự có được điều mình muốn nói và hiểu, dù không theo chủ đề, khi nói ra những ‘bây giờ’, ‘sau đó’ và ‘trước đây’?

Hãy xem xét, ví dụ, cách hiểu từ ‘sau đó’: Chúng ta không bao giờ sử dụng ‘sau đó’ một cách riêng rẽ mà, chẳng hạn trong việc sắp xếp và tổ chức: ‘Sau đó điều này sẽ xảy ra’: ‘Sau đó có thể dẫn đến điều ấy’. Hoặc trong một suy ngẫm về kế hoạch của chúng ta: ‘Sau đó có lẽ điều này sẽ xảy ra, và do đó đấy là thứ cần phải làm’. Tuy nhiên, khi tham gia vào việc xem xét mang tính cân nhắc như vậy, chúng ta hỏi, ‘Vậy thì sau đó sẽ ra sao?’ Trong việc lập kế hoạch, chúng ta có ý định điều gì đó mà chúng ta có liên quan, chỉ là điều chúng ta dự định vẫn không xác định và không thể xác định được. Ở đây, chúng ta nói ra từ ‘sau đó’ từ trong mối liên hệ với điều gì đó mà chúng ta liên hệ như là việc lập kế hoạch, cân nhắc, vor-sorgend bận tâm. Nói một cách tổng quát, chúng ta thốt ra từ ‘sau đó’ xuất phát từ một phương thức tồn tại mà trong đó chúng ta đang mong đợi một điều gì đó sẽ xảy ra, một điều gì đó sẽ được hoàn thành. Chỉ trong sự mong đợi như vậy, tôi mới có thể thốt ra từ ‘sau đó’. Trong sự mong đợi, chúng ta tự nhiên nói ‘sau đó rồi sau đó’ mà không cố ý đề cập đến những cái ‘sau đó’ này. Chúng ta luôn hướng đến điều sẽ xảy ra hoặc nên xảy ra. Bản thân những ‘sau đó’ này không phải là thứ mà sự mong đợi của chúng ta chỉ đơn thuần [tr.202] là một kiểu nắm bắt các ‘sau đó’, theo cách mà nhận thức tiếp cận một vật thể vật chất (cái bảng đen). Thay vào đó, sự mong đợi tự nó cung cấp, như chính sự mong đợi, cái ‘sau đó’. Cái ‘sau đó’ là cái mà trong đó sự mong đợi tự bộc lộ, do đó là một cái gì đó trong chính sự mong đợi. Trong sự mong đợi, và chỉ trong đó, cái ‘sau đó’ cứ như thể đang ngủ yên vậy.

Nhưng, cũng giống như chúng ta không tìm thấy cái ‘sau đó’ trong một đối tượng sẽ là hoặc nên là ‘sau đó’, chúng ta cũng không tìm thấy cái ‘sau đó’ ở đâu đó trong tâm hồn như một quá trình tâm lý hay như một thuộc tính của quá trình tâm lý. Không ở trong đối tượng cũng không ở trong chủ thể - theo quan niệm truyền thống, không ở đây cũng không ở đó mà, như thể, trên con đường từ chủ thể đến khách thể! Nhưng chúng ta đã quen thuộc với cái ‘trên-con-đường’ này, như bước vượt qua, như sự siêu việt. Cái ‘trên-con-đường’ này chỉ là một tham chiếu đến cái ‘vị trí’ mà cuối cùng, cái ‘là’ mà chúng ta nói ra như là đặc tính thời gian. Cái ‘sau đó’ phát sinh từ và trong một sự mong đợi, và nó cho phép nhiều định nghĩa rõ ràng, đương nhiên là trong những giới hạn nhất định. Đây là những khả tính mà bây giờ không còn quan trọng đối với chúng ta, vì chúng ta đang tìm kiếm một điều khác. Nhưng những gì chúng ta đã trình bày về cái ‘sau đó’ cũng đúng với cái ‘trước đây’ và cái ‘bây giờ’ theo cách tương ứng. Cái ‘trước đây’ luôn thể hiện sự lưu giữ một điều gì đó đã xảy ra trước đó. Ở đây, việc chúng ta nhớ lại điều gì đã xảy ra trước đó đến mức độ nào và chính xác ra sao không phải là điều quan trọng; thậm chí chúng ta còn có thể đã quên nó. Nói cách khác, cái ‘trước đây’ cũng chính là cách diễn đạt của sự quên lãng. Tương ứng, cái ‘bây giờ’ lại tuyên bố hiện hữu hướng tới những gì Anwesendes đang hiện diện, và chúng ta gọi cái hiện hữu hướng tới những gì hiện diện này, nói chung hơn, là làm cho hiện diện. Hãy quay lại với hiện tượng của cái ‘sau đó’. Nó xuất hiện từ sự mong đợi và không phải là thuộc tính của khách thể hay chủ thể. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn khai thác hết bản chất cốt yếu của nó mà, tạm thời, đã bỏ qua một điều khá quan trọng. Cái ‘sau đó’, có thể diễn đạt được và phát sinh trong việc làm cho hiện diện, luôn được hiểu là ‘bây giờ chưa đến’ (mà đúng hơn là: sau đó).

Cho dù tôi chọn sau đó nào, thì cái ‘sau đó’ trong mỗi trường hợp luôn quy chiếu trở lại một ‘bây giờ’, hay nói chính xác hơn, cái ‘sau đó’ được lý giải trên cơ sở của một ‘bây giờ’, dù không rõ ràng. Ngược lại, mọi ‘trước đây’ đều là một ‘bây giờ không còn nữa’ và do đó, về cấu trúc, là cầu nối đến một ‘bây giờ’. Nhưng cái bây giờ này, trong mỗi trường hợp, là cái ‘bây giờ’ của một làm-cho-hiện-diện hoặc việc lưu giữ cụ thể, trong đó một cái ‘sau đó’ và một cái ‘trước đây’ trong mỗi trường hợp được phát ngôn ra. Với điều này, chúng ta thấy một mối liên hệ đặc biệt, vẫn còn mơ hồ về bản chất, giữa cái ‘trước đây’, ‘sau đó’ và ‘bây giờ’. Trong cách hiểu thông thường, chúng ta gọi thời gian chỉ đơn thuần là chuỗi các bây giờ (bây giờ, chưa phải ngay bây giờ, bây giờ không còn nữa – ngay bây giờ). Và theo một cách nào đó, chúng ta cũng biết rằng thời gian không phải là sự tích lũy của các bây giờ mà là một thể liên tục; một lần nữa, không phải là một thể liên tục cứng nhắc [tr.203], mà là một thể liên tục trôi chảy (dòng thời gian). Nhưng, dù thời gian, được hiểu theo cách này, có thể được định nghĩa như thế nào, và dù một định nghĩa có thành công hay không từ quan điểm này, thì trong mọi trường hợp, rõ ràng là sau đó, trước đây và bây giờ xuất hiện, và xuất hiện trong sự thống nhất của chúng, từ sự mong đợi, sự lưu giữ và sự hiện diện mà rõ ràng trước hết phải thống nhất với nhau và trong chính chúng. Tuy nhiên, nếu thời gian là điều gì đó mà chúng ta thấy như là sự xuất hiện, thì nguồn gốc của cái xuất hiện và cái cho phép nó xuất hiện rõ ràng phải là cái mà, theo nghĩa nguyên thủy, càng xứng đáng được gọi là thời gian. Do đó, thời gian ban đầu là sự mong đợi, sự lưu giữ và làm cho hiện diện này.

Lưu ý: Bergson là người đầu tiên tìm ra mối liên hệ giữa thời gian phái sinh và thời gian nguyên thủy. Nhưng ông đã làm điều đó theo cách đi quá xa và cho rằng thời gian, một khi đã xuất hiện, chính là không gian. Do đó, Bergson đã khóa chặt con đường đến với hiểu biết thực sự về thời gian phái sinh, khi về nguyên tắc, ông đã nhầm lẫn bản chất của thời gian xuất hiện, thì ông không coi thời gian đã xuất hiện là thời gian xuất hiện. Nhưng ngược lại, chừng nào ông chỉ dừng lại ở thời gian đã xuất hiện, ông cũng không thực sự thành công trong việc làm sáng tỏ thời gian nguyên thủy và chân chính từ trong bản chất của nó. Tuy nhiên, các phân tích của Bergson vẫn thuộc về những phân tích sâu sắc nhất về thời gian mà chúng ta có. Người ta thường cho rằng Bergson - cũng như Dilthey - có tư tưởng mơ hồ và cần được xem xét lại và cải thiện. Nhưng những ‘hình ảnh’ của Bergson chính là cách diễn đạt nỗ lực của ông để thực sự nắm bắt được cái hiện tượng trong phạm vi mà ông chọn làm chủ đề nghiên cứu. Sự thiếu sót không nằm ở tính mơ hồ được cho là có – Bergson hoàn toàn rõ ràng trong những gì ông nhìn thấy, nhưng lại nằm ở phạm vi vấn đề quá hẹp của ông. Điều này cũng không thể được khắc phục bằng cách sửa đổi để có ‘tính chính xác hơn’. Như mọi người đều biết, trong triết học cũng có những điều nhỏ nhặt chính xác! Xin nhắc lại: kỳ vọng, sự lưu giữ và làm-cho-hiện-diện không chỉ đơn thuần là cách chúng ta nắm bắt cái ‘sau đó’, cái ‘trước đây’ và cái ‘bây giờ’, không chỉ đơn thuần là các phương thức nhận thức về chúng; mà đúng hơn, chúng chính là nguồn gốc của cái ‘sau đó’, cái ‘trước đây’ và cái ‘bây giờ’. Kỳ vọng không phải là một phương cách nhận thức về thời gian, mà theo một nghĩa nguyên thủy và chân thực, nó chính là thời gian.

Trong Vorlesungen zur Phiinomenologie des inneren Zeitbewusstseins Các bài giảng Hiện tượng học về Ý thức Thời gian Nội tại ở tập IX của Jahrbuch13 (từ các bài giảng ở Göttingen [tr.204] năm 1904/05), Husserl đã nghiên cứu vấn đề thời gian trong một bối cảnh khá cụ thể, và bối cảnh này là đặc trưng cho quan điểm của ông. Husserl nói về ‘ý thức thời gian nội tại’, và ông đặc biệt phân tích, như những hình thức của ý thức thời gian này, Erinnerung ký ức, Vergegenwärtigung tái nhận thức, Wiedervergegenwärtigung tái biểu hiện, Erwartung kỳ vọng. Tuy nhiên, những hiện tượng này được gợi ý cho ông nghiên cứu do một vấn đề hoàn toàn khác, đó là vấn đề về ý hướng tính nói chung, tức là phân tích ý thức như là ý thức về. (Nhưng ngay cả Aristotle cũng đã thảo luận về μνήμη mneme ký ức và ἐλπίς elpis kỳ vọng). Vấn đề về thời gian cũng phát triển cùng với việc giải thích các hiện tượng như tri giác, tưởng tượng, ý thức và ký ức. Ở đây, ký ức được hình dung như một tri ​​thức cụ thể về những gì đã qua. Vì vậy, ở đây thời gian vẫn là sự tuôn chảy của những cái ‘bây giờ’, những cái ‘sau đó’ và những khoảnh khắc ngay lập tức, tương ứng với một loại tri ​​thức khá xác định về chúng. Đối với tất cả các cách diễn giải trước đây, chính công lao của Husserl là đã lần đầu tiên nhìn thấy những hiện tượng này, với sự trợ giúp của cấu trúc ý hướng tính. Chỉ cần liếc nhìn vào tâm lý học hoặc nhận thức luận đương đại là đủ để đánh giá được tầm quan trọng của bước tiến này. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề thời gian, về nguyên tắc, mọi thứ vẫn như cũ, đến mức thời gian được hiểu là một cái gì đó nội tại; nó vẫn là một cái gì đó bên trong, ‘trong chủ thể’. Do đó, tiêu đề là ‘ý thức thời gian nội tại’. Toàn bộ nghiên cứu của Husserl bắt nguồn từ những quan sát của ông về ý thức sơ khai và nguyên thủy về thời gian trong tri ​​thức về một dữ liệu chỉ mang tính kinh nghiệm; do đó toàn bộ nghiên cứu liên tục xoay quanh hiện tượng xảy ra theo thời gian của một âm thanh. Những bài giảng này rất quan trọng (ngoài những phân tích cụ thể về trí nhớ, tri giác, v.v.) đối với sự phát triển sâu sắc hơn về ý hướng tính vượt ra ngoài phạm vi của cuốn Khảo sát Logic. Điều mà Husserl vẫn gọi là ý thức về thời gian, tức là ý thức về thời gian, chính xác là thời gian, theo nghĩa nguyên thủy.

Chúng ta cố ý gọi thời gian nguyên thủy là thời tính để diễn đạt thực tế rằng thời gian không phải là thứ có sẵn thêm vào, mà bản chất của nó là có tính thời gian. Điều này có nghĩa là thời gian không ‘là’, mà đúng hơn là tự thời gian hóa chính nó. Do đó, mọi nỗ lực để đưa thời gian vào bất kỳ loại being-concept khái niệm-hữu thể nào đều nhất thiết phải thất bại. Nếu người ta cố gắng nắm bắt nó bằng sự trợ giúp của phép biện chứng, đó là một sự trốn tránh, cũng như tất cả các phép biện chứng khác. Thời tính trong quá trình thời gian hóa của nó là nhất tính tự-thống nhất nguyên thủy của kỳ vọng, lưu giữ và làm-cho-hiện-diện. Chúng ta đã bắt gặp nhất tính này khi quay trở lại với thời gian dễ tiếp cận nhất của [tr.205] phát ngôn (‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’). Chúng tôi đã làm như vậy bằng cách suy ngẫm về những yếu tố cốt lõi, cụ thể là cái ‘sau đó’ là một ‘sau đó, khi…’, có nghĩa là trong mỗi trường hợp, về bản chất, nó có thể được xác định thông qua một hiện hữu nào đó. Chúng tôi gọi đặc tính này của thời gian là Datierbarkeit khả tính niên đại/thời điểm.

[Ghi chú dài về Datierbarkeit khả tính niên đại/thời điểm: Trong hiện tượng học của Martin Heidegger, Datierbarkeit khả tính xác định niên đại/thời điểm là đặc điểm cấu trúc của thời gian hàng ngày, kết nối mọi khoảnh khắc ‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’ với một bối cảnh cụ thể của hoạt động con người. Thời gian không phải là một chuỗi toán học trừu tượng gồm các điểm độc lập, mà gắn liền với những gì chúng ta đang làm. Khái niệm cốt lõi của khả tính niên đại là cấu trúc ‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’: khi nói ‘sau đó’, ‘trước đây’, ‘bây giờ’, ta luôn ngầm xác định thời điểm - nghĩa là ‘bây giờ, khi việc này việc kia đang xảy ra’, hoặc ‘lúc đó, khi tôi đang làm việc ấy’. Khả tính này thể hiện bản chất quan hệ: mỗi khoảnh khắc ‘tự xác định thời điểm’ dựa trên sự tham gia, tâm trạng và dự phóng của Dasein hiện hữu. Một ‘bây giờ’ hoàn toàn mang tính quan hệ và chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với kỳ vọng-tương lai và ký ức-quá khứ của Dasein. ‘Khi nào’ là yếu tố chính – cái ‘khi nào’ về cơ bản có trước thời gian lịch pháp trừu tượng. Một khoảng thời gian gần đúng, mơ hồ khoảng ‘lúc đó’ hoàn toàn có thể xác định được niên đại dựa trên kinh nghiệm sống của chúng ta, chứng minh rằng thời gian là một khuôn khổ của ý nghĩa chứ không phải là một chiếc đồng hồ cứng nhắc. Tính xác định niên đại trong triết học của Heidegger Trong các tác phẩm như Vấn đề Cơ bản của Hiện tượng học, tính xác định niên đại nằm ở nền tảng phân tích của ông về thời gian sống: Datierbarkeit Khả tính xác định niên đại – việc gán ghép thời gian vốn có cho một hành động hoặc sự kiện trong sự tham gia của chúng ta vào thế giới. Erstrecktheit khoảng thời gian: sự ‘kéo dài’ thời gian giữa các sự kiện và nhiệm vụ mà chúng ta đang chờ đợi hoặc đang tham gia. Öffentlichkeit tính công khai - bởi vì chúng ta chia sẻ thế giới với những kẻ khác, nên thời gian có thể xác định thời điểm/niên đại của chúng ta -ví dụ giờ nghỉ trưa, giờ làm việc - trở nên đồng bộ và được chuẩn hóa thành thời gian công cộng, liên chủ thể. Weltzeit thời gian thế giới - tổng hợp tổng thể của tính xác định niên đại/thời điểm, khoảng thời gian và tính công khai tạo thành nền tảng mà chúng ta sử dụng để định hướng bản thân trong thế giới. Cách thức hoạt động của tính xác định thời điểm/niên đại - ví dụ hàng ngày với cụm từ: ‘Bây giờ là lúc ăn sáng’. Về bản chất, chúng ta thường nghĩ đến một mốc thời gian chính xác trên đồng hồ. Thay vào đó, cái ‘bây giờ’ này được xác định ngày tháng một cách tương đối so với các sự kiện khác trong thế giới của ta: mặt trời đã mọc, ta thức dậy và cần năng lượng để bắt đầu ngày làm việc. Bản thân ngày tháng có ý nghĩa trực tiếp từ sự tham gia tích cực của Dasein vào thế giới, chứ không phải từ một tham số tuyến tính của những thời khắc đang tích tắc.- HHN]. Trong cái ‘lúc đó, khi…’, tham chiếu hướng tới tương lai xảy ra theo một chỉ báo cho các hiện hữu, bản thân chúng có một ‘khi nào’ và do đó có thể xác định thời điểm/niên đại của cái ‘lúc đó’. Chỉ báo này phải mang theo thời gian được phát ngôn từ thời tính nguyên thủy, thuộc về cấu trúc cốt lõi của nó. Chỉ báo này có thể được thể hiện rõ ràng đến mức nào trong thời tính nguyên thủy?

Chúng ta sẽ lại tiếp tục từ cái ‘sau đó’ như là sự kỳ vọng. Cách ứng xử đối với loại sự vật mà chúng ta nói “nó sẽ là ‘sau đó’”, chẳng hạn, là hy vọng, sợ hãi hoặc chờ đợi. Chúng tôi gọi những phương thức này là cách ứng xử có tính ý hướng đối với cái có tính tương lai. Hy vọng không phải là sợ hãi và ngược lại; chờ đợi không nhất thiết là hy vọng hay sợ hãi và bản thân nó có thể biểu hiện nhiều biến thể: sự sốt ruột háo hức, và thái độ thờ-ơ-mặc-kệ-mọi-chuyện. Nhưng tất cả những cách ứng xử này sẽ không khả thể, tức là, việc hướng bản thân đến một điều gì đó sẽ bằng cách nào đó là ‘sau đó’ sẽ không có hướng đi rõ ràng nếu cái mà Dasein hy vọng, sợ hãi, v.v., với tư cách Dasein theo đúng nghĩa, không tự vươn mình vào một phẩm chất-sau đó, hoàn toàn tách biệt khỏi những gì nó có thể gặp phải từ cái ‘sau đó’. Điều mà chúng ta gọi là Gewärtigen mong đợi không gì khác hơn là Entrückung cuốn vào phẩm chất ‘sau đó’ nằm ở nền tảng của những thái độ đó, điều mà trước đây đã vượt qua tất cả những hiện hữu khả thể mà chúng ta có thể và phải nói rằng, chúng sẽ là ‘sau đó’. Và bởi vì ‘sau đó’ và mỗi ‘sau đó’ cụ thể về bản chất chỉ là sự phát ngôn và biểu hiện của sự mong đợi này, thứ luôn tiềm tàng bị cuốn theo vượt ra ngoài tất cả các hiện hữu, vì lý do này mà cái ‘sau đó’, tương ứng với cuộc cuốn-theo này, trong cấu trúc của chính nó là một chỉ báo, có thể xác định thời điểm/niên đại.

Ngược lại, sự mong đợi, như chúng ta nói, là trạng thái xuất thân. Trạng thái xuất thân được đề cập ở đây, ἔκστασις ekstasis tự bước ra khỏi, ở một mức độ nào đó là một raptus xuất thân (thăng lên cùng Thiên Chúa). Điều này có nghĩa là Dasein không dần dần trở nên mong đợi bằng cách lần lượt đi qua các hiện hữu thực sự tiếp cận nó như những sự vật trong tương lai, mà cuộc đi qua này diễn ra dần dần thông qua con đường rộng mở được tạo ra bởi raptus xuất thân của tự thân thời tính. Giờ đây, điều này cũng đúng theo cách tương ứng với lưu giữ và làm-cho-hiện-diện. Và do đó, chúng ta gọi ba hiện tượng cơ bản này là trạng thái xuất thân của thời tính. Thời tính là tự thân cái nhất tính xuất thân tự-hợp-nhất trong thời gian hóa xuất thân. Sự mong đợi hàm ý một hiện-hữu-đi-trước-chính-mình. Nó là hình thức cơ bản của sự hướng-về-chính-mình, hay chính xác hơn, nó cho phép những điều tương tự [tr.206] theo đúng nghĩa. Sự mong đợi có nghĩa là hiểu bản thân từ bên ngoài năng-lực-cho-hiện-hữu của chính mình; mà cái năng-lực-cho-hiện-hữu của chính mình, xét cho cùng chính là hiện-hữu-với và hiện-hữu-bởi. Mong đợi năng-lực-cho-hiện-hữu của chính mình với tư cách là của tôi, tôi cũng đã tiến đến chính mình một cách chính xác thông qua mong đợi. Việc tiếp cận với chính mình trước, từ khả tính của riêng mình, là khái niệm mang tính xuất thân chính yếu về tương lai. Chúng ta có thể minh họa cấu trúc này, trong chừng mực khả thể, theo cách này (dấu chấm hỏi chỉ ra chân trời vẫn còn để ngỏ): nhưng cuộc đến-với-chính-mình này, tự nó, không trải trên một hiện tại nhất thời của riêng tôi; nó trải trên toàn bộ những gì đã-từng-là của tôi. Chính xác hơn - và đây là luận điểm của chúng ta – cái tính-đã-từng-là này tự thời gian hóa từ bên ngoài của tương lai và trong tương lai. Cái đã-từng-là không phải là tàn dư của bản thân tôi vốn đã ở lại phía sau và bị bỏ lại một mình. Nó cũng không phải là điều mà Bergson thích minh họa bằng nhiều hình ảnh khác nhau: tương lai mở ra, như thể, trong khi quá khứ được cuộn lại trên một cuộn khác.

Trình bày theo cách này sẽ đúng chừng nào sự kết nối nội tại giữa tương lai và tính-đã-từng-là được gợi ý bằng hình ảnh; nhưng nó sẽ gây hiểu lầm vì cái đã-từng-là lại không phải là thứ gì đó vẫn còn đó bởi tự thân, cũng không phải là gánh nặng chết chóc tích tụ mà tôi kéo lê phía sau và thỉnh thoảng tôi có thể liên hệ theo cách này hay cách khác. Thay vào đó, cái đã-từng-là của tôi chỉ ‘là’: trong mỗi trường hợp, theo phương thức thời gian hóa của tương lai, và chỉ trong thời gian hóa đó. Cái-đã-từng-là, dĩ nhiên, không còn là một thứ gì đó hiện diện nữa, và đến mức đó người ta có thể đi đến kết luận thông thường rằng không gì có thể thay đổi; nó đã kết thúc. Nhưng không phải vậy. Thay vào đó, tính-đã-từng-là của cái đã-từng-là trở thành cái đã từng là, trước hết và liên tục, trong tương lai tương ứng. Chính việc chúng ta nói ‘chúng ta không có năng lực thoát khỏi quá khứ’ cho thấy một phương thức nhất định của cái đã-từng-là của chúng ta [tr.207]. Điều chúng ta thấy được thể hiện ở đây về bản chất của thời tính chính là cái mà sự xuất thân tương lai, như một cuộc hướng-tới, trải ra ngay lập tức, liên tục và chủ yếu vào cái đã-từng-là.

Thực sự có những lý do rõ ràng tại sao sự lãng quên lại là phương thức chủ đạo của đã-từng-là. Nghĩa là, dường như những gì đã từng ‘là’ không còn ở đó nữa, và trong việc tự-lý giải chính mình, Dasein thực sự có thể quay trở lại chính mình từ bên ngoài năng-lực-là của nó, nhưng lại hướng về cái hiện tại tức thời vừa mới khép lại cánh cửa phía sau nó đối với tính-đã-từng-là. Nhưng việc đóng cánh cửa này đã là một cách để thời gian hóa cái đã-từng-là, một loại thời gian hóa mà theo cách riêng của nó, làm hiện hữu cái đã-từng-là. Và việc làm-hiện-diện ấy trước hết tự thời gian hóa chính nó trong cái nhất tính xuất-thân của tương lai và tính-đã-từng-là. Kiểu thời gian hóa cơ bản này là kết quả của việc diễn giải thời tính trong chính nó. Nếu ta chọn thời điểm được nói ra làm điểm xuất phát, như cách hiểu thông thường và truyền thống về thời gian, thì thời điểm gần nhất, như mọi khi, luôn là hiện tại, có nghĩa là ‘đây là cái bây giờ’, và ‘cái không-còn- bây-giờ’ và ‘chưa-đến-bây-giờ’ sau đó là hai cánh tay mở rộng thời gian, với tư cách là cái bây giờ, theo các hướng tương ứng của phi-hiện-hữu. Hình ảnh này, và việc phân tích thời gian được rút ra từ đó, trở nên không thể tránh khỏi ngay khi người ta bỏ qua đặc trưng xuất thân của thời tính và không tìm hiểu về nhất tính của thời tính như là cái tự thời gian hóa về phương diện xuất-thân.

Chúng tôi nói điều này để tránh một sự hiểu lầm có thể xảy ra, cụ thể là niềm tin rằng thời tính thực sự là một trạng thái bị-cuốn-theo ba chiều, nhưng nó hoạt động theo cách mà ba trạng thái xuất-thân này bằng cách nào đó hòa quyện vào nhau trong một thực thể duy nhất, giống như một con vật sống có thể vươn các xúc giác ra theo các hướng khác nhau rồi mới thu chúng lại. Toàn bộ ba cách thức bị-cuốn-đi này không tập trung vào một loại sự vật nào đó mà bản thân nó lại thiếu vắng trạng thái bị-cuốn-đi, một thứ gì đó Vorhandensein hiện diện theo cách phi-xuất-thân và sẽ là trung tâm chung để khởi xướng và khai mở các trạng thái xuất-thân. Hơn nữa, cái nhất tính của các trạng thái xuất-thân tự nó đã mang tính xuất-thân. Nó không cần sự hỗ trợ và trụ cột, giống như vòm cầu. Nhưng nếu chúng ta có thể nói về cái ‘Hữu thể’ của trạng thái xuất-thân, thì chúng ta phải nói rằng Hữu thể của nó nằm trực tiếp trong ecstatic momentum động lực xuất thân tự do. Bergson gọi hiện tượng này bằng thuật ngữ elan ‘đà’, và ông cũng thấy điều gì đó thiết yếu ở đây, chỉ là ông đã áp dụng nó quá vội vàng, vào siêu hình học tổng quát, cho tất cả các hình thức hiện hữu khác nhau, mà không tập trung vào cấu trúc xuất-thân của thời gian và đặc tính chân trời/bình tuyến của nó. Kết quả là, elan đà chỉ có đặc tính ontic thực hữu và, nói cách khác, hướng về phía trước.

_______________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

12. [Geaamtausgabe. volume 24. Die Grundprobleme der Phänomenologie. edited by F.W. von Herrmann (Frankfurt a.M.1975)]. [The Basic Problem of Hofstadter (Bloomington: Indiana University Press. 1982).]

13. [Published in the Jahrbuch fur Philosophie und phänomenologische Forschung, volume 9, and, separately, Halle, 1928, edited by Martin Heidegger. Now in Husserliana, volume X: Zur Phänomenologie des inneren Zeitbewusstseins (1893- 1917), edited by R. Boehm, the Hague, 1966.] [An English translation by James Churchill was published as The Phenomenology of Internal Time-Consciousness (Bloomington: Indiana University Press, 1964).]