Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
[Tr. 268] Tuy nhiên, cái vốn nằm ở vị trí cuối cùng trong trật tự liên kết nền tảng—xét về mặt hữu thể và bản thể luận—lại được nhìn nhận ở phương diện ontish thực hữu và thực tại như là điều đầu tiên và gần gũi nhất với chúng ta. Dẫu vậy, tính tất yếu của Sự thật này lại bắt nguồn từ chính loại Hữu thể mà Dasein sở hữu. Trong sự đắm mình đầy quan tâm, Dasein tự thấu hiểu bản thân thông qua những gì nó bắt gặp bên-trong- thế-giới. Entdecktheit/ uncoveredness Trạng thái bộc lộ—vốn thuộc về hành động bộc lộ—là điều mà trước hết ta bắt gặp ngay bên-trong-thế- giới, nơi những gì đã được diễn đạt. Tuy nhiên, không chỉ chân lý mới được bắt gặp như là hiện-diện-vô-tri; nhìn chung, hiểu biết của chúng ta về Hữu thể mang tính chất sao cho mọi thực thể, ngay từ bước đầu, đều được hiểu như là hiện-diện-vô-tri. Nếu ‘chân lý’—thứ mà ta bắt gặp trước hết theo phương thức ontish thực hữu—được xem xét ở bình diện bản thể luận theo cách gần gũi nhất với chúng ta, thì cái λόγος logos (lời khẳng định) sẽ được hiểu như một λόγος tíνος lời khẳng định về một điều gì đó, một Entdecktheit/ uncoveredness trạng thái bộc lộ về một điều gì đó; nhưng hiện tượng này lại bị diễn giải như một cái gì đó hiện-diện-vô-tri, xét trên phương diện khả năng hiện-diện-vô-tri của nó.1 Song, vì hiện-diện-vô-tri bị đồng nhất với ý nghĩa của Hữu thể nói chung, nên câu hỏi liệu Hữu thể này của chân lý có phải là bản nguyên hay không—và liệu có yếu tố nào mang tính bản nguyên trong cái cấu trúc mà ta bắt gặp gần gũi nhất ấy hay không—đã hoàn toàn không thể nảy sinh. Hiện tượng bản nguyên của chân lý bị che lấp bởi hiểu biết của Dasein về Hữu thể—loại hiểu biết vốn chiếm ưu thế ngay từ đầu và cho đến nay vẫn chưa được vượt qua một cách tường minh và triệt để về mặt nguyên tắc.
Tuy nhiên, đồng thời ta cũng không được bỏ qua một thực tế là: mặc dù cách hiểu về Hữu thể này (cách hiểu gần gũi nhất với chúng ta) là thứ mà người Hy Lạp đã tiên phong phát triển thành một ngành tri thức và làm chủ nó, thì sự hiểu biết bản nguyên về chân lý vẫn đồng thời tồn tại trong họ—dù chỉ ở mức độ tiền-bản thể luận—và thậm chí nó còn giữ được vị thế của mình trước sự che giấu tiềm ẩn trong cái bản thể luận của họ; ít nhất là ở Aristotle.xiii Ông chưa bao giờ bảo vệ luận điểm cho rằng cái ‘locus quỹ đạo’ bản nguyên của chân lý lại nằm ở sự phán đoán. Ông cho rằng cái λόγος logos chính là phương thức của Hữu thể mà trong đó Dasein có thể hoặc bộc lộ, hoặc che đậy sự vật. Khả tính kép này là nét đặc thù trong cái Hữu-thể-chân của λόγος logos: chính λόγος logos là phương thức ứng xử mà qua đó người ta cũng có thể che đậy sự vật. Và vì Aristotle chưa bao giờ tán thành luận điểm mà chúng ta đã đề cập, nên ông cũng chưa bao giờ ở vào [tr.269] vị thế có thể ‘mở rộng’ quan niệm về chân lý trong λόγος logos—để bao hàm cả νοεῖν noein nhận thức thuần túy. Chân lý của αἴσθησις aesthesis nhận thức cảm tính—và của việc the seeing of ‘ideas’ quan chiêm các ‘ý niệm’—chính là loại bộc lộ bản nguyên nhất. Và chỉ vì νόησις noesis quá trình nhận thức chủ yếu làm bộc lộ, nên cái λόγος logos—với tư cách διανοεῖν dianoein suy tư—mới có thể mang chức năng bộc lộ. Không chỉ sai lầm khi viện dẫn Aristotle để ủng hộ luận điểm cho rằng cái locus ‘quỹ tích’ đích thực của chân lý nằm ở phán đoán; mà ngay cả về mặt nội dung, thì luận điểm này cũng không nhận ra được cấu trúc của chân lý. Aussage Sự khẳng định không phải là locus ‘quỹ tích’ chủ đạo của chân lý. Trái lại, dù xét như một phương thức chiếm lĩnh trạng-thái-bộc-lộ hay với tư cách một phương thức Hữu-thể-trong-thế-giới, thì Aussage Sự khẳng định đều bắt rễ từ hành động bộc lộ của Dasein, hay đúng hơn là trong Erschlossenheit/disclosedness Trạng thái khai mở của nó. ‘Chân lý’ bản nguyên nhất chính là cái locus ‘quỹ tích’ khẳng định; đó là điều kiện bản thể luận cho khả tính mà khẳng định là chân hay giả—và chúng có thể bộc lộ hoặc che đậy sự vật. Chân lý, khi được hiểu theo nghĩa bản nguyên nhất, lại thuộc về cái cấu thành cơ bản của Dasein. Thuật ngữ này biểu thị một existentiale đặc tính cấu thành hữu thể. Qua đó, chúng ta đã phác thảo lời đáp cho câu hỏi về loại hình Hữu thể mà chân lý sở hữu, cũng như câu hỏi về việc cần phải tiền giả định rằng ‘có chân lý’ theo nghĩa nào.
(c) Loại hình Hữu thể mà Chân lý sở hữu, và Tiền giả định về Chân lý. Dasein, với tư cách được cấu thành bởi Erschlossenheit/disclosedness trạng-thái-khai-mở, về bản chất luôn ở trong chân lý. Erschlossenheit Trạng-thái-khai-mở là một loại Hữu thể thiết yếu đối với Dasein. Chỉ khi Dasein hiện hữu và chừng nào Dasein còn hiện hữu thì chân lý mới ‘có đó’. Các hiện hữu chỉ được bộc lộ khi Dasein hiện hữu; và chúng chỉ được khai mở chừng nào Dasein còn hiện hữu. Các định luật của Newton, nguyên lý mâu thuẫn, hay bất kỳ chân lý nào – tất cả chỉ đúng chừng nào Dasein còn hiện hữu. Khi chưa có bất kỳ Dasein nào, thì đã không hề có chân lý nào cả; và cũng sẽ không còn chân lý nào sau khi Dasein không còn nữa. Bởi lẽ, trong trường hợp đó, thì chân lý – với tư cách là trạng thái khai mở, hành động bộc lộ và trạng thái bộc lộ – không thể tồn tại. Trước khi các định luật của Newton được khám phá, chúng không hề là ‘chân’; điều này không có nghĩa chúng là giả, hay thậm chí chúng sẽ trở nên giả nếu xét về mặt ontish thực hữu, khi mà Erschlossenheit Trạng-thái-khai-mở đã không có bất kỳ khả thể nào. ‘Giới hạn’ này hoàn toàn không hàm ý rằng cái Hữu-thể-chân của các ‘chân lý’ bị suy giảm theo bất kỳ cách nào. Việc nói rằng trước thời Newton, các định luật của ông không ‘chân’ cũng chẳng ‘giả’, không có nghĩa là trước ông đã không tồn tại những thực thể như đã được bộc lộ và được chỉ ra bởi chính các định luật ấy. Qua Newton, các định luật trở thành ‘chân’; cùng với chúng, các thực thể đã có thể tiếp cận ngay trong bản thân chúng đối với Dasein. Một khi các thực thể đã được bộc lộ, thì chúng tự bày tỏ chính xác như là những thực thể vốn đã hiện hữu từ trước đó. Hành vi bộc lộ như vậy chính là loại Hữu thẻ vốn thuộc về ‘chân lý’.
Việc tồn tại những ‘chân lý vĩnh cửu’ sẽ không thể được chứng minh một cách thỏa đáng cho đến khi [tr.270] có ai đó chứng minh thành công rằng Dasein đã hiện hữu và sẽ mãi mãi hiện hữu. Chừng nào chưa có bằng chứng như vậy, nguyên lý này vẫn chỉ là một luận điểm đầy tính suy đoán, không hề trở nên xác đáng hơn chỉ vì các triết gia thường ‘tin’ vào nó. Bởi lẽ, loại Hữu thể cốt yếu đối với chân lý lại mang đặc tính của Dasein, nên mọi chân lý đều mang tính tương đối so với Hữu thể của Dasein. Liệu tương đối tính này có hàm ý rằng mọi chân lý đều ‘mang tính chủ thể’ hay không? Nếu ta diễn giải ‘mang tính chủ thể’ theo nghĩa ‘tùy thuộc vào quyền tự quyết của chủ thể’, thì chắc chắn là không. Bởi vì hành vi bộc lộ—theo đúng nghĩa đích thực nhất của nó—đã đưa hành vi khẳng định ra khỏi phạm vi quyền tự quyết của chủ thể, đồng thời đặt cái Dasein đang bộc lộ vào thế đối diện trực tiếp với tự thân các thực thể. Và chỉ vì ‘chân lý’—với tư cách hành vi bộc lộ—là một loại Hữu thể vốn thuộc về Dasein, nên nó mới có thể được tách khỏi phạm vi quyền tự quyết của Dasein. Ngay cả ‘tính hiệu lực phổ quát’ của chân lý cũng chỉ bắt nguồn từ thực tế là Dasein có khả năng bộc lộ các thực thể ngay trong chính bản thân chúng và giải phóng chúng. Chỉ bằng cách đó, các thực thể tự thân này mới có thể mang tính ràng buộc đối với mọi khẳng định khả thể—tức là đối với mọi cách thức chỉ ra chúng.2 Nếu chân lý được hiểu đúng đắn, liệu nó có bị tổn hại chút nào bởi thực tế rằng nó chỉ khả thể về phương diện ontish thực hữu bên trong cái ‘chủ thể’, và trụ vững hay sa ngã gắn liền với cái Hữu thể của ‘chủ thể’ đó?
Giờ đây, khi đã có một quan niệm mang tính hữu thể về loại Hữu thể thuộc về chân lý, thì ý nghĩa của việc ‘tiền giả định chân lý’ cũng trở nên dễ hiểu. Tại sao chúng ta phải tiền giả định rằng có chân lý? ‘Tiền giả định’ là gì? Chúng ta đang nghĩ gì với từ ‘phải’ và từ ‘chúng ta’? Nói ‘có chân lý’ nghĩa là gì? ‘Chúng ta’ tiền giả định chân lý bởi vì ‘chúng ta’ — với tư cách là những thực thể hiện hữu trong loại Hữu thể của Dasein — vốn dĩ đang ‘ở trong chân lý’. Chúng ta không tiền giả định nó như một cái gì đó nằm ‘bên ngoài’ và ‘bên trên’ ta, một thứ mà ta hướng tới cùng với các ‘giá trị’ khác. Không phải chúng ta tiền giả định ‘chân lý’; mà chính ‘chân lý’ mới là điều kiện tiên quyết về mặt bản thể luận để ta có thể thực hiện hành động ‘tiền giả định’ bất cứ điều gì. Chân lý là yếu tố đầu tiên làm cho hành động tiền giả định trở nên khả thể.
‘Tiền giả định’ nghĩa là gì? Đó là hiểu một điều gì đó như là nền tảng cho Hữu thể của một thực thể khác. Sự thấu hiểu một thực thể trong các mối liên hệ Hữu thể của nó như vậy chỉ có thể thực hiện được trên nền tảng của Erschlossenheit/disclosedness trạng-thái-khai-mở — tức là trên nền tảng Hữu thể của Dasein là một cái gì đó vốn bộc lộ. Do đó, tiền giả định ‘chân lý’ có nghĩa là hiểu nó như một cái gì đó vốn vì nó mà Dasein hiện hữu. Tuy nhiên, Dasein luôn luôn ‘đã vượt trước chính mình’ trong mọi trường hợp; điều này hàm chứa trong trạng-thái- Hữu-thể của nó với tư cách là ‘chăm lo’. Nó là một thực thể mà trong Hữu thể của nó, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó luôn là một vấn đề cốt yếu. Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở và hành động bộc lộ gắn liền một cách thiết yếu với Hữu thể của Dasein cũng như tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó [tr.271] với tư cách là Hữu thể-trong-thế-giới.
Đối với Dasein, tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới là một vấn đề cốt yếu, và điều này bao hàm3 cả việc nó tự mình bận tâm đến các thực thể trong-thế-giới và hành vi bộc lộ chúng thông qua cái nhìn thấu đáo, bao quát. Chính trong trạng-thái-của-Hữu-thể của Dasein với tư cách chăm lo — trong Hữu-thể-vượt-trước-tự-thân — mới ẩn chứa hành động ‘tiền giả định’ bản nguyên nhất. Bởi vì hành động tiền giả định của tự thân này thuộc về Hữu thể của Dasein, nên ‘chúng ta’ cũng tất yếu phải ‘tự mình’ tiền giả định với tư cách là có cái thuộc tính của Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở. Cũng tồn tại những thực thể có đặc tính khác với đặc tính của Dasein, nhưng hành vi ‘tiền giả định’ vốn nằm trong Hữu thể của Dasein lại không tự liên hệ với những thực thể này; nó chỉ tự liên hệ với chính Dasein mà thôi. Cái chân lý được tiền giả định ấy—hay cái ‘có đây’ dùng để định nghĩa Hữu thể của Dasein—lại có một loại Hữu thể (hoặc ý nghĩa của Hữu thể vốn thuộc về chính Dasein. Chúng ta buộc phải ‘thực hiện’ cái tiền giả định về chân lý, bởi lẽ đó là cái vốn đã được ‘thực hiện’ cùng với cái Hữu thể của cái ‘chúng ta’.
Chúng ta buộc phải tiền giả định về chân lý. Bản thân Dasein—với tư cách là trường hợp Dasein của tôi và Dasein này phải hiện hữu; và tương tự như vậy, chân lý—với tư cách là Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở của Dasein—cũng phải hiện hữu. Điều này thuộc về tình-trạng-bị-ném vào thế giới của Dasein. Liệu Dasein, với tư cách là chính nó, đã bao giờ tự do quyết định xem mình có muốn bước vào ‘Dasein’ hay không, và liệu nó có bao giờ sẽ có thể phải đưa ra một quyết định như vậy không? ‘Trong-tự-thân’, thật hoàn toàn khó hiểu tại sao các thực thể lại cần được bộc lộ, tại sao chân lý và Dasein lại phải hiện hữu. Cách thức bác bỏ thông thường đối với chủ nghĩa hoài nghi—thứ phủ nhận hoặc cái Hữu thể của ‘chân lý’ hoặc khả năng nhận thức được nó—đều chỉ dừng lại ở giữa chừng. Thứ mà nó trưng ra, với tư cách là một lập luận hình thức, lại đơn giản chỉ là nếu có bất cứ điều gì được phán đoán, thì chân lý đã được tiền giả định từ trước rồi. Điều đó gợi ý rằng ‘chân lý’ thuộc về việc khẳng định, vốn chỉ ra một điều gì đó, bằng chính ý nghĩa của nó, là một hành động bộc lộ. Tuy nhiên, khi nói như vậy, người ta cần phải minh định tại sao cái yếu tố chứa đựng nền tảng bản thể luận cho mối liên hệ tất yếu giữa sự khẳng định và chân lý về phương diện Hữu thể của chúng lại phải hiện hữu như chính bản thân chúng. Loại Hữu thể vốn thuộc về chân lý cũng bị bỏ ngỏ trong mơ hồ , cũng như ý nghĩa của việc tiền giả định và ý nghĩa nền tảng bản thể luận của nó trong chính Dasein. Hơn nữa, người ta còn không nhận ra ngay cả khi không có ai phán đoán, chân lý vẫn đã được tiền giả định chừng nào Dasein còn hiện hữu.
Kẻ hoài nghi luận không thể bị bác bỏ, cũng như Hữu thể của chân lý không thể được ‘chứng minh’ vậy. Và nếu thực sự tồn tại một kẻ hoài nghi phủ nhận chân lý, thì kẻ đó thậm chí chẳng cần phải bị bác bỏ. Chừng nào còn hiện hữu và thấu hiểu chính mình trong Hữu thể đó, thì kẻ ấy đã tự xóa bỏ Dasein trong sự tuyệt vọng của hành động tự sát; và khi làm vậy, kẻ ấy cũng đã xóa bỏ luôn cả chân lý. Bởi lẽ bản thân Dasein không thể là đối tượng để được chứng minh ngay từ đầu, nên tính tất yếu của chân lý cũng không thể được chứng minh. Việc chứng minh rằng từng tồn tại một kẻ hoài nghi ‘thực sự’4 cũng khó khăn và chưa đạt được kết quả như việc chứng minh sự tồn tại của các ‘chân lý vĩnh cửu’ (mặc dù về cơ bản, [tr.272] chính niềm tin vào sự tồn tại của kẻ hoài nghi này lại là nền tảng cho các nỗ lực bác bỏ chủ nghĩa hoài nghi). Tuy nhiên, có lẽ những kẻ hoài nghi như vậy lại xuất hiện thường xuyên hơn mức mà người ta – với cái nhìn ngây thơ – mong muốn khi cố gắng đánh đổ ‘hoài nghi luận’ bằng phép biện chứng hình thức.
Như vậy, đối với câu hỏi về Hữu thể của chân lý và sự cần thiết phải tiền giả định nó – cũng như đối với câu hỏi về bản chất của tri thức – người ta thường đặt ra một ‘chủ thể lý tưởng’. Động cơ cho việc này, dù được diễn đạt rõ ràng hay chỉ ngầm hiểu, nằm ở việc đòi hỏi triết học phải lấy cái a priori ‘tiên nghiệm’ làm chủ đề thay vì các ‘sự kiện thực nghiệm’ thuần túy. Yêu cầu này có cơ sở hợp lý nhất định, mặc dù nó vẫn cần được luận giải trên bình diện bản thể luận. Song, liệu yêu cầu này có được thỏa mãn khi ta đặt ra một ‘chủ thể lý tưởng’ hay không? Chẳng phải một chủ thể như vậy chỉ là thứ lý tưởng hóa viển vông sao? Với quan niệm đó, chẳng phải chúng ta đã bỏ lỡ chính tính chất tiên nghiệm ở thứ chủ thể mang tính ‘sự thật’ – tức Dasein – hay sao? Chẳng phải một thuộc tính thuộc về tính chất tiên nghiệm của chủ thể mang tính sự thật (tức thuộc tính về thực tính của Dasein) chính là việc nó đồng bản nguyên hiện diện trong cả chân lý lẫn phi chân lý hay sao? Thứ ý niệm về một cái ‘Tôi’ ‘thuần túy’ và một ‘ý thức nói chung’ còn lâu mới bao hàm được tính chất tiên nghiệm của chủ thể tính ‘thực sự’; thay vào đó, các đặc tính bản thể luận về thực tính của Dasein và trạng thái Hữu thể của nó lại bị bỏ qua hoặc hoàn toàn không được nhìn thấy. Việc bác bỏ khái niệm ‘ý thức nói chung’ không đồng nghĩa với việc phủ nhận cái tiên nghiệm; cũng như việc đặt định một chủ thể lý tưởng hóa không đảm bảo rằng Dasein có một đặc tính tiên nghiệm đặt nền tảng trên sự kiện.
Cả quan điểm cho rằng có tồn tại các ‘chân lý vĩnh cửu’ lẫn việc đánh đồng ‘tính lý tưởng’ của Dasein vốn có cơ sở về phương diện hiện tượng với một chủ thể tuyệt đối được lý tưởng hóa, đều thuộc về những tàn dư của thần học Kitô giáo trong các vấn đề triết học mà cho đến nay vẫn chưa được loại bỏ triệt để. Cái Hữu thể của chân lý gắn kết một cách bản nguyên với Dasein. Và chỉ vì Dasein được cấu thành bởi Erschlossenheit trạng-thái-khai-mở (tức là bởi sự thấu hiểu) nên bất kẻ cái gì giống như Hữu thể đều có thể được thấu hiểu; chỉ theo cách đó mới có thể thấu hiểu được Hữu thể. Hữu thể (chứ không phải các hiện hữu) là cái gì đấy ‘có đó’ chừng nào chân lý còn hiện hữu. Và chân lý chỉ hiện hữu khi nào và chừng nào Dasein còn hiện hữu. Hữu thể và chân lý ‘hiện hữu’ theo cách đồng bản nguyên. Việc Hữu thể ‘hiện hữu’ — trong khi Hữu thể cần phải được phân biệt với mọi thực thể — mang ý nghĩa gì?. Người ta chỉ có thể đặt câu hỏi này một cách cụ thể nếu ý nghĩa của Hữu thể và phạm vi đầy đủ của sự thấu hiểu về Hữu thể đã được làm sáng tỏ. Chỉ khi đó, người ta mới có thể phân tích một cách bản nguyên cái thuộc về khái niệm của một khoa học về Hữu thể theo đúng nghĩa, cũng như các khả tính và biến thể của nó. Và khi xác định ranh giới cho công việc nghiên cứu này cùng [tr.273] chân lý của nó, thì loại hình nghiên cứu mà trong đó các hiện hữu được bộc lộ — và cũng như chân lý đi kèm với nó — cần phải được định nghĩa về phương diện bản thể luận.
Lời đáp cho câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể vẫn chưa được đưa ra. Phân tích cơ bản của chúng ta về Dasein, tính đến thời điểm này, đã đóng góp gì vào việc giải quyết câu hỏi đó? Thông qua việc phơi bày hiện tượng chăm lo, chúng ta đã làm sáng tỏ trạng thái Hữu thể của cái thực thể mà một cái gì đó giống như thấu hiểu về Hữu thể thuộc về Hữu thể của cái thực thể đó. Đồng thời, Hữu thể của Dasein cũng được phân biệt với các phương thức Hữu thể (như sẵn-có-để-dùng, hiện-diện-vô-tri, hay Thực tại) vốn đặc trưng cho những thực thể có tính chất khác với tính chất của Dasein. Thấu hiểu, tự thân nó đã được làm sáng tỏ; và đồng thời, tính minh bạch về mặt phương pháp luận trong quy trình Diễn giải Hữu thể—thông qua việc thấu hiểu và diễn giải nó—cũng đã được đảm bảo. Nếu với chăm lo, chúng ta đã chạm đến trạng thái Hữu thể bản nguyên của Dasein, thì đây cũng phải là cơ sở để khái niệm hóa sự thấu hiểu về Hữu thể vốn nằm trong chăm lo; nghĩa là, phải có khả năng định nghĩa được ý nghĩa của Hữu thể. Tuy nhiên, liệu hiện tượng chăm lo có phải là hiện tượng khai mở trạng thái hữu thể-bản thể luận nguyên gốc nhất của Dasein hay không? Và liệu trạng thái đa tạp cấu trúc trong hiện tượng này đã cho thấy tổng thể tính bản nguyên nhất về Hữu thể của Dasein thực tại hay chưa? Liệu cuộc khảo sát của chúng ta tính đến lúc này đã thực sự đưa Dasein ra ánh sáng như một chỉnh thể chưa?
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH5
45. Kết quả Phân tích Nền tảng Sơ bộ về Dasein và Nhiệm vụ Diễn giải Hữu thể Bản nguyên về Thực thể này
[Tr.274] Chúng ta đã đạt được gì qua phân tích chuẩn bị về Dasein, và chúng ta đang tìm kiếm điều gì? Trong Hữu-thể-trong-thế-giới—với các cấu trúc cốt yếu quy tụ về Erschlossenheit/ disclosedness trạng-thái-khai-mở—chúng ta đã tìm thấy trạng thái cơ bản của thứ hiện hữu mà ta chọn làm chủ đề nghiên cứu. Tổng thể tính của Hữu-thể-trong-thế-giới, với tư cách là một chỉnh thể cấu trúc, đã bộc lộ chính nó là chăm lo. Hữu thể của Dasein được bao hàm trong chăm lo. Khi phân tích Hữu thể này, ta lấy hiện hữu làm đầu mối— vốn trước đó nó đã được xác định là bản chất của Dasein. Cái ‘sự hiện hữu’ này chỉ ra thứ mà Dasein như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính thấu hiểu, mà trong chính Hữu thể của nó, lại đặt chính Hữu thể đó thành một vấn đề. Trong mọi trường hợp, chính tôi là cái hiện hữu vốn có đó theo cách thức như vậy.
Thông qua việc triển khai hiện tượng chăm lo, chúng ta đã có được cái nhìn sâu sắc về cái cấu thành cụ thể của tồn tại—tức là, cái nhìn về mối liên hệ đồng bản nguyên giữa nó với thực tính và sự sa ngã của Dasein. Điều chúng ta đang tìm kiếm là lời đáp cho câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung, và trước hết là cái khả tính triển khai một cách triệt để câu hỏi cơ bản này của mọi bản thể luận. Tuy nhiên, việc phơi bày cái chân trời mà trong đó một thứ gì đó như là Hữu thể nói chung trở nên có thể hiểu được, cũng đồng nghĩa với việc làm sáng tỏ cái khả tính có được bất kỳ hiểu biết nào về Hữu thể—một loại hiểu biết vốn thuộc về cấu thành của thứ hiện hữu được gọi là Dasein.ii Dẫu vậy, loại hiểu biết về Hữu thể không thể được làm sáng tỏ một cách triệt để như một yếu tố cốt yếu trong Hữu thể của Dasein, trừ khi thứ hiện hữu mà yếu tố đó đó thuộc về Hữu thể của nó chưa được diễn giải mang tính bản nguyên ngay trong chính nó xét về phương diện Hữu thể của nó. Liệu chúng ta có quyền khẳng định rằng, khi mô tả Dasein về mặt bản thể luận với tư cách chăm lo, chúng ta đã đưa ra một Diễn giải mang tính bản nguyên về hiện hữu này chưa? Dựa trên tiêu chí nào để đánh giá phân tích hữu thể về Dasein xét về [tr.275] tính bản nguyên, hay tình trạng thiếu vắng tính bản nguyên của nó? Thực chất, chúng ta hiểu thế nào về ‘tính bản nguyên’ của một Diễn giải mang tính bản thể luận?
Khảo sát bản thể luận là một loại diễn giải mà chúng tôi đã mô tả là việc triển khai và lĩnh hội hiểu biết.iii Mỗi diễn giải đều có cái có-trước, cái nhìn-trước và cái quan niệm-trước của riêng nó. Nếu một loại diễn giải như thế—với tư cách là phép Diễn giải—trở thành một nhiệm vụ nghiên cứu tường minh, thì toàn bộ các ‘tiền giả định’ này (mà chúng tôi gọi là ‘Tình huống tường giải’ cần phải được làm sáng tỏ và xác lập vững chắc ngay từ đầu, cả trong trải nghiệm cơ bản về ‘khách thể’ cần được khai mở lẫn cả khuôn khổ của chính trải nghiệm đó. Trong phép Diễn giải bản thể luận, một hiện hữu cần được phơi bày xét theo trạng thái Hữu thể của chính nó; phép Diễn giải như vậy buộc chúng ta trước hết phải đưa ra một mô tả mang tính hiện tượng về cái hiện hữu được chọn làm chủ đề, và qua đó đưa nó vào phạm vi của cái ‘có-trước’—điều mà mọi bước phân tích tiếp theo đều phải tuân thủ. Tuy nhiên, đồng thời, các bước này cũng cần được định hướng bởi bất kỳ cái ‘nhìn-trước’ nào khả thể về loại Hữu thể mà kẻ hiện hữu kia có thể sở hữu. Khi đó, cái ‘có-trước’ và cái ‘nhìn-trước’ sẽ đồng thời cung cấp cho chúng ta một phác thảo về phương thức quan niệm (hay ‘quan niệm-trước’) về cái cấp độ mà mọi cấu trúc của Hữu thể đều phải đạt tới.
Tuy nhiên, nếu phép Diễn giải hữu thể luận muốn đạt đến cấp độ bản nguyên, thì điều này không chỉ đòi hỏi die hermeneutische Situation Tình huống tường giải [Chen ngang: Đối với Heidegger die hermeneutische Situation dùng để biểu thị nền tảng xuất phát không thể tránh khỏi của mọi hành vi Verstehen hiểu biết và Auslegung diễn giải. Chúng ta không bao giờ tiếp cận một sự vật hay văn bản từ một không gian trống rỗng, khách quan tuyệt đối. Ngược lại, chúng ta luôn trong trạng thái Geworfenheit bị ném vào một bối cảnh cụ thể. 1) Cấu trúc của Tình huống tường giải: Theo Heidegger, Tình huống tường giải được cấu thành bởi ba yếu tố cốt lõi thường gọi là der hermeneutische Zirkel ‘Vòng tròn tường giải’ ở cấp độ hữu thể): i) Vorsicht/Fore-having/Có trước: Sự sở hữu trước một hệ thống quan hệ, ngữ cảnh hoặc tổng thể các thực tiễn sống mà ta đã đùm bọc bên trong đó trước khi ta kịp nhận thức tường tận; ii) Vorsicht/Fore-sight/Nhìn-trước: Tầm nhìn định hướng hoặc cách ta khoanh vùng/tiếp cận sự vật theo một định hướng ý nghĩa đã được định hình từ trước về mặt bản thể luận; iii) Vorgriff/Fore-conception/Fore-grasp: Quan niệm-trước: Khái niệm hay thuật ngữ dự phóng sẵn mà ngôn ngữ hoặc truyền thống cung cấp để cấu trúc hóa cách hiểu của chúng ta. 2) Ý nghĩa triết học: I) Phủ nhận khách thể tính thuần túy: Hiểu biết không phải là một hành động nhận thức trung lập của một chủ thể nhìn ngắm một khách thể độc lập. Nó luôn bị chi phối bởi tính hữu hạn và tính lịch sử của Dasein hiện hữu người; ii) teuflischer Zirkel/ Vicious circle: Vòng tròn luẩn quẩn - Việc diễn giải không đi ra khỏi vòng tròn của Vor-verständnis Hiểu-trước, mà nhiệm vụ thực sự là bước vào vòng tròn đó một cách đúng đắn — tức là ý thức rõ ràng về các điểm tựa xuất phát của chính mình.- HHN] phải được xác lập vững chắc sao cho phù hợp với các hiện tượng; nó còn đòi hỏi sự đảm bảo tường minh rằng toàn bộ cái hiện hữu được chọn làm chủ đề đã thực sự được đưa vào phạm vi của cái có-trước. Tương tự như vậy, việc chỉ phác thảo sơ bộ về Hữu thể của hiện hữu này là chưa đủ, ngay cả khi phác thảo đó có cơ sở từ các hiện tượng. Để có được cái nhìn-trước về Hữu thể, chúng ta phải nhìn nhận nó sao cho không bỏ sót cái nhất tính của các yếu tố cấu trúc thuộc về nó và khả thể đối với nó. Chỉ khi đó, câu hỏi về ý nghĩa của nhất tính—vốn thuộc về toàn bộ chỉnh thể Hữu thể của hiện hữu đó mới có thể được đặt ra và giải đáp với việc đảm bảo chắc chắn về mặt hiện tượng. Liệu existenziale Analytik phép phân tích hữu thể về Dasein mà chúng tôi đã thực hiện có xuất phát từ một hermeneutische Situation Tình huống tường giải đảm bảo được tính bản nguyên mà hữu thể học nền tảng đòi hỏi hay không? Liệu chúng ta có thể tiến xa hơn từ kết quả đã đạt được—đó là cái Hữu thể của Dasein là chăm lo —để đi đến câu hỏi về nhất tính bản nguyên của toàn thể cấu trúc này? [Chen ngang: Câu này Bản tiếng Anh viết là: ‘Can we progress from the result we have obtained - that the being of Dasein is care-to the question of the primordial unity of this structural whole?’ (Ở đây the being of Dasein –italic của HHN- với ‘the being’ không viết hoa mà viết thường có thể gây nhầm lẫn giữa being/hiện hữu và Being/Hữu thể. Vì vậy tôi phải dẫn nguyên văn câu tiếng Đức của Heidegger để người đọc thấy rõ bản tiếng Anh đã in nhầm ‘Being’ viết hoa thành ‘being’ viết thường, như sau đây: “Kann von dem gewonnenen Ergebnis – das Sein des Daseins ist die Sorge – zur Frage nach der ursprünglichen Einheit dieses Strukturganzen fortgeschritten werden?” [Martin Heidegger (1967). Sein und Zeit, Elfte, unveränderte Auflage, Max Niemeyer Verlag Tübingen 1967, tr.232] . Như chúng ta có thể thấy trong câu này: ‘das Sein des Daseins’ - italic của HHN - nếu viết đúng bằng tiếng Anh phải là: ‘the Being of Dasein’ – ‘Hữu thể của Dasein’, chứ không phải là ‘the being of Dasein’ - ‘hiện hữu của Dasein’.-HHN].
Vị thế của Vor-sicht cái ‘nhìn-trước’—thứ đã dẫn dắt quy trình bản thể luận của chúng ta từ trước đến nay—là gì? Chúng ta đã định nghĩa ý niệm về tồn tại như là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn thấu hiểu, và cho thứ mà Hữu thể riêng của nó là vấn đề cốt yếu. Tuy nhiên, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này—với tư cách là cái thuộc về riêng tôi trong mỗi trường hợp—lại tự do lựa chọn cho tính đích thực, hoặc tính phi đích thực, hay một phương thức mà trong đó cả hai trạng thái này chưa hề được phân biệt.iv Khi bắt đầu từ [tr.276] tính thường nhật trung bình, phép Diễn giải của chúng ta cho đến nay vẫn chỉ giới hạn vào việc phân tích tồn tại với tư cách là phi đích thực hoặc chưa được phân biệt. Tất nhiên, ngay cả trên lộ trình này, việc đạt tới một sự xác định cụ thể về Existenzialität/ existentiality tính hữu thể của sự hiện hữu vẫn là khả thể và thực sự cần thiết. [Chen ngang: Heidegger sử dụng ‘Existenzialität der Existenz’ tính hữu thể của sự hiện hữu theo nghĩa sau: 1) Ý nghĩa cốt lõi của danh từ Existenz tồn tại: Đối với Heidegger, hiện hữu không chỉ phải trạng thái thụ động của việc đang sống hay đang hiện diện như một tảng đá hay cái bàn; thay vào đó, nó đề cập cụ thể đến phương thức Hữu thể của Dasein hiện hữu người; là chủ động vươn ra, đưa ra các lựa chọn và phóng chiếu bản thân vào tương lai. 2) Existenzialität/ Existentiality Tính hữu thể - biểu thị cấu trúc nền tảng hoặc các đặc tính cốt yếu tạo nên khả tính Hữu thể của con người; đó là hệ thống các đặc điểm như Hữu-thể-trong-thế-giới, tính hữu tử, nỗi lo âu và quan tâm/chăm lo) định hình cách thức con người hiện hữu. Do đó, ‘tính hữu thể của hiện hữu’ có nghĩa là cấu trúc bản thể luận cốt yếu định nghĩa ý nghĩa của hiện hữu người là gì. Đây là việc nghiên cứu về các điều kiện nền tảng cho phép con người sống, lựa chọn và thấu hiểu chính cái Hữu thể của mình. 3). Sự phân biệt triết học quan trọng giữa hai cấp độ thấu hiểu về cuộc sống: i) Existentiell thuộc về cấp độ ontish thực hữu cụ thể, đề cập đến những lựa chọn cuộc sống cụ thể, thường nhật của tôi, ví dụ chọn nghề, mua nhà hay kết bạn; ii) Existenzial tính hữu thể/cấp độ bản thể luận - đề cập đến những cấu trúc phổ quát, sâu sắc hơn của sự hiện hữu, vốn cho phép tôi thực hiện các lựa chọn đó ngay từ đầu; iii) Existenzialität/ Tính hữu thể thuộc về cấp độ cấu trúc sâu sắc này. Tóm lại khi Heidegger bàn về die Existenzialität der Existenz, là ông đang tập trung vào mô hình phổ quát của đời sống con người thay vì những trải nghiệm cá nhân, thường nhật của họ.-HHN]. Dẫu vậy, mô tả bản thể luận của chúng ta về cái cấu thành của sự hiện hữu vẫn còn thiếu một cái gì đó cốt yếu. ‘Sự hiện hữu’ nghĩa là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể—nhưng đồng thời phải là một tiềm năng đích thực. Chừng nào cấu trúc hữu thể của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực chưa được đưa vào ý niệm về sự hiện hữu, thì cái ‘nhìn-trước’ vốn dẫn dắt phép Diễn giải hữu thể ấy vẫn sẽ thiếu đi tính bản nguyên.
Còn về những gì chúng ta đã có trước trong hermeneutische Situation/ hermeneutical situation Tình huống tường giải cho đến nay thì sao? Còn về cái gọi là sự ‘có-trước’ của nó thì sao? Khi nào và bằng cách nào mà phép phân tích hữu thể của chúng ta được đảm bảo rằng, việc khởi đầu từ tính thường nhật đã buộc cái chỉnh thể Dasein—hiện hữu này từ ‘khởi đầu’ đến ‘kết cục’ của nó—vào tầm nhìn hiện tượng luận vốn cung cấp chủ đề cho chúng ta? Quả thực, chúng ta đã khẳng định rằng ‘chăm lo’ chính là cái tổng thể cấu trúc của cấu thành Dasein.v Tuy nhiên, chẳng phải ngay từ khi bắt đầu phép Diễn giải của mình, chúng ta đã từ bỏ cái khả tính nhìn nhận Dasein như một chỉnh thể hay sao? Tính thường nhật chính là cái Hữu thể nằm ‘giữa’ sinh và tử. Và nếu hiện hữu mang tính quyết định đối với Hữu thể của Dasein, và nếu bản chất của nó được cấu thành một phần bởi ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’, thì chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì nó—với tư cách là một tiềm năng như vậy—luôn ở trong trạng thái chưa-phải-là một cái gì đó cụ thể. Bất kỳ thực thể nào mà Bản chất của nó được tạo thành từ chính sự hiện hữu thì về cơ bản đều đối nghịch với cái khả tính nắm bắt nó như một thực thể với tư cách chỉnh thể. Hermeneutische Situation/hermeneutical situation Tình huống tường giải cho đến nay không chỉ không mang lại sự đảm bảo rằng chúng ta đã ‘có’ được toàn bộ thực thể này, mà người ta còn có thể đặt câu hỏi liệu việc ‘có’ toàn bộ thực thể ấy có khả thi hay không, và liệu một phép Diễn giải mang tính bản thể luận bản nguyên về Dasein có bị thất bại trước chính loại Hữu thể vốn thuộc về bản thân thứ hiện hữu mà chúng ta đã chọn làm chủ đề nghiên cứu hay không.
Có một điều đã trở nên không thể chối cãi: phép phân tích hữu thể về Dasein cho đến nay vẫn chưa thể khẳng định là bản nguyên tính. Cái ‘có-trước’ của nó chưa bao giờ bao hàm gì hơn ngoài cái Hữu thể không đích thực của Dasein, và của một Dasein chưa là một chỉnh thể. Nếu phép Diễn giải về cái Hữu thể của Dasein muốn đạt tới bản nguyên tính—như một nền tảng để giải quyết câu hỏi cơ bản của bản thể luận—thì trước hết, nó phải làm sáng tỏ, trên bình diện hữu thể, cái Hữu thể của Dasein trong các khả tính về tính đích thực và tổng thể tính của nó. Từ đó nảy sinh nhiệm vụ đưa Dasein với tư cách một chỉnh thể vào trong cái có-trước của chúng ta. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là trước hết chúng ta phải đặt ra câu hỏi về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể của cái hiện hữu này. Chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì trong mọi trường hợp, vẫn luôn có một điều gì đó còn dang dở—một điều mà Dasein có thể trở thành và sẽ trở thành. Nhưng chính cái ‘chung cục’ lại thuộc về phần còn dang dở đó. Cái ‘chung cục’ [tr.277] của Hữu-thể-trong-thế-giới chính là cái chết. Cái chung cục này—vốn thuộc về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể tức là thuộc về sự hiện hữu, trong mọi trường hợp sẽ giới hạn và quy định, bất kỳ tổng thể tính nào trở nen khả thể đối với Dasein. Tuy nhiên, nếu muốn đưa cái Hữu-thể-ở-một-chung-cục6 của Dassein bằng cái chết—và cùng với nó là thứ Hữu-thể-một-chỉnh-thể của nó—vào cuộc thảo luận về cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể khả năng của nó, và nếu muốn thực hiện điều này một cách phù hợp với các hiện tượng, thì chúng ta phải có được một quan niệm bản thể luận thỏa đáng về cái chết—tức là một quan niệm mang tính hữu thể về nó. Song, với tư cách là một đặc tính của Dasein, cái chết chỉ hiện diện trong một loại Sein zum Tode Hữu-thể-hướng-tới-cái-chết mang tính thực-hữu-cụ-thể.
Cấu trúc hữu thể của cái Hữu thể như vậy về mặt bản thể luận lại tỏ ra là trạng thái cấu thành tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể của Dasein. Như vậy, toàn bộ Dasein đang hiện hữu có thể được đưa vào cái ‘có-trước’ mang tính hữu thể của chúng ta. Nhưng liệu Dasein có thể hiện hữu một cách đích thực như một chỉnh thể hay không? Làm thế nào để xác định tính đích thực của sự hiện hữu nếu không xét đến chính hành vi hiện hữu một cách đích thực? Chúng ta lấy tiêu chí cho điều đó từ đâu? Rõ ràng là, Bản thân Dasein, ngay trong Hữu thể của mình, phải hiện diện trước chúng ta với một khả tính và phương thức hiện hữu đích thực của nó, trừ khi sự hiện hữu ấy là một cái gì đó có thể bị áp đặt lên nó ở bình diện ontish thực hữu hoặc được thêu dệt ở bình diện bản thể luận. Tuy nhiên, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực lại được chứng thực bởi lương tâm. Và lương tâm, với tư cách là một hiện tượng của Dasein, cũng đòi hỏi—tương tự như cái chết—một phép Diễn giải mang tính hữu thể đích thực. Phép Diễn giải ấy dẫn đến cái nhìn thấu suốt là Dasein sở hữu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực ở chỗ nó mong muốn có được lương tâm. Song, đây lại là một khả tính existentiell thực hữu cụ thể— ngay từ chính ý nghĩa Hữu thể của nó, vốn có xu hướng được xác định một cách thực hữu cụ thể bằng Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết.
Bằng cách chỉ ra rằng Dasein sở hữu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể đích thực, thì phép phân tích hữu thể đạt được sự xác tín về cái cấu thành Hữu thể bản nguyên của Dasein. Đồng thời, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể đích thực trở nên hiển minh với tư cách là một phương thức chăm lo. Và nhờ đó, cơ sở thỏa đáng về mặt hiện tượng cho phép Diễn giải bản nguyên về ý nghĩa Hữu thể của Dasein cũng được đoan chắc. Tuy nhiên, nền tảng bản thể luận bản nguyên cho tính hữu thể của Dasein chính là Zeitlichkeit thời gian tính. Trong khuôn khổ thời gian tính, tổng thể cấu trúc được khớp nối của Hữu thể Dasein—với tư cách chăm lo—mới trở nên dễ hiểu về phương diện hữu thể. Phép diễn giải về ý nghĩa Hữu thể của Dasein không thể dừng lại ở bước chứng minh này. Phép phân tích hữu thể-thời gian về loại hiện hữu này cần được xác nhận một cách cụ thể. Chúng ta phải quay lại và làm sáng tỏ ý nghĩa thời gian ở các cấu trúc bản thể luận của Dasein mà ta đã đạt được trước đó. Tính thường nhật tự khải lộ như một phương thức của thời gian tính. Nhưng bằng cách tóm lược lại phép phân tích cơ bản mang tính chuẩn bị về Dasein như vậy, đồng thời chúng ta cũng sẽ làm cho chính hiện tượng thời gian tính trở nên minh bạch hơn. Trong khuôn khổ thời gian, ta sẽ hiểu được lý do tại sao Dasein hiện hữu—và có thể hiện hữu—mang tính lịch sử ngay tại nền tảng Hữu thể của nó, và tại sao, với tư cách là một hiện hữu mang tính lịch sử, nó lại có thể phát triển môn lịch sử luận. Nếu tính thời gian tạo nên ý nghĩa bản nguyên cho Hữu thể của Dasein, và hơn nữa, nếu hiện hữu này là cái hiện hữu mà chính Hữu thể của nó là một vấn đề cần giải quyết, thì sự quan tâm tất yếu phải sử dụng ‘thời gian’ và do đó phải tính toán đến ‘thời gian’. Việc ‘tính toán thời gian’ được phát triển từ chính thời gian tính của Dasein. ‘Thời gian’ được trải nghiệm trong sự tính toán như vậy chính là khía cạnh hiện tượng của thời gian tính gần gũi nhất với chúng ta. Từ đó nảy sinh hiểu biết thông thường, hàng ngày về thời gian. Và hiểu biết này tiến hóa thành quan niệm truyền thống về thời gian.
Bằng cách rọi sáng nguồn gốc của ‘thời gian’—vốn ‘trong đó’ các hiện hữu trong-thế-giới được bắt gặp, tức thời gian với tư cách là Innerzeitigkeit ‘trạng-thái-trong-thời-gian’—chúng ta sẽ làm hiển lộ một khả tính cốt yếu của động thái thời gian hóa của thời gian tính.7 Nhờ đó, thứ hiểu biết tự chuẩn bị cho động thái thời gian hóa của thời gian tính mang tính bản nguyên hơn nữa. Ở phần này, 8 hiểu biết về Hữu thể, vốn cấu thành cho Hữu thể của Dasein – được đặt nền tảng. Trong chân trời của thời gian, việc phóng chiếu ý nghĩa của Hữu thể nói chung có thể được hoàn thành. Do đó, khảo sát phần đang chờ chúng ta phía trước sẽ lần lượt đi qua các giai đoạn sau: khả tính Hữu-thể-một-chỉnh-thể và Hữu thể-hướng-đến-cái-chết của Dasein (Chương 1); việc Dasein chứng thực một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực và tính quyết đoán (Chương 2); tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh thể đích thực của Dasein và thời gian tính như là ý nghĩa bản thể luận của chăm lo (Chương 3); thời gian tính và tính thường nhật (Chương 4); thời gian tính và sử tính (Chương 5); thời gian tính và Innerzeitigkeit ‘trạng-thái-trong-thời-gian’ - nguồn gốc của quan niệm thông thường về thời gian (Chương 6).vi
____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘…interpretiert aber das Phanomen als Vorhandenes
auf seine miigliche Vorhandenheit.’ [p.268]
2 'Auch die "Allgemeingiiltigkeit" der Wahrheit ist lediglich verwurzelt, dass das Dasein Seiendes an ihm selbst entdecken und freigeben kann. Nur so vermag dieses Seiende an ihm selbst jede mogliche Aussage, das heisst Aufzeigung seiner, zu binden.' [p.270]
3 Reading 'und darin' with the newer editions. The older editions have 'd.h. u.a.' [p.271]
4 ‘…dass es je… einen "wirklichen" Skeptiker "gegeben" hat.' The older editions have ‘nie’ (‘never’) instead of ‘je’ (‘ever’). [p.271]
5 'Dasein und Zeitlichkeit'. In this heading and in others which follow in this Division, we have capitalized such words as 'temporal' and 'constitution' in accordance with normal practice in titles, even when this violates the orthographic conventions of our translation. [p.273]
6 'Zu-Ende-sein'. This expression is to be distinguished from 'Sein-zum-Ende', which we shall translate as 'Being-towards-the-end'. [p.277]
7 'Die Aufhellung des Ursprungs der "Zeit", "in der" innerweltliches Seiendes begegnet, der Zeit als Innerzeitigkeit, offenbart eine wesenhafte Zeitigungsmoglichkeit der Zeitlichkeit.' On 'zeitigen' see H. 304 below. [p.278]
8 ‘In ihr…’. It is not clear whether the pronoun 'ihr' refers to 'Zeitigung' (‘temporalizing’) or ‘Zeitlichkeit’ (‘temporality’). [p.278]
