Powered By Blogger

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXVII)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

3. Vật thể và Thế giới Tự nhiên

Tuy nhiên, chúng ta chưa khai thác hết ý nghĩa của ‘sự vật’ khi định nghĩa nó như là sự tương quan giữa thân thể và cuộc sống của chúng ta. Sau cùng, chúng ta chỉ nắm bắt được nhất tính của thân thể mình trong nhất tính của sự vật, và chính bằng cách lấy sự vật làm điểm xuất phát mà bàn tay, đôi mắt và tất cả các giác quan của chúng ta hiện ra trước mắt chúng ta như những công cụ có thể thay thế cho nhau. Bản thân cơ thể, cơ thể khi nghỉ ngơi chỉ là một khối lượng mơ hồ, và chúng ta tri giác nó như một thực thể chính xác và có thể nhận dạng được khi nó chuyển động về phía một vật thể, và trong chừng mực nó được phóng chiếu một cách có tính ý hướng ra bên ngoài, thì ngay cả khi đó, tri giác này cũng không bao giờ có gì khác hơn là ngẫu nhiên và mang tính ngoại biên đối với ý thức, mà trung tâm của nó bị chiếm giữ bởi sự vật và thế giới. Như chúng ta đã nói, người ta không thể hình dung bất kỳ vật thể nào được tri giác mà không có kẻ tri giác nó. Nhưng thực tế vẫn là vật thể tự hiện diện trước kẻ tri giác nó như một vật tự thân, và do đó đặt ra vấn đề về một thứ đích thực en-soi-pour-nous tự-nó-cho-ta. [Ghi chú về en-soi-pour-nous: La phénoménologie de Michel Dufrenn est la réduction à “ce qui est en soi pour nous” dont use le philosophe. La coïncidence originaire du subjectif et de l’objectif suppose en même temps l’indepassabilité du dualisme qui ne peut ainsi s’approfondir qu’au sein d’une Nature en elle-même impensable. L’oscillation perpétuelle entre le subjectif et l’objectif qui se met en œuvre à l’intérieur de cette perspective va donc de pair avec une oscillation perpétuelle entre le dualisme et le monisme. Fidèles au cheminement Dufrennien tel qu’il se présente dans la Phénoménologie de l’expérience esthétique (1953), cheminement qui se réfléchit aussi dans deux œuvres centrales dédiées à la phénoménologie La Notion d’a priori (1959) et L'Inventaire des a priori (1971), pour traiter de cette circularité, il faut consacrer la première partie à pour prendre en charge cette circularité, de dédier une première partie à l’étude de l’objet esthétique, une deuxième partie à celui de la perception et une troisième à une réflexion sur l’impasse de l’impensable qu’est la Nature. Sachant que toutes les parties se réfèrent les unes aux autres et s’entrecroisent en s’approfondissant à partir d’un point de vue spécifique propre à chacune des parties, notre ambition est d’accompagner cet approfondissement progressif de la relation du sujet à l’objet. Au fur et à mesure que le sens s’intériorise, notre participation est de plus en plus requise, l’apparaître au travers des apparences se donnant sous la forme d’un écart entièrement immanent à la perception. Nous progressons en suivant le fil des propositions, des éclairages qui s’imposent à notre réflexion dans toute leur subtilité, la difficulté étant à chaque fois de les restituer dans leur originarité pour essayer de les render sensibles. Phiên nghĩa: Hiện tượng học của Michel Dufrenn là phép quy giản về ‘cái-tự-thân-cho-ta’ mà nhà triết học sử dụng. Sự trùng hợp ban đầu giữa chủ quan và khách quan đồng thời giả định tính không thể vượt qua của nhị nguyên luận, do đó chỉ có thể được đào sâu hơn nữa trong một Tự nhiên tự nó là không thể nghĩ tới. Sự dao động liên tục giữa chủ quan và khách quan diễn ra trong quan điểm này do đó song hành với sự dao động liên tục giữa nhị nguyên luận và nhất nguyên luận. Trung thành với cách tiếp cận của Dufrenn như được trình bày trong Hiện tượng học Trải nghiệm Thẩm mỹ (1953), một cách tiếp cận cũng được phản ánh trong hai tác phẩm trung tâm dành cho hiện tượng học, Khái niệm Tiên nghiệm (1959) và Danh mục Tiên nghiệm (1971), Để giải quyết tính tuần hoàn này, phần đầu tiên phải dành cho việc nghiên cứu đối tượng thẩm mỹ, phần thứ hai cho việc nghiên cứu nhận thức, và phần thứ ba cho sự suy ngẫm về bế tắc của cái không thể nghĩ tới là Tự nhiên. Hiểu rằng tất cả các bộ phận đều quy chiếu và giao thoa với nhau, đào sâu từ một góc nhìn cụ thể độc đáo của mỗi bộ phận, tham vọng của chúng ta là đồng hành cùng sự đào sâu dần dần này vào mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng. Khi ý nghĩa được nội tại hóa, thì càng đòi hỏi sự tham gia của chúng ta, sự xuất hiện thông qua các biểu hiện mang hình thức của một khoảng trống hoàn toàn nội tại đối với tri giác. Chúng ta tiến lên bằng cách theo dõi mạch các mệnh đề, những hiểu biết tự áp đặt lên sự suy ngẫm của chúng ta với tất cả sự tinh tế của chúng, khó khăn mỗi lần là khôi phục chúng về trạng thái ban đầu để cố gắng làm cho chúng trở nên dễ nhận biết. Theo Francesca Rusconi Clerici (2023). En soi pour nous: la phénoménologie de Mikel Dufrenne. Philosophie. Université Panthéon-Sorbonne - Paris I, 2023. Français - HHN] Thông thường chúng ta không nhận thấy điều này bởi vì tri giác của chúng ta, trong bối cảnh những mối quan tâm hàng ngày, chỉ tập trung vào sự vật một cách kỹ lưỡng để khám phá sự hiện diện quen thuộc của chúng, nhưng không đủ kỹ lưỡng để tiết lộ yếu tố phi-nhân ẩn giấu bên trong. Nhưng sự vật luôn tự tách biệt khỏi chúng ta và vẫn [tr.376] luôn tự-túc. Điều này sẽ trở nên rõ ràng nếu chúng ta tạm gác lại những mối bận tâm thông thường và dành sự chú ý siêu hình và vô tư cho nó. Khi đó, nó trở nên thù địch và xa lạ, không còn là kẻ đối thoại, mà là một Cái Khác im lặng kiên quyết, một Tự Ngã trốn tránh chúng ta không kém gì sự thân mật với một ý thức bên ngoài. Sự vật và thế giới, như chúng ta đã nói, được đưa ra để giao tiếp tri giác giống như một khuôn mặt quen thuộc với biểu cảm được hiểu ngay lập tức. Nhưng sau đó, một khuôn mặt chỉ thể hiện điều gì đó thông qua sự sắp xếp của màu sắc và ánh sáng tạo nên nó, ý nghĩa của ánh nhìn không nằm sau đôi mắt, mà nằm trong chúng, và chỉ cần một chút màu sắc là đủ để họa sĩ biến đổi biểu cảm khuôn mặt của một bức chân dung. Trong những tác phẩm thời kỳ đầu, Cézanne cố gắng vẽ biểu cảm trước hết và trên hết, và đó là lý do tại sao ông không bao giờ nắm bắt được nó. Ông dần dần nhận ra rằng biểu cảm là ngôn ngữ của chính sự vật và bắt nguồn từ cấu hình của nó. Tranh của ông là một nỗ lực để tái hiện lại diện mạo của sự vật và khuôn mặt bằng cách tái tạo toàn diện cấu hình cảm giác của chúng. Đây là điều mà tự nhiên liên tục và dễ dàng đạt được, và đó là lý do tại sao các bức tranh của Cézanne là ‘những bức tranh của một tiền-thế giới mà trong đó chưa có con người tồn tại’.55  Sự vật xuất hiện với chúng ta ở trên như là mục tiêu của một mục đích luận về cơ thể, chuẩn mực của khung cảnh tâm sinh lý của chúng ta. Nhưng đó chỉ là một định nghĩa tâm lý không làm rõ ý nghĩa đầy đủ của sự vật được định nghĩa, và quy giản sự vật thành những trải nghiệm mà chúng ta gặp phải nó. Giờ đây chúng ta khám phá ra cốt lõi của thực tại: một sự vật là một sự vật bởi vì, bất cứ điều gì nó truyền đạt cho chúng ta, đều được truyền đạt thông qua chính sự tổ chức của các khía cạnh khả giác của nó. Cái ‘thực’ là môi trường trong đó mỗi khoảnh khắc không chỉ không thể tách rời khỏi phần còn lại, mà theo một cách nào đó còn đồng nghĩa với chúng, trong đó các ‘khía cạnh’ có ý nghĩa tương hỗ và hoàn toàn tương đương. Đó là sự trọn vẹn hoàn hảo: không thể mô tả đầy đủ màu sắc của tấm thảm mà không nói rằng đó là một tấm thảm, được làm bằng len, và không hàm ý trong màu sắc này một giá trị xúc giác nhất định, một trọng lượng nhất định và một sự kháng cự chống lại một thanh âm nhất định. Vấn đề là cách hiện hữu mà định nghĩa đầy đủ về một trong những thuộc tính của nó đòi hỏi định nghĩa đầy đủ về chủ thể trong tính toàn bộ của nó; do đó, cũng định nghĩa một thực thể mà ý nghĩa của nó không thể phân biệt được với diện mạo tổng thể của nó. Cézanne lại nói [tr.377]: ‘Đường nét và màu sắc không còn tách biệt nữa; tỷ lệ thuận với việc vẽ, người ta vẽ đường nét, và màu sắc càng hài hòa thì đường nét càng trở nên rõ ràng hơn… khi màu sắc phong phú nhất, thì hình thức cũng hoàn thiện nhất’.56 Với cấu trúc được chiếu sáng, hậu cảnh và tiền cảnh đều khả thể. Với sự xuất hiện của sự vật, cuối cùng có thể có những hình thức và vị trí đơn nghĩa. Hệ thống các diện mạo, các trường tiền không gian [prespatial fields - các trường tiền không gian - đề cập đến các khung khái niệm hoặc vật lý tồn tại trước hoặc độc lập với không gian và thời gian có cấu trúc, có tổ chức; những trường này thường liên quan đến các trạng thái cơ bản, thô sơ hoặc tiền ý thức, bao gồm các khung phi thời gian trong vật lý hoặc nhận thức giác quan rộng, không phân biệt, trong đó các đối tượng cụ thể, và định vị là chưa được phân biệt - HHN] có được điểm tựa và cuối cùng trở thành một không gian. Nhưng không phải chỉ có các đặc điểm hình học được kết hợp với màu sắc. Chính ý nghĩa của sự vật được xây dựng trước mắt chúng ta, một ý nghĩa mà không một phân tích ngôn từ nào có thể diễn tả hết, và nó hòa quyện với sự thể hiện của sự vật trong tính hiển nhiên của nó. Mỗi nét màu mà Cézanne sử dụng, như E. Bernard nói, phải ‘chứa đựng bầu không khí, ánh sáng, vật thể, hình khối, tính cách, đường nét và phong cách’.57 Mỗi mảng cảnh tượng hữu hình đáp ứng vô số điều kiện, và bản chất của thực tại là nén vào mỗi khoảnh khắc của nó vô số mối quan hệ. Giống như sự vật, bức tranh phải được nhìn thấy chứ không phải được định nghĩa, tuy nhiên, mặc dù là một thế giới nhỏ tự bộc lộ trong thế giới lớn hơn, nhưng nó vẫn không thể đòi hỏi cùng một thực thể tính. Chúng ta cảm thấy rằng nó được tạo ra theo thiết kế, trong đó ý nghĩa đi trước tồn tại và chỉ khoác lên mình lượng vật chất tối thiểu cần thiết cho việc truyền đạt. Mặt khác, điều kỳ diệu của thế giới thực là ở chỗ trong đó ý nghĩa và tồn tại là một, và chúng ta thấy tồn tại hiện hữu một cách rõ ràng trong ý nghĩa. Trong cõi tưởng tượng, tôi vừa mới hình thành ý hướng nhìn thấy thì tôi cũng tin rằng mình đã nhìn thấy. Cái tưởng tượng không có chiều sâu và không đáp ứng những nỗ lực thay đổi quan điểm của chúng ta; nó không tự thân phù hợp với quan sát của chúng ta58 và không bao giờ nắm bắt được nó. Mặt khác, trong mọi tri giác, chính cái vật chất mới tự thân mang ý nghĩa và hình dạng. Nếu tôi đợi ai đó trên một con phố mờ tối, thì mỗi kẻ xuất hiện đều có vẻ ngoài không rõ ràng. Có kẻ đang hiện ra, và tôi vẫn chưa biết liệu mình có nhận ra đó là người mình đang đợi hay không. Hình bóng quen thuộc sẽ hiện ra từ nền mờ ảo này như mặt đất [tr.378] hiện ra từ màn sương mù vậy.

Cái thực khác biệt với những hư cấu của chúng ta bởi vì trong thực tế, ý nghĩa bao trùm và thấm đẫm phẩm chất. Khi một bức tranh bị xé nát, ta chỉ còn lại những mảnh vải vụn. Nhưng nếu ta đập vỡ một hòn đá rồi tiếp tục đập vỡ thành từng mảnh, những mảnh còn lại vẫn là những mảnh đá. Cái thực cho phép ta khám phá không ngừng; nó là vô tận. Đó là lý do tại sao các vật thể thuộc về con người, các công cụ, dường như được đặt trên thế giới, trong khi vạn vật lại bắt nguồn từ một nền tảng tự nhiên xa lạ với con người. Đối với sự tồn tại của con người, sự vật không phải là một cực thu hút mà là một cực đẩy. Chúng ta không bắt đầu bằng việc nhận biết các khía cạnh về mặt quan điểm của sự vật; nó không được các giác quan - cảm giác hay quan điểm của chúng ta - trung gian hóa; chúng ta tiến thẳng đến nó, và chỉ bằng cách thứ cấp, chúng ta mới nhận thức được giới hạn của tri ​​thức và của chính bản thân mình với tư cách biết. Đây là một con xúc xắc; hãy xem xét nó như nó được hiện bày, ở tư thế tự nhiên, cho một người chưa bao giờ tự hỏi về tri giác, và sống giữa vạn vật. Con xúc xắc ở đó, nằm trong thế giới. Khi chủ thể đi quanh nó, không phải các dấu hiệu mà là các mặt xúc xắc xuất hiện, hắn không thấy các hình chiếu hay hình dạng của con xúc xắc, nhưng lúc thì lại thấy chính con xúc xắc từ mặt này, lúc thì từ mặt khác, những hình ảnh chưa xác định đó giao tiếp, hòa quyện với nhau, tất cả đều tỏa ra từ một Würfelhaftigkeit59 hình khối trung tâm - mối liên kết huyền bí giữa chúng.

Một tập các quy giản xuất hiện ngay từ khoảnh khắc chúng ta xem xét chủ thể tri giác. Trước hết, tôi nhận thấy rằng con xúc xắc này chỉ dành riêng cho tôi. Có lẽ sau tất cả, những người xung quanh không nhìn thấy nó, và chỉ riêng điều này đã tước đi một số yếu tố thực tại của nó; nó không còn tồn tại tự thân để trở thành cực điểm của một lịch sử cá nhân. Sau đó, tôi nhận thấy rằng, nói một cách chính xác, con xúc xắc chỉ được trình bày cho tôi thông qua thị giác, và ngay lập tức tôi chỉ còn lại bề mặt bên ngoài của toàn bộ con xúc xắc; nó mất đi tính vật chất, tự trống rỗng và bị quy giản thành một cấu trúc thị giác gồm hình dạng, màu sắc, ánh sáng và bóng tối. Nhưng hình dạng, màu sắc, ánh sáng và bóng tối không nằm trong khoảng không, vì chúng vẫn giữ một điểm tựa, đó là vật thể thị giác. Hơn nữa, vật thể thị giác vẫn có một cấu trúc không gian, điều này mang lại cho các thuộc tính chất lượng của nó một giá trị cụ thể: nếu tôi biết rằng con xúc xắc chỉ là ảo ảnh, thì màu sắc của nó sẽ thay đổi ngay lập tức, và nó không còn có cùng cách điều chỉnh không gian nữa. Tất cả các mối quan hệ không gian có thể tìm thấy trong con xúc xắc và có khả năng được thể hiện rõ ràng, ví dụ như khoảng cách từ mặt gần nhất đến mặt xa nhất, kích thước ‘thực’ của các góc, hướng ‘thực’ của các cạnh, đều không thể tách rời trong hiện hữu của nó với tư cách một con xúc xắc hữu hình. Chính bằng cách quy giản lần thứ ba mà chúng ta chuyển từ vật thể trực quan sang khía cạnh phối cảnh: Tôi nhận thấy rằng không phải tất cả các mặt của con xúc xắc đều nằm trong tầm nhìn của tôi, và một số mặt bị biến dạng. Thông qua lần quy giản cuối cùng, rồi thì tôi cũng đạt đến cái cảm giác không còn là thuộc tính của vật thể nữa, hoặc thậm chí của khía cạnh phối cảnh, mà là sự biến đổi của cơ thể tôi.60 Trải nghiệm về sự vật không trải qua tất cả các trung gian này, và do đó vật thể không được trình hiện cho một tâm trí nắm bắt từng lớp cấu thành như là đại diện cho một lớp cao hơn, gây dựng nó từ đầu đến cuối. Nó tồn tại chủ yếu ở tính hiển nhiên của nó, và bất kỳ nỗ lực nào để định nghĩa sự vật, dù là cực điểm của đời sống thể xác tôi, hay là khả tính thường trực của cảm giác, hoặc là sự tổng hợp của các hiện tượng, đều đặt vào vị trí của chính sự vật trong hiện hữu nguyên thủy của nó một cuộc tái cấu trúc không hoàn hảo của sự vật với sự trợ giúp của những mảnh vụn thuộc về nguồn gốc chủ quan. Làm thế nào chúng ta có thể hiểu được sự vật là tương quan với cơ thể biết của tôi, và việc nó từ chối cơ thể đó? Cái được cho không phải là chính sự vật, mà là trải nghiệm về sự vật, hay một cái gì đó siêu việt chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chủ thể tính của kẻ nào đó, một loại thực thể tự nhiên mà người ta có thể thoáng thấy qua lịch sử cá nhân. Theo cách tiếp cận hiện thực luận, ta cố gắng biến tri giác thành trùng hợp ngẫu nhiên với sự vật, thì sẽ không thể hiểu được sự kiện tri giác là gì, làm sao chủ thể có thể đồng hóa sự vật, làm thế nào sau khi trùng hợp với sự vật, kẻ đó có thể đưa nó vào lịch sử của chính mình, vì ex hypothesi theo giả thuyết, kẻ đó sẽ không sở hữu gì về nó. Để tri giác được sự vật, chúng ta cần phải sống với chúng. Tuy nhiên, chúng ta bác bỏ chủ nghĩa duy tâm liên quan đến quan điểm tổng hợp, bởi vì nó cũng làm sai lệch mối quan hệ trải nghiệm của chúng ta với sự vật. Trong chừng mực chủ thể tri giác tổng hợp kết quả tri giác, thì hắn phải thống trị và nắm bắt trong tư tưởng một chất liệu của tri giác, để tổ chức và tự mình liên kết, từ bên trong, tất cả các khía cạnh của sự vật, điều này [tr.380] có nghĩa là tri giác không còn cố hữu trong một chủ thể cá nhân và một quan điểm, và sự vật mất đi tính siêu việt và mờ đục của nó. ‘Sống’ trải một sự vật không phải là trùng khớp với nó, cũng không phải là hoàn toàn ôm lấy nó trong tư tưởng.

Do đó, vấn đề của chúng ta trở nên rõ ràng. Chủ thể tri giác phải, mà không từ bỏ vị trí và quan điểm của mình, và trong sự mơ hồ của cảm giác, vươn tới những sự vật mà anh ta không có chìa khóa từ trước, và dù vậy anh ta vẫn mang trong mình dự án, và mở lòng mình ra với một Kẻ Khác tuyệt đối mà anh ta đang chuẩn bị trong sâu thẳm hiện hữu của mình. Sự vật không hề là một mẩu, bởi vì mặc dù các khía cạnh về phối cảnh và dòng chảy luôn thay đổi của các diện mạo không được đặt định rõ ràng, tất cả đều sẵn sàng để được tri giác và được đem đến trong ý thức phi-đặt định, chính xác đến mức cần thiết để tôi có thể thoát khỏi chúng và hòa mình vào sự vật. Khi tôi nhận thức một viên sỏi, tôi không ý thức rõ ràng rằng mình chỉ biết đến nó qua đôi mắt, chỉ tận hưởng một số khía cạnh phối cảnh nhất định của nó, nhưng một phân tích theo những khuôn khổ này, nếu tôi thực hiện, cũng không làm tôi ngạc nhiên. Trước đó, tôi đã biết một cách mơ hồ rằng ánh nhìn của tôi là phương tiện và công cụ của nhận thức toàn diện, và viên cuội hiện ra trước mắt tôi dưới ánh sáng ban ngày, trái ngược với bóng tối dày đặc của các cơ quan trong cơ thể tôi. Tôi có thể tưởng tượng ra những vết nứt có thể có trong khối rắn chắc của sự vật nếu tôi nghĩ đến việc nhắm một mắt hoặc nghĩ về phối cảnh. Chính theo cách này mà người ta có thể nói rằng sự vật là kết quả của một dòng chảy các hiện tượng chủ quan. Tuy nhiên, tôi thực sự không tạo ra nó, theo nghĩa tôi không chủ động và thông qua quá trình kiểm tra tinh thần để xác định mối quan hệ tương hỗ của nhiều khía cạnh được trình bày cho các giác quan, và mối quan hệ của tất cả chúng với các loại thiết bị cảm giác khác nhau của tôi. Chúng ta đã diễn đạt điều này bằng cách nói rằng tôi tri giác bằng cơ thể mình. Vật thể thị giác xuất hiện khi ánh mắt của tôi, theo những chỉ dẫn được cảnh tượng đưa ra, kết hợp ánh sáng và bóng tối trải rộng trên đó, cuối cùng dừng lại trên bề mặt được chiếu sáng như trên những gì ánh sáng tiết lộ. Ánh mắt của tôi ‘biết’ ý nghĩa của một mảng sáng nhất định trong một ngữ cảnh nhất định; nó hiểu logic của ánh sáng. Nói một cách tổng quát hơn, có một logic của thế giới mà toàn bộ cơ thể tôi tuân theo, và thông qua đó những thứ có ý nghĩa liên giác quan đối với chúng ta trở nên khả thể. Trong chừng mực nó có năng lực đồng vận, cơ thể tôi biết ý nghĩa, đối với toàn bộ kinh nghiệm của tôi, của màu sắc này hay màu sắc khác được thêm vào hoặc bớt đi, và sự xuất hiện của bất kỳ sự thay đổi nào như vậy [tr.381] ngay lập tức được nhận ra từ sự trình bày và ý nghĩa chung của đối tượng. Việc sở hữu các giác quan, ví dụ như thị giác, là sở hữu bộ máy tổng quát đó, tập hợp các mối quan hệ thị giác khả thể mà nhờ đó chúng ta có thể tiếp nhận bất kỳ nhóm hình ảnh nào. Việc sở hữu một cơ thể là sở hữu một bối cảnh phổ quát, một sơ đồ của tất cả các loại khai triển tri giác và của tất cả những tương ứng giữa các giác quan nằm ngoài phân đoạn của thế giới mà chúng ta thực sự đang tri giác. Do đó, một sự vật không thực sự được cho sẵn trong tri giác, nó được chúng ta tiếp nhận từ bên trong, được chúng ta tái cấu trúc và trải nghiệm trong chừng mực nó gắn liền với một thế giới, mà các cấu trúc cơ bản của nó chúng ta luôn mang theo bên mình, và nó chỉ là một trong nhiều hình thức cụ thể khả thể. Mặc dù là một phần kinh nghiệm sống của chúng ta, nhưng nó vẫn siêu việt so với cuộc sống của chúng ta bởi vì cơ thể con người, với những thói quen tạo nên môi trường sống của con người xung quanh nó, luôn hướng về thế giới tự thân. Hành vi của động vật hướng đến một Umwelt khung cảnh động vật và các trung tâm Widerstand kháng cự. Nếu cố gắng đặt nó dưới những kích thích tự nhiên không có ý nghĩa cụ thể, thì chúng ta sẽ tạo ra chứng loạn thần kinh.61 Hành vi của con người mở ra một Welt thế giới và một Gegenstand đối tượng vượt ngoài những công cụ mà nó tự tạo ra, và thậm chí còn có thể coi cơ thể của chính mình như một đối tượng. Cuộc sống con người được định nghĩa dựa trên sức mạnh tự phủ nhận bản thân trong tư duy khách quan, một sức mạnh bắt nguồn từ sự gắn bó nguyên thủy của nó với thế giới tự thân. Cuộc sống con người không chỉ ‘hiểu’ một môi trường nhất định, mà còn vô số môi trường khả thể, và hiểu chính mình bởi vì nó được liệng vào một thế giới tự nhiên.

Vậy điều cần làm sáng tỏ là nhận thức cơ bản này về thế giới. Thế giới tự nhiên, như chúng ta đã nói, là sơ đồ của các mối quan hệ liên giác. Theo Kant, chúng ta không hiểu đó là một hệ thống các mối quan hệ bất biến mà mọi sự vật tồn tại đều phải tuân theo trong chừng mực nó có thể được biết đến. Nó không giống như một khối lập phương pha lê, tất cả các cạnh của nó có thể được hình dung nhờ cấu trúc hình học của nó, và thậm chí còn tiết lộ các mặt ẩn của nó, vì nó trong suốt. Thế giới có nhất tính của nó, mặc dù tâm trí có thể chưa thành công trong việc liên-kết nối các khía cạnh của nó và tích hợp chúng vào khái niệm về một hình chiếu hình học hóa [tr.382]. Nhất tính này có thể so sánh với nhất tính của một cá nhân mà tôi nhận ra bởi vì anh ta có thể nhận ra một cách hiển nhiên không thể tranh cãi, trước khi tôi thành công trong việc nêu ra công thức chi phối tính cách của anh ta, bởi vì anh ta giữ nguyên phong cách đó trong mọi điều anh ta nói và làm, ngay cả khi anh ta có thể thay đổi vị trí hoặc quan điểm của mình. Phong cách là một cách thức nhất định để xử lý các tình huống, mà tôi nhận diện hoặc hiểu được ở một cá nhân hoặc một tác giả, bằng cách tự mình tiếp nhận cách thức đó theo một kiểu bắt chước, ngay cả khi tôi hoàn toàn không thể định nghĩa được nó: và trong bất kỳ trường hợp nào, một định nghĩa, dù đúng đến đâu, cũng không bao giờ cung cấp được một tương đương chính xác, và không bao giờ có ích cho bất kỳ ai ngoài những kẻ đã có trải nghiệm thực tế. Tôi trải nghiệm nhất tính của thế giới khi tôi nhận ra một phong cách. Tuy nhiên, ngay cả như vậy thì phong cách của một người, hoặc của một thị trấn, cũng không giữ nguyên đối với tôi. Sau mười năm tình bạn, ngay cả khi không tính đến bất kỳ thay đổi nào do tuổi tác mang lại, tôi dường như đang giao tiếp với một kẻ khác, và sau mười năm sống ở một vùng miền, dường như tôi lại đang ở một vùng miền khác. Tuy nhiên, chỉ có tri ​​thức về sự vật là thay đổi. Mặc dù thoạt nhìn gần như không được chú ý, nhưng nó được biến đổi bởi sự khai triển của tri giác. Thế giới vẫn là thế giới ấy suốt cuộc đời tôi, bởi vì đó là thực thể vĩnh hằng mà trong đó tôi thực hiện mọi điều chỉnh đối với tri ​​thức của mình, một thế giới mà trong nhất tính của nó vẫn không bị ảnh hưởng bởi những điều chỉnh kia, và tính hiển nhiên của nó thu hút hoạt động của tôi hướng tới chân lý thông qua dung mạo và sai lầm. Nó nằm ngoài tri giác thoạt đầu của một đứa trẻ như một hiện diện vẫn chưa được nhận ra nhưng không thể chối cãi, mà kiến ​​thức sau này sẽ làm cho nó trở nên xác định và hoàn chỉnh. Tôi có thể sai lầm, và cần phải sắp xếp lại những gì mình tin chắc, và bác bỏ thứ hiện hữu mà những ảo tưởng của tôi tạo ra, nhưng tôi không hề nghi ngờ rằng tự bản thân mọi thứ đã tương thích và compossible khả tổ hợp, bởi vì ngay từ đầu tôi đã giao tiếp với một hiện hữu duy nhất, và chỉ một hiện hữu duy nhất, một cá thể rộng lớn mà từ đó những trải nghiệm của tôi được lấy đi, và thực thể đó vẫn tồn tại trên đường chân trời cuộc đời tôi như tiếng gầm rú xa xăm của một thành phố lớn tạo thành nền cảnh cho mọi việc chúng ta làm trong đó. Người ta nói rằng âm thanh hoặc màu sắc thuộc về một trường cảm giác, bởi vì âm thanh một khi đã được tri giác chỉ có thể được tiếp nối bởi những âm thanh khác, hoặc bởi sự im lặng, không phải là sự trống rỗng về thính giác, mà là sự vắng mặt của âm thanh, và do đó, giữ cho chúng ta tiếp xúc với sự hiện hữu của âm thanh. Nếu, trong quá trình suy ngẫm, tôi ngừng nghe thấy âm thanh, và sau đó đột nhiên trở nên nhạy cảm [tr.383] với chúng một lần nữa, thì dường như chúng đã ở đó với tôi, và tôi nhặt lại một sợi chỉ mà tôi đã đánh rơi nhưng nó vẫn còn  nguyên vẹn. Trường cảm giác là một bối cảnh mà tôi sở hữu cho một loại trải nghiệm nhất định, và một khi đã được thiết lập, nó không thể bị hủy bỏ. Cách sở hữu thế giới của chúng ta cũng tương tự như vậy, ngoại trừ việc có thể hình dung một chủ thể không có trường thính giác, nhưng không thể hình dung một chủ thể không có thế giới.62 Hệt như vậy, ở chủ thể có thính giác, sự vắng mặt của âm thanh không cắt đứt mọi giao tiếp với thế giới âm thanh, thì trong trường hợp một chủ thể bị điếc và mù bẩm sinh, sự vắng mặt của thế giới thị giác và thính giác không cắt đứt mọi giao tiếp với thế giới nói chung. Luôn có điều gì đó đối diện với anh ta, một hiện hữu cần được giải mã, một omnitudo realitatis thực tại toàn năng và nền tảng của khả tính này được đặt ra vĩnh viễn bởi trải nghiệm giác quan đầu tiên, dù nó có nhỏ hẹp hay bất toàn hảo đến đâu. Chúng ta không có cách nào khác để biết thế giới là gì ngoài việc chủ động chấp nhận sự khẳng định này, điều được thực hiện rất tức thì trong chúng ta; bởi vì bất kỳ định nghĩa nào về thế giới cũng chỉ là một bản tóm tắt và phác thảo sơ lược, không truyền đạt được gì cho chúng ta, nếu chúng ta không tiếp cận được cái đã được xác định, nếu chúng ta không thực sự biết nó chỉ đơn giản nhờ vào hiện hữu của chúng ta. Tất cả các hoạt động logic của chúng ta liên quan đến ý nghĩa đều phải dựa trên kinh nghiệm về thế giới, và do đó, bản thân thế giới không phải là một ý nghĩa nhất định chung cho tất cả các kinh nghiệm mà chúng ta nhận thấy trong đó, một ý niệm nào đó thổi hồn vào vật chất của tri thức. Thế giới không chứa đựng cho chúng ta một tập hợp các đường nét mà một ý thức nào đó bên trong chúng ta liên kết lại thành một nhất tính. Đúng là thế giới tự hiện diện như những đường nét, trước hết là về không gian tính; ở đây tôi chỉ nhìn thấy phía nam của con phố, trong khi nếu tôi băng qua, tôi sẽ thấy phía bắc; tôi cũng chẳng thấy gì ngoài Paris, và vùng nông thôn mà tôi vừa bỏ lại phía sau dường như chìm vào một đời sống ẩn tàng. Khi chúng ta đi sâu hơn vào đó, những đường nét không gian cũng mang tính thời gian: ở nơi khác luôn có điều gì đó chúng ta đã thấy hoặc có thể thấy; và ngay cả khi tôi tri giác nó đồng thời với hiện tại, thì vì nó là một phần của cùng một làn sóng thời gian. Thị trấn mà tôi đang dần đi đến cũng thay đổi diện mạo của nó, như tôi nhận ra khi tôi quay mắt đi trong giây lát rồi nhìn lại. Nhưng những đường nét không [tr.384] tiếp nối nhau hoặc đứng cạnh nhau trước mặt tôi.

Trải nghiệm của tôi ở những giai đoạn khác nhau này gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức tôi không thể liên kết các quan điểm khác nhau với nhau thông qua khái niệm về một yếu tố bất biến. Cơ thể tri giác không lần lượt chiếm giữ các điểm nhìn khác nhau dưới ánh mắt của một ý thức không xác định nào đó đang suy nghĩ về chúng. Bởi vì chính phép phản ánh mới khách quan hóa các điểm nhìn, trong khi khi tôi tri giác, thông qua điểm nhìn của mình, tôi thuộc về thế giới như một chỉnh thể, và tôi thậm chí không nhận thức được giới hạn của trường thị giác của mình. Sự đa dạng của các điểm nhìn chỉ được gợi ý bởi một sự dịch chuyển bất khả tri giác, một hiệu ứng ‘mờ nhạt’ nhất định trong dung mạo. Nếu các đường nét liên tiếp thực sự được phân biệt rõ ràng với nhau, như trường hợp tôi lái xe về phía một thị trấn và chỉ nhìn nó một cách gián đoạn, thì không còn tri giác về thị trấn nữa, vì tôi đột nhiên thấy mình đối mặt với một vật thể khác không có chung kích thước với vật thể trước đó. Cuối cùng tôi đưa ra phán quyết: ‘Đó là Chartres’, và kết hợp hai hình ảnh lại với nhau, nhưng tôi có thể làm được điều đó bởi vì cả hai đều được rút ra từ cùng một tri giác về thế giới, do đó tri giác này không thể có sự gián đoạn tương tự. Chúng ta không thể cấu thành tri giác về sự vật và về thế giới từ các khía cạnh riêng biệt, cũng như chúng ta không thể tạo ra tầm nhìn hai mắt đối với một vật thể từ hai hình ảnh đơn mắt. Trải nghiệm của tôi về thế giới được tích hợp vào một thế giới duy nhất khi hình ảnh kép hợp nhất thành một sự vật, khi ngón tay tôi ngừng ấn vào nhãn cầu. Tôi không có một góc nhìn này rồi đến một góc nhìn khác, và giữa chúng có một mối liên hệ được tạo ra bởi sự hiểu biết, mà mỗi góc nhìn hợp nhất vào góc nhìn khác và, chừng nào vẫn còn có thể nói về sự tổng hợp, thì chúng ta vẫn đang đề cập đến một ‘tổng hợp chuyển tiếp’. Điều đặc biệt đúng là tầm nhìn hiện tại của tôi không bị giới hạn bởi những gì trường thị giác thực sự thể hiện cho tôi, bởi vì căn phòng kế bên, phong cảnh phía sau ngọn đồi đó và bên trong hoặc phía sau của vật thể đó không được gợi nhớ hoặc tái hiện. Quan điểm của tôi đối với tôi không phải là sự hạn chế của kinh nghiệm mà là cách tôi thâm nhập vào thế giới một cách toàn diện. Khi tôi nhìn thấy đường chân trời, nó không khiến tôi nghĩ đến một phong cảnh khác mà tôi sẽ thấy nếu tôi đứng trên đó, cũng như phong cảnh khác đó không khiến tôi nghĩ đến một phong cảnh thứ ba, v.v.; tôi không hình dung ra bất cứ điều gì; tất cả những phong cảnh này đã ở đó trong chuỗi hài hòa và khai triển vô tận các góc nhìn về chúng. Khi tôi nhìn thấy màu xanh tươi sáng chiếc bình của Cézanne [tr.385], nó không khiến tôi nghĩ đến đồ gốm, mà nó trình hiện đồ gốm cho tôi. Đồ gốm ở đó, với bề mặt ngoài mỏng, nhẵn và bên trong xốp, theo cách đặc biệt mà màu xanh lá cây biến đổi về sắc độ. Trên chân trời bên trong và bên ngoài của sự vật hay phong cảnh, có sự hiện diện và cùng tồn tại của các đường nét được tạo ra thông qua không gian và thời gian. Thế giới tự nhiên là chân trời của mọi chân trời, phong cách của mọi phong cách khả thể, đảm bảo cho trải nghiệm của tôi một nhất tính vốn có, không phải là nhất tính do ý chí tạo ra, nằm dưới tất cả những xáo trộn trong cuộc sống cá nhân và lịch sử của tôi. Đối trọng của nó bên trong tôi là sự tồn tại vốn có, chung chung và tiền cá nhân của các chức năng cảm giác mà trong đó chúng ta đã khám phá ra định nghĩa về cơ thể. Nhưng làm thế nào tôi có thể trải nghiệm thế giới như một cá nhân tồn tại tích cực, vì không có góc nhìn nào về nó mà tôi được hưởng có thể bao quát hết nó, vì chân trời của nó luôn luôn rộng mở, và hơn nữa, không có tri ​​thức nào, ngay cả tri ​​thức khoa học, cung cấp cho chúng ta công thức bất biến về một facies totius universi diện mạo toàn thể của vũ trụ? [Facies totius universi - diện mạo của toàn bộ vũ trụ - là thuật ngữ của Baruch Spinoza, mô tả vũ trụ như một thực thể vật chất duy nhất, vô hạn, bao gồm tất cả các cơ sở phức tạp và đơn giản; đây là một ‘phương thức vô hạn trực tiếp’ trong triết học Spinoza, đại diện cho hệ thống năng động nhất của tự nhiên. HHN]  Làm sao bất cứ thứ gì có thể thực sự và chân thật tự hiện diện trước mắt chúng ta, khi mà sự tổng hợp về nó không bao giờ là một quá trình hoàn chỉnh, và khi tôi luôn có thể dự đoán nó sẽ tan vỡ và trở thành một ảo ảnh đơn thuần? Tuy nhiên, vẫn có cái gì đó chứ không phải là hư vô. Vẫn có một thực tại xác định, ít nhất là ở một mức độ tương đối nhất định. Ngay cả khi cuối cùng tôi không có tri ​​thức tuyệt đối về viên đá này, và ngay cả khi tri ​​thức của tôi về nó dẫn tôi từng bước trên một con đường vô tận và không bao giờ có thể hoàn chỉnh, thì sự thật vẫn là viên đá được tri giác vẫn ở đó, tôi nhận ra nó, tôi đã đặt tên cho nó và chúng ta đồng ý về một số nhận định nhất định về nó. Như vậy, dường như chúng ta bị dẫn đến một mâu thuẫn: niềm tin vào sự vật và thế giới phải bao hàm giả định về một sự tổng hợp hoàn chỉnh—và tuy nhiên sự hoàn chỉnh này lại trở nên bất khả thể bởi chính bản chất của các quan điểm phải liên quan đến nhau, vì mỗi quan điểm, nhờ vào tầm nhìn của nó, đều quy chiếu đến các quan điểm khác, và cứ thế tiếp diễn vô tận. Thực sự có một mâu thuẫn, miễn là chúng ta hoạt động trong phạm vi hiện hữu, nhưng mâu thuẫn đó biến mất, hay đúng hơn là được khái quát hóa, khi được liên kết với các điều kiện tối thượng trong kinh nghiệm của chúng ta và trở thành một với khả tính sống và tư duy, nếu chúng ta hoạt động trong thời gian, và nếu chúng ta hiểu được thời gian như là thước đo của hiện hữu. Phép tổng hợp các chân trời về bản chất là một quá trình thời gian, nghĩa là, nó không phụ thuộc vào thời gian, không thụ động với thời gian, cũng không phải thắng thế thời gian, [tr.386] mà là nó hòa nhập với chính sự vận động mà theo đó thời gian trôi qua.

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

55 F. Novotny, Das Problem des Menschen Cézanne im Verhältnis zu seiner Kunst, p. 275.

56 Gasquet, Cézanne, p. 123.

57 E. Bernard, La Méthode de Cézanne, p. 298.

58 J. P. Sartre, L’Imaginaire, p. 19.

59 Scheler, Der Formalismus in der Ethik, p. 52.

60 Scheler, Der Formalismus in der Ethik, pp. 51–4.

61 See La Structure du Comportement, pp. 72 and ff.

62 E. Stein, Beitrüge zur phänomenologischen Begründung der Psychologie und der Geisteswissenschaften, pp. 10 and ff.



 

 

 

 

 

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Khái niệm Tự nhiên và Hữu thể luận Xác thịt của Merleau-Ponty (II)

Ane Faugstad Aarø

Người đọc: Hà Hữu Nga

Theo lời của Merleau-Ponty (1968: 11), đó là “[...] niềm tin chắc chắn không thể biện minh được về một thế giới khả giác chung với chúng ta chính là nơi trú ngụ của chân lý bên trong chúng ta”. Đây sẽ là điểm xuất phát của tôi trong việc phân tích khái niệm tự nhiên. Bởi vì trong cùng một câu hỏi còn có câu hỏi về cách thức tạo ra ý nghĩa: “Tư tưởng phải tự đặt ra cho mình vấn đề về nguồn gốc ý nghĩa của chính nó”, ông viết (tham khảo Husserl) (Merleau-Ponty 1968: 12). Nỗ lực này hiện diện xuyên suốt các tác phẩm của Husserl, và trong các tác phẩm cuối đời của Merleau-Ponty. Điều đáng chú ý hơn nữa là việc cấu thành ý nghĩa không phải là chủ đề trung tâm trong triết học này. Ông khẳng định rằng hiểu biết và kinh nghiệm không tương quan với tri ​​thức về ngôn ngữ (tiếng Pháp), mà đúng hơn là chúng được xây dựng trên tính thân thuộc không được diễn đạt với thế giới thông qua cơ thể. Ngôn ngữ, đến lượt mình cũng có tính vật chất và tính lý tưởng phản ánh tri giác.8

Nhưng điều đáng chú ý là vấn đề chất lượng trong tri giác lại không được đề cập thường xuyên hơn. Dường như nếu chúng ta xem xét nghiêm túc khẳng định cho rằng chìa khóa của tri giác nằm ở việc quay trở lại kinh nghiệm trực tiếp, hay quay trở lại chính bản thân sự vật, thì chúng ta cũng sẽ trung thực với những gì kinh nghiệm về thế giới cho chúng ta biết. Merleau-Ponty chưa bao giờ quay trở lại vấn đề này sau khi đã đề cập đến chủ đề như một kết quả dự kiến ​​của các phân tích về năng lực biểu đạt trong tri giác. Nhưng cách ông sử dụng ngôn từ để mô tả thế giới tri giác của chúng ta, về cơ bản là sự giao tiếp lại ngụ ý rằng ông coi ý nghĩa và chất lượng là những thuộc tính có thể truyền đạt được trong chiều sâu giao thoa giữa hữu hình/vô hình, chiều dọc và chiều ngang trong các mối quan hệ của tri giác. Chính trong tính thân thuộc nguyên thủy, chưa được phản ánh của chúng ta với tự nhiên mà chúng ta sẽ tìm thấy những hiện tượng tạo ra giác quan của chúng ta về một thế giới chung. Câu sau đây từ các bài giảng của ông về Tự nhiên đưa ra gợi ý về cách chúng ta nên bắt đầu: “Chúng ta chỉ có thể xây dựng một khái niệm hợp thức về Tự nhiên nếu chúng ta tìm thấy điều gì đó ở điểm giao nhau giữa Hữu thể và Hư vô” (Merleau-Ponty 2003: 70).      

Tuyên bố này cho thấy truyền thống có thể mang lại những gì về mặt quan điểm, và những gì chúng ta cần lưu ý khi bắt đầu phân tích tri giác. Có điều gì đó rút lui khỏi chúng ta trong tri giác, đại diện cho một lực lượng bí ẩn dường như xa lạ với hoạt động có tính ý hướng của chúng ta. Và sức mạnh này thúc đẩy sự chú ý và hứng thú của chúng ta để nhìn lại, tìm hiểu thêm và điều chỉnh quan điểm của mình để nắm bắt tốt hơn những điều chúng ta thấy. Khi khảo sát thế giới tự nhiên, chúng ta cần giao tiếp, điều chỉnh và lắng nghe thấu đáo. Sự đối lập mà chúng ta gặp phải khi trải nghiệm hiện hữu tự nhiên đại diện cho một loại siêu việt [tr.340] thách thức chúng ta phải diễn giải và phải diễn giải đúng; thật không thỏa đáng khi dự phóng một câu trả lời nào đó mà chúng ta tạo ra đối với tự nhiên mà không cố gắng tìm kiếm một quan điểm tốt hơn, chân thực hơn, trong chừng mực có thể. Đây là điều tôi tin là tính định chuẩn của tri giác. Chúng ta bị thu hút để lắng nghe, nhìn và hiểu, chẳng hạn tâm trạng của một khu rừng tĩnh lặng, cơn cuồng nộ của đại dương, nỗi đau của một con vật, hoặc động lực sống còn của mọi sinh vật cùng sinh tồn với chúng ta. Không cần phải nói, luận điểm về khả nghịch tính chính là nền tảng cho sự hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên (và còn có ảnh hưởng đến giao tiếp liên chủ thể nữa).

Các phân tích của Merleau-Ponty về tri giác và mối quan hệ giữa cơ thể sống với chính nó và thế giới tri giác cho thấy những khó khăn trong cách diễn giải truyền thống của chúng ta về tự ngã và sự vật. Dường như tự ngã và thế giới vật chất nằm ở hai phía đối lập của một vực thẳm, nơi tự ngã vươn tới đối tượng một cách vô vọng như thể đó là một ‘Ding an sich’ Vật tự thân của Kant, [Quan điểm của Kant về Vật tự thân: Theo học thuyết duy tâm siêu nghiệm do Immanuel Kant (1724-1804) đề xướng, vật tự thân là thực thể siêu nghiệm tuyệt đối, tự chứa đựng, vượt ra ngoài và độc lập với mọi khả năng kinh nghiệm, là nền tảng của thực tại đích thực của thế giới hiện tượng, thế giới duy nhất mà con người có thể tiếp cận được bằng kinh nghiệm. Theo Kant, thực tại chỉ có thể tiếp cận được với chúng ta thông qua các hình thức trực giác về không gian và thời gian và thông qua tư duy theo phạm trù, tuy nhiên, những điều này chỉ tồn tại trong mối quan hệ giữa thực tại và ý thức trải nghiệm chứ không cấu thành nên bản thể tự thân. Bản chất đích thực của thực tại, nằm ngoài kinh nghiệm giác quan-phạm trù, do đó về cơ bản là không thể tiếp cận được đối với loài người. Khi làm như vậy, Kant không chỉ phủ nhận thực tại của các thuộc tính giác quan thứ cấp, tức là các phẩm chất như màu sắc, âm thanh, mùi, vị v.v., như John Locke đã làm trước đó, mà còn phủ nhận thực tại của các thuộc tính giác quan sơ cấp, tức là tất cả các hiện tượng không gian và thời gian. (Jens Heisterkamp: Gegen das Dogma vom "Ding an sich". In: Zeitschrift INFO3, Februar 2017, S. 47 - 49) Theo Kant: „Daß man unbeschadet der wirklichen Existenz äußerer Dinge von einer Menge ihrer Prädicate sagen könne: sie gehörten nicht zu diesen Dingen an sich selbst, sondern nur zu ihren Erscheinungen und hätten außer unserer Vorstellung keine eigene Existenz, ist etwas, was schon lange vor Lockes Zeiten, am meisten aber nach diesen allgemein angenommen und zugestanden ist. Dahin gehören die Wärme, die Farbe, der Geschmack etc.. Daß ich aber noch über diese aus wichtigen Ursachen die übrigen Qualitäten der Körper, die man primarias nennt, die Ausdehnung, den Ort und überhaupt den Raum mit allem, was ihm anhängig ist (Undurchdringlichkeit oder Materialität, Gestalt etc.), auch mit zu bloßen Erscheinungen zähle, dawider kann man nicht den mindesten Grund der Unzulässigkeit anführen; und so wenig wie der, so die Farben nicht als Eigenschaften, die dem Object an sich selbst, sondern nur den Sinn des Sehens als Modificationen anhängen, will gelten lassen, darum ein Idealist heißen kann: so wenig kann mein Lehrbegriff idealistisch heißen, blos deshalb weil ich finde, daß noch mehr, ja alle Eigenschaften, die die Anschauung eines Körpers ausmachen, blos zu seiner Erscheinung gehören; denn die Existenz des Dinges, was erscheint, wird dadurch nicht wie beim wirklichen Idealism aufgehoben, sondern nur gezeigt, daß wir es, wie es an sich selbst sei, durch Sinne gar nicht erkennen können.“ “Việc người ta có thể nói về vô số thuộc tính của chúng, mà không làm ảnh hưởng đến sự tồn tại thực tế của các sự vật bên ngoài, việc chúng không thuộc về bản thân các sự vật đó, mà chỉ thuộc về hình thức bên ngoài của chúng, và không có sự tồn tại độc lập nào ngoài sự tái hiện của chúng ta, là điều đã được chấp nhận và thừa nhận rộng rãi từ rất lâu trước thời Locke, nhưng đặc biệt là sau đó. Điều này bao gồm cả hơi ấm, màu sắc, vị giác, v.v. Nhưng vì những lý do quan trọng, ngoài những điều này ra, tôi còn bao gồm vào đó các thuộc tính khác của vật thể, được gọi là primarias sơ bộ—sự mở rộng, vị trí và không gian nói chung với mọi thứ phụ thuộc vào nó (tính không thấm nước hoặc tính vật chất, hình dạng, v.v.)—trong số những hình thức bên ngoài đơn thuần, mà không thể đưa ra bất kỳ lý do nào để bác bỏ; và cũng giống như việc một người không coi màu sắc là thuộc tính thuộc về tự thân vật thể, mà chỉ thuộc về giác quan thị giác như những biến đổi, vì vậy không thể được gọi là một người theo chủ nghĩa duy tâm: do đó khó có thể gọi học thuyết của tôi là duy tâm, chỉ vì tôi còn thấy thêm rằng, thực sự tất cả các thuộc tính, ‘những thuộc tính cấu thành nên tri giác về một vật thể chỉ thuộc về hình thức bên ngoài của nó;’ vì sự tồn tại của sự vật vốn xuất hiện, do đó không phủ nhận được, như trong chủ nghĩa duy tâm chân chính, mà chỉ cho thấy rằng chúng ta không thể tri giác được nó với tư cách nó tồn tại tự thân thông qua các giác quan của chúng ta.” – Immanuel Kant: Kritik der reinen Vernunft, 1. Auflage, 1781, AA IV, S.289-HHN] mãi mãi không thể tiếp cận được với sự hiểu biết của chúng ta. Đúng là Kant coi lý trí gắn liền với tri giác về thế giới. Nhưng vẫn còn vấn đề về vị thế của chủ thể tính, một mặt như là điều kiện tiên quyết cho một thế giới, và mặt khác, ý niệm về chủ thể tính tồn tại tách biệt khỏi kinh nghiệm—hay, như Merleau-Ponty gọi triết lý này trong Hiện tượng học Tri giác là phép “phản tư phân tích” (Merleau-Ponty 2008).       

Đồng nhất hay Phủ định—Gần gũi hay Khoảng cách?

Trong các bài giảng Khái niệm về Tự nhiên, Merleau-Ponty đã nói: “Trong khuôn khổ giới thiệu này, việc mà chúng tôi sẽ hoàn thiện vào đầu năm tới bằng cách phác thảo các vấn đề của lý thuyết hệ thống nguồn gốc, chúng tôi có thể nói rằng Hữu thể luận về sự sống, cũng như về ‘bản chất vật lý’, chỉ có thể thoát khỏi những rắc rối của nó bằng cách quay trở lại, ngoài nhân tạo luận, [artificialism - nhân tạo luận một thuật ngữ do Jean Piaget đặt ra, dùng để chỉ quan điểm mang tính tôn giáo cho rằng mọi vật đều được tạo ra bởi một thực thể thông minh có toàn quyền kiểm soát các đặc tính, chuyển động và hành vi của chúng. HHN] với hiện hữu thô sơ được tiết lộ trong sự tiếp xúc tri giác của chúng ta với thế giới. Chỉ trong thế giới được tri giác, chúng ta mới có thể hiểu rằng toàn bộ corporéité tính nhục thể đều đã là biểu tượng.” (Merleau-Ponty 1988: 166)

Các bài giảng đã được giới thiệu về Biểu tượng và Cơ thể Con người đã bị trì hoãn để dành thời gian nghiên cứu về Cái hữu hình và Cái vô hình. Do đó, chính trong tác phẩm sau này mà chúng ta có thể tìm thấy lý thuyết về corporéité tính nhục thể như là sự giao tiếp, điều này rất thú vị trong bối cảnh của ngữ nghĩa học về hiện hữu. Ở đó, ông mô tả tri giác như một cái gì đó nằm giữa sự đồng nhất với và sự phủ nhận thế giới; và khi làm như vậy, ông đề cập đến khái niệm về hư vô và sự phủ định của Sartre. Ông đã phát triển một giải pháp thay thế cho luận điểm của Sartre về hư vô tạo ra khoảng cách và sự khác biệt giữa tri giác và thế giới, điều này có thể được xem như một khía cạnh của sự cô lập truyền thống của kẻ tri giác, và có thể được đặt trong tư tưởng nhị nguyên luận. Điều cần thiết vào thời điểm đó là một phân tích phê phán về các cặp đối lập siêu việt/nội tại—pour-soi/en-soi cho-nó/tự-nó, bên trong và bên ngoài, hình thức và vật chất—đã được nhiều nhà diễn giải đề cập đến, và trước hết là M. C. Dillon (1997: 159) trong tác phẩm ‘Hữu thể luận của Merleau-Ponty’. Chính thông qua luận điểm về réversibilité khả nghịch tính mà cuối cùng Merleau-Ponty đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tính đồng nhất và khoảng cách, nhận thức nguyên thủy vô danh hay kinh nghiệm tiền phản tư, đối diện trực tiếp với ‘chủ thể tính’ và phép phản tư. Như Ted Toadvine (2009) viết trong cuốn Triết học Tự nhiên của Merleau-Ponty, Schelling là người đầu tiên [tr.341] đề cập đến câu hỏi về  paradoxe Selbstvermittlung phép tự trung gian nghịch lý của hiện hữu bằng cách đặt ra câu hỏi về cách phản tư có thể suy nghĩ về bản chất tiền phản tư. Erste Natur bản chất đầu tiên, mà ông mô tả là “sự dư thừa của hiện hữu so với ý thức về hiện hữu” (Tự nhiên, trang 62/38) là một “nguyên tắc dã man tự bộc lộ trong kinh nghiệm tri giác của chúng ta trước khi phản tư […] Bằng cách khôi phục ‘trạng thái bất-phân chia’ tri giác trước chủ thể và đối tượng, Schelling nhằm mục đích tiết lộ tính phổ biến của chúng ta với toàn bộ sự sống trong một ‘gốc rễ chung của hiện hữu tiền khách quan’ (Tự nhiên 64/40).” (Toadvine 2009: 118).9

Kẻ tri giác, với tư cách được tri giác, đánh dấu các yếu tố cốt lõi của cấu trúc khả nghịch tính. Chúng ta nên thận trọng không nên cho rằng kinh nghiệm tiền phản tư về tự nhiên giống với tiềm thức. Nó khác xa với những phản ứng vô thức đối với một thế giới đã được hình thành. Sự đan xen là một cơ sở hữu thể luận, một điều kiện cấu trúc tiên quyết cho kinh nghiệm, dựa trên cơ sở cần thiết cho rằng thế giới không phải là một hiện tượng ‘bên ngoài’ và tư duy là một hiện tượng 'bên trong', mà có sự tương tác qua lại giữa đối tượng được tri giác và kẻ tri giác; kẻ tri giác bằng xác thịt. Những yếu tố này xâm lấn lẫn nhau như những yếu tố của hiện hữu, không có ranh giới rõ ràng, mặc dù chúng là chất xúc tác cho nhau trong toàn bộ hiện hữu (Merleau-Ponty 1968: 139). Do đó sự giao thoa giữa cái được tri giác và cái vô hình, những khía cạnh sâu sắc hơn chính là mối liên kết sâu sắc và không thể phá vỡ, là tuyến hành lang nối liền giữa chúng ta và thế giới tri giác của chúng ta, thứ mà, nếu mối quan tâm của chúng ta là tìm kiếm một khái niệm hợp lệ về tự nhiên (“đâu đó tại điểm giao nhau giữa Hữu thể và Hư vô”), đồng thời tái cấu trúc các vấn đề của thuyết nhị nguyên và chủ thể tính (bị cô lập) của nó.

Chức năng Hữu thể luận của Xác thịt

Khái niệm về xác thịt đã đạt được điều gì liên quan đến việc diễn giải các hiện tượng tự nhiên? Liệu nó có thể được coi là một lời giải thích triết học hiệu quả về các thuộc tính của hiện hữu tự nhiên? Xác thịt được giới thiệu trong triết học của Merleau-Ponty thông qua việc khám phá ra sự tương đồng giữa các khía cạnh khả kiến và xúc giác của tri giác: giữa cái khả kiến và cái nhìn thấy. Trải nghiệm về cái khả kiến và cái khả xúc mạc, và sự bao trùm của cái khả kiến lên kẻ nhìn và cái nhìn của cái khả kiến— tất cả các khía cạnh đều chỉ ra một yếu tố tương hỗ có thể bao gồm và duy trì những hiện tượng này, nhưng vẫn giữ được phẩm chất của chúng trong cấu trúc. Xác thịt không phải là mẫu số cho sự kết hợp giữa thể xác và tinh thần, mà là sự nhấn mạnh về mặt hữu thể luận của mối quan hệ hiện thân giữa tri giác và thế giới, cũng như là chân trời phổ quát.  Tính vật chất mà xác thịt đại diện không phải là ‘chất liệu’, mà nên được hiểu là nguyên tắc vật chất, mang lại tính khái quát cho lĩnh vực vẫn liên quan đến thực tính. Nó là điều kiện cho sự hiện thân, giữa không gian-thời gian và ý niệm (Merleau-Ponty 1968: 139). Tôi hiểu nó như một nguyên tắc vừa có chức năng vừa có cấu trúc, chống lại các phạm trù của cả bản chất và tính lý tưởng, chẳng hạn như một nguyên tắc siêu hình điều chỉnh. Yếu tố vật chất của xác thịt cho phép chúng ta tiếp cận hiện tượng của cái khả kiến theo cách tiết lộ chiều sâu cố hữu trong tri giác, một chiều sâu liên quan đến những quan điểm không bao giờ hiện diện của nó, nhưng vẫn luôn có đó để khai triển hiện tượng. Trong bối cảnh trải nghiệm tự nhiên, khái niệm này sẽ đóng vai trò là nền tảng của lĩnh vực mà chúng ta [tr.342] đang nghiên cứu, diễn giải và tạo lập ý nghĩa về môi trường tự nhiên và các sinh thể của nó. Như vậy, đây là một lý thuyết duy trì quá trình diễn giải theo cách phản-quy giản luận. Hơn nữa, nó đảm bảo rằng chính trường tri giác là một phần của quá trình diễn giải và mang lại hiểu biết về tự nhiên. Điểm nhấn này rõ ràng đưa chúng ta thoát khỏi tư duy khách quan luận về tự nhiên, vốn là mục tiêu và trọng tâm của bài luận này. Và chính đặc tính sống động của cơ thể, là thể xác, vật chất, vốn duy trì trường hiện tượng luận này, thông qua hoạt động mà thị giác và chuyển động tác động lên thế giới.

Là kết quả đầu tiên của luận điểm về khả nghịch tính, cơ thể hiện tượng được mô tả trong Hiện tượng học Tri giác sau đó được mô tả trong Cái Hữu hình và Cái Vô hình như một sensible sentient ‘năng lực khả giác’. Hai khía cạnh của cơ thể tồn tại song song như một chuyển động liên tục thu nhận vào cơ thể mọi thứ có thể nhìn thấy; như một yếu tố không thể tránh khỏi, giống như không khí hoặc nước. Trong cùng một khoảnh khắc, chúng ta nhận ra rằng cơ thể được cấu thành từ yếu tố này. Cái khả kiến (khả giác) là tính vật chất (thân thuộc với tính vật chất của cơ thể) cung cấp cho chúng ta sự kết nối và mở ra với thế giới tự nhiên bằng cách liên hệ với cơ thể thông qua sự tương tác khả nghịch giữa cái nhìn và cái khả kiến (kẻ tri giác và đối tượng tri giác). Để giải thích cho sự không đồng nhất với thế giới, có câu hỏi về chiều sâu không thể hiện diện (tự hiện diện, hoặc không thể khám phá). Có một chiều sâu trong thế giới tri giác không bao giờ hiện diện, hay Nichturpräsentierbarkeit Tính bất khả hiện diện của Husserl. Luôn luôn có một số khía cạnh của thế giới tự nhiên không được nhìn thấy hoặc thậm chí không thể nhìn thấy, chẳng hạn như ví dụ về con xúc xắc sáu mặt (từ những suy niệm đầu tiên trong cuốn Cartesian Meditations Trầm tư Descartes (Husserl 1991), hoặc như những gì nằm dưới một tảng đá khổng lồ đã rơi xuống từ nhiều thế kỷ trước. Ít nhất thì không thể nhìn thấy tất cả các khía cạnh cùng một lúc. Nhưng cũng có những chiều sâu về nguyên tắc là bất khả tri giác. Những chiều sâu tri giác này có thể đơn giản như mật độ bên trong của một vật thể mà bề mặt gợi nhớ đến, điều này khó tiếp cận hơn so với mặt sau của vật thể, thứ mà ta có thể nghiên cứu bằng cách di chuyển quanh vật thể. Cái siêu việt của Kẻ Khác là nguyên mẫu của sự kháng cự này trong tri giác. Bằng cách hiểu được nguồn gốc của ý nghĩa thông qua hoạt động giao thoa giữa hữu hình và vô hình trong tri giác, ta có thể giải thích được thế giới cộng hưởng, liên chủ thể tính và khả giác của tự nhiên.

Những gì khả kiến xung quanh chúng ta dường như đều an nhiên trong chính nó. Cứ như thể tầm nhìn của chúng ta được hình thành trong trái tim của những gì khả kiến, hoặc như thể giữa nó và chúng ta có một mối thâm tình như giữa biển và bờ vậy. Tuy nhiên, chúng ta không thể nào hòa nhập vào nó, cũng như nó không thể nào biến thành chúng ta được, bởi vì nếu vậy thì tầm nhìn sẽ biến mất ngay tại thời điểm hình thành, bởi sự biến mất của kẻ nhìn hoặc của những gì khả kiến. Vậy là những gì có đó không phải là những thứ ban đầu đồng nhất với chính chúng, rồi sau đó tự hiến dâng cho kẻ nhìn, cũng không có kẻ nhìn nào ban đầu trống rỗng rồi sau đó mới mở lòng mình ra với chúng—mà là một thứ gì đó mà chúng ta không thể đến gần hơn bằng cách sờ nắn nó bằng ánh mắt, những thứ mà chúng ta không thể mơ ước được nhìn thấy ‘trần trụi’ bởi vì chính ánh nhìn đã bao trùm lấy chúng, khoác lên chúng lớp da thịt của chính nó.” (Merleau-Ponty 1968: 130–31). Các ẩn dụ trong đoạn trích này từ tác phẩm Cái Hữu hình và Cái Vô hình nhấn mạnh bản chất khó nắm bắt của yếu tố xác thịt trong mô tả. Nhất tính của cơ thể và nhất tính của cái khả kiến hòa quyện và tràn ngập ranh giới của nhau. Đó là một cách nhìn độc đáo [tr.343] về ánh nhìn như một phần của trường tri giác và kẻ cộng tác của bản thân trường đó, một trường không phải là tâm trí cũng không phải là chất liệu, không phải là ý niệm cũng không phải là thực tính.

Như đã chỉ ra trước đó, mối tương tác hoặc đan xen cũng tạo ra một khoảng cách và sự phủ định của cái được tri giác bởi một écart khoảng trống, phát sinh trong tri giác, khi kẻ tri giác, vượt ra ngoài bản thân và quay trở lại chính mình, vươn tới sự vật và thấy rằng hai thứ bị ngăn cách bởi một ‘ma sát’ ở giữa chúng, ngăn cản cái nhìn chiếm hữu hoàn toàn thế giới, và tương tự, tầm nhìn sẽ chìm đắm trong những gì nó thấy. Đồng nhất tính giữa kẻ nhìn và cái khả kiến không phải là tuyệt đối. Ranh giới giữa cơ thể và thế giới của nó ở đâu? Chương Cái bện dệt— Cái Giao thoa’ tìm cách khám phá điều đó. Chính trong giao thoa giữa đồng nhất tính và sự khác biệt với cái được tri giác, trong hiện tượng cấu trúc tri giác này, mà xảy ra đứt gãy, tạo khoảng cách với tự nhiên, bởi vì tri giác là rời bỏ bản thân và trở về với bản thân trong một chuyển động liên tục. Theo Merleau-Ponty, người đã ám chỉ đến Hegel, chính trong chuyển động này mà bí ẩn của tri giác được ẩn giấu. Tuy nhiên, đây là một ‘siêu biện chứng’ - nó là chính nó - và không nên dẫn đến những hình thức tự-nhận thức cao hơn. Siêu biện chứng của giao thoa khó có thể được suy tư mà không chịu ảnh hưởng từ tư tưởng biện chứng của Hegel (Merleau-Ponty 1968: 264). “Hãy nắm bắt mối giao thoa này, cú đảo ngược này.” “Đó chính là tâm trí”, Merleau-Ponty (1968: 199) nói trong cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình. Cú đảo ngược phải có nghĩa là có khả năng tự rời bỏ bản thân và tìm kiếm ‘đối lập’ hay sự kháng cự bằng cách bước vào thế giới tri giác của chúng ta; sau đó, khoảng trống hay sự đứt gãy xuất hiện, tạo ra một phi-đồng nhất tính và một khoảng cách đưa người ta trở lại với chính mình. Điều này có liên quan đến tính thụ động, và cách thức mà cái siêu việt và nội tại hoạt động. Nói cách khác, chính tại đây, trong sự giao thoa giữa các khía cạnh hữu hình và vô hình của thế giới, mà chúng ta nên khảo sát kinh nghiệm để hiểu cách thức tư duy nảy sinh trong tính vật chất của cái hữu hình, đó là lĩnh vực của Giác quan và Cái khả giác.        

Ở đây cái bất khả thi có thể so sánh với sự phủ định hoàn toàn, không thể chạm tới. Nó không phải là cái siêu việt, vốn có thể là tính thực chứng: “Nó là một sự phủ định thực sự, tức là một Unverborgenheit der Verborgenheit cuộc phơi bày cái được che dấu, Urpräsentation der Nichturpräsentier, cách phơi bày độc đáo về những thứ không thể phơi bày, nói cách khác, một bản gốc của nơi khác, một Bản ngã là một Kẻ Khác, một Trống rỗng […]” (Merleau-Ponty 1968: 254). Có một thụ động tính trong trải nghiệm về những chiều sâu vô hình, mà như một phủ định tính hiện tại và tính thẳng đứng mang lại cho chúng ta sự kháng cự và sự dư thừa trong tri giác, do đó bản chất được trải nghiệm sẽ luôn vượt quá khả năng nắm bắt của tôi vào thời điểm đó. Một mối quan hệ phản ánh vang vọng tư duy biện chứng, nhưng vượt ra ngoài tư duy biện chứng ở chỗ nó bao hàm mối quan hệ thế giới hiện thân—thông qua đặc tính là xác thịt của nó. Không có bản chất nào có thể được coi là khách quan, ‘thực tại bên ngoài’ trong mô tả này. Chính với ý tưởng này mà Merleau-Ponty tìm cách tránh thứ nhị nguyên chủ thể/đối tượng và sự phân chia bên trong-bên ngoài. Tương tác giao thoa liên tục đóng vai trò thiết lập cả tri giác và ý nghĩa trong thế giới tự nhiên.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhận thức được tính liên tục của chuyển động, hay tính năng động. Khoảng cách với cái được nhìn thấy không phải là đối lập của đồng nhất tính với cái được nhìn thấy — chúng cùng tồn tại trong một mạng lưới đan xen của đồng-nhất-tính-và –khác-biệt. Tính năng động giữa chúng được duy trì bởi ánh nhìn, thứ tạo ra khác biệt, và thứ che giấu chiều sâu của nó, do đó, chính là tính khác biệt. Xác thịt làm cho thị giác trở nên khả thể, và ánh nhìn có thể diễn ra [tr.344] trong tính vật chất này. Nhưng xác thịt cũng bao hàm những gì không thể hiện diện và đòi hỏi ‘khám phá’, ngay cả khi nó rút lui khỏi sự định vị của chúng ta. Vậy là chúng ta hiểu tại sao mình lại nhìn thấy chính bản thân sự vật, ở vị trí của chúng, nơi chúng tồn tại, theo hiện hữu của chúng, vốn thực sự còn hơn cả hiện hữu-được tri giác—và tại sao đồng thời chúng ta lại bị ngăn cách với chúng bởi tất cả tính dày đặc của cái nhìn và của cơ thể; đó là thứ mà khoảng cách này không phải là cái đối lập với sự gần gũi này, nó hòa hợp sâu sắc với nó, nó đồng nghĩa với nó. Chính độ dày của lớp da thịt ngăn cách kẻ nhìn và vật thể tạo nên tính hữu hình của vật thể cũng như tính hữu hình của kẻ tính xác thịt của gã; nó không phải là trở ngại giữa chúng, mà là phương tiện giao tiếp của chúng. (Merleau-Ponty 1968: 135).

Độ dày của lớp da thịt, tính vật chất hiện hữu hữu sinh và vô sinh, không phải là trở ngại mà là phương tiện giao tiếp của chúng. Do đó, cần phải định nghĩa lại khái niệm tri giác (như một cái gì đó khác với đồng nhất tính hay phủ định) để đạt được sự hiểu biết khả thể về sự tiếp xúc của chúng ta với thế giới tự nhiên. Cái nhìn vào thế giới tạo ra một sự gián đoạn, một khoảng cách giữa chúng ta và thế giới, đó cũng là cánh cửa mở ra cho sự giao tiếp của chúng ta với nó. Tri giác tiền phản tư (thái độ tự nhiên) có sự tiếp xúc nguyên thủy đó, trong khi phép phản tư và việc xác định tri giác này (hay niềm tin) biến đổi kinh nghiệm thành phép phản tư hay sự thẩm vấn. Điều này có nghĩa là chúng ta mãi mãi ở trong một vòng xoáy giữa kinh nghiệm tiền phản tư và phản tư giả định, trong một chuyển động biện chứng nghịch lý và khó nắm bắt, một chuyển động thúc đẩy nỗ lực của chúng ta, và một lần nữa để lại cho chúng ta cái được ấn định cần phân tích. Tôi nghĩ rằng có đủ dấu hiệu trong cách Merleau-Ponty lựa chọn từ ngữ để chỉ ra rằng điều ông nỗ lực giải thích là toàn bộ kinh nghiệm với ý nghĩa về chất lượng của nó.      

Chúng ta sẽ quy giản kinh nghiệm nếu không gán cả ý nghĩa về chất lượng cho đặc tính giao thoa của kinh nghiệm về tự nhiên. Tôi muốn nói là, ý nghĩa liên chủ thể về chất lượng phải có nguồn gốc từ những khía cạnh sâu sắc hơn, ẩn giấu của tri giác, tức là trong sự giao thoa giữa cái hữu hình và cái vô hình trong tri giác tiền phản tư, chứ không phải trong bất kỳ phân tích và phản tư nào sau đó. Quan điểm như vậy sẽ đáp ứng được sự phê phán quan điểm cơ học về tự nhiên được thừa hưởng từ cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17, và tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu sâu hơn về vị trí của chúng ta trong tự nhiên với tư cách là những hiện hữu diễn giải và giao tiếp. Husserl (2002) đã viết trong tác phẩm Ideen II Ý tưởng II dưới tiêu đề “Sự cấu thành của bản chất vật chất”: Tự nhiên là một thực tại liên chủ thể tính và là một thực tại không chỉ dành cho tôi và những người đồng hành của tôi trong khoảnh khắc này mà còn dành cho chúng ta và cho tất cả những ai có thể giao tiếp với chúng ta và có thể đạt được hiểu biết lẫn nhau với chúng ta về sự vật và về những kẻ khác. Luôn có thứ khả tính về những tinh thần mới tham gia mối liên hệ này; nhưng họ phải làm như vậy thông qua thân thể, được tái hiện thông qua các khả thể xuất hiện trong ý thức của chúng ta và thông qua các xuất diện tương ứng trong ý thức của họ. (Husserl 2002: 91) Những gì Merleau-Ponty (2008: 366–369) viết sau đó cũng vang vọng quan điểm này, khi ông nói rằng nhất tính và đồng nhất tính của các phẩm chất được tri giác đều dựa trên nhất tính và đồng nhất tính của thân thể, được hiểu như một tổng thể tính đồng hợp. Thân thể là trung tâm của biểu đạt và ý nghĩa thông qua tính thuộc về của nó trong thế giới tự nhiên.

 [Tr.345] Sau khi đã phác thảo cách diễn giải về hiện hữu tự nhiên diễn ra trong kinh nghiệm như là lĩnh vực của Cảm giác và Cái khả giác, cần phải nói thêm vài lời cuối cùng về những hàm ý đối với một phương pháp luận ký hiệu học dựa trên lý thuyết về kinh nghiệm hiện thân được phác thảo ở đây. Trong triết học này, ý nghĩa của các biểu đạt được xem là gắn liền với cử chỉ sống động. Ký hiệu học của Merleau-Ponty là một sự phát triển hơn nữa trong Hữu thể luận, điều mà chúng ta đã cố gắng chứng minh bằng cách nghiên cứu một vài khái niệm quan trọng làm thay đổi quan điểm tổng thể về tự nhiên; từ quan điểm hiện thực, nó được xem là một ‘thế giới bên ngoài’ khách quan, còn từ quan điểm duy tâm luận, nó được suy ra từ phép phản tư của cái tôi. Cái nhìn sâu sắc, mang tính cách mạng của hữu thể luận này là thứ mà ý nghĩa của thế giới nảy sinh trong một phép biện chứng đan dệt của tương tác hiện thân. Những nguyên tắc cơ bản trong triết lý tổng thể của ông có những hàm ý sâu rộng, mà Lanigan (Lanigan 1991: 83) gọi là đạt đến cấp độ “vượt ra ngoài những cấu trúc của hiện tượng khách quan và chủ quan vươn đến tận nền tảng của sự tồn tại, đến một loại ký hiệu cơ bản mà nhờ đó ý nghĩa được tạo sinh và cấu thành như một thực thể khả tri giác”. Triết học này hướng đến lật nhào những thái độ khách quan luận thấm nhuần thế giới quan công nghệ thống trị thời đại chúng ta, và khôi phục lại mối tiếp xúc cơ bản của chúng ta với hiện hữu tự nhiên của mình.

__________________________________________

Nguồn: Aarø Ane Faugstad (2010). Merleau-Ponty’s Concept of Nature and the Ontology of Flesh. In Biosemiotics (2010) 3:331–345.

Tác giả: Nữ giáo viên Trung học dạy các môn tâm lý học, triết học, tiếng Anh và tiếng Pháp, tác giả của nhiều bài viết về hiện tượng học và văn học; lĩnh vực nghiên cứu quan tâm bao gồm triết học, hiện tượng học và triết học tôn giáo.

Notes

8 See for instance Thomas Langan’s Merleau-Ponty‘s critique of reason, on language and expression, where Langan describes language as world (Langan 1966: 125).

9 References in the citation are to Merleau-Ponty 2003, French edition and English edition

References

Casey, E. (2003). Taking a glance at the environment: Preliminary thoughts on a promising topic. In C. S. Brown & T. Toadvine (Eds.), Eco-phenomenology: Back to the earth itself. Albany: The State University of New York Press.

Dillon, M. C. (1997). Merleau-Ponty’s ontology. Evanston: Northwestern University Press.

Emmeche, C., Kull, K., & Stjernfelt, F. (2002). Reading Hoffmeyer, rethinking biology (=Tartu Semiotics Library 3). Tartu: Tartu University Press.

Husserl, E. (1991). Cartesian Meditations. An Introduction to Phenomenology, (trans: Cairns, D.). Kluwer Academic Publishers.

Husserl, E. (2002). Ideas pertaining to a pure phenomenology and to a phenomenological philosophy (Second Book). (trans: Rojcewicz, R., & Schuwer, A.). Kluwer Academic Publishers.

Kelly, S. (forthcoming). The normative nature of perceptual experience. Harvard, conference paper.

Langan, Th. (1966). Merleau-Ponty’s critique of reason. New Haven: Yale University Press.

Lanigan, R. L. (1991). Speaking and semiology (2nd ed.). Berlin: Mouton de Gruyter.

Merleau-Ponty, M. (1964). In J. M. Edie (Ed.), The primacy of perception. Evanston: Northwestern University Press.

Merleau-Ponty, M. (1968). The visible and the invisible, (trans: Lefort, C) Lingis, A. (Ed.). Evanston: Northwestern University Press.

Merleau-Ponty, M. (1988). In praise of philosophy and other essays. Evanston: Northwestern University Press.

Merleau-Ponty, M. (1995). Signs. Evanston: Northwestern University Press.

Merleau-Ponty, M. (2003). Nature: Course notes from the Collège de France. Evanston: Northwestern University Press.

Merleau-Ponty, M. (2008). Phenomenology of perception (trans: Smith, C.). London: Routledge and Kegan Paul.

Peirce, C. S. (1958). Collected Papers, II.

Sallis, J. (1973). Phenomenology and the return to beginnings. Pittsburg: Duquesne University Press/Humanities Press, Inc.

Toadvine, T. (2009). Merleau-Ponty’s philosophy of nature. Evanston: Northwestern University Press.

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

Khái niệm Tự nhiên và Hữu thể luận Xác thịt của Merleau-Ponty (I)

Ane Faugstad Aarø

Người đọc: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Bài viết phác thảo cách thức áp dụng Hiện tượng học Tri giác của Maurice Merleau-Ponty vào các lý thuyết quá trình ký hiệu, và cách nó tái cấu trúc khuôn khổ của quan niệm hiện tượng luận giao tiếp. Triết học giai đoạn sau của ông liên quan đến việc tái định hình chủ thể và giải quyết nhị nguyên chủ thể/đối tượng. Luận điểm của tôi là lý thuyết tri giác phi quy giản này hé lộ một cái nhìn khác về tự nhiên như chúng ta trải nghiệm nó trong một tương tác biểu cảm và có ý nghĩa. Góc nhìn mà một sinh vật sống khác có và truyền đạt bao hàm một dạng chiều sâu, chiều không gian vô hình của cái hữu hình hoặc hữu thanh. Hai khía cạnh này của tri giác và đối thoại đan xen trong một phép biện chứng của hiện diện và vắng mặt, do đó ý nghĩa nảy sinh trong trường tri giác chứ không phải trong chủ thể. Đây là kết quả cơ bản nhất trong lý thuyết của ông. Sự hình thành ý nghĩa trong hoạt động giao thoa giữa cái hữu hình và vô hình trong tri giác mở ra ý nghĩa khách quan về bản chất liên chủ thể. Bài luận cũng đề cập đến vai trò quy giản hiện tượng học; cách treo lại niềm tin và tuyên bố về tồn tại trong kinh nghiệm. Phép quy giản trao quyền rọi sáng ảnh hưởng lịch sử và văn hóa vào tư duy của chúng ta.

Giới thiệu

Một trong những nhận định thú vị nhất mà tôi từng bắt gặp trong lĩnh vực ký hiệu học là tuyên bố rằng đối với Hoffmeyer, các dấu hiệu sinh học “vốn dĩ có ý nghĩa do sự tham gia trực tiếp của chúng vào các quá trình mà chúng biểu nghĩa” (Emmeche và cộng sự, 2002). Ngay cả trên nền tảng quan niệm tam phân của Peirce về các quá trình biểu nghĩa [tr.332], thì điều này vẫn thể hiện sự chuyển dịch hướng tới một quan điểm tích hợp hơn về biểu đạt và diễn giải tự nhiên, điều này có thể được bổ sung thêm bởi một số lý thuyết phi quy giản khác. Trong chủ đề diễn giải vượt qua ranh giới giữa con người và phi-nhân, chúng ta thấy rằng các cuộc khám phá tự nhiên vẫn mang dấu ấn di sản khoa học của chúng ta từ thế kỷ 17. Làm thế nào mà một sự thay đổi có thể xảy ra trong các quan niệm về tự nhiên? Tri giác rất thường được quyết định bởi một lợi ích hoặc một dự án. Khi động cơ là khai thác năng lượng từ một hồ nước, thì tri giác về nước bị chi phối bởi lợi ích này. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng khía cạnh năng lượng không phải là tất cả những gì hiện diện trong tri giác về hồ nước. Hiện tượng học của Maurice Merleau-Ponty có thể cung cấp những hiểu biết quý giá về tri giác, kết nối một cách thú vị với sinh ký hiệu học. Bài viết chỉ ra cách tiếp cận của Merleau-Ponty đối với các vấn đề trong lý thuyết tri giác và giao tiếp có liên quan đến ký hiệu học.

Tác phẩm cuối cùng của Maurice Merleau-Ponty, Cái Hữu hình và Cái Vô hình (Merleau-Ponty 1968), là một nỗ lực tìm kiếm những cách nhìn nhận về tri giác và mối quan hệ của nó với thế giới sao cho vẫn duy trì được sự đắm chìm trải nghiệm trong thế giới Tự ngã. Merleau-Ponty cảm thấy rằng triết học đưa ra các luận điểm về chủ thể và tri giác tạo ra những sự đối lập khó có thể dung hòa. Đoạn văn được trích dẫn dưới đây cho thấy ông muốn tìm ra một hướng đi cho triết học về mối quan hệ của chúng ta với hiện hữu, làm rõ chiều sâu tồn tại giữa chúng ta và môi trường xung quanh. Ông muốn thực hiện công việc này mà không gán cho chủ thể một khoảng cách vô hạn với hiện hữu thông qua sự phủ định hiện hữu, như chủ nghĩa hiện sinh của Sartre hàm ý. Ông cũng không hài lòng với các lý thuyết tri giác khách quan, vốn hiểu chiều sâu của tri giác như một lớp cấu trúc chủ quan có thể xác định được, mở ra cho phân tích của chúng ta. Triết học hiểu tri giác trùng khớp với hiện hữu cũng không đầy đủ, bởi vì chiều sâu trong tri giác có nghĩa là có điều gì đó bị che giấu và vô hình; tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp xúc với nó một cách sâu sắc và cơ bản. Bài luận này sẽ chỉ ra cách tiếp cận mới về tri giác và hiện hữu phát triển trong triết học giai đoạn cuối của Merleau-Ponty, chủ yếu bằng cách phân tích khái niệm trung tâm về khả tính đảo ngược trong tri giác. Để bắt đầu hiểu được bí ẩn của sự siêu việt trong tri giác, Merleau-Ponty nói, chúng ta cần đánh giá lại các quan niệm của mình, ngay cả những quan niệm về chủ thể tính, tri giác và siêu việt. Điều này có thể được coi là có những hàm ý định chuẩn, và bài luận của tôi sẽ đề cập đến những khả tính trong triết học này hướng tới một hiện tượng học sinh thái cho phép chúng ta mô tả thế giới của mình vừa là một thế giới nội tâm vừa là một thế giới tự nhiên mà chúng ta đắm chìm trong đó bởi tri giác, chuyển động, cân nhắc và phán đoán của mình. Như Merleau-Ponty đã viết trong cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình: “Sự hiện diện của thế giới chính là sự hiện diện xác thịt của nó với xác thịt của tôi, và tôi “thuộc về thế giới”, tôi không phải là nó, điều này vừa được nói ra đã bị lãng quên: siêu hình học vẫn chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Việc có một lớp xác thịt dày ngăn cách chúng ta với “lõi cứng” của Hữu thể không được đề cập trong định nghĩa: lớp dày này được gán cho tôi, đó là lớp vỏ phi-hiện hữu mà chủ thể tính luôn gắn bó. Khoảng cách vô hạn hay sự gần gũi tuyệt đối, phủ định hay đồng nhất: trong cả hai trường hợp, mối quan hệ của chúng ta với hiện hữu bị bỏ qua theo cùng một cách”. (Merleau-Ponty 1968: 127–128)

Một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại chúng ta là chỉ ra cách thức cần thiết và khả thể để hiểu được trải nghiệm về tự nhiên. Các lý thuyết khoa học hiện đại [tr.333] về thế giới vật chất giả định một ý tưởng về con người như một chủ thể tự chủ, lý trí, khám phá và thao túng tự nhiên. Nhưng, như nhiều tác giả đương đại đã khẳng định, quan điểm này làm giảm sự tiếp xúc và giao tiếp của chúng ta với thiên nhiên, cả hữu sinh và vô sinh. Việc tri giác thế giới tự nhiên không chỉ là cánh cửa mở ra để thu nhận tri ​​thức về thế giới, mà còn là khả năng trải nghiệm ý nghĩa vốn có của chất lượng, được thực hiện nhờ những phát triển quan trọng và cấp tiến nhất của Merleau-Ponty trong triết học giai đoạn cuối đời của ông, trong đó ông đã tái cấu trúc tư tưởng của mình về chủ thể. Vấn đề nhị nguyên chủ thể và đối tượng nằm ở gốc rễ của những thực tiễn phá hoại trong xã hội loài người hiện đại. Và, như chúng ta sẽ thấy, nhị nguyên này cũng là một yếu tố quan trọng cản trở các lý thuyết về giao tiếp và quá trình ký hiệu. Vậy nhị nguyên chủ thể và đối tượng có liên quan thế nào đến các quan điểm về quá trình ký hiệu? Toàn bộ truyền thống triết học tri thức, hiện hữu và thế giới đều bị nhị nguyên luận này ảnh hưởng bởi câu hỏi then chốt: “Làm sao chúng ta, với tư cách những sinh vật tự nhiên, có thể định hướng bản thân trong môi trường và hiểu biết về thế giới, cũng như truyền đạt cho nhau ý nghĩa của các hiện tượng?” Chính nhờ câu hỏi này mà ta nhận thức được hiện hữu hữu hiện thân cơ bản của mình, từ đó nảy sinh tương tác và diễn giải với tự nhiên.

Thoạt nhìn có vẻ không rõ ràng, nhưng tính ưu việt của tri giác đối với mọi tư duy và mọi chủ thể đã đảo ngược hoàn toàn thế lưỡng nan của chủ nghĩa duy lý về sự trung gian giữa tâm trí và thế giới. Ngoài ra, nó còn liên quan đến giao tiếp nếu chúng ta muốn tránh chủ nghĩa vị kỷ hoặc chủ nghĩa khách quan. Hãy nghĩ xem đôi khi khó khăn như thế nào để hiểu được suy nghĩ của kẻ khác, và quan điểm của kẻ khác bị che giấu như thế nào đối với chúng ta trong mọi thứ ngoại trừ biểu hiện. Hơn nữa, hãy tưởng tượng khó khăn như thế nào khi nói chuyện với một kẻ liên tục khẳng định quyền tự chủ và tự túc của mình bằng cách nâng cao giọng nói, do đó chi phối cuộc trò chuyện. Hãy nghĩ xem dễ dàng như thế nào khi muốn rút lui, từ chối giao tiếp và đơn giản là không muốn được lắng nghe. Giao tiếp chân chính đòi hỏi sự chú ý và cởi mở cũng như khả năng lắng nghe để ý nghĩa được bộc lộ. Việc khám phá tự nhiên bằng cách mổ xẻ nó để xem xét và tính toán tiềm năng hữu ích của nó đặt chúng ta vào vị trí mà chúng ta không thể hiểu được những biểu hiện liên quan; nó liên quan đến việc nhìn một sự vật tự nhiên như một đối tượng cho ý chí và dự án của chúng ta, vốn là sản phẩm của những quan niệm sai lầm của chúng ta về tri giác của chính mình. Đây là lúc tư tưởng cho rằng các dấu hiệu vốn dĩ có ý nghĩa do sự tham gia trực tiếp của chúng vào các quá trình mà chúng biểu nghĩa trở thành chìa khóa hữu ích để xem xét lại các thực tiễn của chúng ta, và tôi tin rằng nó có thể liên quan rất nhiều đến sự giải quyết chủ thể/đối tượng mà Merleau-Ponty đã hướng đến trong cuốn sách cuối cùng của ông.

Vấn đề về Thế giới1

Có nhiều cách để chúng ta tiếp cận những suy nghĩ của Merleau-Ponty về những thách thức khi thẩm vấn thế giới tri giác của chúng ta. Một khái niệm đặc biệt hứa hẹn trong khía cạnh đó là khái niệm rất trung tâm về tính đảo ngược. Và tôi sẽ cố gắng làm rõ một số đặc điểm của trải nghiệm về tính đảo ngược mà Merleau-Ponty [tr.334] đã dành rất nhiều trang trong cuốn sách Cái Hữu hình và Cái Vô hình để truyền đạt ý nghĩa và hàm ý của nó. Bằng cách làm rõ ý tưởng về chìa khóa trung tâm này đối với trải nghiệm về thế giới, Merleau-Ponty hy vọng sẽ mở ra lĩnh vực cho những nghiên cứu sâu rộng và hiệu quả hơn. Đó là một cuộc khảo sát liên quan đến sự tồn tại của chính chúng ta giữa những vấn đề mà ông đưa ra làm chủ đề, và đôi khi nó còn có nghĩa là đuổi theo cái bóng của chính mình trong dòng chảy của kinh nghiệm liên tục. Không cần phải nói, một dự án như vậy thiếu đi sự vững chắc và nền tảng mà triết học luôn tìm kiếm. Nhưng dù các cuộc khảo sát của Merleau-Ponty có kiên quyết đến đâu, ông vẫn không tìm ra cách nào để uốn nắn những câu trả lời của thế giới cho phù hợp với các dự án triết học của chúng ta. Dự án nổi bật trong tác phẩm Cái Hữu hình và Cái Vô hình về việc xem xét lại thuyết nhị nguyên chủ thể và đối tượng có liên quan mật thiết đến khả tính của ý nghĩa trong kinh nghiệm. Đóng góp cuối cùng của ông vào việc phê phán tư tưởng khách quan là việc trình bày ý tưởng về sự đan xen giữa chiều sâu và sự vắng mặt với kinh nghiệm về tính tức thì và hiện diện của thế giới. Ông khẳng định trong Cái Hữu hình và Cái Vô hình rằng việc định hình lại các câu hỏi là điều cần thiết để vượt qua các phân đôi trong tư duy của chúng ta. Những đề xuất của ông có thể mang tính cấp tiến, nhưng không thể phủ nhận rằng chúng ta đang đối mặt với một số vấn đề khá cấp tiến trên thế giới, đòi hỏi phải suy nghĩ lại các khái niệm và thái độ truyền thống, vốn cuối cùng bị chi phối bởi động cơ kiểm soát, và có những hậu quả về mặt nhận thức luận bởi vì chúng quy giản thế giới tự nhiên thành những thuộc tính có thể quản lý được.

Trong triết học giai đoạn cuối của Merleau-Ponty, ý tưởng về cái vật chất của thế giới, tức là xác thịt, được phát triển, trong đó các yếu tố của hiện hữu được đan xen trong một mối liên hệ tương hỗ. Điều này có nghĩa là các yếu tố khác nhau cấu thành một nhất tính, hay một chỉnh thể, trong đó những khác biệt trong biểu hiện hiện diện ở các hiện tượng được giữ nguyên vẹn. Merleau-Ponty hy vọng rằng ông có thể truyền đạt tầm nhìn của mình về mối quan hệ thống nhất tương hỗ này như là nguồn gốc của chân lý, tri thức và lịch sử của thế giới. Điều đó chỉ được thể hiện trong những tác phẩm cuối cùng của ông, nhưng chưa bao giờ được hoàn thiện như một lý thuyết trọn vẹn trước khi ông qua đời năm 1961 khi ông đang viết cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình. Đối với Merleau-Ponty, chân lý là yếu tố vô hình của “hiện hữu thô” của tồn tại chúng ta mà ông mô tả trong những năm cuối đời, và là nền tảng cho mọi niềm tin tri giác, mọi ý tưởng và mọi logic, ông viết trong phần ghi chú cho cuốn sách Cái Hữu hình và Cái Vô hình. Nhưng mầm mống của tư tưởng này đã hiện diện trong các tác phẩm trước đó, và xuất hiện như một mô típ chủ đạo khi đọc các tác phẩm của ông.2 Trong cuốn sách Triết học Hữu thể luận Merleau-Ponty (1997) M. C. Dillon cho là Merleau-Ponty có xu hướng nghĩ rằng chân lý có mối liên hệ mật thiết với tiền-phản tư và tiền-ngôn ngữ hơn là với ngôn ngữ; mặc dù Dillon thận trọng nói rằng ông không thể chứng minh được cách hiểu này. Tôi nhận thấy quan điểm về cái vô hình trong trải nghiệm của mỗi người về thế giới và những kẻ khác như là yếu tố cấu thành nên ý nghĩa và chân lý khá nổi bật trong tác phẩm của Merleau-Ponty, và tôi sẽ cố gắng chứng minh điều đó trong bài luận này.

Trong cách tiếp cận ý nghĩa và chân lý ấy, cần phải nhấn mạnh sự khác biệt quan trọng giữa hiện tượng học và chủ thuyết hiện tượng. [Ghi chú dài về phenomenologism chủ thuyết hiện tượng: Trong siêu hình học, chủ thuyết hiện tượng cho rằng các vật thể vật lý không thể được coi là tồn tại một cách chân chính là ‘vật tự thân’, mà chỉ như những hiện tượng tri giác hoặc kích thích giác quan, ví dụ: màu đỏ, độ cứng, độ mềm, độ ngọt, v.v., nằm trong không gian và thời gian; đặc biệt, một số hình thức của chủ thuyết hiện tượng quy giản mọi cuộc thảo luận về các vật thể vật lý trong thế giới bên ngoài thành những cuộc thảo luận về các tập hợp dữ liệu giác quan; chủ thuyết hiện tượng là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa kinh nghiệm; nguồn gốc của nó như một quan điểm bản thể học về bản chất của sự tồn tại có thể được truy ngược lại George Berkeley và chủ nghĩa duy tâm chủ quan của ông, mà David Hume đã phát triển thêm; John Stuart Mill có một lý thuyết về nhận thức thường được gọi là chủ thuyết hiện tượng cổ điển; điều này khác với chủ nghĩa duy tâm của Berkeley trong cách giải thích về việc các vật thể tiếp tục tồn tại khi không ai nhận thức được chúng; Berkeley cho rằng một Thượng đế toàn tri nhận thức được tất cả các vật thể và đó là điều giữ cho chúng tồn tại, trong khi Mill cho rằng khả năng trải nghiệm vĩnh viễn là đủ cho sự tồn tại của một vật thể; những khả năng vĩnh viễn này có thể được phân tích thành các điều kiện phản thực tế, chẳng hạn như ‘nếu tôi có cảm giác loại y, thì tôi cũng sẽ có cảm giác loại’; tuy nhiên, như một lý thuyết nhận thức luận về khả năng nhận thức các vật thể trong thế giới bên ngoài, công thức dễ tiếp cận nhất của chủ thuyết hiện tượng có lẽ được tìm thấy trong chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm của Immanuel Kant; theo Kant, không gian và thời gian, vốn là những hình thức tiên nghiệm và điều kiện tiên quyết của mọi kinh nghiệm giác quan, ‘chỉ liên hệ đến các đối tượng khi chúng được xem như hiện tượng, nhưng không đại diện cho bản thể tự thân của sự vật’; mặc dù Kant khẳng định rằng tri thức bị giới hạn ở các hiện tượng, nhưng ông không bao giờ phủ nhận hay loại trừ sự tồn tại của những đối tượng không thể nhận biết được thông qua kinh nghiệm, tức là những noumena vật tự thân, mặc dù bằng chứng của ông về noumena gặp nhiều vấn đề và là một trong những khía cạnh gây tranh cãi nhất trong tác phẩm Phê phán của ông; do đó, „epistemologischer Phänomenalismus“, ‘chủ thuyết hiện tượng nhận thức’ của Kant, như người ta vẫn gọi, hoàn toàn khác biệt với phiên bản bản thể luận trước đó của Berkeley; theo quan điểm của Berkeley, cái gọi là ‘vật tự thân’ không tồn tại ngoại trừ như những tập hợp cảm giác được tri giác một cách chủ quan, được đảm bảo tính nhất quán và bền vững bởi vì chúng liên tục được tâm trí của Chúa tri giác; do đó, trong khi Berkeley cho rằng các vật thể chỉ đơn thuần là tập hợp các cảm giác, thì Kant lại cho rằng các vật thể không ngừng tồn tại khi chúng không còn được tri giác bởi một chủ thể hoặc tâm trí thuần túy của con người; vào cuối thế kỷ 19, một hình thức cực đoan hơn nữa của chủ thuyết hiện tượng đã được Ernst Mach hình thành, sau đó được Russell, Ayer và các nhà thực chứng luận logic phát triển và hoàn thiện; Mach bác bỏ sự tồn tại của Chúa và cũng phủ nhận rằng các hiện tượng là dữ liệu được trải nghiệm bởi tâm trí hoặc ý thức của các chủ thể; thay vào đó, ông cho rằng các hiện tượng cảm giác là ‘dữ liệu thuần túy’ mà sự tồn tại của chúng được coi là có trước bất kỳ sự phân biệt tùy ý nào giữa các phạm trù tinh thần và vật chất của các hiện tượng; bằng cách này, chính Mach là người đã hình thành luận điểm chính của chủ thuyết hiện tượng, là thứ phân biệt nó với các lý thuyết tập hợp về vật thể: vật thể là những cấu trúc logic được tạo ra từ dữ liệu cảm giác hoặc ý tưởng; trong khi theo các lý thuyết tập hợp, vật thể được tạo thành từ các tập hợp, hoặc các bó, các ý tưởng hoặc tri giác thực tế; theo lý thuyết bó, việc nói rằng quả lê trước mặt tôi tồn tại đơn giản chỉ là nói rằng một số thuộc tính nhất định như màu xanh, độ cứng, v.v., đang được tri giác tại thời điểm này; khi những đặc điểm này không còn được bất kỳ ai tri giác hoặc trải nghiệm nữa, thì vật thể là quả lê, trong trường hợp này, không còn tồn tại; ngược lại, chủ thuyết hiện tượng luận do Mach đề xướng cho rằng các vật thể là những cấu trúc logic được tạo ra từ các thuộc tính tri giác; theo quan điểm này, việc nói rằng có một cái bàn trong phòng khác khi không có ai trong phòng đó để tri giác nó, có nghĩa là nếu có ai đó trong phòng đó, thì người đó sẽ tri giác được cái bàn; điều quan trọng không phải là tri giác thực tế, mà là khả năng có điều kiện của việc tri giác; chủ nghĩa thực chứng logic, một phong trào bắt đầu từ một nhóm nhỏ tập trung quanh nhà triết học Moritz Schlick ở Vienna, đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà triết học trong thế giới nói tiếng Anh từ những năm 1930 đến những năm 1950; những ảnh hưởng quan trọng đến trường phái kinh nghiệm luận của họ bao gồm Ernst Mach — người giữ chức Giáo sư Khoa học Quy nạp tại Đại học Vienna, một vị trí mà Schlick sau này cũng nắm giữ — và nhà triết học Bertrand Russell của Đại học Cambridge; ý tưởng của một số nhà thực chứng luận logic, chẳng hạn như A. J. Ayer và Rudolf Carnap, là áp dụng chủ thuyết hiện tượng theo thuật ngữ ngôn ngữ, cho phép diễn ngôn đáng tin cậy về các đối tượng vật lý, chẳng hạn như bàn, theo đúng nghĩa của kinh nghiệm giác quan thực tế hoặc có thể xảy ra; nhà triết học người Mỹ thế kỷ 20 Arthur Danto khẳng định rằng ‘một người theo chủ thuyết hiện tượng tin rằng bất cứ điều gì cuối cùng có ý nghĩa đều có thể được diễn đạt bằng kinh nghiệm giác quan của bản thân chúng ta; ông tuyên bố rằng ‘Người theo chủ thuyết hiện tượng thực sự cam kết với loại chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để nhất: đối với anh ta, việc tham chiếu đến các đối tượng cuối cùng luôn là việc tham chiếu đến kinh nghiệm giác quan’. Theo: Berlin, Isaiah, The Refutation of Phenomenalism. The Isaiah Berlin Virtual Library, 2004; Bolender, John. Factual Phenomenalism: a Supervenience Theory, in Sorites Issue 09. April 1998. pp. 16–31. HHN] Hiểu lời nói như một hiện tượng tồn tại, mang ý nghĩa, như R. L. Lanigan (1991) [tr.335] và nhiều người khác, đã mở cho triết học ngôn ngữ Merleau-Ponty vào ý nghĩa phi-ngôn ngữ nguyên gốc - một cử chỉ sống động hơn là một hệ thống ký hiệu đã trầm tích. Lanigan viết: Điểm cần nhớ liên quan đến chủ thuyết hiện tượng ngôn ngữ: ý nghĩa là một chức năng của thực tại khách quan được biết đến bởi một chủ thể tri giác. “Ý nghĩa” ở đây là một cấu trúc có ý thức bắt nguồn từ sự gặp gỡ khách quan. Tính nhị nguyên của chủ thể và đối tượng là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành ý nghĩa mạch lạc trong cả hai lĩnh vực—cái cá nhân hoặc cái thế tục. (Lanigan 1991: 29)   

Chủ thuyết hiện tượng ngôn ngữ mà Lanigan đề cập đến là bất kỳ lý thuyết ký hiệu học nào dựa trên chức năng của các dấu hiệu trên cấu trúc bộ ba của đối tượng—dấu hiệu—chủ thể diễn giải. Theo cách hiểu này, dấu hiệu được bắt nguồn từ đối tượng (trong thực tại) và được một knowing subject chủ thể biết thừa nhận. Bất cứ ai ngần ngại khi đối mặt với lời giải thích này về sự truyền đạt ý nghĩa sẽ thấy quan điểm hiện tượng học hữu ích trong công việc của họ. Tác phẩm Lời nói và Ký hiệu học của Lanigan đã đóng góp vào việc giải thích lý do tại sao chủ thuyết hiện tượng của C. S. Peirce lại mang tính nhị nguyên chủ thể/đối tượng và làm thế nào lý thuyết của Merleau-Ponty có thể vượt qua nó. Có lẽ đã tồn tại một số dấu hiệu cho thấy hai nhà triết học không đề cập đến cùng một vấn đề, chẳng hạn, trong khi Merleau-Ponty tìm cách đạt được sự hiểu biết về tri giác và sự ‘sinh thành của ý nghĩa’, thì trọng tâm của Peirce lại là việc tiếp thu tri ​​thức, tức là ‘học hỏi bằng kinh nghiệm’ (Peirce 1958: 134). Những dòng sau đây từ Lanigan (1991: 53) rất hữu ích trong bối cảnh này: “Đối với Peirce, mọi đối tượng xuất hiện trước một chủ thể như một representamen [là một thuật ngữ trong ký hiệu học, đặc biệt là lý thuyết ký hiệu của Ch.S. Peirce, đề cập đến hình thức, biểu tượng hoặc dấu hiệu đại diện cho một đối tượng hay ý niệm khác; nó là khía cạnh hữu hình hoặc nhận thức được như từ ngữ, hình ảnh, âm thanh đại diện cho một thứ gì đó trong tâm trí ai đó. HHN] đại diện được cấu thành từ ‘nền tảng’, ‘đối tượng’ và ‘kẻ diễn giải’.” Tức là, nhận thức hoạt động như một hình thái dấu hiệu hoặc ý nghĩa là kết quả của chủ thể nhận thức, kẻ nhận ra đối tượng trong một ngữ cảnh cho thấy ý nghĩa sử dụng của nó.”

Mối quan ngại (và sự dè dặt) chính của chúng tôi đối với quan niệm bộ ba về các quá trình ký hiệu là nó vẫn bị giới hạn trong phạm vi của nhị nguyên luận chủ thể/đối tượng đã đề cập. Với suy nghĩ này, chúng ta có thể muốn khám phá xem các lý thuyết ký hiệu có thể được bổ sung thêm như thế nào bằng cách làm rõ về tri giác ở cấp độ sâu hơn, nơi người ta phải làm rõ cách thức tri giác về môi trường xung quanh hoạt động ra sao để có thể thiết lập bất kỳ loại ý nghĩa hay nội dung nào đó. Do đó, phạm vi tư tưởng của hai nhà triết học này là khác biệt, nhưng sự khác biệt này lại chỉ ra sự cần thiết phải hiểu thấu đáo hơn về bản thân tri giác để giải thích quá trình biểu nghĩa. Mặc dù vậy, hoặc có lẽ vì lý do tương tự, nghệ thuật hội họa được xem là phương tiện truyền tải ý nghĩa của hiện hữu một cách trọn vẹn nhất trong các tác phẩm của Merleau-Ponty. Hành động sáng tạo của hội họa, theo một cách nào đó, là tri giác nguyên mẫu và chính tri giác đó được thể hiện thông qua hội họa. Tôi diễn giải điều này như một sự thừa nhận về thế giới tri giác phi-ngôn ngữ, cấu thành nên ý nghĩa, và điều đó khiến người họa sĩ chịu trách nhiệm về cách thể hiện về hiện hữu. Theo phương thức đó, họa sĩ phải chịu trách nhiệm về việc thể hiện ý nghĩa vốn có trong hiện hữu thông qua quan điểm của cô ta về thế giới cũng như mạng đan dệt cô ấy với thế giới. Và chính luận điểm về tính đảo ngược của Merleau-Ponty đã làm cho quan điểm của họa sĩ trở nên hợp thức. Đồng thời, trường tri giác giờ đây [tr.336] được đặt ở vị trí trung tâm, trong khi trước đó chủ thể diễn giải tự chủ trụ lại.

Tính định chuẩn Tri giác?

Nếu chúng ta vượt ra ngoài những phân tích mô tả về các yếu tố nền tảng của triết học Merleau-Ponty và muốn tiến một vài bước để sử dụng các khái niệm của ông làm nền tảng cho một triết học định chuẩn, dựa trên những hiểu biết mà luận điểm về tính đảo ngược thể hiện, tôi nghĩ rằng chúng ta đang phù hợp với dự án cơ bản của Merleau-Ponty.3 Tạm thời gác lại những vấn đề về thái độ khách quan luận và công cụ luận đối với thế giới tri giác, vốn là điểm xuất phát của cả Husserl và Merleau-Ponty trong tác phẩm của họ, hãy cho phép tôi chỉ ra một cơ hội khả thể để sử dụng về khái niệm khả nghịch tính để hình thành nền tảng cho một đạo đức về hiện hữu, và thậm chí chứng minh cách thức mà khả nghịch tính hàm ý sự phát triển xa hơn này thành một khái niệm định chuẩn.

Khả nghịch tính trong các trải nghiệm tri giác khác nhau là một loại tương hỗ làm cho cái nhìn thấy cũng là cái được nhìn thấy, cái chạm vào cũng là cái được chạm vào. Tính tương hỗ giữa chủ thể tính và tính vật chất của thế giới là một khía cạnh trung tâm trong triết học của Merleau-Ponty. Thị giác và chuyển động là những yếu tố của tri giác được đánh dấu rõ ràng nhất bởi khả nghịch tính đặc trưng cho cách ông hiểu về lĩnh vực tri giác: Một lần nữa, thứ xác thịt mà chúng ta đang nói đến không phải là vật chất. Đó là sự cuộn xoắn của cái hữu hình lên cơ thể nhìn thấy, của cái hữu hình lên cơ thể chạm vào, điều này được đặc biệt chứng kiến khi cơ thể tự nhìn thấy chính mình, tự chạm vào chính mình khi nhìn và chạm vào mọi vật, sao cho, đồng thời, với tư cách là hữu hình, nó hiện diện giữa chúng, với tư cách là chạm, nó thống trị tất cả và rút ra mối quan hệ này, thậm chí cả mối quan hệ kép này từ chính nó, bằng phép chia tách và sinh ly khối lượng của chính nó. (Merleau-Ponty 1968: 146)

Đoạn mô tả được đưa ra một phần là diễn giải mô tả của Husserl về mối quan hệ phản xạ giữa cơ thể với chính nó, với sự vật và với tự nhiên. Mối quan hệ kép mà ông đề cập là hai khía cạnh mà qua đó cơ thể hoạt động như một “cảm giác-khả cảm” trong một dòng chảy khả nghịch tính. Kế hoạch có sẵn trong các ghi chú làm việc của cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình cho thấy khả nghịch tính vượt ra ngoài cái hữu hình và tạo thành một mối quan hệ cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với sự hiểu biết về tự ngã, ngôn ngữ, tư duy và tính liên chủ thể. Dù có vẻ bất ngờ, nhưng điều đó vẫn ngụ ý một đồng nhất tính giữa chúng ta và cái hữu hình, mặc dù nó chỉ ra một sự đứt đoạn ngăn cách chúng ta với những thực thể vật lý đơn thuần. Các lớp không bao giờ trùng khớp; tri giác về tự ngã, trong tri giác đầy ý nghĩa về bàn tay chạm vào bàn tay đang chạm, chỉ là điều sắp xảy ra, về nguyên tắc là không thể, cũng không thể có bất kỳ khía cạnh nào trùng khớp của tự ngã trong ý thức. Sự cận kề này thể hiện tính thụ động trong tri giác, cũng như của tự ngã. Có tính thụ động trong trải nghiệm cái vô hình, như một chiều sâu, phủ định tính hiện diện hoặc tính thẳng đứng. “Nhưng thân thể nhìn của tôi bao hàm thân thể hữu hình này, và mọi cái hữu hình cùng với nó.” (Merleau-Ponty 1968: 138).

Theo cách hiểu của Merleau-Ponty, khả nghịch tính là một yếu tố mang ý nghĩa hiện sinh được cho-trước, tiền-phản chiếu, mà chức năng trung tâm của nó được thể hiện trong chiều sâu của tồn tại như cuộc bện dệt của tính vô hình của hiện hữu. Theo tôi, chính trong những đoạn văn ông viết về quan điểm của người họa sĩ, nơi sự tương tác của họa sĩ với thế giới tri giác tạo nên một quan điểm yêu cầu cá nhân phải chịu trách nhiệm về quan điểm đó trong giao tiếp với những cá nhân khác, mà Merleau-Ponty đã làm sáng tỏ chính sự hiểu biết này về tri giác. Đây là lĩnh vực quan trọng nhất trong các luận giải của ông, nơi chúng ta được dẫn dắt để hiểu hiện tượng học mô tả cũng bao hàm một lập trường định chuẩn mực liên quan đến các quan điểm khác nhau về thế giới.4 Edward Casey (2003) viết trong Hiện tượng học Sinh thái: Trở về chính Trái đất nơi chúng ta phát hiện ra thế mất cân bằng hoặc cuộc tàn phá trên bề mặt của cảnh quan theo cùng một cách mà chúng ta nhận thức được biểu hiện của một khuôn mặt trong đạo đức học Levinas. Và hơn nữa, thứ mà chúng ta trải nghiệm những sự xáo trộn này như một điều gì đó sai trái hoặc không đúng trong tự nhiên. Quan điểm của ông dường như giữ vững khẳng định hiện tượng học cơ bản cho rằng không thể nhìn nhận bất cứ điều gì một cách thờ ơ, như một kẻ quan sát trung lập được.

Merleau-Ponty đã mở ra lĩnh vực trải nghiệm, một yếu tố mà ở đó địa vị trung gian và mối tương tác giữa cơ thể và thế giới là khả thể. Trong “Một văn bản chưa được xuất bản”, được in trong cuốn Ưu việt Tri giác (Merleau-Ponty 1964), ông hứa sẽ tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực này nhằm giải quyết nhiệm vụ “lên tiếng vì thế giới câm lặng”: Bởi vì những nghiên cứu về biểu đạt và chân lý này tiếp cận từ khía cạnh nhận thức luận, tiếp cận vấn đề chung về các mối quan hệ con người—đây sẽ là chủ đề chính trong các nghiên cứu sau này của tôi. […] Các cuộc khảo sát của chúng ta cuối cùng sẽ dẫn chúng ta đến phép phản tư về con người siêu việt này, hay “ánh sáng tự nhiên” chung cho tất cả, xuất hiện xuyên suốt dòng chảy lịch sử—đến việc phản ánh về cái Logos này, vốn giao cho chúng ta nhiệm vụ lên tiếng vì một thế giới câm lặng. Cuối cùng, chúng sẽ dẫn chúng ta đến một nghiên cứu về cái Logos của thế giới được tri giác mà chúng ta đã gặp trong những nghiên cứu sớm nhất về bằng chứng của sự vật. (Merleau-Ponty 1964: 9–10) Tôi muốn lưu ý đến một tuyên bố khác mà ông đã đưa ra trong “Một văn bản chưa được xuất bản”. Vào thời điểm đó, ông tin chắc rằng hiện tượng biểu đạt là nơi thích hợp để nghiên cứu liên chủ thể tính, lịch sử, tự nhiên và văn hóa. Ông viết: “Việc thiết lập điều kỳ diệu này sẽ chính là siêu hình học và đồng thời sẽ ban cho ta nguyên tắc của một đạo đức học.” (Merleau-Ponty 1964: 11)    

Thực chất Treo lại của Hiện tượng học5

[Tr.338] Hiện tượng học nhắm đến phép quy giản ảnh hưởng của các mô thức tư duy kế thừa và định kiến ​​trong hiểu biết, bằng cách giới thiệu ‘phép quy giản’ hay epoché ‘treo lại’; một cách đình chỉ niềm tin và các tuyên bố về tồn tại trong kinh nghiệm. Phép quy giản sẽ giúp chúng ta lùi lại một bước và xem xét kỹ hơn hiểu biết của mình, nó đình chỉ niềm tin tự nhiên của chúng ta về những sự vật được trải nghiệm; một trạng thái ý thức được ‘quy giản’, bởi vì nó kiêng dè các tuyên bố về trạng thái của sự vật. Do đó, La Transcendance de l’Ego “Cái tôi Siêu Việt” [Tác phẩm La Transcendance de l’Ego Cái tôi Siêu việt, tác phẩm triết học thực sự đầu tiên và độc đáo của Jean-Paul Sartre, được viết vào năm 1934, một phần trong thời gian ông ở Berlin để nghiên cứu hiện tượng học của Husserl, và được xuất bản năm 1936 trên tạp chí Les Recherches philosophiques Nghiên cứu Triết học; tác phẩm này tiêu biểu cho một cuộc tranh luận nội bộ trong trường phái hiện tượng học, do đó, việc nhắc đến Husserl không có gì đáng ngạc nhiên; mặt khác, điều có thể gây ngạc nhiên là vai trò quan trọng của Kant; do đó thuật ngữ ấy mang dấu ấn của cả Husserl và Kant; trong các tác phẩm sau này của Sartre, thuật ngữ conscience transcendantale ‘ý thức siêu việt’ sẽ không còn được tìm thấy nữa; luận điểm của La Transcendance de l’Ego Cái tôi Siêu việt là cái tôi không phải là một habitant “cư dân” của ý thức, nghĩa là nó không phải là nền tảng của ý thức mà là một đối tượng của ý thức; luận điểm đầu tiên, được nêu ngay từ đầu tác phẩm, được bổ sung thêm một luận điểm thứ hai ở phần cuối, theo đó ý thức siêu việt bắt nguồn từ spontanéité impersonnelle tính tự phát phi cá nhân; quan điểm của Sartre khá độc đáo, bởi vì ông bắt đầu từ ý thức và sau đó xây dựng một triết học về ý thức, nhưng không phải là triết học về chủ thể; như tiêu đề phụ Esquisse d’une Description phénoménologique Phác thảo một mô tả hiện tượng học đã chỉ ra, phương pháp được sử dụng là mô tả; nó bao gồm việc mô tả một thí nghiệm tư duy mà điểm xuất phát là ý thức, và chính xác hơn, là một ý thức được định nghĩa bởi l’intentionnalité ý hướng tính; trong phần đầu, thông qua mô tả, Sartre đưa ra những quan sát và phân tích l’Ego dans sa double composante d’un Je et d’un Moi Cái Tôi gồm hai thành phần: một Tôi và một Bản ngã; trong phần thứ hai của tác phẩm, ông lại sử dụng phương pháp mô tả để xem xét sự cấu thành của Cái Tôi. Sau khi nêu ra vấn đề, ông truy tìm nguồn gốc của nó. Tác phẩm L'Imagination Trí tưởng tượng, xuất bản năm 1936, là một công trình học thuật nằm trong dự án nghiên cứu về hình ảnh và trí tưởng tượng, bắt đầu từ năm 1927 với luận án tốt nghiệp mang tên L’Image dans la vie psychologique : rôle et nature Hình ảnh trong đời sống tâm lý: Vai trò và bản chất; được bắt đầu từ rất lâu trước La Transcendance de l’Ego Cái tôi Siêu việt, tác phẩm này vẫn mang đậm tư tưởng của Husserl nhưng không có nhiều tính độc đáo; thậm chí vài năm sau, Sartre còn viết: “Husserl m’avait pris, je voyais tout à travers les perspectives de sa philosophie qui m’était d’ailleurs plus accessible, par son apparence de cartésianisme. J’étais ‘husserlien’ et devais le rester longtemps.” (Carnets de la drôle de guerre, p. 225) “Husserl đã mê hoặc tôi; tôi nhìn mọi thứ qua lăng kính triết học của ông, hơn nữa, triết học đó dễ tiếp cận hơn với tôi, do tính chất Descartes rõ ràng của nó.” Tôi là một husserlien ‘môn đệ Husserl’ và sẽ vẫn như vậy trong một thời gian dài”. Theo Jean-Paul Sartre, La Transcendance de l’ego, Vrin, Paris, 1936-HHN] này nhận thức rõ hơn về cấu thành của những trải nghiệm có ý nghĩa của chính nó, bằng cách tập trung vào chính hành động tri giác. Điều này được thực hiện để giúp chúng ta nhận thức được những gì và nhận thức được cách thức mà chúng ta đang trải nghiệm, và liệu có bất kỳ mô thức nào đang hoạt động trong kinh nghiệm vốn đang tồn tại trong tâm trí chúng ta và tạo ra những hiểu biết định kiến ​​về thế giới hoặc về các chủ thể khác hay không.

Hơn nữa phép quy giản này còn có thể giúp chúng ta khám phá ra những suy nghĩ sai lầm xung quanh vấn đề tự nhiên là gì, con người là gì và vị trí của chúng ta trong bức tranh này. Phép quy giản cũng giúp chúng ta đặt câu hỏi về điều mà quan điểm cơ học cho là thế giới ‘thực’ duy nhất của sự vật, và để lộ những gì chính kinh nghiệm cho chúng ta biết. Nó biến thế giới của Descartes, Bacon và Galileo chính xác thành ‘thế giới mà chúng ta tri giác’, như Merleau-Ponty viết trong Lời tựa của cuốn Hiện tượng học Tri giác (Merleau-Ponty 2008). Suy ngẫm về những tiên khởi của ý nghĩa trong thế giới của chúng ta đặt ra cho chúng ta một vấn đề rất đặc biệt. Bản chất của thế giới sống dường như nắm giữ sức mạnh biểu đạt riêng của nó, và đồng thời che giấu những khía cạnh sâu sắc hơn trong một ánh sáng lờ mờ, thu hút ánh nhìn soi xét của chúng ta và hứa hẹn sẽ tự bộc lộ. Khi Merleau-Ponty chuyển sang lĩnh vực tri giác, xác thịt vật chất, để tìm kiếm quan hệ nguyên thủy của chúng ta với thế giới, đó là trở lại với khởi đầu nơi triết học có thể thiết lập một nền tảng giúp có thể nhìn thấy những chuyển động sơ khai của ý nghĩa ban đầu.

Nhưng sự suy tư triết học mang tính tuần hoàn, và trong quá trình tiến triển, nó quay trở lại với những lực lượng quyết định của nó, như John Sallis đã diễn đạt (Sallis 1973). Và Merleau-Ponty viết trong “Nhà triết học và cái bóng của ông ta” (trong Merleau-Ponty 1995) rằng nhiệm vụ của chúng ta phải là suy nghĩ lại, đưa ra những diễn giải mới và thực hiện lại những gì mà hiện tượng học của Husserl mô tả là nền tảng tối thượng. Tính tuần hoàn trong suy tư có nghĩa là những câu hỏi ban đầu của chúng ta để lại dấu ấn trên kết quả của cuộc khảo sát; do đó, phép quy giản hiện tượng học không bao giờ hoàn chỉnh và phải được quay trở lại như một nhiệm vụ liên tục. Khi chúng ta đặt câu hỏi về kinh nghiệm là gì và cấu trúc tiền điều kiện của nó là gì, thì thách thức của việc đối mặt với kinh nghiệm được đưa ra trực tiếp trở nên đặc biệt gay gắt.6 Chắc chắn đó là một nhiệm vụ mơ hồ và chưa hoàn thành khi quay trở lại nguồn gốc của kinh nghiệm và cố gắng nắm bắt khoảnh khắc thiết lập ý nghĩa, và bắt gặp trong hành động một tri giác tự nhiên, thô sơ; ý chí muốn nhìn thế giới như nó vốn có trước khi triết học và khoa học, sự suy ngẫm và ngôn ngữ định hình và đánh dấu kinh nghiệm. Nhiệm vụ này tự nó là một câu hỏi về chính chúng ta, về liên chủ thể tính và về bản chất. Có một số định kiến ​​mạnh mẽ liên quan đến kinh nghiệm dựa trên tri giác hoặc là tiếp cận [tr.339] từ bên trong chủ thể như một nội tại, hoặc từ bên ngoài, như một điều đã cho sẵn, trong chủ nghĩa hiện thực.7

Không giả định nào trong số này có thể được áp dụng vào việc khảo sát thế giới, ngay cả khi cuối cùng chúng ta phải đối mặt với niềm tin tri giác của mình, đó là con đường duy nhất dẫn chúng ta đến mối quan hệ cơ bản của chúng ta với thế giới tự nhiên. Nhưng tự nhiên còn hơn cả sự suy ngẫm của chúng ta về nó. Chúng ta phải bằng cách nào đó suy ngẫm về kinh nghiệm mà không định vị hoặc xác định trước bản chất của kinh nghiệm, chẳng hạn như bắt nguồn từ bên trong nội tại của cái tôi, điều này sẽ chỉ sao chép kinh nghiệm trong ý thức. Tất cả biểu hiện của thế giới và tình huống của chúng ta đều mang dấu ấn của cuộc dấn thân hoàn toàn của chúng ta vào thế giới. Chính niềm tin của chúng ta vào một thế giới chung đã làm cho kinh nghiệm về chân lý trở nên khả thể.

___________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Aarø Ane Faugstad (2010). Merleau-Ponty’s Concept of Nature and the Ontology of Flesh. In Biosemiotics (2010) 3:331–345.

Tác giả: Nữ giáo viên Trung học dạy các môn tâm lý học, triết học, tiếng Anh và tiếng Pháp, tác giả của nhiều bài viết về hiện tượng học và văn học; lĩnh vực nghiên cứu quan tâm bao gồm triết học, hiện tượng học và triết học tôn giáo.

Notes

1 The first part of the article was presented in an earlier version at the conference “Environment, Embodiment and Gender” at the University of Bergen, Norway, in 2008.

2 The writing of the two works, La Prose du Monde and L’Origine de la vérité, was abandoned in 1959 when Merleau-Ponty focused on The Visible and the Invisible, the work that most explicitly represents his

philosophical foundation for theses on truth and intersubjectivity.

3 A similar argument has been proposed by Sean Kelly (forthcoming) in his article “The normative nature of perceptual experience”, forthcoming. He argues that in The Phenomenology of Perception Merleau-Ponty describes how perception avoids unclear views of objects and that this normativity of experience belongs to experience itself and is not grounded in the subject’s take on it.

4 Contrary to Toadvine’s claim in Merleau-Ponty’s Philosophy of Nature (Toadvine 2009), where the idea of an ethics of being is ruled out as far as the ontology of the flesh is concerned, I emphasize how the origination of sense in the sensible field, which is flesh, is constitutive of all truth, meaning and expression, and therefore ‘better’ or ‘truer’ perspectives. Cf. the statement (Toadvine 2009: 133): “A similar mistake has often been made by those who look to Merleau-Ponty’s descriptions of flesh as the basis for new ethical principles in our relation with nature.” I base my argumentation on a different aspect of flesh, namely its founding function for sense and expression.

5 The second part of this article was presented in an earlier version at the conference “The Genesis of Phenomenology: From Husserl to Merleau-Ponty” at the University of Bergen, Norway, 2009.

6 See for instance “Preobjective being: The solipsist world” in The Visible and the Invisible (Merleau-Ponty 1968).

7 By “access from the outside” I mean theories based on logical investigations that are intended to test the legitimacy of direct experience; or as in realism or empiricism; collectively called objectivism in this context.