Powered By Blogger

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§1. Siêu việt của Dasein

a) Khái niệm Siêu việt

[Tr.176] Trong một nhận xét khác (đã dẫn, #3799), Kant tóm tắt ý nghĩa của quan niệm về thế giới như sau:  Der Ausdruck ‘Welt’ bezieht sich auf die Gesamtheit der Existenz, einschließlich des physischen Universums, verschiedener Kulturen, Gesellschaften und Naturphänomene. Sie steht für die Vernetzung innerhalb des Kosmos und bietet eine Perspektive auf die materiellen und immateriellen Aspekte der Existenz. “Thuật ngữ ‘thế giới’ đề cập đến toàn bộ sự tồn tại, bao gồm vũ trụ vật chất, các nền văn hóa, xã hội và hiện tượng tự nhiên khác nhau. Nó thể hiện sự liên kết giữa các thực thể trong vũ trụ và mang đến một góc nhìn về các khía cạnh vật chất và phi vật chất của sự tồn tại.” Ở đây, ông nói khái niệm thế giới như một chuỗi, mang tính ontic thực hữu hời hợt, trước thời kỳ triết học, hoàn toàn không có ý nghĩa. Khái niệm này thậm chí còn kém hơn về bản chất so với khái niệm cổ xưa về κόσμος kosmos. Mặt khác, khái niệm cổ cũng không đồng nhất với quan niệm siêu nghiệm về thế giới của Kant. Trong phép biện chứng siêu nghiệm, Kant gán cho khái niệm này một ý nghĩa khác mà ở đây chúng ta chỉ có thể đưa ra gợi ý.

2. Trong Phê phán Lý tính Thuần túy (A 418119, B 446/ 47) Kant viết: [P.407] Wir haben zwei Ausdrücke: Welt und Natur, welche bisweilen in einander laufen. Das erste bedeutet das mathematische Ganze aller Erscheinungen und die Totalität ihrer Synthesis, im Großen sowohl als im Kleinen, d.i. sowohl in dem Fortschritt derselben durch Zusammensetzung, als durch Teilung. Eben dieselbe Welt wird aber Natur genannt, so fern sie als ein dynamisches Ganzes betrachtet wird, und man nicht auf die Aggregation im Raume oder der Zeit, um sie als eine Größe zu Stande zu bringen, sondern auf die Einheit im Dasein der Erscheinungen siehet. Da heißt nun [p.408] die Bedingung von dem, was geschieht, die Ursache, und die unbedingte Kausalität der Ursache in der Erscheinung die Freiheit, die bedingte dagegen heißt im engeren Verstande Naturursache. Das Bedingte im Dasein überhaupt heißt zufällig, und das Unbedingte notwendig. Die unbedingte Notwendigkeit der Erscheinungen kann Naturnotwendigkeit heißen.” [Kant, Immanuel (1977). Werke in zwölf Bänden. Band 4, Frankfurt am Main 1977, S. 407-408.]Chúng ta có hai cách diễn đạt: thế giới và tự nhiên, đôi khi chúng chồng chéo lên nhau. Cách diễn đạt thứ nhất biểu thị toàn thể toán học của tất cả các hiện tượng và toàn thể sự tổng hợp của chúng, cả ở quy mô lớn và nhỏ, tức là cả trong quá trình tiến triển của chúng thông qua sự kết hợp và thông qua sự phân chia. Tuy nhiên, thế giới này được gọi là tự nhiên khi nó được coi là một chỉnh thể năng động, và người ta không tìm đến sự tập hợp trong không gian hoặc thời gian để thiết lập nó như một lượng duy nhất, mà là đến sự thống nhất trong sự tồn tại của các hiện tượng. Bây giờ, [tr.408] điều kiện của những gì xảy ra được gọi là nguyên nhân, và tính nhân quả vô điều kiện của nguyên nhân trong sự xuất hiện là tự do; mặt khác, cái có điều kiện, theo nghĩa hẹp hơn, được gọi là nguyên nhân tự nhiên. Cái có điều kiện trong sự tồn tại nói chung được gọi là ngẫu nhiên, và cái vô điều kiện là tất yếu. Tính tất yếu vô điều kiện của các hiện tượng có thể được gọi là tất yếu tự nhiên.” Kant, Immanuel (1977). Werke in zwölf Bänden. Band 4, Frankfurt am Main 1977, S. 407-408. - HHN] Điều gây ấn tượng tức thì ở đây là khái niệm thế giới được thu hẹp hơn nữa thành tổng thể các hiện hữu, nhưng dù vậy, nó vẫn không được hiểu theo nghĩa ontisch thực hữu luận mà theo nghĩa ontologisch bản/hữu thể luận, khác với tự nhiên. Để diễn đạt sự khác biệt này bằng một công thức, thế giới là chỉnh thể toán học (tính toàn thể toán học) và tự nhiên là tính toàn thể động của các hiện tượng. Các hiện hữu có thể tiếp cận được đều nằm dưới cả hai sự xác định siêu nghiệm và hữu thể luận này. Để hiểu chúng một cách chính xác, chúng ta cần làm rõ các thuật ngữ mang tính ‘toán học’ và ‘động học’.

Kant sử dụng sự phân biệt này không chỉ ở đây mà còn xuyên suốt tác phẩm Phê phán Lý tính Thuần túy. Trên thực tế, ông sử dụng nó để chia toàn bộ các phạm trù thành hai lớp; các phạm trù toán học về số lượng và chất lượng, và các phạm trù động học về quan hệ và phương thức. Trong chừng mực các nguyên tắc hữu thể luận được diễn đạt theo các phạm trù, Kant nói về các nguyên tắc toán học và động học; các nguyên tắc toán học là các tiên đề của trực giác và các dự đoán của tri giác, còn các nguyên tắc động học là các tiên đề tương đồng của kinh nghiệm và các giả định của tư duy thực nghiệm nói chung. Các nguyên tắc (toán học) của trực giác có một sự chắc chắn trực quan, và các nguyên tắc (động học) của tư duy có khả năng có một sự chắc chắn mang tính diễn ngôn; trong mỗi trường hợp, sự chắc chắn đó là một sự chắc chắn ‘hoàn toàn’ (A 162, B ​​201). [Tr.177] Điều mà Kant muốn nói bằng các thuật ngữ ‘toán học’ và ‘động học’, lại không liên quan trực tiếp đến toán học hay động lực học vật lý. Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ đều được chọn để mô tả (phạm trù, nguyên tắc, ý tưởng) mà trong ứng dụng khả thể của nó, tức là, trong chừng mực nó liên quan đến hữu thể luận, lại có thể được mô tả liên quan đến việc sử dụng, sự hoàn thiện của nó, trong việc xác định cái thực hữu [the ontical]. “Khi áp dụng các khái niệm thuần túy về việc lý giải vào kinh nghiệm khả thể, thì việc sử dụng sự tổng hợp của chúng (các nguyên tắc) hoặc là mang tính toán học, hoặc là mang tính động học; vì nó liên quan một phần đến trực giác đơn thuần về một hiện tượng nói chung, một phần liên quan đến sự tồn tại của nó (A 160, B 199).

Do đó, tôi sẽ đặt tên cho các nguyên tắc liên quan đến trực giác là toán học, và các nguyên tắc liên quan đến tồn tại là động lực học. Nhưng cần lưu ý rằng trong trường hợp này, chúng ta ít quan tâm đến các nguyên tắc toán học cũng như trong trường hợp kia, chúng ta ít quan tâm đến các nguyên tắc động lực học vật lý tổng quát. Chúng ta chỉ đề cập đến các nguyên tắc của việc lý giải thuần túy trong mối quan hệ của chúng với ý nghĩa bên trong (bỏ qua mọi khác biệt giữa các biểu trưng đã cho). Chính nhờ những nguyên tắc hiểu biết thuần túy này mà các nguyên tắc đặc biệt của toán học và động lực học trở nên khả thể. Do đó, tôi đã đặt tên cho chúng dựa trên ứng dụng của chúng hơn là nội dung của chúng. [Bản dịch của Smith] (A 162, B ​​20112, so sánh sự phân chia của conjunctio kết hợp thành compositio cấu thành hoặc nexus liên kết trong chú thích của B 202.) Đối với bản thể học tổng quát của Kant, hiện hữu mẫu mực dĩ nhiên là tự nhiên, tức là các hiện hữu-tự thân được khoa học toán học về tự nhiên khám phá. Vì vậy, các xác định Hữu thể luận nói chung có thể được áp dụng cho các hiện hữu này và bản thân chúng có thể được chỉ định bằng tên của các hiện hữu mà chúng được áp dụng. ‘Toán học’ và ‘động lực học’ không phải là những thuật ngữ Hữu thể luận chính, nhưng chúng chỉ định một điều gì đó thuộc về bản thể luận từ quan điểm của các hiện hữu có cơ sở Hữu thể luận. Qua việc lựa chọn những định nghĩa này, rõ ràng là, với Hữu thể luận tổng quát của mình, Kant đồng thời có mối quan tâm tích cực đến việc tạo ra nền tảng Hữu thể luận cho ‘vật lý học’, như là khoa học về các thực thể nói chung, nhưng điều này không có nghĩa là một lý thuyết về khoa học vật lý.

Giờ đây, trong chừng mực ‘nội dung-cái gì’ của một sự vật tự nhiên được định nghĩa bằng độ lớn mở rộng và độ lớn chuyên sâu của nó (ở Descartes chỉ bằng extensio mở rộng), và độ lớn là cái được định nghĩa bằng toán học, và nền tảng tiên nghiệm của những định nghĩa này là không gian và thời gian như những trực giác thuần túy, thì các phạm trù toán học trùng khớp với các phạm trù bản chất của tự nhiên, cái essentia bản chất của nó. Mặt khác, những phạm trù mà Kant gọi là động lực học, đề cập đến bản chất của các hiện hữu không phải ở ‘Hữu thể-gì’ của chúng mà ở ‘Hữu thể-đó’, cái modus existendi phương thức tồn tại của chúng. Các phạm trù động là các phạm trù của [tr.178] ‘sự tồn tại.’ ​​Các nguyên tắc toán học là các nguyên tắc Hữu thể luận-thiết yếu, và các nguyên tắc động là các nguyên tắc Hữu thể luận-hiện sinh.      

Cũng như thế giới và tự nhiên liên quan đến cùng một thứ, thì tính toàn vẹn toán học và tính toàn vẹn động học cũng vậy. Thế giới là tính toàn vẹn thể hiện toàn bộ những xác định tiên nghiệm nói lên những gì thuộc về một hữu thể khả thể trong ‘nội dung-cái gì’ của nó. Tự nhiên là tính toàn vẹn tương ứng xác định cái modus existendi phương thức tồn tại. Ở đây, tự nhiên được hiểu (xem chú thích A418, B446) theo nghĩa nguyên thủy của φύσις, như là cách thức của tính vẫn tồn tại (natura /formaliter spectata) [Cụm từ formaliter spectate tiếng Latin là một thuật ngữ triết học và thần học, thường được dịch là ‘xét theo hình thức’ hoặc ‘xét về mặt bản chất/đặc tính hình thức’; formaliter phó từ xuất phát từ danh từ forma - hình thức, bản chất, nguyên lý cấu tạo - có nghĩa là ‘xét về mặt hình thức’ hoặc ‘theo đúng nghĩa đen của khái niệm đó’; spectate - phân từ của động từ spectare - xem xét, quan sát - có nghĩa là ‘được xem xét’ hay ‘được nhìn nhận’; cụm từ này thường xuất hiện trong triết học kinh viện của Thomas Aquinas để phân biệt một khía cạnh cụ thể của đối tượng với những khía cạnh khác, chẳng hạn khi phân tích một hiện tượng, các học giả có thể chia thành hai cách nhìn – materialiter - xét về mặt vật chất/nội dung bên ngoài; và formaliter spectata - xét về mặt hình thức/bản chất bên trong tạo nên chính nó. HHN] của cái cũng được gọi là tự nhiên về vật chất. Thế giới chỉ định vùng, tự nhiên, gắn với nội dung thiết yếu của vị thế sự vật có liên quan, thậm chí không phải là toàn thể tính thiết yếu và hiện sinh của các hiện hữu; không phải là omnitudo realitatis toàn thể tính của khả tính, như đã đề cập trong phần chú thích bên lề của Baumgarten. Thế giới là tổng thể các nội dung thiết yếu tiên nghiệm của những gì thuộc về tự nhiên - bất kể nó có tồn tại hay không!       

[Ghi chú dài liên quan đến quan niệm của Kant về omnitudo realitatis toàn thể tính của các khả tính: “Trong chính tác phẩm Phê phán Lý tính Thuần túy, Kant không đề cập rõ ràng đến bằng chứng về khả tính trong số các lập luận về sự tồn tại của Chúa. Nhưng một dòng suy nghĩ tương tự nằm dưới cuộc thảo luận của ông về quan niệm lý thuyết về Chúa như là ens realissimum (thực thể thực nhất) trong Phần hai ‘Lý tưởng của Lý trí Thuần túy’, ‘Lý tưởng Siêu nghiệm’ (A571-84/B579-662). Việc giải thích quan niệm này [tr.7] bắt đầu ở đây không phải từ nền tảng của khả tính, mà từ nguyên tắc xác định triệt để: Tuy nhiên, mọi thứ, về khả tính của nó, đều nằm dưới nguyên tắc xác định triệt để; theo đó, trong số tất cả các thuộc tính có thể có của sự vật, khi so sánh với các thuộc tính đối lập của chúng, người ta phải áp dụng một thuộc tính cho nó (A571-2/B599-600). Nói một cách đơn giản, nguyên tắc này quy định việc lý giải mọi thứ cần biết về một sự vật như thế nào, sao cho tri ​​thức này đủ để ‘nhận thức một sự vật một cách trọn vẹn’, tức là như một đối tượng riêng biệt, chỉ thông qua khái niệm của nó (A573/B601). Nguyên tắc mâu thuẫn đặt ra những ràng buộc logic đối với các khái niệm sao cho nhiều nhất chỉ một trong một cặp thuộc tính mâu thuẫn có thể áp dụng cho mỗi khái niệm. Mặt khác, nguyên tắc xác định quy định các điều kiện để cá thể hóa sự vật thông qua khái niệm của nó, theo một tập hợp các thuộc tính: đó là một trong mỗi cặp thuộc tính mâu thuẫn có thể có áp dụng cho đối tượng. Theo nguyên tắc đồng nhất sự vật không thể phân biệt, các đối tượng có cùng tập hợp thuộc tính là giống hệt nhau, do đó, tập hợp đầy đủ các thuộc tính xác định duy nhất một đối tượng riêng lẻ. Vì vậy, việc xác định tập hợp đầy đủ các thuộc tính giả định tổng thể tất cả các thuộc tính có thể có, “toàn bộ kho tàng vật chất mà từ đó có thể lấy ra tất cả các thuộc tính có thể có của sự vật” (A575/B603).”

“Tổng thể của tất cả các thuộc tính cũng là toàn bộ thực tại (omnitudo realitatis) khi xem xét các thuộc tính khẳng định là biểu thị một thực tại và các thuộc tính phủ định là biểu thị sự thiếu thực tại. Mỗi khái niệm về một sự vật riêng lẻ sau đó có thể được xác định bằng cách chọn một tập hợp con từ toàn thể này. Cho đến nay, kết quả hoàn toàn mang tính khái niệm, mà không đưa ra tuyên bố bản thể học: [tr.8] Tuy nhiên, tất cả điều này không biểu thị mối quan hệ khách quan của một đối tượng thực với những sự vật khác, mà chỉ là mối quan hệ của một ý tưởng với các khái niệm, và về sự tồn tại của một hiện hữu có ưu việt vượt trội như vậy, nó khiến chúng ta hoàn toàn không biết gì (A579/B607). Điều cho phép sự chuyển đổi bản thể học ở bước cuối cùng là coi nền tảng của omnitudo realitatis toàn bộ thực tại như một đối tượng duy nhất. Nền tảng của omnitudo realitatis toàn bộ thực tại nên được coi là có trước các bộ phận của nó chứ không phải chỉ là một tập hợp các bộ phận. Do đó, có sự chuyển dịch từ khái niệm về một tổng thể có thể bị giới hạn sang một cái gì đó làm nền tảng cho omnitudo realitatis tất cả các thực tại: thực tại tối cao sẽ làm nền tảng cho khả tính của vạn vật như một nền tảng chứ không phải như một tổng thể; và đa tính của cái trước không dựa trên sự giới hạn của chính hiện hữu ban đầu, mà dựa trên những hệ quả hoàn chỉnh của nó, mà toàn bộ tính khả tri của chúng ta, bao gồm tất cả thực tại trong hiện tượng, sẽ thuộc về nó, điều mà không thể thuộc về ý tưởng về một hữu thể tối cao như một thành phần. (ibid.)”

“Một lý do cho sự thay đổi này là yêu cầu của lý trí về một điều kiện vô điều kiện. Một tập hợp các bộ phận độc lập sẽ bị ràng buộc bởi các bộ phận của chúng và do đó không phải là vô điều kiện. Lý do thứ hai xuất hiện ở cuối đoạn trích dẫn cuối cùng: nền tảng của omnitudo realitatis mọi thực tại cũng là nền tảng của các thực tại khả giác, và những thực tại đó chỉ có thể được đặt nền tảng trong đấng tối cao nhưng không thể được bao hàm trong đó mà không rơi vào chủ nghĩa Spinoza. Điều quan trọng cần lưu ý là sự thay đổi này đưa chúng ta đến gần hơn với cam kết bản thể học của OPA (OPA viết tắt của The Only Possible Argument in Support of a Demonstration of the Existence of God - Lập luận Duy nhất Có thể Ủng hộ việc Chứng minh sự Tồn tại của Chúa): lý tưởng siêu nghiệm không chỉ là một khái niệm về một tập hợp các vị ngữ mà còn là một nền tảng bản thể học cho các vị ngữ, có nghĩa là chúng đang được xem xét về mặt bản thể học như những thực thể trừu tượng. Khi được xem như một đối tượng duy nhất, nền tảng của omnitudo realitatis mọi thực tại là Đấng Thực nhất, Ens Realissimum (A576/B604), hay nói cách khác, là Chúa (A580/B608). Vì sự cá thể hóa về mặt khái niệm của sự vật giải thích khả tính tồn tại của chúng với tư cách là các cá thể, nên Chúa, với tư cách là điều kiện cho sự xác định triệt để, cũng là ‘nền tảng vật chất của mọi khả tính’ (A573/B601; cf. A576/B604). Thuật ngữ ấy cũng được sử dụng trong bằng chứng về khả tính. ‘Omnitudo realitatis Toàn bộ thực tại’ cần thiết cho sự xác định triệt để của sự vật cũng là nền tảng vật chất, yếu tố thực sự của khả tính tồn tại của chúng theo nghĩa tiền Phê phán. Do đó, sự tương đồng giữa lập luận này và cách hiểu về lý tưởng của Lý tính trong Phê phán là rõ ràng, cả về mặt văn bản lẫn khái niệm.” Theo Hoffer, N. (2020). The Dialectical Illusion in Kant’s only possible argument for the existence of God - Ảo tưởng Biện chứng trong Lập luận Duy nhất Khả thể của Kant về sự Tồn tại của Thiên Chúa. Published in Kantian Review, 25(3), 339-363.- HHN]

Quả thực ở đây có một khó khăn. Một bản thể luận về modus existend phương thức tồn tại rõ ràng cũng là tiên nghiệm, và phương thức này cũng thuộc về tự nhiên; điều duy nhất còn chưa được quyết định là liệu phương thức đó có được hiện thực hóa hay không. Đây nói chung, là một khó khăn phổ biến trong siêu hình học và bản thể luận truyền thống và trong việc xem xét các bản chất, đặc biệt là trong tư tưởng của Husserl. Bằng cách treo lại những gì là hiện thực trong phép quy giản hiện tượng luận, đặc tính ‘cái gì’ được thiết lập - nhưng, khi việc treo lại cái hiện thực, tính hiện thực, tức là modus existendi phương thức tồn tại, và Wesenszusammenhang mối liên hệ nội tại của nó với các nội dung thiết yếu theo nghĩa hẹp hơn, không bị treo lại. Bản chất ở đây có hai nghĩa: nó có nghĩa là cái tiên nghiệm của essentia bản chất và của existentia tồn tại. Quan niệm về thế giới như một tổng thể toán học, một lý tưởng siêu nghiệm mà không kèm theo sự khái niệm hóa về sự tồn tại, cho thấy khái niệm về thế giới trong triết học Kant, nhìn chung, vẫn còn thô sơ và quá hẹp hòi, bất kể ý nghĩa cụ thể của nó được định nghĩa như thế nào.

3. Tuy nhiên, Kant còn sử dụng khái niệm thế giới theo một cách khác. Trong bản chất của triết học, Kant phân biệt hai khái niệm mà chúng ta đã gặp nhiều lần trong khóa học này: siêu hình học tổng quát và siêu hình học chuyên biệt; siêu hình học với mục đích chuẩn bị và siêu hình học với mục đích cuối cùng - πρώτη φιλοσοφία Triết học Đầu tiên và θεολογία Thần học. Triết học với tư cách là siêu hình học chuyên biệt, là siêu hình học đích thực, là triết học ‘theo các khái niệm về thế giới’. Nó đề cập đến các câu hỏi: Tôi có thể biết gì? [Tr.179] Tôi nên làm gì? Tôi có thể hy vọng điều gì? Nhưng tại sao siêu hình học thực sự này lại được gọi là triết học theo khái niệm về thế giới (sensu cosmico theo nghĩa vũ trụ)? Nó không đề cập đến tự nhiên, mà là con người và sự tồn tại cũng như bản chất của con người; xem câu hỏi thứ tư: Con người là gì? Trong phần Giới thiệu của cuốn Logikvorlesung Nhập môn Logic học (Mục III, ấn bản Akademie, Tập IX, trang 25). Tuy nhiên, đây lại là triết học theo khái niệm về thế giới! Một lần nữa, ở đây chúng ta thấy mối quan hệ đáng chú ý khác của khái niệm ‘thế giới’ với sự tồn tại của Dasein con người và với bản chất của con người trong toàn thể, nhưng chúng ta cũng thấy ý nghĩa của khái niệm thế giới như là toàn thể tính mà Kant đã đề cập ở trên. Vì vậy, Kant nói (C.P.R., A839, B867 chú thích): “Khái niệm ‘vũ trụ’ [Weltbegriff] (của triết học hướng đến ‘công dân thế giới’) ở đây có nghĩa là khái niệm liên quan đến những gì mà mọi người nhất thiết phải quan tâm; và do đó, nếu một khoa học chỉ được coi là một trong những ngành được thiết kế nhằm mục đích lựa chọn tùy ý nhất định, tôi phải xác định nó phù hợp với các khái niệm kinh viện.”

Vì lý do này, Kant coi ‘logic’ và thậm chí, theo một nghĩa nào đó, ‘bản thể luận’ là những tri ​​thức cơ bản (xem Bài giảng về Logic, Phần III). Thuật ngữ ‘thế giới quan’, đã xuất hiện trong tác phẩm của Kant nhưng chưa được hiểu theo nghĩa hiện đại, hướng đến cách sử dụng khái niệm ‘thế giới’ này: ‘Thế giới quan’ ở đây không có nghĩa là chiêm nghiệm thế giới theo nghĩa tự nhiên, mà ‘quan điểm’ ở đây, như một repraesentatio singularis đại diện đơn nhất, có nghĩa là biểu hiện, suy nghĩ, nhận thức về một tổng thể nào đó mà trong đó mọi sự tồn tại của con người đều có mối quan tâm. Thuật ngữ ‘thế giới quan’ cũng phải được hiểu theo nghĩa này trong tác phẩm của Karl Jaspers, Psychologie der Weltanschauungen (ấn bản thứ 3 năm 1925); tâm lý học sau này là nỗ lực để chỉ ra ‘hiện hữu người là gì’. Theo nghĩa hiện đại của thuật ngữ này, chúng ta bao gồm trong thế giới quan việc nắm giữ một lập trường nhất định, hoặc các phương tiện được cung cấp để nắm giữ một lập trường, và một lập trường, trong mỗi trường hợp, là một quan điểm tồn tại riêng biệt. Bản thân triết học không bao giờ đưa ra một thế giới quan, cũng không có nhiệm vụ cung cấp một thế giới quan. Ngược lại, triết học là một hình thức tồn tại khả thể mà, lý tưởng nhất, tự nó không cần một thế giới quan, bởi vì nó vận động trong những khả tính của thế giới quan. (Tuy nhiên, đến mức độ nào nó cần ‘nhập cuộc,’ xem ở trên § 10, mục 11.) ‘Triết học thế giới quan’ nói chung là một cụm từ vô nghĩa; nó chỉ có thể có ý nghĩa như một thảo luận về bản chất của thế giới quan, tính tất yếu nội tại và [tr.180] các hình thức khả thể của chúng. Nhưng về cơ bản cũng vô nghĩa không kém là cụm từ ‘triết học khoa học,’ bởi vì triết học có trước tất cả các khoa học, và chỉ có thể như vậy bởi vì nó đã, theo một nghĩa nổi bật, mà ‘khoa học’ là cái gì đó chỉ có thể xác định theo nghĩa phái sinh. Các lựa chọn thay thế, hoặc triết học khoa học hoặc triết học thế giới quan, đều hời hợt như sự kết hợp của cả hai. Ngược lại, điều mà Kant muốn nói khi chia triết học thành quan niệm kinh viện và quan niệm thế giới trùng khớp theo một cách nào đó với sự khác biệt đã được đề cập. ‘Theo một cách nào đó,’ bởi vì ý niệm về siêu hình học không được đặt cơ sở và phát triển một cách tích cực tương ứng, như tự thân nền tảng vậy.

Giờ đây chúng ta tóm tắt định hướng này bằng lịch sử của khái niệm thế giới. ‘Thế giới’ như một khái niệm về hữu thể của các thực thể biểu thị tính toàn vẹn của các thực thể trong tổng thể tính các khả tính của chúng, tuy nhiên là một tính toàn vẹn mà bản thân nó, có mối liên hệ mật thiết với tồn tại người, và tồn tại người được xem như mục tiêu cuối cùng của nó. Để chuẩn bị cho việc minh định hiện tượng luận tiếp theo đối với khái niệm siêu nghiệm về thế giới, và đồng thời, với tư cách là một bản tóm tắt có hệ thống về những gì đã nói, chúng ta có thể phân biệt bốn khái niệm về thế giới (xem Hữu thể và Thời gian, tr.64 trở đi): 1). Một khái niệm thực hữu luận: ‘thế giới’ đơn giản là từ dùng để chỉ những gì vẫn tồn tại cùng nhau như một tổng thể, cho ‘tự nhiên’. Do đó, khái niệm thế giới tiền-triết học, ngây thơ này cũng có thể được gọi là khái niệm thực hữu luận-tự nhiên. 2). Một khái niệm bản thể luận (theo một cách nào đó) phụ thuộc vào khái niệm đã đề cập ở trên. ‘Thế giới’ ở đây được hiểu là khu vực tự nhiên, là toàn thể những gì thuộc về tự nhiên theo đúng nghĩa. 3). Còn một khái niệm thực hữu luận nữa: ‘thế giới’ ở đây không có nghĩa là tự nhiên (vô cơ và hữu cơ) mà có nghĩa là con người tồn tại với tư cách đang tồn tại; theo nghĩa này, chúng ta nói về ‘thế giới rộng lớn’, về một người phụ nữ hay người đàn ông ‘thuộc về thế giới’. Khái niệm thế giới tiền-triết học này là khái niệm hiện sinh- thực hữu luận (hay con người), trái ngược với khái niệm tự nhiên-thực hữu luận. Từ đó, ta có thể gọi khái niệm thứ tư là khái niệm Hữu thể luận về thế giới, không chỉ định xã hội loài người theo nghĩa thực hữu luận, mà chỉ định bản chất siêu hình của Dasein về phương diện hữu thể luận theo đúng nghĩa, liên quan đến cấu thành siêu hình cơ bản của nó, tức là siêu việt. Khái niệm tiên nghiệm/siêu việt về thế giới rõ ràng có liên quan, theo cách riêng của nó, đến các khái niệm khác. Mặt khác, không một khái niệm nào trong số các khái niệm đã đề cập, từ 1 đến 3, hay ngay cả tổng của chúng, lại vét kiệt khái niệm ‘thế giới’ với tư cách là một cấu phần của siêu việt.

[Tr.181] Vẫn còn một điều quan trọng cần lưu ý về cả hai khái niệm thực hữu luận tiền-triết học về thế giới. Hãy xem xét khái niệm hiện sinh về thế giới được đề cập ở mục số 3. Chẳng hạn, trong cụm từ ...‘thế giới thời thượng’, chúng ta không chỉ hiểu đó là một cuộc tụ họp hay thậm chí là một xã hội của những hiện hữu người ăn mặc chỉnh tề. Tính cấu thành cách diễn đạt ‘thế giới’ là ở chỗ chúng ta muốn nói đến những kẻ được chỉ định chính xác qua cách ứng xử của họ; tất cả những gì họ vận động xung quanh, khách sạn, đường đua, v.v., cũng thuộc về họ như một thế giới. Sẽ là một sự hiểu sai hoàn toàn về khái niệm thế giới tiền-triết học nếu người ta cho rằng khái niệm này (theo mục 1) chỉ ấn định những thứ vẫn tồn tại và, đặc biệt là những thứ hữu ích, và cho rằng khái niệm thế giới này sau đó phải được bổ sung hoặc thay thế, chừng nào người ta còn nói rằng thế giới là một khái niệm con người và chỉ định môi trường xung quanh hoặc xa xôi của con người. Thay vào đó, ‘thế giới’ không chỉ định những thứ biệt lập mà cũng chỉ định những con người biệt lập. Tầm quan trọng của khái niệm tiền-triết học này nằm ở mối quan hệ mà Dasein con người có với sự vật hoặc sự vật có với con người.

Nói cách khác, Khái niệm thực hữu luận tiền-triết học, xét về ý nghĩa chính yếu, không phải là một hiện hữu cụ thể mà là cách thức tồn tại của Dasein – cụ thể là, xét trong tổng thể, cách ứng xử tích cực đối với các hiện hữu và đối với bản thân nó. Phương thức tồn tại của con người bao gồm việc tự định nghĩa mình trong và bởi toàn thể. Hiện-hữu-trong-thế-giới của Dasein có nghĩa là hiện hữu trong toàn thể, đặc biệt là liên quan đến cách thức tồn tại. Ngay cả khi Dasein tự điều chỉnh mình theo một phần duy nhất và kỳ vọng mọi thứ từ nó, thì chính kỳ vọng này vẫn chứng minh cho sự tồn tại và tính toàn vẹn của nó. Do đó, chúng ta không thể lý giải thế giới như là bối cảnh thực hữu luận của các hạng mục hữu ích, những thứ thuộc văn hóa lịch sử, trái ngược với tự nhiên và những thứ thuộc tự nhiên. Tuy nhiên, việc phân tích các hạng mục hữu ích và bối cảnh của chúng vẫn cung cấp một cách tiếp cận và phương tiện để lần đầu tiên làm cho hiện tượng thế giới trở nên hữu hình. Do đó, thế giới không phải là các hiện hữu với tư cách những công cụ, với tư cách là những thứ mà con người phải đối phó, cứ như thể hiện-hữu-trong-thế-giới có nghĩa là di chuyển giữa các hạng mục văn hóa vậy. Thế giới cũng không phải là một đa tính của những hiện hữu người. Thay vào đó, tất cả những hiện hữu này thuộc về những gì chúng ta gọi là intra-worldly beings những hiện hữu nội-tại-trần-thế giới, nhưng chúng vẫn là không phải bản thân thế giới. Vậy thì thế giới là gì và như thế nào?

Như đã đề cập nhiều lần, chúng ta không thể làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề ở đây, cũng như không có đủ thời gian để phát triển cụ thể bối cảnh của vấn đề theo cách cân bằng. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ cố gắng thúc đẩy - với sự trợ giúp của một định hướng lịch sử tất yếu chỉ mang tính mơ hồ đối với học thuyết về ý niệm của Plato. Ngược lại, bằng cách làm rõ hiện tượng cội nguồn của [tr.182] siêu việt, chúng ta có được viễn cảnh để thâm nhập sâu hơn vào học thuyết về ý niệm của Plato và để làm rõ μέθεξις methexis sự tham gia và μεταξύ metaxy cái ở giữa. Trong các cân nhắc cuối cùng của mình, chúng ta nhận ra rằng đặc trưng của tính toàn vẹn theo một cách nào đó thuộc về khái niệm thế giới, và chúng ta biết rằng thế giới phải cấu thành nên sự siêu việt của Dasein. Dasein siêu việt các hiện hữu, và sự vượt lên của nó là vượt lên thế giới. Tuy nhiên, các hiện hữu bị vượt lên trong sự siêu việt không chỉ là những hiện hữu không phải là Dasein. Trong sự siêu việt, Dasein vượt lên chính nó như một hiện hữu; chính xác hơn, tình trạng vượt lên này cho phép Dasein có thể trở thành một cái gì đó giống như chính nó. Trước hết, khi vượt lên chính mình, thì cái Abgrund vực thẳm được mở ra, mà trong mỗi trường hợp, Dasein chính là vực thẳm đó đối với chính nó. Vực thẳm này có thể bị che lấp và mờ đi, chỉ bởi vì vực thẳm của hiện-hữu-môt-tự-ngã được mở ra bởi và trong sự siêu việt.

Vậy là câu hỏi đã trở nên không thể tránh khỏi: Thế thì thế giới mà Dasein siêu việt đến là gì? Tính toàn vẹn này liên quan đến tự thân Dasein như thế nào? Thế giới có phải là một cõi ý niệm, trong một ὑπερουράνιος τόπος hyperuranios topos cõi siêu thiên đường nào đó, được nhìn nhận và chiêm nghiệm bởi một lý tính được tích hợp trong Dasein? Hay thế giới là tổng thể tính của những ý niệm vốn có trong chủ thể? Từ những câu hỏi này, ta đã thấy rõ vấn đề về khái niệm thế giới, với tư cách là một khái niệm siêu nghiệm, nó hoàn toàn bện tết với vấn đề chủ thể tính của chủ thể và đồng thời với sự tìm tòi Hữu thể luận cơ bản về Hữu thể theo đúng nghĩa. Nếu hiện tượng mà chúng ta gọi là khái niệm siêu nghiệm là trọng tâm, thì nó hẳn đã xuất hiện dưới một hình thức nào đó, dù còn khá mờ khuất và chưa được diễn đạt rõ ràng, trong toàn bộ nền triết học chân chính. Không thể nghi ngờ rằng quan niệm về học thuyết ý niệm được thúc đẩy bởi một siêu việt vẫn còn ẩn tàng theo đúng nghĩa. Nhưng rõ ràng là quan niệm về học thuyết ý niệm không thể đạt được khái niệm về thế giới, bởi vì bản thân các ý niệm và mối quan hệ với chúng chỉ bao gồm sự tăng cường của một sự nắm bắt cụ thể về các hiện hữu - và sự nắm bắt này là Anschauung trực giác. Việc nhìn vào cái mà mọi thứ đều quay trở lại có mối tương quan với một quan niệm nhất định, khá phiến diện về Hữu thể. Trong ἰδέα idea ý niệm, θεωρία theōria lý thuyết, intuitus trực giác, trực giác thiết yếu, thì người ta viện đến một ý thức nhìn ngắm, một cách viện ở mức không có năng lực giải quyết vấn đề siêu việt, đến nỗi nó thậm chí không có năng lực nhìn thấy hiện tượng siêu việt.

Mối liên hệ giữa ý niệm và sự quan sát, θεωρία theōria lý thuyết, intuitus trực giác (đã được đề cập trong từ ἰδέα idea ý niệm), là thiết yếu, vì nguồn gốc của học thuyết về ý niệm được thể hiện trong đó. Trong chừng mực mà sự tồn tại được gán cho chính các ý niệm [tr.183], chúng chỉ là sự sao chép của các hiện hữu, như Aristotle đã thấy. Bên cạnh đó, những gì được nhìn thấy trong sự chiêm nghiệm, các ý niệm, với tư cách là vĩnh hằng, được nâng lên trên sự thay đổi. Do đó, học thuyết về ý niệm hàm ý sự sao chép cách thức cơ bản để liên hệ với các hiện hữu, sự chiêm nghiệm lý thuyết, và học thuyết này là một với sự sao chép đó.  Nếu học thuyết về ý niệm có liên quan đến hiện tượng siêu việt, và nếu ý niệm là tương quan của trực giác, thì trong học thuyết này có xu hướng khái niệm hóa vấn đề siêu việt theo hướng quan sát. Điều này đã được chuẩn bị từ thời cổ đại và sau này dẫn đến việc định hướng vấn đề siêu việt theo mối quan hệ nhận thức luận giữa chủ thể và khách thể.

Hơn nữa, bởi vì việc nhìn ngắm, giống như αἴσθησις aesthesis thẩm mỹ, có liên quan đến việc nắm bắt cái đẹp, người ta có khuynh hướng hình dung hoặc giải thích sự siêu việt không chỉ bằng cách đo lường nó dựa trên θεωρεῖν theorein lý thuyết, mà còn bằng cách xây dựng mô thức nó theo hoạt động thẩm mỹ. Khuynh hướng này được củng cố bởi quan điểm cho rằng mọi vật được nhìn thấy một cách nguyên thủy nhất trong trực giác thẩm mỹ, được nhìn thấy như chúng vốn có - một quan điểm dựa trên quan điểm sai lầm rằng trong trực giác thẩm mỹ, chủ thể được cho là không quan tâm đến khách thể được nhìn thấy. Người ta không thể gói gọn sự siêu việt vào trực giác, dù theo nghĩa lý thuyết hay thẩm mỹ, bởi vì nó thậm chí không phải là một hoạt động thực hữu luận. Càng không thể gói gọn nó vào một cách ứng xử thực tiễn, dù theo nghĩa công cụ-thực dụng hay bất kỳ nghĩa nào khác. Nhiệm vụ trung tâm trong Hữu thể luận về Dasein là quay trở lại phía sau những sự phân chia thành các hành vi đó để tìm ra nguồn gốc chung của chúng, một nhiệm vụ tất nhiên không nhất thiết dễ dàng. Siêu việt xuất hiện trước mọi phương thức hoạt động nói chung, không chỉ trước cả νόησις noēsis nhận thức, mà còn trước cả ὄρεξις orexis ham muốn, thuộc về, hay khát vọng.

Hiện tượng thế giới được tiếp cận về phương diện thực hữu luận và được chuyển hướng vào một cõi ý niệm vẫn tồn tại có thể tiếp cận chỉ bằng cách nhìn. Đó là bởi vì, trong số những lý do khác, siêu việt ngay từ đầu chủ yếu được hiểu theo nghĩa θεωρεῖν theorein lý thuyết, có nghĩa là siêu việt không được tìm kiếm trong tính nguồn cội nguyên thủy của nó trong Hữu thể thực sự của Dasein. Tuy nhiên, Dasein cũng được biết đến trong thời cổ đại như là hành động đích thực, như là πρᾶξις praxis hành động, hoặc thực hành. Nếu giờ đây chúng ta đặt vấn đề siêu việt liên quan đến vấn đề tự do, thì không được hiểu tự do theo nghĩa hẹp, tức là nó thuộc về πρᾶξις praxis; trái ngược với θεωρία theōria lý thuyết. Vấn đề tự do vẫn còn mơ hồ cho đến học thuyết về tính ưu việt của lý tính thực tiễn của Kant, và đặc biệt là trong chủ nghĩa Tân Kantianism. Người ta phải hiểu nỗ lực của Kant trong việc đưa hành vi lý thuyết trở lại πρᾶξις praxis thực hành - Kant ưu tiên hành vi thực tiễn hơn hành vi lý thuyết [tr.184] - trên nền tảng sự phân chia các năng lực thành tưởng tượng, trực giác, tư duy, và trên nền tảng ông đặt ra lựa chọn hoặc là khả năng tiếp nhận và tính tự phát. Tuy nhiên, khi ấy Kant đang hướng tới việc đặt nền tảng cho cả hai một cách cơ bản hơn, mặc dù ông chưa bao giờ đặt ra vấn đề một cách triệt để và hoàn toàn có ý thức. Nhưng vấn đề nằm ở gốc rễ chung của cả trực giác, θεωρεῖν theorein lý thuyết, lẫn πρᾶξις praxis thực hành. Chúng ta đã lưu ý rằng ἰδέα idéa ý tưởng có mối tương quan với ἰδεῖν idein sự nhìn thấy. Trong cách tiếp cận ban đầu của triết học phương Tây nói chung, trực giác, chỉ đơn thuần là nhìn, là hành động cơ bản mà trong đó siêu việt được định vị ở một mức độ nhất định. Ngay cả sau này, khi tư duy lý thuyết rõ ràng bị thay thế bởi thực tiễn (ưu quyền của lý tính thực tiễn), thì cách tiếp cận cổ xưa vẫn mang tính chỉ đạo. Hiện tượng siêu việt đích thực không thể được định vị trong một hoạt động cụ thể nào, dù là lý thuyết, thực tiễn hay thẩm mỹ. Tất cả những điều này, với tư cách là mối quan hệ với các hiện hữu, chỉ có thể tồn tại trên cơ sở của tự thân siêu việt.

Mặc dù trong triết học Platon, siêu việt không được nghiên cứu đến tận gốc rễ đích thực của nó, nhưng áp lực không thể tránh khỏi của hiện tượng này đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa cái siêu việt được ý niệm hướng đến và gốc rễ πρᾶξις praxis thực hành của siêu việt. Ý niệm là tương quan với trực giác, nhưng có một đoạn trong triết học Platon cho rằng ἰδέα τοῦ ἀγαθοῦ idea tou agathou ý niệm về cái thiện vẫn nằm ngoài các hiện hữu và οὐσία ousia bản chất/thực thể, ngoài các ý niệm, ἐπέκεινα τῆς οὐσίας epekeina tes ousias. Ở đây xuất hiện một siêu việt mà người ta phải coi là nguyên thủy nhất, bởi vì bản thân các ý niệm đã là siêu việt đối với các hiện hữu luôn thay đổi. Việc xác định ý nghĩa của cái thiện dựa trên những gì chúng ta có từ Plato không hề đơn giản. Chắc chắn rằng ἰδέα τοῦ ἀγαθοῦ idea tou agathou Ý niệm về Cái Thiện, rốt cuộc vẫn mang một phẩm chất huyền thoại đến nỗi với gợi ý này, điểm cốt lõi triết học vẫn chưa được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên đi theo con đường đang rất hấp dẫn hiện nay, đó là đơn giản gán khái niệm giá trị của chúng ta vào ý niệm cái thiện. Bởi vì khái niệm giá trị, với chức năng tất yếu trong những giới hạn nhất định, bắt nguồn từ cùng một siêu hình học truyền thống, mà nền tảng Hữu thể luận thực sự của nó vẫn chưa rõ ràng và không có cơ sở.

Hơn nữa, điều chúng ta phải học cách nhận ra trong ἰδέα τοῦ ἀγαθοῦ idea tou agathou Ý niệm về Cái Thiện là đặc điểm được Plato và đặc biệt là Aristotle mô tả là οὐ ἕνεκα vì điều gì - vì lợi ích của nó - mà nhờ đó một cái gì đó tồn tại hoặc không tồn tại, theo cách này hay cách khác. Ý niệm về Cái Thiện ἰδέα τοῦ ἀγαθοῦ idea tou agathou, thậm chí còn vượt ra ngoài các hiện hữu và lĩnh vực ý niệm, là vì cái vì-lợi-ích-của-cái-nào. Điều này có nghĩa là đó là sự xác định đích thực vượt lên trên toàn bộ các ý niệm và đồng thời tổ chức [tr.185] chúng một cách toàn diện. Như ἐπέκεινα epekeina vượt ngoài, vì mục đích đó vượt trội hơn các ý niệm, nhưng, khi vượt trội hơn chúng, nó xác định và ban cho chúng hình thức toàn vẹn, κοινωνία koinonia, tính cộng đồng. Nếu chúng ta ghi nhớ đặc tính οὐ ἕνεκα vì điều gì của ý niệm cao nhất, thì mối liên hệ giữa học thuyết về ý niệm và khái niệm về thế giới bắt đầu xuất hiện: đặc điểm cơ bản của thế giới, nhờ đó mà tính toàn vẹn đạt được hình thức tổ chức siêu việt đặc thù của nó, chính là cái vì-lợi-ích-của-cái-nào. Thế giới, với tư cách là cái mà Dasein siêu việt hướng đến, chủ yếu được định nghĩa bởi cái vì-lợi-ích-của-cái-nào. Nhưng một thứ vì-lợi-ích-của-cái-nào, một mục đích có chủ đích [Umwillen], chỉ có thể tồn tại khi có một ý chí [Willen]. Giờ đây, xét về khía cạnh siêu việt, hiện-hữu-trong-thế-giới, cấu thành nên cấu trúc cơ bản của Dasein, thì hiện-hữu-trong-thế-giới cũng phải gắn bó mật thiết hoặc bắt nguồn từ đặc điểm tồn tại cơ bản của Dasein, đó là tự do. Chỉ khi nào có tự do thì mới có mục đích vì-lợi-ích-của, và chỉ ở đây mới có đó thế giới. Nói tóm lại, siêu việt và tự do của Dasein là đồng nhất! Tự do tự nó mang lại khả tính nội tại; một hiện hữu, khi tự do, nhất thiết phải tự nó siêu việt.

_______________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.

 

 

 

 

 

 

 


Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Cơ sở Siêu hình học của Logic (XIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở

§1. Siêu việt của Dasein

a) Khái niệm Siêu việt

[Tr.168] Giờ đây, chúng ta muốn cố gắng diễn giải kỹ hơn cấu thành cơ bản này của Dasein, và điều đó ngụ ý việc bác bỏ những hiểu lầm có thể xảy ra. Thoạt đầu, có thể tự hỏi tại sao người ta lại đề cao sự siêu việt đến vậy, thậm chí xem nó như một vấn đề, nếu siêu việt có nghĩa là hiện- hữu-trong-thế giới. Luận điểm này khẳng định điều dường như hiển nhiên nhất có thể. Hiện-hữu-trong-thế-giới của Dasein là chắc chắn: một Dasein thực sự đang tồn tại, một con người thực sự đang tồn tại, với tư cách là một hiện hữu thực sự, tự nhiên có đó giữa các hiện hữu khác; những con người đứng trên mặt đất, đi dưới bóng cây và di chuyển giữa những con người khác. Dasein ở trong một thế giới, tức là, những con người thực sự đang tồn tại [tr.169] ở giữa các hiện hữu khác, trong tổng thể tính của các hiện hữu khác. Rõ ràng đến mức người ta hoàn toàn không thấy có vấn đề gì; và có thể nói rằng lời tuyên bố, “Dasein về mặt cấu thành, theo bản chất của nó, ở trong một thế giới,” rõ ràng là giả, vì không nhất thiết phải có sự tồn tại của hiện hữu người này hay hiện hữu người kia; khái niệm hiện hữu người không bao hàm việc một người thực sự tồn tại, tức là hiện hữu trong một thế giới; nhưng việc nói rằng bản chất của Dasein nằm ở sự hiện-hữu- trong-thế-giới của nó là điều có vẻ vô nghĩa.

Vậy là điều này chính xác, bản chất của Dasein không phải là việc nó thực sự tồn tại; tuy nhiên, chính bản chất của nó lại ở chỗ trong mỗi trường hợp, hiện hữu này cũng có thể không còn tồn tại. Vũ trụ có thể tồn tại mà không có con người sinh sống trên Trái đất, và vũ trụ đã tồn tại từ rất lâu trước khi con người đã từng tồn tại. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể khẳng định rằng hiện-hữu-trong-thế-giới lại thuộc về bản chất của Dasein? Nếu tuyên bố này vẫn được cho là đúng, thì hiện-hữu-trong-thế-giới phải có một ý nghĩa nào đó khác. Và ý nghĩa đó về nguyên tắc được khẳng định khi chúng ta nhấn mạnh: hiện-hữu-trong-thế-giới là cấu thành cơ bản của Dasein. Khía cạnh quan trọng nằm ở mặt phủ định: Nếu tôi nói về Dasein rằng cấu thành cơ bản của nó là hiện-hữu-trong-thế-giới, thì trước hết tôi đang khẳng định điều gì đó thuộc về bản chất của nó, và do đó tôi bỏ qua việc liệu cái Hữu thể của một bản chất như vậy có thực sự tồn tại hay không. Nói cách khác, tuyên bố, “Dasein, trong cấu thành cơ bản của nó, là hiện-hữu-trong-thế-giới,” không phải là sự khẳng định về sự tồn tại thực tế của nó; bằng tuyên bố này, tôi không khẳng định rằng Dasein của tôi thực sự vẫn tồn tại, cũng không nói rằng, phù hợp với bản chất của nó, nó thực sự phải tồn tại. Thay vào đó, tôi đang nói: Nếu Dasein thực sự tồn tại, thì sự tồn tại của nó có cấu trúc hiện-hữu-trong-thế-giới, tức là, Dasein, trong bản chất của nó, là hiện-hữu-trong-thế-giới, bất kể nó có thực sự tồn tại hay không.

Do đó, Dasein không phải là một hiện-hữu-trong-thế-giới bởi vì nó thực sự tồn tại, mà ngược lại. Nó chỉ có thể tồn tại trên thực tế với tư cách là Dasein bởi vì bản chất của nó là hiện-hữu-trong-thế-giới. Do đó, điều quan trọng là phải phân biệt rõ ràng và có nguyên tắc giữa: 1) Tuyên bố hiện sinh về sự thật, rằng cái Dasein cụ thể này hiện đang tồn tại. Điều quan trọng ở đây là liệu một Dasein trên thực tế có tồn tại hay không, và liên quan đến việc đang tồn tại của nó; 2) Tuyên bố siêu hình về bản chất, rằng hiện-hữu-trong-thế-giới thuộc về bản chất của Dasein như là cấu thành của nó, cho dù trên thực tế nó có tồn tại hay không. Điều có tính quyết định ở đây không phải là liệu trên thực tế nó có tồn tại hay không, mà cái được trình bày là cái thuộc về khả tính nội tại của Dasein, nếu nó có thể tồn tại. Hiện-hữu-trong-thế-giới đặc trưng cho phương thức hiện hữu cơ bản, tồn tại của Dasein, mà không nói liệu nó có tồn tại hay không. [Tr.170] Một ví dụ tương tự là tuyên bố, ‘thân thể được mở rộng,’ đó là một tuyên bố về bản chất chứ không phải là một tuyên bố về sự thật; tuyên bố này không nói rằng một thân thể cụ thể nào đó extant vẫn còn tồn tại. Tuyên bố về tính siêu việt là một khẳng định hiện sinh (mang tính hữu thể luận), chứ không phải là một khẳng định thực hữu (ontic).

Chắc chắn, tất cả điều này chỉ nhằm mục đích định nghĩa, về nguyên tắc, ý nghĩa của tuyên bố và loại bỏ những cách diễn giải sai lệch. Nhưng ý nghĩa của nó về mặt nội dung vẫn chưa rõ ràng, và ở đây chúng ta cần sự kiên nhẫn, công việc chuẩn bị từng bước, và đặc biệt là ý chí hướng tới điều mà các chỉ dẫn của chúng ta vạch ra. Tuyên bố, ‘bản chất của Dasein là nó ở trong thế giới,’ có nghĩa là nó thực sự vẫn tồn tại giữa những sự vật khác. Ngược lại, tuyên bố rằng hiện-hữu-trong-thế-giới thuộc về bản chất của Dasein đặc trưng cho cấu thành thiết yếu của nó. Trong cả hai trường hợp, thì ‘thế giới’ có nghĩa là điều gì đó khác biệt về cơ bản. Do đó, điều quyết định là, thứ nhất: Thế giới có nghĩa là gì (như một nơi ở)? Thứ hai: Ở đây, ‘hiện-hữu-trong’ có nghĩa là gì? Do đó tuyên bố, ‘Dasein có, như cấu thành cơ bản hiện hữu của nó, một hiện-hữu-trong-thế-giới,’ được cho là một tuyên bố về bản chất. Điều này ngụ ý rằng về bản chất, Dasein ‘có’ một cái gì đó giống như thế giới, và nó không có được thế giới chỉ bằng sự thật là nó tồn tại, và những hiện hữu khác cùng loại và khác loại cũng thực sự tồn tại cùng với Dasein (hoặc cái sự thật về việc nó ở giữa chúng). Ngược lại, trong mỗi trường hợp Dasein có thể tồn tại như một Dasein cụ thể, miễn là, với tư cách là  Dasein theo đúng nghĩa, nó có một cái gì đó thuộc về trật tự của thế giới. Qua đó, chúng ta thấy khó khăn trong nhìn nhận và lý giải cấu thành cơ bản của siêu việt rõ ràng nằm ở tính đặc thù của khái niệm thế giới. Do đó, chúng ta muốn thử làm rõ cấu trúc của siêu việt như là hiện-hữu-trong-thế-giới bằng cách định nghĩa và giải thích khái niệm ‘thế giới’.

b) Hiện tượng thế giới

Mục tiêu của chúng ta là xem xét kỹ hơn ý nghĩa của từ ‘thế giới’ như một đặc điểm của siêu việt theo đúng nghĩa. Siêu việt là hiện-hữu-trong-thế-giới. Bởi vì nó liên quan đến siêu việt theo đúng nghĩa, nên thế giới là một khái niệm siêu việt theo nghĩa chặt chẽ nhất của thuật ngữ này. Trong triết học Kant, transzendental có tính ‘siêu việt’ có ý nghĩa tương đương với ontologisch tính ‘bản thể luận’ nhưng liên quan đến bản thể luận của ‘tự nhiên’ theo nghĩa rộng nhất. Đối với chúng ta, thuật ngữ này có nghĩa tương đương với fundamental-ontologische tính ‘Hữu thể luận-cơ bản’. Cách biểu đạt ‘thế giới’ có nhiều nghĩa, nhưng tính đa nghĩa này không phải là tình cờ. Trước tiên, chúng ta phải truy nguyên khái niệm truyền thống theo nhiều nghĩa khác nhau của nó, tức là, khảo sát tất cả những gì nó [tr.171] có nghĩa và cách hiểu về nó trong mỗi trường hợp. Từ đó, chúng ta sẽ có thể thu thập một số chỉ dấu về ý nghĩa của khái niệm ‘thế giới’, khi nó thực sự liên quan đến siêu việt. Tính đa nghĩa đặc trưng của khái niệm ‘thế giới’ trở nên dễ hiểu hơn nếu chúng ta xem xét lịch sử của khái niệm này. Đương nhiên, đối với chúng ta điều đó chỉ có thể có nghĩa là xử lý một vài tham chiếu tiêu biểu.

Nếu chúng ta nhìn vào triết học cổ đại, đặc biệt là trong giai đoạn khởi đầu mang tính quyết định của nó với Parmenides và Heraclitus, chúng ta ngay lập tức nhận thấy một điều đáng chú ý. Thuật ngữ ‘thế giới’ tiếng Hy Lạp là κόσμος kosmos. Và thuật ngữ này có nghĩa là gì? Chính xác là không phải những gì người ta thường tin; nó không có nghĩa là existierende Wesen các hiện hữu vẫn tồn tại theo đúng nghĩa, các thiên thể, các vì sao, trái đất, thậm chí là một hiện hữu cụ thể. Kόσμος kosmos cũng không có nghĩa là tất cả các hiện hữu cùng nhau; nó hoàn toàn không có nghĩa là các hiện hữu tự thân và không phải là một tên gọi dành cho chúng. Đúng hơn κόσμος kosmos đề cập đến Zustand ‘trạng thái’; κόσμος kosmos là thuật ngữ chỉ Weise zu sein phương thức hiện hữu chứ không phải bản thân các hiện hữu. Kόσμος kosmos có nghĩa là trạng thái đặc thù này của các hiện hữu, thế giới này của các hiện hữu trái ngược với một thế giới khác. Bản thân các hiện hữu vẫn không thay đổi, trong khi trạng thái toàn thể của chúng, thế giới của chúng, có thể khác nhau; hoặc, người ta có thể cho rằng thế giới của các hiện hữu vẫn luôn luôn như vậy. Để diễn tả phương thức tồn tại này, chúng ta sử dụng (ngay trong các bài giảng của tôi ở Freiburg) động từ welten ‘to world,’ trở thành thế giới. Ý nghĩa cơ bản này của kόσμος kosmos - về nguyên tắc lần đầu tiên được Karl Reinhardt đề xuất (Parmenides und die Geschichte der griechischen Philosophie, 1916, tr. 174 f. và tr. 216, chú thích) - xuất hiện trong một số đoạn văn của các nhà triết học tiền Socrates.

Trong Đoạn 7 của Melissos: ἀλλ' οὐδέ μετακόσ μηθῆναι ἀνυστόν [τὸ ὄν]. ὸ γὰρ kόσμος ὸ προσθεν έῷν οὐκ ἀπόλλυται οὑτε  ὸ μἡ ἐὡν  γίνεται; “Thậm chí không thể nào thế giới của các sinh linh lại bị thay đổi, bởi vì cái thế giới vẫn thế giới hóa trước đó không hề lụi tàn, cũng như cái thế giới chưa hề khởi lên không thể nào biến thành thế giới được”. Trong Đoạn 4, Parmenides nói về κατὰ kόσμον ‘theo trật tự/nguyên tắc’ liên quan đến τὸ ἐόν ‘cái vẫn tồn tại’: Hãy dùng sự hiểu biết (thay vì đôi mắt của bạn) và nhìn thấy những gì luôn hiện diện (trong hữu thể thực tại của nó); bởi vì lý giải sẽ không làm tan rã sự gắn kết của các hiện hữu, đồng thời nó cũng không làm chúng tan rã theo bất kỳ cách nào liên quan đến cấu thành tập thể của chúng, κατὰ kόσμον, cũng như không sắp xếp chúng theo bất kỳ cách nào khác. Anaxoagoras, Đoạn 8: Nó không bị tách rời hoàn toàn hoặc bị xẻ đôi bằng rìu, tức là bị phân tán, τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ: những thực thể tồn tại trong một thế giới; ở đây có nghĩa là những thế giới nói chung theo một cách xác định, những gì có điều kiện và bối cảnh cơ bản xác định. Kόσμος kosmos, với tư cách là 'cách thức' của toàn thể tính, là cơ sở của mọi sự phân chia.

[Ghi chú: τὰ ἐν τῷ νὶ κόσμῳ còn có các biến thể là τὰ ἐν τῷ κόσμῳ (có nghĩa là ‘những thứ/vật trong thế giới/gian’). Cụm từ τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ (thêm ‘một’ / ἑνὶ) dịch là ‘những thứ/vật trong thế giới/ gian’. Điều này chỉ rõ đến vũ trụ hữu hình và nội dung của nó, hoạt động như một thể thống nhất. Vì cách diễn đạt này trải rộng trên nhiều truyền thống cổ đại, ý nghĩa của nó thay đổi tùy thuộc vào nguồn dữ liệu; trong Kinh Thánh tiếng Hy Lạp, cụm từ τὰ ἐν τῷ κόσμῳ xuất hiện nổi bật trong Tân Ước, thường đề cập đến các khía cạnh tạm thời, sa ngã hoặc vật chất của sự tồn tại trên trần gian. (Chẳng hạn như John/Giăng 2:15-17 “Μὴ ἀγαπᾶτε τὸν κόσμον μηδὲ τὰ ἐν τῷ κόσμῳ. ἐάν τις ἀγαπᾷ τὸν κόσμον, οὐκ ἔστιν ἡ ἀγάπη τοῦ πατρὸς ἐν αὐτῷ· ὅτι πᾶν τὸ ἐν τῷ κόσμῳ, ἡ ἐπιθυμία τῆς σαρκὸς καὶ ἡ ἐπιθυμία τῶν ὀφθαλμῶν καὶ ἡ ἀλαζονεία τοῦ βίου, οὐκ ἔστιν ἐκ τοῦ πατρὸς ἀλλ᾽ ἐκ τοῦ κόσμου ἐστίν.17 καὶ ὁ κόσμος παράγεται καὶ ἡ ἐπιθυμία αὐτοῦ, ὁ δὲ ποιῶν τὸ θέλημα τοῦ θεοῦ μένει εἰς τὸν αἰῶνα. “15 Chớ yêu thế-gian, cũng đừng yêu các vật ở thế-gian nữa; nếu ai yêu thế-gian thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong kẻ ấy.16 Vì mọi sự trong thế-gian, như sự mê-tham của xác-thịt, mê-tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế-gian mà ra.17 Vả thế-gian với sự tham-dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thời còn lại đời đời” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr.300) Trong Triết học Tiền Socrates, các triết gia cổ đại như Anaxagoras hoặc Heraclitus cho rằng vũ trụ hoạt động như một hệ thống vật lý liên kết duy nhất với ý nghĩa mọi thứ trong vũ trụ là duy nhất; các yếu tố vật lý của vũ trụ như nóng, lạnh, ẩm, khô, v.v. đều không bị tách rời hoặc phân tán ngẫu nhiên, thay vào đó, chúng hoàn toàn đan xen và được chi phối bởi trật tự tự nhiên của thế giới.- HHN]

[Tr.172] Sự phân chia không xóa bỏ thế giới, nhưng bản thân nó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thế giới. (Mọi 'bộ phận' của thế giới đều hữu hạn.) Heraclitus, Đoạn 89 viết: Ἡρακλειτός φησι τοῖς ἐγρηγορόσιν ἕνα καὶ κοινὸν κόσμον εἶναι, τῶν δὲ κοιμωμένων ἕκαστον εἰς ἴδιον ἀποστρέφεσθαι. “Một thế giới duy nhất và cùng chung thuộc về những kẻ tỉnh thức, nhưng mỗi kẻ đang ngủ lại hướng về thế giới riêng của mình.” Ở đây, thế giới liên quan đến trạng thái tỉnh thức và ngủ vùi, như những phương thức cơ bản đặc trưng của Dasein thực tế. Tỉnh thức là một trạng thái của Dasein trong đó các hiện hữu tự hiện thân cho mọi người như một và giống nhau trong cùng một đặc tính-thế giới; các hiện hữu tự biểu hiện trong một trạng thái triệt để hài hòa mà tất cả đều có thể tiếp cận và ràng buộc với nhau. Ngược lại, trong giấc ngủ, hiện hữu tự hiện thân có đặc tính-thế giới riêng biệt đối với từng cá nhân, trong mỗi trường hợp là một cách trở thành thế giới hoàn toàn khác nhau.

Từ những ví dụ này, chúng ta có thể rút ra một số điểm: 1) Thế giới là thuật ngữ chỉ phương thức tồn tại của các hiện hữu (mặc dù khái niệm thế giới chưa phải là một vấn đề Hữu thể luận rõ ràng); 2) Thế giới có nghĩa là toàn thể tính, sự thống nhất và khả năng phân tán của các hiện hữu; 3) Mỗi phương thức tồn tại hoặc có thể thay đổi hoặc không; thế giới có mối kết nói với vận động, thay đổi và thời gian; 4) Thế giới bằng cách nào đó mang tính tương đối với Dasein cũng như đối với phương thức tồn tại hiện tại của nó, và liên quan đến 5) Liệu thế giới có phải là một thế giới chung, duy nhất và đồng nhất hay không, tức là liệu các hiện hữu có được phép trình hiện bản thân trong cùng một phương thức hài hòa cho tất cả hay chỉ cho mỗi cá nhân theo cách riêng của họ - thế giới của mọi người hay của tự ngã cô đơn. Các tham chiếu tiếp theo không chỉ xác nhận những ý nghĩa này mà còn làm rõ các điểm trên hơn nữa. Nhìn chung, chúng sẽ làm sáng tỏ điểm chính duy nhất của tập hợp các suy ngẫm sơ bộ này, đó là khái niệm ‘thế giới’ có một đặc tính phổ quát riêng biệt (với tư cách là toàn thể tính so với sự phân tán) và đồng thời có một đặc tính về bản chất liên quan đến Dasein người. Đây chỉ là bước sơ bộ cho ý nghĩa siêu việt thực sự mà sau này chúng ta sẽ gán cho thuật ngữ ấy, khi diễn giải về sự siêu việt. Tại điểm này, điều đáng lưu ý, liên quan đến những thứ đã nói ở trên cũng như những thứ sẽ được trình bày sau đây, là các khái niệm như ‘thế giới’, diễn tả trạng thái của các hiện hữu, cách thức tồn tại của các hiện hữu (các hiện hữu có thể tồn tại trong thế giới theo cách này hay cách khác),  dễ dàng và thường xuyên - thực tế là phần lớn - được sử dụng để mô tả bản thân các hiện hữu. Ví dụ, ‘dòng chảy’ có nghĩa là một dòng nước chảy trong rừng, dòng suối cụ thể này chảy ở đây, hay con lạch; nhưng ‘dòng chảy’ cũng có nghĩa là ‘cách thức’ tồn tại của các hiện hữu, ví dụ, ‘chảy’ thay vì ‘cuộn sóng’.Từ Hy Lạp φύσις physic cũng có nghĩa là tự nhiên theo nghĩa vật chất và hình thức như ἀρχή κινήσεως arkhē kinēseōs nguyên lý vận động [tr.173] ngay cả về mặt ngôn ngữ, hậu tố -ις cũng chỉ ra một cách thức hoặc phương pháp. [Là đuôi tận cùng của nhiều danh từ giống cái, đặc biệt là trong tiếng Hy Lạp cổ đại như πόλις pólis nghĩa là ‘thành bang’, hoặc đuôi tạo tên phái sinh); một số họ hoặc tên địa danh Hy Lạp cũng có đuôi này. HHN] Tương ứng, ‘thế giới’ chủ yếu và đúng nghĩa có nghĩa là phương thức tồn tại của các hiện hữu - và đồng thời, có nghĩa là bản thân các hiện hữu đó. Cả hai nghĩa đều có thể được sử dụng cùng nhau một cách tương thích, ‘thế giới’ có nghĩa là các hiện hữu trong một phương thức nhất định.

Ví dụ, khi Phaolồ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô và trong Thư gửi tín hữu Ga-la-ti nói về κόσμος οὗτος, thế giới này, ông muốn nói đến trạng thái toàn thể của các hiện hữu, chứ không chỉ và trước hết là tự nhiên, ‘thế giới/gian’, theo nghĩa của chúng ta. [Ghi chú về τοῦ κόσμου/ κόσμος οὗτος ‘thế giới/gian này’: 1.27-29: 27.ἀλλὰ τὰ μωρὰ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τοὺς σοφούς καὶ τὰ ἀσθενῆ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τὰ ἰσχυρά. 28. καὶ τὰ ἀγενῆ τοῦ κόσμου καὶ τὰ ἐξουθενημένα ἐξελέξατο ὁ Θεός (καὶ) τὰ μὴ ὄντα ἵνα τὰ ὄντα καταργήσῃ. 29. ὅπως μὴ καυχήσηται πᾶσα σὰρξ ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ. “27Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế- gian để làm hổ-thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế-gian để làm hổ-thẹn những sự mạnh;28Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn-hạ và khinh–bỉ ở thế-gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức  Chúa Trời.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr.200) -HHN] “Thế giới này” có nghĩa là trạng thái và hoàn cảnh này của con người, kiểu và cách thức Dasein của họ, thực sự là cách họ hành động đối với các đức tính và việc làm, đối với tự nhiên và mọi thứ, cách họ đánh giá các giá trị tốt đẹp. Thật vậy, κόσμος là thuật ngữ trực tiếp cho cách thức Dasein của con người, cho thái độ, cách suy nghĩ của nó, ἡ σοφία τοῦ κόσμου sự khôn ngoan của thế gian. [Ghi chú lời giảng của Phaolồ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô về  ἡ σοφία τοῦ κόσμου sự khôn ngoan của thế gian trong Tân ước: 1.19-24: 19. γέγραπται γάρ Ἀπολῶ τὴν σοφίαν τῶν σοφῶν καὶ τὴν σύνεσιν τῶν συνετῶν ἀθετήσω. 20. Ποῦ σοφός ποῦ γραμματεύς ποῦ συζητητὴς τοῦ αἰῶνος τούτου οὐχὶ ἐμώρανεν ὁ Θεὸς τὴν σοφίαν τοῦ κόσμου? 21. ἐπειδὴ γὰρ ἐν τῇ σοφίᾳ τοῦ Θεοῦ οὐκ ἔγνω ὁ κόσμος διὰ τῆς σοφίας τὸν Θεόν εὐδόκησεν ὁ Θεὸς διὰ τῆς μωρίας τοῦ κηρύγματος σῶσαι τοὺς πιστεύοντας. 22. Ἐπειδὴ καὶ Ἰουδαῖοι σημεῖα αἰτοῦσιν καὶ Ἕλληνες σοφίαν ζητοῦσιν, 23. ἡμεῖς δὲ κηρύσσομεν Χριστὸν ἐσταυρωμένον Ἰουδαίοις μὲν σκάνδαλον ἔθνεσιν δὲ μωρίαν, 24. αὐτοῖς δὲ τοῖς κλητοῖς Ἰουδαίοις τε καὶ Ἕλλησιν Χριστὸν Θεοῦ δύναμιν καὶ Θεοῦ σοφίαν. “19 Cũng có lời chép rằng: Ta sẽ hủy-phá sự khôn-ngoan của người khôn-ngoan, Tiêu trừ sự thạo-biết của người thạo-biết. 20 Người khôn-ngoan ở đâu? Thầy thông-giáo ở đâu? Người biện-luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn-ngoan của thế-gian ra dồ-dại không? 21 Vì tại thế-gian cậy sự khôn-ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ-dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin-cậy. 22 Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ réc tìm sự khôn-ngoan, 23 thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập-tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ-dại; 24 song le về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ réc thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 200)- HHN]

Cái κόσμος thế giới/gian này, cái cách thức này, được định nghĩa bởi mối quan hệ của nó với κόσμος, đã bắt đầu ló dạng, với αἰὼν ὁ μέλλων [thời đại sắp tới]. Tình trạng của tất cả mọi hiện hữu được xem xét trong mối quan hệ với ἔσχατον, tình huống cuối cùng. Một lần nữa, rõ ràng là κόσμος thế gian có nghĩa là một cách thức và về bản chất có liên quan đến Dasein và thời gian. Kόσμος là thế giới, theo nghĩa của nhân loại, cộng đồng và xã hội của con người trong thái độ từ bỏ Thiên Chúa, tức là trong lập trường cơ bản của họ đối với bản thân và toàn bộ hiện hữu. ‘Thế tục’ sau đó trở thành biểu hiện cho một loại tồn tại cơ bản của con người. [Ghi chú thêm đặc biệt là Cô-rinh-tô 1:25-31: 25 ὅτι τὸ μωρὸν τοῦ Θεοῦ σοφώτερον τῶν ἀνθρώπων ἐστίν, καὶ τὸ ἀσθενὲς τοῦ Θεοῦ ἰσχυρότερον τῶν ἀνθρώπων. 26 Βλέπετε γὰρ τὴν κλῆσιν ὑμῶν, ἀδελφοί, ὅτι οὐ πολλοὶ σοφοὶ κατὰ σάρκα, οὐ πολλοὶ δυνατοί, οὐ πολλοὶ εὐγενεῖς· 27 ἀλλὰ τὰ μωρὰ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τοὺς σοφούς, καὶ τὰ ἀσθενῆ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τὰ ἰσχυρά, 28 καὶ τὰ ἀγενῆ τοῦ κόσμου καὶ τὰ ἐξουθενημένα ἐξελέξατο ὁ Θεός, τὰ μὴ ὄντα, ἵνα τὰ ὄντα καταργήσῃ, 29 ὅπως μὴ καυχήσηται πᾶσα σὰρξ ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ. 30 ἐξ αὐτοῦ δὲ ὑμεῖς ἐστε ἐν Χριστῷ Ἰησοῦ, ὃς ἐγενήθη σοφία ἡμῖν ἀπὸ Θεοῦ, δικαιοσύνη τε καὶ ἁγιασμὸς καὶ ἀπολύτρωσις, 31 ἵνα καθὼς γέγραπται Ὁ καυχώμενος ἐν Κυρίῳ καυχάσθω. 25 Bởi vì sự dồ-dại của Đức Chúa Trời là khôn-sáng hơn người ta và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta. 26 Hỡi anh em, hãy suy-xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn-ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền-thế, chẳng nhiều kẻ sang-trọng. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế-gian để làm hổ-thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế-gian để làm hổ-thẹn những sự mạnh; 28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế-gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jésus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn-ngoan, sự công-bình, sự nên thánh, và sự cứu-chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 200)- HHN]. Vì chúng ta chỉ quan tâm đến các nguyên tắc, nên trong sự phát triển của khái niệm Kitô giáo, chúng ta thấy cách trực tiếp mà ‘thế giới/gian’ có nghĩa là 1) một phương thức tồn tại và phương thức này 2) với sự quy chiếu chủ yếu đến hiện hữu người, liên quan đến hành vi của họ đối với các hiện hữu.

Đối với Augustine, mundus [thế giới/gian] có nghĩa là toàn bộ tạo vật. Nhưng cũng thường xuyên, mundus còn đại diện cho mundi habitatores, các cư dân của thế giới, những người định cư trong thế giới. Nhưng điều này không chỉ có nghĩa là họ cũng ở đó, cùng với núi non và sông ngòi. Việc định cư chủ yếu được đặc trưng bởi một số hành vi, đánh giá, cách cư xử và tiếp cận sự vật cơ bản, bởi ‘thái độ’, corde esse cum mundo [hướng tâm hồn hòa hợp với thế giới]. Habitores mundidilectores mundi [những người hưởng thụ thế giới], amatores vel impi; vel carnales [những kẻ đam mê thế tục vô đạo/bất kính, hoặc sống theo bản năng xác thịt]. Mundus non dicunturjusti, quia licet carne in eo habitent, corde cum [tr.174] deo sunt (Opera, ed. Migne, tom. IV; 1842) [Người công chính không được nói đến như kẻ trần thế, bởi vì mặc dù thể xác họ có thể sống trong thế gian, nhưng tâm hồn họ lại ở cùng Thiên Chúa]. Ở đây, ‘thế gian’ rõ ràng là thuật ngữ chỉ cách cư xử xa-rời-Chúa hướng đến các hiện hữu mà con người tồn tại. Như vậy, ‘thế gian’ là 1) thuật ngữ chung chỉ cộng đồng nhân loại sống theo một cách thức và phương tiện nhất định, 2) chủ yếu là phương thức tồn tại xác định, trong đó và vì nó mà tất cả mọi hiện hữu đều tự trình hiện bằng sự đánh giá và bối cảnh xác định. Nói chung, thế giới/gian là cái ‘cách thức’, không phải cái ‘cái gì’.

Tương tự như vậy đối với Thomas Aquinas, thế giới/gian có nghĩa tương đương với universum tất cả mọi người, tất cả mọi thứ, toàn bộ thế giới, universitas creaturarum vũ trụ của muôn loài. Nhưng nó cũng tương đương với saeculum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantur (‘con cái của thế gian’), [thời đại insofar as the term ‘thế gian’ chỉ những người yêu thế gian]. Mundanus [thế tục] tương đương với saecularis [thế tục], thế tục về thái độ, trái ngược với spiritualis [tâm linh]. Do đó xuất hiện thuật ngữ astutia mundana, sự khôn ngoan thế tục, sự xảo quyệt của những người có thái độ thế tục. Phần sau sẽ cho thấy ý nghĩa của khái niệm mundus trong siêu hình học hiện đại. Siêu hình học được chia thành metaphysica generalis Siêu hình học Tổng quát và metaphysica specialis Siêu hình học Chuyên biệt, trong đó metaphysica specialis lại được chia thành cosmologia Vũ trụ học, psychologia Tâm lý học và theologia Thần học.

[Ghi chú về: saeculum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantu: [36557] Iª-IIae q. 72 a. 3 arg. 3 Praeterea, Augustinus, super illud Psalmi, incensa igni et suffossa, dicit quod omne peccatum est ex timore male humiliante, vel ex amore male inflammante. Dicitur etiam I Ioan. II, quod omne quod est in mundo, aut est concupiscentia carnis, aut concupiscentia oculorum, aut superbia vitae, dicitur autem aliquid esse in mundo, propter peccatum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantur, ut Augustinus dicit, super Ioan. Gregorius etiam, XXXI Moral., distinguit omnia peccata secundum septem vitia capitalia. Omnes autem huiusmodi divisiones respiciunt causas peccatorum. Ergo videtur quod peccata differant specie secundum diversitatem causarum.

Luận điểm 3: Hơn nữa, Thánh Augustinô, khi bình luận về “Cây nho ấy bị đốt lửa, bị chặt phá” trong Thi thiên 80: 8-19, có nói rằng mọi tội lỗi đều do nỗi sợ hãi gây ra sự khiêm nhường giả tạo, hoặc do tình yêu khơi dậy lòng nhiệt thành quá mức. Tân ước Giăng 2:16 chép rằng: Vì mọi sự trong thế-gian, như sự mê-tham của xác-thịt, mê-tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế-gian mà ra. Giờ đây, người ta nói rằng có một điều gì đó ở trong thế gian là do tội lỗi, bởi vì thế gian biểu thị những kẻ mê tham thế tục, như Thánh Augustinô đã nhận xét (Luận văn ii trong Giăng). Thánh Gregory cũng vậy (Luân lý 31, 17), phân biệt tất cả các tội lỗi theo bảy nguyên nhân chính. Tất cả những sự phân chia này đều đề cập đến nguyên nhân của tội lỗi. Do đó, dường như, tội lỗi khác nhau tùy theo sự đa dạng của các nguyên nhân của chúng. [Ghi chú thêm: Vì Sứ đồ đã nói rất rõ ràng trong Galatians 5:19 -21: 19 Vả các việc làm của xác-thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian-dâm, ô-uế, luông-tuồng, 20 thờ hình-tượng, phù phép, thù-oán, tranh-đấu, ghen-ghét, buồn-giận, cãi-lẫy, bất-bình, bè-đảng, 21 ganh-gổ, say-sưa, mê ăn-uống, cùng các sự khác giống như vậy. (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 234)- HHN]  

[Luận điểm 3: Hơn nữa, Thánh Augustinô, khi bình luận về “Cây nho ấy bị đốt lửa, bị chặt phá” trong Thi thiên 80: 8-19, chép rằng: 8. Từ Ê dip tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra rồi trồng cây ấy; 9 Cũng sở đất cho nó, nó bèn châm rễ và bò đầy đất. 10 Các núi bị bóng nó che phủ, và các nhành nó giống như cây hương-nam của Đức Chúa Trời. 11 Các nhành nó gie ra đến biển và chồi nó lan đến sông. 12 Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó? 13 Heo rừng cắn-phá nó, Và các thú đồng ăn nó. 14 Đức Chúa Trời vạn-quân ôi! Xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống đoái xem, và thăm-viếng cây nho này, 15 Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình. 16 Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở-trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư-mất. 17 Nguyện tay Chúa phù-hộ người của tay hữu Chúa, tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình: 18 Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu-khẩn danh Chúa.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Cựu ước, tr. 695-696)- HHN]

[Ghi chú về bối cảnh ẩn dụ Cây Nho của Đức Chúa Trời Trong Thi Thiên 80, dân Y-sơ-ra-ên được mô tả như một cây nho được Đức Chúa Trời bứng từ Ai Cập và trồng tại vùng đất hứa. Tuy nhiên, do tội lỗi và sự quay lưng của dân chúng, Đức Chúa Trời đã cho phép các kẻ thù xâm lược tàn phá cây nho này. Cụm từ 80:16 ‘Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt phá’ mô tả tình cảnh hoang tàn này: bị lửa thiêu, ám chỉ cơn thịnh nộ của Chúa, sự thanh tẩy bằng lửa, hoặc những thử thách, bắt bớ dữ dội từ các đế quốc ngoại giáo (như Babylon hay La Mã); bị chặt phá, ám chỉ sự sụp đổ của đền thờ, sự sỉ nhục, và việc thành Giê-ru-sa-ên bị san bằng thành đống đổ nát; Góc nhìn giải nghĩa của Thánh Augustine trong tác phẩm Chú giải các Thánh Vịnh, đã tiến thêm một bước, áp dụng văn cảnh này vào bức tranh rộng lớn của Hội Thánh và Đấng Christ, đó là sự thanh luyện qua đau khổ; Augustine coi ngọn lửa thiêu đốt và sự tàn phá này là hình ảnh tượng trưng cho sự thanh tẩy mà Hội Thánh phải trải qua trên thế gian; dù đau đớn, nhưng cuộc bách hại và thử thách này lại chính là phương tiện mà Chúa Trời dùng để làm lộ ra đức tin chân chính và đốt cháy đi những thứ tội lỗi, rơm rác thuộc trần gian; .Hình ảnh về con người mang vác: Đi liền với những câu này là lời kêu gọi hướng về "Người ở bên tay phải Chúa" và "Con Người" (được Augustine chú giải trực tiếp là Chúa Giê-xu Christ). Dù cây nho của Hội Thánh có bị thiêu đốt hay tàn phá đến mức nào, sức mạnh cứu rỗi sẽ được đặt lên Đấng Christ, Đấng đã được Chúa Cha làm cho mạnh mẽ để bảo vệ và khôi phục dân Ngài. HHN]

Định nghĩa về vũ trụ học theo Baumgarten (Metaphysia §351) là: Cosmologia generalis est scientia praedicatorum mundi generalium [Vũ trụ học tổng quát là khoa học về các thuộc tính tổng quát của thế giới]. Ông định nghĩa Mundus như sau (Ibid, §354): Mundus (universum, πᾱν) est series (multitudo, totum) actualium finitorum, quae non est pars alterius. ‘Thế giới (toàn thể các thực thể) là chuỗi (đa dạng, toàn thể) của những sự vật hữu hạn hiện hữu, chuỗi mà bản thân nó không phải là một phần của chuỗi khác: Trong định nghĩa gượng ép này, tất cả các đặc điểm xác định đều bị lẫn lộn và gộp lại với nhau theo nghĩa hời hợt của một phép cộng. Thế giới đơn giản chỉ là tổng của những gì thực sự tồn tại. Do đó, những sự phân biệt mà thời cổ đại sở hữu ở đây hoàn toàn bị mất đi. Kant là người đầu tiên đề cập đến những sự phân biệt thiết yếu.

Theo Kant, ‘thế giới’ được hiểu khá rõ ràng là một cách thức, một ‘toàn thể tính, theo nghĩa siêu hình học-bản thể luận. Điều này được tìm thấy trong 1) những nhận xét của ông về Baumgarten, 2) sự phân biệt giữa thế giới và tự nhiên, 3) cái cách ông chia triết học thành các quan niệm hàn lâm và thế tục. 1) Từ những ghi chú bên lề của Kant về Siêu hình học của Baumgarten, chúng ta tìm thấy trong ghi chú số 4085 (ấn bản Akademie, tập XVII - bản thảo còn lại, tập IV): “Ý niệm về thế giới không phải là ngẫu nhiên (mà [tr.175] thực sự là một khái niệm cần thiết). Vì cũng như tôi phải hình dung một cách hữu hạn về một bộ phận không xa hơn một tổng thể (mà trong đó tổng thể tính được hình dung), thì tôi cũng phải hình dung về một tổng thể không phải là một bộ phận.” Chúng ta nhất thiết phải có một quan niệm về thế giới chừng nào chúng ta còn nghĩ về một tổng thể; nhưng ở đây Kant không đưa ra thêm lời biện minh nào về lý do tại sao chúng ta phải nghĩ về một tổng thể. Trong #4329, chúng ta đọc: “Thế giới là hữu hạn bởi vì nó là một tổng thể của các thực thể [Wesen] hạn chế lẫn nhau,” và trong #4521: “Khái niệm hiện tại về thế giới phục vụ nhiều hơn cho việc tổ chức ý tưởng về một tổng thể mang tính thực thể và biệt lập (do đó là một quan niệm bản thể học về thế giới) hơn là để chứng minh sự tồn tại của bất kỳ nguyên nhân chắc chắn nào:” #4522: “Thế giới không thể là một phần của một tổng thể khác (nguyên thủy hơn) là thế giới trong sự lý giải siêu nghiệm. Thế giới không phải là một phần của một tổng thể thực sự là thế giới bằng việc lý giải vật lý. Bởi vì cái khả thể được phân biệt với cái thực sự chỉ khi nào, bằng cái khả thể, các điều kiện [conditiones] không được xem xét bằng sự xác định đầy đủ của chúng, do đó một thế giới tổng thể không có điều kiện nào khác ngoài chính nó trong bản chất tuyệt đối cần thiết của nó thì cũng không có giới hạn nào khác đối với hiện thực ngoài các điều kiện khả tính nội tại. Theo cách hiểu này, từ một thế giới, người ta có thể suy ra một nguyên nhân duy nhất cùng tính đầy đủ hoàn toàn của nó, và xa hơn nữa là suy ra cái nhất tính của thế giới này. Nhưng từ một thế giới không phải là vũ trụ tuyệt đối [Weltall], không thể rút ra những suy luận như vậy nữa, giống như người ta thường có thể làm từ một composito substantiali [hợp chất thực thể]. Hữu hạn từ một multitudo rerum jinitarum vô số sự vật hữu hạn đơn thuần cũng không hơn gì từ một jinito [hữu hạn] duy nhất.

Quan niệm của Kant về thế giới trở nên đặc biệt rõ ràng trong nhận xét cuối cùng ở trên, nhắm vào siêu hình học lý thuyết giáo điều. Thế giới không chỉ có nghĩa là toàn thể, chẳng hạn như toàn thể của một tập hợp cụ thể các sự vật tồn tại về mặt bản thể, sao cho thế giới chỉ vươn tới phạm vi của toàn thể duy nhất các thực thể hiện hữu. Nhưng thế giới chính là toàn thể, tính phổ quát của nó được xác định bởi toàn bộ các khả tính nội tại. Như vậy, Kant đã vượt ra ngoài khái niệm bản thể về thế giới như một chuỗi các thực thể hữu hạn (series actualium jinitorum) để đến một quan niệm siêu nghiệm. Đây cũng là công trình mang tính thực chứng và nội dung siêu hình của phép biện chứng siêu nghiệm của Kant. Chỉ từ một quan niệm như vậy, chúng ta mới có thể suy ra một nguyên nhân tuyệt đối, nếu suy luận này được cho là có ý nghĩa. Tuy nhiên, quan niệm siêu nghiệm về thế giới này là một ý niệm, và do đó suy luận về bản chất là không thể. Một thực tính không thể được suy ra từ một cái gì đó khả thể, ngay cả từ toàn thể tính của các khả tính, mà chỉ có thể suy ra ý niệm về một cơ sở tuyệt đối: lý tưởng siêu nghiệm.

________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.