Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Phần Thứ hai: Vấn đề Cơ sở
§1. Siêu việt của Dasein
a) Khái niệm Siêu việt
[Tr.168] Giờ đây, chúng ta muốn cố gắng diễn giải kỹ hơn cấu thành cơ bản này của Dasein, và điều đó ngụ ý việc bác bỏ những hiểu lầm có thể xảy ra. Thoạt đầu, có thể tự hỏi tại sao người ta lại đề cao sự siêu việt đến vậy, thậm chí xem nó như một vấn đề, nếu siêu việt có nghĩa là hiện- hữu-trong-thế giới. Luận điểm này khẳng định điều dường như hiển nhiên nhất có thể. Hiện-hữu-trong-thế-giới của Dasein là chắc chắn: một Dasein thực sự đang tồn tại, một con người thực sự đang tồn tại, với tư cách là một hiện hữu thực sự, tự nhiên có đó giữa các hiện hữu khác; những con người đứng trên mặt đất, đi dưới bóng cây và di chuyển giữa những con người khác. Dasein ở trong một thế giới, tức là, những con người thực sự đang tồn tại [tr.169] ở giữa các hiện hữu khác, trong tổng thể tính của các hiện hữu khác. Rõ ràng đến mức người ta hoàn toàn không thấy có vấn đề gì; và có thể nói rằng lời tuyên bố, “Dasein về mặt cấu thành, theo bản chất của nó, ở trong một thế giới,” rõ ràng là giả, vì không nhất thiết phải có sự tồn tại của hiện hữu người này hay hiện hữu người kia; khái niệm hiện hữu người không bao hàm việc một người thực sự tồn tại, tức là hiện hữu trong một thế giới; nhưng việc nói rằng bản chất của Dasein nằm ở sự hiện-hữu- trong-thế-giới của nó là điều có vẻ vô nghĩa.
Vậy là điều này chính xác, bản chất của Dasein không phải là việc nó thực sự tồn tại; tuy nhiên, chính bản chất của nó lại ở chỗ trong mỗi trường hợp, hiện hữu này cũng có thể không còn tồn tại. Vũ trụ có thể tồn tại mà không có con người sinh sống trên Trái đất, và vũ trụ đã tồn tại từ rất lâu trước khi con người đã từng tồn tại. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể khẳng định rằng hiện-hữu-trong-thế-giới lại thuộc về bản chất của Dasein? Nếu tuyên bố này vẫn được cho là đúng, thì hiện-hữu-trong-thế-giới phải có một ý nghĩa nào đó khác. Và ý nghĩa đó về nguyên tắc được khẳng định khi chúng ta nhấn mạnh: hiện-hữu-trong-thế-giới là cấu thành cơ bản của Dasein. Khía cạnh quan trọng nằm ở mặt phủ định: Nếu tôi nói về Dasein rằng cấu thành cơ bản của nó là hiện-hữu-trong-thế-giới, thì trước hết tôi đang khẳng định điều gì đó thuộc về bản chất của nó, và do đó tôi bỏ qua việc liệu cái Hữu thể của một bản chất như vậy có thực sự tồn tại hay không. Nói cách khác, tuyên bố, “Dasein, trong cấu thành cơ bản của nó, là hiện-hữu-trong-thế-giới,” không phải là sự khẳng định về sự tồn tại thực tế của nó; bằng tuyên bố này, tôi không khẳng định rằng Dasein của tôi thực sự vẫn tồn tại, cũng không nói rằng, phù hợp với bản chất của nó, nó thực sự phải tồn tại. Thay vào đó, tôi đang nói: Nếu Dasein thực sự tồn tại, thì sự tồn tại của nó có cấu trúc hiện-hữu-trong-thế-giới, tức là, Dasein, trong bản chất của nó, là hiện-hữu-trong-thế-giới, bất kể nó có thực sự tồn tại hay không.
Do đó, Dasein không phải là một hiện-hữu-trong-thế-giới bởi vì nó thực sự tồn tại, mà ngược lại. Nó chỉ có thể tồn tại trên thực tế với tư cách là Dasein bởi vì bản chất của nó là hiện-hữu-trong-thế-giới. Do đó, điều quan trọng là phải phân biệt rõ ràng và có nguyên tắc giữa: 1) Tuyên bố hiện sinh về sự thật, rằng cái Dasein cụ thể này hiện đang tồn tại. Điều quan trọng ở đây là liệu một Dasein trên thực tế có tồn tại hay không, và liên quan đến việc đang tồn tại của nó; 2) Tuyên bố siêu hình về bản chất, rằng hiện-hữu-trong-thế-giới thuộc về bản chất của Dasein như là cấu thành của nó, cho dù trên thực tế nó có tồn tại hay không. Điều có tính quyết định ở đây không phải là liệu trên thực tế nó có tồn tại hay không, mà cái được trình bày là cái thuộc về khả tính nội tại của Dasein, nếu nó có thể tồn tại. Hiện-hữu-trong-thế-giới đặc trưng cho phương thức hiện hữu cơ bản, tồn tại của Dasein, mà không nói liệu nó có tồn tại hay không. [Tr.170] Một ví dụ tương tự là tuyên bố, ‘thân thể được mở rộng,’ đó là một tuyên bố về bản chất chứ không phải là một tuyên bố về sự thật; tuyên bố này không nói rằng một thân thể cụ thể nào đó extant vẫn còn tồn tại. Tuyên bố về tính siêu việt là một khẳng định hiện sinh (mang tính hữu thể luận), chứ không phải là một khẳng định thực hữu (ontic).
Chắc chắn, tất cả điều này chỉ nhằm mục đích định nghĩa, về nguyên tắc, ý nghĩa của tuyên bố và loại bỏ những cách diễn giải sai lệch. Nhưng ý nghĩa của nó về mặt nội dung vẫn chưa rõ ràng, và ở đây chúng ta cần sự kiên nhẫn, công việc chuẩn bị từng bước, và đặc biệt là ý chí hướng tới điều mà các chỉ dẫn của chúng ta vạch ra. Tuyên bố, ‘bản chất của Dasein là nó ở trong thế giới,’ có nghĩa là nó thực sự vẫn tồn tại giữa những sự vật khác. Ngược lại, tuyên bố rằng hiện-hữu-trong-thế-giới thuộc về bản chất của Dasein đặc trưng cho cấu thành thiết yếu của nó. Trong cả hai trường hợp, thì ‘thế giới’ có nghĩa là điều gì đó khác biệt về cơ bản. Do đó, điều quyết định là, thứ nhất: Thế giới có nghĩa là gì (như một nơi ở)? Thứ hai: Ở đây, ‘hiện-hữu-trong’ có nghĩa là gì? Do đó tuyên bố, ‘Dasein có, như cấu thành cơ bản hiện hữu của nó, một hiện-hữu-trong-thế-giới,’ được cho là một tuyên bố về bản chất. Điều này ngụ ý rằng về bản chất, Dasein ‘có’ một cái gì đó giống như thế giới, và nó không có được thế giới chỉ bằng sự thật là nó tồn tại, và những hiện hữu khác cùng loại và khác loại cũng thực sự tồn tại cùng với Dasein (hoặc cái sự thật về việc nó ở giữa chúng). Ngược lại, trong mỗi trường hợp Dasein có thể tồn tại như một Dasein cụ thể, miễn là, với tư cách là Dasein theo đúng nghĩa, nó có một cái gì đó thuộc về trật tự của thế giới. Qua đó, chúng ta thấy khó khăn trong nhìn nhận và lý giải cấu thành cơ bản của siêu việt rõ ràng nằm ở tính đặc thù của khái niệm thế giới. Do đó, chúng ta muốn thử làm rõ cấu trúc của siêu việt như là hiện-hữu-trong-thế-giới bằng cách định nghĩa và giải thích khái niệm ‘thế giới’.
b) Hiện tượng thế giới
Mục tiêu của chúng ta là xem xét kỹ hơn ý nghĩa của từ ‘thế giới’ như một đặc điểm của siêu việt theo đúng nghĩa. Siêu việt là hiện-hữu-trong-thế-giới. Bởi vì nó liên quan đến siêu việt theo đúng nghĩa, nên thế giới là một khái niệm siêu việt theo nghĩa chặt chẽ nhất của thuật ngữ này. Trong triết học Kant, transzendental có tính ‘siêu việt’ có ý nghĩa tương đương với ontologisch tính ‘bản thể luận’ nhưng liên quan đến bản thể luận của ‘tự nhiên’ theo nghĩa rộng nhất. Đối với chúng ta, thuật ngữ này có nghĩa tương đương với fundamental-ontologische tính ‘Hữu thể luận-cơ bản’. Cách biểu đạt ‘thế giới’ có nhiều nghĩa, nhưng tính đa nghĩa này không phải là tình cờ. Trước tiên, chúng ta phải truy nguyên khái niệm truyền thống theo nhiều nghĩa khác nhau của nó, tức là, khảo sát tất cả những gì nó [tr.171] có nghĩa và cách hiểu về nó trong mỗi trường hợp. Từ đó, chúng ta sẽ có thể thu thập một số chỉ dấu về ý nghĩa của khái niệm ‘thế giới’, khi nó thực sự liên quan đến siêu việt. Tính đa nghĩa đặc trưng của khái niệm ‘thế giới’ trở nên dễ hiểu hơn nếu chúng ta xem xét lịch sử của khái niệm này. Đương nhiên, đối với chúng ta điều đó chỉ có thể có nghĩa là xử lý một vài tham chiếu tiêu biểu.
Nếu chúng ta nhìn vào triết học cổ đại, đặc biệt là trong giai đoạn khởi đầu mang tính quyết định của nó với Parmenides và Heraclitus, chúng ta ngay lập tức nhận thấy một điều đáng chú ý. Thuật ngữ ‘thế giới’ tiếng Hy Lạp là κόσμος kosmos. Và thuật ngữ này có nghĩa là gì? Chính xác là không phải những gì người ta thường tin; nó không có nghĩa là existierende Wesen các hiện hữu vẫn tồn tại theo đúng nghĩa, các thiên thể, các vì sao, trái đất, thậm chí là một hiện hữu cụ thể. Kόσμος kosmos cũng không có nghĩa là tất cả các hiện hữu cùng nhau; nó hoàn toàn không có nghĩa là các hiện hữu tự thân và không phải là một tên gọi dành cho chúng. Đúng hơn κόσμος kosmos đề cập đến Zustand ‘trạng thái’; κόσμος kosmos là thuật ngữ chỉ Weise zu sein phương thức hiện hữu chứ không phải bản thân các hiện hữu. Kόσμος kosmos có nghĩa là trạng thái đặc thù này của các hiện hữu, thế giới này của các hiện hữu trái ngược với một thế giới khác. Bản thân các hiện hữu vẫn không thay đổi, trong khi trạng thái toàn thể của chúng, thế giới của chúng, có thể khác nhau; hoặc, người ta có thể cho rằng thế giới của các hiện hữu vẫn luôn luôn như vậy. Để diễn tả phương thức tồn tại này, chúng ta sử dụng (ngay trong các bài giảng của tôi ở Freiburg) động từ welten ‘to world,’ trở thành thế giới. Ý nghĩa cơ bản này của kόσμος kosmos - về nguyên tắc lần đầu tiên được Karl Reinhardt đề xuất (Parmenides und die Geschichte der griechischen Philosophie, 1916, tr. 174 f. và tr. 216, chú thích) - xuất hiện trong một số đoạn văn của các nhà triết học tiền Socrates.
Trong Đoạn 7 của Melissos: ἀλλ' οὐδέ μετακόσ μηθῆναι ἀνυστόν [τὸ ὄν]. ὸ γὰρ kόσμος ὸ προσθεν έῷν οὐκ ἀπόλλυται οὑτε ὸ μἡ ἐὡν γίνεται; “Thậm chí không thể nào thế giới của các sinh linh lại bị thay đổi, bởi vì cái thế giới vẫn thế giới hóa trước đó không hề lụi tàn, cũng như cái thế giới chưa hề khởi lên không thể nào biến thành thế giới được”. Trong Đoạn 4, Parmenides nói về κατὰ kόσμον ‘theo trật tự/nguyên tắc’ liên quan đến τὸ ἐόν ‘cái vẫn tồn tại’: Hãy dùng sự hiểu biết (thay vì đôi mắt của bạn) và nhìn thấy những gì luôn hiện diện (trong hữu thể thực tại của nó); bởi vì lý giải sẽ không làm tan rã sự gắn kết của các hiện hữu, đồng thời nó cũng không làm chúng tan rã theo bất kỳ cách nào liên quan đến cấu thành tập thể của chúng, κατὰ kόσμον, cũng như không sắp xếp chúng theo bất kỳ cách nào khác. Anaxoagoras, Đoạn 8: Nó không bị tách rời hoàn toàn hoặc bị xẻ đôi bằng rìu, tức là bị phân tán, τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ: những thực thể tồn tại trong một thế giới; ở đây có nghĩa là những thế giới nói chung theo một cách xác định, những gì có điều kiện và bối cảnh cơ bản xác định. Kόσμος kosmos, với tư cách là 'cách thức' của toàn thể tính, là cơ sở của mọi sự phân chia.
[Ghi chú: τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ còn có các biến thể là τὰ ἐν τῷ κόσμῳ (có nghĩa là ‘những thứ/vật trong thế giới/gian’). Cụm từ τὰ ἐν τῷ ὲνὶ κόσμῳ (thêm ‘một’ / ἑνὶ) dịch là ‘những thứ/vật trong thế giới/ gian’. Điều này chỉ rõ đến vũ trụ hữu hình và nội dung của nó, hoạt động như một thể thống nhất. Vì cách diễn đạt này trải rộng trên nhiều truyền thống cổ đại, ý nghĩa của nó thay đổi tùy thuộc vào nguồn dữ liệu; trong Kinh Thánh tiếng Hy Lạp, cụm từ τὰ ἐν τῷ κόσμῳ xuất hiện nổi bật trong Tân Ước, thường đề cập đến các khía cạnh tạm thời, sa ngã hoặc vật chất của sự tồn tại trên trần gian. (Chẳng hạn như John/Giăng 2:15-17 “Μὴ ἀγαπᾶτε τὸν κόσμον μηδὲ τὰ ἐν τῷ κόσμῳ. ἐάν τις ἀγαπᾷ τὸν κόσμον, οὐκ ἔστιν ἡ ἀγάπη τοῦ πατρὸς ἐν αὐτῷ· ὅτι πᾶν τὸ ἐν τῷ κόσμῳ, ἡ ἐπιθυμία τῆς σαρκὸς καὶ ἡ ἐπιθυμία τῶν ὀφθαλμῶν καὶ ἡ ἀλαζονεία τοῦ βίου, οὐκ ἔστιν ἐκ τοῦ πατρὸς ἀλλ᾽ ἐκ τοῦ κόσμου ἐστίν.17 καὶ ὁ κόσμος παράγεται καὶ ἡ ἐπιθυμία αὐτοῦ, ὁ δὲ ποιῶν τὸ θέλημα τοῦ θεοῦ μένει εἰς τὸν αἰῶνα. “15 Chớ yêu thế-gian, cũng đừng yêu các vật ở thế-gian nữa; nếu ai yêu thế-gian thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong kẻ ấy.16 Vì mọi sự trong thế-gian, như sự mê-tham của xác-thịt, mê-tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế-gian mà ra.17 Vả thế-gian với sự tham-dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thời còn lại đời đời” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr.300) Trong Triết học Tiền Socrates, các triết gia cổ đại như Anaxagoras hoặc Heraclitus cho rằng vũ trụ hoạt động như một hệ thống vật lý liên kết duy nhất với ý nghĩa mọi thứ trong vũ trụ là duy nhất; các yếu tố vật lý của vũ trụ như nóng, lạnh, ẩm, khô, v.v. đều không bị tách rời hoặc phân tán ngẫu nhiên, thay vào đó, chúng hoàn toàn đan xen và được chi phối bởi trật tự tự nhiên của thế giới.- HHN]
[Tr.172] Sự phân chia không xóa bỏ thế giới, nhưng bản thân nó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở thế giới. (Mọi 'bộ phận' của thế giới đều hữu hạn.) Heraclitus, Đoạn 89 viết: Ἡρακλειτός φησι τοῖς ἐγρηγορόσιν ἕνα καὶ κοινὸν κόσμον εἶναι, τῶν δὲ κοιμωμένων ἕκαστον εἰς ἴδιον ἀποστρέφεσθαι. “Một thế giới duy nhất và cùng chung thuộc về những kẻ tỉnh thức, nhưng mỗi kẻ đang ngủ lại hướng về thế giới riêng của mình.” Ở đây, thế giới liên quan đến trạng thái tỉnh thức và ngủ vùi, như những phương thức cơ bản đặc trưng của Dasein thực tế. Tỉnh thức là một trạng thái của Dasein trong đó các hiện hữu tự hiện thân cho mọi người như một và giống nhau trong cùng một đặc tính-thế giới; các hiện hữu tự biểu hiện trong một trạng thái triệt để hài hòa mà tất cả đều có thể tiếp cận và ràng buộc với nhau. Ngược lại, trong giấc ngủ, hiện hữu tự hiện thân có đặc tính-thế giới riêng biệt đối với từng cá nhân, trong mỗi trường hợp là một cách trở thành thế giới hoàn toàn khác nhau.
Từ những ví dụ này, chúng ta có thể rút ra một số điểm: 1) Thế giới là thuật ngữ chỉ phương thức tồn tại của các hiện hữu (mặc dù khái niệm thế giới chưa phải là một vấn đề Hữu thể luận rõ ràng); 2) Thế giới có nghĩa là toàn thể tính, sự thống nhất và khả năng phân tán của các hiện hữu; 3) Mỗi phương thức tồn tại hoặc có thể thay đổi hoặc không; thế giới có mối kết nói với vận động, thay đổi và thời gian; 4) Thế giới bằng cách nào đó mang tính tương đối với Dasein cũng như đối với phương thức tồn tại hiện tại của nó, và liên quan đến 5) Liệu thế giới có phải là một thế giới chung, duy nhất và đồng nhất hay không, tức là liệu các hiện hữu có được phép trình hiện bản thân trong cùng một phương thức hài hòa cho tất cả hay chỉ cho mỗi cá nhân theo cách riêng của họ - thế giới của mọi người hay của tự ngã cô đơn. Các tham chiếu tiếp theo không chỉ xác nhận những ý nghĩa này mà còn làm rõ các điểm trên hơn nữa. Nhìn chung, chúng sẽ làm sáng tỏ điểm chính duy nhất của tập hợp các suy ngẫm sơ bộ này, đó là khái niệm ‘thế giới’ có một đặc tính phổ quát riêng biệt (với tư cách là toàn thể tính so với sự phân tán) và đồng thời có một đặc tính về bản chất liên quan đến Dasein người. Đây chỉ là bước sơ bộ cho ý nghĩa siêu việt thực sự mà sau này chúng ta sẽ gán cho thuật ngữ ấy, khi diễn giải về sự siêu việt. Tại điểm này, điều đáng lưu ý, liên quan đến những thứ đã nói ở trên cũng như những thứ sẽ được trình bày sau đây, là các khái niệm như ‘thế giới’, diễn tả trạng thái của các hiện hữu, cách thức tồn tại của các hiện hữu (các hiện hữu có thể tồn tại trong thế giới theo cách này hay cách khác), dễ dàng và thường xuyên - thực tế là phần lớn - được sử dụng để mô tả bản thân các hiện hữu. Ví dụ, ‘dòng chảy’ có nghĩa là một dòng nước chảy trong rừng, dòng suối cụ thể này chảy ở đây, hay con lạch; nhưng ‘dòng chảy’ cũng có nghĩa là ‘cách thức’ tồn tại của các hiện hữu, ví dụ, ‘chảy’ thay vì ‘cuộn sóng’.Từ Hy Lạp φύσις physic cũng có nghĩa là tự nhiên theo nghĩa vật chất và hình thức như ἀρχή κινήσεως arkhē kinēseōs nguyên lý vận động [tr.173] ngay cả về mặt ngôn ngữ, hậu tố -ις cũng chỉ ra một cách thức hoặc phương pháp. [Là đuôi tận cùng của nhiều danh từ giống cái, đặc biệt là trong tiếng Hy Lạp cổ đại như πόλις pólis nghĩa là ‘thành bang’, hoặc đuôi tạo tên phái sinh); một số họ hoặc tên địa danh Hy Lạp cũng có đuôi này. HHN] Tương ứng, ‘thế giới’ chủ yếu và đúng nghĩa có nghĩa là phương thức tồn tại của các hiện hữu - và đồng thời, có nghĩa là bản thân các hiện hữu đó. Cả hai nghĩa đều có thể được sử dụng cùng nhau một cách tương thích, ‘thế giới’ có nghĩa là các hiện hữu trong một phương thức nhất định.
Ví dụ, khi Phaolồ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô và trong Thư gửi tín hữu Ga-la-ti nói về κόσμος οὗτος, thế giới này, ông muốn nói đến trạng thái toàn thể của các hiện hữu, chứ không chỉ và trước hết là tự nhiên, ‘thế giới/gian’, theo nghĩa của chúng ta. [Ghi chú về τοῦ κόσμου/ κόσμος οὗτος ‘thế giới/gian này’: 1.27-29: 27.ἀλλὰ τὰ μωρὰ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τοὺς σοφούς καὶ τὰ ἀσθενῆ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τὰ ἰσχυρά. 28. καὶ τὰ ἀγενῆ τοῦ κόσμου καὶ τὰ ἐξουθενημένα ἐξελέξατο ὁ Θεός (καὶ) τὰ μὴ ὄντα ἵνα τὰ ὄντα καταργήσῃ. 29. ὅπως μὴ καυχήσηται πᾶσα σὰρξ ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ. “27Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế- gian để làm hổ-thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế-gian để làm hổ-thẹn những sự mạnh;28Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn-hạ và khinh–bỉ ở thế-gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr.200) -HHN] “Thế giới này” có nghĩa là trạng thái và hoàn cảnh này của con người, kiểu và cách thức Dasein của họ, thực sự là cách họ hành động đối với các đức tính và việc làm, đối với tự nhiên và mọi thứ, cách họ đánh giá các giá trị tốt đẹp. Thật vậy, κόσμος là thuật ngữ trực tiếp cho cách thức Dasein của con người, cho thái độ, cách suy nghĩ của nó, ἡ σοφία τοῦ κόσμου sự khôn ngoan của thế gian. [Ghi chú lời giảng của Phaolồ trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rinh-tô về ἡ σοφία τοῦ κόσμου sự khôn ngoan của thế gian trong Tân ước: 1.19-24: 19. γέγραπται γάρ Ἀπολῶ τὴν σοφίαν τῶν σοφῶν καὶ τὴν σύνεσιν τῶν συνετῶν ἀθετήσω. 20. Ποῦ σοφός ποῦ γραμματεύς ποῦ συζητητὴς τοῦ αἰῶνος τούτου οὐχὶ ἐμώρανεν ὁ Θεὸς τὴν σοφίαν τοῦ κόσμου? 21. ἐπειδὴ γὰρ ἐν τῇ σοφίᾳ τοῦ Θεοῦ οὐκ ἔγνω ὁ κόσμος διὰ τῆς σοφίας τὸν Θεόν εὐδόκησεν ὁ Θεὸς διὰ τῆς μωρίας τοῦ κηρύγματος σῶσαι τοὺς πιστεύοντας. 22. Ἐπειδὴ καὶ Ἰουδαῖοι σημεῖα αἰτοῦσιν καὶ Ἕλληνες σοφίαν ζητοῦσιν, 23. ἡμεῖς δὲ κηρύσσομεν Χριστὸν ἐσταυρωμένον Ἰουδαίοις μὲν σκάνδαλον ἔθνεσιν δὲ μωρίαν, 24. αὐτοῖς δὲ τοῖς κλητοῖς Ἰουδαίοις τε καὶ Ἕλλησιν Χριστὸν Θεοῦ δύναμιν καὶ Θεοῦ σοφίαν. “19 Cũng có lời chép rằng: Ta sẽ hủy-phá sự khôn-ngoan của người khôn-ngoan, Tiêu trừ sự thạo-biết của người thạo-biết. 20 Người khôn-ngoan ở đâu? Thầy thông-giáo ở đâu? Người biện-luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn-ngoan của thế-gian ra dồ-dại không? 21 Vì tại thế-gian cậy sự khôn-ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ-dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin-cậy. 22 Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ réc tìm sự khôn-ngoan, 23 thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập-tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ-dại; 24 song le về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ réc thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 200)- HHN]
Cái κόσμος thế giới/gian này, cái cách thức này, được định nghĩa bởi mối quan hệ của nó với κόσμος, đã bắt đầu ló dạng, với αἰὼν ὁ μέλλων [thời đại sắp tới]. Tình trạng của tất cả mọi hiện hữu được xem xét trong mối quan hệ với ἔσχατον, tình huống cuối cùng. Một lần nữa, rõ ràng là κόσμος thế gian có nghĩa là một cách thức và về bản chất có liên quan đến Dasein và thời gian. Kόσμος là thế giới, theo nghĩa của nhân loại, cộng đồng và xã hội của con người trong thái độ từ bỏ Thiên Chúa, tức là trong lập trường cơ bản của họ đối với bản thân và toàn bộ hiện hữu. ‘Thế tục’ sau đó trở thành biểu hiện cho một loại tồn tại cơ bản của con người. [Ghi chú thêm đặc biệt là Cô-rinh-tô 1:25-31: 25 ὅτι τὸ μωρὸν τοῦ Θεοῦ σοφώτερον τῶν ἀνθρώπων ἐστίν, καὶ τὸ ἀσθενὲς τοῦ Θεοῦ ἰσχυρότερον τῶν ἀνθρώπων. 26 Βλέπετε γὰρ τὴν κλῆσιν ὑμῶν, ἀδελφοί, ὅτι οὐ πολλοὶ σοφοὶ κατὰ σάρκα, οὐ πολλοὶ δυνατοί, οὐ πολλοὶ εὐγενεῖς· 27 ἀλλὰ τὰ μωρὰ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τοὺς σοφούς, καὶ τὰ ἀσθενῆ τοῦ κόσμου ἐξελέξατο ὁ Θεός ἵνα καταισχύνῃ τὰ ἰσχυρά, 28 καὶ τὰ ἀγενῆ τοῦ κόσμου καὶ τὰ ἐξουθενημένα ἐξελέξατο ὁ Θεός, τὰ μὴ ὄντα, ἵνα τὰ ὄντα καταργήσῃ, 29 ὅπως μὴ καυχήσηται πᾶσα σὰρξ ἐνώπιον τοῦ Θεοῦ. 30 ἐξ αὐτοῦ δὲ ὑμεῖς ἐστε ἐν Χριστῷ Ἰησοῦ, ὃς ἐγενήθη σοφία ἡμῖν ἀπὸ Θεοῦ, δικαιοσύνη τε καὶ ἁγιασμὸς καὶ ἀπολύτρωσις, 31 ἵνα καθὼς γέγραπται Ὁ καυχώμενος ἐν Κυρίῳ καυχάσθω. 25 Bởi vì sự dồ-dại của Đức Chúa Trời là khôn-sáng hơn người ta và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta. 26 Hỡi anh em, hãy suy-xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn-ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền-thế, chẳng nhiều kẻ sang-trọng. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế-gian để làm hổ-thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế-gian để làm hổ-thẹn những sự mạnh; 28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế-gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jésus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn-ngoan, sự công-bình, sự nên thánh, và sự cứu-chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 200)- HHN]. Vì chúng ta chỉ quan tâm đến các nguyên tắc, nên trong sự phát triển của khái niệm Kitô giáo, chúng ta thấy cách trực tiếp mà ‘thế giới/gian’ có nghĩa là 1) một phương thức tồn tại và phương thức này 2) với sự quy chiếu chủ yếu đến hiện hữu người, liên quan đến hành vi của họ đối với các hiện hữu.
Đối với Augustine, mundus [thế giới/gian] có nghĩa là toàn bộ tạo vật. Nhưng cũng thường xuyên, mundus còn đại diện cho mundi habitatores, các cư dân của thế giới, những người định cư trong thế giới. Nhưng điều này không chỉ có nghĩa là họ cũng ở đó, cùng với núi non và sông ngòi. Việc định cư chủ yếu được đặc trưng bởi một số hành vi, đánh giá, cách cư xử và tiếp cận sự vật cơ bản, bởi ‘thái độ’, corde esse cum mundo [hướng tâm hồn hòa hợp với thế giới]. Habitores mundi là dilectores mundi [những người hưởng thụ thế giới], amatores vel impi; vel carnales [những kẻ đam mê thế tục vô đạo/bất kính, hoặc sống theo bản năng xác thịt]. Mundus non dicunturjusti, quia licet carne in eo habitent, corde cum [tr.174] deo sunt (Opera, ed. Migne, tom. IV; 1842) [Người công chính không được nói đến như kẻ trần thế, bởi vì mặc dù thể xác họ có thể sống trong thế gian, nhưng tâm hồn họ lại ở cùng Thiên Chúa]. Ở đây, ‘thế gian’ rõ ràng là thuật ngữ chỉ cách cư xử xa-rời-Chúa hướng đến các hiện hữu mà con người tồn tại. Như vậy, ‘thế gian’ là 1) thuật ngữ chung chỉ cộng đồng nhân loại sống theo một cách thức và phương tiện nhất định, 2) chủ yếu là phương thức tồn tại xác định, trong đó và vì nó mà tất cả mọi hiện hữu đều tự trình hiện bằng sự đánh giá và bối cảnh xác định. Nói chung, thế giới/gian là cái ‘cách thức’, không phải cái ‘cái gì’.
Tương tự như vậy đối với Thomas Aquinas, thế giới/gian có nghĩa tương đương với universum tất cả mọi người, tất cả mọi thứ, toàn bộ thế giới, universitas creaturarum vũ trụ của muôn loài. Nhưng nó cũng tương đương với saeculum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantur (‘con cái của thế gian’), [thời đại insofar as the term ‘thế gian’ chỉ những người yêu thế gian]. Mundanus [thế tục] tương đương với saecularis [thế tục], thế tục về thái độ, trái ngược với spiritualis [tâm linh]. Do đó xuất hiện thuật ngữ astutia mundana, sự khôn ngoan thế tục, sự xảo quyệt của những người có thái độ thế tục. Phần sau sẽ cho thấy ý nghĩa của khái niệm mundus trong siêu hình học hiện đại. Siêu hình học được chia thành metaphysica generalis Siêu hình học Tổng quát và metaphysica specialis Siêu hình học Chuyên biệt, trong đó metaphysica specialis lại được chia thành cosmologia Vũ trụ học, psychologia Tâm lý học và theologia Thần học.
[Ghi chú về: saeculum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantu: [36557] Iª-IIae q. 72 a. 3 arg. 3 Praeterea, Augustinus, super illud Psalmi, incensa igni et suffossa, dicit quod omne peccatum est ex timore male humiliante, vel ex amore male inflammante. Dicitur etiam I Ioan. II, quod omne quod est in mundo, aut est concupiscentia carnis, aut concupiscentia oculorum, aut superbia vitae, dicitur autem aliquid esse in mundo, propter peccatum, secundum quod mundi nomine amatores mundi significantur, ut Augustinus dicit, super Ioan. Gregorius etiam, XXXI Moral., distinguit omnia peccata secundum septem vitia capitalia. Omnes autem huiusmodi divisiones respiciunt causas peccatorum. Ergo videtur quod peccata differant specie secundum diversitatem causarum.
Luận điểm 3: Hơn nữa, Thánh Augustinô, khi bình luận về “Cây nho ấy bị đốt lửa, bị chặt phá” trong Thi thiên 80: 8-19, có nói rằng mọi tội lỗi đều do nỗi sợ hãi gây ra sự khiêm nhường giả tạo, hoặc do tình yêu khơi dậy lòng nhiệt thành quá mức. Tân ước Giăng 2:16 chép rằng: Vì mọi sự trong thế-gian, như sự mê-tham của xác-thịt, mê-tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế-gian mà ra. Giờ đây, người ta nói rằng có một điều gì đó ở trong thế gian là do tội lỗi, bởi vì thế gian biểu thị những kẻ mê tham thế tục, như Thánh Augustinô đã nhận xét (Luận văn ii trong Giăng). Thánh Gregory cũng vậy (Luân lý 31, 17), phân biệt tất cả các tội lỗi theo bảy nguyên nhân chính. Tất cả những sự phân chia này đều đề cập đến nguyên nhân của tội lỗi. Do đó, dường như, tội lỗi khác nhau tùy theo sự đa dạng của các nguyên nhân của chúng. [Ghi chú thêm: Vì Sứ đồ đã nói rất rõ ràng trong Galatians 5:19 -21: 19 Vả các việc làm của xác-thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian-dâm, ô-uế, luông-tuồng, 20 thờ hình-tượng, phù phép, thù-oán, tranh-đấu, ghen-ghét, buồn-giận, cãi-lẫy, bất-bình, bè-đảng, 21 ganh-gổ, say-sưa, mê ăn-uống, cùng các sự khác giống như vậy. (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Tân ước, tr. 234)- HHN]
[Luận điểm 3: Hơn nữa, Thánh Augustinô, khi bình luận về “Cây nho ấy bị đốt lửa, bị chặt phá” trong Thi thiên 80: 8-19, chép rằng: 8. Từ Ê dip tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra rồi trồng cây ấy; 9 Cũng sở đất cho nó, nó bèn châm rễ và bò đầy đất. 10 Các núi bị bóng nó che phủ, và các nhành nó giống như cây hương-nam của Đức Chúa Trời. 11 Các nhành nó gie ra đến biển và chồi nó lan đến sông. 12 Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó? 13 Heo rừng cắn-phá nó, Và các thú đồng ăn nó. 14 Đức Chúa Trời vạn-quân ôi! Xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống đoái xem, và thăm-viếng cây nho này, 15 Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình. 16 Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở-trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư-mất. 17 Nguyện tay Chúa phù-hộ người của tay hữu Chúa, tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình: 18 Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu-khẩn danh Chúa.” (Bản dịch Kinh thánh Cựu ước và Tân ước – Vietnamese 53V-UBS-1990-18, 1M Printed in Korea; Bản Cựu ước, tr. 695-696)- HHN]
[Ghi chú về bối cảnh ẩn dụ Cây Nho của Đức Chúa Trời Trong Thi Thiên 80, dân Y-sơ-ra-ên được mô tả như một cây nho được Đức Chúa Trời bứng từ Ai Cập và trồng tại vùng đất hứa. Tuy nhiên, do tội lỗi và sự quay lưng của dân chúng, Đức Chúa Trời đã cho phép các kẻ thù xâm lược tàn phá cây nho này. Cụm từ 80:16 ‘Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt phá’ mô tả tình cảnh hoang tàn này: bị lửa thiêu, ám chỉ cơn thịnh nộ của Chúa, sự thanh tẩy bằng lửa, hoặc những thử thách, bắt bớ dữ dội từ các đế quốc ngoại giáo (như Babylon hay La Mã); bị chặt phá, ám chỉ sự sụp đổ của đền thờ, sự sỉ nhục, và việc thành Giê-ru-sa-ên bị san bằng thành đống đổ nát; Góc nhìn giải nghĩa của Thánh Augustine trong tác phẩm Chú giải các Thánh Vịnh, đã tiến thêm một bước, áp dụng văn cảnh này vào bức tranh rộng lớn của Hội Thánh và Đấng Christ, đó là sự thanh luyện qua đau khổ; Augustine coi ngọn lửa thiêu đốt và sự tàn phá này là hình ảnh tượng trưng cho sự thanh tẩy mà Hội Thánh phải trải qua trên thế gian; dù đau đớn, nhưng cuộc bách hại và thử thách này lại chính là phương tiện mà Chúa Trời dùng để làm lộ ra đức tin chân chính và đốt cháy đi những thứ tội lỗi, rơm rác thuộc trần gian; .Hình ảnh về con người mang vác: Đi liền với những câu này là lời kêu gọi hướng về "Người ở bên tay phải Chúa" và "Con Người" (được Augustine chú giải trực tiếp là Chúa Giê-xu Christ). Dù cây nho của Hội Thánh có bị thiêu đốt hay tàn phá đến mức nào, sức mạnh cứu rỗi sẽ được đặt lên Đấng Christ, Đấng đã được Chúa Cha làm cho mạnh mẽ để bảo vệ và khôi phục dân Ngài. HHN]
Định nghĩa về vũ trụ học theo Baumgarten (Metaphysia §351) là: Cosmologia generalis est scientia praedicatorum mundi generalium [Vũ trụ học tổng quát là khoa học về các thuộc tính tổng quát của thế giới]. Ông định nghĩa Mundus như sau (Ibid, §354): Mundus (universum, πᾱν) est series (multitudo, totum) actualium finitorum, quae non est pars alterius. ‘Thế giới (toàn thể các thực thể) là chuỗi (đa dạng, toàn thể) của những sự vật hữu hạn hiện hữu, chuỗi mà bản thân nó không phải là một phần của chuỗi khác: Trong định nghĩa gượng ép này, tất cả các đặc điểm xác định đều bị lẫn lộn và gộp lại với nhau theo nghĩa hời hợt của một phép cộng. Thế giới đơn giản chỉ là tổng của những gì thực sự tồn tại. Do đó, những sự phân biệt mà thời cổ đại sở hữu ở đây hoàn toàn bị mất đi. Kant là người đầu tiên đề cập đến những sự phân biệt thiết yếu.
Theo Kant, ‘thế giới’ được hiểu khá rõ ràng là một cách thức, một ‘toàn thể tính, theo nghĩa siêu hình học-bản thể luận. Điều này được tìm thấy trong 1) những nhận xét của ông về Baumgarten, 2) sự phân biệt giữa thế giới và tự nhiên, 3) cái cách ông chia triết học thành các quan niệm hàn lâm và thế tục. 1) Từ những ghi chú bên lề của Kant về Siêu hình học của Baumgarten, chúng ta tìm thấy trong ghi chú số 4085 (ấn bản Akademie, tập XVII - bản thảo còn lại, tập IV): “Ý niệm về thế giới không phải là ngẫu nhiên (mà [tr.175] thực sự là một khái niệm cần thiết). Vì cũng như tôi phải hình dung một cách hữu hạn về một bộ phận không xa hơn một tổng thể (mà trong đó tổng thể tính được hình dung), thì tôi cũng phải hình dung về một tổng thể không phải là một bộ phận.” Chúng ta nhất thiết phải có một quan niệm về thế giới chừng nào chúng ta còn nghĩ về một tổng thể; nhưng ở đây Kant không đưa ra thêm lời biện minh nào về lý do tại sao chúng ta phải nghĩ về một tổng thể. Trong #4329, chúng ta đọc: “Thế giới là hữu hạn bởi vì nó là một tổng thể của các thực thể [Wesen] hạn chế lẫn nhau,” và trong #4521: “Khái niệm hiện tại về thế giới phục vụ nhiều hơn cho việc tổ chức ý tưởng về một tổng thể mang tính thực thể và biệt lập (do đó là một quan niệm bản thể học về thế giới) hơn là để chứng minh sự tồn tại của bất kỳ nguyên nhân chắc chắn nào:” #4522: “Thế giới không thể là một phần của một tổng thể khác (nguyên thủy hơn) là thế giới trong sự lý giải siêu nghiệm. Thế giới không phải là một phần của một tổng thể thực sự là thế giới bằng việc lý giải vật lý. Bởi vì cái khả thể được phân biệt với cái thực sự chỉ khi nào, bằng cái khả thể, các điều kiện [conditiones] không được xem xét bằng sự xác định đầy đủ của chúng, do đó một thế giới tổng thể không có điều kiện nào khác ngoài chính nó trong bản chất tuyệt đối cần thiết của nó thì cũng không có giới hạn nào khác đối với hiện thực ngoài các điều kiện khả tính nội tại. Theo cách hiểu này, từ một thế giới, người ta có thể suy ra một nguyên nhân duy nhất cùng tính đầy đủ hoàn toàn của nó, và xa hơn nữa là suy ra cái nhất tính của thế giới này. Nhưng từ một thế giới không phải là vũ trụ tuyệt đối [Weltall], không thể rút ra những suy luận như vậy nữa, giống như người ta thường có thể làm từ một composito substantiali [hợp chất thực thể]. Hữu hạn từ một multitudo rerum jinitarum vô số sự vật hữu hạn đơn thuần cũng không hơn gì từ một jinito [hữu hạn] duy nhất.
Quan niệm của Kant về thế giới trở nên đặc biệt rõ ràng trong nhận xét cuối cùng ở trên, nhắm vào siêu hình học lý thuyết giáo điều. Thế giới không chỉ có nghĩa là toàn thể, chẳng hạn như toàn thể của một tập hợp cụ thể các sự vật tồn tại về mặt bản thể, sao cho thế giới chỉ vươn tới phạm vi của toàn thể duy nhất các thực thể hiện hữu. Nhưng thế giới chính là toàn thể, tính phổ quát của nó được xác định bởi toàn bộ các khả tính nội tại. Như vậy, Kant đã vượt ra ngoài khái niệm bản thể về thế giới như một chuỗi các thực thể hữu hạn (series actualium jinitorum) để đến một quan niệm siêu nghiệm. Đây cũng là công trình mang tính thực chứng và nội dung siêu hình của phép biện chứng siêu nghiệm của Kant. Chỉ từ một quan niệm như vậy, chúng ta mới có thể suy ra một nguyên nhân tuyệt đối, nếu suy luận này được cho là có ý nghĩa. Tuy nhiên, quan niệm siêu nghiệm về thế giới này là một ý niệm, và do đó suy luận về bản chất là không thể. Một thực tính không thể được suy ra từ một cái gì đó khả thể, ngay cả từ toàn thể tính của các khả tính, mà chỉ có thể suy ra ý niệm về một cơ sở tuyệt đối: lý tưởng siêu nghiệm.
________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
