Powered By Blogger

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT

46. Bất khả tính Giả tượng về Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein từ phương diện Bản thể luận và Việc xác định

[Tr.279] Cần phải vượt qua cái thực trạng khiếm khuyết của die hermeneutische Situation Tình huống tường giải – vốn đã làm nảy sinh các phân tích trước đó về Dasein. Chúng ta cần phải đưa toàn bộ Dasein vào cái ‘có-trước’ của mình. Theo đó, ta phải đặt câu hỏi liệu thực thể này, với tư cách là một cái đang hiện hữu, có bao giờ có thể được tiếp cận trong cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó hay không. Ngay trong chính trạng thái Hữu thể của Dasein, có những lý do quan trọng dường như phủ nhận cái khả tính của Vorgabe trạng thái cho trước nó theo cách thức được yêu cầu. [Chen ngang: Heidegger gùng từ Vorgabe/ pre-givenness/ presentation trạng thái cho trước/ trình diện trước trong hai văn cảnh cụ thể: 1) Heidegger sử dụng khái niệm Gegebenheit sự cho sẵn/trạng thái được ban cho và các khái niệm liên đới như das Gegebene cái cho sẵn hay Vorgabe cái cho trước: i) Đối với Heidegger, trước khi thực hiện bất kỳ một hành vi suy luận lý thuyết hay nhận thức luận nào về một đối tượng, đối tượng đó hoặc thế giới xung quanh đã phải hiện diện hoặc lộ diện sẵn trong trải nghiệm thực tế của chúng ta rồi; ii) Vorgabe chính là những cấu trúc, hoàn cảnh hoặc ý nghĩa mang tính chất ‘tiền đề’, được ban cho hoặc đặt để trước Dasein hiện hữu người trước khi chúng ta kịp phân tích hay suy nghĩ về nó. 2) Cần phân biệt với Vorhabe/ Fore-having - Có trước: i) Rất dễ nhầm lẫn giữa Vorgabe và Vorhabe do cấu trúc từ gần giống nhau – Vorhabe/ Fore-having / Cái có trước); ii) Đi cùng với Vorsicht Cái nhìn trước và Vorgriff Cái nắm bắt trước, Vorhabe cấu thành nên cấu trúc diễn giải của con người, nó biểu thị những hiểu biết nền tảng mà chúng ta đã ‘sở hữu sẵn’ khi tiếp cận một điều gì đó; iii) Vorgabe (Pre-givenness) – trạng thái cho trước thường thiên về trạng thái mang tính khách quan hoặc thụ động hơn — tức là những gì được cấu trúc hoặc ‘giao phó /trình diện trước’ cho trải nghiệm của chúng ta từ thế giới. -HHN]. Cái khả tính Hữu-thể-một-chỉnh-thể của thực thể này rõ ràng là không tương thích với ý nghĩa bản thể luận của Sorge/Care/Chăm lo – vốn hình thành nên tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc của Dasein.

Tuy nhiên, yếu tố tiên quyết trong sự quan tâm chính là trạng thái Sich-vorweg ‘vượt-trước-chính-mình’; điều này có nghĩa là trong mọi trường hợp, Dasein hiện hữu vì bản thân nó. ‘Chừng nào còn hiện hữu’ – cho đến chung cục của mình – nó vẫn luôn hướng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình. Ngay cả khi vẫn hiện hữu nhưng không còn gì ở ‘phía trước’ và abgeschlossen đã ‘hoàn tất’, thì Hữu thể của nó vẫn được quy định bởi cái Sich-vorweg trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’. Chẳng hạn, nỗi tuyệt vọng không tách rời Dasein khỏi các khả tính của nó, mà chỉ là một trong những phương thức Hữu thể hướng đến các khả tính đó của chính nó. Ngay cả khi một kẻ không còn ảo tưởng và Gefasstsein auf Alles ‘sẵn sàng cho mọi sự’, thì ở đó vẫn ẩn giấu Sich-vorweg trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’. Trạng thái Sich-vorweg ‘vượt-trước-chính-mình’ – với tư cách là một yếu tố trong cấu trúc chăm lo – cho ta thấy rõ ràng rằng ở Dasein luôn tồn tại một điều gì đó còn dang dở;1 điều này, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính Dasein, vẫn chưa trở thành hiện thực. Một đặc điểm cốt yếu trong cấu thành cơ bản của Dasein là luôn có eine ständige Unabgeschlossenheit một thứ chưa được hoàn tất. Sự thiếu vắng tính trọn vẹn này biểu thị rằng vẫn còn điều gì đó chưa được thực hiện trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể của một kẻ nào đó.

[Tr.280] Tuy nhiên, ngay khi Dasein ‘hiện hữu’ theo cách vốn hoàn toàn không còn điều gì chưa được thực hiện nữa, thì chính vì lý do đó, nó đã trở thành Nicht-mehr-da-sein trạng thái ‘không-còn-Hữu-thể-ở-đó’. Hữu thể của nó bị triệt tiêu khi những gì còn dang dở trong Hữu thể đó đã được thanh toán. Chừng nào Dasein còn tồn tại như một hiện hữu, thì nó chưa thể nào đạt tới ‘tính chỉnh thể’ của mình.2 Nhưng nếu nó đạt được ‘tính chỉnh thể’ ấy, thì thành quả đó lại trở thành sự mất mát hoàn toàn trạng thái Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong trường hợp đó, nó không bao giờ còn có thể được trải nghiệm như một hiện hữu nữa. Lý do cho cái bất khả tính trải nghiệm Dasein về phương diện ontish thực hữu như một als seiendes Ganzes chỉnh thể hiện hữu — và do đó không thể xác định đặc tính của nó về phương diện bản thể luận trong trạng thái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó — không nằm ở bất kỳ sự khiếm khuyết nào trong năng lực nhận thức của chúng ta. Trở ngại thực sự nằm ở chính cái Hữu thể của hiện hữu này. Bất cứ điều gì không thể tương thích với những gì mà một trải nghiệm — vốn tự cho là nắm bắt được Dasein — tuyên bố, thì về nguyên tắc, điều đó hoàn toàn nằm ngoài khả năng được trải nghiệm.3 Nhưng nếu vậy, chẳng phải việc cố gắng nhận diện tổng thể tính bản thể luận Hữu thể của Dasein lại là một nỗ lực vô vọng sao?

Chúng ta không thể loại bỏ yếu tố trạng thái ‘vượt-trước-chính-mình’ ra khỏi cái cấu trúc cốt yếu của ‘chăm lo’. Tuy nhiên, những kết luận rút ra được từ đó có thực sự xác đáng? Phải chăng việc không thể nắm bắt cái chình thể của Dasein đã được suy luận dựa trên một lập luận chỉ mang tính hình thức? Hay sâu xa hơn, chẳng phải chúng ta đã vô tình mặc định rằng Dasein là một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, mà phía trước nó liên tục tự chen vào một cái gì đó chưa hiện-diện-vô-tri? Trong lập luận của mình, liệu chúng ta có hiểu khái niệm das Noch-nicht-sein/ Being-not-yet Hữu-thể-chưa-có và cái ‘vượt-trước’ theo đúng nghĩa existenzial/existential hữu thể đích thực hay không? Liệu bàn luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ có thực sự phù hợp với Dasein về phương diện hiện tượng? Liệu khái niệm ‘cái chết’ có mang ý nghĩa sinh học, ý nghĩa hữu thể-bản thể luận, hay là bất kỳ ý nghĩa nào đã được xác định một cách thỏa đáng và chắc chắn? Liệu chúng ta đã thực sự khai thác mọi khả tính để tiếp cận Dasein trong tính chỉnh thể của nó hay chưa?

Chúng ta phải giải đáp những câu hỏi này trước khi vấn đề về tổng thể tính của Dasein có thể bị gạt bỏ như một điều vô nghĩa. Câu hỏi này—bao gồm cả câu hỏi thực hữu cụ thể [existentiell] về việc liệu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể có khả thể hay không, lẫn câu hỏi hữu thể [existential] về trạng-thái-Hữu-thể của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’—chứa đựng nhiệm vụ thực hiện một phép phân tích mang tính khẳng định đối với một số hiện tượng hiện hữu vốn vẫn bị bỏ qua cho đến hiện nay. Trọng tâm của những suy tư này là nhiệm vụ xác định về mặt bản thể luận cái trạng thái Hữu-thể-tại-một-chung-cục của Dasein và đạt tới một quan niệm hữu thể [tr.281] về cái chết. Các nghiên cứu liên quan đến những chủ đề này được phân chia như sau: khả tính trải nghiệm cái chết của những Kẻ Khác và khả tính nắm bắt Dasein như một chỉnh thể (Mục 47); điều còn lại chưa hoàn tất, cái chung cục và tổng thể tính (Mục 48); cách thức phân biệt giữa phân tích hữu thể về cái chết với các phép Diễn giải khác về hiện tượng này (Mục 49); phác thảo sơ bộ về cấu trúc hữu thể-bản thể luận của cái chết (Mục 50); Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và tính thường nhật của Dasein (Mục 51); Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật và quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái chết (Mục 52); sự phóng chiếu hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực (Mục 53).

47. Khả tính Trải nghiệm Cái chết của Kẻ Khác và Khả tính Nắm bắt Dasein như một Chỉnh thể

Khi Dasein đạt đến trạng thái chỉnh thể của mình trong cái chết, đồng thời nó cũng đánh mất cái Hữu thể ‘có-đó’ của chính nó. Thông qua sự chuyển biến sang trạng thái Nichtmehrdasein không-còn-là-Dasein, nó bị tách biệt hoàn toàn khỏi khả tính trải nghiệm sự chuyển đổi này cũng như khả tính thấu hiểu nó như một cái gì đó đã được trải nghiệm. Chắc chắn rằng điều đó là bất khả đối với bất kỳ Dasein cụ thể nào trong mối tương quan với chính nó. Tuy nhiên, chính điều đó lại làm cho cái chết của những Kẻ Khác lại trở nên đáng chú ý hơn. Theo cách này, sự chấm dứt của Dasein trở nên có thể tiếp cận được vè phương diện ‘Khách thể’. Nhờ đó, Dasein có thể thu nhận trải nghiệm về cái chết, đó là bởi vì về bản chất, Dasein chính là Hữu-thể-với-Kẻ-khác. Trong trường hợp đó, việc cái chết được đưa ra theo cách ‘Khách thể’ như vậy hẳn phải cho phép xác định giới hạn bản thể luận về tổng thể tính của Dasein. Do đó, từ loại Hữu thể mà Dasein sở hữu với tư cách là Hữu-thể-với-một-kẻ-khác, thì ta có thể rút ra một thông tin khá hiển nhiên rằng: khi Dasein của những Kẻ Khác đã tới hồi chung cục, nó có thể được chọn làm chủ đề thay thế cho phép phân tích tổng thể tính của Dasein. Nhưng liệu điều này có dẫn ta đến mục tiêu đã định?

Ngay cả Dasein của những Kẻ Khác, khi đã đạt đến sự trọn vẹn trong cái chết, cũng không-còn-là-Dasein nữa, theo nghĩa là không-còn-Hữu-thể-trong-thế-giới. Chẳng phải chết nghĩa là bước ra khỏi thế giới và đánh mất sự Hữu-thể-trong-thế-giới của mình sao? Tuy nhiên, khi một người đã chết, trạng thái Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới-nữa (nếu hiểu theo nghĩa cực đoan) thì vẫn là một loại Hữu thể, nhưng theo nghĩa Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-không-hơn của một Vật thể hữu hình mà ta bắt gặp. Trong cái chết Kẻ Khác, ta có thể trải nghiệm hiện tượng Hữu thể đáng chú ý, có thể được định nghĩa là sự chuyển-đổi của một thực thể từ loại Hữu thể của Dasein (hay sự sống) sang trạng thái không-còn-là-Dasein. Cái chung cục của thực thể với tư cách là Dasein lại là khởi đầu của chính thực thể đó với tư cách là một cái gì đó hiện-diện-vô-tri.  

Tuy nhiên, phép Diễn giải chuyển-đổi từ Dasein sang [tr.282] Hữu-thể-chỉ-hiện-diện-vô-tri-và-không-hơn này đã bỏ sót nội dung hiện tượng, bởi lẽ trong cái thực thể còn lại đó không đơn thuần chỉ là một Vật thể hữu hình. Xét từ góc độ lý thuyết, ngay cả cái xác đang hiện-diện-vô-tri cũng vẫn là một đối tượng khả thể cho nhà nghiên cứu giải phẫu bệnh lý – là kẻ có hiểu biết hướng đến ý niệm về sự sống. Cái thực thể chỉ-còn- hiện-diện-vô-tri-không-hơn này lại ‘hơn’ cả một Vật thể vật chất vô tri. Ở đó, ta bắt gặp một cái gì đó không sinh khí, một cái đã mất đi sự sống.4 Tuy nhiên, ngay cả cách mô tả về das Nochverbleibenden ‘cái còn lại’ này cũng chưa lột tả hết những dữ kiện hiện tượng liên quan đến Dasein. Der ‘Verstorbene’ ‘Người đã khuất’ — khác biệt với dem Gestorbenen ‘người đã chết’ — đã bị tách rời khỏi den ‘Hinterbliebenen’ những người ‘ở lại’ và trở thành đối tượng ‘quan tâm’ thông qua các nghi thức tang lễ, việc mai táng và tục thờ cúng mộ phần. Sở dĩ như vậy là vì Der ‘Verstorbene’/ the deceased  ‘Người đã khuất’, xét theo loại Hữu thể của mình, ‘còn hơn cả’ một món đồ sẵn-có-để-dùng trong môi trường mà ta có thể bận tâm đến. Khi nán lại bên cạnh người đã khuất trong niềm thương tiếc và sự tưởng nhớ, những người ở lại đang hiện diện cùng người ấy trong một thái độ ân cần đầy tôn kính. Do đó, mối-quan-hệ-của-Hữu-thể mà ta dành cho người chết không thể được xem đơn thuần là loại Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm đối với một cái gì đó sẵn-có-để-dùng.

Trong cái ‘Hữu-thể-với’ dem Toten người chết như vậy, bản thân người đã khuất không còn hiện diện một cách thực tế ‘có đó’ nữa. Tuy nhiên, khi nói đến ‘Hữu-thể-với’, ta luôn hướng đến cái Hữu thể với một kẻ khác trong cùng một thế giới. Kẻ đã khuất đã từ bỏ và để lại cái ‘thế giới’ của chúng ta. Song, trong khuôn khổ của cái thế giới ấy, những người còn sống vẫn có thể hiện hữu cùng hắn. Trạng thái phù hợp về mặt hiện tượng càng cao trong cách ta nhìn nhận cái trạng thái không-còn-là-Dasein của người đã khuất, thì càng thấy rõ rằng: trong kiểu ‘Hữu-thể-với’ người chết ấy, cái Zuendegekommensein ‘Hữu-thể-đi-tới-một-chung-cục’ đích thực của người đã khuất lại chính là điều mà ta không thực sự trải nghiệm. Cái chết quả thực bộc lộ như một sự mất mát, nhưng là sự mất mát được trải nghiệm bởi những người còn sống.

Tuy nhiên, khi gánh chịu sự mất mát này, ta không có cách nào tiếp cận được với chính tình trạng ‘mất-mát-của-Hữu-thể’ mà kẻ đang hấp hối phải ‘gánh chịu’. Cái chết của những Kẻ Khác không phải là điều ta trải nghiệm theo nghĩa đích thực; cùng lắm ta cũng chỉ luôn ‘có đó bên cạnh’ mà thôi.5 Và ngay cả cái Hữu-thể-bên-cạnh như vậy cho phép ta làm sáng tỏ ‘về mặt tâm lý’ cái chết của Kẻ Khác, thì điều đó cũng không thể [tr.283] giúp ta nắm bắt được phương-thức-hiện-hữu mà ta đang hướng tới—tức là trạng thái ‘đi-đến-chung-cục’. Chúng ta đang truy vấn về ý nghĩa bản thể luận tình trạng hấp hối của người chết, với tư cách là một khả-tính-của-Hữu-thể vốn thuộc về chính Hữu-thể của hắn. Chúng ta không hỏi về cách thức mà kẻ đã khuất có Dasein-với hay Nochdasein vẫn-là-một-Dasein với những kẻ còn sống. Nếu cái chết—như được trải nghiệm ở những Kẻ Khác—là cái mà chúng ta được yêu cầu để phân tích về chúng cục và tổng thể tính của Dasein, thì nó không thể mang lại cho ta—dù là về phương diện ontish thực hữu hay phương diện bản thể luận—những thứ mà nó được kỳ vọng sẽ mang lại.

Song trên hết, quan điểm cho rằng cái chết của những Kẻ Khác là một chủ đề thay thế cho việc phân tích bản thể luận về tổng thể tính của Dasein và việc giải quyết vấn đề về sự kết thúc của nó, lại dựa trên một tiền giả định hoàn toàn6 không nhận thức được loại Hữu thể của Dasein. Đây là điều người ta mặc nhiên thừa nhận khi cho rằng bất kỳ Dasein nào cũng có thể được thay thế ngẫu nhiên bởi một Dasein khác, sao cho những gì không thể trải nghiệm được trong Dasein của chính mình lại có thể tiếp cận được thông qua Dasein của một kẻ xa lạ. Nhưng liệu tiền giả định này có thực sự thiếu cơ sở đến vậy? Không thể phủ nhận rằng việc một Dasein có thể được đại diện bởi một Dasein khác là một phần trong các khả tính Hữu thể của nó trong  ‘Hữu-thể-với-một-kẻ-khác’ trong thế giới. Trong những mối quan tâm thường nhật, việc sử dụng liên tục và đa dạng được tạo bởi tính đại diện như vậy. Bất cứ khi nào ta đi bất cứ đâu hay cần đóng góp điều gì, ta đều có thể được đại diện bởi một kẻ nào đó trong phạm vi cái ‘môi trường’ mà ta gắn bó mật thiết nhất. Tính đa tạp của các cách thức của Hữu-thể-trong-thế-giới—nơi một kẻ có thể được đại diện bởi kẻ khác—không chỉ mở rộng sang các phương thức tinh tế hơn của việc hiện hữu cùng nhau nơi công cộng, mà còn liên quan đến những khả tính quan tâm vốn bị giới hạn trong các phạm vi nhất định, phù hợp với nghề nghiệp, địa vị xã hội hay lớp tuổi của mỗi kẻ. Tuy nhiên, ý nghĩa cốt lõi của kiếu đại diện ấy luôn ở ‘trong’ một điều gì đó—nghĩa là, trong quá trình ta bận tâm đến một sự vật hay sự việc nào đó. 

Song, trước hết và chủ yếu, Dasein thường nhật tự thấu hiểu bản thân thông qua những gì nó thường xuyên bận tâm. ‘Ta là’ những gì ta làm. Liên quan đến loại Hữu thể này (cách thức thường nhật mà chúng ta gắn kết với nhau trong cuộc đắm mình vào ‘thế giới’ mà ta bận tâm), khả năng biểu thị không chỉ hoàn toàn khả thi mà còn mang tính cấu thành đối với hiện hữu cùng nhau [tr.284] của chúng ta. Tại đây, —trong những giới hạn nhất định— một Dasein có thể và phải ‘là’ một Dasein khác. Tuy nhiên, khả tính biểu thị này hoàn toàn sụp đổ nếu vấn đề nằm ở việc biểu đạt cái khả-tính-của-Hữu-thể vốn cấu thành nên cuộc đi đến ‘chung cục’ của Dasein, và chính nhờ đó mà mang lại cho nó tính chỉnh thể. Không ai có thể gánh thay cái chết của Kẻ khác. Tất nhiên, có thể ‘đi đến cái chết vì kẻ khác’. Nhưng điều đó luôn có nghĩa là hy sinh bản thân vì Kẻ Khác ‘trong một sự việc cụ thể nào đó’. ‘Chết thay’ như vậy không bao giờ có nghĩa là Kẻ Kia đã được sẻ gánh cái chết của mình, dù chỉ một chút ít.

Cái chết là điều mà mỗi Dasein phải tự mình gánh vác vào thời điểm đó. Theo bản chất của nó, cái chết trong mọi trường hợp đều là của riêng tôi, chừng nào nó còn ‘hiện hữu’. Và quả thực, cái chết biểu thị một khả tính-của-Hữu-thể đặc thù, trong đó chính Hữu thể của Dasein là vấn đề cốt yếu. Trong cái chết, ta thấy rằng ‘tính của tôi’ còn sự hiện hữu thì mang tính cấu thành về mặt bản thể luận đối với cái chết.1 Cái chết không phải là một sự kiện; nó là một hiện tượng cần được thấu hiểu về phương diện hữu thể; và cần được hiểu theo một ý nghĩa đặc biệt mà ta cần phải xác định ranh giới một cách chặt chẽ hơn nữa. Tuy nhiên, nếu hành vi ‘chung cục’ — tức hấp hối — mang tính cấu thành đối với tổng thể tính của Dasein, thì chính cái Hữu thể của trạng thái chỉnh thể này phải được quan niệm như một hiện tượng hữu thể của một Dasein trong mỗi trường hợp, vốn luôn là ‘của riêng kẻ đó’. Trong hành vi ‘chung cục’ và trong cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein — mà đối với nó hành vi ‘chung cục’ mang tính cấu thành — thì xét về bản chất, hoàn toàn không có hành vi đại diện. Đó là các sự thật mang tính hữu thể của vấn đề; người ta sẽ không nhận ra điều này khi cố tình dùng cái chết của những Kẻ Khác làm chủ đề thay thế cho việc phân tích tổng thể tính.

Như vậy, một lần nữa, nỗ lực làm cho ‘Hữu-thể-một-chỉnh-thể’ của Dasein trở nên có thể tiếp cận theo cách thức phù hợp với chính các hiện tượng đã bị thất bại. Tuy nhiên, kết quả các suy tư của chúng ta không mang tính phủ định; chúng đã được định hướng bởi chính các hiện tượng, dù chỉ ở mức sơ lược. Chúng ta đã chỉ ra rằng cái chết là một hiện tượng hữu thể. Do đó, cuộc khảo sát buộc phải đi theo định hướng thuần túy hữu thể đối với Dasein—mà trong mọi trường hợp luôn là riêng của mỗi kẻ. Khả năng duy nhất còn lại để phân tích cái chết với tư cách là hành trình dying ‘hấp hối’ là: hoặc hình thành một quan niệm thuần túy hữu thể về hiện tượng này, hoặc từ bỏ mọi thấu hiểu mang tính bản thể luận về nó. Khi mô tả trạng thái chuyển tiếp từ Dasein sang ‘không-còn-là-Dasein’ với tư cách ‘Hữu-thể-không-còn-trong-thế-giới-nữa’, chúng ta cũng đã chỉ ra rằng việc Dasein ‘rời-khỏi-thế-giới’ theo nghĩa ‘hấp hối’ cần phải được phân biệt với tình trạng ‘rời-khỏi-thế-giới’ của những thực thể chỉ đơn thuần des Nur-lebenden có sự sống. [Chen ngang:des Nur-lebenden đối với Heidegger có nghĩa là ‘cái chỉ đơn thuần sống’ hoặc ‘thực thể thuần túy có sự sống’ liên quan đến động vật hoặc các sinh vật hữu cơ nói chung kể cả thực vật. Chúng có sự sống nhưng thiếu đi những đặc tính cấu trúc bản thể luận đặc biệt của con người. Khái niệm này được hiểu qua các khía cạnh cốt lõi sau: i) Đối lập với Dasein hiện hữu người Heidegger phân biệt nghiêm ngặt giữa Dasein – loại hiện hữu có khả năng tự ý thức và ưu tư về chính sự tồn tại của mình - với das Nur-lebende - thực thể chỉ có bản năng sinh học, không có thế giới theo nghĩa đầy đủ hoặc ‘nghèo tính thế giới’; ii) Vấn đề về Thời gian - Heidegger cho rằng việc định nghĩa bản thể luận về cách các giác quan bị kích thích ở một Nur-Lebenden thực thể chỉ đơn thuần sống, hay liệu thực thể này có được cấu thành bởi một dạng ‘thời gian’ nào không, vẫn là một bài toán riêng biệt đầy thách thức; iii) Sự khác biệt về cái chết giữa Verenden vs. Sterben - đối với các thực thể Nur-lebenden chỉ đơn thuần sống, khi kết thúc vòng đời sinh học, chúng đơn thuần Verenden ‘tiêu vong’. Ngược lại, chỉ có Dasein hiện hữu người mới thực sự có trải nghiệm cái chết theo nghĩa triết học, gọi là Sterben ‘tử vong’ hay ‘chết đúng nghĩa’.-HHN].

Trong thuật ngữ của chúng tôi, hành vi chung cục của bất kỳ sinh vật sống nào cũng được gọi là Verenden tàn lụi/chết sinh học. Chúng ta chỉ có thể thấy được sự khác biệt này nếu phân biệt được loại hành vi chung cục mà Dasein trải qua với cuộc chung cục một cuộc đời.ii Tất nhiên, ‘hấp hối’ cũng có thể được nhìn nhận dưới góc độ sinh lý học và sinh học. [Tr.285] Tuy nhiên, khái niệm y học về ‘exitus’ sự ra đi/cái chết lại không trùng khớp với khái niệm chỉ hành vi Verenden ‘tàn lụi’. Từ những thảo luận trước đó về khả tính nắm bắt cái chết mang tính bản thể luận, đồng thời cũng thấy rõ rằng các phụ-cấu trúc của những thực thể mang loại Hữu thể khác (như ‘hiện-diện-vô-tri’ hay ‘sự sống’) lại vô tình trỗi dậy và đe dọa gây nhầm lẫn cho phép Diễn giải hiện tượng này—thậm chí gây trở ngại ngay cả cho cách thức trình bày phù hợp đầu tiên về nó. Chỉ có thể tiếp cận hiện tượng này bằng cách tìm kiếm ở các phân tích tiếp theo một phương thức định nghĩa phù hợp về bản thể luận đối với các hiện tượng cấu thành nó, chẳng hạn như ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’.

48. Cái còn Dang dở; cái Chung cục; Tổng thể tính

Trong khuôn khổ cuộc khảo sát này, việc mô tả mang tính bản thể luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ chỉ có thể mang tính tạm thời. Để thực hiện nhiệm vụ này một cách thỏa đáng, chúng ta không chỉ cần trình bày cấu trúc hình thức của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ nói chung; mà còn phải gỡ rối các biến thể cấu trúc khả dĩ của chúng trong những lĩnh vực khác nhau—tức là các biến thể đã được phi hình thức hóa, được đặt vào mối liên hệ với những loại thực thể xác định đóng vai trò là ‘chủ đề’, và có đặc tính được quy định bởi chính cái Hữu thể của các thực thể đó. Đổi lại, nhiệm vụ này đòi hỏi phải có một phép Diễn giải đủ rõ ràng và khẳng định về các loại Hữu thể vốn quy định việc phân chia tập hợp các thực thể thành những lĩnh vực như vậy. Tuy nhiên, để hiểu được các phương thức Hữu thể này, chúng ta cần có một quan niệm minh bạch về Hữu thể nói chung. Nhiệm vụ phân tích bản thể luận về chung cục và tổng thể tính theo cách thức thích hợp gặp trở ngại không chỉ vì phạm vi chủ đề quá rộng, mà còn do một khó khăn về nguyên tắc: để nhiệm vụ này được thành công, chúng ta buộc phải giả định rằng điều mà ta đang tìm kiếm trong cuộc khảo sát này—tức ý nghĩa của Hữu thể nói chung—là thứ mà ta đã tìm thấy và đã hoàn toàn quen thuộc.

Trong những suy tư tiếp theo, các ‘biến thể’ mà chúng ta đặc biệt quan tâm là những biến thể của cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’; đây là những phương thức giúp Dasein có được một bản chất xác định về mặt bản thể luận, và do đó, chúng sẽ dẫn đến một sự diễn giải bản nguyên về thực thể này. Luôn lưu tâm đến cái cấu thành hữu thể của Dasein đã được trình bày trước đó, chúng ta cần xem xét mức độ không phù hợp về mặt bản thể luận của những quan niệm về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ vốn thường xuất hiện ngay từ đầu—bất kể chúng có thể còn mơ hồ về mặt phạm trù đến mức nào. Zurückweisung hành vi bác bỏ các khái niệm như vậy phải được phát triển thành một Zuweisung hành vi xác quyết khẳng định vị trí của chúng trong các lĩnh vực cụ thể tương ứng. Bằng cách này, hiểu biết của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’—dưới các biến thể là existentialia các yếu tố hữu thể—sẽ được củng cố, và điều này [tr.286] sẽ đảm bảo khả năng thực hiện một phép Diễn giải bản thể luận về cái chết. Tuy nhiên, ngay cả khi phép phân tích cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ của Dasein mang định hướng quá rộng như vậy, thì điều đó vẫn không có nghĩa là các khái niệm hữu thể về cái ‘chung cục’ và ‘tổng thể tính’ có thể đạt được bằng phép diễn dịch. Ngược lại, ý nghĩa hữu thể về hồi-chung-cục của Dasein phải được rút ra từ chính Dasein, và ta phải chỉ ra cách thức mà ‘hồi chung cục’ ấy có thể cấu thành nên Hữu-thể-một-chỉnh-thể cho cái thực thể vốn vẫn hiện hữu ấy. Chúng ta có thể tóm lược cuộc thảo luận về cái chết cho đến thời điểm này qua ba luận điểm: 1) Thuộc về Dasein, chừng nào nó còn hiện hữu, là một trạng thái ‘vẫn-chưa’ mà nó sẽ trở thành—một điều gì đó luôn luôn còn bỏ ngỏ; 2) Cuộc-đi-đến-chung-cục của cái-chưa-đến-chung-cục (trong đó cái còn bỏ ngỏ kia bị triệt tiêu xét về phương diện Hữu thể của nó) mang đặc tính của trạng thái ‘không-còn-là-Dasein-nữa; 3) Cuộc-đi-đến-chung-cục hàm ý một phương thức Hữu thể, trong đó cái Dasein cụ thể hoàn toàn không thể được đại diện bởi bất kỳ kẻ nào khác.

Ở Dasein, không thể phủ nhận luôn tồn tại một tình trạng ‘thiếu vắng tổng thể tính’ – trạng thái này chỉ đến hồi chung cục cùng cái chết. Trạng thái ‘vẫn-chưa’ này ‘thuộc về’ Dasein chừng nào nó còn hiện hữu; đó là thực trạng xét về phương diện hiện tượng. Liệu điều này có nên được Diễn giải như là một hành vi chưa hoàn tất hay không?8 Chúng ta nói về cái chưa hoàn tất trong mối liên hệ với những thực thể nào? Khi dùng cụm từ này, ta đang nhắm đến điều thực sự ‘thuộc về’ một thực thể nhưng vẫn còn thiếu vắng. Tình trạng chưa hoàn tất – một dạng thức thiếu vắng – vốn dựa trên chính cái quan hệ ‘thuộc về’ ấy.9 Ví dụ, khoản dư chưa được thu về khi thanh toán dứt điểm một món nợ chính là khoản vẫn ‘còn thiếu’. Cái vẫn ‘còn thiếu’ là thứ chưa nằm trong tầm kiểm soát hay sự sở hữu của ta. Khi món nợ được trả xong, khoản ‘còn thiếu’ đó được tất toán; điều này có nghĩa là tiền ‘được thu về’, hay phần còn lại lần lượt được bổ sung vào. Thông qua quá trình này, trạng thái ‘vẫn chưa’ dần được lấp đầy cho đến khi tổng số tiền nợ được tập hợp lại ‘trọn vẹn’.10

Do đó, trạng thái ‘còn thiếu’ có nghĩa là những thành phần thuộc về nhau vẫn chưa hiện diện đầy đủ cùng nhau. Xét về mặt bản thể luận, điều này hàm ý tình trạng ‘chưa-sẵn-có-để-dùng’ của những phần chưa được đóng góp vào. Những phần này mang cùng một loại Hữu thể với những phần đã sẵn-có-để-dùng; và đến lượt chúng, những phần sau không bị biến đổi về phương diện Hữu thể khi có phần còn lại gia nhập vào. Bất kỳ Das bestehende Unzusammen ‘tình trạng thiếu gắn kết’ nào còn tồn tại đều được ‘bù đắp’ bằng việc chắp nối tích lũy. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Das bestehende Unzusammen có nghĩa là 1). ‘Tình trạng thiếu vắng tính gắn kết còn tồn tại’ hoặc ‘Tình trạng thiếu hụt tổng thể tính hiện hữu’. Nó được dùng để mô tả vấn đề triết học cơ bản về việc Dasein hiện hữu người vốn dĩ không trọn vẹn và rời rạc cho đến khi cái chết kề cận. Heidegger sử dụng khái niệm này để phê phán quan điểm truyền thống về thời gian và cuộc sống con người. 2) Các thành phần cốt lõi của khái niệm này được phân tích như sau: i) Vấn đề về Das Noch-nicht/Not-yet/ahead-of-itself ‘Cái-chưa-có’/Cái-đi-trước-bản-thân:  chừng nào còn sống, tôi không bao giờ là một sản phẩm đã hoàn thiện. Luôn có điều gì đó ‘còn dang dở’/chưa được thanh toán dứt điểm trong cuộc đời —những lựa chọn cần đưa ra, những ngày tháng cần sống và những tiềm năng chưa được hiện thực hóa. Vì một phần hiện hữu của tôi luôn nằm ở tương lai, nên cuộc đời tôi thiếu đi một sự trọn vẹn gắn kết. Nó không hoàn chỉnh về mặt cấu trúc. ii) Phê phán quan điểm tính toán kiểu ‘từng phần một’: Heidegger sử dụng phép ẩn dụ về nợ tài chính để giải thích cách con người sai lầm khi cố gắng khắc phục bản chất rời rạc này. Nếu bạn nợ ai đó tiền, khoản nợ đó vẫn ‘còn lại đó’ chưa thanh toán cho đến khi được trả dần từng phần một; iii) Bản thể luận truyền thống coi cuộc sống con người giống như khoản nợ này. Nó xem quãng đời là một chuỗi các khoảnh khắc riêng biệt, hiện-diện-vô-tri, tích tụ dần theo thời gian; iv) Theo quan điểm sai lầm này, cái ‘das bestehende Unzusammen’ tình trạng thiếu vắng tính gắn kết còn tồn tại đơn thuần được ‘trả dứt’ hoặc lấp đầy dần dần khi bạn gạch bỏ từng ngày trên lịch cho đến khi mọi thứ cuối cùng trở nên ‘trọn vẹn’. 3) Ý nghĩa đích thực của Heidegger đó là Tổng thể tính của Dasein: i) Heidegger lập luận rằng tôi không thể đối xử với cuộc sống con người như một cuốn sổ cái tài chính hay một đống gạch đang thiếu vài viên. Dasein không trở nên ‘chỉnh thể’ chỉ bằng cách cộng dồn thêm nhiều ngày tháng; ii) Thay vào đó, ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ nằm ngay trong cấu trúc của hiện hữu. Tôi luôn đi trước chính mình, phóng chiếu vào tương lai, trong khi vẫn neo giữ vào quá khứ; iii) Điều duy nhất khép lại khoảng cách này và mang lại một ‘chung cục’ dứt khoát cho các khả tính của tôi chính là cái chết. Tuy nhiên, khi cái chết đang cận kề, Dasein không trở thành một khách thể đã hoàn thiện; thay vào đó, cuộc hiện hữu của nó bị triệt tiêu hoàn toàn. 4) Bảng tóm tắt so sánh quan điểm về cuộc sống và cách tiếp cận ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ cũng như chung cục: i) Quan điểm truyền thống/thiếu tính chân thực coi cuộc sống như một món nợ; ta chắp vá từng khoảnh khắc lại với nhau cho đến khi tổng thể được lấp đầy, xem cuộc sống là chuỗi các sự kiện tĩnh tại và chóng qua; ii) Ngược lại, quan điểm chân thực của Heidegger thừa nhận rằng ‘tình trạng thiếu vắng tính gắn kết’ là một điều kiện hữu thể của hiện hữu tự do và hướng về tương lai; iii) Tôi chỉ đạt được tính chỉnh thể/tổng thể tính bằng cách đối diện với cái chết của chính mình, đó chính là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết.-HNN].

Những thực thể mà ở đó vẫn còn điều gì đó chưa hoàn tất sẽ có loại Hữu thể của một cái gì đó [tr.287] sẵn-có-để-dùng. Tính gắn kết này được đặc trưng như một ‘tổng số’, và tình trạng thiếu vắng tính gắn kết dựa trên nó cũng vậy. Tuy nhiên, tình trạng thiếu vắng tính gắn kết vốn thuộc về phương thức gắn kết như vậy—tức là trạng thái vắng mặt do chưa hoàn tất—không thể nào định nghĩa về mặt bản thể luận cái ‘vẫn-chưa’ vốn thuộc về Dasein như là cái chết khả thể của nó. Dasein hoàn toàn không có loại Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng trong thế giới. Tính gắn kết của một thực thể thuộc kiểu Dasein—khi ‘trải qua lộ trình’ cho đến lúc cái ‘lộ trình’ đó hoàn tất—không được cấu thành bởi việc chắp-nối liên tục các thực thể vốn đã sẵn-có-để-dùng theo cách riêng của chúng ở đâu đó.11

Việc cho rằng Dasein chỉ thực sự ‘gắn kết’ trọn vẹn khi cái ‘vẫn-chưa’ của nó đã được lấp đầy là hoàn toàn sai lầm; bởi lẽ, chính vào lúc đó, Dasein không còn hiện hữu nữa. Mọi Dasein luôn hiện hữu theo cách mà cái ‘vẫn-chưa’ luôn thuộc về chính nó. Tuy nhiên, liệu có tồn tại những thực thể—vốn hiện hữu như chúng vốn có và có thể bao hàm một cái ‘vẫn-chưa’—nhưng lại không nhất thiết phải có loại Hữu thể của Dasein hay không? Chẳng hạn, ta có thể nói: ‘Giai đoạn trăng khuyết vẫn chưa hoàn tất cho đến khi trăng tròn’. Cái ‘vẫn-chưa’ này giảm dần khi bóng tối che khuất biến mất. Nhưng ở đây, mặt trăng luôn hiện-diện-vô-tri như một chỉnh thể đã thành. Chưa kể đến sự thật là ta không bao giờ có thể nắm bắt trọn vẹn mặt trăng ngay cả khi nó tròn, thì cái ‘vẫn-chưa’ này hoàn toàn không biểu thị một Hữu-thể-vẫn-chưa-gắn-kết của các bộ phận vốn thuộc về mặt trăng, mà chỉ liên quan đến cách ta tri giác và nắm bắt nó. Cái ‘vẫn-chưa’ vốn thuộc về Dasein, tuy nhiên không chỉ đơn thuần là một cái gì đó tạm thời và đôi khi không thể tiếp cận được đối với trải nghiệm của chính mình hay thậm chí của kẻ lạ; nó hoàn toàn vẫn chưa hề ‘là’ ‘hiện thực’. Vấn đề của chúng ta không nằm ở việc nắm bắt cái ‘vẫn-chưa’ mang đặc tính của Dasein; mà nằm ở cái Hữu thể khả thể hoặc không-phải-Hữu-thể của cái ‘vẫn-chưa’ này.

Dasein, với tư cách là chính nó, phải trở thành—nghĩa là, phải hiện hữu như—cái mà nó ‘vẫn-chưa’ là. Do đó, nếu muốn thông qua so sánh— để xác định cái Hữu thể của ‘vẫn-chưa’, vốn mang tính chất của Dasein, thì chúng ta phải xem xét những thực thể mà đối với chúng, sự trở thành thuộc về loại Hữu thể của chúng. Chẳng hạn, khi một trái cây chưa chín, thì nó ‘hướng tới’ trạng thái chín của mình. Trong quá trình chín này, cái mà trái cây ‘vẫn-chưa’ chín là không hề được chắp vá thêm vào như một thứ gì đó ‘vẫn-chưa’ hiện-diện-vô-tri. Trái cây tự đưa mình đến trạng thái chín, và hành động tự đưa mình như vậy là một đặc điểm Hữu thể của nó với tư cách là một trái cây. Không gì có thể tưởng tượng được cái mà ta có thể tác động vào nó lại có thể loại bỏ trạng thái chưa chín của trái cây, nếu bản thân thực thể này không tự mình đạt đến [tr.288] trạng thái chín. Khi nói về cái ‘vẫn-chưa’ của trạng thái chưa chín, chúng ta không nhắm đến một thứ gì khác đứng bên ngoài, thứ mà—hoàn toàn dửng dưng với trái cây—có thể hiện-diện-vô-tri trong nó và cùng với nó. Cái mà chúng ta nhắm đến chính là bản thân trái cây trong loại Hữu thể đặc thù của nó. Một tổng số chưa hoàn tất, với tư cách là một thứ gì đó sẵn-có-để-dùng, thì tình trạng ‘dửng dưng’ đối với phần còn thiếu và chưa sẵn-có-để-dùng, mặc dù xét một cách chặt chẽ, nó không thể dửng dưng cũng không thể không dửng dưng đối với phần còn thiếu đó.12 Tuy nhiên, quả đang chín không những không dửng dưng với tình trạng chưa chín của mình như thể đó là một cái gì khác biệt với chính nó, mà nó chính là tình trạng chưa chín đó trong quá trình chín. Cái ‘vẫn-chưa’ đã bao gồm ngay trong chính Hữu thể của trái cây, không phải như một đặc tính ngẫu nhiên, mà như một thứ mang tính cấu thành. Tương tự như vậy, chừng nào một Dasein còn hiện hữu, thì nó cũng đã là cái ‘vẫn-chưa’ của chính mình.iii

Cái vốn gây nên tình trạng ‘thiếu vắng tổng thể tính’ ở Dasein—tức trạng thái luôn ‘vượt trước chính mình’—không phải là một cái gì đó vẫn còn thiếu hụt trong một trạng thái gắn kết cộng dồn, cũng không phải là một cái gì đó chưa thể tiếp cận được. Mà đó là một trạng thái ‘vẫn-chưa’ mà bất kỳ Dasein nào—với tư cách là thực thể mà nó vốn là thế—đều phải hiện hữu. Tuy nhiên, phép so sánh với trạng thái chưa chín của trái cây cho thấy những khác biệt cốt yếu, mặc dù vẫn có những điểm tương đồng nhất định. Nếu lưu tâm đến những khác biệt này, ta sẽ nhận ra rằng cuộc bàn luận của chúng ta về cái ‘chung cục’ và ‘đi đến chung cục’ bấy lâu nay còn mơ hồ đến mức nào. Dần chín chính là Hữu thể đặc thù của trái cây. Đó cũng là một loại Hữu thể của trạng thái ‘vẫn-chưa’ (của trạng thái chưa chín); và theo đúng nghĩa một loại Hữu thể, nó có sự tương đồng về mặt hình thức với Dasein, ở chỗ Dasein—cũng giống như trái cây—luôn luôn đã là trạng thái ‘vẫn-chưa’ của chính mình theo một nghĩa nào đó cần được định nghĩa thêm. Song, điều này không có nghĩa là trạng thái chín với tư cách là một ‘chung cục’ và cái chết với tư cách là một ‘chung cục’ trùng khớp với nhau về mặt cấu trúc hữu thể luận của chúng với tư cách là các chung cục. Với tình trạng chín, trái cây đạt đến sự viên mãn của chính nó.13 Nhưng liệu cái chết mà Dasein đi tới có phải là một loại viên mãn theo nghĩa này không? Khi đối diện với cái chết, Dasein quả thực đã ‘hoàn tất hành trình’ của mình. Nhưng liệu khi làm vậy, nó có nhất thiết đã tận dụng hết các khả tính đặc thù của mình không? Hay đúng hơn, chẳng phải chính những khả tính đó lại là thứ bị tước bỏ khỏi Dasein sao? Ngay cả một Dasein ‘chưa viên mãn’ cũng đi đến chung cục. Mặt khác, hoàn toàn không có chuyện Dasein chỉ đạt đến độ chín khi đối diện với cái chết; trái lại, Dasein hoàn toàn có thể đã đi qua độ chín trước khi chung cục.14 Phần lớn các trường hợp, Dasein kết thúc trong tình trạng chưa viên mãn, hoặc sau khi đã phân rã và cạn kiệt.

________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…im Dasein immer noch etwas aussteht…’. The verb 'ausstehen' and the noun ‘Ausstand’ (which we usually translate as 'something still outstanding', etc.), are ordinarily used in German to apply to a debt or a bank deposit which, from the point of view of the lender or depositor, has yet to be repaid to him, liquidated, or withdrawn. [P.279]

2 ‘Die Behebung des Seinsausstandes besagt Vernichtung seines Seins. Solange das Dasein als Seiendes ist, hat es seine “Gänze” nie erreicht.’ The verb ‘beheben’ is used in the sense of closing one’s account or liquidating it by withdrawing money from the bank. The noun ‘Ganze’, which we shall translate as 'wholeness', is to be distinguishedfrom ‘Ganze’ (‘whole’, or occasionally ‘totality’) and ‘Ganzheit’ (‘totality’). [p.280]

3 'Was so gar nicht erst sein kann, wie ein Erfahren das Dasein zu erfassen priitendiert, entzieht sich grundsiitzlich einer Erfahrbarkeit.' [p.280]

4 ‘Das Nur-noch-Vorhandene ist "mehr" als ein lebloses materielles Ding. Mit ihm begegnet ein des Lebens verlustig gegangenes Unlebendiges.’ [p.282]

5 ‘…sind… “dabei”.’ Literally the verb ‘dabeisein’ means simply 'to be at that place’, ‘to be there alongside’ ; but it also has other connotations which give an ironical touch to this passage, for it may also mean, 'to be engaged in' some activity, ‘to be at it’, ‘to be in the swim’, ‘to be ready to be “counted in”’. [p.282]

6 ‘…eine viillige Verkennung…’. The older editions have 'totale' rather than 'viillige'. [p.283]

7 'Vertretbarkeit'. The verb 'vertreten' means 'to represent' in the sense of 'deputizing' for someone. It should be noted that the verb 'vorstellen' is also sometimes translated as 'to represent', but in the quite different sense of 'affording a "representation" or "idea" of something'. [p.283]

8 'Aber darf der phanomenale Tatbestand, dass zum Dasein, solange es ist, dieses Noch-nicht "gehort", als Ausstand interpretiert werden ?' The contrast between 'Tatbestand' and 'Ausstand' is perhaps intentional. [p.286]

9 Ausstehen als Fehlen griindet in einer Zugehorigkeit.' [p.286]

10 'Tilgung der "Schuld" als Behebung des Ausstandes bedeutet das "Eingehen", das ist Nacheinanderankommen des Restes, wodurch das Noch-nicht gleichsam aufgefullt wird, bis die geschuldete Summe "beisammen" ist.' On 'Schuld' see note 1, p. 325, H. 280. [p.286]

11 Throughout this sentence Heidegger uses words derived from the verb 'laufen', 'to run'. Thus, 'in running its course' represents 'in seinem Verlauf', ' "its course" has been completed' represents 'es "seinem Lauf" vollendet hat'; 'continuing' represents 'fortlaufende'. [p.287]

12 'Die noch nicht volle Summe ist als Zuhandenes gegen den fehlenden unzuhand'enen Rest "gleichgiiltig". Streng genommen kann sie weder ungleichgiiltig, noch gleichgiiltig dagegen sein.' [p.288]

13 'Mit der Reife vollendet sich die Frucht.' Notice that the verb 'vollenden', which we here translate as 'fulfil', involves the verb 'enden' ('to end'). While 'vollenden' may mean 'to bring fully to an end' or 'to terminate', it may also mean 'to complete' or 'to perfect'. [p.288]

14 While we have translated 'Reife' by its cognate 'ripeness', this word applies generally to almost any kind of maturity, even that of Dasein-not merely the maturity of fruits and vegetables. [p.288]

 

 

 

 

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXVIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

[Tr. 268] Tuy nhiên, cái vốn nằm ở vị trí cuối cùng trong trật tự liên kết nền tảng—xét về mặt hữu thể và bản thể luận—lại được nhìn nhận ở phương  diện ontish thực hữu và thực tại như là điều đầu tiên và gần gũi nhất với chúng ta. Dẫu vậy, tính tất yếu của Sự thật này lại bắt nguồn từ chính loại Hữu  thể mà Dasein sở hữu. Trong sự đắm mình đầy quan tâm, Dasein tự thấu hiểu bản thân thông qua những gì nó bắt gặp bên-trong- thế-giới. Entdecktheit/ uncoveredness Trạng thái bộc lộ—vốn thuộc về hành động bộc lộ—là điều mà trước hết ta bắt gặp ngay bên-trong-thế- giới, nơi những gì đã được diễn đạt. Tuy nhiên, không chỉ chân lý mới được bắt gặp như là hiện-diện-vô-tri; nhìn chung, hiểu biết của chúng ta về Hữu thể mang tính chất sao cho mọi thực thể, ngay từ bước đầu, đều được hiểu như là hiện-diện-vô-tri. Nếu ‘chân lý’—thứ mà ta bắt gặp trước hết theo phương thức ontish thực hữu—được xem xét ở bình diện bản thể luận theo cách gần gũi nhất với chúng ta, thì cái λόγος logos (lời khẳng định) sẽ được hiểu như một λόγος tíνος lời khẳng định về một điều gì đó, một Entdecktheit/ uncoveredness trạng thái bộc lộ về một điều gì đó; nhưng hiện tượng này lại bị diễn giải như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, xét trên phương diện khả năng hiện-diện-vô-tri của nó.1 Song, vì hiện-diện-vô-tri bị đồng nhất với ý nghĩa của Hữu thể nói chung, nên câu hỏi liệu Hữu thể này của chân lý có phải là bản nguyên hay không—và liệu có yếu tố nào mang tính bản nguyên trong cái cấu trúc mà ta bắt gặp gần gũi nhất ấy hay không—đã hoàn toàn không thể nảy sinh. Hiện tượng bản nguyên của chân lý bị che lấp bởi hiểu biết của Dasein về Hữu thể—loại hiểu biết vốn chiếm ưu thế ngay từ đầu và cho đến nay vẫn chưa được vượt qua một cách tường minh và triệt để về mặt nguyên tắc.

Tuy nhiên, đồng thời ta cũng không được bỏ qua một thực tế là: mặc dù cách hiểu về Hữu thể này (cách hiểu gần gũi nhất với chúng ta) là thứ mà người Hy Lạp đã tiên phong phát triển thành một ngành tri thức và làm chủ nó, thì sự hiểu biết bản nguyên về chân lý vẫn đồng thời tồn tại trong họ—dù chỉ ở mức độ tiền-bản thể luận—và thậm chí nó còn giữ được vị thế của mình trước sự che giấu tiềm ẩn trong cái bản thể luận của họ; ít nhất là ở Aristotle.xiii Ông chưa bao giờ bảo vệ luận điểm cho rằng cái ‘locus quỹ đạo’ bản nguyên của chân lý lại nằm ở sự phán đoán. Ông cho rằng cái λόγος logos chính là phương thức của Hữu thể mà trong đó Dasein có thể hoặc bộc lộ, hoặc che đậy sự vật. Khả tính kép này là nét đặc thù trong cái Hữu-thể-chân của λόγος logos: chính λόγος logos là phương thức ứng xử mà qua đó người ta cũng có thể che đậy sự vật. Và vì Aristotle chưa bao giờ tán thành luận điểm mà chúng ta đã đề cập, nên ông cũng chưa bao giờ ở vào [tr.269] vị thế có thể ‘mở rộng’ quan niệm về chân lý trong λόγος logos—để bao hàm cả νοεῖν noein nhận thức thuần túy. Chân lý của αἴσθησις aesthesis nhận thức cảm tính—và của việc the seeing of ‘ideas’ quan chiêm các ‘ý niệm’—chính là loại bộc lộ bản nguyên nhất. Và chỉ vì νόησις noesis quá trình nhận thức chủ yếu làm bộc lộ, nên cái λόγος logos—với tư cách διανοεῖν dianoein suy tư—mới có thể mang chức năng bộc lộ. Không chỉ sai lầm khi viện dẫn Aristotle để ủng hộ luận điểm cho rằng cái locus ‘quỹ tích’ đích thực của chân lý nằm ở phán đoán; mà ngay cả về mặt nội dung, thì luận điểm này cũng không nhận ra được cấu trúc của chân lý. Aussage Sự khẳng định không phải là locus ‘quỹ tích’ chủ đạo của chân lý. Trái lại, dù xét như một phương thức chiếm lĩnh trạng-thái-bộc-lộ hay với tư cách một phương thức Hữu-thể-trong-thế-giới, thì Aussage Sự khẳng định đều bắt rễ từ hành động bộc lộ của Dasein, hay đúng hơn là trong Erschlossenheit/disclosedness Trạng thái khai mở của nó. ‘Chân lý’ bản nguyên nhất chính là cái locus ‘quỹ tích’ khẳng định; đó là điều kiện bản thể luận cho khả tính mà khẳng định là chân hay giả—và chúng có thể bộc lộ hoặc che đậy sự vật. Chân lý, khi được hiểu theo nghĩa bản nguyên nhất, lại thuộc về cái cấu thành cơ bản của Dasein. Thuật ngữ này biểu thị một existentiale đặc tính cấu thành hữu thể. Qua đó, chúng ta đã phác thảo lời đáp cho câu hỏi về loại hình Hữu thể mà chân lý sở hữu, cũng như câu hỏi về việc cần phải tiền giả định rằng ‘có chân lý’ theo nghĩa nào.

(c) Loại hình Hữu thể mà Chân lý sở hữu, và Tiền giả định về Chân lý. Dasein, với tư cách được cấu thành bởi Erschlossenheit/disclosedness trạng-thái-khai-mở, về bản chất luôn ở trong chân lý. Erschlossenheit Trạng-thái-khai-mở là một loại Hữu thể thiết yếu đối với Dasein. Chỉ khi Dasein hiện hữu và chừng nào Dasein còn hiện hữu thì chân lý mới ‘có đó’. Các hiện hữu chỉ được bộc lộ khi Dasein hiện hữu; và chúng chỉ được khai mở chừng nào Dasein còn hiện hữu. Các định luật của Newton, nguyên lý mâu thuẫn, hay bất kỳ chân lý nào – tất cả chỉ đúng chừng nào Dasein còn hiện hữu. Khi chưa có bất kỳ Dasein nào, thì đã không hề có chân lý nào cả; và cũng sẽ không còn chân lý nào sau khi Dasein không còn nữa. Bởi lẽ, trong trường hợp đó, thì chân lý – với tư cách là trạng thái khai mở, hành động bộc lộ và trạng thái bộc lộ – không thể tồn tại. Trước khi các định luật của Newton được khám phá, chúng không hề là ‘chân’; điều này không có nghĩa chúng là giả, hay thậm chí chúng sẽ trở nên giả nếu xét về mặt ontish thực hữu, khi mà Erschlossenheit Trạng-thái-khai-mở đã không có bất kỳ khả thể nào. ‘Giới hạn’ này hoàn toàn không hàm ý rằng cái Hữu-thể-chân của các ‘chân lý’ bị suy giảm theo bất kỳ cách nào. Việc nói rằng trước thời Newton, các định luật của ông không ‘chân’ cũng chẳng ‘giả’, không có nghĩa là trước ông đã không tồn tại những thực thể như đã được bộc lộ và được chỉ ra bởi chính các định luật ấy. Qua Newton, các định luật trở thành ‘chân’; cùng với chúng, các thực thể đã có thể tiếp cận ngay trong bản thân chúng đối với Dasein. Một khi các thực thể đã được bộc lộ, thì chúng tự bày tỏ chính xác như là những thực thể vốn đã hiện hữu từ trước đó. Hành vi bộc lộ như vậy chính là loại Hữu thẻ vốn thuộc về ‘chân lý’.

Việc tồn tại những ‘chân lý vĩnh cửu’ sẽ không thể được chứng minh một cách thỏa đáng cho đến khi [tr.270] có ai đó chứng minh thành công rằng Dasein đã hiện hữu và sẽ mãi mãi hiện hữu. Chừng nào chưa có bằng chứng như vậy, nguyên lý này vẫn chỉ là một luận điểm đầy tính suy đoán, không hề trở nên xác đáng hơn chỉ vì các triết gia thường ‘tin’ vào nó. Bởi lẽ, loại Hữu thể cốt yếu đối với chân lý lại mang đặc tính của Dasein, nên mọi chân lý đều mang tính tương đối so với Hữu thể của Dasein. Liệu tương đối tính này có hàm ý rằng mọi chân lý đều ‘mang tính chủ thể’ hay không? Nếu ta diễn giải ‘mang tính chủ thể’ theo nghĩa ‘tùy thuộc vào quyền tự quyết của chủ thể’, thì chắc chắn là không. Bởi vì hành vi bộc lộ—theo đúng nghĩa đích thực nhất của nó—đã đưa hành vi khẳng định ra khỏi phạm vi quyền tự quyết của chủ thể, đồng thời đặt cái Dasein đang bộc lộ vào thế đối diện trực tiếp với tự thân các thực thể. Và chỉ vì ‘chân lý’—với tư cách hành vi bộc lộ—là một loại Hữu thể vốn thuộc về Dasein, nên nó mới có thể được tách khỏi phạm vi quyền tự quyết của Dasein. Ngay cả ‘tính hiệu lực phổ quát’ của chân lý cũng chỉ bắt nguồn từ thực tế là Dasein có khả năng bộc lộ các thực thể ngay trong chính bản thân chúng và giải phóng chúng. Chỉ bằng cách đó, các thực thể tự thân này mới có thể mang tính ràng buộc đối với mọi khẳng định khả thể—tức là đối với mọi cách thức chỉ ra chúng.2 Nếu chân lý được hiểu đúng đắn, liệu nó có bị tổn hại chút nào bởi thực tế rằng nó chỉ khả thể về phương diện ontish thực hữu bên trong cái ‘chủ thể’, và trụ vững hay sa ngã gắn liền với cái Hữu thể của ‘chủ thể’ đó?

Giờ đây, khi đã có một quan niệm mang tính hữu thể về loại Hữu thể thuộc về chân lý, thì ý nghĩa của việc ‘tiền giả định chân lý’ cũng trở nên dễ hiểu. Tại sao chúng ta phải tiền giả định rằng có chân lý? ‘Tiền giả định’ là gì? Chúng ta đang nghĩ gì với từ ‘phải’ và từ ‘chúng ta’? Nói ‘có chân lý’ nghĩa là gì? ‘Chúng ta’ tiền giả định chân lý bởi vì ‘chúng ta’ — với tư cách là những thực thể hiện hữu trong loại Hữu thể của Dasein — vốn dĩ đang ‘ở trong chân lý’. Chúng ta không tiền giả định nó như một cái gì đó nằm ‘bên ngoài’ và ‘bên trên’ ta, một thứ mà ta hướng tới cùng với các ‘giá trị’ khác. Không phải chúng ta tiền giả định ‘chân lý’; mà chính ‘chân lý’ mới là điều kiện tiên quyết về mặt bản thể luận để ta có thể thực hiện hành động ‘tiền giả định’ bất cứ điều gì. Chân lý là yếu tố đầu tiên làm cho hành động tiền giả định trở nên khả thể.

‘Tiền giả định’ nghĩa là gì? Đó là hiểu một điều gì đó như là nền tảng cho Hữu thể của một thực thể khác. Sự thấu hiểu một thực thể trong các mối liên hệ Hữu thể của nó như vậy chỉ có thể thực hiện được trên nền tảng của Erschlossenheit/disclosedness trạng-thái-khai-mở — tức là trên nền tảng Hữu thể của Dasein là một cái gì đó vốn bộc lộ. Do đó, tiền giả định ‘chân lý’ có nghĩa là hiểu nó như một cái gì đó vốn vì nó mà Dasein hiện hữu. Tuy nhiên, Dasein luôn luôn ‘đã vượt trước chính mình’ trong mọi trường hợp; điều này hàm chứa trong trạng-thái- Hữu-thể của nó với tư cách là ‘chăm lo’. Nó là một thực thể mà trong Hữu thể của nó, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó luôn là một vấn đề cốt yếu. Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở và hành động bộc lộ gắn liền một cách thiết yếu với Hữu thể của Dasein cũng như tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó [tr.271] với tư cách là Hữu thể-trong-thế-giới.

Đối với Dasein, tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới là một vấn đề cốt yếu, và điều này bao hàm3 cả việc nó tự mình bận tâm đến các thực thể trong-thế-giới và hành vi bộc lộ chúng thông qua cái nhìn thấu đáo, bao quát. Chính trong trạng-thái-của-Hữu-thể của Dasein với tư cách chăm lo — trong Hữu-thể-vượt-trước-tự-thân — mới ẩn chứa hành động ‘tiền giả định’ bản nguyên nhất. Bởi vì hành động tiền giả định của tự thân này thuộc về Hữu thể của Dasein, nên ‘chúng ta’ cũng tất yếu phải ‘tự mình’ tiền giả định với tư cách là có cái thuộc tính của Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở. Cũng tồn tại những thực thể có đặc tính khác với đặc tính của Dasein, nhưng hành vi ‘tiền giả định’ vốn nằm trong Hữu thể của Dasein lại không tự liên hệ với những thực thể này; nó chỉ tự liên hệ với chính Dasein mà thôi. Cái chân lý được tiền giả định ấy—hay cái ‘có đây’  dùng để định nghĩa Hữu thể của Dasein—lại có một loại Hữu thể (hoặc ý nghĩa của Hữu thể vốn thuộc về chính Dasein. Chúng ta buộc phải ‘thực hiện’ cái tiền giả định về chân lý, bởi lẽ đó là cái vốn đã được ‘thực hiện’ cùng với cái Hữu thể của cái ‘chúng ta’.

Chúng ta buộc phải tiền giả định về chân lý. Bản thân Dasein—với tư cách là trường hợp Dasein của tôi và Dasein này phải hiện hữu; và tương tự như vậy, chân lý—với tư cách là Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở của Dasein—cũng phải hiện hữu. Điều này thuộc về tình-trạng-bị-ném vào thế giới của Dasein. Liệu Dasein, với tư cách là chính nó, đã bao giờ tự do quyết định xem mình có muốn bước vào ‘Dasein’ hay không, và liệu nó có bao giờ sẽ có thể phải đưa ra một quyết định như vậy không? ‘Trong-tự-thân’, thật hoàn toàn khó hiểu tại sao các thực thể lại cần được bộc lộ, tại sao chân lý và Dasein lại phải hiện hữu. Cách thức bác bỏ thông thường đối với chủ nghĩa hoài nghi—thứ phủ nhận hoặc cái Hữu thể của ‘chân lý’ hoặc khả năng nhận thức được nó—đều chỉ dừng lại ở giữa chừng. Thứ mà nó trưng ra, với tư cách là một lập luận hình thức, lại đơn giản chỉ là nếu có bất cứ điều gì được phán đoán, thì chân lý đã được tiền giả định từ trước rồi. Điều đó gợi ý rằng ‘chân lý’ thuộc về việc khẳng định, vốn chỉ ra một điều gì đó, bằng chính ý nghĩa của nó, là một hành động bộc lộ. Tuy nhiên, khi nói như vậy, người ta cần phải minh định tại sao cái yếu tố chứa đựng nền tảng bản thể luận cho mối liên hệ tất yếu giữa sự khẳng định và chân lý về phương diện Hữu thể của chúng lại phải hiện hữu như chính bản thân chúng. Loại Hữu thể vốn thuộc về chân lý cũng bị bỏ ngỏ trong mơ hồ , cũng như ý nghĩa của việc tiền giả định và ý nghĩa nền tảng bản thể luận của nó trong chính Dasein. Hơn nữa, người ta còn không nhận ra ngay cả khi không có ai phán đoán, chân lý vẫn đã được tiền giả định chừng nào Dasein còn hiện hữu.

Kẻ hoài nghi luận không thể bị bác bỏ, cũng như Hữu thể của chân lý không thể được ‘chứng minh’ vậy. Và nếu thực sự tồn tại một kẻ hoài nghi phủ nhận chân lý, thì kẻ đó thậm chí chẳng cần phải bị bác bỏ. Chừng nào còn hiện hữu và thấu hiểu chính mình trong Hữu thể đó, thì kẻ ấy đã tự xóa bỏ Dasein trong sự tuyệt vọng của hành động tự sát; và khi làm vậy, kẻ ấy cũng đã xóa bỏ luôn cả chân lý. Bởi lẽ bản thân Dasein không thể là đối tượng để được chứng minh ngay từ đầu, nên tính tất yếu của chân lý cũng không thể được chứng minh. Việc chứng minh rằng từng tồn tại một kẻ hoài nghi ‘thực sự’4 cũng khó khăn và chưa đạt được kết quả như việc chứng minh sự tồn tại của các ‘chân lý vĩnh cửu’ (mặc dù về cơ bản, [tr.272] chính niềm tin vào sự tồn tại của kẻ hoài nghi này lại là nền tảng cho các nỗ lực bác bỏ chủ nghĩa hoài nghi). Tuy nhiên, có lẽ những kẻ hoài nghi như vậy lại xuất hiện thường xuyên hơn mức mà người ta – với cái nhìn ngây thơ – mong muốn khi cố gắng đánh đổ ‘hoài nghi luận’ bằng phép biện chứng hình thức.

Như vậy, đối với câu hỏi về Hữu thể của chân lý và sự cần thiết phải tiền giả định nó – cũng như đối với câu hỏi về bản chất của tri thức – người ta thường đặt ra một ‘chủ thể lý tưởng’. Động cơ cho việc này, dù được diễn đạt rõ ràng hay chỉ ngầm hiểu, nằm ở việc đòi hỏi triết học phải lấy cái a priori ‘tiên nghiệm’ làm chủ đề thay vì các ‘sự kiện thực nghiệm’ thuần túy. Yêu cầu này có cơ sở hợp lý nhất định, mặc dù nó vẫn cần được luận giải trên bình diện bản thể luận. Song, liệu yêu cầu này có được thỏa mãn khi ta đặt ra một ‘chủ thể lý tưởng’ hay không? Chẳng phải một chủ thể như vậy chỉ là thứ lý tưởng hóa viển vông sao? Với quan niệm đó, chẳng phải chúng ta đã bỏ lỡ chính tính chất tiên nghiệm ở thứ chủ thể mang tính ‘sự thật’ – tức Dasein – hay sao? Chẳng phải một thuộc tính thuộc về tính chất tiên nghiệm của chủ thể mang tính sự thật (tức thuộc tính về thực tính của Dasein) chính là việc nó đồng bản nguyên hiện diện trong cả chân lý lẫn phi chân lý hay sao? Thứ ý niệm về một cái ‘Tôi’ ‘thuần túy’ và một ‘ý thức nói chung’ còn lâu mới bao hàm được tính chất tiên nghiệm của chủ thể tính ‘thực sự’; thay vào đó, các đặc tính bản thể luận về thực tính của Dasein và trạng thái Hữu thể của nó lại bị bỏ qua hoặc hoàn toàn không được nhìn thấy. Việc bác bỏ khái niệm ‘ý thức nói chung’ không đồng nghĩa với việc phủ nhận cái tiên nghiệm; cũng như việc đặt định một chủ thể lý tưởng hóa không đảm bảo rằng Dasein có một đặc tính tiên nghiệm đặt nền tảng trên sự kiện.

Cả quan điểm cho rằng có tồn tại các ‘chân lý vĩnh cửu’ lẫn việc đánh đồng ‘tính lý tưởng’ của Dasein vốn có cơ sở về phương diện hiện tượng với một chủ thể tuyệt đối được lý tưởng hóa, đều thuộc về những tàn dư của thần học Kitô giáo trong các vấn đề triết học mà cho đến nay vẫn chưa được loại bỏ triệt để. Cái Hữu thể của chân lý gắn kết một cách bản nguyên với Dasein. Và chỉ vì Dasein được cấu thành bởi Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở (tức là bởi sự thấu hiểu) nên bất kẻ cái gì giống như  Hữu thể đều có thể được thấu hiểu; chỉ theo cách đó mới có thể thấu hiểu được Hữu thể. Hữu thể (chứ không phải các hiện hữu) là cái gì đấy ‘có đó’ chừng nào chân lý còn hiện hữu. Và chân lý chỉ hiện hữu khi nào và chừng nào Dasein còn hiện hữu. Hữu thể và chân lý ‘hiện hữu’ theo cách đồng bản nguyên. Việc Hữu thể ‘hiện hữu’ — trong khi Hữu thể cần phải được phân biệt với mọi thực thể — mang ý nghĩa gì?. Người ta chỉ có thể đặt câu hỏi này một cách cụ thể nếu ý nghĩa của Hữu thể và phạm vi đầy đủ của sự thấu hiểu về Hữu thể đã được làm sáng tỏ. Chỉ khi đó, người ta mới có thể phân tích một cách bản nguyên cái thuộc về khái niệm của một khoa học về Hữu thể theo đúng nghĩa, cũng như các khả tính và biến thể của nó. Và khi xác định ranh giới cho công việc nghiên cứu này cùng [tr.273] chân lý của nó, thì loại hình nghiên cứu mà trong đó các hiện hữu được bộc lộ — và cũng như chân lý đi kèm với nó — cần phải được định nghĩa về phương diện bản thể luận.

Lời đáp cho câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể vẫn chưa được đưa ra. Phân tích cơ bản của chúng ta về Dasein, tính đến thời điểm này, đã đóng góp gì vào việc giải quyết câu hỏi đó? Thông qua việc phơi bày hiện tượng chăm lo, chúng ta đã làm sáng tỏ trạng thái Hữu thể của cái thực thể mà một cái gì đó giống như thấu hiểu về Hữu thể thuộc về Hữu thể của cái thực thể đó. Đồng thời, Hữu thể của Dasein cũng được phân biệt với các phương thức Hữu thể (như sẵn-có-để-dùng, hiện-diện-vô-tri, hay Thực tại) vốn đặc trưng cho những thực thể có tính chất khác với tính chất của Dasein. Thấu hiểu, tự thân nó đã được làm sáng tỏ; và đồng thời, tính minh bạch về mặt phương pháp luận trong quy trình Diễn giải Hữu thể—thông qua việc thấu hiểu và diễn giải nó—cũng đã được đảm bảo. Nếu với chăm lo, chúng ta đã chạm đến trạng thái Hữu thể bản nguyên của Dasein, thì đây cũng phải là cơ sở để khái niệm hóa sự thấu hiểu về Hữu thể vốn nằm trong chăm lo; nghĩa là, phải có khả năng định nghĩa được ý nghĩa của Hữu thể. Tuy nhiên, liệu hiện tượng chăm lo có phải là hiện tượng khai mở trạng thái hữu thể-bản thể luận nguyên gốc nhất của Dasein hay không? Và liệu trạng thái đa tạp cấu trúc trong hiện tượng này đã cho thấy tổng thể tính bản nguyên nhất về Hữu thể của Dasein thực tại hay chưa? Liệu cuộc khảo sát của chúng ta tính đến lúc này đã thực sự đưa Dasein ra ánh sáng như một chỉnh thể chưa?

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH5

45. Kết quả Phân tích Nền tảng Sơ bộ về Dasein và Nhiệm vụ Diễn giải Hữu thể Bản nguyên về Thực thể này

[Tr.274] Chúng ta đã đạt được gì qua phân tích chuẩn bị về Dasein, và chúng ta đang tìm kiếm điều gì? Trong Hữu-thể-trong-thế-giới—với các cấu trúc cốt yếu quy tụ về Erschlossenheit/ disclosedness trạng-thái-khai-mở—chúng ta đã tìm thấy trạng thái cơ bản của thứ hiện hữu mà ta chọn làm chủ đề nghiên cứu. Tổng thể tính của Hữu-thể-trong-thế-giới, với tư cách là một chỉnh thể cấu trúc, đã bộc lộ chính nó là chăm lo. Hữu thể của Dasein được bao hàm trong chăm lo. Khi phân tích Hữu thể này, ta lấy hiện hữu làm đầu mối— vốn trước đó nó đã được xác định là bản chất của Dasein. Cái ‘sự hiện hữu’ này chỉ ra thứ mà Dasein như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính thấu hiểu, mà trong chính Hữu thể của nó, lại đặt chính Hữu thể đó thành một vấn đề. Trong mọi trường hợp, chính tôi là cái hiện hữu vốn có đó theo cách thức như vậy.

Thông qua việc triển khai hiện tượng chăm lo, chúng ta đã có được cái nhìn sâu sắc về cái cấu thành cụ thể của tồn tại—tức là, cái nhìn về mối liên hệ đồng bản nguyên giữa nó với thực tính và sự sa ngã của Dasein. Điều chúng ta đang tìm kiếm là lời đáp cho câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung, và trước hết là cái khả tính triển khai một cách triệt để câu hỏi cơ bản này của mọi bản thể luận. Tuy nhiên, việc phơi bày cái chân trời mà trong đó một thứ gì đó như là Hữu thể nói chung trở nên có thể hiểu được, cũng đồng nghĩa với việc làm sáng tỏ cái khả tính có được bất kỳ hiểu biết nào về Hữu thể—một loại hiểu biết vốn thuộc về cấu thành của thứ hiện hữu được gọi là Dasein.ii Dẫu vậy, loại hiểu biết về Hữu thể không thể được làm sáng tỏ một cách triệt để như một yếu tố cốt yếu trong Hữu thể của Dasein, trừ khi thứ hiện hữu mà yếu tố đó đó thuộc về Hữu thể của nó chưa được diễn giải mang tính bản nguyên ngay trong chính nó xét về phương  diện Hữu thể của nó. Liệu chúng ta có quyền khẳng định rằng, khi mô tả Dasein về mặt bản thể luận với  tư cách chăm lo, chúng ta đã đưa ra một Diễn giải mang tính bản nguyên về hiện hữu này chưa? Dựa trên tiêu chí nào để đánh giá phân tích hữu thể về Dasein xét về [tr.275] tính bản nguyên, hay tình trạng thiếu vắng tính bản nguyên của nó? Thực chất, chúng ta hiểu thế nào về ‘tính bản nguyên’ của một Diễn giải mang tính bản thể luận?

Khảo sát bản thể luận là một loại diễn giải mà chúng tôi đã mô tả là việc triển khai và lĩnh hội hiểu biết.iii Mỗi diễn giải đều có cái có-trước, cái nhìn-trước và cái quan niệm-trước của riêng nó. Nếu một loại diễn giải như thế—với tư cách là phép Diễn giải—trở thành một nhiệm vụ nghiên cứu tường minh, thì toàn bộ các ‘tiền giả định’ này (mà chúng tôi gọi là ‘Tình huống tường giải’ cần phải được làm sáng tỏ và xác lập vững chắc ngay từ đầu, cả trong trải nghiệm cơ bản về ‘khách thể’ cần được khai mở lẫn cả khuôn khổ của chính trải nghiệm đó. Trong phép Diễn giải bản thể luận, một hiện hữu cần được phơi bày xét theo trạng thái Hữu thể của chính nó; phép Diễn giải như vậy buộc chúng ta trước hết phải đưa ra một mô tả mang tính hiện tượng về cái hiện hữu được chọn làm chủ đề, và qua đó đưa nó vào phạm vi của cái ‘có-trước’—điều mà mọi bước phân tích tiếp theo đều phải tuân thủ. Tuy nhiên, đồng thời, các bước này cũng cần được định hướng bởi bất kỳ cái ‘nhìn-trước’ nào khả thể về loại Hữu thể mà kẻ hiện hữu kia có thể sở hữu. Khi đó, cái ‘có-trước’ và cái ‘nhìn-trước’ sẽ đồng thời cung cấp cho chúng ta một phác thảo về phương thức quan niệm (hay ‘quan niệm-trước’) về cái cấp độ mà mọi cấu trúc của Hữu thể đều phải đạt tới.

Tuy nhiên, nếu phép Diễn giải hữu thể luận muốn đạt đến cấp độ bản nguyên, thì điều này không chỉ đòi hỏi die hermeneutische Situation Tình huống tường giải [Chen ngang: Đối với Heidegger die hermeneutische Situation dùng để biểu thị nền tảng xuất phát không thể tránh khỏi của mọi hành vi Verstehen hiểu biết và Auslegung diễn giải. Chúng ta không bao giờ tiếp cận một sự vật hay văn bản từ một không gian trống rỗng, khách quan tuyệt đối. Ngược lại, chúng ta luôn trong trạng thái Geworfenheit bị ném vào một bối cảnh cụ thể. 1) Cấu trúc của Tình huống tường giải: Theo Heidegger, Tình huống tường giải được cấu thành bởi ba yếu tố cốt lõi thường gọi là der hermeneutische Zirkel ‘Vòng tròn tường giải’ ở cấp độ hữu thể): i) Vorsicht/Fore-having/Có trước: Sự sở hữu trước một hệ thống quan hệ, ngữ cảnh hoặc tổng thể các thực tiễn sống mà ta đã đùm bọc bên trong đó trước khi ta kịp nhận thức tường tận; ii) Vorsicht/Fore-sight/Nhìn-trước: Tầm nhìn định hướng hoặc cách ta khoanh vùng/tiếp cận sự vật theo một định hướng ý nghĩa đã được định hình từ trước về mặt bản thể luận; iii) Vorgriff/Fore-conception/Fore-grasp: Quan niệm-trước: Khái niệm hay thuật ngữ dự phóng sẵn mà ngôn ngữ hoặc truyền thống cung cấp để cấu trúc hóa cách hiểu của chúng ta. 2) Ý nghĩa triết học: I) Phủ nhận khách thể tính thuần túy: Hiểu biết không phải là một hành động nhận thức trung lập của một chủ thể nhìn ngắm một khách thể độc lập. Nó luôn bị chi phối bởi tính hữu hạn và tính lịch sử của Dasein hiện hữu người; ii) teuflischer Zirkel/ Vicious circle: Vòng tròn luẩn quẩn - Việc diễn giải không đi ra khỏi vòng tròn của Vor-verständnis Hiểu-trước, mà nhiệm vụ thực sự là bước vào vòng tròn đó một cách đúng đắn — tức là ý thức rõ ràng về các điểm tựa xuất phát của chính mình.- HHN] phải được xác lập vững chắc sao cho phù hợp với các hiện tượng; nó còn đòi hỏi sự đảm bảo tường minh rằng toàn bộ cái hiện hữu được chọn làm chủ đề đã thực sự được đưa vào phạm vi của cái có-trước. Tương tự như vậy, việc chỉ phác thảo sơ bộ về Hữu thể của hiện hữu này là chưa đủ, ngay cả khi phác thảo đó có cơ sở từ các hiện tượng. Để có được cái nhìn-trước về Hữu thể, chúng ta phải nhìn nhận nó sao cho không bỏ sót cái nhất tính của các yếu tố cấu trúc thuộc về nó và khả thể đối với nó. Chỉ khi đó, câu hỏi về ý nghĩa của nhất tính—vốn thuộc về toàn bộ chỉnh thể Hữu thể của hiện hữu đó mới có thể được đặt ra và giải đáp với việc đảm bảo chắc chắn về mặt hiện tượng. Liệu existenziale Analytik phép phân tích hữu thể về Dasein mà chúng tôi đã thực hiện có xuất phát từ một hermeneutische Situation Tình huống tường giải đảm bảo được tính bản nguyên mà hữu thể học nền tảng đòi hỏi hay không? Liệu chúng ta có thể tiến xa hơn từ kết quả đã đạt được—đó là cái Hữu thể của Dasein là chăm lo —để đi đến câu hỏi về nhất tính bản nguyên của toàn thể cấu trúc này? [Chen ngang: Câu này Bản tiếng Anh viết là: ‘Can we progress from the result we have obtained - that the being of Dasein is care-to the question of the primordial unity of this structural whole?’ (Ở đây the being of Daseinitalic của HHN- với ‘the being’ không viết hoa mà viết thường có thể gây nhầm lẫn giữa being/hiện hữu và Being/Hữu thể. Vì vậy tôi phải dẫn nguyên văn câu tiếng Đức của Heidegger để người đọc thấy rõ bản tiếng Anh đã in nhầm ‘Being’ viết hoa thành ‘being’ viết thường, như sau đây: “Kann von dem gewonnenen Ergebnis – das Sein des Daseins ist die Sorge – zur Frage nach der ursprünglichen Einheit dieses Strukturganzen fortgeschritten werden?” [Martin Heidegger (1967). Sein und Zeit, Elfte, unveränderte Auflage, Max Niemeyer Verlag Tübingen 1967, tr.232] . Như chúng ta có thể thấy trong câu này: ‘das Sein des Daseins’ - italic của HHN - nếu viết đúng bằng tiếng Anh phải là: ‘the Being of Dasein’ – ‘Hữu thể của Dasein’, chứ không phải là ‘the being of Dasein’ - ‘hiện hữu của Dasein’.-HHN].

Vị thế của Vor-sicht cái ‘nhìn-trước’—thứ đã dẫn dắt quy trình bản thể luận của chúng ta từ trước đến nay—là gì? Chúng ta đã định nghĩa ý niệm về tồn tại như là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn thấu hiểu, và cho thứ mà Hữu thể riêng của nó là vấn đề cốt yếu. Tuy nhiên, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này—với tư cách là cái thuộc về riêng tôi trong mỗi trường hợp—lại tự do lựa chọn cho tính đích thực, hoặc tính phi đích thực, hay một phương thức mà trong đó cả hai trạng thái này chưa hề được phân biệt.iv Khi bắt đầu từ [tr.276] tính thường nhật trung bình, phép Diễn giải của chúng ta cho đến nay vẫn chỉ giới hạn vào việc phân tích tồn tại với tư cách là phi đích thực hoặc chưa được phân biệt. Tất nhiên, ngay cả trên lộ trình này, việc đạt tới một sự xác định cụ thể về Existenzialität/ existentiality tính hữu thể của sự hiện hữu vẫn là khả thể và thực sự cần thiết. [Chen ngang: Heidegger sử dụng ‘Existenzialität der Existenz’ tính hữu thể của sự hiện hữu theo nghĩa sau: 1) Ý nghĩa cốt lõi của danh từ Existenz tồn tại: Đối với Heidegger, hiện hữu không chỉ phải trạng thái thụ động của việc đang sống hay đang hiện diện như một tảng đá hay cái bàn; thay vào đó, nó đề cập cụ thể đến phương thức Hữu thể của Dasein hiện hữu người; là chủ động vươn ra, đưa ra các lựa chọn và phóng chiếu bản thân vào tương lai. 2) Existenzialität/ Existentiality Tính hữu thể - biểu thị cấu trúc nền tảng hoặc các đặc tính cốt yếu tạo nên khả tính Hữu thể của con người; đó là hệ thống các đặc điểm như Hữu-thể-trong-thế-giới, tính hữu tử, nỗi lo âu và quan tâm/chăm lo) định hình cách thức con người hiện hữu. Do đó, ‘tính hữu thể của hiện hữu’ có nghĩa là cấu trúc bản thể luận cốt yếu định nghĩa ý nghĩa của hiện hữu người là gì. Đây là việc nghiên cứu về các điều kiện nền tảng cho phép con người sống, lựa chọn và thấu hiểu chính cái Hữu thể của mình. 3). Sự phân biệt triết học quan trọng giữa hai cấp độ thấu hiểu về cuộc sống: i) Existentiell thuộc về cấp độ ontish thực hữu cụ thể, đề cập đến những lựa chọn cuộc sống cụ thể, thường nhật của tôi, ví dụ chọn nghề, mua nhà hay kết bạn; ii) Existenzial tính hữu thể/cấp độ bản thể luận - đề cập đến những cấu trúc phổ quát, sâu sắc hơn của sự hiện hữu, vốn cho phép tôi thực hiện các lựa chọn đó ngay từ đầu; iii) Existenzialität/ Tính hữu thể thuộc về cấp độ cấu trúc sâu sắc này. Tóm lại khi Heidegger bàn về die Existenzialität der Existenz, là ông đang tập trung vào mô hình phổ quát của đời sống con người thay vì những trải nghiệm cá nhân, thường nhật của họ.-HHN]. Dẫu vậy, mô tả bản thể luận của chúng ta về cái cấu thành của sự hiện hữu vẫn còn thiếu một cái gì đó cốt yếu. ‘Sự hiện hữu’ nghĩa là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể—nhưng đồng thời phải là một tiềm năng đích thực. Chừng nào cấu trúc hữu thể của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực chưa được đưa vào ý niệm về sự hiện hữu, thì cái ‘nhìn-trước’ vốn dẫn dắt phép Diễn giải hữu thể ấy vẫn sẽ thiếu đi tính bản nguyên.

Còn về những gì chúng ta đã có trước trong hermeneutische Situation/ hermeneutical situation Tình huống tường giải cho đến nay thì sao? Còn về cái gọi là sự ‘có-trước’ của nó thì sao? Khi nào và bằng cách nào mà phép phân tích hữu thể của chúng ta được đảm bảo rằng, việc khởi đầu từ tính thường nhật đã buộc cái chỉnh thể Dasein—hiện hữu này từ ‘khởi đầu’ đến ‘kết cục’ của nó—vào tầm nhìn hiện tượng luận vốn cung cấp chủ đề cho chúng ta? Quả thực, chúng ta đã khẳng định rằng ‘chăm lo’  chính là cái tổng thể cấu trúc của cấu thành Dasein.v Tuy nhiên, chẳng phải ngay từ khi bắt đầu phép Diễn giải của mình, chúng ta đã từ bỏ cái khả tính nhìn nhận Dasein như một chỉnh thể hay sao? Tính thường nhật chính là cái Hữu thể nằm ‘giữa’ sinh và tử. Và nếu hiện hữu mang tính quyết định đối với Hữu thể của Dasein, và nếu bản chất của nó được cấu thành một phần bởi ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’, thì chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì nó—với tư cách là một tiềm năng như vậy—luôn ở trong trạng thái chưa-phải-là một cái gì đó cụ thể. Bất kỳ thực thể nào mà Bản chất của nó được tạo thành từ chính sự hiện hữu thì về cơ bản đều đối nghịch với cái khả tính nắm bắt nó như một thực thể với tư cách chỉnh thể. Hermeneutische Situation/hermeneutical situation Tình huống tường giải cho đến nay không chỉ không mang lại sự đảm bảo rằng chúng ta đã ‘có’ được toàn bộ thực thể này, mà người ta còn có thể đặt câu hỏi liệu việc ‘có’ toàn bộ thực thể ấy có khả thi hay không, và liệu một phép Diễn giải mang tính bản thể luận bản nguyên về Dasein có bị thất bại trước chính loại Hữu thể vốn thuộc về bản thân thứ hiện hữu mà chúng ta đã chọn làm chủ đề nghiên cứu hay không.

Có một điều đã trở nên không thể chối cãi: phép phân tích hữu thể về Dasein cho đến nay vẫn chưa thể khẳng định là bản nguyên tính. Cái ‘có-trước’ của nó chưa bao giờ bao hàm gì hơn ngoài cái Hữu thể không đích thực của Dasein, và của một Dasein chưa là một chỉnh thể. Nếu phép Diễn giải về cái Hữu thể của Dasein muốn đạt tới bản nguyên tính—như một nền tảng để giải quyết câu hỏi cơ bản của bản thể luận—thì trước hết, nó phải làm sáng tỏ, trên bình diện hữu thể, cái Hữu thể của Dasein trong các khả tính về tính đích thực và tổng thể tính của nó. Từ đó nảy sinh nhiệm vụ đưa Dasein với tư cách một chỉnh thể vào trong cái có-trước của chúng ta. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là trước hết chúng ta phải đặt ra câu hỏi về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể của cái hiện hữu này. Chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì trong mọi trường hợp, vẫn luôn có một điều gì đó còn dang dở—một điều mà Dasein có thể trở thành và sẽ trở thành. Nhưng chính cái ‘chung cục’ lại thuộc về phần còn dang dở đó. Cái ‘chung cục’ [tr.277] của Hữu-thể-trong-thế-giới chính là cái chết. Cái chung cục này—vốn thuộc về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể tức là thuộc về sự hiện hữu, trong mọi trường hợp sẽ giới hạn và quy định, bất kỳ tổng thể tính nào trở nen khả thể đối với Dasein. Tuy nhiên, nếu muốn đưa cái Hữu-thể-ở-một-chung-cục6 của Dassein bằng cái chết—và cùng với nó là thứ Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó—vào cuộc thảo luận về cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể khả năng của nó, và nếu muốn thực hiện điều này một cách phù hợp với các hiện tượng, thì chúng ta phải có được một quan niệm bản thể luận thỏa đáng về cái chết—tức là một quan niệm mang tính hữu thể về nó. Song, với tư cách là một đặc tính của Dasein, cái chết chỉ hiện diện trong một loại Sein zum Tode Hữu-thể-hướng-tới-cái-chết mang tính thực-hữu-cụ-thể.

Cấu trúc hữu thể của cái Hữu thể như vậy về mặt bản thể luận lại tỏ ra là trạng thái cấu thành tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể của Dasein. Như vậy, toàn bộ Dasein đang hiện hữu có thể được đưa vào cái ‘có-trước’ mang tính hữu thể của chúng ta. Nhưng liệu Dasein có thể hiện hữu một cách đích thực như một chỉnh thể hay không? Làm thế nào để xác định tính đích thực của sự hiện hữu nếu không xét đến chính hành vi hiện hữu một cách đích thực? Chúng ta lấy tiêu chí cho điều đó từ đâu? Rõ ràng là, Bản thân Dasein, ngay trong Hữu thể của mình, phải hiện diện trước chúng ta với một khả tính và phương thức hiện hữu đích thực của nó, trừ khi sự hiện hữu ấy là một cái gì đó có thể bị áp đặt lên nó ở bình diện ontish thực hữu hoặc được thêu dệt ở bình diện bản thể luận. Tuy nhiên, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực lại được chứng thực bởi lương tâm. Và lương tâm, với tư cách là một hiện tượng của Dasein, cũng đòi hỏi—tương tự như cái chết—một phép Diễn giải mang tính hữu thể đích thực. Phép Diễn giải ấy dẫn đến cái nhìn thấu suốt là Dasein sở hữu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực ở chỗ nó mong muốn có được lương tâm. Song, đây lại là một khả tính existentiell thực hữu cụ thể— ngay từ chính ý nghĩa Hữu thể của nó, vốn có xu hướng được xác định một cách thực hữu cụ thể bằng Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết.

Bằng cách chỉ ra rằng Dasein sở hữu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể đích thực, thì phép phân tích hữu thể đạt được sự xác tín về cái cấu thành Hữu thể bản nguyên của Dasein. Đồng thời, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể đích thực trở nên hiển minh với tư cách là một phương thức chăm lo. Và nhờ đó, cơ sở thỏa đáng về mặt hiện tượng cho phép Diễn giải bản nguyên về ý nghĩa Hữu thể của Dasein cũng được đoan chắc. Tuy nhiên, nền tảng bản thể luận bản nguyên cho tính hữu thể của Dasein chính là Zeitlichkeit thời gian tính. Trong khuôn khổ thời gian tính, tổng thể cấu trúc được khớp nối của Hữu thể Dasein—với tư cách chăm lo—mới trở nên dễ hiểu về phương diện hữu thể. Phép diễn giải về ý nghĩa Hữu thể của Dasein không thể dừng lại ở bước chứng minh này. Phép phân tích hữu thể-thời gian về loại hiện hữu này cần được xác nhận một cách cụ thể. Chúng ta phải quay lại và làm sáng tỏ ý nghĩa thời gian ở các cấu trúc bản thể luận của Dasein mà ta đã đạt được trước đó. Tính thường nhật tự khải lộ như một phương thức của thời gian tính. Nhưng bằng cách tóm lược lại phép phân tích cơ bản mang tính chuẩn bị về Dasein như vậy, đồng thời chúng ta cũng sẽ làm cho chính hiện tượng thời gian tính trở nên minh bạch hơn. Trong khuôn khổ thời gian, ta sẽ hiểu được lý do tại sao Dasein hiện hữu—và có thể hiện hữu—mang tính lịch sử ngay tại nền tảng Hữu thể của nó, và tại sao, với tư cách là một hiện hữu mang tính lịch sử, nó lại có thể phát triển môn lịch sử luận. Nếu tính thời gian tạo nên ý nghĩa bản nguyên cho Hữu thể của Dasein, và hơn nữa, nếu hiện hữu này là cái hiện hữu mà chính Hữu thể của nó là một vấn đề cần giải quyết, thì sự quan tâm tất yếu phải sử dụng ‘thời gian’ và do đó phải tính toán đến ‘thời gian’. Việc ‘tính toán thời gian’ được phát triển từ chính thời gian tính của Dasein. ‘Thời gian’ được trải nghiệm trong sự tính toán như vậy chính là khía cạnh hiện tượng của thời gian tính gần gũi nhất với chúng ta. Từ đó nảy sinh hiểu biết thông thường, hàng ngày về thời gian. Và hiểu biết này tiến hóa thành quan niệm truyền thống về thời gian.

Bằng cách rọi sáng nguồn gốc của ‘thời gian’—vốn ‘trong đó’ các hiện hữu trong-thế-giới được bắt gặp, tức thời gian với tư cách là Innerzeitigkeit ‘trạng-thái-trong-thời-gian’—chúng ta sẽ làm hiển lộ một khả tính cốt yếu của động thái thời gian hóa của thời gian tính.7  Nhờ đó, thứ hiểu biết tự chuẩn bị cho động thái thời gian hóa của thời gian tính mang tính bản nguyên hơn nữa. Ở phần này, 8 hiểu biết về Hữu thể, vốn cấu thành cho Hữu thể của Dasein – được đặt nền tảng. Trong chân trời của thời gian, việc phóng chiếu ý nghĩa của Hữu thể nói chung có thể được hoàn thành. Do đó, khảo sát phần đang chờ chúng ta phía trước sẽ lần lượt đi qua các giai đoạn sau: khả tính Hữu-thể-một-chỉnh-thể và Hữu thể-hướng-đến-cái-chết của Dasein (Chương 1); việc Dasein chứng thực một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực và tính quyết đoán (Chương 2); tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể đích thực của Dasein và thời gian tính như là ý nghĩa bản thể luận của chăm lo (Chương 3); thời gian tính và tính thường nhật (Chương 4); thời gian tính và sử tính (Chương 5); thời gian tính và Innerzeitigkeit ‘trạng-thái-trong-thời-gian’ - nguồn gốc của quan niệm thông thường về thời gian (Chương 6).vi

____________________________________
(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes
1 ‘…interpretiert aber das Phanomen als Vorhandenes auf seine miigliche Vorhandenheit.’ [p.268]

2 'Auch die "Allgemeingiiltigkeit" der Wahrheit ist lediglich verwurzelt, dass das Dasein Seiendes an ihm selbst entdecken und freigeben kann. Nur so vermag dieses Seiende an ihm selbst jede mogliche Aussage, das heisst Aufzeigung seiner, zu binden.' [p.270]

3 Reading 'und darin' with the newer editions. The older editions have 'd.h. u.a.' [p.271]

4 ‘…dass es je… einen "wirklichen" Skeptiker "gegeben" hat.' The older editions have ‘nie’ (‘never’) instead of ‘je’ (‘ever’). [p.271]

5 'Dasein und Zeitlichkeit'. In this heading and in others which follow in this Division, we have capitalized such words as 'temporal' and 'constitution' in accordance with normal practice in titles, even when this violates the orthographic conventions of our translation. [p.273]

6 'Zu-Ende-sein'. This expression is to be distinguished from 'Sein-zum-Ende', which we shall translate as 'Being-towards-the-end'. [p.277]

7 'Die Aufhellung des Ursprungs der "Zeit", "in der" innerweltliches Seiendes begegnet, der Zeit als Innerzeitigkeit, offenbart eine wesenhafte Zeitigungsmoglichkeit der Zeitlichkeit.' On 'zeitigen' see H. 304 below. [p.278]

8 ‘In ihr…’. It is not clear whether the pronoun 'ihr' refers to 'Zeitigung' (‘temporalizing’) or ‘Zeitlichkeit’ (‘temporality’). [p.278]