Powered By Blogger

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (IX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

II. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI: TRẠNG THÁI CƠ BẢN CỦA DASEIN

12. Phác thảo về Hữu-thể-trong-Thế-giới

[Tr.82] Trước tiên, chỉ cần thấy sự khác biệt bản thể luận giữa Hữu-thể-trong như một existentiale yếu tố hiện sinh [Chen ngang: existentiale của Martin Heidegger đề cập đến một đặc điểm cấu trúc cơ bản, phổ quát của sự tồn tại của con người. Không giống như các đặc điểm thực nghiệm, yếu tố hiện sinh là những điều kiện cốt lõi, tiên nghiệm tạo nên ý nghĩa của Dasein, chẳng hạn như thời tính hay Hữu-thể-trong-thế-giới. Heidegger phân biệt giữa existentiale yếu tố hiện sinh – có tính bản thể luận và existentiell yếu tố thực hữu ontic để làm rõ bản chất con người: Yếu tố hiện sinh là những đặc điểm cấu trúc của đời sống Dasein con người áp dụng cho mọi hiện hữu người trong suốt lịch sử. Chúng đề cập đến ‘cách thức’ chúng ta tồn tại. Còn existentiell yếu tố thực hữu đề cập đến những lựa chọn cụ thể, cá nhân và hàng ngày mà một cá nhân đưa ra. Chúng đề cập đến ‘những gì’ tôi đang làm, tin tưởng hoặc cảm nhận. Nói một cách đơn giản, existentiale yếu tố hiện sinh là bản thiết kế phổ quát của sự tồn tại người, trong khi existentiell yếu tố thực hữu là cách thức cụ thể, được trải nghiệm mà tôi chọn để xây dựng cuộc sống của mình trong bản thiết kế đó. Ví dụ điển hình về existentiale yếu tố hiện sinh là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới là một khái niệm nền tảng của Martin Heidegger. Nó mô tả Hữu thể của con người như một nhất tính năng động, không thể tách rời, chứ không phải là một tâm trí tách biệt quan sát vũ trụ vật chất từ ​​bên ngoài. Heidegger sử dụng cụm từ đơn này để phá vỡ sự phân chia triết học truyền thống giữa ‘chủ thể’ con người và ‘khách thể’ thế giới. Để thực sự nắm bắt được In-der-Welt-sein, cần phải phân tích nó thành các thành phần cốt lõi: i) ‘In’ ‘trong’ mang ý nghĩa của sự cư ngụ - trong ngôn ngữ hàng ngày, ‘trong’ thường có nghĩa là sự chứa đựng vật lý, giống như nước trong cốc. Heidegger bác bỏ định nghĩa ‘không gian’ này, thay vào đó, ông sử dụng nghĩa bản thể học của từ tiếng Đức cổ innan ‘trong’, có nghĩa là cư trú hoặc sống, hàm nghĩa thân thuộc và gắn kết. Tôi ‘ở trong’ thế giới bởi vì tôi nhập thân vào nó - sử dụng công cụ, tương tác với mọi người và thực hiện các công việc hàng ngày; ii) ‘Welt’ thế giới của Heidegger không đề cập đến quả địa cầu vật lý hay một tập hợp các vật thể tự nhiên; thay vào đó, ông muốn nói đến mạng lưới có ý nghĩa của các mối quan hệ, thiết bị và thực tiễn mà tôi đang sống trong đó; chẳng hạn ‘thế giới’ của một người thợ mộc không chỉ là những cây cối và gỗ vật lý, mà còn là xưởng, búa, thước đo và nghề nghiệp - tất cả đều chỉ có ý nghĩa khi liên quan đến mục tiêu của con người; iii) ‘Sein’Dasein - Heidegger gọi phương thức hiện hữu của con người là Dasein, nghĩa đen là ‘Có đó’. Bởi vì bản chất của Dasein là tồn tại và tồn tại của nó về mặt cấu trúc không thể tách rời khỏi việc Hữu-thể-trong-thế-giới. Tôi không thể tách một con người ra khỏi bối cảnh của họ mà vẫn có một con người; con người được định nghĩa bởi môi trường của họ và dự án hiểu biết thực tại của họ; iv) Geworfenheit Đặc điểm chính của Hữu-thể-trong-thế-giới là tình trạng bị ném vào: Tôi không lựa chọn để bước vào thế giới; đơn giản là tôi bị ‘ném’ vào một thời điểm, nền văn hóa và hoàn cảnh cụ thể mà tôi phải tự xoay xở; v) Verstehen Hiểu biết - tôi tạo ra ý nghĩa cho thế giới không chỉ bằng tư duy lý thuyết, mà còn bằng thực hành các cách thức hoạt động trong đó; tôi hiểu bản thân bằng cách hiểu những khả tính của mình trong thế giới; vi) Sorge Quan tâm/Chăm sóc - chúng ta không bao giờ thờ ơ với thế giới; chúng ta luôn gắn bó, quan tâm và hướng đến mọi thứ và mọi người; vi). Zeitlichkeit Thời tính - Hiện sinh nhấn mạnh rằng sự tồn tại của chúng ta về cơ bản hướng tới thời gian; chúng ta tồn tại trong hiện tại, tự phóng chiếu mình vào tương lai - các khả tính của chúng ta, và bị neo giữ bởi quá khứ - những gì chúng ta đã bị ném vào; vii) Mitsein Being-with Hữu-thể-chung: Chân lý cấu trúc chính là Dasein con người vốn dĩ chia sẻ với kẻ khác; ngay cả khi sống cô lập, chúng ta vẫn sống trong mối quan hệ với thế giới xã hội. Điều đó mang tính cốt lõi đối với Heidegger trong việc đưa triết học thoát khỏi những khái niệm trừu tượng về bản chất con người; thay vì hỏi ‘Con người là gì?’ như một đối tượng cố định hoặc thực thể sinh học, ông muốn khám phá những cấu trúc năng động định hình sự tham gia tích cực, liên tục của chúng ta vào thực tại.HHN] và phạm trù Inwendigkeit ‘tính bên trong’ mà các sự vật Vorhandenem vô tri có thể có đối với nhau. Bằng cách phân định Hữu-thể-trong như vậy, chúng ta không phủ nhận mọi loại Räumlichkeit ‘không gian tính’ đối với Dasein. Ngược lại, bản thân Dasein có một ‘Hữu-thể-trong-không-gian’ riêng; nhưng điều này đến lượt nó chỉ có thể xảy ra trên cơ sở ‘Hữu-thể-trong- thế-giới nói chung. Do đó, Hữu-thể-trong không thể được lý giải về phương diện bản thể luận bằng một số đặc điểm ontische thực hữu, như thể người ta nói, chẳng hạn, Hữu-thể-trong trong một thế giới là một thuộc tính tinh thần, và ‘không gian tính’ con người là kết quả bản chất thể xác của anh ta (đồng thời, luôn được ‘xây dựng’ trên tính thân xác).

[Chen ngang Đức văn để so sánh bản Anh văn: Zunächst gilt es nur, den ontologischen Unterschied zwischen dem In-Sein als Existenzial und der »Inwendigkeit« von Vorhandenem untereinander als Kategorie zu sehen. Wenn wir so das InSein abgrenzen, dann wird damit nicht jede Art von »Räumlichkeit« dem Dasein abgesprochen. Im Gegenteil: Das Dasein hat selbst ein eigenes »Im-Raum-sein«, das aber seinerseits nur möglich ist auf dem Grunde des In-der-Welt-seins überhaupt. Das InSein kann daher ontologisch auch nicht durch eine ontische Charakteristik verdeutlicht werden, daß man etwa sagt: Das In-Sein in einer Welt ist eine geistige Eigenschaft, und die »Räumlichkeit« des Menschen ist eine Beschaffenheit seiner Leiblichkeit, die immer zugleich durch Körperlichkeit »fundiert« wird. Damit steht man wieder bei einem Zusammen-vorhanden-sein eines so beschaffenen Geistdinges mit einem Körperding, und das Sein des so zusammengesetzten Seienden als solches bleibt erst recht dunkel. Das Verständnis des In-der-Welt-seins als Wesensstruktur des Daseins ermöglicht erst die Einsicht in die existenziale Räumlichkeit des Daseins. Sie bewahrt vor einem Nichtsehen bzw. vorgängigen Wegstreichen dieser Struktur, welches Wegstreichen nicht ontologisch, wohl aber »metaphysisch« motiviert ist in der naiven Meinung, der Mensch sei zunächst ein geistiges Ding, das dann nachträglich »in« einen Raum versetzt wird. Tạm dịch nghĩa: Ban đầu, chỉ cần nhận thấy sự khác biệt về mặt bản thể học giữa Hữu-thể-trong như là hiện sinh [Chen: existentiale, số nhiều existentialia là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người. Đó là những cấu trúc phổ quát, tiên nghiệm tạo nên cuộc sống con người và định hình cách chúng ta trải nghiệm thế giới, chẳng hạn như sự hữu hạn, sự hiểu biết và tâm trạng - HHN] và ‘tính nội tại’ của các sự vật tồn tại giữa chúng như một phạm trù. Nếu chúng ta giới hạn Hữu-thể-trong như vậy, thì không phải mọi loại “không gian” đều bị phủ nhận đối với Dasein. Ngược lại: Bản thân Dasein có ‘Hữu-thể-trong-không- gian’ riêng, tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở Hữu-thể-trong-thế-giới nói chung. Do đó, Hữu-thể-trong không thể được làm rõ về mặt bản thể luận bằng việc đặc trưng hóa ontic thực hữu, chẳng hạn như nói rằng: Hữu-thể-trong-thế-giới là một thuộc tính tinh thần, và ‘tính không gian’ của con người là một đặc điểm của tính vật chất của họ, vốn luôn đồng thời được ‘tạo dựng’ bằng tính vật chất. Điều này dẫn chúng ta trở lại sự cùng tồn tại của một sự vật tinh thần như vậy với một sự vật vật chất, và Hữu thể của một hiện hữu phức hợp này thậm chí còn mơ hồ hơn. Chỉ khi hiểu Hữu-thể-trong-thế-giới như là cấu trúc thiết yếu của Dasein thì mới có thể thấu hiểu tính không gian hiện sinh của Dasein. Nó ngăn cản bỏ qua hoặc bác bỏ cấu trúc này, không phải về mặt bản thể luận, mà là về mặt ‘siêu hình học’, được thúc đẩy bởi niềm tin ngây thơ rằng con người ban đầu là một thực thể tinh thần sau đó được đặt ‘vào’ một không gian. - HHN]

Ở đây, chúng ta lại đối mặt với Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri đồng thời của một Sự vật tinh thần nào đó cùng với một Sự vật vật chất, trong khi Hữu thể của cái hiện hữu được kết hợp như vậy vẫn còn mơ hồ hơn bao giờ hết [tr.83]. Chỉ khi nào chúng ta hiểu được Hữu-thể-trong-thế-giới như một cấu trúc thiết yếu của Dasein, thì chúng ta mới có thể hiểu được không gian tính hiện sinh của Dasein. Cách thấu hiểu như vậy sẽ giúp chúng ta không bỏ qua cấu trúc này hoặc không loại bỏ nó trước đó - một quá trình được thúc đẩy không phải về phương diện bản thể luận mà là về phương diện ‘siêu hình học’ dựa trên giả định ngây thơ cho rằng con người, trước hết, là một Vật thể tinh thần, sau đó bị đặt sai ‘vào’ một không gian. Thực tính của Dasein là Hữu-thể-trong-thế-giới của nó luôn tự phân tán [zerstreut] hoặc thậm chí tự chia tách thành những cách thức nhất định của Hữu-thể-trong. Đa tính của những cách thức này được thể hiện qua các ví dụ sau: liên quan đến điều gì đó, sản sinh ra cái gì đó, chú ý đến cái gì đó và chăm sóc nó, sử dụng cái gì đó, từ bỏ cái gì đó và xa rời nó, đảm nhận, hoàn thành, chứng minh, cật vấn, xem xét, thảo luận, quyết định… Tất cả những cách thức Hữu-thể-trong này đều có mối quan tâm1 như một loại Hữu thể - một loại Hữu thể mà chúng ta vẫn chưa mô tả chi tiết. Bỏ dở, lơ là, từ bỏ, xả hơi - đây cũng là những cách thể hiện mối quan tâm; nhưng tất cả đều là những phương thức thiếu sót, trong đó các khả tính quan tâm được giữ ở mức ‘tối thiểu’.2

Thuật ngữ ‘quan tâm’, trước hết, có nghĩa vorwissenschaftliche tiền-khoa học, và có thể có nghĩa thực hiện điều gì đó, hoàn thành nó [erledigen], ‘giải quyết nó một cách ổn thỏa’. Nó cũng có thể có nghĩa là ‘tự cung cấp cho mình cái gì đó’.3 Chúng ta sử dụng cách diễn đạt này với một cách diễn đạt đặc trưng khác khi nói ‘Tôi quan tâm đến sự thành công của công việc.’4 Ở đây, ‘quan tâm’ có một ý nghĩa nào đó giống như trạng thái lo lắng. Trái ngược với những ý nghĩa ontische thực hữu thông thường ấy, thuật ngữ ‘quan tâm’ sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này như một thuật ngữ bản thể luận cho một existentiale yếu tố hiện sinh, và sẽ chỉ định Hữu thể của một cách thức khả thể của Hữu-thể-trong-thế-giới. Thuật ngữ này được chọn không phải vì Dasein tình cờ gần gũi và ở mức độ lớn là ‘thực tiễn’ và kinh tế, mà vì Hữu thể của chính Dasein [tr.84] sẽ được trình hiện với tư cách là sự quan tâm.5 Cách biểu đạt này cũng được coi là một khái niệm cấu trúc bản thể luận. (Xem Chương 6 của Phần này.) Nó không liên quan gì đến ‘khổ não’, ‘u sầu’, hay ‘những lo toan của cuộc sống’, mặc dù về phương diện ontische thực hữu người ta có thể bắt gặp những bận tâm này trong mọi Dasein. Các mối quan tâm này - giống như những điều trái ngược của chúng, ‘vui vẻ’ và ‘thoát khỏi lo lắng’ - chỉ có thể tồn tại về phương diện ontische thực hữu bởi vì Dasein, khi được hiểu theo phương diện bản thể luận, lại chính là quan tâm. Bởi vì Hữu-thể-trong-thế-giới về bản chất thuộc về Dasein, nên cái Sein zur Welt Hữu thể hướng đến thế giới của nó về bản chất là sự quan tâm. Từ những gì chúng ta đã nói, có thể thấy rằng Hữu-thể-trong không phải là một ‘thuộc tính’ mà Dasein đôi khi có và đôi khi không có, và nếu không có nó thì Dasein vẫn có thể tồn tại ổn thỏa như khi có nó. Không phải là con người ‘tồn tại’ rồi sau đó, như một yếu tố bổ sung, có một mối quan hệ-Bản-thể đối với ‘thế giới’ - một thế giới mà anh ta thỉnh thoảng tự tạo ra cho mình.6 Dasein không bao giờ là một hiện hữu ‘gần gũi’, nói cách khác, là kẻ tự do khỏi Bản-thể-trong, nhưng đôi khi lại có khuynh hướng thiết lập một ‘mối quan hệ’ đối với thế giới. Việc thiết lập các mối quan hệ đối với thế giới chỉ có thể xảy ra bởi vì Dasein, với tư cách là Hữu-thể- trong-thế-giới, tồn tại như chính nó. Trạng thái Hữu thể này không phát sinh chỉ vì một hiện hữu khác hiện-diện-vô-tri bên ngoài Dasein và gặp gỡ nó. Một hiện hữu như vậy chỉ có thể ‘gặp gỡ’ Dasein khi nó có thể tự bộc lộ mình trong một thế giới.   

Ngày nay người ta nói nhiều về việc ‘con người’ có một Umwelt môi trường’; nhưng điều này không nói lên điều gì về mặt bản thể luận chừng nào khái niệm ‘có’ này còn chưa được định nghĩa rõ ràng. Trong khả tính của nó, ‘việc có’ này được xây dựng trên trạng thái hiện sinh của Hữu-thể-trong. Bởi vì Dasein về bản chất là một hiện hữu có Hữu-thể-trong, nó có thể khám phá một cách rõ ràng những hiện hữu mà nó gặp phải trong môi trường, nó có thể biết chúng, nó có thể tận dụng chúng, nó có thể có ‘thế giới’. Nói về việc ‘có một môi trường’ thì về phương diện ontische thực hữu thì quá bình thường, nhưng về mặt bản thể luận, nó lại đặt ra một vấn đề. Để giải quyết vấn đề này, không cần gì khác ngoài việc định nghĩa Hữu thể của Dasein, và làm như vậy theo cách phù hợp về mặt bản thể luận. Mặc dù trạng thái Hữu thể này đã được sử dụng trong sinh học, đặc biệt là từ thời K. von Baer (1792-1876), ​​người ta vẫn không nên kết luận rằng việc sử dụng về phương diện triết học của nó lại hàm ý ‘sinh học luận’. [Biologism hay sinh học luận, thuyết quyết định sinh học - là quan điểm cho rằng mọi khía cạnh của hành vi, năng lực và cấu trúc xã hội con người đều được giải thích, quyết định hoặc bắt nguồn từ các yếu tố sinh học thuần túy như gen, bản năng hoặc quá trình tiến hóa. HHN] Bởi vì môi trường là một cấu trúc mà ngay cả sinh học với tư cách là một khoa học thực chứng cũng không bao giờ có thể tìm thấy và không bao giờ có thể định nghĩa được, mà phải giả định và liên tục sử dụng. Tuy nhiên, ngay cả khi là điều kiện tiên nghiệm cho các khách thể mà sinh học lấy làm chủ đề, thì cấu trúc này tự nó vẫn chỉ có thể được giải thích về mặt triết học nếu nó được hình dung trước đó như một cấu trúc của Dasein. Chỉ trong định hướng [tr.85] đối với cấu trúc bản thể luận được hình dung như vậy thì ‘sự sống’ như một trạng thái Hữu thể mới có thể được định nghĩa tiên nghiệm, và điều này phải được thực hiện theo cách phủ định.7 Về phương diện ontische thực hữu cũng như bản thể luận, ưu quyền thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới với tư cách quan tâm. Trong phân tích Dasein, cấu trúc này trải qua một Diễn giải cơ bản.            

Nhưng chẳng phải chúng ta đã tự giới hạn mình trong những xác quyết phủ định trong tất cả mọi nỗ lực xác định bản chất của trạng thái Hữu thể này sao? Mặc dù Hữu-thể-trong này được cho là rất cơ bản, chúng ta vẫn luôn nghe nói về những gì không phải là nó. Đúng vậy. Nhưng không có gì là ngẫu nhiên khi chúng ta mô tả nó chủ yếu theo cách phủ định như vậy. Khi thực hiện điều đó, chúng ta đã làm sáng tỏ những đặc điểm riêng biệt của hiện tượng này, và do đó, sự mô tả của chúng ta mang tính tích cực theo đúng nghĩa - một nghĩa phù hợp với chính hiện tượng đó. Khi Hữu-thể-trong-thế-giới được thể hiện về phương diện hiện tượng học, thì những thứ ngụy trang và che giấu bị lột bỏ bởi vì chính hiện tượng này luôn được ‘nhìn thấy’ theo một cách nhất định trong mọi Dasein. Và nó được ‘nhìn thấy’ như vậy bởi vì nó tạo nên một trạng thái cơ bản của Dasein, và trong mọi trường hợp đã được bộc lộ cho sự hiểu biết của Dasein về Hữu thể, và được bộc lộ cùng với chính Hữu thể đó. Nhưng phần lớn hiện tượng này đã được giải thích theo cách thức sai, hoặc được diễn giải không đầy đủ về phương diện bản thể luận. Mặt khác, việc ‘nhìn thấy theo một cách nhất định nhưng phần lớn là giải thích sai’ này lại không dựa trên điều gì khác ngoài chính trạng thái Hữu thể này của Dasein, trạng thái mà chính Dasein - và điều này cũng có nghĩa là Hữu-thể-trong-thế-giới của nó - có được hiểu biết bản thể luận về chính nó trước hết từ những hiện hữu vốn không phải là bản thân nó nhưng nó gặp ‘bên trong’ thế giới của nó, và từ Hữu thể mà chúng sở hữu.

Cả trong Dasein và đối với nó, trạng thái Hữu thể này luôn luôn bekannt thân thuộc theo một cách nào đó. Giờ đây, nếu nó cũng bắt đầu erkannt được biết đến, thì cái cách biết đến mà nhiệm vụ đó hiển nhiên hàm chứa sẽ tự coi mình (như một Welterkennen hiểu biết về thế giới) với tư cách là minh họa chính yếu cho mối quan hệ của linh hồn với thế giới. Việc hiểu biết thế giới (νοεῖν) - hay đúng hơn là hướng đến ‘thế giới’ và thảo luận về nó (λóγos) - do đó hoạt động như là phương thức chính của Hữu-thể-trong-thế-giới, mặc dù Hữu-thể-trong-thế-giới tự thân không được hình thành theo đúng nghĩa. Nhưng bởi vì cấu trúc này của Hữu thể vẫn không thể tiếp cận được về mặt bản thể luận, nhưng lại được trải nghiệm về phương diện ontische thực hữu như một ‘mối quan hệ’ giữa một hiện hữu (thế giới) và một hiện hữu khác (linh hồn), và bởi vì người ta hiểu Hữu thể một cách gần gũi bằng cách coi các hiện hữu là các hiện hữu bên-trong-thế-giới làm điểm tựa bản thể luận của mình, nên người ta cố gắng hình dung mối quan hệ giữa thế giới và linh hồn như được đặt nền tảng trong chính hai hiện hữu này [tr.86] và trong ý nghĩa Hữu thể của chúng - cụ thể là, hình dung nó như là Hữu thể present-at-hand hiện-diện-vô-tri. Và mặc dù Hữu-thể-trong-thế-giới là một cái gì đó mà người ta có kinh nghiệm và sự quen thuộc tiền-hiện tượng học [erfahren und gekannt], nhưng nó trở nên vô hình nếu người ta diễn giải nó theo cách không phù hợp về mặt bản thể luận. Trạng thái Hữu thể của Dasein này giờ đây là cái trạng thái mà người ta chỉ mới quen thuộc (và thực sự là một cái gì đó hiển nhiên), mang dấu ấn của một cách diễn giải không phù hợp. Vì vậy, theo cách này, nó trở thành xuất phát điểm ‘hiển nhiên’ cho các vấn đề về nhận thức luận hoặc ‘siêu hình học về tri thức’.

Còn gì hiển nhiên hơn việc một ‘chủ thể’ có mối quan hệ với một ‘khách thể’ và ngược lại? Mối quan hệ ‘chủ thể-khách thể’ này phải được giả định trước. Nhưng trong khi giả định này không thể bị bác bỏ về thực tính của nó, thì điều đó lại khiến nó trở nên tai hại nếu sự cần thiết về mặt bản thể luận và đặc biệt là ý nghĩa bản thể luận của nó bị bỏ ngỏ. Do đó, hiện tượng Hữu-thể-trong phần lớn được thể hiện độc quyền bởi một ví dụ duy nhất – nhận biết thế giới. Điều này không chỉ đúng trong lĩnh vực nhận thức luận; bởi vì ngay cả hành vi thực tiễn cũng được hiểu là hành vi ‘vô-lý thuyết’ và ‘phi lý thuyết’. Bởi vì tri thức có được ưu quyền như vậy, nên hiểu biết của chúng ta về loại Hữu thể cơ bản nhất của nó bị dẫn dắt lạc lối, và do đó Hữu-thể-trong-thế-giới phải được thể hiện chính xác hơn nữa liên quan đến việc nhận biết thế giới, và bản thân nó phải trở nên hiển hiện như một ‘phương thức’ yếu tố hiện sinh của Hữu-thể-trong.

13. Phương thức Minh họa Hữu-thể-trong.8 Nhận biết Thế giới.

Nếu Hữu-thể-trong-thế-giới là một trạng thái cơ bản của Dasein, và là trạng thái mà Dasein hoạt động không chỉ nói chung mà còn nổi bật trong phương thức thường nhật, thì nó cũng phải là một điều gì đó luôn được trải nghiệm về phương diện ontische thực hữu. Thật khó hiểu nếu Hữu-thể-trong-thế-giới lại hoàn toàn bị che khuất khỏi tầm nhìn, đặc biệt là khi Dasein có sẵn hiểu biết về chính Hữu thể của nó, cho dù hiểu biết này có vận hành mơ hồ đến mức nào. Nhưng ngay khi ‘hiện tượng nhận biết thế giới’ được nắm bắt, nó đã được diễn giải một cách ‘hời hợt’, [tr.87] hình thức. Bằng chứng cho điều này là quy trình (ngày nay vẫn còn phổ biến) xác lập tri thức như một ‘mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể’ - một quy trình trong đó ẩn chứa cả ‘chân lý’ lẫn tính trống rỗng. Nhưng chủ thể và khách thể không trùng khớp với Dasein và thế giới.              

Ngay cả khi có thể đưa ra một định nghĩa bản thể luận về Hữu-thể-trong  chủ yếu theo khuôn khổ của một Hữu-thể-trong-thế-giới vốn hiểu biết, thì nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta vẫn là chứng minh rằng hiểu biết có đặc tính hiện tượng của một Hữu thể vốn ở trong và hướng tới thế giới. Nếu suy ngẫm về mối quan hệ này của Hữu thể, thì một hiện hữu được gọi là ‘Tự nhiên’ được đưa ra gần gũi như là cái bắt đầu được biết đến. Hiểu biết, tự thân nó, không thể bắt gặp trong hiện hữu này. Nếu hiểu biết ‘tồn tại’ thì nó chỉ thuộc về các hiện hữu hiểu biết được. Nhưng ngay cả trong những hiện hữu đó, những Sự vật-con người, thì hiểu biết cũng không Vorhanden/present-at-hand hiện diện vô tri. Trong bất kỳ trường hợp nào, nó cũng không thể xác định được từ bên ngoài, chẳng hạn, như các thuộc tính của cơ thể.9 Giờ đây, vì hiểu biết thuộc về các hiện hữu này và không phải là một đặc điểm bên ngoài nào đó, nên nó phải ở ‘bên trong’. 

Giờ đây, càng khẳng định một cách rõ ràng rằng hiểu biết ở gần, thực sự ở ‘bên trong’ và không hề có cùng loại Hữu thể như những hiện hữu vừa vật chất vừa tâm linh, thì người ta càng ít giả định khi tin rằng mình đang đạt được tiến bộ trong vấn đề bản chất của tri thức và trong việc làm rõ mối quan hệ giữa chủ thể và Khách thể. Chỉ khi đó vấn đề nảy sinh là làm thế nào chủ thể nhận thức này thoát ra khỏi ‘phạm vi’ bên trong của nó để bước vào một phạm vi ‘khác và bên ngoài’, làm thế nào mà hiểu biết có thể có bất kỳ khách thể nào, và làm thế nào người ta phải suy nghĩ về chính khác thể đó để cuối cùng chủ thể nhận thức được nó mà không cần phải mạo hiểm nhảy vọt vào một phạm vi khác. Nhưng trong bất kỳ biến thể nào của cách tiếp cận này, thì câu hỏi về loại Hữu thể nào thuộc về chủ thể nhận thức này hoàn toàn không được đặt ra, mặc dù bất cứ khi nào hiểu biết của nó được xử lý, con đường Hữu thể của nó đã được ngấm ngầm bao gồm trong chủ đề của người ta. Tất nhiên, đôi khi chúng ta được đảm bảo rằng chắc chắn chúng ta không nên nghĩ về ‘bên trong’ [Innen] của chủ thể và ‘phạm vi bên trong’ của nó như một loại ‘hộp’ hoặc ‘tủ’. Nhưng khi người ta hỏi về ý nghĩa tích cực của cái ‘bên trong’ nội tại này mà nhận thức được bao hàm một cách gần gũi, hoặc khi người ta hỏi làm thế nào mà cái Innenseins ‘Hữu thể bên trong’ này mà việc hiểu biết có được lại mang cái đặc tính riêng của Hữu thể dựa trên loại Hữu thể thuộc về chủ thể, thì lại ngự trị sự im lặng. Và bất kể phạm vi bên trong này được diễn giải như thế nào, nếu chỉ hỏi làm thế nào hiểu biết mở đường ‘thoát ra’ khỏi nó và đạt được ‘siêu việt’, thì rõ ràng cái hiểu biết, vốn trình hiện những bí ẩn như vậy, sẽ vẫn còn nhiều vấn đề trừ khi đã minh định trước được bản thân nó là gì và cách thức mà nó tồn tại.

[Tr.88] Với loại tiếp cận này, người ta vẫn mù mịt trước những gì đã được ngầm hiểu ngay cả khi ta lấy hiện tượng hiểu biết làm chủ đề theo cách tạm thời nhất: đó là, hiểu biết là một phương thức Hữu thể của Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, và được tạo dựng về phương diện ontische thực hữu trên cơ sở trạng thái Hữu thể này. Nhưng nếu, như đã đề xuất, về phương diện hiện tượng chúng tôi nhận thấy rằng hiểu biết là một loại Hữu thể thuộc về Hữu-thể-trong-thế-giới, thì người ta có thể phản đối rằng với cách Diễn giải hiểu biết như vậy, thì vấn đề tri thức bị vô hiệu hóa; vì còn gì để hỏi nếu người ta giả định rằng hiểu biết đã ‘song hành’ với thế giới của nó, khi nó không được cho là đạt đến thế giới đó ngoại trừ trong sự siêu việt của chủ thể? Trong câu hỏi này, ‘quan điểm’ kiến ​​ tạo, vốn chưa được chứng minh về hiện tượng, lại trở nên nổi bật; nhưng hoàn toàn tách biệt với điều này, tòa án cấp cao nào sẽ quyết định liệu và theo nghĩa nào để có bất kỳ vấn đề tri thức nào khác ngoài hiện tượng tri thức theo đúng nghĩa và loại Hữu thể thuộc về kẻ hữu tri?

Nếu bây giờ chúng ta hỏi điều gì thể hiện trong những phát hiện hiện tượng về tri thức, chúng ta phải ghi nhớ rằng tri thức được đặt nền tảng từ trước trong một Hữu-thể-đã-song-hành-cùng-thế-giới, mà về bản chất là cấu thành nên Hữu thể của Dasein.10 Gần gũi hơn, Hữu-thể-đã-song-hành này không chỉ là việc nhìn chằm chằm vào một thứ gì đó thuần túy Vorhanden/present-at-hand hiện diện vô tri. Hữu-thể-trong-thế-giới, với tư cách là mối quan tâm, bị cuốn hút bởi thế giới mà nó quan tâm.11 Nếu tri thức trở nên khả thể như một cách để xác định bản chất của lối Vorhanden hiện-diện-vô-tri bằng cách quan sát nó,12 thì trước hết phải có một sự thiếu sót trong việc chúng ta dính-líu-đến thế giới bằng cách quan tâm. Khi mối quan tâm Sichenthalten ngăn cản khỏi bất kỳ loại sản xuất, thao túng, và những thứ tương tự nào, thì nó đặt mình vào cái mà giờ đây là phương thức duy nhất còn lại của Hữu-thể-trong, cái phương thức chỉ đơn thuần là nán lại bên cạnh….[das Nur-noch-verweilen bei…]

[Chen ngang: das Nur-noch-verweilen bei – ‘chỉ nán lại bên cạnh’, hoặc ‘chỉ lưu lại với’) đề cập đến một phương thức chiêm nghiệm không vụ lợi, trong đó chúng ta gạt bỏ các mục tiêu thực tiễn và chỉ đơn giản quan sát một khách thể đúng như bản chất của nó. Đối với Heidegger, con người chủ yếu tương tác với thế giới thông qua Besorgen - quan tâm - sử dụng các đối tượng như công cụ, chẳng hạn như cầm búa để đóng đinh. Chúng ta không chỉ nhìn thấy công cụ; chúng ta nhìn thấy mục đích của nó. Tuy nhiên, khi ngừng thao tác thực tiễn này, mối quan hệ của chúng ta với thế giới sẽ thay đổi - chúng ta cố tình lùi lại khỏi việc xây dựng, xử lý hoặc tương tác với thế giới. Việc ‘Chỉ lưu lại’ - Bằng cách này, mối quan tâm thực tiễn của chúng ta quy giản thành ‘chỉ nán lại bên cạnh’ khách thể. Kết quả là chúng ta không còn nhìn nhận khách thể chỉ đơn thuần là một thiết bị để sử dụng nữa. Thay vào đó, chúng ta để nó xuất hiện ‘thuần túy theo cách nó trông như thế nào’ - cái eidos bản chất của nó. Khái niệm này rất quan trọng vì nó giải thích nền tảng của tri thức lý thuyết - chẳng hạn như quan sát khoa học. Theo Heidegger, việc quan sát lý thuyết không tự nhiên mà có; nó trở nên khả thể chính xác là vì chúng ta rút lui khỏi các nhiệm vụ chủ động, thực hành và chuyển sang chế độ ‘chỉ đơn thuần lưu lại’, cho chúng ta không gian để quan sát và chiêm nghiệm. Về είδος eidos nghĩa là ‘cái nhìn’, ‘hình dạng’, hoặc ‘hình thức’ đề cập đến vẻ ngoài hoặc diện mạo bản chất của một thực thể khiến chúng ta nhận ra nó. Thay vì một khái niệm trừu tượng của Platon, Heidegger đặt nền tảng cho nó về phương diện hiện tượng luận theo cách thức mà một sự vật ‘tự thể hiện’ về mặt vật chất và khái niệm. Heidegger khám phá khái niệm είδος eidos theo khuôn khổ sau: i) Ông diễn giải lại bốn nguyên nhân của Aristotle không phải là các lực cơ học, mà là bốn ‘cách thức chịu trách nhiệm’ liên kết với nhau để tạo ra một cái gì đó. Ở đây, είδος eidos thay thế cho Nguyên Nhân Hình thức của Aristotle, ví dụ - Khi làm một chiếc chén bạc, είδος eidos là hình dạng hoặc vẻ ngoài cụ thể, được xác định trước mà bạc thành phẩm phải có; ii) Sự Chuyển dịch từ Hình thức đến ‘Ý Niệm’ Trừu tượng - Heidegger đã phê phán quá trình phát triển của sự hiểu biết phong phú, nguyên thủy của người Hy Lạp về είδος eidos thành siêu hình học hiện đại; iii) Ý nghĩa Nguồn cội - Đối với các nhà tư tưởng Hy Lạp thời kỳ đầu như Plato, είδος eidos có nghĩa là sự biểu hiện vật chất rạng rỡ hoặc ‘tỏa sáng’ của một thực thể; iv) Bước ngoặt Siêu hình học - Plato và các nhà triết học sau này bắt đầu coi είδος eidos ‘cái nhìn’ này như một thực tại riêng biệt, vô hình, phi vật chất – là Ý niệm. Heidegger lập luận rằng sự chuyển dịch này đã tách rời nhân loại khỏi kinh nghiệm trực tiếp, sống động về thế giới, neo giữ truyền thống trí tuệ phương Tây trong các khái niệm trừu tượng hơn là thực tại hiện diện; v) Bản chất Phi cảm giác - trong khi είδος eidos theo nghĩa đen biểu thị khía cạnh hữu hình của một thực thể, Heidegger thừa nhận rằng ý nghĩa triết học của nó mở rộng thành ‘bản chất’ bên trong hoặc khả năng hiểu biết về một sự vật. Nó nắm bắt được cái cho phép đối tượng hiện diện và được hiểu - bao gồm không chỉ những gì được nhìn thấy, mà còn là hiện diện tổng thể của nó trong thế giới của chúng ta.-HHN]

Kiểu Hữu thể hướng đến thế giới là kiểu cho phép chúng ta gặp gỡ các hiện hữu trong-thế-giới thuần túy theo cách mà chúng xuất hiện (εἶδoζ), chỉ vậy thôi; trên cơ sở kiểu Hữu thể này, và như một phương thức của nó, việc nhìn rõ ràng vào những gì chúng ta gặp là khả thể.13 Việc nhìn vào một thứ gì đó theo cách này đôi khi lại là một cách xác định để hướng tới một điều gì đó - để đặt tầm nhìn của bạn vào những gì Vorhanden hiện-diện-vô-tri. Nó tiếp nhận trước một ‘quan điểm’ từ hiện hữu mà nó bắt gặp. Việc nhìn-vào như vậy gia nhập [tr.89] phương thức cư ngụ tự chủ bên cạnh các hiện hữu trong-thế-giới.14 Trong kiểu ‘cư ngụ’ này, với tư cách là một cách kiềm-chế-bản-thân- khỏi bất kỳ sự thao túng hay sử dụng nào, thì tri giác về cái Vorhanden hiện-diện-vô-tri được hoàn thiện.15 Tri giác được hoàn thiện khi người ta hướng đến một cái gì đó với tư cách là một cái gì đó và thảo luận về nó theo đúng nghĩa.16 Điều này tương đương với việc diễn giải theo nghĩa rộng nhất; và trên cơ sở diễn giải đó, tri giác trở thành một hành động xác định.17 Những gì được tri giác và xác định như vậy có thể được diễn đạt bằng các mệnh đề, và có thể được giữ lại và bảo tồn như những gì đã được khẳng định. Việc lưu giữ mang tính tri giác này đối với một khẳng định18 về một cái gì đó tự nó là một cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới; nó không được Diễn giải như một ‘thủ tục’ mà qua đó một chủ thể tự cung cấp cho mình những Vorstellungen cách biểu đạt về một cái gì đó vẫn được lưu trữ ‘bên trong’ như đã được chiếm dụng như vậy, và liên quan đến cái mà câu hỏi về cách thức chúng ‘phù hợp’ với hiện thực tính đôi khi có thể nảy sinh.

Khi Dasein tự thân hướng tới một cái gì đó và nắm bắt nó, nó không thoát ra khỏi một phạm vi nội tại bằng cách nào đó mà nó đã được bao bọc gần gũi, nhưng loại Hữu thể cơ bản của nó lại luôn luôn ‘ở bên ngoài’ cùng với các hiện hữu mà nó chạm trán và thuộc về một thế giới đã được khám phá. Cũng không có phạm vi nội tại nào bị từ bỏ khi Dasein cư ngụ cùng với cái hiện hữu phải được biết đến và xác định đặc tính của nó; nhưng ngay cả trong cái ‘Hữu-thể-bên-ngoài’ này cùng với khách thể, thì Dasein vẫn ‘ở bên trong’, nếu ta hiểu điều này theo nghĩa chính xác; nghĩa là, chính nó ‘ở bên trong’ như một Hữu-thể-trong-thế-giới vốn biết rõ. Hơn nữa, việc tri giác cái được biết không phải là một quá trình quay trở lại ‘cái tủ’ của ý thức cùng với chiến lợi phẩm của mình sau khi đã đi ra ngoài và nắm bắt nó; ngay cả trong tri giác, giữ lại và bảo tồn, cái Dasein vốn hiểu biết đó vẫn ở bên ngoài, và nó làm như vậy với tư cách là Dasein. Nếu tôi ‘chỉ đơn thuần’ biết về một cách thức mà cái Hữu thể của các hiện hữu được kết nối, nếu tôi ‘chỉ’ tái hiện chúng, nếu tôi ‘không làm gì hơn’ ngoài việc ‘nghĩ’ về chúng, thì chẳng khác nào tôi [tr.90] ở bên cạnh các hiện hữu bên ngoài trong thế giới so với khi tôi nắm bắt chúng lần đầu tiên.19 Ngay cả việc quên đi một điều gì đó, trong đó mọi mối quan hệ của Hữu thể hướng đến những gì người ta từng biết dường như đã bị xóa bỏ, cũng phải được coi là một sự thay đổi của Hữu-thể-trong nguyên thủy; và điều này đúng với mọi ảo tưởng và mọi sai lầm.

Chúng ta vừa chỉ ra cách thức mà các phương thức của Hữu-thể-trong-thế-giới, vốn cấu thành nên hiểu biết về thế giới, được liên kết lại trong các nền tảng của chúng; điều này cho thấy rõ là trong nhận thức, Dasein đạt được một vị thế mới của Hữu thể hướng đến một thế giới đã được khám phá trong tự thân Dasein. Khả tính của Hữu thể mới này có thể tự chủ phát triển; nó có thể là việc cần hoàn thành, và là tri thức khoa học, nó có thể đảm nhận vai trò hướng dẫn cho Hữu-thể-trong-thế-giới. Nhưng một commercium ‘giao thiệp’ giữa chủ thể với thế giới không được tạo ra lần đầu tiên bởi nhận thức, cũng không phát sinh từ một cách thức nào đó mà thế giới tác động lên chủ thể. Hiểu biết là một phương thức của Dasein được xây dựng trên Hữu-thể-trong-thế-giới. Do đó, Hữu-thể-trong-thế-giới, với tư cách là một trạng thái nền tảng, phải được Diễn giải trước.

_____________________________________
(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 'Besorgen'. Như Heidegger đã chỉ ra, ông sẽ sử dụng thuật ngữ này theo một nghĩa đặc biệt, khác với nhiều cách sử dụng thông thường của nó. Theo quy tắc, chúng ta sẽ dịch nó là 'concern', mặc dù đây không phải là một từ tương đương chính xác. Từ 'concern' trong tiếng Anh được sử dụng trong nhiều cách diễn đạt mà 'Besorgen' sẽ không phù hợp trong tiếng Đức, chẳng hạn như 'This concerns you', 'That is my concern', 'He has an interest in several banking concerns'. 'Besorgen' đúng hơn là đại diện cho loại 'concern' mà chúng ta 'quan tâm' đến các hoạt động mà chúng ta thực hiện hoặc những thứ mà chúng ta có được. [tr.83]

2 ….ale Modi des "Nur noch" in bezug auf Moglichkeiten des Besorgens.' Điểm mấu chốt là trong những trường hợp này, mối quan tâm chỉ được đề cập một cách rất sơ sài ('nur noch'). [tr.83]

3 ‘….sich etwas besorgen im Sinne von "sich etwas verschaffen".'[tr.83]

4 ‘….ich besorge, dass das Unternehmen misslingt.’ Ở đây không khó để tìm thấy cách sử dụng tương ứng của ‘concern’, như bản dịch của chúng tôi gợi ý. Nhưng sự tương đồng này không hoàn hảo. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng chúng ta 'lo lắng cho sự thành công của doanh nghiệp' hoặc 'lo lắng sợ doanh nghiệp thất bại', nhưng người Đức cũng không diễn đạt 'Beaorgen' khi phát hiện ra rằng doanh nghiệp đã thất bại. [tr.83]

5 ‘Sorge’. Mối liên hệ từ nguyên quan trọng giữa ‘Besorgen’ (‘lo lắng’) và ‘Sorge’ (‘chăm sóc’) đã bị mất trong bản dịch của chúng tôi. Về ‘Sorge’, xem đặc biệt Mục 41 và 42 bên dưới. [tr.84]

6 “Der Mensch ‘ist’ nicht und hat tiberdies noch ein Seinsverhaltnis zur ‘Welt’, die er sich gelegentlich zulegt.” [tr.84]

7 ‘….auf dem Wege der Privation….’ Vấn đề là để hiểu cuộc sống đơn thuần như vậy, chúng ta phải trừu tượng hóa cuộc sống đầy đủ hơn của Dasein. Xem H. 50 ở trên. [tr.85]

8 ‘Die Exemplijizierung des ln-Seins an einemfundierten Modus.’ Quan niệm về các phương thức ‘sáng lập’ được lấy từ Husser!, người đưa ra khái niệm ‘sáng lập’ trong Logische Untersuchungen, tập. II, Phần I, chương 2 (ấn bản lần thứ hai, Halle, 1913, tr.261). Đoạn văn này đã được Marvin Farber diễn giải lại sát nghĩa như sau trong tác phẩm The Fourukztion of Phenomenology, Cambridge, Massachusetts, 1943, trang 297: 'Nếu theo quy luật bản chất, một a chỉ có thể tồn tại trong một sự thống nhất toàn diện kết nối nó với một μ, thì ta nói rằng, một a như vậy cần nền tảng thông qua một μ, hoặc cũng có thể nói rằng, một a như vậy cần được hoàn thiện bằng một μ. Nếu theo đó a₀, μ₀ là những trường hợp cụ thể xác định của các giống thuần túy a hoặc μ, có mối quan hệ được trích dẫn, và nếu chúng là thành viên của một tổng thể, thì ta nói rằng a₀ được thành lập bởi μ; và nó được thành lập độc quyền bởi μ nếu nhu cầu hoàn thiện của a₀ chỉ được đáp ứng bởi μ. Thuật ngữ này có thể được áp dụng cho chính các loài; sự mơ hồ này là vô hại.' Do đó, một phương thức Hiện hữu được thiết lập đơn giản là một phương thức chỉ có thể tồn tại khi được kết nối với một thứ khác. [tr.86]

9 'Trong jedem Faile ist est nicht so ausserlich feststellbar wie etwa leibliche Eigenschaften. Các phiên bản cũ hơn có ‘…nicht ist es…’ và đặt dấu phẩy sau 'feststellbar'. [tr.87]

10 ‘….dass das Erkennen selbst vorgangig g:riindet in einem Schon-sein-bei-der-Welt, als welches das Sein von Dasein wesenhaft konstituiert.’[tr.88]

11 ‘Das In-der-Welt-sein ist als Besorgen von der besorgten Welt benommen.’ Ở đây chúng ta theo dõi các ấn bản cũ hơn. Các phiên bản mới hơn có 'das Besorgen' thay vì 'als Besorgen'. [tr.88]

12 ‘Damit Erkennen als betrachtendes Bestimmen des Vorhandenen miiglich sei….’ Ở đây chúng tôi cũng theo dõi các ấn bản cũ hơn. Các phiên bản mới hơn lại có 'das' thay vì 'als'. [tr.88]

13 ‘Auf dem Grunde dieer Seinsart zur Welt, die das insideweltlich begegnende Seiende nur noch in seinem puren Aussehen (elaos) begegnen lasst, und als Modus dieer Seinsart ist ein ausdruckliches Hinsehen aufdas so Begenende miiglich.' [tr.88]

14 'Solches Hinsehen kommt selbst in den Modus eines eigenstiindigen Sichaufhaltens bei dem insideweltlichen Seienden.' [tr.89]

15 'In sogerateten "Aufenthalt"-als dem Sichenthalten von jeglicher Hantierung and Nutzung-vollzieht sich das Vemehmen des Vorhandenen.' Từ 'Aufenthalt' thường có nghĩa là dừng chân ở một nơi nào đó, tạm trú, cư trú, hoặc thậm chí là nơi ở. Ở đây, tác giả đang khai thác thực tế rằng nó bao gồm cả tiền tố 'auf-' và 'ent-', mà chúng ta tìm thấy trong các động từ 'aufhalten' và 'enthalten'. 'Aufhalten' có nghĩa là giữ một cái gì đó ở giai đoạn mà nó đã đạt được, bắt giữ nó, ngăn chặn nó; khi được sử dụng ở dạng phản thân, nó có thể có nghĩa là ở lại một nơi, cư trú ở đó. Trong khi 'enthalten' thường có nghĩa là chứa đựng, nó vẫn giữ nghĩa đen hơn là kìm hãm hoặc tránh né khi được sử dụng ở dạng phản thân. Tất cả những ý nghĩa này có lẽ được gói gọn trong từ 'Aufenthalt' như được sử dụng ở đây, và hầu như không được gợi ý bởi 'nơi ở' của chúng ta. [tr.89]

16 'Das Vernehmen hat die Vollzugsart des Ansprechens und Besprechens von etwas als etwas.' Về 'cái gì đó như cái gì đó', xem Phần 32 bên dưới (H. 149), trong đó 'sự diễn giải' cũng được thảo luận. [tr.89]

17 ‘…wird das Vernehmen zum Bestimmen.’ [tr.89]

18 'Aussage'. Để thảo luận thêm, xem Phần 33 bên dưới, [tr.89]

19 '...bei einem Originiiren Erfassen.'[tr.90]

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (VIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

II. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI: TRẠNG THÁI CƠ BẢN CỦA DASEIN

12. Phác thảo về Hữu-thể-trong-Thế-giới

[Tr.78] Trong các thảo luận chuẩn bị của mình (Mục 9), chúng ta đã nêu bật một số đặc điểm của Hữu thể sẽ cung cấp cho chúng ta một ánh sáng vững chắc cho khảo sát tiếp theo, nhưng đồng thời cũng sẽ trở nên cụ thể về mặt cấu trúc khi tiếp tục khảo sát đó. Dasein là một hiện hữu mà, trong chính Hữu thể của nó, tự cư xử một cách thấu hiểu đối với Hữu thể đó. Khi nói điều này, chúng ta đang lưu ý đến khái niệm hình thức của sự tồn tại. Dasein tồn tại. Hơn nữa, Dasein là một hiện hữu mà trong mỗi trường hợp thì lại chính tôi là cái hiện hữu đó. Jemeinigkeit Tính của tôi [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Jemeinigkeit ‘tính của tôi’ đề cập đến thực tế nền tảng là Dasein con người, trong mỗi trường hợp, luôn là của riêng mỗi người; điều đó có nghĩa là tôi không phải là một đối tượng trừu tượng; cuộc sống của tôi về cơ bản được đặc trưng bởi quyền sở hữu cá nhân và sự can dự của ngôi thứ nhất; các khía cạnh cốt lõi của Jemeinigkeit bao gồm i) Hiện hữu cá nhân hóa, đó không bao giờ chỉ là một khái niệm chung chung; nó luôn luôn là cuộc sống của tôi, những lựa chọn của tôi và cái chết của tôi; tôi không thể ủy thác hiện hữu của mình cho kẻ khác; ii) Không phải là một đối tượng, bởi vì Jemeinigkeit, con người không thể được nghiên cứu một cách khách quan từ bên ngoài như thể chúng ta chỉ là những tảng đá hay những con số; hiện hữu của chúng ta được định nghĩa bởi mối quan tâm nội tâm và lợi ích cá nhân của chúng ta trong việc chúng ta là ai; iii) Cái ‘Tôi là’ - cấu trúc này đòi hỏi bất cứ khi nào chúng ta nói về Dasein, chúng ta phải sử dụng các đại từ nhân xưng như ‘Tôi là’ hoặc ‘Anh là’; iv) Nền tảng cho sự lựa chọn - Jemeinigkeit là trung lập; nó chỉ đơn giản là bối cảnh làm cho cả cuộc sống chân thực và không chân thực đều có thể xảy ra; vì hiện hữu của tôi về cơ bản là thuộc về tôi, nên tôi phải có lập trường về điều đó; v) Tính chân thực - tôi chủ động nắm lấy những khả tính của mình và định hình con đường riêng; tính không chân thực - tôi từ bỏ quyền sở hữu cá nhân này bằng cách để cái das Man ‘Họ/chúng’ vô danh quyết định cách tôi nên sống, suy nghĩ và hành động.-HHN] thuộc về bất kỳ Dasein vẫn tồn tại nào, và thuộc về nó như là điều kiện làm cho tính chân thực và tính không chân thực trở nên khả thể. Trong mỗi trường hợp, Dasein tồn tại ở một trong hai phương thức này, hoặc là không phân biệt về mặt phương thức.1 Nhưng cả hai đều là những cách thức mà Hữu thể của Dasein mang một đặc điểm xác định, và chúng phải được xem xét và lý giải một cách tiên nghiệm là dựa trên trạng thái của Hữu thể mà chúng ta đã gọi là ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Cần diễn giải về trạng thái cấu thành này nếu chúng ta muốn thiết lập phân tích Dasein một cách chính xác.

Cụm từ ghép ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ chỉ ra, theo chính cái cách thức mà chúng ta đã tạo ra, đó là nó đại diện cho một hiện tượng đơn nhất. Dữ liệu cơ bản này phải được xem xét như một tổng thể. Nhưng trong khi ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ không thể bị chia nhỏ thành các nội dung có thể được ghép lại với nhau, thì điều đó vẫn không ngăn cản nó có một số yếu tố cấu thành trong cấu trúc của nó. Thật vậy, dữ liệu hiện tượng mà cách biểu hiện của chúng ta chỉ ra là một dữ liệu có thể, trên thực tế, được xem xét theo ba cách. Nếu chúng ta nghiên cứu nó, giữ vững toàn bộ hiện tượng trong tâm trí trước đó, thì có thể nhấn mạnh các hạng mục sau đây: Thứ nhất, ‘trong-thế-giới’. Liên quan đến điều này, nảy sinh nhiệm vụ tìm hiểu cấu trúc bản thể luận của ‘thế giới’ và định nghĩa ý niệm về Weltlichkeit [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Weltlichkeit Tính trần thế đề cập đến cấu trúc cơ bản làm cho thế giới trở thành một ‘thế giới’ ngay từ đầu. Nó không phải là một địa điểm vật lý hay một vật chứa đựng các đối tượng, mà là một mạng lưới toàn diện, có ý nghĩa về các mối quan hệ và mục đích trong đó khai mở sự tồn tại của con người. Để hiểu Weltlichkeit, cần xem xét cách thức mà Heidegger phân tích khái niệm này thành các yếu tố chính: i). Đó là một Khái niệm Bản thể học, không phải là Khái niệm ontic Thực hữu; Ontic Thực hữu đề cập đến những sự vật đơn thuần, các đối tượng, hoặc tập hợp các thực thể trong thế giới. Một hòn đá, một cái cây, hoặc một nguyên tử đều ‘ở trong’ thế giới, nhưng chúng không tạo nên Weltlichkeit. Là một khái niệm Bản thể học, Weltlichkeit là ‘Hữu thể’ của thế giới; nó là điều kiện nền tảng cho phép chúng ta đối mặt với bất cứ điều gì như là ‘một cái gì đó’; ii) Mạng lưới Ý nghĩa - theo Heidegger chúng ta chủ yếu tiếp xúc với thế giới không phải như một không gian hình học chứa đầy các đối tượng khoa học trừu tượng, mà như một xưởng chế tạo dụng cụ mà chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Ý nghĩa của một đối tượng - ví dụ một cái búa - được xác định bởi tính toàn thể quan hệ của nó, mà Heidegger gọi là cấu trúc Um-zu ‘để-làm-’; cái búa nhằm mục đích đóng đinh, cái đinh nhằm mục đích cố định ván sàn, ván sàn nhằm mục đích làm cho ngôi nhà vững chắc, v.v. Weltlichkeit chính là mạng tham chiếu và mục đích toàn diện, vô hình này, khiến cho các hạng mục riêng lẻ trở nên hữu ích và dễ hiểu đối với chúng ta; iii) ‘Thế giới’ Weltlichkeit gắn bó sâu sắc với Dasein con người, mà ông dịch theo nghĩa đen là being-there ‘hiện hữu’. Dasein không bao giờ chỉ là một bộ não tách rời, không có thân xác suy nghĩ về vũ trụ; nó vốn In-der-Welt-sein Hiện-hữu-trong-thế-giới. ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ có nghĩa là quen thuộc với nó, hòa mình vào nó, và luôn quan tâm đến các dự án và khả tính của chúng ta trong đó; iv) Cách thức Bộc lộ qua Công cụ Bị hỏng: theo Heidegger chúng ta hiếm khi nhìn trực tiếp vào Weltlichkeit - Khi một thiết bị hoạt động hoàn hảo, nó lùi vào hậu trường, và chúng ta sử dụng nó gần như vô thức; tuy nhiên, công cụ bị hỏng, dòng chảy liền mạch của cuộc sống hàng ngày bị gián đoạn; trong khoảnh khắc đổ vỡ này, mạng lưới mục đích sụp đổ, và Weltlichkeit thì cái bản tính thế gian của môi trường chúng ta tự bộc lộ. Chúng ta đột nhiên buộc phải nhìn mọi thứ trong sự hiện diện vật lý thô sơ của chúng chứ không chỉ là những công cụ ‘sẵn-sàng-để-sử dụng’.-HHN] vị thế thế giới theo đúng nghĩa. (Chương Ba của Phần này.)

[Tr.79] Thứ hai, cái hiện hữu mà trong mọi trường hợp đều có ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ như là cách thức tồn tại của nó. Ở đây chúng ta đang tìm kiếm điều mà người ta tìm hiểu khi đặt câu hỏi ‘Ai?’. Bằng một chứng minh hiện tượng học2, chúng ta sẽ xác định ai đang ở trong trạng thái trung bình thường nhật của Dasein. (Xem chương thứ tư của Phần này.) Thứ ba, In-sein Hiện-hữu-trong  theo đúng nghĩa. Chúng ta phải trình bày cái Cấu thành bản thể luận của chính cái trạng thái Inheit kia. [Chen ngang: Inheit là một khái niệm quan trọng mang nghĩa ‘tính nội tại’ hoặc ‘tình trạng bên trong’ của Martin Heidegger. Trong triết học của ông, Inheit/Inhood ‘tính nội tại/vị thế bên trong’ định nghĩa cách thức độc đáo mà Dasein con người tồn tại trong thế giới. Nó khác với quan niệm truyền thống cho rằng con người là những tâm trí cô lập quan sát một vũ trụ bên ngoài tách biệt; cách thức hoạt động của khái niệm này bao gồm: i) Hữu-thể-trong-thế-giới - Heidegger lập luận rằng con người luôn luôn ‘ở bên trong’ thế giới, đắm chìm sâu sắc trong đó và tương tác với các công cụ, môi trường và con người của nó. Tình trạng Inheit ở bên trong mô tả cấu trúc nội tại của sự đắm chìm đó. ‘Hiện-hữu-trong’ không có nghĩa là ở bên trong một vật chứa như một chiếc giày trong hộp; thay vào đó, nó có nghĩa là ‘cư trú’, ‘sống’ hoặc ‘thân thuộc với’ thế giới. Cái Woraufhin ‘Trên-cái-mà’ - Khi Heidegger thảo luận về ý nghĩa của Hữu thể, ông đề cập đến nó như là cái Woraufhin ‘trên-cái-mà’ (hay chân trời) mà nhờ đó mọi thứ trở nên dễ hiểu đối với chúng ta. Mọi thứ có ý nghĩa khi chúng ta có thể đưa chúng vào các hoạt động hàng ngày và phản ứng với chúng một cách cảm tính. Cái Woraufhin chỉ định chân trời hoặc bối cảnh mà dựa vào đó chúng ta hiểu ý nghĩa của một điều gì đó. Ví dụ, chúng ta hiểu một cái búa trong bối cảnh Woraufhin mục đích rộng lớn hơn là xây một ngôi nhà. Woraufhin là một khái niệm nền tảng trong Hữu thể và Thời gian. Nó hoạt động trong hai bối cảnh chính: i) Dự án Hiểu biết (Entwurf): Heidegger lập luận rằng sự tồn tại của Dasein con người liên tục tự phóng chiếu vào các khả tính. Khi chúng ta tự phóng chiếu bản thân hướng tới một mục tiêu nhất định—chẳng hạn như ‘trở thành một sinh viên’ hoặc ‘sửa mái nhà’—chúng ta không làm điều đó một cách mù quáng. Chúng ta tự phóng chiếu bản thân trên một nền tảng hiểu biết. Cái Woraufhin nền tảng này cho phép khả tính cụ thể đó tạo ra ý nghĩa đối với chúng ta; ii) Định nghĩa về Sinn Ý nghĩa Heidegger cho rằng ‘Ý nghĩa là Woraufhin ‘nền tảng’ của một phóng chiếu, nhờ đó mà một cái gì đó trở nên dễ hiểu với tư cách là một cái gì đó.” Điều đó có nghĩa là: Một sự vật không tự nó sở hữu ý nghĩa nội tại; Ý nghĩa chỉ xuất hiện khi một đối tượng hoặc một khả tính được đặt trong cái Woraufhin khuôn khổ rộng hơn, mang lại ngữ cảnh và khả năng hiểu cho nó.-HHN]. (Xem chương thứ năm của Phần này.) Việc nhấn mạnh vào bất kỳ yếu tố nào trong những yếu tố cấu thành này đều có nghĩa là những yếu tố khác cũng được nhấn mạnh cùng với nó; điều này có nghĩa là trong bất kỳ trường hợp nào như vậy, toàn bộ hiện tượng đều được nhìn thấy. Tất nhiên, Hữu-thể-trong-thế-giới là trạng thái của Dasein3 cần thiết lối tiên nghiệm, nhưng còn xa mới đủ xác định hoàn toàn Hữu thể của Dasein. Trước khi biến ba hiện tượng này thành chủ đề cho các phân tích đặc biệt, chúng ta sẽ cố gắng định hướng để mô tả yếu tố thứ ba trong số này.

Hữu-thể-trong’ có nghĩa là gì? Phản ứng gần gũi của chúng ta là làm tròn cách diễn đạt này thành “Hữu-thể-trong ‘trong thế giới’”, và chúng ta có khuynh hướng hiểu Hữu-thể-trong này là ‘Hữu-thể-trong một cái gì đó’. Thuật ngữ sau ấy chỉ định loại Hữu thể mà một hiện hữu có khi nó ở ‘trong’ một hiện hữu khác, như nước ở ‘trong’ cốc, hoặc quần áo ở ‘trong’ tủ. Từ ‘trong’ ở đây có nghĩa là mối quan hệ Hữu thể giữa hai hiện hữu được mở rộng ‘trong’ không gian với nhau liên quan đến vị trí của chúng trong không gian đó. Cả nước và cốc, quần áo và tủ, đều ở ‘trong’ không gian và ‘ở’ một vị trí, và cả hai đều theo cùng một cách. Mối quan hệ Hữu thể này có thể được mở rộng: ví dụ, ghế dài ở trong giảng đường, giảng đường ở trong trường đại học, trường đại học ở trong thành phố, v.v., cho đến khi ta có thể nói rằng ghế dài ở ‘trong không gian-thế giới’. Do đó tất cả các hiện hữu mà Hữu thể của nó ở ‘trong’ nhau có thể được mô tả như vậy đều có cùng một loại Hữu thể - đó là Hữu thể thuộc loại Hữu-thể-vô-tri như những Sự vật xảy ra ‘bên trong’ thế giới.             

Hữu-thể-vô-tri ‘trong’ một cái gì đó vốn có đó vô-tri, và Hữu-thể-vô-tri-cùng-với [Mitvorhandensein] theo nghĩa mối quan hệ-vị trí xác định với một cái gì đó khác có cùng loại Hữu thể, là những đặc điểm bản thể luận mà chúng ta gọi là có tính ‘phân loại’: chúng thuộc về những hiện hữu mà loại Hữu thể của chúng không mang đặc điểm của Dasein con người. Mặt khác, Hữu-thể-trong là một trạng thái Hữu thể của Dasein; nó là một existentiale hiện sinh. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger existentiale, số nhiều existentialia là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người. Đó là những cấu trúc phổ quát, tiên nghiệm tạo nên cuộc sống con người và định hình cách chúng ta trải nghiệm thế giới, chẳng hạn như sự hữu hạn, sự hiểu biết và tâm trạng; 1. Existentialia so với Categories: Heidegger vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa cách chúng ta mô tả con người và cách chúng ta mô tả các vật thể trong thế giới vật chất; Categories Mô tả các vật thể và thực thể vật lý chỉ đơn giản là ‘tồn tại’ - ví dụ: trọng lượng, khối lượng, kích thước không gian -các khách thể có thuộc tính. Existentialia - mô tả các khả tính cấu trúc của cuộc sống con người, ví dụ hiện-hữu-trong-thế-giới, sự quan tâm, tình trạng bị ném vào trần thế. Thay vì các thuộc tính cố định, con người có những cách thức hiện hữu. 2. Existential so với Existentiell: Heidegger phân biệt giữa cấu trúc phổ quát của sự tồn tại và những lựa chọn cụ thể, hàng ngày mà chúng ta thực hiện. Existential là tồn tại mang tính bản thể: Cấp độ hình thức, cấu trúc; nó đề cập đến những điều kiện phổ quát áp dụng cho toàn bộ con người, chẳng hạn toàn bộ con người vốn dĩ đều hữu hạn và phải đưa ra lựa chọn. Thực hữu Ontic là cấp độ cá nhân, hàng ngày, đề cập đến những lựa chọn cụ thể, hữu hình mà bạn đưa ra trong cuộc sống thực tế của mình; ví dụ cách tôi chọn sử dụng thời gian trong ngày; con đường sự nghiệp tôi theo đuổi. Hiện-hữu-trong-thế giới: là Ý tưởng cho rằng con người không phải là những chủ thể cô lập tách biệt khỏi vũ trụ; về cơ bản, chúng ta đắm chìm, được sắp đặt và dấn thân vào một thế giới với tình trạng bị ‘ném vào’ một thời điểm, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể mà chúng ta không lựa chọn, nhưng buộc phải vượt qua. Befindlichkeit Trạng thái tâm trí bao gồm sự hòa hợp về mặt cảm xúc như xao xuyến hay tâm trạng, tiết lộ mối quan hệ của chúng ta với thế giới ngay cả trước khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ một cách lý trí. Verstehen - Sự hiểu biết là chúng ta hình dung bản thân trong những khả tính tương lai và hiểu ý nghĩa cuộc sống dựa trên mục tiêu của mình. Hữu-thể-hướng-tới-cái-chết là nhận thức hiện sinh về sự hữu hạn của chính mình, khiến cho cuộc sống của chúng ta rơi vào trạng thái cấp bách và có ý nghĩa đích thực.-HHN]. Vì vậy, existentiale trạng thái tồn tại khiến cho người ta không thể coi nó như là sự Hiện-hữu-hiện-diện-vô-tri của một Sự vật hữu hình nào đó (như cơ thể người) ‘trong’ một hiện hữu đang hiện-diện-vô-tri.

[Ghi chú thêm về present-at-hand đang hiện-diện-vô-tri: Trong triết học của Martin Heidegger, present-at-hand hay Vorhandensein – là hiện diện hay tồn tại khách quan - dùng để chỉ trạng thái khi một sự vật mất đi tính năng sử dụng thực tiễn và chỉ còn trơ lại như một đối tượng vật lý thuần túy để con người quan sát, phân tích hoặc đo đếm. Heidegger thường đặt nó trong sự đối lập với trạng thái quen thuộc hàng ngày: i) Phân biệt các phương thức tồn tại của sự vật Zuhandensein – Ready-to-hand - Sẵn sàng sử dụng: Đây là cách chúng ta tương tác với thế giới mỗi ngày. Khi tôi dùng một cái búa để đóng đinh, tôi không nhìn chằm chằm vào cái búa; nó trở thành một phần mở rộng của cánh tay bạn và dường như ‘vô hình’. Còn Vorhandensein – Present-at-hand Hiện-diện-trên-tay xuất hiện khi công cụ bị hỏng, búa bị gãy. Nó không còn hoạt động được nữa và đột nhiên thu hút sự chú ý của bạn như một vật thể độc lập. Lúc này, bạn lùi lại, chiêm nghiệm và nhìn nó với tư cách một nhà khoa học: cân, đo, đong, đếm các đặc tính vật lý chẳng hạn chiều dài, chất liệu, khối lượng, v.v.). Ý nghĩa triết học của hai phương thức hiện diện đó được Heidegger quan niệm như sau: các nhà triết học truyền thống như Descartes đã sai lầm khi mô tả thế giới hoàn toàn dựa trên góc nhìn present-at-hand – xem vạn vật chỉ như những khối vật chất tĩnh tại. Trên thực tế, kinh nghiệm sống và tương tác hàng ngày của con người với thế giới chủ yếu dựa trên góc nhìn ready-to-hand thực tiễn, sử dụng. Chẳng hạn chiếc điện thoại của tôi khi nó hoạt động tốt và tôi đang lướt mạng, chiếc điện thoại ở trạng thái ready-to-hand, nó hòa quyện vào trải nghiệm của tôi. Nhưng khi điện thoại đột ngột sập nguồn hoặc hỏng hóc, nó mất đi tính hữu dụng - lúc này, tôi lật qua lật lại, soi xét nguyên do hỏng hóc hay cấu tạo của nó – đây chính là trạng thái present-at-hand của sự vật.-HHN]

Thuật ngữ Hữu-thể-trong không có nghĩa là [tr.80] ‘trạng thái-trong-nhau’ của sự vật present-at-hand hiện diện tĩnh trong không gian, cũng như từ ‘trong’ ban đầu không biểu thị mối quan hệ không gian kiểu này.i ‘Trong’ bắt nguồn từ ‘innan’ –‘habitare’, sich aufhalten, ‘ở’, ‘cư trú’?4. ‘An’ biểu thị ý nghĩa là ‘Tôi quen thuộc’, ‘Tôi biết rõ’, ‘Tôi chăm sóc cái gì đó’.5 Nó có nghĩa là ‘colo’ theo nghĩa của các từ Latin liên quan ‘habito’ và ‘diligo’. [Chen ngang: 1. Colo - Đối với Martin Heidegger, động từ Latin colo và dạng nguyên thể colere là từ nguyên có nghĩa là Sorge Chăm sóc và cư ngụ của ông. Tiếng Latin colo có nghĩa kép phong phú, vừa là ‘trồng trọt/cày cấy’ như trong nông nghiệp, vừa là ‘sinh sống/cư ngụ’. Heidegger sử dụng các nghĩa ẩn chứa trong colo để định nghĩa bản chất cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người: colo có nghĩa là vun trồng, chăm sóc, trân trọng, bảo vệ và quan tâm đến một điều gì đó, hoặc giúp nó phát triển. Đối với Heidegger, cách tồn tại chính của chúng ta được đặc trưng bởi Sorge ‘Chăm sóc’. Chúng ta không phải là những người quan sát thụ động trong thế giới; thay vào đó, chúng ta tích cực tham gia, vun đắp môi trường của mình và chịu trách nhiệm cho những thứ và những người xung quanh chúng ta mà tiếng Đức là Fürsorge và Besorgen. Về nghĩa Cư ngụ - gốc từ colo cũng có nghĩa là cư trú, sống hoặc sinh sống ở một nơi nào đó. Heidegger đã mở rộng luận điểm này trong các tác phẩm sau này của mình, cho rằng sự tồn tại của con người về cơ bản mang nghĩa ‘cư ngụ’ - nghĩa là trân trọng, bảo vệ và giữ gìn sự bình yên an toàn trong thế giới; nghĩa ‘thờ phụng’ – colo trong tiếng Latin, cũng là gốc từ chỉ việc vun đắp mối quan hệ với thần thánh - thờ phụng/tôn kính. Heidegger sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa gần như tôn kính: nhân loại là ‘kẻ chăn chiên của hiện hữu’, có nhiệm vụ tôn vinh và bảo vệ ý nghĩa của hiện hữu. 2. habito: Heidegger sử dụng động từ Latin habito (cư trú hoặc sinh sống) không chỉ đơn thuần là một khái niệm không gian, địa lý; nó là nền tảng bản thể học của sự tồn tại của con người. Đối với động từ esse tồn tại, Heidegger sử dụng nó để đánh giá lại cách con người chiếm hữu và liên hệ với thế giới. Ý nghĩa của habito trong triết học của ông được chia thành ba ý tưởng chính: i) Hiện-hữu-trong với tư cách cư trú: Heidegger cho rằng Dasein con người về cơ bản là ‘Hiện-hữu-trong-thế- giới’. Ông lưu ý rằng giới từ ‘trong’ về mặt từ nguyên bắt nguồn từ từ innan cư trú trong tiếng Đức cổ, phù hợp với từ Latin habito. Với tư cách con người Dasein không phải là một tâm trí tách rời, khách quan, mà là cư trú hoặc sinh sống trong một thế giới quen thuộc, có ý nghĩa. ‘Một phương thức sở hữu sâu sắc’: Khi truy tìm nguồn gốc của habito, Heidegger kết nối nó với động từ Latinh colo trồng trọt, chăm sóc hoặc trân trọng. Cư trú là một phương thức đặc biệt, sâu sắc ‘để có được’ một thứ gì đó. Nó vượt xa sự sở hữu đơn thuần, mang ý nghĩa có một thứ gì đó thân thiết đến mức tôi thuộc về nó, chăm sóc nó và quen thuộc với nó. Cư ngụ như là bản chất của Hữu thể: Trong bài luận Xây dựng, Cư ngụ, Tư duy, Heidegger cho rằng tiếng Đức bauenbuan ‘xây dựng’ ban đầu có nghĩa là ‘cư ngụ’. Wohnen Cư ngụ - hành động cốt lõi được chỉ ra từ habito - là đặc tính thiết yếu của tồn tại người. Con người tồn tại trong thế giới bằng cách tích cực chăm sóc, bảo tồn và cư ngụ trong chân lý của Hữu thể. -HHN]

[Chen ngang: diligo tiếng Latin có nghĩa là coi trọng, kính trọng hoặc yêu quý, biểu thị một hình thức yêu thương có chủ đích và suy nghĩ thấu đáo. Đối với Martin Heidegger, nguồn gốc của thuật ngữ này liên quan trực tiếp đến khái niệm hiện tượng học về Sorge chăm sóc của ông, cấu trúc nên cách thức tồn tại của Dasein con người liên hệ một cách cơ bản với thế giới và các hiện hữu khác. Về mặt từ nguyên, diligo xuất phát từ tiền tố dis- có nghĩa là ‘tách biệt’ hoặc ‘hoàn toàn’, còn lego có nghĩa là ‘chọn’ hoặc ‘tập hợp’; để yêu thương hoặc chăm sóc ‘siêng năng’ một thứ gì đó có nghĩa là lựa chọn, tách biệt và tập hợp nó một cách cẩn thận từ giữa những sự vật bình thường. Heidegger thường liên kết diligo với động từ colo trồng trọt, sinh sống hoặc cư ngự. Đối với ông, loại tình yêu này không phải là một cảm xúc trừu tượng hay lãng mạn, mà là một sự gắn kết tích cực, Besorgen quan tâm tới thế giới. Ý nghĩa bên trong ‘Sự quan tâm’ của Dasein được Heidegger cho là trạng thái cơ bản của con người. Điều này có nghĩa là thế giới không bao giờ chỉ là một tập hợp các vật thể vô tri, vô hồn đối với chúng ta. Thay vào đó, nhờ khả tính diligo - trân trọng, thu thập và quan tâm - của chúng ta, những thứ xung quanh chúng ta trở nên có ý nghĩa to lớn. Heidegger sử dụng khung khái niệm này để minh họa một số điểm: i) Trạng thái chú tâm đến Hữu thể: Quan tâm (Sorge / colo / diligo) đòi hỏi chúng ta phải ‘để cho các hiện hữu tồn tại’ - chúng ta nhận ra, trân trọng và dành không gian cho các hiện hữu và con người tồn tại trong chân lý của riêng chúng/họ thay vì chỉ coi chúng/họ như những công cụ để chúng ta tiêu thụ. Sự trân trọng có chủ đích hơn là đam mê: Trong khi từ Latin amare đại diện cho một tình yêu bản năng hoặc đam mê hơn, thì diligo ngụ ý một sự lựa chọn dựa trên sự trân trọng. Heidegger diễn giải điều này theo quan điểm bản thể luận: sự tồn tại đích thực bao gồm việc chủ động ‘lựa chọn’ và ‘thu thập’ những gì quan trọng đối với chúng ta từ những ồn ào của đời sống thường nhật.

Đối với Heidegger, Besinnung quan tâm có chủ đích thay vì đam mê tượng trưng cho sự chuyển dịch từ sự nắm bắt mù quáng, cảm tính về sự vĩ đại cá nhân, sang sự buông bỏ tĩnh lặng, suy tư đối với ‘ý nghĩa của Hữu thể’. Sự chuyển đổi từ đam mê hiện sinh mãnh liệt sang sự quan tâm suy tư này đề cập đến một số phân biệt triết học quan trọng: i). Từ Leidenschaft Đam mê đến Besinnung ‘Quan tâm’ Heidegger thường miêu tả sự tồn tại đích thực như một sự kiên quyết đầy đam mê, anh hùng và gần như điên cuồng khi đối mặt với cái chết. Tuy nhiên, trong triết học sau này của mình, ông đã chỉ trích cách tiếp cận trước đó là quá mạnh mẽ, cố chấp và tập trung vào ‘chủ thể’ cá nhân. Ông đã thay thế đam mê anh hùng bằng Besinnung với các ý nghĩa khác nhau là sự cân nhắc, suy niệm hoặc quan tâm suy tư. Thay vì áp đặt ý chí của mình lên thế giới, sự quan tâm có chủ đích bao gồm: Gelassenheit Để mọi thứ diễn ra tự nhiên. Một sự chú ý tĩnh lặng, tỉnh táo đối với sự phát triển lịch sử của chân lý; ii) Hiểm họa của ‘Ý chí quyền lực’: Heidegger coi đam mê không kiềm chế là bản chất mang tính phóng chiếu, chủ động và đòi hỏi. Ông liên hệ điều này với tư duy công nghệ hiện đại cố gắng thống trị, kiểm soát và khai thác ý nghĩa từ thiên nhiên và con người. Ngược lại, ‘quan tâm có chủ đích’ mang tính thụ động ở mức cao nhất. Nó đòi hỏi phải lùi lại khỏi ham muốn chinh phục hoặc thao túng, cho phép thực tại tự bộc lộ theo cách riêng của nó mà không ép buộc nó vào các khuôn khổ khái niệm do con người tạo ra; iii) Vượt qua tính vị kỷ: Những nỗ lực đầy đam mê thường mang tính vị kỷ—chúng xoay quanh việc ‘làm chủ’ cuộc sống của mình, đạt được tính chân thực cá nhân và tránh sự tầm thường phù hợp với Das Man Chúng/Họ. Mối quan tâm có chủ đích thì thực tế hơn, nó mở rộng tầm nhìn từ những thành tựu cá nhân sang việc nhận ra mình thuộc về vận mệnh lịch sử rộng lớn hơn của Hữu thể nói chung.-HHN]

Cái Hữu thể mà theo nghĩa này Hữu-thể-trong thuộc về, lại chính là cái Hữu thể mà chúng ta đã mô tả - thứ Hữu thể trong mỗi trường hợp là chính bản thân tôi. Biểu đạt ‘bin’ ‘là’ được kết nối với ‘bei’ ‘bởi’, và do đó ‘ich bin’ [‘Tôi là’] lần lượt có nghĩa là ‘Tôi cư trú’ hoặc ‘ở bên cạnh’ thế giới, như là cái mà tôi quen thuộc theo cách này hay cách khác.6 Hữu thể [Sein], như là nguyên thể của ‘ich bin’ (tức là, khi được hiểu là một existentiale đặc điểm hiện sinh mang tính bản thể luận), có nghĩa là ‘cùng tồn tại với...’, ‘quen thuộc với...’. Do đó ‘Hữu-thể-trong’ là biểu hiện hiện sinh hình thức cho Hữu thể của Dasein, vốn có Hữu-thể-trong-thế-giới như trạng thái cốt yếu của nó. Trong khi đó,Hữu-thể-cùng’ thế giới theo nghĩa được hòa mình vào thế giới7 [tr.81] (một nghĩa cần được diễn giải kỹ lưỡng hơn nữa) là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người được xây dựng trên Hữu-thể-trong. Trong các phân tích này, vấn đề là nhìn thấy một cấu trúc nguyên thủy của Hữu thể của Dasein - một cấu trúc mà theo nội dung hiện tượng của nó, các khái niệm về Hữu thể phải được Diễn giải; vì điều này, và vì cấu trúc này về nguyên tắc là một cấu trúc không thể nắm bắt được bằng các phạm trù bản thể luận truyền thống, nên ‘hiện-hữu-cùng' này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn nữa. Chúng ta sẽ lại chọn phương pháp đối chiếu nó với một mối quan hệ của Hữu thể vốn khác biệt về bản chất về mặt bản thể học - tức là mang tính phạm trù - nhưng chúng ta diễn đạt bằng cùng một phương tiện ngôn ngữ. Những khác biệt bản thể luận cơ bản dễ dàng bị xóa bỏ; và nếu chúng được hình dung theo hiện tượng học theo cách này, thì điều đó phải được thực hiện một cách rõ ràng, ngay cả khi có nguy cơ thảo luận về điều ‘hiển nhiên’. Tuy nhiên, thực trạng của phân tích bản thể luận lại cho thấy chúng ta còn rất xa mới có thể diễn giải những vấn đề hiển nhiên này một cách đầy đủ, huống chi là xem xét đến ý nghĩa của Hữu thể của chúng; và chúng ta càng xa hơn nữa trong việc sở hữu một thuật ngữ ổn định cho các khái niệm cấu trúc thích hợp.

Với tư cách existentiale là một đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người; đó là những cấu trúc phổ quát, tiên nghiệm tạo nên cuộc sống con người và định hình cách chúng ta trải nghiệm thế giới, chẳng hạn như sự hữu hạn, sự hiểu biết và tâm trạng thực thể hiện sinh, ‘Hiện hữu bên cạnh’ thế giới không bao giờ có nghĩa giống như Sự tồn tại hiện hữu cùng nhau của các Sự vật xảy ra. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Sein-bei - Being alongside ‘Hiện hữu bên cạnh’ mô tả cách thức cơ bản, thực tiễn mà Dasein con người liên hệ với thế giới và các vật thể trong đó. Điều đó có nghĩa là chúng ta không trải nghiệm thế giới như những nhà khoa học quan sát tách rời, mà là những người nhập thân, gắn bó mật thiết với các công cụ, địa điểm và nhiệm vụ. Khái niệm Sein-bei cốt lõi - Ông sử dụng giới từ ‘bei’ trong tiếng Đức có nghĩa là ‘ở cạnh’, thay vì quan điểm truyền thống của Descartes về chủ thể ‘ở trong’ một cái hộp. Nó biểu thị sự cư ngụ, liên kết hoặc bận rộn với một điều gì đó. Ở bên cạnh có nghĩa là mối liên hệ chính của chúng ta với mọi thứ không phải là tri ​​thức lý thuyết, mà là sự dấn thân thực tiễn. Ví dụ kinh điển về cái búa của Heidegger: khi tôi sử dụng một cái búa, tôi không chỉ quan sát cán gỗ và đầu búa kim loại; tôi đang ‘ở bên cạnh’ cái búa như một công cụ sẵn có cho một dự án cụ thể. Điều đó liên quan đến tính thường nhật - tôi ‘đã ở bên cạnh’ thế giới - hàm ý một trạng thái được ở nhà, thoải mái và định hướng trong môi trường của chính tôi/chúng ta. Về sự khác biệt giữa vật thể và con người - Heidegger đưa ra một sự phân biệt quan trọng dựa trên những gì tôi ‘ở bên cạnh’ để cho thấy sự quan tâm của chúng ta thay đổi như thế nào tùy thuộc vào hiện hữu - Sein-bei Ở bên cạnh các vật thể  đề cập đến sự tham gia thực tiễn của chúng ta với thiết bị, công cụ và môi trường vật chất, được Heidegger mô tả là Besorgen quan tâm. Trong khi đó Mitsein-Ở cùng kẻ  khác - khi liên hệ với những kẻ khác, Heidegger sử dụng thuật ngữ Mitsein Ở cùng. Thay vì vận hành các vật thể, chúng ta tương tác với các chủ thể, và mối quan hệ này được đặc trưng bởi Fürsorge mối bận tâm/chăm lo kẻ khác. Điều này quan trọng vì khái niệm này bác bỏ ý tưởng truyền thống của Descartes về con người như những tâm trí cô lập quan sát một vũ trụ bên ngoài, vô tri vô giác. Đối với Heidegger Sein-bei Ở bên cạnh là một cấu trúc nền tảng của Dasein. Bản ngã không phải là một thực thể riêng biệt; thay vào đó, con người chúng ta được định hình và phản ánh bởi những gì chúng ta ở bên cạnh và tham gia trong thế giới.-HHN].

Điều đó cho thấy không có cái gọi là trạng thái Beisammensein/Side-by-side-ness ‘song tồn’ [Chen ngang nữa: Trong triết học của Martin Heidegger, Song tồn-Bei-einander-sein - mô tả một mối quan hệ thờ ơ, thuần túy không gian, hoặc khách quan giữa các hiện hữu. Heidegger sử dụng thuật ngữ này để bác bỏ quan điểm tiêu chuẩn Descartes về tồn tại người. Theo ông Dasein con người và môi trường xung quanh nó - Thế giới - không chỉ đơn giản là hai thứ riêng biệt nằm cạnh nhau như những vật thể. Đối với Heidegger, khái niệm này hoạt động theo hai cách cụ thể: i) Bác bỏ khách thể hóa - Ông khẳng định không có cái gọi là sự kề bên của một hiện hữu được gọi là ‘Dasein’ với một hiện hữu khác được gọi là ‘Thế giới’. Thay vào đó, cách tồn tại chính yếu của chúng ta là In-der-Welt-sein hoàn toàn đắm chìm và quen thuộc vào thế giới, chứ không phải đứng ngoài cuộc như một kẻ quan sát thụ động. Vì vậy mới có cái gọi là Critiquing Conformity: Phê phán sự tuân thủ: Khi thảo luận về sự tồn tại xã hội hàng ngày, Heidegger sử dụng thuật ngữ này để phê phán không gian công cộng giả tạo, giống như bầy đàn. Ông khẳng định rằng việc cùng tồn tại hàng ngày ‘không hề là sự đứng cạnh nhau một cách thờ ơ’, mà là sự giám sát lẫn nhau căng thẳng, cảnh giác và tham gia sâu sắc. Quan điểm ‘Phê phán sự tuân thủ’ của Martin Heidegger bắt nguồn từ phân tích của ông về Das Man Cái Chúng/Họ. Ông cho rằng sự tồn tại hàng ngày của con người bị ảnh hưởng bởi sự giả tạo tuân thủ, nơi các cá nhân từ bỏ quyền tự chủ của mình cho các chuẩn mực xã hội và dư luận. Cốt lõi của sự phê phán: Das Man. Heidegger lập luận rằng Das Man quyết định những gì chúng ta mặc, cách chúng ta das Gerede chuyện phiếm, những gì chúng ta đọc và cách chúng ta đánh giá thế giới. Chúng ta tuân theo những quy tắc bất thành văn này để tránh nổi bật và tìm kiếm sự thoải mái trong sự tuân thủ của công chúng - Das Man tước bỏ tính cá nhân, nó làm lu mờ tất cả những khả tính chân thực và những góc nhìn độc đáo, biến chúng thành một sự tầm thường nhạt nhẽo và đồng nhất. Bằng tuân thủ, các cá nhân đánh mất liên hệ với tiềm năng tồn tại của chính mình và chấp nhận một cuộc sống không chân thực, nơi ‘Chúng/Họ’ đưa ra quyết định thay cho mình. Heidegger cho rằng cách duy nhất để thoát khỏi cái bẫy tuân thủ này là thông qua Eigentlichkeit Tính chân thực - bao gồm việc nhận ra sự hữu hạn của chính mình và đón nhận một lối sống cá nhân hóa, mà Heidegger gọi là Entschlossenheit Tính kiên quyết. Bằng cách đối mặt với thực tại của cái chết, một cá nhân bị tách rời khỏi đám đông theo khuôn mẫu và buộc phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn của chính mình.-HHN] của một hiện hữu được gọi là ‘Dasein’ với một hiện hữu khác được gọi là ‘thế giới’.

Tất nhiên, khi hai sự vật hiện hữu cùng nhau bên cạnh nhau,8 chúng ta thường diễn đạt điều này đôi khi bằng những câu như “Cái bàn đặt ‘bên cạnh’ cửa” hoặc “Cái ghế ‘chạm’ vào tường”. Xét một cách nghiêm ngặt, ‘chạm’ không bao giờ là điều chúng ta đang nói đến trong những trường hợp như vậy, không phải vì việc tái xem xét chính xác suy cho cùng sẽ luôn xác định được rằng có một khoảng trống giữa ghế và tường, mà vì về nguyên tắc, ghế không bao giờ có thể chạm vào tường, ngay cả khi khoảng trống giữa chúng bằng không. Nếu ghế có thể chạm vào tường, điều này sẽ giả định rằng tường là loại vật thể ‘cho’ cái mà một chiếc ghế có thể chạm được.9 Một  Hữu-thể-kiểu present-at-hand tĩnh tại vô tri trong thế giới chỉ có thể được chạm bởi một hiện hữu khác nếu về bản chất, hiện hữu khác kia có Hữu-thể-trong như là loại Hữu thể của chính nó - chỉ khi, với Hiện-hữu ở đó/Có đó/Da-sein của nó, một cái gì đó giống như thế giới đã được tiết lộ cho nó, để từ bên ngoài thế giới đó, một hiện hữu khác có thể tự thân biểu hiện bằng cách chạm vào, và do đó trở nên có thể tiếp cận được trong Hữu-thể-hiện-diện-vô tri của nó. Khi hai Hữu-thể-hiện-diện-vô tri trong thế giới, và hơn nữa trong tự thân chúng lại ‘vô thế giới’, thì chúng không bao giờ có thể ‘chạm’ vào nhau, [tr.82] cũng như không Hữu thể nào ‘ở’ ‘bên cạnh’ Hữu thể kia được.

Cái mệnh đề ‘hơn nữa lại vô thế giới’ không được bỏ qua; bởi vì ngay cả những hiện hữu không ‘vô thế giới’ - ví dụ như chính Dasein - cũng hiện diện ‘trong’ thế giới, hay nói chính xác hơn, trong một số trường hợp và trong những giới hạn nhất định, có thể được coi đơn thuần là vô tri hiện diện. Để làm được điều này, người ta phải hoàn toàn bỏ qua hoặc đơn giản là không nhìn thấy trạng thái hiện sinh của Hữu-thể-trong như là đặc điểm cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của Dasein con người. Nhưng thực tế thì ‘Dasein’ có thể được coi là thứ hiện diện vô tri và chỉ đơn thuần là hiện diện, không nên bị nhầm lẫn với một kiểu ‘hiện diện’ nhất định vốn là của chính Dasein. Kiểu hiện diện này trở nên dễ tiếp cận không phải bằng cách bỏ qua các cấu trúc đặc thù của Dasein mà chỉ bằng cách hiểu chúng trước. Dasein hiểu cái Hữu thể tối cao của chính nó theo nghĩa của một ‘Hiện-hữu-hiện-diện-vô-tri thực tính’ nhất định.ii Tuy nhiên, cái ‘thực tính’ của Tatsache sự thật của riêng Dasein về bản chất lại khác biệt về mặt bản thể luận so với sự xuất hiện thực tính của một loại khoáng chất nào đó, chẳng hạn. Bất cứ khi nào Dasein hiện hữu, thì nó đều hiện hữu như một Sự thật; và thực tính của Sự thật đó là điều mà chúng ta sẽ gọi là ‘thực tính’ của Dasein.10 Đây là một cách xác định Hữu-thể Seinsbestimmtheit, [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Hữu thể không phải là một hiện hữu khách quan. Nó không thể được ‘xác định’ như một khách thể, được định nghĩa, hoặc được quy giản về một khái niệm cao hơn. Thay vào đó, tính xác định của Hữu thể tự bộc lộ với tư cách là ý nghĩa của Hữu thể, được Dasein con người tiếp cận và thấu hiểu trong dòng thời gian và trong sự tương tác hàng ngày của họ với thế giới. Các khía cạnh trung tâm của Seinsbestimmtheit tính xác định của Hữu thể là: i) Tính không thể định nghĩa – Hữu thể không được coi là một ‘sự vật tồn tại’; do đó, logic và định nghĩa truyền thống (xác định loại) không áp dụng ở đây; ii) Thời tính - Dòng thời gian với tư cách một chân trời - Heidegger cho rằng ý nghĩa của Hữu thể gắn liền mật thiết với thời gian (Thời tính/Dòng thời gian). Thời gian là chân trời mà từ đó chúng ta có thể hiểu được ‘Hữu thể’ có nghĩa là gì; iii) Vai trò của Dasein con người chiếm một vị trí đặc quyền, nó được đặc trưng bởi thực tế là chính hiện hữu của nó liên quan đến tự thân hiện hữu ấy.-HHN] và nó có một cấu trúc phức tạp thậm chí không thể nắm bắt được như một vấn đề cho đến khi các trạng thái hiện sinh cơ bản của Dasein được làm rõ. Khái niệm ‘thực tính’ ngụ ý một hiện hữu ‘trong-thế-giới’ có Hữu-thể-trong-thế-giới giúp nó có thể hiểu chính mình gắn liền ‘số phận’ của nó với Hữu thể của các hiện hữu mà nó chạm trán trong thế giới của riêng nó.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tübingen

Notes

1 'Zum existierenden Dasein gehiirt die Jemeinigkeit als Bedingung der Miiglichkeit von Eigentlichkeit und Uneigentlichkeit. Dasein existiert je in einem dieser Modi, bzw. in der modalen lndifferenz ihrer.' [p.78]

2 Here we follow the older editions in reading, 'Ausweisung'. The newer editions have 'Aufweisung' ('exhibition'). [p.79]

3 ‘….Verfassung des Daseins….’ The earliest editions read 'Wesens' instead 'Daseins'. Correction is made in a list oferrata. [p.79]

4. Đọc 'innan-wohnen'. Như Heidegger đã chỉ ra trong chú thích của mình, đoạn văn khó hiểu này có nguồn gốc từ Kleinere Schrijten của Grimm, Tập VII, trang 247 trở đi, nơi chúng ta tìm thấy hai bài viết ngắn, bài đầu tiên có tiêu đề 'IN' và bài thứ hai là 'IN UND BEl'. Bài viết đầu tiên bắt đầu bằng cách so sánh một số từ tiếng Đức cổ có nghĩa là 'domus' (nhà), tất cả đều có hình thức tương tự như từ 'inn' trong tiếng Anh của chúng ta, mà Grimm đã đề cập. Ông tiếp tục đưa ra giả thuyết về 'một động từ mạnh "innan", hẳn có nghĩa là "habitare" (nơi ở), "domi esse" (nhà), hoặc "recipere in domum" (mặc dù thực tế chỉ tìm thấy một dạng phái sinh yếu là 'innian'), với một thì quá khứ mạnh còn tồn tại được viết là 'an' hoặc 'ann'. Grimm tiếp tục lập luận rằng giới từ 'in' được bắt nguồn từ động từ, chứ không phải động từ được bắt nguồn từ giới từ. [trang 80]

5 ‘…. 'an' bedeutet: ich bin gewohnt, vertraut mit, ich pflege etwas….' Trong bài viết thứ hai của Grimm, ông nói thêm:'cũng có một từ "ann" dị thường với số nhiều "unnum", thể hiện "amo", "diligo", ''faveo", và "gonnen" và "Gunst" của chúng ta có liên quan ngay lập tức, như đã được công nhận từ lâu. "Ann" thực sự có nghĩa là "ich bin eingewohnt", "pflege zu bauen"; sự chuyển đổi khái niệm này có thể được thể hiện bằng độ phức tạp tối thiểu trong tiếng Latin "colo", viết tắt của "habito" cũng như "diligo".' Không hoàn toàn rõ ràng liệu cuộc thảo luận của Heidegger về 'an' nhằm mục đích làm sáng tỏ giới từ 'an' (tương ứng trong một số cách sử dụng với giới từ 'at' trong tiếng Anh, và ông vừa sử dụng giới từ này khi nhận xét rằng nước và cốc đều ở một vị trí), hay đúng hơn là để giải thích thì quá khứ của 'an' trong 'innan'. Người đọc nên lưu ý rằng trong khi động từ 'wohnen' thường có nghĩa là 'cư trú' hoặc 'ở', thì cụm từ 'ich bin gewohnt' có nghĩa là 'tôi đã quen với', và 'ich bin eingewohnt' có nghĩa là 'tôi đã quen với nơi tôi cư trú - với môi trường xung quanh tôi'. Tương tự, 'ich pf!ege etwas' có thể có nghĩa là 'tôi đã quen làm điều gì đó' hoặc 'tôi chăm sóc điều gì đó' hoặc 'tôi cống hiến hết mình cho nó'. (Cụm từ 'pf!ege zu bauen' của Grimm có lẽ có nghĩa là 'tôi đã quen đặt niềm tin vào điều gì đó', 'tôi có thể xây dựng dựa trên nó'.) Từ Latinh 'colo' có nghĩa tương tự như 'Tôi chăm sóc một thứ gì đó' hoặc 'yêu quý' nó ('diligo') và 'Tôi sống' hoặc 'Tôi ở' ('habito'). [tr.80]

6'…. ich wohne, Halte mich auf bei…. der Welt, als dem so und so Vertrauten.' Giới từ 'bei', giống như 'an', không có phạm vi ngữ nghĩa rộng như bất kỳ giới từ tiếng Anh nào. Từ 'alongside' của chúng ta, mà chúng ta sẽ dịch khi các cách dịch khác có vẻ kém thỏa đáng hơn, đặc biệt là trong cụm từ 'Being alongside' ('Sein bei'), thường khá gây hiểu nhầm; nghĩa ở đây gần với nghĩa của 'at' trong các biểu thức như 'at home' hoặc 'at my father's', hoặc nghĩa của từ 'che;r.' trong tiếng Pháp. Ở đây, Heidegger dường như lại dựa vào Grimm, người tiếp tục (loc. cit.) kết nối 'bei' với 'bauen' ('build') và 'bin'. [trang 80]

7 ‘….in dem…Sinne des Aufgehens in der Welt…'' 'Aufgehen' nghĩa đen là 'đi lên', hoặc 'nổi lên' theo nghĩa mặt trời 'mọc' hoặc bột 'nở'. Nhưng khi theo sau bởi giới từ 'in', nó mang những nghĩa khác. Vì vậy 5 'geht auf' thành go theo nghĩa là nó 'đi vào' mà không có phần còn lại; một quốc gia 'đi vào' một quốc gia khác mà nó bị sáp nhập hoặc hấp thụ; một người 'đi vào' bất cứ điều gì mà người đó cống hiến hết mình, cho dù đó là một hoạt động hay một người khác. Chúng ta thường sẽ dịch 'aufgehen' bằng một dạng nào đó của 'hấp thụ'. [trang 81]

8 ‘Das Beisammen zweier Vorhandener….’ [p.81]

9 ‘Voraussetzung dafür wäre, dass die Wand ‘für’ den Stuhl begegnen könnte.' (Cf. also H. 97 below.) [p.81]

10 'Die Tatsächlichkeit des Faktums Dasein, als welches jeweilig jedes Dasein ist, nennen wir seine Faktizität.' Theo quy định, chúng tôi sẽ dịch 'Tatsachlichkeit' là 'tính thực tế' và 'Faktizität' là 'tính thực tế', tuân theo các quy ước của chúng tôi về 'tatsachlich' và 'faktisch'. (Xem ghi chú 2, trang 2 7, H. 7 ở trên.) Đoạn văn hiện tại gợi ý sự phân biệt có thể so sánh được giữa các danh từ 'Tatsache' và 'Faktum'; vì vậy, trong khi chúng tôi tìm thấy nhiều đoạn văn mà những từ này dường như được sử dụng thay thế cho nhau, chúng tôi dịch 'Faktum' là 'Sự thật' với chữ viết hoa đầu tiên, sử dụng 'sự thật' cho 'Tatsache' và nhiều cách diễn đạt khác. Về ‘xác thực tính’ factuality và ‘thực tính’ facticity cũng xem H. 1 35 dưới đây. [tr.82]