Powered By Blogger

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Đa nguyên Khái niệm, Tri giác Trực tiếp và Hiện diện Mong manh (I)

Alva Noë

Người dịch: Hà Hữu Nga

[Tr.1] Bài viết này có ba mục tiêu chính. Thứ nhất, tôi phê phán intellectualism tri thức luận trong philosophy of mind triết học tinh thần và phác thảo một giải pháp thay thế cho tri thức luận mà tôi gọi là Concept Pluralism Đa nguyên Khái niệm. Thứ hai, tôi tìm cách thống nhất phương pháp sensorimotor cảm giác vận động hoặc hành động đối với nhận thức và ý thức tri giác được phát triển trong O’Regan & Noë (2001) và Noë (2004, 2012), với một lý thuyết về sự hiểu biết các khái niệm. Đề xuất ở đây—cho rằng các khái niệm và kỹ năng cảm giác vận động là các loài thuộc cùng một giống, chúng là các loại skills of access kỹ năng tiếp cận—nhằm mục đích mở rộng account of perception tường trình về tri giác trước đó. Cuối cùng, tôi mô tả một hiện tượng—tính mong manh—vốn chưa được hiểu rõ, nhưng việc phân tích chính xác về nó lại rất quan trọng đối với sự tiến bộ trong theory of mind lý thuyết tâm trí/tinh thần (both perception and cognition cả tri giác và nhận thức).

1. Giới thiệu

Nghiên cứu hiện tại xuất phát từ cách tiếp cận hành động hoặc cảm giác vận động, hay như tôi hiện nay thích gọi hơn, cách tiếp cận hành động luận đối với perception tri giác và ý thức tri giác (O’Regan & Noë 2001; Noë 2004, 2012). Hành động luận cho rằng nhận thức là hoạt động khám phá môi trường bằng cách sử dụng tri ​​thức về các mối liên hệ cảm giác vận động. Các mối liên hệ cảm giác vận động được hiểu là các mô thức phụ thuộc của sự thay đổi cảm giác vào chuyển động. Do đó, đề xuất được đưa ra là chúng ta sử dụng tri ​​thức này về cách chuyển động của chính chúng ta tạo ra sự thay đổi cảm giác để khám phá thế giới. Hoạt động dựa trên tri ​​thức hoặc kỹ năng này được gọi là perceiving tri giác. Chúng tôi đã mô tả loại tri ​​thức liên quan là tri ​​thức chính xác để đánh dấu sự liên tục giữa perception tri giác và các loại cognition nhận thức “cao hơn”, mang tính trí tuệ hơn, chẳng hạn như tư duy và lập kế hoạch (O’Regan & Noë 2001). Đồng thời, chúng ta cũng nhanh chóng mô tả các hình thức tri ​​thức liên quan là thực tiễn, phi-định đề, ngầm định, hoặc “kỹ năng”, chính xác là để tránh việc trí tuệ hóa quá mức quá trình tri giác. Trong cuốn Action in Perception Hành động bằng Tri giác (Noë 2004, Chương 6), tôi đã bảo vệ quan điểm cho rằng tri giác đòi hỏi trình độ tinh thông và việc thực hành các khái niệm. Khi làm như vậy, tôi cho rằng mình đang hạ thấp tiêu chuẩn về việc sở hữu một khái niệm, chứ không phải nâng cao tiêu chuẩn về [tr. 2] việc trở thành perceiver một kẻ tri giác. Quan điểm của tôi luôn là bản tường trình thu được là một thứ mà trong đó sự hiểu biết (trình độ tinh thông và việc thực hành các khái niệm, bao gồm cả kỹ năng vận động cảm giác) và tri giác (khám phá môi trường dựa trên nhiều kỹ năng, bao gồm cả các khái niệm, như được hiểu theo quy ước, và cả kỹ năng vận động cảm giác) hoạt động cùng nhau trong đời sống tinh thần của con người và động vật. Như tôi đã nói sau này, “hiểu biết” và “tri giác” cùng xuất hiện (Noë 2012).

Mặc dù hành động luận nhấn mạnh tầm quan trọng của vận động, hành động và của cơ thể đối với lý thuyết tri giác, nhấn mạnh khẳng định cho rằng tri giác là một hoạt động, và nhấn mạnh đề xuất cho rằng tri giác không phải là một hoạt động representation-building xây dựng biểu tượng, nhưng quan điểm này không bao giờ là ý hướng phủ nhận vai trò quan trọng của sự hiểu biết và tri ​​thức. Vấn đề chính là đưa ra một cách giải thích thống nhất về tri giác, ý thức, tư duy và hành động. Nhưng các chi tiết vẫn chưa được hoàn thiện. Tri thức, kỹ năng, khả năng và sự hiểu biết chưa được định nghĩa cẩn thận, và mối quan hệ chính xác giữa cách giải thích về tri giác và cách giải thích về sự hiểu biết khái niệm chưa được làm rõ chi tiết. Trong bài viết này tôi cố gắng khắc phục các khiếm khuyết đó. Chiến lược cơ bản của tôi trong bài viết này như sau. Trong phần I, tôi đưa ra một cuộc thảo luận mở rộng về cái mà tôi gọi là intellectualism tri thức luận. Tôi xác định quan điểm này, phê phán nó, và chỉ ra rằng ngay cả các nhà phê phán quan điểm này cũng có xu hướng chia sẻ nhiều giả định đề của nó. Trong phần II, tôi cố gắng đưa ra một giải pháp thay thế cho tri thức luận, đó là concept pluralism đa nguyên luận khái niệm, được xây dựng dựa trên quan niệm của hành động luận về các khái niệm như là “kỹ năng tiếp cận”. Tôi cho rằng, các khái niệm nên được xem như những kỹ thuật giúp tiếp cận những gì đang tồn tại. Bằng cách này – chi tiết sẽ được làm rõ ở phần sau – tôi đưa ra một cách tư duy về các khái niệm thống nhất với các yếu tố cơ bản của theory of perception lý thuyết tri giác trước đó. Cần lưu ý: Tôi không đề cập đến vấn đề kinh nghiệm và nhận thức của động vật trong bài viết này, mặc dù nó có liên quan trực tiếp đến chủ đề.

2. Các phương thức hiểu biết

Kant (1791) cho rằng khái niệm là vị ngữ của phán đoán khả thể. Đó chính là thực chất của khái niệm. Chúng là các tạo vật của phán đoán. Ông cũng tin rằng khái niệm đóng vai trò cơ bản trong nhận thức. Chúng tổ chức dữ liệu giác quan. Không có khái niệm, kinh nghiệm giác quan sẽ là cảm giác trống rỗng; không có dòng chảy giác quan, sẽ không có gì để các khái niệm tổ chức. Đối với Kant, phán đoán mang lại hình thức cơ bản của Erfahrung kinh nghiệm. Frege (1891) cho rằng khái niệm là các chức năng từ đối tượng đến giá trị chân lý. Với quan niệm này, dường như ông đã đoạn tuyệt với Kant. Khái niệm không liên quan gì đến phán đoán hay đến tổ chức nhận thức của chúng ta. Chúng tồn tại trước tất cả những thứ đó. Điều này phù hợp với anti-psychologism phản tâm lý luận nổi tiếng của Frege, theo đó việc nắm bắt, hiểu biết, phán đoán và giao tiếp không liên quan gì đến logic hay bản thể luận.1 Nhưng Frege thực sự không cắt đứt mối liên hệ giữa khái niệm và phán đoán; ông chỉ diễn đạt nó theo cách khác. Khái niệm xuất hiện trong những gì được phán đoán; chúng thuộc về nội dung có thể phán đoán được. Vì vậy, Frege vẫn giữ mối liên hệ của Kant với phán đoán, nhưng trong một entpsychologisierte Version phiên bản giải-tâm lý hóa.2 Chủ nghĩa chống tâm lý học của Frege khiến ông gặp rắc rối.3 Cái sự thật là các khái niệm tự bản thân chúng không mang tính tâm lý, theo nghĩa các ý tưởng, liên tưởng hay cảm xúc, lại không có nghĩa là chúng không gắn liền với sự hiểu biết hay phán đoán, vì không có gì bắt buộc chúng ta phải nghĩ về sự hiểu biết và phán đoán như là thuộc về tâm lý theo nghĩa đó. Đồng thời, việc tuyên bố rằng các khái niệm là những thực thể “lĩnh vực- thứ ba” lại cung cấp rất ít cơ sở để khẳng định rằng chúng, theo nghĩa liên quan, là khách quan.

Cuối cùng, nếu các khái niệm là một loại trừu tượng huyền bí nào đó, thì hoàn toàn không rõ làm thế nào chúng ta có thể nắm bắt được chúng. Và chắc chắn, bất kể các khái niệm là gì, thì chúng ta vẫn có thể nắm bắt được chúng. Tôi sẽ quay lại với nhóm vấn đề này sau. Nhưng bây giờ, chúng ta hãy đồng ý rằng đối với cả Kant và Frege, các khái niệm đều gắn liền với phán đoán, mà ở đó điều này có nghĩa là: chúng gắn liền với việc phạm trù hóa, với lý luận rõ ràng, với việc bao hàm các đối tượng dưới các khái niệm. Mỗi nhà tư tưởng này đều đưa ra một cách giải thích về các khái niệm, hay về sự hiểu biết [tr.3] các khái niệm, trong cái mà tôi gọi là phương thức phán đoán. Theo Kant và Frege, việc nắm bắt hay hiểu biết các khái niệm tìm thấy sự thể hiện tự nhiên, chân thực của nó trong phán đoán. Bài viết này bắt đầu từ quan sát thấy rằng dường như có những phương thức hoạt động khái niệm khác, những cách khác để sự hiểu biết (về các khái niệm) tìm thấy sự thể hiện trong cuộc sống của chúng ta. Ít nhất là trên bề mặt, phán đoán dường như không phải là phương thức duy nhất để hiểu biết khái niệm. Ví dụ, hãy xem xét sự hiểu biết tri giác, hay cái mà chúng ta có thể gọi là hiểu các khái niệm theo phương thức tri giác. Hãy xem xét việc đọc.

Khi đến cổng đền Taj Mahal, thật khó để phân biệt những nét ngoằn ngoèo nào chỉ là trang trí, và những nét nào là chữ viết bằng tiếng Ả Rập cổ điển. Bạn chỉ có thể trải nghiệm thực tế có sẵn này cho bạn, nếu bạn không thông thạo tiếng Ả Rập cổ điển, hoặc kiểu chữ Ả Rập ấy. Điều này đánh dấu điểm mấu chốt của hiện tượng cơ bản: dường như có một phương thức hiểu biết thực chất mang tính tri giác. Về mặt tâm lý, không thể nào coi văn bản có ý nghĩa chỉ là những nét vẽ nguệch ngoạc. Đối với người hiểu biết, đối với người có khả năng, những từ ngữ có ý nghĩa sẽ hiện ra một cách tự nhiên. Hãy so sánh điều này với trường hợp của một học giả nghiên cứu các bức tranh thời Phục Hưng, trong đó chữ viết được thêu trên áo choàng của các nhà thông thái và các nhân vật thần thoại khác. Liệu những chữ viết này thuộc một ngôn ngữ quen thuộc, hay chúng là những dấu hiệu từ một ngôn ngữ đã bị lãng quên? Hay chúng là những nét giả-chữ viết? Làm thế nào để quyết định được? Một vấn đề hóc búa và mang lại nhiều cơ hội, bởi vì nó đòi hỏi suy lý, phân loại rõ ràng và phán đoán. 4

Nhưng dường như không có điều gì tương tự xảy ra khi bạn đang đọc. Và điểm mấu chốt là: nó vận hành ở cấp độ nhìn nhận hàng ngày của chúng ta. Về mặt tâm lý, thật khó, thậm chí có khi là không thể, để nhìn nhận những thứ quen thuộc xung quanh chúng ta chỉ đơn thuần là những sự vật. Chúng ta luôn nhìn nhận chúng là cái này hoặc cái kia. Tôi không có ý nói rằng khi chúng ta nhìn, chúng ta hình dung những thứ chúng ta thực sự nhìn thấy xung quanh mình là cái này hoặc cái kia, bằng cách đưa chúng vào các khái niệm liên quan, bằng cách phân loại chúng, như thể, trong phán xét. Điều quan trọng hơn cả là những thứ chúng ta nhìn thấy, những thứ xung quanh mình đều quen thuộc, được biết đến, được hiểu rõ, được nắm bắt và được nhận ra ngay từ đầu. Các khái niệm được hình thành trước khi chúng ta thậm chí có thể hỏi một thứ gì đó là gì hoặc đưa ra phán đoán về nó.5 Vì vậy, ở đây chúng ta có một cách thức riêng biệt mà các khái niệm, hay sự hiểu biết, có thể được sử dụng bên ngoài bối cảnh phán đoán. Cụ thể, như tôi đã nói, đây là một ví dụ về việc triển khai các khái niệm bằng phương thức tri giác, hay nói đơn giản hơn là sự hiểu biết tri giác. Lưu ý, khi nói rằng tri giác là một phương thức hiểu biết không mang tính phán đoán, tôi không có ý phủ nhận rằng có thể có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa phương thức phán đoán và phương thức tri giác. Và có lẽ chỉ những người có khả năng trải nghiệm tri giác mới có thể được xem là đủ tư cách để phán xét bất cứ điều gì.6 Ý tôi là, xét về mặt bề ngoài, phán đoán là một chuyện, và tri giác là chuyện khác, nhưng cả hai đều là những cách thức thực hành năng lực hiểu biết.

Ngoài ra còn có những phương thức khác. Các khái niệm cũng được vận dụng trong cái mà tôi gọi là phương thức chủ động; nghĩa là, sự hiểu biết có thể được thể hiện ngay lập tức trong những gì chúng ta làm. Có một thứ gọi là hiểu biết thực tiễn. Và điều làm cho sự hiểu biết liên quan trở nên thực tiễn không phải là việc nó là một thực hành đánh giá, dù là tình cờ, các vấn đề thực tiễn. Theo quan điểm của tôi, điều làm cho nó trở nên thực tiễn là việc nó vận dụng hoặc đưa vào hoạt động sự hiểu biết của một người mà không cần bất kỳ sự kêu gọi nào, hoặc thậm chí không có không gian cho sự suy ngẫm hoặc phán đoán. Ví dụ, vốn hiểu biết của người dắt chó về con chó của mình được vận dụng trong cách họ áp dụng dáng đi phù hợp với con chó và khuyến khích hoặc cho phép nó thực hiện việc đánh hơi, công việc của loài chó; và cũng như vậy trong cách chủ nhân tự động rút ngắn dây xích khi một con chó khác đến gần; thậm chí, chúng ta có thể nói, nó được thể hiện trong [tr. 4] sự bình tĩnh mà cô ấy giữ khi hai con chó bắt đầu sủa và giằng co dây xích của chúng. Không cần lời nói, không cần cân nhắc hay suy nghĩ rõ ràng, người chủ vẫn biết rõ bản tính của loài chó.7

Và có thể vẫn còn những kiểu hiểu biết khác, những phong cách tư duy khác. Ví dụ, có lẽ cũng có thể gọi là phương thức cảm xúc, hoặc có lẽ sẽ tốt hơn nếu nói là phương thức cá nhân, hay thậm chí là phương thức liên-nhân. Nước mắt, cảm xúc, tổn thương, nhưng cả tư thế, khoảng cách đứng với người khác, cách ứng xử trong môi trường xã hội, tất cả đều có thể thể hiện sự nhạy bén cao độ với tình huống, mối quan hệ, địa vị, mục tiêu, nhiệm vụ, …v.v. Cần có sự hiểu biết để thực hành tất cả những điều này, mặc dù chúng ta hiếm khi cố gắng thể hiện rõ ràng sự hiểu biết này và mặc dù, rất có thể, chúng ta không thể làm được điều đó, ngay cả trong những hoàn cảnh lý tưởng. Chắc chắn rằng trong kiểu tương tác phản hồi này với thế giới xã hội của mình, chúng ta luôn thể hiện sự hiểu biết.8 Tóm lại: có thể cho rằng ít nhất có tồn tại ba, thận chí bốn phương thức hiểu biết khác nhau. Có phương thức phán đoán, phương thức tri giác, phương thức hoạt động, và có lẽ cả phương thức cá nhân nữa.

3. Tri thức luận so với sự thấu hiểu mang tính tri thức luận

Tôi đã đề xuất ý tưởng cho rằng có ít nhất ba hoặc bốn phương thức hiểu biết khác nhau. Giờ đây, tôi chuyển sang suy nghĩ thân quen là trong số các loại hình biểu đạt sự hiểu biết mang tính khái niệm này, chỉ có một – phương thức phán đoán – là chân chính. Theo ý tưởng này, các phương thức khác – tức là phương thức tri giác, phương thức hành động, và phương thức cá nhân – chỉ biểu đạt sự hiểu biết một cách phái sinh, nhờ vào thực tế là chúng được hướng dẫn hoặc kiểm soát, từ bên ngoài, bởi sự hiểu biết chân chính bằng phương thức phán đoán. Tôi sẽ gọi quan điểm này là tri thức luận. Theo định nghĩa của tôi, tri thức luận là quan điểm cho rằng một phương thức biểu đạt bằng khái niệm là cơ bản, đó là phương thức phán đoán, còn các phương thức khác là những lĩnh vực mà sự hiểu biết chỉ được biểu đạt một cách phái sinh.9 Plato và Descartes dường như đã tin vào một điều gì đó tương tự. Đối với họ, một cảm giác đơn thuần chỉ đạt đến cấp độ tri giác, và một chuyển động đơn thuần chỉ đạt đến cấp độ hành động, nếu nó chịu sự hướng dẫn của lý trí. Linh hồn bị chia tách khỏi chính nó và nó chỉ đạt được sự thống nhất khi được kiểm soát đúng cách từ bên trên.

Tri thức luận có lẽ là quan điểm chính thống trong khoa học nhận thức. Ví dụ, khi bạn nhìn thấy Sao Bắc Cực, như Fodor & Pylyshyn (1981) khẳng định, bạn hình dung ra bất cứ thứ gì mình thực sự thấy—có lẽ là một mô thức chiếu xạ của võng mạc— như là Sao Bắc Cực. Giả định ngược lại thì cho rằng thị giác, như Gibson (1986) đã tuyên bố, có thể là sự thu nhận trực tiếp những gì xung quanh chúng ta. Nhưng Sao Bắc Cực, giống như chiều thứ ba, không phải là thứ được chiếu lên võng mạc. Tính là gì của sự vật, thực chất của chúng, cũng như chính chiều thứ ba, nói một cách chính xác, không thể nhìn thấy được. Chúng ta cần đến phán đoán, việc áp dụng các khái niệm (với trường hợp này có lẽ là tự động và ngầm định) trong việc xây dựng các biểu tượng tinh thần, để đưa một cái gì đó giống như thế giới vào trải nghiệm của chúng ta.10 Jason Stanley, trong một loạt bài viết (Stanley & Williamson 2001; Stanley 2011; Stanley & Krakauer 2013), bảo vệ thứ mà tôi gọi là tri thức luận. Theo Stanley (2011), bạn chỉ thực hiện một hành động khéo léo khi  hành động đó xuất phát từ tri ​​thức của bạn về các định đề chân. Ông giải thích thêm: “[C]ó đủ loại cơ chế tự động vận hành theo nghĩa thực sự ở cấp độ subpersonally á-nhân cách. Năng lực hành động khéo léo của con người (và động vật) dựa trên những cơ chế này. Cái làm cho một hành động trở thành một thực hành kỹ năng, chứ không chỉ là phản xạ đơn thuần, là ở chỗ nó được hướng dẫn bởi sự nhận thức trí tuệ về các chân lý.” (Stanley 2011, tr. 174) Tri thức luận có đúng không? Chúng ta có nên là intellectualists những người tri thức luận không?

Điều quan trọng là chúng ta phải nhận thấy ngay rằng tri thức luận đúng ở một khía cạnh nào đó. Nó khẳng định rằng sự hiểu biết và tư duy khái niệm luôn hiện diện ở mọi nơi chúng ta suy nghĩ, cảm nhận, hành động và nói chuyện, như chúng ta đã xem xét. Tư duy khái niệm, sự hiểu biết và tri ​​thức không chỉ thấm nhuần trong tâm trí mà còn trong cuộc sống và bản thể của chúng ta. Chắc chắn, nó hiện diện ở bất cứ nơi nào chúng ta có thể nói về khả năng hành động. Stanley khẳng định (trong đoạn trích dẫn trên) rằng chúng ta chỉ có thể nói về hành động khéo léo khi có sự vận hành của hiểu biết. Có lẽ ông ấy nên nói rằng chúng ta chỉ có thể nói về hành động, trái ngược với phản xạ đơn thuần, hay vận động đơn thuần, khi cũng có sự hiểu biết. Câu hỏi mà tôi muốn chúng ta xem xét là: liệu chúng ta có cần tri thức luận để đảm bảo sự thấu hiểu mang tính tri thức luận không thể phủ nhận này, như tôi sẽ gọi là nhận thức về tính phổ biến của hiểu biết trong đời sống tri giác, hoạt động cũng như cảm xúc của chúng ta hay không? Điều quan trọng là chúng ta phải nhận thấy khoảng cách giữa sự thấu hiểu và luận đề. Một mặt, nói rằng có sự hiểu biết hiện diện trong năng lực tri giác và hành động, mặt khác, cho rằng điều làm nên sự thật đó là năng lực tri giác và hành động được đặt nền tảng trên các hành động phán đoán. Liệu chúng ta có cần phải nghĩ rằng thứ đảm bảo và chống giữ cho sự can dự của hiểu biết chính là sự thật mà những gì chúng ta nhìn thấy, làm và cảm nhận được hướng dẫn bởi các phán đoán? Ngay lập tức, có hai lý do rõ ràng để nghi ngờ luận đề tri thức luận. Thứ nhất, tri thức luận ít nhất cũng đe dọa làm lu mờ những khác biệt mà tôi đã hướng sự chú ý của chúng ta giữa những gì tối thiểu dường như cũng là những cách thức thực sự khác biệt để thực hành tri ​​thức và sự hiểu biết của một ai đó. Và vì vậy, dường như nó đã sai. Nhìn thấy, hành động và phản ứng năng động, ít nhất là trong hầu hết các trường hợp, đều không giống như việc đưa các đối tượng vào sự xử lý bằng các khái niệm trong phán đoán.

Thứ hai, tri thức luận mang tính tùy tiện. Chẳng phải chúng ta có thể duy trì quan điểm cho rằng tri giác là hình thức cơ bản của sự hiểu biết và phán đoán, ngay cả trong trường hợp lý luận thuần túy và toán học, lại dựa trên một loại hiểu biết bằng tri giác sao? Hay chính sự hiểu biết bằng phương thức chủ động mới thực sự là cơ bản? Bản thân phán đoán phụ thuộc vào việc nắm vững và thực hành các năng lực khái niệm, mà trước hết là mang tính thực tiễn. Suy cho cùng, bạn cần biết cách sử dụng các khái niệm để có thể phán đoán. Trong mọi trường hợp, chúng ta hãy hỏi lại: liệu có lý do nào để bảo chứng cho tri thức luận? Tại sao lại cho rằng phán đoán là phương thức duy nhất và chính yếu của sự hiểu biết thực sự? Tại sao lại phải là một người tri thức luận?

4. Các rắc rối với tri thức luận

Các bài viết của Stanley (Stanley & Williamson 2001; Stanley 2011; Stanley & Krakauer 2013) về chủ đề này rất đáng chú ý. Tuy nhiên, ông dường như nhầm lẫn bằng chứng thiên về sự thấu hiểu (thiên hướng cho rằng sự hiểu biết hiện diện trong tri giác và hành động, cũng như trong bối cảnh tư duy có chủ đích rõ ràng) với sự ủng hộ cho chính tri thức luận (cho cái quan điểm cho rằng phán đoán chi phối hành động và tri giác). Và, trên hết, ông có thể mắc phải sai lầm khi hình dung toàn bộ genus giống đều dựa trên mô hình của một trong các species loài của nó; hệt như việc nghĩ rằng mọi con chó đều là mèo bởi vì, ừm, chúng là động vật có vú, hoặc cho rằng nhìn là một phương cách xúc giác bởi vì, xét cho cùng, cả hai đều là các hình thức tri giác. Trong trường hợp này, đó là ngụy biện khi nghĩ rằng biết cách làm phải là một hình thức biết điều gì đó bởi vì, xét cho cùng, nó là một hình thức của tri thức. Chúng ta hãy xem xét một cách ngắn gọn vấn đề cuối cùng này trước. Stanley (2011) nhận thấy rằng chúng ta sử dụng “biết” cả cho tri thức định đề lẫn [tr.6] tri thức thực tiễn (bí quyết). Tuy nhiên, trái ngược với những gì ông đề xuất, có những ngôn ngữ cùng nguồn gốc nhưng lại không đúng với trường hợp này. Ví dụ, chúng ta không diễn đạt việc biết cách làm trong tiếng Đức bằng cùng một động từ mà chúng ta sử dụng để diễn đạt tri thức định đề (Stanley 2011, trang 36-37). Chúng ta sử dụng können, có nghĩa là có thể; chúng ta không sử dụng wissen biết (như trong wissen wie biết cách làm). Nhưng dù sao đi nữa, điều quan trọng hơn là, vậy thì sao nào? Những sự thật như thế này có ý nghĩa quyết định đến mức nào? Tôi cho rằng, điều hiển nhiên là know-how bí quyết là một dạng tri ​​thức, một thành tựu hiểu biết. Câu hỏi đặt ra là liệu nó có phải là một dạng tri ​​thức cùng loại với tri ​​thức định đề, loại tri ​​thức được thể hiện bằng phán đoán hay không. Điều quan trọng là, tất cả bằng chứng trên thế giới cho thấy nó là một dạng tri ​​thức cũng không đủ để chứng minh nó là tri ​​thức định đề. Vậy thì trên thực tế, chúng ta đều rõ rằng biết cách làm một việc gì đó không chỉ đơn thuần là biết rằng một mệnh đề là chân, đối với bất kỳ mệnh đề nào bạn có thể nghĩ ra. Bởi vì biết cách làm một việc gì đó ngụ ý rằng bạn có khả năng làm điều đó (và ngược lại), trong khi tri ​​thức định đề tương ứng lại không có những hệ quả thực tiễn như vậy.

Stanley phủ nhận điều này (Stanley & Williamson 2001; Stanley 2011). Bạn có thể biết cách thực hiện một pha nguy hiểm nhưng lại không thể thực hiện nó (ví dụ như vì bạn bị thương); vì vậy, ông cho rằng việc sở hữu bí quyết chuyên môn không thể tương đương với việc sở hữu khả năng thực tế. Nhưng lập luận này không thuyết phục. Tất nhiên, đúng là bạn có thể biết cách làm một việc gì đó ngay cả khi bạn không thể làm được nó. Nhưng đó là bởi vì việc bạn không thể làm được nó, theo nghĩa liên quan, không phải là bằng chứng cho thấy bạn không thể làm được nó! Hãy ngẫm xem: bạn không thể bơi nếu không có nước, ngay cả khi bạn giỏi bơi. Bạn biết bơi nhưng bạn lại không thể bơi. Thay vì chứng minh rằng bí quyết chuyên môn và khả năng tách rời nhau, nên cách nhìn nhận này nhắc nhở chúng ta rằng chúng cùng vận hành trên một tuyến đường ray. Vì vậy, biết cách làm một việc gì đó không phải là sở hữu tri ​​thức định đề: nó không bao gồm cả cái vị trí có thể đưa ra những phán đoán nhất định. Đây là một điểm mà Stanley và Williamson chấp nhận, dù chỉ ngầm hiểu, vì họ đưa ra một phân tích khác về các trường hợp chính xác để giải thích mối liên hệ cực trọng với hành động trong trường hợp tri ​​thức chuyên môn. Theo quan điểm của họ, việc biết cách làm một điều gì đó bao gồm việc nắm bắt một định đề chân, nhưng nó cũng bao gồm việc nắm bắt định đề đó theo một cách thực tiễn riêng biệt và bất khả quy giản (khi sử dụng các phương thức hình dung thực tiễn).11

Một lần nữa, điều đáng chú ý là việc phủ nhận, như tôi đã làm, đó là việc biết cách làm một điều gì đó bao gồm việc biết chân lý của một định đề, không có nghĩa là phủ nhận rằng, trên thực tế, việc biết cách làm một điều gì đó có thể đặt bạn vào vị trí để đưa ra một số phán đoán nhất định, hoặc có thể yêu cầu bạn đánh giá cao chân lý của một số định đề nhất định. Điều này đưa chúng ta đến điểm đầu tiên ở trên: sự nhầm lẫn giữa bằng chứng cho sự thấu hiểu với bằng chứng cho luận đề. Tôi đang giả định rằng việc biết cách làm, giống như tri ​​thức định đề, là một hình thái tri ​​thức. Điểm chung này đã được đảm bảo bởi sự thấu hiểu: hiểu biết của chúng ta, tri ​​thức của chúng ta về các khái niệm, được sử dụng trong cả hai trường hợp. Vì vậy, chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với Snowdon (2004), được Stanley (Stanley & Williamson 2001) tán đồng trích dẫn, cho rằng việc biết cách làm và biết về điều đó đi cùng nhau— đó là ở chỗ bạn có cái này, bạn có cái kia. Nhìn chung, như Snowdon nhận xét, nếu bạn biết cách làm một việc gì đó—ví dụ, cách quy về nhà từ địa điểm này—thì bạn sẽ biết vô số điều là chân, chẳng hạn như bạn cần rẽ trái ở đây, và chỗ này chưa phải đã về đến nhà, v.v. Và ngược lại. Biết cách làm và biết về điều đó, theo nghĩa này, hòa quyện và hợp tác với nhau. Những cách nhìn nhận này được Stanley và Snowdon đưa ra, tôi nghĩ, để cho thấy rằng Ryle đã nhầm lẫn khi tin rằng định đề và thực tiễn là tách rời và không liên kết (1949); trên thực tế, chúng hoạt động cùng nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Đây là một điểm quan trọng mà tôi tán thành. Và đây chính là điều người ta nên mong đợi dựa trên cái nhìn sâu sắc về phương diện tri thức luận.

Xét cho cùng, sự hiểu biết vận hành trong cả hai lĩnh vực: thực tiễn và phán đoán hoặc định đề. Tuy nhiên, điều quan trọng là, thứ thực tế mà cái thực tiễn và cái định đề [tr.7] chi phối lẫn nhau theo cách này lại không hỗ trợ cho ý tưởng tri thức luận cho rằng một trong hai thứ ấy, cái định đề, là nền tảng cho cái thực tiễn; thật vậy, nó lại đi ngược lại chính ý tưởng đó. Tại sao lại cứ khăng khăng giữ vững luận điểm này khi mà dường như chính sự thấu hiểu đó đã đủ để nắm bắt hiện tượng đang được đề cập? Động cơ của Stanley có vẻ khá rõ ràng. Ông muốn phá bỏ quan niệm cho rằng tri thức mệnh đề là tách rời và, như ông nói, là bất động về mặt hành vi. Ông muốn khẳng định rằng thật sai lầm khi cho rằng các vận động viên, chú hề và thợ thủ công là những “thây ma” khéo léo, trong khi các nhà triết học, toán học và vật lý học là những người lao động trí tuệ mà hành động của họ thể hiện sức mạnh trí tuệ đích thực. Thậm chí, có thể ông cho rằng đây là một điểm có ý nghĩa chính trị. Tuy nhiên, tri thức luận không cần thiết để đạt được bất cứ điều gì trong số này. Sự thấu hiểu đã làm được điều đó rồi. Trên thực tế, tri thức luận, như Stanley phát triển, đe dọa làm sai lệch bản chất của những thành tựu nhận thức được vận dụng trong các hoạt động thực tiễn, tri giác và cá nhân của chúng ta. Điều này thể hiện rõ trong cuộc thảo luận về kỹ năng. Stanley & Krakauer (2013) bảo vệ luận điểm của Aristotle (Metaphysics 1046b Siêu hình học 1046b) cho rằng chúng ta chỉ có thể nói về hành động khéo léo, trái ngược với thói quen đơn thuần, hay khả năng thô sơ, nơi chúng ta có thể nói về sự kiểm soát hành động một cách hợp lý, và cũng là nơi chúng ta có thể nói về việc giảng dạy, học tập, thực hành, trở nên giỏi hơn, hoặc đạt được cấp độ tinh thông. Họ bảo vệ luận điểm của Aristotle cho rằng đó là dấu hiệu của tính khéo léo, và bạn có thể tự nguyện lựa chọn thực hiện những gì bạn có thể làm một cách khéo léo nhưng lại tệ hại. Điểm cuối cùng này dường như không chắc chắn. Tôi không thể chọn để không hiểu những gì bạn nói, hoặc coi chữ viết chỉ là những nét nguệch ngoạc, hay từ ngữ được cấu tạo từ những chi tiết lắt nhắt mà tôi cần phải tỉ mỉ phát âm hoặc đánh vần. Một nghệ sĩ guitar không thể chọn trải nghiệm nhạc cụ trong tay mình là xa lạ hoặc không quen thuộc. Tốt nhất, có lẽ, tôi chỉ có thể giả vờ rằng mình không thể làm những điều này.

Phải chăng điều này là vì nói chuyện, đọc sách và chơi đàn guitar thực sự không phải là những kỹ năng, mà chỉ là những thói quen nằm ngoài phạm vi kiểm soát lý trí? Hoàn toàn không! Chúng là những biểu hiện của năng lực khéo léo, sự hiểu biết và tri ​​thức lý trí nếu có gì đó gọi là kỹ năng. Sẽ sai lầm khi nghĩ rằng một màn trình diễn chỉ mang tính lý trí nếu sự kiểm soát được thực hiện theo phương thức phán đoán, như thể từ bên ngoài. Sự hiểu biết được vận hành trong lời nói và trò chơi, cũng như trong suy nghĩ của chúng ta, vốn là bản chất của chính những phong cách tương tác khác nhau này. Stanley và Krakauer nhấn mạnh rằng kỹ năng phụ thuộc vào tri ​​thức về sự kiện. Cần phải chú ý một lần nữa là, việc tôi khẳng định rằng kỹ năng không nằm ở việc thực hành các khái niệm theo phương thức phán đoán không có nghĩa là có thể có kỹ năng khi thiếu khả năng thực hành chúng theo phương thức đó. Trên thực tế, có thể - điều này liên quan đến luận điểm của Snowdon ở trên - chỉ những người nhạy cảm với mọi loại sự kiện, ví dụ, về cách thức thực hiện một việc gì đó, mới thực sự biết cách làm điều đó. Điều này không chứng tỏ rằng việc biết cách làm là một loại tri ​​thức về sự kiện. Thay vào đó, nó cho thấy rằng các năng lực khái niệm khác nhau của chúng ta có thể phụ thuộc lẫn nhau. Stanley và Krakauer cố gắng vạch ra ranh giới giữa các kỹ năng thực sự, mà theo nghĩa của họ, bị chi phối bởi lý tính, và những kỹ năng khác—ví dụ như kỹ năng nhận thức và ngôn ngữ—quá cơ bản, hoặc quá đơn giản để được coi là kỹ năng theo nghĩa hợp lý đầy đủ hơn.12     

Có một vấn đề với đề xuất này là không dễ để vạch ra một ranh giới rõ ràng giữa kỹ năng và những khả năng được cho là bản năng. Ví dụ, hãy xem xét khả năng nhìn màu sắc, vốn là bẩm sinh ở con người. Mặc dù vậy, hóa ra trẻ em vẫn rất khó nhận biết và phân biệt màu sắc rất lâu sau khi chúng đã thành thạo tên của các đồ vật, người, trò chơi quen thuộc, v.v. Như Akins (bản thảo chưa được xuất bản) đã lập luận, điều này có lẽ là do màu sắc không đơn giản, như hiện tượng học của chúng ta, hay đúng hơn là tri ​​thức thông thường của chúng ta về hiện tượng học, khiến chúng ta tin tưởng một cách sai lầm. Việc nhận biết màu xanh lam, vàng hay đỏ đòi hỏi phải phát triển sự nhạy cảm với các chuỗi hằng số và biến số—với sự biến đổi sinh thái trong cái mà tôi gọi là điều kiện cực trọng về màu sắc [tr.8]—điều này cần thời gian và học hỏi, đồng thời cho phép phê phán và suy ngẫm. Thị giác màu sắc là bản năng hay kỹ năng? Có thể là cả hai. Đây không phải là trường hợp đặc biệt. Bởi vì việc nhìn thấy chịu bão hòa bởi hiểu biết, nên rất khó tìm thấy những đặc điểm khả năng của chúng ta không bị điều chỉnh bởi tri ​​thức và bối cảnh. Đúng là khả năng phân biệt các đường kẻ có mật độ khác nhau được cố định, ở mức tối đa, bởi khả năng phân giải của mắt; tuy nhiên, khả năng phân biệt của chúng ta có thể nhạy cảm với nhiệm vụ và động cơ, với chú tâm và xao nhãng—nghĩa là, nói một cách rất rộng, với mức độ cam kết của chúng ta vào cái thế giới có ý nghĩa ấy. Vậy kỹ năng dừng lại ở đâu và khả năng thô sơ bắt đầu từ đâu? Tôi hoài nghi rằng khả năng học hỏi, khả năng dạy dỗ, hay sự kiểm soát hợp lý cung cấp một ranh giới thú vị hoặc có giá trị. Lý do cơ bản nhất cho điều này là tri giác không bao giờ chỉ đơn thuần là sự ghi nhận. Đó là vấn đề về khả năng tiếp cận tri ​​thức (Noë 2004, 2012).

Còn một vấn đề quan trọng thứ hai nữa. Hãy xem xét ngôn ngữ. Sự hiểu lầm về ngôn ngữ không làm ngôn ngữ dừng lại, không đẩy bạn ra khỏi hệ thống và đưa bạn trở lại với ngữ pháp, được viết sẵn bởi những người chịu trách nhiệm thiết lập ngôn ngữ. Thay vào đó, việc đối phó với sự hiểu lầm—việc không hiểu cách người khác sử dụng từ ngữ, hoặc cách chúng ta nên sử dụng chúng, hoặc việc không biết cách sử dụng chúng—là một trong những bối cảnh quen thuộc của ngôn ngữ. Chúng ta phán xét, giảng dạy, học hỏi, cải thiện, phê phán, định nghĩa, chính thức hóa và đánh giá trong phạm vi ngôn ngữ, chứ không phải từ bên ngoài nó. Ngôn ngữ, trái ngược với các xác quyết của ngôn ngữ học Chomskyan, không phải là một hoạt động tuân theo quy tắc. Nó là một hoạt động sử  dụng quy tắc. Và chúng ta tạo ra các quy tắc khi cần thiết và cho mục đích riêng của mình. Điều này có thể gây tranh cãi. Nhưng đây là lý do tại sao tôi nhấn mạnh điều này: theo quan điểm của nhà logic học hoặc nhà ngôn ngữ học về ngôn ngữ, trước tiên bạn gán giá trị cho các yếu tố cơ bản, sau đó bạn thiết lập các quy tắc chi phối việc xây dựng các công thức đúng ngữ pháp. Nếu bạn nghĩ về ngôn ngữ theo cách này, thì có vẻ như bạn cần sự phán xét—việc áp dụng các quy tắc vào các trường hợp—để đảm bảo ý nghĩa của những gì nếu đó không chỉ là những dấu hiệu và âm thanh đơn thuần. Nhưng chúng ta không cần sự phán xét—chúng ta không cần sự hiểu biết theo phương thức phán xét—để đảm bảo ý nghĩa. Chúng ta không cần sự hướng dẫn từ bên ngoài. Sự đối lập giữa thói quen và kỹ năng là một sự đối lập sai lầm; và thật sai lầm khi nghĩ rằng điều đánh dấu sự đối lập là thói quen nằm dưới hoặc trước sự hiểu biết trong khi kỹ năng là việc ứng dụng có chủ đích của sự hiểu biết.

__________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Noë, A. (2015). Concept Pluralism, Direct Perception, and the Fragility of Presence. In T. Metzinger & J. M. Windt (Eds). Open MIND: 27(T). Frankfurt am Main: MIND Group. doi: 10.15502/9783958570597

Tác giả Alva Noë sinh năm 1964 là một nhà triết học người Mỹ. Ông là Giáo sư Triết học tại Đại học California, Berkeley. Noë là con trai của kiến trúc sư, nhà điêu khắc và chủ nhà hàng Hans Noë, chủ sở hữu trước đây của quán cà phê Fanelli. Mẹ ông, Judith Baldwin, là một nghệ nhân gốm sứ. Anh trai ông, Sasha, là một nhà điêu khắc và đã tiếp quản việc điều hành quán cà phê Fanelli. Trọng tâm công việc của ông là lý thuyết về nhận thức và ý thức. Ngoài những vấn đề này trong khoa học nhận thức và triết học về tâm trí, ông còn quan tâm đến hiện tượng học phân tích, lý thuyết nghệ thuật, Ludwig Wittgenstein, thuyết hành động và nguồn gốc của triết học phân tích. Noë nhận bằng Cử nhân từ Đại học Columbia. Ông cũng có bằng Cử nhân Triết học từ Đại học Oxford và bằng Tiến sĩ từ Đại học Harvard. Noë gia nhập Khoa Triết học thuộc Đại học California, Berkeley với tư cách là phó giáo sư vào năm 2003, nơi ông là thành viên của Viện Khoa học Nhận thức và Não bộ UC Berkeley, giữ vai trò là giảng viên chủ chốt cho Chương trình Khoa học Nhận thức và Trung tâm Truyền thông Mới. Trong giai đoạn 2011–2012, ông là Giáo sư Triết học Danh dự tại Trung tâm Sau đại học của Đại học Thành phố New York. Trước khi đến Đại học California, Berkeley, Noë là trợ lý giáo sư triết học tại Đại học California, Santa Cruz. Ông từng là cộng tác viên nghiên cứu sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Nhận thức thuộc Đại học Tufts, học giả thỉnh giảng tại Khoa Logic và Triết học Khoa học thuộc Đại học California, Irvine và tại Viện Jean-Nicod (CNRS/EN/EHESS) ở Paris, nghiên cứu sinh thỉnh giảng McDonnell-Pew tại Trung tâm Khoa học Thần kinh Nhận thức Oxford, và học giả thỉnh giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Chủ thể thuộc Đại học Copenhagen. Noë đã nhận được Học bổng của Hiệu trưởng Đại học California về Nhân văn và Học bổng ACLS/Ryskamp, và trong năm 2007–2008 là nghiên cứu sinh tại Wissenschaftskolleg zu Berlin. Noë là tác giả của các cuốn sách Strange Tools (2015), Varieties of Presence (2012), Out of Our Heads (2009) và Action In Perception (MIT Press, 2004). Ông là đồng biên tập của Vision and Mind: Selected Readings in the Philosophy of Perception (MIT Press, 2002) và là tác giả của Is the Visual World a Grand Illusion? (Imprint Academic, 2002). Trong Action In Perception, Noë đưa ra khái niệm về hồ sơ cảm giác vận động. Chủ nghĩa ngoại tại về tâm trí và nội dung tinh thần là một chủ đề xuyên suốt trong tác phẩm của ông.

Notes

1 See, for example, Frege’s “Thoughts“, (1918–1919).

2 Not that I mean to suggest that it is right to think of Kant as actually offering a psychological account. But it might look this way from Frege’s perspective.

3 As both Dummett (1973) and Baker & Hacker (1984) have noticed.

4 For a discussion of this fascinating topic, see A. Nagel (2011).

5 As Heidegger (1927) would have put it, the things we encounter are always already familiar.

6 I return to this issue of the unity of concepts in section 6 below.

7 This example is from Stephen Mulhall (1986).

8 With this last example we move beyond description to the suggestion of an argument. The thought is that the relevant forms of understanding couldn’t be underwritten by judgement, since we are not able, as a general rule, to frame the needed judgements. Indeed, something like this line of thought is already suggested in the way I’ve sketched the perceptual and active modes above. Recall the celebrated case of Oliver Sacks (1970): a man can’t recognize the item before him as a glove; his powers of judgement are fine—he describes what he sees as a self-enclosed piece of fabric with five outpouchings —and he knows what a glove is. The case is illustrative because it brings out that it is less the fact that he can’t recognize the glove, and more the very fact that he needs to think about it all, that brings home the thought that in our normal life there is no room for that sort of deliberation.

9 Intellectualism can be defined differently. For a variety of approaches to problems in this vicinity, see Bengson & Moffett (2011).

10 This was David Marr’s (1982) view. The content of visual experience is given in a 2.5D sketch, that is, in a depiction of what is given in the projection of the world onto the retina. It is only in so far as vision yields knowledge that it goes beyond what is given in this intermediate-level representation and gives rise to a fully conceptual 3D model. But for Marr, and for his recent advocates (Prinz 2013), although we live in the world of the 3D sketch, our experience is confined to the intermediate-level representation. And crucially, for these thinkers, you don’t need concepts or understanding at the intermediate level. You just need optics.

11 Stanley (2011) offers a different account from that developed in Stanley & Williamson (2001). The former is framed in terms of modal parameters governing the interpretation of the relevant sentences. Although he insists that know-how does not entail ability, he admits that attributions of know-how exhibit more or less the same sort of modality as ascriptions of dispositions and abilities.

12 Stanley & Krakauer (2013, p. 5) write: “[b]ut at some point, all such knowledge will rest on knowledge of basic actions, such as grasping an object or lifting one’s arm. These activities are not skills; they are not acquired by or improved upon by raining in adult life. Their manifestation is nevertheless under our voluntary control.”

References

Akins, K. (unpublished manuscript). Unpublished manuscript. Presented at Riga Symposium. Riga, Latvia.

Aristotle, (1924). Metaphysics. In W. D. Ross (Ed.) Aristotle’s metaphysics. Oxford, UK: Clarendon Press.

Baker, G. P. & Hacker, P. M. S. (1984). Frege: Logical excavations. Oxford, UK: Blackwell.

Bengson, J. & Moffett, M. A. (Eds.) (2011). Knowing how: Essays on knowledge, mind, and action. Oxford, UK: Oxford University Press.

Campbell, J. (2002). Reference and consciousness. Oxford, UK: Oxford University Press.

Dreyfus, H. (2013). The myth of the pervasiveness of the mental. In J. K. Schear (Ed.) Mind, reason, and beingin-the-world: The McDowell-Dreyfus debate. London, UK: Routledge.

Dummett, M. (1973). Frege: Philosophy of language. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Evans, G. (1982). The Varieties of Reference. Oxford, UK: Oxford University Press.

Fodor, J. A. & Pylyshyn, Z. W. (1981). How direct is visual perception: Some reflections on Gibson’s “ecological approach”. Cognition, 9 (2), 139-196.

Frege, G. (1891). Function and concept. Collected papers on mathematics, logic and philosophy (pp. 137-156). Oxford, UK: Blackwell.

(1918). Thoughts. Collected papers on mathematics, logic and philosophy (pp. 351-372). Oxford, UK: Blackwell.

Gibson, J. J. (1986). The ecological approach to visual perception. Princeton, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.

Heidegger, M. (1927). Being and time. New York, NY: SUNY Press.

Kant, I. (1791). Critique of pure reason. London, UK: Macmillian.

Marr, D. (1982). Vision. San Francisco, CA: W.H. Freeman.

McDowell, J. (1994). Mind and world. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Merleau-Ponty, M. (1945). Phenomenology of perception. London, UK: Routledge.

Mulhall, S. (1986). Heidegger and being and time. London, UK: Routledge.

Nagel, A. (2011). Twenty-five notes on pseudoscript in Italian art. Res: Anthropologgy and Aesthetics, 59/60, 228-248.

Noë, A. (2004). Action in perception. Cambridge, MA: MIT Press.

(2012). Varieties of presence. Cambridge, MA: Harvard University Press.

O’Regan, J. K. & Noë, A. (2001). A sensorimotor account of vision and visual consciousness. Behavioral and Brain Sciences, 24 (5), 883-975.

Prinz, J. (2013). The conscious brain: How attention engenders experience. New York, NY: Oxford University Press.

Ryle, G. (1949). The concept of mind. London, UK: Hutchinson’s University Library.

Sacks, O. (1970). The man who mistook his wife for a hat, and other clinical tales.

Snowdon, P. (2004). Knowing how and knowing that: A distinction reconsidered. Proceedings of the Aristotelian Society, 104 (1), 1-29.

Stanley, J. (2011). Knowing how. New York, NY: Oxford University Press.

Stanley, J. & Krakauer, J. W. (2013). Motor skill depends on knowledge of facts. Frontiers in Human Neuroscience, 7 (503).

Stanley, J. & Williamson, T. (2001). Knowing how. Journal of Philosophy, 98 (8), 411-444.

Wittgenstein, L. (1921). Tractatus logico-philosophicus. London, UK: Routledge.

(1953). Philosophical investigations. Oxford, UK: Blackwell.

 

 

 

 

 


Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Giải phẫu một cú chơi sỏ

Bruce Robbins

Người dịch: Hà Hữu Nga

Cho đến nay nhiều người đọc cuốn tạp chí có đăng tiểu luận Vượt qua các Ranh giới: Hướng tới Chuyển đổi Tường giải về Lực hấp dẫn Lượng tử của Alan Sokal trong số Xuân/Hè 1996, số “Các cuộc chiến Khoa học” của Social Text vẫn không biết rằng Tiểu luận đó là một trò chơi sỏ. Ban biên tập tạp chí nghĩ rằng bản thảo tiểu luận  bàn về vật lý lượng tử, hiểu một cách chính xác là phù hợp với triết học hậu hiện đại. Sự thật thì Sokal đã đặt bẫy treo một đoạn với những nhầm lẫn cố ý như sau này chính ông ta đã để lộ; ông tìm cách công bố bài tiểu luận để thể hiện những yếu kém chính trị và tri thức trong ban biên tập Social Text và những người mà nó đại diện. Nhưng đó là những yếu kém nào? Ngay cả những người theo dõi câu truyện với một sự chăm chú nhất định và thích thú cũng vẫn có thể tự hỏi chính xác thì trò chơi sỏ ấy đã chứng minh cái gì. Với tư cách là một trong những biên tập viên của Social Text, tôi thú nhận một cách thoải mái điều mà tôi nghĩ là nó chứng tỏ về chúng tôi: một sự ngu dốt nào đó về khoa học, và một sự đãng trí nào đó có thể kết hợp với lòng nhiệt tình cho một liên minh chính trị giả định để tạo ra một trường hợp mù lòa tạm thời. Tuy nhiên người ta vẫn thấy dù thất bại trong công việc biên tập của chúng tôi thực sự là triệu chứng của một thất bại lớn hơn trong các niềm tin mà chúng tôi ấp ủ, hoặc những phong trào mà từ đó chúng tôi xuất hiện, và nếu vậy thì triệu chứng đó là gì. 

Một kết luận không được rút ra là nếu các nhà phi-khoa học như chúng tôi bất tài trong công việc phán quyết cái mà các nhà khoa học làm thì chỉ có các nhà khoa học mới có thể được phép phán quyết nó. Bất luận thất bại của chúng tôi, khoa học vẫn không được bảo vệ khỏi trách nhiệm giải trình trước công chúng. Chúng tôi không thể để nó chỉ có trách nhiệm giải trình với những người cấp vốn (càng ngày càng nhiều công ty tư nhân) là những người thanh toán cho chính cái quyền của mình. Việc ngụy tạo rằng các phê bình khoa học là không có hiệu lực bởi chủ thuyết hậu cấu trúc và hậu hiện đại của nhà phê bình là cách tiện nhất cho Sokal và những người ủng hộ ông ta để làm ra vẻ là họ đang không bảo vệ những thứ độc quyền của riêng họ đối với lãnh địa của họ – một lãnh địa mà công chúng có lý do chính đáng để giám sát một cách sát sao nhất. Một kết luận khác không được đưa ra là sự lập lờ sung sướng trên mặt nước của đặc ngữ và cách nói năng không mạch lạc, cái gọi là các nhà hậu hiện đại không thể nhận ra một lập luận khó hiểu thậm chí nếu nó lập lờ và chia năm sẻ bảy trước mắt chúng ta. Khi Sokal nói rằng cái tiểu luận của ông ta là vô nghĩa, hầu hết các phóng viên đã ngay lập tức theo sự hướng đạo của ông ta. Sau rốt, ông ta sẽ biết, phải chăng?

Nhưng chúng tôi đã nghĩ rằng Sokal có một lập luận thật sự và chúng tôi vẫn nghĩ như vậy. Cho phép tôi trích Paul [sic-đúng nguyên văn] Horgan, cây bút lão luyện của tờ Scientific American, vào ngày 16/6 đã tóm tắt cho tờ New York Times: Sokal - Horgan nói, “cho rằng lý thuyết siêu chuỗi có thể giúp giải phóng khoa học khỏi ‘tình trạng phụ thuộc vào khái niệm chân lý khách quan’”. Sau đó giáo sư Sokal tuyên bố rằng bài viết là một cú chơi sỏ, nhằm bộc lộ sự trống rỗng của chủ thuyết hậu hiện đại. Tuy nhiên thực tế thì lý thuyết siêu chuỗi chính xác là loại khoa học phá hoại các quan niệm truyền thống về chân lý”. Cái bài học làm tôi phải bận tâm nhất ấy đã phải can dự đến chính trị. Liệu có phải sự phá hoại những quan niệm truyền thống về chân lý có thực sự có bất cứ cái gì liên quan đến tiến bộ chính trị không? Nhiều người quan sát có cảm giác nghi ngờ rằng cú chơi sỏ này đã thực hiện một đòn trừng phạt đích đáng vào một phong cách chính trị văn hóa, là thứ mặc dù được gợi hứng bởi chủ thuyết hậu hiện đại, hậu cấu trúc hoặc chủ thuyết đa văn hóa vẫn tiêu quá nhiều thời giờ vào sự phá hoại chân lý một cách dại dột và không đủ để làm nổi tiếng cái chân lý về sự bất công xã hội.

Đây là một vấn đề phức tạp. Hậu cấu trúc luận và hậu hiện đại luận xuất hiện gần như đồng thời (những năm 1960s - 1970s) như là những phong trào về quyền công dân và nữ quyền quốc nội và những phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nhiều người sẽ cho rằng thử thách khái niệm của chúng đối với các quan niệm chẳng hạn như chân lý khách quan phản ánh và phát triển sự thử thách chính trị của những phong trào đó. Chủ thuyết đa văn hóa, một khái niệm khác cho những khuynh hướng mà Sokal đang tấn công, là cái “-ism” nhấn mạnh mối liên hệ lịch sử giữa các khái niệm và các cử tri. Có phải bằng những mối quan tâm đến phụ nữ, người Mỹ gốc Phi, và những người bị bóc lột thậm tệ khác để khăng khăng rằng chân lý và bản sắc là những kết cấu xã hội? Đúng và không. Không, bạn không thể nói về bóc lột mà không quan tâm đến bằng chứng kinh nghiệm và một tiêu chuẩn phổ quát của công lý. Nhưng lại đúng, chân lý có thể là một nguồn áp bức khác. Cách đây chưa bao lâu, các nhà khoa học đã đem đầy quyền uy của họ ra để lý giải tại sao phụ nữ và người Mỹ gốc Phi (không nói đến những người đồng tính nam, đồng tính nữ) rõ ràng vừa có địa vị thấp kém lại vừa bệnh hoạn. Những lý giải tương tự như vậy tiếp tục xuất hiện trong những hình thức mới hơn và tinh tế hơn. Vì vậy có một nhu cầu thực tế để phê phán cấu trúc xã hội về phương diện tri thức.

Tất nhiên sự cân bằng mong manh giữa việc thể hiện các sự kiện bất công xã hội và quá trình mà các sự kiện xã hội được cấu trúc có thể dễ dàng bị bẻ quẹo quá xa khỏi con đường của nó. Bất kể những ai trong chúng ta không làm chính trị về phương diện văn hóa thì đôi khi vẫn hành động cứ như là đặt ra vấn đề về hiện thực là thuộc về những giá trị chính trị và đạo đức tối cao, có tính phổ quát và tự thân sáng tỏ; cứ như là chân lý luôn luôn và bất cứ nơi đâu cũng là vũ khí của Các quyền. Trong thực tế hầu như không thể để thuộc về Cánh tả, hoặc thuộc vào một bộ môn hàn lâm, mà không có ý nghĩa chức năng nào đó của chân lý.

Nhưng bất kể vấn đề của nó, chính trị về phương diện văn hóa không đơn giản là một trò tiêu khiển từ những hiện thực nặng nề hơn của bất công kinh tế hoặc những nỗ lực tổ chức hoặc thông qua các đạo luật. Các cuộc tranh đấu để phân phối các nguồn của chúng ta một cách khác biệt nhau bị lúng túng không gỡ ra được bằng những cuộc đấu tranh cho sự thừa nhận. Như Ellen Willis đã gợi ý với một sự châm biếm hùng hồn trong Village Voice (25/6), rằng sự không biết gì của cánh tả đã lừa dối chính bản thân họ: “Chủ nghĩa tư bản đang siết chặt mọi người! Có thịnh ắt có suy! Chúng ta còn cần biết gì thêm nữa?” Chúng ta cần biết nhiều, và nhiều cái mà chúng ta cần biết chính là văn hóa. Sokal khẳng định rằng loại công trình mà Social Text công bố “sẽ không giúp gì cho chúng ta tìm ra được cách xử lý hiệu quả với căn bệnh AIDS hoặc xây dựng những chiến lược ngăn chặn sự nóng lên của toàn cầu cả”. Nhưng có phải ai cũng tin rằng homophobia, chứng kỵ đồng giới, chẳng hạn lại không có chút gì liên quan đến lịch sử nghiên cứu AIDS, hoặc việc thể hiện ảnh hưởng của nó là không thích hợp về phương diện chính trị. 

Vì một số người tin rằng những kiểu tóc đuôi ngựa và việc cắt rạch thân thể chính là một cách thông báo rằng vẫn có người đang đi về phía ấy để tiếp tục đối đầu với các vấn đề chẳng hạn như đóng cửa nhà máy, chăm sóc sức khỏe chung, thì có vẻ thực sự được thể hiện bằng những tràng đả kích giận dữ chống lại phép chính trị học về phương diện văn hóa, mà cái gắn liền với vụ Sokal lại chính là một sự thèm khát về những ngày mà phụ nữ trở về nhà rồi chui vào bếp và có lẽ thái độ cười nhạo những người đồng tính và những đối tượng tự nhiên hài hước khác đều đáng kính như nhau. Đây không phải là những giá trị gia đình mà tôi muốn các con tôi phải học, cũng không phải những giá trị quốc gia nói chung. Như Garry Wills vừa mới bình luận, “Phụ nữ sẽ không quay trở lại vị thế của họ từ ba thập kỷ trước nữa. Những người da đen cũng như vậy. 

Những người đồng tính cũng không quay trở lại với căn buồng kín để im miệng nữa. Văn hóa da trắng phương Tây sẽ không còn lấy lại được độc quyền của nó trong các trường học, bảo tàng, các tạp chí nữa”. Quan điểm lớn hơn của Wills là ngay cả những mục đích của cuộc bàu cử hiện thời, đó không chỉ là kinh tế, ngớ ngẩn!. “Sự buông thả mới”, ông nói, không “chỉ là một vấn đề của chủ nghĩa khoái lạc tinh hoa, đối địch với “những người Mỹ thực sự”, “những con người”. Hãy hỏi ở cửa hàng cho thuê băng video xem chỉ có những người thuê phim con heo là những giáo sư pinko [Pinko là thuật ngữ để chỉ một người được coi là có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản, mặc dù không nhất thiết phải là cộng sản. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ quan niệm cho rằng pink là màu đỏ phớt hồng, màu của chủ nghĩa cộng sản - ND*] (hoặc Tòa án Tối cao)”. Trong sự nỗ lực của ông để mở rộng tính hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội đến những con người đứng đắn bình thường, George Orwell đã liệt kê những loại người nhiệt tình (ông gọi họ là những người lập dị) mới đây đã gán cho chủ nghĩa xã hội một cái tên xấu. Không may là, ông nói, chủ nghĩa xã hội đã đưa ra “mỗi người uống nước cam, người theo chủ nghĩa khỏa thân, người đi dép, người điên tính dục, người Quaker, ‘hạt quack Chữa bệnh Tự nhiên’, người theo chủ nghĩa hòa bình, và nhà nữ quyền ở Anh”. Nhiều nỗi vui mừng được thông tin tốt hơn trong vụ chơi sỏ của Sokal đối với tôi hình như là một tiếng vọng của sự đánh cược của Orwell để phục hồi cái trung tâm bằng cách tống khứ các nhà nữ quyền luận và sinh thái luận. Tương lai của cánh tả giờ đây luôn luôn được lặp lại là thuộc về phía những người dân bình thường đứng đắn, những người này tin vào thực tại khách quan và dễ trở nên thờ ơ bởi bất kỳ ai là những người xác quyết là khác biệt. Nếu bạn là một người ăn kiêng, người theo chủ nghĩa hòa bình, một nhà nữ quyền, một thành viên của một nhà thờ thiểu số, một ai đó thích nước cam hơn rượu – bản liệt kê hôm nay sẽ còn dài hơn – bạn không cần sử dụng. Việc tin rằng đây là việc gây ra một lỗi lầm có giá trị tiềm tàng về chính những con người thực sự là bình thường.

Các phê phán văn hóa cũng đã gây ra những lỗi lầm. Tình cờ tôi dường như đã chỉ nói về những ai bị loại khỏi [sic – nguyên văn] một bảng liệt kê giống như bảng liệt kê của Orwell. Hoặc hình như chúng ta đã gợi ý rằng sẽ không hề có việc xây dựng bảng liệt kê. Nhưng cũng không có một chính trị học theo một ý nghĩa đáng kể, còn-hơn-cả ý nghĩa hàn lâm mà không hề có việc tìm kiếm nào đó về một trung tâm thay thế, tuy nhiên đó lại chính là hình tượng của cái trung tâm đó. Thực ra thì tôi sẽ lập luận rằng Cánh tả hậu hiện đại hoặc đa văn hóa đã là một phần của cuộc kiếm tìm đó. Chúng ta đã đối mặt với một tạp âm của những chủ nghĩa biệt phái hiếu chiến như các nhà phê bình để lộ, nhưng lại là một đặc tính nhấn vào khía cạnh tương liên, một đánh giá tự ý thức của cách thức mà toàn bộ tri thức được tạo hình bởi viễn cảnh – bao gồm cái riêng có của chúng ta – và một sự cống hiến cho một nhiệm vụ khó khăn nhưng cần thiết trong việc đàm phán giữa các bản sắc cạnh tranh và chồng xếp lên nhau. Tuy nhiên những phương tiện mà chúng ta đã giữ cho câu truyện của mình sống động một cách mỉa mai, thì có lẽ lại đang thừa nhận theo cách thức gián tiếp là nền dân chủ Mỹ có một nguyên tắc thực sự trong kết quả của nó.

_____________________________________

Nguồn: Anatomy of a Hoax. Published in Tikkun, Sept./ Oct. 1996, pp. 58-59.

Tác giả: Bruce Robbins dạy tiếng Anh và văn học so sánh ở đại học Rutgers. Ông là tác giả của Nghề thế tục (Verso 1993). 

ND*: Người dịch