Powered By Blogger

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (I)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Dành tặng EDMUND HUSSERL vì Tình bạn và Ngưỡng mộ, Todtnauberg im Boden, Rừng Đen, ngày 8 tháng 4 năm 1926.

«δῆλον γὰρ ὡς ὑμεῖς μὲν ταῦτα (τί ποτε βούλεσθε σημαίνειν ὁπόταν ὂν φθέγγησθε) πάλαι γιγνώσκετε, ἡμεῖς δὲ πρὸ τοῦ μὲν ᾠόμεθα, νῦν δ’ ἠπορήκαμεν» [1] (Denn offenbar seid ihr doch schon lange mit dem vertraut, was ihr eigentlich meint, wenn ihr den Ausdruck „seiend“ gebraucht, wir jedoch glaubten es einst zwar zu verstehen, jetzt aber sind wir in Verlegenheit gekommen) [Tr.20] 'Rõ ràng từ lâu chúng ta đã hiểu ý nghĩa của từ ‘là’ khi sử dụng nó. Tuy nhiên, chúng tôi, những người từng nghĩ rằng mình hiểu nó, giờ đây lại bắt đầu trở nên bối rối.'1  – Plato’s Sophist 244a; Heidegger’s Sein und Zeit, frontispiece.]

Liệu trong thời đại mình, chúng ta có lời đáp cho câu hỏi chúng ta thực sự muốn nói gì bằng từ ‘là/Hữu thể’?1 Hoàn toàn không. Vì vậy, việc chúng ta đặt lại câu hỏi về ý nghĩa2 của Hữu thể là điều thích hợp. Nhưng liệu ngày nay chúng ta có còn bối rối trước sự bất lực của mình trong việc hiểu từ ‘Hữu thể’ không? Hoàn toàn không. Vì vậy, trước hết chúng ta phải khơi dậy cách hiểu về ý nghĩa của câu hỏi này. Mục tiêu của chuyên luận là làm rõ câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể và thực hiện điều đó một cách cụ thể. Mục tiêu tạm thời của chúng tôi là Diễn giải3 thời gian như là chân trời khả thể cho bất kỳ lý giải nào về Hữu thể.4 Nhưng lý do để biến điều này thành mục tiêu thì đã có các nghiên cứu mà mục tiêu đó đòi hỏi, và con đường để đạt tới, cần một vài giới thiệu.

GIỚI THIỆU: GIẢI THÍCH VẤN ĐỀ Ý NGHĨA CỦA HỮU THỂ

I. Tất yếu, Cấu trúc và Vị thế của Vấn đề Hữu thể

1. Tính tất yếu Tái minh định Vấn đề Hữu thể

[Tr.21] Ngày nay vấn đề này dường như đã bị lãng quên. Mặc dù trong thời đại của chúng ta, việc tái chấp thuận ‘siêu hình học’ được coi là tiến bộ, nhưng người ta cho rằng chúng ta đã được miễn trừ khỏi những nỗ lực của một γιγαντομαχία περὶ τῆς οὐσίας Cuộc chiến vì Bản thể giữa những gã Khổng lồ mới được khơi dậy. Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta đang chạm đến không hề là một vấn đề bất kỳ nào. Đó là một chủ đề đã tạo động lực cho các nghiên cứu của Plato và Aristotle, nhưng sau đó lại lắng xuống như một chủ đề khảo sát thực tế.5 Điều mà hai Triết gia Cổ đại đạt được là sự kiên trì qua vô số cải đổi, ‘chỉnh sửa’ cho đến ‘Logic’ của Hegel. Và những gì họ đã nỗ lực trí tuệ tối đa để giành được từ các hiện tượng, dù còn rời rạc và sơ khai, vốn từ lâu đã trở nên tầm thường. Không chỉ có vậy. Trên cơ sở những đóng góp ban đầu của người Hy Lạp đối với một cách Diễn giải về Hữu thể, người ta đã phát triển một giáo điều, không chỉ tuyên bố vấn đề ý nghĩa của Hữu thể là thừa thãi, mà còn cho phép hoàn toàn bỏ qua nó. Người ta nói rằng ‘Hữu thể’ là khái niệm phổ quát nhất và trống rỗng nhất. Vì vậy, nó chống lại mọi nỗ lực định nghĩa. Khái niệm phổ quát nhất và do đó không thể định nghĩa này cũng không cần bất kỳ định nghĩa nào, vì mọi người đều sử dụng nó liên tục và đã hiểu ý nghĩa của nó. Theo cách này, điều mà các triết gia cổ đại liên tục thấy khó hiểu và bị che giấu nay đã trở nên rõ ràng và hiển nhiên đến mức nếu ai đó tiếp tục hỏi về nó thì sẽ bị coi là sai lầm về phương pháp. Ở phần đầu của cuộc khảo sát, không thể đưa ra một bản tường thuật chi tiết [tr.22] về những tiền đề và định kiến ​​liên tục được gieo trồng và nuôi dưỡng niềm tin cho rằng việc tìm hiểu về Hữu thể là không cần thiết. Chúng bắt nguồn từ chính bản thể học cổ đại, và sẽ không thể giải thích bản thể học đó một cách đầy đủ cho đến khi câu hỏi về Hữu thể được làm rõ, được trả lời và được coi là một manh mối - ít nhất là nếu muốn xem xét đến cái nền tảng mà từ đó các khái niệm bản thể học cơ bản được phát triển, và nếu chúng ta muốn xem liệu các phạm trù đã được chứng minh một cách phù hợp và đầy đủ hay chưa. Do đó, chúng ta sẽ chỉ thảo luận về những tiền đề này đến điểm cần thiết phải đặt lại câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể trở nên rõ ràng. Có ba tiền đề như vậy.       

1). Trước hết, người ta cho rằng: Το όν εστί καθόλου μάλιστα πάντων.6 ‘Hữu thể là khái niệm phổ quát nhất’. lllud quod primo cadit sub-apprehensione est ens, cuius intellectus includitur in omnibus, quaecumque quis apprehendit. ‘Hiểu biết về Hữu thể đã được bao hàm trong việc hình dung bất cứ điều gì mà người ta nhận thức như một thực thể.’1,11 Nhưng tính ‘phổ quát’ của ‘Hữu thể’ không phải là tính phổ quát của một lớp hay giống. Thuật ngữ ‘Hữu thể’ không định nghĩa phạm vi các thực thể nằm ở trên cùng khi chúng được diễn đạt về mặt khái niệm theo giống và loài: οὔτε τὸ ὂν γενών Hữu thể không phải là một giống/ loài. Tính ‘phổ quát’ của Hữu thể ‘vượt lên’ bất kỳ tính phổ quát nào của giống loài. Trong triết học bản thể luận thời trung cổ, ‘Hữu thể’  được coi là một ‘siêu việt’. Chính Aristotle đã nhận thức được nhất tính của cái ‘phổ quát’ tiên nghiệm này như một đơn vị tương đồng, trái ngược với tính đa dạng của các khái niệm giống loài cao nhất áp dụng cho sự vật.

Với khám phá này, bất chấp sự phụ thuộc của ông vào cách thức mà Plato đã đặt ra câu hỏi bản thể luận, ông đã đặt vấn đề về Hữu thể trên một cơ sở, về nguyên tắc, là mới. Chắc chắn, ngay cả Aristotle cũng không thể làm sáng tỏ được cái bóng đen của những mối liên hệ phạm trù này. Trong triết học bản thể luận thời trung cổ, vấn đề này đã được thảo luận rộng rãi, đặc biệt là trong các trường phái Thomist và Scotist, mà vẫn chưa đạt được sự rõ ràng về nguyên tắc. Và khi Hegel cuối cùng định nghĩa ‘Bản/Hữu thể’ là ‘cái trực tiếp bất định’ và biến định nghĩa này thành nền tảng cho tất cả các giải thích phạm trù logic tiếp theo của ông, ông vẫn tiếp tục nhìn theo cùng một hướng với bản thể học cổ đại, [tr.23] ngoại trừ việc ông không còn chú ý đến vấn đề của Aristotle về nhất tính của ‘Bản/Hữu thể’ trái ngược với đa tính của các ‘phạm trù’ áp dụng cho sự vật. Vì vậy, nếu nói rằng ‘Bản/Hữu thể’ là khái niệm phổ quát nhất, thì điều này không có nghĩa nó là khái niệm rõ ràng nhất hoặc không cần thảo luận thêm. Ngược lại, nó là khái niệm tối nghĩa nhất trong tất cả.   

2). Thứ hai, người ta cho rằng khái niệm ‘Hữu thể’ không thể định nghĩa được. Điều này được suy ra từ tính phổ quát tối cao của nó,iv và đúng như vậy, nếu definitio fit per genus proximum et differentiam specificam định nghĩa được thực hiện thông qua giống gần nhất và sự khác biệt cụ thể". ‘Hữu thể’ thực sự không thể được hình dung như một thực thể; enti non additur aliqua natura: nó cũng không thể có được đặc tính để được áp dụng thuật ngữ “thực thể”. ‘Hữu thể’ không thể được suy ra từ các khái niệm cao hơn bằng định nghĩa, cũng không thể được trình bày thông qua các khái niệm thấp hơn. Nhưng điều này có ngụ ý rằng ‘Hữu thể’ không còn là vấn đề nữa? Hoàn toàn không. Chúng ta chỉ có thể suy ra rằng ‘Hữu thể’ không thể có đặc tính của một thực thể. Do đó, không thể áp dụng cho ‘Hữu thể’ khái niệm ‘định nghĩa’ như được trình bày trong logic truyền thống, bản thân nó có nền tảng trong bản thể học cổ đại và, trong một giới hạn nhất định, trợ giúp chính đáng cho việc định nghĩa ‘các thực thể’. Tính không thể định nghĩa của ‘Hữu thể’ không loại bỏ câu hỏi về ý nghĩa của nó và buộc chúng ta phải đối mặt với câu hỏi đó.

3) Thứ ba, người ta cho rằng  ‘Hữu thể’ là khái niệm hiển nhiên nhất trong tất cả các khái niệm. Bất cứ khi nào người ta nhận thức được điều gì hoặc đưa ra một khẳng định, bất cứ khi nào người ta ứng xử với các thực thể, thậm chí với chính mình,7 đều sử dụng ‘Hữu thể’; và biểu hiện này được cho là dễ hiểu ‘không cần bàn cãi thêm’, giống như mọi người đều hiểu ‘Trời màu xanh’, ‘Tôi vui vẻ’, và những câu tương tự. Nhưng ở đây chúng ta có một loại dễ hiểu trung bình, điều này chỉ chứng tỏ rằng nó không thể hiểu được. Nó cho thấy rằng trong bất kỳ cách ứng xử nào với các thực thể với tư cách các thực thể - thậm chí trong bất kỳ ‘Hữu thể’ nào đối với các thực thể với tư cách các thực thể - đều chứa đựng một bí ẩn tiên nghiệm.8  Chính việc chúng ta đã sống trong sự hiểu biết về ‘Hữu thể’ và ý nghĩa của ‘Hữu thể’ vẫn còn bị che khuất trong bóng tối chứng tỏ rằng về nguyên tắc, cần phải đặt ra câu hỏi này một lần nữa. Trong phạm vi các khái niệm triết học cơ bản - đặc biệt là khi chúng ta đề cập đến khái niệm  ‘Hữu thể’ - việc viện dẫn tính hiển nhiên là một thủ tục đáng ngờ, ngay cả khi ‘tính hiển nhiên’ („verborgene Urteile über die gewöhnliche Vernunft“ những ‘phán đoán tiềm ẩn của lý tính thông thường’ của Kant)9 [tr.24] trở thành chủ đề rõ ràng và bền vững duy nhất cho ‘công việc của các nhà triết học’ trong phân tích. Tuy nhiên, bằng cách xem xét những định kiến ​​này, chúng ta đã làm rõ không chỉ vấn đề câu hỏi về ‘Hữu thể’ thiếu câu trả lời, mà còn bản thân câu hỏi đó cũng mơ hồ và thiếu định hướng. Vì vậy, nếu muốn khôi phục lại nó, điều đó có nghĩa là trước tiên chúng ta phải tìm ra một cách thức thích hợp để đặt ra câu hỏi đó.

2. Cấu trúc Hình thức của Câu hỏi về Hữu thể

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể cần được đặt ra. Nếu đó là một câu hỏi cơ bản, hoặc thực sự là câu hỏi cơ bản, thì nó phải được làm rõ ràng, và theo một cách thích hợp.10 Do đó, chúng ta phải giải thích ngắn gọn những gì thuộc về bất kỳ câu hỏi nào, để từ quan điểm này, câu hỏi về Hữu thể có thể được làm cho rõ ràng như một câu hỏi rất đặc biệt với đặc điểm riêng biệt của nó. Mỗi cuộc khảo sát là một Suchen cuộc tìm kiếm. Mỗi sự tìm kiếm đều được hướng dẫn trước bởi những gì được tìm kiếm. Khảo sát là một sự tìm kiếm có ý thức về một thực thể cả về thực tế là nó tồn tại và về Hữu thể của nó như nó vốn có.11 Cuộc tìm kiếm có ý thức này có thể mang hình thức Untersuchen ‘khảo sát’, trong đó người ta làm sáng tỏ những gì câu hỏi đề cập đến và xác định tính chất của nó. Bất kỳ cuộc tìm kiếm nào, với tư cách một cuộc tìm kiếm về một cái gì đó, đều có cái sein Gefragtes được hỏi đến. Nhưng tất cả các cuộc tìm kiếm về một cái gì đó bằng cách nào đó đều là việc đặt câu hỏi về Anfragen bei một cái gì đó…. Vì vậy, ngoài những gì được hỏi, một cuộc tìm kiếm còn có cái ein Befragtes được thẩm vấn. Trong các câu hỏi khảo sát - tức là, trong các câu hỏi mang tính lý thuyết cụ thể - đối tượng được hỏi được xác định và khái niệm hóa. Hơn nữa, trong đối tượng được hỏi còn chứa đựng cả điều cần được tìm ra thông qua das Erfragte việc đặt câu hỏi; đây mới là điều thực sự được hướng đến:12 với điều này, cuộc khảo sát đạt được mục tiêu của nó. Bản thân khảo sát là hành vi của kẻ đặt câu hỏi, và do đó là của một thực thể, có đặc tính riêng của Hữu thể. Khi thực hiện khảo sát, người ta có thể làm như vậy ‘một cách ngẫu nhiên’ hoặc có thể đặt [tr.25] câu hỏi một cách rõ ràng. Việc đặt câu hỏi rõ ràng đặc biệt ở chỗ cuộc khảo sát không trở nên minh bạch với chính nó cho đến khi tất cả các yếu tố cấu thành của câu hỏi tự trở nên minh bạch.            

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể cần được đặt ra. Do đó, chúng ta phải thảo luận nó với cái nhìn hướng đến những yếu tố cấu trúc này. Việc khảo sát, như một hình thức tìm kiếm, phải được dẫn dắt trước bởi những gì được tìm kiếm. Vì vậy, ý nghĩa của Hữu thể phải đã có sẵn cho chúng ta bằng một cách nào đó. Như chúng ta đã gợi ý, chúng ta luôn tiến hành các hoạt động của mình bằng việc hiểu biết về Hữu thể. Từ sự hiểu biết này nảy sinh cả câu hỏi rõ ràng về ý nghĩa của Hữu thể và xu hướng dẫn chúng ta đến việc hình thành khái niệm về nó. Chúng ta không biết ‘Hữu thể’ có nghĩa là gì. Nhưng ngay cả khi hỏi “Hữu thể là gì?”, thì chúng ta vẫn giữ một cách hiểu về cái ‘là’, mặc dù chúng ta không thể xác định về mặt khái niệm cái ‘là’ đó biểu thị điều gì. Chúng ta thậm chí không biết cái chân trời mà trong khuôn khổ của nó ý nghĩa đó cần phải được nắm bắt và xác định. Nhưng mức độ hiểu biết trung bình mơ hồ này về Hữu thể vẫn là một Sự thật. Cho dù sự hiểu biết này về ‘Hữu thể’ (một sự hiểu biết đã có sẵn cho chúng ta) có thể dao động và trở nên mờ nhạt, và gần như chỉ là sự quen thuộc với một từ ngữ, thì chính tính không rõ ràng của nó lại là một hiện tượng tích cực cần phải được minh định. Không thể mong đợi một cuộc khảo sát về ý nghĩa của ‘Hữu thể’ sẽ mang lại sự minh định ngay từ đầu. Nếu chúng ta muốn có được manh mối cần thiết để Diễn giải mức độ hiểu biết trung bình này về Hữu thể, trước tiên chúng ta phải phát triển khái niệm Hữu thể. Dựa trên khái niệm này và những cách thức mà nó có thể được hiểu một cách rõ ràng, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của sự hiểu biết mơ hồ hoặc chưa được soi sáng này về ‘Hữu thể’, và những loại che khuất - hay cản trở đối với việc soi sáng rõ ràng - về ý nghĩa của Hữu thể là có thể và thậm chí là không thể tránh khỏi. Hơn nữa, mức độ hiểu biết trung bình mơ hồ này về Hữu thể có thể bị ảnh hưởng bởi các lý thuyết và quan điểm truyền thống về Hữu thể đến mức chúng vẫn ẩn giấu như những nguồn gốc của cách thức mà nó được lý giải một cách phổ biến.  

Cái mà chúng ta tìm kiếm khi nghiên cứu về Hữu thể không phải là điều gì đó hoàn toàn xa lạ, ngay cả khi ở mức độ gần gũi13 chúng ta cũng không hề nắm bắt được nó. Trong câu hỏi mà chúng ta cần giải quyết, điều được hỏi là về Hữu thể, cái xác định các thực thể là các thực thể, cái mà woraufhin trên cơ sở đó [tr.26] các thực thể đã được hiểu, cho dù chúng ta có thảo luận chi tiết về chúng như thế nào. Hữu thể của các thực thể tự nó không phải ‘là’ một thực thể. Nếu muốn hiểu vấn đề về Hữu thể, bước triết học đầu tiên của chúng ta là không μῦθον τίνα διηγεῖσθαιv muthon tina diegeisthai, không ‘kể một câu chuyện’ - nghĩa là, không định nghĩa các thực thể là thực thể bằng cách truy tìm nguồn gốc của chúng đến một số thực thể nào đó khác, như thể ‘Hữu thể’ có đặc tính của một thực thể khả thể nào đó vậy. Vì thế, Hữu thể, với tư cách là đối tượng được hỏi, phải được thể hiện theo cách riêng của nó, về bản chất khác với cách thức mà các thực thể được khám phá. Theo đó, điều cần được tìm ra bằng cách hỏi - ý nghĩa của Hữu thể - cũng đòi hỏi nó phải được hình dung theo cách riêng của nó, về bản chất trái ngược với các khái niệm mà các thực thể có được ý nghĩa xác định của chúng.

Chừng nào Hữu thể còn cấu thành đối tượng được hỏi đến, và Hữu thể có nghĩa là Hữu thể của các thực thể, thì hóa ra là chính các thực thể lại là đối tượng phải được chất vấn. Có thể nói, các thực thể này đang bị đặt câu hỏi về Hữu thể của chúng. Nhưng nếu các đặc trưng Hữu thể của chúng có thể được làm rõ mà không bị chứng ngụy, thì bản thân các thực thể này hẳn đã trở nên dễ tiếp cận như chính tự thân chúng vậy. Khi chúng ta đi đến vấn đề cần được chất vấn, câu hỏi về Hữu thể/Being đòi hỏi phải tìm ra và đảm bảo phương thức tiếp cận đúng đắn đối với các thực thể từ trước. Nhưng có rất nhiều thứ mà chúng ta gọi là seiend/being ‘hiện hữu’, và chúng ta gọi như vậy theo nhiều nghĩa khác nhau. Mọi thứ chúng ta nói đến, mọi thứ chúng ta hướng tới, mọi thứ mà chúng ta hành xử theo bất kỳ cách nào, cũng đều là seiend/being ‘hiện hữu’; cái mà chúng ta là chính là hiện hữu, và cách mà chúng ta là cũng chính là hiện hữu. Hữu thể nằm ở sự thật là một cái gì đó là, và ở trong ‘Hữu thể’ của nó như nó vốn là; trong Thực tại; trong Vorhandenheit sự hiện diện trước mắt; trong chất thể; trong tính hợp lệ; trong Dasein; trong cái ‘có đó’.14 Ý nghĩa của ‘Hữu thể’ được nhận biết trong những thực thể nào? Sự tiết lộ về ‘Hữu thể’ bắt đầu từ những thực thể nào? Điểm xuất phát có phải là tùy chọn, hay một thực thể cụ thể nào đó được quyền ưu tiên khi chúng ta đi sâu vào vấn đề ‘Hữu thể’? Chúng ta sẽ lấy thực thể nào làm ví dụ, và nó được quyền ưu tiên theo nghĩa nào?

Nếu câu hỏi về Hữu thể được diễn đạt một cách rõ ràng và được thực hiện theo cách hoàn toàn minh bạch với chính nó, thì bất kỳ cách xử lý nào phù hợp với những giải thích mà chúng ta đã đưa ra đều đòi hỏi chúng ta phải giải thích cách nhìn nhận Hữu thể, cách hiểu và nắm bắt ý nghĩa của nó; nó đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị con đường để lựa chọn thực thể phù hợp cho ví dụ của mình, và tìm ra cách tiếp cận đích thực với nó. Nhìn vào một cái gì đó, hiểu và hình dung nó, lựa chọn, tiếp cận nó - tất cả những cách hành xử này đều cấu thành nên cuộc khảo sát của chúng ta, và do đó là các phương thức Hữu thể đối với những thực thể cụ thể [tr. 27] vốn chính là những người khảo sát chúng ta. Vì vậy, để giải quyết câu hỏi về Hữu thể một cách đầy đủ, chúng ta phải làm cho một thực thể-người khảo sát-trở nên minh bạch trong Hữu thể của bản thân mình. Chính việc đặt câu hỏi này là phương thức ‘Hữu thể’ của một thực thể; và theo đúng nghĩa, nó có đặc tính thiết yếu từ khảo sát - cụ thể là ‘Hữu thể’. Cái thực thể mà mỗi chúng ta đều là chính mình và bao gồm việc tìm hiểu như một khả tính Hữu thể của nó, chúng ta sẽ ký hiệu bằng thuật ngữ ‘Dasein’.15 Nếu chúng ta muốn đặt câu hỏi một cách rõ ràng và minh bạch, trước tiên chúng ta phải đưa ra một lời giải thích thích hợp về một thực thể (Dasein) liên quan đến Hữu thể của nó.

Tuy nhiên, chẳng phải có một vòng tròn hiể hiện trong một việc làm như vậy sao? Nếu trước tiên chúng ta phải định nghĩa một thực thể trong Hữu thể của nó, và nếu chúng ta muốn đặt câu hỏi về Hữu thể chỉ trên cơ sở này, thì điều đó chẳng phải là đi trong một vòng tròn sao? Trong quá trình tìm ra câu hỏi của mình, chẳng phải chúng ta đã ‘giả định’ điều gì đó mà chỉ câu trả lời mới có thể mang lại sao? Những phản đối hình thức như lập luận về ‘suy lý vòng tròn’, vốn có thể dễ dàng được viện dẫn bất cứ lúc nào trong việc nghiên cứu các nguyên tắc thứ nhất, lại luôn vô ích khi người ta xem xét các cách thức khảo sát cụ thể. Khi nói đến việc lý giải vấn đề đang được đề cập, chúng không có trọng lượng và ngăn cản chúng ta thâm nhập vào lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng trên thực tế16 hoàn toàn không có vòng tròn nào trong việc đặt câu hỏi như đã mô tả. Có thể xác định bản chất của các thực thể trong Hữu thể của chúng mà không nhất thiết phải có khái niệm rõ ràng về ý nghĩa của Hữu thể trong tầm tay. Nếu không thì cho đến nay đã không có bất kỳ tri ​​thức bản thể luận nào. Khó có thể phủ nhận rằng thực tế đã có loại tri ​​thức như vậy.17

Tất nhiên, cho đến nay ‘Hữu thể’ đã được giả định trong tất cả các lý thuyết bản thể luận, nhưng không phải là một khái niệm trong tầm tay - không phải là loại sự vật mà chúng ta đang tìm kiếm. Việc ‘giả định’ Hữu thể này có tính chất xem xét trước, sao cho dưới ánh sáng của nó, các thực thể được trình bày cho chúng ta được tạm thời Diễn đạt trong Hữu thể của chúng. Hoạt động hướng dẫn [tr.28] này của việc xem xét Hữu thể phát sinh từ sự hiểu biết trung bình về Hữu thể mà chúng ta luôn vận hành và cuối cùng thuộc về cấu thành18 thiết yếu của chính Dasein. Việc ‘giả định’ như vậy không liên quan gì đến việc đặt ra một tiên đề mà từ đó một chuỗi mệnh đề được suy diễn. Hoàn toàn không thể có bất kỳ ‘lập luận vòng tròn’ nào trong việc đặt câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể; bởi vì khi trả lời câu hỏi này, vấn đề không phải là việc đặt nền tảng cho một cái gì đó bằng một sự suy luận như vậy; đúng hơn đó chính là việc vạch trần những căn cứ của nó và trưng bày chúng.19

Trong câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, không có ‘suy lý vòng tròn’ mà đúng hơn là một ‘mối liên hệ ngược hoặc xuôi’ đáng chú ý mà những gì chúng ta đang hỏi về (‘Hữu thể’) mang đến cho chính cuộc khảo sát như một phương thức Hữu thể của một thực thể. Ở đây, những gì được hỏi có liên quan thiết yếu đến chính cuộc điều tra, và điều này thuộc về eigensten Sinn ý nghĩa riêng của câu hỏi về Hữu thể. Tuy nhiên, điều này chỉ có nghĩa là có một cách, có lẽ thậm chí là một cách rất đặc biệt, trong đó các thực thể có đặc tính Dasein là có liên quan đến câu hỏi về Hữu thể. Nhưng chúng ta đã chứng minh như vậy ở chỗ một loại thực thể nhất định có ưu quyền liên quan đến Hữu thể của nó!? Và chúng ta đã trình bày như vậy ở chỗ thực thể nào đóng vai trò là ví dụ chính sẽ phải được chất vấn trong câu hỏi về Hữu thể sao!? Cho đến nay, cuộc thảo luận chưa chứng tỏ được ưu quyền của Dasein, cũng như chưa dứt khoát chỉ ra liệu Dasein có thể hoặc thậm chí nhất thiết phải đóng vai trò là thực thể chính để được chất vấn hay không. Nhưng thực sự có điều gì đó giống như ưu quyền của Dasein đã tự khẳng định mình.

3. Ưu quyền Bản thể luận của Câu hỏi về Hữu thể

Khi chúng ta chỉ ra những đặc điểm của câu hỏi về Hữu thể, lấy cấu trúc hình thức của câu hỏi theo đúng nghĩa làm manh mối, chúng ta đã làm rõ [tr.29] rằng đây là một câu hỏi đặc biệt, ở chỗ cần một loạt các cân nhắc cơ bản để làm rõ nó, chưa kể đến việc giải quyết nó. Nhưng những đặc điểm riêng biệt của nó sẽ chỉ được làm sáng tỏ đầy đủ khi chúng ta đã xác định rõ ràng nó về chức năng, mục đích và động cơ của nó. Cho đến nay, các lập luận của chúng ta để chỉ ra rằng câu hỏi này cần được đặt lại một phần đã được thúc đẩy bởi nguồn cội đáng kính của nó nhưng chủ yếu là do thiếu một câu trả lời dứt khoát và thậm chí là do tình trạng thiếu vắng của bất kỳ cách diễn đạt thỏa đáng nào về chính câu hỏi đó. Tuy nhiên, có thể chất vấn mục đích của câu hỏi này phục vụ điều gì. Liệu chỉ đơn giản hay là một vấn đề chỉ để suy đoán viển vông về những tổng quát tính tổng quát nhất, hoặc trong tất cả các câu hỏi, nó vừa là câu hỏi cơ bản nhất vừa là câu hỏi cụ thể nhất? 

Hữu thể luôn luôn là Hữu thể của một thực thể. Toàn thể tính của các thực thể, tùy theo các lĩnh vực khác nhau của chúng, có thể trở thành một lĩnh vực để làm sáng tỏ và phân định các phạm vi chủ đề cụ thể. Các lĩnh vực này (ví dụ: lịch sử, tự nhiên, không gian, sự sống, Dasein, ngôn ngữ, v.v.) có thể đóng vai trò là khách thể mà các nghiên cứu khoa học tương ứng có thể lấy làm chủ đề của mình. Nghiên cứu khoa học thực hiện, một cách sơ lược và đơn giản, việc phân định và xác định ban đầu các phạm vi vấn đề-chủ đề. Cấu trúc cơ bản của bất kỳ lĩnh vực nào như vậy cũng đều đã được hình thành theo một cách nào đó trong các phương thức tiền khoa học của chúng ta khi trải nghiệm và diễn giải lĩnh vực Hữu thể mà chính phạm vi chủ đề được giới hạn trong đó. Các ‘khái niệm cơ bản’ phát sinh từ đó vẫn là những manh mối gần gũi nhất giúp chúng ta lần đầu tiên làm sáng tỏ lĩnh vực này một cách cụ thể. Mặc dù nghiên cứu luôn hướng tới cách tiếp cận tích cực này, nhưng sự tiến bộ thực sự của nó không đến từ việc thu thập kết quả và lưu trữ chúng trong các ‘cẩm nang’, mà đến từ việc tìm hiểu cách thức Grundverfassungen cấu thành cơ bản của từng lĩnh vực cụ thể - một cuộc khảo sát mà chúng ta chủ yếu hướng tới do phản ứng lại sự gia tăng như vậy về lĩnh vực thông tin.

Sự ‘vận động’ thực sự của khoa học diễn ra khi các khái niệm cơ bản của chúng trải qua một sự sửa đổi ít nhiều mang tính triệt để, mà bản thân nó cũng nhận thức được. Mức độ mà một ngành khoa học đạt được được xác định bởi khả năng khủng hoảng trong các khái niệm cơ bản của nó. Trong những cuộc khủng hoảng nội tại như vậy, mối quan hệ giữa nghiên cứu khảo sát thực chứng và chính những sự vật đang được chất vấn sẽ đến một điểm mà nó bắt đầu lung lay. Ngày nay trong các ngành học khác nhau trên khắp thế giới, có những xu hướng mới được khơi dậy nhằm đặt công việc nghiên cứu trên những nền tảng mới. Toán học, dường như là ngành khoa học nghiêm ngặt và được xây dựng vững chắc nhất, đã đạt đến một cuộc khủng hoảng các ‘nền tảng’ của nó. Trong cuộc tranh luận giữa những người theo chủ nghĩa hình thức và những người theo chủ nghĩa trực giác, thì vấn đề nằm ở chỗ [tr.30] đạt được và bảo đảm phương thức tiếp cận chính yếu đối với những gì được cho là đối tượng của khoa học này. Thuyết tương đối của vật lý xuất phát từ xu hướng thể hiện sự liên kết của Tự nhiên như nó vốn có ‘trong chính nó’. Là một lý thuyết về các điều kiện mà chúng ta có thể tiếp cận bản thân Tự nhiên, nó tìm cách bảo tồn tính bất biến của các định luật chuyển động bằng cách xác định tất cả các tương đối tính, và do đó gặp phải câu hỏi về cấu trúc của lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của nó - vấn đề vật chất. Trong sinh học, có một xu hướng thức tỉnh để tìm hiểu vượt ra ngoài các định nghĩa mà cơ giới luận và sinh lực luận đã đưa ra cho ‘sự sống’ và ‘sinh vật’, và để định nghĩa lại loại Hữu thể nào thuộc về sự sống theo đúng nghĩa. Trong các khoa học nhân văn có đặc trưng lịch sử,20 sự thôi thúc hướng tới hiện thực lịch sử đã được củng cố theo thời gian bởi truyền thống và bởi cách thức truyền thống được trình bày và truyền lại: lịch sử văn học sẽ trở thành lịch sử của các vấn đề. Thần học đang tìm kiếm một cách giải thích nguyên thủy hơn về Hữu thể của con người đối với Chúa, được quy định bởi ý nghĩa của chính đức tin và nằm trong phạm vi đó. Nó đang dần dần tái lý giải tri thức của Luther cho rằng cái ‘nền tảng’ mà hệ thống giáo điều của nó dựa trên đó không xuất phát từ một cuộc tìm tòi mà trong đó đức tin là yếu tố chính, và về mặt khái niệm, ‘nền tảng’ này không chỉ không đủ cho vấn đề của thần học, mà còn che giấu và bóp méo nó.

Các khái niệm cơ bản xác định cách thức chúng ta có được sự hiểu biết trước về lĩnh vực chủ đề nằm dưới tất cả các đối tượng mà một ngành khoa học lấy làm đối tượng nghiên cứu, và tất cả các nghiên cứu thực chứng đều được hướng dẫn bởi cách lý giải này. Chỉ sau khi chính lĩnh vực đó đã được khám phá trước đó theo một cách tương ứng thì các khái niệm này mới thực sự được chứng minh và ‘có cơ sở’. Nhưng vì mỗi lĩnh vực như vậy đều được hình thành từ chính phạm vi của các thực thể, nên nghiên cứu sơ bộ này, vốn từ đó các khái niệm cơ bản được rút ra, không có ý nghĩa gì khác ngoài việc diễn giải các thực thể đó liên quan đến trạng thái Hữu thể cơ bản của chúng. Nghiên cứu như vậy phải đi trước các ngành khoa học thực chứng, và nó có thể làm được. Ở đây, công trình của Plato và Aristotle là bằng chứng đủ rõ ràng. Việc đặt nền móng cho các ngành khoa học theo cách này về nguyên tắc khác với loại ‘logic’ chỉ đi theo sau, khả sát vị thế của một ngành khoa học nào đó khi tình cờ tìm thấy nó, để khám phá ‘phương pháp’ của nó.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘seiend’. Heidegger dịch phân từ hiện tại ov on của Plato bằng phân từ hiện tại của động từ ‘sein’ tiếng Đức (to be ‘là’). Do đó, ở đây và trong một số đoạn văn sau, chúng ta dịch ‘seiend’ bằng phân từ hiện tại ‘being’; ở những chỗ cách dịch này bất thuận tiện, chúng ta sẽ sử dụng các cấu trúc khác, thường thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn hoặc trong chú thích. Phân từ ‘seiend’ phải được phân biệt với động từ nguyên dạng ‘sein’, mà chúng ta thường dịch bằng động từ nguyên dạng ‘to be’ hoặc bằng danh động từ ‘being’. Nó cũng phải được phân biệt với danh từ quan trọng ‘Sein’ (luôn viết hoa), mà chúng ta sẽ dịch là ‘Being’ (viết hoa), và với danh từ quan trọng không kém ‘Seiendes’, được dẫn xuất trực tiếp từ ‘seiend’, mà chúng ta thường dịch là ‘entity’ hoặc ‘entities’ thực thể. (Xem chú thích 6, H. 3 bên dưới.)

2 ‘Sinn.’ Ý nghĩa Xét tầm quan trọng của sự phân biệt giữa ‘Sinn’ và ‘Bedeutung’ trong các tác giả người Đức đa dạng như Dilthey, Husserl, Frege và Schlick, chúng tôi sẽ dịch ‘Sinn’ bằng ‘meaning’ hoặc ‘sense’, tùy thuộc vào ngữ cảnh, và giữ ‘signification’ và ‘signify’ biểu nghĩa cho ‘Bedeutung’ và ‘bedeuten’. (Động từ ‘mean’ đôi khi sẽ được sử dụng để dịch các động từ như ‘besagen’, ‘sagen’, ‘heissen’ và ‘meinen’, nhưng danh từ ‘meaning’ sẽ được dành riêng cho ‘Sinn’.) Về ‘Sinn’, xem H. 151, 324; về ‘Bedeutung’, v.v., xem H. 87 và chú thích 47 của chúng tôi tại chỗ đó.

3. Heidegger sử dụng hai từ có thể được dịch là ‘diễn giải’: ‘Auslegung’ và ‘Interpretation’. Mặc dù trong nhiều trường hợp, chúng có thể được coi là từ đồng nghĩa, nhưng ý nghĩa của chúng không hoàn toàn giống nhau. ‘Auslegung’ dường như được sử dụng theo nghĩa rộng để bao gồm bất kỳ hoạt động nào mà chúng ta diễn giải một cái gì đó ‘như’ một cái gì đó khác, trong khi ‘Interpretation’ dường như áp dụng cho các diễn giải mang tính lý thuyết hoặc có hệ thống hơn, như trong việc chú giải một văn bản. Xem đặc biệt H. 148 trở đi và 199 trở đi. Chúng ta sẽ giữ nguyên sự phân biệt này bằng cách viết ‘Interpretation’ thay cho ‘Auslegung’, nhưng dùng ‘Interpretation’ cho ‘Interpretation’ của Heidegger, theo các quy ước tương tự đối với các động từ ‘auslegen’ và ‘interpretieren’.

4 ‘….als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt….’ Trong toàn bộ tác phẩm này, từ ‘horizon’ được sử dụng với một ý nghĩa hơi khác so với ý nghĩa mà người đọc nói tiếng Anh thường quen thuộc. Chúng ta thường nghĩ về chân trời như một thứ có thể mở rộng, kéo dài hoặc vượt qua; tuy nhiên, Heidegger dường như nghĩ về nó như một thứ mà chúng ta không thể mở rộng hay vượt qua, mà nó lại đặt ra giới hạn cho một số hoạt động trí tuệ được thực hiện ‘trong’ phạm vi đó. [HHN Ghi chú: Cụm từ tiếng Đức của triết gia Martin Heidegger "als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt" trong tiếng Hy Lạp thường được dịch và diễn đạt sát nghĩa như sau: “ὡς τοῦ δυνατοῦ ὁρίζοντος πάσης κατανόησης τοῦ ὄντος καθόλου”-HHN]

5. ‘….als thernatische Fragt wirklicher Unttrsuchung’. Khi Heidegger nói về một câu hỏi là ‘thematisch’, ông nghĩ đó là một câu hỏi được xem xét nghiêm túc và nghiên cứu một cách có hệ thống. Mặc dù chúng ta thường dịch tính từ này bằng từ đồng nghĩa của nó, 'thematic', nhưng đôi khi chúng ta có thể thấy thuận tiện hơn khi chọn những cách diễn đạt linh hoạt hơn liên quan đến từ ‘theme’. (Heidegger bàn đầy đủ hơn ở H. 363.)

6. ‘…was einer am Seienden erfasst’. Từ ‘Seiendes’, mà Heidegger sử dụng trong diễn giải của mình, là một trong những từ quan trọng nhất trong cuốn sách. Danh từ ‘das Seiende’ được bắt nguồn từ phân từ ‘seiend’ (xem chú thích 1, trang tg), và nghĩa đen là ‘cái đang tồn tại’; ‘ein Seiendes’ có nghĩa là ‘cái gì đó đang là’. Có nhiều điều cần nói về việc dịch ‘Seiendes’ bằng danh từ ‘being’ hoặc ‘beings’ (vì nó thường được sử dụng theo nghĩa tập thể). Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy rằng việc viết ‘entity’ hoặc ‘entities’ sẽ mượt mà và ít gây nhầm lẫn hơn. Chúng tôi nhận thức rõ rằng trong triết học Anh và Mỹ gần đây, thuật ngữ ‘entity’ đã được sử dụng một cách tổng quát hơn để áp dụng cho hầu hết mọi thứ, bất kể vị thế bản thể học của nó là gì. Tuy nhiên, trong bản dịch này, nó sẽ chỉ đơn giản có nghĩa là ‘cái gì đó mà nếu’. Một bản dịch khác của trích dẫn tiếng Latinh được đưa ra bởi các Cha dòng Đa Minh người Anh, Summa Theologica, Thomas Baker, London, 1915: ‘Vì cái mà, trước hết, thuộc về sự nhận thức, là sự tồn tại, khái niệm về nó được bao gồm trong tất cả mọi thứ mà con người nhận thức được.’

7…. in jedem Verhalten zu Seiendem, in jedem Sich-zu-sich-selbst-verhalten….’. Động từ ‘verhalten’ có thể đề cập đến bất kỳ loại hành vi hoặc cách thức nào của tự mình; thậm chí cả cách mà người ta liên hệ bản thân với điều gì đó khác, hoặc cách mà người ta định hình lại hoặc kìm hãm bản thân. Chúng ta sẽ dịch nó theo nhiều cách khác nhau.

8. ‘Sie macht offenbar, dass in jedem Verhalten und Sein zu Seiendem als Seiendem a priori ein Ratsel liegt.’ Cụm từ ‘Sein zu Seiendem’ là điển hình cho nhiều cách diễn đạt tương tự, trong đó danh từ ‘Sein’ được theo sau bởi giới từ ‘zu’. Trong những cách diễn đạt như vậy, chúng ta thường dịch ‘zu’ là ‘hướng tới’: ví dụ, ‘Sự tồn tại hướng tới cái chết’, ‘Sự tồn tại hướng tới người khác’, ‘Sự tồn tại hướng tới các thực thể trong thế giới’.

9. ‘die geheimen Urteile der gemeinen Vernunft”’.

10. ‘….dann bedarf solches Fragen der angemessenen Durchsichtigkeit’. Tính từ ‘durchsichtig’ là một trong những cách diễn đạt ưa thích của Heidegger, và có nghĩa đơn giản là ‘trong suốt’, ‘dễ thấy’, cái gì đó mà người ta có thể ‘nhìn thấu’. Thông thường chúng ta sẽ dịch nó là ‘minh bạch’. Xem H. 146 để thảo luận thêm.

11. ‘….in seinem Dass-und Sosein’.

12. ‘…. das eigentlich Intendierte….’ Trạng từ ‘eigentlich’ xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm này. Nó có thể được sử dụng một cách không chính thức khi người ta có thể viết 'thực sự' hoặc 'về phần nó', hoặc theo nghĩa mạnh mẽ hơn nhiều, khi những từ như 'thực sự' hoặc 'xác thực' sẽ phù hợp hơn. Không phải lúc nào cũng có thể biết được Heidegger đang nghĩ đến ý nghĩa nào. Trong những ngữ cảnh có vẻ tương đối không trang trọng, chúng ta sẽ viết “thực sự”; trong những đoạn văn mang tính kỹ thuật hơn, chúng ta sẽ viết “một cách xác thực”, dành “chính hiệu” cho “chính hiệu” hoặc “biên tập”. Người đọc không được nhầm lẫn loại “tính xác thực” này với loại thuộc về “văn bản xác thực” hoặc “tường thuật xác thực”. Xem H. 42 để thảo luận thêm. Trong đoạn văn này, động từ “intendieren” có lẽ được sử dụng theo nghĩa thời trung cổ là “dự định”, như đã được Brentano và Husserl điều chỉnh và sửa đổi.

13. “zunächst”. Từ này xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm của Heidegger, và ông sẽ thảo luận về việc sử dụng nó ở H. 370 bên dưới. Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, từ này có thể có nghĩa là “lúc đầu”, “ban đầu”, hoặc “trong trường hợp đầu tiên”, và chúng ta sẽ thường dịch nó theo những cách như vậy. Tuy nhiên, từ này có cùng gốc với tính từ “nah” và dạng so sánh nhất của nó là “nächst”, mà chúng ta sẽ thường được dịch lần lượt là ‘gần’ và ‘gần nhất’; và Heidegger thường sử dụng ‘zunächst’ theo nghĩa ‘gần gũi nhất’, khi ông mô tả những trải nghiệm ‘tự nhiên’ và ‘hiển nhiên’ nhất mà chúng ta có được ở cấp độ không phê phán và tiền triết học. Chúng tôi đã mạo hiểm dịch nghĩa ‘zunächst’ theo Heidegger là ‘gần gũi’, nhưng có nhiều trường hợp ranh giới không rõ ràng liệu Heidegger có ý định sử dụng nghĩa đặc biệt này hay một trong những cách sử dụng phổ biến hơn, và trong những trường hợp như vậy, chúng tôi đã chọn bất kỳ cách diễn đạt nào có vẻ phù hợp hơn về mặt phong cách.

14. ‘Sein liegt im Dass- und Sosein, in Realität, Vorhandenheit, Bestand, Geltung, Dasein, im “es gibt’.’ Về ‘Vorhandenheit’ (‘sự hiện diện trong tầm tay’) xem chú thích 1, trang 2. 48, H. 25. Về ‘Dasein’, xem chú thích 1, trang 27.

15. Từ 'Dasein' đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm này và đã quá quen thuộc với độc giả nói tiếng Anh đã đọc về Heidegger, đến nỗi có vẻ đơn giản hơn nếu để nguyên không dịch, ngoại trừ trong những đoạn hiếm hoi mà chính Heidegger sử dụng dấu gạch ngang ('Da-sein') để chỉ ra cấu trúc từ nguyên của nó: nghĩa đen là 'Hiện hữu'. Mặc dù trong triết học truyền thống Đức, nó có thể được sử dụng khá chung chung để chỉ hầu hết mọi loại Hiện hữu hay 'sự tồn tại' mà chúng ta có thể nói rằng một cái gì đó có (ví dụ như 'sự tồn tại' của Chúa), nhưng trong cách sử dụng hàng ngày, nó có xu hướng được sử dụng hẹp hơn để chỉ loại Hiện hữu thuộc về con người. Heidegger tuân theo cách sử dụng hàng ngày về mặt này, nhưng ông còn đi xa hơn một chút khi thường sử dụng nó để chỉ bất kỳ người nào có Hiện hữu như vậy, và do đó bản thân người đó là một 'thực thể'. Xem H. 11 bên dưới.

16. 'faktisch'. Mặc dù từ này thường có thể được dịch đơn giản là ‘thực tế’ hoặc ‘như một vấn đề thực tế’, nhưng nó được sử dụng cả như một tính từ và một trạng từ, và đặc trưng cho phong cách của Heidegger đến mức chúng ta thường sẽ dịch nó là ‘thực tế’ hoặc ‘một cách thực tế’, do đó giữ nguyên mối liên hệ của nó với danh từ quan trọng ‘Faktizitiit’ (tính thực tế), và phân biệt nó với ‘tatslichlich’ (thực tế) và ‘wirklich’ (thực sự). Xem phần thảo luận về ‘Tatslichlichkeit’ và ‘Faktizitlit’ trong Phần 12 và 29 bên dưới (H. s6, 135).

17. ‘….deren faktischen Bestand man wohl nicht leugnen wird’.

18. ‘Wesensverfassung’. “Verfassung” là từ chuẩn để chỉ “hiến pháp” của một quốc gia hoặc bất kỳ tổ chức chính trị nào, nhưng nó cũng được dùng để chỉ “tình trạng” hoặc “trạng thái” mà một người có thể đang ở trong đó. Heidegger hiếm khi sử dụng từ này theo một trong hai nghĩa này; nhưng ông sử dụng nó theo những cách tương tự. Theo một nghĩa, “Verfassung” của Dasein chính là “hiến pháp” của nó, cách thức nó được cấu thành, “sa condition humaine”. Theo một nghĩa khác, Dasein có thể có nhiều “Verfassungen” như những “trạng thái” cấu thành hoặc các yếu tố tham gia vào “hiến pháp” của nó. Nói chung, chúng ta sẽ dịch “Verfassung” là “hiến pháp” hoặc “trạng thái cấu thành” tùy theo ngữ cảnh; nhưng trong những đoạn văn mà việc sử dụng “trạng thái cấu thành” sẽ rườm rà và ít có nguy cơ gây nhầm lẫn, chúng ta sẽ chỉ viết là “trạng thái”. Tuy nhiên, những trạng thái này phải luôn được coi là mang tính cấu thành và thiết yếu, chứ không phải là các giai đoạn tạm thời hoặc nhất thời như 'trạng thái' sức khỏe của một người hay 'trạng thái của quốc gia'. Khi Heidegger sử dụng từ ‘Hiến pháp’, chúng ta thường biểu thị điều này bằng cách gọi là ‘Hiến pháp’.

19. ‘….weil es in der Beantwortung der Frage nicht um eineableitende Begrundung, sondern um aufweisende Grund-Freilegung geht.’ Các cách diễn đạt dạng ‘es geht….um –’ xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm này. Chúng tôi thường dịch chúng theo các biến thể của ‘– là một vấn đề đối với….’

20. ‘In den histcrischen Geistlswissenscluzften….’ Heidegger phân biệt rõ ràng giữa ‘Historie’ và ‘Geschichte’ và các tính từ tương ứng ‘historisch’ và ‘geschichtlich’. ‘Historie’ đại diện cho cái mà Heidegger gọi là ‘khoa học lịch sử’. (Xem H.375, 378.) ‘Geschichte’ thường đại diện cho loại ‘lịch sử’ thực sự xảy ra. Theo quy tắc, chúng ta sẽ dịch chúng tương ứng là ‘sử học’ và ‘lịch sử’, theo các quy ước tương tự trong việc xử lý hai tính từ này. Xem đặc biệt Mục 6 và 76 bên dưới.

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XXIV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§ 14. Bản chất của Cơ sở/Nền tảng và Ý niệm về Logic

Logic, như chúng ta đã nói ở đầu các bài giảng này, là tri thức về λόγος, tức là phát biểu. Đặc điểm cơ bản của nó là chân lý. Hơn nữa, người ta nhận thấy rằng chân lý của các phát biểu chủ yếu dựa trên những ứng xử không mang tính chất của phát biểu, chẳng hạn như trực giác và những thứ tương tự. Những hành vi ấy mang tính chất [tr.217] bộc lộ và với tư cách là ontic truth chân lý thực hữu về các hiện hữu, chúng được đặt nền tảng trong hiểu-biết-về-hữu-thể, tức là trong những gì làm cho khả tính bộc lộ về các hiện hữu thể trở nên khả thể. Tuy nhiên, đó là gia nhập thế giới, và điều đó có nghĩa là cuộc nảy sinh của một hiện-hữu-trong-thế-giới. Hiểu-biết-về-Hữu-thể là siêu việt; toàn bộ hiểu-biết-về-hữu-thể, dù mang tính tiền-hữu thể luận phi chủ đề, hay mang tính chủ đề và mang tính hữu thể luận về phương diện khái niệm, đều là tiên nghiệm/siêu việt. Cái hiểu-biết-về-hữu-thể này và các phương thức cơ bản thiết yếu của nó là sự tiết lộ nằm trong nhất tính xuất-thân của thời tính, trong sự phá vỡ mang tính thời gian hóa của các chân trời. Sự bộc lộ này là cái là chân nguyên thủy về mặt siêu hình, là chân lý, chính là tự thân siêu việt, veritas transcendentalis chân lý tiên nghiệm. Die Bedingung für die Möglichkeit jeder ontisch-intentionalen Wahrheit Nó là điều kiện cho cái khả tính của mọi chân lý thực hữu-ý hướng tính. Với sự xuất hiện của siêu việt, của chân lý tiên nghiệm, các hiện hữu cũng đã được khám phá, mặc dù chúng ta thấy, từ bản chất của chân lý theo đúng nghĩa và sự khởi đầu siêu hình của sự xuất hiện của siêu việt, và các hiện hữu, trong trường hợp đầu tiên và cuối cùng, bị che giấu và chân lý phải được gọi là trạng thái không che giấu khi đề cập đến trạng thái che giấu ban đầu này.

Các hiện hữu nói chung bị che giấu, chừng nào vẫn không có sự kiện gia nhập thế giới. Do đó, có một ý tứ sâu xa trong từ Hy Lạp chỉ chân lý ἀ-λήθεια. Trước hết, các hiện hữu phải được xé toang khỏi mọi che giấu; tình trạng che giấu phải được loại bỏ khỏi các hiện hữu, và nó được loại bỏ khi thời tính thời gian hóa tạo cơ hội cho sự gia-nhập-thế-giới. Có thể thấy ở khắp mọi nơi trong triết học tiền Socrates, trong triết học của Plato và Aristotle cách diễn giải này về đặc tính phủ định đặc biệt của quan niệm về chân lý trong triết học Hy Lạp không phải là chuyện nhỏ nhặt về mặt từ nguyên học. Hãy lấy một câu nói của Heraclitus làm ví dụ (Đoạn 123): φύσις κρύπτεσθαι φιλεῖ Physis kryptesthai philei, Tự nhiên thích che giấu chính mình. Chân lý nằm ở bản chất của sự siêu việt; nó là chân lý tiên nghiệm nguyên thủy. Nhưng nếu chủ đề cơ bản của logic là chân lý, thì chính logic lại là siêu hình học nếu vấn đề siêu việt trình bày theo một cách khác cái chủ đề cơ bản của siêu hình học, như tôi đã cố gắng chứng minh. Giờ đây chỉ có một điều đúng trong sự nhấn mạnh truyền thống và thường thấy về hình thức phán đoán như là trung tâm của logic, đó là chân lý được chuyển thành trung tâm. Nhưng sau đó phải có một cuộc khảo sát triệt để về bản chất của chân lý. Siêu hình học không nên được chuyển vào logic, hoặc ngược lại. Vấn đề không phải là sự phân chia thành các ngành, mà hơn nữa, chính các ngành đó lại là vấn đề. Giờ đây chúng ta đã thấy rằng logic truyền thống là khoa học về mệnh đề, về tư duy, và mục đích chính của nó là định nghĩa các quy luật của tư duy [tr.218] và phát ngôn. Bản chất của những quy luật này (cho dù là quy luật tự nhiên, các chuẩn mực, hay quy luật thuộc loại hoàn toàn khác) vẫn còn đáng ngờ. Các quy luật thông thường theo trình tự thông thường là: nguyên tắc đồng nhất, nguyên tắc không mâu thuẫn, nguyên tắc căn cứ [Grund]. Và chúng ta đã thấy rằng, đối với Leibniz, chân lý tối thượng là identitas đồng nhất A=A, bởi vì ông thấy bản chất của chân lý nằm ở đồng nhất tính. Luận điểm của chúng ta là Grundsatzprinciple nguyên tắc nền tảng đầu tiên của logic là mệnh đề căn cứ. Tuy nhiên, luận điểm này không chỉ đơn thuần là sự đảo ngược trật tự truyền thống, mà nó được nói ra từ cấp tiến hóa của logic hướng tới siêu hình học. Mệnh đề căn cứ không phải là một quy tắc và chuẩn mực để đưa ra các khẳng định; hơn nữa, nó là Grundsatz mệnh đề căn cứ đầu tiên của logic với tư cách siêu hình học. Giờ đây chúng ta đã thấy rằng chủ đề chính của logic là chân lý tiên nghiệm, sự siêu việt. Việc viện dẫn đến mệnh đề căn cứ này có ý nghĩa gì? Và tương ứng, bản chất của những ‘mệnh đề’ mà chúng ta gọi là mệnh đề căn cứ [Grund-satze] là gì?

Những câu hỏi này chỉ có thể được trả lời bằng cách tham chiếu đến bản chất của cơ sở/nền tảng. Hiện tượng nguyên thủy của nền tảng là cái vì- lợi-ích-của. Nguồn gốc của ‘cơ sở/nền tảng’ nằm ở tự do với tư cách là tự do cho nền tảng. Tuy nhiên, cái vì-lợi-ích-của là đặc tính chính của thế giới. Phóng-chiếu-thế-giới trong tự do không gì khác hơn là thời gian hóa của việc lý-giải-về-hữu-thể. Nếu nền tảng với tư cách là cái vì-lợi-ích-của là đặc tính chính của thế giới, và tuy nhiên nếu thế giới là Hữu thể, như nó được hiểu trong sự hiểu biết về hữu thể, và nếu hữu thể thiết lập sự gia nhập vào thế giới cho các hiện hữu, tức là cho phép các hiện hữu được hiểu là các hiện hữu, thì ‘nền tảng’ về bản chất thuộc về hữu thể. Từ đó suy ra ý nghĩa siêu hình thực sự của nguyên tắc nền tảng. Nguyên tắc này khẳng định rằng đặc tính cơ bản, Grundcharacter đặc tính nền tảng của nền tảng theo đúng nghĩa thuộc về bản chất của hữu thể theo đúng nghĩa. Do vậy, từ đó quy tắc được suy ra, qua nhiều giai đoạn hình thành, là việc đưa ra các tuyên bố về các hiện hữu phải cung cấp cơ sở cho chính nó bởi vì các tuyên bố là những khẳng định tiết lộ về các hiện hữu. Chuỗi chứng minh trong lập luận ontic thực hữu không chủ yếu cấu thành bối cảnh chứng minh trong các khoa học thực chứng, mà đúng hơn là chúng có nền tảng trong Hữu thể luận. Các cơ sở chính, hay chính xác hơn là xu hướng thiết lập cơ sở, ở đây nằm ở hiểu-biết-về-hữu-thể. Khoa học phải đưa ra cơ sở vì nó mang tính ontic thực hữu (xử lý về các hiện hữu). Một khi tuyên bố về cơ sở đã được trình bày bằng một diễn giải siêu nghiệm, thì nội dung siêu hình của nó có thể dễ dàng được đọc ra theo cách hồi tưởng từ công thức thông thường của nguyên tắc lý tính, nihil est sine ratione: omne ens habet ratioem. ‘Mọi [tr.219] tồn tại đều có cơ sở/nền tảng/nguyên do của nó’ có nghĩa là các hiện hữu, trong chừng mực chúng tự bộc lộ mình là các hiện hữu, đều phải tự tạo nền tảng cho chính mình, bởi vì nền tảng thuộc về hữu thể của các hiện hữu. Tuy nhiên, ‘nền tảng’ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn và triệt để hơn nhiều so với khái niệm truyền thống về ratio lý trí/nguyên do. Giờ đây, cái đặc tính-phát biểu của phát biểu này cũng xuất hiện từ đó. Nó đơn giản là phát biểu-nền tảng đầu tiên [Grund-satz, nguyên tắc], bởi vì nó là phát biểu về nền tảng. Điều này có nghĩa là tất cả các phát biểu nền tảng cơ bản [Grund-sätze] đều được đặt nền tảng trong phát biểu về nền tảng, và điều này đúng theo những cách hoàn toàn khác nhau và không chỉ vì chúng chia sẻ đặc điểm hình thức với nguyên tắc nền tảng. Nhưng đặc biệt, ở đây không thể có bất kỳ suy nghĩ nào về kiểu suy luận tuyến tính từ một nguyên tắc duy nhất (chẳng hạn như suy luận mà Fichte đã cố gắng thực hiện từ nguyên tắc đồng nhất). Thay vào đó, nếu những nguyên tắc này được đặt nền tảng trong nguyên tắc về nền tảng, thì những nguyên tắc nền tảng này cũng chỉ có thể được diễn giải từ nền tảng của nền tảng, tức là từ tự do, và điều đó có nghĩa là từ thời tính.    

Ngay từ đầu, khi mô tả ý nghĩa thực sự của nguyên tắc lý tính trong triết học của Leibniz, chúng ta đã cố gắng chỉ ra rằng công thức thông thường nhấn mạnh một điều quan trọng, đó là potius quam hơn là. Có một đặc tính ưu tiên trong nguyên tắc lý tính. Những gì chúng ta đã chứng minh được một cách thực chứng về bản chất và nguồn gốc của nền tảng từ tự do, từ siêu việt, cho thấy mức độ mà sự ưu tiên thực sự thuộc về bản chất của nền tảng. Bởi vì cái potius thà này chỉ là biểu hiện của sự vượt trội của thế giới, sự khởi lên của tự do thành khả tính. Vậy thì cái đặc tính potius thà của nền tảng trông như thế nào trong thực tế và các phương thức của nền tảng, nền tảng hóa và đem cho nền tảng mỗi thứ trở nên đa dạng ra sao đều đòi hỏi những cân nhắc khó khăn. Nền tảng về bản chất thuộc về bản chất của Hữu thể. Với cái nhìn sâu sắc cụ thể vào mối liên hệ siêu hình này, tôi chỉ dẫn mọi người trở lại nơi mà Plato đã trụ lại khi ông viết những câu trong Republic Cộng hòa (Politeia VI, 509b 6- 10), mà tôi dùng làm kết luận: “Καὶ τοῖς γιγνωσκομένοις τοίνυν μὴ μόνον τὸ γιγνώσκεσθαι φάναι ὑπὸ τοῦ ἀγαθοῦ παρεῖναι, ἀλλὰ καὶ τὸ εἶναί τε καὶ τὴν οὐσίαν ὑπ’ ἐκείνου αὐτοῖς προσεῖναι, οὐκ οὐσίας ὄντος τοῦ ἀγαθοῦ, ἀλλ’ ἔτι ἐπέκεινα τῆς οὐσίας πρεσβείᾳ καὶ δυνάμει ὑπερέχοντος” “Vì vậy, tri thức không chỉ hiện diện đối với và cùng với chúng sinh được biết đến, hiện diện cụ thể trên cơ sở của cái thiện (cái thiện thiết lập cho chúng sinh không chỉ điều được biết đến và do đó gia nhập-thế giới) mà còn được ‘là’ và là/hữu thể-một-cái-gì được gán cho chúng sinh/hiện hữu từ đó (cụ thể là cái thiện). Tuy nhiên, cái vì-lợi-ích-của (sự siêu việt) không phải tự thân ‘là/hữu thể’, mà vượt lên trên ‘là/hữu thể’, và làm như vậy bởi vì nó vượt trội hơn chúng sinh/hiện hữu về phẩm giá và quyền năng.”

Phần bổ sung: Khoảng cách và Sự gần gũi

Suy ngẫm triết học có nghĩa là tồn tại từ nền tảng. Triết học không phải là một khoa học trong số những khoa học khác, cũng không phải là sản phẩm của các thế giới quan; nó nguyên thủy hơn mọi khoa học và đồng thời, nguyên thủy hơn mọi thế giới quan. Điều quan trọng là chúng ta phải làm điều đó một cách đúng đắn, nghĩa là, khi suy ngẫm triết học, chúng ta luôn luôn biến đổi mọi thứ trong chính mình và đối với chính mình. Chừng nào chúng ta còn dao động qua lại trên bề mặt bằng cách lặp lại các nguyên tắc lý thuyết và thực tiễn, thì chúng ta vẫn chưa thực sự ở trong triết học. Logic và siêu hình học được đặt nền tảng trên lý-giải-hữu-thể được xác định bởi sự khác biệt về hữu thể luận. Sự khác biệt này đối với chúng ta có vẻ trừu tượng, khô khan và trống rỗng, nhưng chúng ta vẫn phải hỏi: hiểu-biết-về-hữu-thể là gì? Tự do hướng tới nền tảng là sự vượt lên, trong sự khởi lên ấy, của những thứ cuốn chúng ta đi và tạo ra khoảng cách. Hiện hữu người là một loại tạo vật của khoảng cách. Và chỉ bằng khoảng cách nguyên thủy thực sự mà con người trong sự siêu việt của mình thiết lập đối với mọi hiện hữu, sự gần gũi thực sự với mọi thứ mới bắt đầu nảy nở trong hắn. Và chỉ năng lực lắng nghe từ xa mới khơi dậy sự thức tỉnh câu trả lời của những con người đáng lẽ phải ở gần.

Lời kết của biên tập viên

Loạt bài giảng được biên tập ở đây do Martin Heidegger trình bày, dưới tiêu đề ‘Logik’, vào mùa hè năm 1928, học kỳ cuối cùng của ông tại Đại học Marburglähn. Heidegger giảng bốn giờ một tuần, vào các ngày thứ Hai, thứ Ba, thứ Năm và thứ Sáu. Bài giảng đầu tiên diễn ra vào ngày 1 tháng 5, và bài giảng cuối cùng, kéo dài hai tiết, vào thứ Bảy, ngày 28 tháng 7. Vào thứ Hai, ngày 21 tháng 5 năm 1928, Heidegger đã đọc bài tưởng niệm Max Scheler (trang 50-56), người đã qua đời vào ngày 19 tháng 5. Ông đã đọc phần ‘Tóm tắt’ (trang 56-56) sau giờ nghỉ Lễ Ngũ Tuần. Phần bổ sung ‘Khoảng cách và Sự gần gũi’ (tr.220), không được trình bày, là một văn bản để kết thúc khóa học. Bản thảo các bài giảng của Heidegger và các bản chép tay của các học trò cũ của ông, Hermann Morchen và Helene Weiss, đã có sẵn cho ấn bản này. Bản thảo gốc có 73 (hoặc, thông qua cách đánh số kép, 74) trang theo định dạng folio, viết ngang. Khoảng ba phần tư trong đó, ở phía bên trái, chứa văn bản liên tục được cấu trúc thành câu, với nhiều đoạn chèn vào được lồng ghép một phần với nhau và không phải lúc nào cũng được diễn đạt hoàn chỉnh. Nửa bên phải của trang có nhiều ghi chép bên lề, chủ yếu là dạng chú thích; kèm theo đó là một loạt các phần ghi chú và bổ sung. Bản sao đầu tiên, vốn đã được chỉnh sửa về mặt văn phong, do Hildegard Feick biên soạn. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với văn bản của bà, vì nó đã giúp ích rất nhiều trong việc nắm bắt khó khăn khi giải mã chữ viết tay của Heidegger, vốn khá nhỏ vào thời điểm đó.

Bản thảo của Hermann Morchen bao gồm các ghi chú chú thích về toàn bộ khóa học. Văn bản của Helene Weiss chỉ bắt đầu sau phần về Leibniz, gần cuối § 9; ngoại trừ những trang đầu tiên là trình bày sự phát triển của các ghi chú dạng chú thích của bà. Cả hai bản ghi chép đều phản ánh rất chính xác dòng chảy và nội dung khái niệm của khóa học, như được thể hiện bằng cách so sánh với các đoạn văn bản thảo mà Heidegger đã trình bày không thay đổi. Đồng thời, vì là ghi chú không phải tốc ký, chúng chỉ tái hiện lại các mạch suy nghĩ một cách rời rạc. Do đó, không thể tránh khỏi thiếu đi sự cô đọng của bản thảo viết tay. Một phần lớn sự căng thẳng trong dòng chảy tư tưởng, nơi mà ở những điểm cao trào của văn bản gốc, Heidegger đã phải vật lộn để tìm ra những suy nghĩ quyết định, cũng bị mất đi. Thường thì, bài giảng khi thuyết trình cũng đơn giản hơn nhiều so với bản viết. Do đó, nỗ lực lớn nhất của chúng tôi là tập trung vào việc bảo toàn toàn bộ nguồn lực của bản thảo viết; từ bản thảo gốc, chúng tôi đã xem xét [tr.223] mọi chú thích và mọi gợi ý về một suy nghĩ chứa đựng nhiều hơn là sự lặp lại đơn thuần. Xét đến tình trạng của văn bản, việc dựa vào các đoạn trích từ bản ghi chép hoặc các phần chèn vào văn bản thay vì dựa vào từ ngữ gốc cũng là điều bất khả. Nhưng từ các bản ghi chép, chúng tôi đã sử dụng những thứ sau: tất cả các suy nghĩ từ bản thảo được mở rộng hoặc phát triển thêm trong các bài giảng; các phần tóm tắt lặp lại trong chừng mực chúng chứa đựng các khái niệm mới hoặc các bước ngoặt tư duy mới; tất cả các công thức hoàn chỉnh của các phần bổ sung và ghi chú bên lề chỉ được đề cập trong các chú thích trong bản thảo; cũng như các biến thể đặc biệt phù hợp của một công thức. Nhìn chung, nhiệm vụ của chúng tôi là chọn lọc những nội dung cần xem xét từ các bài giảng và điều chỉnh chúng cho phù hợp với phong cách trình bày chặt chẽ hơn của văn bản viết.

Văn bản cuối cùng được biên soạn theo chỉ thị của chính Heidegger. Điều này có nghĩa là các phần chèn thêm, ghi chú bên lề và ghi chú bổ sung từ bản thảo, các phần được chọn lọc từ các bản sao, cũng như các cách diễn đạt khác nhau từ các tóm tắt bài giảng trong phần bổ sung hoặc các bản sao, đều được tích hợp vào văn bản chính một cách cẩn thận, phù hợp với phong cách Heideggerian của những năm đó, để sự thống nhất trong sự phát triển tư tưởng được tái hiện ở mức độ tối đa. Các bài giảng do chính tay Heidegger biên tập là hình mẫu cho chúng tôi về tính dễ đọc và sự rõ ràng liên quan đến mạch tư tưởng. Về mặt phong cách, chúng tôi đã hạn chế việc làm mượt văn bản của bản thảo nhiều hơn mức cần thiết để đảm bảo việc đọc không bị gián đoạn và tránh hiểu lầm.

Các từ đệm như ‘vậy là’, ‘cũng vậy,’ ‘tuy nhiên,’ v.v., phần lớn phải được giữ lại, cùng với một số lối diễn đạt và tính không đồng đều đặc trưng của Heidegger, trong khi phong cách bài giảng đặc trưng của ông vẫn được thể hiện rõ trong văn bản viết. Heidegger tự mình thực hiện việc chia văn bản thành các đoạn. Tôi chịu trách nhiệm về các phần chia trong phần giới thiệu và các phần nhỏ hơn của các mục 5, 9 và 11. Việc đặt tiêu đề cho mục 10 phù hợp với việc thực hiện thực tế của phần này. Việc chia văn bản thành các phần và dấu câu phần lớn được giao cho biên tập viên, vì trong bản thảo, Heidegger chỉ giới hạn mình ở việc chia văn bản chủ yếu thành các phần lớn và chỉ gợi ý các điểm ngắt cú pháp trong từng câu bằng cách sử dụng các dấu gạch ngang ngắn giữa các ý tưởng. Các trích dẫn bằng tiếng nước ngoài chỉ đóng vai trò là tài liệu tham khảo trong bản thảo của Heidegger đã không được dịch ra. Khi cách diễn đạt của một trích dẫn có vẻ đặc biệt quan trọng đối với mạch tư tưởng, Heidegger cung cấp ít nhất một đoạn dịch, thường là đoạn dịch có thêm phần bình luận [tr.225], nhưng ngoài ra ông thường cung cấp cả trích dẫn bằng tiếng nước ngoài. Những quy tắc này đã được áp dụng trong ấn bản này liên quan đến bản thảo và bản sao chép. Dấu ngoặc đơn chỉ những phần bổ sung của Heidegger trong các trích dẫn và bản dịch trong văn bản chính; chú thích cuối trang chứa các ghi chú của biên tập viên [trong ngoặc đơn in nghiêng] liên quan đến các tài liệu tham khảo. Các phần trong văn bản chính được giới thiệu bởi N.B. [Lưu ý] là những nhận xét bên lề, mà chính Heidegger đã chỉ định như vậy trong bản thảo.

Các bài giảng không trình bày logic truyền thống hay hiện đại, mà theo đuổi ‘nền tảng siêu hình của logic’ dưới ánh sáng của câu hỏi về Hữu thể. Đây là tiêu đề mà bản thân Heidegger đã chọn cho phần chính của khóa học. Do đó, cách diễn đạt này đã được chọn làm tiêu đề của tập sách này. Để khám phá những nền tảng đó, trong nửa đầu các bài giảng, Heidegger đưa ra một cách diễn giải về siêu hình học của Leibniz, trải rộng trong nhiều văn bản và tuyên bố riêng lẻ, một cách diễn giải liên quan đến chức năng của siêu hình học này như là nền tảng cho logic của Leibniz và cho logic truyền thống nói chung. Cách diễn giải lớn đầu tiên này về Leibniz của Heidegger đặc biệt quan trọng đối với sự trình bày của ông về siêu hình học hiện đại của Leibniz về chủ thể tính. Định nghĩa về bản chất như là lực lượng và về lực lượng như là sự biểu hiện (hai chiều) dường như rất quyết định đối với Heidegger đến nỗi ông đã nhiều lần diễn giải Leibniz, cũng như Kant, trong các bài giảng này, trong một chuyên luận trong tập thứ hai của cuốn sách về Nietzsche, và trong các bài giảng Der Satz vom Grund Nguyên lý Lý do Đầy đủ. Heidegger đã xuất bản một phần diễn giải được đưa ra ở đây (xem § 5) trong Festschrift Tuyển tập dành cho Rudolf Bultmann nhân dịp sinh nhật lần thứ 80 của ông (Zeit und Geschichte Thời gian và Lịch sử, do E. DinkIer biên tập, Tübingen 1964, trang 491-507). Văn bản được in vào thời điểm đó chứa một số đoạn văn mà Heidegger đã chọn từ bản sao của Hildegard Feick, mà ông đã sửa chữa nhỏ và có giới thiệu ngắn gọn. Đối với ấn bản hiện tại, văn bản đó một lần nữa được hiệu đính so với bản thảo. Khi làm như vậy, tất cả các phần chèn, ghi chú bên lề và ghi chú còn lại chưa được Feick sao chép, và tất cả các tài liệu hỗ trợ có trong sao chép Mörchen [Thuật ngữ ‘Mörchen transcription’ là các bản chép tay và phụ lục chú thích của nhà triết học người Đức Frank-Otto Mörchen; các tài liệu này ghi lại những bài giảng và các văn bản gốc (Gesamtausgabe Tuyển tập) chưa xuất bản của Martin Heidegger], mà bà Feick chưa có được, đã được sử dụng để hoàn thiện câu chữ, sửa chữa các lỗi đọc riêng lẻ và sắp xếp một số câu và đoạn văn thành một trình tự tương ứng với mạch tư tưởng ban đầu mà Heidegger đã dự định. Có thể nói rằng, vào thời điểm này, chúng ta thực sự đang có trước mắt toàn bộ văn bản chính của bản diễn giải Leibniz đầu tiên của Heidegger.

Bài tưởng niệm Max Scheler, được Heidegger rút gọn [tr.226] và in trong Max Scheler im Gegenwartsgeschehen der Philosophie Diễn ngôn Triết học Đương đại do P. Good biên tập, (Bern và Munich, 1975, trang 9), cũng phụ thuộc vào bản ghi chép của Feick. Văn bản này cũng được trình bày đầy đủ ở đây. Bên cạnh việc diễn giải Leibniz, văn bản những bài giảng này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xem xét lại con đường tư tưởng của Heidegger, điều mà Gesamtausgabe Tuyển tập nên tạo điều kiện thuận lợi. Đặc biệt quan trọng trong nửa sau là các cuộc thảo luận về siêu việt và ý hướng tính, và cuộc đối đầu với Max Scheler, những tuyên bố hướng dẫn để hiểu về Hữu thể và Thời gian, phần giới thiệu về vấn đề thời gian, thông báo về sự chuyển đổi từ Hữu thể luận cơ bản sang Metontology Siêu-Hữu thể luận, và những nghiên cứu đặc biệt chi tiết về khái niệm thế giới kết hợp với vấn đề nền tảng. Luận thuyết Yom Wesen des Grundes Luận về Bản chất của các Nền tảng được phát triển từ những nghiên cứu này. Tập sách này sẽ không thể ra đời nếu không có sự hợp tác của T.S. Heinrich Hüni đã cùng tôi đối chiếu văn bản và đã thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết trước và sau đó với thái độ cẩn trọng và tận tâm. Để có thể hoàn thiện được văn bản cuối cùng, thường khá cam go, nên sự am hiểu sâu sắc của ông về tư tưởng và ngôn ngữ của Heidegger là điều may mắn lớn. Tôi vô cùng biết ơn ông. Tôi cũng xin cảm ơn bà Magdalena Prause đã giúp đánh máy. Wuppertal, nhân kỷ niệm một năm ngày mất của Martin Heidegger. Klaus Held

Lời bạt của người dịch ra tiếng Anh

Lời bạt của biên tập viên ghi lại lời kể của biên tập viên người Đức về quá trình biên soạn văn bản và các nguyên tắc được sử dụng trong việc biên tập ấn bản Gesamtausgabe Tuyển tập các tác phẩm của Martin Heidegger bằng tiếng Đức. Trong lời bạt này, tôi sẽ thông báo cho người đọc về cách tiếp cận của tôi đối với một số vấn đề đặc thù của tác phẩm ‘Cơ sở Siêu hình của Logic’. Có thể sớm dịch được các văn bản của Heidegger sang tiếng Anh bằng cách sử dụng các hệ thống truy xuất dữ liệu điện tử. Máy tính sẽ có thể phân loại các giải pháp dịch thuật trước đó và áp dụng chúng vào văn bản hiện tại một cách nhất quán về mặt kỹ thuật. Tính chính xác về mặt học thuật cũng có thể đòi hỏi chúng ta phải chờ đợi việc tiếp cận toàn bộ kho lưu trữ các bài báo, ghi chú và thư từ của Heidegger; một vốn từ vựng kỹ thuật chính xác về mặt ngữ văn học cho triết học của Heidegger có thể được đảm bảo khi dịch sang tiếng Anh. Tuy nhiên, bản dịch hiện tại không chờ đợi những khả năng đó. Quyết định xuất bản phiên bản tiếng Anh càng sớm càng tốt sau khi công bố bản tiếng Đức xuất phát từ quan niệm của Heidegger về Tuyển tập các tác phẩm của ông bằng tiếng Đức, trong đó văn bản hiện tại là Tập 26 trong kế hoạch tổng thể của bộ sưu tập. Heidegger tin rằng các tác phẩm của ông có tính thời sự đặc biệt đối với thời điểm lịch sử hiện tại của chúng ta, và với suy nghĩ đó, ông đã mô tả Tuyển tập là ‘những con đường - chứ không phải tác phẩm’ (Wege-nicht Werke); ông đã tránh sử dụng khái niệm đồ sộ về ‘Tuyển tập Tác phẩm’. Những con đường tư duy cho những lựa chọn mang tính lịch sử cần được làm sáng tỏ một cách kịp thời, điều này loại trừ sự chính xác hoàn hảo của một công trình vượt thời gian. Một công trình học thuật đồ sộ có thể cần thêm nửa thế kỷ nữa - nếu thực sự có một công trình như vậy.

Tính cấp bách mà Heidegger cảm nhận về Tuyển tập của mình được thể hiện trong lời tựa chưa hoàn chỉnh, được trích dẫn trong Lời bạt của Biên tập viên của Gesamtaugabe Tuyển tập, tập 1: Tuyển tập này cần phải thể hiện bằng nhiều cách khác nhau một quá trình đang diễn ra trong lĩnh vực tìm tòi tự chuyển hóa về nhiều ý nghĩa của câu hỏi về Hữu thể. Do đó, Tuyển tập này cần dẫn dắt người ta tiếp nhận và đặt ra câu hỏi [về Hữu thể], đặc biệt là đặt ra theo cách chất vấn nhiều hơn. Việc chất vấn nhiều hơn có nghĩa là lùi lại một bước, lùi lại trước khi dè dặt, lùi vào một cách nói gọi tên (‘lùi lại’ không phải theo nghĩa thời gian-lịch sử, mà ‘lùi lại’ như là đặc tính của cách tư duy). Mục đích là khơi gợi thảo luận về vấn đề tư duy (với tư cách là mối quan hệ [tr.227] với Hữu thể như là Hiện diện tính; Pannenides, Heraclitus: νοεῖν nhận thức, λόγος Ngôn trí, Lý tính, Trật tự) chứ không phải để truyền đạt ý kiến ​​của tác giả, không phải để mô tả quan điểm của người viết, và không phải để xếp ông ta vào chuỗi các quan điểm khác có thể xác định được trong lịch sử. Tất nhiên, những nỗ lực sau này có thể được thực hiện bất cứ lúc nào, đặc biệt là trong thời đại thông tin, nhưng chúng hoàn toàn không liên quan đến việc chuẩn bị một cách tiếp cận mang tính chất chất vấn đối với vấn đề tư duy.

Số lượng lớn các tập sách chứng tỏ tính chất đáng nghi vấn còn tồn tại của câu hỏi về Hữu thể và cung cấp nhiều cơ hội để tự kiểm nghiệm. Mặt khác, nỗ lực được tập hợp trong ấn bản này chỉ còn là một tiếng vọng yếu ớt của sự khởi đầu ngày càng xa vời: sự tự rút lui của ἀλήθεια aletheia chân lý. Ở một khía cạnh nào đó, sự tự phủ nhận của aletheia chân lý được thể hiện rõ ràng và liên tục được trải nghiệm; tuy nhiên, tính đặc thù của nó vẫn không được nhận ra ngay từ đầu, và tình trạng này đặt ra một sự hạn chế độc nhất vô nhị đối với mọi suy nghĩ sau này. Sẽ là một ảo tưởng nếu bây giờ muốn diễn giải những gì ban đầu được nhận ra thành những gì chúng ta biết hiện nay. Những nhận xét trước đó về tính cấp bách không hề được đưa ra như một lời bào chữa cho những sai sót trong dịch thuật hoặc sự cẩu thả về văn phong. Thay vào đó, chúng nhằm mô tả tinh thần mà bản dịch được thực hiện, không có sự hỗ trợ của máy tính, không có nhóm nghiên cứu, và với mức độ học tập hoặc thời gian rảnh rỗi tối thiểu. Sản phẩm cuối cùng chỉ có mức độ hoàn chỉnh mà một cá nhân hữu hạn có thể thiết kế; tác phẩm hoàn chỉnh không phải là một ‘ấn bản phê bình ngữ văn’ theo nghĩa của các thuật ngữ đó trong văn học Châu Âu. Do đó, mục tiêu của tôi là đưa ra một bản dịch sao cho chính xác nhất có thể nội dung của ấn bản tiếng Đức năm 1978 đến với độc giả nói tiếng Anh. Tôi đã để chú thích ở mức tối thiểu, ngoài một vài lỗi nhỏ do in ấn xác nhận và biên tập viên người Đức kiểm tra, tôi không cố cải thiện ấn bản tiếng Đức bằng cách đối chiếu với các bản thảo và bản sao được thảo luận trong Lời bạt của Biên tập viên ấn bản gốc.

Trong ấn bản gốc tiếng Đức, các đoạn dẫn dài bằng tiếng Pháp, Latin và Hy Lạp thường được trích trực tiếp trong văn bản mà không có dấu ngoặc kép hoặc chữ in nghiêng, một thủ tục phù hợp với thói quen của các giáo sư đại học Đức khi trích dẫn tác giả bằng ngôn ngữ gốc trong các bài giảng trên lớp. Để tránh gây nhầm lẫn cho người đọc nói tiếng Anh, các trích dẫn bằng tiếng Latin và tiếng Pháp đã được in nghiêng. Thỉnh thoảng, khi bản gốc sử dụng lặp đi lặp lại một từ hoặc cụm từ tiếng Latin, thì từ tương đương trong tiếng Anh sẽ được sử dụng thay thế. Ví dụ, một từ Latin thường dùng là propositio trở thành từ tiếng Anh đơn giản là ‘proposition’: Bản thảo tiếng Hy Lạp phân biệt [tr.229] các trích dẫn bằng ngôn ngữ đó, giống như trong văn bản tiếng Đức. Dấu ngoặc vuông được dành riêng cho các phần thêm vào của người dịch hoặc cho các bản dịch tiếng Anh của tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Latin. Các ký hiệu “( )” được sử dụng để phân biệt các phần thêm vào và nhận xét của Heidegger trong các bản dịch của chính ông hoặc trong các trích dẫn của tác giả khác. Các phần thêm vào của các dịch giả khác được trích dẫn và của biên tập viên của ấn bản Tiếng Đức được đặt trong ngoặc vuông in nghiêng. Chú thích cuối trang nằm ở cuối trang và được đánh số liên tiếp từ đầu mỗi phần chính; ghi chú của người dịch nằm ở cuối trang và được đánh dấu bằng dấu hoa thị hoặc dấu thập. Cần lưu ý rằng các trích dẫn từ tiếng Hy Lạp và Latin đã được dịch từ bản tiếng Đức của chính Heidegger thực sự đã tự dịch văn bản; ở những chỗ Heidegger không đưa ra bản dịch tiếng Đức, tôi tự dịch từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, tuy nhiên, luôn kiểm tra và đối chiếu với các bản dịch tiếng Anh chính của văn bản đang được đề cập. Tên các tác phẩm của tiếng Đức được nhắc đến trong văn bản thường được ghi bằng tiếng Đức, ngoại trừ những tác phẩm được nhắc đến thường xuyên có vị thế kinh điển, chẳng hạn như Phê phán Lý tính Thuần túy hay Hữu thể và Thời gian.

Trong trường hợp các từ ngữ tiếng Đức rất khó dịch, tôi đã đưa tiếng Đức vào trong ngoặc đơn hoặc ghi chú những khó khăn trong lựa chọn dịch thuật của mình ở cuối trang. Một số thuật ngữ vẫn còn phức tạp trong tiếng Đức của Heidegger, và nhiều sách và bài báo đã được viết nhằm cố gắng làm sáng tỏ cách sử dụng ngôn ngữ sáng tạo của ông. Ví dụ, từ ngữ Grund gợi ý các từ tiếng Anh như ‘reason’ lý tính/trí, ‘ground’ cơ sở/nền tảng, ‘cause’ nguyên nhân, ‘basis’ cơ sở, ‘fundament’ nền tảng, v.v. Vì văn bản hiện tại chứa nhiều đoạn văn liên quan đến der Satz vom Grund (nguyên tắc ‘lý trí’), điều tốt nhất tôi có thể làm là giới thiệu người đọc đến phần ghi chú và lời tựa dài dòng và sáng tỏ của Terrence Malick cho bản dịch Yom Wesen des Grundes của Heidegger, Luận về Bản chất của Lý trí, (Evanston: Nhà xuất bản Đại học Northwestern, 1969).

Nhìn chung, chiến lược của tôi là để ngữ cảnh quyết định một khía cạnh cụ thể của ý nghĩa của một từ, và do đó tôi không hề tìm cách khái quát hóa bằng cách dịch tương đương từ-ra-từ trong hai ngôn ngữ; cần có một chút tự do nghệ thuật ở đây nếu tiếng Anh thực sự muốn là tiếng Anh trong khi vẫn ‘chuyển ngữ’ được bản gốc tiếng Đức. Số trang tiếng Đức, được ghi ở đầu trang, cho phép người đọc tham khảo bản gốc để kiểm tra sự phù hợp của sắc thái mà tôi đã chọn hoặc để học giả có thể tìm thấy các khía cạnh ngữ nghĩa khác đáng quan tâm. Tôi nghĩ rằng người đọc có chút kiến ​​thức về tiếng Đức, tôi hy vọng sẽ thấy [tr.230] rằng bản dịch có thể được theo dõi từng từ một trong những bản gốc mà không cần bất kỳ sự lược bỏ hoặc bổ sung nào. Khó khăn chính trong việc đối chiếu với bản gốc sẽ xảy ra ở những đoạn văn mà cú pháp và nhịp điệu câu tiếng Anh chiếm ưu thế hơn so với cấu trúc câu phức tạp của tiếng Đức. Trong bản dịch này, tôi đã áp dụng cách tiếp cận của Albert Hofstadter trong việc dịch thuật ngữ trung tâm ‘being’ das Sein Hữu thể. Như Hofstadter đã làm trong bản dịch cuốn ‘Những vấn đề cơ bản của hiện tượng học’ (Bloomington: Nhà xuất bản Đại học Indiana, 1982), từ ‘being’ Hữu thể không được viết hoa. Tôi làm điều này không chỉ đơn thuần vì mục đích nhất quán trong một loạt các bản dịch. Hơn nữa, lý do của tôi dựa trên nhu cầu thay đổi của người đọc và nguồn lực ngôn ngữ thay đổi. Có thể phân biệt das Seiende với das Sein bằng cách dịch từ trước với dạng số nhiều ‘beings’ ‘các Hiện hữu’ và từ sau với dạng ‘being’ ‘Hữu thể’ (không viết hoa). Trước đây, trong tiếng Anh, cần phải lưu ý đến dạng nguyên thể tiếng Đức được sử dụng như một danh từ, das Sein, và việc viết hoa ‘Being’ nhằm cảnh báo người đọc về một cách diễn đạt không thể dịch chính xác trong tiếng Anh mà không ép buộc das Sein vào dạng ‘the to-be’. Nhưng giờ đây, khi sự tập trung đặc biệt của Heidegger vào vấn đề ‘being’ Hữu thể đã trở nên quen thuộc, thậm chí có lẽ là quá quen thuộc, dường như việc cho phép thuật ngữ này trở nên tự nhiên trong tiếng Anh là điều thích hợp, từ đó làm giảm bớt vị thế huyền thoại, xa vời của thuật ngữ này. Việc giải huyền thoại hóa the question of being vấn đề về Hữu thể cũng ngụ ý rằng vấn đề về sự khác biệt hữu thể luận, sự khác biệt giữa ‘being’ và các ‘beings’, sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và là vấn đề cần suy ngẫm nhiều hơn, một khi hào quang huyền thoại của từ ‘Being’ viết hoa đã bị loại bỏ và gợi ý rằng ‘being’ là một tên gọi khác cho vị thế riêng biệt của một Being thần thánh - một gợi ý mà tiếng Anh, vốn rất tiết kiệm trong việc viết hoa, chắc chắn sẽ nảy sinh khi từ ‘being’ được viết hoa. Khi bất kỳ cách biểu đạt nào cũng dễ bị tầm thường hóa thành huyền thoại, thì nhiệm vụ của tư duy dường như nằm ở việc nghĩ ra các chiến lược để giúp chúng ta tránh xa mọi-thứ-quá-quen-thuộc.

Trong số các tổ chức đã hỗ trợ cho việc xuất bản kịp thời tập sách này, trước hết tôi phải kể đến Quỹ Quốc gia về các Khoa Nhân văn (National Endowment for the Humanities - NEH); trong bảy tháng, NEH đã cho phép tôi tạm ngừng nhiều nhiệm vụ giảng dạy để tôi có thể dành toàn bộ thời gian hoàn thành dự án này. Bộ phận Nghiên cứu của Quỹ Quốc gia cũng yêu cầu tôi viết lời giới thiệu cho người dịch dành cho độc giả nói tiếng Anh, và lời giới thiệu này đã được cung cấp riêng. Inter Nationes, một quỹ của Đức, cũng đã hỗ trợ cho việc dịch thuật. Tôi xin cảm ơn ban quản lý tại Missouri Western State College, những người đã cho tôi được nghỉ phép [tr.231] để có thể dành toàn thời gian cho dự án. Tôi cũng phải bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với các tổ chức tài trợ đã tạo điều kiện cho ba năm học tập nâng cao tại các trường đại học Freiburg và Berlin của Đức; bao gồm Ủy ban Fulbright Hoa Kỳ, Chương trình Trao đổi Học thuật Đức (DAAD) và chương trình trao đổi trực tiếp của Văn phòng Hiệu trưởng Đại học Freie Universitat Berlin. Các giáo sư đã giúp đỡ tôi ngay lập tức bao gồm John Sallis, người có những nhận xét và đề xuất sâu sắc và dựa trên nền tảng học vấn đáng ngưỡng mộ; Joseph Kockelmans, người đã hào phóng xem xét kỹ lưỡng các bản thảo đầu tiên của toàn bộ bản dịch và đưa ra những nhận xét hữu ích; và Theodore Kisiel, người đã xem xét một bản thảo ban đầu và đưa ra nhiều gợi ý có giá trị. Albert Hofstadter, Manfred Frings và David Lachterman mỗi người đều đưa ra lời khuyên về các vấn đề học thuật. Friedrich-Wilhelm von Herrmann của Đại học Freiburg đã cung cấp sự giúp đỡ vô giá mười năm trước khi tôi nghiên cứu tác phẩm của Heidegger tại Freiburg. Alphonso Lingis là người đầu tiên đề nghị tôi thực hiện dự án này. Susan Mango tại Quỹ Quốc gia về Nhân văn đã đưa ra những lời khuyên quý giá trong giai đoạn lập kế hoạch của dự án. Các đồng nghiệp của tôi tại Missouri Western, James Mehl, Phil Mullins và John Tapia, đã luôn quan tâm và ủng hộ dự án một cách thân thiện; Gary Shapiro của Đại học Kansas đã nhắc nhở tôi một cách thân thiện rằng triết học, chứ không phải đàn cello, mới là tình yêu đầu tiên của tôi. Điều quan trọng nhất đối với cá nhân tôi là sự hiện diện của Joanna Popdan Heim và Michael Junior.

__________________________________________

(Hết) 

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.