Powered By Blogger

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

B. Tương phản giữa Phân tích Thế gian của chúng ta và Diễn giải Thế giới của Descartes

Chỉ có từng bước một, khái niệm về thế gian và các cấu trúc mà hiện tượng này bao hàm mới có thể được xác định chắc chắn trong quá trình nghiên cứu của chúng ta. Diễn giải thế giới bắt đầu, trước hết, với một thực thể nào đó nằm-trong-thế-giới, do đó hiện tượng thế giới nói chung không còn được xem xét; vậy là chúng ta sẽ cố gắng làm rõ cách tiếp cận này về mặt bản thể luận bằng cách xem xét hình thức có lẽ là cực đoan nhất mà nó đã được thực hiện. Chúng ta không chỉ trình bày ngắn gọn các đặc điểm cơ bản bản thể luận ‘thế giới’ của Descartes, mà còn tìm hiểu các tiền đề của nó và cố gắng mô tả chúng dưới ánh sáng những gì cho đến nay chúng ta đã đạt được. Phần trình bày về những vấn đề này sẽ cho phép chúng ta biết được những ‘nền tảng’ bản thể luận cơ bản nào chưa được thảo luận mà các Diễn giải thế giới sau Descartes - và thậm chí còn hơn thế nữa là những giải thích trước ông - đã vận hành. Descartes coi cái extensio [Chen: Trong tiếng Latin, extensio từ động từ extendere, nghĩa là ‘xoãi ra’ là đặc điểm xác định của thực tại vật chất trong triết học của Descartes. Nó biểu thị quảng tính không gian—thuộc tính sở hữu chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Descartes đã thiết lập quảng tính/sự mở rộng như là bản chất tuyệt đối của res extensa các vật thể vật lý trong tác phẩm Principia Philosophiae (1644). Khái niệm này đã hình thành nên nền tảng nhị nguyên luận triệt để của ông, chia vũ trụ thành hai thực thể loại trừ lẫn nhau: Res extensa - Vật thể có quảng tính - thực thể vật chất. Nó hoàn toàn mang tính cơ học, có thể chia thành các phần và chiếm không gian. Res cogitans - Thực thể tư duy - thực thể phi vật chất. Nó bao gồm tâm trí hoặc linh hồn, vốn không mở rộng và không thể chia tách. Bởi vì sự mở rộng không gian là bản chất duy nhất thực sự của vật chất vật lý, Descartes cho rằng không có chân không vật lý. Đối với ông, spatium ‘không gian’ và corpus ‘thân xác’ là đồng nhất; ở đâu có quảng tính/sự mở rộng, ở đó có vật chất. HHN] sự mở rộng về cơ bản là mang tính bản thể học xác định đối với thế giới. Trong chừng mực mà sự mở rộng là một trong những thành phần cấu tạo nên tính không gian (theo Descartes, nó thậm chí còn đồng nhất với tính không gian), trong khi ở một nghĩa nào đó, tính không gian vẫn mang tính cấu thành đối với thế giới, một cuộc thảo luận về bản thể luận Cartesian [tr.123] về ‘thế giới’ cũng sẽ cung cấp cho chúng ta một sự hỗ trợ phủ định cho một giải thích khẳng định về tính không gian của môi trường và của tự thân Dasein. Liên quan đến bản thể luận của Descartes, có ba chủ đề mà chúng ta sẽ đề cập đến: 1. Định nghĩa về ‘thế giới’ như là res extensa (Mục 19); 2. Các nền tảng của định nghĩa bản thể luận này (Mục 20); 3. Thảo luận hermeneutical discussion mang tính tường giải bản thể luận Cartesian về ‘thế giới’ (Mục 21). Những cân nhắc tiếp theo sẽ không được trình bày đầy đủ chi tiết cho đến khi ‘cogito sum’ cái ‘Tôi tư duy nên tôi tồn tại’ bị phá hủy về mặt hiện tượng luận. (Xem Phần Hai, Mục 2.) 1

19. Định nghĩa về ‘Thế giới’ như là res extensa

Descartes phân biệt ‘ego cogito’ cái Tôi tư duy với ‘res corporea’.[Chen: Đối với Descartes, res corporea nghĩa là ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’ đề cập đến vật lý, vật chất; về cơ bản ông coi nó tương đương với res extensa – ‘vật thể có kích thước’, định nghĩa bản chất cốt lõi của nó hoàn toàn là sự mở rộng trong không gian - có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu - chứ không phải thông qua các thuộc tính cảm giác như màu sắc hay trọng lượng. Trong tác phẩm Meditationes de Prima Philosophia Trầm tư về Triết học đầu tiên, Descartes đã thiết lập một nhị nguyên luận bản thể học triệt để, đối lập res corporea với res cogitans ‘vật thể tư duy’ hay tâm trí/linh hồn phi vật chất. Trong khi res corporea có thể phân chia, chiếm lĩnh không gian và tuân theo các định luật cơ học của vật lý, thì res cogitans không thể phân chia và không có bất kỳ chiều kích vật lý nào. Descartes cho rằng vì ông có thể hình dung một cách rõ ràng và riêng biệt về tâm trí của mình như một thực thể tư duy không có kích thước mà không cần đến cơ thể, nên hai thực thể này phải thực sự khác biệt. HHN] Sự phân biệt này sau đó sẽ mang tính quyết định về mặt bản thể luận đối với sự phân biệt giữa ‘Tự nhiên’ và ‘tinh thần’. Cho dù sự đối lập giữa ‘Tự nhiên’ và ‘tinh thần’ có được thiết lập về mặt bản thể luận với bao nhiêu biến thể về nội dung đi nữa, thì nền tảng bản thể luận của nó, và thực sự là chính các cực của sự đối lập này, vẫn chưa được làm rõ; tính không rõ ràng này có nguồn gốc gần gũi từ sự phân biệt của Descartes. Ông hiểu gì về Bản thể khi định nghĩa Bản thể của những thực thể này? Thuật ngữ chỉ Bản thể của một thực thể tự nó là ‘substantia’. [Chen: Trong các tác phẩm triết học tiếng Latinh của René Descartes khái niệm ‘substantia’ bản chất được định nghĩa là bất kỳ thực thể nào tồn tại theo cách mà nó không cần bất cứ thứ gì khác để tồn tại. Descartes lập luận rằng, theo nghĩa đen nghiêm ngặt, chỉ có Thượng đế mới là một bản chất vô hạn, tự tồn tại. Tuy nhiên, ông cho phép hai loại bản chất được tạo ra chỉ cần sự đồng thuận của Thượng đế để tồn tại, hoàn toàn khác biệt và độc lập với nhau là: i) Res Cogitans Bản chất Tư duy - Tâm trí hoặc linh hồn, thuộc tính thiết yếu hoặc đặc tính chính của nó là tư duy. Nó phi vật chất, không thể phân chia và không có kích thước; ii) Res Extensa Bản chất Mở rộng - Thân thể vật chất, thuộc tính thiết yếu của nó là sự mở rộng - chiếm không gian theo chiều dài, chiều rộng và chiều sâu. Nó là vật chất, có thể phân chia vô hạn và hoàn toàn mang tính cơ học. Trong khuôn khổ của Descartes, mọi thứ khác chỉ là một hình thức - một thuộc tính, hình dạng hoặc trạng thái cụ thể - của một trong hai bản chất cơ bản này. Ví dụ, hình dạng cụ thể của một tảng đá hoặc chuyển động của một chi là những hình thức của vật chất có quảng tính, trong khi cảm giác buồn bã hoặc nghi ngờ là những hình thức của vật chất tư duy. HHN] Đôi khi biểu thức này có nghĩa là Bản thể của một thực thể như là chất, bản chất; những lúc khác nó có nghĩa là chính thực thể đó, một chất. Việc ‘substantia’ được sử dụng theo hai cách này không phải là ngẫu nhiên; Điều này đã đúng với quan niệm cổ xưa về οὐσία ousia. [Chen: Trong tiếng Hy Lạp cổ, οὐσία nghĩa đen là ‘TÍNH LÀ’ bản thể’ hoặc ‘cái thuộc về chính mình’. Từ οὐσία ousía có nguồn gốc οὖσα oûsa, phân từ hiện tại giống cái của εἰμί eimí, có nghĩa là ‘là’. Kết hợp với hậu tố -ία, nó có nghĩa đen là ‘hiện hữu’ hoặc ‘tồn tại’. Đây là một thuật ngữ triết học cốt lõi được dịch là bản chất, thực thể, hoặc sự tồn tại đích thực. Nó mô tả bản chất cơ bản của một sự vật—cái mà nó thực sự là/có ở cốt lõi. Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi suốt lịch sử với hai bối cảnh chính: Triết học: Plato và chủ yếu là Aristotle đã sử dụng ousia để định nghĩa bản chất cơ bản của một thực thể—cái còn lại khi tất cả các thuộc tính ngẫu nhiên hoặc theo ngữ cảnh bị loại bỏ. Thần học Kitô giáo thời kỳ đầu đã sử dụng nó để định nghĩa bản chất của thần thánh, đặc biệt là trong Kinh Tin Kính Nicea mô tả Chúa Cha và Chúa Con là homoousios - cùng một bản thể. Nó cũng được sử dụng theo nghĩa vật chất để chỉ tài sản, của cải hoặc điền sản. HHN]

Để xác định bản chất của res corporea ‘vật thể hữu hình’ hoặc ‘vật thể có thân xác’ về mặt bản thể học, chúng ta phải làm rõ bản chất của thực thể này như một bản chất—nghĩa là, tính chất thực thể của nó. Điều gì tạo nên cái Hữu-thể-tự-thân đích thực [An-ihm-selbstsein] của res corporea? Làm thế nào có thể nắm bắt được một bản chất theo đúng nghĩa, nghĩa là, nắm bắt được tính thực thể của nó? “Et quidem ex quolibet attributo substantia cognoscitur; sed una tamen est cuiusque substantiae praecipua propetas, quae ipsius naturam essentiamque constituit, et ad quam aliae omnes rejeruntur.”iii “Các chất có thể tiếp cận được trong ‘đặc tính’ của chúng, và mọi chất đều có một số thuộc tính riêng biệt mà từ đó có thể đọc được bản chất của tính thực thể của bản chất xác định đó. Đây là thuộc tính nào trong trường hợp res corporea? “Nempe extensio in longum, latum et profundum, substantiae corporeae naturam constituit.”iv Quảng tính - cụ thể là về chiều dài, chiều rộng và chiều dày - tạo nên Hữu thể thực sự của chất vật chất/thân xác mà chúng ta gọi là ‘thế giới’. Điều gì mang lại cho quảng tính này vị thế đặc biệt? “Nam omne aliud quod corpori tribuipotest, extensionem praesupponit…”v Quảng tính là một trạng-thái-của-Hữu-thể cấu thành nên cái thực thể mà chúng ta đang nói đến; đó là [tr.124] cái phải ‘tồn tại’/‘là’ trước bất kỳ cách thức nào khác mà Hữu thể được xác định, để những cách thức này có thể ‘tồn tại’/‘là’ như chúng vốn có. Quảng tính phải được ‘gán’ chủ yếu cho Vật thể vật chất. Quảng tính và tính thực thể của ‘thế giới’ (bản thân nó được đặc trưng bởi quảng tính) do đó được chứng minh bằng cách thức tất cả các đặc điểm khác mà bản chất này chắc chắn sở hữu (đặc biệt là divisio/phân chia, figura/hình thể, motus/vận động), chỉ có thể hình dung là modi/phương thức extensio/quảng tính, mặt khác, extensio sine figura vel motu quảng tính không có hình thể vẫn hoàn toàn có thể hiểu được.

Do đó, một Vật thể hữu hình duy trì toàn bộ quảng tính của nó vẫn có thể trải qua nhiều thay đổi về các cách thức mà phần mở rộng đó được phân bổ theo các chiều kích khác nhau và có thể tự thể hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau với tư cách là một và cùng một Vật thể. “…atque unum et idem corpus, retinerulo suam eandem quantitatem, pluribus diversis modis potest extendi: nunc scilicet magis secundum longitudinem, minusque secundum latitudinem vel profunditatem, ac Paulo post e contra magis secundum latitudinem, et minus secundum longitudinem.”vi “…và cùng một vật thể, trong khi vẫn giữ nguyên khối lượng, có thể được mở rộng theo nhiều cách khác nhau: giờ đây cụ thể là, chiều dài tăng lên, và chiều rộng hoặc chiều sâu giảm đi, và một thời gian sau, ngược lại, chiều rộng tăng lên, và chiều dài giảm đi.”vi Hình dạng là một modus phương thức của extension mở rộng, và motus chuyển động cũng vậy: vì motus chỉ được nắm bắt “si de nullo nisi locali cogitemus, ac de vi a qua excitatur… non inquiramus”.vii Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến chuyển động vị trí mà không tìm hiểu lực nào gây ra nó… vii Nếu chuyển động là một thuộc tính của res corporea, và là một thuộc tính vẫn tồn tại, thì để nó có thể được trải nghiệm trong Hữu thể của nó, nó phải được hình dung trong khuôn khổ Hữu thể của chính thực thể này, trong khuôn khổ extensio mở rộng; điều này có nghĩa là nó phải được hình dung như là sự thay đổi vị trí đơn thuần. Vì vậy, không có gì giống như ‘lực’ có giá trị đến đâu trong việc xác định Hữu thể của thực thể này là gì. Vật chất có thể có những đặc điểm xác định như độ cứng, trọng lượng và màu sắc; nhưng tất cả những điều này có thể bị loại bỏ khỏi nó, và nó vẫn là chính nó. Những điều đó không tạo nên Hữu thể thực sự của nó; và trong chừng mực chúng tồn tại, chúng trở thành các phương thức của extensio mở rộng. Descartes cố gắng thể hiện điều này một cách chi tiết liên quan đến ‘độ cứng’: “Nam, quantum ad duritiem, nihil aliud de illa sensus nobis indicat, quam partes durorum corporum resistere motui manuum nostrarum, cum in illas incurrant. Si enim, quotiescunque manus nostrae versus aliquam partem moventur, corpora omnia ibi existentia recederent eadem celeritate qua illae accedunt, nullam unquam duritiem sentiremus. Nee ullo modo potest intelligi, corpora quae sic recederent, idcirco naturam corporis esse amissura; nee proinde ipsa in duritie consistit”.viii “Về độ cứng, giác quan không cho chúng ta biết gì khác ngoài việc các bộ phận của vật thể cứng chống lại sự chuyển động của tay chúng ta khi chạm vào chúng. Bởi vì nếu, bất cứ khi nào tay chúng ta di chuyển về phía một phần nào đó, thì tất cả các vật thể tồn tại ở đó đều lùi lại với cùng tốc độ như khi chúng tiến đến, chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy bất kỳ độ cứng nào. Cũng không thể hiểu theo bất kỳ cách nào ở chỗ là các vật thể lùi lại theo cách này sẽ mất đi bản chất của một vật thể; và do đó, nó cũng không cấu thành nên độ cứng.”viii

Độ cứng chắc được trải nghiệm khi người ta cảm nhận bằng xúc giác. Tri giác bằng xúc giác ‘bảo’ cho chúng ta điều gì về nó? Các bộ phận của Vật thể cứng chắc ‘chống lại’ chuyển động của bàn tay, chẳng hạn như nỗ lực đẩy nó ra. Tuy nhiên, nếu các vật thể cứng rắn, những vật thể không bị biến dạng, thay đổi vị trí với cùng vận tốc như bàn tay ‘chà’ vào chúng, thì sẽ không có gì bị chạm vào, và độ cứng chắc sẽ không được trải nghiệm và do đó sẽ không bao giờ tồn tại. Nhưng thật khó hiểu khi các vật thể chịu khuất phục với vận tốc như vậy lại đánh mất bất kỳ [tr. 125] Hữu thể vật chất nào của chúng. Nếu chúng vẫn giữ được trạng thái này ngay cả khi vận tốc thay đổi khiến cho bất cứ thứ gì giống như độ ‘cứng chắc’ không thể tồn tại, thì độ cứng chắc không thuộc về Bản thể của các thực thể thuộc loại này. “Eademque ratione ostendi potest, et pondus, et colorem, et alias omnes eiusmodi qualitates, quae in materia corporea sentiuntur, ex ea tolli posse, ipsa integra remanente: unde sequitur, a nulla ex illis eius (sc. extensionis) naturam dependere”.ix “Và bằng lý lẽ tương tự, người ta có thể chứng minh rằng trọng lượng, màu sắc và tất cả các thuộc tính khác thuộc loại này, được tri giác trong vật chất hữu hình, có thể bị loại bỏ khỏi nó, trong khi bản thân nó vẫn còn nguyên vẹn: từ đó suy ra rằng bản chất (về kích cỡ) của nó không phụ thuộc vào bất kỳ thuộc tính nào trong số đó.”ix Như vậy, cái cấu thành nên Hữu thể của vật thể hữu hình là sự mở rộng/kích cỡ: cái có thể omnimodo divisibile, figurabile et mobile tự biến đổi, phân chia, định hình hoặc di chuyển theo bất kỳ cách nào, cái capax mutationum có khả năng tự duy trì qua tất cả những thay đổi này. Trong bất kỳ Vật thể hữu hình nào, thực thể thực sự là cái phù hợp để duy trì sự bất biến như vậy, đến mức, thực sự đây là cách đặc trưng cho tính thực thể của một bản chất như vậy.

20. Nền tảng của Định nghĩa Bản thể học về ‘Thế giới’

Tính thực thể là ý niệm về Hữu thể mà đặc điểm bản thể học của res extensa gợi nhớ lại. “Per substantiam nihil aliud intelligere possumus, quam rem quae ita existit, ut nulla alia re indigeat ad existendum.” “Bằng bản chất, chúng ta không thể hiểu gì khác ngoài một thực thể tồn tại theo cách mà nó không cần bất kỳ thực thể nào khác để tồn tại.”x Cái Hữu thể của một ‘bản chất’ được đặc trưng bởi việc không cần bất cứ thứ gì. Thứ mà Hữu thể của nó không cần bất kỳ thực thể nào khác thì thỏa mãn ý niệm về bản chất theo nghĩa đích thực; thực thể này là ens perfectissimum thực thể hoàn hảo nhất. “…substantia quae nulla plane re indigeat, unica tantum potest intelligi, nempe Deus…xi “một thực thể rõ ràng không cần gì cả chỉ có thể được hiểu là một thứ duy nhất, đó chính là Thiên Chúa..”xi Ở đây ‘Thiên Chúa’ là một thuật ngữ thuần túy bản thể học, nếu nó được hiểu là ens perfectissimum thực thể hoàn hảo nhất. Đồng thời, ý nghĩa ‘hiển nhiên’ của khái niệm Thiên Chúa cho phép một cách diễn giải bản thể luận về đặc điểm không cần bất cứ thứ gì - một yếu tố cấu thành trong tính bản chất.      

“Alias ​​vero omnes (res), non nisi ope concursus Dei existere posse percipimus.”xii Nhưng chúng ta nhận thấy rằng mọi thứ khác chỉ có thể tồn tại nhờ sự đồng thuận của Thiên Chúa.xii Tất cả các thực thể khác ngoài Thượng đế đều cần được ‘sản sinh’ theo nghĩa rộng nhất và cũng cần được duy trì. ‘Hữu thể’ cần được hiểu trong một chân trời trải dài từ việc sản sinh ra những gì present-at-hand hiện-diện-vô-tri đến những thứ không cần được sản sinh. Mỗi thực thể không phải là Thiên Chúa đều là một ens creatum thực thể được tạo ra. Cái Hữu thể thuộc về một trong những thực thể này khác biệt ‘vô hạn’ với sự tồn tại thuộc về thực thể kia; tuy nhiên, chúng ta vẫn coi sự sáng tạo và đấng tạo hóa như nhau với tư cách là các thực thể. Do đó, chúng ta đang sử dụng ‘Hữu thể’ theo nghĩa rộng đến mức ý nghĩa của nó bao hàm một sự khác biệt ‘vô hạn’. Vì vậy, ngay cả các thực thể được tạo ra cũng có thể được gọi là ‘bản chất’ một cách chính đáng. Dĩ nhiên, so với Thiên Chúa, những thực thể này cần được tạo ra và duy trì; nhưng trong phạm vi các thực thể được tạo ra – ‘thế giới’ theo nghĩa của ens creatum thực thể được tạo ra - có những thứ ‘không cần đến bất kỳ thực thể nào khác’ [tr.126] so với sự tạo ra và duy trì của tạo vật mà chúng ta thấy, chẳng hạn, ở con người. Trong số các bản chất này có hai loại: res cogitans Thực thể tư duy và res extensa Thực thể có quảng tính.

Cái Hữu thể của bản chất mà thuộc tính đặc trưng của nó được thể hiện bởi extensio quảng tính do đó thành ra có thể định nghĩa được về nguyên tắc bản thể luận nếu chúng ta làm rõ ý nghĩa của Hữu thể ‘chung’ cho ba loại bản chất, mà một trong số đó là vô hạn, hai loại còn lại đều hữu hạn. Nhưng “…nomen substantiae non convenit Deo et illis univoce ut dici solet in Scholis, hoc est…quae Deo et creaturis sit communis.”xiii “…tên gọi của bản chất không thuộc về Thiên Chúa và chúng - theo cách duy nhất, như thường được nói trong các trường phái, tức là…cái có chung với Thiên Chúa và các tạo vật.xiii Ở đây Descartes đề cập đến một vấn đề mà bản thể học thời trung cổ thường bận tâm – câu hỏi về cách thức ý nghĩa của ‘Hữu thể’ biểu thị bất kỳ thực thể nào mà người ta có thể đang xem xét. Trong các khẳng định ‘Chúa là’ và ‘thế giới là’, chúng ta khẳng định Hữu thể. Tuy nhiên, từ ‘là’ này không thể được hiểu là áp dụng cho các thực thể này theo cùng một nghĩa (συνώνυμος, đồng nghĩa), khi giữa chúng có sự khác biệt vô hạn về Hữu thể; nếu ý nghĩa của ‘là’ mang tính đơn nghĩa, thì cái được tạo ra sẽ được xem như thể nó không được tạo ra, hoặc cái không được tạo ra sẽ được quy giản thành trạng thái của một cái gì đó được tạo ra. Nhưng ‘Hữu thể’ cũng không chỉ đơn thuần là một cái tên giống nhau trong cả hai trường hợp: trong cả hai trường hợp, ‘Hữu thể’ đều được hiểu. Ý nghĩa khẳng định mà ‘Hữu thể’ biểu thị là một ý nghĩa mà các triết gia trường phái Kinh viện coi là một ý nghĩa ‘tương tự’, khác với ý nghĩa đơn nghĩa hoặc chỉ đơn thuần là đồng âm. Xuất phát từ Aristotle, mà ở ông vấn đề này đã được báo trước dưới dạng nguyên mẫu ngay từ đầu của bản thể học Hy Lạp, họ đã thiết lập nhiều loại tương tự khác nhau, đến nỗi ngay cả các ‘Trường phái’ cũng có những cách khác nhau để hiểu chức năng biểu thị của ‘Hữu thể’. Trong việc giải quyết vấn đề bản thể học này, Descartes luôn đi sau các triết gia trường phái kinh viện;xiv thực tế ông đã né tránh câu hỏi. “…nulla eius (substantiae ) nominis significatio potest distincte intelligi, quae Deo et creaturis sit communis.”xv “…không thể hiểu rõ ràng ý nghĩa của cái tên (bản chất) đó, vốn là ý nghĩa chung cho cả Thiên Chúa và tạo vật.”xv Sự né tránh này tương đương với việc ông không thảo luận về ý nghĩa của Hữu thể mà ý niệm về tính thực thể bao hàm, hoặc đặc điểm của ‘tính phổ quát’ vốn thuộc về ý nghĩa này. Dĩ nhiên, ngay cả bản thể luận của thời trung cổ cũng không tiến xa hơn bản thể luận của thời cổ đại trong việc tìm hiểu ý nghĩa của ‘Hữu thể’ tự thân. Vì vậy, không hề ngạc nhiên nếu không có tiến triển nào với một câu hỏi như về cách thức mà trong đó ‘Hữu thể’ biểu thị, chừng nào điều này vẫn phải được thảo luận trên cơ sở của một ý nghĩa chưa được làm rõ về Hữu thể mà ý nghĩa này ‘thể hiện’. Cái ý nghĩa vẫn chưa được làm rõ bởi vì nó được coi là ‘hiển nhiên’.

Descartes không chỉ hoàn toàn né tránh câu hỏi bản thể luận về substantiality tính thực chất; ông còn nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng bản chất theo đúng nghĩa - tức là tính thực chất của nó - tự thân nó là không thể tiếp cận được ngay từ đầu. “Verumtamen non potest substantia primum animadverti ex hoc solo, [tr.127] quod sit res existens, quia hoc solum per se nos non afficit…”.xvi “Tuy nhiên, bản chất không thể được quan sát lần đầu chỉ từ điều này, ở chỗ nó là một vật hiện tồn, bởi vì chỉ riêng điều này thôi thì không ảnh hưởng đến chúng ta…”xvi Bản thân ‘Hữu thể’ không ‘ảnh hưởng’ đến chúng ta, và do đó không thể được tri giác. ‘Hữu thể không phải là một vị ngữ Thực tại,’ Kant nói,2 ông chỉ đơn thuần lặp lại nguyên tắc của Descartes. Do đó, khả tính của một vấn đề thuần túy về Hữu thể theo nguyên tắc phải bị từ bỏ, và một cách thức được tìm kiếm để đạt được những đặc điểm xác định của bản chất mà chúng ta đã chỉ ra ở trên. Bởi vì ‘Hữu thể’ thực tế không thể tiếp cận được như một hiện hữu, nó được thể hiện thông qua các thuộc tính - những đặc điểm xác định của các thực thể đang được xem xét, những đặc điểm tạo nên bản thân chúng.3 Hữu thể không chỉ được thể hiện thông qua bất kỳ đặc điểm nào như vậy, mà còn thông qua những đặc điểm đáp ứng một cách thuần túy nhất ý nghĩa của ‘Hữu thể’ và ‘tính thực chất’, vốn vẫn được ngầm giả định. Đối với substantia finite thực thể hữu hạn với tư cách res corporea ‘vật thể hữu hình’, điều đầu tiên phải được ‘gán cho’ chính là the extensio cái quảng tính. “Quin et facilius intelligimus substantiam extensam, vel substantiam cogitantem, quam substantiam solam, omisso eo quod cogitet vel sit extensa” “Và chúng ta dễ dàng hiểu một thực thể có quảng tính, hay một thực thể có khả năng tư duy, hơn là một bản chất đơn thuần, bất kể thực thể đó có tư duy, có quảng tính không.”xvii vì tính thực chất với lý do ratione tantum có thể tách rời; realiter thực ra lại không thể tách rời, không thể bắt gặp nó theo cách chúng ta bắt gặp chính những thực thể đó vốn tồn tại về thực chất.           

Do đó, cơ sở bản thể luận để định nghĩa ‘thế giới’ là res extensa vật thể có quảng tính đã được làm rõ: chúng nằm ở ý niệm về tính thực chất, vốn không chỉ không được làm rõ về ý nghĩa Hữu thể của nó, mà còn được coi là thứ không thể làm rõ, và được thể hiện một cách gián tiếp thông qua bất kỳ thuộc tính bản chất nào thuộc về bản chất cụ thể đó một cách nổi bật nhất. Hơn nữa, theo cách định nghĩa một bản chất thông qua một thực thể thực chất nào đó, nằm ở lý do tại sao thuật ngữ ‘bản chất’ được sử dụng theo hai cách. Cái được đề cập ở đây là tính thực chất; và nó được hiểu theo nghĩa là một đặc tính của bản chất - một đặc tính vốn tự nó là một thực thể.4 Bởi vì một cái gì đó thuộc về ontic thực hữu được tạo ra để làm nền tảng cho cái gì đó thuộc về cái bản thể luận, nên thuật ngữ substantia ‘bản chất’ đôi khi lại vận hành với một ý nghĩa vốn mang tính bản thể luận, đôi khi với một ý nghĩa lại vốn thuộc về ontic thực hữu, nhưng chủ yếu là với một ý nghĩa mơ hồ vốn thuộc về thực hữu- bản thể luận. Tuy nhiên, đằng sau sự khác biệt nhỏ về ý nghĩa này, ẩn chứa một sự thất bại trong việc nắm vững vấn đề cơ bản của Hữu thể. Để xử lý vấn đề này một cách thỏa đáng, chúng ta phải ‘truy tìm’ các tính trạng mơ hồ theo đúng cách. Ai cố làm điều này thì không chỉ ‘bận rộn’ với ‘ý nghĩa đơn thuần bằng ngôn từ’, mà còn phải tiến tới vấn đề nguyên thủy nhất của ‘chính bản thân sự vật’ để làm sáng tỏ những ‘sắc thái’ như vậy.

21. Phép tường giải Bản thể luận của Descartes về ‘Thế giới’

[Tr.128] Vậy là nảy sinh câu hỏi có tính quyết định: liệu bản thể luận về ‘thế giới’ này có tìm kiếm hiện tượng của thế giới hay không, và nếu không, thì liệu ít nhất nó có định nghĩa một thực thể nào đó bên-trong-thế-giới một cách đầy đủ để liệu xem bản chất trần thế của thực thể này có thể được thể hiện rõ ràng trong đó không? Đối với cả hai câu hỏi, chúng ta phải trả lời ‘Không’. Cái thực thể mà Descartes đang cố gắng nắm bắt về mặt bản thể luận và nguyên tắc với cái ‘extensio’ quảng tính của ông, đúng hơn là một thực thể mà trước hết chỉ có thể được khám phá thông qua một thực thể bên- trong-thế-giới, một thực thể gần gũi và sẵn-có-để-dùng là Tự nhiên. Mặc dù vậy, và mặc dù bất kỳ đặc điểm bản thể luận nào của thực thể bên trong thế giới này có thể dẫn chúng ta đến sự mơ hồ, ngay cả khi chúng ta xem xét cả ý niệm về bản chất và ý nghĩa của cái nó ‘existit’ tồn tại và ‘ad existendum’ ‘để tồn tại’ vốn đã được đưa vào định nghĩa của ý niệm đó, vẫn có khả năng là thông qua một bản thể luận dựa trên sự phân tách triệt để giữa Chúa, cái ‘Tôi’ và ‘thế giới’, vấn đề bản thể luận của thế giới sẽ được hình thành và phát triển hơn nữa theo một nghĩa nào đó. Tuy nhiên, nếu điều này không thể, thì chúng ta phải chứng minh một cách rõ ràng không chỉ ở chỗ quan niệm của Descartes về thế giới là khiếm khuyết về mặt bản thể luận, mà còn về việc Diễn giải của ông và những nền tảng mà nó dựa vào đã khiến ông bỏ qua cả hai điều đó. Hiện tượng về thế giới và cái Hữu thể của những thực thể trong thế giới đó, những thực thể vốn luôn sẵn có và dễ tiếp cận.

Trong phần trình bày về vấn đề thế giới (Mục 14), chúng tôi đã gợi ý tầm quan trọng của việc tiếp cận đúng đắn hiện tượng này. Vì vậy, khi phê phán quan điểm xuất phát của Descartes, chúng ta phải hỏi loại Hữu thể nào thuộc về Dasein mà chúng ta nên tập trung vào để làm cơ sở cho việc tiếp cận những thực thể mà Descartes đồng nhất Hữu thể của ‘thế giới’ với Hữu thể của nó với tư cách là extensio quảng tính. Cách tiếp cận chân chính duy nhất đối với chúng nằm ở tri thức [Erkennen], intellectio trí lực, theo nghĩa của loại tri thức [Erkenntnis] mà chúng ta có được trong toán học và vật lý. Descartes coi tri thức toán học là cách duy nhất để nắm bắt các thực thể vốn luôn đảm bảo rằng Hữu thể của chúng đã được nắm bắt một cách chắc chắn. Nếu bất cứ điều gì có thể sánh ngang với Hữu thể có thể tiếp cận được trong tri thức toán học về mặt Hữu thể của chính nó, thì đó là theo nghĩa xác thực. Những thực thể như vậy là những thực thể luôn luôn là chính chúng. Theo đó, những gì có thể được chứng minh là có đặc tính của một cái gì đó luôn luôn tồn tại (như remanens capax mutationum vẫn còn năng lực biến đổi), tạo nên Hữu thể thực sự của các thực thể của thế giới được trải nghiệm. Cái gì tồn tại mãi mãi, thì thực sự là tồn tại. Đây là loại sự vật mà toán học biết rõ. Cái có thể tiếp cận được trong một thực thể thông qua toán học, thì tạo nên Hữu thể của nó. Do đó, Hữu thể của ‘thế giới’, như thể được quy định cho nó theo một ý niệm nhất định về Hữu thể vốn nằm ẩn giấu trong khái niệm về tính thực chất, [tr.129] và trong khuôn khổ ý niệm về một tri thức mà nhờ đó các thực thể như vậy được nhận thức. Loại Hữu thể thuộc về các thực thể bên-trong-thế-giới là thứ mà chính chúng có thể được phép trình bày; nhưng Descartes không cho phép chúng làm như vậy.5 Thay vào đó, ông quy định cho thế giới Hữu thể ‘thực’ của nó, như thể, trên cơ sở một ý niệm về Hữu thể mà nguồn gốc của nó chưa được hé lộ và chưa được chứng minh một cách đúng đắn - một ý niệm trong đó Hữu thể được đánh đồng với tình trạng constant presence-at-hand hằng hiện-vô-tri. Do đó, bản thể luận về thế giới của ông không chủ yếu được xác định bởi khuynh hướng của ông đối với toán học, một ngành khoa học mà ông tình cờ đánh giá rất cao, mà đúng hơn là bởi định hướng bản thể luận của ông về nguyên tắc hướng tới Hữu thể như một tình trạng constant presence-at-hand hằng hiện-vô-tri, điều mà tri ​​thức toán học đặc biệt phù hợp để nắm bắt. Bằng cách này, Descartes đã chuyển hướng một cách rõ ràng về mặt triết học từ sự phát triển của bản thể luận truyền thống sang vật lý toán học hiện đại và các nền tảng siêu nghiệm của nó.

Vấn đề làm thế nào để tiếp cận một cách thích hợp với các thực thể bên- trong-thế-giới là một vấn đề mà Descartes cảm thấy không cần phải nêu ra. Dưới sự thống trị không ngừng của bản thể luận truyền thống, cách thức để nắm bắt được một cách chân chính những gì thực sự tồn tại [des eigentlichen Seienden] đã được quyết định trước: nó nằm ở νοεῖν nhận thức – Anschauung trực giác ‘chiêm ngưỡng’ theo nghĩa rộng nhất; διάνοεῖν hay ‘tư duy’ chỉ là một hình thức hoàn thiện hơn của νοεῖν nhận thức và được xây dựng trên nền tảng của nó. Sensatio (αἴσθησις) tri giác, trái ngược với intellection trí lực, vẫn có thể là một cách tiếp cận các thực thể thông qua sự quan sát mang tính giác quan; nhưng Descartes đưa ra ‘phê phán’ của mình về điều này bởi vì ông được định hướng về mặt bản thể luận bởi những nguyên tắc này. Descartes biết rất rõ rằng các thực thể không tự biểu hiện một cách kề cận trong Hữu thể thực sự của chúng. Cái được cung cấp ‘kề cận’ là Vật thể bằng sáp này, có màu sắc, hương vị, độ cứng và độ lạnh theo những cách nhất định, và phát ra âm thanh đặc biệt của riêng nó khi gõ lên. Nhưng điều này không quan trọng về mặt bản thể học, cũng như bất cứ điều gì được cung cấp thông qua các giác quan, nói chung, đều không quan trọng. “Satis erit, si advertamus sensuum perceptiones non referri, nisi ad istam corporis humani cum mente coniunctionem, et nobis quidem ordinarie exhibere, quid ad illam externa corpora prodesse possint aut nocere…”xviii “Chỉ cần lưu ý rằng các tri giác giác quan không liên quan đến bất cứ điều gì khác ngoài sự kết hợp giữa thể xác và tâm trí con người, và thực tế, chúng thường cho chúng ta thấy những gì các yếu tố bên ngoài có thể làm cho nó tốt hơn hoặc gây hại cho nó...” xviii Các giác quan không cho phép chúng ta nhận thức bất kỳ thực thể nào trong Hữu thể của nó; chúng chỉ dùng để thông báo cách thức của các Sự vật ‘bên ngoài’ trong-thế-giới này là hữu ích hoặc có hại cho những hiện hữu người bị cản trở bởi cơ thể. “…non…nos docere, qualia [corpora] in seipsis existant”xix không phải…để dạy chúng ta biết loại [cơ thể] nào tồn tại trong chính nó; chúng không cho chúng ta biết gì về các thực thể trong Hữu thể của chúng. “Quod agentes, percipiemus naturam materiae, sive corporis in universum spectati, non consistere in eo quod sit res dura, vel ponderosa, vel colorata, [p.130] vel alio aliquo modo sensus afficiens : sed tantum in eo quod sit res extensa in longum, tatum et profundum.”xx “Qua hành động đó, chúng ta sẽ nhận thấy rằng bản chất của vật chất, hay của một vật thể được xem xét như một tổng thể, không nằm ở việc nó cứng, nặng, có màu sắc, [tr.130] hay tác động đến các giác quan theo bất kỳ cách nào khác: mà chỉ nằm ở việc nó là một vật thể quảng tính có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu.”xx Nếu chúng ta phân tích một cách phê phán diễn giải của Descartes về trải nghiệm độ cứng chắc và sức cản, thì rõ ràng ông không thể để cho những gì thể hiện trong cảm giác tự hiện diện trong loại Hữu thể riêng của nó,6 hoặc thậm chí xác định được đặc tính của nó (Xem Phần 1 9).

Độ cứng được coi là sự kháng cự. Nhưng cả độ cứng lẫn sự kháng cự đều không được hiểu theo nghĩa hiện tượng học, như một thứ được trải nghiệm tự thân mà bản chất của nó có thể được xác định trong trải nghiệm đó. Đối với Descartes, sự kháng cự chỉ đơn thuần là không nhường chỗ - tức là không trải qua bất kỳ sự thay đổi vị trí nào. Vì vậy, nếu một Vật thể kháng cự, điều đó có nghĩa là nó vẫn ở một vị trí xác định so với một Vật thể khác đang thay đổi vị trí của nó, hoặc nó đang thay đổi vị trí của chính nó với một vận tốc cho phép Vật thể kia ‘bắt kịp’ nó. Nhưng khi trải nghiệm về độ cứng được diễn giải theo cách này, loại Hữu thể thuộc về tri giác giác quan bị xóa bỏ, và do đó, bất kỳ khả tính nào mà các thực thể gặp phải trong tri giác đó có thể được nắm bắt trong Hữu thể của chúng cũng bị xóa bỏ. Descartes lấy loại Hữu thể thuộc về tri giác về một cái gì đó, và chuyển nó thành loại duy nhất mà ông biết: tri giác về một cái gì đó trở thành một cách xác định của Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri-song song với hai vật thể có quảng tính hiện-diện-vô-tri; cách thức mà các vận động của chúng liên quan với nhau tự nó là một phương thức của quảng tính mà qua đó hiện-diện-vô-tri của Vật thể hữu hình được đặc trưng chủ yếu. Tất nhiên, không một hành vi nào mà người ta cảm nhận bằng xúc giác có thể được ‘hoàn thiện’ trừ khi cái có thể cảm nhận được có ‘tính gần gũi’ theo một cách rất đặc biệt. Nhưng điều này không có nghĩa là việc đụng chạm và độ cứng thể hiện ra khi chạm vào về mặt bản thể học bao gồm trong các vận tốc khác nhau của hai Vật thể hữu hình. Độ cứng và kháng cự không tự biểu lộ trừ khi một thực thể có loại Hữu thể mà Dasein - hoặc ít nhất là một thứ gì đó đang sống sở hữu.           

Do đó, thảo luận của Descartes về các loại tiếp cận khả thể đối với các thực thể trong-thế-giới bị chi phối bởi một ý niệm về Hữu thể được thu thập từ một lĩnh vực xác định của chính các thực thể này. Ý tưởng về Hữu thể với tư cách hiện-diện-vô-tri không chỉ mang lại cho Descartes động cơ để đồng nhất các thực thể bên-trong-thế-giới với thế giới nói chung, và để đưa ra định nghĩa cực đoan như vậy về Hữu thể của chúng; nó cũng ngăn cản ông đưa ra những cách hành xử của Dasein theo cách phù hợp về mặt bản thể luận. Nhưng do đó, con đường hoàn toàn bị khóa chặt [tr.131] không thể nhìn đặc trưng được tạo nền tảng của tất cả nhận thức giác quan và trí tuệ, và để hiểu chúng như những khả tính của Hữu thể trong-thế-giới.7 Ngược lại, ông coi Hữu thể của ‘Dasein’ (mà cái Hữu-thể- trong-thế-giới thuộc về cấu thành cơ bản của nó) theo cùng một cách như ông coi Hữu thể của res extensa Vật thể có quảng tính – với tư cách là bản chất. Nhưng với những lời phê bình này, chẳng phải chúng ta đã đẩy cho Descartes một nhiệm vụ hoàn toàn vượt quá tầm nhìn của ông, và sau đó tiếp tục ‘chứng minh’ rằng ông đã thất bại trong việc giải quyết nó hay sao? Nếu Descartes không biết hiện tượng của thế giới, và do đó không biết đến cái gọi là sự vật bên-trong-thế-giới-tính, thì làm sao ông có thể đồng nhất chính thế giới với những thực thể nhất định bên-trong-thế-giới và cái Hữu thể mà chúng sở hữu?

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1This portion ofBeing and Time has never been published.

2 Immanuel Kant, Critique ofPure &ason, Transcendental Dialectic, Book II, chapter III, Section 4· [p.127]

3. ‘…seiende Bestimmtheiten des betreffenden Seienden…’ [p.127]

4 ‘…aus einer seienden Beschaffenheit der Substanz.’ [p.127]

5 ‘Descartes liisst sich nicht die Seinsart des innerweltlichen Seienden von diesem vorgeben…’ [p.129]

6 ‘…das in der Sinnlichkeit sich Zeigende in seiner eigenen Seinsart sich vorgeben zu lassen…’ [p.130]

7 'Damit ist aber vollends dcr Weg dazu verlegt,gar auch noch den fundierten Charakter alles sinnlichen und verstandesmiissigen Vernehmens zu sehen und sie als eine Moglichkeit des ln-der-Welt-seins zu verstehen.' While we have construed the pronoun 'sie' as referring to the two kinds of awareness which have just been mentioned, it would be grammatically more plausible to interpret it as referring either to 'Dasein's ways of behaving' or to 'the idea of Being as permanent presence-at-hand'. [p.131]

 


 

 

 

 

 

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Hữu thể và Thời gian (XII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

III TÍNH THẾ GIAN CỦA THẾ GIỚI

A. Phân tích về Vị thế Môi trường và Thế gian

17. Tham chiếu và Dấu hiệu

Tính chất đặc biệt của các dấu hiệu với tư cách một công cụ trở nên rõ ràng nhất trong việc ‘thiết lập một dấu hiệu’. Hoạt động này được thực hiện trong một tầm nhìn dự đoán thận trọng mà từ đó nó phát sinh, và tầm nhìn đó đòi hỏi môi trường cụ thể của một kẻ phải có khả năng tự bộc lộ để được quan sát thận trọng bất cứ lúc nào bằng một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, và khả tính này tự thân cũng phải sẵn-có-để-dùng. Nhưng cái Hữu thể của những gì sẵn-có-để-dùng gần nhất bên-trong-thế-giới lại sở hữu đặc tính tự-kìm-nén-bên-trong chứ không nổi lên, vốn đã được mô tả ở trên.1 Do đó, các giao dịch thận trọng của chúng ta trong môi trường đòi hỏi một số thiết bị sẵn-có-để-dùng mà về đặc tính của nó là thiết bị đảm nhận ‘công việc’ làm cho một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trở nên dễ thấy. Vì vậy, khi thiết bị như vậy (dấu hiệu) được tạo ra, thì tính dễ thấy của nó phải được ghi nhớ. Nhưng cả khi các dấu hiệu dễ thấy như vậy, cũng không để chúng hiện-diện-vô-tri một cách ngẫu nhiên; chúng được ‘thiết lập’ theo một cách nhất định nhằm mục đích dễ dàng tiếp cận.

Tuy nhiên, khi thiết lập một dấu hiệu, người ta không nhất thiết phải tạo ra thiết bị chưa sẵn-có-để-dùng. Các dấu hiệu cũng xuất hiện khi người ta lấy một thứ gì đó đã sẵn-có-để-dùng làm dấu hiệu. Theo cách này, các dấu hiệu ‘được thiết lập’ theo một nghĩa thậm chí còn nguyên thủy hơn. Khi chỉ ra, tổng thể tính thiết bị sẵn-có-để-dùng, và thậm chí cả môi trường nói chung, có thể được cung cấp một lượng sẵn có được định hướng một cách thận trọng; và không chỉ có vậy: trên hết, việc thiết lập một dấu hiệu có thể tiết lộ. Cái được lấy làm dấu hiệu chỉ trở nên dễ tiếp cận thông qua trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó. Ví dụ, nếu người nông dân ‘chấp nhận’ gió nam như một dấu hiệu của mưa, thì sự ‘chấp nhận’ này - hay cái ‘giá trị’ mà thực thể được ‘đặt tâm huyết’ vào - không phải là một loại phần thưởng vượt quá những gì trong tự thân đã hiện-diện-vô-tri – cụ thể là, luồng không khí theo một hướng địa lý nhất định. Gió nam có thể được tiếp cận về mặt khí tượng như một hiện tượng tự nhiên; nhưng nó không bao giờ hiện-diện-vô-tri [p.112] một cách trực tiếp như vậy, mà chỉ thỉnh thoảng mới đảm nhận chức năng của một tín hiệu cảnh báo. Ngược lại, chỉ bằng sự thận trọng mà người ta xem xét mọi việc trong nông nghiệp, thì gió nam mới được phát hiện trong chính Hữu thể của nó.

Nhưng, người ta sẽ phản đối, thứ vốn được coi là một dấu hiệu trước hết phải trở nên dễ tiếp cận trong tự thân và được thấu hiểu trước khi dấu hiệu đó được thiết lập. Chắc chắn trong mọi trường hợp, nó phải như vậy để bằng cách nào đó chúng ta có thể bắt gặp nó. Câu hỏi đặt ra đơn giản là các hiện hữu được phát hiện như thế nào trong lần chạm trán trước đó, liệu chúng chỉ đơn thuần là những Sự vật xuất hiện, hay đúng hơn là những thiết bị chưa được hiểu rõ – như là những thứ nào đó sẵn-có-để-dùng mà cho đến nay chúng ta chưa biết ‘bắt đầu từ đâu’, và do đó chúng vẫn ẩn mình khỏi phạm vi xem xét cẩn trọng. Và một lần nữa, khi đặc tính thiết bị của những thứ sẵn-có-để-dùng vẫn chưa được khám phá một cách cẩn trọng, thì chúng không được Diễn giải là Dinghaftigkeit Trạng thái Sự vật đơn thuần được trình bày để nắm bắt những gì chỉ hiện-diện-vô-tri không hơn không kém. [Chen ngang: Dinghaftigkeit đối với Martin Heidegger – Vị thế Sự vật, hay trạng thái sự vật - là phẩm chất thiết yếu làm cho sự vật là sự vật, chứ không chỉ đơn thuần là một đối tượng khoa học hay một công cụ/thiết bị hữu dụng. Heidegger cho rằng tư duy hiện đại đã mắc phải chứng bệnh Seinsvergessenheit - Quên lãng Hữu thể, coi các vật thể hoặc là dữ liệu cơ học cần đo lường hay chỉ đơn thuần là công cụ phục vụ con người. Để hiểu về Dinghaftigkeit tính sự vật, ông khám phá cách thức tồn tại cơ bản của sự vật và cách chúng ‘tập hợp’ thế giới xung quanh mình. Cách tiếp cận của Heidegger đối với Vị thế Sự vật, hay trạng thái sự vật phát triển trong suốt sự nghiệp của mình - Ông tiếp cận Sự vật thông qua các tương tác thực tiễn của chúng ta. Một công cụ chẳng hạn cái búa được định nghĩa bởi Zuhandenheit trạng-thái-sẵn-có-để-dùng của nó - chúng ta sử dụng nó một cách thực tiễn, chứ không phải như một vật thể riêng lẻ. Khi nó bị hỏng, nó mất đi tính hữu dụng và chỉ còn là một vật thể vật lý. Đối với ông, một tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như bức tranh vẽ đôi giày của người nông dân, không phục vụ chức năng hàng ngày, cũng không chỉ đơn thuần là một bức tranh trên vải. Thay vào đó, ‘vị thế sự vật’ của nó tạo ra sự căng thẳng giữa Thế gian - lĩnh vực chung của ý nghĩa con người - và Trái đất - nền tảng vật chất, tự che giấu của tự nhiên trở nên hiện thân. Heidegger đã loại bỏ các định nghĩa siêu hình truyền thống về Sự vật, đối với ông ‘vị thế Sự vật’ của một vật, chẳng hạn một chiếc bình đất sét - nằm ở khả năng tập hợp bốn chiều kích ‘Tứ diện’ của ông, gồm Đất, Trời, Thần thánh và loài Hữu tử/con người. Vật thể vẫn độc lập với sự thao túng của con người và thay vào đó tạo Thế gian cho ý nghĩa con người.-HHN]

Cái Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng của các dấu hiệu trong các giao dịch thường nhật của chúng ta, và tính nổi bật vốn có của các dấu hiệu, và cái có thể được tạo ra cho nhiều mục đích và bằng nhiều cách khác nhau, không chỉ đơn thuần dùng để ghi lại tính không nổi bật cấu thành nên những gì sẵn-có-để-dùng gần gũi nhất; bản thân dấu hiệu có được tính nổi bật từ tính không nổi bật của tổng thể tính thiết bị, vốn sẵn-có-để-dùng và ‘hiển nhiên’ trong tính thường nhật của nó. Ví dụ điển hình là nút thắt mà người ta buộc trên khăn tay với tư cách là dấu hiệu để đánh dấu một điều gì đó. Cái mà một dấu hiệu như vậy biểu thị luôn là một điều gì đó mà người ta phải quan tâm trong sự thận trọng thường nhật. Một dấu hiệu như vậy có thể biểu thị nhiều thứ, và nhiều loại sự vật khác nhau. Phạm vi biểu nghĩa càng rộng, thì khả năng hiểu và tính hữu dụng của nó càng hẹp. Về đa phần, nó không chỉ là thứ sẵn-có-để-dùng với tư cách là dấu hiệu chỉ cho riêng kẻ ‘thiết lập’ nó, mà thậm chí nó còn có thể trở nên không thể tiếp cận được đối với kẻ kia, đến nỗi cần phải có một dấu hiệu khác nếu có chút muốn sử dụng dấu hiệu đầu tiên một cách thận trọng. Vì vậy, khi nút thắt không thể được sử dụng như một dấu hiệu, thì nó vẫn không mất đi đặc tính dấu hiệu của mình, nhưng nó lại mang tính chất gây khó chịu và phô trương của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng gần gũi nhất.

Người ta có thể bị cám dỗ để viện dẫn vô số cách sử dụng các ‘dấu hiệu’ trong Dasein nguyên thủy, như trong tín ngưỡng vật linh và ma thuật, để minh họa vai trò to lớn của chúng trong mối quan tâm hàng ngày khi nói đến hiểu biết của chúng ta về thế giới. Chắc chắn việc thiết lập các dấu hiệu làm nền tảng cho cách sử dụng này không được thực hiện với bất kỳ mục đích lý thuyết hoặc trong quá trình suy đoán lý thuyết nào. Cách sử dụng này luôn luôn hoàn toàn nằm trong một Hữu-thể-trong-thế-giới vốn mang tính ‘tức thì’. Nhưng khi xem xét kỹ hơn [tr.113], thì rõ ràng là việc diễn giải tín ngưỡng vật linh và ma thuật bằng cách lấy manh mối từ ý tưởng về các dấu hiệu nói chung vẫn không đủ để giúp chúng ta nắm bắt được loại ‘Hữu-thể-sẵn-có-để-dùng’ thuộc về các hiện hữu gặp được trong thế giới nguyên thủy. Liên quan đến hiện tượng dấu hiệu, có thể đưa ra Diễn giải sau: đối với người nguyên thủy, dấu hiệu trùng khớp với cái được chỉ ra. Dấu hiệu không chỉ có thể đại diện cho điều này theo nghĩa đóng vai trò thay thế cho cái mà nó chỉ ra, nhưng nó còn có thể làm như vậy theo cách mà tự thân dấu hiệu luôn là cái mà nó chỉ ra. Tuy nhiên, sự trùng hợp đáng chú ý này không có nghĩa là Sự vật-dấu hiệu đã trải qua một sự ‘Khách thể hóa’ nhất định – là điều mà nó đã được trải nghiệm như một Sự vật đơn thuần và bị đặt nhầm vào cùng một cõi Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri với tư cách là cái mà nó biểu thị. Sự ‘trùng hợp’ này không phải là cách đồng nhất hóa những vật thể cho đến nay vẫn bị tách biệt với nhau: nó nằm ở chỗ dấu hiệu vẫn chưa thoát khỏi cái mà nó là một dấu hiệu. Việc sử dụng dấu hiệu như vậy vẫn hoàn toàn bị hấp thụ hoàn toàn vào Hữu-thể-hướng-tới những gì được biểu thị, do đó một dấu hiệu đúng nghĩa không thể tách rời khỏi chính nó. Sự trùng hợp này không dựa trên quá trình Khách thể hóa trước đó mà dựa trên thực tế là quá trình Khách thể hóa như vậy vẫn còn hoàn toàn thiếu vắng. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là các dấu hiệu không được phát hiện như là thiết bị - và cuối cùng những gì ‘sẵn-có-để-dùng’ bên-trong-thế-giới thực sự không có loại Hữu thể nào thuộc về thiết bị. Có lẽ ngay cả trạng-thái-sẵn-có-để-dùng và thiết bị cũng không đóng góp được gì với tư cách là những manh mối bản thể học trong việc Diễn giải thế giới nguyên thủy; và chắc chắn thứ bản thể luận về Dinghaftigkeit Vị thế sự vật còn đóng góp ít hơn. Nhưng nếu hiểu biết về Hữu thể là cấu thành nên Dasein nguyên thủy và thế giới nguyên thủy, thì việc nghiên cứu ý tưởng ‘hình thức’ về Weltlichkeit Thế gian trở nên cấp bách - hoặc ít nhất là ý tưởng về một hiện tượng có thể thay đổi theo cách mà mọi khẳng định bản thể luận cho rằng trong một bối cảnh hiện tượng nhất định, một cái gì đó chưa phải là cái này cái kia hoặc không còn là cái này cái kia nữa, có thể có được một ý nghĩa hiện tượng tích cực về những gì không phải là bản thân nó.2

Diễn giải về dấu hiệu nêu trên chỉ nhằm cung cấp sự hỗ trợ hiện tượng cho đặc điểm của chúng ta về các tham chiếu hoặc các nhiệm vụ được ấn định. Mối quan hệ giữa dấu hiệu và tham chiếu có ba khía cạnh. 1). Việc chỉ dẫn, như một cách mà cái ‘hướng-tới-cái-mà’ của một khả năng phục vụ có thể trở nên cụ thể, được xây dựng dựa trên cấu trúc- thiết bị theo đúng nghĩa, dựa trên cái ‘để-làm/cho’ (nhiệm vụ được ấn định). 2). Việc chỉ dẫn mà dấu hiệu thực hiện là một đặc tính thiết bị của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, và theo đúng nghĩa, nó thuộc về tổng thể tính thiết bị, thuộc về bối cảnh của các nhiệm vụ hoặc tham chiếu. 3). Dấu hiệu không chỉ sẵn-có-để-dùng với thiết bị khác, mà trong trạng-thái-sẵn-có-để-dùng của nó, trong mỗi trường hợp, môi trường lại trở nên rõ ràng [tr.114] có thể tiếp cận để xem xét cẩn trọng. Một dấu hiệu là một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng về mặt ontic thực hữu, hoạt động vừa như một thiết bị nhất định này lại vừa như một thứ gì đó chỉ ra cái cấu trúc bản thể luận của trạng-thái-sẵn-có-để-dùng, của các tổng thể tính tham chiếu và của Weltlichkeit Thế gian. Ở đây khởi nguồn cái vị thế đặc biệt của dấu hiệu như một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng trong môi trường mà chúng ta quan tâm một cách cẩn trọng. Do đó, bản thân tham chiếu hoặc nhiệm vụ không thể được coi là một dấu hiệu nếu về mặt bản thể luận nó được dung làm nền tảng thiết lập nên các dấu hiệu. Tham chiếu không phải là một đặc tính ontic thực hữu của một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, mà đúng hơn nó là thứ mà nhờ đó trạng-thái-sẵn-có-để-dùng tự thân được cấu thành. Vậy thì, xét về mặt bản thể luận, tham chiếu được ‘giả định’ như thế nào trong cái sẵn-có-để-dùng, và ở mức độ nào, theo đúng nghĩa, một nền tảng bản thể luận như vậy, đồng thời lại cấu thành nên cái Weltlichkeit Thế gian nói chung?

18. Can dự và Ý nghĩa – Cái Thế gian

Cái sẵn-có-để-dùng luôn bắt gặp bên-trong-thế-giới. Hữu thể của hiện hữu này, do đó trạng-thái-sẵn-có-để-dùng, tồn tại trong một mối quan hệ bản thể luận nào đó với thế giới và với Weltlichkeit Thế gian. Trong bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng, thì thế giới luôn luôn ‘có đó’. Bất cứ khi nào chúng ta gặp bất cứ điều gì, thì thế giới đã được khám phá trước đó, mặc dù không phải theo chủ đề. Nhưng nó cũng có thể được soi sáng theo những cách nhất định khi tương tác với môi trường của chúng ta. Thế giới là cái mà trong đó cái sẵn-có-để-dùng luôn sẵn-có-để-dùng. Làm thế nào thế giới có thể cho phép cái sẵn-có-để-dùng được tìm thấy? Cho đến nay phân tích của chúng ta đã chỉ ra rằng những gì chúng ta bắt gặp bên-trong-thế-giới, trong chính Hữu thể của nó, thì đều đã được tự do3 cho sự quan tâm thận trọng của chúng ta, cho việc xem xét. Tình trạng giải phóng trước này có ý nghĩa gì, và làm thế nào để hiểu điều này như một đặc điểm bản thể luận riêng biệt của thế giới? Câu hỏi về cái Weltlichkeit Thế gian của thế giới đặt ra cho chúng ta những vấn đề gì? Chúng ta đã chỉ ra rằng cái trạng thái vốn cấu thành nên cái sẵn-có-để-dùng với tư cách thiết bị chính là trạng thái tham chiếu hoặc nhiệm vụ được ấn định. Làm thế nào mà các hiện hữu có loại Hữu thể này lại có thể được thế giới giải phóng liên quan đến Hữu thể của chúng?

Tại sao đây lại là những hiện hữu đầu tiên gặp được? Là những loại tham chiếu xác định, chúng ta đã đề cập đến khả tính phục vụ-cho-, tính bất lợi, khả tính sử dụng, và những thứ tương tự. Cái ‘hướng-tới-cái-mà’ của khả tính phục vụ và cái ‘vì-cái mà’ của khả tính sử dụng đã quy định các cách thức mà một tham chiếu hoặc nhiệm vụ được ấn định như vậy có thể trở nên cụ thể. Nhưng cái ‘chỉ ra’ của dấu hiệu và cú ‘đập’ của chiếc búa không phải là các thuộc tính của các hiện hữu. Thật vậy, chúng hoàn toàn không phải là các thuộc tính, nếu cấu trúc bản thể luận được chỉ định bởi thuật ngữ ‘thuộc tính’ là một số [tr.115] đặc điểm xác định nào đó mà Sự vật có thể sở hữu. Bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng, trong trường hợp xấu nhất, đều phù hợp với một số mục đích và không phù hợp với những mục đích khác; và ‘các thuộc tính’ của nó, nói cách khác, vẫn bị ràng buộc bởi những cách thức mà nó phù hợp hoặc không phù hợp,4 cũng giống như tình trạng hiện-diện-vô-tri, như một loại Hữu thể khả dĩ cho một thứ sẵn-có-để-dùng nào đó, bị ràng buộc bởi trạng-thái-sẵn-có-để-dùng. Tuy nhiên, khả tính sử dụng, như một trạng thái cấu thành của thiết bị (và khả tính sử dụng là một tham chiếu), không phải là trạng thái phù hợp của một hiện hữu nào đó; đúng hơn, nó là điều kiện (trong chừng mực Hữu thể được đề cập) vốn tạo khả thể cho đặc điểm của một hiện hữu như vậy được xác định bằng trạng thái phù hợp của nó. Nhưng vậy thì, ‘tham chiếu’ hay ‘nhiệm vụ’ được ấn định có nghĩa là gì? Việc nói rằng Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng có cấu trúc của nhiệm vụ được ấn định hoặc tham chiếu có nghĩa là trong tự thân nó có đặc điểm của nhiệm vụ đã được ấn định hoặc được tham chiếu. Một hiện hữu được phát hiện khi nó đã được ấn định hoặc được tham chiếu đến một cái gì đó, và được  tham chiếu như chính cái hiện hữu đó. Với bất kỳ hiện hữu nào như vậy, đều có hành động can dự vào một cái gì đó.5 Đặc tính của Hữu thể thuộc về cái sẵn-có-để-dùng chính là một hành động can dự như vậy. Nếu một cái gì đó có hành động can dự, thì điều này ngụ ý cho phép nó can dự vào một cái gì đó. Mối quan hệ của ‘với…trong…’ sẽ được chỉ ra bằng thuật ngữ ‘nhiệm vụ’ được ấn định hoặc ‘tham chiếu’.6

[Tr.116] Khi một hiện hữu bên-trong-thế-giới đã được giải phóng gần gũi đối với Hữu thể của nó, thì Hữu thể đó là hành động ‘can dự’ của nó. Với bất kỳ hiện hữu nào như vậy, đều có một hành động can dự nào đó. Việc nó can dự như vậy là mang tính bản thể luận xác định cho cái Hữu thể của hiện hữu như vậy, và không phải là một khẳng định ontic thực hữu về nó. Cái mà nó can dự là cái ‘hướng-đến-cái-mà’ của khả tính phục vụ, và cái ‘cho-cái-mà’ của khả tính sử dụng.7 Với cái ‘hướng-đến-cái-mà’ của khả tính phục vụ, lại có thể có hành động can dự: ví dụ, với sự vật này, vốn sẵn-có-để-dùng, và do đó chúng ta gọi là một ‘cái búa’, có hành động can dự bằng việc đóng búa; với việc đóng búa có hành động can dự vào việc tạo ra thứ gì đó nhanh chóng; với việc tạo ra thứ gì đó nhanh chóng cũng có hành động can dự vào việc bảo vệ khỏi thời tiết xấu; và việc bảo vệ này ‘là’ vì mục đích cung cấp nơi nương náu cho Dasein - nghĩa là, vì mục đích của một khả tính Hữu thể của Dasein. Bất cứ khi nào một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng có sự can dự với nó, dù hành động can dự đó là gì, thì trong mỗi trường hợp đều đã được xác định trước dựa trên tổng thể tính của các hành động can dự đó. Ví dụ, trong một công xưởng, tổng thể tính các can dự cấu thành nên cái sẵn-có-để-dùng trong trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó, là ‘sớm hơn’ bất kỳ hạng mục thiết bị đơn lẻ nào; cũng vậy đối với trang trại với tất cả các dụng cụ và vùng đất ngoại vi của nó. Nhưng bản thân tổng thể tính các can dự cuối cùng lại quay trở lại việc ‘hướng-tới-cái-mà’ vốn trong đó không có bất cứ can dự nào khác: việc ‘hướng-tới-cái-mà’ này không phải là một hiện hữu có loại Hữu thể thuộc về cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-một-thế-giới; đúng hơn nó là một hiện hữu mà Hữu thể của nó được định nghĩa là Hữu-thể-trong-thế-giới, và tự thân cái Weltlichkeit Thế gian thuộc về trạng thái Hữu thể của nó. Thứ ‘hướng-tới-cái-mà’ chủ đạo này không chỉ đơn thuần là một cái ‘hướng-tới-cái-này’ khác như một điều gì đó mà sự can dự vào đó là có thể. Thứ ‘hướng-tới-cái-mà’ chủ đạo đó chính là một thứ ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’.8 Nhưng thứ ‘vì-lợi-ích-của’ lại luôn liên quan đến Hữu thể của [p.117] Dasein, mà đối với nó, trong Hữu thể của nó, chính Hữu thể đó về bản chất lại là một vấn đề. Như vậy, chúng ta đã chỉ ra mối liên hệ mà qua đó cái cấu trúc của một can dự dẫn đến chính Hữu thể của Dasein với tư cách là ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ đích thực duy nhất; tuy nhiên, hiện tại, chúng ta sẽ không đi sâu hơn vào vấn đề này. Trước hết, ‘việc cho phép một điều gì đó được can dự’ phải đủ rõ ràng để đem đến cho hiện tượng Thế gian loại tính xác định khiến có thể hoạch định bất cứ điều gì về nó.

Về mặt ontic thực hữu, ‘cho phép một cái gì đó can dự’ có nghĩa là trong mối quan tâm thực tế của chúng ta, chúng ta cho phép một cái gì đó sẵn-có-để-dùng được như vậy và để nó được như vậy.9 Cái cách mà chúng ta hiểu nghĩa thực hữu này của ‘cho phép tồn tại’ về nguyên tắc là mang tính bản thể luận. Và với điều đó, chúng ta Diễn giải ý nghĩa của việc giải phóng trước đó những gì đã sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới. Việc cho phép một cái gì đó ‘tồn tại’ trước đó không có nghĩa là chúng ta phải đưa nó vào Hữu thể của nó và tạo ra nó trước; mà đúng hơn là một cái gì đó đã là một ‘hiện hữu’ phải được khám phá trong trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó, và do đó chúng ta phải cho phép cái hiện hữu có Hữu thể này được gặp gỡ. Việc cho-phép-một-cái-gì-đó-can-dự ‘tiên nghiệm’ này là điều kiện cho khả tính gặp gỡ bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng, sao cho Dasein, trong các giao dịch thực hữu của nó với cái hiện hữu được gặp gỡ như vậy, có thể cho phép nó can dự theo nghĩa ontic thực hữu.10 Mặt khác, nếu việc cho phép một cái gì đó can dự được hiểu theo nghĩa bản thể luận, thì điều quan trọng là việc giải phóng mọi thứ sẵn-có-để-dùng với tư cách sẵn-có-để-dùng, bất kể xét về mặt thực hữu, nó có can dự bằng cách đó hay không, hoặc liệu nó có phải là một hiện hữu thuộc loại mà xét về mặt thực hữu nó không can dự bằng cách đó hay không. Những hiện hữu như vậy, gần gũi nhất và phần lớn, là những hiện hữu mà tự thân chúng ta quan tâm khi chúng ta không để chúng ‘tồn tại’ như chúng ta đã khám phá ra chúng tồn tại, mà lại tác động lên chúng, cải thiện chúng, hoặc đập vỡ chúng thành từng mảnh. Khi chúng ta nói về việc đã để cho một cái gì đó can dự, để nó được giải phóng cho cuộc can dự đó, thì chúng ta đang sử dụng thì hoàn thành tiên nghiệm đặc trưng cho loại Hữu thể thuộc về chính bản thân Dasein.11 Việc để cho một hiện hữu can dự, nếu chúng ta hiểu điều này về phương diện bản thể luận, bao gồm việc giải phóng nó trước đó cho trạng thái sẵn-có-để-dùng của nó trong môi trường. Khi chúng ta để cho một cái gì đó can dự, thì nó phải can dự vào một cái gì đó; và xét về khía cạnh ‘trong-cái-mà’, ‘với-cái-mà’ của cuộc can dự này [tr.118] được giải phóng.12 Mối quan tâm của chúng ta bắt gặp nó như một thứ này sẵn-có-để-dùng.

Trong chừng mực mà bất kỳ hiện hữu nào tự thể hiện ra với mối quan tâm13 - tức là, trong chừng mực mà nó được phát hiện trong Hữu thể của nó – thì nó đã là một cái gì đó sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường; nó chỉ không phải là một ‘vật chất-thế giới’ ‘gần gũi’ mà chỉ đơn thuần hiện-diện-vô-tri. Với tư cách là Hữu thể của một cái gì đó sẵn-có-để-dùng, một cuộc can dự tự nó chỉ được khám phá trên cơ sở khám phá trước đó về một tổng thể tính các cuộc can dự. Vì vậy, trong bất kỳ cuộc can dự nào đã được khám phá (tức là, trong bất cứ thứ gì sẵn-có-để-dùng mà chúng ta gặp phải), cái mà chúng ta gọi là ‘đặc tính thế gian’ của cái sẵn-có-để-dùng đó đã được khám phá từ trước. Trong tổng thể tính của các cuộc can dự đã được khám phá từ trước này, ẩn chứa một mối quan hệ bản thể luận với thế giới. Khi cho phép các hiện hữu can dự để chúng được giải phóng cho một tổng thể tính các cuộc can dự, người ta hẳn đã phải tiết lộ điều mà vì nó chúng đã được giải phóng. Nhưng điều mà vì nó một cái gì đó sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường đã được giải phóng như vậy (và thực sự theo cách mà nó trở nên có thể tiếp cận được như một hiện hữu bên-trong-thế-giới trước hết), bản thân nó không thể được hình dung như một hiện hữu với loại Hữu thể đã được khám phá này. Về bản chất, nó không thể được khám phá, nếu dành ‘trạng thái được khám phá’ như một khuôn khổ cho một khả tính của Hữu thể mà mọi hiện hữu không có đặc tính của Dasein có thể sở hữu.

Nhưng nói rằng những gì mà nhờ đó14 các hiện hữu bên-trong-thế-giới được giải phóng một cách gần gũi phải được tiết lộ trước đó thì có nghĩa là gì? Một hiểu biết về Hữu thể luôn thuộc về Hữu thể của Dasein. Bất kỳ hiểu biết nào cũng đều có Hữu thể của nó trong một hành động hiểu biết. Nếu Hữu-thể-trong-thế-giới là một loại Hữu thể về bản chất phù hợp với Dasein, thì việc hiểu rõ Hữu-thể-trong-thế-giới lại thuộc về nội dung thiết yếu của sự hiểu biết của nó về Hữu thể. Sự tiết lộ trước đó về những gì mà nhờ đó những gì chúng ta gặp phải bên-trong-thế-giới sau đó đều được giải phóng,15 thì không gì khác hơn là hiểu thế giới – cái thế giới mà Dasein với tư cách là một hiện hữu luôn tự thân xử sự. Bất cứ khi nào chúng ta cho phép có cuộc can dự vào một cái gì đó trong một cái gì đó trước đấy, thì hành động của chúng ta được dựa trên hiểu biết của chúng ta về những sự vật như cho phép một cái gì đó can dự, và những sự vật như ‘với-cái-mà’ và ‘trong-cái-mà’ của những can dự. Bất cứ điều gì thuộc loại này, và bất cứ điều gì khác [tr.119] cơ bản đối với nó, chẳng hạn như cái ‘hướng-tới-cái-này’ như là cái mà trong đó có can dự, hoặc chẳng hạn như cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ mà mọi ‘hướng-tới-cái -mà’ cuối cùng đều quay trở lại với nó16 - tất cả những điều này phải được tiết lộ trước với một trạng thái dễ hiểu nhất định. Và cái mà trong đó Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới tự hiểu mình về phương diện tiền-bản thể luận là gì? Trong việc hiểu biết bối cảnh của các mối quan hệ như chúng ta đã đề cập, Dasein đã tự gán cho mình một cái ‘để-làm’, và nó đã làm như vậy theo khuôn khổ của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vì lợi ích của cái là chính bản thân nó - một tiềm năng mà nó có thể đã nắm bắt một cách rõ ràng hoặc ngầm định, và tiềm năng đó có thể là xác thực hoặc không xác thực. Cái ‘để-làm’ này quy định một loại ‘hướng-tới-điều-này’ như một loại ‘trong-cái-mà’ khả thể để cho một cái gì đó được can dự; và cái cấu trúc của việc cho phép nó được can dự ngụ ý rằng đây là một cuộc can dự mà một cái gì đó có - một cuộc can dự cùng với một cái gì đó. Dasein luôn tự ấn định cho mình nhiệm vụ từ một cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ đến cái ‘với- cái-mà’ của một cuộc can dự; nghĩa là, trong chừng mực nó tồn tại, nó luôn cho phép các hiện hữu được gặp gỡ với tư cách sẵn-có-để-dùng.17 Cái mà trong đó Dasein tự thân hiểu trước trong phương thức tự ấn định cho mình nhiệm vụ là cái mà đối với nó nó đã cho phép các hiện hữu được gặp gỡ trước đó. Cái ‘mà trong đó’ của một hành động hiểu biết vốn ấn định nhiệm vụ hoặc quy chiếu chính nó, là cái mà người ta cho phép các hiện hữu được gặp gỡ trong loại Hữu thể thuộc về các cuộc can dự; và cái ‘trong đó’ này chính là cái hiện tượng của thế giới.18 Và cấu trúc của cái mà Dasein tự ấn định nhiệm vụ cho chính nó là cái tạo nên Weltlichkeit Thế gian của thế giới. 

Cái mà trong đó Dasein đã tự hiểu theo cách này luôn là thứ mà nó đã quen thuộc từ thuở ban đầu. Sự quen thuộc với thế giới này không nhất thiết đòi hỏi các mối quan hệ cấu thành nên thế giới phải minh bạch về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, khả tính đưa ra một Diễn giải bản thể luận-hiện sinh rõ ràng cho những mối quan hệ này được đặt nền tảng trên sự quen thuộc với thế giới; và sự quen thuộc này, đến lượt nó, là cấu thành nên Dasein, và góp phần tạo nên sự hiểu biết của Dasein về Hữu thể. Khả tính này là một thứ có thể được nắm bắt một cách rõ ràng khi Dasein đã tự đặt ra cho mình nhiệm vụ đưa ra một Diễn giải nguyên thủy cho Hữu thể của chính nó và cho những khả tính của Hữu thể đó, hoặc thực sự cho ý nghĩa của Hữu thể nói chung. [Tr.120] Nhưng cho đến nay, các phân tích của chúng ta mới chỉ làm sáng tỏ được cái chân trời mà trong đó những thứ như thế giới và thế gian tính cần được tìm kiếm. Nếu muốn xem xét những điều này sâu hơn, trước hết, cần làm rõ hơn nữa cách hiểu về bản thể luận của việc Dasein tự ấn định nhiệm vụ cho chính mình.

Trong hành động hiểu biết, mà chúng ta sẽ phân tích kỹ lưỡng hơn sau này (So sánh Phần 31), các mối quan hệ được chỉ ra ở trên hẳn đã được tiết lộ trước đó; hành động hiểu biết kìm giữ chúng trong trạng thái tiết lộ này. Nó tự kìm nén chính mình trong chúng với trạng thái quen thuộc; và khi làm như vậy, nó nắm giữ chúng trước chính mình, bởi vì chính trong những mối quan hệ này mà việc ấn định nhiệm vụ của nó vận hành.19 Sự hiểu biết cho phép chính nó thực hiện các ấn định nhiệm vụ cả trong chính những mối quan hệ này và về chúng.20 Tính chất quan hệ mà những mối quan hệ ấn định nhiệm vụ này sở hữu, chúng ta coi là tính chất biểu thị.21 Trong tính thân thuộc với những mối quan hệ này, Dasein ‘biểu thị’ chính nó: theo một cách nguyên thủy, nó tự cho mình cả Hữu thể và cái tiềm năng-cho-Hữu-thể của nó như một điều gì đó mà nó cần hiểu liên quan đến Hữu-thể-trong-thế-giới của nó. Cụm từ ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ biểu thị một kiểu ‘để-làm-’; điều này, đến lượt nó, lại là một loại ‘hướng-tới-cái-này’; mà cái này ấy lại là một ‘trong-cái-mà’ của việc cho phép một cái gì đó can dự; và điều đó, đến lượt nó, là cái ‘với-cái-mà’ của một cuộc can dự. Những mối quan hệ này gắn bó với nhau như một tổng thể tính nguyên thủy; chúng là cái là chính bản thân chúng với tư cách là biểu thị này trong đó Dasein tự cho mình cái Hữu-thể-trong-thế-giới như một cái gì đó cần phải được hiểu. Cái tổng thể tính quan hệ của sự biểu thị này chúng ta gọi là ‘ý nghĩa’. Đây là cái tạo nên cấu trúc của thế giới – cái cấu trúc mà trong đó Dasein theo đúng nghĩa đã tồn tại. Dasein, trong sự quen thuộc với ý nghĩa, là điều kiện thực hữu cho khả tính khám phá các hiện hữu được gặp trong một thế giới có can dự (trạng thái sẵn-có-để-dùng) như là loại Hữu thể của chúng, và do đó cái có thể tự làm cho mình được biết đến như trong chính bản thân chúng. Dasein theo đúng nghĩa luôn là một cái gì đó thuộc loại này; cùng với Hữu thể của nó, một bối cảnh của cái sẵn-có-để-dùng đã được khám phá: Dasein, trong chừng mực [tr.121] tồn tại, vẫn luôn tự quy phục22 trước một 'thế giới' mà nó gặp phải, và quy phục22 này về bản chất thuộc về Hữu thể của nó.

Nhưng trong chính tự thân ý nghĩa, điều mà Dasein luôn quen thuộc, vẫn ẩn chứa điều kiện bản thể luận làm cho Dasein, với tư cách là một cái gì đó hiểu và diễn giải, có thể tiết lộ những thứ như ‘ý nghĩa’; đến lượt nó, trên cơ sở của những điều này hình thành nên cái Hữu thể của ngôn từ và của ngôn ngữ. Ý nghĩa được tiết lộ như vậy là một trạng thái hiện sinh của Dasein - của cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó; và như vậy, nó là điều kiện thực hữu cho cái khả tính mà một tống thể tính của các can dự có thể được khám phá. Nếu như vậy, chúng ta đã xác định rằng cái Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng (sự can dự) có thể được định nghĩa như một bối cảnh của các nhiệm vụ được ấn định hoặc các tham chiếu, và ngay cả Weltlichkeit Thế gian cũng có thể được định nghĩa như vậy, thì chẳng phải cái ‘Hữu thể bản chất’ của các hiện hữu bên-trong-thế-giới đã bị biến thành một hệ thống các Quan hệ hay sao?. Và bởi vì các mối Quan hệ luôn là ‘cái gì đó được suy nghĩ’, thì chẳng phải Hữu thể của các hiện hữu bên-trong-thế-giới đã được hòa tan thành ‘tư duy thuần túy’ hay sao? Trong lĩnh vực nghiên cứu hiện tại của chúng ta, như chúng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, về nguyên tắc phải giữ cho các cấu trúc và chiều kích sau đây của vấn đề bản thể luận được phân biệt rõ ràng: 1). Hữu thể của những hiện hữu bên-trong-thế-giới mà chúng ta gặp gỡ một cách gần gũi - trạng thái sẵn-có-để-dùng; 2). Hữu thể của những hiện hữu mà chúng ta có thể bắt gặp và có thể xác định bản chất của chúng nếu chúng ta khám phá ra chúng một cách độc lập bằng cách xem xét các hiện hữu đã gặp gỡ một cách gần gũi - hiện-diện-vô-tri; 3) Hữu thể của điều ontic thực hữu cho phép các hiện hữu bên-trong-thế-giới được phát hiện – Weltlichkeit cái Thế gian của thế giới. Loại Hữu thể thứ ba này đem lại một cách thức hiện sinh để xác định bản chất của Hữu-thể-trong-thế-giới, tức là của Dasein. Hai khái niệm Hữu thể khác là các phạm trù, và liên quan đến các hiện hữu mà Hữu thể của chúng không thuộc loại Dasein sở hữu.

Bối cảnh của các nhiệm vụ được ấn định hoặc tham chiếu, xét về ý nghĩa, ‘mang tính cấu thành nên Thế gian’, có thể được hiểu một cách hình thức theo nghĩa của một hệ thống các Quan hệ. Nhưng người ta phải lưu ý rằng trong những hình thức hóa như vậy, các hiện tượng bị cào bằng đến mức nội dung hiện tượng thực sự của chúng có thể bị mất đi, đặc biệt là trong trường hợp các mối quan hệ ‘đơn giản’ như những mối quan hệ ẩn chứa trong ý nghĩa. Nội dung hiện tượng của các ‘Quan hệ’ và ‘Relata’ hiện hữu có quan hệ này [tr.122] - cái ‘để-làm’, cái ‘vì-mục-đích-của’ và cái ‘với-cái-mà’ của một can dự - chính là cái mà chúng chống lại bất kỳ hình thức chức năng hóa toán học nào; chúng cũng không chỉ đơn thuần là điều gì đó được nghĩ đến, lần đầu tiên được đặt ra trong một ‘hành động tư duy’. Đúng ra chúng là những mối quan hệ trong đó sự thận trọng quan tâm theo đúng nghĩa đã cư ngụ. ‘Hệ thống các Quan hệ’ này, như một cái gì đó cấu thành nên Thế gian, không hề làm tan biến cái Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng bên-trong-thế-giới, mà chính cái Thế gian của thế giới cung cấp cơ sở mà dựa vào đó lần đầu tiên các hiện hữu như vậy có thể được khám phá với tư cách ‘thực chất’ ‘trong tự thân chúng’. Và chỉ khi các hiện hữu bên-trong-thế-giới có thể được bắt gặp, thì trong lĩnh vực của các hiện hữu đó, mới có thể tạo ra khả tính tiếp cận cho những gì chỉ hiện-diện-vô-tri không hơn. Do bởi Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-và-không-hơn của chúng, mà các hiện hữu này có thể có các ‘thuộc tính’ được định nghĩa về phương diện toán học trong các ‘khái niệm chức năng’. Về phương diện bản thể luận, những khái niệm như vậy chỉ khả thể trong mối quan hệ với các hiện hữu mà Hữu thể của chúng mang đặc tính thuần túy thực thể tính. Khái niệm chức năng không bao giờ khả thể, trừ khi được hình thức hóa như những khái niệm mang tính thực thể. Để làm nổi bật hơn nữa vấn đề bản thể luận đặc thù của Thế gian, chúng ta sẽ không tiếp tục phân tích cho đến khi làm rõ được cách Diễn giải của chúng ta về Thế gian bằng một trường hợp ở cực đối lập.

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 Xem H. 75-76 ở trên. [tr.111]

2 ‘…aus dem, was es nicht ist.’ Các ấn bản cũ hơn viết ‘was’ thay cho ‘was’. [tr.113]

3 ‘freigegeben’. Ý tưởng dường như là những gì chúng ta gặp phải, như thể, đã được giải phóng, được trả tự do, được trao quyền tự do, hoặc được tự do hành động, để sự thận trọng của chúng ta có thể tính đến nó. [tr.114]

4 Các từ ‘property’ và ‘appropriateness’ phản ánh mối liên hệ từ nguyên của [từ ‘Eigenschaft’ của Eidegger và “Geeignetheit’. [tr.115]

5 ‘Es hat mit ihm bei etwas sein Bewenden.’ Các thuật ngữ 'Bewenden' và 'Bewandtnis' nằm trong số những thuật ngữ khó dịch nhất. Nghĩa gốc của chúng liên quan đến cách một sự việc đã 'diễn ra' khi người ta để nó 'tự đi theo con đường của nó', 'hoàn thành lộ trình của nó', theo 'khuynh hướng' hoặc 'xu hướng', hoặc kết thúc 'những gì nó đang làm', 'những gì nó đang hướng tới' hoặc 'những gì nó tham gia'. Tuy nhiên, các biểu thức tiếng Đức này không có từ tương đương đơn giản trong tiếng Anh, mà chỉ giới hạn trong một nhóm thành ngữ khá đặc biệt, chẳng hạn như những ví dụ sau đây, được chúng tôi trích từ cuốn từ điển Anh-Đức, Đức-Anh đáng ngưỡng mộ của Wildhagen và Heraucourt (Tập II, Wiesbaden 1953): 'es dabei bewenden lassen' - 'để yên đó, buông bỏ nó, để nó dừng lại ở đó'; 'und dabei hatte es sein Bewenden' - 'và [vấn đề đã kết thúc]'; 'dabei muss es sein Bewenden' 'haben' - 'there the matter must est' - 'that must suffice'; 'die Sache hat eine ganz andere Bewandtnis' - 'the case is tuite different'; 'damit hat es seine besondere Bewaridtnis' - 'there is something peculiar about it; thereby hangs a tale'; 'damit hat est folgende Bewandtnis' - 'the matters as follows'. Chúng tôi đã cố gắng dịch cả 'Bewenden' và 'Bewandtnis' bằng các cụm từ bao gồm 'involve' hoặc 'involvement'. Nhưng ngữ cảnh mà những từ này có thể dễ dàng được sử dụng trong tiếng Anh thông thường lại không tương ứng lắm với ngữ cảnh có thể có đối với 'Bewenden' và 'Bewandtnis'. Nhiệm vụ của chúng tôi càng trở nên phức tạp hơn bởi sự nhấn mạnh mà Heidegger dành cho các giới từ 'mit' và 'bei' liên quan đến 'Bewenden' và 'Bewandtnis'. Trong những đoạn văn như đoạn hiện tại, sẽ tự nhiên hơn nếu giữ nguyên chúng. Các giới từ không được dịch và chỉ đơn giản viết: 'Bất kỳ thực thể nào như vậy đều tham gia vào việc làm điều gì đó', hoặc 'Bất kỳ thực thể nào như vậy đều tham gia vào một số hoạt động'. Nhưng 'mit' và 'bei' nhận được rất nhiều sự chú ý trong mối liên hệ này đến nỗi trong những ngữ cảnh như thế này, đôi khi chúng ta sẽ dịch chúng là 'với' và 'trong', mặc dù ở những nơi khác, chúng ta sẽ xử lý 'bei' rất khác. (Người đọc phải ghi nhớ rằng loại 'sự tham gia' mà chúng ta quan tâm ở đây luôn là sự tham gia vào một số hoạt động mà người ta đang thực hiện, chứ không phải sự tham gia vào những hoàn cảnh mà người ta bị 'mắc kẹt' hoặc 'vướng vào'.) [tr.115]

6 'In Bewandtnis liegt: bewenden lassen mit etwas bei etwas. Der Bezug des "mit …bei…" soil durch den Terminus Verweisung angezeigt werden.' Ở đây, vấn đề dường như là nếu một cái gì đó có 'sự tham gia' theo nghĩa 'Bewandtnis' (hay đúng hơn, nếu có một sự liên quan như vậy 'với' nó), thì vật có sự liên quan này đã được 'chỉ định' hoặc 'được giới thiệu' cho một hoạt động hoặc mục đích nhất định 'trong' mà nó có thể được cho là có liên quan. [tr.115]

7 'Bewandtnis ist das Sein des Innerweltlichen Seienden, darauf es je schon zunachst freigegeben ist. Tôi cũng vậy Seiendem hat es je eine Bewandtnis. Dieses, class es eine Bewandtnis hat, ist die ontologische Bestimmung des Seins diees Seienden, nicht eine ontische Aussage tiber das Seiende. Das Wobei es die Bewandtnis hat, ist das Wozu der Điềnlichkeit, das Wofiir der Verwendbarkeit.' Đoạn văn này và những đoạn tiếp theo rất khó dịch vì Heidegger đang sử dụng ba giới từ được phân biệt cẩn thận ('zu', 'fur' và 'auf') trong khi cách diễn đạt tiếng Anh chỉ cần 'for'. Chúng ta có thể nói rằng một cái gì đó có thể sử dụng được, có thể dùng được hoặc có thể áp dụng 'cho' một mục đích nào đó, và rằng nó có thể được giải phóng hoặc được tự do 'cho' một loại hoạt động nào đó. Tuy nhiên, trong tiếng Đức, người ta sẽ nói là có 'Dienlichkeit zu…', 'Verwendbarkeitfur…'; và nó sẽ là 'freigegeben arif…'. Trong phần còn lại của phần này, chúng ta sẽ sử dụng 'for' cho cả 'fiir' và 'auf' khi chúng xuất hiện trong các biểu thức này; tuy nhiên, chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng 'towards-which' cho 'Wozu' của 'Dienlichkeit'. Xem chú thích 1, trang 109, H. 78 ở trên. [tr.116]

8 ‘Dieses primare Wozu ist kein Dazu als mogliches Wobei einer Bewandtnis. Das primare "Wozu" ist ein Worum-willen.' [tr.116]

9 'Bewendenlassen bedeutet ontisch; Innerhalb eines faktischen Besorgens ein Zuhandenes so und so sein lassen, wie es Numehr ist und damit es so ist.' [tr.117]

10 ‘…es im ontischen Sinne dabei bewenden lassen kann.' Mặc dù chúng tôi đã dịch 'dabei' đơn giản là 'do đó' trong ngữ cảnh này, nhưng có thể nó nên được hiểu là một ví dụ về cách sử dụng đặc biệt của cá cược với bewenden lassen. Một sự mơ hồ tương tự xảy ra trong câu sau đây. [tr.117]

11 'Das auf Bewandtnis hin freigebende Je-schon-haben-bewenden-lassen ist ein apriorisches Perfekt, das die Seinsart des Daseins selbst charakterisiert. [117]

12 'Aus dem Wobei des Bewendenlassens her ist das Womit der Bewandtnis freigegeben.' [tr.118]

13 Ở đây chúng ta theo dõi các ấn bản mới hơn trong phần đọc: 'Sofern sich ihm iiberhaupt ein Seiendes zeigt…'. Các ấn bản cũ hơn ghi 'Sofern sich mit ihm…', hơi mơ hồ nhưng gợi ý rằng chúng ta nên viết: 'Trong chừng mực mà với những gì có sẵn thì bất kỳ toàn bộ nội dung nào cũng hiển thị chính nó...'. [tr.118]

14 'Worauf'. Các phiên bản cũ hơn có 'woraufhin'. [tr.118]

15 'Das vorgangige Erschliessen dessen, woraufhin die Freigabe des Innerweltlichen Begegnenden erfolgt…'. [tr.118]

16 ‘…wie das Dazu, als wobei es die Bewandtnis hat, dasWorum-willen, darauf letztlich alles Wozu zuriickgeht.' Các phiên bản cũ hơn có ‘…als wobei es je die Bewandtnis hat…’ và bỏ dấu gạch nối trong 'Worum-willen'. [tr.119]

17 'Dieses zeichnet ein Dazu vor, als mogliches Wobei eines Bewendenlassens, das strukturmiissig mit etwas bewenden !asst. Dasein verweist sich je schon immer aus einem Worum-willen her an das Womit einer Bewandtnis, d. h. es liisst je immer schon, sofern es ist, Seiendes als Zuhandenes begegnen.' [tr.119]

18 'Das Worin des sichverweisenden Verstehens als Woraufhin des Begegnenlassens von Seiendem in der Seinsart der Bewandtnis ist das Phiinomen der Welt.' [tr.119]

19 'Das…Verstehen…ngừng chết angezeigten Bezlige in einer vorgangigen Erschlossenheit. Tôi hoàn toàn có thể tạm dừng Sich-darin-halten es sich diese vor als das, worin sich sein Verweisen bewegt.' Bối cảnh gợi ý rằng ‘diese’ của Heidegger đề cập đến các mối quan hệ (Bezlige) hơn là đến tính bộc lộ (Erschlossenheit), mặc dù cách giải thích sau này có vẻ hợp lý hơn một chút về mặt ngữ pháp. [tr.120]

20 'Das Verstehen llisst sich in und von diesen Bezligen selbst verweisen.' Không hoàn toàn rõ ràng liệu 'von' nên được dịch là 'của', 'từ' hay 'bởi'. [tr.120]

21 'he-deuten'. Trong khi Heidegger thường viết từ này không có dấu gạch ngang (ngay cả, ví dụ, trong câu tiếp theo), ở đây ông ấy đã cố gắng đặt dấu gạch ngang để gợi ý rằng về mặt từ nguyên, nó bao gồm tiền tố nhấn mạnh 'be-' theo sau là động từ 'deuten' - 'giải thích', 'giải thích' hoặc 'chỉ ra' điều gì đó. Chúng ta sẽ tiếp tục tuân theo quy ước của mình là thường dịch 'bedeuten' và 'Bedeutung' lần lượt là 'biểu thị' và 'ý nghĩa', dành 'ý nghĩa' cho 'Bedeutsamkeit' (hoặc, trong một vài trường hợp, cho 'Bedeutung'). Nhưng những bản dịch này che khuất ý nghĩa cơ bản mà Heidegger đang nhấn mạnh trong đoạn văn này. [tr.120]

22 'angewiesen'; 'Angewiesenheit'. Động từ 'anweisen', giống như 'verweisen', thường có thể được dịch là 'giao', đặc biệt là theo nghĩa giao hoặc phân bổ một vị trí cho cái gì đó, hoặc theo nghĩa giao 'nhiệm vụ' cho ai đó bằng cách hướng dẫn họ cách tiến hành. Do đó, phân từ quá khứ 'angewiesen' có thể có nghĩa là 'được giao' theo một trong hai nghĩa này; nhưng nó thường mang hàm ý 'phụ thuộc vào' cái gì đó hoặc thậm chí 'bị lệ thuộc' vào cái gì đó. Trong đoạn văn này, chúng tôi đã cố gắng dung hòa bằng cách sử dụng động từ 'phụ thuộc'. Các đoạn văn khác yêu cầu các cách diễn đạt khác, và dường như không có bản dịch tiêu chuẩn nào khả thi. [tr.121]

23 Phần này của Being and Time chưa bao giờ được xuất bản. [tr.123]