Powered By Blogger

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXXIX)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

3. Tự do

Không gian xã hội bắt đầu có một từ trường, và một vùng của những người bị bóc lột hiện ra. Trước mọi áp lực từ bất kỳ phía nào của chân trời xã hội, quá trình tái tập hợp trở nên rõ ràng hơn, vượt ra ngoài các hệ tư tưởng và các nghề nghiệp khác nhau. Giai cấp đang hình thành, và chúng ta đề cập đến một tình huống mang tính cách mạng khi mối liên hệ khách quan tồn tại giữa các bộ phận của giai cấp vô sản - mối liên hệ mà một người quan sát tuyệt đối sẽ nhận ra - cuối cùng được trải nghiệm trong  tri giác như một trở ngại chung đối với sự tồn tại của mỗi kẻ và mọi kẻ. Không nhất thiết phải có một hình ảnh về cách mạng xuất hiện tại một thời điểm cụ thể nào đó. Ví dụ, liệu nông dân Nga năm 1917 có hình dung rõ ràng về cách mạng và việc chuyển giao tài sản hay không vẫn còn là điều đáng nghi ngờ. Cách mạng nảy sinh từng ngày từ sự kết hợp của những mục tiêu gần và xa. Không nhất thiết mỗi thành viên của giai cấp vô sản phải nghĩ về bản thân mình theo đúng nghĩa, cái nghĩa mà một nhà lý luận Marxist gán cho từ này. Chỉ cần gã thợ học việc hay tên nông dân cảm thấy mình đang tiến về một ngã ba đường nhất định, con đường mà những người lao động thành thị cũng đang dẫn nhau đến. Cả hai đều tìm thấy điểm cuối hành trình trong cuộc cách mạng, điều mà có lẽ đã khiến chúng kinh hãi nếu nó được mô tả và trình bày trước cho mình. Có thể nói rằng, cùng lắm thì cuộc cách mạng nằm ở cuối con đường họ đã đi và trong các dự phóng của họ dưới hình thức ‘mọi thứ phải thay đổi’, điều mà mỗi kẻ trải nghiệm một cách cụ thể trong những khó khăn riêng biệt và trong chiều sâu của những định kiến ​​cá nhân. Cả trật tự đã được định sẵn lẫn hành động tự do phá hủy nó đều không được tái hiện; chúng được trải nghiệm trong mù mờ. Điều đó không có nghĩa là công nhân và nông dân gây ra cách mạng mà không nhận thức được về nó, và ở đây chúng ta có những ‘lực lượng cơ bản’ mù quáng bị một vài kẻ kích động xảo quyệt lợi dụng. Có lẽ Préfet de police Viên cảnh sát trưởng sẽ nhìn nhận lịch sử theo cách này. Nhưng những cách nhìn nhận như vậy không giúp ích gì cho gã khi đối mặt với một tình huống cách mạng thực sự, trong đó khẩu hiệu của những kẻ kích động bị cáo buộc được hiểu ngay lập tức, như thể bởi một sự hài hòa được thiết lập từ trước, và nhận được sự đồng thuận từ mọi phía, bởi vì chúng kết tinh những gì tiềm ẩn trong cuộc sống của tất cả công nhân sản xuất. Phong trào cách mạng, giống như tác phẩm của nghệ sĩ, là một ý định tự nó tạo ra các công cụ [tr.518] và phương tiện biểu đạt của nó. Dự phóng cách mạng không phải là kết quả của một phán đoán có chủ ý, hay việc đặt ra một mục tiêu rõ ràng. Đó là những điều xảy ra với kẻ tuyên truyền, bởi vì gã được giới trí thức đào tạo, hoặc, trong trường hợp của giới trí thức, bởi vì chúng điều chỉnh cuộc sống của mình dựa trên tư tưởng của bọn kia. Nhưng nó không ngừng là quyết định trừu tượng của một nhà tư tưởng và trở thành hiện thực lịch sử cho đến khi nó được thể hiện trong các mối quan hệ giữa người với người, và trong mối quan hệ của con người với công việc của gã. Do đó, đúng là tôi tự nhận mình như một công nhân hoặc một gã tư sản vào ngày tôi đứng lên bảo vệ lập trường của mình đối với một cuộc cách mạng có thể xảy ra, và hành động này không phải là kết quả, thông qua một quy luật nhân quả máy móc nào đó, của địa vị công nhân hay tư sản của tôi - đó là lý do tại sao mọi giai cấp đều có kẻ phản bội - nhưng nó cũng không phải là một sự đánh giá thiếu căn cứ, tức thời và không có động cơ; nó được chuẩn bị bởi một quá trình phân tử [Molecular process quá trình phân tử - là các hoạt động hóa học hoặc vật lý diễn ra ở cấp độ phân tử, bao gồm sự tương tác, biến đổi hoặc chuyển động của các phân tử đơn lẻ; đây là nền tảng của các hoạt động sinh học như sao chép DNA, tổng hợp protein, hoặc các hiện tượng lý hóa, ẩm thực phân tử - HHN] nào đó, nó trưởng thành trong đồng-tồn tại trước khi bùng nổ thành lời nói và liên quan đến các mục tiêu khách quan. Người ta hoàn toàn có lý khi chỉ ra rằng không phải cảnh cùng cực nghèo khó mới sản sinh ra những nhà cách mạng sáng suốt nhất, nhưng người ta lại quên đặt câu hỏi tại sao cuộc vãn hồi thịnh vượng lại thường mang đến một tâm trạng cấp tiến hơn trong quần chúng. Đó là vì việc cải thiện điều kiện sống đã tạo ra một cấu trúc mới cho không gian xã hội: tầm nhìn không bị giới hạn bởi những mối quan tâm trước mắt, có sự vận dụng kinh tế và có chỗ cho một dự phóng mới liên quan đến cuộc sống. Do đó hiện tượng này không chứng minh rằng bọn công nhân tự tạo ra mình thành công nhân và nhà cách mạng ex nihilo từ hư không, mà ngược lại, chúng làm như vậy trên một cơ sở đồng-tồn tại nhất định. Sai lầm cố hữu trong quan niệm đang được thảo luận, nói chung, là việc bỏ qua tất cả các dự án ngoại trừ dự án trí tuệ, thay vì xem xét dự án hiện sinh, đó là sự phân cực của cuộc sống hướng tới một mục tiêu vừa xác định vừa không xác định, mà đối với kẻ liên quan, hoàn toàn không thể hiện ra, và chỉ được nhận ra khi đạt được. Ý hướng tính được quy giản thành các trường hợp cụ thể của các hành động khách thể hóa, tình trạng vô sản trở thành đối tượng của tư tưởng, và không gặp khó khăn gì trong việc chứng minh, theo phương pháp thường trực của chủ nghĩa duy tâm, và giống như mọi đối tượng tư tưởng khác, nó chỉ tồn tại trước và thông qua ý thức cấu thành nên nó như một đối tượng. Chủ nghĩa duy tâm - giống như tư duy khách quan - bỏ qua ý hướng tính thực sự, vốn nằm đối tượng của nó hơn là đặt định [tr.519] nó. Chủ nghĩa duy tâm bỏ qua câu hỏi, giả định, khát vọng, kỳ vọng, tính bất định thực chứng của các phương cách ý thức này, vì nó chỉ quen thuộc với ý thức ở thì hiện tại hoặc tương lai, đó là lý do tại sao nó không giải thích được giai cấp. Bởi vì giai cấp không phải là vấn đề để quan sát hay ra lệnh; giống như trật tự được ấn định của hệ thống tư bản chủ nghĩa, giống như cách mạng, trước khi được suy tư, nó được sống trải như một hiện diện ám ảnh, như là khả tính, bí ẩn và huyền thoại. Việc làm cho ý thức-giai cấp trở thành kết quả của một quyết định và một sự lựa chọn tức là nói rằng các vấn đề được giải quyết ngay từ ngày chúng được đặt ra, và mọi vấn đề đều đã chứa đựng câu trả lời mà nó đang chờ đợi; nói tóm lại, đó là quay trở lại với tính nội tại và từ bỏ nỗ lực hiểu lịch sử. Trên thực tế, dự phóng trí tuệ và việc đặt ra các mục tiêu chỉ đơn thuần là việc hoàn thành một dự phóng hiện sinh. Chính tôi là kẻ định hướng, tạo ý nghĩa và tương lai cho cuộc đời mình, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng chỉ là những khái niệm; chúng bắt nguồn từ hiện tại và quá khứ của tôi, đặc biệt là từ cách thức đồng-tồn tại giữa hiện tại và quá khứ của tôi. Ngay cả trong trường hợp của một trí thức trở thành nhà cách mạng, quyết định của gã cũng không xuất phát ex nihilo từ hư không; nó có thể theo sau một thời kỳ cô độc kéo dài: kẻ trí thức đang tìm kiếm một học thuyết đòi hỏi cao và giúp gã vượt qua chủ thể tính của mình; hoặc gã có thể khuất phục trước ánh sáng rõ ràng được soi rọi bởi cách diễn giải lịch sử theo cách Marxist, trong trường hợp đó gã đã đặt tri thức lên hàng đầu trong cuộc sống của mình, và điều đó tự nó chỉ có thể hiểu được nhờ vào quá khứ và tuổi thơ của gã. Ngay cả quyết định trở thành một kẻ cách mạng không có động cơ, và bằng một hành động tự do thuần túy cũng thể hiện một cách sống nhất định trong thế giới tự nhiên và xã hội, điển hình là cách sống của kẻ trí thức. Gã ‘gắn bó với giai cấp công nhân’ ngay từ điểm xuất phát là một trí thức chứ không phải từ bất cứ nơi nào khác - và đó là lý do tại sao ngay cả chủ nghĩa tín ngưỡng [Fideism là một quan điểm triết học và thần học cho rằng niềm tin tôn giáo dựa trên đức tin, sự mặc khải hoặc kinh nghiệm nội tâm, thay vì lý trí hay chứng minh khoa học; theo quan điểm này, lý trí không có khả năng nhận biết các chân lý siêu nhiên, và đức tin được coi là cách duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi-HHN], trong trường hợp của gã, vẫn đáng bị nghi ngờ. Giờ đây, đối với bọn công nhân, quyết định của họ càng được hình thành trong suốt cuộc đời. Lần này, không phải do hiểu lầm mà tầm nhìn của một cuộc sống cụ thể và mục tiêu cách mạng trùng khớp: đối với bọn này, cách mạng là một khả tính trước mắt hơn, và gần gũi với lợi ích của chúng hơn so với bọn trí thức, vì chúng phải đối mặt với hệ thống kinh tế ngay trong cuộc sống của mình. Vì lý do này, về mặt thống kê, có nhiều công nhân hơn bọn thuộc tầng lớp trung lưu trong một đảng cách mạng. Tất nhiên, động lực không làm mất đi tự do. Tất nhiên, động lực không xóa bỏ tự do. Các đảng công nhân thuộc loại rõ ràng nhất [tr.520] đã có nhiều trí thức trong số các nhà lãnh đạo của họ, và có khả năng một người như Lenin đã đồng nhất mình với cách mạng và cuối cùng đã vượt qua sự phân biệt giữa trí thức và công nhân. Nhưng đây là những đức tính phù hợp với hành động và sự cam kết; ngay từ đầu, tôi không phải là một cá nhân vượt ra ngoài giai cấp, tôi nằm trong một môi trường xã hội, và tự do của tôi, mặc dù nó có thể có sức mạnh để ràng buộc tôi ở nơi khác, nhưng không có sức mạnh để biến tôi ngay lập tức thành người mà tôi quyết định trở thành. Như vậy, việc là một gã tư sản hay một tên công nhân không chỉ đơn thuần là nhận thức được mình thuộc tầng lớp nào, mà còn là việc tự đồng nhất hóa mình là công nhân hay tư sản thông qua một dự phóng ngầm định hoặc hiện sinh, hòa quyện vào mô thức chúng ta định hình thế giới và đồng-tồn tại với những kẻ khác. Quyết định của tôi gắn kết một ý nghĩa tự phát về cuộc sống của tôi, điều mà nó có thể khẳng định hoặc bác bỏ, nhưng không thể xóa bỏ. Cả chủ nghĩa duy tâm và tư duy khách quan đều không thể xác định được sự hình thành của ý thức giai cấp, vì chủ nghĩa duy tâm suy luận tồn tại thực tế từ ý thức, còn tư duy khách quan lại suy luận ý thức từ tồn tại de facto trên thực tế, và cả hai đều bỏ qua mối quan hệ của động cơ. Có lẽ sẽ có bọn phản đối, từ phía những kẻ theo chủ nghĩa duy tâm, cho rằng bản thân tôi không phải là một dự phóng cụ thể, mà là một ý thức thuần túy, và những thuộc tính của giai cấp tư sản hay giai cấp công nhân chỉ thuộc về tôi khi tôi đặt mình vào giữa những kẻ khác, và nhìn nhận bản thân qua con mắt của chúng, từ bên ngoài, như là một ‘kẻ khác’. Ở đây chúng ta nên có các phạm trù ‘Vì Kẻ Khác’ chứ không phải ‘Vì Bản thân’. Nhưng nếu có hai loại phạm trù như vậy, làm sao tôi có thể có trải nghiệm về một kẻ khác, tức là về một alter ego tha ngã? Trải nghiệm này giả định rằng quan điểm của tôi về bản thân đã gần như có được phẩm chất của một ‘kẻ khác’ khả thể, và trong quan điểm của tôi về kẻ khác hàm chứa phẩm chất của kẻ đó như là ego bản ngã. Có bọn sẽ đáp lại rằng kẻ khác được trao cho tôi như một sự thật, chứ không phải như một khả tính hiện hữu của chính tôi. Điều này có nghĩa là gì? Phải chăng tôi sẽ không có trải nghiệm về những kẻ khác nếu không có ai trên trái đất? Mệnh đề này hiển nhiên là đúng, nhưng không giải quyết được vấn đề của chúng ta vì, như Kant đã nói, chúng ta không thể chuyển từ ‘Mọi tri thức bắt đầu bằng kinh nghiệm’ sang ‘Mọi tri thức bắt nguồn từ kinh nghiệm’. Nếu những kẻ khác tồn tại về mặt kinh nghiệm là những kẻ khác đối với tôi, thì tôi phải có phương tiện để nhận ra chúng, và do đó, cấu trúc của cái Vì Kẻ khác phải là những chiều kích của cái Vì Bản thân. Hơn nữa, không thể suy ra từ cái Vì Kẻ khác tất cả những đặc điểm cụ thể mà chúng ta đang nói đến. [Tr.521 Một kẻ khác không nhất thiết phải, thậm chí không bao giờ hoàn toàn là một đối tượng đối với tôi. Và, ví dụ như trong sự đồng cảm, tôi có thể tri giác kẻ khác như sự tồn tại và tự do thuần túy ít nhiều như chính mình. Kẻ-khác-như-là-đối-tượng không gì khác ngoài một phương thức không chân thành của những kẻ khác, cũng như chủ thể tính tuyệt đối không gì khác ngoài một khái niệm trừu tượng về bản thân tôi. Do đó, trong sự suy ngẫm triệt để nhất, tôi phải nắm bắt xung quanh cái cá tính tuyệt đối của mình một loại hào quang của tính phổ quát hoặc một loại bầu không khí của ‘xã hội tính’. Điều này là cần thiết nếu sau này các từ ‘một tên tư sản’ và ‘một gã đàn ông’ có thể cần có ý nghĩa đối với tôi. Ngay từ đầu, tôi phải nhận thức bản thân mình như một thực thể nằm ngoài chính mình, và sự tồn tại cá nhân của tôi phải lan tỏa xung quanh nó, nói cách khác, một sự tồn tại về chất lượng. Cái Vì-Bản thân – tôi vì bản thân mình và kẻ khác vì bản thân họ – phải nổi bật trên nền của cái Vì Kẻ khác – tôi vì kẻ khác và kẻ khác vì tôi. Cuộc sống của tôi phải có một ý nghĩa mà tôi không tạo ra; nói một cách chính xác, phải có liên chủ thể tính; mỗi kẻ trong chúng ta phải vừa vô danh theo nghĩa tuyệt đối cá nhân, vừa vô danh theo nghĩa tuyệt đối chung. Hiện hữu của chúng ta trên thế giới là vật mang cụ thể của tính vô danh kép này.

Giả sử điều này là đúng, thì có thể có những tình huống, một hướng đi* của lịch sử và một chân lý lịch sử: ba cách nói cùng một điều. Nếu quả thật tôi tự biến mình thành một công nhân hay một gã tư sản bằng một sáng kiến ​​tuyệt đối, và nếu nói chung không có gì từng theo đuổi tự do của chúng ta, thì lịch sử sẽ không có cấu trúc, không có sự kiện nào được nhìn thấy hình thành trong đó, và bất cứ điều gì cũng có thể xuất hiện từ bất cứ điều gì khác. Sẽ không có Đế quốc Anh như một hình thức lịch sử tương đối ổn định mà người ta có thể đặt tên cho nó, và trong đó có thể nhận ra một số đặc tính có thể xảy ra. Trong lịch sử tiến bộ xã hội, sẽ không có những tình huống cách mạng hay những giai đoạn thụt lùi. Một cuộc cách mạng xã hội có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và người ta có thể kỳ vọng một kẻ bạo chúa sẽ chuyển sang chủ nghĩa vô chính phủ. Lịch sử sẽ không bao giờ vận động theo bất kỳ hướng nào, cũng không thể nói rằng ngay cả trong một khoảng thời gian ngắn, các sự kiện đang cùng nhau tạo ra bất kỳ kết quả nhất định nào. Chính khách sẽ luôn là một kẻ phiêu lưu, nghĩa là, hắn sẽ xoay chuyển các sự kiện theo hướng có lợi cho mình bằng cách gán cho chúng một ý nghĩa mà chúng không có. Nếu đúng là lịch sử [tr.522] không thể hoàn thành bất cứ điều gì một cách độc lập với những ý thức tiếp nhận nó, rồi quyết định hướng đi của nó, và do đó nếu nó không bao giờ có thể tách rời khỏi chúng ta để đóng vai trò là một thế lực xa lạ sử dụng chúng ta cho mục đích riêng của nó, thì chính vì nó luôn là lịch sử được trải nghiệm, chúng ta không thể tước bỏ khỏi nó ít nhất một ý nghĩa phân mảnh. Một điều gì đó đang được chuẩn bị mà có lẽ sẽ chẳng đi đến đâu nhưng có thể, vào lúc này, phù hợp với những hình dung của hiện tại. Không có gì có thể sắp đặt để, ở nước Pháp năm 1799, một thế lực quân sự ‘vượt lên trên các giai cấp’ không xuất hiện như một sản phẩm tự nhiên của sự suy tàn của cuộc cách mạng, và vai trò của nhà độc tài quân sự ở đây không phải là ‘một vai trò phải được nắm giữ’.  Chính cái dự phóng của Bonaparte, mà chúng ta biết đến thông qua sự hiện thực hóa của nó, đã khiến chúng ta đưa ra phán xét như vậy. Nhưng trước Bonaparte, Dumouriez, Custine và những kẻ khác đã hình dung ra điều đó, và xu hướng chung này cần phải được giải thích. Ý nghĩa của các sự kiện không phải là một ý tưởng tạo ra chúng, hay kết quả ngẫu nhiên của việc chúng xảy ra cùng nhau. Đó là cái dự phóng cụ thể về một tương lai được xây dựng trong đồng-tồn tại xã hội và trong cái Một* trước khi bất kỳ quyết định cá nhân nào được đưa ra. Tại thời điểm lịch sử cách mạng mà động lực giai cấp đã đưa nó đến vào năm 1799, khi mà cả cuộc Cách mạng không thể tiến lên phía trước cũng không thể quay ngược thời gian, thì tình hình là, sau khi đã có những bảo lưu cần thiết về tự do cá nhân, mỗi cá nhân thông qua tồn tại chức năng và tổng quát tạo nên chủ thể lịch sử của họ, có xu hướng quay trở lại những gì đã đạt được. Ở giai đoạn đó sẽ là một sai lầm lịch sử nếu đề xuất với chúng hoặc là việc tiếp tục các phương pháp của chính phủ cách mạng hoặc là việc quay trở lại các điều kiện xã hội năm 1789, không phải vì có một chân lý lịch sử độc lập với các dự phóng và đánh giá của chúng ta, vốn luôn luôn tự do, mà vì có một ý nghĩa trung bình và mang tính thống kê của những dự phóng này. Điều đó có nghĩa là chúng ta gán cho lịch sử ý nghĩa của nó, nhưng không phải không có chuyện chính lịch sử tự đặt ra ý nghĩa đó. Cái Sinngebung tạo nghĩa không chỉ đơn thuần là ly tâm, đó là lý do tại sao chủ thể của lịch sử không phải là cá nhân. Có cuộc trao đổi giữa tồn tại tổng quát và tồn tại cá nhân, mỗi bên đều nhận và cho đi một điều gì đó. Có một khoảnh khắc mà ý nghĩa được báo trước trong cái Một, và chỉ là một khả tính bấp bênh [tr.523] bị tính ngẫu nhiên của lịch sử đe dọa, lại được một cá nhân nắm bắt. Rất có thể, giờ đây, khi đã nắm quyền kiểm soát lịch sử, kẻ kia sẽ dẫn dắt nó, ít nhất là trong một thời gian, vượt xa những gì dường như cấu thành ý nghĩa của nó, và đưa nó vào một phép biện chứng mới, như khi Bonaparte, từ vị trí Tổng tài, tự phong mình thành Hoàng đế và kẻ chinh phục. Chúng ta không khẳng định rằng lịch sử từ đầu đến cuối chỉ có một ý nghĩa duy nhất, cũng giống như cuộc đời của một cá nhân vậy. Chúng ta chỉ đơn giản muốn nói rằng trong bất kỳ trường hợp nào thì tự do chỉ sửa đổi nó bằng cách tiếp nhận ý nghĩa mà lịch sử đã mang lại vào thời điểm được đề cập, và bằng một kiểu đồng hóa kín đáo. Dựa trên đề xuất được đưa ra ở đây, có thể phân biệt kẻ phiêu lưu với gã chính khách, sự giả mạo lịch sử với sự thật của một thời đại, dẫn đến kết quả là đánh giá của chúng ta về quá khứ, mặc dù không bao giờ đạt đến tính khách quan tuyệt đối, nhưng đồng thời cũng không bao giờ được phép võ đoán.

Do đó, xung quanh những sáng kiến ​​của chúng ta và xung quanh dự phóng cá nhân thuần túy là chính bản thân mình, chúng ta nhận ra một vùng tồn tại tổng quát và những dự phóng đã hình thành, những ý nghĩa len lỏi giữa chúng ta và vạn vật, và ban cho chúng ta phẩm chất của con người, dù là tư sản hay công nhân. Tính tổng quát đã can thiệp, sự hiện diện của chúng ta đối với chính mình đã được nó trung gian hóa, và chúng ta không còn là ý thức thuần túy nữa, ngay khi cấu trúc tự nhiên hoặc xã hội không còn là một cái gì đó chưa được định hình và kết tinh thành một tình huống, ngay khi nó có ý nghĩa—nói tóm lại, ngay khi chúng ta tồn tại. Mọi thứ xuất hiện với chúng ta thông qua một phương tiện mà nó mang phẩm chất cơ bản của riêng mình; mảnh gỗ này không phải là một tập hợp các màu sắc và dữ liệu xúc giác, thậm chí không phải là toàn bộ Gestalt hình thái của chúng, mà là một thứ gì đó từ đó tỏa ra một bản chất của gỗ; những ‘dữ liệu cảm giác’ này điều chỉnh một chủ đề nhất định hoặc minh họa một phong cách nhất định, đó chính là bản thân gỗ, và nó tạo ra, xung quanh mảnh gỗ này và thứ tri giác của tôi về nó, một chân trời ý nghĩa. Cái thế giới tự nhiên, như chúng ta đã thấy, không gì khác hơn là nơi của tất cả các chủ đề và phong cách có thể có. Nó là một cá thể độc nhất vô nhị không thể tách rời và là một ý nghĩa. Tương ứng, tính tổng quát và tính cá nhân của chủ thể, chủ thể tính có điều kiện và tính thuần khiết, tính ẩn danh của cái Một và tính ẩn danh của ý thức không phải là hai quan niệm về chủ thể mà triết học phải lựa chọn, mà là hai giai đoạn của một cấu trúc duy nhất, đó chính là chủ thể cụ thể. Ví dụ, hãy xem xét kinh nghiệm giác quan. Tôi lạc lối trong [tr.524] màu đỏ này trước mặt tôi, mà không hề có bất kỳ sự điều chỉnh nào, và dường như kinh nghiệm này đưa tôi tiếp xúc với một chủ thể tiền-nhân loại. Ai tri giác được màu đỏ này? Đó không phải là ai có thể được đặt tên và xếp vào nhóm các chủ thể tri giác khác. Bởi vì, giữa kinh nghiệm về màu đỏ mà tôi có và kinh nghiệm mà những kẻ khác nói với tôi, sẽ không bao giờ có sự so sánh trực tiếp nào. Tôi đang ở đây theo quan điểm của riêng mình, và vì tất cả kinh nghiệm, chừng nào nó bắt nguồn từ ấn tượng, đều hoàn toàn là của riêng tôi, nên dường như một chủ thể duy nhất và không trùng lặp bao trùm tất cả chúng. Giả sử tôi hình thành một suy nghĩ, ví dụ như về Thượng đế của Spinoza; suy nghĩ này, như nó hiện hữu trong trải nghiệm sống của tôi, là một khung cảnh nhất định mà không ai có thể tiếp cận được, ngay cả khi tôi có thể thảo luận với một người bạn về chủ đề Thượng đế của Spinoza. Tuy nhiên, chính tính cá nhân của những trải nghiệm này không hoàn toàn thuần khiết. Bởi vì độ đậm đặc của màu đỏ này, cái haecceitas tính này của nó, sức mạnh mà nó có để chạm đến và bao trùm lấy tôi, là do nó đòi hỏi và nhận được từ cái nhìn của tôi một rung động nhất định, và ngụ ý rằng tôi quen thuộc với một thế giới màu sắc mà màu này là một biến thể cụ thể. Do đó, màu đỏ cụ thể nổi bật trên nền chung, và đây là lý do tại sao, ngay cả khi không chuyển mình sang quan điểm của kẻ khác, tôi vẫn nắm bắt được bản thân trong tri giác như một chủ thể tri giác, chứ không phải là một ý thức không thể phân loại. Tôi cảm nhận, xung quanh tri giác của mình về màu đỏ, tất cả các vùng hiện hữu của tôi không bị nó gây ảnh hưởng, và vùng dành riêng cho màu sắc, vùng ‘thị giác’, mà thông qua đó tri giác tìm đường thâm nhập vào tôi. Tương tự, suy nghĩ của tôi về Thượng đế của Spinoza chỉ mang tính chất bề ngoài là một trải nghiệm hoàn toàn độc đáo, bởi vì nó là sự cụ thể hóa của một thế giới văn hóa nhất định, triết học Spinozist, hoặc của một phong cách triết học nhất định mà trong đó tôi ngay lập tức nhận ra một ý tưởng ‘Spinozist’.

[Ghi chú dài về Tư tưởng của nhà Triết học Hà Lan Baruch de Spinoza (1632-1677): Vorrede »Wenn die Menschen alle ihre Angelegenheiten nach einem festen Plan zu besorgen vermöchten, oder wenn das Glück ihnen immer günstig wäre, so würden sie in keinem Aberglauben befangen sein. Allein oft gerathen sie in Verlegenheiten, wo sie sich nicht zu rathen wissen, und meist verlangen sie nach den ungewissen Glücksgütern so maasslos, dass sie jämmerlich zwischen Furcht und Hoffnung hin und her schwanken, und ihre Seele deshalb Alles zu glauben bereit ist. In solchen Zweifeln genügen schwache Gründe, um sie bald hier- bald dorthin schwanken zu lassen, und in höherem Maasse geschieht dies, wenn sie zwischen Angst und Hoffnung eingeklemmt sind, während sie sonst zuversichtlich, prahlerisch und aufgeblasen sind. Ich meine, dies weiss Jedermann, obgleich die Meisten schwerlich sich selbst kennen mögen. Denn wer unter den Menschen gelebt hat, weiss, wie im Glück elbst die Thörichten sich so von Weisheit erfüllt halten, dass sie es übel nehmen, wenn man ihnen einen Rath geben will. Aber im Unglück wissen sie nicht, wohin sie sich wenden sollen. Dann flehen sie Jedweden um Rath an und folgen selbst den verkehrtesten, unsinnigsten und eitelsten Vorschlägen. Ebenso [p.3] genügen die geringsten Umstände, um sie auf Besseres hoffen oder wieder Schlimmeres befürchten zu lassen. Wenn ihnen, während sie in Furcht sind, etwas begegnet, was sie an ein früheres Glück oder Unglück erinnert, so nehmen sie es für die Ankündigung eines guten oder übeln Ausganges der Sache, und wenn sie auch hundertmal betrogen worden sind, so nennen sie es doch eine gute oder schlimme Vorbedeutung.«

»Sehen sie etwas Ungewöhnliches, so staunen sie und halten es für ein Wunderzeichen, was den Zorn der Götter oder des höchsten Wesens verkünde, und sowohl die Abergläubischen wie die Ungläubigen meinen, es sei Unrecht, wenn man sie deshalb nicht durch Opfer und Gelübde zu versöhnen suche. Sie erdichten in dieser Weise Unzähliges und erklären die Natur auf so wunderbare Weise, als wenn sie selbst mit ihnen toll geworden wäre. Während sich dieses so verhält, sieht man, dass vor Allen Diejenigen am meisten allen Arten von Aberglauben zugethan sind, welche das Ungewisse unmässig begehren, und dass alle Menschen vorzüglich dann, wenn sie in Gefahr sind und sich nicht zu helfen wissen, mit Gelübden und weibischen Thränen die göttliche Hülfe erflehen und die Vernunft blind und die menschliche Weisheit eitel schelten, weil sie ihnen den Weg zur Erfüllung ihrer eitlen Wünsche nicht zeigen kann. Dagegen halten sie die Tollheiten, [p.4] Träume und kindischen Einfälle ihrer Phantasie für göttliche Offenbarungen; sie meinen sogar, Gott hasse die Weisen und verkünde seine Beschlüsse nicht dem Geiste, sondern habe sie den Eingeweiden der Thiere eingeschrieben, und Thoren, Wahnsinnige und Vögel verkündeten sie im göttlichen Anhauch und Instinkt. Zu solchem Wahnsinn treibt die Furcht den Menschen; die Ursache also, aus der der Aberglaube entspringt, durch die er erhalten und genährt wird, ist die Furcht. Verlangt man neben dem bereits Gesagten noch besondere Belege hierfür, so nehme man Alexander den Grossen; dessen Geist wurde erst dann von dem Aberglauben erfasst und wandte erst dann den Wahrsagern sich zu, als er das erste Mal an seinem Glück in den Engpässen von Cilicien zu zweifeln begann.« (Man sehe Curtius' Geschichte, Buch V. Kap. 4.)

»Nach Besiegung des Darius hörte er dagegen auf, Zeichendeuter und Wahrsager zu befragen, bis er wieder durch die Unbill der Zeiten erschreckt wurde, als die Baktrier abgefallen waren, die Skythen ihn zum Kampfe reizten, und er selbst erschöpft an einer Wunde darnieder lag. Da, wie Curtius Bd. VII. Kap. 7 sagt, »wandte er sich wieder dem Aberglauben, dem Spielwerk des menschlichen Geistes, zu und hiess den Aristander, dem er seine Leichtgläubigkeit mitgetheilt hatte, den Ausgang der Sache durch Opferthiere [p.5] ermitteln.«

»Solcher Beispiele liessen sich noch die Menge beibringen; sie zeigen auf das Deutlichste, dass die Menschen nur in der Furcht dem Aberglauben sich ergeben, dass Alles, was sie in solchem eiteln Glauben verehrt haben, nur Phantasien und irrsinnige Einfälle eines traurigen und furchtsamen Gemüthes gewesen sind, und dass die Wahrsager immer dann am moisten das Volk beherrscht haben und den Königen am furchtbarsten gewesen sind, wenn die Noth des Staates am grössten war. Allein ich enthalte mich dessen, da dies Jedermann genügend bekannt sein wird. Aus dieser Ursache des Aberglaubens folgt offenbar, dass die Menschen von Natur für Aberglauben empfänglich sind, wenn auch Andere meinen, es komme davon, dass die Menschen nur verworrene Vorstellungen von Gott haben. Solcher Aberglaube muss natürlich sehr wechseln und schwanken, wie alles Spielwerk des Geistes und wie die Anfälle der Wuth. Er kann sich nur durch Hoffnungen, Hass, Zorn oder List schützen, weil er nicht aus der Vernunft, sondern nur aus einem blossen Affekt, und zwar einem sehr kräftigen entspringt. So leicht es daher ist, die Menschen in jede Art von Aberglauben einzufangen, so schwer ist es, sie in demselben festzuhalten. Die Menge, die immer gleich elend bleibt, mag deshalb niemals lange bei einem Aberglauben [p.6] aushalten; nur das Neue gefällt ihr am meisten, was noch nicht betrogen hat. Aus dieser Unbeständigkeit sind viele Aufstände und verheerende Kriege hervorgegangen; denn, wie aus dem Obigen erhellt, und Curtius B. IV. Kap. 10 treffend sagt: »Nichts regiert die Menge wirksamer als der Aberglaube.« Deshalb lässt sie unter dem Schein der Religion sich verleiten, bald ihre Könige wie Götter anzubeten und bald wieder zu verwünschen und als die gemeinsame Pest des Menschengeschlechts zu verfluchen.«

»Um diese Uebel zu vermeiden, hat man mit unendlicher Sorgfalt die wahre oder falsche Religion im äussern Gottesdienst und den Gebräuchen so ausgeschmückt, dass sie allen Verleitungen überlegen blieb und im höchsten Gehorsam von Allen gepflegt wurde. Am besten ist dies den Türken gelungen, die sogar alles Streiten darüber für Unrecht halten und den Verstand des Einzelnen mit so viel Vorurtheilen beladen, dass in der Seele für die gesunde Vernunft kein Platz, nicht einmal für den Zweifel, übrig bleibt. Wenn es in monarchischen Staaten als das wichtigste Geheimmittel gilt, und es da vor Allem darauf ankommt, die Menschen im Irrthum zu erhalten und die Furcht, mit der man sie bändigt, unter dem glänzenden Namen der Religion zu verhüllen, damit sie für ihre Sklaverei, als wäre es ihr Glück, kämpfen und es nicht für schmählich, sondern für höchst ehrenvoll [p.7] halten, ihr Blut und Leben für den Uebermuth eines Menschen einzusetzen: so kann doch für Freistaaten nichts Unglücklicheres als dies erdacht und versucht werden, da es der allgemeinen Freiheit geradezu widerspricht, wenn das freie Urtheil des Einzelnen durch Vorurtheile beengt oder sonst gehemmt wird. Jene Aufstände aber, die unter dem Schein der Religion erregt werden, entspringen nur daraus, dass man über spekulative Fragen Gesetze erlässt, und dass blosse Meinungen wie Verbrechen für strafbar erklärt und verfolgt werden. Die Vertheidiger und Anhänger solcher Meinungen werden nicht dem Wohle des Staats, sondern nur der Wuth und dem Hasse der Gegner geopfert. Wenn nach dem Rechte eines Staates nur Handlungen verfolgt würden, Worte aber für straflos gälten, so könnten solche Aufstände mit keinem Rechtsvorwande beschönigt werden, und blosse Streitfragen würden sich in keine Aufstände verwandeln.«

»Da ich das seltene Glück geniesse, in einem Freistaate zu leben, wo Jeder die volle Freiheit des Urtheils hat, wo er Gott nach seiner Ueberzeugung verehren darf, und wo die Freiheit als das theuerste und liebste Besitzthum gilt, so schien es mir kein undankbares noch unnützes Unternehmen, wenn ich zeigte, dass diese Freiheit nicht blos ohne Schaden für die Frömmigkeit und den Frieden des Freistaats gewährt [p.8] werden kann, sondern dass sie auch nicht aufgehoben werden kann, ohne gleichzeitig diesen Frieden und die Frömmigkeit aufzuheben. Dies ist es hauptsächlich, was ich in dieser Abhandlung darzulegen mir vorgesetzt habe. Zu dem Ende muss ich die erheblichsten Vorurtheile in Betreff der Religion, d.h. die Spuren einer alten Knechtschaft andeuten; ebenso aber auch die Vorurtheile in Betreff des Rechts der höchsten Staatsgewalt, welches Viele in ausgelassener Frechheit sich zum grossen Theile anmassen, um unter dem Schein der Religion die Gesinnungen der Menge, die noch dem heidnischen Aberglauben ergeben ist, davon abzuwenden und Alles wieder in die Knechtschaft zurückzustürzen. Die Ordnung, in der ich dies ausführen will, werde ich mit wenig Worten angeben; vorher aber möchte ich die Gründe mittheilen, die mich zu dieser Schrift bestimmt haben.«  Baruch De Spinoza (2011). Theologisch-politische Abhandlung: (Tractatus theologico-politicus) Paperback – 11 Jan. 2011, German edition by Baruch De Spinoza (Author), Publisher: ‎ Contumax. HHN]

Phiên bừa: Lời tựa “Nếu con người có thể quản lý mọi việc theo một kế hoạch cố định, hoặc nếu vận may luôn đứng về phía họ, thì họ sẽ không bị vướng vào bất kỳ thói mê tín nào. Nhưng thường thì họ thấy mình rơi vào những tình huống khó xử, không biết phải làm gì, và thường thì họ khao khát những điều may mắn không chắc chắn đến mức họ dao động thảm hại giữa sợ hãi và hy vọng, do đó tâm hồn họ sẵn sàng tin vào bất cứ điều gì. Trong những nghi ngờ như vậy, ngay cả những lý do yếu ớt cũng đủ khiến họ dao động lúc thì ở đây, khi lại đến đó, và điều này càng xảy ra nhiều hơn khi họ bị mắc kẹt giữa lo lắng và hy vọng, trong khi những lúc khác họ lại tự tin, khoe khoang, kiêu ngạo. Tôi nghĩ ai cũng biết điều này, mặc dù hầu hết khó có thể tự mình biết được. Bởi vì bất cứ ai đã sống giữa mọi người đều biết rằng, ngay cả khi gặp may mắn, những kẻ ngu dốt vẫn tự cho mình là thông thái đến mức họ cảm thấy bị xúc phạm khi ai đó cố gắng khuyên bảo họ. Nhưng khi gặp bất hạnh, họ không biết phải làm gì. Khi đó, họ cầu xin mọi người khuyên bảo và làm theo, kể cả những đề nghị sai lầm, vô lý và hão huyền nhất. Tương tự như vậy [tr.3], những hoàn cảnh nhỏ nhặt nhất cũng đủ khiến họ hy vọng vào điều gì đó tốt đẹp hơn hoặc lo sợ điều gì đó tồi tệ hơn. Nếu trong lúc đang sợ hãi, điều gì đó xảy ra khiến họ nhớ đến thời vận quá khứ dù tốt hay xấu, họ coi đó là điềm báo về một kết quả tốt hay xấu, và ngay cả khi đã bị lừa dối hàng trăm lần, họ vẫn gọi đó là điềm tốt hay xấu.”

“Nếu thấy điều gì bất thường, họ kinh ngạc và coi đó là dấu hiệu kỳ diệu báo trước cơn thịnh nộ của các vị thần hoặc đấng tối cao, và cả kẻ mê tín lẫn người không tin đều cho rằng việc không cố gắng xoa dịu thần linh bằng lễ vật và lời thề là sai lầm. Bằng cách này, họ bịa đặt vô số điều và giải thích tự nhiên theo cách kỳ dị cứ như thể chính tự nhiên cũng phát điên vì họ. Trong khi đó, người ta thấy rằng những kẻ khao khát điều chưa biết một cách thái quá thường dễ sa vào đủ loại mê tín dị đoan, và tất cả mọi kẻ, đặc biệt là khi gặp nguy hiểm và không biết tự giúp mình, đều cầu xin sự giúp đỡ của thần thánh bằng những lời thề thốt và nước mắt sướt mướt, cho rằng lý trí mù quáng và trí tuệ con người là vô ích vì nó không thể chỉ cho họ con đường dẫn đến thỏa mãn những ham muốn phù phiếm của họ. Mặt khác, họ coi những điều ngớ ngẩn, những giấc mơ và những ý tưởng trẻ con trong trí tưởng tượng của mình là những mặc khải thiêng liêng; thậm chí họ còn tin rằng Chúa ghét kẻ khôn ngoan và không mặc khải các sắc lệnh của Ngài cho kẻ có tâm trí, mà đã khắc ghi chúng trong ruột của động vật, và lũ ngốc, kẻ điên cùng chim chóc để lộ chúng bằng linh cảm và bản năng linh thiêng. Nỗi sợ hãi đẩy con người đến tình trạng điên rồ như vậy; do đó, nguyên nhân mà từ đó mê tín dị đoan nảy sinh, được duy trì và nuôi dưỡng, chính là nỗi sợ hãi. Nếu, ngoài những điều đã nói, cần thêm bằng chứng, hãy xem xét Alexander Đại đế; tâm trí ông chỉ bị chi phối bởi mê tín dị đoan và chỉ khi nghi ngờ vận may của mình ở các hiểm ải Cilicia thì lúc đó ông mới tìm đến các thầy bói.” (Lịch sử- Quintus Curtius, Quyển V, Ch.4.)

“Tuy nhiên, sau khi đánh bại Darius, ông đã chấm dứt tham kiến các nhà chiêm tinh và thầy bói cho đến khi lại bị hoảng sợ bởi những khó khăn của thời cuộc, khi người Bactria nổi dậy, người Scythia khiêu khích ông ra trận, và chính ông nằm đó kiệt sức vì dính thương. Như Curtius đã nói trong Tập VII, Chương 4... 7, “ông lại quay về với mê tín dị đoan, trò chơi của tâm trí con người, và ra lệnh cho Aristander, [Αρίστανδρος ο Τελμησσεύς Aristander xứ Telmessos, sinh khoảng năm 380 TCN, khoảng  nửa sau thế kỷ 4 TCN, một người xứ Caria, là nhà tiên tri yêu thích của Alexander Đại đế; Aristander thuộc đoàn tùy tùng cho cha của Alexander Đại đế, vua Philip II của Macedonia, vào năm 357/6, khi ông giải thích chính xác giấc mơ tiết lộ việc Olympias mang thai; sử liệu cổ đại cho rằng ông đã giải thích điềm báo từ khi nhà Chinh phục sinh ra cho đến khi ông qua đời; mặc dù các chi tiết được đưa ra khác nhau và có một số sự kiện hư cấu, nhưng rõ ràng Aristander là một nhân vật có ảnh hưởng trong các chiến dịch của Alexander và đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tinh thần của quân đội Macedonia; có những dấu hiệu cho thấy ông đã viết các tác phẩm bói toán, trước, trong hoặc sau cuộc viễn chinh. HHN] vị tiên tri mà ông đã tin tưởng giao phó sự cả tin của mình, xác định kết quả của vấn đề bằng cách sử dụng các con vật hiến tế [tr.5].”

“Có thể đưa ra nhiều ví dụ khác nữa; chúng cho thấy rõ ràng rằng con người chỉ để bản thân bị mê tín dị đoan vì sợ hãi, mọi thứ họ tôn thờ bằng niềm tin hão huyền đều chỉ là ảo tưởng và những ý tưởng điên rồ của một tâm trí buồn bã và sợ hãi, còn các thầy bói luôn là những kẻ kiểm soát dân chúng hiệu quả nhất và khiến các vị vua khiếp sợ nhất khi đất nước lâm vào cảnh khốn cùng nhất. Tuy nhiên, tôi sẽ không đi sâu vào vấn đề này, vì điều này hẳn đã quá quen thuộc với mọi người. Từ nguyên nhân của mê tín dị đoan, hiển nhiên là con người vốn dễ bị nó chi phối ảnh hưởng, ngay cả khi kẻ khác tin rằng điều đó bắt nguồn từ việc con người chỉ có những ý niệm mơ hồ về Chúa. Tất nhiên, thói mê tín dị đoan như vậy phải thay đổi và dao động rất dữ, giống như tất cả những trò chơi của tâm trí và giống như những cơn thịnh nộ vậy. Con người chỉ có thể tự bảo vệ mình bằng hy vọng, thù hận, giận dữ hoặc xảo quyệt, bởi vì nó không xuất phát từ lý trí, mà chỉ từ một cảm xúc đơn thuần, và đó là một cảm xúc rất mạnh mẽ. Do đó, sẽ thật dễ dàng để lôi kéo người ta vào bất kỳ loại mê tín dị đoan nào, nhưng việc giữ họ lại trong niềm tin đó cũng khó khăn không kém. Quần chúng, những kẻ luôn luôn khốn khổ như nhau, không bao giờ có thể chịu đựng được bất kỳ sự mê tín nào lâu dài [tr.6]; chỉ có cái mới, cái chưa từng lừa dối họ, mới hấp dẫn họ nhất. Từ sự bất ổn này mà nhiều vụ nổi dậy và các cuộc chiến tranh tàn khốc đã nảy sinh; như đã rõ ở trên, và như Quintus Curtius đã khéo vạch ra trong Chương 10, Quyển IV bộ sử của ông: ‘Không có gì cai trị quần chúng hiệu quả hơn là mê tín.’ Dưới vỏ bọc tôn giáo, họ để mặc cho mình bị dẫn dắt sai lạc, đôi khi tôn thờ vua chúa như thần thánh, và những lúc khác lại nguyền rủa và lên án họ chẳng khác nào tai họa chung của nhân loại.”

“Để tránh những điều xấu xa này, tôn giáo chân chính hay giả dối đã được tô điểm tỉ mỉ bằng việc thờ cúng và phong tục bên ngoài đến mức nó vẫn vượt trội hơn mọi cám dỗ và được vun đắp với sự vâng phục tuyệt đối của tất cả mọi người. Bọn Thổ Nhĩ Kỳ đã thành công nhất trong việc này, ngay cả khi chúng coi mọi cuộc tranh luận về vấn đề này là bất công và đè nặng lên tâm trí cá nhân quá nhiều định kiến ​​đến nỗi trong tâm hồn không còn chỗ cho lý trí đúng đắn, thậm chí cả sự nghi ngờ. Trong khi ở các quốc gia quân chủ, vũ khí bí mật quan trọng nhất là giữ cho người dân trong lầm lạc và việc che giấu nỗi sợ hãi được sử dụng để kiểm soát họ dưới danh nghĩa hào nhoáng của tôn giáo, để họ chiến đấu cho tình trạng nô lệ của mình như thể đó là vận may của họ và coi việc đổ máu và mất mạng vì sự kiêu ngạo của kẻ khác không phải là điều đáng xấu hổ mà là điều vô cùng vinh quang [tr.7], thì không gì bất hạnh hơn thế lại có thể được hình dung và thực hiện đối với các quốc gia tự do, vì nó mâu thuẫn trực tiếp với tự do chung khi việc phán xét tự do về cái cá nhân bị định kiến hạn chế hoặc cản trở. Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy được kích động dưới vỏ bọc tôn giáo chỉ phát sinh từ việc ban hành các đạo luật về những vấn đề mang tính lý thuyết và từ thực tế là những ý kiến ​​đơn thuần bị tuyên bố là đáng bị trừng phạt và truy tố như tội phạm. Kẻ bảo vệ và ủng hộ những ý kiến ​​đó chịu hy sinh không phải vì lợi ích nhà nước, mà chỉ vì cơn thịnh nộ và thù hận của đối thủ. Nếu theo luật pháp của một quốc gia, chỉ hành động mới bị truy tố, còn lời nói không bị trừng phạt, thì các cuộc nổi dậy không thể được biện minh bằng bất kỳ lý do pháp lý nào, và những tranh chấp đơn thuần sẽ không biến thành nổi dậy.”

“Vì tôi được hưởng may mắn hiếm có khi sống trong một quốc gia tự do, nơi mọi người đều có quyền tự do phán xét, nơi họ có thể thờ phượng Chúa theo niềm tin của riêng mình, và nơi tự do được coi là tài sản quý giá và được trân trọng nhất, nên đối với tôi, việc chứng minh rằng tự do này không chỉ có thể được ban tặng mà không làm tổn hại đến sự sùng đạo và hòa bình của quốc gia tự do [tr.8], mà còn không thể bị thu hồi mà không đồng thời thu hồi cả hòa bình và sự sùng đạo đó, dường như không phải là một việc làm vô ơn hay vô ích. Đây là điểm chính mà tôi đặt ra để chứng minh trong luận văn này. Để đạt được mục đích ấy, tôi phải chỉ ra những định kiến ​​quan trọng nhất liên quan đến tôn giáo, tức là dấu vết của một hình thức nô lệ cũ; Tương tự, tôi cũng phải đề cập đến những định kiến ​​liên quan đến quyền lực của cơ quan nhà nước cao nhất, mà nhiều kẻ trơ trẽn, đã tự cho mình quyền đó, dưới vỏ bọc tôn giáo, hòng làm lung lay tình cảm của quần chúng, những kẻ vẫn còn sùng bái mê tín dị đoan, và đẩy chúng trở lại cảnh nô lệ. Tôi sẽ phác thảo ngắn gọn thứ tự mà tôi dự định trình bày chi tiết về vấn đề này; nhưng trước hết, tôi muốn giải thích những lý do đã dẫn đến việc tôi viết luận văn này.” Baruch De Spinoza (2011). Luận thuyết thần học-chính trị: (Tractatus theologico-politicus) Bản bìa mềm – 11 tháng 1 năm 2011, ấn bản tiếng Đức của Baruch De Spinoza (Tác giả), Nhà xuất bản: Contumax. HHN]

___________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

 

 

 

 

 

 

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Hiện tượng luận Tri giác (XXXVIII)

Maurice Merleau-Ponty

Người đọc: Hà Hữu Nga

3. Tự do

[Tr.504] Một lần nữa, rõ ràng là không thể hình dung được mối quan hệ nhân quả nào giữa chủ thể và cơ thể, thế giới hay xã hội của hắn. Chỉ khi đánh đổi bằng việc mất đi nền tảng của tất cả những điều chắc chắn của mình, tôi mới có thể đặt câu hỏi về những gì được truyền đạt cho tôi bởi sự hiện diện của chính tôi đối với bản thân. Giờ đây, khoảnh khắc tôi quay sang chính mình để mô tả bản thân, tôi thoáng thấy một dòng chảy vô danh,1 một dự phóng toàn diện mà cho đến nay vẫn chưa có ‘trạng thái ý thức’, a fortiori huống hồ lại càng không có bất kỳ loại đặc điểm nào. Đối với bản thân tôi, tôi không ‘ghen tuông’, không ‘tò mò’, không ‘gù lưng’, cũng không phải ‘một công chức’. Thường thì người ta ngạc nhiên khi kẻ tàn tật hay đứa ốm yếu có thể chịu đựng được chính mình. Lý do là những bọn như vậy không tự coi mình là dị dạng hay đang cận kề cái chết. Cho đến cơn hôn mê cuối cùng, kẻ sắp chết vẫn do một ý thức chiếm hữu, gã là tất cả những gì mình nhìn thấy, và tận hưởng được sự giải thoát này. Ý thức không bao giờ có thể tự khách thể hóa thành ý thức bệnh tật hay ý thức tàn tật, và ngay cả khi kẻ già cả than phiền về tuổi già hay gã tàn tật than phiền về tình trạng dị dạng, thì chúng chỉ có thể làm như vậy bằng cách so sánh bản thân với kẻ khác, hoặc nhìn nhận bản thân qua con mắt của kẻ khác, tức là bằng cách nhìn nhận bản thân một cách thống kê và khách quan, do đó những lời than phiền như vậy không bao giờ hoàn toàn chân thực: khi trở lại với cốt lõi của ý thức mình, mỗi kẻ trong chúng ta đều cảm thấy vượt qua những giới hạn của mình [tr.505] và do đó chấp nhận chúng. Chúng là cái giá mà chúng ta tự động phải trả để hiện hữu trên thế giới, một hình thức mà chúng ta coi là hiển nhiên. Do đó, chúng ta có thể nói một cách khinh miệt về ngoại hình của mình mà vẫn không muốn thay đổi khuôn mặt của mình thành một khuôn mặt khác. Dường như không có đặc điểm cá nhân nào có thể gắn liền với tính phổ quát không thể vượt qua của ý thức, cũng không thể đặt ra bất kỳ giới hạn nào cho sức mạnh thoát ly vô hạn này. Để bị/được xác định (theo hai nghĩa của từ đó) bởi một yếu tố bên ngoài, điều cần thiết là tôi phải là một vật thể. Cả tự do lẫn tính phổ quát của tôi đều không thể bị giới hạn bởi bất kỳ sự che khuất nào. Thật không thể tưởng tượng được rằng tôi lại tự do trong một số hành động và bị ràng buộc trong những hành động khác: làm sao chúng ta có thể hiểu được một sự tự do tiềm ẩn đã tạo điều kiện đầy đủ cho quyết định luận? Và nếu giả định rằng nó bị dập tắt khi không hoạt động, thì làm sao nó có thể được khơi lại? Nếu per impossible bằng bất kỳ cách nào đó tôi đã từng thành công trong việc biến mình thành một vật thể, thì sau đó làm sao tôi có thể chuyển đổi mình trở lại thành ý thức? Một khi tôi đã tự do, tôi không còn được tính vào số các vật thể nữa, và khi đó tôi phải được tự do không gián đoạn. Một khi hành động của tôi không còn là của tôi nữa, tôi sẽ không bao giờ lấy lại được chúng, và nếu tôi mất đi sự kiểm soát đối với thế giới, nó sẽ không bao giờ được trả lại cho tôi. Cũng thật không thể tưởng tượng được rằng tự do của tôi lại bị suy giảm; ở một mức nào đó người ta không thể hoàn toàn tự do, và nếu, như người ta thường nói, động cơ hướng tôi theo một hướng nhất định, thì một trong hai điều sẽ xảy ra: hoặc chúng đủ mạnh để buộc tôi hành động, trong trường hợp đó không có tự do, hoặc chúng không đủ mạnh, và khi đó là hoàn toàn tự do, và lớn lao như nhau trong những cực hình tồi tệ nhất cũng như trong sự bình yên của gia đình. Do đó, chúng ta nên bác bỏ không chỉ ý tưởng về nhân quả, mà cả ý tưởng về động cơ.2 Động cơ được cho là đó không gây trở ngại cho quyết định của tôi; ngược lại, quyết định của tôi càng làm tăng thêm sức mạnh cho động cơ đó. Tất cả những gì tôi ‘là’ thì đều nhờ vào tự nhiên hoặc lịch sử—lưng gù, đẹp trai hay người Do Thái—tôi không bao giờ hoàn toàn là chính mình, như chúng ta vừa giải thích: và đối với những kẻ khác tôi có thể là những điều đó, tuy nhiên tôi vẫn tự do đặt định kẻ khác như một ý thức mà quan điểm của kẻ đó tác động đến tận hiện hữu của tôi, hoặc mặt khác chỉ đơn thuần như là một khách thể. Cũng đúng là lựa chọn này tự nó là một hình thức ràng buộc: nếu tôi xấu xí, tôi có sự lựa chọn giữa việc trở thành đối tượng bị kẻ khác chê bai hoặc chê bai kẻ khác. Tôi được tự do trở thành đứa thích tự hành hạ bản thân hoặc kẻ thích hành hạ kẻ khác, nhưng không được tự do phớt lờ kẻ khác. Tuy nhiên tình thế tiến thoái lưỡng nan này, [tr.506] được coi là một phần của số phận con người, chứ không phải là vấn đề đối với tôi với tư cách là ý thức thuần túy: chính tôi vẫn là kẻ tạo ra hiện hữu của kẻ khác cho tôi và tạo ra hiện hữu của mỗi chúng ta với tư cách là các hiện hữu người. Hơn nữa, ngay cả khi tồn tại như một hiện hữu người bị áp đặt lên tôi, thì chỉ có cách thức hiện hữu là do tôi lựa chọn, và xét đến chính sự lựa chọn này mà bỏ qua số ít hình thức nó có thể nhận lấy, thì đó vẫn là một sự lựa chọn tự do. Nếu người ta nói rằng tính khí của tôi đặc biệt nghiêng về thói bạo dâm hoặc khổ dâm, thì đó vẫn chỉ là cách nói, vì tính khí của tôi chỉ tồn tại đối với tri thức bậc hai mà tôi có được về bản thân khi tôi nhìn nhận mình như kẻ khác nhìn nhận tôi, và trong chừng mực tôi nhận ra điều đó, tôi gán giá trị cho nó, và theo nghĩa đó, tôi lựa chọn nó. Điều khiến chúng ta lầm tưởng về điều này là chúng ta thường tìm kiếm sự tự do trong lối cân nhắc tự nguyện, xem xét hết động cơ này đến động cơ khác và dường như chọn động cơ nặng ký nhất hoặc thuyết phục nhất. Trên thực tế, sự cân nhắc theo sau quyết định, và chính quyết định thầm kín của tôi mới làm sáng tỏ các động cơ, bởi vì sẽ khó có thể hình dung được sức mạnh của một động cơ nếu không có một quyết định mà nó xác nhận hoặc trái lại. Khi tôi từ bỏ một dự phóng, những động lực mà tôi nghĩ đã giữ tôi lại đột nhiên mất đi sức mạnh và sụp đổ. Để hồi sinh chúng, tôi cần phải nỗ lực mở lại dòng thời gian và đưa mình trở lại thời điểm trước khi đưa ra quyết định. Ngay cả khi đang cân nhắc, tôi đã thấy việc làm ngưng đọng dòng chảy thời gian và duy trì một tình huống mà tôi cảm thấy đã khép lại bởi một quyết định đã có sẵn và tôi đang trì hoãn chính là một nỗ lực. Đó là lý do tại sao thường xảy ra trường hợp sau khi từ bỏ một kế hoạch, tôi lại cảm thấy nhẹ nhõm: ‘Xét cho cùng, tôi cũng không tham gia nhiều đến vậy’; cuộc tranh cãi chỉ là hình thức, và sự cân nhắc chỉ là trò giễu nhại, vì tôi đã quyết định phản đối ngay từ đầu.

Chúng ta thường thấy sự yếu đuối của ý chí được đưa ra như một lập luận chống lại tự do. Và quả thực, mặc dù tôi có thể tự mình lựa chọn một lối hành xử và đóng vai một chiến binh hay một kẻ quyến rũ, nhưng tôi không thể dễ dàng trở thành một chiến binh hay một kẻ quyến rũ theo cách ‘tự nhiên’; thực sự một, kẻ đó. Nhưng chúng ta cũng không nên tìm kiếm tự do trong hành động của ý chí, bởi vì theo đúng nghĩa của nó, đó là điều gì đó không phải là một hành động. Chúng ta chỉ viện đến hành động của ý chí để đi ngược lại quyết định thực sự của mình, và, như thể, để chứng minh tính bất lực của mình. Nếu chúng ta thực sự và chân thành biến lối hành xử của chiến binh [tr.507] hoặc kẻ quyến rũ thành của riêng mình, thì chúng ta sẽ một trong hai kẻ đó. Ngay cả những gì được gọi là trở ngại cho tự do trên thực tế cũng được chính tự do tạo ra. Một vách đá không thể leo trèo, một tảng đá lớn hay nhỏ, thẳng đứng hay nghiêng, là những thứ vô nghĩa đối với bất kỳ ai không có ý định vượt qua chúng, vì một chủ thể mà các dự phóng của gã không tạo ra những hình thức xác định như vậy từ khối lượng đồng nhất của cái trong tự thân và làm nảy sinh một thế giới có định hướng—một ý nghĩa trong sự vật. Do đó, cuối cùng không gì có thể đặt ra giới hạn cho tự do, ngoại trừ những giới hạn mà chính tự do đã đặt ra dưới hình thức các sáng kiến ​​khác nhau của nó, sao cho chủ thể chỉ đơn giản có thế giới bên ngoài mà chính hắn trao cho mình. Vì chính hắn, khi trở thành hiện hữu, đã làm sáng tỏ ý nghĩa và giá trị trong sự vật, và vì không gì có thể tác động lên nó ngoại trừ việc đạt được, nhờ nó, ý nghĩa và giá trị không có tác động của sự vật lên chủ thể, mà chỉ là một ý nghĩa (chủ động), một Sinngebung tạo nghĩa ly tâm. Việc lựa chọn nằm giữa quan niệm về nhân quả của khoa học vạn năng, không tương thích với ý thức mà chúng ta có về chính mình, và sự khẳng định một tự do tuyệt đối tách rời khỏi bên ngoài. Không thể quyết định được điểm nào mà mọi thứ không còn là µιν [µιν min tiếng Hy Lạp cổ, đối cách bất quy tắc của οὗ (hoû) – gã, ả, nó] nữa. Hoặc tất cả đều nằm trong quyền lực của chúng ta, hoặc không thứ nào cả.     

Tuy nhiên, kết quả của suy ngẫm đầu tiên về tự do dường như lại loại bỏ hoàn toàn nó ra ngoài. Nếu quả thực tự do của chúng ta là như nhau trong mọi hành động, thậm chí cả trong cảm xúc, nếu nó không được đo lường bằng hành vi của chúng ta, và nếu kẻ nô lệ thể hiện tự do bằng cách sống trong sợ hãi cũng như bằng cách phá vỡ xiềng xích, thì không thể cho rằng có thứ gọi là hành động tự do, vì tự do có trước mọi hành động. Trong bất kỳ trường hợp nào, cũng không thể tuyên bố: ‘Ở đây tự do xuất hiện’, vì hành động tự do, để có thể nhận biết được, phải nổi bật trên nền tảng cuộc sống mà nó hoàn toàn, hoặc gần như hoàn toàn, vắng mặt. Trong trường hợp này, chúng ta có thể nói rằng nó ở khắp mọi nơi, nhưng đồng thời cũng không ở đâu cả. Nhân danh tự do, chúng ta bác bỏ ý tưởng về quyền sở hữu, vì tự do đã trở thành một sự sở hữu nguyên thủy và, như thể là trạng thái tự nhiên của chúng ta. Vì chúng ta không cần phải cung cấp nó, đó là món quà được ban cho chúng ta khi không có bất kỳ món quà nào, đó là bản chất của ý thức nằm ở chỗ không có bản chất, và trong bất kỳ trường hợp nào nó cũng không thể tìm thấy biểu hiện bên ngoài hoặc một vị trí trong cuộc sống của chúng ta. Do đó, ý niệm về hành động biến mất: không gì có thể truyền từ chúng ta đến thế giới, vì chúng ta không là gì [tr.508] có thể được xác định cả, và vì cái phi-hiện hữu cấu thành nên chúng ta không thể nào tìm được đường vào plenum buồng gió của ngôi nhà thế giới. Chỉ có những ý hướng ngay lập tức theo sau bởi hiệu quả của chúng, và chúng ta rất gần với ý niệm Kantian về một ý hướng tương đương với hành động, điều mà Scheler đã phản bác bằng lập luận cho rằng kẻ tàn tật muốn cứu người sắp chết đuối và gã giỏi bơi vốn thực sự cứu kẻ kia thì không có cùng trải nghiệm về quyền tự chủ. Chính ý niệm về sự lựa chọn biến mất, vì lựa chọn là lựa chọn cái gì đó mà trong đó tự do nhìn thấy, ít nhất cũng là chốc lát, một biểu tượng của chính nó. Chỉ có lựa chọn tự do nếu tự do tham gia vào quyết định của nó, và coi tình huống được chọn là một tình huống tự do. Một sự tự do không cần phải được thực thi vì nó đã được đạt được thì không thể tự ràng buộc mình theo cách này: nó biết rằng khoảnh khắc tiếp theo, dù thế nào đi nữa, cũng sẽ thấy nó tự do và cũng không thể đoán trước được. Chính khái niệm về tự do đòi hỏi quyết định của chúng ta phải hướng tới tương lai, phải có điều gì đó được nó thực hiện, khoảnh khắc tiếp theo phải được hưởng lợi từ khoảnh khắc trước đó và, mặc dù không bắt buộc, nhưng ít nhất cũng phải được nó yêu cầu. Nếu tự do là hành động, thì điều cần thiết là những gì nó làm không bị hủy bỏ ngay lập tức bởi một quyền tự do mới. Do đó, mỗi khoảnh khắc không được là một thế giới khép kín; một khoảnh khắc phải có khả năng ràng buộc những khoảnh khắc kế tiếp của nó và, một khi quyết định đã được đưa ra và hành động đã bắt đầu, tôi phải có điều gì đó đạt được trong tầm kiểm soát của mình, tôi phải được hưởng lợi từ động lực của mình, tôi phải có khuynh hướng tiếp tục, và phải có một khuynh hướng hoặc thiên hướng của tâm trí. Chính Descartes cho rằng sự bảo tồn đòi hỏi một sức mạnh lớn lao như sức mạnh sáng tạo; một quan điểm hàm chứa một khái niệm hiện thực luận về khoảnh khắc. Đúng là khoảnh khắc không phải là một hư cấu của triết gia. Đó là điểm mà một dự phóng được hoàn thành và một dự phóng khác được bắt đầu3—điểm mà ánh mắt của tôi chuyển từ đầu này sang đầu kia, đó là Augen-Blick thoáng chốc. Nhưng sự gián đoạn thời gian này không thể xảy ra trừ khi mỗi trong hai khoảng thời gian là một nhất phiến. Người ta nói rằng, mặc dù không bị phân mảnh thành từng khoảnh khắc, nhưng ít nhất ý thức bị ám ảnh bởi bóng ma của khoảnh khắc mà nó buộc phải liên tục xua đuổi bằng một hành động tự do. Chúng ta sẽ sớm thấy rằng chúng ta thực sự luôn có quyền gián đoạn, nhưng dù sao nó cũng hàm chứa quyền lực để bắt đầu, vì sẽ không có sự chia cắt trừ khi tự do đã trú ngụ [tr.509] ở đâu đó và đã chuẩn bị dịch chuyển nó. Trừ khi có những chu kỳ hành vi, những tình huống mở đòi hỏi một sự hoàn thành nhất định và có khả năng tạo thành bối cảnh cho một quyết định xác nhận hoặc chuyển đổi, chúng ta không bao giờ trải nghiệm được tự do. Sự lựa chọn theo kiểu khả tri bị loại trừ, không chỉ vì không có thời gian nào tồn tại trước thời gian, mà còn vì sự lựa chọn giả định một cam kết trước đó và vì ý tưởng về một sự lựa chọn ban đầu chứa đựng một mâu thuẫn. Nếu tự do phải có khoảng không* để vận động, nếu nó có thể được mô tả là tự do, thì phải có thứ gì đó níu giữ nó khỏi mục tiêu của nó, nó phải có một trường, điều đó có nghĩa là phải có những khả tính đặc biệt dành cho nó, hoặc những thực tại có xu hướng bám víu vào sự hiện hữu. Như chính J. P. Sartre đã nhận xét, mơ mộng không tương thích với tự do bởi vì, trong cõi tưởng tượng, ngay khi chọn một ý nghĩa nhất định làm mục tiêu, thì chúng ta tin rằng mình đã trực giác đưa nó thành hiện hữu, nói tóm lại, bởi vì không có trở ngại và không có việc gì để làm.4 Người ta đã khẳng định rằng tự do không nên bị nhầm lẫn với những quyết định trừu tượng của ý chí khi phải vật lộn với động cơ hoặc đam mê, bởi vì quan niệm cổ điển về sự cân nhắc chỉ liên quan đến một lối tự do ‘trong bất lương’, vốn bí mật chứa đựng những động cơ đối kháng mà không sẵn sàng hành động theo chúng, và do đó tự tạo ra những bằng chứng được cho là về sự bất lực của nó. Chúng ta có thể thấy, bên dưới những cuộc tranh luận ồn ào và những nỗ lực vô ích để ‘kiến tạo’ bản thân ta, những quyết định ngầm mà qua đó chúng ta đã vạch ra xung quanh mình cái trường khả tính, và đúng là không có gì được thực hiện chừng nào chúng ta còn bám víu vào những điểm cố định này, và mọi thứ đều dễ dàng ngay khi chúng ta đã nhổ neo. Đây là lý do tại sao tự do của chúng ta không nên được tìm kiếm trong những cuộc thảo luận giả tạo về sự xung đột giữa một lối sống mà chúng ta không muốn đánh giá lại và những hoàn cảnh gợi ý về một lối sống khác: sự lựa chọn thực sự là của toàn bộ tính cách và cách chúng ta hiện hữu trên thế giới. Nhưng hoặc là sự lựa chọn toàn diện này không bao giờ được nói ra, vì nó là sự trỗi dậy thầm lặng của hiện hữu chúng ta trên thế giới, trong trường hợp đó, không rõ theo nghĩa nào nó có thể được coi là của chúng ta, vì sự tự do này tự nó trôi chảy và tương đương với số phận—hoặc là sự lựa chọn của bản thân chúng ta thực sự là một sự lựa chọn, một sự chuyển đổi liên quan đến toàn bộ sự tồn tại của chúng ta. Tuy nhiên, trong trường hợp này, [tr.510] trước đó đã đạt được giả định mà sự lựa chọn đặt ra để sửa đổi và nó thiết lập một truyền thống mới: điều này dẫn chúng ta đến câu hỏi liệu sự chia cắt vĩnh viễn mà ban đầu chúng ta dùng để định nghĩa tự do có phải chỉ đơn giản là khía cạnh tiêu cực của cam kết phổ quát của chúng ta đối với một thế giới hay không, và liệu sự thờ ơ của chúng ta đối với mỗi sự vật xác định có phải chỉ đơn thuần thể hiện sự tham gia của chúng ta vào tất cả hay không; liệu tự do có sẵn mà chúng ta bắt đầu có thể quy giản về một sức mạnh chủ động, không thể chuyển hóa thành hành động mà không tiếp nhận một định đề nào đó về thế giới, và tóm lại, liệu quyền tự do cụ thể và thực tế có thực sự được tìm thấy trong sự trao đổi này hay không. Đúng là không gì có ý nghĩa và giá trị đối với bất kỳ ai ngoài tôi và thông qua bất kỳ ai ngoài tôi, nhưng mệnh đề này vẫn không xác định, không thể phân biệt với ý niệm Kantian về ý thức ‘chỉ tìm thấy trong sự vật những gì nó đã đưa vào’, và bằng bác bỏ mang tính duy tâm của hiện thực luận, chừng nào chưa làm rõ được cách hiểu về ý nghĩa và tự ngã. Bằng cách định nghĩa bản thân như một sức mạnh phổ quát của Sinngebung việc tạo nghĩa, chúng ta đã quay trở lại với phương pháp của thứ ‘sự vật nếu không có nó’ và sự phản ánh phân tích theo kiểu truyền thống, tìm kiếm các điều kiện khả dĩ mà không quan tâm đến các điều kiện thực tại. Do đó, chúng ta phải tiếp tục phân tích Sinngebung việc tạo nghĩa, và chỉ ra cách nó có thể vừa ly tâm vừa hướng tâm, vì đã xác định không có tự do nếu không có một trường.

Khi tôi nói tảng đá này không thể leo lên được, thì chắc chắn rằng thuộc tính đó, giống như thuộc tính to hay nhỏ, thẳng hay xiên, và thực sự giống như tất cả các thuộc tính nói chung, chỉ có thể được gán cho nó bởi dự phóng leo lên nó, và bởi sự hiện diện của con người. Do đó, chính tự do tạo ra những trở ngại cho tự do, để tự do có thể được đặt đối lập với nó như những giới hạn của nó. Tuy nhiên, rõ ràng là, với cùng một dự phóng được đưa ra, một tảng đá sẽ xuất hiện như một trở ngại, và một tảng đá khác, dễ vượt qua hơn, như một phương tiện. Tự do của tôi, do đó, không sắp đặt theo cách này có trở ngại, và cách kia có lối đi qua, nó sắp xếp để có những trở ngại và lối đi qua nói chung; nó không vẽ ra đường nét cụ thể của thế giới này, mà chỉ đặt ra cấu trúc tổng quát của nó. Có thể phản đối là không có sự khác biệt; nếu tự do của tôi chi phối cấu trúc của cái ‘có đó’, của cái ‘ở đây’ và cái ‘ở đó’, thì nó hiện diện ở bất cứ nơi nào mà những cấu trúc này khởi lên. Chúng ta không thể phân biệt được phẩm chất của ‘chướng ngại vật’ với tự thân chướng ngại vật [tr.511], và liên hệ cái này với tự do còn cái kia với thế giới tự thân, mà nếu không có tự do, sẽ chỉ còn lại một khối vô định hình và không thể gọi tên. Do đó, không phải ở bên ngoài bản thân tôi mà tôi có thể tìm thấy giới hạn cho tự do của mình. Nhưng chẳng phải tôi đã tìm thấy nó trong chính mình sao? Chúng ta thực sự phải phân biệt giữa những ý hướng rõ ràng của tôi, ví dụ như kế hoạch leo núi mà tôi đang lập ra, và những ý hướng chung đánh giá tiềm tính của môi trường xung quanh. Cho dù tôi có quyết định leo núi hay không, những ngọn núi này vẫn hiện lên cao đối với tôi, bởi vì chúng vượt quá khả năng của cơ thể tôi, và ngay cả khi tôi vừa đọc Micromégas [Micromégas là một tiểu thuyết ngắn châm biếm triết học của nhà văn Pháp Voltaire vào năm 1752; tác phẩm kể về chuyến du hành của một người khổng lồ đến từ hành tinh khác tên Micromégas - nghĩa là ‘Gã Khổng lồ Tí hon’ đến Trái Đất – ông muốn phê phán thói kiêu ngạo, tri thức hạn hẹp và cuộc chiến vô nghĩa của con người-HHN], tôi cũng không thể nào khiến chúng trở nên nhỏ bé đối với tôi. Ẩn sâu bên trong tôi như một chủ thể tư duy, kẻ có thể tùy ý chọn vị trí của mình trên hành tinh Sirius [Sao Thiên Lang - là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời đêm, có cấp sao biểu kiến là -1,46; nằm trong chòm sao Canis Major - Chó Lớn, cách Trái Đất khoảng 8,6 năm ánh sáng, Sirius thực chất là một hệ sao nhị phân bao gồm sao chính Sirius A - dãy chính, và sao lùn trắng Sirius B - HHN] hay trên bề mặt trái đất, do đó, có thể nói là một bản ngã tự nhiên không hề lay chuyển khỏi vị trí trên mặt đất của nó và liên tục phác họa những đánh giá tuyệt đối. Hơn nữa, các dự án của tôi với tư cách là một hiện hữu tư duy rõ ràng được mô phỏng như sau: nếu tôi chọn nhìn mọi thứ từ quan điểm của Sirius, thì tôi vẫn phải dựa vào kinh nghiệm trên Trái đất của mình để làm điều đó; ví dụ, tôi có thể nói rằng dãy Alps chỉ là những molehills mô đất nhỏ [Molehills là những mô đất tơi xốp do con mole chuột chũi đào và đùn lên xung quanh cửa hang-HHN]. Chừng nào tôi còn có tay, chân, thân thể, tôi còn dung dưỡng những ý hướng không phụ thuộc vào quyết định của tôi và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh theo cách mà tôi không lựa chọn. Những ý hướng này mang tính tổng quát theo hai nghĩa: thứ nhất, theo nghĩa chúng tạo thành một hệ thống trong đó tất cả các đối tượng có thể đều được bao gồm đồng thời; nếu ngọn núi xuất hiện cao và thẳng đứng, thì cái cây xuất hiện nhỏ và nghiêng; và hơn nữa, theo nghĩa chúng không chỉ đơn thuần là của tôi, mà bắt nguồn từ những thứ khác ngoài bản thân tôi, và tôi không ngạc nhiên khi thấy chúng trong tất cả các đối tượng tâm lý-thể chất được tổ chức như tôi. Do đó, như tâm lý học gestalt hình thái đã chỉ ra, đối với tôi có một số hình dạng nhất định được ưu ái đặc biệt, cũng như đối với những kẻ khác, và có khả năng tạo ra một khoa học tâm lý và các quy luật chặt chẽ. Việc nhóm các chấm [……] luôn được nhận thức là sáu cặp chấm với khoảng cách hai milimét giữa mỗi cặp, trong khi một hình luôn được nhận thức là một hình lập phương, và một hình khác là một thể khảm phẳng.5 Cứ như thể ở phía bên kia của phán đoán và tự do của chúng ta [tr.512], ai đó đang gán ý nghĩa này nọ cho một nhóm nhất định nào đó. Thật vậy, các cấu trúc nhận thức không phải lúc nào cũng tự áp đặt lên kẻ quan sát; có một số cấu trúc thật mơ hồ. Nhưng những cấu trúc này thậm chí còn tiết lộ hiệu quả hơn sự hiện diện bên trong chúng ta về những định giá tự phát: bởi vì chúng là những hình dạng khó nắm bắt, gợi ý cho chúng ta những ý nghĩa liên tục thay đổi. Giờ đây, một ý thức thuần túy có năng lực làm bất cứ điều gì ngoại trừ việc mù tịt ý hướng của nó, và một thứ tự do tuyệt đối không thể tự chọn mình vì do dự, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc cho phép bản thân bị lôi kéo theo nhiều hướng, và bởi vì, theo giả thuyết, các khả tính ex hypothesi giả định mang ơn tự do về tất cả sức mạnh mà chúng có, nên thứ sức nặng mà tự do mang lại cho một khả tính nào đó, do vậy lại bị rút khỏi những khả tính còn lại. Chúng ta có thể phá vỡ một hình dạng bằng cách nhìn nó theo lối lệch lạc, nhưng như vậy cũng chỉ là vì việc tự do sử dụng cái nhìn cùng với những đánh giá tự phát của nó. Nếu thiếu yếu tố thứ hai, chúng ta sẽ không có một thế giới, tức là một tập hợp các sự vật xuất hiện từ một nền tảng vô định hình bằng cách tự hiện diện trước cơ thể chúng ta như là ‘để được chạm vào’, ‘để được chiếm lấy’, và ‘để được leo qua’. Chúng ta sẽ không bao giờ nhận thức được việc điều chỉnh bản thân cho phù hợp với mọi vật và tiếp cận chúng ở nơi chúng có đó, vượt ra ngoài chúng ta, mà chỉ ý thức được việc giới hạn suy nghĩ của mình vào các đối tượng nội tại của ý hướng, và chúng ta không nên ở trong thế giới, bản thân chúng ta không bị cuốn vào cảnh tượng và, nói cách khác, hòa lẫn với mọi vật, chúng ta chỉ đơn giản là tận hưởng cảnh tượng của vũ trụ. Do đó, đúng là bản thân chúng không có chướng ngại vật, nhưng cái tự ngã vốn xác định chúng như vậy lại không phải là một chủ thể phi vũ trụ; nó vận hành vượt lên chính nó trong mối quan hệ với sự vật để ban cho chúng hình dạng của sự vật. Có một ý nghĩa nội tại của thế giới được hình thành trong các tương tác mà sự tồn tại hiện thân của chúng ta có được với nó, và điều đó tạo nên nền tảng của mọi Sinngebung cách thức chủ tâm tạo nghĩa.

Điều này không chỉ đúng với một chức năng phi cá nhân và, nói chung, trừu tượng như ‘tri giác bên ngoài’. Có một điều tương tự hiện diện trong tất cả các đánh giá. Người ta đã nhận xét một cách tinh tế rằng đau đớn và mệt mỏi không bao giờ có thể được coi là những nguyên nhân ‘tác động’ đến tự do của tôi, và chừng nào tôi có thể trải nghiệm chúng vào bất kỳ thời điểm nào, chúng không có nguồn gốc từ bên ngoài tôi, mà luôn có ý nghĩa và thể hiện thái độ của tôi đối với thế giới. Đau đớn khiến tôi nhượng bộ và nói ra những điều lẽ ra tôi nên giữ kín, mệt mỏi khiến tôi phải dừng cuộc hành trình. Tất cả chúng ta đều biết khoảnh khắc mà chúng ta quyết định không chịu đựng thêm nữa [tr.513] đau đớn hay mệt mỏi, và đồng thời khi chúng thực sự trở nên không thể chịu đựng được.  Mệt mỏi không ngăn cản được người bạn đồng hành của tôi, bởi vì hắn thích cái ẩm ướt của cơ thể, sức nóng của con đường và mặt trời, tóm lại, bởi vì hắn thích cảm thấy mình ở giữa mọi thứ, cảm nhận những tia sáng hội tụ vào mình, trở thành tâm điểm của tất cả ánh sáng này, và là đối tượng để trái đất chạm nhận. Sự mệt mỏi của chính tôi khiến tôi dừng lại vì tôi không thích nó, vì tôi đã chọn một cách sống khác trong thế giới này, chẳng hạn như, tôi cố gắng không phải để hòa mình vào thiên nhiên, mà là để giành được sự công nhận của kẻ khác. Tôi tự do liên quan đến cảm giác mệt mỏi chính xác ở mức độ tôi tự do với hiện hữu của mình trong thế giới này, tự do tạo dựng con đường của mình bằng cách biến đổi nó.6 Nhưng ở đây một lần nữa chúng ta phải nhận ra một kiểu trầm tích trong cuộc sống của mình: một thái độ đối với thế giới, khi nó được xác nhận thường xuyên, có được một vị thế ưu ái đối với chúng ta. Tuy nhiên, vì tự do không dung thứ bất kỳ động cơ nào trên con đường của nó, nên hiện hữu thường xuyên của tôi trong thế giới này luôn luôn bấp bênh như nhau, và những mặc cảm mà tôi đã để cho phát triển qua nhiều năm luôn xoa dịu như nhau, và hành động tự do có thể dễ dàng thổi bay chúng lên trời. Tuy nhiên, vì đã xây dựng cuộc sống của chúng ta trên một mặc cảm tự ti đã hoạt động trong hai mươi năm, nên không có khả năng chúng ta sẽ thay đổi. Rõ ràng là một chủ nghĩa duy lý vắn tắt có thể nói gì để đáp lại một khái niệm lai tạp như vậy: không có mức độ khả tính; hoặc hành động tự do không còn khả thể nữa, hay nó vẫn khả thể, trong trường hợp đó thì tự do là hoàn toàn. Tóm lại, có ‘khả năng’ xảy ra là vô nghĩa. Đó là một khái niệm thuộc về tư duy thống kê, mà thực chất không phải là tư duy, vì nó không liên quan đến bất kỳ sự vật cụ thể nào thực sự tồn tại, bất kỳ khoảnh khắc thời gian nào, bất kỳ sự kiện cụ thể nào. “Không chắc Paul sẽ từ bỏ việc viết những cuốn sách dở” chẳng có nghĩa lý gì, vì Paul hoàn toàn có thể quyết định không viết thêm những cuốn sách như vậy nữa. Cái có thể xảy ra có ở khắp mọi nơi và không ở đâu cả, một hư cấu được vật chất hóa, chỉ tồn tại về mặt tâm lý; nó không phải là một thành phần của thế giới. Tuy nhiên, chúng ta đã gặp nó cách đây không lâu trong thế giới được tri giác. Ngọn núi lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức độ mà, với tư cách là một vật thể được tri giác, người ta thấy nó trong phạm vi các hành động có thể của tôi, và liên quan đến một cấp độ không chỉ là cuộc sống cá nhân của tôi, mà còn là của ‘bất kỳ kẻ nào’. Tinh tổng quát và xác suất không phải là hư cấu, mà là hiện tượng; do đó, chúng ta phải tìm một [tr.514] cơ sở hiện tượng học cho tư duy thống kê. Nó tất yếu thuộc về một hiện hữu cố định, được sắp đặt và bao quanh bởi những sự vật trong thế giới. ‘Không thể nào’ thứ mà vào thời khắc này tôi có thể phá bỏ một mặc cảm tự ti mà tôi đã bằng lòng sống với nó suốt hai mươi năm qua. Điều đó có nghĩa là tôi đã tự nguyện sống trong mặc cảm tự ti, đã biến nó thành nơi trú ngụ của mình, và quá khứ này, dù không phải là định mệnh, nhưng ít nhất cũng có một trọng lượng nhất định và không phải là một chuỗi sự kiện ở đằng xa, cách biệt với tôi, mà là bầu không khí hiện tại của tôi. Tình thế tiến thoái lưỡng nan của kẻ duy lý trí: hoặc hành động tự do là khả thể, hoặc không – hoặc sự kiện bắt nguồn từ tôi hoặc bị áp đặt từ bên ngoài, không áp dụng cho mối quan hệ của chúng ta với thế giới và với quá khứ của chúng ta. Tự do của chúng ta không phá hủy hoàn cảnh của chúng ta, mà hướng nó đến hoàn cảnh đó: chừng nào chúng ta còn sống, hoàn cảnh của chúng ta vẫn còn mở ngỏ, thì điều đó ngụ ý rằng nó vừa gợi lên những phương thức giải quyết được ưu tiên đặc biệt, lại cũng không có khả năng tự tạo ra một phương thức nào đó.

Chúng ta sẽ đi đến cùng một kết quả bằng cách xem xét mối quan hệ của chúng ta với lịch sử. Khi nhìn nhận bản thân một cách cụ thể tuyệt đối, như tôi tự nhận thức trong quá trình phản chiếu, tôi thấy mình là một dòng chảy vô danh và tiền nhân loại, chưa được định danh là, chẳng hạn, ‘một công nhân’ hay ‘giai cấp trung lưu’. Nếu sau đó tôi nghĩ về bản thân như một kẻ giữa những kẻ khác, một gã tư sản giữa những gã tư sản, thì dường như đó chỉ là một cái nhìn thứ cấp về bản thân; trong thâm tâm, tôi không bao giờ là một công nhân hay một gã tư sản, mà là một ý thức tự đánh giá mình một cách tự do như một ý thức của giai cấp trung lưu hay giai cấp vô sản. Và thực tế, vị trí khách quan của tôi trong quá trình sản xuất không bao giờ đủ để đánh thức ý thức giai cấp. Bóc lột đã tồn tại từ rất lâu trước khi có các nhà cách mạng. Và không phải lúc nào phong trào công nhân cũng tiến bộ trong những thời kỳ khó khăn kinh tế. Do đó, nổi dậy không phải là kết quả của các điều kiện khách quan, mà chính là quyết định của người công nhân muốn làm cách mạng mới biến hắn thành một gã vô sản. Sự đánh giá hiện tại hoạt động thông qua dự phóng tự do của mỗi kẻ cho tương lai. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng lịch sử tự nó không có ý nghĩa, mà chỉ có ý nghĩa được ý chí của chúng ta gán cho nó. Tuy nhiên, ở đây chúng ta lại rơi vào phương pháp của ‘điều kiện thiết yếu mà nếu không có nó thì…’: trái ngược với tư duy khách quan, vốn bao gồm chủ thể trong hệ thống quyết định luận của nó, chúng ta đặt ra phép phản tư duy tâm, khiến cho quyết định luận phụ thuộc vào hoạt động cấu thành của chủ thể. Giờ đây, chúng ta đã thấy rằng tư duy khách quan và [tr.515] phản tư phân tích là hai khía cạnh của cùng một sai lầm, hai cách bỏ qua hiện tượng. Tư duy khách quan rút ra ý thức giai cấp từ điều kiện khách quan của giai cấp vô sản. Phản tư duy tâm thu hẹp điều kiện của giai cấp vô sản thành nhận thức về nó, điều mà người vô sản đạt được. Cái trước lần tìm ý thức giai cấp ở giai cấp được định nghĩa theo các đặc điểm khách quan, mặt khác, cái sau quy giản ‘một người lao động’ thành ý thức về việc là một người lao động. Trong mỗi trường hợp, chúng ta đều ở trong lĩnh vực trừu tượng, bởi vì chúng ta vẫn bị giằng xé giữa cái trong tự thân và cái cho tự thân. Nếu ta tiếp cận lại vấn đề với ý tưởng khám phá, không phải là nguyên nhân của hành động nhận thức – vì không có nguyên nhân nào có thể tác động từ bên ngoài lên ý thức – cũng không phải là điều kiện khả thể của nó, vì ta cần biết những điều kiện thực sự tạo ra nó – mà là chính ý thức giai cấp, nếu, tóm lại, ta áp dụng một phương pháp hiện sinh đích thực, thì ta sẽ tìm thấy gì? Tôi không ý thức mình thuộc giai cấp công nhân hay trung lưu, chỉ đơn giản vì trên thực tế, tôi bán sức lao động của mình, hoặc cũng trên thực tế, vì lợi ích của tôi gắn liền với chủ nghĩa tư bản, và tôi cũng không trở thành gã này hay kẻ kia vào cái ngày mà tôi chọn nhìn nhận lịch sử dưới ánh sáng của đấu tranh giai cấp: điều xảy ra là ‘tôi tồn tại với tư cách là giai cấp công nhân’ hay ‘tôi tồn tại với tư cách là giai cấp trung lưu’ ngay từ đầu, và chính cách thức đối xử với thế giới và xã hội này cung cấp cả động cơ cho các dự phóng cách mạng hay bảo thủ của tôi và những phán đoán rõ ràng của tôi thuộc loại: ‘Tôi là giai cấp công nhân’ hay ‘Tôi là giai cấp trung lưu’, mà không thể suy ra điều trước từ điều sau, hoặc ngược lại. Thứ khiến tôi trở thành kẻ vô sản không phải là hệ thống kinh tế hay xã hội được xem như những hệ thống lực lượng phi cá nhân, mà chính là những thể chế này khi tôi mang chúng trong mình và trải nghiệm chúng; cũng không phải là một hoạt động trí tuệ không có động cơ, mà là cách tôi hiện hữu trên thế giới trong khuôn khổ thể chế này.

Giả sử tôi có một lối sống nhất định, phụ thuộc vào sự bùng nổ và suy thoái kinh tế, không được tự do làm những gì mình thích, nhận lương hàng tuần, không có quyền kiểm soát cả điều kiện lẫn sản phẩm công việc của mình, và do đó cảm thấy mình là kẻ xa lạ trong nhà máy, đất nước và cuộc sống của mình. Tôi đã quen với việc tính toán theo một định mệnh, hay một trật tự đã được định sẵn, mà tôi không tôn trọng, nhưng tôi phải chiều theo. Hoặc giả sử tôi làm công nhật, không có trang trại riêng, không có dụng cụ, đi từ trang trại này sang trang trại khác để làm thuê vào mùa [tr.516] thu hoạch; trong trường hợp đó, tôi cảm thấy  có một thế lực vô hình nào đó đang lơ lửng trên đầu và biến tôi thành kẻ lang thang, mặc dù tôi muốn ổn định cuộc sống với một công việc thường xuyên. Hoặc cuối cùng, giả sử tôi là kẻ thuê một trang trại mà chủ sở hữu chưa lắp đặt điện, mặc dù đường dây điện chính chỉ cách đó chưa đầy hai trăm thước. Tôi chỉ có một phòng ở được cho gia đình mình, mặc dù rất dễ dàng để tạo thêm các phòng khác trong nhà. Những kẻ đồng nghiệp của tôi trong nhà máy hay ngoài đồng, hoặc những gã nông dân khác, đều làm công việc giống tôi trong điều kiện tương đương; chúng tôi cùng tồn tại trong hoàn cảnh giống nhau và cảm thấy giống nhau, không phải do sự so sánh nào đó, như thể mỗi kẻ trong chúng tôi chủ yếu sống cho bản thân mình, mà dựa trên nhiệm vụ và hành động của chúng tôi. Những hoàn cảnh này không hàm ý bất kỳ sự đánh giá rõ ràng nào, và nếu có một sự đánh giá ngầm, thì nó thể hiện sự thúc đẩy của một thứ tự do không có bất kỳ kế hoạch nào chống lại những trở ngại chưa biết; trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể nói về lựa chọn, vì trong cả ba trường hợp, chỉ cần tôi được sinh ra trên thế giới và tồn tại để trải nghiệm cuộc sống của mình đầy khó khăn và ràng buộc—tôi không lựa chọn như vậy để trải nghiệm nó. Nhưng tình trạng này có thể tiếp diễn mà không cần tôi trở nên có ý thức giai cấp, khi hiểu rằng tôi thuộc giai cấp vô sản và trở thành một nhà cách mạng. Vậy thì làm thế nào tôi có thể thực hiện sự thay đổi này? Người công nhân biết rằng những công nhân khác trong một ngành nghề khác, sau khi đình công, đã đạt được mức tăng lương, và nhận thấy rằng sau đó tiền lương đã tăng lên trong nhà máy của chính gã. Trật tự được định sẵn mà gã đang phải vật lộn bắt đầu có hình dạng rõ ràng hơn. Kẻ làm công nhật, kẻ ít khi thấy công nhân làm việc thường xuyên, không giống họ và cũng chẳng mấy thiện cảm với họ, khi thấy giá cả hàng hóa sản xuất và chi phí sinh hoạt tăng cao, nhận ra rằng mình không còn kiếm sống được nữa. Lúc này, gã có thể đổ lỗi cho công nhân thành thị, trong trường hợp đó, ý thức giai cấp sẽ không xuất hiện. Nếu có, thì không phải vì kẻ công nhật đã quyết định trở thành gã làm cách mạng và do đó gán giá trị cho hoàn cảnh của mình; mà vì hắn đã nhận thức một cách cụ thể cuộc sống của mình đồng bộ với cuộc sống của công nhân thành thị và tất cả đều có chung số phận. Bọn tiểu nông, không liên kết với bọn làm công nhật, càng không liên kết với công nhân thành thị, bị ngăn cách bởi một thế giới phong tục và phán xét giá trị, tuy nhiên vẫn cảm thấy mình cùng phe với bọn thợ học việc khi trả cho chúng mức lương không thỏa đáng, và thậm chí gã còn cảm thấy mình có [tr.517] điểm chung với công nhân thành thị khi biết rằng chủ trang trại chính là chủ tịch hội đồng quản trị của một số công ty công nghiệp.

____________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Merleau-Ponty, Maurice (1945). Phenomenology of Perception, Translated by Colin Smith, from Phénomènologie de la perception published 1945 by Gallimard, Paris. English edition first published 1962 by Routledge & Kegan Paul.

Tác giả: Maurice Jean Jacques Merleau-Ponty, 14 tháng 3 năm 1908 - 3 tháng 5 năm 1961, là một nhà triết học hiện tượng luận người Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Việc tạo dựng ý nghĩa trong trải nghiệm của con người là mối quan tâm chính của ông và ông viết về tri giác, nghệ thuật và chính trị. Ông là thành viên ban biên tập của Les Temps modernes, tạp chí cánh tả do Jean-Paul Sartre thành lập năm 1945. Cốt lõi của triết học Merleau-Ponty là lập luận bền vững cho vai trò nền tảng của tri giác trong việc nhận thức thế giới cũng như tương tác với thế giới. Giống như các nhà hiện tượng luận lớn khác, Merleau-Ponty thể hiện những hiểu biết sâu sắc về triết học của mình trong các bài viết về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học và chính trị. Ông là nhà hiện tượng luận lớn duy nhất của nửa đầu thế kỷ XX tham gia sâu rộng vào các ngành khoa học và đặc biệt là với tâm lý học mô tả. Chính nhờ sự tham gia này mà các bài viết của ông đã trở nên có ảnh hưởng trong dự án tự nhiên hóa hiện tượng luận, trong đó các nhà hiện tượng luận sử dụng các kết quả của tâm lý học và khoa học nhận thức. Merleau-Ponty nhấn mạnh cơ thể là địa điểm chính để nhận biết thế giới, một sự điều chỉnh đối với truyền thống triết học lâu đời về việc coi ý thức là nguồn gốc của tri thức, và kiên trì rằng cơ thể và cái mà nó tri nhận được không thể tách rời nhau. Việc trình bày rõ ràng về tính ưu việt của hiện thân đã khiến ông rời xa hiện tượng luận để hướng tới cái mà ông gọi là “hữu thể luận gián tiếp” hay hữu thể luận “xác thịt của thế giới” (la chair du monde), trong tác phẩm cuối cùng và chưa hoàn thiện của ông, Le visible et l'invisible Hữu hình và Vô hình, và bài luận xuất bản cuối cùng của anh ấy, L'Œil et l'Esprit Cặp mắt và Tinh thần. Trong tác phẩm trước đó của mình, Merleau-Ponty ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Liên Xô trong khi vẫn chỉ trích các chính sách của Liên Xô và Marx luận nói chung, theo lập trường hoài nghi mà ông gọi là Marx luận phương Tây. Sự tán thành của ông đối với các phiên tòa và trại tù ở Liên Xô đã được xuất bản với tên Humanisme et terreur Nhân đạo và Khủng bố vào năm 1947, mặc dù sau đó ông đã tố cáo sự khủng bố của Liên Xô là đi ngược lại với mục đích nhân đạo tự xưng của cách mạng.

Notes

1 In the sense in which, with Husserl, we have taken this word.

2 See J. P. Sartre, L’Être et le Néant, pp. 508 and ff.

3 J. P. Sartre, L’Être et le Néant, p. 544.

* ‘avoir du champ’; in this sentence there is a play on the word ‘champ’ = field (Translator’s note).

4 J. P. Sartre, L’Être et le Néant, p. 562.

5 See above, p. 263.

6 J. P. Sartre, L’Être et le Néant, pp. 531 and ff.

* ‘sens’ (Translator’s note).

* In the sense of das Man, the impersonal pronoun (Translator’s note).