Powered By Blogger

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

B. Tương phản giữa Phân tích Thế gian của chúng ta và Diễn giải Thế giới của Descartes

Trong tranh luận về các nguyên tắc, người ta không chỉ phải bám vào những luận điểm có thể nắm bắt được bằng doxographic mô tả quan điểm; người ta cũng phải rút ra định hướng của mình từ xu hướng khách quan của vấn đề, ngay cả khi nó không vượt ra ngoài một cách tiếp cận khá thông thường. Trong học thuyết về res cogitans vật tư duy và res extensa vật có quảng tính, Descartes không chỉ muốn tạo dựng vấn đề về cái ‘Tôi’ và thế giới’; ông tuyên bố đã giải quyết nó một cách triệt để. Tác phẩm Trầm tư của ông đã làm rõ điều này. (Đặc biệt là Trầm tư I và VI.) Bằng cách lấy định hướng bản thể học cơ bản của mình từ các nguồn truyền thống và không đưa nó vào phê phán thực chứng, ông ta đã khiến việc làm sáng tỏ bất kỳ vấn đề bản thể học nguyên thủy nào về Dasein trở nên bất khả thi; điều này chắc chắn đã cản trở tầm nhìn của ông về hiện tượng thế giới, và đã khiến cho bản thể luận của ‘thế giới’ bị thu hẹp lại thành bản thể luận của một số thực thể nhất định bên trong thế giới. Phần thảo luận trước đó lẽ ra đã chứng minh điều này.

Tuy nhiên, người ta có thể phản bác rằng ngay cả khi trên thực tế cả vấn đề về thế giới và Hữu thể của các thực thể mà chúng ta gặp trong môi trường gần gũi nhất vẫn còn bị che giấu, thì Descartes vẫn đã đặt nền tảng cho việc mô tả về mặt bản thể luận là thực thể bên-trong-thế- giới mà trên đó, trong chính Hữu thể của nó, mọi thực thể khác đều được xây dựng – đó là Bản chất vật chất. Đây sẽ là tầng cơ bản mà trên đó tất cả strata of actuality các tầng hiện thực khác bên-trong-thế-giới được xây dựng. Cái Vật thể có quảng tính như vậy sẽ đóng vai trò, trước hết, là nền tảng cho những đặc điểm xác định vốn chắc chắn thể hiện ra như những phẩm chất, nhưng ‘về bản chất’ lại là những sửa đổi định lượng của các phương thức của chính cái extensio quảng tính đó. Những phẩm chất này, bản thân chúng có thể quy giản, sẽ tạo nền tảng cho những phẩm chất cụ thể như ‘đẹp’, ‘xấu’, ‘phù hợp’, [tr.132] ‘không phù hợp’, ‘hữu ích’, ‘vô ích’. Nếu người ta chủ yếu hướng đến Thinghood/Dinglichkeit Vật tính, thì những phẩm chất vật tính đó phải được coi là những vị ngữ giá trị không thể định lượng, nhờ đó cái mà ban đầu chỉ là một Sự vật vật chất, được đóng dấu là cái gì đó tốt. Nhưng với sự phân tầng này, chúng ta đi đến những thực thể đã mô tả về mặt bản thể học như là thiết bị sẵn có. Do đó phân tích Descartes về ‘thế giới’ sẽ lần đầu cho phép xây dựng một cách chắc chắn cấu trúc của những gì sẵn có để dùng; tất cả những gì cần làm là hoàn thiện cái Sự vật của Tự nhiên cho đến khi nó trở thành một Sự vật hữu ích hoàn chỉnh, và điều này rất dễ thực hiện.

Nhưng hoàn toàn tách biệt khỏi vấn đề cụ thể của chính thế giới, liệu cái Hữu thể của những gì chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi bên-trong-thế-giới có thể được tiếp cận về mặt bản thể học bằng quy trình này hay không? Khi chúng ta nói về tính Vật thể, chẳng phải chúng ta đã ngầm giả định một loại Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri thường trực của Sự vật - thay vì vốn được hoàn thiện về mặt bản thể học sau đó bằng cách gán cho các thực thể những đặc tính giá trị, mà chính những đặc tính-giá trị này lại chỉ là những đặc điểm ontic thực hữu của những thực thể có loại Hữu thể mà Sự vật sở hữu? Việc thêm vào các đặc tính giá trị không thể cho chúng ta biết bất cứ điều gì mới mẻ về Hữu thể của vật chất, mà chỉ đơn thuần giả định rằng vật chất hiện-diện-vô-tri thuần túy với tư cách là loại Hữu thể của chúng. Khi đó, các giá trị sẽ là những đặc điểm xác định mà một Vật sở hữu, và chúng sẽ hiện-diện-vô-tri. Nguồn gốc bản thể học tối thượng duy nhất của chúng sẽ nằm ở việc chúng ta trước đó đã đặt ra tính hiện thực của Sự vật như là tầng nền tảng. Nhưng ngay cả kinh nghiệm tiền hiện tượng luận cũng cho thấy rằng trong một thực thể được cho là một Sự vật, có điều gì đó sẽ không thể hiểu đầy đủ chỉ thông qua Thinghood Vị thế Sự vật. Do đó, Hữu thể của các Sự vật cần phải được làm rõ hơn.

Vậy thì, Hữu thể của các giá trị hay ‘tính hợp lệ’ của chúng (mà Lotze coi là một phương thức ‘khẳng định’) thực sự có ý nghĩa gì về mặt bản thể học? Và việc các Sự vật được ‘đầu tư’ các giá trị theo cách này có ý nghĩa gì về mặt bản thể luận? Chừng nào những vấn đề này còn mơ hồ, thì việc tái cấu trúc Sự vật hữu dụng theo khuôn khổ Sự vật Tự nhiên là một việc làm đáng nghi vấn về mặt bản thể luận, ngay cả khi người ta bỏ qua cách mà vấn đề đã bị xuyên tạc về nguyên tắc. Và nếu chúng ta tái cấu trúc Sự vật hữu dụng này, thứ được cho là đến với chúng ta ngay từ đầu ‘trần trụi’, thì điều này chẳng phải luôn đòi hỏi chúng ta cần có cái nhìn tích cực trước đó về hiện tượng mà toàn bộ tính chất của nó được khôi phục bằng tái cấu trúc này hay sao? Nhưng nếu chúng ta chưa đưa ra lời giải thích thích đáng trước đó về trạng thái Hữu thể tối thượng của nó, thì chẳng phải chúng ta đang xây dựng công cuộc tái cấu trúc của mình mà không có kế hoạch sao? Bởi vì sự tái cấu trúc và ‘hoàn thiện’ bản thể luận truyền thống về ‘thế giới’ này dẫn đến việc chúng ta đạt được những thực thể giống như những thực thể mà chúng ta đã bắt đầu khi phân tích tình-trạng-sẵn-có-để-dùng của thiết bị và tổng thể các mối liên hệ [tr.133], thì dường như Hữu thể của các thực thể này thực sự đã được làm rõ hoặc ít nhất đã trở thành một vấn đề. Nhưng bằng cách coi extensio quảng tính là aproprietas một thuộc tính, Descartes khó có thể đạt được Hữu thể của bản chất; và bằng cách nương náu trong các đặc trưng-‘giá trị’, chúng ta cũng ở cách xa với việc thậm chí chỉ thoáng thấy được Hữu thể như là tình-trạng-sẵn-có-để-dùng, chứ đừng nói đến việc cho phép nó trở thành một chủ đề bản thể luận.

Descartes đã thu hẹp câu hỏi về thế giới xuống còn câu hỏi về Naturdinglichkeit Tình trạng Sự vật Tự nhiên với tư cách là những thực thể trong thế giới có thể tiếp cận gần gũi. Ông đã khẳng định quan điểm là việc nhận biết một thực thể trong cái được cho là cách thức ontic thực hữu nghiêm ngặt nhất là con đường duy nhất có thể để chúng ta tiếp cận với Hữu thể chính yếu của cái thực thể mà tri ​​thức đó tiết lộ. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng phải có sự thấu hiểu để thấy rằng về nguyên tắc, các cách thức ‘hoàn thiện’ Thing-ontology bản thể luận-Sự-vật cũng hoạt động trên cùng một cơ sở giáo điều như thứ mà Descartes đã áp dụng. Chúng ta đã ám chỉ trong Phần 14 rằng việc bỏ qua thế giới và những thực thể mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi không phải là ngẫu nhiên, không phải là một sự sơ suất dễ dàng sửa chữa, mà nó bắt nguồn từ một loại Hữu thể về bản chất thuộc về tự thân Dasein. Khi việc phân tích Dasein của chúng ta đã làm sáng tỏ những cấu trúc chính của Dasein có tầm quan trọng nhất trong khuôn khổ vấn đề này, và khi chúng ta đã gán cho khái niệm Hữu thể nói chung cái chân trời mà trong đó khả năng hiểu biết của nó trở nên khả thi, sao cho tình-trạng-sẵn-có-để-dùng và sự hiện-diện-vô-tri cũng trở nên có thể hiểu được về mặt bản thể luận một cách nguyên thủy lần đầu tiên, thì chỉ khi đó, phê phán của chúng ta đối với bản thể luận Cartesian về thế giới (một bản thể luận mà về nguyên tắc vẫn là bản thể luận thông thường ngày nay) mới có thể đạt được giá trị triết học của riêng nó. Để làm được điều này, chúng ta phải chỉ ra một số thứ. (Xem Phần Một, Mục Ba.)1 1) Tại sao hiện tượng thế giới lại bị bỏ qua ở đầu truyền thống bản thể luận có tính quyết định đối với chúng ta (rõ ràng là trong trường hợp của Parmenides), và tại sao thực trạng bỏ qua này lại liên tục lặp lại? 2). Tại sao, thay vì hiện tượng bị bỏ qua như vậy, các thực thể bên trong thế giới lại can thiệp như một chủ đề bản thể luận?2 3) Tại sao những thực thể này lại được tìm thấy đầu tiên trong ‘Tự nhiên’? 4) Tại sao lại phải viện đến hiện tượng giá trị khi dường như cần thiết để hoàn thiện một bản thể luận về thế giới như vậy?

[Tr.134] Trong câu trả lời cho những câu hỏi này, lần đầu tiên chúng ta sẽ đạt được sự hiểu biết tích cực về vấn đề của thế giới, nguồn gốc của việc chúng ta không nhận ra được vấn đề đó sẽ được phơi bày, và cơ sở để bác bỏ bản thể luận truyền thống về thế giới sẽ được chứng minh. Thế giới, Dasein và các thực thể bên-trong-thế-giới là những trạng thái cấu thành bản thể luận gần gũi nhất với chúng ta; nhưng không có gì đảm bảo rằng chúng ta có thể đạt được cơ sở để tiếp cận những điều này như những hiện tượng bằng quy trình có vẻ hiển nhiên là bắt đầu từ các Sự vật của thế giới, càng không phải bằng cách lấy định hướng từ những gì được cho là tri ​​thức chặt chẽ nhất về các thực thể. Những quan sát của chúng ta về Descartes lẽ ra phải mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc này. Nhưng nếu chúng ta nhớ rằng tính không gian rõ ràng là một trong những thành phần cấu tạo của các thực thể trong thế giới, thì cuối cùng phân tích của Descartes về ‘thế giới’ vẫn có thể được ‘cứu vãn’. Khi Descartes cấp tiến đến mức thiết lập extensio quảng tính như là praesuppositum một giả định cho mọi đặc điểm xác định của res corporea ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’, ông đã mở đường cho sự hiểu biết về một cái gì đó tiên nghiệm mà nội dung của nó Kant sẽ thiết lập với sự thấu hiểu sâu sắc hơn. Trong một số giới hạn nhất định, phân tích về extensio quảng tính vẫn độc lập với việc ông bỏ qua việc cung cấp một cách giải thích rõ ràng cho Hữu thể của các thực thể có quảng tính. Có một số lý do hiện tượng học để coi quảng tính là một đặc điểm cơ bản của ‘thế giới’, ngay cả khi bằng cách viện dẫn điều này, cả tính không gian của thế giới lẫn tính không gian của các thực thể mà chúng ta gặp trong môi trường của mình (loại tính không gian được khám phá một cách gần gũi) hay thậm chí cả tính không gian của chính Dasein, đều không thể được hình dung về mặt bản thể học.

C. Hoàn cảnh Môi trường3 và Tính không gian của Dasein

Liên quan đến phác thảo sơ bộ đầu tiên của chúng ta về Hữu thể-trong (Xem Phần 12), chúng ta phải đối chiếu Dasein với một cách tồn tại trong không gian mà chúng ta gọi là Inwendigkeit ‘tính bên trong’. Cách biểu hiện này có nghĩa là một thực thể tự nó được mở rộng thì được bao quanh bởi ranh giới mở rộng của một thứ khác cũng được mở rộng. Das inwendig Seiende Cái thực thể bên trong và thứ bao quanh nó đều hiện-diện-vô-tri trong không gian. Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta phủ nhận rằng Dasein có bất kỳ Inwendigkeit ‘tính bên trong’ nào như vậy trong một vật chứa không gian, thì điều này về nguyên tắc không loại trừ việc nó có bất kỳ tính không gian nào cả, mà chỉ đơn thuần giữ cho con đường nhìn thấy loại tính không gian cấu thành nên Dasein luôn rộng mở. Giờ đây cần trình bày rõ về vấn đề này. Nhưng bởi vì bất kỳ thực thể nào bên-trong-thế-giới cũng ở trong không gian, nên tính không gian của nó sẽ có mối liên hệ bản thể học với thế giới. Do đó, chúng ta phải xác định theo nghĩa nào không gian là một thành phần cấu tạo nên thế giới đó, mà thế giới đó lại được đặc trưng như một yếu tố trong cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới. Cụ thể [tr.135], chúng ta phải chỉ ra cái cách thức mà aroundness tình trạng hoàn cảnh của môi trường, tính không gian cụ thể của các thực thể gặp phải trong môi trường, được xây dựng trên worldhood tình trạng thế gian của thế giới, trong khi ngược lại, thế giới, về phần mình, lại không hiện-diện-vô-tri trong không gian. Nghiên cứu của chúng ta về tính không gian của Dasein và cách thức thế giới được xác định về mặt không gian sẽ bắt đầu từ việc phân tích những gì sẵn-có-để-dùng trong không gian bên-trong-thế-giới. Chúng ta sẽ xem xét ba chủ đề: 1. Tính không gian của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới (Mục 22); 2. Tính không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới (Mục 23); 3. Không gian và tính không gian của Dasein (Mục 24).

22. Tính không gian của những thứ Sẵn-có-để-dùng Trong-thế-giới

Nếu không gian cấu thành nên thế giới theo một nghĩa mà chúng ta vẫn chưa xác định được, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi trong đặc điểm bản thể học trước đây về Hữu thể của những gì bên-trong-thế-giới, chúng ta đã phải xem xét điều này như một thứ cũng nằm trong không gian. Tính không gian của những thứ sẵn-có-để-dùng này là một hiện tượng mà chúng ta vẫn chưa nắm bắt được một cách rõ ràng; chúng ta cũng chưa chỉ ra được mối liên hệ của nó với cấu trúc của Hữu thể thuộc về những thứ sẵn-có-để-dùng. Giờ đây đó là nhiệm vụ của chúng ta. Đặc điểm của những thứ sẵn-có-để-dùng mà chúng ta đã đề cập đến đã chạm đến tính không gian của nó đến mức nào? Chúng ta đã nói về những thứ sẵn-có-để-dùng ở gần. Điều này có nghĩa là không chỉ những thực thể mà chúng ta gặp đầu tiên trước bất kỳ thực thể nào khác, mà còn cả những thực thể ‘ở gần’ nữa.4 Những gì sẵn-có-để-dùng trong các giao dịch hàng ngày của chúng ta mang tính chất gần gũi. Nói chính xác hơn, tình trạng gần gũi của thiết bị đã được gợi ý trong thuật ngữ sẵn-có-để-dùng, thể hiện Hữu thể của thiết bị. Mỗi thực thể ‘để-dùng’ đều có một mức độ gần gũi khác nhau, không thể xác định bằng cách đo khoảng cách. Sự gần gũi này tự điều chỉnh theo cách thao tác và sử dụng một cách thận trọng và có ‘tính toán’. Đồng thời, những gì gần gũi theo cách này được thiết lập bởi sự thận trọng trong mối quan tâm, liên quan đến hướng mà thiết bị có thể tiếp cận được bất cứ lúc nào. Khi sự gần gũi của thiết bị được xác định có tính định hướng,5 thì điều này không chỉ có nghĩa là thiết bị có [tr.136] vị trí của nó trong không gian như hiện-diện-vô-tri ở đâu đó, mà còn có nghĩa là với tư cách là thiết bị, về cơ bản nó đã được trang bị và lắp đặt, thiết lập và đặt đúng vị trí. Thiết bị có vị trí của nó, hoặc nó ‘nằm xung quanh’; về nguyên tắc, điều này phải được phân biệt với việc chỉ xuất hiện ngẫu nhiên ở một vị trí không gian nào đó. Khi thiết bị cho một việc gì đó có vị trí của nó, thì vị trí đó tự định nghĩa mình là vị trí của thiết bị đó - như một vị trí trong toàn bộ tổng thể các vị trí được sắp xếp theo hướng với nhau và thuộc về bối cảnh của thiết bị sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường. Vị trí như vậy và đa bội tính của các vị trí như vậy không được hiểu là the where cái ‘ở đâu’ của một Hữu-thể-vô-tri ngẫu nhiên nào đó của các Sự vật. Trong mỗi trường hợp, vị trí là cái ‘ở đó’ hoặc ‘phía xa’ xác định của một thiết bị thuộc về một nơi nào đó. Việc nó thuộc về một nơi nào đó vào thời điểm đó tương ứng với đặc tính thiết bị của những gì sẵn-có-để-dùng; nghĩa là, nó tương ứng với mối quan hệ thuộc về mà những thứ sẵn-có-để-dùng có được đối với toàn bộ thiết bị theo sự liên quan của chúng. Nhưng nhìn chung, cái ‘nơi chốn’ mà toàn bộ các địa điểm cho một bối cảnh thiết bị được phân bổ, là điều kiện cho phép tình trạng thuộc về một nơi nào đó của toàn bộ thiết bị như một thứ có thể được đặt vào. ‘Nơi chốn’ này, thứ cho phép thiết bị thuộc về một nơi nào đó, và thứ mà chúng ta thận trọng giữ trong tầm nhìn phía trước trong các giao dịch quan tâm của mình, chúng ta gọi là ‘vùng’.6

‘Trong vùng của’ không chỉ có nghĩa là ‘theo hướng của’ mà còn nằm trong phạm vi của một thứ gì đó theo hướng đó. Loại địa điểm được cấu thành bởi hướng và khoảng cách7 (và sự gần gũi chỉ là một phương thức của khoảng cách) đã được định hướng về một vùng và được định hướng bên trong nó. Trước tiên, phải khám phá ra một cái gì đó giống như một vùng nếu muốn có bất kỳ khả năng nào để phân bổ hoặc tìm thấy các địa điểm cho toàn bộ thiết bị mà người ta đang có quyền sử dụng một cách thận trọng. Định hướng khu vực của vô số địa điểm thuộc về những thứ sẵn-có-để-dùng tạo nên hoàn cảnh – ‘xung quanh chúng ta’ - của những thực thể mà chúng ta gặp gỡ gần gũi nhất về mặt môi trường. Một đa tính ba-chiều của các vị trí có thể được lấp đầy bằng các Sự vật hiện-hữu-vô-tri thì không bao giờ được đem đến một cách gần gũi. Chiều không gian này vẫn bị che khuất trong không gian của những thứ sẵn-có-để-dùng. Cái ‘ở trên’ là cái ‘trên trần nhà’; cái ‘ở dưới’ là cái ‘trên sàn nhà’; [tr.137] cái ‘ở phía sau’ là cái ‘ở cửa’; tất cả các ‘vị trí’ đều được khám phá và diễn giải một cách thận trọng khi chúng ta thực hiện các giao dịch hàng ngày; chúng không được xác định và phân loại bằng phép đo quan sát không gian. Các vùng không được hình thành đầu tiên bởi các sự vật hiện-diện-vô-tri cùng nhau; chúng luôn luôn sẵn-có-để-dùng ở những vị trí riêng lẻ. Bản thân các vị trí hoặc được phân bổ cho những thứ sẵn-có-để-dùng trong sự quan tâm thận trọng, hoặc chúng ta tình cờ bắt gặp chúng. Do đó, bất cứ thứ gì luôn luôn sẵn-có-để-dùng mà cái Hữu-thể-trong-thế-giới thận trọng tính đến từ trước, đều có vị trí của nó. Cái ‘ở đâu’ của tình trạng sẵn-có-để-dùng đó được xem xét như một vấn đề cần quan tâm, và được định hướng theo phần còn lại của những thứ sẵn-có-để-dùng. Ví dụ, mặt trời, với ánh sáng và hơi ấm được sử dụng hàng ngày, có những vị trí riêng của nó - bình minh, giữa trưa, hoàng hôn, nửa đêm; những vị trí này được phát hiện trong sự quan tâm thận trọng và được xử lý một cách riêng biệt dựa trên những thay đổi về khả năng sử dụng những gì mặt trời ban tặng. Ở đây, chúng ta có một thứ gì đó luôn sẵn-có-để-dùng với tính bất biến đồng nhất, mặc dù nó liên tục thay đổi; các vị trí của nó trở thành những ‘chỉ báo’ nổi bật về các vùng nằm trong đó. Những vùng thiên hà này, dù chưa nhất thiết phải có ý nghĩa địa lý nào, nhưng lại cung cấp trước ‘điểm đến’ cho mọi8 cách thức đặc biệt  để tạo hình cho các vùng mà các địa điểm có thể chiếm giữ. Ngôi nhà có mặt nắng và mặt râm; cách nó được chia thành các ‘phòng’ hướng về những vùng này, và cả sự ‘sắp xếp’ bên trong chúng cũng vậy, theo đặc điểm của chúng như là các trang thiết bị. Ví dụ, nhà thờ và nghĩa trang được bố trí theo hướng mặt trời mọc và lặn - những vùng của sự sống và cái chết, mang tính quyết định đối với chính Dasein về các khả tính Hữu thể tối đa của nó trong thế giới. Dasein, trong chính Hữu thể của nó, có cái Hữu thể này như một kết quả; và mối quan tâm của nó khám phá trước những vùng mà sự tham gia nào đó mang tính quyết định. Việc khám phá trước các vùng này được đồng quyết định bởi toàn bộ các tham gia mà cái sẵn-có-để-dùng, như một thứ được gặp phải, được giải phóng. Tình trạng sẵn-có-để-dùng vốn có của bất kỳ vùng nào như vậy từ trước đều mang tính chất quen thuộc kín đáo, và nó mang tính chất đó theo một nghĩa nguyên thủy hơn cả Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng.9

Bản thân vùng đó chỉ trở nên rõ ràng khi người ta khám phá [tr.138] sự sẵn-có-để-dùng một cách thận trọng và làm như vậy bằng các phương thức quan tâm thiếu sót.10 Thông thường, vùng của một địa điểm không trở nên dễ tiếp cận một cách rõ ràng một cách đúng nghĩa cho đến khi người ta không tìm thấy thứ gì đó ở vị trí của nó. Không gian được khám phá trong Bản thể-trong-thế-giới-thận trọng như tính không gian của tổng thể tính trang thiết bị, luôn thuộc về chính các thực thể như là vị trí của tổng thể tính đó. Bản thân không gian trần trụi vẫn bị che khuất. Không gian đã bị chia thành các nơi trốn. Nhưng tính không gian này có nhất tính riêng của nó thông qua tổng-thể-tính-tham-gia-phù-hợp-với- thế-giới thuộc về cái sẵn-có-để-dùng về mặt không gian. “Môi trường” không tự sắp xếp trong một không gian đã được định sẵn; nhưng cái thế gian cụ thể của nó, trong ý nghĩa của nó, khớp nối bối cảnh của những sự tham gia thuộc về một tổng thể hiện tại của những nơi trốn được phân bổ một cách thận trọng. Thế giới vào thời điểm như vậy luôn bộc lộ tính không gian của không gian thuộc về nó. Việc gặp gỡ cái sẵn-có-để-dùng trong môi trường của nó vẫn khả thi về mặt ontic thực hữu chỉ bởi vì chính Dasein ‘có tính không gian’ liên quan đến Hữu-thể-trong-thế-giới của nó.

23. Tính Không gian của Hữu-thể-trong-thế-giới

Nếu chúng ta gán tính không gian cho Dasein, thì cái ‘Hữu thể trong không gian’ này rõ ràng phải được hình dung theo loại Hữu thể mà thực thể đó sở hữu. Dasein về bản chất không phải là một Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri; và ‘tính không gian’ của nó không thể biểu thị bất cứ điều gì giống như sự xuất hiện tại một vị trí trong ‘không-gian-thế-giới’, cũng không thể biểu thị cái Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng tại một nơi nào đó. Cả hai đều là những loại Hữu thể thuộc về các thực thể gặp được trong thế giới. Tuy nhiên, Dasein ở ‘trong’ thế giới theo nghĩa nó tương tác với các thực thể gặp được bên-trong-thế-giới, và làm vậy theo cách quan tâm, quen thuộc. Vì vậy, nếu tính không gian thuộc về nó theo bất kỳ cách nào, thì nó chỉ có thể xảy ra nhờ vào cái Hữu-thể-trong ấy. Nhưng tính không gian lại thể hiện các đặc điểm của sự tách rời và tính định hướng.11     

[Tr.139] Khi chúng ta nói về xóa bỏ khoảng cách như một loại Hữu thể mà Dasein có liên quan đến cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó, bằng vào điều đó chúng ta không hiểu bất kỳ điều gì như trạng thái xa cách (hoặc gần gũi) hay thậm chí là một khoảng cách.12 Chúng ta sử dụng thuật ngữ ‘xóa bỏ khoảng cách’* với ý nghĩa vừa chủ động vừa chuyển tiếp. Nó đại diện cho một trạng thái cấu thành Hữu thể của Dasein - một trạng thái mà việc loại bỏ một cái gì đó theo nghĩa cất nó đi chỉ là một phương thức thực tế xác định. ‘Xóa bỏ khoảng cách’* tương đương với việc làm cho sự xa xôi biến mất - tức là làm cho khoảng cách với một thứ gì đó biến mất, đưa nó đến gần.13 Dasein về bản chất là xóa bỏ khoảng cách: nó cho phép bất kỳ thực thể nào được bắt gặp ở gần như chính thực thể đó. Tình trạng xóa bỏ khoảng cách khám phá ra trạng thái xa cách; và khoảng cách, giống như khoảng cách, là một đặc điểm phân loại xác định của các thực thể mà bản chất của chúng không phải là của Dasein. Tuy nhiên, xóa bỏ khoảng cách* là một hiện thực; điều này phải được ghi nhớ. Chỉ khi các thực thể được tiết lộ cho Dasein trong tính xóa bỏ khoảng cách của chúng [Entferntheit], thì ‘tình trạng xa cách’ [Entfernungen] và các khoảng cách liên quan đến những thứ khác mới trở nên có thể tiếp cận được trong chính các thực thể bên-trong-thế-giới. Hai điểm cũng ít tách rời nhau với tư cách hai Sự vật, vì không loại thực thể nào trong đó có loại Hữu thể khiến nó có thể tách rời. Chỉ có một khoảng cách có thể đo được giữa chúng, có thể bắt gặp trong quá trình tách rời của mình.

Về cơ bản và phần lớn, xóa bỏ tách rời14 là một sự thận trọng [tr.140] mang lại sự gần gũi - mang một cái gì đó gần lại, theo nghĩa có được nó, đặt nó vào trạng thái có sẵn, có nó để dùng. Nhưng một số cách thức mà các thực thể được khám phá theo lối thuần túy nhận thức cũng có đặc điểm là đưa chúng gần lại. Ở Dasein có một xu hướng thiết yếu hướng tới trạng thái gần gũi. Tất cả các cách mà chúng ta đẩy nhanh mọi thứ, như ngày nay chúng ta ít nhiều bị buộc phải làm, đều thúc đẩy chúng ta hướng tới việc chinh phục trạng thái xa cách. Ví dụ, với ‘đài phát thanh’, Dasein đã mở rộng môi trường hàng ngày của nó đến mức nó đã thực hiện được việc xóa bỏ tình trạng tách rời của ‘thế giới’ - một sự xóa bỏ tình trạng tách rời mà, theo nghĩa của nó đối với Dasein, vẫn chưa thể hình dung được. Xóa bỏ tình trạng tách rời không nhất thiết ngụ ý bất kỳ sự đánh giá rõ ràng nào về danh tiếng của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trong mối quan hệ với Dasein. Trên hết, trạng thái xa cách* không bao giờ được coi là khoảng cách. Nếu tình trạng vô danh tính cần được ước lượng, thì điều này được thực hiện tương đối so với tình trạng xóa bỏ khoảng cách mà sự tồn tại hàng ngày của Dasein tự duy trì. Mặc dù kiểu ước lượng này có thể không chính xác và thay đổi nếu ta cố gắng tính toán, nhưng trong đời sống thường nhật của Dasein, chúng lại có tính xác định riêng, hoàn toàn dễ hiểu. Ta nói rằng đi đến đằng kia là ‘một quãng đường đi bộ dễ dàng’, ‘một cung đá ném’, hoặc ‘một điếu thuốc tàn’.

Những thước đo này không chỉ thể hiện rằng chúng không nhằm mục đích ‘đo lường’ bất cứ điều gì, mà còn cho thấy khoảng cách* được ước lượng ở đây thuộc về một thực thể nào đó mà ta tiếp cận với sự thận trọng. Nhưng ngay cả khi ta sử dụng một thước đo cố định và nói ‘mất nửa tiếng sẽ đến nhà’, thì thước đo này cũng phải được coi là một ước lượng. ‘Nửa tiếng’ không phải là ba mươi phút, mà là một khoảng thời gian không có ‘độ dài’ nào theo nghĩa của một khoảng cách định lượng. Khoảng thời gian như vậy luôn được hiểu theo những cách thức quen thuộc hàng ngày mà ta Besorgungen ‘chuẩn bị’. Tình trạng xa cách* được ước tính gần bằng sự thận trọng, ngay cả khi người ta khá quen thuộc với các phép đo được tính toán ‘chính thức’. Vì những gì bị tách rời trong các ước tính như vậy là sẵn-có-để-dùng, nên nó vẫn giữ đặc tính của nó như là nằm trong-thế-giới cụ thể. Điều này thậm chí ngụ ý rằng con đường chúng ta đi tới các thực thể bị tách rời trong quá trình giao dịch của mình sẽ thay đổi về độ dài từ ngày này sang ngày khác. Những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường chắc chắn không phải là hiện-diện-vô-tri đối với một người quan sát vĩnh hằng không bị ảnh hưởng bởi Dasein: nhưng nó được bắt gặp trong sự quan tâm thận trọng hàng ngày của Dasein. Khi Dasein di chuyển trên con đường của mình, nó không đo lường một khoảng không gian như một Vật thể hữu hình hiện-diện-vô-tri; nó không ‘nuốt chửng các ki-lô-mét’; việc đưa lại gần hoặc xóa bỏ tình trạng tách rời luôn là một loại Hữu thể quan tâm đối với những gì được đưa lại gần và xóa bỏ tách rời. Một con đường dài ‘về mặt khách quan’ có thể ngắn hơn nhiều so với một con đường ‘về mặt Khách quan’ còn ngắn hơn nữa nhưng có lẽ ‘tình trạng khó khăn’ và hiện ra trước mắt chúng ta [tr.141] như một con đường dài vô tận. Tuy nhiên, chỉ trong "sự hiện diện trước mắt chúng ta15 này, thế giới hiện tại mới thực sự sẵn-có-để-dùng. Khoảng cách Khách quan của những Vật thể hiện-diện-vô-tri không trùng khớp với tình trạng xa cách và gần gũi của những gì sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới. Mặc dù chúng ta có thể biết chính xác những khoảng cách này, nhưng tri ​​thức này vẫn mù quáng; nó không có chức năng khám phá môi trường một cách thận trọng và đưa nó lại gần; tri ​​thức này chỉ được sử dụng trong và cho một Hữu thể quan tâm vốn không đo lường khoảng cách - một Hữu thể hướng tới thế giới ‘quan trọng’ đối với Dasein.

Khi một kẻ hướng trước tới ‘Tự nhiên’ và khoảng cách được đo lường ‘Khách quan’ của Sự vật, kẻ đó có xu hướng coi những ước tính và diễn giải về tình trạng xóa bỏ tách rời như vậy là có tính ‘chủ quan’. Tuy nhiên, cái ‘chủ thể tính’ này có lẽ khám phá ra cái ‘Thực tại’ của thế giới ở trạng thái Hiện thực nhất của nó; nó không liên quan gì đến tính tùy tiện ‘chủ quan’ hay ‘cách tiếp nhận’ mang tính chủ thể luận một thực thể mà ‘trong tự-thân’ là trái ngược. Việc xóa bỏ tình trạng tách rời có tính thận trọng thường nhật của Dasein cho thấy Hữu-thể-trong-tự-thân của ‘chân-thế giới’ - của cái thực thể mà Dasein, với tư cách là một cái gì đó đang tồn tại, đã hiện hữu bên cạnh.16 Khi một kẻ chủ yếu và thậm chí chỉ hướng tới những khoảng cách xa xôi như được đo lường, thì tính không gian nguyên thủy của Hữu-thể-trong bị che giấu. Cái được cho là ‘gần nhất’ không có nghĩa là cái ở khoảng cách nhỏ nhất ‘so với chúng ta’. Nó nằm ở cái được xóa bỏ tách rời ở mức độ trung bình khi chúng ta với tới, nắm lấy hoặc nhìn vào nó. Bởi vì Dasein về bản chất là mang tính không gian theo cách xóa bỏ tách rời, nên các giao dịch của nó luôn nằm trong một ‘môi trường’ được xóa bỏ tách rời khỏi nó với một khoảng trống nhất định; do đó, việc nhìn và nghe của chúng ta luôn đi gần hơn so với những gì ngoài xa ‘gần nhất’. Nhìn và nghe là những tri giác khoảng cách không phải vì chúng có tầm với xa, nhưng vì chính trong chúng mà Dasein với tư cách là kẻ xóa bỏ tách rời chủ yếu cư ngụ. Ví dụ, khi một người đàn ông đeo một cặp kính ở rất gần anh ta về mặt khoảng cách chỉ ở mức chúng ‘nằm trên mũi’, thì về mặt môi trường, chúng lại xa anh ta hơn cả bức tranh trên bức tường đối diện. Những thiết bị như vậy có khoảng cách nhỏ đến nỗi thường rất khó để nhận thấy chúng ở gần. Thiết bị để nhìn - và tương tự như vậy đối với việc nghe, chẳng hạn như ống nghe điện thoại - có cái mà chúng ta gọi là sự kín đáo của những thứ sẵn-có-để-dùng ở gần. Tương tự như vậy, chính là con phố, như một thiết bị để bộ hành. Kẻ kia cảm nhận được sự tiếp xúc của nó ở mỗi bước chân khi bộ hành; nó dường như là thứ gần gũi và chân thực nhất trong tất cả những thứ sẵn-có-để-dùng, và nó tự trượt đi, như thể [tr.142], dọc theo một số phần cơ thể của kẻ kia – đôi lòng bàn chân của gã. Tuy nhiên, nó lại xa hơn người quen mà kẻ ấy bắt gặp ‘trên phố’ ở một ‘khoảng xa’ hai mươi bộ khi hắn đang rảo bước như vậy.

Sự quan tâm thận trọng quyết định khoảng cách gần và xa của những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường xung quanh. Bất cứ điều gì mà sự quan tâm này tồn tại trước đó bên cạnh đều là thứ gần nhất, và đây là thứ điều chỉnh những cung cách xóa bỏ tách rời của chúng ta. Nếu Dasein, bằng mối quan tâm của mình, đưa một thứ gì đó đến gần, thì điều này không có nghĩa là nó cố định một thứ gì đó ở một vị trí không gian với khoảng cách tối thiểu từ một điểm nào đó của cơ thể. Khi một thứ gì đó ở gần, điều đó có nghĩa là nó nằm trong phạm vi của những gì sẵn-có-để-dùng trong môi trường xung quanh để quan tâm thận trọng. Việc đưa-đến-gần không hướng tới cái Tôi-Vật thể bị ràng buộc bởi một cơ thể, mà hướng tới Hữu-thể-trong-thế-giới mang tính quan tâm – tức là hướng tới bất cứ điều gì được gặp gỡ một cách gần gũi trong Hữu thể như vậy. Hơn nữa, điều đó có nghĩa là tính không gian của Dasein không được định nghĩa bằng cách viện dẫn vị trí mà một Vật thể hữu hình nào đó hiện-diện-vô-tri. Tất nhiên, chúng ta nói rằng ngay cả Dasein cũng luôn chiếm một vị trí. Nhưng về nguyên tắc, cách ‘chiếm hữu’ này phải được phân biệt với Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng tại một địa điểm trong một vùng cụ thể nào đó. Việc chiếm hữu một địa điểm phải được hiểu là xóa bỏ tách rời khỏi tình trạng-sẵn-có-để-dùng về mặt môi trường thành một vùng đã được khám phá trước một cách cẩn trọng. Dasein hiểu cái ‘ở đây’ của nó theo khuôn khổ ‘ngoài kia’ về mặt môi trường. Cái ‘Ở đây’ không có nghĩa là cái ‘ở đâu’ của một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri, mà là ‘tại nơi’ mà một Hữu-thể-cùng xóa bỏ tách rời, cùng với sự xóa bỏ tách rời này. Dasein, phù hợp với tính không gian, không bao giờ ở gần đây mà ở đàng kia; từ ‘đàng kia’ ấy nó quay trở lại ‘ở đây’; và nó chỉ quay trở lại ‘ở đây’ theo cách mà nó diễn giải Hữu thể quan tâm của mình theo những gì sẵn-có-để-dùng ở xa kia. Điều này trở nên khá rõ ràng nếu chúng ta xem xét một đặc tính hiện tượng nhất định của cấu trúc xóa bỏ tách rời của Hữu-thể-trong.     

Với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein duy trì bản thân về cơ bản trong trạng thái xóa bỏ tách rời. Tình trạng xóa bỏ tách rời này – khoảng xa của cái sẵn-có-để-dùng so với chính Dasein - là điều mà Dasein không bao giờ có thể vượt qua. Tất nhiên, tình trạng xa cách của một thứ sẵn-có-để-dùng so với Dasein có thể biểu hiện như một khoảng cách với nó,17 nếu tình trạng xa cách này được xác định bởi mối quan hệ với một Sự vật nào đó được coi là hiện-diện-vô-tri tại nơi mà Dasein đã từng chiếm giữ. Sau đó, Dasein có thể đi qua ‘khoảng giữa’ của khoảng cách này, nhưng chỉ theo cách mà chính khoảng cách đó trở thành một thứ đã được xóa bỏ tách rời*. Dasein đã vượt qua sự xóa bỏ tách rời của nó rất ít đến nỗi hắn đã mang theo nó và liên tục làm như vậy; vì [tr.143] Dasein về bản chất là sự xóa bỏ tách rời - nghĩa là, nó mang tính không gian. Nó không thể lang thang trong phạm vi hiện tại của sự xóa bỏ tách rời của nó; nó không bao giờ có thể làm gì hơn ngoài việc thay đổi chúng. Dasein có tính không gian ở chỗ nó khám phá không gian một cách thận trọng, do đó nó liên tục tự hành xử theo cách xóa bỏ tách rời* đối với các thực thể gặp được trong không gian đó.

Là một Hữu-thể-trong mang tính xoa bỏ tách rời, Dasein cũng có đặc tính định hướng. Mỗi sự xích lại gần đều đã định trước việc hướng tới một vùng mà từ đó cái bị xoa bỏ tách rời tự xích lại gần, để người ta có thể bắt gặp nó liên quan đến vị trí của nó. Mối quan tâm cẩn trọng là hành động xóa bỏ tách rời mang lại tính định hướng. Trong mối quan tâm này - tức là, trong Hữu-thể-trong-thế-giới của tự thân Dasein - một nguồn cung cấp ‘dấu hiệu’ đã được trình hiện. Các dấu hiệu, như một thiết bị, đảm nhận việc đưa ra các định hướng một cách rõ ràng và dễ thao tác. Chúng giữ cho những vùng đã được sử dụng một cách thận trọng - những hướng ‘đến đâu’ cụ thể mà một cái gì đó thuộc về hoặc đi đến, hoặc được mang đến hoặc lấy đi - được mở ra một cách rõ ràng. Nếu Dasein tồn tại, với tư cách là hướng dẫn và xóa bỏ tách rời, nó đã có vùng được khám phá của riêng nó. Cả tính định hướng và sự xóa bỏ tách rời, với tư cách là các phương thức của Hữu-thể-trong- thế-giới, đều được hướng dẫn trước bởi sự thận trọng của mối quan tâm. Từ tính định hướng này phát sinh các hướng cố định phải và trái. Dasein liên tục mang theo những hướng này, giống như nó thực hiện xỏa bỏ tách rời của nó. Tình trạng không gian hóa của Dasein trong ‘bản chất thể xác’ của nó cũng được đánh dấu theo những hướng này. (Bản chất thể xác này ẩn chứa cả một vấn đề phức tạp riêng, mặc dù chúng ta sẽ không đề cập đến ở đây.) Do đó, những thứ sẵn-có-để-dùng và được sử dụng cho cơ thể - ví dụ như găng tay, được di chuyển cùng với bàn tay - phải được xác định hướng về bên phải và bên trái. Tuy nhiên, các công cụ của người thợ thủ công, được cầm trong tay và di chuyển cùng với nó, không chia sẻ các chuyển động ‘thủ công’ đặc thù của bàn tay. Vì vậy, mặc dù búa được sử dụng bằng tay giống như găng tay, nhưng không có búa dành cho người thuận tay phải hay thuận tay trái.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 Phần này chưa từng được xuất bản.

2 'Warum springt für das übersprungene Phänomen das innerweltlich Seiende als ontologisches Thema ein ?' Trò chơi chữ giữa 'überspringen' ('vượt qua') và 'einspringen' ('can thiệp' hoặc 'đóng vai trò đại diện') bị mất đi trong bản dịch. Về 'einspringen', xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 158, H. 122 bên dưới.

3 'Das Umhajte der Umwelt'. Xem chú thích 1 của chúng tôi, trang 93, H. 65 ở trên.

4 'in der Nahe.' Mặc dù danh từ 'Nahe' thường có nghĩa là 'sự gần gũi' hoặc 'sự ở gần' của một thứ gì đó gần chúng ta, nó cũng có thể đại diện cho 'vùng lân cận' trực tiếp của chúng ta, như trong cách diễn đạt hiện tại, và trong nhiều đoạn văn, nó có thể được hiểu theo cả hai cách. Nói chung, chúng ta sẽ dịch nó là 'sự gần gũi', nhưng chúng ta sẽ dịch 'in der Nahe' và các cụm từ tương tự là

'gần đó'.

5 'Die ausgerichtete Nahe des Zeugs…' Động từ 'ausrichten' có nhiều nghĩa chuyên biệt - 'sắp xếp' - một hàng quân, 'thăm dò' một mỏ, 'sắp xếp' cho một việc gì đó, 'thực hiện' một nhiệm vụ, v.v. Tuy nhiên, Heidegger luôn ghi nhớ nghĩa gốc của nó và liên kết nó với từ 'Richtung' ('hướng', 'tuyến đường cần đi', v.v.). Do đó, chúng ta sẽ dịch nó theo quy tắc bằng một dạng nào đó của động từ 'direct' (cũng sẽ được sử dụng đôi khi cho động từ 'richten'), hoặc bằng một số cụm từ ghép liên quan đến từ 'directional'. Để thảo luận thêm, xem H. 1 08 ff. bên dưới.

6 'Gegend'. Không có từ tiếng Anh nào hoàn toàn tương ứng với 'Gegend'. 'Khu vực' và 'nơi ở' có lẽ là gần nhất và chúng tôi đã chọn cái trước là thuận tiện hơn. (Bản thân Heidegger thường xuyên sử dụng từ ‘Khu vực’, nhưng ông làm như vậy trong những bối cảnh mà từ ‘cõi’ có vẻ là cách dịch thích hợp nhất; chúng tôi thường dịch nó như vậy, để lại từ ‘khu vực’ trong tiếng Anh cho ‘Gegend’.)

7 'Entferntheit'. Để thảo luận thêm, xem Phần 23 và ghi chú 2, trang 2 của chúng tôi. 138, H. 105.

8 Đọc 'jede' với các phiên bản sau. Những ấn bản đầu tiên có chữ 'je', đã được sửa trong danh sách lỗi.

9 'Die vorgangige Zuhandenheit der jeweiligen Gegend hat in einem noch ursprüngIicheren Sinne als das Sein des Zuhandenen den Charakter der unauffülligen Vertrautheit.' Ở đây cụm từ 'als das Sein des Zuhandenen' được đặt một cách mơ hồ. Theo Mục 16 ở trên, chúng tôi đã giải thích 'als' là 'than' thay vì 'as' và đã coi 'das Sein' là một cách bổ nhiệm hơn là một cách buộc tội. Nhưng những cách đọc khác thì đúng ngữ pháp nhất có thể.

10 'Sie wird selbst nur sichtbar in der Weise des Auffallens bei einem umsichtigen Entdecken des Zuhandenen und zwar in den defizienten Modi des Besorgens.' Câu này cũng mơ hồ quá. Đại từ 'Sie' có thể ám chỉ khu vực, như chúng tôi đã gợi ý, hoặc ám chỉ sự sẵn sàng của nó. Hơn nữa, trong khi chúng ta lấy 'nur sichtbar in der Weise des Auffallens' làm đơn vị, có thể 'in der Weise des Auffallens' nên được hiểu là đi kèm với các từ theo sau. Trong trường hợp này, chúng ta nên đọc: ‘…chỉ trở nên rõ ràng khi nó trở nên nổi bật trong sự khám phá thận trọng của chúng ta về những thứ sẵn có, và thực sự là trong những phương thức quan tâm thiếu sót.’

11 'Errt-fernung urrdAusrichturrg.' Các danh từ 'Entfernung' và 'Entfernheit' thường có thể được dịch là 'loại bỏ', 'sự loại bỏ', 'sự xa cách', hoặc thậm chí là 'khoảng cách'. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, Heidegger đang lưu ý đến thực tế rằng những từ này được bắt nguồn từ

gốc 'fern-' ('xa' hoặc 'xa xôi') và tiền tố phủ định 'ent-'. Thông thường, tiền tố này sẽ được hiểu là chỉ đơn thuần làm tăng cường khái niệm về sự tách biệt hoặc khoảng cách được thể hiện trong 'fern-'; nhưng Heidegger chọn cách hiểu nó theo nghĩa phủ định nghiêm ngặt hơn, do đó động từ 'entfernen' sẽ được hiểu là xóa bỏ khoảng cách hoặc sự xa xôi chứ không phải là tăng cường nó. Dường như chỉ bằng hành động nhận ra sự ‘xa xôi’ của một điều gì đó, chúng ta đã vô tình đưa nó đến gần hơn và làm cho nó bớt ‘xa xôi’ hơn. Có vẻ như không có từ nào trong tiếng Anh có cấu trúc từ nguyên hoàn toàn song song với từ ‘entfernen’; có lẽ ‘dissever’ là gần nhất, vì đây cũng là một động từ chỉ sự tách rời, trong đó tiền tố phủ định được sử dụng như một từ nhấn mạnh. Chúng tôi đã tạo ra động từ tương tự ‘desever’ với hy vọng rằng điều này sẽ gợi ý ý nghĩa của Heidegger khi ‘remove’ và các từ phái sinh của nó dường như không phù hợp. Nhưng với ‘desever’, người ta không thể dễ dàng chuyển đổi qua lại giữa các nghĩa khác nhau như với ‘entfernen’; vì vậy chúng tôi đã phải dùng đến cách sử dụng cả ‘desever’ và ‘remove’ cùng các từ phái sinh của chúng, tùy thuộc vào nghĩa mà chúng tôi cảm thấy được muốn truyền đạt. Do đó, ‘entfernen’ thường được dịch là ‘remove’ hoặc ‘desever’, ‘entfernt’ là ‘remote’ hoặc ‘desevered’. Vì Heidegger cẩn thận phân biệt giữa 'Entfernung' và 'Entferntheit', nên chúng ta thường dịch chúng lần lượt là 'sự tách rời' và 'sự xa cách'; trong một vài trường hợp hiếm hoi mà những bản dịch này không phù hợp, chúng ta sẽ thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn. Vấn đề của chúng ta càng trở nên phức tạp hơn bởi thói quen của Heidegger là thỉnh thoảng đặt dấu gạch ngang sau tiền tố 'ent-', có lẽ để nhấn mạnh tính chất phủ định của nó. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta sẽ viết 'de-sever', 'de-severance', v.v. Tuy nhiên, thật không may, có những sự khác biệt về mặt in ấn giữa các ấn bản đầu và sau này. Một số dấu gạch ngang trong các ấn bản đầu tiên xuất hiện ở cuối dòng và đã bị bỏ sót một cách cố ý hoặc vô tình khi sắp chữ; một số xuất hiện ở cuối dòng trong các ấn bản sau này, nhưng không có trong các ấn bản đầu tiên; những dấu gạch ngang khác lại có vị trí này trong cả hai ấn bản. Chúng ta sẽ đánh dấu mỗi trường hợp mơ hồ này bằng dấu hoa thị, chỉ thêm dấu gạch ngang nếu có lý do chính đáng để làm như vậy. Về 'Ausrichtung', xem chú thích 2 của chúng tôi, trang 135, H. 102 ở trên.

12 'Abstand'. Heidegger sử dụng ba từ có thể được dịch là 'khoảng cách': 'Ferne' (sự 'xa xôi' của chúng ta), 'Entfernung' (sự 'tách rời' của chúng ta), và 'Abstand' ('khoảng cách' theo nghĩa là một khoảng đo được). Chúng ta sẽ dành từ 'khoảng cách' cho 'Abstand'.

13 'Entfernen* besagt ein Verschwindenmachen der Ferne, d. h. der Entferntheit von etwas, Naherung.'

14 Dấu gạch ngang này chỉ được tìm thấy trong các ấn bản sau này.

15 'vorkommt' ;  ‘Vorkommen’. Nói chung, 'vorkommen' có thể được dịch là 'xảy ra', và được hiểu là chỉ áp dụng nghiêm ngặt cho hiện tại. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, nó được áp dụng cho những thứ sẵn có; và cần một bản dịch lưu ý đến cấu trúc từ nguyên của nó.

16 ‘Das wnsichtige Ent-fernen tkr Alltüglichkeit rks Daseins enttkckt das An-sich-sein tkr ‘wahrm Welt’, des Seientkn, bei dem Dasein als exief'mtksje schon ist.'

17 ‘…kann zwar selbst von dieem als Abstand vorfindlich cai ngục…’

 

 

 

 

 

 

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

B. Tương phản giữa Phân tích Thế gian của chúng ta và Diễn giải Thế giới của Descartes

Chỉ có từng bước một, khái niệm về thế gian và các cấu trúc mà hiện tượng này bao hàm mới có thể được xác định chắc chắn trong quá trình nghiên cứu của chúng ta. Diễn giải thế giới bắt đầu, trước hết, với một thực thể nào đó nằm-trong-thế-giới, do đó hiện tượng thế giới nói chung không còn được xem xét; vậy là chúng ta sẽ cố gắng làm rõ cách tiếp cận này về mặt bản thể luận bằng cách xem xét hình thức có lẽ là cực đoan nhất mà nó đã được thực hiện. Chúng ta không chỉ trình bày ngắn gọn các đặc điểm cơ bản bản thể luận ‘thế giới’ của Descartes, mà còn tìm hiểu các tiền đề của nó và cố gắng mô tả chúng dưới ánh sáng những gì cho đến nay chúng ta đã đạt được. Phần trình bày về những vấn đề này sẽ cho phép chúng ta biết được những ‘nền tảng’ bản thể luận cơ bản nào chưa được thảo luận mà các Diễn giải thế giới sau Descartes - và thậm chí còn hơn thế nữa là những giải thích trước ông - đã vận hành. Descartes coi cái extensio [Chen: Trong tiếng Latin, extensio từ động từ extendere, nghĩa là ‘xoãi ra’ là đặc điểm xác định của thực tại vật chất trong triết học của Descartes. Nó biểu thị quảng tính không gian—thuộc tính sở hữu chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Descartes đã thiết lập quảng tính/sự mở rộng như là bản chất tuyệt đối của res extensa các vật thể vật lý trong tác phẩm Principia Philosophiae (1644). Khái niệm này đã hình thành nên nền tảng nhị nguyên luận triệt để của ông, chia vũ trụ thành hai thực thể loại trừ lẫn nhau: Res extensa - Vật thể có quảng tính - thực thể vật chất. Nó hoàn toàn mang tính cơ học, có thể chia thành các phần và chiếm không gian. Res cogitans - Thực thể tư duy - thực thể phi vật chất. Nó bao gồm tâm trí hoặc linh hồn, vốn không mở rộng và không thể chia tách. Bởi vì sự mở rộng không gian là bản chất duy nhất thực sự của vật chất vật lý, Descartes cho rằng không có chân không vật lý. Đối với ông, spatium ‘không gian’ và corpus ‘thân xác’ là đồng nhất; ở đâu có quảng tính/sự mở rộng, ở đó có vật chất. HHN] sự mở rộng về cơ bản là mang tính bản thể học xác định đối với thế giới. Trong chừng mực mà sự mở rộng là một trong những thành phần cấu tạo nên tính không gian (theo Descartes, nó thậm chí còn đồng nhất với tính không gian), trong khi ở một nghĩa nào đó, tính không gian vẫn mang tính cấu thành đối với thế giới, một cuộc thảo luận về bản thể luận Cartesian [tr.123] về ‘thế giới’ cũng sẽ cung cấp cho chúng ta một sự hỗ trợ phủ định cho một giải thích khẳng định về tính không gian của môi trường và của tự thân Dasein. Liên quan đến bản thể luận của Descartes, có ba chủ đề mà chúng ta sẽ đề cập đến: 1. Định nghĩa về ‘thế giới’ như là res extensa (Mục 19); 2. Các nền tảng của định nghĩa bản thể luận này (Mục 20); 3. Thảo luận hermeneutical discussion mang tính tường giải bản thể luận Cartesian về ‘thế giới’ (Mục 21). Những cân nhắc tiếp theo sẽ không được trình bày đầy đủ chi tiết cho đến khi ‘cogito sum’ cái ‘Tôi tư duy nên tôi tồn tại’ bị phá hủy về mặt hiện tượng luận. (Xem Phần Hai, Mục 2.) 1

19. Định nghĩa về ‘Thế giới’ như là res extensa

Descartes phân biệt ‘ego cogito’ cái Tôi tư duy với ‘res corporea’.[Chen: Đối với Descartes, res corporea nghĩa là ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’ đề cập đến vật lý, vật chất; về cơ bản ông coi nó tương đương với res extensa – ‘vật thể có kích thước’, định nghĩa bản chất cốt lõi của nó hoàn toàn là sự mở rộng trong không gian - có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu - chứ không phải thông qua các thuộc tính cảm giác như màu sắc hay trọng lượng. Trong tác phẩm Meditationes de Prima Philosophia Trầm tư về Triết học đầu tiên, Descartes đã thiết lập một nhị nguyên luận bản thể học triệt để, đối lập res corporea với res cogitans ‘vật thể tư duy’ hay tâm trí/linh hồn phi vật chất. Trong khi res corporea có thể phân chia, chiếm lĩnh không gian và tuân theo các định luật cơ học của vật lý, thì res cogitans không thể phân chia và không có bất kỳ chiều kích vật lý nào. Descartes cho rằng vì ông có thể hình dung một cách rõ ràng và riêng biệt về tâm trí của mình như một thực thể tư duy không có kích thước mà không cần đến cơ thể, nên hai thực thể này phải thực sự khác biệt. HHN] Sự phân biệt này sau đó sẽ mang tính quyết định về mặt bản thể luận đối với sự phân biệt giữa ‘Tự nhiên’ và ‘tinh thần’. Cho dù sự đối lập giữa ‘Tự nhiên’ và ‘tinh thần’ có được thiết lập về mặt bản thể luận với bao nhiêu biến thể về nội dung đi nữa, thì nền tảng bản thể luận của nó, và thực sự là chính các cực của sự đối lập này, vẫn chưa được làm rõ; tính không rõ ràng này có nguồn gốc gần gũi từ sự phân biệt của Descartes. Ông hiểu gì về Bản thể khi định nghĩa Bản thể của những thực thể này? Thuật ngữ chỉ Bản thể của một thực thể tự nó là ‘substantia’. [Chen: Trong các tác phẩm triết học tiếng Latinh của René Descartes khái niệm ‘substantia’ bản chất được định nghĩa là bất kỳ thực thể nào tồn tại theo cách mà nó không cần bất cứ thứ gì khác để tồn tại. Descartes lập luận rằng, theo nghĩa đen nghiêm ngặt, chỉ có Thượng đế mới là một bản chất vô hạn, tự tồn tại. Tuy nhiên, ông cho phép hai loại bản chất được tạo ra chỉ cần sự đồng thuận của Thượng đế để tồn tại, hoàn toàn khác biệt và độc lập với nhau là: i) Res Cogitans Bản chất Tư duy - Tâm trí hoặc linh hồn, thuộc tính thiết yếu hoặc đặc tính chính của nó là tư duy. Nó phi vật chất, không thể phân chia và không có kích thước; ii) Res Extensa Bản chất Mở rộng - Thân thể vật chất, thuộc tính thiết yếu của nó là sự mở rộng - chiếm không gian theo chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Nó là vật chất, có thể phân chia vô hạn và hoàn toàn mang tính cơ học. Trong khuôn khổ của Descartes, mọi thứ khác chỉ là một hình thức - một thuộc tính, hình dạng hoặc trạng thái cụ thể - của một trong hai bản chất cơ bản này. Ví dụ, hình dạng cụ thể của một tảng đá hoặc chuyển động của một chi là những hình thức của vật chất có quảng tính, trong khi cảm giác buồn bã hoặc nghi ngờ là những hình thức của vật chất tư duy. HHN] Đôi khi biểu thức này có nghĩa là Bản thể của một thực thể như là chất, bản chất; những lúc khác nó có nghĩa là chính thực thể đó, một chất. Việc ‘substantia’ được sử dụng theo hai cách này không phải là ngẫu nhiên; Điều này đã đúng với quan niệm cổ xưa về οὐσία ousia. [Chen: Trong tiếng Hy Lạp cổ, οὐσία nghĩa đen là ‘TÍNH LÀ’ bản thể’ hoặc ‘cái thuộc về chính mình’. Từ οὐσία ousía có nguồn gốc οὖσα oûsa, phân từ hiện tại giống cái của εἰμί eimí, có nghĩa là ‘là’. Kết hợp với hậu tố -ία, nó có nghĩa đen là ‘hiện hữu’ hoặc ‘tồn tại’. Đây là một thuật ngữ triết học cốt lõi được dịch là bản chất, thực thể, hoặc sự tồn tại đích thực. Nó mô tả bản chất cơ bản của một sự vật—cái mà nó thực sự là/có ở cốt lõi. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi suốt lịch sử với hai bối cảnh chính: Triết học: Plato và chủ yếu là Aristotle đã sử dụng ousia để định nghĩa bản chất cơ bản của một thực thể—cái còn lại khi tất cả các thuộc tính ngẫu nhiên hoặc theo ngữ cảnh bị loại bỏ. Thần học Kitô giáo thời kỳ đầu đã sử dụng nó để định nghĩa bản chất của thần thánh, đặc biệt là trong Kinh Tin Kính Nicea mô tả Chúa Cha và Chúa Con là homoousios - cùng một bản thể. Nó cũng được sử dụng theo nghĩa vật chất để chỉ tài sản, của cải hoặc điền sản. HHN]

Để xác định bản chất của res corporea ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’ về mặt bản thể học, chúng ta phải làm rõ bản chất của thực thể này như một bản chất—nghĩa là, tính chất thực thể của nó. Điều gì tạo nên cái Hữu-thể-tự-thân đích thực [An-ihm-selbstsein] của res corporea? Làm thế nào có thể nắm bắt được một bản chất theo đúng nghĩa, nghĩa là, nắm bắt được tính thực thể của nó? “Et quidem ex quolibet attributo substantia cognoscitur; sed una tamen est cuiusque substantiae praecipua propetas, quae ipsius naturam essentiamque constituit, et ad quam aliae omnes rejeruntur.”iii “Các chất có thể tiếp cận được trong ‘đặc tính’ của chúng, và mọi chất đều có một số thuộc tính riêng biệt mà từ đó có thể đọc được bản chất của tính thực thể của bản chất xác định đó. Đây là thuộc tính nào trong trường hợp res corporea? “Nempe extensio in longum, latum et profundum, substantiae corporeae naturam constituit.”iv Quảng tính - cụ thể là về chiều dài, chiều rộng và chiều dày - tạo nên Hữu thể thực sự của chất vật chất/thân xác mà chúng ta gọi là ‘thế giới’. Điều gì mang lại cho quảng tính này vị thế đặc biệt? “Nam omne aliud quod corpori tribuipotest, extensionem praesupponit…”v Quảng tính là một trạng-thái-của-Hữu-thể cấu thành nên cái thực thể mà chúng ta đang nói đến; đó là [tr.124] cái phải ‘tồn tại’/‘là’ trước bất kỳ cách thức nào khác mà Hữu thể được xác định, để những cách thức này có thể ‘tồn tại’/‘là’ như chúng vốn có. Quảng tính phải được ‘gán’ chủ yếu cho Vật thể vật chất. Quảng tính và tính thực thể của ‘thế giới’ (bản thân nó được đặc trưng bởi quảng tính) do đó được chứng minh bằng cách thức tất cả các đặc điểm khác mà bản chất này chắc chắn sở hữu (đặc biệt là divisio/phân chia, figura/hình thể, motus/vận động), chỉ có thể hình dung là modi/phương thức extensio/quảng tính, mặt khác, extensio sine figura vel motu quảng tính không có hình thể vẫn hoàn toàn có thể hiểu được.

Do đó, một Vật thể hữu hình duy trì toàn bộ quảng tính của nó vẫn có thể trải qua nhiều thay đổi về các cách thức mà phần mở rộng đó được phân bổ theo các chiều kích khác nhau và có thể tự thể hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau với tư cách là một và cùng một Vật thể. “…atque unum et idem corpus, retinerulo suam eandem quantitatem, pluribus diversis modis potest extendi: nunc scilicet magis secundum longitudinem, minusque secundum latitudinem vel profunditatem, ac Paulo post e contra magis secundum latitudinem, et minus secundum longitudinem.”vi “…và cùng một vật thể, trong khi vẫn giữ nguyên khối lượng, có thể được mở rộng theo nhiều cách khác nhau: giờ đây cụ thể là, chiều dài tăng lên, và chiều rộng hoặc chiều sâu giảm đi, và một thời gian sau, ngược lại, chiều rộng tăng lên, và chiều dài giảm đi.”vi Hình dạng là một modus phương thức của extension mở rộng, và motus chuyển động cũng vậy: vì motus chỉ được nắm bắt “si de nullo nisi locali cogitemus, ac de vi a qua excitatur… non inquiramus”.vii Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến chuyển động vị trí mà không tìm hiểu lực nào gây ra nó… vii Nếu chuyển động là một thuộc tính của res corporea, và là một thuộc tính vẫn tồn tại, thì để nó có thể được trải nghiệm trong Hữu thể của nó, nó phải được hình dung trong khuôn khổ Hữu thể của chính thực thể này, trong khuôn khổ extensio mở rộng; điều này có nghĩa là nó phải được hình dung như là sự thay đổi vị trí đơn thuần. Vì vậy, không có gì giống như ‘lực’ có giá trị đến đâu trong việc xác định Hữu thể của thực thể này là gì. Vật chất có thể có những đặc điểm xác định như độ cứng, trọng lượng và màu sắc; nhưng tất cả những điều này có thể bị loại bỏ khỏi nó, và nó vẫn là chính nó. Những điều đó không tạo nên Hữu thể thực sự của nó; và trong chừng mực chúng tồn tại, chúng trở thành các phương thức của extensio mở rộng. Descartes cố gắng thể hiện điều này một cách chi tiết liên quan đến ‘độ cứng’: “Nam, quantum ad duritiem, nihil aliud de illa sensus nobis indicat, quam partes durorum corporum resistere motui manuum nostrarum, cum in illas incurrant. Si enim, quotiescunque manus nostrae versus aliquam partem moventur, corpora omnia ibi existentia recederent eadem celeritate qua illae accedunt, nullam unquam duritiem sentiremus. Nee ullo modo potest intelligi, corpora quae sic recederent, idcirco naturam corporis esse amissura; nee proinde ipsa in duritie consistit”.viii “Về độ cứng, giác quan không cho chúng ta biết gì khác ngoài việc các bộ phận của vật thể cứng chống lại sự chuyển động của tay chúng ta khi chạm vào chúng. Bởi vì nếu, bất cứ khi nào tay chúng ta di chuyển về phía một phần nào đó, thì tất cả các vật thể tồn tại ở đó đều lùi lại với cùng tốc độ như khi chúng tiến đến, chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy bất kỳ độ cứng nào. Cũng không thể hiểu theo bất kỳ cách nào ở chỗ là các vật thể lùi lại theo cách này sẽ mất đi bản chất của một vật thể; và do đó, nó cũng không cấu thành nên độ cứng.”viii

Độ cứng chắc được trải nghiệm khi người ta cảm nhận bằng xúc giác. Tri giác bằng xúc giác ‘bảo’ cho chúng ta điều gì về nó? Các bộ phận của Vật thể cứng chắc ‘chống lại’ chuyển động của bàn tay, chẳng hạn như nỗ lực đẩy nó ra. Tuy nhiên, nếu các vật thể cứng rắn, những vật thể không bị biến dạng, thay đổi vị trí với cùng vận tốc như bàn tay ‘chà’ vào chúng, thì sẽ không có gì bị chạm vào, và độ cứng chắc sẽ không được trải nghiệm và do đó sẽ không bao giờ tồn tại. Nhưng thật khó hiểu khi các vật thể chịu khuất phục với vận tốc như vậy lại đánh mất bất kỳ [tr. 125] Hữu thể vật chất nào của chúng. Nếu chúng vẫn giữ được trạng thái này ngay cả khi vận tốc thay đổi khiến cho bất cứ thứ gì giống như độ ‘cứng chắc’ không thể tồn tại, thì độ cứng chắc không thuộc về Bản thể của các thực thể thuộc loại này. “Eademque ratione ostendi potest, et pondus, et colorem, et alias omnes eiusmodi qualitates, quae in materia corporea sentiuntur, ex ea tolli posse, ipsa integra remanente: unde sequitur, a nulla ex illis eius (sc. extensionis) naturam dependere”.ix “Và bằng lý lẽ tương tự, người ta có thể chứng minh rằng trọng lượng, màu sắc và tất cả các thuộc tính khác thuộc loại này, được tri giác trong vật chất hữu hình, có thể bị loại bỏ khỏi nó, trong khi bản thân nó vẫn còn nguyên vẹn: từ đó suy ra rằng bản chất (về kích cỡ) của nó không phụ thuộc vào bất kỳ thuộc tính nào trong số đó.”ix Như vậy, cái cấu thành nên Hữu thể của vật thể hữu hình là sự mở rộng/kích cỡ: cái có thể omnimodo divisibile, figurabile et mobile tự biến đổi, phân chia, định hình hoặc di chuyển theo bất kỳ cách nào, cái capax mutationum có khả năng tự duy trì qua tất cả những thay đổi này. Trong bất kỳ Vật thể hữu hình nào, thực thể thực sự là cái phù hợp để duy trì sự bất biến như vậy, đến mức, thực sự đây là cách đặc trưng cho tính thực thể của một bản chất như vậy.

20. Nền tảng của Định nghĩa Bản thể học về ‘Thế giới’

Tính thực thể là ý niệm về Hữu thể mà đặc điểm bản thể học của res extensa gợi nhớ lại. “Per substantiam nihil aliud intelligere possumus, quam rem quae ita existit, ut nulla alia re indigeat ad existendum.” “Bằng bản chất, chúng ta không thể hiểu gì khác ngoài một thực thể tồn tại theo cách mà nó không cần bất kỳ thực thể nào khác để tồn tại.”x Cái Hữu thể của một ‘bản chất’ được đặc trưng bởi việc không cần bất cứ thứ gì. Thứ mà Hữu thể của nó không cần bất kỳ thực thể nào khác thì thỏa mãn ý niệm về bản chất theo nghĩa đích thực; thực thể này là ens perfectissimum thực thể hoàn hảo nhất. “…substantia quae nulla plane re indigeat, unica tantum potest intelligi, nempe Deus…xi “một thực thể rõ ràng không cần gì cả chỉ có thể được hiểu là một thứ duy nhất, đó chính là Thiên Chúa..”xi Ở đây ‘Thiên Chúa’ là một thuật ngữ thuần túy bản thể học, nếu nó được hiểu là ens perfectissimum thực thể hoàn hảo nhất. Đồng thời, ý nghĩa ‘hiển nhiên’ của khái niệm Thiên Chúa cho phép một cách diễn giải bản thể luận về đặc điểm không cần bất cứ thứ gì - một yếu tố cấu thành trong tính bản chất.      

“Alias ​​vero omnes (res), non nisi ope concursus Dei existere posse percipimus.”xii Nhưng chúng ta nhận thấy rằng mọi thứ khác chỉ có thể tồn tại nhờ sự đồng thuận của Thiên Chúa.xii Tất cả các thực thể khác ngoài Thượng đế đều cần được ‘sản sinh’ theo nghĩa rộng nhất và cũng cần được duy trì. ‘Hữu thể’ cần được hiểu trong một chân trời trải dài từ việc sản sinh ra những gì present-at-hand hiện-diện-vô-tri đến những thứ không cần được sản sinh. Mỗi thực thể không phải là Thiên Chúa đều là một ens creatum thực thể được tạo ra. Cái Hữu thể thuộc về một trong những thực thể này khác biệt ‘vô hạn’ với sự tồn tại thuộc về thực thể kia; tuy nhiên, chúng ta vẫn coi sự sáng tạo và đấng tạo hóa như nhau với tư cách là các thực thể. Do đó, chúng ta đang sử dụng ‘Hữu thể’ theo nghĩa rộng đến mức ý nghĩa của nó bao hàm một sự khác biệt ‘vô hạn’. Vì vậy, ngay cả các thực thể được tạo ra cũng có thể được gọi là ‘bản chất’ một cách chính đáng. Dĩ nhiên, so với Thiên Chúa, những thực thể này cần được tạo ra và duy trì; nhưng trong phạm vi các thực thể được tạo ra – ‘thế giới’ theo nghĩa của ens creatum thực thể được tạo ra - có những thứ ‘không cần đến bất kỳ thực thể nào khác’ [tr.126] so với sự tạo ra và duy trì của tạo vật mà chúng ta thấy, chẳng hạn, ở con người. Trong số các bản chất này có hai loại: res cogitans Thực thể tư duy và res extensa Thực thể có quảng tính.

Cái Hữu thể của bản chất mà thuộc tính đặc trưng của nó được thể hiện bởi extensio quảng tính do đó thành ra có thể định nghĩa được về nguyên tắc bản thể luận nếu chúng ta làm rõ ý nghĩa của Hữu thể ‘chung’ cho ba loại bản chất, mà một trong số đó là vô hạn, hai loại còn lại đều hữu hạn. Nhưng “…nomen substantiae non convenit Deo et illis univoce ut dici solet in Scholis, hoc est…quae Deo et creaturis sit communis.”xiii “…tên gọi của bản chất không thuộc về Thiên Chúa và chúng - theo cách duy nhất, như thường được nói trong các trường phái, tức là…cái có chung với Thiên Chúa và các tạo vật.xiii Ở đây Descartes đề cập đến một vấn đề mà bản thể học thời trung cổ thường bận tâm – câu hỏi về cách thức ý nghĩa của ‘Hữu thể’ biểu thị bất kỳ thực thể nào mà người ta có thể đang xem xét. Trong các khẳng định ‘Chúa là’ và ‘thế giới là’, chúng ta khẳng định Hữu thể. Tuy nhiên, từ ‘là’ này không thể được hiểu là áp dụng cho các thực thể này theo cùng một nghĩa (συνώνυμος, đồng nghĩa), khi giữa chúng có sự khác biệt vô hạn về Hữu thể; nếu ý nghĩa của ‘là’ mang tính đơn nghĩa, thì cái được tạo ra sẽ được xem như thể nó không được tạo ra, hoặc cái không được tạo ra sẽ được quy giản thành trạng thái của một cái gì đó được tạo ra. Nhưng ‘Hữu thể’ cũng không chỉ đơn thuần là một cái tên giống nhau trong cả hai trường hợp: trong cả hai trường hợp, ‘Hữu thể’ đều được hiểu. Ý nghĩa khẳng định mà ‘Hữu thể’ biểu thị là một ý nghĩa mà các triết gia trường phái Kinh viện coi là một ý nghĩa ‘tương tự’, khác với ý nghĩa đơn nghĩa hoặc chỉ đơn thuần là đồng âm. Xuất phát từ Aristotle, mà ở ông vấn đề này đã được báo trước dưới dạng nguyên mẫu ngay từ đầu của bản thể học Hy Lạp, họ đã thiết lập nhiều loại tương tự khác nhau, đến nỗi ngay cả các ‘Trường phái’ cũng có những cách khác nhau để hiểu chức năng biểu thị của ‘Hữu thể’. Trong việc giải quyết vấn đề bản thể học này, Descartes luôn đi sau các triết gia trường phái kinh viện;xiv thực tế ông đã né tránh câu hỏi. “…nulla eius (substantiae ) nominis significatio potest distincte intelligi, quae Deo et creaturis sit communis.”xv “…không thể hiểu rõ ràng ý nghĩa của cái tên (bản chất) đó, vốn là ý nghĩa chung cho cả Thiên Chúa và tạo vật.”xv Sự né tránh này tương đương với việc ông không thảo luận về ý nghĩa của Hữu thể mà ý niệm về tính thực thể bao hàm, hoặc đặc điểm của ‘tính phổ quát’ vốn thuộc về ý nghĩa này. Dĩ nhiên, ngay cả bản thể luận của thời trung cổ cũng không tiến xa hơn bản thể luận của thời cổ đại trong việc tìm hiểu ý nghĩa của ‘Hữu thể’ tự thân. Vì vậy, không hề ngạc nhiên nếu không có tiến triển nào với một câu hỏi như về cách thức mà trong đó ‘Hữu thể’ biểu thị, chừng nào điều này vẫn phải được thảo luận trên cơ sở của một ý nghĩa chưa được làm rõ về Hữu thể mà ý nghĩa này ‘thể hiện’. Cái ý nghĩa vẫn chưa được làm rõ bởi vì nó được coi là ‘hiển nhiên’.

Descartes không chỉ hoàn toàn né tránh câu hỏi bản thể luận về substantiality tính thực chất; ông còn nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng bản chất theo đúng nghĩa - tức là tính thực chất của nó - tự thân nó là không thể tiếp cận được ngay từ đầu. “Verumtamen non potest substantia primum animadverti ex hoc solo, [tr.127] quod sit res existens, quia hoc solum per se nos non afficit…”.xvi “Tuy nhiên, bản chất không thể được quan sát lần đầu chỉ từ điều này, ở chỗ nó là một vật hiện tồn, bởi vì chỉ riêng điều này thôi thì không ảnh hưởng đến chúng ta…”xvi Bản thân ‘Hữu thể’ không ‘ảnh hưởng’ đến chúng ta, và do đó không thể được tri giác. ‘Hữu thể không phải là một vị ngữ Thực tại,’ Kant nói,2 ông chỉ đơn thuần lặp lại nguyên tắc của Descartes. Do đó, khả tính của một vấn đề thuần túy về Hữu thể theo nguyên tắc phải bị từ bỏ, và một cách thức được tìm kiếm để đạt được những đặc điểm xác định của bản chất mà chúng ta đã chỉ ra ở trên. Bởi vì ‘Hữu thể’ thực tế không thể tiếp cận được như một hiện hữu, nó được thể hiện thông qua các thuộc tính - những đặc điểm xác định của các thực thể đang được xem xét, những đặc điểm tạo nên bản thân chúng.3 Hữu thể không chỉ được thể hiện thông qua bất kỳ đặc điểm nào như vậy, mà còn thông qua những đặc điểm đáp ứng một cách thuần túy nhất ý nghĩa của ‘Hữu thể’ và ‘tính thực chất’, vốn vẫn được ngầm giả định. Đối với substantia finite thực thể hữu hạn với tư cách res corporea ‘vật thể hữu hình’, điều đầu tiên phải được ‘gán cho’ chính là the extensio cái quảng tính. “Quin et facilius intelligimus substantiam extensam, vel substantiam cogitantem, quam substantiam solam, omisso eo quod cogitet vel sit extensa” “Và chúng ta dễ dàng hiểu một thực thể có quảng tính, hay một thực thể có khả năng tư duy, hơn là một bản chất đơn thuần, bất kể thực thể đó có tư duy, có quảng tính không.”xvii vì tính thực chất với lý do ratione tantum có thể tách rời; realiter thực ra lại không thể tách rời, không thể bắt gặp nó theo cách chúng ta bắt gặp chính những thực thể đó vốn tồn tại về thực chất.           

Do đó, cơ sở bản thể luận để định nghĩa ‘thế giới’ là res extensa vật thể có quảng tính đã được làm rõ: chúng nằm ở ý niệm về tính thực chất, vốn không chỉ không được làm rõ về ý nghĩa Hữu thể của nó, mà còn được coi là thứ không thể làm rõ, và được thể hiện một cách gián tiếp thông qua bất kỳ thuộc tính bản chất nào thuộc về bản chất cụ thể đó một cách nổi bật nhất. Hơn nữa, theo cách định nghĩa một bản chất thông qua một thực thể thực chất nào đó, nằm ở lý do tại sao thuật ngữ ‘bản chất’ được sử dụng theo hai cách. Cái được đề cập ở đây là tính thực chất; và nó được hiểu theo nghĩa là một đặc tính của bản chất - một đặc tính vốn tự nó là một thực thể.4 Bởi vì một cái gì đó thuộc về ontic thực hữu được tạo ra để làm nền tảng cho cái gì đó thuộc về cái bản thể luận, nên thuật ngữ substantia ‘bản chất’ đôi khi lại vận hành với một ý nghĩa vốn mang tính bản thể luận, đôi khi với một ý nghĩa lại vốn thuộc về ontic thực hữu, nhưng chủ yếu là với một ý nghĩa mơ hồ vốn thuộc về thực hữu- bản thể luận. Tuy nhiên, đằng sau sự khác biệt nhỏ về ý nghĩa này, ẩn chứa một sự thất bại trong việc nắm vững vấn đề cơ bản của Hữu thể. Để xử lý vấn đề này một cách thỏa đáng, chúng ta phải ‘truy tìm’ các tính trạng mơ hồ theo đúng cách. Ai cố làm điều này thì không chỉ ‘bận rộn’ với ‘ý nghĩa đơn thuần bằng ngôn từ’, mà còn phải tiến tới vấn đề nguyên thủy nhất của ‘chính bản thân sự vật’ để làm sáng tỏ những ‘sắc thái’ như vậy.

21. Phép tường giải Bản thể luận của Descartes về ‘Thế giới’

[Tr.128] Vậy là nảy sinh câu hỏi có tính quyết định: liệu bản thể luận về ‘thế giới’ này có tìm kiếm hiện tượng của thế giới hay không, và nếu không, thì liệu ít nhất nó có định nghĩa một thực thể nào đó bên-trong-thế-giới một cách đầy đủ để liệu xem bản chất trần thế của thực thể này có thể được thể hiện rõ ràng trong đó không? Đối với cả hai câu hỏi, chúng ta phải trả lời ‘Không’. Cái thực thể mà Descartes đang cố gắng nắm bắt về mặt bản thể luận và nguyên tắc với cái ‘extensio’ quảng tính của ông, đúng hơn là một thực thể mà trước hết chỉ có thể được khám phá thông qua một thực thể bên- trong-thế-giới, một thực thể gần gũi và sẵn-có-để-dùng là Tự nhiên. Mặc dù vậy, và mặc dù bất kỳ đặc điểm bản thể luận nào của thực thể bên trong thế giới này có thể dẫn chúng ta đến sự mơ hồ, ngay cả khi chúng ta xem xét cả ý niệm về bản chất và ý nghĩa của cái nó ‘existit’ tồn tại và ‘ad existendum’ ‘để tồn tại’ vốn đã được đưa vào định nghĩa của ý niệm đó, vẫn có khả năng là thông qua một bản thể luận dựa trên sự phân tách triệt để giữa Chúa, cái ‘Tôi’ và ‘thế giới’, vấn đề bản thể luận của thế giới sẽ được hình thành và phát triển hơn nữa theo một nghĩa nào đó. Tuy nhiên, nếu điều này không thể, thì chúng ta phải chứng minh một cách rõ ràng không chỉ ở chỗ quan niệm của Descartes về thế giới là khiếm khuyết về mặt bản thể luận, mà còn về việc Diễn giải của ông và những nền tảng mà nó dựa vào đã khiến ông bỏ qua cả hai điều đó. Hiện tượng về thế giới và cái Hữu thể của những thực thể trong thế giới đó, những thực thể vốn luôn sẵn có và dễ tiếp cận.

Trong phần trình bày về vấn đề thế giới (Mục 14), chúng tôi đã gợi ý tầm quan trọng của việc tiếp cận đúng đắn hiện tượng này. Vì vậy, khi phê phán quan điểm xuất phát của Descartes, chúng ta phải hỏi loại Hữu thể nào thuộc về Dasein mà chúng ta nên tập trung vào để làm cơ sở cho việc tiếp cận những thực thể mà Descartes đồng nhất Hữu thể của ‘thế giới’ với Hữu thể của nó với tư cách là extensio quảng tính. Cách tiếp cận chân chính duy nhất đối với chúng nằm ở tri thức [Erkennen], intellectio trí lực, theo nghĩa của loại tri thức [Erkenntnis] mà chúng ta có được trong toán học và vật lý. Descartes coi tri thức toán học là cách duy nhất để nắm bắt các thực thể vốn luôn đảm bảo rằng Hữu thể của chúng đã được nắm bắt một cách chắc chắn. Nếu bất cứ điều gì có thể sánh ngang với Hữu thể có thể tiếp cận được trong tri thức toán học về mặt Hữu thể của chính nó, thì đó là theo nghĩa xác thực. Những thực thể như vậy là những thực thể luôn luôn là chính chúng. Theo đó, những gì có thể được chứng minh là có đặc tính của một cái gì đó luôn luôn tồn tại (như remanens capax mutationum vẫn còn năng lực biến đổi), tạo nên Hữu thể thực sự của các thực thể của thế giới được trải nghiệm. Cái gì tồn tại mãi mãi, thì thực sự là tồn tại. Đây là loại sự vật mà toán học biết rõ. Cái có thể tiếp cận được trong một thực thể thông qua toán học, thì tạo nên Hữu thể của nó. Do đó, Hữu thể của ‘thế giới’, như thể được quy định cho nó theo một ý niệm nhất định về Hữu thể vốn nằm ẩn giấu trong khái niệm về tính thực chất, [tr.129] và trong khuôn khổ ý niệm về một tri thức mà nhờ đó các thực thể như vậy được nhận thức. Loại Hữu thể thuộc về các thực thể bên-trong-thế-giới là thứ mà chính chúng có thể được phép trình bày; nhưng Descartes không cho phép chúng làm như vậy.5 Thay vào đó, ông quy định cho thế giới Hữu thể ‘thực’ của nó, như thể, trên cơ sở một ý niệm về Hữu thể mà nguồn gốc của nó chưa được hé lộ và chưa được chứng minh một cách đúng đắn - một ý niệm trong đó Hữu thể được đánh đồng với tình trạng constant presence-at-hand hằng hiện-vô-tri. Do đó, bản thể luận về thế giới của ông không chủ yếu được xác định bởi khuynh hướng của ông đối với toán học, một ngành khoa học mà ông tình cờ đánh giá rất cao, mà đúng hơn là bởi định hướng bản thể luận của ông về nguyên tắc hướng tới Hữu thể như một tình trạng constant presence-at-hand hằng hiện-vô-tri, điều mà tri ​​thức toán học đặc biệt phù hợp để nắm bắt. Bằng cách này, Descartes đã chuyển hướng một cách rõ ràng về mặt triết học từ sự phát triển của bản thể luận truyền thống sang vật lý toán học hiện đại và các nền tảng siêu nghiệm của nó.

Vấn đề làm thế nào để tiếp cận một cách thích hợp với các thực thể bên- trong-thế-giới là một vấn đề mà Descartes cảm thấy không cần phải nêu ra. Dưới sự thống trị không ngừng của bản thể luận truyền thống, cách thức để nắm bắt được một cách chân chính những gì thực sự tồn tại [des eigentlichen Seienden] đã được quyết định trước: nó nằm ở νοεῖν nhận thức – Anschauung trực giác ‘chiêm ngưỡng’ theo nghĩa rộng nhất; διάνοεῖν hay ‘tư duy’ chỉ là một hình thức hoàn thiện hơn của νοεῖν nhận thức và được xây dựng trên nền tảng của nó. Sensatio (αἴσθησις) tri giác, trái ngược với intellection trí lực, vẫn có thể là một cách tiếp cận các thực thể thông qua sự quan sát mang tính giác quan; nhưng Descartes đưa ra ‘phê phán’ của mình về điều này bởi vì ông được định hướng về mặt bản thể luận bởi những nguyên tắc này. Descartes biết rất rõ rằng các thực thể không tự biểu hiện một cách kề cận trong Hữu thể thực sự của chúng. Cái được cung cấp ‘kề cận’ là Vật thể bằng sáp này, có màu sắc, hương vị, độ cứng và độ lạnh theo những cách nhất định, và phát ra âm thanh đặc biệt của riêng nó khi gõ lên. Nhưng điều này không quan trọng về mặt bản thể học, cũng như bất cứ điều gì được cung cấp thông qua các giác quan, nói chung, đều không quan trọng. “Satis erit, si advertamus sensuum perceptiones non referri, nisi ad istam corporis humani cum mente coniunctionem, et nobis quidem ordinarie exhibere, quid ad illam externa corpora prodesse possint aut nocere…”xviii “Chỉ cần lưu ý rằng các tri giác giác quan không liên quan đến bất cứ điều gì khác ngoài sự kết hợp giữa thể xác và tâm trí con người, và thực tế, chúng thường cho chúng ta thấy những gì các yếu tố bên ngoài có thể làm cho nó tốt hơn hoặc gây hại cho nó...” xviii Các giác quan không cho phép chúng ta nhận thức bất kỳ thực thể nào trong Hữu thể của nó; chúng chỉ dùng để thông báo cách thức của các Sự vật ‘bên ngoài’ trong-thế-giới này là hữu ích hoặc có hại cho những hiện hữu người bị cản trở bởi cơ thể. “…non…nos docere, qualia [corpora] in seipsis existant”xix không phải…để dạy chúng ta biết loại [cơ thể] nào tồn tại trong chính nó; chúng không cho chúng ta biết gì về các thực thể trong Hữu thể của chúng. “Quod agentes, percipiemus naturam materiae, sive corporis in universum spectati, non consistere in eo quod sit res dura, vel ponderosa, vel colorata, [p.130] vel alio aliquo modo sensus afficiens : sed tantum in eo quod sit res extensa in longum, tatum et profundum.”xx “Qua hành động đó, chúng ta sẽ nhận thấy rằng bản chất của vật chất, hay của một vật thể được xem xét như một tổng thể, không nằm ở việc nó cứng, nặng, có màu sắc, [tr.130] hay tác động đến các giác quan theo bất kỳ cách nào khác: mà chỉ nằm ở việc nó là một vật thể quảng tính có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu.”xx Nếu chúng ta phân tích một cách phê phán diễn giải của Descartes về trải nghiệm độ cứng chắc và sức cản, thì rõ ràng ông không thể để cho những gì thể hiện trong cảm giác tự hiện diện trong loại Hữu thể riêng của nó,6 hoặc thậm chí xác định được đặc tính của nó (Xem Phần 1 9).

Độ cứng được coi là sự kháng cự. Nhưng cả độ cứng lẫn sự kháng cự đều không được hiểu theo nghĩa hiện tượng học, như một thứ được trải nghiệm tự thân mà bản chất của nó có thể được xác định trong trải nghiệm đó. Đối với Descartes, sự kháng cự chỉ đơn thuần là không nhường chỗ - tức là không trải qua bất kỳ sự thay đổi vị trí nào. Vì vậy, nếu một Vật thể kháng cự, điều đó có nghĩa là nó vẫn ở một vị trí xác định so với một Vật thể khác đang thay đổi vị trí của nó, hoặc nó đang thay đổi vị trí của chính nó với một vận tốc cho phép Vật thể kia ‘bắt kịp’ nó. Nhưng khi trải nghiệm về độ cứng được diễn giải theo cách này, loại Hữu thể thuộc về tri giác giác quan bị xóa bỏ, và do đó, bất kỳ khả tính nào mà các thực thể gặp phải trong tri giác đó có thể được nắm bắt trong Hữu thể của chúng cũng bị xóa bỏ. Descartes lấy loại Hữu thể thuộc về tri giác về một cái gì đó, và chuyển nó thành loại duy nhất mà ông biết: tri giác về một cái gì đó trở thành một cách xác định của Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-song song với hai vật thể có quảng tính hiện-diện-vô-tri; cách thức mà các vận động của chúng liên quan với nhau tự nó là một phương thức của quảng tính mà qua đó hiện-diện-vô-tri của Vật thể hữu hình được đặc trưng chủ yếu. Tất nhiên, không một hành vi nào mà người ta cảm nhận bằng xúc giác có thể được ‘hoàn thiện’ trừ khi cái có thể cảm nhận được có ‘tính gần gũi’ theo một cách rất đặc biệt. Nhưng điều này không có nghĩa là việc đụng chạm và độ cứng thể hiện ra khi chạm vào về mặt bản thể học bao gồm trong các vận tốc khác nhau của hai Vật thể hữu hình. Độ cứng và kháng cự không tự biểu lộ trừ khi một thực thể có loại Hữu thể mà Dasein - hoặc ít nhất là một thứ gì đó đang sống sở hữu.           

Do đó, thảo luận của Descartes về các loại tiếp cận khả thể đối với các thực thể trong-thế-giới bị chi phối bởi một ý niệm về Hữu thể được thu thập từ một lĩnh vực xác định của chính các thực thể này. Ý tưởng về Hữu thể với tư cách hiện-diện-vô-tri không chỉ mang lại cho Descartes động cơ để đồng nhất các thực thể bên-trong-thế-giới với thế giới nói chung, và để đưa ra định nghĩa cực đoan như vậy về Hữu thể của chúng; nó cũng ngăn cản ông đưa ra những cách hành xử của Dasein theo cách phù hợp về mặt bản thể luận. Nhưng do đó, con đường hoàn toàn bị khóa chặt [tr.131] không thể nhìn đặc trưng được tạo nền tảng của tất cả nhận thức giác quan và trí tuệ, và để hiểu chúng như những khả tính của Hữu thể trong-thế-giới.7 Ngược lại, ông coi Hữu thể của ‘Dasein’ (mà cái Hữu-thể- trong-thế-giới thuộc về cấu thành cơ bản của nó) theo cùng một cách như ông coi Hữu thể của res extensa Vật thể có quảng tính – với tư cách là bản chất. Nhưng với những lời phê bình này, chẳng phải chúng ta đã đẩy cho Descartes một nhiệm vụ hoàn toàn vượt quá tầm nhìn của ông, và sau đó tiếp tục ‘chứng minh’ rằng ông đã thất bại trong việc giải quyết nó hay sao? Nếu Descartes không biết hiện tượng của thế giới, và do đó không biết đến cái gọi là sự vật bên-trong-thế-giới-tính, thì làm sao ông có thể đồng nhất chính thế giới với những thực thể nhất định bên-trong-thế-giới và cái Hữu thể mà chúng sở hữu?

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1This portion ofBeing and Time has never been published.

2 Immanuel Kant, Critique ofPure &ason, Transcendental Dialectic, Book II, chapter III, Section 4· [p.127]

3. ‘…seiende Bestimmtheiten des betreffenden Seienden…’ [p.127]

4 ‘…aus einer seienden Beschaffenheit der Substanz.’ [p.127]

5 ‘Descartes liisst sich nicht die Seinsart des innerweltlichen Seienden von diesem vorgeben…’ [p.129]

6 ‘…das in der Sinnlichkeit sich Zeigende in seiner eigenen Seinsart sich vorgeben zu lassen…’ [p.130]

7 'Damit ist aber vollends dcr Weg dazu verlegt,gar auch noch den fundierten Charakter alles sinnlichen und verstandesmiissigen Vernehmens zu sehen und sie als eine Moglichkeit des ln-der-Welt-seins zu verstehen.' While we have construed the pronoun 'sie' as referring to the two kinds of awareness which have just been mentioned, it would be grammatically more plausible to interpret it as referring either to 'Dasein's ways of behaving' or to 'the idea of Being as permanent presence-at-hand'. [p.131]