Powered By Blogger

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (IV)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

VI. Phân loại Logic Truyền thống và Nền tảng của Logic này

[Tr.21] Khi quay trở lại những vấn đề như chân lý theo đúng nghĩa, cơ sở, khái niệm, tính quy luật và tự do, chúng ta đang tìm kiếm một logic triết học, hay nói đúng hơn, cái nền tảng siêu hình của logic (initia logicae). Chúng ta tìm cách quay trở lại những vấn đề cơ bản này, và do đó, trở lại với một lối vào bản thân triết học một cách cụ thể, bằng con đường phân tích phê phán logic truyền thống xuống đến những nền tảng ẩn giấu của nó. Tuy nhiên, lịch sử của logic, chính xác là nếu người ta không chỉ nhìn vào kết quả mà trong mỗi trường hợp, còn nhìn vào sự xuất hiện ít nhiều rõ ràng của nó từ triết học thì vấn đề không chỉ rộng lớn và phức tạp. Nó còn thể hiện một số giai đoạn quan trọng chủ yếu cần phải gọi tên: Plato, Aristotle, trường phái Khắc kỷ, thời Trung cổ, Leibniz, [tr.22] Kant, Hegel, trong thế kỷ XIX và giai đoạn chuyển tiếp sang thế kỷ XX: Lotze, Sigwart, Husserl. Trong khóa học này, không thể phát triển một bức tranh về lịch sử logic cùng với việc xử lý các vấn đề. Dựa trên vấn đề trọng tâm đang hướng tới, chúng ta phải cố gắng tìm đến một điểm tựa thích hợp cho việc hồi tưởng từ lịch sử. Nói cách khác, một điểm tựa thích hợp có nghĩa là, chúng ta phải tìm thấy ở đó một sự sắp xếp các chủ đề truyền thống của logic sao cho, đồng thời, nó cho phép tiến hành một cách nhất quán từ đó trở lại các vấn đề cơ bản đã đề cập trước đó. Một điểm tựa lịch sử như vậy thực sự có thể được tìm thấy ở Leibniz (1646-1716). Không chỉ truyền thống logic cổ đại và trung cổ hội tụ trong ông dưới một hình thức mới độc lập; ông còn trở thành động lực để đặt ra những câu hỏi mới, đưa ra những gợi ý cho các nhiệm vụ mà một phần chỉ được thực hiện trong thời gian gần đây. Từ Leibniz, chúng ta có thể tạo ra cho mình những góc nhìn quay trở lại thời cổ đại và hướng tới hiện tại, những góc nhìn quan trọng đối với các vấn đề nền tảng của logic.

Chắc chắn, trong Leibniz, chúng ta không trình bày một cách hệ thống về logic, bởi vì ngay cả những điều quan trọng mà ông để lại cũng nằm rải rác trong các bức thư, các chuyên luận nhỏ, các bài viết lẻ tẻ và các chương trình. Vì vậy, chúng ta không thể nghĩ đến việc xây dựng một bản trình bày đầy đủ về những lời dạy của ông. Chúng ta không cần một bản báo cáo lịch sử, mà muốn nắm bắt cơ hội để đi sâu vào chính các vấn đề. Nhưng trước tiên, ngay cả khi muốn tập trung vào Leibniz, thì câu hỏi vẫn còn đó: Chúng ta nên chọn những đối tượng logic truyền thống nào? Logic tự thân đề cập đến điều gì? Hãy quay lại khái niệm logic hình thức như đã mô tả. Theo đó, logic là một khoa học về λόγος logos, về những phát ngôn xác định một cái gì đó là một cái gì đó. ‘Phát ngôn’ ở đây mang tính mơ hồ. Nó có thể có nghĩa là đưa ra một phát ngôn, giao tiếp, trái ngược với việc im lặng và giữ kín điều gì đó cho riêng mình. Kiểu phát ngôn này luôn luôn cần thiết là một phát ngôn ngôn ngữ. Tuy nhiên, ‘phát ngôn’ cũng có nghĩa, và ở đây chủ yếu có nghĩa là, nói điều gì đó về một cái gì đó, ‘A là b,’ để xác định b thuộc về A. Đây là phát ngôn theo nghĩa vị ngữ. Đặc tính mệnh đề này của λόγος logos được thể hiện rõ nhất trong mô tả của Aristotle về nó. Cách xử lý rõ ràng của Aristotle đối với λόγος nằm trong một chuyên luận nhỏ và khó, có tựa đề Περί Εμένειας (de Interprete), ‘Về Diễn giải’. Ở đây Aristotle nói (Chương 4, 16b, 26ff.): Λόγος δὲ έστι φωνέ σημαντικἡ, ἡς τών μερών τι σημαντικόν έστι κεχωρισμένον ως φασις ἀλλ᾿ οὐχ ως κατάφασις λέγω δέ οἷον ἄνθρωπος σημαίνειν μέν τι, ἀλλ᾿ οὐχ ως ὄτι ἢ οὐχ έστιν. Đây là một điều đáng chú ý [p.23] άπόφασις, έάν τι προστεθῇ. Chúng tôi dịch như sau: ‘Lời nói, phát ngôn, là một hình thức phát âm bằng giọng nói có nghĩa, chứa đựng nội dung ý nghĩa theo cách mà trong mỗi trường hợp, một phần của phát ngôn này, khi được tách riêng, vẫn có nghĩa như một φασις lời nói đơn thuần chứ không phải là một κατάφασις khẳng định chắc chắn, ‘gã kia đang bị kích động’; κατά có nghĩa là ‘nhìn cái gì đó từ trên xuống dưới’. Vì vậy, ví dụ, từ ‘gã kia’ tự nó có nghĩa (chúng ta nói rằng chúng ta có thể nghĩ về một điều gì đó khi nghe từ này), nhưng chỉ bằng việc nói ra từ riêng lẻ này, người ta không thể khẳng định liệu gã kia có tồn tại hay không. Nhưng khi thêm một điều gì đó (cụ thể là việc anh ta tồn tại hay không) vào từ đứng riêng lẻ (‘gã’), thì câu này trở thành κατάφασις khẳng định chắc chắn hoặc άπόφασις, một khẳng định hoặc phủ nhận.

Mỗi mệnh đề, với tư cách là sự xác định một cái gì đó là một cái gì đó, vì vậy hoặc là một khẳng định hoặc là một phủ định. Những cách diễn đạt này phải được hiểu theo nghĩa đen. Khẳng định có nghĩa là xác nhận một cái gì đó thuộc-về, và phủ định có nghĩa là bác bỏ một cái gì đó không thuộc-về. Trong các bản dịch tác phẩm của Aristotle và trong các bài bình luận về sách logic và về Porphyry, Boethius (khoảng 480-524) dịch φασιςdiction [ Dictio trong tiếng Latin, là danh động từ dicere – nói, có nghĩa là một câu nói, cách diễn đạt, từ ngữ, hoặc ngôn luận; nó thường ám chỉ nghệ thuật lựa chọn từ vựng hoặc phong cách diễn đạt (cách nói/viết) của một ai đó; xuất phát từ gốc từ dict- của dicere, có ý nghĩa liên quan đến hành động ‘nói’, ‘bảo’, hoặc ‘phát biểu’; trong ngôn ngữ từ này là gốc của các từ tiếng Anh như diction cách diễn đạt, dictionary từ điển, và dictation đọc cho ai đó viết - HHN] κατάφασιςaffirmatio [Từ affirmation tiếng Anh, lời khẳng định, sự xác nhận thì trong tiếng Latin là adfirmatio hoặc affirmatio danh từ, giống cái, thuộc biến cách 3; ý nghĩa: sự khẳng định, củng cố niềm tin, lời quả quyết, sự xác nhận; từ liên quan: adfirmare/affirmare động từ: khẳng định, làm vững chắc; gốc từ: các cách diễn đạt khác liên quan đến khẳng định trong tiếng Latin là cách nói thông thường để diễn đạt ‘vâng’ hoặc ‘đúng vậy’, thể hiện sự đồng ý/khẳng định- HHN] và άπόφασιςnegation [Trong ngữ pháp tiếng Latin, negation phủ định, được thể hiện chủ yếu thông qua các từ ngữ đặc biệt như non không, nemo không ai, nihil không gì, nullus không cái nào, và nunquam không bao giờ; dưới đây là các điểm chính về phủ định trong tiếng Latin: từ phủ định cơ bản non là từ phổ biến nhất để phủ định động từ; đại từ/trạng từ phủ định nemo không ai (người), nihil không gì (vật), nullus không cái nào (tính từ), nunquam không bao giờ (thời gian); tiền tố phủ định: nhiều tiền tố trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Latin như in-, un-, non-, dis-; các tiền tố này được thêm vào trước từ gốc để đảo ngược nghĩa của từ đó, ví dụ in- thường dùng cho các từ có nguồn gốc Latin; cấu trúc câu tiếng Latin có thể sử dụng các hình thức phủ định kép, trong đó hai từ phủ định được sử dụng cùng nhau, thường để nhấn mạnh sự phủ định; nhìn chung, negation trong tiếng Latin là hệ thống các công cụ ngôn ngữ để bác bỏ, cự tuyệt hoặc thể hiện sự tiêu cực trong câu-HHN]. Các phán đoán tích cực và tiêu cực sau này tương ứng với sự phân biệt này. ‘Phán đoán’ là cách diễn đạt được sử dụng thường xuyên nhất hiện nay cho λόγος. Chúng ta thấy ngay cách tiếp cận của Aristotle vẫn hướng mạnh mẽ đến hình thức ngôn ngữ của λόγος, khi ông trình bày λόγος như một συμπλοκἠ, nexus, connexio sự kết nối của nhiều từ có nghĩa riêng. Ví dụ, từ Latin pluit, nghĩa là trời đang mưa, cũng chính xác là một λόγος, và κατάφασις khẳng định - tuy nhiên chỉ được tạo thành từ một 'từ' duy nhất: Đây chắc chắn là một vấn đề riêng biệt. Vậy thì ý nghĩa mà từ ‘mưa’ được khẳng định là gì; ‘nó [trời] đang mưa’ – thì ‘nó’ có nghĩa là gì?

Dù sao đi nữa, trong cách giải thích quyết định đầu tiên, λόγος được hình dung như một sự kết nối các khái niệm, như một sự liên kết các ý nghĩa, như một sự ràng buộc các ý niệm lại với nhau. Do đó, các thành phần cơ bản của λόγος là những khái niệm, ý nghĩa, khái niệm riêng lẻ này; τὰ μὲν οὐν ​​ὀνόματα αὐτὰ καὶ τὰ ῥήματα ἔοικε τὡ ἄνευ συνθἐσεως καὶ διαὶρἐσεως νοήματι (de Interpret. 1, 16a 13f.) [Bản thân một danh từ hoặc một động từ rất giống một khái niệm hoặc ý nghĩ, không kết hợp cũng không rời rạc. Về Diễn giải 1, 16a 13f.]. Vì vậy, để làm rõ λόγος, phương pháp được đề xuất dường như là bắt đầu từ cái tạo nên nó; yếu tố cơ bản của λόγος là khái niệm. Do đó, học thuyết về khái niệm phải đi trước học thuyết về λόγος với tư cách là phán đoán. Mặt khác, sau đó tư duy lại hoạt động để kết nối các mệnh đề riêng lẻ thành các hình thức kết nối cụ thể: A là B, [tr.24] B là C, do đó A là C. Sự liên kết các phán đoán này được gọi là suy luận. Như vậy, chúng ta đi đến ba phân chia chính của logic: học thuyết về khái niệm, về phán đoán và về suy luận. Aristotle thực sự đã xử lý cả ba thành phần cơ bản này - mà không hề có kế hoạch phát triển một bộ môn theo cách này. Điều đó chỉ xảy ra sau này trong quá trình phát triển triết học Aristotelian của trường phái Kinh viện. Từ thời kỳ đó cũng xuất hiện sự sắp xếp và đặt tên cho các tác phẩm xử lý các vấn đề về bản chất logic dưới tiêu đề Ὄργανον Organon công cụ, phương tiện. Khái niệm logic mang tính kỹ thuật bề ngoài được thể hiện ngay trong tiêu đề này. Từ đó, Ὄργανον Organon được dùng để chỉ logic học của Aristotle. Ὄργανον Organon này bao gồm năm hoặc sáu khảo sát khác nhau về các vấn đề logic; và thứ tự truyền thống xuất phát từ việc sử dụng các quan điểm sư phạm. Các phần gồm: Phạm trù, Về diễn giải, Phân tích Tiên nghiệm (về suy luận), Phân tích Hậu nghiệm (về các nguyên tắc chứng minh và tri thức; có liên quan chặt chẽ hơn đến bản thể luận so với Phân tích Tiên nghiệm), Chủ đề (suy luận xác suất), và Về Bác bỏ Ngụy biện (về các lỗi ngụy biện; thường được coi là một phần của Chủ đề).4

[Ghi chú dài Về Diễn giải Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation của Aristotles, Κεφάλαιον 1 [16a.1]: Πρῶτον δεῖ θέσθαι τί ὄνομα καὶ τί ῥῆμα, ἔπειτα τί ἐστιν ἀπόφασις καὶ κατάφασις καὶ ἀπόφανσις καὶ λόγος. Ἔστι μὲν οὖν τὰ ἐν τῇ φωνῇ τῶν ἐν τῇ ψυχῇ παθημάτων σύμβολα, καὶ τὰ γραφόμενα τῶν ἐν τῇ φωνῇ. καὶ ὥσπερ οὐδὲ γράμματα πᾶσι τὰ αὐτά, οὐδὲ φωναὶ αἱ αὐταί· ὧν μέντοι ταῦτα σημεῖα πρώτων, ταὐτὰ πᾶσι παθήματα τῆς ψυχῆς, καὶ ὧν ταῦτα ὁμοιώματα πράγματα ἤδη ταὐτά. περὶ μὲν οὖν τούτων εἴρηται ἐν τοῖς περὶ ψυχῆς, — ἄλλης γὰρ πραγματείας· — ἔστι δέ, ὥσπερ ἐν τῇ ψυχῇ ὁτὲ μὲν νόημα ἄνευ τοῦ ἀληθεύειν ἢ ψεύδεσθαι ὁτὲ δὲ ἤδη ᾧ ἀνάγκη τούτων ὑπάρχειν θάτερον, οὕτω καὶ ἐν τῇ φωνῇ· περὶ γὰρ σύνθεσιν καὶ διαίρεσίν ἐστι τὸ ψεῦδός τε καὶ τὸ ἀληθές. τὰ μὲν οὖν ὀνόματα αὐτὰ καὶ τὰ ῥήματα ἔοικε τῷ ἄνευ συνθέσεως καὶ διαιρέσεως νοήματι, οἷον τὸ ἄνθρωπος ἢ λευκόν, ὅταν μὴ προστεθῇ τι· οὔτε γὰρ ψεῦδος οὔτε ἀληθές πω. σημεῖον δ᾿ ἐστὶ τοῦδε· καὶ γὰρ ὁ τραγέλαφος σημαίνει μέν τι, οὔπω δὲ ἀληθὲς ἢ ψεῦδος, ἐὰν μὴ τὸ εἶναι ἢ μὴ εἶναι προστεθῇ ἢ ἁπλῶς ἢ κατὰ χρόνον.” Phiên bừa: Mục 1 [16a.1]:  “Trước tiên, chúng ta phải định nghĩa các thuật ngữ ‘danh từ’ và ‘động từ’, sau đó là các thuật ngữ ‘phủ định’ và ‘khẳng định’, rồi ‘mệnh đề’ và ‘câu’. Các từ được nói ra là biểu tượng của kinh nghiệm tinh thần và các từ được viết ra là biểu tượng của các từ được nói ra. Cũng như không phải tất cả mọi người đều có cùng một cách viết, thì không phải tất cả mọi người đều có cùng một âm thanh lời nói, nhưng những kinh nghiệm tinh thần mà những âm thanh này trực tiếp biểu trưng thì đối với tất cả mọi người lại giống nhau, cũng như những sự vật mà kinh nghiệm của chúng ta là hình ảnh của chúng. Tuy nhiên, vấn đề này đã được thảo luận trong luận văn của tôi về linh hồn, vì nó thuộc về một khảo sát khác biệt với những gì đang có trước mắt chúng ta. Cũng như trong tâm trí có những suy nghĩ không bao hàm chân hay giả, và cũng có những suy nghĩ phải là đúng hoặc sai, thì trong lời nói cũng vậy. Bởi vì chân và giả hàm chứa sự kết hợp và tách biệt. Danh từ và động từ, miễn là không có gì được thêm vào, cũng giống như những suy nghĩ không có sự kết hợp hoặc tách biệt; ‘người’ và ‘trắng’, với tư cách là những thuật ngữ riêng lẻ, vẫn chưa phải là chân hay giả. Để chứng minh điều này, hãy xem xét từ τραγέλαφος tragélaphos, [mô tả một sinh vật tưởng tượng nửa dê τράγος tragos và nửa nai/hươu έλαφος - elaphos; vật trang trí, một loại cốc uống nước có khắc hình sinh vật này; nghĩa ẩn dụ/khác, đôi khi dùng để chỉ một thứ gì đó kỳ dị, không có thật, tương tự như khái niệm ‘hircocervus’ trong tiếng Latin mô tả một sinh vật nửa thân trên là dê (hircus) nửa thân dưới là cervus hươu/ nai, về nguồn gốc triết học, sinh vật này thường được Aristotle và Plato thảo luận như một ví dụ về một khái niệm có thể mô tả được vì có hình ảnh trong tâm trí, mặc dù nó không thực sự tồn tại trong tự nhiên. HHN] Nó có ý nghĩa, nhưng không có đúng hay sai tuyệt đối nào về nó, trừ khi thêm từ ‘là’ hoặc ‘không phải là’, ở thì hiện tại hoặc ở một thì khác.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 2 [16a.20]: Ὄνομα μὲν οὖν ἐστὶ φωνὴ σημαντικὴ κατὰ συνθήκην ἄνευ χρόνου, ἧς μηδὲν μέρος ἐστὶ σημαντικὸν κεχωρισμένον· ἐν γὰρ τῷ Κάλλιππος τὸ ιππος οὐδὲν καθ᾿ αὑτὸ σημαίνει, ὥσπερ ἐν τῷ λόγῳ τῷ καλὸς ἵππος. οὐ μὴν οὐδ᾿ ὥσπερ ἐν τοῖς ἁπλοῖς ὀνόμασιν, οὕτως ἔχει καὶ ἐν τοῖς πεπλεγμένοις· ἐν ἐκείνοις μὲν γὰρ οὐδαμῶς τὸ μέρος σημαντικόν, ἐν δὲ τούτοις βούλεται μέν, ἀλλ᾿ οὐδενὸς κεχωρισμένον, οἷον ἐν τῷ ἐπακτροκέλης τὸ κελης. τὸ δὲ κατὰ συνθήκην, ὅτι φύσει τῶν ὀνομάτων οὐδέν ἐστιν, ἀλλ᾿ ὅταν γένηται σύμβολον· ἐπεὶ δηλοῦσί γέ τι καὶ οἱ ἀγράμματοι ψόφοι, οἷον θηρίων, ὧν οὐδέν ἐστιν ὄνομα. — τὸ δ᾿ οὐκ ἄνθρωπος οὐκ ὄνομα· οὐ μὴν οὐδὲ κεῖται ὄνομα ὅ τι δεῖ καλεῖν αὐτό, — οὔτε γὰρ λόγος οὔτε ἀπόφασίς ἐστιν· — ἀλλ᾿ ἔστω ὄνομα ἀόριστον. τὸ δὲ Φίλωνος ἢ Φίλωνι καὶ ὅσα τοιαῦτα οὐκ ὀνόματα ἀλλὰ πτώσεις ὀνόματος. λόγος δέ ἐστιν αὐτοῦ τὰ μὲν ἄλλα κατὰ τὰ αὐτά, ὅτι δὲ μετὰ τοῦ ἔστιν ἢ ἦν ἢ ἔσται οὐκ ἀληθεύει ἢ ψεύδεται, — τὸ δ᾿ ὄνομα ἀεί, — οἷον Φίλωνός ἐστιν ἢ οὐκ ἔστιν· οὐδὲν γάρ πω οὔτε ἀληθεύει οὔτε ψεύδεται.” Phiên bừa: Mục 2 [16a.20]: “Theo nghĩa của từ danh từ, chúng ta hiểu đó là một âm thanh có ý nghĩa theo quy ước, không liên quan đến thời gian, và không có phần nào của nó có ý nghĩa độc lập với phần còn lại. Trong từ danh từ καλὸς kalos hay, tốt, tuyệt vời ἵππος hippos chiến mã, phần ἵππος không có ý nghĩa riêng lẻ, như trong cụm từ καλὸς ἵππος. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa danh từ đơn và danh từ kép; vì trong danh từ đơn, phần đó không có ý nghĩa gì, còn trong danh từ kép, nó góp phần vào ý nghĩa của toàn bộ, mặc dù nó không có nghĩa độc lập. Ví dụ, trong từ ἐπακτροκέλης thuyền cướp biển, từ κέλης không có nghĩa gì ngoại trừ khi là một phần của toàn bộ từ. [ἐπακτροκέλης Epaktrokelēs là một loại tàu nhỏ, nhẹ và nhanh thường được cướp biển sử dụng trong thời cổ đại, nó kết hợp các đặc điểm của κέλης keleis tàu nhanh và ἐπακτρον epaktron tàu của cướp biển, có hình dạng hơi tròn hơn; do tốc độ cao nên nó là một phương tiện lý tưởng cho các cuộc tấn công của cướp biển; từ nguyên ἔπακτρον tính từ dùng để chỉ tàu cướp biển và κέλης keleis tàu nhanh- HHN] Như vậy, trong từ ἐπακτροκέλης ‘thuyền cướp biển’, từ κέλης ‘thuyền’ không có nghĩa gì ngoại trừ khi nó là một phần của toàn bộ từ. Giới hạn ‘theo quy ước’ được đưa ra vì bản chất không có gì là danh từ hay tên riêng - nó chỉ là danh từ khi trở thành một biểu tượng; những âm thanh không rõ nghĩa, chẳng hạn như âm thanh mà loài vật tạo ra, có ý nghĩa, nhưng không âm thanh nào trong số đó cấu thành một danh từ. Cụm từ ‘không phải người’ không phải là một danh từ. Thực tế không có thuật ngữ nào được công nhận để chúng ta có thể dùng để chỉ một cụm từ như vậy, vì nó không phải là một câu hay một sự phủ định. Vậy thì hãy gọi nó là một danh từ bất định. Các cụm từ ‘của Philo’, ‘đến Philo’, v.v., không phải là danh từ, mà là các trường hợp của một danh từ. Định nghĩa của những trường hợp này của danh từ về các khía cạnh khác giống với định nghĩa của danh từ riêng, nhưng khi kết hợp với ‘là’, ‘đã là’ hoặc ‘sẽ là’, chúng không tạo thành một mệnh đề đúng hay sai, trong khi danh từ riêng luôn tạo thành một mệnh đề đúng ở những hoàn cảnh này. Hãy xem các từ ‘của Philo là’ hoặc ‘của’ hoặc ‘ của Philo không là’; những từ này, khi đứng riêng lẻ, không tạo thành một mệnh đề đúng hay sai.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 3 [16b.5]: Ῥῆμα δέ ἐστι τὸ προσσημαῖνον χρόνον, οὗ μέρος οὐδὲν σημαίνει χωρίς· ἔστι δὲ τῶν καθ᾿ ἑτέρου λεγομένων σημεῖον. λέγω δ᾿ ὅτι προσσημαίνει χρόνον, οἷον ὑγίεια μὲν ὄνομα, τὸ δ᾿ ὑγιαίνει ῥῆμα· προσσημαίνει γὰρ τὸ νῦν ὑπάρχειν. καὶ ἀεὶ τῶν ὑπαρχόντων σημεῖόν ἐστιν, οἷον τῶν καθ᾿ ὑποκειμένου. — τὸ δὲ οὐχ ὑγιαίνει καὶ τὸ οὐ κάμνει οὐ ῥῆμα λέγω· προσσημαίνει μὲν γὰρ χρόνον καὶ ἀεὶ κατά τινος ὑπάρχει, τῇ διαφορᾷ δὲ ὄνομα οὐ κεῖται· ἀλλ᾿ ἔστω ἀόριστον ῥῆμα, ὅτι ὁμοίως ἐφ᾿ ὁτουοῦν ὑπάρχει καὶ ὄντος καὶ μὴ ὄντος. ὁμοίως δὲ καὶ τὸ ὑγίανεν ἢ τὸ ὑγιανεῖ οὐ ῥῆμα, ἀλλὰ πτῶσις ῥήματος· διαφέρει δὲ τοῦ ῥήματος, ὅτι τὸ μὲν τὸν παρόντα προσσημαίνει χρόνον, τὰ δὲ τὸν πέριξ. — αὐτὰ μὲν οὖν καθ᾿ αὑτὰ λεγόμενα τὰ ῥήματα ὀνόματά ἐστι καὶ σημαίνει τι, — ἵστησι γὰρ ὁ λέγων τὴν διάνοιαν, καὶ ὁ ἀκούσας ἠρέμησεν, — ἀλλ᾿ εἰ ἔστιν ἢ μή οὔπω σημαίνει· οὐ γὰρ τὸ εἶναι ἢ μὴ εἶναι σημεῖόν ἐστι τοῦ πράγματος, οὐδ᾿ ἐὰν τὸ ὂν εἴπῃς ψιλόν. αὐτὸ μὲν γὰρ οὐδέν ἐστιν, προσσημαίνει δὲ σύνθεσίν τινα, ἣν ἄνευ τῶν συγκειμένων οὐκ ἔστι νοῆσαι. Phiên bừa: Mục 3 [16b.5]: “Động từ là từ, ngoài nghĩa thông thường, còn mang theo khái niệm về thời gian. Không có bộ phận nào của nó có nghĩa độc lập, và đó là dấu hiệu của một điều gì đó được nói về một điều khác. Tôi sẽ giải thích ý nghĩa của việc nói rằng nó mang theo khái niệm về thời gian. ‘Sức khỏe’ ὑγίεια hygieia là một danh từ, nhưng ὑγιαίνει hygiainei ‘khỏe lên’ là một động từ; bởi vì ngoài nghĩa thông thường, nó còn chỉ ra sự tồn tại hiện tại của trạng thái được đề cập. Hơn nữa, động từ luôn là dấu hiệu của một điều gì đó được nói về một điều khác, tức là của một điều gì đó có thể được gán cho hoặc hiện diện trong một sự vật khác. Những biểu hiện như ‘không khỏe mạnh’, ‘không ốm’, tôi không mô tả chúng là các động từ; vì mặc dù chúng mang thêm ý nghĩa về thời gian và luôn tạo thành một vị ngữ, nhưng không có tên gọi cụ thể nào cho loại này; nhưng hãy gọi chúng là động từ bất định, vì chúng áp dụng thỏa đáng như nhau cho cả cái tồn tại và cái không tồn tại. Tương tự, ὑγίανεν anh ấy ‘đã khỏe mạnh’, ὑγιανεῖ anh ấy ‘sẽ khỏe mạnh’, không phải là động từ, mà là thì của động từ; [Ghi chú ngữ pháp tiếng Hy Lạp: từ ὑγίανεν hygianen trong tiếng Hy Lạp cổ là một dạng đã chia của động từ ὑγιαίνω hygiainō, mang các ý nghĩa chính sau: ‘mạnh khỏe’, ‘khỏe’, ‘vững vàng’, ‘lành mạnh’; đây thường là thì bất định hoặc thì chưa hoàn thành, ngôi thứ ba số ít: anh ấy/cô ấy/nó đã mạnh khỏe; từ này thường được dùng để chỉ tình trạng sức khỏe thể chất tốt hoặc sự lành mạnh trong tư tưởng, lời nói, chẳng hạn ὑγιαίνω (hygiainō): Tôi khỏe mạnh; ὑγίεια (hygieia) sức khỏe; trong khi đó từ ὑγιανεῖ hygianei cũng là một dạng chia của động từ ὑγιαίνω (hygiainō), mang các ý nghĩa chính sau: ‘sẽ khỏe mạnh’, ‘sẽ lành lặn’ hoặc ‘sẽ chữa lành’; đây là ngôi thứ 3, số ít, thì tương lai của động từ ὑγιαίνω; nghĩa đen: Anh ấy/Cô ấy/Nó sẽ khỏe mạnh - HHN]. Khác biệt ở chỗ động từ chỉ thời điểm hiện tại, trong khi thì của động từ chỉ những thời điểm ngoài hiện tại. Bản thân động từ là danh từ và có ý nghĩa, vì sử dụng các biểu hiện như vậy thu hút người nghe và tập trung chú ý của họ; nhưng ở dạng từ nguyên, chúng không thể hiện bất kỳ phán xét nào, dù tích cực hay tiêu cực. Bởi vì cả εἶναι tồn tạiμὴ εἶναι không tồn tại cũng không mang ý nghĩa của bất kỳ sự kiện nào, trừ khi có thêm điều gì đó được bổ sung; vì bản thân chúng không chỉ ra điều gì, mà chỉ hàm ý một sự kết hợp, mà chúng ta không thể hình dung ra nếu tách rời khỏi những thứ được kết hợp.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 4 [16b.25] Λόγος δέ ἐστι φωνὴ σημαντική, ἧς τῶν μερῶν τι σημαντικόν ἐστι κεχωρισμένον, ὡς φάσις ἀλλ᾿ οὐχ ὡς κατάφασις. λέγω δέ, οἷον ἄνθρωπος σημαίνει τι, ἀλλ᾿ οὐχ ὅτι ἔστιν ἢ οὐκ ἔστιν (ἀλλ᾿ ἔσται κατάφασις ἢ ἀπόφασις ἐάν τι προστεθῇ)· ἀλλ᾿ οὐχ ἡ τοῦ ἀνθρώπου συλλαβὴ μία· οὐδὲ γὰρ ἐν τῷ μῦς τὸ υς σημαντικόν, ἀλλὰ φωνή ἐστι νῦν μόνον. ἐν δὲ τοῖς διπλοῖς σημαίνει μέν, ἀλλ᾿ οὐ καθ᾿ αὑτό, ὥσπερ εἴρηται. ἔστι δὲ λόγος ἅπας μὲν σημαντικός, οὐχ ὡς ὄργανον δέ, ἀλλ᾿ ὥσπερ εἴρηται κατὰ συνθήκην· ἀποφαντικὸς δὲ οὐ πᾶς, ἀλλ᾿ ἐν ᾧ τὸ ἀληθεύειν ἢ ψεύδεσθαι ὑπάρχει· οὐκ ἐν ἅπασι δὲ ὑπάρχει, οἷον ἡ εὐχὴ λόγος μέν, ἀλλ᾿ οὔτ᾿ ἀληθὴς οὔτε ψευδής. οἱ μὲν οὖν ἄλλοι ἀφείσθωσαν, — ῥητορικῆς γὰρ ἢ ποιητικῆς οἰκειοτέρα ἡ σκέψις, — ὁ δὲ ἀποφαντικὸς τῆς νῦν θεωρίας. Phiên bừa: Mục 4 [16b.25]: “Câu là một phần quan trọng của lời nói, trong đó một số bộ phận có nghĩa độc lập, tức là, như một phát ngôn, mặc dù không phải là sự thể hiện của bất kỳ phán đoán tích cực nào. Hãy để tôi giải thích. Từ ἄνθρωπος ánthrōpos ‘con người’ có nghĩa, nhưng không cấu thành một mệnh đề, dù là tích cực hay tiêu cực. Chỉ khi thêm các từ khác vào thì toàn bộ câu mới tạo thành một khẳng định hoặc phủ định. Nhưng nếu ta tách một âm tiết của từ ἄνθρωπος ‘con người’ ra khỏi âm tiết khác, nó sẽ không có nghĩa; tương tự như vậy trong từ μῦς mys ‘con chuột’, phần ‘ῦς’ tự nó không có nghĩa, mà chỉ là một φωνή phōnḗ âm thanh. Trong các từ ghép, các bộ phận góp phần tạo nên nghĩa của toàn bộ câu; tuy nhiên, chúng không có nghĩa độc lập. Mỗi câu đều có nghĩa, không phải là phương tiện tự nhiên để thực hiện một khả năng vật lý, mà là theo quy ước. Tuy nhiên, không phải mọi câu đều là một mệnh đề; chỉ những câu có chứa đựng sự thật hoặc sai lầm mới là mệnh đề. Do đó, một lời cầu nguyện là một câu, nhưng nó không đúng cũng không sai. Do đó, chúng ta hãy loại bỏ tất cả các loại câu khác ngoại trừ mệnh đề, vì mệnh đề này liên quan đến việc khảo sát hiện tại của chúng ta, trong khi việc khảo sát các loại câu khác thuộc về lĩnh vực nghiên cứu phép tu từ hoặc thi ca.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 5 [17a.8]: Ἔστι δὲ εἷς πρῶτος λόγος ἀποφαντικὸς κατάφασις, εἶτα ἀπόφασις· οἱ δὲ ἄλλοι συνδέσμῳ εἷς. ἀνάγκη δὲ πάντα λόγον ἀποφαντικὸν ἐκ ῥήματος εἶναι ἢ πτώσεως· καὶ γὰρ ὁ τοῦ ἀνθρώπου λόγος, ἐὰν μὴ τὸ ἔστιν ἢ ἔσται ἢ ἦν ἤ τι τοιοῦτο προστεθῇ, οὔπω λόγος ἀποφαντικός (διότι δὲ ἕν τί ἐστιν ἀλλ᾿ οὐ πολλὰ τὸ ζῷον πεζὸν δίπουν, — οὐ γὰρ δὴ τῷ σύνεγγυς εἰρῆσθαι εἷς ἔσται, — ἔστι δὲ ἄλλης τοῦτο πραγματείας εἰπεῖν). ἔστι δὲ εἷς λόγος ἀποφαντικὸς ἢ ὁ ἓν δηλῶν ἢ ὁ συνδέσμῳ εἷς, πολλοὶ δὲ οἱ πολλὰ καὶ μὴ ἓν ἢ οἱ ἀσύνδετοι. τὸ μὲν οὖν ὄνομα καὶ τὸ ῥῆμα φάσις ἔστω μόνον, ἐπεὶ οὐκ ἔστιν εἰπεῖν οὕτω δηλοῦντά τι τῇ φωνῇ ὥστ᾿ ἀποφαίνεσθαι, ἢ ἐρωτῶντός τινος, ἢ μὴ ἀλλ᾿ αὐτὸν προαιρούμενον. τούτων δ᾿ ἡ μὲν ἁπλῆ ἐστὶν ἀπόφανσις, οἷον τὶ κατὰ τινὸς ἢ τὶ ἀπὸ τινός, ἡ δ᾿ ἐκ τούτων συγκειμένη, οἷον λόγος τις ἤδη σύνθετος.” Phiên bừa: Mục 5 [17a.8]: “Loại mệnh đề đơn giản đầu tiên là khẳng định đơn giản, tiếp theo là phủ định đơn giản; tất cả các loại khác chỉ là một mệnh đề duy nhất bằng cách kết hợp các phần. Mỗi mệnh đề phải chứa một động từ hoặc thì của động từ. Cụm từ xác định loài ‘người’, nếu không thêm động từ ở thì hiện tại, quá khứ hoặc tương lai, thì không phải là một mệnh đề. Có thể hỏi làm thế nào mà cụm từ ‘một loài động vật có hai chân’ lại được gọi là đơn nhất; vì không phải việc các từ nối tiếp nhau không bị gián đoạn mới tạo nên tính thống nhất. Tuy nhiên, câu hỏi này nằm trong một nghiên cứu khác với khảo sát trước mắt chúng ta. Chúng ta gọi những mệnh đề là đơn nhất khi chúng chỉ ra một sự kiện duy nhất, hoặc sự kết hợp các phần của chúng tạo thành một thể thống nhất: mặt khác, những mệnh đề là riêng biệt và có số lượng nhiều, khi chúng biểu thị nhiều sự kiện, hoặc các phần của chúng không có sự kết hợp nào. Hơn nữa, chúng ta hãy thống nhất gọi một danh từ hoặc một động từ chỉ là một cách biểu hiện, chứ không phải là một mệnh đề, vì con người không thể nói theo cách này khi đang diễn đạt điều gì đó, theo cách tạo thành một tuyên bố, cho dù lời nói của họ là câu trả lời cho một câu hỏi hay một hành động do chính họ khởi xướng. Tóm lại: trong các mệnh đề, một loại là mệnh đề đơn giản, tức là mệnh đề khẳng định hoặc phủ định điều gì đó về một điều gì đó, loại kia là mệnh đề phức hợp, tức là mệnh đề được cấu thành từ các mệnh đề đơn giản. Một mệnh đề đơn giản là một tuyên bố có nghĩa, về sự hiện diện của một điều gì đó trong một chủ ngữ hoặc sự vắng mặt của nó, trong hiện tại, quá khứ hoặc tương lai theo các phân chia thời gian. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 6 [17a.23]: Ἔστι δ᾿ ἡ μὲν ἁπλῆ ἀπόφανσις φωνὴ σημαντικὴ περὶ τοῦ εἰ ὑπάρχει τι ἢ μὴ ὑπάρχει, ὡς οἱ χρόνοι διῄρηνται· κατάφασις δέ ἐστιν ἀπόφανσις τινὸς κατὰ τινός, ἀπόφασις δέ ἐστιν ἀπόφανσις τινὸς ἀπὸ τινός. ἐπεὶ δὲ ἔστι καὶ τὸ ὑπάρχον ἀποφαίνεσθαι ὡς μὴ ὑπάρχον καὶ τὸ μὴ ὑπάρχον ὡς ὑπάρχον καὶ τὸ ὑπάρχον ὡς ὑπάρχον καὶ τὸ μὴ ὑπάρχον ὡς μὴ ὑπάρχον, καὶ περὶ τοὺς ἐκτὸς δὲ τοῦ νῦν χρόνους ὡσαύτως, ἅπαν ἂν ἐνδέχοιτο καὶ ὃ κατέφησέ τις ἀποφῆσαι καὶ ὃ ἀπέφησε καταφῆσαι· ὥστε δῆλον ὅτι πάσῃ καταφάσει ἐστὶν ἀπόφασις ἀντικειμένη καὶ πάσῃ ἀποφάσει κατάφασις. καὶ ἔστω ἀντίφασις τοῦτο, κατάφασις καὶ ἀπόφασις αἱ ἀντικείμεναι· λέγω δὲ ἀντικεῖσθαι τὴν τοῦ αὐτοῦ κατὰ τοῦ αὐτοῦ, — μὴ ὁμωνύμως δέ, καὶ ὅσα ἄλλα τῶν τοιούτων προσδιοριζόμεθα πρὸς τὰς σοφιστικὰς ἐνοχλήσεις. Phiên bừa: Mục 6 [17a.23]: “Khẳng định là một tuyên bố tích cực về điều gì đó liên quan đến điều gì đó, còn phủ định là một tuyên bố tiêu cực. Giờ đây, có thể khẳng định và phủ định sự hiện diện của một thứ đang hiện hữu hoặc không hiện hữu, và vì những khẳng định và phủ định này cũng có thể được thực hiện đối với những thời điểm nằm ngoài hiện tại, nên có thể gặp mâu thuẫn với bất kỳ khẳng định hay phủ định nào. Như vậy, rõ ràng mọi khẳng định đều có một phủ định trái ngược, và tương tự, mọi phủ định đều có một khẳng định trái ngược. Vậy thì một cặp mệnh đề như vậy là mâu thuẫn. Những mệnh đề tích cực và tiêu cực được gọi là mâu thuẫn khi chúng có cùng chủ ngữ và vị ngữ. Tính đồng nhất của chủ ngữ và vị ngữ không được ‘mơ hồ’. Thực tế, ngoài ra còn có những điều kiện xác định khác có thể đưa ra để đối phó với những xảo lý của các nhà ngụy biện. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 7 [17a.38]: Ἐπεὶ δέ ἐστι τὰ μὲν καθόλου τῶν πραγμάτων τὰ δὲ καθ᾿ ἕκαστον, — λέγω δὲ καθόλου μὲν ὃ ἐπὶ πλειόνων πέφυκε κατηγορεῖσθαι, καθ᾿ ἕκαστον δὲ ὃ μή, οἷον ἄνθρωπος μὲν τῶν καθόλου Καλλίας δὲ τῶν καθ᾿ ἕκαστον, — ἀνάγκη δ᾿ ἀποφαίνεσθαι ὡς ὑπάρχει τι ἢ μή, ὁτὲ μὲν τῶν καθόλου τινί, ὁτὲ δὲ τῶν καθ᾿ ἕκαστον. ἐὰν μὲν οὖν καθόλου ἀποφαίνηται ἐπὶ τοῦ καθόλου ὅτι ὑπάρχει ἢ μή, ἔσονται ἐναντίαι ἀποφάνσεις, — λέγω δὲ ἐπὶ τοῦ καθόλου ἀποφαίνεσθαι καθόλου, οἷον πᾶς ἄνθρωπος λευκός, οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός· — ὅταν δὲ ἐπὶ τῶν καθόλου μέν, μὴ καθόλου δέ, οὐκ εἰσὶν ἐναντίαι, τὰ μέντοι δηλούμενα ἔστιν εἶναι ἐναντία, — λέγω δὲ τὸ μὴ καθόλου ἀποφαίνεσθαι ἐπὶ τῶν καθόλου, οἷον ἔστι λευκὸς ἄνθρωπος, οὐκ ἔστι λευκὸς ἄνθρωπος· καθόλου γὰρ ὄντος τοῦ ἄνθρωπος οὐχ ὡς καθόλου χρῆται τῇ ἀποφάνσει· τὸ γὰρ πᾶς οὐ τὸ καθόλου σημαίνει ἀλλ᾿ ὅτι καθόλου. — ἐπὶ δὲ τοῦ κατηγορουμένου τὸ καθόλου κατηγορεῖν καθόλου οὐκ ἔστιν ἀληθές· οὐδεμία γὰρ κατάφασις ἔσται, ἐν ᾗ τοῦ κατηγορουμένου καθόλου τὸ καθόλου κατηγορηθήσεται, οἷον ἔστι πᾶς ἄνθρωπος πᾶν ζῷον. Phiên bừa: Mục 7 [17a.38]: Một số thứ mang tính phổ quát, một số khác mang tính cá nhân. Thuật ngữ ‘phổ quát’ ở đây có nghĩa là những thứ có bản chất có thể được gán cho nhiều đối tượng, còn ‘cá nhân’ có nghĩa là những thứ không được gán như vậy. Ví dụ, ‘con người’ là một khái niệm phổ quát, ‘Callias’ là một khái niệm cá nhân. Các mệnh đề của chúng ta đôi khi liên quan đến một đối tượng phổ quát, đôi khi liên quan đến một đối tượng cá nhân. Nếu một người đưa ra một mệnh đề khẳng định và một mệnh đề phủ định có tính chất phổ quát đối với một khái niệm phổ quát, thì hai mệnh đề này là ‘trái ngược nhau’. Cụm từ ‘một mệnh đề có tính chất phổ quát đối với một khái niệm phổ quát’ ám chỉ những mệnh đề như ‘mọi người đều da trắng’, ‘không ai da trắng’. Mặt khác, khi các mệnh đề khẳng định và phủ định, mặc dù có liên quan đến một khái niệm phổ quát, nhưng lại không có tính chất phổ quát, thì chúng sẽ không trái ngược nhau, mặc dù ý nghĩa được dự định đôi khi là trái ngược nhau. Ví dụ về các mệnh đề được đưa ra liên quan đến một khái niệm phổ quát, nhưng không có tính chất phổ quát, ta có thể lấy các mệnh đề ‘con người da trắng’, ‘con người không da trắng’. ‘Con người’ là một khái niệm phổ quát, nhưng mệnh đề kia không được đưa ra với tính chất phổ quát; vì từ ‘mọi’ không làm cho chủ ngữ trở thành một khái niệm phổ quát, mà chỉ làm cho mệnh đề mang tính chất phổ quát. Tuy nhiên, nếu cả vị ngữ và chủ ngữ đều được phân chia, thì mệnh đề được cấu thành như vậy là trái với chân lý; trong những trường hợp như vậy, không một khẳng định nào là đúng. Mệnh đề ‘mọi người đều là mọi loài động vật’ là một ví dụ về loại này. Một khẳng định trái ngược với một phủ định theo nghĩa mà tôi dùng thuật ngữ ‘mâu thuẫn’, khi, trong khi chủ ngữ vẫn giữ nguyên, thì khẳng định mang tính chất phổ quát còn phủ định thì không. Khẳng định ‘mọi người đều da trắng’ là mâu thuẫn với phủ định ‘không phải mọi người đều da trắng’, hoặc mệnh đề ‘không ai da trắng’ mâu thuẫn với mệnh đề ‘một số là người da trắng’. Nhưng các mệnh đề được coi là đối lập khi cả khẳng định và phủ định đều mang tính phổ quát, như trong các câu ‘mọi người đều da trắng’, ‘không ai da trắng’, ‘mọi người đều công bằng’, ‘không ai công bằng’. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

Κεφάλαιον 7 [17b.16]: Ἀντικεῖσθαι μὲν οὖν κατάφασιν ἀποφάσει λέγω ἀντιφατικῶς τὴν τὸ καθόλου σημαίνουσαν τῷ αὐτῷ ὅτι οὐ καθόλου, οἷον πᾶς ἄνθρωπος λευκός — οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός — ἔστι τις ἄνθρωπος λευκός· ἐναντίως δὲ τὴν τοῦ καθόλου κατάφασιν καὶ τὴν τοῦ καθόλου ἀπόφασιν, οἷον πᾶς ἄνθρωπος δίκαιος — οὐδεὶς ἄνθρωπος δίκαιος· διὸ ταύτας μὲν οὐχ οἷόν τε ἅμα ἀληθεῖς εἶναι, τὰς δὲ ἀντικειμένας αὐταῖς ἐνδέχεται ἐπὶ τοῦ αὐτοῦ, οἷον οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, καὶ ἔστι τις ἄνθρωπος λευκός. ὅσαι μὲν οὖν ἀντιφάσεις τῶν καθόλου εἰσὶ καθόλου, ἀνάγκη τὴν ἑτέραν ἀληθῆ εἶναι ἢ ψευδῆ, καὶ ὅσαι ἐπὶ τῶν καθ᾿ ἕκαστα, οἷον ἔστι Σωκράτης λευκός — οὐκ ἔστι Σωκράτης λευκός· ὅσαι δ᾿ ἐπὶ τῶν καθόλου μὴ καθόλου, οὐκ ἀεὶ ἡ μὲν ἀληθὴς ἡ δὲ ψευδής· — ἅμα γὰρ ἀληθές ἐστιν εἰπεῖν ὅτι ἔστιν ἄνθρωπος λευκὸς καὶ ὅτι οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός, καὶ ἔστιν ἄνθρωπος καλὸς καὶ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος καλός· εἰ γὰρ αἰσχρός, καὶ οὐ καλός· καὶ εἰ γίγνεταί τι, καὶ οὐκ ἔστιν. — δόξειε δ᾿ ἂν ἐξαίφνης ἄτοπον εἶναι διὰ τὸ φαίνεσθαι σημαίνειν τὸ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός ἅμα καὶ ὅτι οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός· τὸ δὲ οὔτε ταὐτὸν σημαίνει οὔθ᾿ ἅμα ἐξ ἀνάγκης. — φανερὸν δ᾿ ὅτι καὶ μία ἀπόφασις μιᾶς καταφάσεως· τὸ γὰρ αὐτὸ δεῖ ἀποφῆσαι τὴν ἀπόφασιν ὅπερ κατέφησεν ἡ κατάφασις, καὶ ἀπὸ τοῦ αὐτοῦ, ἢ τῶν καθ᾿ ἕκαστά τινος ἢ ἀπὸ τῶν καθόλου τινός, ἢ ὡς καθόλου ἢ ὡς μὴ καθόλου· λέγω δὲ οἷον ἔστι Σωκράτης λευκός — οὐκ ἔστι Σωκράτης λευκός (ἐὰν δὲ ἄλλο τι ἢ ἀπ᾿ ἄλλου τὸ αὐτό, οὐχ ἡ ἀντικειμένη ἀλλ᾿ ἔσται ἐκείνης ἑτέρα), τῇ δὲ πᾶς ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, τῇ δὲ τὶς ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός, τῇ δὲ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός. Phiên bừa: Mục 7 [17b.16]: Ta thấy rằng trong một cặp mệnh đề như vậy, cả hai mệnh đề đều không thể cùng đúng, nhưng các mệnh đề trái ngược trong một cặp mệnh đề đối lập đôi khi đều có thể cùng đúng khi xét đến cùng một đối tượng; ví dụ, ‘không phải mọi người đều da trắng’ và ‘một số là người da trắng’ đều đúng. Đối với những mệnh đề khẳng định và phủ định tương ứng như vậy, khi xét đến các khái niệm phổ quát và có đặc trưng phổ quát, thì một mệnh đề phải đúng và mệnh đề kia phải sai. Điều này cũng đúng khi đối tượng được xét đến là các cá nhân, như trong các mệnh đề ‘Socrates da trắng’, ‘Socrates không phải da trắng’. Mặt khác, khi đối tượng được xét đến là các khái niệm phổ quát, nhưng các mệnh đề không mang tính phổ quát, thì không phải lúc nào một mệnh đề là đúng còn mệnh đề kia thì sai, bởi vì người ta có thể khẳng định đúng rằng con người da trắng và con người không da trắng, và con người đẹp và con người không đẹp; vì nếu một người bị dị dạng thì người đó trái ngược với cái đẹp, cũng như nếu người đó đang tiến gần đến cái đẹp thì người đó vẫn chưa đẹp. Thoạt nhìn, phát biểu này có vẻ mâu thuẫn, bởi vì mệnh đề ‘con người không phải là da trắng’ dường như tương đương với mệnh đề ‘không ai là người da trắng’. Tuy nhiên, điều này không đúng, và chúng cũng không nhất thiết phải cùng đúng hoặc cùng sai. Rõ ràng là sự phủ định tương ứng với một khẳng định duy nhất cũng là duy nhất; vì sự phủ định phải phủ định chính xác điều mà khẳng định khẳng định về cùng một chủ thể, và phải tương ứng với khẳng định cả về tính chất phổ quát hay cụ thể của chủ thể và về nghĩa phân tán hay không phân tán mà nó được hiểu. Ví dụ, khẳng định ‘Socrates là người da trắng’ có sự phủ định thích hợp của nó trong mệnh đề ‘Socrates không phải là người da trắng’. Nếu bất cứ điều gì khác được gán cho chủ thể một cách phủ định hoặc nếu bất cứ điều gì khác là chủ thể mặc dù vị ngữ vẫn giữ nguyên, thì sự phủ định sẽ không phải là sự phủ định thích hợp của khẳng định đó, mà là khác biệt. Sự phủ định thích hợp của khẳng định ‘mọi người đều là người da trắng’ là ‘không phải mọi người đều là người da trắng’; mệnh đề đúng với khẳng định ‘một số là người da trắng’ là ‘không ai là người da trắng’, trong khi mệnh đề đúng với khẳng định ‘người đàn ông là người da trắng’ là ‘người đàn ông không phải là người da trắng’. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]

[Tr.24 tiếp] Aristotle tin rằng λόγος theo nghĩa định nghĩa mệnh đề, λόγος theo nghĩa phán đoán, rõ ràng thể hiện hiện tượng cơ bản của logic. Bởi vì, trước hết, λόγος là một thể thống nhất nguyên thủy. Mặc dù nó có thể được phân giải thành các khái niệm riêng lẻ, nhưng những yếu tố tách rời này vẫn không cấu thành nên toàn thể. Chúng thiếu chính xác sự thống nhất thiết yếu của chúng. Logos không phải là tổng hay tập hợp của hai khái niệm. Nhưng điều tạo nên sự thống nhất cuối cùng chính là điều thiết yếu trong νοεῖν tư duy, và trong διάνοεῖν ý hướng. Thứ hai, chỉ có sự thống nhất này mới thực sự đúng hoặc sai. Do đó, nó mang đặc điểm đặc trưng cho tri thức theo đúng nghĩa. Thời gian gần đây chính cân nhắc này cũng đã dẫn đến việc tìm kiếm cốt lõi của logic trong phán đoán và trong học thuyết về phán đoán. Không thể phủ nhận rằng có điều gì đó đúng đắn trong việc ưu tiên lý thuyết phán đoán (phát biểu) này - mặc dù những lý lẽ đưa ra vẫn còn khá hời hợt. Vì vậy, chúng tôi cũng muốn tập trung định hướng ban đầu của mình về các vấn đề cơ bản của logic từ Leibniz vào học thuyết phán đoán của ông và từ đó cố gắng vạch ra những đường nét chính của chúng vào chiều kích triết học của các vấn đề đã đề cập: tính quy luật của các nguyên tắc cơ bản, chân lý, khái niệm, nền tảng, tự do. Từ đó, chúng ta đi đến chủ đề chính của mình.

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

4. Still the best separate edition, with a (!ommentaIy by Theodor Waitz, Aristotelis Organon Graece, 2 volumes, (Leipzig, 1844 and 1846) [reprinted in Aalen in 19651.


 

 

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (III)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. Vấn đề Cơ bản của Triết học và Câu hỏi về Con người

[Tr.15] Việc triết học phải đặt câu hỏi về sự tồn tại của các hữu thể không phải là một phát minh tùy ý của Aristotle; triết học cổ đại đã quan tâm đến câu hỏi này ngay từ thuở ban đầu. Đó không phải là một câu hỏi có thể tùy tiện thay thế bằng một câu hỏi khác, như trường hợp, chẳng hạn, khi người ta xem xét liệu bây giờ nên nghiên cứu về côn trùng hay động vật có vú. Và cũng vì lý do tương tự, bởi vì câu hỏi về sự tồn tại không phải là võ đoán và không được áp dụng cho con người một cách ngoại tại, mà ít nhiều khuấy động trong con người chừng nào hắn còn tồn tại với tư cách là con người, và bởi vì Dasein Hiện hữu/Có đó của con người dường như đảm nhận câu hỏi này cùng với sự tồn tại của con người, nên câu hỏi này, như một vấn đề đang phát triển, có những nhu cầu riêng của nó. Đó là lý do tại sao những nhu cầu này thể hiện rõ ngay từ những bước đi đầu tiên của triết học. Đặc biệt ở đây, lĩnh vực này trở nên khả kiến, mặc dù vẫn còn mơ hồ, trên đó diễn ra Γιγαντομαχία, Gigantomakhia Γιγαντομαχία περί του όντος, cuộc chiến của những người khổng lồ để giành lấy Hữu thể. [Ghi chú về việc này được viết trong Σοφιστής ἢ περὶ τοῦ Ὄντος, λογικός τοῦ Πλάτωνος Sophist 246a4–246c3 của Plato: Καὶ μὴν ἔοικέ γε ἐν αὐτοῖς οἷον γιγαντομαχία τις εἶναι διὰ τὴν ἀμφισβήτησιν περὶ τῆς οὐσίας πρὸς ἀλλήλους. {ΘΕΑΙ.} Πῶς; {ΞΕ.} Οἱ μὲν εἰς γῆν ἐξ οὐρανοῦ καὶ τοῦ ἀοράτου πάντα ἕλκουσι, ταῖς χερσὶν ἀτεχνῶς πέτρας καὶ δρῦς περιλαμβάνοντες. τῶν γὰρ τοιούτων ἐφαπτόμενοι πάντων διισχυρίζονται τοῦτο εἶναι μόνον ὃ παρέχει προσβολὴν καὶ ἐπαφήν τινα, ταὐτὸν σῶμα καὶ οὐσίαν ὁριζόμενοι, τῶν δὲ ἄλλων εἴ τίς <τι> φήσει μὴ σῶμα ἔχον εἶναι, καταφρονοῦντες τὸ παράπαν καὶ οὐδὲν ἐθέλοντες ἄλλο ἀκούειν. {ΘΕΑΙ.} Ἦ δεινοὺς εἴρηκας ἄνδρας· ἤδη γὰρ καὶ ἐγὼ τούτων συχνοῖς προσέτυχον. {ΞΕ.} Τοιγαροῦν οἱ πρὸς αὐτοὺς ἀμφισβητοῦντες μάλα εὐλαβῶς ἄνωθεν ἐξ ἀοράτου ποθὲν ἀμύνονται, νοητὰ ἄττα καὶ ἀσώματα εἴδη βιαζόμενοι τὴν ἀληθινὴν οὐσίαν εἶναι· τὰ δὲ ἐκείνων σώματα καὶ τὴν λεγομένην ὑπ’ αὐτῶν ἀλήθειαν κατὰ σμικρὰ διαθραύοντες ἐν τοῖς λόγοις γένεσιν ἀντ’ οὐσίας φερομένην τινὰ προσαγορεύουσιν. ἐν μέσῳ δὲ περὶ ταῦτα ἄπλετος ἀμφοτέρων μάχη τις, ὦ Θεαίτητε, ἀεὶ συνέστηκεν. Phiên bừa: KHÁCH: Thế chẳng lẽ các vị không hay bên trong họ có cái gì đó giống hệt cuộc chiến giữa các vị thần và những gã khổng lồ, để giành giật bản thể ư?. THEAETETUS: Sao vậy? KHÁCH: Những kẻ từ cõi thiên đường vô dạng giáng trần đều trúng thương, chúng vụng về dùng tay ghì chặt những tảng đá sắc, gốc sồi già sần sùi. Khi túm lấy tất cả những thứ này, chúng khăng khăng rằng chỉ những gì có thể xúc chạm mới tồn tại, vì chúng coi bản thể cũng giống hệt với thân thể. Nhưng đối với bất kỳ kẻ nào khác coi một thứ gì đó không tồn tại thân thể, thì chúng hoàn toàn khinh thường và sẽ không thèm nghe hắn nữa.— THEAETETUS: Ông đang nói về những kẻ đáng sợ đấy; vì chính ta cũng thường gặp phải chúng. KHÁCH: Những thứ mà bọn đó tranh luận cho rằng chúng đang tự vệ từ bên trên, là những thực thể phi vật chất, khả tri và chúng đang tấn công dữ dội vào bản thể chân thực; nhưng chúng, bằng cách phá vỡ thân xác và chân lý mà chúng nói ra, lại tuyên bố rằng chúng được tạo ra thay vì bản thể. Và trong tình huống đó, hỡi Theaetetus, một trận chiến lớn giữa hai bên đã bùng nổ.” HHN]. Đối với Parmenides, việc minh định bản thể diễn ra bằng cách phản ánh về νοεῖν noein ‘tư duy’, biết εῖναi einai là tri ​​thức về các hiện hữu. Khám phá của Plato về những ‘ý tưởng’, vốn là những quy định về bản thể, hướng đến cuộc trò chuyện giữa linh hồn với bản thân cái φυχή λόγος psykhē logos - logos linh hồn. Được dẫn dắt bởi câu hỏi về οὐσία ousia bản thể, Aristotle thu được các phạm trù bằng cách quy chiếu đến tri thức vị ngữ của lý trí: λόγος-νοῦς -Lý trí-Tâm trí. Trong cuộc tìm kiếm substantia bản thể, Descartes đặt nền móng cho prima philosophia ‘triết học đầu tiên’ một cách rõ ràng trên res cogitans thực thể tư duy, tức là animus phần vô thức nam tính trong tâm thức phụ nữ. Vấn đề siêu nghiệm, tức là vấn đề bản thể học, hướng tới sự tồn tại của Kant (câu hỏi về khả tính kinh nghiệm) di chuyển trong chiều kích của ý thức, của chủ thể hành động tự do (tính tự phát của cái tôi). Đối với Hegel, bản chất được định nghĩa từ chủ thể. Cuộc tranh giành bản thể chuyển sang lĩnh vực tư duy, của việc đưa ra các tuyên bố, của linh hồn, của chủ thể tính. Dasein/ hiện hữu của con người chuyển lên vị trí trung tâm! Tại sao lại như vậy? Có phải là ngẫu nhiên mà cuộc chiến chuyển sang lĩnh vực này? Có phải là do ý thích của các nhà triết học, theo quan điểm thế giới hoặc đạo đức mà mỗi người mong muốn, theo mức độ quan trọng mà họ cho là cái ‘Tôi’ trong mỗi trường hợp? Phải chăng đó là một sự nhiệt tình kỳ lạ, phi lý đối với chiều sâu tâm hồn, hay một sự trân trọng đặc biệt đối với nhân cách tự do, hay một chủ thể luận mù quáng, mà ở đây, trong vấn đề cơ bản này, đã chọn Dasein của con người, như vậy, làm chiến trường? Không phải tất cả những điều đó! Thay vào đó, nội dung liên quan đến chính vấn đề cơ bản, và chỉ riêng điều này, mới đòi hỏi chiến trường này, biến chính Dasein con người thành chiến trường đặc quyền này. 

Bởi vì đây không phải là một kịch trường thờ ơ mà trận chiến từng được đặt bày trên đó [tr.16], mà trận chiến nảy sinh từ chính mảnh đất của chiến trường này, bùng phát từ Dasein con người như vậy - cụ thể là bởi vì câu hỏi về tồn tại, nỗ lực hiểu biết về tồn tại, là yếu tố quyết định cơ bản của tồn tại.* [*Ở đây, từ ‘Existenz’ đã mang trọn ý nghĩa về sự tồn tại trong thế giới, vốn được phát triển trong tác phẩm ‘Being and Time’ Hữu thể và Thời gian và được những người khác phát triển thành Existentialism chủ nghĩa hiện sinh và Existenzphilosophie triết học hiện sinh.] Một khi hiểu rõ, thì nhiệm vụ duy nhất, là nhận ra rằng Dasein con người tự nó là một hữu thể và do đó cũng thuộc về câu hỏi Hữu thể của các hiện hữu. Nhưng nếu Dasein, theo đúng nghĩa, cấu thành nên chiến trường cho vấn đề triết học trung tâm, thì nó sẽ càng được khai mở rõ ràng, sắc bén và độc đáo hơn khi chính chiến trường đó rõ ràng, sắc bén và độc đáo hơn - liên quan đến vấn đề dẫn dắt về hữu thể. Vậy thì hữu thể về bản chất là nền tảng và cơ sở cho vấn đề, Dasein của con người, trước hết phải được định nghĩa đầy đủ trong hữu thể cụ thể của nó liên quan đến vấn đề dẫn dắt của hữu thể.

Theo hướng vấn đề cơ bản này, việc xác quyết Dasein con người nằm ở cách thấu hiểu cái mà chúng ta gọi là sự hiểu-biết-về-hữu-thể thuộc về cấu thành hữu thể luận của Dasein. Dasein con người là một hữu thể với một loại hữu thể mà về bản chất nó phụ thuộc để hiểu một cái gì đó giống như hữu thể. Chúng ta gọi đây là cái siêu việt của Dasein, cái siêu việt nguyên thủy (xem phần chính thứ hai của khóa học). Chính trên cơ sở siêu việt mà Dasein hành xử với các hiện hữu, luôn luôn đã được liệng vào các hiện hữu như một tổng thể. Hiểu biết về hữu thể không phải là một năng lực trong số những năng lực khác, mà là điều kiện cơ bản cho khả tính của Dasein theo đúng nghĩa. Bởi vì việc hiểu biết về bản thể thuộc về cấu thành thiết yếu của con người, nên câu hỏi về hữu thể, được hiểu theo cách đã đề cập, là một loại câu hỏi, thậm chí là câu hỏi quan trọng nhất, về bản thân con người. Trong lịch sử sâu xa nhất của nó, Dasein con người mang trong mình số phận của triết học. Chỉ có Dasein mới trao số phận này và giao phó nó hết lần này đến lần khác cho những khả tính của con người. Câu hỏi cơ bản của triết học, câu hỏi về hữu thể, nếu được hiểu đúng đắn, tự nó là câu hỏi về con người. Nếu được hiểu đúng đắn, đó là một câu hỏi về con người ẩn giấu trong lịch sử triết học và trong lịch sử này nó sẽ tiếp tục tiến về phía trước, nhưng sẽ phải được đưa ra ánh sáng một cách mới mẻ theo từng khoảnh khắc. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nêu vấn đề về con người bằng cái nhìn về vấn đề hữu thể. Khi đó, vấn đề này hoàn toàn khác xa với bất kỳ cách thức tự cho mình là quan trọng ồn ào nào liên quan đến đời sống tâm hồn của chính mình hoặc của những kẻ khác. [tr.17]

Câu hỏi triết học cơ bản này về con người vẫn luôn có trước mọi tâm lý học, nhân học và tính cách học, [Tính cách học, từ tiếng Hy Lạp cổ χαρακτήρ character tính cách và –λογία logia là ngành nghiên cứu học thuật về tính cách, vốn nổi bật ở các nước nói tiếng Đức vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20; nó được coi là một nhánh lịch sử của tâm lý học tính cách, mở rộng sang phân tâm học và xã hội học; tên gọi này có từ năm 1867, do nhà triết học người Đức Julius Bahnsen giới thiệu, mặc dù bản thân ngành học này có từ thời cổ đại; trong tâm lý học Đức, thuật ngữ ‘tính cách’ thường được sử dụng thay cho personality ‘nhân cách’; như vậy, tính cách học là nghiên cứu về nhân cách, sự phát triển của nó và sự khác biệt giữa các cá nhân; tuy nhiên, thuật ngữ ‘nhân cách’ , vốn chiếm ưu thế trong tiếng Anh, lại được ưa chuộng hơn sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc-HHN] cũng như trước mọi đạo đức học và xã hội học. Thực tế thì những lĩnh vực nói trên xuất hiện ở bất cứ nơi nào câu hỏi này được nêu ra một cách rõ ràng, thậm chí còn được coi là thiết yếu thay thế nó, chỉ chứng tỏ một điều: câu hỏi này, và cùng với đó là vấn đề cơ bản của triết học, không dễ tiếp cận và sẽ không bao giờ dễ tiếp cận. Vì lý do này, nó cũng liên tục bị phép ngụy biện đe dọa. Còn gì dễ hơn, bằng cách thoải mái và thú vị, khiến cho con người quan tâm đến những con người khác, liệt kê cho họ những phức cảm, tiềm năng, quan điểm, sự phiến diện và những thiếu sót của họ, và nói rằng đó là triết học? Điều quan trọng là con người, theo nghĩa ngụy biện này, trở nên hoàn toàn không liên quan đến câu hỏi triết học cơ bản về con người được hiểu đúng đắn. Triết học không bao giờ hối hả ‘bận rộn’ với con người, trong đó con người không bao giờ tự cho mình là đủ quan trọng. Một sai lầm cơ bản của thời đại chúng ta là tin rằng hiểu biết ‘sâu sắc’ về con người có thể đạt được bằng cách mò mẫm trong những điều nông cạn tầm thường.

Dasein/ Hiện hữu người chỉ đạt được chiều sâu khi nó tự mình thành công, trong sự tồn tại của chính nó, bằng cách trước hết vượt lên chính mình – đến giới hạn của nó. Chỉ từ độ cao của sự phóng chiếu này, nó mới thoáng thấy được chiều sâu thực sự của mình. Việc câu hỏi hữu thể luận cơ bản của triết học bằng cách nào đó liên quan đến toàn thể hiện hữu, cũng như do đó liên quan đến sự tồn tại của con người và theo cách mà sự tồn tại của một kẻ làm triết học được quyết định trong mỗi trường hợp, điều này được thể hiện trong Aristotle qua thực tế là ‘triết học đầu tiên’ đồng thời lại θεολογίκή theologikē mang tính thần học. Triết học, trong nền tảng sâu sắc nhất của nó, là tri thức khái niệm triệt để, phổ quát và chặt chẽ nhất. Nhưng chân lý của tri thức này không phải là chân lý của những mệnh đề trôi nổi, có thể biết được một cách võ đoán về bất kỳ sự kiện nào. Bằng chứng của chân lý triết học chỉ nằm ở lòng trung thành mà cá nhân triết học hóa dành cho chính mình.

Chúng ta không triết lý để trở thành triết gia, cũng không phải để tạo dựng cho bản thân và những kẻ khác một thế giới quan có ích có thể mua được như áo khoác và mũ. Mục tiêu của triết học không phải là một hệ thống thông tin thú vị, cũng không phải là sự giáo dục tình cảm cho những tâm hồn đang lung lay. Chỉ kẻ nào đã quyết tâm trao phẩm giá tự do cho Dasein trong những khả năng căn bản và phổ quát của nó, điều duy nhất khiến nó phù hợp để chống chọi với sự bất định còn lại [tr.18] và sự bất hòa sâu sắc, đồng thời không bị ảnh hưởng bởi tất cả những lời nói suông của ngày hôm nay, mới có thể triết lý. Thực tế, có một thế giới quan triết học, nhưng nó không phải là kết quả của triết học và không được gắn liền với nó như một công thức thực tiễn cho cuộc sống. Nó nằm ở chính bản thân việc triết lý. Do đó, không bao giờ đọc ra được từ những gì nhà triết học có thể nói rõ ràng về các vấn đề đạo đức, mà nó chỉ bắt đầu hiện hình trong toàn bộ tác phẩm triết học. Như vậy, kết quả của một nỗ lực triết học cũng có một đặc điểm khác biệt về cơ bản so với việc tiếp thu các ngành khoa học cụ thể. Chắc chắn rồi, triết lý - và đặc biệt là triết học - luôn phải được tiến hành thông qua một kiến ​​thức khái niệm chặt chẽ và phải luôn nằm trong phạm vi của tri ​​thức đó, nhưng tri ​​thức này chỉ được nắm bắt trong nội dung đích thực của nó khi toàn bộ sự tồn tại được nắm bắt từ gốc rễ mà triết học tìm kiếm - trong tự do và bởi tự do. Vấn đề về hiện hữu, và các biến thể cùng khả tính của nó, về bản chất là vấn đề về con người được hiểu đúng đắn. So với sự trường tồn của các thiên hà trong vũ trụ, thì tồn tại và lịch sử con người thật là phù du, chỉ như một ‘khoảnh khắc’. Nhưng đó lại là phương thức hiện hữu cao nhất khi nó trở thành một tồn tại bên ngoài tự do và hướng tới tự do. Cấp độ và loại hình hiện hữu không phụ thuộc vào thời gian!     

V. Vấn đề Cơ bản của Logic Triết học

Những chỉ dẫn sơ lược về triết học cần làm rõ hai điều: (1) Triết học là tri​​thức khái niệm chặt chẽ về Hiện hữu; (2) Tuy nhiên, điều này chỉ đúng nếu việc nắm bắt trong tự thân khái niệm này là nhận thức triết học về Dasein/Hiện hữu trong tự do. Lưu ý: Bạn không thể đến với triết học bằng cách đọc nhiều sách triết học khác nhau, cũng không phải bằng cách tự hành hạ mình bằng việc giải mã những bí ẩn của vũ trụ, mà chỉ và chắc chắn bằng cách không né tránh những gì cốt yếu trong những gì bạn gặp phải trong Dasein hiện tại của bạn dành cho việc học tập hàn lâm. Không né tránh là rất quan trọng, vì triết học vẫn tiềm ẩn trong mọi tồn tại người và không cần phải được thêm vào từ nơi nào khác nữa. Nhưng ‘logic’ có liên quan gì đến tất cả những điều này? Logic có liên quan gì đến tự do của tồn tại? Ở đây câu hỏi cơ bản về hiện hữu thuộc về là như thế nào? Logic không trực tiếp đề cập đến hiện hữu, mà đề cập đến tư duy. ‘Tư duy’ dĩ nhiên là một hoạt động và hành vi của con người, nhưng vẫn chỉ là một hoạt động trong số nhiều hoạt động khác. Việc nghiên cứu tư duy như một hình thức hoạt động của con người [tr.19] sẽ thất bại dưới góc độ khoa học về con người, dưới góc độ nhân học. Tất nhiên, nhân học không phải là trọng tâm triết học, mà chỉ báo cáo về cách mọi thứ diễn ra khi con người tư duy. Nó báo cáo về các hình thức khác nhau mà con người có thể tư duy, cách thức mà các dân tộc nguyên thủy ‘tư duy’ khác với chúng ta và tuân theo các quy luật khác nhau. Những câu hỏi nhân học và tâm lý học về các hình thức và loại hình tư duy này chắc chắn không phải là triết học. Nhưng liệu đây có phải là những câu hỏi duy nhất và thậm chí là những câu hỏi cơ bản duy nhất hay không thì vẫn còn bỏ ngỏ. Nếu tư duy là một phương thức hành xử của Dasein và nếu nó không bị bỏ mặc cho tình trạng võ đoán mà tuân theo các quy luật, thì câu hỏi cần được đặt ra là: Nói chung các quy luật cơ bản  thuộc về tư duy theo đúng nghĩa là gì? Nói chung, đặc điểm của tính quy luật và sự điều chỉnh này là gì? Chỉ có thể có được câu trả lời bằng cách giải thích cụ thể các quy luật cơ bản của tư duy thuộc về bản chất của nó nói chung.

‘Nguyên tắc cơ bản’ có nghĩa là gì, và bản chất của chúng là gì? Có những nguyên tắc nào? Truyền thống cho chúng ta các nguyên tắc sau: principium identitatis nguyên tắc đồng nhất, principium contradictionis nguyên tắc không mâu thuẫn, principium exclusi tertii nguyên tắc bài trung, principium rationis sufficientis nguyên tắc lý do đầy đủ. [Ghi chú về bốn nguyên tắc cơ bản của logic học cổ điển, thường được gọi là Các quy luật tư duy - Laws of Thought, trong đó ba quy luật đầu do Aristotle thiết lập, và nguyên tắc thứ tư được Gottfried Wilhelm Leibniz bổ sung. Dưới đây là tóm tắt chi tiết về từng nguyên tắc: 1). Principium Identitatis Quy luật Đồng nhất định nghĩa: Một vật là chính nó; tư duy phải thống nhất, không thay đổi nội dung trong suốt quá trình lập luận; Công thức: A = A (A là A), ý nghĩa: một khái niệm hay mệnh đề phải mang một ý nghĩa xác định trong một bối cảnh nhất định; nếu không tuân thủ, lập luận sẽ mắc lỗi ngụy biện ‘đánh tráo khái niệm’.2). Principium Contradictionis Quy luật Phi mâu thuẫn, định nghĩa: Hai mệnh đề mâu thuẫn nhau không thể cùng đúng tại cùng một thời điểm và trong cùng một quan hệ. Công thức: ¬ (A A ¬ A) Không thể vừa là A vừa không phải là A; ý nghĩa: một tư duy hợp logic không thể khẳng định và phủ định cùng một vấn đề cùng lúc; nếu có mâu thuẫn, ít nhất một trong hai nhận định là sai.3). Principium Exclusi Tertii Quy luật Bài trung/Loại trừ cái thứ ba; định nghĩa: Một mệnh đề chỉ có thể đúng hoặc sai, không có khả năng thứ ba (tertium non datur); công thức: A ¬ A (A hoặc không phải A); ý nghĩa: trong hai mệnh đề mâu thuẫn nhau, nếu nhận định này sai thì nhận định kia bắt buộc phải đúng, không thể có trạng thái ‘lấp lửng’ ở giữa. 4). Principium Rationis Sufficientis Quy luật Lý do đầy đủ; định nghĩa: mọi nhận định, kết luận muốn được coi là đúng đắn thì phải có lý do/căn cứ đầy đủ; mọi sự vật tồn tại đều có lý do của nó; công thức: ‘Nihil sine ratione’ Không có gì không có lý do; ý nghĩa: quy luật này đòi hỏi tính chặt chẽ trong lập luận: không chấp nhận một nhận định vô căn cứ hoặc không được chứng minh - HHN]. Có phải tất cả đều như vậy? Chúng được sắp xếp theo thứ tự nào? Chúng có mối liên hệ nội tại nào? Nền tảng và tính tất yếu của chúng xuất phát từ đâu? Chúng ta đang bàn đến các quy luật tự nhiên, quy luật tâm lý hay đạo đức? Hay chúng thuộc loại nào mà Dasein phải tuân theo? Nhưng việc giải thích các quy luật chi phối tư duy lại đẩy chúng ta trở lại câu hỏi về điều kiện khả tính của chúng. Cái hữu thể tuân theo những quy luật đó, tự thân Dasein, phải được cấu thành như thế nào để có thể bị chi phối bởi các quy luật đó? Dasein ‘là’ như thế nào theo bản chất của nó để một nghĩa vụ như việc bị chi phối bởi các quy luật logic có thể phát sinh trong và đối với Dasein? Nguyên tắc cơ bản này [Grund-Sätze] không phải là quy tắc đi kèm lối tư duy được xác định từ nơi khác, mà là những căn cứ [Gründe] cho các phát biểu [Sätze] nói chung, những căn cứ làm cho tư duy trở nên khả thể. Hơn nữa, chúng chỉ là như vậy bởi vì chúng là nền tảng [Gründe] cho sự hiểu biết, sự tồn tại, sự hiểu biết về hiện hữu, Dasein, và sự siêu việt nguyên thủy.

Rõ ràng là với những vấn đề như vậy, chúng ta đã ngay lập tức bước vào lĩnh vực của câu hỏi liên quan đến cấu thành hiện hữu của Dasein. Hơn nữa, nghĩa vụ và hiện hữu được điều chỉnh bởi quy luật, tự bản thân chúng, giả định tự do là cơ sở cho khả tính của riêng chúng. Chỉ những gì tồn tại như một hiện hữu tự do mới có thể [tr.20] bị ràng buộc bởi một luật lệ bắt buộc. Chỉ có tự do mới có thể là nguồn gốc của nghĩa vụ. Một vấn đề cơ bản của logic, tính chất được điều chỉnh bởi quy bắt buộc của tư duy, tự bộc lộ là một vấn đề về sự tồn tại của con người trong nền tảng của nó, vấn đề về tự do. [Ghi chú dài về die „Gesetzmäßigkeit des Denkens“ : Theo cách đọc của Heidegger, sự phê phán của Kant đối với lý tính thuần túy đặt câu hỏi về tính thuần khiết nội tại được cho là của kẻ nhận thức cá nhân bằng cách thách thức ý tưởng rằng một cá nhân có thể biết bất cứ điều gì một cách độc lập với ‘thế giới bên ngoài’. Ẩn chứa trong thách thức này là sự bác bỏ ý tưởng cho rằng một cá nhân có thể thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của tồn tại vật chất và đạt được tri thức về phạm vi tiềm tàng vô hạn. Giờ đây, chúng ta có thể thấy sự hữu hạn và khiêm nhường đã nảy sinh như thế nào đối với Kant trong phản ứng của ông đối với vấn đề do Descartes đưa ra khi xác định các điều kiện quyết định tính vật chất của sự vật trong lý tính thuần túy của cái ‘Tôi’ tư duy. Bằng cách đặt ‘Tôi tư duy’ làm nền tảng của tri thức, Descartes đã tạo ra sự cấp thiết cho câu hỏi ‘Tôi là gì?’ hay nói chung hơn, ‘Con người là gì?’ Cái ‘Tôi’ không chỉ là một lĩnh vực trong số những lĩnh vực khác, mà chính xác là lĩnh vực mà tri thức về tất cả các lĩnh vực khác phải được truy ngược lại. Do đó câu hỏi ‘Sự vật là gì?’ lại tất yếu dẫn trở ngược về câu hỏi ‘Con người là gì?’ Bởi vì Kant chấp nhận quan điểm của Descartes về con người như một thực thể tư duy, nên câu hỏi về con người đối với ông trở thành một câu hỏi về tư duy. Theo Heidegger, câu hỏi chính của Kant do đó là câu hỏi về việc một cá nhân con người phải như thế nào để có thể tư duy. Descartes đã cung cấp một manh mối: đó là, cá nhân, với tư cách là một thực thể tư duy, bị ràng buộc bởi quy luật bất mâu thuẫn. Theo Heidegger, Kant nắm bắt manh mối này và phát triển nó thành một khảo sát về bản chất của cái ‘Tôi’ để có thể bị ràng buộc bởi các quy luật. Nói cách khác, sự phê phán của Kant đối với lý tính thuần túy tìm kiếm các điều kiện khả tính cho tư duy tuân theo quy luật hoặc quy tắc. Heidegger gọi việc diễn đạt các điều kiện này là ‘một vấn đề cơ bản đối với logic’. Việc tìm kiếm lời giải cho vấn đề này là việc tìm kiếm ‘logic triết học, hay nói đúng hơn, nền tảng siêu hình của logic’.88 Theo cách hiểu của Heidegger, khảo sát của Kant về law-governedness of thinking tính tuân thủ quy luật của tư duy là một khảo sát siêu hình về các điều kiện bản thể luận làm cho tri thức khoa học trở nên khả thi. Ông cho rằng cuộc khảo sát này có trước và cơ bản hơn các khảo sát điển hình của tâm lý học, nhân học, đạo đức học hoặc xã hội học. Trong khi các lĩnh vực khảo sát sau này, theo quan điểm của Heidegger, coi sự chiếu xạ cụ thể của bản chất sự vật quyết định chủ đề cụ thể của chúng là điều hiển nhiên, thì một cuộc khảo sát bản thể luận tổng quát hơn phải giải quyết các điều kiện làm cho những quyết định đó trở nên khả thi. Hơn nữa, Heidegger lập luận rằng “chỉ khi là hiện tượng học thì bản thể luận mới khả thi”. Do đó, đối với Heidegger, một cuộc khảo sát về các điều kiện tồn tại quyết định khả năng của logic là một cuộc khảo sát hiện tượng học về nền tảng của khoa học. Đối với ông, logic là một loại khoa học đặc biệt, “khoa học về các quy tắc của tư duy”. Theo đó, ông lập luận rằng một thành tựu quan trọng trong Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant là để mở ‘tư tưởng’ của Descartes về ‘Tôi tư duy’ cho khảo sát hiện tượng học. Cụ thể, Heidegger đọc Kant như đang khám phá cơ sở bản thể học cho khả năng của chủ thể tuân theo các quy luật cấu trúc tư duy khoa học, trong đó quan trọng nhất là quy luật bất mâu thuẫn. Với bước đi này, quy luật bất mâu thuẫn, vốn được Descartes coi là nguyên tắc cao nhất của mọi tri thức, đã “bị loại bỏ khỏi vị trí thống trị của nó”. Điều giờ đây thống trị là những đặc điểm khách quan của chủ thể cho phép ‘Tôi’ tự tuân theo các quy tắc chi phối tư duy. Bằng cách khai mở tư duy cho khảo sát hiện tượng học, Kant đã tái khai mở một câu hỏi mà Plato và Aristotle đã đề cập rõ ràng nhưng sau đó bị Descartes khép lại: đó là câu hỏi về logos như là cái có chức năng kết hợp các khái niệm một cách có ý nghĩa. Như chúng ta đã thấy trước đó, Plato đặt hiện tượng này trong ý niệm về cái thiện, được khái niệm hóa bằng phép tương tự với vị thần sáng tạo, kẻ sản xuất thuần túy và đơn giản. Ngược lại, Aristotle khái niệm hóa nó bằng phép tương tự với ‘là’ của mệnh đề, do đó đặc trưng hóa nó không phải một vật thể mà là cái theo đó các vật thể được kết hợp lại. Bằng cách chuyển hiện tượng kết hợp bản thể học từ ‘là’ sang chủ thể của mệnh đề, sau đó Descartes đã coi nó như một vật thể mà bản chất của nó chống lại sự phân tích sâu hơn. Kant, bằng cách nghiên cứu hiện tượng này như một đặc điểm tích cực, phi vật thể thuộc chủ thể tính của chủ thể tư duy, đã bắt đầu soi sáng hiện tượng học về những gì trước đó Descartes đã che giấu trong bóng tối. Theo Heidegger, Kant đặt hiện tượng kết hợp bản thể học trong sức mạnh tưởng tượng [Einbildungskraft] của chủ thể cá nhân. Đối với Kant, tưởng tượng là một ‘năng lực hình thành’. Điều này gợi nhớ lại khái niệm của Plato về mối quan hệ giữa các vật thể và tư duy bằng phép tương tự với sản xuất. Cũng như một người thợ thủ công, hay một vị thần sáng tạo, biến những vật liệu khác nhau thành một chỉnh thể hoàn chỉnh và thống nhất, trí tưởng tượng của chủ thể cũng biến mớ hỗn độn của cảm giác thô sơ thành một trải nghiệm có trật tự và dễ hiểu. Do đó, trí tưởng tượng làm cho trải nghiệm dễ hiểu trở nên khả thể. Trong Phê phán Lý tính Thuần túy, Kant lập luận rằng ‘[các] điều kiện khả thi của trải nghiệm nói chung đồng thời cũng là điều kiện khả thể của các đối tượng trải nghiệm.’ Heidegger lập luận rằng đoạn văn này phản ánh một ‘lập trường cơ bản’ trong lịch sử loài người, một lập trường mà chúng ta không thể tránh khỏi. Cả trải nghiệm dễ hiểu và những thứ tự thể hiện một cách có ý nghĩa trong trải nghiệm đó — tức là cả tư duy và những thứ được tư duy — đều phụ thuộc vào khả năng tưởng tượng. Đối với Kant, một trải nghiệm dễ hiểu bao gồm sự thống nhất có cấu trúc của hai khả năng riêng biệt: tính tự phát và tính tiếp nhận, hay tính kiến ​​tạo và tính cảm xúc. Theo Heidegger, khái niệm về trí tưởng tượng của Kant mô tả gốc rễ chung từ đó hai nhánh riêng biệt của tính tự phát và tính tiếp nhận cùng phát triển. Ông viết rằng sức mạnh của trí tưởng tượng là ‘sự thống nhất nguyên thủy’ của cả hai. Kant mô tả khía cạnh xây dựng của trí tưởng tượng dưới dạng một ‘năng lực của các quy tắc.’ Hơn nữa, ông lập luận rằng các quy tắc, trong chừng mực chúng mang tính khách quan, cũng có thể được gọi là ‘quy luật.’ Do đó, sức mạnh của trí tưởng tượng, và đặc biệt là khía cạnh xây dựng của nó, cung cấp các điều kiện khả tính để tuân theo, trong số các quy tắc cơ bản khác của logic, luật bất mâu thuẫn. Do đó logic tìm thấy nguồn gốc hiện tượng học, tức là nguồn gốc bản thể học của nó trong trí tưởng tượng của chủ thể cá nhân. Tuy nhiên, Heidegger nhấn mạnh rằng, đối với Kant, chủ thể tính của chủ thể cá nhân không cấu thành nên quy luật. Thay vào đó, quy luật là cái mà chủ thể hướng tới, và chính thông qua sự hướng tới đó mà cá nhân lần đầu tiên nhận ra các khả tính hành động mở ra cho kẻ ấy với tư cách là một cá nhân độc nhất. Nói một cách chính xác, quy luật không phải là một cấu trúc hoàn toàn tự phát của chủ thể cá nhân. Nhưng cũng không hoàn toàn là một đối tượng của khả năng cảm nhận, hay khả năng tiếp nhận, của cá nhân. Theo Heidegger, quy luật không phải là thứ gì đó mang tính kinh nghiệm. Nó không phải là thứ cần được khám phá trong thế giới. Thay vào đó, nó là một cấu trúc được tìm thấy trong lý trí. Theo nghĩa này, chủ thể cá nhân khám phá ra quy luật bên trong chính mình như một thứ mà cuối cùng hắn được tự do tuân theo hoặc bỏ qua, nhưng dù sao hắn vẫn gặp phải nó như một nghĩa vụ. Do đó, Heidegger diễn giải Kant lập luận rằng lý trí là một ‘tính tự phát tiếp nhận’, trong đó các quy tắc chi phối nó không được chủ thể cá nhân tự do xây dựng mà được cô ấy gặp phải như những ràng buộc cần thiết làm cho lý trí, như vậy, trở nên khả thi. Chấp nhận những ràng buộc này, do đó, có nghĩa là tự phục tùng một ‘sự cần thiết tự đặt ra’. Heidegger viết rằng, đối với Kant, khi phục tùng quy luật, ‘tôi phục tùng chính mình’. Do đó, chúng ta trải nghiệm các quy tắc của lý trí như là sự tự xác nhận. Chúng ta nhận ra chúng thông qua nghĩa vụ mà chúng ta cảm thấy đối với chúng, và chúng ta cũng trải nghiệm chúng như là nguồn gốc của nghĩa vụ đó. Theo Heidegger, chính vì mối quan hệ của chủ thể với các quy tắc được đánh dấu bởi cả tính xây dựng và tính tiếp nhận mà Kant đã đặt các quy tắc trong sức mạnh của trí tưởng tượng, một sức mạnh cung cấp một gốc rễ chung cho cả hai. Về mặt logic, một sự vật không thể vừa là chim vừa không phải là chim. Nếu S là P, thì S không thể đồng thời không phải là P. Điều này sẽ là một điều bất khả thi về mặt logic, một mâu thuẫn. Nếu chúng ta muốn suy luận một cách logic, thì chúng ta phải tuân theo nguyên tắc, hay định luật, về tính không mâu thuẫn. Định luật này nằm ở nền tảng của logic. Nó đặt ra một ràng buộc tiên nghiệm đối với tư duy như Aristotle đã xây dựng dựa trên mô hình mệnh đề. Tính tất yếu của định luật do đó được kết hợp với tính tất yếu của việc tư duy theo các thuật ngữ mệnh đề một cách nghiêm ngặt. Chúng ta chỉ buộc phải tuân theo định luật không mâu thuẫn chừng nào chúng ta cũng cảm thấy buộc phải diễn đạt bản thân một cách hợp lý về mặt logic. Ví dụ, một nhà thơ có thể mô tả một sự vật theo cách mơ hồ giữa việc nó là chim và không phải là chim. Tư duy thi ca không nhất thiết phải là tư duy logic. Do đó, chúng ta được tự do bỏ qua quy luật bất mâu thuẫn đến mức chúng ta cảm thấy tự do suy nghĩ theo những cách không bị chi phối bởi logic của mệnh đề. Các quy tắc logic có thể buộc chúng ta phải suy nghĩ theo những cách nhất định được xác định nghiêm ngặt, nhưng bản thân sự bắt buộc đó không phải là sự xác định. Sau cùng, chúng ta có thể chọn hành động khác đi, bất kể cái giá phải trả là gì. Heidegger rút ra nhận định này từ cuộc thảo luận của Kant về vai trò của các quy tắc trong lý luận lý thuyết, tìm thấy ở đó ý tưởng rằng ‘[t]ự do đã nằm trong bản chất của sự hiểu biết thuần túy, tức là của lý tính lý thuyết thuần túy, trong chừng mực điều này có nghĩa là đặt mình dưới một sự cần thiết tự đặt ra.’ Hơn nữa, bởi vì tự do là một vấn đề của hành động, lý tính lý thuyết gắn liền một cách quan trọng với lý tính thực tiễn. Do đó, Kant viết trong Phê phán Lý tính Thuần túy: ‘Mọi thứ đều là thực tiễn nếu có thể thông qua tự do.’ Do đó, Heidegger đọc Kant như đang cố gắng giải thích lý thuyết theo thuật ngữ hành động bằng cách ưu tiên lý tính thực tiễn hơn lý tính lý thuyết. Tuy nhiên, theo quan điểm của ông, công việc này vẫn còn mơ hồ, vì Kant giả định một trong hai thái cực: hoặc là khả năng tiếp nhận và hoặc là tính tự phát, hoặc là thụ động và chủ động, do đó cuối cùng đã không thể hoàn thành nhiệm vụ truy tìm cả hai về một nguồn gốc chung trong sức mạnh của trí tưởng tượng. Heidegger viết rằng Kant, khi khám phá ra tính tự phát tiếp nhận trong mối quan hệ của chúng ta với các quy tắc, đã ‘nhìn thấy điều chưa biết’ và ‘phải lùi bước’. Sự rút lui của Kant được thể hiện qua sự thay đổi trọng tâm giữa phiên bản A và B của Phê phán lý tính thuần túy. Trong phiên bản đầu tiên, tư duy tuân theo quy tắc bắt nguồn từ tính tự phát tiếp nhận thống nhất và không thể giản lược của trí tưởng tượng. Trong phiên bản thứ hai, Kant đã rời bỏ lập trường thống nhất này, và thay vào đó đồng hóa tính tuân theo quy tắc, và trí tưởng tượng nói chung, với tính tự phát thuần túy.” Theo Kochan Jeff (2017). Things, Thinking, and the Social Foundations of Logic, Chapter Four,  in Science as Social Existence: Heidegger and the Sociology of Scientific Knowledge (Cambridge: Open Book Publishers, 2017), 151–224, doi.org.HHN] Chúng ta hãy xem lại phần mở đầu về ý tưởng logic hình thức và đối tượng của nó. Trong tư duy như là suy nghĩ về một điều gì đó, có ý hướng tự so sánh bản thân với điều mà nó suy nghĩ và xác định trong quá trình tư duy, tức là làm cho điều mà nó suy nghĩ được biểu lộ ra, khám phá ra nó và để cho những gì được khám phá trở nên dễ tiếp cận. Tư duy xác định là khám phá hoặc che giấu. Nghĩa là, nó hoặc đúng hoặc sai. Sai là một hình thức phủ định của đúng, là không-đúng. Tư duy như vậy ở một dạng thức nào đó luôn luôn là sự khám phá, là sự hiện hữu-chân thực.

Làm sao điều đó trở nên khả thể, làm sao bất cứ điều gì thuộc loại này có thể áp dụng cho tư duy như một hoạt động của Dasein: để là chân lý, để vận động trong phạm vi hoặc là đúng hoặc là sai? Chân lý là gì? Chân lý ‘tồn tại’ theo cách nào, vì nó không phải là một vật thể cũng không giống bất cứ vật thể nào? Và nó thuộc về tự thân Dasein của con người như thế nào? Câu hỏi về hiện-hữu-trong-chân-lý này dẫn chúng ta trở lại vấn đề về tính siêu việt của Dasein. Và chừng nào chân lý của tư duy được đồng xác định bởi tính quy luật, thì vấn đề về chân lý được kết hợp với vấn đề về tính quy luật và, điều đó có nghĩa là, với vấn đề về tự do. Khi tự đánh giá bản thân so với cái mà nó suy nghĩ, thì tư duy chân thực tìm kiếm trong hiện hữu tự thân cái mà nó dựa vào và làm nền tảng cho chính nó. Toàn bộ tư duy chân thực đều tìm thấy nền tảng và có những khả tính xác định để làm nền tảng. Do đó, có một câu hỏi nữa, làm thế nào mà chân lý của tư duy và chính tư duy phải có một cái gì đó giống như một nền tảng - và có thể có một nền tảng? Nền tảng theo đúng nghĩa có thể là gì? Nền tảng và Dasein có mối quan hệ như thế nào với nhau? Nền tảng, chân lý, tính quy luật và tự do liên hệ với nhau như thế nào trong tư duy? Như chúng ta đã nói, tư duy là xác định, mang tính quyết định; ở dạng đơn giản nhất: xác định một cái gì đó như một cái gì đó, - ‘như’ một cái gì đó: như thế này thế kia. Câu hỏi đặt ra là, cụm từ ‘như một cái gì đó’ này hàm ý điều gì, việc tham chiếu đến một cái khác mà từ đó một cái gì đó được cho là xác định? Ở đây, hình thức cơ bản của loại nắm bắt mà chúng ta gọi là hình dung và khái niệm đó được giả định đến mức nào? Khái niệm hóa liên quan đến nền tảng và do đó liên quan đến chân lý và tính quy luật như thế nào? Khái niệm và tự do liên hệ với nhau như thế nào? Và cuối cùng, tư duy xác định, như tư duy về các hiện hữu, theo cách riêng của nó, mang lại sự hiện hữu của các hiện hữu cho sự biểu đạt. Câu nói đơn giản ‘A là b’ thể hiện điều này một cách cơ bản nhất.

[Tr.21] Tuy nhiên, ‘là’ không nhất thiết phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ. Nó cũng được chứa đựng trong những câu nói như ‘chiếc xe đi được’; ‘trời mưa’ (pluit latin = như trút). Động từ ‘là’ nguyên dạng xuất hiện trong câu được gọi là động từ nối. Việc tư duy xác định, ở dạng cơ bản, gắn trực tiếp với cái ‘là’, với sự là, cho thấy phải có một mối liên hệ đặc biệt giữa tư duy và hiện hữu - chưa kể rằng bản thân tư duy là một hiện hữu và theo đúng nghĩa nó hướng tới các hiện hữu. Và câu hỏi sẽ nảy sinh, sự tồn tại này với tư cách là động từ nối có liên quan như thế nào đến khái niệm, nền tảng, chân lý, tính quy luật, tự do? Việc xem xét khá sơ lược về tư duy như vậy đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn sơ bộ về nhiều mối liên hệ cực kỳ quan trọng chỉ thẳng đến chiều kích của các vấn đề triết học cơ bản. Khả tính và sự cần thiết của một logic triết học trở nên quen thuộc hơn. Nhưng thực tế cũng trở nên rõ ràng là chỉ khi chúng ta chuẩn bị trước cho một sự hiểu biết triết học thực sự về ý nghĩa của các thuật ngữ chân lý, nền tảng, tính quy luật, tự do, khái niệm, sự tồn tại, thì chỉ khi đó chúng ta mới có thể hiểu được hình thức Dasein mà chúng ta hành động với tư cách là những con người cam kết với khoa học. Việc chúng ta học cách tư duy, theo nghĩa thực sự, bằng logic hay không phụ thuộc vào việc chúng ta có đạt được sự hiểu biết về tư duy trong khả tính nội tại của nó hay không, tức là, liên quan đến tính quy luật, chân lý, nền tảng, khái niệm, hiện hữu và tự do. Khi tự mình đạt được hiểu biết này, dù chỉ vài nét cơ bản, thì chúng ta mới có cơ sở để làm sáng tỏ ngành khoa học thực chứng cụ thể mà mình nghiên cứu, vượt ra khỏi những giới hạn nội tại của nó, và chỉ khi đó chúng ta mới nắm giữ được khoa học, như một sự sở hữu tự do. Và khoa học, khi được nắm giữ như vậy, và chỉ có khoa học như vậy mới là trường tư duy đích thực trong mọi điều kiện.

_____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

Notes

*Ở đây, từ Existenz đã mang trọn vẹn ý nghĩa về sự tồn tại trong thế giới, điều đã được phát triển trong tác phẩm ‘Hữu thể và Thời gian’ và được những người khác phát triển thành Existentialism Chủ nghĩa Hiện sinh Existential Philosophy’ Triết học Hiện sinh.