Powered By Blogger

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (IV)

Maurice Merleau-Ponty

Người dịch: Hà Hữu Nga

Cơ thể như một Đối tượng và Sinh lý học Cơ giới luận

[Tr.84] Định nghĩa về đối tượng, như chúng ta đã thấy, là nó tồn tại partes extra partes các bộ phận bên ngoài các bộ phận, và do đó nó chỉ thừa nhận giữa các bộ phận của nó, hoặc giữa chính nó và các đối tượng khác, các mối quan hệ bên ngoài và mang tính cơ học, cho dù theo nghĩa hẹp của chuyển động được nhận và truyền đi, hay theo nghĩa rộng hơn của mối quan hệ giữa chức năng và biến số. Khi người ta muốn đưa sinh vật vào vũ trụ của các đối tượng và do vậy phong tỏa kín vũ trụ đó, cần phải chuyển đổi hoạt động của cơ thể sang ngôn ngữ của chính nó và khám phá, bên dưới hành vi, sự phụ thuộc tuyến tính của kích thích và receptor thụ quan, và Empfinder cảm biến.1 Tất nhiên, người ta nhận ra rằng trong vòng tuần hoàn của hành vi, các hình thức cụ thể mới xuất hiện, và lý thuyết về năng lượng thần kinh đặc hiệu, chẳng hạn, chắc chắn đã ban cho sinh vật sức mạnh biến đổi thế giới vật chất. Nhưng trong thực tế, nó gán cho hệ thần kinh sức mạnh huyền bí của việc tạo ra các cấu trúc khác nhau trong kinh nghiệm của chúng ta, và trong khi thị giác, xúc giác và thính giác là vô số cách thức để tiếp cận đối tượng, thì các cấu trúc này lại được chuyển đổi thành các phẩm chất cô đọng bắt nguồn từ sự phân biệt cục bộ giữa các cơ quan được sử dụng. Do đó, mối quan hệ giữa [tr.85] kích thích và tri giác có thể vẫn rõ ràng, khách quan, và sự kiện tâm lý-thể chất có cùng bản chất với các mối quan hệ nhân quả tồn tại ‘trong thế giới’. Sinh lý học hiện đại không còn viện đến những giả định này nữa. Nó không còn liên kết các phẩm chất khác nhau của cùng một giác quan và dữ liệu của các giác quan khác nhau với các công cụ vật chất riêng biệt. Trong thực tế, các tổn thương trung tâm và thậm chí tổn thương cả các conductors đường dẫn không dẫn đến mất đi một số phẩm chất cảm giác hoặc một số dữ liệu cảm giác nhất định, mà dẫn đến mất đi sự phân biệt về chức năng. Chúng ta đã thảo luận về điều này: bất kể vị trí tổn thương trong các đường dẫn cảm giác và nguồn gốc của nó là gì, người ta đều quan sát thấy, ví dụ, sự suy giảm độ nhạy cảm với màu sắc; ngay từ đầu, tất cả các màu đều bị ảnh hưởng, sắc thái cơ bản của chúng vẫn giữ nguyên, nhưng độ bão hòa giảm đi; sau đó quang phổ được đơn giản hóa và thu hẹp lại thành bốn màu: vàng, xanh lá cây, xanh lam, đỏ thẫm, và thực sự thì tất cả các màu sóng ngắn đều có xu thế hướng về một loại màu xanh lam, tất cả các màu sóng dài đều có xu thế hướng về một loại màu vàng, hơn nữa, thị giác có thể thay đổi từng khoảnh khắc, tùy theo mức độ mệt mỏi. Cuối cùng, đạt đến giai đoạn đơn sắc trong sắc xám, mặc dù các điều kiện thuận lợi (độ tương phản, thời gian phơi sáng dài) có thể tạm thời khôi phục lại thị giác lưỡng sắc. 2

Do đó, sự tiến triển của tổn thương trong mô thần kinh không phá hủy từng nội dung cảm giác ready-made đã được tạo ra, mà làm cho sự phân biệt chủ động các kích thích, thứ dường như là chức năng thiết yếu của hệ thần kinh, ngày càng trở nên không đáng tin cậy. Tương tự như vậy, trong trường hợp tổn thương không phải vỏ não đối với xúc giác, nếu một số nội dung nhất định (nhiệt độ) dễ bị phá hủy hơn và là những nội dung đầu tiên biến mất, thì điều này không phải vì một vùng nhất định bị mất ở bệnh nhân cho phép chúng ta cảm nhận nóng và lạnh, vì cảm giác cụ thể sẽ được phục hồi nếu áp dụng một kích thích đủ mạnh; 3 đúng hơn là cảm giác chỉ thành công trong việc lấy lại hình thức điển hình của nó dưới một kích thích mạnh hơn. Các tổn thương trung ương dường như giữ nguyên các đặc tính; mặt khác, chúng làm thay đổi tổ chức không gian của dữ liệu và tri giác về các đối tượng. Đây là điều đã dẫn đến niềm tin vào các trung tâm nhận thức chuyên biệt để định vị và diễn giải các đặc tính. Trong thực tế, nghiên cứu hiện đại cho thấy rằng tổn thương trung ương trong hầu hết các trường hợp đều có tác dụng làm tăng chronaxies [thời trị là khoảng thời gian ngắn nhất cần thiết để một dòng điện có cường độ gấp đôi rheobase ngưỡng cơ sở tạo ra phản ứng chẳng hạn co cơ hoặc xung thần kinh; đây là thông số quan trọng trong điện chẩn đoán để đánh giá độ nhạy cảm và sự toàn vẹn của dây thần kinh hoặc cơ. HHN], [tr.86] tăng lên gấp hai hoặc ba lần cường độ bình thường ở bệnh nhân. Sự kích thích tạo ra tác dụng chậm hơn, những tác dụng này kéo dài hơn và khả năng cảm nhận xúc giác về độ nhám, chẳng hạn, bị ảnh hưởng vì nó giả định một chuỗi các ấn tượng giới hạn hoặc một nhận thức chính xác về các vị trí khác nhau của bàn tay.4 Định vị mơ hồ của kích thích không được giải thích bằng sự phá hủy trung tâm định vị, mà bằng việc giảm mức độ cảm giác đồng dạng, vốn không còn khả năng tự tổ chức ổn định trong đó mỗi cảm giác nhận được một giá trị duy nhất và chỉ được chuyển thành ý thức bằng một sự thay đổi hạn chế.5

Như vậy, sự kích thích của cùng một giác quan khác nhau không phải do công cụ vật chất mà chúng sử dụng, mà là do cách thức các kích thích cơ bản được tổ chức một cách tự phát giữa chúng, và sự tổ chức này là yếu tố then chốt cả ở cấp độ ‘chất lượng’ cảm giác lẫn ở cấp độ tri giác. Chính điều này, chứ không phải năng lượng cụ thể của bộ máy thần kinh được nghiên cứu, khiến một chất kích thích tạo ra cảm giác xúc giác hoặc nhiệt. Nếu một vùng da nhất định được kích thích nhiều lần bằng một sợi lông, những cảm nhận đầu tiên được phân biệt rõ ràng và định vị mỗi lần tại cùng một điểm. Khi kích thích được lặp lại, sự định vị trở nên kém chính xác hơn, cảm nhận mở rộng trong không gian, đồng thời cảm giác không còn cụ thể nữa: nó không còn là sự tiếp xúc, mà là cảm giác nóng rát, lúc thì lạnh, lúc thì nóng. Sau đó nữa, bệnh nhân nghĩ rằng kích thích đang di chuyển và vẽ một vòng tròn trên da của mình. Cuối cùng, không còn cảm giác gì nữa.6 Từ đó suy ra rằng ‘chất lượng cảm giác’, giới hạn không gian được đặt ra cho tri giác, và thậm chí cả sự hiện diện hay vắng mặt của tri giác, không phải là những tác động thực tế của tình huống bên ngoài cơ thể, mà thể hiện cách thức nó tiếp nhận kích thích và liên hệ với nó. Một kích thích không được cảm nhận khi nó tác động lên một cơ quan cảm giác không ‘được điều chỉnh’ cho nó.7 Chức năng của cơ thể trong việc tiếp nhận kích thích, có thể nói là [tr.87] ‘hình thành’ một dạng kích thích nhất định.8 Do đó, ‘sự kiện tâm lý vật lý’ [Psychophysics Tâm vật lý học là ngành khoa học nghiên cứu mối quan hệ định lượng giữa các kích thích vật lý như ánh sáng, âm thanh, trọng lượng và cảm giác hoặc nhận thức mà chúng tạo ra ở con người; lĩnh vực này đo lường ngưỡng cảm giác, cách chúng ta phát hiện, phân biệt các kích thích, và ứng dụng trong tâm lý học, xử lý tín hiệu. HHN] không còn thuộc loại nhân quả ‘thế gian’ nữa, não bộ trở thành nơi diễn ra một quá trình tạo ‘mô thức’ can thiệp ngay cả trước giai đoạn vỏ não, và từ thời điểm hệ thần kinh hoạt động, nó làm rối loạn mối quan hệ giữa kích thích và cơ thể. Kích thích được nắm bắt và tổ chức lại bởi các chức năng xuyên suốt khiến nó giống với tri giác mà nó sắp tạo ra. Tôi không thể hình dung được hình dạng được vạch ra trong hệ thần kinh, sự thể hiện cấu trúc này, như một tập hợp các quá trình ở ngôi thứ ba, như sự truyền chuyển động hay như sự xác định của một biến số này bởi một biến số khác. Tôi không thể có được tri ​​thức khách quan về nó. Nếu tôi có thể đoán được nó là gì, thì đó là bằng cách từ bỏ cơ thể như một vật thể, partes extra partes các bộ phận nằm ngoài các bộ phận khác, và khi quay lại với cơ thể mà tôi trải nghiệm vào lúc này, chẳng hạn như cách bàn tay di chuyển xung quanh vật thể mà nó chạm vào, dự đoán các kích thích và tự nó vạch ra hình dạng mà tôi cảm nhận. Tôi không thể hiểu chức năng của cơ thể sống trừ khi tự mình thực hiện nó, và trừ khi tôi là một cơ thể hướng đến thế giới.

Như vậy, khả năng cảm nhận bên ngoài đòi hỏi các kích thích phải được định hình; ý thức về cơ thể xâm chiếm cơ thể, linh hồn lan tỏa khắp các bộ phận của nó, và hành vi tràn ra khỏi khu vực trung tâm của nó. Nhưng người ta có thể đáp lại rằng ‘trải nghiệm thể xác’ này tự nó là một ‘tái hiện’, một ‘sự thật tâm lý’, và như vậy nó nằm ở cuối một chuỗi các sự kiện vật lý và sinh lý mà chỉ có thể được quy cho ‘cơ thể thực’. Chẳng phải cơ thể tôi, cũng giống như các cơ thể bên ngoài, là một đối tượng tác động lên các receptor thụ quan và cuối cùng tạo ra ý thức về cơ thể sao? Chẳng phải có một ‘cảm nhận nội tại’ giống như có một ‘cảm nhận ngoại tại’ sao? Tôi không thể tìm thấy trong cơ thể những message-wires dây dẫn truyền tín hiệu được các cơ quan nội tạng gửi đến não, được tự nhiên thiết lập để cung cấp cho phần hồn cái cơ hội cảm nhận cơ thể của mình sao? Ý thức về cơ thể và linh hồn do đó bị kìm nén. Cơ thể trở thành một cỗ máy được đánh bóng mà khái niệm mơ hồ về hành vi đã khiến ta quên mất. Ví dụ, nếu một người đàn ông bị mất một chân, một kích thích được tác động, thay vì vào chân, vào đường dẫn từ phần cụt đến não, người đó sẽ cảm thấy [tr.88] một cái chân ảo, bởi vì phần hồn được liên kết trực tiếp với não và chỉ với não mà thôi.

Sinh lý học hiện đại nói gì về điều này? Gây mê bằng cocaine không chấm dứt được chi ảo, và có những trường hợp chi ảo không bị cắt cụt do tổn thương não.9 Cuối cùng, chi ảo thường được phát hiện vẫn giữ nguyên vị trí của cánh tay thật tại thời điểm bị thương: một người bị thương trong trận chiến vẫn có thể cảm nhận được ở cánh tay ảo của mình những mảnh đạn đã làm rách cánh tay thật.10 Vậy thì có cần thiết phải từ bỏ ‘lý thuyết ngoại vi’ để ủng hộ ‘lý thuyết trung tâm’ không? Nhưng một lý thuyết trung tâm sẽ không đưa chúng ta đi xa hơn nếu nó không bổ sung thêm gì vào các điều kiện ngoại vi của chi ảo ngoài các triệu chứng não bộ. Một tập hợp các triệu chứng não bộ không thể đại diện cho các mối quan hệ trong ý thức liên quan đến hiện tượng này. Nó thực sự phụ thuộc vào các yếu tố ‘tâm lý’. Một cảm xúc, một hoàn cảnh gợi nhớ đến những hoàn cảnh mà vết thương đã xảy ra, tạo ra một chi ảo ở những người không có chi ảo.11 Điều xảy ra là cánh tay tưởng tượng trở nên khổng lồ sau ca phẫu thuật, nhưng sau đó nó co lại và được hấp thụ vào phần cụt “khi bệnh nhân chấp nhận sự tàn phế của mình”.12 Hiện tượng chi ảo ở đây được làm sáng tỏ bởi chứng anosognosia mất nhận thức*, [Anosognosia chứng mất nhận thức bệnh là tình trạng thần kinh khiến người bệnh không nhận thức, không tin hoặc phủ nhận hoàn toàn rằng họ đang mắc bệnh, bị khuyết tật hoặc có sự thiếu hụt chức năng; đây không phải sự phủ nhận tâm lý thông thường, mà là hậu quả thực thể do tổn thương não, thường gặp ở đột quỵ, Alzheimer hoặc sa sút trí tuệ. HHN] điều này rõ ràng đòi hỏi một lời giải thích về mặt tâm lý. Những người thường xuyên phớt lờ bàn tay phải bị liệt của họ, và đưa tay trái ra khi được hỏi về tay phải, gọi cánh tay bị liệt của họ là ‘một con rắn dài, lạnh lẽo’, điều này loại trừ bất kỳ giả thuyết nào về gây tê thực sự và gợi ý một giả thuyết về sự từ chối nhận ra khiếm khuyết của họ.13 Vậy có phải kết luận rằng chi ảo là ký ức, ý chí hay niềm tin, nếu không có lời giải thích sinh lý nào, chúng ta có phải đưa ra lời giải thích tâm lý cho nó không? Nhưng không giải thích tâm lý nào có thể [tr.89] bỏ qua thực tế rằng việc cắt đứt các dây thần kinh đến não sẽ xóa bỏ chi ảo.14

Vậy cần phải hiểu các yếu tố quyết định tâm lý và các điều kiện sinh lý liên kết với nhau như thế nào: không rõ làm thế nào mà chi ảo, nếu phụ thuộc vào các điều kiện sinh lý và do đó là kết quả của nguyên nhân từ bên thứ ba, lại có thể phát sinh từ lịch sử cá nhân của bệnh nhân, ký ức, cảm xúc và ý chí của họ trong một bối cảnh khác. Bởi vì để hai tập hợp điều kiện này cùng nhau tạo ra hiện tượng, như hai thành phần tạo ra kết quả, chúng cần một điểm áp dụng giống hệt nhau hoặc một nền tảng chung, và thật khó để thấy nền tảng nào có thể chung cho ‘sự kiện sinh lý’ tồn tại trong không gian và ‘sự kiện tâm lý’ không tồn tại ở đâu cả: hoặc thậm chí cho các quá trình khách quan như dòng thần kinh thuộc về lĩnh vực tự thân, và các suy nghĩ như chấp nhận và từ chối, nhận thức về quá khứ và cảm xúc, thuộc về trật tự của bản thân. Một lý thuyết lai về chi ảo, tìm được chỗ đứng cho cả hai tập hợp điều kiện15, do đó, có thể được coi là hợp lệ như một tuyên bố về các sự kiện đã biết; nhưng về cơ bản nó rất mơ hồ. Hội chứng chi ảo không chỉ đơn thuần là kết quả của nguyên nhân khách quan; nó cũng không phải là một suy nghĩ thuần túy. Nó chỉ có thể là sự kết hợp của cả hai nếu chúng ta tìm được phương tiện liên kết giữa ‘tâm lý’ và ‘sinh lý’, giữa ‘for-itself’ ‘vì-tự thân’ và ‘in-itself’ ‘trong-tự thân’, với nhau để tạo thành một chỉnh thể mạch lạc, và tạo ra một điểm gặp gỡ nào đó cho chúng: nếu các quá trình của ngôi thứ ba và các hành động cá nhân có thể được tích hợp vào một thuật ngữ trung gian chung. Để mô tả niềm tin vào hội chứng chi ảo và việc không muốn chấp nhận việc bị cắt cụt chi, các tác giả nói về một cú ‘đẩy vào tiềm thức’ hoặc một loại ‘kìm nén hữu cơ’.16 Những thuật ngữ phi Descartes này buộc chúng ta phải hình thành ý tưởng về một tư duy hữu cơ, thông qua đó mối quan hệ giữa ‘tâm lý’ và ‘sinh lý’ bắt đầu có thể hình dung được. Chúng ta đã gặp nhau ở nơi khác, trong trường hợp thay thế, những hiện tượng nằm ngoài các lựa chọn thay thế về tâm lý và sinh lý, về các nguyên nhân cuối cùng [tr.90] và cơ giới luận.17

Khi côn trùng, trong quá trình thực hiện một hành động bản năng, thay thế một chân lành lặn cho một chân bị đứt lìa, thì không phải, như chúng ta đã thấy, một thiết bị dự phòng được tạo lập trước đó tự động được đưa vào hoạt động và thay thế cho mạch bị hỏng. Nhưng cũng không phải là trường hợp sinh vật nhận thức được một mục tiêu cần đạt tới, bằng việc sử dụng các chi của nó như các phương tiện khác nhau, vì trong trường hợp đó, sự thay thế sẽ xảy ra mỗi khi hành động bị ngăn cản, và chúng ta biết rằng nó không xảy ra nếu chân chỉ bị buộc lại. Côn trùng đơn giản vẫn thuộc về cái thế giới ấy và di chuyển trong đó với tất cả sức mạnh của nó. Chi bị buộc không được thay thế bằng chi tự do, bởi vì nó vẫn được tính đến cứ theo cái kiểu đó, và bởi vì dòng hoạt động hướng tới thế giới vẫn đi qua nó. Trong trường hợp này, không có sự lựa chọn nào khác ngoài trường hợp một giọt dầu sử dụng toàn bộ sức mạnh của mình để giải quyết một cách thực tế vấn đề tối đa và tối thiểu mà nó phải đối mặt. Sự khác biệt đơn giản là giọt dầu tự thích nghi với các lực ngoại tại nhất định, trong khi chính côn trùng lại dự phóng các chuẩn mực của môi trường và tự đặt ra các khuôn khổ cho vấn đề sống còn của nó;18 nhưng ở đây đó là vấn đề tiên nghiệm của loài chứ không phải là sự lựa chọn cá nhân. Do đó, điều được tìm thấy đằng sau hiện tượng thay thế là xung lực hiện hữu-trong-thế giới, và giờ là lúc để diễn đạt khái niệm này một cách chính xác hơn. Khi chúng ta nói rằng một con vật tồn tại, nó có một thế giới, hoặc nó thuộc về một thế giới, thì không có nghĩa là nó có nhận thức hoặc ý thức khách quan về thế giới đó. Tình huống giải phóng các hoạt động bản năng không hoàn toàn rõ ràng và xác định, toàn bộ ý nghĩa của nó không được sở hữu, như được thể hiện đầy đủ bởi những sai lầm và sự mù quáng của bản năng vậy. Nó chỉ mang ý nghĩa thực tiễn; nó chỉ yêu cầu sự nhận biết về thể xác; nó được trải nghiệm như một tình huống ‘mở’ và ‘yêu cầu’ các chuyển động của con vật, giống như những nốt nhạc đầu tiên của một giai điệu đòi hỏi một kiểu giải quyết nhất định, mà bản thân nó không được biết đến, và chính xác là điều cho phép các chi được thay thế cho nhau và có giá trị ngang nhau trước những yêu cầu thao tác hiển nhiên. Trong chừng mực nó neo giữ chủ thể vào một ‘môi trường’ nhất định, thì liệu việc ‘hiện hữu trong thế giới’ có giống như ‘sự chú ý đến cuộc sống’ trong Bergson hay ‘chức năng của cái thực tại’ trong P. Janet không? Chú ý [tr.91] đến cuộc sống là nhận thức mà chúng ta trải nghiệm về ‘những chuyển động mới hình thành’ trong cơ thể chúng ta. Giờ đây, các chuyển động phản xạ, dù được phác họa hay thực hiện, vẫn chỉ là những quá trình khách quan mà ý thức có thể quan sát được diễn biến và kết quả của chúng, nhưng lại không can dự vào đó.19

Trên thực tế, bản thân các phản xạ không bao giờ là những quá trình mù quáng: chúng tự điều chỉnh theo một ‘hướng’ của tình huống và thể hiện định hướng của chúng ta đối với một ‘bối cảnh hành vi’ cũng như tác động của ‘bối cảnh địa lý’ lên chúng ta. Chúng vạch ra từ xa cấu trúc của đối tượng mà không cần chờ đợi sự kích thích từng điểm một. Chính sự hiện diện toàn cục của tình huống này đã mang lại ý nghĩa cho các kích thích cục bộ và khiến chúng có được tầm quan trọng, giá trị hoặc sự tồn tại đối với cơ thể. Phản xạ không phát sinh từ các kích thích khách quan, mà [tr.92] hướng trở lại phía chúng và gán cho chúng một ý nghĩa mà chúng không có khi được xem xét riêng lẻ như những tác nhân tâm lý, nhưng chỉ khi được xem xét như một tình huống. Nó khiến chúng tồn tại như một tình huống, nó có mối quan hệ ‘nhận thức’ với chúng, vốn có nghĩa là nó cho thấy chúng là thứ mà nó được định sẵn để đối mặt. Phản xạ, trong chừng mực nó tự mở ra với ý nghĩa của một tình huống và tri giác; trong chừng mực nó không đặt ra trước hết một đối tượng tri thức và là một ý định của toàn bộ hiện hữu của chúng ta, là các phương thức của một quan điểm tiền-khách quan mà chúng ta gọi là hiện hữu-trong- thế giới. Trước các kích thích và nội dung cảm giác, chúng ta phải nhận ra một loại màng ngăn bên trong vốn quyết định, nhiều hơn vô hạn so với chúng, những gì phản xạ và tri giác của chúng ta có thể hướng tới trong thế giới, phạm vi hoạt động khả thi của chúng ta, phạm vi cuộc sống của chúng ta. Một số người có thể gần như mù lòa mà không thay đổi ‘thế giới’ của họ: họ có thể được nhìn thấy va chạm với các vật thể ở khắp mọi nơi, nhưng họ không nhận thức được việc không còn mở ra với các phẩm chất thị giác, và cấu trúc hành vi của họ vẫn không thay đổi. Ngoài ra, những bệnh nhân khác mất đi thế giới của họ ngay khi nội dung của nó bị loại bỏ; họ từ bỏ lối sống quen thuộc của mình ngay cả trước khi nó trở nên bất khả thể, biến mình thành những kẻ tàn tật sớm và cắt đứt mối liên hệ sống còn với thế giới trước khi mất đi sự tiếp xúc cảm giác với nó.

Như vậy, có một sự nhất quán nhất định trong ‘thế giới’ của chúng ta, tương đối độc lập với các kích thích, điều này không cho phép chúng ta coi hiện hữu-trong-thế giới như một tập hợp các phản xạ—một năng lượng nhất định trong sự rung động của sự tồn tại, tương đối độc lập với những suy nghĩ tự nguyện của chúng ta, điều này ngăn cản chúng ta coi nó như một hành động của ý thức. Chính vì đó là một quan điểm tiền-khách quan mà hiện hữu-trong-thế giới có thể được phân biệt với mọi quá trình ngôi thứ ba, với mọi phương thức của res extensa [Res extensa tiếng Latinh, nghĩa là ‘vật thể mở rộng’ hay ‘thể chất’, là thuật ngữ triết học của René Descartes dùng để chỉ thế giới vật chất hoặc vật thể hữu hình, đặc trưng bởi sự chiếm cứ không gian, có thể đo lường - dài, rộng, cao - và không biết tư duy; nó là một trong hai thành phần chính của chủ nghĩa nhị nguyên Cartesian, đối lập với res cogitans tâm trí/tư duy. HHN], cũng như với mọi cái cogitation tôi tư duy, với mọi hình thức tri thức ngôi thứ nhất—và rằng nó có thể tạo ra sự kết hợp giữa ‘tâm lý’ và ‘sinh lý’. Bây giờ hãy quay lại vấn đề mà chúng ta đã bắt đầu.

Chứng Anosognosia mất nhận thức về bệnh tật và hội chứng chi ảo không thể được giải thích bằng sinh lý học hay tâm lý học, cũng không thể là sự kết hợp của cả hai, mặc dù chúng có thể liên quan đến hai tập hợp điều kiện này. Một lời giải thích sinh lý học sẽ làm rõ chứng mất nhận thức về bệnh tật và hội chứng chi ảo như là sự ức chế trực tiếp hoặc sự tồn tại trực tiếp của các ‘interoceptive’ stimulations kích thích ‘cảm nhận nội tại’. Theo giả thuyết này, mất nhận thức về bệnh tật là sự vắng mặt của một phần tái hiện [tr.93] đáng lẽ phải có, vì chi tương ứng vẫn còn đó; hội chứng chi ảo là sự hiện diện của một phần tái hiện của cơ thể đáng lẽ không nên có, vì chi tương ứng không còn đó. Nếu bây giờ ta đưa ra một lời giải thích tâm lý học về các hiện tượng này, thì hội chứng chi ảo trở thành một ký ức, một phán đoán tích cực hoặc một tri giác, trong khi mất nhận thức về bệnh tật trở thành một chút quên lãng, một phán đoán tiêu cực hoặc một sự thất bại tri giác. Trong trường hợp đầu tiên, hội chứng chi ảo là sự hiện diện thực tế của một tái hiện, mất nhận thức về bệnh tật là sự vắng mặt thực tế của một tái hiện. Trong trường hợp thứ hai, hội chứng chi ảo là tái hiện của một sự hiện diện thực tế, trong khi mất nhận thức về bệnh tật lại là tái hiện của một sự vắng mặt thực tế. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều bị giam cầm trong các phạm trù của thế giới khách quan, trong đó không có thuật ngữ trung gian giữa sự hiện diện và sự vắng mặt. Trên thực tế, người mắc chứng anosognosia không chỉ đơn thuần là không biết đến sự tồn tại của chi bị liệt: họ chỉ có thể né tránh khiếm khuyết của mình bởi vì họ biết mình có nguy cơ gặp phải nó ở đâu, cũng giống như đối tượng trong phân tâm học biết mình không muốn đối mặt với điều gì, nếu không họ sẽ không thể né tránh nó thành công đến vậy. Chúng ta không hiểu được sự vắng mặt hay cái chết của một người bạn cho đến đúng lúc chúng ta mong đợi câu trả lời từ họ và khi chúng ta nhận ra rằng mình sẽ không bao giờ nhận được nữa; vì vậy ban đầu chúng ta tránh hỏi để không phải nhận thấy sự im lặng này; chúng ta quay lưng lại với những lĩnh vực trong cuộc sống mà chúng ta có thể gặp phải sự trống rỗng này, nhưng chính điều này lại đòi hỏi chúng ta phải trực giác về chúng. Tương tự, người mắc chứng mất nhận thức về bệnh tật bỏ qua cánh tay liệt để không phải cảm nhận khuyết tật của mình, nhưng điều này có nghĩa là họ có một nhận thức tiền-ý thức về nó.

Đúng là trong trường hợp chi ảo, người bệnh dường như không nhận thức được sự tổn thương và dựa vào chi ảo của mình như thể đó là chi thật, vì họ cố gắng đi lại bằng chân ảo và không nản lòng ngay cả khi bị ngã. Nhưng bất chấp điều đó, họ vẫn có thể mô tả khá rõ những đặc điểm của chân ảo, ví dụ như khả năng vận động kỳ lạ của nó, và nếu trên thực tế họ coi nó như một chi thật, đó là bởi vì, giống như người bình thường, khi muốn bắt đầu đi bộ, họ không cần một nhận thức rõ ràng và mạch lạc về cơ thể mình: đối với họ, chỉ cần có nó ‘trong tầm kiểm soát’ như một sức mạnh không chia cắt, và cảm nhận chi ảo như thể nó được can dự một cách mơ hồ. Do đó, ý thức về chi ảo vẫn còn mơ hồ. Người đàn ông cụt một chân cảm nhận được chi bị mất theo cách tương tự như tôi cảm nhận sâu sắc sự tồn tại của một người bạn, dù sao cũng không còn ở trước mắt tôi [tr.94]; anh ta không đánh mất nó bởi vì anh ta tiếp tục cho phép nó tồn tại, giống như Proust có thể nhận ra cái chết của bà mình, nhưng không đánh mất bà, miễn là anh có thể giữ bà trong tầm nhìn cuộc đời mình. Cánh tay ảo không phải là tái hiện cánh tay, mà là hiện diện mơ hồ của nó. Việc từ chối cắt xén trong trường hợp chi ảo, hoặc từ chối tàn tật trong chứng mất nhận thức không phải là những quyết định có chủ ý, và không diễn ra ở cấp độ ý thức thiết lập vị trí của nó một cách rõ ràng sau khi xem xét các khả năng khác nhau. Ý chí muốn có một cơ thể lành mạnh hoặc việc từ chối cơ thể yếu đuối không hình thành vì chính chúng; và nhận thức về hiện diện của cánh tay cụt hoặc sự vắng mặt của cánh tay khuyết tật không phải là kiểu: “Tôi nghĩ rằng…”

Hiện tượng này, bị bóp méo bởi cả giải thích sinh lý và tâm lý, tuy nhiên, phải hiểu nó trong bối cảnh hiện-hữu-trong-thế-giới. Thứ khiến chúng ta từ chối tàn khuyết là một cái Tôi gắn bó với một thế giới vật chất và liên nhân nhất định, là kẻ tiếp tục hướng tới thế giới của mình bất chấp những khiếm khuyết, tình trạng cụt chi, và đến mức độ này, không công nhận chúng de jure về mặt lý. Sự từ chối khiếm khuyết chỉ là mặt trái sự hiện hữu của chúng ta trong một thế giới, lối phủ nhận ngầm những gì đi ngược lại với động lực tự nhiên đưa chúng ta vào mọi tác vụ, vào các mối quan tâm, hoàn cảnh và những chân trời quen thuộc của mình. Có một cánh tay ảo là vẫn mở lòng đón nhận tất cả những hành động mà chỉ riêng cánh tay đó mới có khả năng thực hiện; đó là giữ lại phạm vi hoạt động thực tiễn mà người ta đã được hưởng trước khi bị tàn tật. Thân thể là phương tiện hiện hữu trong thế giới, và việc có một thân thể, đối với một sinh vật sống, có nghĩa là được tham gia vào một môi trường nhất định, tự đồng nhất mình với những dự án nhất định và liên tục cam kết với chúng. Trong sự hiển nhiên của thế giới hoàn chỉnh này, nơi mà các vật thể có thể thao tác vẫn hiện hữu, trong sức mạnh chuyển động của chúng vẫn hướng về phía anh ta, và trong đó vẫn còn hiện diện dự án viết hoặc chơi piano, người tàn tật vẫn tìm thấy sự đảm bảo cho tính vẹn nguyên của mình. Nhưng khi che giấu sự thiếu sót của mình khỏi bản thân, thế giới không thể không đồng thời tiết lộ điều đó cho anh ta: bởi vì nếu đúng là tôi nhận thức được cơ thể mình thông qua thế giới, nếu đúng đó là khuôn khổ vô hình ở trung tâm của cái thế giới mà tất cả các vật thể đều hướng mặt về đó, thì cũng đúng vì lý do tương tự ở chỗ cơ thể tôi là trục xoay của thế giới: tôi biết rằng các vật thể có nhiều khía cạnh bởi vì tôi có thể thực hiện một chuyến tham quan để kiểm tra chúng, và theo nghĩa đó, tôi nhận thức được [tr.95] thế giới thông qua cơ thể mình. Chính là khi thế giới quen thuộc của tôi khơi dậy trong tôi những ý hướng theo thói quen, nếu tôi đã mất một chi, tôi không còn có thể bị cuốn vào nó một cách hiệu quả nữa, và các vật thể có thể sử dụng được, chính xác là khi chúng tự thể hiện mình là có thể sử dụng được, lại triệu  vời một bàn tay mà tôi không còn nữa. Như vậy, trong toàn bộ cơ thể tôi, các vùng im lặng được phân định. Do đó, bệnh nhân nhận ra khuyết tật của mình chính xác ở mức độ mà anh ta lờ nó đi, và việc lờ nó đi chính xác ở mức độ mà anh ta biết về nó. Nghịch lý này là nghịch lý của mọi hiện hữu trên thế giới: khi tôi hướng tới một thế giới, tôi chôn vùi những ý hướng tri giác và thực tiễn của mình trong những đối tượng cuối cùng xuất hiện trước và bên ngoài những ý hướng đó, và tuy nhiên chúng chỉ tồn tại đối với tôi ở mức độ mà chúng khơi gợi trong tôi những suy tư hoặc ý chí.

_______________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

* Failure or refusal on the patient’s part to recognize the existence of a disease or disability (Translator’s note).

1 Cf. La Structure du Comportement, Chap. I and II.

2 J. Stein, Pathologie der Wahrnehmung, p. 365.

3 Ibid., p. 358.

4 J. Stein, Pathologie der Wahrnehmung, pp. 360–1.

5 Ibid., p. 362.

6 Ibid., p. 364.

7 Die Reizvorgänge treffen ein ungestimmtes Reaktionsorgan. Stein, Pathologie der Wahrnehmung,p. 361.

8 ‘Die Sinne . . . die Form eben durch ursprüngliches Formbegreifen zu erkennen geben.’ Ibid., p. 353.

9 Lhermitte, L’Image de notre Corps, p. 47.

10 Ibid., pp. 129 and ff.

11 Ibid., p. 57.

12 Ibid., p. 73. J. Lhermitte points out that the illusion of the limbless bears a relationship to the patient’s psychological make-up: it is more frequent among educated people.

13 Lhermitte, L’Image de notre Corps, pp. 129 and ff.

14 Ibid., pp. 129 and ff.

15 The phantom limb lends itself neither to a purely physiological explanation, nor to a purely psychological one. Such is the conclusion of J. Lhermitte, L’Image de notre Corps, p. 126.

16 Schilder, Das Körperschema; Menninger-Lerchenthal, Das Truggebilde der eigenen Gestalt, p. 174: Lhermitte, L’Image de notre Corps, p. 143.

17 Cf. La Structure du Comportement, pp. 47 and ff.

18 Ibid., pp. 196 and ff.

19 Khi Bergson nhấn mạnh sự thống nhất giữa tri giác và hành động, và sáng tạo ra thuật ngữ ‘sensory-motor process’ ‘quá trình cảm giác-vận động’để diễn đạt điều đó, rõ ràng ông đang tìm cách đưa ý thức vào thế giới. Nhưng nếu cảm giác đại diện cho một phẩm chất đối với bản thân, và nếu chuyển động là thay đổi vị trí của một người trong thế giới khách quan, thì giữa cảm giác và vận động, ngay cả khi xét đến trạng thái sơ khai của chúng, cũng không thể có sự thỏa hiệp nào, và chúng khác biệt với nhau như le pour soi cái cho nó và le en soi cái tự nó vậy. Nói chung, Bergson nhận thấy rằng thân thể và tâm trí giao tiếp với nhau thông qua phương tiện thời gian, rằng có tâm trí là đứng trên dòng chảy của thời gian và có thân thể là có hiện tại. Ông nói rằng thân thể là một phần tức thời được tạo ra trong quá trình hình thành ý thức (Matière et Mémoire, tr. 150). Nhưng đối với ông, thân thể vẫn là cái mà chúng ta gọi là thân thể khách quan; ý thức vẫn là tri thức; thời gian vẫn là một ‘hiện tại’ liên tiếp, cho dù nó ‘tự tích tụ’ hay được trải rộng trong thời gian không gian hóa. Do đó, Bergson chỉ có thể nén hoặc mở rộng chuỗi ‘khoảnh khắc hiện tại’; ông không bao giờ đạt đến chuyển động duy nhất mà qua đó ba chiều thời gian được cấu thành, và người ta không thể hiểu tại sao thời gian lại bị thu hẹp vào hiện tại, hoặc tại sao ý thức lại gắn liền với cơ thể và thế giới. Còn về ‘chức năng của thực tại’ P. Janet sử dụng nó như một khái niệm hiện sinh. Chính điều này cho phép ông phác thảo một lý thuyết sâu sắc về cảm xúc như sự sụp đổ của bản thể thông thường của chúng ta, và là sự chạy trốn khỏi thế giới của chúng ta. (Xem cách giải thích về cơn cuồng loạn, De l’Angoisse à l’Extase, tr. 450) Nhưng lý thuyết về cảm xúc này không được theo đuổi đến cùng và, như J. P. Sartre đã chỉ ra, nó mâu thuẫn, trong các tác phẩm của P. Janet, với một quan niệm máy móc khá gần với quan niệm của James: sự sụp đổ của sự tồn tại của chúng ta vào cảm xúc được coi là một sự bắt nguồn đơn thuần từ các lực lượng tâm lý, và bản thân cảm xúc được coi là ý thức về quá trình này được thể hiện ở ngôi thứ ba, do đó không còn lý do để tìm kiếm ý nghĩa trong hành vi cảm xúc là kết quả của động lực mù quáng của các khuynh hướng, và chúng ta quay trở lại thuyết nhị nguyên. (Sartre, Esquisse d’une théorie de l’Emotion.) Janet coi căng thẳng tâm lý—tức là chuyển động mà qua đó chúng ta trải rộng ‘thế giới’ của mình trước mặt—một cách rõ ràng như một giả thuyết đại diện; Vì vậy, ông ấy không hề coi nó một cách tổng quát như là bản chất cụ thể của con người, mặc dù ông ngầm hiểu điều đó trong các phân tích cụ thể.

19 When Bergson stresses the unity of perception and action and invents, for its expression, the term ‘sensory-motor process’, he is clearly seeking to involve consciousness in the world. But if feeling is representing a quality to oneself, and if movement is changing one’s position in the objective world, then between sensation and movement, even taken in their nascent state, no compromise is possible, and they are distinct from each other as are the for-itself and the in-itself. Generally speaking, Bergson saw that the body and the mind communicate with each other through the medium of time, that to be a mind is to stand above time’s flow and that to have a body is to have a present. The body, he says, is an instantaneous section made in the becoming of consciousness (Matière et Mémoire, p. 150). But the body remains for him what we have called the objective body; consciousness remains knowledge; time remains a successive ‘now’, whether it ‘snowballs upon itself’ or is spread in spatialized time. Bergson can therefore only compress or expand the series of ‘present moments’; he never reaches the unique movement whereby the three dimensions of time are constituted, and one cannot see why duration is squeezed into a present, or why consciousness becomes involved in a body and a world. As for the ‘function of the real’, P. Janet uses it as an existential notion. This is what enables him to sketch out a profound theory of emotion as the collapse of our customary being, and a flight from our world. (For example the interpretation of the fit of hysterics, De l’Angoisse à l’Extase, p. 450) But this theory of emotion is not followed out and, as Sartre shows, it conflicts, in the writings of P. Janet, with a mechanistic conception rather close to that of James: the collapse of our existence into emotion is treated as a mere derivation from psychological forces, and the emotion itself as the consciousness of this process expressed in the third person, so that there is no longer reason to look for a meaning in the emotional behaviour which is the result of the blind momentum of the tendencies, and we return to dualism. (Sartre, Esquisse d’une théorie de l’Emotion.) Janet, moreover, treats psychological tension—that is, the movement whereby we spread our ‘world’ before us—expressly as a representative hypothesis; so he is far from considering it in general terms as the concrete essence of man, though he does so implicitly in particular analyses.

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (III)

Maurice Merleau-Ponty

Người dịch: Hà Hữu Nga

4. Lĩnh vực Hiện tượng

[Tr.60] Giờ đây, chúng ta sẽ thấy các chương tiếp theo dẫn dắt cuộc khảo sát theo hướng nào. ‘Trải nghiệm giác quan’* một lần nữa trở thành một câu hỏi đối với chúng ta. Chủ nghĩa kinh nghiệm đã loại bỏ mọi bí ẩn của nó bằng cách quy về việc sở hữu một phẩm chất. Điều này chỉ có thể khả thi với cái giá là phải rời xa ý nghĩa thông thường của từ này. Giữa trải nghiệm giác quan và tri thức, kinh nghiệm thông thường thiết lập một sự khác biệt không phải là sự khác biệt giữa phẩm chất và khái niệm. Khái niệm phong phú này về trải nghiệm giác quan vẫn còn được tìm thấy trong cách sử dụng của trường phái Lãng mạn, ví dụ như trong tác phẩm của Herder. Nó chỉ ra một trải nghiệm trong đó chúng ta được cung cấp không phải những phẩm chất ‘vô tri’, mà là những phẩm chất năng động. Một bánh xe gỗ đặt trên mặt đất, đối với thị giác, không giống như một bánh xe mang tải. Một vật thể ở trạng thái nghỉ vì không có lực tác động lên nó, đối với thị giác, cũng không giống như một vật thể trong đó các lực đối lập ở trạng thái cân bằng. 1 Ánh sáng của ngọn nến thay đổi diện mạo đối với một đứa trẻ sau khi cháy hết, nó không còn thu hút bàn tay của đứa trẻ nữa mà trở nên thực sự đáng chán. 2 Thị giác đã được chứa đựng một ý nghĩa (giác quan) mang lại cho nó một chức năng trong cảnh tượng của thế giới và trong trải nghiệm của chúng ta. Thứ gì đó quale thuần túy sẽ chỉ được [tr.61] trao cho chúng ta nếu thế giới là một cảnh tượng và cơ thể của chính ta là một cơ chế mà một tâm trí vô tư nào đó đã tự làm quen.3 [Quale (Latin, số nhiều: Qualia) trong triết học và khoa học nhận thức chỉ các đặc điểm chất lượng của trải nghiệm cảm giác mang tính chủ quan, ví dụ như cảm giác đau đớn, vị của rượu, hay ‘tính đỏ’ của màu đỏ; đây là cách mọi mà thứ hiện hữu trong trải nghiệm của mỗi cá nhân, khó định nghĩa bằng thông tin vật lý.].

Mặt khác, kinh nghiệm giác quan lại đầu tư vào phẩm chất bằng một giá trị sống động, nắm bắt nó trước hết trong ý nghĩa của nó đối với chúng ta, đối với khối lượng nặng nề là cơ thể của chúng ta, từ đó mà nó luôn bao hàm một sự quy chiếu đến cơ thể. Vấn đề là hiểu những mối quan hệ kỳ lạ được dệt nên giữa các phần của cảnh quan, hoặc giữa nó và tôi như một chủ thể hiện thân, và thông qua đó một đối tượng được nhận thức có thể tập trung trong chính nó một toàn bộ cảnh quan hoặc trở thành hình ảnh của một toàn bộ phân đoạn cuộc sống. Kinh nghiệm giác quan là sự giao tiếp sống động với thế giới khiến nó hiện diện như một môi trường quen thuộc của cuộc sống chúng ta. Chính nhờ nó mà đối tượng được cảm nhận và chủ thể cảm nhận có được độ dày của chúng. Đó là cấu trúc mang tính ý hướng mà nỗ lực nhận thức sẽ cố gắng phân tách. Với lĩnh vực kinh nghiệm giác quan, chúng ta tái khám phá vấn đề liên tưởng và tính thụ động. Chúng không còn là vấn đề nan giải bởi vì các loại hình triết học cổ điển đặt mình ở vị trí thấp hơn hoặc cao hơn chúng, cho chúng tất cả hoặc không cho gì cả: đôi khi liên tưởng được hiểu đơn thuần là sự cùng tồn tại trên thực tế, đôi khi lại bắt nguồn từ một kiến tạo trí tuệ; đôi khi tính thụ động được nhập từ sự vật vào tâm trí, và đôi khi phép phản tư phân tích sẽ tìm thấy trong đó một hoạt động hiểu biết. Trong khi đó, những khái niệm này sẽ có ý nghĩa đầy đủ nếu kinh nghiệm giác quan được phân biệt với chất lượng: vậy là liên tưởng, hay đúng hơn là ‘tính tương đồng’, theo nghĩa Kantian, là hiện tượng trung tâm của đời sống tri giác, vì nó là sự cấu thành, không có bất kỳ mô hình lý tưởng nào, của một nhóm có ý nghĩa. Sự phân biệt giữa đời sống tri giác và khái niệm, giữa tính thụ động và tính tự phát không còn bị xóa bỏ bởi phép phản tư phân tích, vì chúng ta không còn bị buộc phải tìm kiếm một hoạt động kết nối nào đó cho nguyên tắc phối hợp của mình bởi nguyên tử luận cảm giác. Cuối cùng, sau kinh nghiệm giác quan, sự hiểu biết cũng cần được định nghĩa lại, vì chức năng kết nối tổng quát mà chủ nghĩa Kantianism gán cho nó giờ đây đã lan rộng khắp toàn bộ đời sống có chủ đích và không còn đủ để phân biệt nó nữa.

Liên quan đến tri giác chúng ta sẽ cố gắng làm rõ cả hạ-cấu trúc bản năng và thượng-cấu trúc được xây dựng trên đó bởi việc thực hành trí tuệ. Như Cassirer đã nói, bằng cách làm biến dạng tri giác từ trên xuống, [tr.62] chủ nghĩa kinh nghiệm cũng đã làm biến dạng nó từ dưới lên: 4 ấn tượng trở nên trống nghĩa bản năng và tình cảm cũng như ý nghĩa lý tưởng. Người ta có thể nói thêm rằng việc làm biến dạng tri giác từ dưới lên, coi nó ngay lập tức như tri ​​thức và quên đi nội dung hiện sinh của nó, tương đương với việc làm biến dạng nó từ trên xuống, vì nó liên quan đến việc coi là hiển nhiên và bỏ qua trong im lặng khoảnh khắc quyết định trong tri giác: sự trỗi dậy của một thế giới chân thực và chính xác. Phép phản tư sẽ chắc chắn đã xác định chính xác vị trí trung tâm của hiện tượng nếu nó có khả năng làm sáng tỏ cả bản chất sống còn và ý hướng hợp lý của nó. Như vậy, “cảm giác” và “phán đoán” cùng đánh mất tính rõ ràng hiển nhiên của chúng: đã có thể nhận thấy rằng chúng chỉ rõ ràng chừng nào định kiến ​​thiên về thế giới còn được duy trì. Ngay khi người ta cố gắng dùng chúng để hình dung ý thức trong quá trình tri giác, để khôi phục kinh nghiệm tri giác đã bị lãng quên, và để liên hệ chúng với kinh nghiệm đó, thì người ta thấy chúng trở nên không thể hình dung được. Bằng cách làm cho những khó khăn này trở nên rõ ràng hơn, chúng ta đã bị cuốn vào một loại phân tích mới, vào một chiều kích mới mà trong đó chúng được định sẵn sẽ biến mất. Việc phê phán giả thuyết về tính bất biến và nói chung là phép quy giản ý niệm về ‘thế giới’ đã mở ra một lĩnh vực hiện tượng học mà giờ đây cần được xác định rõ ràng hơn, đồng thời gợi ý việc tái khám phá một trải nghiệm trực tiếp cần được, chí ít là tạm thời, xếp vào vị trí của nó trong mối quan hệ với tri thức khoa học, cũng như với sự suy tư tâm lý và triết học.

Khoa học và triết học trong nhiều thế kỷ đã được duy trì bởi niềm tin không chút nghi ngờ vào tri giác. Tri giác mở ra một cánh cửa nhìn vào sự vật. Điều này có nghĩa là, theo cách cận-mục đích luận, nó hướng tới một chân lý tự thân, trong đó lý do ẩn chứa đằng sau mọi trình hiện được tìm thấy. Luận điểm ngầm của tri giác là ở mỗi khoảnh khắc, kinh nghiệm có thể được phối hợp với kinh nghiệm của khoảnh khắc trước đó và khoảnh khắc tiếp theo, và quan điểm của tôi với quan điểm của những loại ý thức khác— với mọi mâu thuẫn có thể được loại bỏ, với kinh nghiệm đơn tử luận và liên chủ thể tính là một văn bản liền mạch—với thứ mà hiện tại không xác định đối với tôi lại có thể trở nên xác định đối với một tri ​​thức đầy đủ hơn, như thể được hiện thực hóa trước trong sự vật, hay đúng hơn là chính sự vật đó. Khoa học trước hết chỉ là phần tiếp theo hoặc sự khuếch đại [tr.63] của quá trình cấu thành nên những sự vật được tri giác. Hệt như sự vật là thứ bất biến của tất cả các trường cảm giác và của tất cả các trường tri giác cá thể, thì khái niệm khoa học là phương tiện để ấn định và khách thể hóa các hiện tượng. Khoa học đã định nghĩa một trạng thái lý thuyết của các vật thể không chịu tác động của bất kỳ lực nào, và trên thực tế đã định nghĩa lực, tái cấu thành các quá trình thực tế quan sát được bằng sự trợ giúp của các thành phần lý tưởng này. Nó đã thiết lập về mặt thống kê các thuộc tính hóa học của các vật thể thuần túy, suy ra từ đó các tính chất của các vật thể thực nghiệm, và vì vậy dường như nó nắm giữ kế hoạch sáng tạo hoặc trong bất kỳ trường hợp nào cũng đã tìm ra lý do nội tại trong thế giới. Khái niệm về không gian hình học, không quan tâm đến nội dung của nó, thứ chuyển động thuần túy mà tự nó không ảnh hưởng đến các thuộc tính của vật thể, đã cung cấp cho các hiện tượng một môi trường tồn tại bất động, trong đó mỗi sự kiện đều có thể được liên hệ với các điều kiện vật lý chịu trách nhiệm cho những thay đổi xảy ra, và do đó góp phần vào sự đóng băng của thứ dường như là nhiệm vụ của vật lý.

Trong quá trình phát triển khái niệm về sự vật như vậy, tri thức khoa học đã không nhận thức được rằng nó đang hoạt động trên một giả định đề. Chính vì tri giác, trong những hàm ý sống còn của nó và trước bất kỳ tư duy lý thuyết nào, được trình bày như là tri giác về một loại hiện hữu, nên người ta không coi việc suy tư phải thực hiện một phả hệ của hiện hữu là cần thiết, và do đó nó bị giới hạn trong việc tìm kiếm các điều kiện làm cho hiện hữu trở nên khả thể. Ngay cả khi người ta tính đến những biến đổi của ý thức quyết định, 5 ngay cả khi người ta thừa nhận rằng cấu thành của đối tượng không bao giờ hoàn thiện, thì cũng không có gì để bổ sung vào những gì khoa học đã nói về nó; đối tượng tự nhiên vẫn là một nhất tính lý tưởng đối với chúng ta và, theo cách nói nổi bật của Lachelier, ‘một mạng các thuộc tính chung’. Không ích gì khi phủ nhận bất kỳ giá trị bản thể luận nào đối với các nguyên tắc khoa học và chỉ để lại cho chúng một giá trị phương pháp luận, 6 vì sự bảo lưu này không tạo ra sự thay đổi thiết yếu nào đối với triết học, vì thứ hiện hữu duy nhất có thể hình dung được lại vẫn được xác định bởi phương pháp khoa học. Trong những hoàn cảnh này, cơ thể sống không thể thoát khỏi những xác quyết tự nó làm cho đối tượng trở thành một đối tượng mà nếu không có nó, thì sẽ không có chỗ đứng trong hệ thống kinh nghiệm. Các vị ngữ giá trị mà phán đoán phản ánh gán cho nó phải được duy trì, bằng hiện hữu, bởi một [tr.64] nền tảng của các thuộc tính vật lý-hóa học. Trong kinh nghiệm thông thường, chúng ta tìm thấy tính phù hợp và mối quan hệ có ý nghĩa giữa cử chỉ, nụ cười và giọng điệu của người nói. Nhưng mối quan hệ tương hỗ của sự biểu hiện này, coi cơ thể con người là hiện thân hướng ra bên ngoài của một cách hiện hữu-trong-thế giới, đối với sinh lý học cơ học, cần được phân giải thành một chuỗi các mối quan hệ nhân quả.

Cần phải liên kết hiện tượng ly tâm của sự biểu hiện với các điều kiện hướng tâm, quy giản quá trình tương tác với thế giới mà chúng ta gọi là hành vi thành các quá trình ngôi thứ ba, đưa kinh nghiệm xuống cấp độ tự nhiên vật lý và biến cơ thể sống thành một vật thể không có nội tại. Sau đó thái độ cảm xúc và thực tiễn của chủ thể sống đối với thế giới, được tích hợp vào một cơ chế tâm sinh lý. Mỗi sự đánh giá phải là kết quả của một sự chuyển giao, trong đó các tình huống phức tạp trở nên có khả năng đánh thức những ấn tượng cơ bản về khoái cảm và đau đớn, những ấn tượng gắn liền với các quá trình thần kinh. Các ý hướng thúc đẩy của sinh vật sống được chuyển đổi thành các vận động khách quan: ý chí chỉ được phép đưa ra một mệnh lệnh tức thời, việc thực hiện hành động hoàn toàn được giao cho một cơ chế thần kinh. Trải nghiệm giác quan, khi tách rời khỏi các chức năng cảm xúc và vận động, trở thành sự tiếp nhận đơn thuần một phẩm chất, và các nhà sinh lý học cho rằng họ có thể theo dõi, từ điểm tiếp nhận đến các trung tâm thần kinh, sự chiếu rọi của thế giới bên ngoài vào cơ thể sống. Cơ thể sống, khi được biến đổi như vậy, không còn là cơ thể của tôi, biểu hiện hữu hình của một Ngã cụ thể, mà trở thành một vật thể trong số tất cả những vật thể khác. Ngược lại, thân thể của kẻ khác không thể hiện ra trước mắt tôi như là bao bọc một Ngã khác. Nó chỉ đơn thuần là một cỗ máy, và nhận thức về kẻ khác thực sự không thể là về kẻ khác, vì nó xuất phát từ một suy luận và do đó được đặt đằng sau cỗ máy tự động không hơn gì một ý thức nói chung, một nguyên nhân siêu việt chứ không phải là một cư dân của các vận động của nó. Vì vậy, chúng ta không còn có một nhóm các yếu tố cấu thành nên thứ tự ngã cùng tồn tại trong một thế giới nữa.

Toàn bộ nội dung cụ thể của các ‘trạng thái tâm lý’ phát sinh, theo các quy luật của tâm sinh lý học và tâm lý học, từ một quyết định luận phổ quát, đã được tích hợp vào vật tự nó. [The in-itself, Khái niệm ‘Vật tự thân’ (tiếng Đức: Ding an sich) nổi tiếng của Kant đề cập đến thực tại của một đối tượng tồn tại độc lập với sự quan sát, kinh nghiệm hoặc khái niệm của con người - được Immanuel Kant phát triển như một thực tại ‘bất khả tri’ đằng sau các hiện tượng, nó biểu thị một sự tồn tại khép kín, bất động, sau này được Sartre đối lập với các hiện hữu ‘tự thân’ có ý thức - l’être-en-soi tồn tại tự thân của Sartre là một khái niệm hiện tượng luận định nghĩa sự tồn tại dày đặc, mờ đục và phi ý thức của các vật thể.- HHN] Không còn bất kỳ cái tự thân thực sự nào khác ngoài suy nghĩ của nhà khoa học, kẻ tri giác hệ thống và chỉ riêng suy nghĩ đó mới không còn chiếm giữ bất kỳ vị trí nào trong đó nữa. Như vậy, trong khi cơ thể sống trở thành một cái bên ngoài không có bên trong, thì chủ thể tính [tr.65] lại trở thành một cái bên trong không có bên ngoài, một kẻ quan sát vô tư. [Impartial spectator – Kẻ quan sát vô tư/khách quan) là khái niệm đạo đức cốt lõi của Adam Smith đại diện cho một ‘thẩm phán bên trong’ tưởng tượng, không thiên vị. Nó giúp con người tự đánh giá hành vi của mình dựa trên các chuẩn mực xã hội và sự đồng cảm, thay vì chỉ ích kỷ theo đuổi lợi ích cá nhân, từ đó điều chỉnh hành động để trở nên ‘đáng được yêu mến’ - HHN] Chủ nghĩa tự nhiên của khoa học và chủ nghĩa duy linh của chủ thể cấu thành phổ quát, xuất phát từ phép phản tư về khoa học, đều có điểm chung là chúng san bằng kinh nghiệm: trước cái Tôi cấu thành, các bản ngã kinh nghiệm là các đối tượng. Bản ngã kinh nghiệm là một khái niệm lai tạp, một sự pha trộn giữa tự-nó và cho-nó, mà triết học phản tư không thể gán cho bất cứ vị thế nào. Chừng nào còn có nội dung cụ thể thì nó còn được đưa vào hệ thống kinh nghiệm và do đó không phải là một chủ thể; chừng nào còn là một chủ thể thì nó vẫn trống rỗng và tự phân giải thành chủ thể siêu việt. Tính lý tưởng của đối tượng, sự khách thể hóa của cơ thể sống, việc đặt tinh thần vào một chiều kích giá trị không có thước đo chung với tự nhiên, đó là thứ triết học minh bạch đạt được bằng cách đẩy mạnh hơn nữa trên con đường tri thức được tri giác mở ra. Có thể cho rằng tri giác là một khoa học sơ khai, còn khoa học lại là một thứ tri giác có phương pháp và hoàn chỉnh,7 vì khoa học chỉ đơn thuần là tuân theo một cách thiếu phê phán cái lý tưởng về tri thức được thiết lập bởi sự vật được tri giác.

Giờ đây, thứ triết học này đang sụp đổ trước mắt chúng ta. Đối tượng tự nhiên là thứ đầu tiên biến mất và chính vật lý đã nhận ra giới hạn của các phạm trù của nó bằng cách đòi hỏi sự tái cấu trúc và kết hợp các khái niệm thuần túy mà nó đã áp dụng. Về phần mình, sinh vật đặt ra cho phân tích vật lý-hóa học không phải những khó khăn thực tiễn của một đối tượng phức tạp, mà là khó khăn lý thuyết của một hiện hữu có ý nghĩa.8 Nói một cách tổng quát hơn, ý tưởng về một vũ trụ tư tưởng hay một vũ trụ của các giá trị, trong đó tất cả các sinh vật có tư duy tiếp xúc và được dung hòa, đang bị đặt thành vấn đề. Bản chất của tự nhiên không mang tính hình học, và nó chỉ xuất hiện như vậy đối với một kẻ quan sát cẩn trọng, chỉ bằng lòng với dữ liệu vĩ mô. Xã hội loài người không phải là một cộng đồng những bộ óc lý trí, và chỉ ở những quốc gia may mắn, nơi mà sự cân bằng sinh học và kinh tế đã được thiết lập cục bộ và tạm thời, thì quan niệm như vậy mới trở nên khả thể. Trải nghiệm về sự hỗn loạn, cả ở cấp độ suy đoán lẫn cấp độ khác, thúc đẩy chúng ta nhìn nhận chủ nghĩa duy lý trong một viễn cảnh lịch sử mà về nguyên tắc nó đã tự đặt ra để tránh, để tìm kiếm một thứ triết học cần để giải thích sự trỗi dậy của lý trí trong một thế giới không phải do nó tạo ra và để [tr.66] chuẩn bị nền tảng của kinh nghiệm sống mà nếu thiếu nó thì lý trí và tự do sẽ mất đi nội dung và héo mòn. Chúng ta sẽ không còn cho rằng tri giác là khoa học sơ khai, mà ngược lại, khoa học cổ điển là một hình thức tri giác đánh mất tầm nhìn về nguồn gốc của nó và tin rằng nó đã hoàn thiện. Hành động triết học đầu tiên dường như là trở lại thế giới kinh nghiệm thực tế tồn tại trước thế giới khách quan, vì chính trong đó chúng ta mới có thể nắm bắt được cơ sở lý thuyết cũng như giới hạn của thế giới khách quan đó, khôi phục lại cho sự vật thứ hình thái cụ thể của chúng, cho sinh vật cách thức riêng của chúng trong việc tương tác với thế giới, và cho chủ thể tính thứ vốn có của nó trong lịch sử. Hơn nữa, nhiệm vụ của chúng ta là tái khám phá các hiện tượng, lớp kinh nghiệm sống mà qua đó những kẻ khác và sự vật khác được đem đến cho chúng ta lần đầu tiên, hệ thống “Tự ngã-Kẻ khác-Sự vật” khi nó hình thành; để đánh thức lại tri giác và phá vỡ thủ đoạn của nó, khiến chúng ta quên đi tri giác như một sự thật và như một tri giác vì lợi ích của đối tượng mà nó trình bày cho chúng ta và của truyền thống duy lý mà nó tạo ra.

Lĩnh vực hiện tượng này không phải là một ‘thế giới nội tâm’, ‘hiện tượng’ không phải là một ‘trạng thái ý thức’, hay một ‘sự kiện tinh thần’, và kinh nghiệm về các hiện tượng không phải là một hành động nội quan hay một trực giác theo nghĩa của Bergson. Từ lâu, người ta đã định nghĩa đối tượng của tâm lý học bằng cách nói rằng nó ‘không có sự mở rộng’ và ‘chỉ có thể tiếp cận được bởi một người’, dẫn đến kết quả là đối tượng đặc biệt này chỉ có thể được nắm bắt bằng một loại hành động đặc biệt, ‘tri giác nội tại’ hay nội quan, trong đó chủ thể và đối tượng hòa quyện và tri ​​thức đạt được bằng một hành động trùng hợp. Do đó, việc quay trở lại với ‘dữ liệu trực tiếp của ý thức’ trở thành một nỗ lực vô vọng vì sự xem xét triết học đang cố gắng trở thành thứ mà về nguyên tắc nó không thể nhìn thấy. Khó khăn không chỉ là việc phá bỏ định kiến ​​của cái ngoại tại, như tất cả các triết học đều khuyến khích người mới bắt đầu làm, hoặc mô tả tâm trí bằng một ngôn ngữ được tạo ra để tái hiện sự vật. Nó còn cơ bản hơn nhiều, bởi vì địa vị thấp kém hơn, được định nghĩa bởi ấn tượng, về bản chất đã né tránh mọi nỗ lực diễn đạt. Không chỉ việc truyền đạt trực giác triết học cho kẻ khác trở nên khó khăn—hay đúng hơn là bị thu hẹp lại thành một loại thần chú được thiết kế để tạo ra trong họ những trải nghiệm tương tự như của nhà triết học—mà chính nhà triết học cũng không thể nhận thức rõ ràng những gì ông ta thấy trong khoảnh khắc, vì ông ta sẽ phải suy nghĩ về nó, tức là cố định và bóp méo nó. Do đó, cái trực tiếp là một cuộc sống cô đơn, mù quáng và câm lặng [tr.67]. Việc quay lại với cái hiện tượng không thể hiện bất kỳ đặc điểm nào trong đó.

Cấu hình cảm giác của một vật thể hay một cử chỉ, điều mà sự phê phán giả thuyết về tính bất biến đưa ra trước mắt chúng ta, không được nắm bắt trong một sự trùng hợp ngẫu nhiên không thể diễn tả, mà nó được ‘hiểu’ thông qua một loại hành động chiếm dụng mà tất cả chúng ta đều trải nghiệm khi nói rằng chúng ta đã ‘phát hiện ra’ con thỏ trong mớ tán lá bùng nhùng, hoặc chúng ta đã ‘bắt gặp’ một cử chỉ nhỏ. Một khi định kiến ​​của cảm giác bị loại bỏ, thì một khuôn mặt, một chữ ký, một hình thức hành vi không còn là ‘dữ liệu thị giác’ đơn thuần mà ý nghĩa tâm lý của nó được tìm kiếm trong trải nghiệm nội tâm của chúng ta, và đời sống tinh thần của người khác trở thành một đối tượng trực tiếp, một chỉnh thể chứa đựng ý nghĩa nội tại. Nói chung thì chính khái niệm về cái lập tức vốn được biến đổi: từ nay trở đi, cái lập tức không còn là ấn tượng, thứ đối tượng vốn đồng nhất với chủ thể, mà là ý nghĩa, cấu trúc, sự sắp xếp tự phát của các bộ phận. ‘Đời sống tinh thần’ của tôi được trao cho tôi theo chính cách thức như vậy, bởi vì sự phê phán giả thuyết về tính bất biến dạy tôi nhận ra sự liên kết và nhất tính du dương trong hành vi của tôi như là dữ liệu gốc của kinh nghiệm nội tâm, và bởi vì phép nội quan, khi bị hạ bệ thành nội dung thực chứng của nó, bao gồm việc làm cho ý nghĩa nội tại của bất kỳ hành vi nào cũng trở nên rõ ràng. 9 Do đó, những gì chúng ta khám phá ra bằng cách vượt qua định kiến ​​của thế giới khách quan thì đều không phải là một thế giới nội tâm huyền bí. Thế giới kinh nghiệm sống này cũng không hoàn toàn khép kín đối với ý thức ngây thơ, như tính thấp kém của Bergson. [Bergson cho rằng trí tuệ là một thứ năng lực ‘thấp kém’ hoặc hạn chế so với trực giác, vì nó được thiết kế cho hành động thực tiễn và thao túng vật chất hơn là để hiểu bản chất thực sự của sự sống và thời gian. Trí tuệ phân tích, chia nhỏ và đóng băng thực tại, trong khi trực giác nắm bắt trực tiếp trải nghiệm nội tại, luôn lưu động về thời gian và biến đổi. HHN] Trong việc phê phán giả thuyết về tính bất biến và vạch trần các hiện tượng, nhà tâm lý học đã đi ngược lại định hướng tự nhiên của quá trình nhận thức, vốn mù quáng trải qua các hoạt động của tri giác tiến thẳng đến kết quả có mục đích của chúng. Không có gì khó hơn việc biết chính xác những gì mình nhìn thấy.

‘Trong trực giác tự nhiên có một loại “cơ chế-bí mật” mà chúng ta phải phá vỡ để đạt tới tồn tại hiện tượng’10 hoặc một phép biện chứng mà qua đó tri giác tự che giấu chính nó. Nhưng mặc dù bản chất của ý thức là quên đi các hiện tượng của chính nó, do đó cho phép ‘sự vật’ được cấu thành, tính quên lãng này không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt, mà là sự vắng mặt của một thứ gì đó mà ý thức có thể mang vào sự hiện diện của nó [tr.68]: nói cách khác, ý thức chỉ có thể quên đi các hiện tượng bởi vì nó có thể gợi nhớ lại chúng, nó bỏ qua chúng để ưu tiên cho sự vật chỉ bởi vì chúng là cái nôi của sự vật. Ví dụ, chúng không bao giờ hoàn toàn xa lạ với ý thức khoa học, vốn mượn tất cả các mô hình của nó từ các cấu trúc của kinh nghiệm sống; nó chỉ đơn giản là không ‘chủ đề hóa’ chúng, hoặc làm rõ các chân trời của ý thức tri giác bao quanh nó mà nó cố gắng đưa trình biểu hiện khách quan về các mối quan hệ cụ thể của nó. Trải nghiệm các hiện tượng, do đó, không giống như trực giác Bergsonian, thứ trực giác về một thực tại mà chúng ta không biết và không có cầu nối phương pháp luận nào dẫn đến—nó là việc làm rõ hoặc đưa ra ánh sáng đời sống tiền khoa học của ý thức, điều duy nhất mang lại ý nghĩa cho các hoạt động khoa học và là điều mà các hoạt động khoa học luôn quy chiếu trở lại. Nó không phải là một sự chuyển đổi phi lý, mà là một phân tích mang tính ý hướng.

Nếu, như chúng ta thấy, tâm lý học hiện tượng luận khác biệt với tâm lý học nội quan về mọi đặc điểm, đó là vì nó khác nhau về nguyên tắc cơ bản. Tâm lý học nội quan đã phát hiện ra, ở rìa của thế giới vật chất, một vùng ý thức trong đó các khái niệm vật lý không còn hiệu lực, nhưng nhà tâm lý học vẫn tin rằng ý thức không hơn gì một lĩnh vực của hiện hữu, và ông quyết định khám phá lĩnh vực này giống như nhà vật lý khám phá lĩnh vực của mình vậy. Ông cố gắng mô tả những gì đã cho sẵn của ý thức nhưng không đặt câu hỏi về sự tồn tại tuyệt đối của thế giới xung quanh nó. Cùng với nhà khoa học và lẽ thường, ông giả định thế giới khách quan là khuôn viên logic cho tất cả các mô tả của mình, và là bối cảnh cho tư duy của ông. Ông không nhận thức được rằng tiền đề này chi phối ý nghĩa gán cho từ ‘hiện hữu’, buộc nó phải đưa ý thức vào tồn tại dưới cái tên ‘sự kiện tâm lý’, do đó làm nó chệch hướng khỏi việc nắm bắt thực sự của ý thức hoặc khỏi trải nghiệm trực tiếp thực sự, và làm tê liệt nhiều biện pháp phòng ngừa được thực hiện để tránh làm méo mó cái ‘nội tâm’.

Đây là điều đã xảy ra với chủ nghĩa kinh nghiệm khi nó thay thế thế giới vật chất bằng một thế giới của các sự kiện nội tâm. Đó lại là điều xảy ra với Bergson khi chính ông đối lập ‘tính đa dạng của sự hợp nhất’ và ‘tính đa dạng của tình trạng liền kề’. Bởi vì ở đây vẫn là vấn đề của hai phương thức hiện hữu. Tất cả những gì đã xảy ra là năng lượng cơ học đã được thay thế bằng năng lượng tinh thần, thứ hiện hữu đứt đoạn của chủ nghĩa kinh nghiệm được thay thế bằng thứ hiện hữu linh hoạt, nhưng chúng ta có thể nói rằng nó luôn trôi chảy, khi mô tả nó ở ngôi thứ ba [tr.69]. Bằng cách lấy Gestalt hình thái làm chủ đề cho phép phản ánh của mình, nhà tâm lý học đã đoạn tuyệt với chủ nghĩa tâm lý, bởi vì ý nghĩa, sự kết nối và ‘chân lý’ của kẻ tri giác không còn phát sinh từ sự kết hợp ngẫu nhiên của các cảm giác do bản chất tâm sinh lý của chúng ta mang lại, mà quyết định các giá trị không gian và chất lượng của những cảm giác này, và là cấu hình bất khả quy giản của chúng.11 Từ đó suy ra rằng thái độ siêu việt đã được ngụ ý trong các mô tả của nhà tâm lý học, miễn là những mô tả đó trung thực. Ý thức như một đối tượng nghiên cứu có đặc điểm là không thể phân tích được, ngay cả theo cách ngây thơ, nếu không đưa chúng ta vượt ra ngoài các giả định thông thường. Ví dụ, nếu bắt đầu tạo ra một tâm lý học tích cực về tri giác, trong khi vẫn cho phép ý thức bị giam hãm trong cơ thể, và thông qua đó chịu tác động của một thế giới tự thân, thì sẽ dẫn ta đến việc mô tả đối tượng và thế giới như chúng xuất hiện đối với ý thức, và bằng cách ấy để tìm hiểu xem liệu cái thế giới hiện tại trực tiếp này, cái thế giới duy nhất mà chúng ta biết, có phải cũng là thế giới duy nhất mà chúng ta có lý do để nói đến hay không. Tâm lý học luôn phải đối mặt với vấn đề về cấu thành của thế giới.

Phép phản tư tâm lý, một khi đã bắt đầu, sẽ tự vượt qua chính nó thông qua động lực của chính nó. Khi đã nhận ra tính độc đáo của các hiện tượng trong mối quan hệ với thế giới khách quan – bởi vì chính thông qua chúng mà thế giới khách quan được chúng ta biết đến – thì nó dẫn đến việc tích hợp mọi đối tượng khả thể với chúng và cố gắng tìm hiểu xem thông qua chúng, đối tượng đó được cấu thành như thế nào. Đồng thời, trường hiện tượng trở thành một trường siêu việt. Vì giờ đây nó là trọng tâm phổ quát của tri thức, nên ý thức chắc chắn không còn là một vùng hiện hữu cụ thể, một tập hợp nhất định các nội dung ‘tinh thần’; nó không còn cư trú hoặc không còn bị giới hạn trong phạm vi của các ‘hình thức’ mà phép phản tư tâm lý đã nhận ra trước đó, nhưng các hình thức, giống như mọi thứ khác, lại tồn tại cho nó. Đó không còn là vấn đề mô tả thế giới kinh nghiệm sống nó tự mang trong mình như một dữ liệu mờ ảo nào đó mà nó phải được cấu thành. Quá trình làm rõ, vốn phơi bày cái thế giới ‘đã trải-qua’ tồn tại trước thế giới khách quan, được đưa vào hoạt động trên chính cái thế giới ‘đã trải qua’ ấy, do đó, bộc lộ trước trường hiện tượng, trường siêu việt. Hệ thống ‘Tự ngã-Kẻ khác-Thế giới’ [tr.70] lần lượt được xem như một đối tượng phân tích và giờ đây vấn đề là đánh thức những suy nghĩ cấu thành nên những kẻ khác, bản thân tôi như một chủ thể cá nhân và thế giới như một cực tri giác của tôi. Vậy là phép ‘quy giản’ mới này sẽ chỉ công nhận một chủ thể thực sự duy nhất, đó là cái Tôi tư duy. Bước chuyển từ naturata sang naturans, [Naturata và naturans là hai khái niệm triết học cốt lõi của Baruch Spinoza, mô tả hai khía cạnh của cùng một thực tại duy nhất (Chúa hoặc Tự nhiên). Natura naturans là ‘tự nhiên đang tạo hóa’ (nguyên nhân tự thân, chủ động), trong khi Natura naturata là ‘tự nhiên đã được tạo ra’ (kết quả, vạn vật hữu hình)- HHN] từ được cấu thành sang cấu thành, sẽ hoàn thành việc khái quát hóa được bắt đầu bởi tâm lý học và sẽ không để lại bất cứ điều gì ngầm hiểu hoặc được chấp nhận một cách ngầm định trong tri ​​thức của tôi. Nó sẽ cho phép tôi nắm bắt hoàn toàn kinh nghiệm của mình, do đó đồng nhất suy nghĩ và tư tưởng. Đó là quan điểm thông thường của một triết học siêu việt, và ít nhất là về mọi mặt, đó cũng là chương trình của một hiện tượng học siêu việt. 12

Giờ đây, lĩnh vực hiện tượng như đã bộc lộ trong chương này, đặt ra một khó khăn cơ bản đối với bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm cho kinh nghiệm trở nên trực tiếp và hoàn toàn rõ ràng. Đúng là chủ nghĩa tâm lý đã bị bỏ lại phía sau, cũng như ý nghĩa và cấu trúc của tri giác đối với chúng ta không còn chỉ là kết quả của các sự kiện tâm sinh lý, và tính hợp lý không còn là một sự tình cờ may mắn kết nối các cảm giác phân tán, và Gestalt hình thái được công nhận là yếu tố cơ bản. Nhưng mặc dù Gestalt có thể được diễn đạt bằng khuôn viên của một số quy luật nội tại, tuy nhiên quy luật này không được coi là một mô hình làm cơ sở để xây dựng các hiện tượng cấu trúc. Sự xuất hiện của chúng không phải là thứ mở ra bên ngoài của một lý trí đã tồn tại từ trước. Không phải vì ‘hình thức’ tạo ra một trạng thái cân bằng nhất định, giải quyết vấn đề về tính mạch lạc tối đa và, theo nghĩa Kantian, làm cho một thế giới trở nên khả thể, mà nó được hưởng một vị trí đặc quyền trong tri giác của chúng ta; đó chính là sự xuất hiện của thế giới chứ không phải là điều kiện tính khả thể của nó; đó là sự ra đời của một chuẩn mực chứ không phải được hiện thực hóa theo một chuẩn mực; đó là sự đồng nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong chứ không phải là phép phóng rọi của cái bên trong lên cái bên ngoài. Mặc dù vậy, đó không phải là kết quả của một vòng tuần hoàn nào đó của các trạng thái tinh thần tự thân, đó cũng không phải là một ý niệm. Cái Gestalt hình thái của một vòng tròn không phải là quy luật toán học của nó mà là diện mạo học của nó. Việc nhận thức các hiện tượng như một trật tự nguyên gốc là sự lên án chủ nghĩa kinh nghiệm như một lời giải thích về trật tự và lý trí trong khuôn viên sự kết hợp của các sự kiện và các tai nạn tự nhiên, nhưng nó vẫn để lại cho chính lý trí và trật tự cái đặc trưng của thực tính.

Nếu một ý thức cấu thành phổ quát [tr.71] là khả thể, thì sự mơ hồ của sự kiện sẽ biến mất. Thật vậy, nếu chúng ta muốn phép phản tư duy trì, trong đối tượng mà nó tác động, các đặc điểm mô tả của nó, và hiểu thấu đáo đối tượng đó, thì chúng ta không được coi nó như một sự trở lại đơn thuần với một lý trí phổ quát và xem nó như được dự đoán trong kinh nghiệm phi phản tư, chúng ta phải coi nó như một hoạt động sáng tạo vốn tự nó tham gia vào tính hiện thực của kinh nghiệm ấy. Đó là lý do tại sao hiện tượng luận, duy nhất trong tất cả các triết học, lại nói về một trường siêu việt. Từ này cho thấy rằng phép phản tư không bao giờ nắm giữ, được dàn xếp và khách thể hóa trước cái nhìn của nó, toàn bộ thế giới và tính đa nguyên của các đơn tử, cũng như cái nhìn của nó không bao giờ có gì khác hơn tính bộ phận và có sức mạnh hạn chế. Đó cũng là lý do tại sao hiện tượng luận lại là hiện tượng luận, tức là nghiên cứu về cuộc xuất trình của hiện hữu trong ý thức, thay vì giả định khả tính đó đã có sẵn từ trước. Điều đáng chú ý là các triết học siêu việt kiểu kinh điển không bao giờ đặt câu hỏi về khả tính thực hiện sự bộc lộ hoàn toàn mà họ luôn cho rằng đã được thực hiện ở đâu đó. Đối với họ, chỉ cần điều đó là cần thiết, và bằng cách này, họ đánh giá cái đang có bằng cái cần phải có, bằng những gì mà ý niệm về tri thức đòi hỏi. Trên thực tế, cái Tôi Tư duy không bao giờ có thể xóa bỏ tính cố hữu của nó trong một chủ thể cá nhân, vốn biết mọi thứ theo một góc nhìn cụ thể.

Phép phản tư không bao giờ có thể khiến tôi ngừng nhìn thấy mặt trời cách xa hai trăm yards [thước Anh, bằng 0,914 mét] trong một ngày sương mù, hay nhìn thấy nó ‘mọc’ và ‘lặn’, hoặc suy nghĩ bằng bộ máy văn hóa mà nền giáo dục, những nỗ lực trước đây và lịch sử cá nhân đã cung cấp cho tôi. Tôi không bao giờ thực sự tập hợp lại, hay gợi lên đồng thời, tất cả những suy nghĩ cơ bản góp phần vào nhận thức hoặc niềm tin hiện tại của mình. Triết học phê phán, xét cho cùng, không coi trọng sự kháng cự này do tính thụ động gây ra, cứ như thể không cần thiết phải trở thành chủ thể siêu việt để có quyền khẳng định nó vậy. Do đó, nó ngầm giả định rằng tư duy của nhà triết học không bị chi phối bởi bất kỳ hoàn cảnh nào. Bắt đầu từ cảnh tượng của thế giới, vốn là thứ mà tự nhiên mở ra cho đa nguyên tính chủ thể tư duy, nó tìm kiếm những điều kiện làm cho thế giới độc nhất này được trình bày cho một số bản ngã kinh nghiệm trở nên khả thể, và tìm thấy nó trong một bản ngã siêu việt mà họ tham gia nhưng lại không chia cắt nó, bởi vì nó không phải là một Hữu thể, mà là một Nhất tính hay một Giá trị. Đây là chính là lý do mà vấn đề tri thức về những kẻ khác không bao giờ được đặt ra trong triết học Kantian: cái tôi siêu việt mà nó bàn luận cũng thuộc về những kẻ khác như thuộc về tôi, phân tích ngay từ đầu [tr.72] nằm ngoài tôi, và không liên quan gì khác ngoài việc xác định các điều kiện chung tạo nên một thế giới cho một bản ngã—của chính tôi hoặc của những kẻ khác—và do đó nó không bao giờ đặt ra câu hỏi: ai đang tư duy? Mặt khác, nếu triết học đương đại lấy đó làm chủ đề chính, và nếu những kẻ khác trở thành vấn đề đối với nó, thì đó là vì nó đang cố gắng đạt được tính tự-khám phá triệt để hơn. Phản tư không thể thấu đáo, hoặc rọi ánh sáng rực rỡ lên đối tượng, nếu nó không đạt được nhận thức về chính nó cũng như về kết quả của nó.

Chúng ta không chỉ phải áp dụng một thái độ phản tư, trong một Cogito Tư duy bất khả xâm phạm, mà hơn nữa còn phải phản tư về phép phản tư này, hiểu được tình huống tự nhiên mà nó nhận thức được và do đó là một phần định nghĩa về nó; không chỉ đơn thuần thực hành triết học, mà còn nhận ra sự biến đổi mà nó mang lại trong tầm nhìn của thế giới và trong sự tồn tại của chúng ta. Chỉ khi đạt được điều kiện đó, thì tri thức triết học mới trở thành tri thức tuyệt đối, và không còn là một chuyên ngành hay một kỹ thuật. Vì vậy, sẽ không có sự khẳng định về một Nhất tính tuyệt đối, càng ít nghi ngờ hơn khi nó không nhất thiết phải trở thành Hữu thể. Cốt lõi của triết học không còn là một chủ thể siêu việt tự trị, được tìm thấy ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả: nó nằm ở sự khởi đầu vĩnh cửu của phép phản tư, tại cái điểm mà một cuộc sống cá nhân bắt đầu phản tư về chính nó. Phép phản tư chỉ thực sự là phản tư nếu nó không bị đưa ra ngoài chính nó, chỉ khi nó tự nhận thức mình như là phép phản tư-về-một-kinh nghiệm-không phản tư, và do đó như một sự thay đổi trong cấu trúc tồn tại của chúng ta. Trước đó, chúng ta đã chỉ trích chủ nghĩa trực giác và phép nội quan Bergsonian vì tìm cách nhận thức bằng trùng hợp. Nhưng ở đối cực của triết học, trong khái niệm về một ý thức cấu thành phổ quát, chúng ta gặp phải một sai lầm hoàn toàn tương ứng. Sai lầm của Bergson nằm ở chỗ tin rằng chủ thể tư duy có thể hòa nhập với đối tượng được tư duy, và tin rằng tri thức có thể phình to và được tích hợp vào hiện hữu. Sai lầm của các triết học phản tư là tin rằng chủ thể tư duy có thể hấp thụ vào tư duy của mình hoặc chiếm hữu nguyên vẹn đối tượng của tư duy, tin rằng hiện hữu của chúng ta có thể được quy về tri thức của mình. Là chủ thể tư duy, chúng ta không bao giờ là chủ thể phi phản tư mà chúng ta tìm cách hiểu; nhưng chúng ta cũng không thể hoàn toàn trở thành ý thức, hoặc biến mình thành ý thức siêu việt. Nếu chúng ta là ý thức, chúng ta sẽ phải có trước mắt mình cả thế giới, cả lịch sử của chúng ta và các đối tượng được tri giác trong tính độc nhất của chúng như những hệ thống quan hệ minh bạch.

[Tr.73] Giờ đây, ngay cả khi không bàn đến tâm lý học, khi cố gắng hiểu, bằng phản tư trực tiếp và không cần đến sự trợ giúp của các liên tưởng đa dạng của tư duy quy nạp, chuyển động được nhận thức, hay một vòng tròn là gì, chúng ta chỉ có thể làm sáng tỏ sự thật độc nhất này bằng cách thay đổi nó phần nào thông qua trí tưởng tượng, và sau đó tập trung suy nghĩ của chúng ta vào yếu tố bất biến của trải nghiệm tinh thần này. Chúng ta chỉ có thể tiếp cận cá nhân bằng quy trình lai là tìm ra một ví dụ, tức là bằng cách tước bỏ tính hiện thực của nó. Do đó, liệu tư duy có thể hoàn toàn ngừng mang tính quy nạp hay không, và liệu nó có thể đồng hóa bất kỳ kinh nghiệm nào đến mức tiếp nhận và chiếm hữu toàn bộ cấu trúc của nó hay không, vẫn là điều đáng nghi vấn. Một triết học trở nên siêu việt, hay cấp tiến, không phải bằng cách chiếm vị trí trong ý thức tuyệt đối nhưng không đề cập đến các phương thức đạt được điều đó, mà bằng cách xem xét chính nó như một vấn đề; không phải bằng cách giả định một tri thức được trình bày hoàn toàn rõ ràng, mà bằng cách nhận ra giả định này của lý trí như một vấn đề triết học cơ bản.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải bắt đầu việc xem xét tri giác bằng những cân nhắc tâm lý. Nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ không hiểu được toàn bộ ý nghĩa của vấn đề siêu việt, vì chúng ta sẽ, bắt đầu từ thái độ tự nhiên, không tuân theo một cách có hệ thống các quy trình dẫn đến nó.  Chúng ta phải thường xuyên lui tới lĩnh vực hiện tượng và thông qua các mô tả tâm lý, làm quen với chủ thể của các hiện tượng, nếu chúng ta muốn tránh việc ngay từ đầu đặt mình vào một chiều kích siêu việt được cho là vĩnh cửu, như triết học phản ánh, do đó bỏ qua toàn bộ vấn đề cấu thành. Tuy nhiên, chúng ta không thể bắt đầu mô tả tâm lý của mình mà không gợi ý rằng một khi được thanh lọc khỏi toàn bộ chủ nghĩa tâm lý, nó có thể trở thành một phương pháp triết học. Để khôi phục kinh nghiệm tri giác bị chôn vùi dưới chính kết quả của nó, sẽ không đủ nếu chỉ trình bày những mô tả về chúng vốn có thể chưa được hiểu, bằng các tham chiếu và dự đoán triết học chúng ta phải thiết lập quan điểm mà từ đó chúng có thể tỏ ra là chân. Do đó, chúng ta không thể bắt đầu mà không có tâm lý học cũng như không thể chỉ với tâm lý học. Kinh nghiệm dự đoán một triết học và triết học chỉ đơn thuần là một kinh nghiệm được làm sáng tỏ. Nhưng giờ đây, khi lĩnh vực hiện tượng đã được khoanh vùng đầy đủ, chúng ta hãy bước vào lĩnh vực mơ hồ này và hãy chắc chắn về những bước đi đầu tiên của mình đối với nhà tâm lý học, [tr.74] cho đến khi cuộc tự kiểm nghiệm của nhà tâm lý học dẫn chúng ta, thông qua sự phản tư bậc hai, đến hiện tượng của hiện tượng, và biến đổi một cách dứt khoát lĩnh vực hiện tượng thành một lĩnh vực siêu việt.

________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

* The original French word is ‘le sentir’ (Translator’s note).

1 Koffka, Perception, an Introduction to the Gestalt Theory, pp. 558–9.

2 Id., Mental Development, p. 138.

3 Scheler, Die Wissenformen und die Gesellschaft, p. 408.

4 Cassirer, Philosophie der symbolischen Formen, T. III, Phänomenologie der Erkenntnis, pp. 77–8.

5 As L. Brunschvicg does.

6 Cf. for example, L’Expérience humaine et la Causalité physique, p. 536.

7 Cf. for example Alain, Quatre-vingt-un chapitres sur l’Esprit et les Passions, p. 19, and Brunschvicg, L’Expérience humaine et la causalité physique, p. 468.

8 Cf. La Structure du Comportement, and below, First Part.

9 We shall, consequently, in the following chapters, resort indifferently to the internal experience of our perception and to the ‘external’ experience of perceiving subjects.

10 Scheler, Idole der Selbsterkenntnis, p. 106.

11 Cf. La Structure du Comportement, pp. 106–19 and 261.

12 It is set forth in these terms in most of Husserl’s works, even in those published during his last period.