Powered By Blogger

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXVII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

[Tr.258] Và bản thân cái được đặt định như thế mang đặc tính bản thể luận nào? Nhìn chung, người ta nhắm đến điều gì khi sử dụng thuật ngữ ‘tương hợp’? Sự tương hợp giữa cái này với cái kia mang đặc tính hình thức của một mối quan hệ giữa cái này với cái kia. Mọi sự tương hợp, và do đó cả ‘chân lý’ nữa, đều là một mối quan hệ. Nhưng không phải mối quan hệ nào cũng là sự tương hợp. Một ký hiệu trỏ vào cái được biểu thị; hành vi trỏ đó là một mối quan hệ, nhưng không phải là sự tương hợp giữa ký hiệu và cái được biểu thị.1 Tuy nhiên, rõ ràng không phải sự tương hợp nào cũng là kiểu convenientia (sự phù hợp/thích hợp/tương ứng) được xác định trong định nghĩa về ‘chân lý’. Số ‘6’ tương hợp với ‘16 trừ 10’. Các số này tương hợp với nhau; chúng bằng nhau xét về mặt ‘số lượng’ (bao nhiêu?). Trạng thái bằng nhau là một cách thức tương hợp. Cấu trúc của nó bao hàm một yếu tố kiểu như ‘xét về phương diện’ thuộc về nó. Trong adaequatio làm cho bằng nhau/tương xứng với nhau có một sự liên kết giữa các yếu tố; vậy đâu là phương diện mà chúng tương hợp với nhau? Khi làm sáng tỏ ‘quan hệ chân lý’, ta cũng cần lưu ý đến đặc điểm riêng biệt của các thành tố trong mối quan hệ này. Intellectus trí tuệ/lý trí và res sự vật tương hợp với nhau xét về phương diện nào? Liệu xét về loại Hữu thể và nội dung cốt yếu, chúng có mang lại điều gì chung [tr.259] để có thể tương hợp với nhau hay không? Nếu intellectusres không thể ngang bằng nhau vì chúng không cùng chủng loại, thì liệu chúng có thể tương đồng không? Song, tri thức vẫn được cho là phải ‘đưa trình’ sự vật đúng như bản chất của nó.

Tình trạng ‘tương hợp’ này mang tính chất Quan hệ kiểu như ‘hệt như’. Mối quan hệ này có thể tồn tại như thế nào giữa intellectusres? Từ những câu hỏi này, ta thấy rõ rằng để làm sáng tỏ cấu trúc của chân lý, không thể chỉ đơn thuần mặc định tính toàn thể của mối quan hệ này; thay vào đó, ta phải quay lại và truy vấn bối cảnh của Hữu thể – cái tạo nên nền tảng cho chính tính toàn thể ấy. Tuy nhiên, liệu ta có cần đặt ra vấn đề ‘nhận thức luận’ liên quan đến mối quan hệ chủ thể-Khách thể ở đây không, hay phép phân tích của chúng ta có thể giới hạn ở việc Diễn giải ‘ý thức nội tại về chân lý’, và do đó vẫn nằm ‘trong phạm vi’ của cái chủ thể? Theo quan điểm phổ biến, cái ‘chân’ chính là tri thức. Nhưng tri thức lại là phán đoán. Trong phán đoán, cần phân biệt giữa hành vi phán đoán – một quá trình tâm lý Thực tại – và cái được phán đoán – một nội dung lý tưởng. Chính nội dung lý tưởng này mới được coi là ‘chân’.

Tuy nhiên, quá trình tâm lý Thực tại ấy hoặc là hiện-diện-vô-tri hoặc là không. Theo quan điểm này, nội dung lý tưởng của phán đoán nằm trong một mối quan hệ phù hợp. Do đó, mối quan hệ này là sự kết nối giữa nội dung lý tưởng của phán đoán và Sự vật Thực tại – tức cái được phán đoán. Liệu sự phù hợp này mang tính Thực tại hay lý tưởng trong loại Hữu thể của nó, hay chẳng thuộc về cả hai? Ta phải hiểu như thế nào về mặt bản thể luận đối với mối quan hệ giữa một thực thể lý tưởng và một cái gì đó Thực tại và hiện-diện-vô-tri? Quả thực, một mối quan hệ như vậy có tồn tại; và trong các phán đoán thực tế, nó không chỉ tồn tại như mối quan hệ giữa nội dung phán đoán và Khách thể Thực tại, mà còn như mối quan hệ giữa nội dung lý tưởng và hành vi phán đoán Thực tại. Và liệu nó có thực sự tồn tại một cách ‘nội tại hơn’ trong trường hợp sau này không? Hay ý nghĩa bản thể luận của mối quan hệ giữa Thực tại và cái gì đó μέθεξις methexis lý tưởng là điều ta không được phép truy vấn? Tuy nhiên, mối quan hệ đó phải là một mối quan hệ có tồn tại. Vậy thứ ‘tồn tại’ như vậy có nghĩa là gì về mặt bản thể luận?

Tại sao đây lại không phải là một câu hỏi chính đáng? Liệu có phải là ngẫu nhiên khi vấn đề này không đạt được tiến triển nào trong suốt hơn hai nghìn năm qua? Liệu câu hỏi đã bị làm sai lệch ngay từ cách tiếp cận nó—trong sự phân tách chưa được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận giữa cái Thực và cái lý tưởng? Và liên quan đến việc phán đoán ‘thực sự’ về điều được phán đoán, liệu sự tách biệt giữa hành vi phán đoán mang tính hiện thực và nội dung mang tính lý tưởng có hoàn toàn không được biện minh? Phải chăng tính hiện thực của việc biết và phán đoán bị chia cắt thành hai phương thức Hữu thể—hai ‘cấp độ’ không bao giờ có thể ghép lại với nhau để đạt tới loại Hữu thể vốn thuộc về hiểu biết? Liệu tâm lý luận có đúng khi phản đối sự phân tách này, ngay cả khi [tr.260] nó không làm sáng tỏ về mặt bản thể luận loại Hữu thể thuộc về thứ tư duy cái được tư duy, hay thậm chí không hề nhận thức được đó là một vấn đề quen thuộc? Nếu quay lại sự phân biệt giữa hành vi phán đoán và nội dung của nó, chúng ta sẽ không tiến xa hơn trong việc thảo luận về loại Hữu thể thuộc về adaequatio tương hợp; chúng ta chỉ làm rõ thêm tính tất yếu của việc làm sáng tỏ loại Hữu thể thuộc về tự thân tri thức mà thôi. Trong quá trình phân tích vốn đòi hỏi điều này, đồng thời chúng ta phải cố gắng làm lộ diện một hiện tượng đặc trưng cho tri thức: hiện tượng chân lý. Khi nào thì chân lý trở nên hiển lộ rõ ​​ràng ngay trong chính tri thức? Đó là khi sự hiểu biết ấy tự chứng tỏ mình là chân. Thông qua việc tự chứng tỏ, nó xác lập được chân lý của mình. Như vậy, trong bối cảnh hiện tượng chứng minh, mối quan hệ tương hợp phải trở nên khả kiến.

Hãy giả sử một người đang quay lưng vào tường đưa ra khẳng định đúng rằng ‘bức tranh trên tường đang treo lệch’. Khẳng định này tự chứng tỏ tính đúng đắn khi người đưa ra nó quay lại và nhận thấy bức tranh đang treo lệch trên tường. Điều gì được chứng tỏ trong việc chứng tỏ này? Ý nghĩa của Bewahrung ‘xác nhận’ một khẳng định như vậy là gì? Phải chăng chúng ta xác nhận một sự tương hợp nào đó giữa ‘cái biết’ hay ‘cái được biết’ của chúng ta và Vật thể trên tường? Có và Không, tùy thuộc vào việc liệu cách diễn giải của chúng ta về cụm từ ‘cái được biết’ có phù hợp về phương diện hiện tượng hay không. Nếu kẻ đưa ra khẳng định phán đoán mà không trực tiếp tri giác bức tranh, mà chỉ vorstellen ‘tái hiện’ nó trong tâm trí, thì anh ta đang hướng tới điều gì? Phải chăng là hướng tới Vorstellungen các ‘hình ảnh tái hiện’? Chắc chắn là không, nếu từ ‘hình ảnh tái hiện’ ở đây được hiểu là hành động tái hiện – một quá trình thuộc về tâm trí. Nó cũng không liên quan đến các ‘hình ảnh tái hiện’ theo nghĩa những gì được tái hiện như vậy, nếu điều ta đang hình dung ở đây là một ‘bức tranh’ về cái Vật-Thật đang hiện diện trên tường.2 Hành động khẳng định vốn chỉ mang tính ‘tái hiện đơn thuần’ ấy – xét theo ý nghĩa đích thực nhất của nó – lại liên hệ trực tiếp với chính bức tranh Thực đang treo trên tường. Thứ mà ta đang hình dung chính là bức tranh Thực đó, chứ không phải bất cứ thứ gì khác.

Bất kỳ Diễn giải nào lồng ghép một điều gì khác vào—coi đó là cái mà người ta thực sự hướng tới trong một lời khẳng định vốn chỉ mang tính tái hiện—đều đi ngược lại các sự kiện hiện tượng liên quan đến đối tượng của lời khẳng định đó. Khẳng định là một cách thức của Hữu thể hướng tới chính Sự vật đang hiện hữu đó.3 Và việc tri giác sự vật ấy chứng tỏ điều gì? Chẳng gì khác [tr.261] ngoài việc sự vật này chính là thực thể mà người ta đang hướng tới trong lời khẳng định của mình. Điều được xác nhận ở đây là thực thể này được chỉ ra bởi chính cái Hữu thể tạo nên lời khẳng định—tức là Hữu thể hướng tới cái được nêu ra trong lời khẳng định; do đó, điều cần xác nhận là cái Hữu thể như vậy làm bộc lộ chính cái thực thể mà nó hướng tới. Điều được chứng minh chính là cái Hữu thể-làm bộc lộ của lời khẳng định.4 Khi thực hiện việc chứng minh như vậy, cái biết vẫn chỉ liên hệ duy nhất với chính thực thể đó. Trong thực thể này, sự xác nhận được diễn ra. Bản thân cái thực thể mà người ta hướng tới tự bộc lộ đúng như bản chất của nó; nghĩa là, nó cho thấy rằng, trong tính đồng nhất của chính nó, nó hiện hữu đúng như cách nó được chỉ ra trong lời khẳng định—đúng như cách nó được làm bộc lộ với tư cách hiện hữu. Representations các hình tượng tái hiện không bị đem ra so sánh với nhau hay so sánh với Sự vật Thực. Cái cần chứng minh không phải là sự tương hợp giữa việc biết và đối tượng của nó, càng không phải là sự tương hợp giữa cái tâm lý và cái vật lý; nhưng đó cũng không phải là sự tương hợp giữa các ‘nội dung ý thức’ với nhau. Cái cần chứng minh duy nhất là cái Entdeckt-sein Hữu thể-bộc-lộ của chính thực thể đó—thực thể ấy trong ‘cách thức’ trạng thái được bộc lộ của nó. Trạng-thái-bộc-lộ này được xác nhận khi cái được nêu ra trong lời khẳng định (tức là chính thực thể đó) tự bộc lộ đúng là chính nó. ‘Việc xác nhận’ biểu thị thực thể tự bộc lộ trong tính đồng nhất với chính nó.xxxiv

Sự xác nhận được thực hiện dựa trên cơ sở thực thể tự bộc lộ. Điều này chỉ có thể xảy ra khi tri thức—thứ thực hiện khẳng định và được xác nhận—về mặt ý nghĩa bản thể luận, tự nó là một Hữu thể hướng đến các thực thể Thực, và là một phương thức Hữu thể làm bộc lộ. Việc nói rằng một lời khẳng định ‘là chân’ có nghĩa là nó làm bộc lộ thực thể đúng như trong tự thân nó. Một khẳng định như vậy xác quyết, chỉ ra, và ‘để’ cho thực thể ἀπόφανσις apophansis ‘được thấy’ trong trạng thái bộc lộ của nó. Cái Hữu-thể-chân (chân lý) của lời khẳng định phải được hiểu là Hữu-thể-làm-bộc-lộ. Như vậy, chân lý hoàn toàn không có nghĩa là sự tương hợp giữa việc biết và cái khách thể theo nghĩa chỉ ra sự tương đồng của một thực thể này (cái chủ thể) với một thực thể khác (cái Khách thể). Hữu-thể-chân, với tư cách là Hữu-thể-làm-bộc-lộ, lại chỉ trở nên khả thể về phương diện hữu thể luận trên cơ sở của cái Hữu-thể-trong-thế-giới. Hiện tượng ấy—thứ mà chúng ta đã biết đến như là một trạng thái cơ bản của Dasein—chính là nền tảng cho hiện tượng bản nguyên của chân lý. Giờ đây, chúng ta sẽ khảo sát vấn đề này một cách sâu sắc hơn.

[Tr. 262] (b) Hiện tượng Bản nguyên của chân lý và Tính chất Phái sinh của Quan niệm Truyền thống về Chân lý

Hữu-thể-chân (‘chân lý’) có nghĩa là Hữu-thể-làm-bộc-lộ. Nhưng chẳng phải đây là một cách định nghĩa ‘chân lý’ đầy võ đoán sao? Với những cách định nghĩa triệt để như vậy, ta có thể thành công trong việc loại bỏ ý niệm về tương hợp/đồng thuận ra khỏi quan niệm về chân lý. Liệu ta có phải trả giá cho thành quả đáng ngờ này bằng cách đẩy truyền thống cũ kỹ ‘tốt đẹp’ kia vào chỗ vô nghĩa hay không? Tuy nhiên, mặc dù định nghĩa của chúng ta có vẻ võ đoán, nhưng nó lại chứa đựng phép Diễn giải cần thiết về cái vốn đã được phỏng đoán một cách bản nguyên trong truyền thống cổ xưa nhất của triết học cổ đại, và thậm chí đã được thấu hiểu theo một phương thức tiền-hiện-tượng-học. Nếu một λόγος logos với tư cách là ἀπόφανσις apophansis – phát ngôn/ tường minh) muốn trở nên ‘chân’, thì cái Hữu-thể-chân của nó chính là ἀληθεύειν alētheuein hành động làm bộc lộ chân lý theo phương thức ἀποφαίνεσθαι apophainesthai – tức là đưa các thực thể ra khỏi trạng thái bị che giấu và để chúng được nhìn thấy trong trạng-thái-bộc-lộ của chúng. Khái niệm ἀλήθεια alētheia chân lý mà Aristotle đồng nhất với πρᾶγμα pragma sự vật/thực tại và φαινόμενα phainomena hiện tượng trong các đoạn văn được trích dẫn ở trên, biểu thị chính ‘bản thân sự vật’; nó biểu thị các thực-thể-tự-thân trong ‘cách thức’ phơi bày của trạng thái bộc lộ của chúng. Và liệu có phải là ngẫu nhiên không khi một trong những đoạn văn bản của Heraclitus (đoạn XXXV) – những đoạn văn bản cổ xưa nhất về học thuyết triết học đề cập tường minh đến cái λόγος logos – hiện tượng chân lý có nghĩa là phơi bày – không bị che giấu, như cách chúng ta trình bày, lại lồ lộ hiện ra? Những kẻ thiếu hiểu biết được đặt trong thế đối lập với cái λόγος, cũng như đối lập với người nói ra cái λόγος đó và thấu hiểu nó.

Cái λόγος logos mang tính chất φράσον όπως έχει phrason hopōs echei Hãy kể lại/giải thích mọi chuyện đúng như nó vốn có: nó thuật lại cách thức các hữu thể hiện hữu/vận hành. Nhưng đối với những kẻ thiếu hiểu biết, điều đó λανθάνει lanthanei vẫn bị che giấu. Họ quên mất nó επιλανθάνονται epilanthanontai bị lãng quên; nghĩa là, đối với họ, điều đó chìm trở lại vào trạng thái bị che giấu. Như vậy, thuộc về cái λόγος logos chính là trạng thái ἀ-λήθεια a-lētheia không-bị-che-giấu. Việc dịch từ này là ‘chân lý’, và hơn hết là định nghĩa khái niệm này theo các phương thức lý thuyết, chính là hành động che đậy ý nghĩa của cái mà người Hy Lạp đã coi là nền tảng ‘hiển nhiên’ cho việc sử dụng thuật ngữ ἀλήθεια alētheia như một cách hiểu tiền triết học về nó. Khi viện dẫn những bằng chứng như vậy, chúng ta phải tránh lối sùng bái từ ngữ một cách vô tội vạ. Tuy nhiên, nhiệm vụ tối hậu của triết học là bảo tồn sức mạnh của những từ ngữ nguyên sơ nhất mà qua đó Dasein hiện hữu người tự biểu đạt, đồng thời ngăn chặn hiểu biết thông thường san phẳng chúng thành trạng thái thiếu minh xác – trạng thái vốn lại trở thành nguồn gốc của các giả-vấn đề. Giờ đây, chúng ta đã đưa ra một minh chứng hiện tượng cho những gì đã trình bày trước đóxxxv về λόγος logos và ἀλήθεια alētheia – mà trước đây, có thể nói, là kết quả Diễn giải giáo điều.       

Khi đề xuất ‘định nghĩa’ về ‘chân lý’, chúng ta không hề rũ bỏ truyền thống mà đã tiếp nhận nó theo cách bản nguyên; và chúng ta sẽ càng làm được điều đó trọn vẹn hơn nếu chứng minh được rằng ý tưởng về đồng thuận/tương hợp là điều mà lý thuyết buộc phải hướng tới dựa trên hiện tượng bản nguyên của chân lý, cũng như chỉ ra được quá trình hình thành của ý tưởng đó. [Tr.263] Hơn nữa, ‘định nghĩa’ về ‘chân lý’ như là uncoveredness ‘trạng thái khai mở’ và entdeckend-sein Being-uncovering Hữu-thể-khai-mở không đơn thuần là việc giải thích về một từ ngữ. Trong số các phương thức ứng xử của Dasein, có những phương thức mà thoạt tiên ta thường gọi là ‘chân’; định nghĩa của chúng ta nảy sinh từ việc phân tích các phương thức này. Hữu-thể-chân – với tư cách là Being-uncovering Hữu-thể-khai-mở– chính là một phương thức Hữu thể của Dasein. Cái làm nên uncovering hành vi khai mở lộ này trở nên khả thể tất yếu phải được gọi là ‘chân’ theo nghĩa còn bản nguyên hơn nữa. Hiện tượng bản nguyên nhất ấy của chân lý được khai mở thông qua các nền tảng hữu thể-bản thể luận của uncovering hành vi khai mở. Khai mở là một phương thức Hữu thể cho Hữu-thể-trong-thế-giới. Mối quan tâm mang tính bao quát cẩn trọng – hay thậm chí là mối quan tâm mà trong đó ta dừng lại và nhìn vào một sự vật – sẽ uncovers khai mở các thực thể trong-thế-giới. Các thực thể này trở thành những gì uncovered đã được bộc lộ. Chúng là ‘chân’ theo nghĩa thứ hai. Cái là ‘chân’ theo nghĩa bản nguyên – tức là kẻ uncovering khai mở – chính là Dasein. ‘Chân lý’ theo nghĩa thứ hai không có nghĩa là Hữu-thể-khai-mở (uncovering hành động khai mở), mà là Entdecktsein Hữu-thể-khai-mở [uncovered] (Entdecktheit uncoveredness Trạng thái khai mở). 

[Chen ngang: Theo Heidegger, khái niệm chân lý được tư duy lại một cách căn bản như là Erschlossenheit/disclosedness Trạng thái khai mở. Dưới đây là cấu trúc và sự phân tích về Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ Entdecktheit Trạng-thái-khai-mở —cùng các thuật ngữ tiếng Đức và ý nghĩa riêng biệt của chúng. 1) Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ - đề cập đến tính cởi mở căn bản của Dasein hiện hữu người đối với thế giới. Nó không phải là hành động khám phá một đối tượng cụ thể; thay vào đó, nó là điều kiện nền tảng cho phép bất cứ điều gì được thấu hiểu hoặc được bắt gặp. Dasein chính là sự bộc lộ của nó. Heidegger cấu trúc Erschlossenheit Trạng thái khai mở thông qua ba thành phần đồng bản nguyên - có tầm quan trọng ngang nhau: i) Befindlichkeit Trạng thái cảm xúc/Tâm thế là cách thức Dasein thấy mình hiện diện trong thế giới. Các tâm trạng bộc lộ tình trạng của chúng ta và ý nghĩa của thế giới đối với ta trước khi có bất kỳ suy tư lý tính nào; ii) Verstehen Sự thấu hiểu: Khả năng hướng về phía trước và phóng chiếu của Dasein. Nó bộc lộ thế giới dưới dạng các khả tính và mục đích của sự vật (tính hữu dụng và ý nghĩa của chúng); iii) Rede Diễn ngôn/Lời nói: die Artikulation der Verständlichkeit The articulation of intelligibility Việc diễn đạt tính có thể thấu hiểu. Đó là cấu trúc ngôn ngữ hoặc giao tiếp làm nền tảng cho cả việc nghe và nói, định hình những gì được thấu hiểu. 2) Entdecktheit Trạng-thái-khai-mở đề cập cụ thể đến các thực thể trong thế giới tự bộc lộ đúng như bản chất của chúng: i) Trong khi Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ áp dụng cho Dasein và toàn bộ thế giới, thì Entdecktheit Trạng-thái-khai-mở áp dụng cho những sự vật cụ thể mà Dasein bắt gặp bên-trong-thế-giới đó như cái búa, cái cây hay hành tinh; ii) Động từ entdecken theo nghĩa đen có nghĩa là ‘khai mở’ hoặc ‘dỡ bỏ nắp đậy’; iii) Ý nghĩa -  các thực thể thường bị che giấu, bị khuất lấp hoặc bị coi là điều hiển nhiên; khi Dasein sử dụng một công cụ hoặc xem xét một vật thể, nó ‘khai mở’ bản thể của thực thể đó—hoặc là ở dạng zuhanden ‘sẵn-có-để-dùng’ – các công cụ mang ý nghĩa; hoặc là ở dạng vorhanden hiện-diện-vô-tri – các đối tượng trừu tượng của quan sát khoa học; iv) Các thực thể trong thế giới chỉ có thể được entdeckt bộc lộ bởi vì Dasein vốn dĩ đã bộc lộ erschlossen đối với thế giới ngay từ nền tảng.- HHN]

Tuy nhiên, phân tích trước đó của chúng ta về cái Thế gian của thế giới và về các thực thể trong-thế-giới đã cho thấy rằng: Entdecktheit/ Uncoveredness Trạng-thái-khai-mở của các thực thể trong-thế-giới bắt rễ từ Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ của thế giới. Song, cái Erschlossenheit/ Disclosedness Trạng thái bộc lộ lại chính là đặc tính cơ bản của Dasein, nhờ đó nó là ‘có-đó’của chính mình. Erschlossenheit Trạng thái bộc lộ này được cấu thành bởi tâm trạng, sự thấu hiểu và diễn ngôn, đồng thời gắn kết một cách bình đẳng và bản nguyên với thế giới, với Hữu-thể-trong và với cái Tự Ngã. Trong chính cấu trúc của mình, Sorge Chăm lo luôn đi trước chính mình—với tư cách là Hữu thể cùng các thực thể trong-thế-giới; và chính trong cấu trúc này, Erschlossenheit trạng thái bộc lộ của Dasein lại ẩn chứa bên trong. Cùng với và thông qua nó mới xuất hiện Entdecktheit/ Uncoveredness Trạng-thái-khai-mở5; do đó, chỉ khi có Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái bộc lộ của Dasein thì mới đạt được hiện tượng bản nguyên nhất của chân lý. Những gì chúng ta đã chỉ ra trước đó liên quan đến cái Cấu thành hữu thể của cái ‘có-đó’xxxvii và liên quan đến cái Hữu thể thường nhật của cái ‘có-đó’xxxviii, chính là nói về hiện tượng bản nguyên nhất của chân lý, không gì khác hơn thế. Bởi lẽ Dasein về mặt bản chất chính là Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái bộc lộ của mình, và xét việc nó khai mở cũng như khai mở với tư cách là một cái gì đó đã được khai mở, thì ở chừng mực đó, về mặt bản chất nó là ‘chân’. Dasein ‘ở trong chân lý’. Khẳng định này mang ý nghĩa về mặt bản thể luận. Nó không có ý nói rằng về mặt ontish thực hữu, Dasein được đưa vào ‘toàn bộ chân lý’ – dù là luôn luôn hay chỉ trong từng trường hợp – mà thay vào đó, nó muốn nói rằng Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái bộc lộ của chính Hữu thể nơi Dasein là một phần thuộc về cái existenziale Konstitution cấu thành hữu thể của nó. [Chen ngang: existenziale Konstitution ‘cấu thành hữu thể’ của Heidegger chỉ các cấu trúc bản thể luận cơ bản, a priori có tính tiên nghiệm tạo nên Hữu thể của Dasein hiện hữu người.  1) Ý nghĩa cốt lõi: i) Trong khi thuật ngữ existentiell thuộc về hiện hữu cụ thể mô tả những lựa chọn thực tế, cụ thể trong đời sống thường nhật của cá nhân ở cấp độ ontic thực hữu, thì existential thuộc về cấu trúc hữu thể, mô tả khung cấu trúc cho phép những lựa chọn và trải nghiệm đó diễn ra ngay từ đầu - thuộc cấp độ ontological bản thể luận; ii) Hữu-thể-trong-thế-giới: Cấu trúc cơ bản của Dasein là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới - có nghĩa là Dasein tồn tại người không phải là một chủ thể tách biệt quan sát thế giới bên ngoài, mà vốn dĩ và ngay từ căn bản đã gắn kết với một thế giới và với những kẻ khác; iii) Existentials - các Yếu tố cấu thành Hữu thể - bao gồm các cấu trúc như Befindlichkeit trạng thái tâm thế, Verstehen Thấu hiểu, Rede Diễn ngôn và Zeitlichkeit/ Temporalität Thời tính; chúng cùng nhau định hình cách thức Dasein hiện hữu người định hướng và khai mở tồn tại của chính mình. 2) Các khía cạnh then chốt trong cấu trúc của Dasein: i) Sorge Quan tâm/Lo âu - Cấu thành hữu thể thống nhất và tổng thể của Dasein hiện hữu người được đặc trưng bởi khái niệm Sorge ‘Quan tâm’ hay ‘Chăm lo’ - đây là nền tảng cho mọi hoạt động của con người, sự bận tâm đến sự vật và thái độ ân cần quan tâm, lo lắng dành cho kẻ khác; ii) Hữu hạn tính và Thời tính - Cấu thành này vốn dĩ được định hình bởi thời gian—cụ thể là hướng về cái chết (Hữu-thể-hướng-về-cái-chết); iii) Geworfenheit Trạng thái ‘bị-ném-vào’ một bối cảnh lịch sử và xã hội tồn-tại- trước.-HHN]. Nếu chấp nhận những kết quả đã đạt được trước đó, ta có thể làm sáng tỏ trọn vẹn ý nghĩa hữu thể của nguyên lý ‘Dasein ở trong chân lý’ thông qua các xem xét sau:

[Tr. 264] (1) Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở nói chung thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein. Nó bao hàm toàn bộ cấu trúc của Hữu thể vốn đã trở nên tường minh thông qua hiện tượng ‘chăm lo’. Thuộc về chăm lo không chỉ là Hữu-thể-trong-thế-giới mà còn là Hữu-thể-bên-cạnh các thực thể trong-thế-giới. Entdecktheit/ Uncoveredness Trạng-thái-bộc-lộ của các thực thể như vậy mang tính đồng bản nguyên với cái Hữu thể của Dasein và Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở của nó. (2) Geworfenheit ‘Tình-trạng-bị-ném-vào’ thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein; thực vậy, nó mang tính cấu thành đối với trạng thái khai mở của Dasein. Trong Geworfenheit ‘Tình-trạng-bị-ném-vào’, ta thấy rằng ở mỗi trường hợp, Dasein—với tư cách là Dasein của tôi và Dasein này—đã hiện diện sẵn trong một thế giới xác định và bên cạnh một phạm vi xác định gồm các thực thể xác định trong-thế-giới.6 Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở mang tính thực tại  về mặt bản chất. (3) Thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein còn có sự phóng chiếu—Hữu thể mang tính khai mở hướng đến tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính nó. Là một hiện hữu thấu hiểu, Dasein có thể hiểu chính mình trong khuôn khổ của ‘thế giới’ và những-Kẻ-Khác, hoặc dựa trên tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó.7

Cái khả tính vừa được đề cập có nghĩa là Dasein tự khai mở với chính mình trong và như là tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó. Trạng thái khai mở đích thực này phô ra hiện tượng về cái chân lý bản nguyên nhất trong phương thức của tính đích thực. Trạng thái khai mở bản nguyên nhất—và thực sự là đích thực nhất—mà trong đó Dasein, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, có thể tồn tại, chính là cái chân lý của Existenz hữu thể. [Chen ngang: Đối với Heidegger, truth of existence ‘chân lý của Hữu thể’ không phải là sự tương ứng giữa một phát ngôn và một sự kiện, mà là Unverborgenheit không-che-giấu hay trạng thái khai mở, gắn liền với Dasein hiện hữu người với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. 1) Các khái niệm cốt lõi trong tiếng Đức: i) Wahrheit Chân lý - Heidegger bác bỏ quan niệm coi chân lý chỉ đơn thuần là Richtigkeit đúng đắn hay tương hợp giữa tư duy và khách thể; ii) Ông quay trở lại với khái niệm aletheia trong tiếng Hy Lạp cổ đại và dịch nó là Unverborgenheit Không che giấu—một sự kiện trong đó Sein/Being Hữu thể đưa vạn vật từ bóng tối ra ánh sáng; iii) Dasein hiện hữu người - theo nghĩa đen là hiện-hữu-ở-đó, đây là phương thức hiện hữu đặc thù của con người. Khác với đá hay công cụ, con người có ý thức về Hữu thể của chính mình và buộc phải đặt câu hỏi về nó; iv) Erschlossenheit/ disclosedness trạng thái khai mở - là trạng thái cơ bản trong đó Dasein mở ra với thế giới và thấu hiểu hữu thể của chính mình; v) Lichtung Mở sáng - một không gian mở, tràn ngập ánh sáng, nơi các hiện hữu có thể tự khai mở; Heidegger dùng khái niệm này để mô tả cách thức chân lý diễn ra. 2) Mối liên hệ giữa Chân lý và Hữu thể: i) In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới - con người luôn ‘bị ném vào’ một môi trường mang tính thực tiễn. Chân lý xuất hiện khi thế giới xung quanh trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta thông qua những tương tác thường nhật; ii) Eigentlichkeit/ Authenticity Tính đích thực - sống trong sự chân thực của Hữu thể nghĩa là đối diện với những giới hạn của chính mình - chẳng hạn như tính hữu tử, thay vì ẩn mình trong das Man đám đông vô danh. HHN] Điều này chỉ trở nên xác định về existentially phương diện hữu thể và bản thể luận khi gắn liền với sự phân tích về tính đích thực của Dasein.

(4) Verfallen Tình trạng sa ngã thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein. Trước hết và phần lớn thời gian, Dasein bị chìm đắm trong ‘thế giới’ của nó. Sự thấu hiểu của nó—vốn phóng-chiếu vào các khả tính Hữu thể—đã tự lệch hướng sang phía đó. Tình trạng bị cuốn vào das Man cái ‘họ’ biểu thị rằng nó bị chi phối bởi cách thức mà mọi sự vật được diễn giải công cộng. Những gì đã khai mở và bộc lộ lại tồn tại trong một trạng thái bị che đậy và khép kín bởi những phiếm đàm, tính tò mò và tình trạng mơ hồ. Hữu thể hướng đến các thực thể không hề bị triệt tiêu, nhưng nó đã bị bứng khỏi gốc rễ. Các thực thể không hoàn toàn bị che giấu; chúng chính là những thứ đã được bộc lộ, nhưng đồng thời lại bị che đậy. Chúng tự bộc lộ, nhưng dưới phương thức bề ngoài. Tương tự như vậy, những gì trước đó đã được phơi bày lại chìm ngược trở lại, bị che giấu và ngụy trang. Vì Dasein về bản chất là ‘sa ngã’, nên trạng thái Hữu thể của nó là trạng thái ‘phi chân lý’. Thuật ngữ này, cũng như cách diễn đạt ‘sa ngã’, được sử dụng ở đây theo nghĩa bản thể luận. Nếu sử dụng nó trong phân tích hữu thể, ta phải [tr.265] tránh gán cho nó bất kỳ ‘đánh giá’ phủ định nào về phương diện ontish thực hữu. Việc bị đóng kín và bị che đậy thuộc về thực tính của Dasein. Theo ý nghĩa hữu thể-bản thể luận trọn vẹn, mệnh đề ‘Dasein ở trong chân lý’ thì về phương diện đồng bản nguyên cũng khẳng định rằng ‘Dasein ở trong phi chân lý’. Nhưng chỉ khi Dasein đã được khai mở thì nó mới đồng thời bị đóng kín; và chỉ khi các hiện hữu trong-thế-giới được bộc lộ với Dasein, thì các hiện hữu đó—vốn có thể bắt gặp trong-thế-giới, mới bị che đậy hoặc bị ngụy trang.

Do đó, điều cốt yếu là Dasein phải chủ động chiếm lĩnh những gì đã được bộc lộ, bảo vệ chúng khỏi sự giả dạng và ngụy trang, đồng thời liên tục xác tín lại trạng-thái-bộc-lộ của chúng. Việc bộc lộ bất cứ điều gì mới đều không bao giờ bắt đầu từ trạng thái hoàn toàn bị che giấu, mà đúng hơn là xuất phát từ trạng-thái-được-bộc-lộ nhưng dưới phương thức giả dạng. Các thực thể trông có vẻ như là... Nghĩa là, theo một cách nào đó, chúng đã được bộc lộ rồi, nhưng vẫn bị ngụy trang. Chân lý (trạng thái được-bộc-lộ) là điều luôn cần phải được giành lấy từ các thực thể. Các thực thể bị giật ra khỏi trạng thái bị che giấu của chúng. Trạng thái được-bộc-lộ thực tế của bất cứ điều gì, có thể nói, luôn là một loại cướp đoạt. Liệu có phải ngẫu nhiên không khi người Hy Lạp diễn đạt về bản chất của chân lý bằng một thuật ngữ mang tính phủ định: ἀ-λήθεια a-lētheia không-che giấu? Khi Dasein tự biểu đạt như vậy, chẳng phải một sự thấu hiểu bản nguyên về chính Hữu thể của nó đang tự được biết hay sao—sự thấu hiểu (dù chỉ ở mức tiền-bản thể luận) rằng Hữu-thể-ở-trong-phi-chân-lý tạo nên một đặc tính thiết yếu của Hữu-thể-trong-thế-giới?

Vị nữ thần Chân lý dẫn dắt Parmenides đã đặt ra trước mắt ông hai con đường: một con đường bộc lộ và một con đường che giấu; nhưng điều này không có nghĩa gì khác ngoài việc Dasein vốn dĩ đã hiện hữu vừa trong chân lý vừa trong phi chân lý. Con đường bộc lộ chỉ đạt được thông qua κρίνειν λόγῳ krīnein logōi có nghĩa là ‘phán đoán bằng lý trí’ hoặc ‘quyết định dựa trên lập luận’ – tức là sự phân biệt đầy thấu hiểu giữa hai con đường này và việc đưa ra quyết định chọn con đường này thay vì con đường kia.xxiix Cái điều kiện hữu thể-bản thể luận cho sự thật là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới mang đặc tính của cả ‘chân lý’ lẫn ‘phi chân lý’ nằm ở chính trạng thái Hữu thể của Dasein mà chúng ta đã gọi là geworfener Entwurf ‘phóng chiếu bị ném vào’. Đây là cái cấu thành nên cấu trúc Sorge ‘Chăm lo’.

Kết quả của phép Diễn giải mang tính hữu thể-bản thể luận về hiện tượng chân lý là: (1) chân lý, theo nghĩa bản nguyên nhất, chính là trạng-thái-khai-mở của Dasein, bao hàm cả trạng-thái-bộc-lộ của các hiện hữu trong-thể-giới thuộc về trạng-thái-bộc-lộ đó; và (2) Dasein hiện hữu đồng bản nguyên trong cả chân lý lẫn phi chân lý. Trong chân trời Diễn giải truyền thống về hiện tượng chân lý, sự thấu hiểu của chúng ta về các nguyên lý này sẽ chưa trọn vẹn cho đến khi có thể [tr.266] chứng minh được rằng: (1) ‘daß die Wahrheit als Übereinstimmung aus der Erschlossenheit qua bestimmter Abwandlung entspringt’ chân lý – được hiểu là tương hợp – bắt nguồn từ trạng thái khai mở với tư cách là một biến đổi xác định; (2) cái mà loại Hữu thể vốn thuộc về trạng thái khai mở tự thân có đặc điểm là sự biến đổi phái sinh của nó xuất hiện trước tiên và mở đường cho việc lý giải mang tính lý thuyết về cấu trúc của chân lý. Sự khẳng định và cấu trúc của nó (cụ thể là cái ‘như là’ mang tính tường minh được xây dựng dựa trên việc diễn giải và cấu trúc của nó (tức là cái ‘như là’ mang tính tường giải, cũng như dựa trên sự thấu hiểu – tức là trạng thái khai mở của Dasein. Tuy nhiên, chân lý lại được xem là đặc tính nổi bật của sự khẳng định đã được phái sinh như vậy. Do đó, cội rễ chân lý của sự khẳng định bắt nguồn từ trạng thái khai mở của sự thấu hiểu.xi Song, bên cạnh những chỉ dẫn về nguồn gốc chân lý của sự khẳng định, hiện tượng ‘tương hợp’ cũng cần được làm sáng tỏ một cách tường minh về tính chất phái sinh của nó.

Cái Hữu thể bên cạnh các hiện hữu trong-thế-giới của chúng ta chính là Besorgen ‘quan tâm’), và đây là cái Hữu thể vốn bộc lộ. Tuy nhiên, diễn ngôn về bản chất lại thuộc về trạng thái khai mở của Dasein.xii Dasein tự biểu đạt: nó tự biểu đạt như là một loại Hữu-thể-hướng-đến các hiện hữu—một loại Hữu-thể-hướng-đến vốn bộc lộ. Và trong sự khẳng định, nó tự biểu đạt theo đúng nghĩa về các hiện hữu vốn đã được bộc lộ. Sự khẳng định truyền đạt cho các hiện hữu bằng ‘cách thức’ thuộc trạng thái được bộc lộ của chúng. Khi Dasein nhận thức được sự truyền đạt này, nó đưa chính mình—bằng nhận thức đó—vào một loại Hữu-thể-hướng-đến đang bộc lộ đối với các hiện hữu được bàn đến. Sự khẳng định được biểu đạt kia chính là khẳng định về một điều gì đó, và trong cái mà nó hướng tới, nó chứa đựng trạng thái bộc lộ của các hiện hữu này. Trạng thái bộc lộ này được lưu giữ trong cái được biểu đạt. Cái được biểu đạt có thể nói, trở thành một cái gì đó ‘sẵn-có-để-dùng trong-thế-giới, vốn có thể được tiếp nhận và nói lại.8 Vì trạng thái bộc lộ ấy đã được lưu giữ, nên cái được biểu đạt (vì vậy vốn ‘sẵn-có-để-dùng) tự nó mang một mối liên hệ với bất kỳ hiện hữu nào mà khẳng định đó đề cập. Bất kỳ trạng thái bộc lộ nào cũng đều là trạng thái bộc lộ về một điều gì đó. Ngay cả khi Dasein nói lại điều mà kẻ khác đã nói, thì nó đã bắt đầu thực thi một loại Hữu-thể-hướng-đến chính các hiện hữu đã được bàn luận đó.Tuy nhiên, nó được miễn trừ khỏi việc phải tái bộc lộ chúng một cách bản nguyên, và nó nắm giữ sự miễn trừ đó. Dasein không cần phải đối diện trực tiếp với chính các hiện hữu bằng một trải nghiệm ‘nguyên gốc’; nhưng dù vậy, nó vẫn duy trì loại Hữu-thể-hướng-đến các hiện hữu này. Phần lớn trạng thái bộc lộ được tiếp nhận không phải thông qua việc tự mình bộc lộ, mà thông qua việc nghe kể lại về điều đã được nói.

[Tr.267] Tình trạng đắm chìm vào điều đã được nói thuộc về loại Hữu thể mà das Man cái ‘họ’ sở hữu. Nội dung được biểu đạt theo đúng nghĩa tiếp nhận Hữu-thể-hướng-đến các hiện hữu vốn đã được bộc lộ trong khẳng định kia. Tuy nhiên, nếu các hiện hữu này cần được tiếp nhận một cách tường minh xét về trạng thái được bộc lộ của chúng, thì điều đó có nghĩa là sự khẳng định phải được chứng minh là một khẳng định bộc lộ. Song, sự khẳng định được biểu đạt lại là một cái gì đó sẵn-có-để-dùng, và thực sự là theo cách thức mà—với tư cách là cái gì đó lưu giữ tình trạng bộc lộ—nó tự thân mang một mối liên hệ với các hiện hữu đã được bộc lộ. Vậy là việc chứng minh rằng một điều gì đó vốn bộc lộ đồng nghĩa với việc chứng minh cách mà sự khẳng định — vốn bảo tồn trạng-thái- bộc-lộ ấy — có mối liên hệ với các hiện hữu này.

Bản thân khẳng định là một cái gì đó sẵn-có-để-dùng. Các thực thể mà sự khẳng định ấy liên hệ tới — với tư cách là cái gì đó bộc lộ — có thể là sẵn-có-để-dùng hoặc cũng có thể hiện-diện-vô-tri trong-thế-giới. Bản thân mối liên hệ này tự biểu hiện như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri. Tuy nhiên, mối liên hệ này nằm ở chỗ: trạng-thái-bộc-lộ được bảo tồn trong sự khẳng định luôn là trạng thái được-bộc-lộ của một cái gì đó. Cái phán đoán ‘chứa đựng một điều gì đó đúng với các khách thể’ (Kant). Tuy nhiên, chính mối quan hệ này giờ đây lại mang lấy tính chất hiện-diện-vô-tri khi nó chuyển thành mối liên hệ giữa các sự vật vốn cũng hiện-diện-vô-tri. Trạng thái bộc lộ của một điều gì đó trở thành tính tương hợp hiện-diện-vô-tri—giữa một sự vật hiện-diện-vô-tri này (tức là lời khẳng định được diễn đạt) với một sự vật vốn hiện-diện-vô-tri khác (tức là thực thể đang được bàn luận). Và nếu sự tương hợp này chỉ được nhìn nhận như một mối liên hệ giữa các sự vật hiện-diện-vô-tri —nghĩa là, nếu loại Hữu thể vốn thuộc về các khuôn khổ của mối liên hệ này không được phân biệt rạch ròi mà lại bị hiểu như những gì thuần túy hiện-diện-vô-tri—thì mối quan hệ ấy tự biểu hiện như một sự phù hợp giữa hai sự vật hiện-diện-vô-tri, một sự phù hợp mà bản thân nó cũng hiện-diện-vô-tri.

Khi lời khẳng định đã được diễn đạt, trạng thái được-bộc-lộ của hiện hữu chuyển sang thuộc về loại Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng ở-trong-thế-giới.10 Tuy nhiên, chừng nào mà trong trạng-thái-bộc-lộ này—vốn là trạng-thái-bộc-lộ một điều gì đó—vẫn tồn tại một mối liên hệ với cái hiện-diện-vô-tri, thì trạng-thái-bộc-lộ (chân lý) tự nó trở thành một mối quan hệ giữa các sự vật hiện-diện-vô-tri (intellectus trí tuệ và res sự vật)—một mối quan hệ tự nó cũng mang tính hiện-diện-vô-tri. Mặc dù được thiết lập dựa trên trạng thái-khai-mở của Dasein, hiện tượng hữu thể về trạng-thái-bộc-lộ lại trở thành một thuộc tính mang tính hiện-diện-vô-tri, nhưng trong đó vẫn tiềm ẩn một tính chất mang tính quan hệ; và với tư cách là một thuộc tính như vậy, nó bị tách rời thành một mối quan hệ hiện-diện-vô-tri. Chân lý với tư cách là trạng-thái-khai-mở và là một loại Hữu thể hướng đến các hiện hữu được bộc lộ [tr.268] (một loại Hữu thể tự nó bộc lộ)—đã trở thành chân lý hiểu theo nghĩa sự tương hợp giữa các sự vật hiện-diện-vô-tri ở-trong-thế-giới. Và như vậy, chúng ta đã chỉ ra bản chất phái sinh về mặt bản thể luận của quan niệm truyền thống về chân lý.

_________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Ein Zeichen zeigt auf das Gezeigte.’ [p.258]

2 'Er ist auch nicht aufVorstellungen bezogen im Sinne des Vorgestellten, sofem damit gemeint wird ein "Bild" von dem realen Ding an der Wand.' Mặc dù chúng tôi theo truyền thống trong việc dịch 'Vorstellung' là 'sự đại diện', nghĩa đen có phần gần với 'đặt trước chúng tôi'. Theo nghĩa này, 'bức tranh' hay 'hình ảnh' ('Bild') của chúng ta về bức tranh ('Bild') thực sự đang treo trên tường, tự nó là một thứ gì đó mà chúng ta đã 'đặt ra trước mắt mình' và do đó được 'vorgestellt' (hình dung/biểu tượng hóa), mặc dù trong tiếng Anh, hiếm khi ta gọi nó là 'thứ mà ta biểu tượng hóa' (that which we represent). [tr.260]

3 'Das Aussagen ist ein Sein zum seienden Ding selbst.' (Việc phát ngôn là một sự hiện hữu hướng về chính sự vật đang hiện hữu.) [tr.260]

4 'Ausgewiesen wird das Entdeckend-sein der Aussage.' (Tính chất 'hiện hữu-như-là-sự-khơi-mở' của phát ngôn được xác nhận.) Tại đây và trong các trang tiếp theo, chúng tôi thấy cụm từ 'Entdeckend-sein' luôn được in có dấu gạch nối trong các ấn bản gần đây hơn. Ở các ấn bản cũ, nó đôi khi được viết thành một từ, đôi khi thành hai từ, và chỉ có dấu gạch nối khi nằm ở cuối dòng. Trong cả hai loại ấn bản, đôi khi ta thấy từ này được in với chữ cái đầu viết thường. Chúng tôi đã đánh dấu các trường hợp như vậy bằng một dấu hoa thị; bởi lẽ, mặc dù chúng tôi ưu tiên cách dịch 'Being-uncovering' (Hiện hữu-như-là-sự-khơi-mở) cho những trường hợp này, nhưng việc viết thường chữ cái đầu lại gợi ý rằng 'to-be-uncovering' (trở thành-sự-khơi-mở) có thể là cách hiểu đúng hơn. [tr.261]

5 ‘Mit und durch sie ist Entdecktheit…’ Phiên bản của chúng tôi phản ánh sự mơ hồ của tiếng Đức, khiến chức năng ngữ pháp của đại từ ‘sie’ trở nên tối nghĩa và cho phép nó ám chỉ ‘sự tiết lộ của Dasein’, ‘quan tâm’, hoặc-có lẽ rất có thể-là ‘cấu trúc của sự quan tâm’. [tr.263]

6 ‘In ihr enthiillt sich, dass Dasein je schon a1s meines und dieses in einer bestimmten Welt und bei einem bestimmten Umkreis von bestimmten Innerweltlichen Seienden ist.’ [tr.264]

7 ‘…der Entwurf: das erschliessende Sein zu seinem Seinkonnen. Dasein kann sich als verstehendes aus der ‘Welt’ und den Anderen her verstehen oder aus seinem eigensten Seinkonnen.' Các phiên bản trước có dấu chấm sau 'Entwurf' thay vì dấu hai chấm và giới thiệu 'das' bằng chữ in hoa. Chức năng ngữ pháp của 'als versteheodes' dường như mơ hồ. [tr.264]

8 'Das Ausgesprochene wird gleichsam zu einem insideweldich Zuhandenen, das aufgenommen und weitergesprochen werden kann.' Mặc dù chúng tôi đã tuân theo chính sách thông thường của mình trong việc dịch 'das Ausgesprochene' là 'điều được thể hiện', có lẽ nó có thể là được dịch là 'điều được nói ra', 'lời nói', hoặc thậm chí là 'lời tuyên bố'. [tr.266]

9 ‘Auch im Nachsprechen kommt das nachsprechende Dasein in ein Sein zum besprochenen Seienden selbst.’ [p.266]

10 'Die Entdecktheit des Seienden riickt mit der Ausgesproclunheit der Aussage in die Seinsart des Innerweltlich Zuhandenen.' [tr.267]


 

 

 

 


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXVI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’

‘Vấn đề về Realität ‘Hiện thực’—hiểu theo nghĩa câu hỏi liệu một thế giới bên ngoài có hiện-diện-vô-tri hay không và liệu thế giới đó có thể được chứng minh hay không—hóa ra lại là một vấn đề bất khả thi; không phải vì các hệ quả của nó dẫn đến những bế tắc không thể tháo gỡ, mà bởi vì chính cái thực thể đóng vai trò là chủ đề của vấn đề này lại là thứ, có thể nói, khước từ mọi cách đặt vấn đề như vậy. [Chen ngang: Realität Trong triết học của Martin Heidegger là Hiện thực. Ý nghĩa cốt lõi của Realität – Bản chất của các khách thể hiện-diện-vô-tri: Heidegger định nghĩa Realität theo nghĩa hẹp là phương thức tồn tại đặc thù của các vật thể vật lý đơn thuần vorhanden hiện-diện-vô-tri—chẳng hạn như một hòn đá tự nhiên hay một vật thể vật lý chưa được sử dụng và bị nhìn nhận một cách tách biệt. Phân biệt với Sein Hữu thể - Heidegger coi Realität Hiện thực là một khái niệm phái sinh thay vì là nền tảng tối hậu của triết học. Đối với ông, triết học truyền thống đã sai lầm khi cố gắng chứng minh hoặc đo lường Hiện thực bằng cách quan sát các khách thể tách biệt, mà quên đi bối cảnh sống động và rộng lớn hơn của tồn tại người. Các khái niệm tiếng Đức quan trọng có liên quan: Sein Hữu thể: Chân trời hoặc tiến trình nền tảng mà qua đó bất cứ điều gì—bao gồm cả Hiện thực —trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta. Dasein: Thuật ngữ của Heidegger chỉ tồn tại người. Chúng ta không chỉ nhìn chằm chằm vào một ‘Hiện tại’ tĩnh từ bên ngoài; về cơ bản, chúng ta In-der-Welt-sein ở trong thế giới. Wahrheit - Chân lý với tư cách là Aletheia Bộc lộ/Không che giấu - thay vì định nghĩa chân lý là một hình ảnh trong tâm trí tương ứng với một ‘Hiện thực’  bên ngoài, Heidegger xem chân lý là sự thật mà tại đó các thực thể lần đầu tiên trở nên hiển lộ hoặc được phơi bày trước nhận thức của con người. - HHN]. Nhiệm vụ của chúng ta không phải là chứng minh rằng một ‘thế giới bên ngoài’ đang hiện-diện-vô-tri hay chỉ ra cách thức nó hiện-diện-vô-tri, mà là làm rõ lý do tại sao Dasein—với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới—lại có khuynh hướng vùi lấp ‘thế giới bên ngoài’ vào hư vô xét về mặt ‘nhận thức luận’ trước khi tiến hành chứng minh nó.1 Lý do nằm ở tình trạng sa ngã của Dasein và ở cách mà sự thấu hiểu bản nguyên về Hữu thể đã bị chuyển hướng sang quan niệm về Hữu thể như là hiện-diện-vô-tri—một sự chuyển hướng bắt nguồn từ chính tình trạng sa ngã đó. Nếu ta đặt câu hỏi một cách ‘có tính phê phán’ với định hướng bản thể luận như vậy, thì điều duy nhất ta tìm thấy đang hiện-diện-vô-tri và được coi là chắc chắn ngay lập tức lại là một cái gì đó thuần túy ‘nội tại’. Sau khi hiện tượng nguyên thủy về Hữu-thể-trong-thế-giới bị phá vỡ, chỉ còn lại chủ thể bị cô lập, và chính chủ thể này trở thành cơ sở để kết nối với một ‘thế giới’.

Trong cuộc khảo sát này, chúng ta không thể bàn luận chi tiết về vô số nỗ lực giải quyết ‘vấn đề về Hiện thực’ vốn đã phát triển trong các hình thái khác nhau của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm, cũng như trong các quan điểm trung gian giữa chúng. Chắc chắn rằng mỗi quan điểm này đều chứa đựng một phần của sự truy vấn đích thực; tuy nhiên, dù điều đó là hiển nhiên, thì vẫn sẽ thật sai lầm nếu ta cố gắng đạt được một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề này chỉ bằng cách tính toán xem mỗi trường hợp có bao nhiêu điểm đúng đắn. Điều thực sự cần thiết là một sự thấu hiểu cơ bản: mặc dù các khuynh hướng nhận thức luận khác nhau đã được theo đuổi không đi quá xa phạm vi nhận thức luận, nhưng việc chúng bỏ qua bất kỳ existential analytic phân tích hữu thể nào về Dasein thì đều ngăn cản chúng thiết lập cơ sở cho một vấn đề hiện tượng luận vững chắc. Cơ sở ấy cũng không thể đạt được bằng cách bổ sung các điều chỉnh hiện tượng học vào các khái niệm về chủ thể và ý thức sau khi đã hình thành lý thuyết. Một quy trình như vậy không đảm bảo [tr.251] được rằng cách đặt vấn đề sai lệch ban đầu sẽ không tiếp tục tồn tại. Cùng Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, các thực thể trong-thế-giới cũng đã được hiển lộ ngay từ đầu. Khẳng định existential-ontological mang tính hữu thể-bản thể luận này dường như phù hợp với luận điểm của chủ nghĩa hiện thực rằng thế giới bên ngoài Thực sự hiện-diện-vô-tri. Chừng nào existential assertion khẳng định hữu thể này không phủ nhận việc các thực thể trong-thế-giới là hiện-diện-vô-tri, thì xét về mặt kết quả, nó có sự tương đồng—có thể nói là tương đồng về mặt ghi nhận quan điểm—với luận điểm của chủ nghĩa hiện thực. Tuy nhiên, nó khác biệt về nguyên tắc so với mọi hình thái chủ nghĩa hiện thực; bởi lẽ chủ nghĩa hiện thực cho rằng Thực tại của "thế giới" không chỉ cần được chứng minh mà còn có thể chứng minh được. Trong khẳng định hiện sinh, cả hai quan điểm này đều bị phủ nhận trực tiếp. Nhưng điều thực sự phân biệt khẳng định này với chủ nghĩa hiện thực chính là việc chủ nghĩa hiện thực thiếu vắng sự thấu hiểu về mặt bản thể luận. Quả thật, chủ nghĩa hiện thực giải thích Thực tại ở cấp độ ontic thực hữu thông qua các mối liên hệ thực sự tương tác giữa các sự vật mang tính thực tại.

So với chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa duy tâm—dù kết quả có thể trái ngược và không vững chắc đến đâu chăng nữa—thì nó vẫn có lợi thế về mặt nguyên tắc, miễn là nó không tự hiểu sai bản thân mình là chủ nghĩa duy tâm ‘tâm lý học’. Nếu chủ nghĩa duy tâm nhấn mạnh rằng Hữu thể và Hiện thực chỉ tồn tại ‘trong ý thức’, thì điều này thể hiện một hiểu biết về sự thật là Hữu thể không thể được giải thích thông qua các thực thể. Tuy nhiên, chừng nào chủ nghĩa duy tâm còn chưa làm sáng tỏ ý nghĩa bản thể luận của chính hiểu biết về Hữu thể này, hay cách thức mà hiểu biết đó là khả thể, hoặc việc nó thuộc về trạng thái Hữu thể của Dasein, thì phép Diễn giải về Thực tại do chủ nghĩa duy tâm kiến tạo vẫn chỉ là một diễn giải rỗng tuếch. Dẫu vậy, cái sự thật là Hữu thể không thể được giải thích thông qua các thực thể và việc Hiện tại trở nên khả thể chỉ trong hiểu biết về Hữu thể lại không hề miễn trừ chúng ta khỏi việc truy vấn về cái Hữu thể của ý thức—tức của tự thân res cogitans cái . [Chen ngang: Trong tiếng Latinh, res cogitans được dịch theo nghĩa đen là ‘vật tư duy’ hay ‘thực thể tư duy’; đây là thuật ngữ nổi tiếng được René Descartes sử dụng để định nghĩa tâm trí hoặc linh hồn như một thực thể phi vật chất, tách biệt khỏi res extensa vật chất hữu hình. Tuy nhiên, đối với Heidegger, thuật ngữ này đại diện cho một điểm mù quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây. Heidegger phê phán quan niệm về res cogitans của Descartes bằng cách lập luận rằng: i) Mặc dù ông đã định nghĩa tâm trí là một vật tư duy, nhưng ông lại hoàn toàn bỏ qua việc xem xét phương thức Sein Hữu thể thuộc về nó; ii) Descartes đã mặc nhiên chấp nhận ý nghĩa của ‘hiện hữu’ mà không đặt câu hỏi; iii) Ông đã phân tách riêng rẽ Chủ thể - Khách thể - bằng cách coi con người chủ yếu như một res một ‘vật’ hay thực thể hiện- diện-vô-tri, Descartes đã trói buộc triết học vào một thuyết nhị nguyên chủ thể - khách thể cứng nhắc; iv) Ông đã bỏ qua Dasein – trong khi đó đối với Heidegger, thay vì coi con người là một ‘vật tư duy’ tĩnh tại, ông cho rằng Dasein chính hiện hữu người—được đặc trưng không phải bởi những suy nghĩ nội tại biệt lập, mà bởi In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới, và Sorge sự chăm lo mang tính thời gian; v) Khái niệm res cogitans của Descartes đã che lấp thực tại sống động và đầy tính tương quan này bằng cách biến tồn tại thành một chiếc hộp chứa đựng các trạng thái tinh thần khép kín.-HHN]. Nếu muốn tuân thủ một cách nhất quán luận điểm của chủ nghĩa duy tâm, thì việc phân tích bản thể luận về tự thân ý thức sẽ trở thành một nhiệm vụ tiên quyết và tất yếu. Chỉ vì Hữu thể ‘nằm trong ý thức’—nghĩa là chỉ vì nó có thể được thấu hiểu trong Dasein—nên Dasein mới có thể thấu hiểu và khái niệm hóa các đặc tính của Hữu thể như tính độc lập, tính ‘tự-thân’ và Thực tại nói chung. Cũng chính nhờ điều đó mà các thực thể ‘độc lập’—khi được bắt gặp trong-thế-giới, mới có thể trở thành đối tượng cho sự quan sát cẩn trọng xung quanh.        

Nếu nội hàm của thuật ngữ ‘chủ nghĩa duy tâm’ là sự thấu hiểu rằng Hữu thể không bao giờ có thể được giải thích bằng các thực thể, mà bản thân nó vốn dĩ đã mang tính ‘siêu nghiệm’ đối với mọi thực thể, thì chủ nghĩa duy tâm mang lại khả tính đúng đắn duy nhất cho vấn đề triết học. Nếu vậy, Aristotle cũng là một nhà duy tâm không kém gì Kant. Tuy nhiên, nếu ‘chủ nghĩa duy tâm’ biểu đạt ý nghĩa quy mọi thực thể về một chủ thể hoặc ý thức mà những đặc điểm phân biệt duy nhất là cái mà nó vẫn bất định trong Hữu thể của nó và thường được mô tả phủ định rõ ràng nhất [tr.252] là un-dinglich ‘không-phải-Sự-vật’—thì phương pháp của chủ nghĩa duy tâm này cũng ngây thơ chẳng kém gì chủ nghĩa duy thực cực đoan và thô thiển nhất. [Chen ngang: un-dinglich/undinghaft/nicht dinglich không-phải-Sự-vật: Trong triết học của Heidegger, cụm từ tiếng Anh ‘un-Thing-like’ phi-vật-thể/không mang tính vật thể tương ứng với thuật ngữ tiếng Đức un-dinglich hoặc undinghaft/ nicht dinglich. Thuật ngữ này ám chỉ trực tiếp đến các thực tại, thực thể hoặc các phương thức hiện hữu không thể được hiểu như những Dinge ‘vật thể’ tĩnh, mang tính vật lý hay bị khách thể hóa. Để nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa của Heidegger về khái niệm ‘phi-vật-thể’ un-Thing-like, cần xem xét cách ông phê phán triết học truyền thống cũng như cách ông sử dụng thuật ngữ tiếng Đức: 1). Ý nghĩa cốt lõi - Bác bỏ mô hình ‘Vật thể’ - Triết học phương Tây truyền thống có thói quen lâu đời là coi mọi thứ—bao gồm cả ý thức con người, thời gian và ý nghĩa—như thể chúng là những Dinge ‘vật thể’, những đối tượng hay thực thể hiện hữu trong thế giới, chờ đợi được đo đạc. Khi Heidegger mô tả một điều gì đó là un-Thing-like ‘phi-vật-thể’, có nghĩa là ông cảnh báo chúng ta không được đối xử với nó như một vật thể vật lý. Một thứ gì đó không mang tính chất của một ‘vật’ - Không thể bị khoa học phân tách thành các thành phần vật chất. Không có các thuộc tính tĩnh tại, có thể đo lường được - như trọng lượng, màu sắc hay kích thước vật lý. 2) Mang tính động, tính quan hệ hoặc tính trải nghiệm hơn là tính thực thể: Các ví dụ điển hình về khái niệm ‘không mang tính vật thể’: Heidegger áp dụng khái niệm này vào những yếu tố quan trọng nhất trong triết học của mình, đó là Dasein hiện hữu người - tôi không phải là một ‘vật thể’. Con người không thể được thấu hiểu theo cùng cách ta hiểu về một hòn đá hay một chiếc ghế. Tồn tại của chúng ta được định hình bởi các khả tính, quan tâm/chăm lo và kiến ​​tạo ý nghĩa cho thế giới—những cấu trúc hoàn toàn không mang tính chất của một vật thể. 3) Welt Thế giới và các cách biểu nghĩa - Trong đời sống thường nhật, chúng ta không tiếp nhận một căn phòng như là tập hợp các ‘vật thể’; thay vào đó, chúng ta trải nghiệm một mạng lưới các ý nghĩa và chức năng - ví dụ ô cửa là một ‘lời mời gọi bước qua’, chứ không chỉ đơn thuần là một tấm gỗ. Heidegger lưu ý rằng cấu trúc cơ bản của thế giới chúng ta bao gồm các sự quy chiếu và các mối quan hệ—những yếu tố không mang tính chất của một un-thing-like ‘vật thể’. Sein/Being Hữu thể - là ‘ánh sáng’ hay Lichtung Mở sáng cho phép các vật thể vật lý xuất hiện ngay từ đầu. Vì Hữu thể là cái làm cho sự vật trở nên hữu hình, nên bản thân Hữu thể không thể là một ‘vật thể’ được. Nó hoàn toàn không mang tính chất của một vật thể. 4) Các thuật ngữ tiếng Đức liên quan cần biết: i) Khái niệm un-Thing-like ‘không mang tính vật thể’ này đối lập hoặc giao thoa với các khái niệm cụ thể sau đây trong tiếng Đức: Dinglich / Dinglichkeit - mang tính vật thể / Tính vật thể. Trạng thái của việc là một vật thể vật lý hoặc một thực thể vật chất – Verdinglichung/ reification - Sự vật hóa nghĩa đen là biến thành vật thể. Sai lầm khi biến một khái niệm trừu tượng hoặc một trải nghiệm của con người thành một ‘vật thể’ vật lý. Unding - Một ‘phi-vật’ hoặc ‘cái-không-phải-là-vật’. Heidegger sử dụng từ này một cách sáng tạo để mô tả một điều gì đó nằm ngoài sự vật hóa truyền thống hoặc kháng cự lại việc bị gói gọn trong các định nghĩa khoa học.-HHN]

Người ta vẫn có thể ưu tiên vấn đề về Thực tại hơn là bất kỳ định hướng nào dựa trên các ‘quan điểm’, bằng cách duy trì luận điểm cho rằng mỗi chủ thể chỉ là chính nó khi đối diện với một Khách thể, và ngược lại. Tuy nhiên, trong cách tiếp cận hình thức này, các thuật ngữ được tương quan với nhau như vậy—cũng như chính mối tương quan đó—vẫn chưa được xác định rõ ràng về mặt bản thể luận. Xét đến cùng, toàn bộ mối tương quan này tất yếu được tư duy như là cái gì đó ‘có’ (hiện hữu) theo một cách nào đó, và do đó, nó phải được tư duy trong mối liên hệ với một ý niệm xác định về Hữu thể. Tất nhiên, nếu nền tảng hữu thể-bản thể luận đã được xác lập vững chắc từ trước thông qua việc làm sáng tỏ Hữu-thể-trong-thế-giới, thì mối tương quan này là điều mà sau đó ta có thể nhận biết như một mối quan hệ đã được hình thức hóa, chưa có sự phân biệt về mặt bản thể luận. Việc chúng ta thảo luận về những tiền giả định chưa được diễn giải tường minh trong các nỗ lực giải quyết vấn đề Thực tại theo những cách thuần túy ‘nhận thức luận’ cho thấy rằng vấn đề này—như một vấn đề bản thể luận— cần phải được quay trở lại với phạm vi phân tích hữu thể về Dasein.xvi

(b) Thực tại như một Vấn đề Bản thể luận

Nếu thuật ngữ ‘Thực tại’ được dùng để chỉ cái Hữu thể của các thực thể hiện-diện-vô-tri bên trong thế giới (res) (và không được hiểu theo điều gì khác), thì khi phân tích phương thức Hữu thể này, điều đó cho thấy các thực thể bên-trong-thế-giới chỉ có thể được hiểu về mặt bản thể luận nếu hiện tượng ‘tính-bên-trong-thế-giới’ (within-the-world-ness) đã được làm sáng tỏ. [Chen ngang: Theo Heidegger, thuật ngữ Innerweltlichkeit/ innerhalb der Welt ‘tính-bên-trong-thế-giới’ nghĩa là hiện hữu bên trong thế giới. Trong tiếng Đức, Innerweltlichkeit theo nghĩa đen là ‘tính chất thuộc về bên trong thế giới’ hay trạng thái hiện hữu ‘bên trong thế giới’. Thuật ngữ này mô tả phương thức hiện hữu đặc thù của các Seiendes hiện hữu mà chúng ta bắt gặp bên trong thế giới sống của mình - chẳng hạn như các công cụ ta sử dụng, thiên nhiên, hay những kẻ khác - chứ không phải mô tả cấu trúc của chính thế giới đó. Heidegger lập luận rằng các thực thể bên-trong-thế-giới này chỉ mang ý nghĩa về mặt bản thể luận—chúng chỉ có thể ‘xuất hiện’ hoặc được thấu hiểu—bởi vì Dasein hiện hữu người vốn đã mang cấu trúc nền tảng là In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới. Tóm lại, Innerweltlichkeit hoàn toàn phụ thuộc vào hiện tượng tiên khởi về thế giới mà Dasein cư ngụ và khai mở.- HHN]. Song, tính-bên-trong-thế-giới lại dựa trên hiện tượng ‘thế giới’; mà bản thân thế giới—với tư cách là một yếu tố cốt lõi trong cấu trúc của Hữu-thể-trong-thế-giới—lại thuộc về cấu tạo cơ bản của Dasein. Đến lượt mình, Hữu-thể-trong-thế-giới lại gắn kết chặt chẽ về mặt bản thể luận với tổng thể tính trong cấu trúc Hữu thể của Dasein, và chúng ta đã xác định ‘quan tâm/chăm lo’ chính là tổng thể tính đó. Theo cách này, chúng ta đã vạch ra các nền tảng và những chân trời cần được làm sáng tỏ để có thể thực hiện việc phân tích về Thực tại. Hơn nữa, chỉ trong mối liên hệ này, tính chất ‘tự-thân’ mới trở nên dễ hiểu về mặt bản thể luận. Dựa trên định hướng từ bối cảnh các vấn đề này, trong các phân tích trước đây, chúng ta đã diễn giải Hữu thể của các hiện hữu trong-thế-giới.xvii

Quả đúng, Tính hiện thực của cái Hiện thực có thể được mô tả theo phương pháp hiện tượng học trong những giới hạn nhất định mà không cần đến bất kỳ cơ sở hữu thể-bản thể luận tường minh nào. Đây là điều Dilthey đã cố gắng thực hiện trong bài viết được đề cập ở trên. Ông cho rằng cái Hiện thực được trải nghiệm thông qua xung năng và ý chí, còn Tính hiện thực chính là sự kháng cự, hay chính xác hơn, là đặc tính kháng cự.2 Sau đó, ông phân tích hiện tượng kháng cự này. Đây là đóng góp tích cực trong bài viết của ông, đồng thời cung cấp minh chứng cụ thể xác đáng nhất [tr.253] cho ý tưởng của ông về một ‘ngành tâm lý học vừa mô tả vừa giải phẫu’. Tuy nhiên, việc phân tích hiện tượng này một cách đúng đắn lại bị cản trở bởi vấn đề nhận thức luận về Tính hiện thực. ‘Nguyên tắc về tính hiện tượng’ không cho phép ông đi đến một phép Diễn giải mang tính bản thể luận về cái Hữu thể của ý thức. Ông viết: ‘Ngay trong cùng một ý thức, ý chí và sự ức chế ý chí cùng xuất hiện.’xviii Loại Hữu thể nào thuộc về hành vi ‘xuất hiện’ này? Ý nghĩa của loại Hữu thể  của cái ‘bên trong’ là gì? Ý thức có mối quan hệ Hữu thể nào với tự thân cái Hiện thực? Tất cả những điều này cần được xác định trên bình diện bản thể luận. Việc điều đó chưa được thực hiện rốt cuộc là do Dilthey đã để khái niệm ‘cuộc sống’ ở trạng thái chưa được phân biệt về mặt bản thể luận; và tất nhiên, ‘cuộc sống’ là thứ mà ta không thể quay ngược lại để tìm cái gì nằm ‘phía sau’ nó. Nhưng việc Diễn giải Dasein về phương diện bản thể luận không có nghĩa là ta phải quay ngược lại với một thực thể nào khác về phương diện ontish thực hữu. Việc Dilthey bị bác bỏ trên phương diện nhận thức luận không thể ngăn cản chúng ta khai thác hiệu quả những khía cạnh tích cực trong các phân tích của ông—chính là cái chưa được thấu hiểu trong những bác bỏ như vậy.

Do đó, gần đây Scheler đã tiếp nối cách Diễn giải của Dilthey về Tính hiện thực.xix Ông ủng hộ một ‘Lý thuyết ý chí về Dasei’. Ở đây, Dasein được hiểu theo nghĩa của Kant là Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri. Cái “Hữu thể của các khách thể chỉ được đưa ra một cách trực tiếp thông qua mối liên hệ của chúng với xung năng và ý chí”. Scheler không chỉ nhấn mạnh—giống như Dilthey—rằng Tính hiện thực không bao giờ được đưa ra trước hết thông qua tư duy và nhận thức rõ; ông cũng đặc biệt chỉ ra rằng bản thân Erkennen nhận thức không phải là phán đoán, còn Wissen tri thức là một ‘mối quan hệ của Hữu thể’. Những gì chúng ta đã nói về tính bất định mang tính bản thể luận trong các nền tảng của Dilthey cũng đúng về mặt nguyên tắc đối với lý thuyết này. Hơn nữa, sự phân tích bản thể luận nền tảng về ‘cuộc sống’ cũng không thể được thêm vào sau đó như một cấu trúc phụ trợ. Một sự phân tích nền tảng như vậy cung cấp các điều kiện làm cơ sở cho việc phân tích Thực tại—cho toàn bộ sự lý giải về tính chất kháng cự và các tiền giả định hiện tượng luận của nó. Sự kháng cự được bắt gặp trong trạng thái không thể xuyên qua, và nó xuất hiện như một trở ngại đối với ý chí muốn xuyên qua. Tuy nhiên, cùng với ý chí đó, hẳn đã phải có một điều gì đó được bộc lộ—điều mà các xung năng và ý chí của chủ thể đang hướng tới. Tuy nhiên, điều mà chủ thể hướng tới lại bất định về mặt ontic thực hữu, và sự bất định này không được phép bị bỏ qua về mặt bản thể luận hay bị coi như thể nó không tồn tại. Khi Hữu-thể-ngoài hướng tới một điều gì đó vấp phải sự kháng cự và không thể làm gì khác ngoài việc ‘đối diện với sự kháng cự ấy’, thì bản thân nó đã hiện diện ngay trong một tổng thể các mối can dự. Việc tổng thể này được phát hiện lại bắt nguồn từ trạng thái bộc lộ của tổng thể các mối liên hệ tham chiếu về ý nghĩa. Trải nghiệm về sự kháng cự—tức là việc phát hiện ra những gì chống lại các nỗ lực của chủ thể—chỉ có thể diễn ra về mặt hữu thể luận nhờ vào sự hiển lộ của Thế giới. Tính chất [tr.254] kháng cự là đặc điểm thuộc về các hiện hữu với-thế-giới. Trên thực tế, các trải nghiệm về sự kháng cự chỉ quy định phạm vi và phương hướng mà theo đó các thực thể gặp gỡ trong-thế-giới được phát hiện. Việc tổng hợp các trải nghiệm như vậy không tạo ra tình trạng bộc lộ của thế giới ngay từ đầu, mà trái lại, nó đã mặc nhiên thừa nhận tình trạng bộc lộ ấy. Cái ‘chống lại’ và cái ‘trái ngược’, với tư cách là những khả tính hữu thể luận, được nâng đỡ bởi Hữu-thể-trong-thế-giới đã được bộc lộ.

Sự kháng cự cũng không phải là điều được trải nghiệm bằng một thôi thúc hay ý chí ‘nảy sinh’ một cách độc lập. Cả hai thứ này rốt cuộc đều hóa ra là những biến thể của Chăm sóc. Chỉ những thực thể với loại Hữu thể này mới có thể va chạm với một điều gì đó mang tính kháng cự như là một cái gì đó trong-thế-giới. Do đó, nếu Thực tại được định nghĩa là ‘đặc tính kháng cự’, thì ta cần lưu ý hai điều: thứ nhất, đây chỉ là một đặc tính của Thực tại bên cạnh các đặc tính khác; thứ hai, đặc tính kháng cự tất yếu tiền giả định một thế giới đã được bộc lộ. Sự kháng cự đặc trưng cho ‘thế giới bên ngoài’ theo nghĩa các thực thể nằm trong thế giới, chứ không bao giờ theo nghĩa là chính bản thân thế giới. ‘Ý thức về Thực tại’ tự nó là một phương thức của Hữu-thể-trong-thế-giới. Mọi ‘vấn đề về thế giới bên ngoài’ rốt cuộc đều quy về hiện tượng hữu thể cơ bản này. Nếu mệnh đề cogito sum ‘tôi tư duy, nên tôi tồn tại’ được dùng làm điểm khởi đầu cho việc phân tích hữu thể về Dasein, thì nó cần phải được đảo ngược lại, và hơn nữa, nội dung của nó cần được xác nhận lại theo một cách thức mới về mặt bản thể luận-hiện tượng. Khi đó, cái ‘sum’ - tôi tồn tại được khẳng định trước tiên, và thực sự là theo nghĩa ‘tôi tồn tại trong một thế giới’. Theo đúng nghĩa thực thể, ‘tôi tồn tại’ trong khả tính hướng tới các cách thức ứng xử của chính mình—cụ thể là cogitationes hoạt động tư duy—như là những cách thức của Hữu thể bên cạnh các thực thể nằm trong-thế-giới. Ngược lại, Descartes cho rằng cogitationes các hoạt động tư duy là hiện-diện-vô-tri, và ego cái ‘tôi’ cũng hiện-diện-vô-tri như một res cogitans thực thể tư duy tách rời khỏi thế giới.

(c) Thực tại và Thực tại Chăm lo, với tư cách là một thuật ngữ bản thể luận, là khái niệm mà chúng ta đã liên hệ với các thực thể nằm trong thế giới.

Nếu nó được dùng để chỉ loại Hữu thể này nói chung, thì tính sẵn-có-để-dùng và tính hiện-diện-vô-tri sẽ đóng vai trò như là các phương thức của Thực tại. Tuy nhiên, nếu ta để cho cái ‘thế giới’ này mang ý nghĩa truyền thống của nó, thì nó đại diện cho Hữu thể theo nghĩa cái hiện-diện-vô-tri thuần túy của các Sự vật. Nhưng không phải mọi hiện-diện-vô-tri đều là hiện-diện-vô-tri của các Sự vật. Cái ‘Tự nhiên’—thứ ‘bao quanh’ chúng ta—tất nhiên là một thực thể nằm-trong-thế-giới; nhưng loại Hữu thể mà nó bộc lộ lại không thuộc về cái sẵn-có-để-dùng cũng chẳng thuộc về cái hiện-diện-vô-tri như là các ‘Vật thể Tự nhiên’. Dù cho cái Hữu thể của ‘Tự nhiên’ này có được diễn giải thế nào đi nữa, thì mọi phương thức Hữu thể của các thực thể trong-thế-giới đều được đặt nền tảng về mặt bản thể luận trên die Weltlichkeit der Welt cái thế gian của thế giới, và do đó, trên hiện tượng Hữu-thể-trong-thế-giới. [Chen ngang: die Weltlichkeit của Martin Heidegger chỉ cấu trúc hữu thể luận nền tảng làm cho một thế giới thực sự là một thế giới, chứ không chỉ đơn thuần là tập hợp các vật thể vật lý. Thay vì xem ‘thế giới’ như một vật chứa vật lý hay tổng hòa các sự vật vật lý trong không gian, Heidegger cho rằng thế giới là một mạng lưới năng động bao gồm các mối quan hệ giữa người với người, các công việc thực tiễn và những sự gắn kết đầy ý nghĩa. Các ý nghĩa cốt lõi của Weltlichkeit: i) Không phải là một địa điểm vật lý: Thế giới không phải là vật chứa nơi con người—những thực thể mà Heidegger gọi là Dasein hiện hữu người hay Hữu-thể-trong-thế-giới—tình cờ trú ngụ giống như nước trong ly; ii) Cái Hữu thể của Thế giới: Weltlichkeit Cái thế gian đặt ra câu hỏi: Thế nào là một thế giới thực thụ? Đó là trạng thái năng động, nhờ đó các sự vật trở nên quan trọng và mang lại ý nghĩa trong đời sống thường nhật của chúng ta; iii) Một mạng lưới gắn kết - Các vật thể trong môi trường sống không được tri giác ban đầu như những dữ liệu khoa học trung tính; chúng hiện ra như những Zeug công cụ mang một mục đích cụ thể. Ví dụ, chiếc búa được hiểu trong mối liên hệ với đinh, gỗ và công việc xây dựng; tính thế gian chính là mạng lưới toàn diện bao gồm các mối liên hệ và ý nghĩa thực tiễn như vậy; iv) Sự nảy sinh ý nghĩa - Thế giới là một không gian mở, nơi ý nghĩa lần đầu tiên trở nên có thể tiếp cận; điều này có nghĩa là chúng ta không chỉ đơn thuần gán ý nghĩa lên một vũ trụ trống rỗng, và vũ trụ cũng không tự mình áp đặt ý nghĩa lên chúng ta một cách độc lập. Thay vào đó, ý nghĩa nảy sinh thông qua sự tương tác và dấn thân thực tế của chúng ta trong môi trường sống.-HHN].Từ đó nảy sinh một nhận thức rằng, trong số các phương thức [tr.255] Hữu thể của các thực thể trong-thế-giới, thì Thực tại không hề có vị thế ưu tiên; và điều mà Thực tại là một loại Hữu thể thậm chí vốn không thể đặc trưng cho bất cứ điều gì như thế giới hay Dasein theo một cách thức phù hợp về mặt bản thể luận.

Trong trật tự về mối liên kết giữa các sự vật tại nền tảng bản thể luận của chúng, cũng như trong trật tự của bất kỳ sự chứng minh mang tính phạm trù hay hữu thể nào, thì Thực tại vẫn được quy chiếu trở lại hiện tượng ‘chăm lo’. Tuy nhiên, việc Thực tại được đặt nền tảng bản thể luận trên Hữu thể của Dasein không có nghĩa là chỉ khi Dasein tồn tại và chừng nào Dasein còn tồn tại thì cái ‘Thực’ mới có thể là chính nó như bản chất vốn có của nó. Tất nhiên, chỉ chừng nào Dasein còn tồn tại (tức là chỉ chừng nào sự thấu hiểu về Hữu thể còn khả thể về phương diện ontish thực hữu), thì khi cái Hữu thể mới ‘có đó’.3 Khi Dasein không tồn tại, thì tính ‘độc lập’ cũng không ‘có’, kể cả cái ‘tự-thân’ cũng không ‘có’. Trong trường hợp đó, loại sự vật này không thể được thấu hiểu cũng chẳng phải không được thấu hiểu. Vì vậy, ngay cả các thực thể trong-thế-giới cũng không thể được khám phá hay bị che giấu. Do đó, không thể nói rằng các thực thể là hiện hữu, cũng chẳng thể nói rằng chúng không hiện hữu. Nhưng giờ đây, chừng nào còn có sự thấu hiểu về Hữu thể — và do đó là sự thấu hiểu về tình trạng hiện-diện-vô-tri — thì quả thực có thể nói rằng trong trường hợp này, các thực thể vẫn tiếp tục hiện hữu. Như chúng ta đã lưu ý, Hữu thể (chứ không phải các thực thể) phụ thuộc vào sự thấu hiểu về Hữu thể; nghĩa là, Thực tại (chứ không phải cái Thực) phụ thuộc vào chăm lo. Nhờ sự phụ thuộc này, công cuộc phân tích sâu hơn của chúng ta về Dasein được bảo đảm vững chắc trước một lối diễn giải thiếu phản tư — một lối diễn giải vốn luôn tự áp đặt lên chúng ta — trong đó ý niệm về Thực tại được coi là chìa khóa để hiểu về Dasein. Chỉ khi lấy tính hữu thể [Chen ngang: Heidegger dùng Existenzialität tính hữu thể để chỉ trạng thái hoặc đặc tính của Dasein hiện hữu người, cấu thành khả tính thấu hiểu và hiện hữu như chính ‘Hữu thể’ của mình. Bản thể luận so ontish thực hữu: Heidegger phân biệt Existenzialität (cấu trúc bản thể luận về năng lực của Dasein hiện hữu người tồn tại một cách đích thực hoặc phi đích thực) với Existenzialien/ existentialia - các yếu tố hữu thể, vốn là những đặc điểm hoặc tính chất cấu trúc thuộc về tính hữu thể đó. Sự tương phản với các phạm trù: Ông phân biệt rạch ròi giữa Existenzialien các yếu tố hữu thể và Kategorien các phạm trù truyền thống - chỉ áp dụng cho những sự vật đơn thuần hiện-diện-vô-tri chứ không phải cho Dasein hiện hữu người.-HHN] – được diễn giải theo nghĩa tích cực về bản thể luận – làm định hướng, ta mới có thể đảm bảo rằng trong quá trình phân tích thực tế về ‘ý thức’ hay ‘cuộc sống’, một quan niệm nào đó về ‘Thực tại’ sẽ không bị mặc nhiên coi là có tính cơ sở, ngay cả khi quan niệm ấy chưa được phân biệt rạch ròi.

Những thực thể có loại Hữu thể của Dasein không thể được quan niệm theo khuôn khổ của Thực tại và Substantialität/ substantiality tính thực chất; chúng ta đã diễn đạt điều này qua luận điểm cho rằng bản chất của con người chính là tồn tại. Tuy nhiên, việc ta diễn giải Existenzialität tính hữu thể như là chăm lo, và phân biệt nó với Thực tại không có nghĩa là công cuộc phân tích hữu thể đã kết thúc; trái lại, ta chỉ mới làm cho những vấn đề phức tạp xoay quanh câu hỏi về Hữu thể cùng các phương thức khả thể của nó, và câu hỏi về ý nghĩa của những biến đổi như vậy– xuất hiện một cách sắc nét hơn mà thôi: Chỉ khi sự thấu hiểu về Hữu thể hiện hữu thì các thực thể, với tư cách là thực thể, mới bắt đầu có thể tiếp cận được; chỉ khi [tr.256] các thực thể mang cùng loại Hữu thể với Dasein thì sự thấu hiểu về Hữu thể mới trở nên khả thể như một thực thể.   

44. Dasein, Trạng thái Bộc lộ và Chân lý

Τό γάρ αυτο νοειν έστιν τε καί ειναι - Bởi vì tư duy và tồn tại là một - (Đoạn trích của Parmenides, trong Plotinus v, I, 8) Dù một số học giả dịch là “Tư duy và tồn tại là một”; những những người khác dịch là: “Vì cùng một thứ vừa được nghĩ đến vừa tồn tại”. Từ thời xa xưa, triết học đã liên kết Chân lý và Hữu thể. Parmenides là người đầu tiên khám phá ra Hữu thể của các thực thể, và ông đã ‘đồng nhất’ Hữu thể với sự hiểu biết sâu sắc về Hữu thể: Τό γάρ αυτο νοειν έστιν τε καί ειναι xx - Bởi vì tư duy và tồn tại là một. Aristotle, trong phác thảo lịch sử về những cách thức mà ἀρχαί các nguồn cội đã được mở ra như thế nào,xxi nhấn mạnh rằng các triết gia trước ông, dưới sự hướng dẫn của ‘bản thân sự vật’ đã buộc phải tìm hiểu thêm: αὐτὸ τὸ πρᾶγμα ὡδοποίησεν αὐτοῖς καὶ συνηνάγκασε θητεῖν.xxii - Chính điều này đã mở đường cho họ và buộc họ phải chịu cảnh nô dịch. [Chen ngang: Cụm từ này phản ánh một chủ đề phổ biến trong các văn bản lịch sử Hy Lạp cổ điển như của Thucydides, Xenophon hoặc Plutarch, mô tả cách một sự kiện cụ thể, khó khăn sinh kế hoặc thay đổi chính trị đã khiến một nhóm người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận thân phận nô bộc hoặc làm công việc thuê mướn có địa vị thấp kém. - HHN]. Ông đã mô tả sự thật tương tự khi nói rằng ἀναγκαζόμενος δ' ἀκολουθεῖν τοῖς φαινομένοιςxxiii – có nghĩa là Parmenides buộc phải tuân theo những gì đã tự thể hiện: Trong một đoạn văn khác, ông nhận xét rằng những nhà tư tưởng này đã tiến hành nghiên cứu của họ như ὑπ' αὐτῆς τῆς ἀληθείας ἀγκαθόμενοιςxxiv – “bị ép buộc bởi chính ‘chân lý’”. Aristotle mô tả những nghiên cứu này là φιλοσοφήσαντες περὶ τῆς ἀληθείαςxxv ‘triết học' về ‘chân lý’ - hoặc thậm chí là ἀποφαίνεσθαι περὶ τῆς ἀληθείαςxxvi - là việc trưng bày ra một điều gì đó và để nó được nhìn nhận liên quan đến ‘chân lý’ và trong phạm vi của ‘chân lý’. Bản thân Triết học được định nghĩa là ἐπιστήμη τῆς ἀληθείας ‘khoa học’ về ‘chân lý’”. Nhưng nó cũng được mô tả là ἐπιστήμη τις ἣ θεωρεῖ τὸ ὂν ᾗ ὄν như là “một khoa học nghiên cứu các thực thể như những thực thể” – tức là, xét về Hữu thể của chúng. Ở đây, đoạn văn “tiến hành nghiên cứu về ‘chân lý’”, với “khoa học về ‘chân lý’” có nghĩa là gì? Trong những nghiên cứu như vậy, ‘chân lý’ có phải là một chủ đề như trong một lý thuyết về tri thức hay về phán đoán không? Rõ ràng là không, vì ‘chân lý’ có nghĩa giống như Sache ‘sự vật’, ‘cái gì đó tự biểu hiện’. Nhưng vậy thì cách biểu hiện ‘chân lý’ có nghĩa là gì nếu nó có thể được sử dụng như một thuật ngữ cho ‘thực thể’ và ‘Hữu thể’? Tuy nhiên, nếu chân lý thực sự có mối liên hệ bản nguyên với Hữu thể, thì hiện tượng chân lý nằm trong phạm vi của vấn đề về bản thể luận nền tảng. Trong trường hợp đó, hiện tượng này chẳng phải đã được gặp phải trong phân tích cơ bản chuẩn bị của chúng ta, phân tích về Dasein hay sao? Mối liên hệ thực hữu-bản thể luận mà ‘chân lý’ có với Dasein và với đặc tính thực hữu của Dasein mà chúng ta gọi là ‘sự hiểu biết về Hữu thể’? Liệu lý do tại sao Hữu thể nhất thiết phải đi cùng với chân lý và ngược lại có thể chỉ theo khuôn khổ của hiểu biết đó không?

Những câu hỏi này không thể né tránh. Bởi vì Hữu thể thực sự ‘đi cùng’ với chân lý, hiện tượng chân lý đã là một trong những chủ đề của các phân tích trước đây của chúng ta, mặc dù không được nêu rõ ràng dưới tiêu đề này. Trong [tr.257] việc làm rõ vấn đề về Hữu thể, giờ là lúc để xác định rõ ràng hiện tượng chân lý và giải quyết các vấn đề mà nó bao gồm. Khi thực hiện điều này, chúng ta không chỉ nên gộp lại những gì đã bị tách rời trước đây. Khảo sát của chúng ta đòi hỏi một cách tiếp cận mới. Phân tích của chúng ta bắt đầu từ quan niệm truyền thống về chân lý, và cố gắng làm sáng tỏ nền tảng bản thể luận của quan niệm đó (a). Xét về những nền tảng này, hiện tượng chân lý bản nguyên trở nên rõ ràng. Sau đó, chúng ta có thể trình bày cách mà quan niệm truyền thống về chân lý được rút ra từ hiện tượng này (b). Khảo sát của chúng ta sẽ làm rõ rằng đối với câu hỏi về ‘bản chất’ của chân lý, tất yếu phải bao gồm câu hỏi về loại Hữu thể mà chân lý sở hữu. Bên cạnh đó, cần làm rõ ý nghĩa bản thể học của loại chuyện được cho là ‘có chân lý’, và cũng phải làm rõ loại tính tất yếu mà ‘chúng ta phải giả định’ rằng ‘có’ chân lý (c).

(a) Quan niệm Truyền thống và Nền tảng Bản thể luận của Chân lý

Có ba luận điểm đặc trưng cho cách hiểu truyền thống về bản chất của chân lý cũng như những cách thức mà người ta cho rằng khái niệm này đã được định nghĩa lần đầu tiên: (1) Locus ‘nơi chốn’ của chân lý là sự khẳng định (phán đoán); (2) Bản chất của chân lý nằm ở sự ‘đồng thuận’ giữa phán đoán và đối tượng của nó; (3) Aristotle—cha đẻ của logic học—không chỉ gán chân lý cho phán đoán như là nơi chốn bản nguyên của nó, mà còn khởi xướng định nghĩa về ‘chân lý’ như là sự ‘đồng  thuận’.4 Ở đây mục đích của chúng ta không phải là trình bày lịch sử của khái niệm chân lý—điều chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở lịch sử của bản thể luận. Chúng ta sẽ mở đầu các thảo luận phân tích của mình bằng cách đề cập đến một số vấn đề quen thuộc. Aristotle nói rằng παθήματα τῆς ψυχῆς pathēmata tēs psychēs các trải nghiệm của linh hồn là των πραγμάτων ομοιώματαxxix tōn pragmatōn homoiōmata những mô phỏng/ tương đồng với các Sự vật—nghĩa là các ‘Trải nghiệm’ của linh hồn, hay các ‘noēmata’ biểu tượng/ khái niệm của nó, là những mô phỏng lại các Sự vật. Khẳng định này—vốn không hề được đưa ra như một định nghĩa tường minh về bản chất của chân lý—đã tạo cơ sở cho việc phát triển công thức sau này về bản chất của chân lý: adaequatio intellectus et rei sự tương xứng giữa trí tuệ và sự vật.5 Thomas Aquinas—người quy định nghĩa này cho Avicenna nhân vật vốn tiếp nhận nó từ cuốn ‘Sách về các Định nghĩa’ của Isaac Israeli vào thế kỷ thứ mười—cũng sử dụng các thuật ngữ correspondentia sự tương ứng và convenientia hội tụ/ hợp nhất để diễn giải cho từ adaequatio tương xứng/mô phỏng.

[Tr.258] Thuyết nhận thức Tân-Kantian thế kỷ mười chín thường mô tả định nghĩa về ‘chân lý’ này như là biểu hiện của một chủ nghĩa hiện thực ngây thơ lạc hậu về mặt phương pháp luận, đồng thời tuyên bố rằng nó không thể dung hòa với bất kỳ cách đặt vấn đề nào đã trải qua ‘cuộc cách mạng Copernic’ của Kant. Tuy nhiên, chính Kant cũng tuân theo quan niệm này về chân lý, đến mức ông thậm chí không hề đưa nó ra thảo luận; điều này thường bị bỏ qua, mặc dù Brentano đã từng lưu ý chúng ta về nó. “Câu hỏi cổ xưa và nổi tiếng—vốn được cho là có thể dồn các nhà logic học vào thế bí—chính là: ‘chân lý là gì?’” Cách giải thích về khái niệm chân lý—cụ thể là sự tương hợp giữa tri thức và đối tượng của nó—sẽ được chấp nhận và coi như một tiền đề tại đây…; xxx 6. “Nếu chân lý nằm ở sự tương hợp giữa tri thức và đối tượng của nó, thì đối tượng này tất yếu phải được phân biệt với các đối tượng khác; bởi lẽ tri thức sẽ là sai lầm nếu nó không tương hợp với đối tượng mà nó quy chiếu tới, ngay cả khi nó chứa đựng những yếu tố có thể đúng đắn đối với các đối tượng khác.”xxxi Và trong phần Giới thiệu về Transzendentale Dialektik ‘Phép Biện chứng Siêu nghiệm’, Kant khẳng định: “Chân lý và ảo tưởng không nằm ở bản thân đối tượng khi nó được trực quan, mà nằm ở phán đoán về đối tượng đó khi nó được tư duy.”xxxii Tất nhiên, việc định nghĩa chân lý như là sự ‘tương hợp’ (adaequatio, homoiōsis) là một cách diễn giải rất chung chung và trống rỗng. Tuy nhiên, nó vẫn có cơ sở xác đáng nếu có thể đứng vững mà không làm phương hại đến bất kỳ cách lý giải đa dạng nào xoay quanh khái niệm đặc thù là ‘tri thức’. Giờ đây, chúng ta đang khảo sát nền tảng của ‘mối quan hệ’ này. Điều gì khác nữa được ngầm định trong tổng thể quan hệ của adaequatio intellectus et rei sự tương ứng giữa trí năng và sự vật?

____________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 “...tại sao sự Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới lại có xu hướng trước tiên chôn vùi ‘thế giới bên ngoài’ trong hư vô ‘nhận thức luận’ để rồi sau đó chứng minh sự tồn tại của nó.” [tr.250]

2 ‘Thực tại là sự kháng cự, chính xác hơn là tình trạng kháng cự.’ [tr.252]

3 ‘… “gibt es” Sein.’ Trong lá thư Ober den Humanismus (Klostermann, Frankfurt A.M., n.d., p. 22, in lại từ Platons Lehre von Tier Wahrheit, Francke A.G., Bern, 1947), Heidegger nhấn mạnh rằng cách diễn đạt ‘es gibt’ ở đây được sử dụng có chủ ý, và nên hiểu theo nghĩa đen là ‘nó mang lại’. Ông viết: “Vì ở đây cái ‘nó’ ‘mang lại’ chính là Hữu thể. Tuy nhiên, cái ‘cho đi’ chỉ rõ bản chất của Hữu thể, cái cho đi và cái mang lại chân lý của nó.’ Ông nói thêm rằng ‘es gibt’ được sử dụng để tránh viết rằng ‘Hữu thể là’, vì động từ ‘là’ chỉ phù hợp với các thực thể chứ không phù hợp với tự thân Hữu thể. [tr.255]

4 Ở đây, chúng tôi theo dõi các phiên bản cũ hơn trong phần đọc ‘…hat sowohl die Wahrheit dem Urteil als ihrem urspriinglichen Ort zugewiesen als auch die Definition der Wahrheit als “Ubereinstimmung” in Gang gebracht.' “…vừa gán Chân lý cho phán đoán như là vị trí ban đầu của nó, vừa khởi xướng định nghĩa về Chân lý là “sự đồng thuận”. Các phiên bản mới hơn có nội dung ‘…hat sowohl…zugewiesen, er hat auch…’ đã gán cho cả hai…ông ấy cũng…’ [tr.257]

5 Điều này thường được dịch là “sự phù hợp của trí tuệ và sự vật”. Heidegger làm cho mối liên hệ dường như gần gũi hơn bằng cách dịch cả tiếng Latin adaequatio và tiếng Hy Lạp ὁμοίωμα bằng từ 'Angleichung', mà chúng ta đã dịch một cách tùy tiện là 'so sánh'. [tr.257]

6 ‘Ein Zeichen zeigt auf das Gezeigte.’ Dấu hiệu này chỉ vào những gì được hiển thị. [tr.258]