Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần II Siêu hình học Nguyên tắc Lý tính - Nền tảng của Logic
b) Ý hướng tính và Siêu việt
Nhưng việc chúng ta đề cập đến một sai lầm phổ biến, một sai lầm khiến cho tất cả những gì được gọi là quan tâm đến siêu hình học về cơ bản trở thành một nỗ lực vô ích, vẫn chỉ mang tính phủ định. Việc khái quát hóa vấn đề Hữu thể theo hướng khẳng định có nghĩa là chỉ ra những câu hỏi cơ bản phụ thuộc lẫn nhau nào được chứa đựng trong câu hỏi về Hữu thể. Những vấn đề cơ bản nào được chỉ ra bằng thuật ngữ đơn giản ‘Hữu thể’ khi chúng ta hỏi về Hữu thể và Thời gian? Vấn đề Hữu thể luận không chỉ không đồng nhất với câu hỏi về ‘thực tại’ của thế giới bên ngoài, mà câu hỏi sau còn giả định một vấn đề Hữu thể luận thực sự. Nó giả định việc làm rõ phương thức tồn tại của sự vật và cấu thành khu vực của chúng. Hơn nữa, sự tồn tại của các sự vật vật chất trong tự nhiên không phải là sự tồn tại duy nhất; còn có lịch sử và các tác phẩm nghệ thuật. Tự nhiên có nhiều phương thức khác nhau: không gian và số, sự sống, chính sự tồn tại của con người. Có rất nhiều modi existendi phương thức tồn tại, và mỗi tồn tại này là một phương thức thuộc về một hiện hữu với nội dung cụ thể, một phẩm chất xác định. Thuật ngữ ‘Hữu thể’ được hiểu là bao gồm phạm vi của tất cả các khu vực khả thể. Nhưng vấn đề về tính đa dạng khu vực của Hữu thể, nếu được đặt ra một cách phổ quát, bao gồm việc khảo sát nhất tính của thuật ngữ ‘Hữu thể’ khái quát này vào cách thức mà thuật ngữ thuật ngữ ‘Hữu thể’ khái quát thay đổi với các ý nghĩa khu vực khác nhau. Đây là vấn đề về nhất tính của ý niệm về Hữu thể và các biến thể khu vực của nó. Liệu có phải nhất tính của Hữu thể có nghĩa là tổng quát tính dưới một hình thức và ý hướng khác? Trong bất kỳ trường hợp nào, thì vấn đề vẫn là nhất tính và tổng quát tính của Hữu thể nói chung. Chính vấn đề này mà Aristotle đã đặt ra, mặc dù ông không giải quyết được nó. Điều quan trọng là, trong mọi trường hợp, tổng quát tính của khái niệm Hữu thể tại được hình dung như thế nào.
[Tr.152] Nhưng đa tính khu vực chỉ là một khía cạnh mà vấn đề Hữu thể phải được khái quát hóa trước. Trong việc làm rõ ý nghĩa của οὐσία ousia tồn tại/bản chất/thực thể, chúng ta đã lưu ý rằng Hữu thể cũng đề cập đến bản chất đó nói chung và bản-chất-gì. Cách diễn đạt này về Hữu thể đã được chấp nhận từ thời cổ đại. Người ta coi nó là điều hiển nhiên, mà không cần hỏi về nguồn gốc của nó, về khả tính nội tại của việc diễn đạt ý niệm về Hữu thể theo đúng nghĩa. Tại sao mọi cái gì đó tồn tại, bất kể chủ đề cụ thể của nó là gì, được xác định bởi đặc tính cái gì của nó và bởi một khả thể cái-đó-là-gì? Bởi vì ngay cả một cái gì đó mang tính hình thức, một cái gì đó mà chúng ta nói là không thể hiện nội dung vật chất xác định, lại được phân biệt chính xác bởi thực tế là nó thiếu một nội dung nội tại xác định (Chúng ta không thể đi sâu vào vấn đề cái hình thức ở điểm này). Hữu thể không chỉ có nghĩa là đa tính của các vùng và các modi existendi phương thức tồn tại cùng essendi bản chất tương ứng của chúng, mà ý tưởng đó còn hướng đến Hữu thể trong sự liên kết thiết yếu của nó thành các existendi tồn tại và essendi bản chất. Liên kết này là vấn đề cơ bản của Hữu thể luận, vấn đề liên kết cơ bản của Hữu thể.
Cho đến nay, chúng ta đã đưa ra hai vấn đề cơ bản liên quan đến chính Hữu thể, mà không chú ý đến thực tế rằng Hữu thể, như vậy, luôn luôn là Hữu thể của các hiện hữu, cũng như trong mỗi trường hợp nó được liên kết thành essentia bản chất cùng existentia tồn tại và được phân vùng. Hữu thể, theo đúng nghĩa và trong mọi ý nghĩa của nó, là Hữu thể của các hiện hữu. Hữu thể khác với các hiện hữu, và chỉ có sự khác biệt này nói chung, khả tính phân biệt này, mới đảm bảo một sự hiểu-biết-về-Hữu-thể. Nói cách khác, trong hiểu-biết-về-Hữu-thể, thì phân biệt này của Hữu thể với các hiện hữu mới được thực hiện. Chính sự phân biệt này đã làm cho bất cứ điều gì giống như một Hữu thể luận ngay từ đầu đã trở nên khả thể. Do đó, chúng ta gọi sự phân biệt này, điều đầu tiên cho phép hiểu-biết-về-Hữu-thể, là sự khác biệt Hữu thể luận. Chúng ta cố ý sử dụng thuật ngữ trung lập ‘sự phân biệt’, vì vấn đề thực sự là cách thức mà những gì được phân biệt ở đây, Hữu thể và các hiện hữu, khác nhau hoặc thậm chí tách biệt. Rõ ràng, với vấn đề về sự khác biệt Hữu thể luận, vấn đề nguyên thủy của Hữu thể và việc nghiên cứu Hữu thể trở thành trọng tâm. Hơn nữa, không cần phải nói thêm, sự khác biệt Hữu thể luận này, phải được xem xét trong toàn bộ phạm vi của các vấn đề đã đề cập về sự liên kết và phân vùng cơ bản. Liên quan chặt chẽ với vấn đề về sự khác biệt Hữu thể luận này, và những vấn đề khác đã đề cập, là vấn đề mà chúng ta đã liên tục hướng tới, mặc dù từ hướng ngược lại: mối liên hệ nội tại giữa Hữu thể và chân lý, đặc tính chân lý của Hữu thể. Việc nghiên cứu mối liên hệ nguyên thủy giữa chân lý và Hữu thể, đặc tính xác thực của Hữu thể thuộc về logic với tư cách siêu hình học.
[Tr.153] Khái niệm chung về ‘Hữu thể’ bao gồm bốn vấn đề cơ bản sau đây: 1) Sự khác biệt về Hữu thể luận, 2) Cấu thành cơ bản của Hữu thể, 3) Tính chất xác thực của Hữu thể, 4) Tính khu vực của Hữu thể và nhất tính về ý niệm Hữu thể. Do đó, vấn đề về Hữu thể đã được làm rõ với tư cách mang tính chất trung tâm, phổ quát và triệt để. Chúng ta đã có được một số hiểu biết về ý nghĩa của việc khảo sát khả tính nội tại của việc tồn tại một cái gì đó giống như hiểu-biết-về-Hữu-thể, một sự hiểu biết là đặc quyền thiết yếu của tồn tại người. Nhưng, khi mô tả sự siêu việt hữu thể được hiểu chung như nó xảy ra trong ý hướng tính, chúng ta thấy rằng mối quan hệ với các hiện hữu, mối quan hệ hữu thể, giả định một hiểu-biết-về-Hữu-thể; chúng ta thấy rằng sự siêu việt hữu thể tự nó dựa trên sự siêu việt nguyên thủy, do đó có liên quan đến sự hiểu-biết-về-Hữu-thể. Vậy là cấu trúc của vấn đề này đã được chỉ ra, và điều đó cho thấy, khi nhìn lại các vấn đề về siêu việt, về chân lý, về lý tính [các cơ sở], chỉ có thể khảo sát trong chiều kích được phác họa bởi vấn đề về Hữu thể nói chung. Nói cách khác, vấn đề về siêu việt phải được đặt ra một cách phổ quát và triệt để như vấn đề về Hữu thể theo đúng nghĩa. Do đó, nó không phải là một vấn đề có thể bị giới hạn vào mối quan hệ mà chủ thể có với những sự vật độc lập với nó, và nó không chỉ là một câu hỏi về một vùng nhất định của các hiện hữu. Người ta cũng không thể dừng lại hay bắt đầu với mối quan hệ chủ thể-khách thể, như thể bằng cách nào đó nó từ trên trời rơi xuống; mà đối với siêu việt, cũng như đối với vấn đề về Hữu thể, chính chủ thể tính của chủ thể mới tự thân là câu hỏi trung tâm.
Có thể thêm ba luận điểm sau đây: 1) Các hiện hữu tự thân là loại hiện hữu mà chúng có, và theo cách mà chúng hiện hữu, ngay cả khi, ví dụ, Dasein không tồn tại. 2) Hữu thể không phải ‘là’, mà Hữu thể es gibt có đó, chừng nào Dasein còn tồn tại. Trong bản chất của sự tồn tại có sự siêu việt, tức là sự ban cho thế giới trước đó và cho tất cả các hiện-hữu-hướng-tới-và-giữa các hiện hữu nội-trần thế. 3) Chỉ khi nào Dasein tồn tại tự ban cho mình bất cứ điều gì giống như Hữu thể thì các hiện hữu mới có thể xuất hiện trong-bản-thân-chúng, tức là luận điểm đầu tiên cũng có thể được hiểu và được xem xét. Lưu ý: Bởi vì Hữu thể không ‘là’, và do đó không bao giờ tồn tại cùng với hiện hữu khác, nên hoàn toàn không có ý nghĩa hoặc tính hợp thức nào khi hỏi Hữu thể là gì đối với các hiện hữu tự thân. Tuy nhiên, người ta có thể hỏi, trong các hiện hữu, điều gì tương ứng với Hữu thể (mà không phải là) vốn ‘chỉ’ có đó. Hữu thể gibt sich tự ban cho một cách nguyên thủy và tự thân khi nó cho phép tiếp cận các hiện hữu của nó. Cũng không thể nào khảo sát được Hữu thể của chúng trong tự thân. Chúng ta luôn chỉ biết đến các hiện hữu, mà không bao giờ biết đến Hữu thể như một hiện hữu. Điều này trở nên rõ ràng từ bản chất của sự siêu việt và sự khác biệt Hữu thể luận. [Tr.154] Và như vậy, chúng ta đã đạt được điều mình mong muốn trong phần đầu của phần chính thứ hai, đó là trình bày các chiều kích của vấn đề cơ sở - không gì khác hơn là các chiều kích của một lĩnh vực khảo sát theo hướng trung tâm của nghiên cứu siêu hình học theo đúng nghĩa. Trước khi chuyển sang phần thứ hai để phát triển vấn đề cơ sở trong chiều kích mà chúng ta đã đạt được, trước hết, chúng ta cần mô tả ngắn gọn bằng một Phụ lục và chỉ ra cách thức mà nó có thể được thực hiện. Chúng ta gọi chiều kích vấn đề này và lời giải thích của nó là fundamental ontology Hữu thể luận cơ bản.
Phụ lục: Về một Hữu thể luận Cơ bản
Bằng cái tên Hữu thể luận cơ bản ở đây chúng ta muốn nói đến nền tảng cơ bản của Hữu thể luận nói chung. Điều này bao gồm: 1) Một nền tảng thể hiện khả tính nội tại của câu hỏi về Hữu thể như là vấn đề cơ bản của siêu hình học – sự diễn giải Dasein như là Zeitlichkeit thời tính; 2) Một sự phân giải các vấn đề cơ bản chứa đựng trong câu hỏi về Hữu thể – trình bày về thời gian của vấn đề về Hiện hữu; 3) Việc phát triển của tự-hiểu- biết về vấn đề này, nhiệm vụ và giới hạn của nó – cuộc lật đổ. Đối với những gì tiếp theo, và trong bối cảnh của khóa học này, phải có đủ một phác thảo khá tổng quát. Điều quan trọng là không nên hiểu Hữu thể luận cơ bản quá hẹp hoặc từ một quan điểm duy nhất. Các câu hỏi hướng dẫn ở đây là: Tại sao Hữu thể luận cơ bản ngay từ đầu lại là một phân tích hiện sinh? ‘Sự tồn tại’ ở đây có nghĩa là gì? Và đến mức độ nào mà phân tích hiện sinh với tư cách lịch sử siêu hình học và cái humanitas ‘nhân bản’ có được ý nghĩa từ khái niệm đầy đủ của siêu hình học?
Chỉ với và thông qua Hữu thể luận cơ bản này, chúng ta mới nắm bắt được, từ một quan điểm xác định, đời sống nội tại và ẩn giấu trong trào lưu cơ bản của triết học phương Tây. Chúng ta đã thấy bằng nhiều cách các đặc điểm cơ bản của vấn đề này được thể hiện rõ ràng ngay từ đầu. Và điều quan trọng là phải đưa những đặc điểm này ra ánh sáng càng nhiều càng tốt và không để chúng bị che giấu bởi sự thờ ơ. Và chúng ta nên làm điều này, không phải vì những vấn đề này đã được đề cập nhiều lần trong các thời đại trước, cũng không phải vì tính cổ xưa đáng kính của chúng, thứ mang lại cho chúng một sự tôn trọng nhất định, mà ngược lại, bởi vì Hữu thể luận cơ bản bao gồm các vấn đề mà, về bản chất vấn đề, bản thân chúng thuộc về sự tồn tại của các hiện hữu người, thuộc về bản chất siêu hình của Dasein, khi nó trở nên hữu hình đối với chúng ta; chỉ vì và chính xác vì lý do đó mà những vấn đề này đã được đưa ra ánh sáng dưới một hình dáng cụ thể, rõ ràng vào buổi đầu của triết học phương Tây. Hữu thể luận cơ bản luôn chỉ là sự lặp lại của cái hiện thân cổ xưa, ban sơ này. Nhưng cái cổ xưa được truyền đến cho chúng ta bằng lặp lại, chỉ khi chúng ta thừa nhận khả tính biến đổi của nó. Bởi vì về bản chất, những vấn đề này thúc bách chẳng kém. Tất cả điều đó đều có cơ sở, như chúng ta sẽ trình bày chi tiết, trong sử tính hiểu-biết-về-Hữu-thể. Và đặc trưng là truyền thống, tức là cách truyền đạt ngoại tại hóa, tước đoạt khỏi vấn đề chính sự biến đổi này bằng lặp lại. Truyền thống chuyển giao những mệnh đề và quan điểm nhất định, những cách thức cố định để đặt câu hỏi và thảo luận về vạn vật. Truyền thống ngoại tại về các quan điểm và góc nhìn vô danh này hiện được gọi là Problemgeschichtel ‘lịch sử vấn đề’. Truyền thống ngoại tại, việc sử dụng nó trong lịch sử triết học, phủ nhận sự sống của các vấn đề, có nghĩa là nó tìm cách kìm hãm sự biến đổi của chúng, và vì vậy chúng ta phải chống lại cái truyền thống đó.
Không phải là nên vượt qua cái cổ xưa - nếu về phương diện này có bất cứ ý nghĩa nào đối với việc ‘phê phán’ (một cái gì đó không phải là chính yếu nhưng vẫn cần thiết trong mọi tình huống). Nhưng chính những kẻ bảo vệ truyền thống bất tài mới là đối tượng cần phải chống lại. Điều này chỉ có thể xảy ra nếu chính chúng ta nỗ lực tạo ra cơ hội cho sự biến đổi của các vấn đề cơ bản, cho metaphysica naturalis thứ siêu hình học tự nhiên trong chính Dasein. [Ghi chú về metaphysica naturalis khuynh hướng siêu hình tự nhiên - một thế giới quan triết học cho rằng không có gì tồn tại ngoài thế giới vật chất tự nhiên; nó khẳng định rằng vũ trụ vận hành hoàn toàn theo các định luật vật lý và bác bỏ mọi hiện tượng siêu nhiên, chẳng hạn như phép màu, thần thánh và các mục đích không liên quan đến thực tại khoa học; các nguyên tắc cốt lõi của nó bao gồm Thực tại cốt lõi - đồng nghĩa với duy vật luận hoặc chủ nghĩa vật lý - niềm tin cho rằng mọi thứ trong thực tế cuối cùng đều được cấu tạo từ vật chất và năng lượng; việc diễn giải về sự sống được giả định rằng tất cả các hiện tượng (bao gồm cả nguồn gốc của sự sống và ý thức con người) đều có nguyên nhân vật lý có thể kiểm chứng được và cuối cùng có thể được hiểu thông qua khoa học tự nhiên; bác bỏ siêu nhiên - phủ nhận sự tồn tại của thần thánh, ma quỷ hoặc bất kỳ sự can thiệp nào của thần linh vào vũ trụ; khác biệt chính yếu - chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận so với chủ nghĩa tự nhiên siêu hình -chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận là một chiến lược nghiên cứu thực tiễn được sử dụng trong phương pháp khoa học - nó chỉ đơn giản giả định rằng mọi thứ đều có nguyên nhân tự nhiên để tiến hành thực nghiệm; chủ nghĩa tự nhiên siêu hình tiến thêm một bước nữa, khẳng định rằng siêu nhiên không tồn tại và không thể tồn tại.- HHN] Đây là điều cần nói về tháo dỡ truyền thống. Vấn đề không phải là xóa bỏ hai thiên niên kỷ và tự đặt mình vào vị trí của họ. Cũng như việc chúng ta phải tìm đường trở lại với sức mạnh cơ bản của những vấn đề trung tâm hình thành trong tính phổ quát và triệt để của nó, và sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu chúng ta tuyệt đối hóa chính những vấn đề này và do đó phủ nhận chức năng thiết yếu của chúng.
Con người chúng ta có xu hướng, không chỉ ngày nay hay chỉ thỉnh thoảng, mà với xu hướng này chúng ta hoặc nhầm lẫn điều gì là trọng tâm triết học với điều gì đó thú vị hoặc dễ tiếp cận, hoặc chúng ta tuyệt đối hóa một điểm trung tâm ngay lập tức, một cách mù quáng, và một khi nắm bắt được nó, chúng ta lại tập trung vào một giai đoạn tiềm năng duy nhất của vấn đề ban đầu và biến nó thành một nhiệm vụ vĩnh cửu, thay vì triệu hồi và chuẩn bị cái khả tính của những cội nguồn mới. Để chuẩn bị cho cái khả tính đó, không cần [tr.156] phải dự đoán những cội nguồn này. Người ta chỉ cần liên tục làm việc với những khả tính thực tế, bởi vì tính hữu hạn của Dasein. Vì thực hành triết học - về bản chất là một vấn đề hữu hạn, nên đến lượt mình, mọi cụ thể hóa của triết học thực tế đều phải chịu cảnh là nạn nhân của thực tính này. Tình cảnh hụt hơi cố hữu của việc đặt câu hỏi và tư duy thật khó vượt qua, nhưng chúng ta phải cố gắng để không vô tình khuất phục trước nó. Chỉ hiếm khi chúng ta có khả năng bao quát toàn bộ phạm vi của một vấn đề và giữ gìn được sức sống cũng như tiềm năng chuyển đổi của nó. Hoặc, nếu chúng ta có thể làm được điều đó, thì khi ấy chúng ta có thể đã không còn đủ sức để tiếp tục suy nghĩ về những khả tính quan trọng khác. Hoặc, nếu chúng ta có thể làm được điều đó, thì việc phân tích cần thiết sẽ khó khăn hơn, bởi vì về bản chất, không thể tách rời vấn đề ấy khỏi những vấn đề trước đó. Và vì vậy, trong mọi trường hợp đều có xé toang những chân trời; điều quan trọng hoặc thiết yếu luôn được trao lại cho tương lai với tư cách là di sản thực sự. Nhưng điều thiết yếu không phải là thứ có thể bị các thời đại luận chiến và bác bỏ. (Nếu Kant chỉ đơn thuần là người mà những kẻ đương thời của ông để mắt, người mà họ bác bỏ hết lần này đến lần khác, thì quả thực ông sẽ ở trong tình trạng đáng thương.)
Tính hữu hạn của triết học không nằm ở chỗ nó gặp phải giới hạn và không thể tiến xa hơn. Điều cốt yếu nằm ở chỗ: trong tính duy nhất và đơn giản của vấn đề trung tâm, triết học ẩn chứa một sự phong phú đòi hỏi sự thức tỉnh liên tục. Điều cần ghi nhớ, đặc biệt là đối với Hữu thể luận cơ bản, là chính tính triệt để và tính phổ quát của vấn đề trung tâm này, và chỉ riêng nó, mới giúp chúng ta nhận ra rằng những vấn đề này thực sự là trọng tâm; nhưng chính vì lý do đó, về tầm quan trọng và bản chất, chúng không bao giờ là những vấn đề duy nhất. Nói cách khác, Hữu thể luận cơ bản không vét kiệt khái niệm siêu hình học. Vì Hữu thể có đó chỉ khi các hiện hữu đã rim Da có đó, nên Hữu thể luận cơ bản tiềm ẩn khuynh hướng hướng tới một sự biến đổi siêu hình học nguyên thủy, chỉ có thể xảy ra khi Hữu thể được hiểu trong toàn bộ vấn đề của nó. Đối với Hữu thể luận tính cần thiết nội tại để quay trở lại điểm xuất phát của nó có thể được làm rõ bằng cách tham chiếu đến hiện tượng nguyên thủy của tồn tại người: Hữu thể ‘người’ hiểu về Hữu thể; hiểu-biết-về-Hữu-thể tạo ra sự phân biệt giữa Hữu thể và các hiện hữu; hiện hữu chỉ có đó khi hiểu về Hữu thể. Nói cách khác, cái khả tính mà hiện hữu có đó trong hiểu biết giả định sự tồn tại thực tế của Dasein, và điều này đến lượt nó giả định tồn tại tính thực tế của tự nhiên. Ngay trong chân trời vấn đề [tr.157] Hữu thể, khi được đặt ra một cách triệt để, dường như tất cả điều này đều có thể nhìn thấy và có thể được hiểu là Hữu thể, chỉ khi một tổng thể tính khả thể của các hiện hữu đã có đó.
Do đó, chúng ta cần một vấn đề đặc biệt có chủ đề chính là das Seiende im Ganzen các hiện hữu như một tổng thể. Cuộc khảo sát mới này nằm trong bản chất của chính Hữu thể luận và là kết quả Umschlag đảo ngược của nó, sự thay đổi, chuyển đổi, bước ngoặt. Tôi gọi tập hợp các câu hỏi này là Siêu Hữu thể luận. [Metontologie Siêu hữu thể luận là một thuật ngữ do triết gia Martin Heidegger đặt ra vào năm 1928, đóng vai trò là cầu nối giữa Bản thể học trừu tượng - nghiên cứu về tồn tại như một tổng thể và lĩnh vực cụ thể, hàng ngày của kinh nghiệm con người - lĩnh vực hiện hữu, đặc biệt đề cập đến các chủ đề như đạo đức và các mối quan hệ giữa con người; thuật ngữ này đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng thực tế, cụ thể của con người lĩnh vực ontic để làm nền tảng bổ sung cho bản thể luận nền tảng. Các khía cạnh chính của khái niệm này bao gồm: i) Phân biệt với Hữu thể luận Ontology - nếu ontology nghiên cứu về những câu hỏi rộng lớn, trừu tượng về sự tồn tại của vạn vật, thì metontology tập trung vào các trải nghiệm thực tế cụ thể của con người như đạo đức, giới tính hay xã hội; mối liên hệ với đạo đức học - theo Heidegger, metontology chính là lĩnh vực mà ‘nhà triết học có thể đặt ra những câu hỏi về đạo đức học lần đầu tiên’; từ này thường bị nhầm lẫn với meta-ontology - ngành học phân tích xem bản thể học là gì và giải nghĩa các tuyên bố tồn tại - hoặc Methontology - một phương pháp kỹ thuật phần mềm dùng để xây dựng và phân tích các hệ tri thức).- HHN] Và trong lĩnh vực đặt câu hỏi về Siêu Hữu thể luận-hiện sinh, cũng là lĩnh vực của siêu hình học về sự tồn tại (ở đây, câu hỏi về đạo đức có thể được đặt ra lần đầu tiên một cách thích đáng). Khoa học thực chứng cũng có các hiện hữu làm đối tượng nghiên cứu, Siêu hữu thể luận không phải tính bản thể tổng hợp theo nghĩa một khoa học tổng quát tập hợp thực nghiệm các kết quả của các khoa học riêng lẻ thành một cái gọi là ‘bức tranh thế giới’, để từ đó suy ra một thế giới quan và kim chỉ nam cho cuộc sống. Một điều gì đó tương tự, bằng cách nào đó, hiện diện trong Dasein tiền khoa học, mặc dù Dasein có cấu trúc khác; cái khả tính và cấu trúc của thế giới quan tự nhiên thực sự là một vấn đề riêng biệt.
Việc liên tục có những nỗ lực tóm tắt thông tin bản thể và gọi đó là ‘siêu hình học quy nạp’ cho thấy một vấn đề tất yếu nảy sinh lặp đi lặp lại trong suốt lịch sử. Siêu Hữu thể luận chỉ khả thể trên cơ sở và trong viễn cảnh của vấn đề Hữu thể luận triệt để và khả thể cùng với nó. Chính sự cấp tiến hóa Hữu thể luận cơ bản dẫn đến sự đảo lộn Hữu thể luận từ chính bản thân nó như đã đề cập ở trên. Ở đây những gì chúng ta dường như tách biệt, bằng các ‘ngành học’, và gán cho chúng những nhãn mác, thực chất là một - cũng giống như sự khác biệt về Hữu thể luận là một, hay là hiện tượng nguyên thủy của tồn tại người! Việc suy nghĩ về Hữu thể như là Hữu thể của các hiện hữu và hình dung vấn đề Hữu thể một cách triệt để và phổ quát cũng đồng nghĩa với việc biến các hiện hữu thể thành chủ đề trong tổng thể tính của chúng dưới ánh sáng của Hữu thể luận.
Sẽ là hời hợt và giáo điều nếu tin rằng một khi Hữu thể luận cơ bản được thành lập như một ngành học, thì một Hữu thể luận khác với một tiêu đề mới sẽ được gắn liền với nó. Hơn nữa, Hữu thể luận cơ bản không phải là một ngành học cố định mà, một khi đã được đặt tên, sẽ mãi mãi chiếm giữ vị trí trống trước đây dành cho nó trong một hệ thống triết học giả định nào đó - một ngành học cần được phát triển và hoàn thiện để đưa triết học đến một kết thúc có hậu trong vài thập kỷ (như người bình thường hoặc người theo chủ nghĩa thực chứng tưởng tượng). Trên thực tế, ‘vị trí’ đó, trong mọi triết học, là một vị trí đã được chiếm giữ, và trong mỗi trường hợp nó đều được biến đổi. Sự giáo điều của một hệ thống sơ đồ không nên bị nhầm lẫn [tr.158] với sự nghiêm ngặt của việc đặt câu hỏi. Người ta phải luôn ghi nhớ rằng trong phân tích, chúng ta chỉ nắm bắt được những gì mà mọi phương pháp phân tích hàm ý như là sự thống nhất và toàn vẹn ban đầu của nó, như một sự tổng hợp mà chúng ta chưa từng thực hiện một cách rõ ràng trước đây nhưng, dù sao đi nữa, chừng nào chúng ta còn tồn tại, thì nó luôn luôn được thực hiện đồng thời với và bởi chúng ta. Chúng ta không chỉ cần phân tích nói chung, mà còn phải tạo ra ảo tưởng rằng nhiệm vụ đang thực hiện là nhiệm vụ duy nhất và cần thiết. Chỉ người nào hiểu được nghệ thuật tồn tại này, chỉ người nào trong quá trình hành động có thể coi những gì được nắm bắt trong mỗi trường hợp là hoàn toàn độc nhất, đồng thời vẫn nhận ra tính hữu hạn của hoạt động này, chỉ kẻ như vậy mới hiểu được sự tồn tại hữu hạn và có thể hy vọng đạt được điều gì đó trong nó. Nghệ thuật tồn tại không phải là tự-phản tỉnh không dính líu, khi lục tìm động cơ và phức cảm để được trấn an và miễn trừ hành động. Điều đó chỉ là tính minh bạch của chính hành động, một cuộc săn tìm những khả tính hiện thực.
Kết quả của chúng ta là điều mà vấn đề cơ bản của siêu hình học, trong sự triệt để hóa và phổ quát hóa của nó, đòi hỏi một diễn giải về Dasein trên cơ sở thời tính; và từ diễn giải này, khả tính nội tại của việc hiểu về Hữu thể và do đó về Hữu thể luận sẽ trở nên rõ ràng - nhưng không chỉ để làm cho khả tính nội tại này được biết đến. Điều đó chỉ được hiểu rõ khi thực hiện, khi giải quyết tự thân vấn đề cơ bản (trong bốn vấn đề chính đã trình bày). Hữu thể luận cơ bản là toàn bộ quá trình hình thành và phát triển Hữu thể luận ấy; còn Hữu thể luận cơ bản là 1) Phân tích Dasein, và 2) Phân tích thời tính của Hữu thể. Nhưng phân tích thời gian đồng thời là sự đảo ngược [Kehre], nơi Hữu thể luận tự nó quay trở lại với tính hữu thể siêu hình mà nó luôn ngầm ẩn chứa đựng. Thông qua vận động cấp tiến và phổ quát hóa, mục đích đưa Hữu thể luận đến Umschlag đảo ngược tiềm ẩn của nó. Ở đây, Kehre đảo ngược được thực hiện, và nó được chuyển hóa thành Metontologie Siêu hữu thể luận.
Trong sự thống nhất của chúng, Hữu thể luận cơ bản và Siêu Hữu thể luận cấu thành nên khái niệm siêu hình học. Nhưng ở đây thể hiện sự biến đổi của một vấn đề cơ bản của chính triết học, vấn đề đã được đề cập ở trên và trong phần giới thiệu dưới quan niệm kép về triết học với tư cách là πρώτη φιλοσοφία Triết học thứ nhất và θεολογία Thần học. Và đây chỉ là sự cụ thể hóa đặc biệt của sự khác biệt hữu thể luận, tức là sự cụ thể hóa của việc thực hiện hiểu-biết-về-Hữu-thể. Nói cách khác, triết học là sự cụ thể hóa trung tâm và toàn diện bản chất siêu hình của tồn tại. [Tr.159] Chỉ dẫn chung chung và ngắn gọn này về ý tưởng và chức năng của Hữu thể luận cơ bản là cần thiết để chúng ta có thể thấy được bề rộng của chân trời vấn đề, và cũng không đánh mất con đường hẹp mà chúng ta nhất thiết phải đi theo trong việc xử lý cụ thể vấn đề sau đây.
[Ghi chú về số phận của thuật ngữ Metontologie Siêu Hữu thể luận: Kehre Bước ngoặt trong tư tưởng của Heidegger đã được thảo luận và tranh luận rất nhiều. Việc giới thiệu khái niệm Metontologie Siêu Hữu thể luận vào năm 1927 đã góp phần tích cực vào cuộc tranh luận này vì nó hàm chứa mối quan tâm đến lĩnh vực Hữu thể luận của Heidegger, điều không có trong các tác phẩm trước đó. Tuy nhiên, việc khái niệm này biến mất ngay sau khi được giới thiệu đã đặt ra thách thức cho đóng góp của nó vào cuộc tranh luận này. Thật ra sự biến mất của Siêu hữu thể luận không hàm ý sự biến mất mối quan tâm của Heidegger đối với lĩnh vực Hữu thể luận, mà ngược lại. Chính Freeman đã nói về sự căng thẳng giữa cái hiện hữu và cái Hữu thể luận trong tư tưởng của Heidegger vào giữa đến cuối những năm 1920, dẫn đến sự ra đời của Siêu hữu thể luận vào năm 1927. Sau đó, diễn giải của McNeill về sự biến mất của Siêu hữu thể luận như là hệ quả của quan điểm của Heidegger vào giữa những năm 1930 cho rằng sự phóng chiếu tiên nghiệm của Hữu thể là Entzug des Seins sự rút lui của Hữu thể cho phép nói rằng sự biến mất này không kéo theo việc Heidegger đột ngột không còn quan tâm đến Hữu thể. Bằng cách xem xét phân tích của Heidegger về "toán học" trong Die Frage nach dem Ding, cuối cùng có thể thấy rằng Siêu hữu thể luận biến mất khỏi tư tưởng của Heidegger bởi vì sự phụ thuộc của nó vào Hữu thể luận ngăn cản nó giải thích một cách đúng đắn mối quan tâm ngày càng tăng của ông đối với cái hiện hữu. Theo Crichton, C. (2022). Metontology and Heidegger’s Concern for the Ontic after Being and Time: challenging the a priori. Trans/form/ação: revista de Filosofia da Unesp, v. 46, n.3, p. 33-58, 2022.- HHN]
________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
