Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’
29. Hữu-thể Ở-đó như là Tâm thế
[Tr.176] Bên cạnh hai đặc tính thiết yếu của các Befindlichkeit tâm thế [Chen ngang: Befindlichkeit của Heidegger chỉ rõ cách thức mà một cá nhân nhận thức về bản thân hoặc trạng thái tâm trí cơ bản của mình. Thuật ngữ này thường được dịch sang tiếng Anh là state-of-mind, disposedness tính sẵn sàng tiếp nhận, attunement sự hòa điệu hoặc findedness trạng thái tự thấy mình. Nó mô tả việc con người luôn ‘bị ném’ vào và đặt để trong thế giới với một tâm trạng hay cảm xúc nhất định. Ý nghĩa cốt lõi: Bắt nguồn từ câu hỏi thông dụng trong tiếng Đức ‘Wie befinden Sie sich?’ Anh/chị cảm thấy thế nào? hoặc Ông/Bà thấy mình đang ở trạng thái nào?. Cho thấy chúng ta không bao giờ là những người quan sát trung lập; chúng ta luôn tồn tại cùng một tâm trạng - như sợ hãi, vui sướng hay chán nản – thứ chi phối cách ta nhìn nhận thực tại. Tình trạng ‘bị ném vào’ – thực tế là ta thấy mình đang sống trong một thế giới mà ta không hề tạo ra hay lựa chọn. Các từ tiếng Anh phổ biến: State-of-mind được sử dụng trong bản dịch chuẩn của Macquarrie và Robinson trong Being and Time Hữu thể và Thời gian. Disposedness - nhấn mạnh tâm thế hoặc khả năng sẵn sàng tiếp nhận các tác động từ sự vật. Attunement - diễn tả tâm trạng ‘điều chỉnh’ chúng ta hòa nhịp với môi trường xung quanh, tựa như cách chỉnh dây một nhạc cụ. Findedness / Findingness - nhấn mạnh ý nghĩa trực diện của việc ‘tự thấy mình’ đang ở trong một tình huống cụ thể.-HHN] đã được lý giải—đó là sự phơi bày trạng thái Geworfenheit bị ném vào và sự phơi bày hiện thời về Hữu-thể-trong-thế-giới như một chỉnh thể—chúng ta cần lưu ý đến đặc tính thứ ba; đặc tính này đóng vai trò quan trọng nhất trong việc mang lại sự thấu hiểu sâu sắc hơn về die Weltlichkeit/ worldhood cái thế-gian của thế giới. Như đã đề cập trước đó,iii thế giới—vốn đã được phơi bày từ trước—cho phép ta bắt gặp những gì hiện hữu bên-trong-thế-giới. Trạng thái phơi bày tiên khởi này của thế giới thuộc về Hữu-thể-trong và được cấu thành một phần bởi tâm thế của ai đó. Việc để cho một sự vật được bắt gặp về cơ bản mang tính ‘quan sát bao quát’; đó không đơn thuần là cảm nhận hay nhìn chằm chằm vào sự vật ấy. Nó hàm ý besorgende Umsicht hay Umsicht des Besorgens sự quan tâm có tính bao quát [Chen ngang: besorgende Umsicht or Umsicht des Besorgens khái niệm ‘sự quan tâm có tính bao quát/cẩn trọng xung quanh’ của Heidegger mô tả cách thức thực tiễn, thường nhật mà chúng ta tương tác với những vật dụng hữu ích xung quanh mình thông qua việc trực tiếp sử dụng, thay vì quan sát một cách lý thuyết và tách biệt. Các thuật ngữ tiếng Đức then chốt Besorgen - quan tâm/Xử lý: Các thao tác thực tiễn hoặc sự chăm lo chủ động mà chúng ta dành cho các đồ vật và thiết bị thường ngày - những thứ ta cầm nắm, sử dụng và sửa chữa. Umsicht - nhìn nhận bao quát/Tầm nhìn thực tiễn - theo nghĩa đen là ‘nhìn quanh’, hay khả năng dự liệu thực tế giúp định hướng cách ta sử dụng công cụ; đó là nhận thức tự nhiên về sự sắp xếp và mối liên hệ giữa các vật thể trong không gian làm việc hoặc môi trường sống. Các ý tưởng cốt lõi – là thái độ ưu tiên thực tiễn hơn lý thuyết - trước hết, ta hiểu biết về thế giới thông qua việc sử dụng các vật dụng như cái búa chẳng hạn, chứ không phải bằng cách nhìn chằm chằm vào chúng như những đối tượng khoa học trung tính. Zuhandenheit - trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’ - trong sự quan tâm có tính bao quát, các công cụ thường lùi vào hậu cảnh; ta chỉ thực sự chú ý đến chúng khi chúng bị hỏng hoặc gây cản trở cho việc sử dụng. Định hướng thường nhật - Umsicht - giúp ta tìm đúng công cụ, địa điểm và thời điểm cho một công việc mà không cần đến những suy tư trừu tượng.- HHN] và mang đặc tính của việc bị tác động theo một cách nào đó; ta có thể thấy điều này rõ hơn từ quan điểm về tâm thế. Tuy nhiên, việc bị tác động bởi tính chất không dùng được, tính kháng cự, hay tính đe dọa của cái ‘sẵn-có-để-dùng’ chỉ trở nên khả thể về mặt bản thể luận khi mà Hữu-thể-trong tự thân nó đã được xác định về mặt hiện sinh từ trước sao cho những gì nó bắt gặp trong-thế-giới có thể ‘có ý nghĩa’ đối với nó theo cách thức đó. Việc một sự vật như vậy có thể ‘có ý nghĩa’ đối với nó bắt nguồn từ tâm thế của chính nó; và với tư cách là một tâm thế, nó đã mở ra thế giới—chẳng hạn như một thế giới có thể đe dọa đến nó.1 Chỉ khi ở trong tâm thế sợ hãi hoặc không sợ hãi, ta mới có thể nhận ra rằng cái gì đó sẵn-có-để-dùng ở môi trường xung quanh đang đe dọa ta. Sự cởi mở của Dasein đối với thế giới được cấu thành về mặt hiện sinh bởi sự hòa điệu của một tâm thế. Và chỉ vì các die Sinne ‘giác quan’ thuộc về mặt bản thể luận đối với một [tr.177] thực thể có phương thức Hữu thể là Hữu-thể-trong-thế-giới cùng với một tâm thế,2 nên chúng mới có thể bị một cái gì đó ‘chạm vào’ hoặc Sinn haben für ‘có cảm nhận về’ một cái gì đó theo cách mà thứ chạm vào chúng tự bộc lộ thông qua một tác động cảm xúc.3
Ngay cả dưới áp lực và sự kháng cự mạnh mẽ nhất, cũng sẽ không có bất kỳ tác động cảm xúc nào nảy sinh, và bản thân sự kháng cự đó cũng sẽ mãi không được phát hiện, nếu Hữu-thể-trong-thế-giới—cùng với tâm thế của nó—không tự đặt mình vào cái thế mà các thực thể trong-thế-giới ‘có ý nghĩa’ với nó theo cách mà các tâm trạng đã vạch ra từ trước. Về mặt hiện sinh, tâm thế hàm ý một sự phó thác mang tính khai mở đối với thế giới, từ đó ta có thể bắt gặp một điều gì đó có ý nghĩa đối với bản thân. Quả thực, từ quan điểm bản thể luận, theo một nguyên tắc chung, ta phải dành việc khám phá sơ khởi về thế giới cho ‘tâm trạng thuần túy’. [Martin Heidegger sử dụng thuật ngữ tiếng Đức die bloße Stimmung để mô tả cách thức mà Dasein hiện hữu người luôn hòa nhịp với thế giới ngay cả trước khi bất kỳ tư duy hay logic có ý thức nào diễn ra. Thuật ngữ Die Stimmung - Tâm trạng hoặc sự hòa nhịp, theo nghĩa đen là ‘lên dây’ nhạc cụ, thuật ngữ này biểu thị cách chúng ta cảm thấy mình cộng hưởng với thực tại. Die bloße Stimmung - Tâm trạng ‘thuần túy’ hay ‘đơn thuần’. Heidegger lập luận rằng một tâm trạng nguyên sơ, chưa qua suy tư lại thực hiện việc khám phá và phơi bày căn bản nhất về ‘Da’ cái ‘ở đó’ của chúng ta trong thế giới, theo cách sâu sắc hơn nhiều so với bất kỳ sự nhận thức bằng trí tuệ nào. Die Befindlichkeit – là trạng thái tâm thức hay sự hiện diện trong một tình thế. Đây là khái niệm mang tính bản thể luận nằm sau Stimmung, mô tả chính xác cách chúng ta sich befinden ‘thấy mình’ bị ném vào một tình huống cụ thể và đầy ý nghĩa.-HHN] Sự chiêm nghiệm thuần túy, ngay cả khi nó có thể thâm nhập vào tận cốt lõi sâu xa nhất trong Hữu-thể của một sự vật nào đó hiện-diện-vô-tri, không bao giờ có thể khám phá ra bất cứ điều gì tựa như mang tính đe dọa. Việc các tâm thế – dù về cơ bản có tính bộc lộ – lại khiến sự quan sát cẩn trọng thường nhật đi chệch hướng và phần lớn rơi vào lầm lạc, [Chen ngang: Martin Heidegger sử dụng khái niệm ‘lầm lạc’ (delusion) hay khả năng mắc sai lầm sâu sắc về Hữu thể được diễn đạt chính xác nhất qua các thuật ngữ tiếng Đức là Wahn - lầm lạc, cơn điên, hoặc ảo tưởng - và Verblendung – tình trạng mù quáng hoặc trạng thái bị mê hoặc. Heidegger không xem đây đơn thuần là những khiếm khuyết tâm lý, mà coi chúng là những trạng thái mang tính lịch sử-siêu hình gắn liền với Seinsvergessenheit - Lãng quên Hữu thể và Machenschaft tình trạng thao túng/ thống trị của kỹ thuật. Các khái niệm và ý nghĩa chính trong tiếng Đức - Der Wahn - Sự lầm lạc / Ảo tưởng - trong các tác phẩm chuyên khảo riêng như Beiträge zur Philosophie [Chen ngang của Chen ngang: Beiträge zur Philosophie (Vom Ereignis) —Những đóng góp cho triết học (Từ sự kiện) — là một tác phẩm triết học lớn của Martin Heidegger được viết kín trong giai đoạn từ năm 1936 đến 1938, nhưng mãi đến năm 1989 mới được chính thức ấn hành. Giới học giả xem đây là tác phẩm lớn thứ hai của ông, đánh dấu ‘bước ngoặt’ trong tư tưởng của ông sau cuốn Sein und Zeit – Hữu thể và Thời gian năm 1927. Beiträge zur Philosophie vạch ra con đường chuyển đổi triết học phương Tây từ ‘Tiên khởi’ - Hy Lạp cổ đại đến Nietzsche - sang một ‘Khởi đầu khác’, nhằm chữa trị sự bệnh ‘quên lãng Hữu thể’. Tác phẩm thể hiện sự chuyển dịch trọng tâm - thay vì phân tích hiện tượng học về con người/tồn tại-ở-đó (Dasein) như thời trẻ, Heidegger chuyển sang suy ngẫm về chính bản thể (das Seyn) dưới lăng kính của khái niệm Ereignis (Sự kiện/Sự đồng sở hữu). Cấu trúc độc đáo: Sách không được viết theo hệ thống logic hàn lâm thông thường mà chia thành các chương nối kết nhau như: Sự cộng hưởng, Sự tương tác, Bước nhảy, Nền tảng, và Vị thần cuối cùng.-HHN], Heidegger đề cập đến Wahn—ví dụ như ‘Wahn der Machbarkeit’ ảo tưởng về khả tính chế tạo hay làm chủ tuyệt đối - hoặc ‘Wahn der endgültigen Vermenschung’ - ảo tưởng nhân hóa/lấy con người làm trung tâm một cách toàn diện đối với thế giới. Ông viết rằng việc đối diện và trải qua những ảo tưởng như vậy, với tất cả sự thẳm sâu của chúng, đôi khi là điều cần thiết để đi đến chân lý đích thực. Die Verblendung – Tình trạng mù quáng / Sự lầm lạc do mê muội - thường được dùng để mô tả sự mù quáng về mặt siêu hình của con người hiện đại, nơi rechnendes Denken tư duy tính toán hiểu sai lệch mọi hữu thể chỉ như nguồn nguyên liệu sẵn sàng cho sự kiểm soát của con người, hoàn toàn mù mờ trước chân lý của chính Hữu thể. Der Wahn-sinn - Sự điên rồ / Tách biệt khỏi lẽ thường - Trong các ghi chú bên lề về thơ ca - chẳng hạn như về Georg Trakl, Heidegger truy tầm từ nguyên ‘Wahn’ trong tiếng Đức cổ wana - nghĩa là ‘không có’, qua đó mô tả nhà thơ hoặc nhà tư tưởng ‘điên rồ’ như một người đứng tách biệt khỏi sự đồng thuận tầm thường, suy đồi của das Man ‘cái Họ’, bởi họ hướng về một cội nguồn khác của Sinn ‘Ý nghĩa’ – được hiểu như một con đường hoặc phương hướng.-HHN] chính là một μὴ ὄν mē on phi-hữu/cái-không-là-gì khi đặt cạnh ý niệm về sự thấu hiểu ‘thế giới’ một cách tuyệt đối. Tuy nhiên, nếu đưa ra những đánh giá thiếu cơ sở về mặt bản thể luận như vậy, chúng ta sẽ hoàn toàn bỏ lỡ việc nhận ra đặc tính thực chứng về mặt hiện sinh của năng lực ảo tưởng. Chính khi ta nhìn ‘thế giới’ một cách bấp bênh và chập chờn theo những tâm trạng của mình, thì cái sẵn-có-để-dùng mới bộc lộ bản chất thế-gian đặc thù của nó – một bản chất không bao giờ cố định mà luôn thay đổi theo từng ngày. Khi nhìn thế giới dưới góc độ lý thuyết, ta đã làm mờ nhạt nó thành sự đồng nhất của cái thuần túy hiện-diện-vô-tri; dẫu rằng sự đồng nhất này cũng bao hàm vô số sự vật mới có thể được khám phá chỉ bằng cách mô tả đặc tính của chúng. Song, ngay cả θεωρία theoría lý thuyết thuần túy nhất cũng không thể hoàn toàn tách rời khỏi các tâm trạng; ngay cả khi ta quan sát cái hiện-diện-vô-tri bằng tư duy lý thuyết, nó cũng không tự bộc lộ đúng bản thân nếu lý thuyết ấy không để cho nó hiện diện trước ta trong sự an nhiên nán lại cùng sự vật, trong trạng thái ραστώνη rastoni thư thái/nhàn nhã và διαγωγή diagogí chiêm nghiệm/sống-với-thời-gian.iv Mọi xác định bằng nhận thức đều có Cấu thành hiện sinh-bản thể luận ở tâm thế của Hữu-thể-trong-thế-giới; tuy nhiên, việc chỉ ra điều này không được nhầm lẫn với việc phó mặc khoa học cho các ‘cảm giác’ ở bình diện ontic thực hữu.
[Tr.178] Các phương thức khác nhau của tâm thế và cách thức chúng liên kết với nhau ở các nền tảng không thể được diễn giải trong phạm vi vấn đề của nghiên cứu này. Các hiện tượng này từ lâu đã được biết đến rõ ràng ở bình diện ontic thực hữu qua các thuật ngữ như ‘cảm xúc’ và ‘cảm giác’, đồng thời luôn là chủ đề được triết học quan tâm. Không phải ngẫu nhiên mà Diễn giải có hệ thống sớm nhất về các cảm xúc còn lưu truyền đến ngày nay lại không được thực hiện trong khuôn khổ của ‘tâm lý học’. Aristotle đã nghiên cứu về πάθη các cảm xúc trong cuốn thứ hai của tác phẩm Rhetoric Tu từ học. Trái với quan điểm truyền thống – vốn coi tu từ học là môn học ‘ở trường’ – tác phẩm này của Aristotle cần được nhìn nhận như là hermeneutics phép tường giải có hệ thống đầu tiên về tính thường nhật của Hữu thể với nhau. Tính công cộng — với tư cách là loại Hữu thể thuộc về cái ‘họ’ (xem Mục 27) — không chỉ có phương thức riêng để mang một tâm trạng, mà còn cần đến các tâm trạng và tự ‘tạo ra’ chúng cho bản thân nó. Chính trong một tâm trạng như vậy và từ một tâm trạng như vậy mà kẻ diễn thuyết cất lời. Ông ta phải thấu hiểu các khả tính của tâm trạng để có thể khơi dậy và dẫn dắt chúng một cách đúng đắn. Việc lý giải ra sao về các cảm xúc được phát triển tiếp tục trong trường phái Khắc kỷ (Stoa) và được truyền lại cho thời hiện đại thông qua thần học của các Giáo phụ và thần học kinh viện là điều đã được biết rõ. Tuy nhiên, điều ít được chú ý là cách lý giải mang tính bản thể luận cơ bản về đời sống cảm xúc nói chung hầu như không đạt được bước tiến đáng kể nào kể từ thời Aristotle. Trái lại, các trạng thái cảm xúc và tình cảm thường bị xếp vào nhóm các hiện tượng tâm lý, đóng vai trò là loại hình thứ ba bên cạnh tư duy (biểu tượng hóa/hình dung) và ý chí; chúng bị hạ thấp xuống thành những hiện tượng chỉ mang tính chất đi kèm.
Một trong những công lao của nghiên cứu hiện tượng luận là việc đưa các hiện tượng này trở lại tầm nhìn của chúng ta một cách trọn vẹn và không bị gò bó. Không chỉ vậy, Scheler – khi tiếp nhận những thách thức từ Augustine và Pascalv – đã định hướng vấn đề này đến việc xem xét mối liên hệ nền tảng giữa các hành vi ‘biểu hiện’ và các hành vi ‘quan tâm’. Dẫu vậy, ngay cả ở đây, các nền tảng hiện sinh-bản thể luận về hiện tượng hành vi nói chung vẫn còn khá mơ hồ. Một tâm thế không chỉ bộc lộ Dasein trong trạng thái ‘bị ném vào’ và sự quy phục của nó trước thế giới vốn đã được hiển lộ cùng với chính Hữu thể của nó; mà bản thân nó còn là một loại Hữu thể mang tính hiện sinh, trong đó Dasein liên tục phó mặc chính mình cho ‘thế giới’ và để cho ‘thế giới’ trở nên ‘quan trọng’ đối với mình theo lối bằng cách nào đó Dasein lại lẩn tránh chính bản thân mình. Cái cấu thành hiện sinh của sự lẩn tránh như vậy sẽ trở nên rõ ràng thông qua hiện tượng ‘đọa lạc’. Tâm thế là một phương thức hiện sinh cơ bản mà qua đó Dasein là cái ‘ở đó’ của chính mình. Nó không chỉ đặc tả Dasein về mặt bản thể luận, mà về nguyên tắc, [tr.179] nhờ vào những gì nó hiển lộ, nó còn mang ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận đối với việc phân tích hiện sinh. Giống như bất kỳ cách Diễn giải bản thể luận nào, phân tích này – có thể nói là – chỉ có thể ‘lắng nghe’ một thực thể đã được hiển lộ từ trước xét về phương diện Hữu thể của nó. Và nó sẽ bám sát vào các khả tính bộ lộ đặc thù và sâu rộng nhất của Dasein để thu thập thông tin về thực thể này từ chính những khả tính đó. Diễn giải hiện tượng luận phải tạo điều kiện để chính Dasein tự bộc lộ mọi sự vật một cách bản nguyên; nói cách khác, nó phải để cho Dasein tự diễn giải chính mình. Lối Diễn giải như vậy chỉ tham gia vào quá trình bộc lộ này nhằm nâng nội dung hiện tượng của những gì đã được bộc lộ lên tầm khái niệm, và thực hiện điều đó về phương diện hiện sinh. Sau này (Mục 40)4 chúng ta sẽ diễn giải lo âu như một tâm thế cơ bản của Dasein, một trạng thái có tầm quan trọng theo quan điểm hiện sinh-bản thể luận; với mục đích đó, giờ đây chúng ta sẽ minh họa hiện tượng tâm thế một cách cụ thể hơn thông qua hình thái xác định của nó là nỗi sợ.
30. Nỗi sợ như một Phương thức của Tâm thế
Có ba góc nhìn để xem xét hiện tượng nỗi sợ. Chúng ta sẽ phân tích: (1) cái mà ta sợ hãi khi đối diện với nó, (2) hành vi sợ hãi, và (3) điều mà ta lo sợ về nó. Những cách nhìn nhận về nỗi sợ này không phải là ngẫu nhiên; chúng gắn kết chặt chẽ với nhau. Thông qua chúng, cấu trúc tổng quát của các tâm thế được làm sáng tỏ. Chúng ta sẽ hoàn tất phần phân tích bằng cách đề cập đến các khả năng biến đổi của nỗi sợ; mỗi khả năng này tương ứng với những yếu tố khác nhau trong cấu trúc của nỗi sợ. Cái mà ta sợ hãi khi đối diện với nó – tức ‘cái đáng sợ’,5 luôn là một điều gì đó mà ta bắt gặp ngay trong-thế-giới, và nó mang một trong các loại Hữu thể sau: tính-sẵn-có-để-dùng, sự hiện-diện-vô-tri, hoặc Dasein-với. Chúng ta sẽ không đưa ra một mô tả ontic thực hữu về những thực thể thường xuyên hoặc phần lớn mang tính ‘đáng sợ’; thay vào đó, chúng ta sẽ định nghĩa cái đáng sợ xét về phương diện hiện tượng, tức là định nghĩa chính tính chất đáng sợ của nó. Khi sợ hãi, ta bắt gặp điều gì thuộc về bản chất của cái đáng sợ? Cái mà ta sợ hãi khi đối diện với nó có thể được mô tả là mang tính đe dọa. Ở đây, cần xem xét một số điểm: 1). Điều ta bắt gặp mang tính chất gây hại như một kiểu can dự của nó. Nó tự bộc lộ trong một bối cảnh của các mối can dự. 2). Đối tượng chịu tác động của tính chất gây hại này là một phạm vi xác định những gì có thể bị nó ảnh hưởng; do đó, chính tính chất gây hại này cũng trở nên xác định và xuất phát từ một vùng xác định. 3). Bản thân vùng đó được nhận biết rõ ràng, và cả cái đang từ đó tiến đến cũng vậy; nhưng điều đang đến từ nó lại mang một nét gì đó ‘kỳ quặc’. 6 4). Cái gây hại—với tư cách là thứ đe dọa ta—vốn chưa nằm trong [tr180] tầm với [trong phạm vi có thể kiểm soát], nhưng nó đang tiến lại gần. Trong bước tiến lại gần đó, tính chất gây hại tỏa ra, và chính bản chất đe dọa của nó nằm ở đó. 5). Bước tiến lại gần này diễn ra ngay trong phạm vi gần. Quả thực, một điều gì đó có thể gây hại ở mức độ cao nhất và thậm chí không ngừng tiến lại gần; nhưng nếu nó vẫn còn ở xa, thì tính chất đáng sợ của nó còn bị che khuất. Tuy nhiên, nếu điều gây hại đó tiến sát và hiện diện ngay kề bên, thì nó trở nên đe dọa: nó có thể chạm tới ta, nhưng cũng có thể không. Khi nó tiến lại gần, trạng thái ‘có thể chạm tới, nhưng rốt cuộc lại có thể không’ này trở nên gay gắt hơn. Ta thốt lên: ‘Thật đáng sợ’. 6). Điều này hàm ý rằng cái gây hại—khi đang tiến lại gần—mang theo cái khả tính hiển nhiên là nó có thể không ập đến mà chỉ lướt qua ta; nhưng thay vì làm giảm bớt hay dập tắt nỗi sợ, điều này lại càng làm tăng thêm nỗi sợ. Trong chính hành vi sợ hãi theo đúng nghĩa, cái mà ta đã mô tả là mang tính đe dọa được giải phóng và được phép trở nên rất hệ trọng đối với ta. Không phải ta xác định một malum futurum tai ương tương lai rồi mới bắt đầu sợ nó. Nhưng nỗi sợ cũng không phải chỉ ghi nhận cái đang tiến lại gần sau khi sự việc đã xảy ra; nó khám phá ra điều đó ngay từ trước thông qua tính chất đáng sợ của nó. Và trong kinh hãi, nỗi sợ có thể nhìn thẳng vào điều đáng sợ một cách tường minh, và tự làm cho nó tự thân hiểu rõ. Sự quan sát thấu đáo nhận thấy điều đáng sợ bởi vì nó có nỗi sợ với tư cách là tâm thế của mình. Hành vi sợ hãi—với tư cách là một khả tính tiềm tàng của Hữu-thể-trong-thế-giới trong một tâm thế (ta gọi khả tính này là ‘trạng thái dễ sợ’—đã mở ra thế giới, theo nghĩa từ thế giới đó, một điều gì đó như là ‘cái đáng sợ’ có thể tiến lại gần. Cái tiềm tính của việc tiến lại gần này tự nó được giải phóng nhờ vào tính không gian hiện sinh cốt yếu của Hữu-thể-trong-thế-giới.
Điều mà nỗi sợ hướng tới chính là thực thể đang sợ hãi—tức Dasein.7 Chỉ một thực thể mà trong chính Hữu thể của nó, bản thân Hữu thể ấy là một vấn đề, thì mới có thể biết sợ. Hành vi sợ hãi phơi bày thực thể này như là một kẻ đang bị đe dọa và bị bỏ mặc cho chính mình. Nỗi sợ luôn bộc lộ Dasein trong cái Hữu thể ‘ở đó’ của nó, ngay cả khi sự bộc lộ ấy diễn ra với các mức độ tường minh khác nhau. Nếu ta lo sợ cho nhà cửa và tổ ấm của mình, thì điều này vẫn không thể được viện dẫn như một trường hợp trái ngược với cách xác định nêu trên về cái mà ta sợ hãi; bởi lẽ, với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein trong mọi trường hợp đều là một Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm.8 Trước hết và phần lớn, Dasein tồn tại [tr.181] trong khuôn khổ của những gì nó quan tâm. Khi điều này bị đe dọa, thì cái Hữu-thể-bên-cạnh cũng bị đe dọa theo. Nỗi sợ bộc lộ Dasein chủ yếu theo một phương thức mang tính tước bỏ. Nó làm ta bối rối và khiến ta ‘mất phương hướng’. Nỗi sợ khép lại cái Hữu-thể-trong đang bị đe dọa của ta, nhưng đồng thời lại cho phép ta nhìn thấy nó, để rồi khi nỗi sợ qua đi, Dasein buộc phải định hướng lại chính mình. Dù theo cách tước bỏ hay thực chứng, thì việc lo sợ về một điều gì đó—tức là nỗi sợ hãi trước một sự vật—luôn bộc lộ một cách đồng bản nguyên cả các thực thể trong-thế-giới lẫn cái Hữu-thể-trong: các thực thể trong-thế-giới hiện ra như tác nhân đe dọa, còn cái Hữu-thể-trong hiện ra như đối tượng bị đe dọa. Nỗi sợ là một phương thức của tâm thế. Người ta cũng có thể lo sợ về Kẻ khác, và khi đó ta nói đến việc ‘lo sợ cho’ họ. Nỗi lo sợ cho kẻ khác này không làm mất đi nỗi sợ của chính họ. Khả tính đó đã bị loại trừ, bởi lẽ cái Kẻ khác kia – đối tượng mà ta lo sợ cho nó – có thể lại hoàn toàn không cảm thấy sợ hãi chút nào. Chính khi Kẻ khác không sợ hãi và lao vào điều đang đe dọa mình một cách liều lĩnh, thì ta lại càng lo sợ cho họ nhất. ‘Lo-sợ-cho’ là một cách chia sẻ một đồng- tâm-thể với Kẻ khác, nhưng không nhất thiết là cùng-sợ-với hay thậm chí là một nỗi sợ với-một-kẻ-khác.9 Người ta có thể ‘lo sợ về’ điều gì đó mà không nhất thiết phải ‘thấy-sợ’. Tuy nhiên, khi xét kỹ hơn, ‘lo sợ về’ thực chất lại là ‘thấy-sợ-cho-chính-mình’.10 Ở đây, điều khiến ta ‘lo ngại’ chính là cái Hữu-thể-với với Kẻ khác –vốn có nguy cơ bị tách rời khỏi ta.11 Điều đáng sợ không nhắm trực tiếp vào kẻ đang cùng sợ hãi với kẻ khác. ‘Lo-sợ-về’ hiểu rằng theo một nghĩa nào đó, bản thân nó không bị tác động trực tiếp, nhưng nó vẫn chịu đồng-tác động chừng nào mà cái Dasein-với – thứ mà nó lo sợ cho – còn bị tác động. Do đó, lo-sợ-về không phải là một dạng yếu hơn của sợ-hãi. Vấn đề ở đây thuộc về các phương thức hiện sinh, chứ không phải các mức độ của ‘sắc thái cảm tính’. Lo-sợ-về không đánh mất tính chân thực đặc thù của nó ngay cả khi người ta không ‘thực sự’ cảm thấy sợ hãi.
Có thể có những biến thể trong các yếu tố cấu thành nên hiện tượng sợ hãi trọn vẹn. Theo đó, những khả tính khác nhau của Hữu thể sẽ xuất hiện trong quá trình sợ hãi. Việc-đưa-lại-gần thuộc về cấu trúc của cái đang đe dọa như một đối tượng có thể được bắt gặp. Nếu một điều gì đó đe dọa bất ngờ ập đến với lối Hữu-thể-trong-thế-giới đầy quan tâm (một mối đe dọa mang tính chất ‘chưa phải lúc này, nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào’), thì nỗi sợ sẽ chuyển thành Erschrecken hoảng sợ. Vì vậy, đối với cái đang đe dọa, ta cần phân biệt giữa cách thức gần gũi nhất mà nó tự đưa lại gần, và phương thức đưa-lại-gần này được bắt gặp – tức là tính chất bất ngờ của nó. Điều khiến ta hoảng sợ, xét về mặt trực tiếp và gần gũi nhất, lại chính là một điều gì đó rất đỗi quen thuộc. Nhưng mặt khác, [tr.182] nếu điều đe dọa mang tính chất hoàn toàn xa lạ, thì nỗi sợ trở thành nỗi khiếp hãi. Và khi điều đe dọa ấy chứa đựng sự khiếp hãi, đồng thời ập đến bất ngờ gây chấn động, thì nỗi sợ trở thành kinh hoàng [Entsetzen]. Còn có những biến thể khác của nỗi sợ mà ta biết đến như sự rụt rè, e ngại, nỗi lo âu mơ hồ hay sự giật mình. Mọi biến thái của nỗi sợ, với tư cách là những khả năng của một tâm thế, đều chỉ ra rằng Dasein – với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới – mang tính furchtsam ‘hay sợ hãi’. Tính ‘hay sợ hãi’ này không được hiểu theo nghĩa ontic thực hữu như một khuynh hướng thực tế mang tính ‘cá biệt hóa’,12 mà như một khả tính hiện sinh thuộc về tâm thế cốt yếu của Dasein nói chung, mặc dù tất nhiên đó không phải là khả tính duy nhất.
31. Hữu-thể-ở-đó với tư cách Thấu hiểu
Tâm thế là một trong những cấu trúc hiện sinh mà qua đó, cái Hữu thể của cái ‘ở-đó’ duy trì chính nó. Đồng bản nguyên với nó trong việc cấu thành nên cái Hữu thể này chính là thấu hiểu. Một tâm thế luôn có cái thấu hiểu của nó, ngay cả khi nó chỉ kìm nén thấu hiểu ấy lại. Thấu hiểu luôn mang theo tâm trạng của nó. Nếu ta Diễn giải thấu hiểu như một cấu trúc hiện sinh nền tảng, [Chen ngang: Existentiale/ Existenzial là một đặc điểm cấu trúc cơ bản, có tính tiên nghiệm, định hình bản chất hiện hữu/Dasein con người. Đây là những đặc tính bản thể luận của con người, khác biệt hoàn toàn với các thuộc tính vật lý Kategorien thường thấy ở các sự vật thông thường. Ý nghĩa cốt lõi và sự phân biệt: i) Ontological Bản thể luận so với ontic thực hữu cụ thể - một existentiale xác định khung cấu trúc tạo điều kiện cho trải nghiệm của con người, chứ không đơn thuần là một đặc điểm thực tế hay vật chất thuộc phạm trù existentiell thực hữu; ii) Không phải là một thuộc tính - Dasein hiện hữu người không chỉ đơn thuần ‘sở hữu’ những đặc điểm này; thay vào đó, Dasein chính là sự vận hành của các cấu trúc ấy. Các ví dụ tiêu biểu về Existentialia các đặc điểm cấu trúc hiện sinh cơ bản: i) In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới: Điều kiện nền tảng cho thấy con người vốn dĩ gắn liền với một môi trường đầy ý nghĩa, chứ không phải là những tâm trí biệt lập đang quan sát một thực tại tách biệt; ii) Mitsein Hữu-thể-với: Thực tại cấu trúc cho thấy tồn tại người về cơ bản mang tính xã hội và cùng tồn tại với những kẻ khác, ngay cả khi họ đang ở một mình về mặt thể xác: Befindlichkeit - Tính cảm xúc / Tâm thế) - Cách con người luôn thấy mình bị đặt vào một tâm trạng hoặc trạng thái cảm xúc nhất định, điều chi phối cách thế giới trở nên có ý nghĩa đối với họ. Verstehen - Sự thấu hiểu - nắm bắt nền tảng về các khả tính thực tiễn và cách thức triển khai các dự phóng, thay vì chỉ là một hành động thuần túy mang tính trí tuệ hay nhận thức. Verfallen - Sa ngã: Khuynh hướng của hiện hữu người là bị cuốn vào những điều xao nhãng thường nhật, thiếu tính chân thực của đám đông hay các chuẩn mực xã hội - cái họ - das Man.-HHN] điều này cho thấy hiện tượng ấy được quan niệm như một phương thức cơ bản trong Hiện-hữu của Dasein. Mặt khác, ‘thấu hiểu’ theo nghĩa một loại hình nhận thức khả dĩ bên cạnh các loại hình khác (ví dụ, phân biệt với ‘giải thích’ thì cũng phải được diễn giải – giống như sự giải thích – như một hệ quả hiện sinh bắt nguồn từ sự thấu hiểu nguyên gốc vốn là một thành tố cấu thành nên cái Hữu thể của cái ‘ở đó’ nói chung.
Suy cho cùng, ta đã từng bắt gặp sự thấu hiểu bản nguyên này trong các cuộc khảo sát trước đây, mặc dù ta chưa đưa nó vào chủ đề đang thảo luận một cách tường minh. Việc nói rằng trong quá trình tồn tại, Dasein chính là cái ‘ở đó’ của nó, cũng tương đương với việc nói rằng thế giới đang ‘ở đó’; cái Hữu-thể-ở-đó của nó chính là Hữu-thể-trong. Và cái sau cũng chính là ‘ở đó’, với tư cách là cái mà vì nó, mà Dasein hiện hữu. Trong cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’, Hữu-thể-trong-thế-giới đang tồn tại được bộc lộ theo đúng nghĩa, và trạng thái bộc lộ này chính là cái mà chúng ta gọi là ‘thấu hiểu’. Khi thấu hiểu cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’, thì ý nghĩa vốn có nền tảng tại đó cũng đồng thời được bộc lộ. Trạng thái bộc lộ của sự thấu hiểu—vốn là trạng thái bộc lộ đồng bản nguyên của cả cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ lẫn trạng thái bộc lộ ý nghĩa—thuộc về tổng thể tính của Hữu-thể-trong-thế-giới. Ý nghĩa chính là cơ sở để thế giới được bộc lộ đúng nghĩa. Việc nói rằng cả cái ‘vì-lợi-ích-của-cái-mà’ và ý nghĩa đều được bộc lộ trong Dasein có nghĩa là: Dasein là thực thể, với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới, thì bản thân nó là một vấn đề đối với chính nó.
[Tr.183] Khi bàn luận ở bình diện ontic thực hữu, đôi khi ta dùng cụm từ ‘hiểu một điều gì đó’ với nghĩa ‘có khả năng xoay xở với nó’, ‘đủ sức đương đầu với nó’ hay ‘có năng lực thực hiện nó’.13 Bằng thấu hiểu – với tư cách là một cấu trúc hiện sinh – thì đối tượng mà ta có năng lực như vậy không phải là một ‘cái gì đó’, mà chính là Hữu thể với tư cách đang tồn tại. Kiểu Hữu thể mà Dasein sở hữu – với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể – nằm ngay trong thấu hiểu xét về mặt hiện sinh. Dasein không phải là một thực thể hiện-diện-vô-tri vốn sở hữu năng lực cho một cái gì đó như một phần thêm vào; trước hết nó là Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng, thường được diễn giải là ‘tiềm-năng-cho- Hữu-thể’ hay khả năng hiện thực hóa tiềm năng của chính mình: i) Khái niệm này cho thấy Dasein tồn tại người được định nghĩa bởi những gì nó có thể trở thành, thay vì bởi một tập hợp các đặc điểm cố định, tĩnh tại. Seinkönnen nghĩa đen là ‘có thể hiện hữu’ hay ‘có-thể-là’, biểu thị trạng thái cơ bản của Dasein là luôn phóng chiếu chính mình vào các khả tính trong tương lai; ii) Möglichkeit Khả tính - Heidegger không xem đây chỉ là một phạm trù logic đơn thuần, mà là một cách thức chủ động, mang tính bản thể luận của tồn tại; iii) Entwurf Sự phóng chiếu - quá trình chủ động định hình Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng của chính mình; iv) Các khía cạnh chính gồm Tương lai mở - Dasein không bao giờ là một thực thể hoàn tất; nó luôn hiện hữu như một tập hợp các tiềm năng mở; Tính chân thực - Lựa chọn các khả tính của mình một cách đích thực thay vì sao chép xã hội.-HHN] Trong mọi trường hợp, Dasein chính là cái có thể trở thành khả tính của nó, và nó hiện hữu theo cách thức mà nó thực hiện khả năng của chính mình. Cái Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng vốn mang tính cốt yếu đối với Dasein luôn gắn liền với các phương thức quan tâm ân cần đến những Kẻ khác và bận tâm đến ‘thế giới’ – như chúng ta đã mô tả; và trong tất cả những điều đó, và luôn luôn như vậy, nó gắn liền với tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein hướng về chính nó, vì lợi ích của chính nó. Cái Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng mà Dasein thể hiện ở bình diện hiện sinh trong mọi trường hợp cần phải được phân biệt rạch ròi với cả khả tính logic thuần túy lẫn tính ngẫu nhiên của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri – nơi mà sự việc này hay sự việc kia có thể ‘xảy ra’.14 Là một phạm trù phương thức của cái hiện-diện-vô-tri, khả tính biểu thị cái chưa mang tính hiện thực và cái không mang tính tất yếu vào bất kỳ thời điểm nào. Nó đặc trưng cho cái chỉ đơn thuần là khả năng. Xét về mặt bản thể học, nó nằm ở cấp độ thấp hơn so với tính hiện thực và tính tất yếu. Mặt khác, khả tính với tư cách là một existentiale yếu tố cấu trúc hiện sinh lại là phương thức thực chứng bản nguyên và tối hậu nhất để đặc trưng hóa Dasein về phương diện bản thể luận. Cũng như đối với tính hiện hữu (existentiality) [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Existenzialität Trạng thái hiện sinh/Tính hiện sinh là khung cấu trúc tiên nghiệm của con người, định nghĩa Dasein hiện hữu người như một năng lực năng động để thấu hiểu, lựa chọn và phóng chiếu các tiềm năng của chính mình. Đây là điều kiện bản thể luận quy định rằng tồn tại người luôn là một vấn đề đối với chính nó. Các điểm khác biệt chính đó là: i) Cấp độ Bản thể luận khác với cấp độ ontic thực hữu - Tính hiện sinh thuộc về cấp độ bản thể luận. Nó phân tích các điều kiện cấu trúc nền tảng làm nên khả tính của con người, khác với các existentiell sự kiện hiện sinh cụ thể—vốn là những lựa chọn mang tính cá nhân, cụ thể và diễn ra trong đời sống thường nhật; ii) Không phải là một Bản chất: Khác với các khách thể thông thường hay những khái niệm bất biến vốn có một Washeit ‘cái-gì-tính’ (bản chất) [Chen ngang của Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, Washeit hay quiddity ‘tính cái gì’ biểu thị khái niệm siêu hình học truyền thống về bản chất—nhằm giải đáp câu hỏi về việc một sự vật là gì. Washeit là từ dịch của thuật ngữ Latinh quidditas, đại diện cho các thuộc tính cốt lõi hoặc bản chất chung khiến một thực thể trở thành loại đối tượng cụ thể vốn là bản thân nó - tức ‘tính-là-gì’ của nó. Về mặt lịch sử, bản thể luận truyền thống thường đặt Washeit/ Essentia hay ‘tính cái gì’ song hành với Daßheit/Existentia hay ‘Tính hiện hữu/sự hiện diện’ để giải thích cấu trúc của các đối tượng thông thường. Heidegger cho rằng việc phân tích các thực thể qua lăng kính cứng nhắc của Washeit sẽ coi Dasein hiện hữu người như thể nó chỉ là res một vật thể được chế tạo hay một khuôn mẫu phổ quát. Cái ‘Ai’ so với cái ‘Cái gì’ - Ông đối lập Washeit ‘Tính-là-gì’ của một đối tượng thông thường với Werheit ‘Tính-là-ai’ hay bản chất cái ‘Ai’ của hiện hữu người, qua đó nhấn mạnh rằng con người được định nghĩa bởi khả tính đích thực và hiện hữu mang tính cá nhân thay vì một bản chất tĩnh tại.-HHN] được định sẵn trước khi chúng tồn tại, bản chất của Dasein chính là tồn tại của nó cùng với sự tự do định hình tương lai của mình. Các phạm trù hiện sinh Existentials: Tính hiện sinh được phân tách thành các cấu trúc cơ bản gọi là các phạm trù hiện sinh—chẳng hạn như sự thấu hiểu, trạng thái tâm thế, sự diễn ngôn và sự quan tâm—những yếu tố phác họa cách thức con người tương quan với thế giới và thời gian.- HHN] nói chung, bước đầu chúng ta chỉ có thể chuẩn bị cho việc giải quyết vấn đề về khả tính. Cơ sở hiện tượng học để nhận diện nó được cung cấp bởi thấu hiểu – vốn là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính khai mở.
Khả tính, với tư cách là một existentiale yếu tố cấu trúc hiện sinh, không biểu thị một tiềm-năng-cho-Hữu-thể lơ lửng, tách biệt theo nghĩa libertas indifferentiae ‘tự do dửng dưng’. Trong mọi trường hợp, Dasein – với bản chất luôn mang một tâm thế – đã tự đặt mình vào những khả tính xác định. Với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể đang hiện hữu, nó đã để cho những khả tính như vậy trôi qua; nó liên tục khước từ các khả tính thuộc về Hữu thể của chính mình, hoặc nắm lấy chúng và phạm sai lầm.15 Nhưng điều này có nghĩa Dasein là một Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng, vốn được phó thác cho chính mình—một khả tính bị ném vào thế giới một cách triệt để. Dasein là khả tính của Hữu-thể-tự-do hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của nó. Cái Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng của nó trở nên minh bạch đối với chính nó theo những cách thức và mức độ khả thể khác nhau. Sự thấu hiểu chính là cái Hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể đó; nó [tr.184] không bao giờ là một điều gì đó còn dang dở hay chưa hiện-diện-vô-tri, mà—với tư cách là một cái gì đó về bản chất vốn không bao giờ hiện-diện-vô-tri —nó ‘là’ cùng với cái Hữu thể của Dasein theo nghĩa tồn tại. Dasein là cái luôn luôn thấu hiểu (hoặc ngược lại, không thấu hiểu) thứ mà nó phải hiện hữu theo cách này hay cách khác. Với sự thấu hiểu như vậy, nó ‘biết’ mình có khả năng mà tiềm-năng-cho-Hữu-thể là chính cái đó.16 Cái ‘biết’ này không nảy sinh từ một quá trình tự-tri giác nội tại, mà thuộc về cái Hữu thể của cái ‘ở đó’, một trạng thái về bản chất chính là sự thấu hiểu. Và chỉ vì Dasein, thông qua sự thấu hiểu, chính là cái ‘ở đó’ của mình, nên nó mới chệch hướng và không nhận ra chính mình. Chừng nào sự thấu hiểu còn đi kèm với tâm thế—do đó, theo nghĩa hiện sinh, bị phó mặc cho tính ‘bị ném’ vào thế giới—thì Dasein luôn đi chệch hướng và không nhận ra chính mình. Vì vậy, trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình, nó bị phó thác cho cái khả tính phải tự tìm lại chính mình thông qua các khả tính của bản thân nó.
__________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 'Diese Angii.nglichkeit grindet in der Befindlichkeit, als welche sie die Welt zum Beispiel auf Bedrohbarkeit hin erschlossen hat.' Đại từ 'sie' chỉ xuất hiện trong các phiên bản mới hơn.
2 'befindlichen In-der-Welt-seins'. Trong các chương trước, chúng ta thường dịch ‘befindlich’ bằng những cách diễn đạt như ‘cần tìm thấy’, v.v. Xem, chẳng hạn, H. 67, 70, ở trên, trong đó tính từ- được áp dụng cho một số sự vật hầu như không mang tính chất của Dasein. Tuy nhiên, trong chương này, từ này gắn liền với nghĩa đặc biệt của ‘Befindlichkeit’ là ‘trạng thái tâm trí’, và sẽ được dịch bằng các cụm từ như ‘với một trạng thái tâm trí’, ‘có một trạng thái tâm trí’, v.v.
3 Trong câu này, Heidegger đã lưu ý đến hai cách sử dụng từ ‘Sinn’ mà có thể được diễn đạt bằng từ ‘giác quan’ nhưng khó có thể bằng từ ‘ý nghĩa’: (1) ‘die Sinne’ là ‘năm giác quan’ hoặc ‘các giác quan’ mà người ta có khi ‘tỉnh táo’; (2) ‘der Sinn’ là ‘giác quan’ mà người ta có ‘đối với’ một cái gì đó— ‘giác quan về quần áo’, ‘giác quan về cái đẹp’, ‘giác quan về sự thiêng liêng’, v.v. Xem thêm phần thảo luận về ‘Sinn’ ở H. 1 5 1 f. bên dưới.
4. Các ấn bản đầu tiên trích dẫn Mục 39 thay vì Mục 40. Điều này đã được sửa trong danh sách lỗi chính tả.
5 ‘Das Wovor der Furcht, das Furchtbare…’
6 ‘…mit dem es nicht "geheuer" ist.’
7 ‘Das Worum die Furcht fürchtet, ist das sich fürchtende Seiende selbst, das Dasein.’ Mặc dù việc dịch cụm từ ‘das Worum der Furcht’ là ‘điều mà người ta lo sợ về nó’ (that which one fears about) có vẻ thuận tiện, nhưng cụm từ này cần được hiểu theo nghĩa hẹp hơn so với cách hiểu thông thường trong tiếng Anh. Điều mà Heidegger thường nhắm đến ở đây chính là bản thân người mà vì họ hoặc vì lợi ích của họ mà ta cảm thấy lo sợ. (Xem thêm các nhận xét của chúng tôi về từ ‘um’ trong chú thích 1, tr. 93, H. 65 và chú thích 2, tr. 98, H. 69 ở trên.) Do đó, cụm từ ‘fürchten um’ mang nghĩa gần với cách diễn đạt ‘lo sợ cho’ (fear for) hơn là ‘lo sợ về’ (fear about) theo nghĩa thông thường. Tuy nhiên, ta sẽ sớm thấy rằng Heidegger cũng sử dụng cụm từ ‘fürchten für’, mà trong đó ‘fear for’ (lo sợ cho) dường như là bản dịch tự nhiên nhất. Cần lưu ý rằng điều mà ông đề cập đến khi dùng cụm từ này—cụ thể là việc ta lo sợ cho Người Khác—chỉ là một trường hợp đặc biệt của ‘fearing for’ (lo sợ cho) theo nghĩa thông thường trong tiếng Anh, và cũng đồng thời là một trường hợp đặc biệt của khái niệm mà chúng tôi sẽ gọi là ‘fearing about’ (lo sợ về) trong bản dịch này.
8 'Scin bei'. Ở đây bản dịch thông thường của chúng ta, 'Sống bên cạnh', không tạo ra được sự kết nối. Một độc giả người Đức sẽ nhớ ngay rằng 'bei' có thể có nghĩa là 'ở nhà' giống như 'chez' trong tiếng Pháp. Xem ghi chú của chúng tôi g, p. 8o, H. 54 ở trên.
9 ‘Fürchten für…ist eine Weise der Mitbefindlichkeit mit den Anderen, aber nicht notwendig ein Sich-mitfl.irchten oder gar ein Miteinanderfürchten.’
10 'ein Sich fürchten'. Cho đến nay chúng tôi đã dịch 'sich fürchten' với nhiều dạng 'sợ hãi' khác nhau, vốn là ý nghĩa thông thường của nó trong tiếng Đức thông thường. Tuy nhiên, trong đoạn văn này, việc nhấn mạnh vào đại từ phản thân 'sich' rõ ràng có nghĩa là 'sợ hãi chính mình'.
11 ‘Befürchtet’ ist dabei das Mitsein mit dem Anderen, der emem entnssen cai ngục konnte.'
12 ‘…im ontischen Sinne einer faktischen, "vereinzelten" Veranlagung . . .' Trong khi động từ 'vereinzeln' thường có nghĩa là 'cô lập', Heidegger thường không sử dụng nó theo nghĩa này. Quả thực ông đối chiếu nó với động từ 'isolieren'. Cf. H. 188 bên dưới.
13 ‘…in der Bedeutung von “einer Sache, ‘etwas können’.” Cụm từ 'vorstehen (quản lý, chịu trách nhiệm, là 'ihr gewachsen sein', ở đây được kết nối với 'verstehen' ('hiểu').
14 ‘…von der Kontingenz eines Vorhandenen, sofern mit dieem das und jenes ‘pasaieren” kann.’
15 ‘…ergreift sie und vergreift sich.’
16 'Ais solches Verstehen "weiss" es, woran es mit ihm selbst, das heisst seinem Seinkonnen ist.'
