Powered By Blogger

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXXII)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần III. Hiện-hữu-Tự-thân và Hiện-hữu-trong-Thế-giới 

1. Cái Tôi Tư duy

Chúng ta hãy quay lại ví dụ về người mắc chứng cuồng. Thật dễ dàng để coi anh ta như một kẻ giả tạo, nhưng trước hết chính anh ta đang tự lừa dối mình, và sự bất ổn này một lần nữa đặt ra vấn đề mà chúng ta đang cố gắng giải quyết; làm thế nào mà nạn nhân của chứng cuồng lại không cảm nhận được những gì anh ta cảm nhận, và cảm nhận được những gì anh ta không cảm nhận? Anh ta không giả vờ đau đớn, buồn bã hay tức giận, nhưng những cơn ‘đau đớn’, ‘buồn bã’ hay ‘giận dữ’ của anh ta có thể phân biệt được với những trường hợp ‘thực sự’mắc phải chứng bệnh này, bởi vì anh ta không hoàn toàn bị chúng chi phối: cốt lõi của anh ta vẫn còn một vùng bình yên. Những cảm xúc ảo tưởng hoặc tưởng tượng được trải nghiệm một cách chân thực, nhưng được trải nghiệm, có thể nói, ở rìa ngoài của chính chúng ta.17 Trẻ em và nhiều người lớn chịu ảnh hưởng của ‘giá trị tình huống’, che giấu khỏi họ những cảm xúc thực sự của họ—họ vui mừng vì được tặng quà, buồn bã vì đang ở đám tang, vui vẻ hay buồn bã tùy thuộc vào khung cảnh xung quanh, và, ở phía bên kia của bất kỳ cảm xúc nào như vậy, thờ ơ và trung lập. ‘Chúng ta trải nghiệm cảm giác ấy một cách mãnh liệt, nhưng [tr.442] lại không chân thực. Nó cứ như thể cái bóng của một tình cảm chân thực.’

Thái độ tự nhiên của chúng ta không phải là trải nghiệm cảm xúc của chính mình hay bám víu vào những thú vui của riêng mình, mà là sống theo những phạm trù cảm xúc của môi trường. ‘Cô gái được yêu không phóng chiếu cảm xúc của mình như Isolde [Isolde là nhân vật chính trong Tristan und Isolde, là một vở nhạc kịch của Richard Wagner, dựa trên cuốn tiểu thuyết lãng mạn thời trung cổ thế kỷ 12 của Gottfried von Strassburg, Tristan và Iseult; được hình thành lần đầu tiên vào năm 1854, âm nhạc được sáng tác từ năm 1857 đến năm 1859 và được công diễn lần đầu tại Königliches Hoftheater und Nationaltheater ở Munich vào ngày 10 tháng 6 năm 1865, với sự tham gia của Hans von Bülow; Tristan und Isolde phần nào khai thác cảm hứng từ quan niệm triết học của Arthur Schopenhauer và từ mối quan hệ của Wagner với nàng thơ Mathilde Wesendonck; tác phẩm khám phá các chủ đề hiện sinh như sự nỗ lực không ngừng của loài và bản chất siêu việt của tình yêu vượt qua cái chết, đồng thời kết hợp tâm linh từ chủ nghĩa thần bí cũng như siêu hình học Vedanta và Phật giáo , những chủ đề mà Schopenhauer quan tâm; Wagner là một trong những nghệ sĩ phương Tây đầu tiên sử dụng các khái niệm từ các tôn giáo धर्म dharma Pháp trong tác phẩm của mình. HHN] hay Juliet, [Giulietta Capuleti là nhân vật nữ chính trong vở bi kịch lãng mạn Romeo và Juliet của William Shakespeare, một cô gái 13 tuổi, là con gái duy nhất của tộc trưởng nhà Capulet; nàng đem lòng yêu Romeo, một thành viên của nhà Montague, gia tộc có mối thù truyền kiếp với nhà Capulet; câu chuyện có một lịch sử lâu đời, thậm chí còn trước cả thời Shakespeare - HHN] mà cảm nhận cảm xúc của những bóng ma thi ca này và truyền chúng vào cuộc sống của chính mình. Có lẽ đến một thời điểm sau đó, một cảm xúc cá nhân và chân thực mới phá vỡ mạng lưới ảo tưởng tình cảm của cô ấy.’18 Nhưng cho đến khi cảm xúc này xuất hiện, cô gái không có cách nào khám phá ra yếu tố ảo tưởng và văn chương trong tình yêu của mình. Chính sự thật về những cảm xúc tương lai của cô ấy mới được định sẵn để tiết lộ sự sai lầm của những cảm xúc hiện tại, những cảm xúc được trải nghiệm một cách chân thực. Cô gái ‘mất đi thực tại của mình’19 trong đó, cũng như diễn viên mất đi vai diễn mà anh ta thể hiện, vì vậy chúng ta không đối mặt với những hình ảnh hay ý tưởng tạo ra cảm xúc thực sự, mà là những cảm xúc nhân tạo và tình cảm tưởng tượng. Do đó, chúng ta không phải lúc nào cũng làm chủ được bản thân trong toàn bộ thực tại của mình, và chúng ta có quyền nói về một nhận thức nội tâm, một giác quan bên trong, một ‘bộ phân tích’ hoạt động từ chúng ta đến chính mình, không ngừng cung cấp kiến ​​thức về cuộc sống và sự tồn tại của chúng ta, nhưng không phải tất cả. Những gì còn lại ở phía bên kia của nhận thức nội tâm và không gây ấn tượng với giác quan bên trong không phải là vô thức. ‘Cuộc sống của tôi’, ‘toàn bộ hiện hữu của tôi’ không phải là những cấu trúc mơ hồ, giống như cái ‘tự ngã sâu thẳm’ của Bergson, mà là những hiện tượng chắc chắn được tiết lộ cho phép phản tư. Đó chỉ đơn giản là vấn đề về những gì chúng ta đang làm. Tôi phát hiện ra mình đang yêu. Có thể không một sự kiện nào trong số những sự kiện mà giờ đây tôi nhận ra là bằng chứng cho tình yêu của mình lại không bị tôi chú ý; không phải là sự thúc đẩy nhanh chóng của hiện tại hướng tới tương lai của tôi, không phải là cảm xúc khiến tôi không nói nên lời, cũng không phải là sự sốt ruột chờ đợi ngày chúng tôi gặp nhau. Tuy nhiên, tôi đã không nhìn nhận toàn bộ sự việc, hoặc nếu có, tôi đã không nhận ra rằng đó là một vấn đề của một cảm xúc quan trọng đến vậy, bởi vì giờ đây tôi nhận ra rằng mình không thể hình dung cuộc sống lại thiếu đi tình yêu này nữa. Nhìn lại những ngày tháng trôi qua, tôi nhận ra rằng suy nghĩ và hành động của mình bị phân cực, tôi nhận ra quá trình tổ chức, một sự tổng hợp đang hình thành. Tuy nhiên, không thể giả vờ rằng tôi luôn biết những gì tôi biết bây giờ, và coi [tr.443] như một quá trình tự nhận thức đã tồn tại trong những ngày tháng đã trôi qua, một loại tự nhận thức mà chỉ gần đây tôi mới có được. Nói chung, không thể phủ nhận rằng tôi còn nhiều điều phải học hỏi về bản thân, cũng như không thể đặt trước, ngay trong sâu thẳm trái tim mình, một cách hiểu về bản thân chứa đựng tất cả những gì tôi biết về chính mình, sau khi đã đọc sách và trải nghiệm mà hiện tại tôi chưa hề hay biết. Ý niệm về một hình thái ý thức trong suốt với chính nó, tồn tại của nó có thể đồng nhất với nhận thức về tồn tại của nó, không khác biệt nhiều so với khái niệm vô thức; trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có cùng một ảo tưởng hồi tưởng, bởi vì, được đưa vào tôi như một đối tượng rõ ràng, tất cả những gì sau này tôi sẽ hiểu về bản thân mình.

Tình yêu đã vận dụng phép biện chứng của nó thông qua tôi, và điều mà tôi vừa mới nhận thức được, ngay từ đầu không phải là một thứ ẩn giấu trong vô thức của tôi, cũng không phải là một đối tượng trước ý thức của tôi, mà là xung lực đưa tôi đến với một kẻ nào đó, cuộc biến đổi trong suy nghĩ và hành vi của tôi—tôi không hề không nhận thức được điều đó vì chính tôi là kẻ đã chịu đựng những giờ phút buồn chán trước cuộc gặp gỡ, và là kẻ cảm thấy hân hoan khi ả đến gần—nó đã được nghiệm sinh, chứ không phải được biết đến, từ đầu chí cuối. Kẻ yêu cũng chẳng mấy khác kẻ mơ. ‘Nội dung tiềm ẩn’ và ‘ý nghĩa tình dục’ của giấc mơ chắc chắn hiện diện đối với kẻ mơ vì chính gã là kẻ mơ giấc mơ của mình. Nhưng, chính vì tình dục là bầu không khí chung của giấc mơ, nên những yếu tố này không được khái quát hóa thành tình dục, vì thiếu bất kỳ bối cảnh phi tình dục nào để chúng có thể nổi bật. Khi chúng ta tự hỏi liệu kẻ mơ có ý thức được nội dung tình dục trong giấc mơ của mình hay không, thực ra chúng ta đang đưa ra câu hỏi sai. Nếu tình dục, như chúng ta đã giải thích ở trên, thực sự là một trong những cách chúng ta thiết lập mối quan hệ với thế giới, thì bất cứ khi nào cái hiện hữu siêu tình dục của chúng ta cũng bị phủ bóng, như xảy ra trong giấc mơ, tình dục hiện diện ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả; về bản chất, nó mơ hồ và không thể hiện rõ ràng như chính nó. Ngọn lửa xuất hiện trong giấc mơ không phải là cách để kẻ mơ che giấu ham muốn tình dục dưới một biểu tượng dễ chấp nhận, vì nó chỉ xuất hiện như một biểu tượng khi tỉnh thức; trong ngôn ngữ của giấc mơ, lửa là biểu tượng của bản năng tình dục bởi vì kẻ mơ, khi tách rời khỏi thế giới vật chất và bối cảnh cứng nhắc của cuộc sống thức tỉnh, chỉ sử dụng hình ảnh theo tỷ lệ giá trị tình cảm của nó. Ý nghĩa tình dục của giấc mơ không phải là vô thức cũng không phải là ‘hữu thức’, [tr.444] bởi vì giấc mơ không ‘biểu nghĩa’, như cuộc sống thức tỉnh, bằng cách liên hệ một chuỗi sự kiện này với một chuỗi sự kiện khác, và thật sai lầm khi coi tình dục được kết tinh trong ‘những tái hiện vô thức’ cũng như khi coi trong sâu thẳm kẻ mơ là một ý thức gọi nó bằng tên thật của nó vậy. Tương tự, đối với kẻ yêu mà trải nghiệm đó là của gã, thì tình yêu là vô danh; nó không phải là một thứ có năng lực giới hạn và chỉ định, cũng không phải là tình yêu được nói đến trong sách báo, bởi vì đó là cách gã thiết lập mối quan hệ của mình với thế giới; nó là một biểu nghĩa hiện sinh. Kẻ phạm tội không nhận ra tội lỗi, và kẻ phản bội không nhận ra sự bội phản của mình, không phải vì chúng tồn tại sâu thẳm trong hắn như những biểu hiện hay khuynh hướng vô thức, mà vì chúng là quá nhiều thế giới khép kín, quá nhiều tình huống. Nếu ở trong một tình huống, ta bị bao vây và không thể minh bạch với chính mình, do đó tiếp xúc với bản thân chỉ có thể đạt được trong phạm vi mơ hồ.

Nhưng chẳng phải chúng ta đã đi quá xa rồi sao? Nếu ảo tưởng có thể tồn tại trong ý thức vào một số thời điểm, thì chẳng phải nó sẽ không tồn tại trong mọi thời điểm sao? Chúng ta đã nói rằng có những cảm xúc tưởng tượng mà chúng ta đủ gắn bó để trải nghiệm chúng, nhưng chưa đủ để chúng trở nên chân thực. Vậy liệu có bất kỳ sự cam kết tuyệt đối nào không? Chẳng phải bản chất của cam kết là giữ nguyên tính tự chủ của kẻ cam kết, theo nghĩa nó không bao giờ hoàn toàn, và do đó chẳng phải chúng ta không còn phương tiện nào để mô tả một số cảm xúc nhất định là chân thực nữa sao? Định nghĩa chủ thể bằng khuôn viên tồn tại, tức là theo một quá trình mà trong đó gã vượt lên chính mình, thì chắc chắn bằng chính hành động đó tuyên án gã là ảo tưởng, vì gã sẽ không bao giờ có thể bất cứ điều gì. Thông qua kiềm chế trong ý thức, để không định nghĩa thực tại theo vẻ bề ngoài, chẳng phải chúng ta đã cắt đứt những mối liên kết ràng buộc chúng ta với chính mình, và quy giản ý thức xuống trạng thái chỉ là vẻ bề ngoài của một thực tại vô hình nào đó sao? Một mặt chẳng phải chúng ta đang đối diện với tình thế tiến thoái lưỡng nan của một ý thức tuyệt đối và mặt khác là mối nghi ngờ vô tận sao? Và chẳng phải bằng việc bác bỏ giải pháp đầu tiên, chúng ta đã khiến cái Cogito Tôi Tư duy trở nên bất khả thể sao? Lời phản bác này đưa chúng ta đến điểm mấu chốt. Sẽ là không đúng khi nói rằng sự tồn tại của tôi hoàn toàn làm chủ chính nó, cũng không đúng khi nói rằng nó hoàn toàn xa lạ với chính nó, bởi vì nó là hành động hay việc làm, và bởi vì hành động, theo định nghĩa, là sự chuyển đổi mạnh mẽ từ những gì tôi có sang những gì tôi muốn có, từ những gì tôi là sang những gì tôi có ý hướng trở thành. Tôi có thể hoàn thành cái Cogito Tôi Tư duy và có sự đảm bảo về ý chí, tình yêu hoặc niềm tin chân thành, miễn là trước hết tôi thực sự có ý chí, tình yêu hoặc niềm tin, và do đó hoàn thành sự tồn tại của chính mình. Nếu không phải vậy, thì mối ngờ vực không thể xóa bỏ sẽ lan rộng khắp thế giới, và cả trong suy nghĩ của chính tôi. Tôi sẽ mãi mãi tự hỏi liệu ‘sở thích’, ‘ý chí’, ‘mong muốn’ và ‘dự án’ của tôi có thực sự là của tôi hay không, bởi vì chúng sẽ luôn có vẻ giả tạo, không có thật và không được hoàn thành. Nhưng rồi mối ngờ này, vốn không phải là một mối ngờ thực sự, thậm chí không còn đủ sức mang lại sự chắc chắn tuyệt đối của việc nghi ngờ nữa.20 Cách duy nhất để thoát ra và bước vào sự ‘chân thành’ là ngăn chặn những do dự như vậy và lao mình vào ‘hành động’ một cách mù quáng. Do đó, không phải tôi nghĩ tôi tồn tại mà tôi chắc chắn về sự tồn tại của mình: ngược lại, tính chắc chắn mà tôi có được về những suy nghĩ của mình bắt nguồn từ sự tồn tại thực sự của chúng. Tình yêu, lòng căm thù và ý chí của tôi không chắc chắn chỉ với tư cách là những suy nghĩ về việc yêu, ghét và mong muốn: ngược lại, toàn bộ tính chắc chắn của những suy nghĩ này là nhờ vào tính chắc chắn của những hành động yêu thương, căm ghét hoặc ý chí mà tôi hoàn toàn chắc chắn vì tôi thực hiện chúng. Mọi nhận thức nội tại đều không đầy đủ bởi vì tôi không phải là một đối tượng có thể được tri giác, bởi vì tôi tạo ra thực tại của mình và chỉ tìm thấy chính mình trong hành động. ‘Tôi nghi ngờ’: không có cách nào để dập tắt mọi nghi ngờ liên quan đến mệnh đề này ngoài việc thực sự nghi ngờ, tham gia vào trải nghiệm nghi ngờ, và do đó đưa sự nghi ngờ này vào tồn tại như là tính chắc chắn của nghi ngờ. Nghi ngờ luôn là nghi ngờ điều gì đó, ngay cả khi ‘nghi ngờ mọi thứ’. Tôi chắc chắn về mối ngờ của mình bởi vì tôi coi điều này hay điều kia, thậm chí mọi thứ và cả tồn tại của chính tôi nữa là đáng ngờ. Chính thông qua mối quan hệ của tôi với ‘sự vật’ mà tôi biết bản thân mình; tri giác nội tâm theo sau, và sẽ không thể có được nếu tôi không tiếp xúc với mối ngờ của mình ngay trong chính đối tượng của nó. Điều đã nói về tri giác bên ngoài cũng có thể nói về tri giác bên trong: nó bao hàm vô hạn, và là một tổng hợp không bao giờ kết thúc, mặc dù luôn không hoàn chỉnh, nhưng vẫn tự khẳng định. Nếu tôi cố gắng xác minh tri giác của mình về cái gạt tàn thuốc, thì nhiệm vụ của tôi sẽ là vô tận, bởi vì tri giác này coi nhiều hơn những gì tôi có thể biết một cách rõ ràng là điều hiển nhiên.

[Tr.446] Tương tự, nếu tôi cố gắng xác minh thực tại của sự nghi ngờ của mình, tôi sẽ lại bị cuốn vào một vòng xoáy vô tận, bởi vì tôi sẽ cần phải đặt câu hỏi đối với suy nghĩ của mình về sự nghi ngờ, sau đó là suy nghĩ về suy nghĩ đó, và cứ thế tiếp diễn. Tính chắc chắn bắt nguồn từ chính sự nghi ngờ như một hành động, chứ không phải từ những suy nghĩ này, cũng giống như tính chắc chắn về sự vật và thế giới có trước bất kỳ tri thức lý thuyết nào về các thuộc tính của chúng. Thật vậy, như đã nói, biết là biết rằng mình biết, không phải vì bậc tri thức thứ hai này đảm bảo chính tri thức, mà ngược lại. Tôi không thể tái tạo lại sự vật, nhưng vẫn có những sự vật được tri giác. Tương tự như vậy, tôi không bao giờ có thể trùng khớp với cuộc sống của mình, vốn luôn trốn chạy khỏi chính nó, bất chấp điều đó vẫn có những tri giác nội tâm. Vì lý do tương tự, tôi mở lòng đón nhận cả ảo tưởng và sự thật về bản thân: nghĩa là, có những hành động mà trong đó tôi tự tập hợp lại để vượt qua chính mình. Cái Cogito Tôi Tư duy là nhận thức về thực tế cơ bản này. Trong mệnh đề: ‘Tôi Tư duy nên tôi tồn tại’, thì hai khẳng định này phải được coi là ngang bằng nhau, nếu không sẽ không có cái Cogito Tôi Tư duy. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của sự tương đương này: không phải cái ‘Tôi là’ được chứa đựng một cách nổi bật trong cái Tôi Tư duy, không phải tồn tại của tôi được thu gọn lại thành thứ ý thức mà tôi có về nó, mà ngược lại, chính cái Tôi Tư duy được tái hòa nhập vào quá trình siêu việt của cái ‘Tôi là’, và ý thức vào tồn tại. Thật vậy, dường như cần phải thừa nhận sự trùng khớp tuyệt đối của tôi với chính mình, nếu không phải trong trường hợp ý chí và cảm xúc, thì ít nhất là trong các hành động của ‘tư duy thuần túy’. Nếu đúng như vậy, tất cả những gì chúng ta đã nói sẽ bị thách thức, do đó, thay vì chỉ là một cách tồn tại đơn thuần, tư tưởng sẽ thực sự độc chiếm chúng ta. Vì vậy, bây giờ chúng ta phải xem xét đến sự hiểu biết. Tôi nghĩ về hình tam giác, không gian ba chiều mà tam giác là thuộc về nó, phần kéo dài của một trong các cạnh của nó, và đường thẳng có thể được vẽ qua đỉnh của nó song song với cạnh đối diện, và tôi nhận thấy rằng đường thẳng này, cùng với đỉnh, tạo thành ba góc có tổng bằng tổng các góc của tam giác, và hơn nữa, bằng hai góc vuông. Tôi chắc chắn về cái kết quả mà tôi coi là đã được chứng minh; điều đó có nghĩa là cấu trúc sơ đồ của tôi không giống như những nét vẽ được đứa trẻ tùy ý thêm vào bức vẽ của nó, mà mỗi nét vẽ đều hoàn toàn biến đổi ý nghĩa (‘đó là một ngôi nhà; không, đó là một chiếc thuyền; không, đó là một người đàn ông’), một tập hợp các đường thẳng được vẽ ngẫu nhiên bằng bàn tay tôi. Quá trình từ đầu đến cuối đều hướng đến một hình tam giác. Sự hình thành của [tr.447] hình vẽ không chỉ là hình thành thực sự, mà còn là một sự hình thành có thể hiểu được; tôi xây dựng cấu trúc của mình theo các quy tắc, và khiến các thuộc tính xuất hiện trong hình vẽ—các thuộc tính là các mối quan hệ thuộc về bản chất của hình tam giác. Giống hệt đứa trẻ, tôi không tái tạo lại những gì được gợi ý bởi hình vẽ không rõ ràng thực sự có trên giấy. Tôi nhận thức được việc trình bày một bằng chứng, bởi vì tôi tri giác một mối liên hệ cần thiết giữa tập hợp dữ liệu tạo thành giả thuyết và cái kết luận mà tôi rút ra từ chúng. Chính sự cần thiết này đảm bảo rằng tôi có thể lặp lại thao tác với vô số số liệu thực nghiệm, và bản thân sự cần thiết này bắt nguồn từ thực tế là ở mỗi bước trong việc chứng minh của tôi, và mỗi lần tôi đưa ra các mối quan hệ mới, tôi vẫn ý thức được cái tam giác kia như một cấu trúc ổn định được điều kiện hóa và được chúng giữ nguyên vẹn. Đó là lý do tại sao nếu muốn, chúng ta có thể nói rằng việc chứng minh bao gồm cả việc đưa tổng các góc được tạo dựng thành hai nhóm khác nhau, và xem tổng đó luân phiên bằng tổng các góc của tam giác, và bằng hai góc vuông,21 nhưng cần phải nói thêm22 rằng ở đây chúng ta không chỉ có hai cấu hình kế tiếp nhau, cấu hình đầu tiên loại bỏ cấu hình thứ hai (như trường hợp đứa trẻ phác họa trong mơ); cấu hình đầu tiên tồn tại đối với tôi trong khi cấu hình thứ hai đang trong quá trình hình thành, tổng các góc mà tôi đồng nhất với hai góc vuông cũng giống như ở nơi khác tôi đồng nhất với tổng các góc của tam giác, tất cả điều này chỉ có thể thực hiện được miễn là tôi vượt ra ngoài cái trật tự của hiện tượng hoặc vẻ bề ngoài và tiếp cận được trật tự của eidos [Ghi chú Eidos tiếng Hy Lạp εἶδος eîdos, nghĩa là ‘cái được nhìn thấy, hình thức’, từ ngôn ngữ Nguyên Ấn-Âu ‘weyd’ ‘nhìn thấy’, so sánh với dạng hoàn thành trong tiếng Hy Lạp ‘οἶδα’ oîda ‘Tôi đã thấy’ = ‘Tôi biết’ biểu thị hình thức, hình dạng hoặc vẻ bề ngoài; thuật ngữ này đã có thể được tìm thấy trong các cuộc đối thoại Cratylus Parmenides của Plato, nơi nó thường được dịch là ‘ý niệm’; đối với Aristotle, nó trái ngược với ὕλη hýlē vật chất; trong hiện tượng học của Edmund Husserl, thuật ngữ này đại diện cho bản chất; đối với Aristotle, eidos có hai nghĩa chính: theo nghĩa phân loại logic hoặc khoa học, là loại của một chi theo nghĩa hình thức, chẳng hạn như một quả cầu bằng đồng hoặc hướng dẫn xây dựng một ngôi nhà, đối lập với vật chất, là bản chất, là hýlē của quả cầu bằng đồng này, của các thành phần xây dựng của ngôi nhà này; Eidos là một khái niệm trung tâm đối với Aristotle; trong tác phẩm Siêu hình học của mình, ông định nghĩa eidos τὸ εἶδος τὸ ἐνόν to eidos to enon ‘hình thức nội tại’ của bản chất sơ cấp hay ουσία ousia (Met. VII 11, 1037a 29-30); hình thức và vật chất là hai quan điểm về một σύνολον synolon tổng thể; không có vật thể riêng lẻ nào tồn tại mà không có vật chất; nhưng nó không thể được định nghĩa nếu không có hình thức, cái phổ quát bên trong; Frede/G. Patzig: Aristoteles Metaphysik Z, Text, Übers. und Kommentar, 2 Bde., München 1988, hier Bd. II, S. 211–214. HHN] hoặc của hiện hữu. Chân lý có vẻ bất khả trừ khi người ta có được sự tự chủ tuyệt đối trong tư duy chủ động, nếu không, nó sẽ không thể diễn ra trong một chuỗi các thao tác liên tiếp và tạo ra một kết quả có giá trị vĩnh viễn.

Sẽ không có cả tư tưởng lẫn chân lý nếu không có một hành động mà nhờ đó tôi chế ngự được sự phân tán về mặt thời gian của các giai đoạn tư duy, và sự tồn tại de facto thực tế đơn thuần của các sự kiện tinh thần của tôi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu đầy đủ bản chất của hành động này. Sự cần thiết về bằng chứng không phải là sự cần thiết phân tích: cấu trúc cho phép đạt được kết luận không thực sự nằm trong bản chất của tam giác, mà chỉ có thể thực hiện được khi bản chất đó đóng vai trò là điểm khởi đầu [tr.448]. Không có định nghĩa nào về tam giác bao gồm trước các thuộc tính sẽ được chứng minh sau đó và các bước trung gian dẫn đến chứng minh đó. Kéo dài một cạnh, vẽ một đường thẳng song song với cạnh đối diện qua đỉnh, giới thiệu định lý liên quan đến các đường thẳng song song và cát tuyến của chúng, những bước này chỉ có thể thực hiện được nếu tôi xem xét chính tam giác như nó được vẽ trên giấy, trên bảng đen hoặc trong trí tưởng tượng, với physiognomy tướng diện học của nó, sự sắp xếp cụ thể của các đường thẳng, nói tóm lại là Gestalt hình thái của nó. Phải chăng chính xác đây là bản chất hay ý tưởng về một tam giác? Ngay từ đầu, chúng ta hãy bác bỏ bất kỳ ý tưởng nào về bản chất hình thức của tam giác. Cho dù người ta có ý kiến ​​​​gì về những nỗ lực hình thức hóa, thì trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng chúng không thể cung cấp một logic sáng tạo, và không có định nghĩa logic nào về một tam giác có thể sánh được về tính phong phú với tầm nhìn về hình học, hoặc cho phép chúng ta đạt được, thông qua một loạt các thao tác hình thức, những kết luận chưa được thiết lập bằng trợ giúp trực giác. Có lẽ sẽ có người phản đối rằng điều này chỉ đề cập đến các khía cạnh tâm lý của sự khám phá, sao cho nếu sau sự kiện người ta có thể thiết lập được mối liên hệ giữa giả thuyết và kết luận mà không dựa vào trực giác, thì đó là vì trực giác không phải là trung gian tất yếu của tư duy và không có chỗ đứng trong logic. Nhưng thực tế là quá trình hình thức hóa luôn mang tính hồi tưởng chứng tỏ rằng nó không bao giờ thực sự hoàn chỉnh, và tư duy hình thức nuôi dưỡng tư duy trực giác. Nó bộc lộ những tiên đề chưa được hình thành mà người ta cho rằng lý trí dựa vào, và dường như mang lại cho lý trí một sự chặt chẽ nhất định và khám phá ra nền tảng tính chắc chắn của chúng ta; nhưng trên thực tế, nơi mà tính chắc chắn nảy sinh và nơi mà một chân lý xuất hiện luôn là tư duy trực giác, mặc dù, hay đúng hơn là chính vì, các nguyên tắc được ngầm giả định ở đó. Sẽ không có kinh nghiệm về chân lý, và không gì có thể dập tắt ‘hoạt ngôn tinh thần’ của chúng ta nếu chúng ta vi formae suy nghĩ bằng sức mạnh của hình thức, và nếu các mối quan hệ hình thức không được trình hiện cho chúng ta trước tiên dưới dạng kết tinh trong một sự vật cụ thể nào đó. Thậ chí chúng ta sẽ không thể đưa ra được một giả thuyết để suy luận các hệ quả, nếu trước hết chúng ta không coi nó là đúng. Giả thuyết là điều được cho là đúng, do đó tư duy giả thuyết giả định một số kinh nghiệm về chân lý de facto thực tế. Vậy là cấu trúc này liên quan đến cấu hình của tam giác, đến cách nó chiếm không gian, đến các mối quan hệ được thể hiện bởi các từ ‘trên’, ‘bên cạnh’, ‘đỉnh’ và ‘mở rộng’. Liệu những mối quan hệ này có cấu thành một loại bản chất vật chất của tam giác không? Nếu các từ [tr.449] ‘trên’, ‘xuyên qua’, v.v., vẫn giữ được bất kỳ ý nghĩa nào, thì đó là nhờ tôi đang làm việc trên một tam giác hữu hình hoặc tưởng tượng, nghĩa là, một tam giác ít nhất có tiềm năng nằm trong trường tri giác của tôi, được xác định theo các hướng ‘trên’ và ‘dưới’, ‘phải’ và ‘trái’, hoặc một lần nữa, như chúng ta đã chỉ ra trước đó, được ngụ ý trong sự nắm bắt chung của tôi về thế giới. Cấu trúc này làm rõ các khả tính của tam giác, được xem xét không phải dưới ánh sáng của định nghĩa, như một ý niệm thuần túy, mà như một cấu hình và với tư cách là cực mà các chuyển động của tôi hướng tới. Kết luận tất yếu xuất phát từ giả thuyết bởi vì, trong hành động xây dựng, nhà hình học đã trải nghiệm khả năng chuyển đổi. Chúng ta hãy thử mô tả hành động này rõ hơn. Chúng ta đã thấy rằng điều xảy ra rõ ràng không phải là một thao tác hoàn toàn bằng tay, sự chuyển động thực tế của bàn tay và cây bút trên giấy, bởi vì trong trường hợp đó sẽ không có sự khác biệt giữa một cấu trúc và bất kỳ tập hợp nét vẽ tùy ý nào, và sẽ không có sự chứng minh nào. Cấu trúc là một cử chỉ, có nghĩa là các nét vẽ thực tế là biểu hiện bên ngoài của một ý hướng. Nhưng ý hướng đó là gì? Tôi ‘xem xét’ hình tam giác, đối với tôi đó là một tập hợp các đường thẳng có một hướng nhất định, và nếu các từ như ‘góc’ hay ‘hướng’ có bất cứ ý nghĩa gì đối với tôi, thì đó là ở chỗ tôi đặt mình ở một điểm, và từ đó hướng tới một điểm khác, ở chỗ hệ thống các vị trí không gian cung cấp cho tôi một trường chuyển động khả thể. Như vậy, tôi nắm bắt được bản chất cụ thể của hình tam giác, không phải là một tập hợp các ‘đặc điểm’ khách quan, mà là công thức của một thái độ, một phương thức nhất định về sự nắm giữ thế giới của tôi, tóm lại là một cấu trúc. Khi tạo dựng, tôi gắn cấu trúc đầu tiên với cấu trúc thứ hai, cấu trúc ‘song song và cát tuyến’. Làm sao điều đó có thể xảy ra? Đó là bởi vì tri giác của tôi về hình tam giác không phải là cố định và chết cứng, bởi vì hình vẽ tam giác trên giấy chỉ là lớp vỏ bên ngoài của nó; nó được xuyên suốt bởi các đường sức, [lines of force là các đường cong tưởng tượng được vẽ trong không gian để minh họa hình ảnh trực quan về hướng và độ mạnh của trường lực - điện trường hoặc từ trường - tại bất kỳ điểm nào; chúng cho biết lực tác dụng lên một điện tích hoặc nam châm thử đặt trong trường - HHN] và ở khắp mọi nơi trong đó, những hướng đi mới chưa được vạch ra nhưng đã được hé lộ là khả thể. Trong chừng mực mà hình tam giác liên quan đến sự nắm giữ thế giới của tôi, nó tràn đầy những khả tính vô định mà cấu trúc thực sự được vẽ chỉ là một trong số đó. Cấu trúc này có giá trị minh chứng bởi vì tôi khiến nó xuất hiện từ công thức năng động của hình tam giác. Nó thể hiện sức mạnh của tôi để làm rõ các biểu tượng hữu hình của một sự nắm giữ nhất định đối với mọi thứ, đó là tri giác của tôi về cấu trúc của hình tam giác. Đó là một hành động của trí tưởng tượng sáng tạo chứ không phải là sự trở lại với ý tưởng vĩnh cửu [tr.450] về hình tam giác. Hệt như việc định vị các vật thể trong không gian, theo Kant, không chỉ đơn thuần là một thao tác tinh thần, mà còn là một thao tác sử dụng khả tính vận động của cơ thể,23 chuyển động tạo ra cảm giác tại điểm cụ thể trên quỹ đạo của nó, thì nhà hình học, nói chung là kẻ nghiên cứu các quy luật khách quan về vị trí, chỉ biết được các mối quan hệ mà gã quan tâm bằng cách mô tả chúng, ít nhất là về mặt tiềm năng, bằng cơ thể của mình. Chủ thể của hình học là một chủ thể vận động. Điều này có nghĩa là trước hết, cơ thể chúng ta không phải là một vật thể, cũng không phải chuyển động của nó chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian khách quan, nếu không thì vấn đề sẽ chỉ bị chuyển đổi, và chuyển động của chính cơ thể mình sẽ không làm sáng tỏ vấn đề về vị trí của sự vật, vì bản thân nó sẽ không là gì khác ngoài một vật thể. Như Kant thừa nhận, phải có một ‘chuyển động tạo ra không gian’24 đó là chuyển động có ý hướng của chúng ta, khác với ‘chuyển động trong không gian’, đó là chuyển động của sự vật và của cơ thể thụ động của chúng ta. Nhưng còn nhiều điều cần nói thêm: nếu chuyển động tạo ra không gian, chúng ta phải loại trừ khả tính mà sự vận động của cơ thể chỉ là một ‘công cụ’25 cho ý thức cấu thành. Nếu có một ý thức cấu thành, thì chuyển động của cơ thể chỉ là chuyển động khi ý thức đó nghĩ về nó xét theo khía cạnh đó;26 sức mạnh kiến tạo chỉ tái khám phá trong nó những gì nó đã đặt vào đó, và cơ thể thậm chí không phải là một công cụ theo nghĩa này: nó là một vật thể giữa các vật thể. Không có tâm lý học nào trong triết học về ý thức cấu thành. Hoặc ít nhất là không thể có điều gì hợp lệ để một tâm lý học như vậy lên tiếng, vì nó không thể làm gì khác ngoài việc áp dụng kết quả của sự phản tư phân tích vào từng nội dung cụ thể, đồng thời bóp méo chúng, vì nó tước đoạt ý nghĩa siêu nghiệm của chúng. Chuyển động của cơ thể chỉ có thể đóng một vai trò trong tri giác về thế giới nếu bản thân nó là một ý hướng tính nguyên gốc, một cách thức liên hệ chính nó với đối tượng tri thức riêng biệt. Thế giới xung quanh chúng ta không phải là một hệ thống các đối tượng mà chúng ta tổng hợp, mà là một tổng thể các sự vật, mở ra cho chúng ta, mà chúng ta tự phóng chiếu bản thân mình tới đó. “Chuyển động tạo ra [tr.451] không gian’ không triển khai quỹ đạo từ một điểm siêu hình nào đó không có vị trí trong thế giới thực, mà từ một nơi nào đó ở đây đến một nơi nào đó ở xa, những nơi này nhất thiết phải hoán đổi cho nhau. Cái dự phóng hướng tới chuyển động là một hành động, có nghĩa là nó vạch ra khoảng cách không gian-thời gian bằng cách thực sự bao phủ nó. Do đó, tư duy của nhà hình học, trong chừng mực nó nhất thiết được duy trì bởi hành động này, không trùng khớp với chính nó: nó hoàn toàn và đơn giản là siêu việt. Trong chừng mực mà, bằng cách thêm một kết cấu, tôi có thể làm sáng tỏ các thuộc tính của một tam giác, và vẫn thấy rằng hình được biến đổi như vậy không ngừng là hình ban đầu, và hơn nữa, trong chừng mực mà tôi có thể thực hiện một sự tổng hợp vẫn giữ được đặc tính tất yếu, điều này không phải vì cái kết cấu của tôi được nâng đỡ bởi một khái niệm về tam giác bao gồm tất cả các thuộc tính của nó, hoặc vì, bắt đầu từ ý thức tri giác, tôi đạt đến cái eidos thị kiến: đó là vì tôi thực hiện sự tổng hợp thuộc tính mới bằng cơ thể của mình, điều này ngay lập tức đưa tôi vào không gian, trong khi chuyển động tự chủ của nó cho phép tôi, thông qua một loạt quy trình nhất định, một lần nữa đạt đến một cái nhìn toàn diện về không gian. Tư duy hình học không hề vượt lên trên ý thức tri giác, nhưng chính từ thế giới tri giác mà tôi mượn được khái niệm bản chất. Tôi tin rằng tam giác luôn luôn đã có, và luôn luôn sẽ có, các góc có tổng bằng hai góc vuông, cũng như tất cả các thuộc tính ít rõ ràng hơn mà hình học gán cho nó, bởi vì tôi đã có trải nghiệm về một tam giác thực sự, và bởi vì, với tư cách là một vật thể vật lý, nó nhất thiết phải chứa đựng trong mình tất cả những gì nó đã từng có khả năng, hoặc sẽ có khả năng thể hiện. Trừ khi vật thể được tri giác đã mãi mãi gieo vào ta khái niệm lý tưởng về một hiện hữu đó chính là nó, thì sẽ không có hiện tượng hiện hữu, và tư duy toán học sẽ xuất hiện như một sự sáng tạo đơn thuần. Thứ mà tôi gọi là bản chất của tam giác không gì khác ngoài giả định về một sự tổng hợp hoàn chỉnh, mà chúng ta đã định nghĩa sự vật theo khuôn khổ của nó.

Cơ thể chúng ta, ở mức độ nó tự vận động, tức là ở mức độ nó không thể tách rời khỏi quan điểm về thế giới và chính là quan điểm đó được hiện thực hóa, là điều kiện của khả tính, không chỉ của sự tổng hợp hình học, mà còn của tất cả các vận hành biểu đạt và tất cả các quan điểm thu được cấu thành nên thế giới văn hóa. Khi chúng ta nói rằng tư tưởng là tự phát, điều này không có nghĩa là nó trùng khớp với chính nó; [tr.452] ngược lại, điều đó có nghĩa là nó vượt lên chính nó, và ngôn ngữ chính là hành động mà qua đó nó bất tử hóa chính nó như là chân lý. Thật vậy, rõ ràng ngôn ngữ không thể được coi là một lớp vỏ bọc cho tư tưởng, hoặc biểu đạt như là cách phiên dịch thành một hệ thống ký hiệu võ đoán, của một ý nghĩa đã rõ ràng đối với chính nó. Người ta nói đi nói lại rằng âm thanh và âm vị không có ý nghĩa tự thân, và tất cả những gì ý thức của chúng ta có thể tìm thấy trong ngôn ngữ là những gì nó đã đặt vào đó. Nhưng từ đó sẽ suy ra rằng ngôn ngữ không thể dạy chúng ta điều gì, và cùng lắm nó chỉ có thể khơi gợi trong chúng ta các cách kết hợp mới của những ý nghĩa mà chúng ta đã có. Nhưng đây chính là điều mà kinh nghiệm về ngôn ngữ bác bỏ. Đúng là giao tiếp giả định một hệ thống tương ứng như từ điển cung cấp, nhưng nó còn vượt xa hơn thế, và điều mang lại ý nghĩa cho mỗi từ chính là câu. Chính vì được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau mà từ ngữ dần dần tích lũy một ý nghĩa không thể xác định một cách tuyệt đối. Một câu nói sâu sắc hay một cuốn sách hay áp đặt ý nghĩa của chúng lên chúng ta. Do đó, chúng mang ý nghĩa đó trong mình theo một cách nào đó. Còn đối với chủ thể nói, gã cũng phải có khả năng vượt qua những gì mình đã nghĩ trước đó, và tìm thấy trong chính lời nói của mình nhiều suy tư hơn những gì mà gã đã gửi gắm vào đó, nếu không chúng ta sẽ không thấy suy tư, ngay cả những suy tư đơn độc, tìm cách thể hiện với đức kiên trì đến vậy. Do đó, lời nói là một hoạt động nghịch lý mà qua đó, bằng cách sử dụng các từ có nghĩa nhất định và những nghĩa đã có sẵn, chúng ta cố gắng theo đuổi một ý định nhất thiết phải vượt qua, sửa đổi, và cuối cùng, tự nó ổn định ý nghĩa của các từ phiên dịch ý nghĩa đó. Ngôn ngữ được cấu thành đóng vai trò hạn chế tương tự trong công cuộc biểu đạt như màu sắc trong hội họa: nếu chúng ta không có mắt, hay nói chung là các giác quan, thì sẽ không có hội họa nào cả, nhưng bức tranh ‘nói’ với chúng ta nhiều hơn việc chỉ sử dụng các giác quan có thể làm được. Do đó, bức tranh, vượt qua và vượt lên trên dữ liệu giác quan, lời nói, dữ liệu ngôn ngữ, tự bản thân nó phải sở hữu một giá trị biểu nghĩa, độc lập của bất kỳ ý nghĩa nào tồn tại cho chính nó, trong tâm trí của người xem hoặc kẻ nghe. “Bằng cách sử dụng từ ngữ như họa sĩ sử dụng màu sắc và nhạc sĩ sử dụng nốt nhạc, chúng ta đang cố gắng cấu thành, từ một cảnh tượng, một cảm xúc, hoặc thậm chí một ý tưởng trừu tượng, một loại tương đương hoặc specie loại hình có thể hòa tan trong tâm trí. Ở đây, biểu đạt trở thành điều chính yếu. Chúng ta nhào nặn và làm sống động người đọc, chúng ta khiến họ tham gia vào thế giới thi ca, sáng tạo của chúng ta, đặt vào khuôn miệng ẩn giấu trong tâm trí họ [tr.453] thông điệp về một đối tượng hoặc một cảm xúc nhất định.”27 Bên trong họa sĩ hoặc chủ thể nói, bức tranh và lời nói tương ứng không minh họa một suy tư có sẵn, mà biến suy tư đó thành của riêng họ. Đây là lý do tại sao chúng ta được dẫn dắt để phân biệt giữa một lời nói thứ cấp, diễn đạt lại một tư tưởng đã được tiếp thu, và một lời nói khởi nguồn, đưa tư tưởng đó vào tồn tại, trước hết là cho chính chúng ta, và sau đó là cho những kẻ khác. Giờ đây, tất cả những từ ngữ đã trở thành những dấu hiệu đơn thuần cho một tư tưởng duy nhất chỉ có thể làm được điều đó bởi vì trước hết chúng đã đóng vai trò là những từ ngữ khởi nguồn, và chúng ta vẫn còn nhớ được tính phong nhiêu mà chúng ta cảm nhận được, và chúng giống như một phong cảnh mới mẻ đối với chúng ta, trong khi chúng ta đang tham gia vào việc ‘tiếp thu’ chúng, và trong khi chúng vẫn còn thực hiện chức năng biểu đạt nguyên thủy. Do đó, tự chủ và sự trùng hợp với tự ngã không dùng để định nghĩa tư tưởng, trái lại, tư tưởng là kết quả của biểu đạt và luôn luôn là một ảo ảnh, bởi vì tính minh bạch của những gì được tiếp thu dựa trên hoạt động mơ hồ cơ bản đã cho phép chúng ta bất tử hóa trong chính mình một khoảnh khắc của cuộc sống thoáng qua. Chúng ta được mời gọi để nhận ra bên dưới lối tư duy đắm chìm trong những thành tựu đã đạt được, và chỉ mang lại một chỗ nghỉ ngơi ngắn ngủi trong quá trình biểu đạt bất tận, một lối tư duy khác đang tranh đấu để tự khẳng định mình, và chỉ thành công bằng cách uốn nắn các nguồn lực của ngôn ngữ đã thành tạo để sử dụng theo một cách mới mẻ nào đó. Cách vận hành này phải được coi là một thực tế tối thượng, bởi vì bất kỳ lời giải thích nào về nó—cho dù là theo chủ nghĩa kinh nghiệm, bằng cách quy giản những ý nghĩa mới thành những ý nghĩa đã cho; hay theo chủ nghĩa duy tâm, giả định một tri thức tuyệt đối tiềm ẩn trong những hình thái tri thức sơ khai nhất—đều sẽ tương đương với việc phủ nhận nó.

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

17 Scheler, Idole der Selbsterkenntis, pp. 63 and ff.

18 Scheler, Idole der Selbsterkenntis, pp. 89–95.

19 J. P. Sartre, L’Imaginaire, p. 243.

20 "....In which case, that too, that cynical distaste at her own persona, was deliberately put on! And that scorn for the distaste which she was busy contriving, was so much playacting too! And her doubt about her scorn...it was maddening. Once you started being sincere, was there no end to it?" S. de Beauvoir, L’Invitée, p. 232.

21 Wertheimer, Drei Abhandlungen zur Gestalttheorie: die Schluszprozesse im produktiven Denken.

22 A. Gurwitsch, Quelques aspects et quelques développements de la théorie de la Forme, p. 460.

23 P. Lachièze-Rey, Utilisation possible du schématisme kantien pour une théorie de la perception and Réflexions sur l’activité spirituelle constituante.

24 Lachièze-Rey, Réflexions sur l’activité spirituelle constituante, p. 132.
25 Lachièze-Rey, Utilisation possible….., p. 7.

26 ‘It must disclose intrinsically the immanence of a spatial trajectory, which alone can enable it to be thought of as motion’. Lachièze-Rey, ibid., p. 6.

27 Claudel, Réflexions sur le vers français, Positions et propositions, pp. 11–12.

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXXI)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần III. Hiện-hữu-Tự-thân và Hiện-hữu-trong-Thế-giới  

1. Cái Tôi Tư duy

[Tr.429] Tôi đang nghĩ về Cogito Cái tôi Tư duy của Descartes, khi muốn hoàn thành công trình này, khi cảm nhận sự mát lạnh của giấy dưới tay và nhìn thấy những hàng cây trên đại lộ qua cửa sổ. Cuộc sống của tôi liên tục bị cuốn vào những điều siêu việt và hoàn toàn nằm ngoài bản thân tôi. Cogito Cái tôi Tư duy hoặc là tư tưởng đã hình thành ba thế kỷ trước trong tâm trí Descartes, hoặc là ý nghĩa của những cuốn sách ông để lại cho chúng ta, hoặc là một chân lý vĩnh cửu xuất hiện từ chúng, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, nó cũng là một hiện hữu văn hóa và có thể nói rằng tư tưởng của tôi hướng tới nó hơn là ôm lấy nó, giống như cơ thể tôi, trong một môi trường quen thuộc, tìm thấy phương hướng và di chuyển giữa các khách thể mà không cần tôi phải nhớ đến chúng một cách rõ rang trong tâm trí. Cuốn sách này, một khi đã bắt đầu, không phải là một tập hợp các ý tưởng nhất định; đối với tôi, nó tạo thành một tình huống mở, mà tôi không thể nào đưa ra bất kỳ công thức phức tạp nào, và trong đó tôi vật lộn một cách mù quáng cho đến khi, kỳ diệu thay, mọi suy tư và từ ngữ tự sắp xếp lại với nhau. A fortiori huống hồ, những hình thức khả giác của hiện hữu bày ra xung quanh tôi, tờ giấy dưới tay tôi, cây cối trước mắt tôi, không tiết lộ bí mật của chúng cho tôi, mà đúng hơn là ý thức của tôi cất cánh khỏi tự thân nó, và trong chúng, lại không nhận thức được tự thân nó. Đó là tình trạng ban đầu mà chủ nghĩa hiện thực cố gắng giải thích bằng cách khẳng định một loại siêu việt thực sự và sự tồn tại trong tự thân của thế giới và ý niệm.

[Tr.430] Tuy nhiên, không có vấn đề phải biện minh cho chủ nghĩa hiện thực, và có một yếu tố chân lý cuối cùng trong sự trở lại của sự vật hoặc ý niệm với tự ngã theo quan điểm của Descartes. Chính trải nghiệm về những sự vật siêu việt chỉ có thể thực hiện được miễn là dự phóng của chúng được sinh ra và được khám phá bên trong chính tôi. Khi tôi nói rằng sự vật là siêu việt, thì điều đó có nghĩa là tôi không sở hữu chúng, tôi không đi vòng quanh chúng; chúng siêu việt đến mức tôi không biết chúng là gì, và mù quáng khẳng định sự tồn tại trần trụi của chúng. Vậy thì việc khẳng định sự tồn tại của một thứ mà người ta không biết là gì có ý nghĩa gì? Nếu lời khẳng định này có chút sự thật nào, thì đó là khi tôi thoáng thấy được bản chất hay cốt lõi mà nó quy chiếu đến, chẳng hạn như khi tôi nhìn cái cây như một ekstase trạng thái cực kỳ lặng thầm hưng phấn quy chiếu vào một sự vật riêng biệt đã bao hàm một ý tứ nhất định về việc nhìn và một suy tư nhất định về cái cây. Nói tóm lại, đó là khi tôi không chỉ đơn thuần bắt gặp cái cây, không chỉ đơn thuần đối diện với nó, mà còn khám phá ra trong sự tồn tại trước mắt mình một bản chất nhất định, một khái niệm về thứ mà tôi chủ động suy luận. Chừng nào tôi còn phát hiện ra mọi thứ xung quanh mình thì đó không thể là vì chúng thực sự có đấy, bởi vì ex hypothesi theo giả thuyết, tôi không thể biết gì về sự tồn tại thực tế này. Cái sự thật mà tôi có năng lực nhận ra nó là do sự tiếp xúc thực tế của tôi với sự vật, vốn đánh thức trong tôi một tri ​​thức nguyên thủy về vạn vật, và do các tri giác hữu hạn và xác định của tôi là những hiện thân bộ phận của một năng lực biết đồng tồn tại với thế giới và khai triển nó trong toàn bộ phạm vi và chiều sâu của nó. Nếu ta hình dung một không gian trong tự thân mà chủ thể tri giác tìm cách trùng khớp, chẳng hạn, nếu tôi hình dung bàn tay mình tri giác khoảng cách giữa hai điểm khi nó trải rộng ra, thì làm thế nào góc tạo bởi các ngón tay ta, và biểu thị khoảng cách đó, lại có thể được đánh giá, trừ khi nó được đo lường bằng thao tác bên trong của một sức mạnh nào đó không nằm trong bất kỳ khách thể nào, một sức mạnh mà, ipso facto tự thân nó, trở nên có khả năng biết, hay đúng hơn là tác động, đến mối quan hệ tồn tại giữa chúng? Nếu người ta khẳng định rằng ‘cảm giác ở ngón cái’ và ở ngón trỏ của ta ít nhất cũng là ‘dấu hiệu’ của khoảng cách, thì làm thế nào những cảm giác này lại có thể tự mình có bất kỳ phương tiện nào để biểu thị mối quan hệ giữa các điểm trong không gian, trừ khi chúng đã nằm trên một con đường chạy từ điểm này đến điểm kia, và trừ khi con đường này đến lượt nó không chỉ được các ngón tay ta lướt qua khi chúng mở ra, mà còn được ‘nhắm tới’ bởi suy nghĩ của ta theo đuổi mục đích dễ hiểu của nó? ‘Làm thế nào tâm trí có thể biết ý nghĩa của một dấu hiệu mà tự thân nó [tr.431] chưa cấu thành như một dấu hiệu?’1

Đối với bức tranh về tri thức mà chúng ta đã đạt được khi mô tả chủ thể được đặt định trong thế giới của nó, thì dường như chúng ta phải thay thế bằng một bức tranh thứ hai, theo đó chủ thể tự tạo dựng hoặc cấu thành nên tự thân cái thế giới này, và bức tranh thứ hai ấy chân thực hơn bức tranh thứ nhất, bởi vì các tương tác giữa chủ thể và sự vật xung quanh nó chỉ có thể xảy ra miễn là chủ thể trước hết tạo ra sự tồn tại cho tự thân chúng, thực sự sắp xếp chúng xung quanh mình và rút ra các tương tác đó từ cốt lõi của chính nó. Điều tương tự cũng áp dụng mạnh mẽ hơn trong các hành động tư duy tự phát. Cái cogito Tôi tư duy của Descartes, là chủ đề suy ngẫm của tôi, luôn vượt ra ngoài những gì tôi nghĩ đến vào lúc này. Nó có một chân trời ý nghĩa được tạo thành từ rất nhiều suy tư nảy sinh trong đầu tôi khi tôi đọc Descartes và giờ đây không còn hiện diện, cùng với những suy tư khác mà tôi cảm thấy đang thôi thúc trong mình, những suy tư mà tôi có thể đã có, mà chưa bao giờ thực sự phát triển chúng. Nhưng thực tế là chỉ cần thốt ra ba âm tiết này trước sự hiện diện của tôi để cho tôi ngay lập tức được hướng đến một tập hợp ý tưởng nhất định, cho thấy rằng bằng cách nào đó, tất cả các phát triển và minh định khả thể đều hiện diện cùng một lúc với tôi. ‘Bất cứ ai cố gắng giới hạn ánh sáng tâm linh vào những gì hiện diện trước tâm trí đều luôn vấp phải vấn đề của Socrates. “Làm thế nào bạn sẽ bắt đầu tìm kiếm thứ mà bản chất của nó hoàn toàn xa lạ với bạn? Trong số những thứ bạn không biết, thứ nào là thứ bạn định tìm kiếm? Và nếu tình cờ bạn tìm thấy nó, làm sao bạn biết đó thực sự là thứ đó, khi bạn không biết gì về nó?” (Meno, 80D.)2 Một tư tưởng thực sự siêu việt bởi các đối tượng của nó sẽ thấy chúng sinh sôi nảy nở trên con đường của nó mà không bao giờ có thể nắm bắt được mối quan hệ của chúng với nhau, hoặc tìm ra con đường dẫn đến chân lý của chúng. Chính tôi là kẻ tái cấu trúc cái Cogito lịch sử, chính tôi là kẻ đọc văn bản của Descartes, chính tôi là kẻ nhận ra trong đó một chân lý bất diệt, để cuối cùng cái Cogito của Descartes chỉ có được ý nghĩa của nó thông qua Cogito của chính tôi, và tôi sẽ không nghĩ đến nó nếu tôi không có trong mình tất cả những gì cần thiết để phát minh ra nó. Chính tôi là kẻ gán cho tư tưởng của mình mục tiêu khôi phục lại sự vận hành của Cogito, và chính tôi là kẻ liên tục kiểm chứng định hướng của tư tưởng mình đối với mục tiêu này, do đó tư tưởng của tôi phải đi trước chính nó trong việc theo đuổi mục tiêu này, và phải [tr.432] đã tìm thấy những gì nó tìm kiếm, nếu không nó sẽ không tìm kiếm nó. Chúng ta phải định nghĩa tư tưởng theo sức mạnh kỳ lạ mà nó sở hữu, đó là khả năng đi trước chính nó, khả năng tự khởi động và hiện diện ở khắp mọi nơi, nói tóm lại, theo tính tự chủ của nó. Trừ khi chính tư tưởng đã đưa vào sự vật những gì nó tìm thấy sau đó, nó sẽ không nắm giữ được sự vật, sẽ không nghĩ về chúng, và sẽ là một ‘ảo tưởng của tư tưởng’.3 Một tri giác khả giác hay một lập luận không thể là những sự kiện xảy ra trong tôi và tôi ghi nhận về nó. Khi tôi xem xét chúng sau sự kiện, chúng bị phân tán và phân bổ mỗi thứ vào đúng vị trí của nó. Nhưng tất cả điều này chỉ là những gì còn lại sau quá trình suy lý và tri giác, khi được xem xét đồng thời, nhất thiết, nếu không sẽ mất đi sự gắn kết, phải đồng thời bao hàm mọi thứ cần thiết cho sự hiện thực hóa của chúng, và do đó hiện diện với chính chúng mà không có khoảng cách trung gian, trong một ý hướng không thể chia cắt. Mọi suy nghĩ về một điều gì đó đồng thời là tự-ý thức, nếu không nó sẽ không thể có đối tượng. Ở gốc rễ của mọi kinh nghiệm và mọi suy ngẫm của chúng ta, chúng ta tìm thấy một hiện hữu ngay lập tức nhận ra chính mình, bởi vì đó là tri thức của nó về cả chính nó cũng như về vạn vật, và nó biết sự tồn tại của chính mình, không phải bằng quan sát, như một sự thật cho sẵn, cũng không phải bằng suy luận từ bất kỳ ý niệm nào về tự thân, mà thông qua sự tiếp xúc trực tiếp với tồn tại đó. Tự-ý thức chính là hiện hữu của tâm trí trong hành động. Hành động mà nhờ đó tôi nhận thức được một điều gì đó phải được tự nó nắm bắt ngay tại thời điểm nó được thực hiện, nếu không nó sẽ sụp đổ. Do đó, không thể tưởng tượng được rằng nó lại bị kích hoạt hoặc gây ra bởi bất cứ điều gì; nó phải là causa sui4 nguyên nhân tự thân. [Causa sui là một thuật ngữ Latinh dùng để chỉ nguyên nhân của chính nó; được sử dụng liên quan đến mục đích mà các vật thể có thể tự gán cho mình, khái niệm này là trọng tâm trong các tác phẩm của Baruch Spinoza, Sigmund Freud, Jean-Paul Sartre và Ernest Becker; trong trường hợp của Freud và Becker, khái niệm này thường được sử dụng như một vật chứa bất tử, nhờ đó một thứ gì đó có thể tạo ra ý nghĩa, hoặc tiếp tục tạo ra ý nghĩa, vượt ra ngoài vòng đời của chính nó; Norman O. Brown, trong tác phẩm nổi tiếng Life Against Death của mình, lập luận rằng phức cảm Oedipus của Freud về cơ bản là dự án causa sui – ‘cha của chính mình’ -, trong đó, sau khi đau thương nhận ra rằng chủ thể tách biệt khỏi người mẹ — lẽ ra họ phải là ‘kẻ khác’ — họ tìm kiếm tái hợp với người mẹ; trong thuyết thần học phương Tây truyền thống, mặc dù Chúa không thể được tạo ra bởi bất kỳ lực lượng hay thực thể nào khác, nhưng Ngài không thể được định nghĩa là causa sui vì điều đó sẽ ngụ ý ý tưởng phiếm thần luận của Spinoza về ‘cấu thành’, trái ngược với niềm tin của thần học kinh viện rằng Chúa không có khả năng thay đổi; Khái niệm Công giáo về Chúa là hoàn toàn độc lập và tự tồn tại theo bản chất, do đó, tuyệt đối hoàn hảo mà không có bất kỳ khả năng thay đổi nào từ muôn đời, hoàn toàn trái ngược với khái niệm phiếm thần luận về thực thể tuyệt đối hoặc thuần túy, mà tiến hóa, xác định và tự hiện thực hóa qua mọi thời gian; thay đổi hàm ý phát triển, và vì Chúa được coi là Hoàn Hảo Tuyệt Đối, nên không cần phải thay đổi nữa, Ngài chính là actus purus, hay aseity; thay vào đó, thần học tiến trình gần đây đưa khái niệm này vào trong số các thuộc tính của Chúa trong Kitô giáo. Theo Brown, Norman O. (1985). Life Against Death: The Psychoanalytical Meaning of History (Second ed.). Wesleyan University Press. p. 127; Sauvage, George (1907). Aseity. Catholic Encyclopedia, New Advent; John Panteleimon Manoussakis (2006). After God. Richard Kearney And the Religious Turn in Continental Philosophy. New York: Fordham University Press. p. 439. HHN] Quay trở lại với Descartes từ sự vật sang tư duy về sự vật là đi theo một trong hai tiến trình: hoặc là quy giản kinh nghiệm thành một tập hợp các sự kiện tâm lý, trong đó cái Tôi chỉ là tên gọi chung hoặc nguyên nhân giả định, trong trường hợp đó không rõ tồn tại của tôi chắc chắn hơn bất kỳ sự vật nào ra sao, vì nó không còn tức thời nữa, ngoại trừ tại một khoảnh khắc thoáng qua; hoặc là nhận ra trước các sự kiện có một trường và một hệ thống tư tưởng không chịu sự chi phối của thời gian hay bất kỳ giới hạn nào khác, một phương thức tồn tại không phụ thuộc vào sự kiện và đó là sự tồn tại như ý thức, một [tr.433] hành động tinh thần nắm bắt từ xa và nén vào chính nó mọi thứ mà nó nhắm tới, một ‘Tôi tư duy’ mà tự nó và không cần bất kỳ phụ ngữ nào, là một ‘Tôi là’.5 Do đó, học thuyết Descartes về Cogito chắc chắn sẽ dẫn đến khẳng định về tính bất biến của tâm trí và sự chấp nhận thứ ý thức về cái vĩnh hằng: experimur nos aeternos esse – mình trải nghiệm mình là vĩnh hằng.’6 Theo đó, cái vĩnh hằng, được hiểu là năng lực nắm bắt và dự đoán các diễn biến thời gian trong một ý hướng duy nhất, trở thành định nghĩa về chủ thể tính.7

Trước khi đặt câu hỏi liên quan đến cách diễn giải này về cái Cogito theo khuôn khổ tính vĩnh hằng, chúng ta hãy cẩn thận quan sát những gì phát sinh từ nó, vì điều này sẽ cho thấy cần phải điều chỉnh lại. Nếu Cogito tiết lộ cho tôi một phương thức tồn tại mới không phụ thuộc vào thời gian, và nếu tôi khám phá ra bản thân mình như là thành phần phổ quát của mọi hiện hữu mà tôi có thể tiếp cận, và như một trường siêu việt không có góc khuất và không giới hạn bên ngoài, thì không đủ để nói rằng tâm trí tôi, ‘khi đó là vấn đề về hình thức của tất cả các đối tượng của giác quan… là Thượng đế của Spinoza’,8 vì sự phân biệt giữa hình thức và vật chất không còn có thể được trao cho bất kỳ giá trị tối thượng nào nữa, do đó không rõ làm thế nào mà tâm trí, khi tự phản tư, bằng phân tích cuối cùng, lại có thể tìm thấy bất kỳ ý nghĩa nào trong khái niệm về khả tính tiếp nhận, hoặc tư duy về chính nó theo bất kỳ cách nào hợp lệ như đang trải qua biến đổi: vì nếu chính tâm trí tự tư duy về mình như bị ảnh hưởng, thì nó không tự tư duy về mình như vậy, vì nó khẳng định lại hoạt động của mình đồng thời với việc dường như hạn chế nó: mặt khác, chừng nào chính tâm trí tự đặt mình vào thế giới, thi nó không ở đó, và việc tự-đặt định mình là một ảo ảnh. Do đó, phải nói không chút do dự rằng, tâm trí tôi là Thượng đế. Ví dụ, làm thế nào ông Lachièze-Rey có thể tránh được hệ quả này? ‘Nếu, sau khi tạm ngừng tư duy, tôi lại tiếp tục, tôi trở lại cuộc sống, tôi tái cấu trúc, trong tính bất khả phân chia của nó, và bằng cách đặt mình trở lại cái cội nguồn mà từ đó nó tuôn chảy, thứ vận động mà tôi mang theo….Do đó, bất cứ khi nào hắn tư duy, chủ thể tự biến mình thành điểm tựa và chiếm lấy vị trí của mình, vượt ra ngoài và đằng sau các tái hiện khác nhau của hắn, trong thứ nhất tính là nguyên tắc của mọi nhận biết, không có đó để được nhận biết, và một lần nữa hắn trở thành [tr.434] cái tuyệt đối bởi vì đó là điều hắn vĩnh viễn trở thành.’9 Nhưng làm sao có thể có một vài cái tuyệt đối? Làm sao ngay từ đầu tôi có thể nhận ra những tự ngã khác (của tôi)? Nếu kinh nghiệm duy nhất của chủ thể là thứ mà tôi có được bằng cách trùng khớp với nó, nếu tâm trí, theo định nghĩa, né tránh ‘người quan sát bên ngoài’ và chỉ có thể được nhận ra từ bên trong, thì cái Cogito của tôi nhất thiết là độc nhất và không thể được ‘chia sẻ’ với kẻ khác. Chắc hẳn chúng ta nên nói rằng nó ‘có thể chuyển giao’ cho những kẻ khác.10 Nhưng sau đó, làm thế nào một cuộc chuyển giao như vậy lại có thể được thực hiện? Cảnh tượng nào có thể hợp lệ khiến tôi đặt ra bên ngoài bản thân mình phương thức tồn tại mà toàn bộ ý nghĩa của nó đòi hỏi phải được nắm bắt từ bên trong? Trừ khi tôi học được cách nhận ra sự giao thoa giữa cái cho chính nó và cái trong chính nó, thì không một cơ chế nào được gọi là các cơ thể khác có thể tồn tại; trừ khi tôi có một cái bên ngoài, mà những kẻ khác không có cái bên trong. Tính đa dạng của ý thức là không thể nếu tôi có một ý thức tuyệt đối về bản thân mình. Đằng sau cái tuyệt đối trong tư duy của tôi, thậm chí không thể phỏng đoán được một tuyệt đối linh thánh. Nếu nó hoàn hảo, thì sự tiếp xúc của tư duy tôi với chính nó sẽ tự phong bế tôi trong chính mình, và ngăn cản tôi mãi cảm thấy bất cứ điều gì cũng nằm ngoài tầm với của tôi; không có khai mở, không có ‘khát vọng’11 hướng tới một Kẻ Khác cho cái tự ngã này của tôi, vốn kiến tạo nên toàn bộ hiện hữu và hiện diện của chính nó trong thế giới, thứ được định nghĩa theo khuôn khổ ‘tự-chủ’12, và thứ không bao giờ tìm thấy bất cứ điều gì bên ngoài chính nó ngoại trừ những gì nó đã đặt vào đó. Cái tự ngã bị phong kín này không còn là một tự ngã hữu hạn nữa. ‘Có… một ý thức về vũ trụ chỉ thông qua ý thức tổ chức trước đó theo nghĩa chủ động của từ, và do đó, xét cho cùng, chỉ thông qua sự giao cảm nội tâm với chính hoạt động của thần thánh.’13 Cuối cùng, chính với Chúa mà cái Cogito đưa tôi vào sự trùng hợp. Trong khi cấu trúc dễ hiểu và có thể nhận dạng được trong kinh nghiệm của tôi, khi tôi nhận ra trong Cogito, kéo tôi ra khỏi sự kiện và thiết lập tôi trong cõi vĩnh hằng, nó đồng thời giải phóng tôi khỏi tất cả các thuộc tính hạn chế và, trên thực tế, khỏi sự kiện cơ bản đó là sự tồn tại riêng tư của tôi. Do đó, cùng một suy lý tất yếu dẫn từ sự kiện đến hành động, [tr.435] từ tư duy đến cái Tôi, cũng tất yếu dẫn từ đa tính của các cái i đến một ý thức cấu thành duy nhất, và ngăn tôi nuôi dưỡng bất kỳ hy vọng hão huyền nào về việc cứu rỗi tính hữu hạn của chủ thể bằng cách định nghĩa nó là một ‘đơn tử’.14 Ý thức cấu thành nhất thiết là duy nhất và phổ quát. Nếu cố gắng duy trì quan điểm cho rằng những gì nó cấu thành trong ta chỉ là một tiểu vũ trụ, nếu giữ nguyên ý nghĩa ‘kinh nghiệm hiện sinh’15 đối với cái Cogito, và nếu nó tiết lộ cho tôi, không phải tính minh bạch tuyệt đối của tư tưởng hoàn toàn tự chủ, mà là hành động mù quáng mà tôi đón nhận số phận của mình như một bản chất tư duy và theo đuổi nó, thì chúng ta đang giới thiệu một loại triết học khác, triết học này không đưa chúng ta ra khỏi thời gian. Cái được nhấn mạnh ở đây là nhu cầu tìm ra một tiến trình trung đạo giữa tính vĩnh hằng và thời gian nguyên tử luận của chủ nghĩa kinh nghiệm, để tiếp tục diễn giải cái Cogito Tôi Tư duy và diễn giải thời gian.

Chúng ta đã thấy rõ ràng rằng mối quan hệ của chúng ta với vạn vật không thể là vĩnh cửu, cũng như ý thức về bản thân ta không chỉ đơn thuần là sự ghi chép các sự kiện tâm linh. Chúng ta chỉ tri giác được một thế giới miễn là, trước khi trở thành những sự kiện mà chúng ta nhận biết, thế giới đó và tri giác đó là những suy tư của chính chúng ta. Điều cần được hiểu rõ ràng hơn chính là cách thức mà thế giới thuộc về chủ thể và chủ thể thuộc về chính mình, đó là cogitatio suy xét làm cho kinh nghiệm trở nên khả thể; việc chúng ta nắm giữ đối với vạn vật và đối với ‘trạng thái ý thức’ của mình. Chúng ta sẽ thấy rằng điều này không loại trừ sự kiện và thời gian, nó thực sự là phương thức cơ bản của sự kiện và Geschichte lịch sử, mà từ đó các sự kiện khách quan và phi cá nhân được hình thành, và cuối cùng, bất kỳ sự viện dẫn nào của chúng ta đến tính vĩnh hằng đều chỉ cần thiết bởi một quan niệm khách quan về thời gian. Do đó, không thể có bất kỳ nghi ngờ nào về việc tôi đang tư duy. Tôi không chắc rằng ở đằng kia có một cái gạt tàn thuốc hay một cái tẩu thuốc, nhưng tôi chắc chắn rằng tôi nghĩ mình nhìn thấy một cái gạt tàn thuốc hay một cái tẩu thuốc. Vậy liệu có dễ dàng như người ta thường nghĩ để tách rời hai khẳng định này và giữ vững, độc lập với bất kỳ phán đoán nào về vật được nhìn thấy, tính chắc chắn hiển nhiên về ‘suy nghĩ về việc nhìn thấy’ của tôi hay không? Ngược lại, điều đó là không thể. Tri giác chính là loại hành động mà trong đó không thể có chuyện tách rời hành động đó khỏi mục đích mà nó hướng tới. Tri giác và cái được tri giác nhất thiết phải có cùng một phương thức tồn tại, vì tri giác không thể tách rời khỏi ý thức mà nó có, hay đúng hơn là đang có, về việc tiếp cận chính vật thể đó. Bất kỳ lập luận nào cho rằng tri giác là không thể nghi ngờ, trong khi vật được tri giác lại không, đều phải bị loại bỏ. Nếu tôi nhìn thấy một cái gạt tàn thuốc, theo đúng nghĩa của từ ‘nhìn thấy’, thì phải có một cái gạt tàn thuốc ở đó, và tôi không thể bỏ qua khẳng định này. Nhìn thấy là nhìn thấy một cái gì đó. Nhìn thấy màu đỏ, tức là nhìn thấy màu đỏ một cách chủ động trong tồn tại. Thị giác chỉ có thể được quy giản thành giả định đơn thuần về việc nhìn thấy nếu nó được tái hiện như việc chiêm nghiệm về một quale phẩm tính biến đổi và không có điểm tựa. Nhưng nếu, như chúng ta đã chứng minh ở trên, chính bản thân phẩm tính đó, với kết cấu đặc thù của nó, là gợi ý về một cách tồn tại nhất định được đặt ra cho chúng ta, và được chúng ta đáp lại, trong chừng mực chúng ta có các trường cảm giác; và nếu việc tri giác về một màu sắc, được phú cho một cấu trúc xác định (theo cách thức là màu sắc bề mặt hoặc vùng màu), ở một vị trí hoặc khoảng cách xác định hay mơ hồ, giả định cuộc khai mở của chúng ta đối với một thực tại hoặc một thế giới, thì làm thế nào chúng ta có thể tách rời tính chắc chắn về sự tồn tại tri giác của chúng ta khỏi tính chắc chắn về đối tác bên ngoài của nó? Bản chất của tầm nhìn của tôi không chỉ đề cập đến một thực thể được cho là có thể nhìn thấy, mà còn là một thực thể thực sự được nhìn thấy. Tương tự, nếu tôi nghi ngờ về sự hiện diện của sự vật, thì mối ngờ này gắn liền với chính thị giác, và nếu không có màu đỏ hay màu xanh ở đó, tôi nói rằng tôi thực sự chưa nhìn thấy những màu này, và thừa nhận rằng chưa bao giờ có sự tương đồng giữa các ý hướng thị giác của tôi và cái khả kiến, thứ cấu thành nên hành động nhìn đích thực. Do đó, chúng ta phải đối mặt với một sự lựa chọn: hoặc tôi không có sự chắc chắn nào về bản thân sự vật, trong trường hợp đó tôi cũng không thể chắc chắn về tri giác của chính mình, được coi như một suy nghĩ đơn thuần, vì ngay cả khi được nhìn nhận theo cách này, nó cũng bao hàm sự khẳng định về một sự vật. Hoặc tôi nắm bắt suy nghĩ của mình một cách chắc chắn, điều đó bao hàm giả định đồng thời về sự tồn tại mà nó hướng tới. Khi Descartes nói rằng tồn tại của thứ khả kiến là đáng ngờ, nhưng thị giác, khi được xem như một suy nghĩ đơn thuần về việc nhìn, thì lại không có gì đáng nghi ngờ, ông đã đưa ra một lập trường không thể chấp nhận được. Bởi vì suy nghĩ về việc nhìn có thể có hai nghĩa. Trước hết, có thể hiểu theo nghĩa hẹp là thị giác được cho là có, hay ‘ấn tượng về việc nhìn thấy’, trong trường hợp đó nó chỉ mang lại tính chắc chắn về một khả tính hoặc một xác suất, và ‘suy nghĩ về việc nhìn thấy’ ngụ ý rằng trong một số trường hợp nhất định, chúng ta đã có trải nghiệm về thị giác thực sự hoặc hiện thực mà ý tưởng về việc nhìn thấy có sự tương đồng và trong đó tính chắc chắn của sự vật đã được đề cập đến trong những dịp đó.

[Tr.437] Tính chắc chắn của một khả tính không hơn gì khả tính của một tính chắc chắn, suy nghĩ về việc nhìn thấy không hơn gì việc nhìn thấy trong tâm trí, và chúng ta không thể có bất kỳ suy nghĩ nào như vậy trừ khi chúng ta đã thực sự nhìn thấy trong những dịp khác. Giờ đây, chúng ta có thể hiểu ‘suy nghĩ về việc nhìn thấy’ với tư cách là ý thức mà chúng ta có về sức mạnh cấu thành của mình. Cho dù trường hợp nào xảy ra với tri giác kinh nghiệm của chúng ta, có thể đúng hoặc sai, thì những tri giác này chỉ trở nên khả thể khi chúng được cư ngụ bởi một tâm trí có khả năng nhận ra, xác định và duy trì trước chúng ta cái đối tượng có ý hướng tính của chúng. Nhưng nếu sức mạnh cấu thành này không phải là một huyền thoại, nếu tri giác thực sự chỉ là sự mở rộng của một sức mạnh năng động bên trong mà tôi có thể đồng nhất, thì tính chắc chắn của tôi về các tiền đề siêu nghiệm về thế giới phải mở rộng đến chính thế giới, và, vì toàn bộ tầm nhìn của tôi là suy nghĩ về việc nhìn thấy, thì vật được nhìn thấy tự nó là những gì tôi nghĩ về nó, do đó chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm trở thành chủ nghĩa hiện thực tuyệt đối. Sẽ mâu thuẫn nếu khẳng định16 rằng cả cái thế giới được tôi cấu thành lẫn cái vận hành cấu thành này, tôi không thể nắm bắt được gì hơn ngoài đường viền và các cấu trúc thiết yếu; tôi phải thấy thế giới hiện tồn xuất hiện ở cuối quá trình cấu thành, chứ không chỉ là cái thế giới như một ý niệm, nếu không tôi cũng sẽ chẳng thấy gì hơn là một cấu tạo trừu tượng, chứ không phải là một ý thức cụ thể về thế giới. Do đó, dù chúng ta hiểu ‘suy nghĩ về việc nhìn thấy’ theo nghĩa nào đi nữa, nó chỉ chắc chắn chừng nào thị giác thực tế cũng chắc chắn như vậy. Khi Descartes nói với chúng ta rằng cảm giác khi được quy giản về chính nó thì luôn luôn đúng, và sai lầm len lỏi vào thông qua các diễn giải siêu nghiệm về nó do phán đoán cung cấp, ông đã tạo ra một sự phân biệt không thực tế: đối với tôi, việc biết liệu mình có cảm nhận được điều gì đó hay không cũng khó như việc biết liệu thực sự thứ gì có đó hay không, bởi vì nạn nhân của chứng hysteria cuồng loạn cảm nhận nhưng không biết mình đang cảm nhận điều gì, khi hắn tri giác các vật thể bên ngoài mà không ý thức được tri giác đó. Mặt khác, khi tôi chắc chắn rằng mình đã cảm nhận được, thì tính chắc chắn về một thứ gì đó bên ngoài liên quan đến chính cách thức mà cảm giác được diễn đạt và khai mở trước tôi: đó là một cơn đau ở cẳng chân, hoặc nó có màu đỏ, [tr.438] và đây có thể là một màu đỏ nhờ trên một mặt phẳng, hoặc một bầu khí quyển ba chiều đỏ rạng.

Việc ‘diễn giải’ những cảm giác của tôi mà tôi đưa ra nhất thiết phải có động cơ, và chỉ có thể dựa trên cấu trúc của những cảm giác đó, sao cho có thể nói một cách hợp lý rằng hoặc không có diễn giải siêu việt nào và không có phán đoán nào không bắt nguồn từ chính cấu hình của hiện tượng—hoặc không có phạm vi nội tại nào, không có cõi giới nào mà ý thức của tôi hoàn toàn an toàn và tránh khỏi mọi nguy cơ sai lầm. Hành động của cái Tôi có bản chất là chúng vượt quá chính mình, không để lại nội tại tính nào của ý thức. Ý thức là siêu việt xuyên suốt, không phải là thứ siêu việt được trải nghiệm—chúng ta đã nói rằng loại siêu việt như vậy sẽ làm cho ý thức dừng lại—mà là loại siêu việt chủ động. Ý thức mà tôi có về việc nhìn thấy hoặc cảm nhận không phải là cách ghi nhận thụ động về một sự kiện tâm lý nào đó bị phong kín trong tự thân, một sự kiện khiến tôi nghi ngờ về cái thực tại của thứ được nhìn thấy hoặc cảm nhận. Nó cũng không phải là sự kích hoạt của một sức mạnh cấu thành nào đó bao hàm một cách tột bậc và vĩnh cửu mọi thị kiến hoặc cảm giác khả thể, và liên kết với đối tượng mà không bao giờ phải tách rời khỏi chính nó. Nó là sự thực hiện thực tế của thị giác. Tôi tự trấn an mình rằng tôi nhìn thấy bằng cách nhìn thấy cái này hay cái kia, hoặc ít nhất là bằng cách làm sống động xung quanh mình một môi trường thị giác, một thế giới khả kiến mà cuối cùng chỉ được chứng thực bởi việc nhìn thấy một sự vật cụ thể. Thị giác là một hành động, không phải là một vận hành vĩnh cửu (đây là một mâu thuẫn về khuôn khổ), mà là một vận hành hoàn thành nhiều hơn những gì nó hứa hẹn, liên tục vượt ra ngoài tiền đề của nó và chỉ được chuẩn bị theo cách hướng nội bằng cách khai mở nguyên thủy của tôi đối với một lĩnh vực siêu việt, tức là, một lần nữa, bởi một trạng thái Ekstase xuất thần. [Ghi chú Ekstase Trạng thái xuất thần tiếng Hy Lạp ἔκστασις ekstasis - ở bên ngoài bản thân, sự dịch chuyển đến nơi khác – tiếp đầu ngữ ek- bên ngoài - và stasis - đứng vững, hoặc sự đối đầu của các lực lượng - là một thuật ngữ được sử dụng trong triết học hiện sinh để chỉ ‘bên ngoài tự thân’; ví dụ, ý thức của người ta không khép kín, vì kẻ đó có thể ý thức về một Kẻ Khác, nằm ngoài chính bản thân mình; theo một nghĩa nào đó, ý thức thường ‘ở bên ngoài tự thân’ ở chỗ đối tượng của nó, những gì nó suy nghĩ hoặc nhận thức, không phải là chính nó; điều đó trái ngược với thuật ngữ enstasis có nghĩa là từ ‘bên trong tự thân’ liên quan đến sự chiêm nghiệm từ quan điểm của một kẻ suy đoán; cách hiểu này về enstasis dẫn đến ví dụ về việc sử dụng ‘trạng thái xuất thần’ như là người ta có thể ‘ở bên ngoài tự thân’ theo thời gian; trong quá trình thời gian hóa, mỗi yếu tố sau đây: quá khứ - cái ‘đã từng’, tương lai - cái ‘chưa’ từng và hiện tại - cái ‘đang hiện hữu’ đều là ‘bên ngoài tự thân’ của nhau; thuật ngữ Ekstase tiếng Đức đã được Martin Heidegger sử dụng theo nghĩa này, trong tác phẩm Hữu thể và Thời gian năm 1927, ông lập luận rằng sự hiện hữu của chúng ta trong thế giới thường tập trung vào một kẻ, một nhiệm vụ hoặc một quá khứ nào đó; việc bảo ai đó ‘hãy ở lại hiện tại’ có thể tự mâu thuẫn nếu hiện tại chỉ xuất hiện như là ‘bên ngoài tự thân’ của những khả tính tương lai - Entwurf phóng chiếu của chúng ta, và những sự kiện trong quá khứ Geworfenheit bị liệng vào của chúng ta; học giả hiện sinh Alphonso Lingis viết: “Triết học hiện sinh đã định nghĩa các khái niệm mới về trạng thái xuất thần hay siêu việt để xác định một loại tồn tại riêng biệt, đó là bằng cách tự tách mình ra khỏi không gian và thời gian đã định sẵn, mà không tan biến, bởi vì ở mỗi khoảnh khắc nó tự phóng chiếu – hay nói chính xác hơn, một biến thể của chính nó – vào một không gian và thời gian khác; một tồn tại như vậy không phải là tính lý tưởng, được định nghĩa là có thể trực giác hoặc tái cấu trúc ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào; tồn tại, được hiểu theo nghĩa từ nguyên, không phải là một trạng thái hay một lập trường mà là một chuyển động, đó là bằng cách hình dung ra một sự khác biệt với chính nó hoặc một tiềm năng của chính nó và tự phóng chiếu vào sự khác biệt đó với tất cả những gì nó có”. Lingis, Alphonso (1998). The Imperative, Indiana University Press, 1998; Friesen, J. Glenn (2011). Enstasy, Ecstasy and Religious Self-reflection: A history of Dooyeweerd's Ideas of pre-theoretical experience,  (PDF) - HHN] Thị giác được đạt được và tự hoàn thiện trong vật thể được nhìn thấy. Bản chất của nó là nắm bắt chính nó, và thực sự nếu không làm như vậy thì nó sẽ không phải là thị giác của bất cứ thứ gì, nhưng bản chất của nó vẫn là nắm bắt chính nó một cách mơ hồ và khó hiểu, vì nó không sở hữu chính nó và thực sự thoát khỏi chính nó để đi vào vật thể được nhìn thấy. Điều tôi khám phá và nhận ra thông qua cái Cogito không phải là nội tại tâm lý, tính cố hữu của tất cả các hiện tượng trong ‘trạng thái ý thức riêng tư’, cuộc tiếp xúc mù quáng của cảm giác với chính nó. Nó thậm chí không phải là nội tại siêu việt, tính thuộc về của tất cả các hiện tượng đối với một ý thức cấu thành, việc sở hữu tư tưởng rõ ràng tự thân. Đó là động lực ẩn sâu của siêu việt mà chính là hiện hữu của tôi, [tr.439] cuộc tiếp xúc đồng thời với hiện hữu của chính tôi và với hiện hữu của thế giới.

Tuy nhiên, trường hợp của tri giác chẳng phải là một trường hợp đặc biệt sao? Nó mở ra cho tôi một thế giới, nhưng chỉ có thể làm được điều đó bằng cách vượt qua cả tôi và chính nó. Do đó, sự ‘tổng hợp’ tri giác phải không hoàn chỉnh; nó không thể trình bày cho tôi một ‘thực tại’ nếu không muốn mạo hiểm mắc sai lầm. Điều tuyệt đối cần thiết là sự vật, nếu nó là một sự vật, thì phải có những mặt của chính nó bị che giấu khỏi tôi, đó là lý do tại sao việc phân biệt giữa diện mạo và thực tại ngay lập tức có vị trí của nó trong sự ‘tổng hợp’ tri giác. Mặt khác, dường như ý thức lại có được các quyền và hoàn toàn làm chủ chính nó, nếu tôi xem xét nhận thức của mình về ‘các sự kiện tâm lý’. Ví dụ, tình yêu và ý chí là những vận hành nội tâm; chúng tự tạo ra những đối tượng của riêng mình, và rõ ràng là khi làm như vậy, chúng có thể bị lạc lối khỏi thực tại và, theo nghĩa đó, đánh lừa chúng ta; nhưng dường như không thể nào chúng lại đánh lừa chúng ta về chính bản thân chúng. Từ khoảnh khắc tôi cảm nhận được tình yêu, niềm vui hay nỗi buồn, thì sự thật là tôi yêu, tôi vui hoặc buồn, ngay cả khi đối tượng đó trên thực tế (tức là, đối với kẻ khác hoặc đối với chính tôi vào những thời điểm khác) không có giá trị mà tôi hiện đang gán cho nó. Xuất hiện trong tôi, chính là thực tại, và hiện hữu của ý thức nằm ở việc xuất hiện với chính nó. Ý chí là gì, nếu không phải là ý thức về một đối tượng là hợp lệ (hoặc hợp lệ chính là khi nó không hợp lệ, trong trường hợp ý chí lệch lạc), yêu thương là gì nếu không phải là ý thức về một đối tượng là đáng yêu? Và vì ý thức về một đối tượng nhất thiết bao gồm một tri thức về chính nó, nếu không có tri thức đó, nó sẽ thoát khỏi chính nó và thậm chí không thể nắm bắt được đối tượng của nó, đối với ý chí và biết rằng mình có ý chí, yêu thương và biết rằng ai đó yêu thương là một và cùng một hành động; yêu thương là ý thức về việc yêu thương, ý chí là ý thức về việc có ý chí. Một tình yêu hay một ý chí không tự nhận thức được chính mình sẽ là một tình yêu không yêu thương, hay một ý chí không ý chí, cũng như một suy nghĩ vô thức sẽ là một suy nghĩ không có tư duy. Ý chí hay tình yêu dường như giống nhau cho dù đối tượng của chúng là nhân tạo hay thực tại, và nếu xét độc lập với đối tượng mà chúng thực sự đề cập đến, chúng dường như tạo thành một phạm vi chắc chắn tuyệt đối mà trong đó chân lý không thể trốn tránh chúng ta. Như vậy, mọi thứ đều là chân lý trong ý thức. Không bao giờ có ảo tưởng nào khác ngoài ảo tưởng liên quan đến đối tượng bên ngoài. Một cảm xúc, nếu xét riêng trong chính nó, luôn luôn đúng một khi nó đã được cảm nhận. Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét vấn đề này kỹ hơn.

Trước hết, điều khá rõ ràng là chúng ta có khả năng phân biệt, [tr.440] trong chính bản thân mình, giữa cảm xúc ‘thật’ và ‘giả’, và mọi thứ chúng ta cảm nhận trong chính mình không nhất thiết phải được đặt trên một nền tảng tồn tại duy nhất, hoặc đúng theo cùng một cách, và rằng có nhiều mức độ thực tại bên trong chúng ta cũng như có, bên ngoài chúng ta, ‘hình ảnh phản chiếu’, ‘bóng ma’ và ‘sự vật’. Bên cạnh tình yêu đích thực, còn có tình yêu giả dối hoặc ảo tưởng. Trường hợp cuối cùng này phải được phân biệt với những hiểu lầm, và những sai lầm mà tôi đã lừa dối khi gán cho những cảm xúc không xứng đáng với nó cái tên tình yêu. Bởi vì trong những trường hợp như vậy, thậm chí không có một chút dấu hiệu nào của tình yêu, và chưa bao giờ trong một khoảnh khắc nào tôi tin rằng cuộc đời mình được dành cho cảm xúc đó. Tôi đã tự câu kết với chính mình để tránh đặt câu hỏi nhằm tránh nhận được câu trả lời mà tôi đã biết; việc ‘làm tình’ của tôi là một nỗ lực để làm những gì người ta mong đợi ở tôi, hoặc chỉ đơn thuần là sự lừa dối. Ngược lại, trong tình yêu sai lầm hoặc ảo tưởng, tôi tự nguyện gắn bó với người mình yêu, và trong một thời gian, cô ấy thực sự là phương tiện cho các mối quan hệ của tôi với thế giới. Khi tôi nói với cô ấy rằng tôi yêu cô ấy, không phải tôi đang ‘diễn giải’, bởi vì cuộc sống của tôi thực sự đã được định hình theo một hình thức mà, giống như một giai điệu, đòi hỏi phải được tiếp tục. Đúng là, sau khi vỡ mộng (sự thật ảo tưởng của tôi về bản thân), và khi tôi cố gắng hiểu điều gì đã xảy ra với mình, tôi sẽ tìm thấy bên dưới thứ được cho là tình yêu này một điều gì đó khác ngoài tình yêu: sự giống nhau giữa người phụ nữ ‘được yêu’ với kẻ khác, hoặc sự nhàm chán, sức mạnh của thói quen, hoặc sự đồng điệu về sở thích hay niềm tin, và chính điều này sẽ biện minh cho việc tôi nói về ảo tưởng. Tôi chỉ yêu những phẩm chất (nụ cười giống hệt nụ cười của kẻ khác, vẻ đẹp tự khẳng định như một sự thật, cử chỉ và hành vi trẻ trung) chứ không phải phong cách sống riêng biệt của kẻ đó. Và, tương ứng, bản thân tôi không hoàn toàn bị mê hoặc, vì những lĩnh vực trong quá khứ và tương lai của cuộc đời tôi đã thoát khỏi sự xâm chiếm, và tôi vẫn giữ trong mình những góc khuất dành riêng cho những thứ khác. Trong trường hợp đó, người ta sẽ phản đối rằng, hoặc là tôi không nhận thức được điều này, trong trường hợp đó, đây không phải là vấn đề của tình yêu ảo tưởng, mà là của một tình yêu đích thực đang tàn lụi — hoặc là tôi biết, trong trường hợp đó, chưa từng có tình yêu nào cả, kể cả là tình yêu ‘sai lầm’. Nhưng cả hai trường hợp đều không đúng. Không thể nói rằng tình yêu này, khi nó còn tồn tại, không thể phân biệt được với tình yêu đích thực, và nó trở thành ‘tình yêu sai lầm’ khi tôi từ bỏ nó. Cũng không thể nói rằng một cuộc khủng hoảng thần bí ở tuổi mười lăm là vô nghĩa, và khi được đánh giá độc lập trong cuộc đời sau này, nó trở thành một sự kiện của tuổi dậy thì hoặc những dấu hiệu đầu tiên của một ơn gọi tôn giáo. Ngay cả khi tôi tái cấu trúc toàn bộ cuộc đời mình dựa trên [tr.441] một số sự kiện của tuổi dậy thì, sự kiện đó vẫn không mất đi tính chất ngẫu nhiên của nó, do đó toàn bộ cuộc đời tôi mới là ‘sai lầm’. Trong chính cuộc khủng hoảng thần bí mà tôi đã trải nghiệm, hẳn phải có một đặc điểm nào đó phân biệt giữa ơn gọi và sự ngẫu nhiên: trong trường hợp đầu tiên, thái độ thần bí len lỏi vào mối quan hệ cơ bản của tôi với thế giới và những kẻ khác; trong trường hợp thứ hai, nó nằm trong chủ thể như một hình thức hành vi phi cá nhân, không có nhu cầu nội tại: ‘tuổi dậy thì’. Tương tự như vậy, tình yêu đích thực huy động mọi nguồn lực của chủ thể và liên quan đến toàn bộ con người anh ta, trong khi tình yêu sai lầm chỉ chạm đến một nhân cách: ‘gã đàn ông bốn mươi tuổi’ trong trường hợp tình yêu muộn màng, ‘kẻ lữ khách’ trong trường hợp sức hút ngoại lai, ‘ả góa phụ’ nếu tình yêu sai lầm được duy trì bởi một ký ức, ‘đứa trẻ’ khi người mẹ được nhớ đến. Tình yêu đích thực kết thúc khi tôi thay đổi, hoặc khi đối tượng của tình cảm thay đổi; tình yêu sai lầm được bộc lộ khi tôi trở lại với chính mình. Sự khác biệt là nội tại. Nhưng vì nó liên quan đến vị trí của cảm xúc trong toàn bộ sự tồn tại của tôi trên thế giới, và vì tình yêu sai lầm gắn liền với con người mà tôi tin là mình vào thời điểm tôi cảm nhận nó, và cũng vì để nhận ra bản chất sai lầm của nó, tôi cần một tri ​​thức về bản thân mà tôi chỉ có thể đạt được thông qua cuộc vỡ mộng, nên tính mơ hồ vẫn còn nguyên, đó là lý do tại sao ảo tưởng có thể xảy ra.

__________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

1 P. Lachièze-Rey, Réflexions sur l’activité spirituelle constituante, p. 134.

2 P. Lachièze-Rey, L’ldéalisme kantien, pp. 17–18.

3 P. Lachièze-Rey, L’ldéalisme kantien, p. 25.

4 Ibid., p. 55.

5 Ibid., p. 184.

6 Ibid., pp. 17–18.

7 P. Lachièze-Rey, Le Moi, le Monde et Dieu, p. 68.

8 Kant, Übergang, Adickes, p. 756, quoted by Lachièze-Rey, L’ldéalisme kantien, p. 464.

9 P. Lachièze-Rey, Réflexions sur l’activité spirituelle constituante, p. 145.

10 Id., L’Idéalisme kantien, p. 477.

11 Ibid., p. 477. Le Moi, le Monde et Dieu, p. 83.

12 L’Idéalisme kantien, p. 472.

13 Le Moi, le Monde et Dieu, p. 33.

14 As does M. Lachièze-Rey, Le Moi, le Monde et Dieu, pp. 69–70.

15 Ibid., p. 72.

16. Ví dụ, như Husserl đã thừa nhận rằng bất kỳ phép quy giản siêu nghiệm nào cũng đều đồng thời là một quy giản bản chất. Sự cần thiết phải tiến hành bằng bản chất, và tính mịt mờ dai dẳng của tồn tại, không thể được coi là sự thật hiển nhiên, mà góp phần xác định ý nghĩa của Cogito và chủ thể tối thượng. Tôi không phải là một tư tưởng cấu thành, và cái ‘Tôi tư duy’ của tôi không phải là ‘tôi là’, trừ khi bằng tư tưởng tôi có thể sánh ngang với sự phong phú cụ thể của thế giới, và tái hấp thụ tính hiện thực vào đó.