Powered By Blogger

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Vượt qua các Ranh giới Tường giải: Một lời bạt

Alan Sokal

Người dịch: Hà Hữu Nga

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Bài viết này được gửi đến để công bố ở tờ Social Text, nhưng không may đã bị tờ báo từ chối. Sau đó nó được công bố trên tờ Dissent 43 (4), trang 93-99 (Thu 1996) và, có khác đôi chút khi được công bố trên tờ Philosophy and Literature 20(2), tr. 338-346 (Tháng 10, 1996).

Không phải tôi viết bài này chỉ với mục đích đính chính về sự hiểu lầm cách diễn giải trong bài của tôi đăng trên tờ Social Text. Đích ngắm rộng lớn hơn của tôi chính là những người đồng thời, mà những người này bằng các hành động thực hiện ước muốn lặp đi lặp lại, đã tái dụng các kết luận của triết học khoa học, và với sự trợ lực của hàng loạt nguyên do chính trị xã hội, cho những gì mà các kết luận này khó mà thích ứng được. Các nhà nữ quyền luận, các nhà tông phái pháp tôn giáo (bao gồm cả “các khoa học gia sáng tạo”), các nhà phản văn hóa luận, các nhà tân bảo thủ, và một đám đông các bạn đồng hành tò mò khác đã yêu sách quyết tìm cho bằng đủ số thóc để đổ đầy bồ nhà mình, đó là cái món thóc tri thức chẳng hạn như tính vô ước và sự kém xác định của các lý thuyết khoa học đã được công khai thừa nhận. Sự thay thế ý tưởng cho rằng các sự kiện và bằng chứng thì có ý nghĩa to lớn, bằng ý tưởng cho rằng mọi thứ đều rút lại thành các lợi ích và viễn cảnh chủ thể tính chính là – trong đó ý tưởng thứ hai chỉ quy vào các chiến dịch chính trị Mỹ -  hiện thân độc hại nhất và lồ lộ nhất của thứ chủ nghĩa phản tri thức trong thời đại chúng ta. Science and Relativism [Larry Laudan 1990, p. X]. Les grandes personnes sont décidément bien bizarres, se dit le petit prince. Những kẻ lớn chắc chắn là rất kỳ cục, ông Hoàng bé nói - Antoine de Saint Exupéry, Le Petit Prince.

Ái chà, các nhà biên tập của tờ Social Text đã phát hiện ra rằng bài viết Vượt qua các gianh giới: Hướng tới một Chuyển đổi Tường giải về Lý thuyết Hấp dẫn Lượng tử của tôi đã xuất hiện trên tờ Social Text #46/47, là một trò chế nhạo. Bằng cái nhìn về những vấn đề chính trị và tri thức quan trọng xuất hiện trong tình tiết này, họ đã hào phóng chấp thuận công bố Lời bạt (không chế nhạo) này, trong đó tôi giải thích các động cơ và quan điểm thực sự của tôi 1. Một trong những mục đích của tôi là muốn có một đóng góp nhỏ cho cuộc đối thoại về Cánh tả giữa các nhà nhân văn và các nhà khoa học tự nhiên – “hai văn hóa”, trái ngược với một số tuyên bố lạc quan (hầu hết là của nhóm nhân văn), có lẽ là tách biệt xa hơn về mặt tinh thần với bất cứ thời gian nào trong vòng 50 năm qua.

Giống hệt như cái thể loại nhằm chế nhạo, vô số ví dụ tương tự của chúng có thể được tìm thấy trong danh mục tham khảo của tôi – bài viết của tôi là một mélange [pha trộn] giữa những cái thật, nửa thật, một phần tư thật, những cái giả, non sequiturs [những thứ phi logic], và những câu đúng về mặt cú pháp, nhưng lại không hề có bất cứ một ý nghĩa gì. (Đáng buồn là lại chỉ có một nhúm câu như vậy: tôi đã cố tạo ra chúng, nhưng tôi lại thấy rằng mình đã giành dụm cho sự bùng nổ hiếm hoi của cảm hứng, tôi chỉ không dùng mánh lới mà thôi. Tôi cũng khai thác một vài chiến lược khác được suy nghĩ kỹ càng (mặc dù đôi khi không cố ý) thuộc loại: thể hiện quyền uy trong môi trường logic; những lý thuyết tư biện đã biến mất với tư cách là một khoa học đã thành; những ngoại suy khiên cưỡng, và thậm chí ngớ ngẩn; phép tu từ có vẻ thiện chí nhưng ý nghĩa của nó lại mù mờ; và sự lẫn lộn giữa những ý nghĩa kỹ thuật và lời ngụ ý thường ngày của các từ tiếng Anh 2. Xin lưu ý, toàn bộ các công trình được trích dẫn trong bài viết của tôi đều là thật, và toàn bộ các đoạn dẫn đều tuyệt đối chính xác; không có gì được bịa ra hết).

Nhưng tại sao tôi lại làm như vậy? Tôi thú nhận rằng tôi là một Cựu Cánh tả đùa dai, hoàn toàn không hiểu làm thế nào mà giải cấu trúc lại được cho là trợ giúp cho giai cấp lao động. Và tôi là một nhà khoa học cổ lỗ ù lì, tin tưởng một cách ngây thơ rằng có tồn tại một thế giới ngoại tại, có tồn tại những chân lý khách quan về cái thế giới đó, và công việc của tôi là phát hiện ra một chân lý nào đó trong số chúng. (Nếu khoa học chỉ là một cuộc thương lượng của các qui ước xã hội về cái mà người ta thỏa thuận với nhau là “chân lý” thì tại sao tôi lại phải dâng hiến một phần lớn cuộc đời quá ngắn ngủi của tôi cho nó?). Tôi không mong ước trở thành Emily Post của lý thuyết trường lượng tử 3.

Nhưng mối bận tâm chính yếu của tôi lại không phải là bảo vệ khoa học khỏi bầy man rợ lit crit [không thấy Sokal ghi chú, nhưng chắc là nhại kiểu viết hậu hiện đại êình ănọc phê bình văn học - ND*] (chúng ta sẽ qua khỏi thôi, cám ơn). Hơn nữa, mối bận tâm của tôi, nói một cách rõ ràng là chính trị: chiến đấu chống lại một diễn ngôn kết cấu luận – xã hội/hậu cấu trúc luận/hậu hiện đại luận hiện đang thời thượng – và nói chung là chiến đấu chống lại thiên hướng chủ thể luận – thứ mà tôi tin là thù địch với các giá trị và tương lai của Cánh tả 4. Alan Ryan đã nói rất đúng về điều đó:

Việc các nhóm thiểu số được dàn trận để đi theo Michel Foucault và bỏ Jacques Derrida ở lại một mình, chẳng khác nào như muốn tự sát vậy. Quan điểm thiểu số luôn luôn cho rằng chân lý có thể làm sói mòn quyền lực…Một khi bạn đã đọc thấy Foucault nói rằng chân lý đơn giản là hiệu ứng của quyền lực thì chính bạn đã có nó rồi…Nhưng các khoa văn học, lịch sử và xã hội học Mỹ chứa một số lớn những người cánh tả tự nhận, những người luôn bối rối vì những nghi ngờ về tính khách quan đối với chủ nghĩa cấp tiến chính trị và luôn ở trong tình trạng hỗn độn 5. Cũng như Eric Hobsbawm đã chỉ trích sự nổi lên của các mốt thời thượng trí thức “hậu hiện đại” ở các đại học phương Tây, đặc biệt là ở các khoa văn và nhân học, là thứ ám chỉ rằng toàn bộ các “sự kiện” xác quyết sự tồn tại khách quan đều chỉ đơn giản là những kết cấu tri thức. Nói tóm lại đó là việc không phân biệt rõ ràng giữa sự thật và tưởng tượng. Nhưng đối với các sử gia, thậm chí đối với cả những người phản thực chứng luận hiếu chiến nhất trong chúng ta thì cái khả năng phân biệt giữa hai tính chất đó vẫn tuyệt đối mang tính nguyên tắc cơ bản 6. (Hobsbawm tiếp tục chỉ rõ công trình lịch sử có thể bác bẻ một cách nghiêm túc đến mức nào những tưởng tượng do các nhà dân tộc chủ nghĩa phản động ở Ân Độ, Israel, những người Balkans và các nơi khác nữa) đề xuất. Và cuối cùng Stanislav Andreski nói: Chừng nào quyền uy còn gợi lên sự kinh hãi, sự lẫn lộn, thì sự ngớ ngẩn còn làm tăng cường khuynh hướng bảo thủ trong xã hội. Trước hết, vì tư duy rõ ràng và logic dẫn tới sự tích lũy tri thức (sự tiến bộ của khoa học tự nhiên cho ta những ví dụ minh bạch nhất) và sự tiến bộ của tri thức sớm hay muộn thì cũng làm sói mòn trật tự truyền thống. Mặt khác, tư duy lộn xộn không dẫn người ta đến đâu cả đặc biệt là cuối cùng có thể tự vuốt ve mình mà không tạo ra được bất cứ một ảnh hưởng nào đối với thế giới cả 7. 

Với tư cách là một ví dụ về “tư duy lộn xộn”, tôi muốn coi một chương của Harding (1991) có tựa đề “Tại sao vật lý lại là một mô hình tồi đối với vật lý”. Tôi chọn ví dụ này vừa vì uy tín của Harding trong các lĩnh vực nhất định (nhưng lại không một chút nào) là nữ quyền, và vì tiểu luận của bà (không hề tương tự với loại này) được viết rất rõ ràng. Harding muốn trả lời câu hỏi “Có phải các tư tưởng phê phán nữ quyền phương Tây phù hợp với khoa học tự nhiên?”. Bà đã làm như vậy bằng cách đưa ra và sau đó bác bỏ 6 “niềm tin giả” về bản chất của khoa học tự nhiên. Một số bác bỏ của bà đã được thực hiện một cách hoàn hảo; nhưng chúng lại không chứng tỏ bất cứ điều gì giống cái mà bà đã yêu cầu chúng phải làm. Đó là vì bà đã đúc năm vấn đề khác biệt nhau thành một khối:

1)  Hữu thể luận. Những khách thể nào tồn tại trong thế giới? Những phán đoán nào về các khách thể này là chân?

2) Tri thức luận. Làm thế nào mà con người có được tri thức về các chân lý về thế giới? Làm thế nào mà họ đánh giá được tính chất đáng tin cậy của tri thức đó?

3) Xã hội học tri thức. Trong một xã hội nhất định, chịu tác động (hoặc quyết định) bởi các nhân tố ý thức hệ, văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội, con người nhận thức được (hoặc có thể nhận thức được) các chân lý đến mức độ nào? Cũng câu hỏi đó được đặt ra cho các phán đoán giả được người ta tin tưởng một cách sai lầm là chân.

4) Đạo đức cá nhân. Nhà khoa học (hoặc kỹ thuật học) phải cam kết thực hiện (hoặc từ chối không thực hiện) những loại nghiên cứu nào?

5) Đạo đức xã hội. Xã hội phải khuyến khích, bảo trợ hoặc cấp kinh phí công khai (hoặc thay vào đó là ngăn chặn, đánh thuế hoặc cấm đoán) những loại nghiên cứu nào? Những câu hỏi này rõ ràng là có liên quan – tức là nếu không có các chân lý khách quan về thế giới thì cũng không có vấn đề gì để đặt câu hỏi người ta có thể biết những chân lý (không tồn tại) đó như thế nào – nhưng chúng là khác biệt về phương diện khái niệm.

Chẳng hạn, Harding (trích từ Forman 1987) đã chỉ ra rằng việc nghiên cứu ở Mỹ trong những năm 1940 về điện tử lượng tử phần lớn đã được kích động bởi những ứng dụng tiềm tàng về quân sự. Đúng là vậy. Giờ đây cơ học lượng tử đã làm cho vật lý chất rắn là có thể, mà đến lượt mình, nó làm cho điện tử lượng tử là có thể (chẳng hạn như bán dẫn), nó làm cho toàn bộ công nghệ hiện đại gần như có thể (chẳng hạn computer) 8. Và computer có những ứng dụng sinh lợi cho xã hội (chẳng hạn như nó cho phép nhà phê bình văn hóa hậu hiện đại tạo ra những bài viết của bà ta một cách hiệu quả hơn) cũng như những ứng dụng có hại (chẳng hạn như cho phép quân đội Mỹ giết người hiệu quả hơn). Điều đó làm nảy sinh một loạt vấn đề đạo đức cá nhân và xã hội: Xã hội phải cấm (hoặc ngăn cản) bất cứ ứng dụng nào của computer? Thực chất là cấm (hoặc ngăn cản) việc nghiên cứu về computer? Cấm (hoặc ngăn cản) nghiên cứu về điện tử lượng tử?  Về vật lý chất rắn? Về cơ học lượng tử? Và tương tự như vậy đối với cá nhân các nhà khoa học và các nhà kỹ thuật học. (Rõ ràng là một câu trả lời khẳng định đối với những câu hỏi đó trở nên khó minh định hơn khi người ta tiếp tục lần theo cái danh mục đó; nhưng tôi không muốn tuyên bố bất cứ điều gì về những vấn đề này một cách tiên thiên không chính đáng). Cũng vẫn, đã xuất hiện những câu hỏi về phương diện xã hội, chẳng hạn: tri thức của chúng ta về khoa học computer, về điện tử lượng tử, về vật lý chất rắn và cơ học lượng tử đã đạt đến mức độ nào? – và sự thiếu hụt tri thức của chúng ta về những chủ đề khoa học khác, chẳng hạn như khí hậu toàn cầu – một kết quả lựa chọn chính sách công thiên về chủ nghĩa quân phiệt đã đến mức độ nào? Các (hoặc bất kỳ) lý thuyết sai lầm về khoa học computer, về điện tử lượng tử, về vật lý chất rắn và về cơ học lượng tử là kết quả (bộ phận hay tổng thể) của các sự kiện hệ tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, và xã hội, đặc biệt là văn hóa về chủ nghĩa quân phiệt đã đến mức độ nào?9

Đây là toàn bộ những vấn đề nghiêm túc xứng đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc bằng cách bám chặt vào các tiêu chuẩn cao nhất của chứng cớ lịch sử và khoa học. Nhưng chúng lại không hề có bất cứ tác động nào đến những câu hỏi khoa học cơ bản: phải chăng các nguyên tử (và các tinh thể silicon, các bán dẫn và computer) thực sự hành xử theo các qui luật của cơ học lượng tử (và vật lý chất rắn, điện tử lượng tử và khoa học computer). Định hướng quân phiệt của khoa học Mỹ hoàn toàn đơn giản là không có bất cứ cái gì liên quan đến vấn đề hữu thể luận, và chỉ có trong một kịch bản hoàn toàn phi lý nó mới có thể có bất cứ một tác động nào đó đến vấn đề tri thức luận. (Chẳng hạn nếu cộng đồng các nhà vật lý chất rắn trên toàn thế giới khi đi theo cái mà họ tin là những tiêu chuẩn truyền thống của chứng cứ khoa học đều vội vàng chấp nhận một lý thuyết sai lầm về hành vi của chất bán dẫn vì nhiệt tình của họ đối với việc đột phá vào công nghệ quân sự là cái mà lý thuyết này sẽ làm cho trở nên có khả năng). Andrew Ross đã rút ra một tương đồng giữa các văn hóa thiên về phân cấp (tri thức cao, tri thức vừa phải, và tri thức phổ thông) quen thuộc với việc phê bình văn hóa, và việc phân ranh giới giữa khoa học và giả khoa học 10. Ở cấp độ xã hội học đây là một quan sát sâu sắc; nhưng ở cấp độ tri thức luận và hữu thể luận thì đó chỉ đơn thuần là điên rồ. Ross dường như đã thừa nhận điều này, vì ông đã trực tiếp nói rằng:

Tôi không muốn khăng khăng lý giải theo nghĩa đen của sự tương đồng này…Việc sử lý một cách thấu đáo sẽ tính đến những khác biệt khả năng, có tính cục bộ giữa vương quốc thị hiếu văn hóa và vương quốc thị hiếu khoa học [!], nhưng cuối cùng nó sẽ họat động dựa trên sự cân bằng giữa xác quyết của nhà kinh nghiệm chủ nghĩa là có tồn tại những niềm tin phụ thuộc-phi ngữ cảnh và cái mà họ có thể xác quyết là chân và là xác quyết của nhà văn hóa học rằng niềm tin chỉ được chấp nhận là chân về phương diện xã hội 11. Nhưng cái bất khả tri tri thức luận ấy chắc chắn sẽ không đủ để đáp ứng, tối thiểu là không phải cho những người khao khát thay đổi xã hội. Việc không thừa nhận rằng những xác quyết tùy thuộc – phi ngữ cảnh có thể là chân, và bạn thực sự không phủ nhận cơ học lượng tử và sinh học phân tử: bạn cũng phủ nhận luôn phòng hơi ngạt của bọn Quốc xã, phủ nhận chế độ nô lệ người da đen ở Mỹ, và phủ nhận luôn một sự thật là chính hôm nay New York đang mưa. Hobsbawm đã đúng: sự thật tạo ra ý nghĩa, và một số sự thật nào đó (giống như hai đoạn trích  đầu tiên ở trên) có một ý nghĩa thật là to lớn.

Ross cũng hoàn toàn đúng khi cho rằng ở cấp độ xã hội học, việc duy trì tuyến ngăn cách giữa khoa học và giả khoa học được dùng – trong nhiều vấn đề khác nữa - để duy trì quyền lực xã hội của những kẻ dù muốn dù không vẫn có phẩm chất khoa học hình thức, dựa vào khoa học. Nó cũng đã được sử dụng để làm tăng hy vọng về một cuộc sống tầm thường ở Mỹ từ 47 đến 76 năm ít hơn một thế kỷ 12). Ross lưu ý rằng:

Vào một thời điểm nào đó, phê bình văn hóa đã phải đối mặt với nhiệm vụ bộc lộ những mối quan tâm thể chế tương tự, được ban tặng đối với các cuộc tranh cãi về giai cấp, giới, chủng tộc, và sự ưu tiên về giới tính là cái chạm đến những cái hố ngăn cách giữa các nền văn hóa có thị hiếu và tôi không nhận thấy bất cứ lý do tối hậu nào để chúng ta từ bỏ cái chủ nghĩa hoài nghi khó nhằn khi chúng ta phải đối mặt với khoa học 13.

Khá đủ: trong thực tế các nhà khoa học là những người đầu tiên khuyến cáo chủ nghĩa hoài nghi đối mặt với những xác quyết chân lý của những người khác (và của riêng mình). Nhưng một thứ chủ nghĩa hoài nghi tự cao tự đại, một thứ bất khả tri nhạt nhẽo (hoặc mù lòa) sẽ không thể đưa bạn đi đến đâu cả. Các nhà phê bình văn hóa như các nhà lịch sử hoặc các nhà khoa học cần một chủ nghĩa hoài nghi có thông tin: một thứ chủ nghĩa có thể đánh giá bằng chứng và logic, và xuất hiện những phán quyết có lý (mặc dù chỉ là thử nghiệm) dựa trên cái bằng chứng và logic đó.

Trong vấn đề này Ross có thể bắt bẻ rằng tôi đang gá lắp trò chơi quyền lực theo thiên hướng của riêng mình: Làm thế nào mà ông ta, một giáo sư nghiên cứu Mỹ cạnh tranh được với tôi, một nhà vật lý, trong một cuộc thảo luận về cơ học lượng tử 14? (Hoặc thậm chí giáo sư về năng lượng hạt nhân – một chủ đề về cái mà tôi không có bất cứ một tí kỹ năng nào). Nhưng sự thật lại là ở chỗ chắc là tôi sẽ không thể thắng được trong trận tranh luận với một nhà sử học chuyên nghiệp về những nguyên do của cuộc Thế chiến I. Tuy nhiên, là một trí thức thế tục với một ít tri thức khiêm tốn về lịch sử, tôi chỉ có thể đánh giá về bằng chứng và logic được các nhà sử học đua nhau đưa ra , và có thể đi tới một loại phán đoán nào đó có lý (dù thử nghiệm). Không có khả năng đó thì làm thế nào mà bất kỳ một người có suy nghĩ nào có thể minh định được là năng động về phương diện chính trị?).

Vấn đề rắc rối là ở chỗ một số ít nhà khoa học trong xã hội chúng ta cảm thấy sự tự tin này khi giải quyết các vấn đề khoa học. Như C.P. Snow đã nhận thấy trong tập bài giảng “Hai văn hóa” nổi tiếng của ông 35 năm trước: Thật may mắn cho tôi được có mặt tại nơi tập trung những con người theo tiêu chuẩn văn hóa truyền thống vẫn được coi là có giáo dục cao và là những con người rất có gu, vẫn đang thể hiện sự ngờ vực của họ đối với sự thất học của các nhà khoa học. Một hoặc hai lần tôi đã gợi lên và đã hỏi bạn bè rằng tại sao nhiều người trong số họ lại có thể mô tả qui luật nhiệt động học thứ hai. Câu trả lời thật lạnh: đó cũng là tiêu cực. Nhưng tôi lại đang hỏi một cái gì đó về cái tương đương với khoa học về việc: Bạn đã đọc bất cứ tác phẩm nào của Shakespeare chưa? Giờ đây tôi tin tưởng rằng nếu tôi đã hỏi một câu hỏi thậm chí đơn giản hơn – chẳng hạn như, bạn muốn nói gì với khối lượng, hoặc gia tốc, là cái tương đương  khoa học khi nói, Bạn có biết đọc không? – không nhiều hơn một trong số mười người có giáo dục cao có lẽ đã có cảm giác rằng tôi đang nói cùng một thứ ngôn ngữ. Vì vậy đại dinh lũy của vật lý hiện đại vẫn mọc lên, và đa số những con người thông minh nhất trong thế giới phương Tây đã có một sự hiểu biết đáng kể về nó chẳng khác nào các tổ tiên thời đại đá mới của họ cũng có 15.

Tôi nghĩ rằng có rất nhiều lời buộc tội đối với tình trạng như vậy trong các vụ việc tùy thuộc vào các nhà khoa học. Việc giảng dạy toán và khoa học thường mang tính độc đoán 16; và đây là một phản đề không phải chỉ đối với các nguyên lý của khoa sư phạm, mà còn cả với chính những nguyên tắc của bản thân khoa học nữa. Xin đừng băn khoăn là hầu hết người Mỹ không thể phân biệt được khoa học và giả khoa học: các giáo viên khoa học của họ chưa bao giờ cung cấp cho họ bất cứ nền tảng duy lý nào để làm như vậy. (Xin hãy hỏi một sinh viên học lực trung bình: Có phải vật chất cấu tạo nên nguyên tử không? Vâng. Tại sao anh lại nghĩ như vậy? Người đọc có thể tự điền câu trả lời vào đây). Vậy thì có bất cứ một ngạc nhiên nào về chuyện là 36% người Mỹ tin tưởng vào thần giao cách cảm, và 47% tin vào việc lý giải tôn giáo về Sáng thế 17? 

Như Ross đã lưu ý 18, nhiều vấn đề chính trị trung tâm của các thập kỷ đang đến – từ chăm sóc sức khỏe, sự ấm lên toàn cầu đến việc phát triển Thế giới Thứ ba - đều phụ thuộc một phần vào những câu hỏi mơ hồ (và đã được tranh cãi nảy lửa) về sự thật khoa học. Nhưng chúng lại không chỉ phụ thuộc vào sự thật khoa học: chúng còn phụ thuộc vào các giá trị đạo đức và - trong tạp chí này rất cần phải bổ sung – sự phụ thuộc vào những lợi ích kinh tế trần trụi nữa. Không một đảng Cánh tả nào hiệu quả trừ khi nó đưa ra được những câu hỏi nghiêm túc về sự thật khoa học và về các giá trị đạo đức cũng như các lợi ích kinh tế. Vấn đề đang bị đe dọa ở đây là quá quan trọng để thiên tả về phía các nhà tư bản chủ nghĩa hoặc các nhà khoa học – hoặc về phía những người hậu hiện đại luận.

Một phần tư thế kỷ trước, trong thời kỳ đỉnh cao của cuộc xâm lược Mỹ tại Việt Nam, Noam Chomsky đã nhận ra rằng: George Orwell đã từng nhận xét rằng tư tưởng chính trị, đặc biệt là phía những người cánh tả, là một loại tưởng tượng thủ dâm, trong đó thế giới của sự kiện khó mà có được ý nghĩa. Thật không may là điều đó lại đúng, và đó là một phần của lý do là xã hội chúng ta thiếu một phong trào cánh tả nghiêm túc, chân chính và có trách nhiệm 19. Có lẽ nói thế thì quá tàn nhẫn, nhưng thật không may là lại có một cốt lõi sự thật to lớn trong đó. Giờ đây cái văn bản gợi tình kiểu ấy có khuynh hướng được viết bằng một thứ tiếng Pháp (đã bị đập vỡ) chứ không phải bằng tiếng Trung Quốc, nhưng những hậu quả của cuộc sống thực thì vẫn hệt như vậy. Đây là Alan Ryan vào năm 1992, bao gồm cả một phân tích tởm lợm của ông ta về các mốt thời thượng trí thức với một lời rên rỉ rằng một số người đã kết hợp tính cố chấp trí thức ngay cả với một thứ chủ nghĩa cấp tiến chính trị khiêm tốn là quá nhỏ bé. Cái điều mà trong một quốc gia có George Bush làm tổng thống và Danforth Quayle xắp hàng theo vào năm 1996, thì không có gì đáng buồn cười cả 20. Bốn năm sau với Bill Clinton được cài vào như một tổng thống được cho là “tiến bộ” của chúng ta và Newt Gingrich đã chuẩn bị cho một thiên niên kỷ mới, thì đó cũng vẫn chưa phải là một trò cười.

______________________________________________

Nguồn: Sokal Alan, 1996. Transgressing the Boundaries: An Afterword. Dissent Vol. 43. September 1996. No. 4.

Tác giả: Alan Sokal là một giáo sư vật lý tại Đại học New York. Ông đã giảng dạy tại nhiều nơi ở Châu Âu và Châu Mỹ Latin, trong đó có các đại học Università di Roma ``La Sapienza'', và trong thời kỳ chính phủ Sandinista, tại đại học Universidad Nacional Autónoma de Nicaragua. Ông là đồng tác giả với Roberto Fernández và Jürg Fröhlich của cuốn sách Random Walks, Critical Phenomena, and Triviality in Quantum Field Theory (Springer, 1992).

ND*: ghi chú của người dịch.

Tài liệu dẫn

Albert, David Z. 1992. Quantum Mechanics and Experience. Cambridge: Harvard University Press.

Andreski, Stanislav. 1972. Social Sciences as Sorcery. London: André Deutsch.

Chomsky, Noam. 1984. The politicization of the university. In Radical Priorities, 2nd ed, pp. 189-206, edited by Carlos P. Otero. Montreal: Black Rose Books.

Forman, Paul. 1987. Behind quantum electronics: National security as basis for physical research in the United States, 1940-1960. Historical Studies in the Physical and Biological Sciences 18: 149-229.

Gallup, George H. 1982. The Gallup Poll: Public Opinion 1982. Wilmington, Del.: Scholarly Resources.

Gallup, George Jr. 1993. The Gallup Poll: Public Opinion 1993. Wilmington, Del.: Scholarly Resources.

Gross, Paul R. and Norman Levitt. 1994. The natural sciences: Trouble ahead? Yes. Academic Questions 7(2): 13-29.

Harding, Sandra. 1991. Whose Science? Whose Knowledge? Thinking from Women's Lives. Ithaca: Cornell University Press.

Hastings, Elizabeth Hann and Philip K. Hastings, eds. 1992. Index to International Public Opinion, 1990-1991. New York: Greenwood Press.

Hobsbawm, Eric. 1993. The new threat to history. New York Review of Books (16 December): 62-64.

Holland, Walter W. et al., eds. 1991. Oxford Textbook of Public Health, 3 vols. Oxford: Oxford University Press.

Laudan, Larry. 1990. Science and Relativism. Chicago: University of Chicago Press.

Ross, Andrew. 1991. Strange Weather: Culture, Science, and Technology in the Age of Limits. London: Verso.

Ross, Andrew. 1992. New Age technocultures. In Cultural Studies, pp. 531-555, edited by Lawrence Grossberg, Cary Nelson and Paula A. Treichler. New York: Routledge.

Ryan, Alan. 1992. Princeton diary. London Review of Books (26 March): 21.

Snow, C.P. 1963. The Two Cultures: And A Second Look. New York: Cambridge University Press.

Sokal, Alan. 1987. Informe sobre el plan de estudios de las carreras de Matemática, Estadística y Computación. Report to the Universidad Nacional Autónoma de Nicaragua, Managua, unpublished.

U.S. Bureau of the Census. 1975. Historical Statistics of the United States: Colonial Times to 1970. Washington: Government Printing Office.

U.S. Bureau of the Census. 1994. Statistical Abstract of the United States: 1994. Washington: Government Printing Office.

Virilio, Paul. 1993. The third interval: A critical transition. In Rethinking Technologies, pp. 3-12, edited by Verena Andermatt Conley on behalf of the Miami Theory Collective. Minneapolis: University of Minnesota Press.

Williams, Michael R. 1985. A History of Computing Technology. Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall.

Ghi chú

1...quan điểm.

Độc giả cẩn trọng không suy luận các quan điểm của tôi về bất cứ một chủ đề nào ngoại trừ chúng được đưa ra trong lời bạt này. Cái thực tế mà tôi đã giễu nhại là một phiên bản cực đoan hoặc được ấn định một cách mù mờ về một ý tưởng không ngoại trừ cái mà tôi có thể đồng ý với cùng một phiên bản ý tưởng có nhiều sắc thái hơn hoặc được ấn định một cách chính xác hơn ấy.  

2...các từ.

Chẳng hạn: “tuyến tính”, phi tuyến”, “địa phương”, “toàn cầu”, “đa chiều”, “tương đối”, “khung quy chiếu”, “trường”, “bất bình thường”, “hỗ độn”, “tai biến”, “logic”, “phi lý”, “hình ảnh”, “phức hợp”, “hiện thực”, “bình đẳng”, “lựa chọn”.

3...lý thuyết.

Dù sao thì bất cứ ai tin rằng các quy luật vật lý thuần tuý là những quy ước xã hội thì đều được mời gọi để thử vượt qua các thoả thuận ngầm đó từ cửa sổ căn hộ nhà tôi. Tôi sống trên tầng 21 (Tái bút, tôi nhận thức được rằng cái lém ngôn này khó mà lọt tai các xảo triết gia khoa học tương đối luận, những người sẽ thừa nhận rằng các phán đoán kinh nghiệm chủ nghĩa có thể là chân về phương diện khách thể tính – chẳng hạn cú ngã từ cửa sổ nhà tôi xuống hè đường sẽ xảy ra trong 2.5 giây – nhưng lại khẳng định rằng các bạch giải lý thuyết về các phán đoán kinh nghiệm chủ nghĩa đó là những cấu trúc xã hội ít nhiều võ đoán. Tôi cũng nghĩ rằng quan điểm này nói chung là nhầm lẫn, nhưng đó lại là một thảo luận dài hơn nhiều).

4...Cánh tả.

Các khoa học tự nhiên ít có cái gì để mà phải sợ, tối thiểu là trong cuộc chạy ngắn, khỏi căn bệnh ngớ ngẩn hậu hiện đại; điều quan trọng nhất là, chính lịch sử và các khoa học xã hội – và quan điểm chính trị cánh tả - phải gánh chịu khi cuộc chơi ngôn từ thế chỗ sự phân tích nghiêm nhặt về các  hiện thực xã hội. Tuy nhiên, vì những giới hạn chuyên môn của mình, phân tích của tôi ở đây sẽ được khuôn vào các khoa học tự nhiên (và thực ra thì chủ yếu là và các khoa học vật lý). Trong khi tri thức học cơ bản về sự truy vấn đại để cũng phải như vậy đối với các khoa học xã hội và tự nhiên, thì tất nhiên tôi cũng hoàn toàn nhận thức được rằng nhiều vấn đề phương pháp luận đặc biệt (và rất khó) luôn nổi lên trong các khoa học xã hội từ một sự thật là các đối tượng truy vấn là con người (kể cả các trạng thái tư duy chủ quan của họ); tôi biết rằng các đối tượng truy vấn này có những chủ đích (trong một số trường hợp, bao gồm cả sự che giấu bằng chứng hoặc sắp đặt bằng chứng tư lợi một cách chủ tâm); tôi biết rằng bằng chứng được thể hiện (luôn luôn) bằng ngôn ngữ con người nhưng nghĩa của nó có thể lại mù mờ; tôi biết rằng nghĩa của các phạm trù khái niệm (chẳng hạn ấu thời, đực tính, cái tính, gia đình, kinh tế học, v.v...) đều thay đổi theo thời gian; và tôi cũng biết rằng mục đích của truy vấn lịch sử không chỉ là các sự kiện mà còn là diễn giải sự kiện, v.v...Vậy thì không có cách nào để tôi phải khẳng định rằng các nhận xét của tôi về vật lý học lại cần phải ứng dụng trực tiếp vào lịch sử và các khoa học xã hội – thế thì quá ngớ ngẩn. Việc nói rằng “hiện thực vật chất là một cấu trúc ngôn ngữ và xã hội” thì thuần tuý là ngờ nghệch, nhưng việc nói rằng “hiện thực xã hội là một cấu trúc ngôn ngữ và xã hội” thì lại thực sự là một lặp thừa.   

5...lộn xộn.

Ryan (1992).

6...cơ bản.

Hobsbawm (1993, 63).

7...thế giới.

Andreski (1972, 90).

8...máy tính.

Máy tính có trước công nghệ chất rắn, nhưng nó lại cồng kềnh, khó dùng và tốc độ chậm. Loại máy tính cá nhân 486 ngày nay [1996] đặt trên bàn của lý thuyết gia văn học đã mạnh hơn khoảng 1000 lần so với chiếc máy tính đèn chân không IBM 704 to bằng cả một căn phòng vào năm 1954 [xem chẳng hạn Williams 1985].  

9...chủ nghĩa quân phiệt?

Thực ra tôi không loại trừ khả năng là các lý thuyết hiện thời thuộc bất cứ chủ đề nào trong số các chủ đề này đều có thể sai lầm. Nhưng các nhà phê bình muốn tạo ra một trường hợp như vậy sẽ phải cung cấp không chỉ bằng chứng lịch sử về sự ảnh hưởng văn hoá đã xác quyết, mà còn cả bằng chứng khoa học nói rằng cái lý thuyết đang được bàn đến thực sự là sai lầm. (Cùng các tiêu chuẩn rõ ràng áp dụng cho các lý thuyết sai lầm trong quá khứ; nhưng trong trường hợp này các nhà khoa học có thể đã thực hiện nhiệm vụ thứ hai, bằng cách làm yên lòng nhà phê bình văn hoávề nhu cầu phải làm như vậy từ đầu.

10...giả khoa học.

Ross (1991, 25-26); cũng có trong Ross (1992, 535-536).

11...chân.

Ross (1991, 26); cũng có trong Ross (1992, 535). Trong thảo luận sau bài viết này, Ross (1992, 549) đã thể hiện thêm (và hoàn toàn có thể chứng minh) các e ngại: Tôi hoàn toàn hoài nghi về cái tinh thần “mọi thứ đều qua đi” thường là khí hậu thịnh hành của tương đối lụân xung quanh hậu hiện đại luận...Hầu hết các cuộc tranh biện hậu hiện đại đều giành để vật lộn với việc giới hạn văn hoá hoặc triết học vào các đại tự sự của Kỷ nguyên Ánh sáng. Nếu bạn suy nghĩ về các vấn đề sinh thái theo quan điểm này thì có nghĩa là bạn đang nói về vấn đề vật lý “hiện thực”, hoặc vấn đề vật chất giới hạn vào các nguồn lực của chúng ta để cổ vũ cho tăng trưởng xã hội. Và hậu hiện đại luận, như chúng ta biết, đã miễn cưỡng nhắm đến cái “hiện thực” ngoại trừ để thông báo về tình trạng bị trục xuất của nó.   

12...thế kỷ.

Văn phòng Điều tra Dân số Mỹ [1975, 47, 55; 1994, 87]. Trong năm 1900, tuổi thọ trung bình từ lúc sinh là 47.3 năm [47.6 năm đối với người da trắng, và mức tuổi thọ trung bình gây sốc là 33 năm cho người “da đen và các sắc dân khác”). Năm 1995 tuổi thọ trung bình là 76.3 năm (77 năm năm đối với người da trắng, và 70.3 năm cho người da đen). Tôi biết rằng xác quyết này có vẻ là giải thích sai, vì vậy cho phép tôi thực hiện một sự minh định ưu tiên trước. Tôi không khẳng định rằng toàn bộ mức tăng tuổi thọ đều là do những tiến bộ về y khoa. Một phần lớn (có thể là phần ưu thống) của mức tăng đó – đặc biệt là trong ba thập kỷ đầu của thế kỷ 20 – là do mức độ cải thiện chung về tiêu chuẩn nhà ở, dinh dưỡng và vệ sinh công cộng [hai lĩnh vực sau là do mức độ cải thiện khả năng nghiên cứu và hiểu biết khoa học về nguyên nhân bệnh truyền nhiễm và bệnh do thiếu dinh dưỡng], [xem Holland et al. (1991)]  Nhưng không có việc coi thường vai trò của các cuộc đấu tranh xã hội trong các thực tiễn cải thiện này, đặc biệt là liên quan đến việc thu hẹp khoảng cách phân biệt chủng tộc – mà nguyên nhân cơ bản và vượt trội của các cải thiện này hoàn toàn rõ ràng là mức tăng lớn về mức sinh hoạt vật chất trong thế kỷ qua bởi nhiều hơn một trong năm nhân tố [U.S. Bureau of the Census 1975, 224-225; 1994, 451]. Và mức tăng này rõ ràng là kết quả trực tiếp của khoa học mà hiện thân là công nghệ.

13...khoa học.

Ross (1991, 26); cũng có trong Ross (1992, 536).

14...cơ học?

Nhân tiện, các nhà không-khoa học sáng dạ quan tâm nghiêm túc đến các vấn đề khái niệm do cơ học lượng tử đưa ra không còn cần phải dựa vào việc tầm thường hoá (theo cả hai nghĩa) do Heisenberg, Bohr và các nhà vật lý tạp nham cũng như các tác giả Kỷ nguyên Mới công bố. Cuốn sách nhỏ của Albert [1992] cung cấp một giải thích cực kỳ nghiêm túc và lương thiện trí thức về cơ học lượng tử và các vấn đề triết học mà nó đưa ra – nhưng nó lại không đòi hỏi phải có cơ sở kiến thức toán học hơn tí chút so với môn đại số phổ thông trung học, và cũng không đòi hỏi bất cứ một tri thức tiên thiên nào về vạt lý học. Yêu cầu cơ bản là một thiện chí để tư duy chậmrõ ràng.

15...đã có.

Snow (1963, 20-21). Một thay đổi có ý nghĩa trọng đại đã xảy ra từ thời Snow: trong khi sự ngu dốt của trí thức nhân văn về (chẳng hạn) khối lượng và gia tốc cơ bản vẫn không thay đổi thì ngày nay một thiếu số đáng kể của các trí thức nhân văn cảm thấy có quyền lên mặt phán về các chủ đề này bất chấp sự ngu dốt của họ (có lẽ việc tin rằng các độc giả của họ sẽ cũng ngu dốt hệt như họ vậy). Hãy xem, chẳng hạn, đoạn trích sau đây từ một cuốn sách mới đây về Tái tư duy về các công nghệ, được biên tập bởi Miami Theory Collective và  đại học Minnesota Press xuất bản: “Giờ đây dường như nó tái dụng để xem xét lại các quan niệm về gia tốc và giảm tốc (là cái mà các nhà vật lý gọi là các vận tốc dương và âm)” (Virilio 1993, 5). Độc giả nào không phát hiện ra điều quá tức cười (cũng như thật đáng thất vọng) này thì xin mời ngồi ở hàng đầu để học lại hai tuần về vật lý học I.

16...quyền uy

Tôi không đùa về điều này. Đối với bất kỳ ai quan tâm đến quan điểm của tôi, tôi sẽ vui mừng cung cấp một phiên bản của Sokal [1987]. Để có thêm một phê phán sắc sảo nữa về sự giảng dạy nghèo nàn về toán học và khoa học, xem (trớ trêu của những trớ trêu) Gross and Levitt (1994, 23-28).

17...Sáng thế?

Ngoại cảm: Hastings and Hastings (1992, 518), Viện dư luận công cộng Mỹ thăm dò từ tháng 6, 1990. Liên quan đến “viễn cảm hoặc sự giao tiếp giữa các ý thức mà không sử dụng 5 giác quan truyền thống”, 36% “tin”, 25% “không chắc chắn”, và 39% “không tin”. Với nhận định “con người trên trái đất này là do quỷ điều khiển” thì tỷ lệ tương ứng là 49-16-35 (!). Với nhận định “thiên văn học hoặc vị trí của các ngôi sao và các hành tinh có thể tác động đến cuộc sống con người” thì tỷ lệ là 25-22-53. Rất may là chỉ có 11% tin vào chức năng truyền năng lượng (22% không chắc chắn) và 7% tin vào năng lực chữa bệnh của các kim tự tháp (26% không chắc chắn).

Chúa tạo ra linh hồn: Gallup (1993, 157-159), Viện Gallup thăm dò từ tháng 6 năm 1993. Câu hỏi chính xác là: Phán đoán nào sau đây gần nhất với quan điểm của bạn về nguồn gốc và sự phát triển của con người: 1) con người đã phát triển trong vòng hàng triệu năm từ các dạng sống ít tiên tiến, nhưng Chúa đã hướng dẫn quá trình này; 2) con người đã phát triển trong vòng hàng triệu năm từ các dạng sống ít tiên tiến, nhưng Chúa đã không tham gia vào quá trình này; 3) Chúa đã làm cho con người đẹp hơn nhiều bằng hình dáng hiện tại một lấn trong 10.000 năm trước hoặc như vậy? Kết quả là 35% phát triển bởi Chúa, 11% phát triển không có Chúa, 47% Chúa tạo ra hình dạng ngày nay, và 7% không có ý kiến. Một cuộc điều tra từ tháng 7 1982 [Gallup 1982, 208-214] đã phát hiện ra hầu hết các con số giống hệt, nhưng lại là các số liệu thống kê về giới, chủng tộc, giáo dục, vùng, lứa tuổi, thu nhập, tôn giáo, và quy mô cộng đồng. Các phân biệt về giới, chủng tộc, vùng, thu nhập và (đáng ngạc nhiên) tôn giáo lại khá nhỏ. Bỏ xa các con số trên, các khác biệt lớn nhất là giáo dục: chỉ 24% sinh viên tốt nghiệp đại học đồng ý là Chúa tạo ra linh hồn, so với 49% học sinh tốt nghiệp phổ thông, và 52% có trình độ giáo dục bậc tiểu học. Vì vậy có thể là việc dạy khoa học tệ nhất là ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở.

18...ghi chú

Xem Ghi chú 11 ở trên.

19...vận động.

Chomsky (1984, 200), bài giảng năm 1969.

20...buồn cười.

Ryan (1992).

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

Khác biệt giữa Tri giác và Nhận thức (I)

Anders Nes, Kristoffer Sundberg & Sebastian Watzl

Người dịch: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Sự khác biệt giữa perception tri giác và cognition nhận thức dường như hiển nhiên khi được xem xét trong nhiều trường hợp. Tri giác và tư duy cũng được gán cho những vai trò khá khác nhau, trong epistemology nhận thức luận, trong các lý thuyết quy chiếu và nội dung tinh thần, trong triết học tâm lý học, và ở những lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên, bản chất của sự phân biệt này là gì? Tri giác và nhận thức khác nhau ở những điểm nào? Bài viết sẽ xem xét các công trình nghiên cứu gần đây về những câu hỏi ấy và xem xét thảo luận bốn khía cạnh chính được cho là những khác biệt giữa tri giác và nhận thức. Thứ nhất, đặc tính hiện tượng của chúng, chẳng hạn như tính sống động hoặc tính tức thời thường dễ nhận thấy của tri giác. Thứ hai, cách chúng hình dung thế giới, như bản chất phi định đề của nội dung, hoặc đặc tính phi diễn ngôn của phương tiện, được coi là đặc trưng cho việc perceptual representation trình hiện tri giác. Thứ ba, vị trí của chúng trong kiến ​​trúc nhận thức, tức là, nói một cách đại khái, trong dòng chảy thông tin của tâm trí, chẳng hạn như tính (phi-) mô đun thường thấy của chúng. Thứ tư, mối quan hệ tâm trí-thế giới của chúng, ví dụ như cách thức mà các loại tri giác dường như có mối liên hệ nhân quả chặt chẽ với các kích thích ở xa hoặc gần. Trên cơ sở đó, phân biệt một số lựa chọn chính để giải thích sự khác biệt nhận thức và tri giác, đặc biệt là liệu có một, một số, hay không có sự khác biệt đáng chú ý và có nguyên tắc nào cần được rút ra ở đây hay không.

1. Giới thiệu

Tri giác khác với nhận thức như thế nào? Rõ ràng là tri giác và nhận thức là khác nhau; chí ít thì cũng là paradigms các hệ mẫu của mỗi loại – nhìn thấy một cái cây gần đó, suy nghĩ về các lựa chọn cho bữa tối – dường như khác nhau rõ rệt. Nhưng [tr.2] việc đưa ra một lời giải thích về sự khác biệt của chúng, có lẽ thật đáng ngạc nhiên là lại rất khó khăn. Bài viết này sẽ đánh giá các cuộc tranh luận về sự khác biệt giữa tri giác và nhận thức. Tuy nhiên, tại sao lại phải quan tâm đến sự khác biệt này? Thứ nhất, tri giác và nhận thức đã được gán cho những vai trò khá khác nhau. Ví dụ, tri giác được cho là biện minh cho niềm tin mà bản thân chúng không cần sự biện minh, một đặc quyền hiếm khi được mở rộng cho những niềm tin đơn thuần (xem, ví dụ, Pryor 2000). Tri giác cho phép tham chiếu đến các chi tiết cụ thể (xem Strawson 1959; Campbell 2002), hoặc cung cấp nội dung cho một số khái niệm nhất định, chẳng hạn như khái niệm về màu sắc (Peacocke 1992), theo cách mà tư duy đơn thuần không thể làm được. Mặt khác, nhận thức dường như lại được hưởng sự tự do và linh hoạt liên quan đến các đối tượng mà tri giác không thể tiếp cận, vươn tới quá khứ thẳm sâu và tương lai xa mờ, những điều hoàn toàn trừu tượng, hư cấu và những giả thuyết lý thuyết khó hiểu.

Thứ hai, câu hỏi về điều gì phân biệt tri giác với nhận thức lại liên quan đến câu hỏi về ranh giới giữa chúng. Trong các cuộc tranh luận về tri giác cấp cao, người ta đồng ý rằng những người có kỹ năng tri giác phù hợp có thể nhanh chóng và dễ dàng nhận ra các loại tự nhiên (Siegel 2010), ý nghĩa (xem, ví dụ: Drożdżowicz trong Tập san này), cảm xúc hoặc ý định (xem, ví dụ: Helton 2018), hoặc thậm chí cả các thuộc tính đạo đức (xem, ví dụ: Bergqvist và Cowan 2018) của các đối tượng hoặc sự kiện tri giác thấy. Tuy nhiên, liệu những đối tượng này có thực sự tri giác thấy, hay chỉ đơn thuần là nhanh chóng nhận thức được những thuộc tính này? Để hiểu rõ điều này, chúng ta cần nắm bắt được điều gì phân biệt cái tri giác với cái nhận thức, hoặc ngược lại. Thứ ba, sự phân biệt này cũng rất quan trọng đối với dự án tâm lý học- kiêm-triết học vĩ đại nhằm vạch ra cấu trúc cơ bản của tâm trí. Liệu tri giác so với nhận thức sẽ trở thành một điểm chung về bản chất tâm lý, ví dụ như một điểm uốn trong kiến ​​trúc nhận thức (xem Fodor 1983), một hình thức biểu đạt (xem Block MS), hoặc vấn đề của sự liên tục hơn là sự phân chia (xem, ví dụ, Clark 2016) hay không? Cuối cùng, sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức từ lâu đã là một vấn đề lớn trong triết học phương Tây. Trong tác phẩm Cộng hòa, Plato so sánh các đối tượng tri thức hữu hình một cách bất lợi với các đối tượng tri thức vô hình, và trong tác phẩm Theaetetus, ông lập luận dài dòng rằng tri thức không phải là tri giác.

Trong truyền thống Aristotelian, và sau này là Thomistic, sự phân biệt ấy gắn liền với sự phân chia siêu hình giữa hai hình thức linh hồn: một hình thức cảm giác, được chia sẻ với loài vật, so với một hình thức lý trí, mà có lẽ, một phần, khao khát sự bất tử. Sự phân biệt tri giác/nhận thức trở nên then chốt trong triết học cận đại, với những người duy lý luận và những người kinh nghiệm luận có quan điểm trái ngược nhau về việc nguồn gốc và tài nguyên tri thức nằm ở phía nào của nó. Tuy nhiên, các bên đối lập đôi khi đồng ý trong việc suy nghĩ về sự khác biệt giữa trạng thái cảm giác và trạng thái trí tuệ như những cấp độ trên một thang đo. Leibniz (1982, 81) [tr.3] đối lập các biểu hiện cảm giác bị nhầm lẫn với các biểu hiện trí tuệ là khác biệt, trong khi Hume (1739/2000, SB1-2) so sánh các ấn tượng và ý tưởng trên thang đo sức mạnh và sự sống động. Những quan niệm gradualist tiệm tiến luận như vậy đã bị Kant bác bỏ, vì triết học phê phán của ông được cấu trúc bởi sự khác biệt cơ bản về bản tính giữa khái niệm và trực giác, giữa sự hiểu biết (‘tính tự phát’) và khả tính cảm nhận (‘khả tính tiếp nhận’) với tư cách là những năng lực mà chúng phụ thuộc. Các dòng tư tưởng nổi bật hậu-Kantian, ví dụ như tư tưởng Hegelian, đã nỗ lực để 'vượt qua' loại nhị nguyên luận này.

Mặc dù lịch sử phong phú của nó vẫn khơi gợi mối quan tâm đến sự phân biệt ấy, nhưng việc khảo sát các truyền thống liên quan lại nằm ngoài phạm vi của bài viết này, và chúng tôi sẽ tập trung vào những đóng góp trong khoảng mười lăm năm trở lại đây. Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu các phạm trù “tri giác” và “nhận thức” khi chúng ta bắt đầu khám phá bất kỳ sự khác biệt nào? Các hệ mẫu ở mỗi phía có lẽ đã khá rõ ràng. Từ tri giác: nhìn thấy màu sắc và vị trí của các vật thể ở gần, và loại tri giác cấp-thấp tương tự. Từ nhận thức: suy nghĩ, lập luận, giải quyết-vấn đề và lập kế hoạch. Luôn như vậy, sẽ có những trường hợp phân ranh giới. Tuy nhiên, việc làm rõ hơn các phạm trù tri giác và nhận thức tương ứng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại chúng. Mục tiêu không phải là xem xét xuất phát điểm mà là mô tả rõ ràng về tri giác và nhận thức là gì. Các phần 2-5 xem xét các loại tri giác và nhận thức được cho là khác nhau. Cụ thể, phần 2 xem xét hiện tượng học, phần 3 xem xét sự trình hiện, phần 4 xem xét kiến ​​trúc nhận thức, và phần 5 xem xét mối quan hệ giữa tâm trí và thế giới.1 Dựa trên cơ sở đó, phần 6 tìm ra một số lựa chọn chính cho việc mô tả về sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức.

2. Đặc tính hiện tượng

Một nhập điểm vào sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức là cách mà tri giác và nhận thức được cảm nhận tương ứng đối với chủ thể. Có thể nghĩ rằng, ít nhất trong các trường hợp ở cấp độ paradigm hệ mẫu, có một sự khác biệt về đặc tính ý thức ở đây, điều này thể hiện rõ từ góc nhìn của ngôi thứ nhất. Dù sao thì, Hume dường như đã giả định như vậy, khi cho rằng mọi người “sẽ dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa cảm giác và suy nghĩ” (Hume 1739/2000, SB1). Một quan điểm đơn giản thuộc loại này là trong khi tri giác - dưới hình thức kinh nghiệm tri giác - có đặc tính hiện tượng, thì nhận thức lại thiếu vắng [p.4] bất cứ kiểu loại tương tự nào. Do đó, nhận thức, theo nghĩa kịch tính, sẽ có những đặc điểm của sự thiếu sức mạnh và thiếu sức sống mà Hume gán cho các ý tưởng. Tuy nhiên, hiện nay không hiếm khi người ta chấp nhận rằng nhận thức cũng có một hoặc nhiều hình thức đặc trưng hiện tượng, tức là có cognitive phenomenology hiện tượng học nhận thức, theo một hoặc nhiều nghĩa của thuật ngữ đó (xem, ví dụ, Bayne và Montague 2011). Hơn nữa, ngay cả khi bỏ qua điều đó, thì quan điểm đơn giản hứa hẹn một cách giải thích khá mơ hồ về sự phân biệt giữa tri giác và nhận thức, không dựa trên bất kỳ đặc điểm tích cực nào của nhận thức, và đề cập đến một đặc điểm dường như khá chung chung của tri giác, người ta có thể nghĩ là được chia sẻ bởi nỗi đau, tâm trạng, cảm xúc, v.v.

Để có một cách giải thích cụ thể hơn về hiện tượng học tri giác hoặc hiện tượng học nhận thức, cho phép có sự phân biệt kể cả trong trường hợp cả hai cùng tồn tại, thì người ta có thể áp dụng một hoặc cả hai chiến lược. Thứ nhất, có thể giả định, các đối tượng hoặc nội dung có ý hướng mang tính hiện tượng học của tri giác (hay của tư duy), hoặc, thứ hai, một cách thức đặc biệt mà các đối tượng được (tái-) trình hiện, hoặc nội dung được tiếp nhận, bằng tri giác (hoặc, một lần nữa, bằng tư duy). Montague (trong Tập san này, §4) có đưa ra một đề xuất thuộc loại thứ nhất, cho rằng trải nghiệm thị giác ‘có nội dung đặc trưng riêng, ví dụ như màu sắc-hình dạng’. Một đề xuất liên quan, được Thau (2002) và Glüer (2009) bảo vệ, cho rằng thị giác trình hiện một cách đặc trưng, ​​không phải màu sắc, mà là một số thuộc tính hình thức hoặc diện mạo chứa đầy tính định tính nhất định. Một đề xuất khác theo mạch phát triển này là tri giác trình hiện một cách đặc trưng các thuộc tính rất chi tiết, hoặc cụ thể, cho dù đó là màu sắc, hình dạng, hay các thuộc tính hình thức tương ứng của những thuộc tính vừa kể (xem Bourget 2017). Các đề xuất này phải đối mặt với sự phản đối cho rằng người ta cũng có thể suy nghĩ về các thuộc tính được cho là đặc trưng đang được đề cập (xem Kriegel 2019). Một câu trả lời ở đây, được Thau và Bourget áp dụng theo nhiều cách khác nhau, là mặc dù thực sự có thể suy nghĩ về các thuộc tính bằng cách mô tả, hoặc bằng cách khái quát hóa, nhưng tư duy hoặc ngôn ngữ không thể đạt được sự tham chiếu trực tiếp đến chúng. Bằng cách đề cập tới một cách tiếp cận khác, gián tiếp, mà tư duy quan tâm đến các mục có liên quan, động thái này ít nhất cũng có mối liên hệ với loại chiến lược thứ hai về vấn đề này, mà chúng ta sẽ đề cập bên dưới.      

Một cách khác để theo đuổi chiến lược đầu tiên là không viện dẫn đến các loại mà là sự phong phú thường được lưu ý của các yếu tố được trình bày bằng tri giác. Kriegel (2019) phản đối bằng cách cho rằng, ngay cả khi nội dung nhận thức của con người chúng ta tương đối thưa thớt, thì vẫn có thể hình dung ra những sinh vật không có những hạn chế nhận thức này nhưng vẫn tồn tại sự tương phản hiện tượng giữa tri giác và nhận thức; hơn nữa, sự khác biệt giữa thưa thớt và phong phú là về mức độ, chứ không phải về kiểu loại. Một tuyến phản hồi ở đây có thể là tranh luận về độ tin cậy của tuyên bố về khả tính hình dung đã nêu [tr.4], hoặc kiên trì rằng, ngay cả khi những sinh vật được hình dung là khả thể, thì sự khác biệt về mức độ phong phú vẫn có thể tạo ra sự khác biệt hiện tượng giữa tư duy và tri giác của con người. Hơn nữa, như cách Hume đối chiếu các ấn tượng và ý tưởng gợi ý, người ta có thể đặt câu hỏi liệu sự khác biệt đó có thể không phải là về mức độ hay không. Chiến lược thứ hai, để tường trình sự khác biệt giữa hiện tượng học tri giác và hiện tượng học nhận thức, đưa ra một cách thức đặc biệt mà các đối tượng được (tái-) hiện, hoặc nội dung được tiếp nhận, bằng tri giác (hoặc tư duy). Chiến lược này phù hợp với ý tưởng cho rằng tri giác và nhận thức khác nhau về mặt hiện tượng học ở chỗ sự hiện diện hiện tượng trực tiếp hơn của một đối tượng (thuộc tính, sự kiện, trạng thái sự việc, v.v.) trong trải nghiệm tri giác. Như đôi khi người ta vẫn nói, tri giác mang tính trình hiện trong khi nhận thức mang tính trình hiện/biểu tượng (xem, ví dụ: Searle 1983; Chudnoff 2018). Hoặc, như Husserl (1973/1997, 14) đã nói, các đối tượng mà người ta hướng đến trong tri giác there ‘in person’ hiện diện “trực tiếp”, không giống như cách chúng xuất hiện trong tư duy, tưởng tượng hoặc hồi ức. Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu chính xác hơn sự khác biệt trong mối quan hệ tinh thần, hay tính trực tiếp, như vậy?

Ở đây có một lựa chọn là chuyển sang quan điểm phản-trình hiện/biểu tượng, mang tính quan hệ về trải nghiệm tri giác. Theo quan điểm này, hiện tượng học tri giác, ít nhất là một phần, được cấu thành hoặc dựa trên mối quan hệ quen thuộc với một số hạng mục nhất định và các phẩm chất của chúng, cho dù đó là sense-data dữ liệu cảm giác riêng tư (xem ví dụ Robinson 1994) hay các đối tượng hoặc cảnh vật công cộng, một quan điểm đôi khi được gọi là “chủ nghĩa hiện thực ngây thơ” (xem ví dụ Brewer 2011; Campbell 2002; Martin 2006; và Travis 2013). Nếu nhận thức mang tính trình hiện/biểu tượng, và bản thân nó không liên quan đến sự quen thuộc với các đối tượng đó, thì hiện tượng học tri giác của nó (nếu có) không thể được cấu thành hoặc dựa trên cùng một cách. Ý tưởng này cũng có thể được hiểu theo cách khác, hoặc có tính bổ sung, được diễn giải là đề cập đến sự khác biệt theo cách thức mà chủ thể liên hệ với thế giới bằng tri giác và nhận thức, chúng ta sẽ quay lại với gợi ý này trong Phần 5 bên dưới. Chủ nghĩa hiện thực ngây thơ ngụ ý rằng ảo giác, trong đó chủ thể không quen thuộc với các đối tượng hoặc cảnh vật công cộng, không thể có cùng loại hiện tượng học với tư cách các loại tri giác. Theo quan điểm này, ảo giác được hiểu là trạng thái tưởng tượng (xem Allen 2015), hoặc được xác định bằng khuôn khổ tính không thể phân biệt được với tri giác (xem ví dụ Martin 2006). Tất nhiên, thứ phân ly luận này không khỏi gây tranh cãi (xem ví dụ Kriegel 2011).

Một lựa chọn khác, nằm trong khuôn khổ quan điểm trình hiện/biểu tượng, là đặt định một thái độ riêng biệt, ​​hay “phương thức” có tính ý hướng của trải nghiệm tri giác. Do đó, Bach (2007) và Recanati (2007) xem xét một khía cạnh tự quy chiếu mang tính nhân quả nhất định của tri giác, tức là đặc điểm của nó với tư cách [tr.5] là nguyên nhân (và, có lẽ, được duy trì về mặt nhân quả) của những thứ mà người ta đang tri giác, thứ mà Searle (1983) coi là một điều kiện thỏa mãn do nội dung tri giác áp đặt. Bach và Recanati lập luận rằng điều kiện này nên được hiểu là một điều kiện thành công do phương thức tri giác áp đặt (tương tự như cách mà, chẳng hạn, chân lý có thể là một điều kiện thành công, hay ‘mục tiêu’, do phương thức niềm tin áp đặt). Recanati (2007, 133) lập luận rằng thực tế này về phương thức tri giác sẽ làm sáng tỏ cách thức mà các chủ thể nhận thức được bản tính tri giác các trải nghiệm của mình. Giờ đây, người ta có thể đáp lại rằng một điều kiện tự tham chiếu nhân quả dựa-trên-nội-dung, chẳng hạn như một suy nghĩ đơn thuần, chẳng hạn, thác Victoria đang gầm rú và đang gây ra chính suy nghĩ này, thì điều đó cũng không làm cho các đối tượng hiện diện ngay lập tức với một ai đó. Vậy thì, tại sao một điều kiện dựa-trên-phương-thức lại có thể làm được điều đó? Kriegel (2019) nêu lên câu hỏi này, và cũng bày tỏ nghi ngờ về việc liệu các loại yêu cầu nhân quả-chức năng-định chuẩn được đề cập ở đây có khả năng là hiện thân đối với ngôi thứ nhất, theo cách cần thiết hay không. Nếu cả hai chiến lược được nêu ra, nhằm giải thích sự khác biệt được cho là hiển nhiên giữa hiện tượng học tri giác và hiện tượng học nhận thức, đều không mang lại kết quả chắc chắn, thì tư tưởng cho rằng sự khác biệt như vậy thực sự tồn tại vẫn chưa hết hy vọng. Như Kriegel (2019) nhận xét, một lựa chọn còn lại là coi sự khác biệt đó là nguyên thủy – là điều mà chúng ta không thể có thông tin để tường trình trong khuôn khổ của các đặc điểm khác, cụ thể hơn hoặc cơ bản hơn của hiện tượng học. Cách tiếp cận hiện tượng học để phân biệt giữa tri giác và nhận thức sẽ có hạn chế nếu có thể có tri giác vô thức, và theo đúng nghĩa, không thể phân biệt được với nhận thức dựa trên cơ sở hiện tượng học (xem Phillips & Block (2016), và Taylor (2020)).

3. Trình hiện

Các nhận thức theo hệ mẫu, chẳng hạn như niềm tin, thường được coi là minh họa cho một hình thức trình hiện mang tính diễn ngôn, khái niệm và định đề (nói một cách đại khái: giống như ngôn ngữ). Do đó, các loại tri giác sẽ khác với nhận thức – ít nhất là khác với những loại nhận thức theo hệ mẫu như niềm tin – nếu chúng là phi-trình hiện (xem, ví dụ, Travis 2013) hoặc thể hiện một dạng trình hiện mang tính diễn ngôn-khái niệm-phi định đề. Phần này tập trung vào lựa chọn sau. Khái niệm về trình hiện mang tính diễn ngôn-khái niệm-phi định đề, như chúng ta sẽ thấy, là chủ đề của nhiều quan niệm khác nhau trong tài liệu. Việc theo dõi xem những người tham gia thảo luận đang (không) đồng ý hay đang nói chuyện không ăn khớp với nhau thường là một vấn đề tế nhị.

3.1. Tính phi định đề

[Tr. 6] Nếu tri giác mang tính trình hiện/biểu tượng, thì chúng có thể có nội dung định đề, ít nhất là theo một nghĩa đơn giản nào đó. Một mặt, chúng có thể được liên tưởng tới các tập hợp thế giới khả thể trong đó chúng là đúng. Những tập hợp như vậy là các định đề, theo một quan niệm phi cấu trúc (xem Stalnaker 1998). Tuy nhiên, các lập luận gần đây về tính phi-định đề của tri giác, do Burge (2010a, 2010b, 2010c, 2018) và Block (MS) đưa ra, lại giả định một quan niệm khắt khe hơn về việc sở hữu nội dung định đề. Với quan điểm có cấu trúc về định đề, họ nhấn mạnh rằng các định đề có thể có cấu trúc được quy định trong logic định đề và logic bậc nhất, bao gồm phủ định, phân cách, điều kiện, lượng hóa phổ quát, v.v. Họ lập luận rằng có bằng chứng xác đáng để coi các trạng thái tinh thần được phân loại theo nội dung định đề khi có bằng chứng xác đáng cho thấy các trạng thái này là hiện thân của các năng lực tái trình hiện mà kho tàng của nó bao gồm các trạng thái có nội dung phủ định, phân cách, v.v. Bằng chứng xác đáng cho các năng lực có kho tàng như vậy về phương diện hệ mẫu, bao gồm (mặc dù không nhất thiết bị giới hạn ở) các hành vi được giải thích tốt nhất bằng các suy luận mà tính hợp lệ của chúng phụ thuộc vào các cấu trúc logic như vậy. Ví dụ, con chó huyền thoại của Chryssipus, đuổi theo thứ gì đó đến ngã ba đường, ngửi một nhánh cây, rồi lại đuổi theo nhánh cây kia, một hành vi được giải thích tốt nhất bằng một disjunctive syllogism tam đoạn luận phân ly.

Burge và Block lập luận rằng, năng lực trình hiện/biểu tượng hoạt động trong tri giác không cần thiết, và do đó không nên được hiểu là cho phép cấu trúc phủ định, phân ly, có điều kiện, lượng hóa phổ quát, hoặc cấu trúc tương tự. Block (MS) chỉ ra rằng, ngay cả trong trường hợp người ta có thể mong đợi một trình hiện/biểu tượng phân ly, thì tri giác vẫn không mang tính phân ly. Hãy xem xét các kích thích mơ hồ, chẳng hạn như khối lập phương Necker. Tất cả các tín hiệu thị giác trong hình ảnh này đều chỉ ra rằng, một trong hai cạnh vuông của nó vuông góc với đường ngắm (LOS) thì gần hơn. Tuy nhiên, thị giác không trình hiện sự phân ly như vậy; nó chuyển từ việc trình hiện cạnh này gần hơn sang biểu đạt cạnh kia gần hơn. Ai đó sẽ phản đối rằng chúng ta có thể nhận thức được sự vắng mặt, chẳng hạn như, sự vắng mặt của cái máy tính xách tay của tôi trên bàn cà phê (xem Farennikova 2013), và tri giác kiểu như vậy trên thực tế lại sử dụng sự phủ định. Block (MS) trả lời rằng những trường hợp như vậy nên được hiểu là một trình hiện nhất định về sự trống rỗng, thiếu cấu trúc ngữ nghĩa. Một phản đối khác có thể là nội dung tri giác, giả sử quan điểm “tổng quát luận”, được lượng hóa mang tính hiện tồn: nó trình hiện một điều là có những thứ như thế này thế kia ở trước mặt (xem, ví dụ [tr.7] Davies 1992). Nếu lượng hóa phổ quát biểu thị vị thế định đề, thì lượng hóa hiện tồn cũng phải như vậy sao? Tuy nhiên, Burge (2010a) bác bỏ quan điểm tổng quát luận, lập luận rằng điều thiết yếu đối với tri giác là nó nhằm mục đích đề cập đến các đối tượng hoặc sự kiện riêng lẻ. Trong tri giác, các thuộc tính như màu đỏ hoặc hình vuông có chức năng tái trình hiện, giới hạn chúng trong việc trình hiện thuộc tính được đề cập trong ngữ cảnh gán nó cho một đối tượng cụ thể theo cách chỉ định hoặc biểu thị: chúng bị giới hạn trong các cấu trúc cơ bản, giống như cụm danh từ, chẳng hạn như hình vuông màu đỏ đó. Ngược lại, Burge (2010c) lập luận rằng, đặc điểm của trình hiện định đề là một thuộc tính nào đó trong đó không bị giới hạn như vậy, mà có thể, trong số những thứ khác, gán thuộc tính đó cho những thứ được khái quát hóa (một hình vuông màu đỏ nào đó) hoặc trình hiện cái thuộc tính không đưa ra bất kỳ sự gán ghép thực chứng nào (giả như đó không phải là màu đỏ). Một lần nữa, ông cho rằng, không đủ nguyên do để nghĩ rằng các năng lực trình hiện đang hoạt động trong tri giác tạo ra tính linh hoạt cấu trúc như vậy.

3.2. Tính phi khái niệm

Evans (1982) đã đưa thuật ngữ non-conceptual content “nội dung phi khái niệm” vào các cuộc tranh luận gần đây, bằng lập luận cho rằng tri giác và niềm tin lần lượt có nội dung phi khái niệm và nội dung khái niệm. Dựa vào kiểu đặc trưng hóa vẻ như có ảnh hưởng nhất, thì nội dung sẽ mang tính khái niệm nếu việc giải thích nó về mặt tinh thần đòi hỏi phải sở hữu các khái niệm được sử dụng để xác định nội dung đó, nếu không thì sẽ mang tính phi khái niệm.2 Evans liên kết việc sở hữu khái niệm với việc đáp ứng “Ràng buộc Khái quát” (GC-Generality Constraint), tức là với khả năng kết hợp các yếu tố được trình hiện theo những cách có hệ thống nhất định, ví dụ: Có thể trình hiện quả bóng nằm trên viên gạch nếu có thể trình hiện viên gạch nằm trên quả bóng. Việc đáp ứng GC có liên quan chặt chẽ đến việc sở hữu thứ thuộc tính mà Fodor gọi là tính hệ thống (xem, ví dụ: Fodor 2008).  Giờ đây, ít nhất một điều gì đó giống như tính hệ thống dường như có thể áp dụng cho trình hiện tri giác.

Nếu người ta có thể nhìn thấy một hình vuông màu đỏ bên cạnh một hình tam giác màu xanh lá cây, thì chắc chắn, người ta cũng có thể nhìn thấy một hình vuông màu xanh lá cây bên cạnh một hình tam giác màu đỏ. Tuy nhiên, người ta cũng lập luận rằng tri giác có, hoặc ít nhất có thể sẽ có, một số ngoại lệ đáng chú ý đối với tính hệ thống. Heck (2007) gợi ý rằng trình hiện tri giác có thể vận hành sao cho các mối quan hệ không gian chỉ được trình hiện trong số các đối tượng (được trình hiện là tồn tại) khá gần nhau. Bây giờ, giả sử a và b khá gần nhau [tr.8], cả b và c cũng vậy, nhưng a và c thì không. Vậy là, ngay cả khi a và b được trình hiện là tồn tại, chẳng hạn, cách đều bản thân, và b, chẳng hạn, ở phía sau c, thì lại không thể trình hiện bằng tri giác rằng a tự cách đều bản thân nó với c, hoặc a ở phía sau c. Trong một ngữ cảnh khác, Johnson thấy có vi phạm tính hệ thống được cho là khác trong trình hiện tri giác: ‘mặc dù tôi có thể nhìn thấy (tưởng tượng) một hộp đen nhỏ bên trong một quả cầu thủy tinh lớn, nhưng tôi nghĩ rằng tôi không thể nhìn thấy (tưởng tượng) một quả cầu thủy tinh lớn bên trong một hộp đen nhỏ’ (2004, 131).

Những hàm ý của các ví dụ giả định như vậy về sự khác biệt giữa tri giác và tư duy phụ thuộc vào trạng thái và bản chất của khẳng định rằng Ràng buộc Khái quát (GC), hay tính hệ thống, áp dụng cho tư duy. Người ta hiểu rằng Evans coi GC như một ràng buộc tiên nghiệm đối với tư duy; chấp nhận quan điểm đó, Heck bằng lòng với khẳng định rằng trình hiện tri giác có thể bị ràng buộc về mặt không gian theo cách đã chỉ ra. Ngược lại, Fodor cho rằng tính hệ thống là một quy luật thực nghiệm, thừa nhận một số ngoại lệ nhất định, giống như các quy luật khoa học đặc biệt thừa nhận. Theo quan điểm đó, các ví dụ phản bác giả định của Heck và Johnson cần có bằng chứng thực nghiệm, và ngay cả khi đúng, chúng vẫn có thể được coi là những ngoại lệ chứng minh cho quy luật đó. Một bài học khác có thể rút ra từ các ví dụ được Johnson minh họa (2004, 2015), khi nêu ra quan điểm về tri giác như một phần của lập luận cho sự hoài nghi lớn hơn về việc liệu có phải bất kỳ hệ thống trình hiện tự nhiên nào, bao gồm cả tư duy và ngôn ngữ tự nhiên, đều mang tính hệ thống.3 Mandelbaum (2018) lập luận rằng tri giác, ít nhất là một phần, cũng có nội dung khái niệm, dựa trên cơ sở các hạng mục được trình bày về mặt tri giác được phân loại, cực kỳ nhanh chóng, thành các phạm trù cấp độ cơ bản như ô tô, chó, đàn guitar, v.v. Ông trích dẫn, trong số những phát hiện khác, các đối tượng có khả năng cao hơn mức ngẫu nhiên trong việc phân biệt liệu một chuỗi năm hình ảnh, mỗi hình ảnh được trình bày chỉ trong 13 ms (với màn che khuất tiến và lùi, để làm gián đoạn quá trình xử lý tri giác tiếp theo) có bao gồm hình ảnh, chẳng hạn, của một chiếc ô tô hay không. Mandelbaum cho rằng các quá trình nhận thức, từ trên xuống, hoạt động quá chậm để giải thích cho các phân loại như vậy.

3.3. Tính phi-diễn ngôn

Những ứng cử viên hàng đầu cho các hình thức trình hiện phi-diễn ngôn, khi nói đến việc đặc trưng hóa tri giác, là trình hiện analog vật tương tự và trình hiện iconic hình tượng. Mỗi thuật ngữ trong hai thuật ngữ này được hiểu theo những cách khác nhau trong các văn liệu gần đây. [Tr.9] Đối với analog ‘vật tương tự’, người ta có thể phân biệt một quan niệm ‘liên tục tính’, theo đó các hệ thống analog cho phép trình hiện thay đổi (xấp xỉ) liên tục dọc theo một số chiều, và một quan niệm ‘phản chiếu’, theo đó các phương tiện trình hiện analog thể hiện các cấu trúc làm cho chúng đồng dạng với, hoặc ít nhất là những tấm ‘gương’ nhạy cảm-cấu trúc của, lĩnh vực được trình hiện (ví dụ: khoảng cách lớn hơn giữa các điểm trên bản đồ tàu điện ngầm tương quan với khoảng cách lớn hơn giữa các ga – và biểu thị chiều dài tương đối một phần nhờ vào mối tương quan này).4 Ở đây, quan niệm về tính liên tục có thể bị gạt sang một bên.

Một số quan niệm về ‘hình tượng’, ví dụ như của Burge (2018) và Block (MS), làm cho nó thực sự đồng nghĩa với analog theo quan niệm phản chiếu. Một số người khác coi đó là quy ước (Fodor 2007; Clarke 2020), hoặc ít nhất là đúng về mặt tổng quát (Green và Quilty-Dunn 2017; Quilty-Dunn 2020), đó là các trình hiện hình tượng đáp ứng một “Nguyên tắc Hình ảnh” nhất định, không được ngụ ý bởi sự phản chiếu analog, theo đó bất kỳ phần nào của một trình hiện hình tượng đều đại diện cho một phần của cảnh tượng được thể hiện bởi toàn bộ (ví dụ, một phần của bức tranh về một con sư tử sẽ đại diện cho, chẳng hạn, mũi của nó). Cũng có sự bất đồng, như chúng ta sẽ thấy, về việc liệu các trình hiện phi-diễn ngôn có nhất thiết, hoặc thậm chí trình hiện điển hình cho một số chiều góc, chẳng hạn như hình dạng, hướng và màu sắc, một cách toàn diện, gộp lại với nhau hay không.

Beck (2019) lập luận rằng biểu tượng tri giác analog sẽ đưa ra một lời giải thích hấp dẫn cho định luật Weber, tức là định luật, nói một cách đại khái, cho rằng sự khác biệt có thể nhận biết được trong một đại lượng nhất định sẽ tăng lên khi đại lượng đó tăng lên; ví dụ: âm thanh lớn phải khác nhau nhiều hơn về độ lớn để có thể phân biệt được so với âm thanh nhỏ. Nếu độ lớn âm thanh được trình hiện tương tự, thì các trình hiện của hai độ lớn âm thanh sẽ tạo ra sự tương ứng về cấu trúc với các độ lớn âm thanh đó: các phương tiện trình hiện có thể được coi là tương tự nhau hơn khi các độ lớn âm thanh được trình hiện tương tự nhau (hãy so sánh trình hiện diễn ngôn ‘49,9 dB’, thứ có thể coi là tương tự với ‘39,9 dB’ hơn là ‘50 dB’). Vì các quá trình tâm lý tác động lên các trình hiện này có nhiều nhiễu, nên điều đó cho thấy rằng, khi tỷ lệ giữa hai trình hiện giảm đi, thì sự khác biệt giữa các độ lớn âm thanh mà chúng trình hiện sẽ khó phát hiện hơn, như định luật Weber dự đoán. Một lập luận khác ủng hộ trình hiện tri giác analog/tương tự đề cập đến các thí nghiệm ‘xoay hình ảnh trong tâm trí’ (Quilty-Dunn 2020; Block MS). Shepard và Metzler (1971) nhận thấy rằng thời gian cần thiết để phân biệt hai hình vẽ đường thẳng có mô tả các hình trùng khớp hay đảo ngược qua gương thì [tr.10] tỷ lệ thuận với mức độ khác biệt về hướng mô tả của chúng. Nếu quá trình “xoay trong tâm trí” cái hình ảnh tưởng tượng vận hành trên các biểu tượng trình hiện thể hiện sự tương ứng về cấu trúc của khoảng cách góc, thì phát hiện này có vẻ hợp lý. Vì có lý do để cho rằng hình ảnh và tri giác có cùng định dạng trình hiện biểu tượng, nên trình hiện tri giác cũng tương tự, hoặc ít nhất đó cũng là kết luận của tuyến lập luận hiện tại.

Green và Quilty-Dunn (Green và Quilty-Dunn 2017; Quilty-Dunn 2020) cho rằng, mặc dù trình hiện tri giác một phần là analog/tương tự, nhưng các trình hiện đối tượng tri giác (PORs - perceptual object representations) thì lại mang tính diễn ngôn. Họ viện dẫn các nghiên cứu cho thấy kẻ tri giác có thể nhớ lại một chiều góc của một đối tượng vừa biến mất, chẳng hạn như hướng của nó, mà không nhớ lại chiều góc khác, chẳng hạn như màu sắc của nó. Giả sử việc nhớ lại này khai thác PORs, thì PORs sẽ không mang tính biểu tượng, họ lập luận, bởi vì các trình hiện biểu tượng là “toàn diện”, theo nghĩa chúng trình hiện nhiều chiều cùng một lúc, gần giống như một số nét vẽ biểu hiện sắc độ, độ sáng, hình dạng và hướng của một đối tượng được vẽ (ngược lại, từ “xanh lam” chỉ thể hiện màu sắc). Nói một cách đơn giản: nếu các PORs giống như màu vẽ tồn tại để có thể tiếp cận được nhằm khôi phục hướng, thì chúng cũng phải có thể tiếp cận được để khôi phục màu sắc.

Block (MS) đồng ý rằng các trình hiện đối tượng trong một số nghiên cứu được Green và Quilty-Dunn trích dẫn mang tính diễn ngôn, nhưng cho rằng điều đó là do cách các nghiên cứu này đặt ra yêu cầu đối với bộ nhớ làm việc. Trong thị giác, trước khi khái niệm hóa trong bộ nhớ làm việc, thì người ta sử dụng các POR mang tính biểu tượng/tương tự. Block lập luận rằng điều này giải thích cách các khía cạnh hướng đối tượng và hướng không gian của tri giác tương tác theo những cách tinh tế, tỷ lệ thuận, tương tự như những gì được tìm thấy trong các thí nghiệm xoay hình ảnh trong tâm trí. Ví dụ, những kẻ tri giác, nếu các yếu tố khác như nhau, sẽ phản ứng nhanh hơn với các đặc điểm xuất hiện trên một đối tượng được chú ý so với các đặc điểm xuất hiện trên một đối tượng khác (ngay cả khi kiểm soát khoảng cách); tuy nhiên, trong phạm vi của một đối tượng được chú ý, thì sự chú ý vận hành trong không gian theo cách được cho là analog/tương tự: người ta sẽ phản ứng chậm hơn một cách tỷ lệ thuận với một đặc điểm khi nó xuất hiện càng xa trên bề mặt của đối tượng, so với vị trí ban đầu được chú ý trên bề mặt của nó. Theo Block nếu các POR thể hiện sự tương ứng về cấu trúc với sự mở rộng không gian, và các quá trình chú ý nhạy cảm với đặc điểm này của các POR, thì tính tỷ lệ thuận này là hợp lý. Hơn nữa, Block phản đối rằng yêu cầu toàn diện của Green và Quilty-Dunn là quá khắt khe. Mặc dù một số trình hiện biểu tượng đại diện cho nhiều chiều kích một cách toàn diện, gộp lại (như lon sơn), nhưng không phải tất cả đều phải như vậy. Việc chúng có làm như vậy hay không phụ thuộc vào năng lực trình hiện [tr. 11] hoặc các thao tác dựa trên hoặc xử lý các trình hiện được đề cập, đó là vấn đề mà Burge (2018) cũng nhấn mạnh.

3.4. Trình hiện phong cách-tri giác bên ngoài tri giác?

Những điều trên chỉ ra một số lý do được đưa ra để suy nghĩ (hoặc, tùy trường hợp có thể, nghi ngờ) rằng tri giác có trình hiện phi-định đề/-khái niệm/-diễn ngôn. Ngay cả khi trình hiện như vậy là cần thiết hoặc (một phần) cấu thành nên tri giác, thì nó cũng vẫn là độc quyền? Một lý do để nghi ngờ điều này là hình ảnh có thể được coi là ví dụ về sự trình hiện như vậy (xem, ví dụ: Burge 2010a; Phillips 2019), cũng như bản đồ nhận thức (Peacocke 1992) và các hình thái “nhận thức cốt lõi", chẳng hạn như các trình hiện số lượng cơ bản (Carey 2009; Beck 2012). Nếu việc sử dụng bản đồ nhận thức là có tính nhận thức, hoặc nhận thức cốt lõi (để biết thêm về điều này, xem phần 4.3 bên dưới), thì trình hiện phi-định đề/-khái niệm/-diễn ngôn sẽ không tách rời tri giác khỏi nhận thức được hiểu một cách toàn diện (mặc dù vẫn có thể phân biệt nó với các loại nhận thức theo hệ mẫu như niềm tin).

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Anders Nes, Kristoffer Sundberg & Sebastian Watzl (2021). The perception/cognition distinction, Published in Inquiry, Interdisciplinary Journal of Philosophy.

Notes

1 The review does not purport to be exhaustive. For reasons of space, we set aside, among other things, the view that perception is linked to specific sensory modalities while cognition is amodal (cf, McFarland and Cacace 1999; Burge 2010c, 46–47; Burge 2014, 574; and Phillips 2019 for discussion), and the idea, in McDowell’s influential account, that perceptual experience and thought, whilst both conceptual, differ in being respectively passive and active (McDowell 1994, 10–13; McDowell 2019, 391).

2 For discussion of various conceptions of non-conceptual content, see, e.g., Peacocke 1992; Heck 2000; Speaks 2005.

3 On the role of GC for the attribution of non-conceptual content, and the nature of thought, see also (Beck 2012).

4 For this distinction, and references to leading examples of each conception, see (Beck 2019, 331, nt. 23).

References

Allen, Keith. (2015). “Hallucination and Imagination.” Australasian Journal of Philosophy 93 (2): 287–302.

Bach, Kent. 2007. “Searle Against the World: how Can Experiences Find Their Objects?” In John Searle’s Philosophy of Language, edited by Savas L. Tsohatzidis, 64–78. Cambridge: Cambridge University Press.

Bayne, Tim, and Michelle Montague. 2011. “Cognitive Phenomenology: an Introduction.” In Cognitive Phenomenology, edited by Tim Bayne, and Michelle Montague, 1–34. Oxford: Oxford University Press.

Beck, Jacob. 2012. “The Generality Constraint and the Structure of Thought.” Mind; A Quarterly Review of Psychology and Philosophy 121 (483): 563–600.

Beck, Jacob. 2018. “Marking the Perception–Cognition Boundary: The Criterion of Stimulus-Dependence.” Australasian Journal of Philosophy 2: 319–334.

Beck, Jacob. 2019. “Perception is Analog: The Argument from Weber’s Law.” Journal of Philosophy 116 (6): 319–349.

Beck, Jacob, and Keith. A. Schneider. 2017. “Attention and Mental Primer.” Mind & Language 32 (4): 463–494.

Bergqvist, Anna, and Robert Cowan, eds. 2018. Evaluative Perception. Oxford: Oxford University Press.

Bird, Alexander., and Emma Tobin. 2017. “Natural Kinds.” In The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Spring 2017 Edition), edited by E. N. Zalta.

Block, Ned. 2014. “Seeing-As in the Light of Vision Science.” Philosophy and Phenomenological Research 89 (1): 560–572.

Block, Ned. 2016. “Tweaking the Concepts of Perception and Cognition.” Behavioral and Brain Sciences 39: 21–22. Block, Ned. MS. The Border between Seeing and Thinking.

Bourget, David. 2017. “Why Are Some Phenomenal Experiences ‘Vivid’ and Others ‘Faint’? Representationalism, Imagery, and Cognitive Phenomenology.” Australasian Journal of Philosophy 95 (4): 1–15.

Boyd, Richard. 1999. “Homeostasis, Species, and Higher Taxa.” In Species: New Interdisciplinary Essays, edited by R. A. Wilson, 141–185. Cambridge, MA: MIT Press.

Brewer, Bill. 2011. Perception and its Objects. Oxford: Oxford University Press.

Bruner, J. S. 1957. “On Perceptual Readiness.” Psychological Review 64 (2): 123–152.

Burge, Tyler. 2010a. The Origins of Objectivity. Oxford: Oxford University Press.

Burge, Tyler. 2010b. “Origins of Perception.” Disputatio 4 (29): 1–38.

Burge, Tyler. 2010c. “Steps Toward Origins of Propositional Thought.” Disputatio 4 (29): 39–67.

Burge, Tyler. 2014. “Reply to Block: Adaptation and the Upper Border of Perception.” Philosophy and Phenomenological Research 89 (3): 573–583.

Burge, Tyler. 2018. “Iconic Representation: Maps, Pictures, and Perception.” In The Map and the Territory, edited by Shyam Wuppuluri, and Francisco Antonio Doria, 79–100. Cham: Springer International Publishing.

Camp, E. 2019. “Perspectives and Frames in Pursuit of Ultimate Understanding.” In Varieties of Understanding, edited by S. Grimm, 17–46. Oxford: Oxford University Press.

Campbell, John. 2002. Reference and Consciousness. Oxford: Oxford University Press.

Carey, Susan. 2009. The Origin of Concepts. Oxford: Oxford University Press.

Carranante, Géraldine. 2020. The boundaries of perception: a conceptual engineering perspective. (PhD). PLS Université Paris.

Carrasco, Marrisa, and A. Barbot. 2019. “Spatial Attention Alters Visual Appearance.” Current Opinion in Psychology 29: 56–64.

Carruthers, Peter. 2006. The Architecture of the Mind. Oxford: Oxford University Press.

Chiappe, D. L. 2000. “Metaphor, Modularity, and the Evolution of Conceptual Integration.” Metaphor and Symbol 15 (3): 137–158.

Chisholm, Roderick M. 1957. Perceiving: A Philosophical Study. Ithaca, NY: Cornell University Press.

Chudnoff, Elijah. 2018. “Epistemic Elitism and Other Minds.” Philosophy and Phenomenological Research 2: 276–298.

Churchland, Paul M. 1988. “Perceptual Plasticity and Theoretical Neutrality: A Reply to Jerry Fodor.” Philosophy of Science 55 (June): 167–187.

Clark, Andy. 2016. Surfing Uncertainty: Prediction, Action, and the Embodied Mind. Oxford: Oxford University Press.

Clarke, Sam. 2020. “Beyond the Icon: Core Cognition and the Bounds of Perception.” Mind and Language 1–20. Doi: 10.1111/mila.12315.

Coates, Paul. 2000. “Deviant Causal Chains and Hallucinations: A Problem for the Anti-Causalist.” The Philosophical Quarterly 50 (200): 320–331.

Connolly, K. 2019. Perceptual Learning: The Flexibility of the Senses. Oxford: Oxford University Press.

Currie, G., and K. Sterelny. 2000. “How to Think About the Modularity of Mind-Reading.” The Philosophical Quarterly 50 (199): 145–160.

Davies, Martin. 1983. “Function in Perception.” Australasian Journal of Philosophy 61 (4): 409–426.

Davies, Martin. 1992. “Perceptual Content and Local Supervenience.” Proceedings of the Aristotelian Society 92: 21–45.

Drayson, Z. 2017. “Modularity and the Predictive Mind.” In Philosophy and Predictive Processing, edited by T. K. Metzinger, and W. Wiese, 1–12. Frankfurt am Main: MIND Group. doi:10.15502/9783958573130.

Driver, J., and G. C. Baylis. 1996. “Edge-assignment and Figure–Ground Segmentation in Short-Term Visual Matching.” Cognitive Psychology 31 (3): 248–306.

Drożdżowicz, Anna. this issue. “Do we Hear Meanings? – Between Perception and Cognition.” Inquiry, 1–33. doi:10.1080/0020174x.2019.

Dupré, John. 1993. The Disorder of Things: Metaphysical Foundations of the Disunity of Science. Cambridge: Cambridge University Press.

Evans, Gareth. 1982. Varieties of Reference, edited by John McDowell. Oxford: Oxford University Press.

Farennikova, Anna. 2013. “Seeing Absence.” Philosophical Studies 166 (3): 429–454.

Firestone, Chaz, and Brian J Scholl. 2016. “Cognition Does not Affect Perception: Envaluating the Evidence for “top-Down” Effects.” Behavioral and Brain Sciences 39: 1–7710.1017/S0140525X15000965.

Fish, William. 2013. “High-level Properties and Visual Experience.” Philosophical Studies 162 (1): 43–55.

Fodor, Jerry. 1983. The Modularity of Mind. Cambridge, MA: MIT press.

Fodor, Jerry. 2007. “The Revenge of the Given.” In Contemporary Debates in Philosophy of Mind, edited by Brian P. McLaughlin, and Jonathan Cohen, 105–116. Oxford: Blackwell.

Fodor, Jerry. 2008. LOT 2. The Language of Thought Revisited. Oxford: Oxford University Press.

Glüer, Kathrin. 2009. “In Defence of a Doxastic Account of Experience.” Mind & Language 24 (3): 297–327.

Green, E. J. 2020. “The Perception-Cognition Border: A Case for Architectural Division.” Philosophical Review 129 (3): 323–393.

Green, E. J., and Jake Quilty-Dunn. 2017. “What is an Object File?” British Journal for the Philosophy of Science, axx055, doi:10.1093/bjps/axx055.

Gross, Steven. 2017. “Cognitive Penetration and Attention.” Frontiers in Psychology 8: 1–12.

Hansen, T., M. Olkkonen, S. Walter, and K. R. Gegenfurtner. 2006. “Memory Modulates Color Appearance.” Nature Neuroscience 9 (11): 1367–1368.

Heck, Richard. 2000. “Nonconceptual Content and the “Space of Reasons”.” Philosophical Review 109 (4): 483–523.

Heck, Richard. 2007. “Are There Different Kinds of Content?” In Contemporary Debates in Philosophy of Mind, edited by Brian P. McLaughlin, and Jonathan D. Cohen, 117–138. Oxford: Blackwell.

Helton, Grace. 2016. “Recent Issues in High-Level Perception.” Philosophy Compass 11 (12): 851–862.

Helton, Grace. 2018. “Visually Perceiving the Intentions of Others.” Philosophical Quarterly 68 (271): 243–264.

Hohwy, Jakob. 2013. The Predictive Mind. Oxford: Oxford University Press.

Hume, David. 2000. 1738-9/A Treatise of Human Nature. Oxford: Oxford University Press.

Husserl, Edmund. 1973 /1997. Thing and Space: Lectures of 1907. R. Rojcewicz (Trans.). Dordrecht: Kluwer.

Johnson, Kent. 2004. “On the Systematicity of Language and Thought.” Journal of Philosophy 101 (3): 111–139.

Johnson, Kent. 2015. “Maps, Languages, and Manguages: Rival Cognitive

Architectures?” Philosophical Psychology 28 (6): 815–836.

Johnston, Mark. 2006. “Better Than Mere Knowledge? The Function of Sensory Awareness.” In Perceptual Experience, edited by T. S. Gendler, and John Hawthorne, 260–290. Oxford: Oxford University Press.

Kahan, D. M. 2012. “Ideology, Motivated Reasoning, and Cognitive Reflection: An Experimental Study.” Judgment and Decision Making 8: 407–424.

Kriegel, Uriah. 2011. “The Veil of Abstracta.” Philosophical Issues 21 (1): 245–267.

Kriegel, Uriah. 2019. “The Perception/Cognition Divide: One More Time, with Feeling.” In The Philosophy of Perception and Observation, edited by C. Limbeck-Lilienau, and F. Stadler, 92–103. Berlin: De Gruynter.

Leibniz, Gottfried Wilhelm. 1982. New Essays on Human Understanding, edited by P. Remnant, and J. Bennett. New York: Cambridge University Press.

Levin, D. T., and M. R. Banaji. 2006. “Distortions in the Perceived Lightness of Faces: The Role of Race Categories.” Journal of Experimental Psychology: General 135: 501–512.

Lewis, David. 1980. “Veridical Hallucination and Prosthetic Vision.” Australasian Journal of Philosophy 58 (3): 239–249.

Lewis, David. 2000. “Causation as Influence.” The Journal of Philosophy 97 (4): 182–197.

Ling, S., T. Liu, and M. Carrasco. 2009. “How Spatial and Feature-Based Attention Affect the Gain and Tuning of Population Responses.” Vision Research 49 (10): 1194–1204.

Lupyan, G. 2015. “Cognitive Penetrability of Perception in the age of Prediction: Predictive Systems are Penetrable Systems.” Review of Philosophy and Psychology 6: 547–569.

Macpherson, F. 2012. “Cognitive Penetration of Colour Experience: Rethinking the Issue in Light of an Indirect Mechanism.” Philosophy and Phenomenological Research 84 (1): 24–62.

Macpherson, F. 2017. “The Relationship Between Cognitive Penetration and Predictive Coding.” Consciousness and Cognition 47: 6–16.

Macpherson, Fiona, and Clare Batty. 2016. “Redefining Illusion and Hallucination in Light of New Cases.” Philosophical Issues 26 (1): 263–296. doi:10.1111/phis.12086.

Mandelbaum, Eric. 2018. “Seeing and Conceptualizing: Modularity and the Shallow Contents of Perception.” Philosophy and Phenomenological Research 97 (2): 267–283.

Martin, Michael G. F. 2006. “On Being Alienated.” In Perceptual Experience, edited by Tamar Szabó Gendler, and John Hawthorne, 354–410. Oxford: Oxford University Press.

Martinez-Trujillo, J. C., and S. Treue. 2004. “Feature-based Attention Increases the Selectivity of Population Responses in Primate Visual Cortex.” Current Biology 14 (9): 744–751.

McDowell, John. 1994. Mind and World. Cambridge, MA: MIT Press.

McDowell, John. 2013. Avoiding the Myth of the Given and Other Philosophical Thoughts. John McDowell Interviewed by James O’Shea. Dublin: University College Dublin.

McDowell, John. 2019. “Responses to Brewer, Gupta, and Siegel.” Philosophical Issues 29 (1): 390–402.

McFarland, D., and A. Cacace. 1999. “Defining Perception and Cognition.” Behavioral and Brain Sciences 22 (3): 383–385.

Mole, Christopher. 2015. “Attention and Cognitive Penetration.” In The Cognitive Penetrability of Perception: New Philosophical Perspectives, edited by John Zeimbekis, and Athanasios Raftopoulos, 218–237. Oxford: Oxford University Press.

Montague, Michelle. this issue. “The Sense/Cognition Distinction.” Inquiry, 1–17. doi:10.1080/0020174X.2018.1562371.

O’Shaughnessy, Brian. 1992. “The Diversity and Unity of Action and Perception.” In The Contents of Experience, edited by Tim Crane. 216–266. Cambridge: Cambridge University Press.

Peacocke, Christopher. 1979. Holistic Explanation: Action, Space, Interpretation. Oxford: Clarendon Press.

Peacocke, Christopher. 1992. A Study of Concepts. Cambridge, MA: MIT Press.

Pepp, Jessica. this issue. “On Pictorially Mediated Mind-Object Relations.” Inquiry, 1–29. doi:10.1080/0020174X.2018.1562372.

Phillips, Ben. 2019. “The Shifting Border Between Perception and Cognition.” Noûs 53 (2): 316–346.

Phillips, I., and N. Block. 2016. “Debate on Unconscious Perception.” In Current Controversies in Philosophy of Perception, edited by B. Nanay, 165–192. New York: Routledge.

Price, Carolyn. 1998. “Perception and Normal Causal Chains.” Philosophical Studies: An International Journal for Philosophy in the Analytic Tradition 89 (1): 31–51.

Pryor, James. 2000. “The Skeptic and the Dogmatist.” Noûs 34 (4): 517–549.

Pylyshyn, Z. 1999. “Is Vision Continuous with Cognition?: The Case for Cognitive Impenetrability of Visual Perception.” Behavioral and Brain Sciences 22 (3): 341–365.

Quilty-Dunn, Jake. 2020. “Attention and Encapsulation.” Mind and Language 35 (3): 335–349.

Quilty-Dunn, Jake. 2020. “Perceptual Pluralism.” Noûs 54 (4): 807–838.

Recanati, François. 2007. Perpectival Thought. Oxford: Oxford University Press.

Robinson, Howard. 1994. Perception. London: Routledge.

Samuels, Richard. 2006. “Is the Human Mind Massively Modular?” In Contemporary Debates in Cognitive Science, edited by R. Stainton, 37–56. Oxford: Blackwell.

Schellenberg, Susanna. 2018. The Unity of Perception. Oxford: Oxford University Press.

Searle, John R. 1983. Intentionality. Cambridge: Cambridge University Press.

Serences, J. T., and S. Kastner. 2014. “A Multi-Level Account of Selective Attention.” In The Oxford Handbook of Attention, edited by Kia Nobre and Sabine Kastner, 76–104. Oxford: Oxford University Press.

Shea, N. 2015. “Distinguishing Top-Down from Bottom-Up Effects.” In Perception and Its Modalities, edited by S. Biggs, M. Matthen, and D. Stokes, 73–91. Oxford: Oxford University Press.

Shepard, R. N., and J. Metzler. 1971. “Mental Rotation of Three-Dimensional Objects.” Science 171 (3972): 701–703.

Siegel, S. 2010. The Contents of Visual Experience. Oxford: Oxford University Press.

Speaks, Jeff. 2005. “Is There a Problem About Nonconceptual Content?” Philosophical Review 114 (3): 359–398.

Spelke, E. S. 2003. “Core Knowledge.” In Functional Neuroimaging of Visual Cognition, edited by N. Kanwisher, and J. Duncan, 29–55. Oxford: Oxford University Press.

Sperber, D. 2002. “In Defense of Massive Modularity.” In Language, Brain and Cognitive Development, edited by I. Dupoux, 47–57. Cambridge, MA: MIT Press.

Stalnaker, Robert. 1998. “What Might Nonconceptual Content be?” Philosophical Issues 9: 339–352.

Stokes, D. 2013. “Cognitive Penetrability of Perception.” Philosophy Compass 8 (7): 646–663.

Strawson, Peter F. 1959. Individuals. London: Methuen.

Suchting, W. A. 1969. “Perception and the Time-Gap Argument.” The Philosophical Quarterly (1950-) 19 (74): 46–56. doi:10.2307/2218187.

Sundberg, Kristoffer. 2019. Perceiving properties. (PhD), University of Oslo.

Taylor, H. 2020. “Fuzziness in the Mind: Can Perception be Unconscious?” Philosophy and Phenomenological Research 101 (2): 383–398.

Thau, Michael. 2002. Consciousness and Cognition. Oxford: Oxford University Press.

Travis, Charles. 2013. Perception: Essays After Frege. Oxford: Oxford University Press.

Tye, Michael. 1982. “A Causal Analysis of Seeing.” Philosophy and Phenomenological Research 42 (3) (Mar, 1982): 311–325.

Tye, Michael. 2011. “The Admissible Contents of Visual Experience.” In The Admissible Contents of Experience, edited by Katherine Hawley, and Fiona Macpherson, 172–193. Chichester: Wiley-Blackwell.

Walton, Kendall. 1984. “Transparent Pictures: On the Nature of Photographic Realism.” Critical Inquiry 11 (2) (Dec, 1984): 246–277.

Watzl, Sebastian. 2017. Structuring Mind. The Nature of Attention and How It Shapes Consciousness. Oxford: Oxford University Press.

Webster, M. A. 2015. “Visual Adaptation.” Annual Review of Vision Science 1: 547–567.

Williams, Daniel. this issue. “Hierarchical Minds and the Perception/Cognition Distinction.” Inquiry, 1–23. doi:10.1080/

Wu, W. 2014. Attention: New Problems of Philosophy Series. London: Routledge.

Wu, W. 2017. “Shaking up the Mind’s Ground Floor: the Cognitive Penetration of Visual Attention.” The Journal of Philosophy 114 (1): 5–32.