Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
IV. HỮU-THỂ-TRONG-THẾ-GIỚI NHƯ LÀ HỮU-THỂ-VỚI VÀ HỮU-THỂ-CỦA-AI-ĐÓ. CÁI ‘HỌ’
A. Cấu thành Hiện sinh của cái ‘Ở-đó’
31. Hữu-thể-ở-đó với tư cách Hiểu biết
[Tr.184] Hiểu biết là cái Hữu thể hiện sinh thuộc về Hữu-thể-khả-năng của chính Dasein; và nó tồn tại theo cách thức mà trong đó, cái Hữu thể này tự bộc lộ những gì mà Hữu thể của nó có khả năng thực hiện.1 [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng, thường được diễn giải là ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ hay khả năng hiện thực hóa tiềm năng của chính mình: i) Khái niệm này cho thấy Dasein tồn tại người được định nghĩa bởi những gì nó có thể trở thành, thay vì bởi một tập hợp các đặc điểm cố định, tĩnh tại. Seinkönnen nghĩa đen là ‘có thể hiện hữu’ hay ‘có-thể-là’, biểu thị trạng thái cơ bản của Dasein là luôn phóng chiếu chính mình vào các khả tính trong tương lai; ii) Möglichkeit Khả tính - Heidegger không xem đây chỉ là một phạm trù logic đơn thuần, mà là một cách thức chủ động, mang tính bản thể luận của tồn tại; iii) Entwurf Sự phóng chiếu - quá trình chủ động định hình Seinkönnen Hữu-thể-khả-năng của chính mình; iv) Các khía cạnh chính gồm Tương lai mở - Dasein không bao giờ là một thực thể hoàn tất; nó luôn hiện hữu như một tập hợp các tiềm năng mở; Tính chân thực - Lựa chọn các khả tính của mình một cách đích thực thay vì sao chép xã hội.-HHN] Chúng ta cần nắm bắt chính xác hơn cấu trúc của yếu tố hiện sinh này. Với tư cách là bộc lộ, hiểu biết luôn gắn liền với toàn bộ trạng thái cơ bản của Hữu-thể-trong-thế-giới. Là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, bất kỳ Hữu-thể-trong nào cũng đều là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới. Không chỉ thế giới—với tư cách là thế giới—được bộc lộ như là ý nghĩa khả thể, mà khi cái gì đó ở-trong-thế-giới được tự giải phóng, thì thực thể ấy cũng được giải phóng cho những khả tính của chính nó. Cái sẵn-có-để-dùng được khám phá theo đúng nghĩa thông qua tính hữu dụng, khả năng sử dụng và cả tính gây hại của nó. Tổng thể tính các can dự được phơi bày như một chỉnh thể phạm trù về sự kết nối khả thể của cái sẵn-có-để-dùng. Tuy nhiên, ngay cả ‘nhất tính’ của cái đa tạp hiện-diện-vô-tri—của Tự nhiên—cũng chỉ có thể được khám phá nếu một khả tính của nó đã được bộc lộ. Liệu có phải ngẫu nhiên không khi câu hỏi về Hữu thể của Tự nhiên lại nhắm vào ‘các điều kiện khả tính của nó’? Cách truy vấn như vậy dựa trên cơ sở nào? Khi đối diện với truy vấn này, chúng ta không thể bỏ qua câu hỏi: tại sao những thực thể không mang đặc tính của Dasein lại được hiểu trong Hữu thể của chúng, nếu chúng được bộc lộ dựa trên các điều kiện khả tính của chúng? Kant đã giả định một loại vấn đề như vậy, và có lẽ là đúng đắn. Nhưng bản thân giả định này lại là một cái gì đó không thể để lại mà không chứng minh tính xác đáng của nó.
Tại sao hiểu biết—bất kể các chiều kích cốt yếu của những gì có thể được bộc lộ trong đó là gì—lại luôn hướng tới các khả tính? Đó là vì hiểu biết mang trong mình cấu trúc hiện sinh [tr.185] mà chúng ta gọi là ‘phóng chiếu’.2 Với tính bản nguyên ngang bằng nhau, hiểu biết phóng chiếu cái Hữu thể của Dasein lên cả cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ lẫn ý nghĩa—với tư cách là cái Weltlichkeit thế-gian-tính của cái thế giới hiện thời của nó. [Chen ngang: Weltlichkeit/Worldhood - Đối với Martin Heidegger, thể gian tính là cấu trúc nền tảng của các mối quan hệ, bối cảnh thực tiễn và các ý nghĩa—những yếu tố làm cho hiện hữu của con người trở nên khả thể—chứ không đơn thuần là một không gian vật lý chứa đựng các sự vật. 1) Ý nghĩa cốt lõi của Weltlichkeit Thể gian tính – đó không phải là một địa điểm vật lý - Thế giới không phải là một chiếc hộp lớn hay tập hợp các vật thể vật lý nằm rải rác trong không gian. 2) Nó là: i) Một mạng lưới các mối quan hệ sống động của những can dự/ gắn kết, công năng và mục đích thực tiễn mà Dasein/con người tương tác và định hướng mỗi ngày; ii) Một cấu trúc hiện sinh - Thế gian tính chính là ‘điều kiện’ cho phép sự vật trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta và giúp ta nhận diện được các sự vật đó là gì; 3) Các thành phần chính của tính thế giới bao gồm: i) Zuhandenheit Cái sẵn-có-để-dùng: Trước hết, ta tiếp cận các vật dụng xung quanh như những công cụ thực tiễn (ví dụ: cái búa hay cây bút) phục vụ các công việc cụ thể, chứ không phải như những vật thể khoa học vô tri; ii) Biểu nghĩa và quy chiếu - Mọi thứ trong môi trường đều gợi mở hoặc hướng tới những điều khác trong một mạng lưới công năng liền mạch (ví dụ: tay nắm cửa gợi ý hành động mở cửa, hành động này lại dẫn đến việc bước vào phòng); iii). Sự hòa nhập vào thế giới - Con người không quan sát thế giới từ bên ngoài; chúng ta luôn luôn đã gắn kết, can dự và cảm thấy thân thuộc ngay trong chính những bối cảnh thực tiễn này.- HHN]
Đặc tính của hiểu biết với tư cách phóng chiếu đóng vai trò cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế-giới, xét về phương diện bộc lộ trạng thái của Hữu thể cấu thành hiện sinh mà nhờ nó cái ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể’ thực tại có được không gian hoạt động của nó. Và với tư cách bị ném vào, Dasein bị ném vào một loại Hữu thể mà ta gọi là ‘phóng chiếu’. Phóng chiếu không liên quan gì đến việc định hướng bản thân theo một kế hoạch đã được suy tính kỹ lưỡng, hay việc Dasein sắp đặt Hữu thể của mình dựa trên kế hoạch đó. Trái lại, bất kỳ Dasein nào, với tư cách là Dasein, đều đã tự phóng chiếu chính mình; và chừng nào còn hiện hữu, nó vẫn còn tiếp tục phóng chiếu. Chừng nào còn hiện hữu, Dasein luôn thấu hiểu bản thân và sẽ luôn hiểu rõ bản thân trong khuôn khổ các khả tính. Hơn nữa, đặc tính của hiểu biết với tư cách phóng chiếu nằm ở chỗ: hiểu biết đó không nắm bắt theo chủ đề cái mà nó phóng chiếu tới—tức là các khả tính. Việc nắm bắt theo cách đó sẽ tước khỏi cái được phóng chiếu chính đặc tính của nó với tư cách là một khả tính, và quy giản nó thành những nội dung có sẵn trong tâm trí; trong khi đó, phóng chiếu, bằng hành động ‘ném’, lại tự thân ném ra phía trước chính cái khả tính ấy với tư cách khả tính, và để cho nó hiện hữu theo đúng nghĩa.3 Với tư cách phóng chiếu, hiểu biết chính là loại Hữu thể của Dasein, trong đó nó hiện hữu các khả tính của mình với tư cách là các khả tính. Vì loại Hữu thể vốn được cấu thành bởi yếu tố cấu trúc hiện sinh của phóng chiếu, nên Dasein luôn ‘hơn hẳn’ cái mà nó thực tế đang hiện hữu—nếu ta giả định rằng có thể kiểm kê nó như một cái-gì-đó-vô-tri rồi liệt kê các nội dung Hữu thể của nó, và giả định rằng ta có thể làm được điều đó. Tuy nhiên, Dasein không gì khác hơn cái mà nó thực sự hiện hữu, bởi vì tiềm-năng-cho-Hữu-thể lại cốt yếu thuộc về thực tính của nó. Song, với tư cách là một Hữu-thể-khả-năng, Dasein cũng luôn là một cái gì đó; nghĩa là, xét về mặt hiện sinh, nó chính là [tr.186] cái mà trong tiềm-năng-Hữu-thể của mình, nó chưa thực sự trở thành. Chỉ vì Hữu thể của cái ‘ở đó’ được cấu thành thông qua hiểu biết và thông qua đặc tính của hiểu biết với tư cách phóng chiếu, chỉ vì nó là cái mà nó sẽ trở thành (hoặc không trở thành), nên nó mới có thể tự nhủ ‘Hãy trở thành chính mình’, và nói điều đó với sự thấu hiểu.
Phóng chiếu luôn gắn liền với bộc lộ trọn vẹn của Hữu-thể-trong-thế-giới; với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, hiểu biết tự mang trong mình các khả tính—những khả tính được phác thảo từ trước trong phạm vi những gì có thể bộc lộ một cách cốt yếu ở nó. Hiểu biết có thể hướng trọng tâm vào trạng thái được bộc lộ của thế giới; nghĩa là, Dasein có thể—trước hết và phần lớn là—hiểu chính mình thông qua thế giới của mình. Hoặc giả, hiểu biết lại hướng trọng tâm vào cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’; nghĩa là, Dasein tồn tại như chính bản thân nó. Hiểu biết có thể là đích thực—nảy sinh từ chính Tự ngã của một kẻ nào đó—hoặc là không đích thực. Tiếp đầu ngữ ‘không-‘ trong từ ‘không đích thực’ không có nghĩa là Dasein tự tách rời khỏi Tự ngã và ‘chỉ’ hiểu thế giới. Thế giới thuộc về cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới. Mặt khác, hiểu biết đích thực—cũng như hiểu biết không đích thực—đều có thể là chân thực hoặc không chân thực. Với tư cách là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, hiểu biết hoàn toàn thấm đẫm khả tính. Khi ta hướng về một trong những khả tính cơ bản này của hiểu biết, thì kẻ khác không hề bị gạt sang một bên. Bởi lẽ hiểu biết, trong mọi trường hợp, đều gắn liền với trạng thái bộc lộ trọn vẹn của Dasein với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, nên chuyển hướng này của hiểu biết chính là một biến đổi hiện-sinh của toàn bộ quá trình phóng chiếu. Khi hiểu biết thế giới, thì cái Hữu-thể-trong cũng luôn được hiểu cùng với nó, trong khi hiểu biết về tồn tại theo đúng nghĩa lại luôn là hiểu biết về thế giới.
Với tư cách là Dasein thực tại, bất kỳ Dasein nào cũng đã chuyển hướng tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình thành một khả tính hiểu biết. Trong đặc tính phóng chiếu của nó, hiểu biết góp phần tạo nên—về mặt hiện sinh—cái mà ta gọi là Sicht ‘thị lực’ của Dasein. Cùng với trạng thái bộc lộ của cái ‘ở đó’, tầm nhìn này hiện hữu như một existenzial seiende yếu tố hiện sinh; và Dasein là tầm nhìn này về phương diện đồng bản nguyên trong mỗi cách thức Hữu thể cơ bản của nó mà ta đã ghi nhận: với tư cách là Umsicht sự quan sát bao quát trong mối bận tâm, với tư cách Rucksicht cân nhắc với thái độ solicitude ân cần đến kẻ khác, và như là tầm nhìn hướng về bản thân Hữu thể —điều mà vì nó, bất kỳ Dasein nào cũng hiện hữu như chính nó. [Chen ngang: Umsicht của Heidegger thường được dịch là ‘quan sát bao quát’ hay ‘tầm nhìn xa thực tiễn’ là cách chúng ta quan sát và thấu hiểu môi trường xung quanh trong đời sống thường nhật khi sử dụng công cụ và thực hiện mọi công việc. Đây không phải là kiểu quan sát mang tính khoa học và tách biệt, mà là sự nhận thức đầy gắn kết và chuyên chú về thế giới thực tiễn. Các khía cạnh chính của Umsicht: i) Nhìn nhận mang tính thực tiễn - đó là sự kết hợp giữa [Um-] hành động ‘nhìn quanh’ và Sicht ‘thị lực/tầm nhìn/sự thấy’. Ta nhận biết sự vật thông qua việc biết cách sử dụng chúng; chẳng hạn, ta nhìn nhận chiếc búa như một vật dụng để đóng đinh; ii). Trạng thái Zuhanden ‘sẵn có để dùng’ - khái niệm này vận hành trong các tương tác thường ngày của chúng ta với Zuhandenheit những công cụ hữu dụng; iii). Chúng ta định hướng trong môi trường sống một cách tự nhiên, không cần phải tách mình ra để phân tích các vật thể như những hình khối trừu tượng; iv). Không mang tính lý thuyết - nó đối lập với sự chiêm nghiệm thuần túy mang tính lý thuyết. Khoa học nhìn nhận sự vật như những thực thể nằm yên, tách biệt khỏi con người; trong khi đó Umsicht tương tác với sự vật như một phần của quy trình hành động và mạng lưới các mục đích cụ thể. -HHN]. Sicht Thị lực/Tầm nhìn liên hệ chủ yếu và toàn diện đến tồn tại được gọi là ‘tính minh bạch’. Ta chọn thuật ngữ này để chỉ định ‘tri thức về cái Tự ngã’4 theo một nghĩa dễ hiểu, [tr.187] nhằm biểu thị rằng ở đây vấn đề không phải là truy tìm và xem xét theo kiểu tri giác một điểm được gọi là ‘Tự ngã’, mà là nắm bắt trọn vẹn trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới xuyên suốt tất cả các yếu tố cấu thành thiết yếu của nó, và thực hiện điều đó bằng hiểu biết. Trong quá trình tồn tại, các thực thể chỉ ‘nhìn thấy’ chính mình khi chúng minh bạch với bản thân bằng một đồng bản nguyên tính trong các yếu tố cấu thành tồn tại của chúng: cái Hữu-thể- bên-cạnh thế giới và cái Hữu-thể-với Kẻ khác. Hơn nữa, cái Undurchsichtigkeit tình trạng thiếu minh bạch của Dasein lại không bắt nguồn chủ yếu và duy nhất từ những cú tự-lừa dối mang tính ‘vị kỷ’; nó cũng bắt nguồn từ tình trạng thiếu hiểu thân thuộc vơi thế giới.
Tất nhiên, ta cần phải đề phòng sự hiểu lầm về cách biểu hiện Sicht ‘Thị lực/Tầm nhìn’. Nó tương ứng với Gelichtetheit ‘trạng thái khai quang’ mà ta đã coi là đặc điểm định hình trạng thái bộc lộ của cái ‘ở đó’. ‘Nhìn’ không chỉ có nghĩa là tri giác bằng đôi mắt thể xác, nhưng cũng không có nghĩa là sự nhận thức thuần túy phi giác quan về một cái gì đó mang tính hiện-diện-vô-tri trong chính sự hiện-diện-vô-tri của nó. Khi gán cho ‘thị lực/tầm nhìn’ một ý nghĩa hiện sinh, chúng ta chỉ đơn thuần dựa vào đặc điểm riêng biệt của hành động nhìn: nó cho phép các thực thể nằm trong tầm tiếp cận của nó được bắt gặp một cách không che giấu, đúng như tự thân chúng vậy. Tất nhiên, mọi ‘giác quan’ đều thực hiện điều này trong phạm vi khám phá vốn thuộc về riêng nó. Tuy nhiên, ngay từ đầu, truyền thống triết học đã chủ yếu hướng về ‘cái nhìn’ như một phương thức tiếp cận các thực thể và Hữu thể. Để duy trì mối liên hệ với truyền thống này, chúng ta có thể hình thức hóa ‘cái nhìn’ và ‘hành động nhìn’ thành một thuật ngữ phổ quát nhằm mô tả bất kỳ cách tiếp cận nào đối với các thực thể hoặc Hữu thể—tức là việc tiếp cận nói chung. Bằng cách chỉ ra rằng mọi cái nhìn đều bắt nguồn chủ yếu từ hiểu biết (chẳng hạn, mối bận tâm bao quát chính là hiểu biết dưới dạng tri thức thông thường hay Verständigkeit, chúng ta đã tước bỏ vị thế ưu tiên của Anschauen ‘trực quan thuần túy’; vị thế ưu tiên này vốn tương ứng—về mặt nhận thức—với vị thế ưu tiên của cái Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri trong bản thể luận truyền thống. Cả ‘trực quan’ và ‘tư duy’ đều là những phái sinh của hiểu biết, và là những phái sinh khá xa cách với nguồn gốc của nó. Ngay cả cái Wesensschau ‘trực quan về bản chất’ trong hiện tượng luận cũng bắt nguồn từ hiểu biết mang tính hiện sinh. Chúng ta chỉ có thể đưa ra nhận định về kiểu nhìn này nếu đã đạt được những quan niệm tường minh về Hữu thể và cấu trúc của Hữu thể—chẳng hạn như chỉ có các hiện tượng theo nghĩa hiện tượng học mới đạt được. Trạng thái bộc lộ ấy của cái ‘ở đó’ trong hiểu biết tự nó là một cách thức tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein. Trong cách thức mà Hữu thể của Dasein được phóng chiếu lên cả cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ lẫn ý nghĩa (cái thế giới), ẩn chứa trạng thái bộc lộ của Hữu thể nói chung. Sự hiểu về Hữu thể đã được mặc nhiên thừa nhận trong quá trình phóng chiếu lên các khả tính. Khi phóng chiếu, Hữu thể được thấu hiểu, mặc dù chưa được quan niệm theo nghĩa bản thể luận. Một [tr.188] thực thể mà loại Hữu thể của nó là sự phóng chiếu thiết yếu của Hữu-thể-trong-thế-giới thì có được sự hiểu biết về Hữu thể, và hiểu biết này đóng vai trò cấu thành nên Hữu thể của chính nó. Cái trước đó được khẳng định giáo điềuviii nay được làm sáng tỏ dựa trên Cấu thành của Hữu thể, trong đó Dasein, với tư cách hiểu biết, chính là cái ‘ở đó’ của nó. Ý nghĩa hiện sinh của hiểu biết về Hữu thể này không thể được làm sáng tỏ thỏa đáng trong phạm vi nghiên cứu này, trừ khi dựa trên cơ sở Diễn giải Hữu thể theo Thời gian.
Với tư cách là các cấu trúc hiện sinh, tâm thế và hiểu biết đặc trưng cho trạng thái bộc lộ bản nguyên của Hữu-thể-trong-thế-giới. Thông qua việc mang một tâm trạng, Dasein ‘nhìn thấy’ các khả tính mà nó hiện hữu trong khuôn khổ đó. Trong bộc lộ mang tính phóng chiếu của các khả tính ấy, bao giờ nó cũng đã ở trong một tâm trạng nhất định. Sự phóng chiếu tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính nó đã được phó thác cho cái Faktizität der Geworfenheit Thực tính Bị ném vào cái ‘ở đó’. [Chen ngang: die Faktizität der Geworfenheit cái ‘Thực tính Bị ném vào’ là một khái niệm cốt lõi trong triết học hiện sinh của Martin Heidegger diễn tả việc con người thấy mình đã bị ‘ném vào’ một thế giới có sẵn với những điều kiện cố định—như sự chào đời, văn hóa và lịch sử—mà ta không hề lựa chọn hay tạo ra, mà buộc phải chấp nhận và sống trong đó. Các ý tưởng cốt lõi của khái niệm: i) Geworfenheit Tình trạng bị ném vào tồn tại mà không hề có sự yêu cầu hay lựa chọn về thời gian, địa điểm hay hoàn cảnh chào đời; ii) Faktizität Thực tính – Cái thực tại cụ thể, bất biến về hoàn cảnh của ta, bao gồm các giới hạn thể chất, xuất thân xã hội và những sự kiện trong quá khứ; iii). Không Nguyên do Tối hậu - Chúng ta không chọn điểm xuất phát cho mình, nghĩa là tồn tại của ta mang tính chất thiếu vắng một nền tảng cố định ngay từ gốc rễ, và ta phải tự định hướng trong tình trạng đó; iv). Ý nghĩa đối với đời sống con người - Giới hạn và Tự do – Tình trạng ‘bị ném vào’ vừa hạn chế ta bằng cách đặt ra các ranh giới, vừa cho phép ta hành động và đưa ra lựa chọn trong phạm vi những giới hạn đó; v). Trách nhiệm - Vì nhận thức được mình hiện diện ở đây mà không có sẵn một cuốn cẩm nang hướng dẫn, nên buộc ta phải làm chủ cuộc đời và tự kiến tạo tương lai bất chấp những điều kiện đã được định sẵn này.- HHN]. Chẳng phải Hữu thể của Dasein đã trở nên bí ẩn hơn sao, khi mà giờ đây chúng ta đã lý giải cái cấu thành hiện sinh Hữu thể của cái ‘ở đó’ theo nghĩa phóng chiếu trong trạng thái bị ném vào? Quả thực là như vậy. Trước hết, chúng ta phải để cho cái đặc tính đầy bí ẩn của Hữu thể ấy bộc lộ, ngay cả khi tất cả những gì ta có thể làm chỉ là đi đến chỗ hoàn toàn bế tắc trong việc ‘giải mã’ nó, và đặt lại câu hỏi về cái Hữu thể của Hữu-thể-trong-thế-giới vốn mang tính bị ném vào và tính phóng chiếu. Tuy nhiên, ngay bước đầu, dù chỉ là để làm bộc lộ loại Hữu thể thường nhật—trong đó hiểu biết luôn gắn liền với một tâm thế—và nếu ta thực hiện điều đó về mặt hiện tượng theo cách thức tương xứng với trạng thái bộc lộ trọn vẹn của cái ‘ở đó’, thì chúng ta buộc phải triển khai các cấu trúc hiện sinh này một cách cụ thể.
32. Hiểu biết và Diễn giải6
Với tư cách hiểu biết, Dasein phóng chiếu Hữu thể của mình vào các khả tính. Hữu-thể-hướng-tới-các-khả-tính mang tính hiểu biết này tự nó là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, và sở dĩ như vậy là nhờ cách mà các khả tính này—khi được bộc lộ—tác động ngược trở lại Dasein. Hành động phóng chiếu của hiểu biết mang trong mình một khả tính riêng – cái khả tính tự phát triển. Chúng ta gọi sự phát triển của hiểu biết này là ‘Diễn giải’.7 Trong đó, hiểu biết chiếm lĩnh—một cách thấu đáo—những gì mà nó hiểu biết. Khi diễn giải, hiểu biết không trở thành một cái gì đó khác; nó trở thành chính nó. Diễn giải như vậy có nền tảng hiện sinh nằm ở hiểu biết; hiểu biết không nảy sinh từ diễn giải. Diễn giải cũng không phải là việc thu thập thông tin về những gì [tr.189] được thấu hiểu; đúng hơn, nó là cách triển khai các khả tính đã được phóng chiếu trong hiểu biết. Theo mạch phân tích sơ bộ về Dasein thường nhật này, chúng ta sẽ theo đuổi hiện tượng diễn giải trong hiểu biết thế giới—tức là trong hiểu biết không đích thực, và thực sự ở phương thức tính đích thực của nó. Xét về mặt ý nghĩa được bộc lộ trong hiểu biết thế giới, cái Hữu-thể-bên-cạnh cái sẵn-có-để-dùng sẽ tự hiểu về bất cứ can dự nào có thể có khi được bắt gặp.8 Việc nói rằng ‘mối quan tâm bao quát cẩn trọng khám phá ra’ nghĩa là ‘thế giới’—vốn đã được thấu hiểu—nay cần được diễn giải. Cái sẵn-có-để-dùng hiện ra một cách tường minh trong tầm nhìn thấu hiểu. Mọi công việc chuẩn bị, sắp đặt, sửa chữa, cải thiện hay hoàn thiện đều được thực hiện theo cách sau: chúng ta phân tách9 trong cái ‘để-mà’ vốn được quan tâm bao quát cẩn trọng sẵn-có-để-dùng, và chúng ta tự quan tâm đến nó tùy theo những gì lộ diện qua quá trình này. Thứ được phân tách bằng cái nhìn bao quát xét theo cái ‘để-mà’ của nó—và được phân tách đúng như thế, tức là được thấu hiểu một cách tường minh—mang cấu trúc của cái gì đó như là cái gì đó. Câu hỏi mang tính bao quát về sự vật sẵn-có-để-dùng cụ thể này là gì sẽ nhận được câu trả lời mang tính diễn giải bao quát là nó dùng cho mục đích này hay mục đích kia.
Nếu chúng ta nói rõ mục đích của nó là gì, thì chúng ta không chỉ đơn thuần gọi tên một vật gì đó; nhưng cái được chỉ định lại được hiểu như là cái mà theo đó ta tiếp nhận sự vật đang được đề cập. Cái được bộc lộ trong hiểu biết—tức là cái được hiểu—vốn đã có thể tiếp cận theo cách mà cái ‘như là cái’ của nó có thể được làm cho nổi bật một cách tường minh. Yếu tố ‘như là cái’ này tạo nên cấu trúc của tính tường minh của một cái gì đó đã được thấu hiểu. Nó cấu thành nên việc Diễn giải. Khi tương tác với cái sẵn-có-để-dùng về phương diện môi trường bằng cách diễn giải chúng với cái nhìn bao quát cẩn trọng, ta ‘nhìn thấy’ nó như là cái bàn, cánh cửa, cỗ xe hay cây cầu; song những gì đã được diễn giải như vậy không nhất thiết phải bị tách rời ra thông qua một khẳng định vốn dứt khoát mô tả nó. Bất kỳ cái nhìn thuần túy nào—ở giai đoạn tiền-phán-đoán—hướng về cái sẵn-có-để-dùng, thì trong tự thân nó đã là một cái gì đó thấu hiểu và diễn giải. Nhưng chẳng phải sự vắng mặt của cái ‘như là’ ấy lại chính là đặc điểm tạo nên ‘tính thuần túy’ của bất kỳ tri giác thuần túy nào của sự vật hay sao? Mỗi khi nhìn bằng Sicht Tầm nhìn này, ta đã thực hiện hành vi đó về phương diện thấu hiểu và diễn giải rồi. Ngay trong khoảnh khắc chỉ đơn thuần bắt gặp một sự vật, ta đã hiểu nó trong mối tương quan với một tổng thể các can dự; và tầm nhìn như vậy ẩn chứa trong nó tính tường minh của Verweisung các mối quan hệ quy chiếu (thuộc về cái ‘để-mà’) vốn thuộc về tổng thể tính đó.
[Tr.190] Cái được hiểu sẽ được Khớp nối khi thực thể cần thấu hiểu được đưa lại gần ta thông qua sự diễn giải, với điểm tựa là cấu trúc ‘cái gì đó như là cái gì đó’; và sự Khớp-nối này đã hiện diện ngay cả trước khi ta đưa ra bất kỳ lời khẳng định mang tính chủ đề nào về nó. Trong một lời khẳng định như vậy, cái ‘như là’ không phải mới xuất hiện lần đầu; nó chỉ được diễn đạt lần đầu tiên mà thôi, và điều này chỉ khả thể khi sự vật đã hiện diện trước mắt ta như một thứ có thể diễn đạt được.10 Cái sự thật là khi nhìn vào một cái gì đó mà tính tường minh của lời khẳng định có thể vắng mặt, không cho phép ta phủ nhận sự hiện diện của một sự diễn giải mang tính Khớp nối trong cái nhìn thuần túy như vậy, và do đó, phủ nhận sự tồn tại của cái cấu trúc ‘như là’ trong đó. Khi ta tương tác với bất kỳ sự vật nào, thì cái nhìn thuần túy hướng về những Sự-vật gần gũi nhất với ta đã mang trong mình cái cấu trúc của sự diễn giải; và điều này diễn ra theo một phương thức nguyên thủy đến mức, việc cố gắng nắm bắt một sự vật sao cho tách biệt khỏi cấu trúc ‘như là’ ấy—theo một nghĩa nào đó—lại đòi hỏi một sự điều chỉnh nhất định. Khi ta chỉ đơn thuần nhìn chằm chằm vào một sự vật, thì việc sự vật ấy hiện-diện-trước-mắt- ta lại biểu lộ sự thất bại trong việc thấu hiểu nó. Việc nắm bắt tách rời khỏi cái ‘như là’ này chính là khiếm khuyết của lối nhìn mà trong đó ta thuần túy thấu hiểu. Nó không phải là trạng thái nguyên thủy hơn so với lối nhìn kia, mà trái lại, nó bắt nguồn từ chính lối nhìn đó. Nếu cái ‘như là’ không được diễn đạt ở bình diện ontic thực hữu, thì điều này không được phép khiến ta bỏ qua vai trò của nó như một yếu tố cấu thành nên sự thấu hiểu—một yếu tố mang tính hiện sinh và tiên nghiệm.
Nhưng nếu chúng ta không bao giờ tri giác các thiết bị ‘sẵn-có-để-dùng’ mà không đồng thời thấu hiểu và diễn giải nó, và nếu kiểu tri giác như vậy cho phép ta bắt gặp một sự vật nào đó—với tư cách là một cái gì đó—thông qua quan sát cẩn trọng bao quát, thì liệu điều này có nghĩa là trước tiên ta đã trải nghiệm một sự vật thuần túy ‘hiện-diện-vô-tri’, rồi sau đó mới coi nó là cái cửa hay ngôi nhà hay không? Hiểu như vậy là sai lầm về phương thức đặc thù mà qua đó diễn giải vận hành như là trạng thái bộc lộ. Trong khi diễn giải, có thể nói là ta không hề khoác một ‘ý nghĩa’ lên một sự vật trần trụi đang ‘hiện-diện-vô-tri’, cũng không gán cho nó một giá trị nào đó; trái lại, khi một sự vật trong-thế-giới được bắt gặp theo đúng nghĩa, thì [tr.191] sự vật ấy vốn đã mang trong mình một mối can dự được bộc lộ trong sự thấu hiểu của ta về thế giới, và mối can dự này chính là điều được làm sáng tỏ nhờ diễn giải.11 Cái sẵn-có-để-dùng luôn được thấu hiểu trong khuôn khổ của một tổng thể tính các can dự. Tổng thể tính này không nhất thiết phải được nắm bắt một cách tường minh bằng cách diễn giải mang tính chủ đề. Ngay cả khi đã trải qua diễn giải như vậy, nó vẫn lùi vào thấu hiểu không hề nổi bật so với nền cảnh chung. Và đó chính phương thức tạo nên nền tảng cốt yếu cho mọi diễn giải mang tính quan sát cẩn trọng bao quát trong đời sống thường nhật. Trong mỗi trường hợp, diễn giải này đều dựa trên một cái gì đó mà ta đã có từ trước—tức là trong ‘cái-được-có-trước’.12 [Chen ngang: Thuật ngữ Vorhabe/Vorhaben/ fore-having của Martin Heidegger - nắm bắt trước/ cái có sẵn từ trước - chỉ bối cảnh nền tảng hoặc sự hiểu biết tổng thể mà chúng ta đã sở hữu từ trước khi thực sự cố gắng lý giải hay diễn giải một điều gì đó. Ý tưởng cơ bản: 1) Tôi không bao giờ tiếp cận một sự vật, văn bản hay tình huống với một tâm trí hoàn toàn trống rỗng mà luôn bắt đầu với một nền tảng có sẵn và sự quen thuộc mang tính thực tiễn với thế giới; 2) Là một phần của Vor-Struktur/ Fore-structure được Heidegger giải thích là mọi hiểu biết đều có một Vor-Struktur bao gồm ba phần liên kết với nhau: i) Vorhabe/ Fore-having - Bối cảnh nền tảng và sự quen thuộc thực tiễn tổng thể mà chúng ta đã ‘có’ từ trước; ii) Vorsicht/ Fore-sight - Góc độ, quan điểm hoặc cách nhìn cụ thể mà từ đó ta quan sát sự vật; iii) Vorgriff/ Fore-conception - Các khái niệm, phạm trù hoặc ngôn ngữ có sẵn mà ta dùng để định hình tư duy. Chẳng hạn, khi cầm một chiếc búa lên để sửa ghế, thì Vorhabe/ Fore-having của tôi chính là hiểu biết thực tiễn, có sẵn về toàn bộ thế giới của công việc, công cụ và các nhiệm vụ thường ngày. Tôi không nhìn chiếc búa như một hình thù trừu tượng ngẫu nhiên; tôi đã ‘có sẵn’ bối cảnh thực cho nó ngay trước khi sử dụng.-HHN]. Với tư cách chiếm lĩnh hiểu biết, diễn giải vận hành trong Hữu thể hướng về tổng thể các can dự được hiểu trước—một Hữu thể thấu hiểu. Khi một sự vật được hiểu rõ nhưng vẫn bị che khuất, thì nó sẽ bộc lộ qua chiếm lĩnh; quá trình này luôn diễn ra dưới sự dẫn dắt của một quan điểm, vốn xác định cái liên quan đến cái mà sự vật được thấu hiểu sẽ được diễn giải.
Trong mọi trường hợp, diễn giải luôn dựa trên một cái gì đó mà ta nhìn thấy từ trước—tức là ‘cái-được-nhìn-thấy-trước’. Cái thấy-trước này thực hiện bước ‘phân tách sơ khởi’ đối với những gì đã được ta nắm giữ trong ‘cái-có-trước’, và nó thực hiện điều đó với định hướng về một phương thức diễn giải xác định.13 Bất cứ điều gì đã được thấu hiểu, được nắm giữ trong ‘cái-có-trước’ và được ta hướng tầm nhìn tới theo cách ‘nhìn-thấy-trước’, đều có thể được khái niệm hóa thông qua diễn giải. Bằng phép diễn giải như vậy, cách thức hình dung về thực thể đang được diễn giải có thể được rút ra từ chính thực thể đó, hoặc việc diễn giải có thể ép buộc thực thể ấy vào những khái niệm vốn trái ngược với phương thức Hữu thể của nó. Dù trong trường hợp nào thì diễn giải cũng đã quyết định một cách thức hình dung xác định—dù là dứt khoát hay dè dặt; nó dựa trên một điều gì đó mà ta nắm bắt từ trước—tức là một tiền-khái niệm. Bất cứ khi nào một sự vật được diễn giải như là một cái gì đó, thì diễn giải ấy về cơ bản sẽ dựa trên ‘cái-có-trước’, ‘nhìn-thấy-trước’ và tiền-khái niệm. Diễn giải không bao giờ là hành động nắm bắt [tr.192] một sự vật được trình hiện trước mắt mà không có các tiền-giả định.14 Khi thực hiện một kiểu diễn giải cụ thể—chẳng hạn như diễn giải văn bản một cách chính xác—nếu ta muốn viện dẫn những gì ‘hiện diện ở đó’, thì cái ‘hiện diện ở đó’ không gì khác ngoài Vormeinung tiền-quan niệm—một giả định hiển nhiên, không bàn cãi—của chính kẻ diễn giải. Trong cách tiếp cận mang tính diễn giải, luôn tồn tại một giả định như vậy; đó là điều ‘hiển nhiên’ cùng với chính sự diễn giải—tức là điều đã hiện diện trong cái có trước, nhìn thấy trước và tiền-khái niệm của chúng ta.
Ta phải hình dung bản chất của yếu tố ‘tiền-/có trước’ này như thế nào? Liệu ta đã làm được điều đó khi chỉ nói một cách hình thức rằng đây là một cái gì đó mang tính a priori ‘tiên nghiệm’? Tại sao hiểu biết—điều mà ta đã xác định là một cấu trúc hiện sinh tính cơ bản của Dasein—lại mang cấu trúc này như là của riêng nó? Bất cứ điều gì được diễn giải, với tư cách là một sự vật được diễn giải, đều mang as-structure cấu trúc ‘như là’ [Chen ngang: Martin Heidegger coi Als-Struktur ‘Cấu trúc-như-là’ là phương thức cơ bản mà Dasein hiện hữu người luôn tiếp nhận các sự vật trong thế giới; theo đó, sự vật không hiện ra như những đối tượng biệt lập, mà mang ý nghĩa cụ thể—như là một cái gì đó - ví dụ nhìn nhận một công cụ ‘như là’ cái búa, hay một đám mây ‘như là’ dấu hiệu báo mưa.- HHN] với tư cách là của riêng nó; và điều này liên quan thế nào đến cấu trúc ‘tiền-’? Rõ ràng là hiện tượng cấu trúc ‘như là’ không thể bị phân rã hay chia nhỏ thành từng mảnh. Nhưng liệu điều đó có loại trừ khả năng thực hiện một sự phân tích bản nguyên về nó hay không? Phải chăng ta đành chấp nhận rằng những hiện tượng như vậy là những điều ‘tối hậu’? Khi đó, câu hỏi ‘tại sao?’ vẫn sẽ còn đó. Hay liệu cấu trúc ‘tiền-’ của hiểu biết và cấu trúc ‘như là’ của diễn giải cho thấy một mối liên hệ mang tính hiện-sinh-bản-thể-luận với hiện tượng phóng chiếu hay không? Và liệu hiện tượng này có quy chiếu về một trạng thái bản nguyên trong Hữu thể của Dasein? Trước khi giải đáp những câu hỏi này — vốn chưa được chuẩn bị đầy đủ cho đến thời điểm hiện tại — chúng ta cần xem xét liệu cái đã trở nên hữu hình là ‘tiền-cấu trúc’ của hiểu biết và ‘cấu trúc-như-là’ của diễn giải, tự thân nó có phải đã là một hiện tượng đơn nhất hay không; một hiện tượng được vận dụng rộng rãi trong các vấn đề triết học, mặc dù sự vận dụng phổ biến đó vẫn chưa đạt tới tầm mức bản nguyên tính của việc lý giải mang tính bản thể luận.
Trong phóng chiếu hiểu biết, các thực thể được bộc lộ trong khả tính của chúng. Đặc trưng của khả tính này, trong mỗi trường hợp, đều tương ứng với loại Hữu thể của cái thực thể được hiểu. Các thực thể -trong-thế-giới thường được phóng chiếu lên thế giới—tức là lên một chỉnh thể ý nghĩa—mà các mối liên hệ tham chiếu của nó vốn đã gắn kết với mối bận tâm của Hữu-thể-trong-thế-giới từ trước. Khi các thực thể trong-thế-giới được khám phá cùng với Hữu thể của Dasein—tức là khi bắt đầu được hiểu biết thì chúng có ý nghĩa. Tuy nhiên, cái được hiểu, xét một cách nghiêm ngặt, không phải là nghĩa mà là cái thực thể, hoặc [tr.193] là Hữu thể. Nghĩa là trong đó cái Verstandlichkeit Khả tính lý giải của một sự vật được duy trì. Cái có thể được khớp nối bằng một trạng thái bộc lộ mà nhờ đó ta hiểu được, thì ta gọi là ‘nghĩa’. Khái niệm nghĩa bao hàm khung hiện sinh hình thức của những gì tất yếu thuộc về cái mà một diễn giải thấu hiểu khớp nối lại. ‘Nghĩa’ là ‘cái-trên-cái-mà’ của một sự phóng chiếu, nhờ đó một sự vật trở nên có thể lý giải như là một cái gì đó; nó có được cấu trúc của mình từ cái có trước, tầm nhìn trước, và khái niệm trước.15 Chừng nào hiểu biết và diễn giải còn cấu thành trạng thái hiện sinh Hữu thể của cái ‘ở đó’, thì ‘nghĩa’ phải được quan niệm như là khung hiện sinh-hình thức của trạng thái bộc lộ vốn thuộc về hiểu biết. ‘Nghĩa’ là một cấu trúc hiện sinh của Dasein, chứ không phải là một thuộc tính gắn liền với các thực thể, nằm ‘phía sau’ chúng, hay lơ lửng đâu đó như một ‘miền trung gian’. Dasein chỉ ‘có’ nghĩa chừng nào trạng thái bộc lộ của Hữu-thể-trong-thế-giới có thể được ‘lấp đầy’ bởi các thực thể có thể khám phá được trong trạng thái bộc lộ đó.16 Do đó, chỉ Dasein mới có thể mang nghĩa hoặc vô nghĩa. Nghĩa là, chính Hữu thể của nó và các thực thể được bộc lộ cùng với Hữu thể đó có thể được lĩnh hội trong hiểu biết, hoặc có thể vẫn bị bỏ lại trong tình trạng không-hiểu biết. Cách diễn giải khái niệm ‘nghĩa’ này, về mặt nguyên tắc, mang tính bản thể luận-hiện sinh; nếu tuân theo điều này, thì mọi thực thể mà loại Hữu thể của nó khác với của Dasein thì đều phải được quan niệm là vô nghĩa — tức là về bản chất hoàn toàn không có bất kỳ ý nghĩa nào. Ở đây, từ ‘vô nghĩa’ không hàm ý đánh giá giá trị của các thực thể đó, mà nó diễn tả một đặc tính hữu thể luận. Và chỉ những gì vô nghĩa mới có thể phi lý. Cái hiện-diện-vô-tri, khi Dasein bắt gặp nó, có thể — theo một nghĩa nào đó — tấn công vào Hữu thể của Dasein; chẳng hạn, các sự kiện tự nhiên có thể ập đến và hủy diệt chúng ta. Và nếu chúng ta truy vấn về ý nghĩa của Hữu thể, thì cuộc khảo sát của chúng ta không trở thành một cuộc khảo sát ‘sâu’, cũng không phải là nỗ lực giải mã những gì nằm sau Hữu thể. Nó đặt câu hỏi về chính Hữu thể, xét trong chừng mực Hữu thể đi vào khả tính lý giải của Dasein. Ý nghĩa của Hữu thể không bao giờ bị [tr.194] đối lập với các thực thể, hay với Hữu thể được xem như ‘nền tảng’ nâng đỡ các thực thể; vì một ‘nền tảng’ có thể tiếp cận chỉ với tư cách ý nghĩa, ngay cả khi bản thân nó là vực thẳm của tình trạng vô nghĩa.17
Với tư cách cái bộc lộ của cái ‘ở đó’, hiểu biết luôn gắn liền với toàn bộ cấu trúc Hữu-thể-trong-thế-giới. Trong mỗi hiểu biết về thế giới, thì tồn tại cũng được hiểu kèm theo, và ngược lại. Hơn nữa, mọi diễn giải đều vận hành dựa trên cái tiền-cấu trúc mà chúng ta đã mô tả trước đó. Bất kỳ sự diễn giải nào muốn góp phần tạo nên hiểu biết thì bản thân nó đã phải hiểu những gì cần được diễn giải. Đây là một sự thật luôn được ghi nhận, ngay cả khi chỉ trong phạm vi các phương thức hiểu biết và diễn giải phái sinh, chẳng hạn như diễn giải ngữ văn học, là loại diễn giải thuộc về phạm vi tri thức khoa học. Tri thức như vậy đòi hỏi sự chặt chẽ của việc chứng minh để đưa ra các cơ sở xác thực. Trong một chứng minh khoa học, ta không được phép giả định trước điều mà ta có nhiệm vụ phải đưa ra cơ sở xác thực cho nó. Tuy nhiên, nếu trong mọi trường hợp diễn giải đều phải vận hành dựa trên những gì đã được hiểu, và phải lấy nguồn nuôi dưỡng từ đó, thì làm thế nào nó có thể đạt đến các kết quả khoa học chín muồi mà không rơi vào vòng luẩn quẩn? Đặc biệt là khi hiểu biết vốn được giả định trước đó lại vẫn vận hành trong phạm vi những hiểu biết thông thường của chúng ta về con người và thế giới? Tuy nhiên, xét theo những quy tắc logic sơ đẳng nhất, vòng lặp này là một circulus vitiosus lập luận luẩn quẩn. Song, nếu đúng là như vậy, thì công việc diễn giải lịch sử học sẽ bị loại trừ ngay từ đầu khỏi phạm vi của tri thức chặt chẽ. Chừng nào sự thật của vòng lặp này trong hiểu biết chưa được loại bỏ, thì lịch sử học buộc phải chấp nhận những khả tính nhận thức kém chặt chẽ hơn. Lịch sử học được phép bù đắp phần nào khiếm khuyết này thông qua ‘ý nghĩa tinh thần’ của các ‘đối tượng’ mà nó nghiên cứu. Dẫu vậy, ngay cả theo quan điểm của chính nhà sử học, thì sẽ lý tưởng hơn nếu có thể tránh được vòng lặp này và nếu vẫn còn hy vọng tạo ra được một nền lịch sử học độc lập với lập trường của người quan sát—tương tự như tri thức của chúng ta về Tự nhiên được cho là độc lập như vậy.
Nhưng nếu ta coi vòng lặp này là một vòng luẩn quẩn và tìm cách tránh né nó—ngay cả khi ta chỉ ‘cảm thấy’ nó như một khiếm khuyết tất yếu—thì hành vi thấu hiểu đã bị hiểu sai ngay từ căn bản. Vấn đề ở đây không phải là việc đồng nhất thấu hiểu và diễn giải với một lý tưởng tri thức xác định nào đó. Bản thân lý tưởng ấy chỉ là một phụ loại của thấu hiểu—một phân loại đã đi chệch hướng khi xâm nhập vào nhiệm vụ chính đáng là nắm bắt cái ‘hiện-diện-vô-tri’ trong cái Unverstandlichkeit tính chất cốt yếu không-thể-hiểu-được của nó. Để các điều kiện cơ bản cho phép diễn giải được thực hiện, ta cần phải [tr.195] nhận thức rõ ngay từ đầu những điều kiện thiết yếu để quá trình này diễn ra. Điều quyết định không phải là thoát khỏi vòng lặp mà là bước vào nó theo đúng cách. Vòng lặp thấu hiểu này không phải là quỹ đạo mà bất kỳ loại tri thức ngẫu nhiên nào cũng có thể vận hành trong đó; nó là cái biểu hiện của tiền-cấu trúc mang tính hiện sinh của chính Dasein. Nó không thể bị quy giản xuống cấp độ một vòng lặp luẩn quẩn, hay thậm chí là một vòng lặp chỉ được dung thứ. Ẩn chứa trong vòng lặp này là một khả tính thực chứng của loại tri thức bản nguyên nhất. Chắc chắn, ta chỉ thực sự nắm bắt được khả tính này khi hiểu rằng, trong quá trình diễn giải, nhiệm vụ đầu tiên, cuối cùng và thường trực của ta là không bao giờ để cho các yếu tố có-trước, thấy-trước và tiền-khái-niệm của mình bị định hình bởi những ý tưởng viển vông hay quan niệm phổ chúng; vì thế ta cần xác lập chủ đề một cách vững chắc khi triển khai các tiền-cấu trúc này dựa trên bản thân sự vật. Bởi vì hiểu biết— theo nghĩa hiện sinh—chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein, nên các tiền giả định bản thể luận của tri thức sử luận, về nguyên tắc, vượt xa quan niệm về tính chặt chẽ trong các khoa học chính xác nhất. Toán học không chặt chẽ hơn sử luận, mà chỉ hẹp hơn, vì các nền tảng hiện sinh liên quan đến nó nằm trong phạm vi hẹp hơn.
_______________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘…theo cách mà chính sự hiện hữu này, nơi bản thân nó, mở ra cái "nơi-đó-mà-tại-đó" (Wor-an) của việc hiện hữu cùng chính nó.’
2 'Entwurf'. Nghĩa cơ bản của danh từ này và động từ cùng gốc 'entwerfen' là hành động 'ném' (throwing) một vật gì đó ra xa hoặc rời khỏi bản thân; tuy nhiên, trong cách dùng tiếng Đức thông thường—và thường thấy ở Heidegger—chúng mang nghĩa 'thiết kế' hoặc 'phác thảo' một 'dự phóng' (project) sẽ được thực hiện; chúng cũng có thể được dùng theo nghĩa chuyên biệt hơn là 'sự phóng chiếu' (projection), chẳng hạn như khi một nhà hình học 'phóng chiếu' một đường cong 'lên' một mặt phẳng. Theo đó, các từ 'projection' và 'project' khá phù hợp để dịch các từ này trong nhiều ngữ cảnh, nhất là khi nghĩa gốc của chúng rất gần gũi với 'Entwurf' và 'entwerfen'; tuy nhiên, trong khi nghĩa gốc là 'ném ra xa' vẫn còn rất sống động trong tiếng Đức của Heidegger, thì nó hầu như đã mất hẳn trong cách dùng tiếng Anh thông thường của 'projection' và 'project'—những từ vốn đã mang thêm các hàm nghĩa không có trong tiếng Đức. Do đó, khi bản dịch tiếng Anh nói rằng Dasein 'phóng chiếu' (project) các thực thể, các khả tính, hay thậm chí chính Hiện hữu của nó 'lên' một điều gì đó, độc giả cần lưu ý rằng nghĩa gốc là 'ném' (throwing) được cảm nhận mạnh mẽ hơn trong tiếng Đức so với trong bản dịch.
3. ‘…nó kéo [khả tính] xuống thành một trạng thái hiện hữu đã được cho sẵn và được nhắm đến, trong khi sự phóng chiếu (Entwurf)—thông qua hành động ném—lại ném khả tính ra phía trước như là chính khả tính và để cho nó hiện hữu như thế.’ Cụm từ 'einem etwas vorwerfen' theo nghĩa đen có nghĩa là 'ném một vật gì đó về phía ai đó', nhưng thường mang hàm nghĩa 'trách móc ai đó về điều gì' hoặc 'ném điều gì đó vào mặt ai đó' (như một lời buộc tội). Heidegger có thể đang nghĩ đến nhiều hơn một trong những ý nghĩa này.
4 ‘Selbsterkenntnis’ (Tự nhận thức). Cần phân biệt kỹ điều này với khái niệm 'Sichkennen' (tự biết mình) đã được thảo luận ở các trang H. 124–125. Có lẽ sự khác biệt này có thể được diễn đạt — dù còn khá thô sơ — bằng cách chỉ ra rằng ở đây chúng ta đang bàn về một sự hiểu biết trọn vẹn và tinh tế về Bản thân (Self) cùng mọi hàm ý của nó, trong khi ở đoạn trước, chúng ta đề cập đến kiểu 'tự hiểu biết' mà một người đánh mất khi họ 'quên mất bản thân' hoặc làm điều gì đó quá khác biệt so với bản tính của mình đến mức họ 'không còn nhận ra chính mình nữa'.
5 ‘konkreten’. Các ấn bản trước đó dùng từ 'konkreteren' ('cụ thể hơn').
6 'Auslegung'. Xem chú thích số 3 của chúng tôi ở trang 19, H. 1 phía trên.
7 'Auslegung'. Các ấn bản cũ hơn dùng từ 'Auslegung'.
8 ‘…gibt sich…zu verstehen, welche Bewandtnis es je mit dem Begegnenden haben kann.’ (…tự làm cho mình hiểu được ý nghĩa hay bản chất của sự vật/người mà ta bắt gặp.)
9 ‘auseinandergelegt’. Heidegger đang đối lập động từ 'auslegen' (nghĩa đen là 'trình bày' hay 'bày ra') với từ cùng gốc 'auseinanderlegen' ('tách rời' hoặc 'tháo rời').
10 ‘…was allein so moglich ist, dass es als Aussprechbares vor-liegt.’ (…điều chỉ có thể thực hiện được khi nó hiện diện như một thứ có thể diễn đạt thành lời.) Ở đây chúng tôi theo cách đọc của các ấn bản trước đó. Dấu gạch nối trong từ 'vor-liegt' xuất hiện ở cuối dòng trong các ấn bản sau này, nhưng chắc chắn nó nhằm gợi ý (giống như việc in nghiêng từ 'vor' trong câu trước) rằng động từ này cần được hiểu theo nghĩa đen một cách đặc biệt. Đoạn văn này đáng chú ý vì cách tác giả khai thác tiền tố 'aus' ('ra ngoài'/'khỏi'), một yếu tố không thể hiện rõ trong bản dịch của chúng tôi. Theo nghĩa đen, 'Aussage' ('khẳng định') là thứ được 'đẩy ra' (gestoßen); 'Auslegung' ('diễn giải') là hành động 'bày ra' (legen); 'ausdrücklich' ('rõ ràng/tường minh') là thứ đã được 'ép ra' (drücken); còn 'aussprechbar' (từ mà chúng tôi dịch là 'có thể diễn đạt') là thứ có thể được 'nói ra' (sprechen). Các động từ 'ausdrücken' và 'aussprechen' có nghĩa gần như tương đương nhau; ...nhưng 'aussprechen' thường mang những hàm ý cụ thể hơn như 'phát âm', 'bày tỏ quan điểm cá nhân', 'nói ra suy nghĩ của mình', 'nói trọn vẹn điều cần nói', v.v. Mặc dù có thể dành từ 'express' (diễn đạt/bày tỏ) cho 'ausdrücken' và dịch 'aussprechen' bằng một cụm từ như 'speak out' (nói ra), nhưng việc dùng 'express' cho cả hai động từ lại thuận tiện hơn; nhất là khi 'aussprechen' cùng các từ phái sinh của nó rất hiếm khi xuất hiện trước chương này—chương mà 'ausdrücken' cũng ít khi được sử dụng. Mặt khác, ta có thể dễ dàng phân biệt giữa hai từ xuất hiện thường xuyên là 'ausdrücklich' và 'ausgesprochen' bằng cách dịch từ sau là 'expressed' (được diễn đạt/bày tỏ) hoặc 'expressly' (một cách rõ ràng/dứt khoát), đồng thời dành từ 'explicit' (rõ ràng/minh thị) cho cả 'ausdrücklich' và 'explizit'.
11 ‘…điều được làm lộ ra thông qua sự diễn giải.’
12 Trong đoạn này, Heidegger giới thiệu các thuật ngữ quan trọng: 'Vorhabe', 'Vorsicht' và 'Vorgriff'. 'Vorhabe' có lẽ được dịch tốt nhất bằng các cụm từ như 'điều ta có từ trước' (what we have in advance) hoặc 'điều ta có trước mắt' (what we have before us); tuy nhiên, ta thường thấy thuận tiện hơn khi dùng thuật ngữ ngắn gọn là 'fore-having' (sự có-trước), đôi khi sử dụng lối diễn đạt kép (hendiadys) như trong câu này, và ta sẽ xử lý các thuật ngữ còn lại theo cách tương tự. 'Vorsicht' ('điều ta nhìn thấy từ trước' hay 'fore-sight' - sự nhìn-trước) là thuật ngữ duy nhất trong số này có mặt trong cách dùng tiếng Đức thông thường và thường mang hàm ý 'sự thận trọng' (caution) hay 'sự khôn ngoan/cẩn trọng' (prudence); tuy nhiên, Heidegger lại sử dụng nó theo nghĩa tổng quát hơn, gần gũi với từ 'foresight' (tầm nhìn xa/sự nhìn-trước) trong tiếng Anh, mà không mang hàm ý về một sự dự đoán sắc bén và chính xác. 'Vorgriff' ('điều ta nắm bắt trước' hay 'tiền khái niệm') có liên hệ với động từ 'vorgreifen' ('dự đoán' hay 'đi trước') cũng như với danh từ "Begriff".
13 'Die Auslegung griindet jeweils in einer Vorsicht, die das in Vorhabe Genommene auf eine bestimmte Auslegbarkeit hin "anschneidet".' Ý tưởng dường như là giống như người cắt lát bánh mì đầu tiên giúp 'khởi đầu' quá trình làm bánh, sự tiên liệu tạo ra một 'Hart' (sự dự liệu) cho những gì chúng ta có trước - sự dự liệu từ trước.
14 ‘…eines Vorgegebenen.' Ở đây, cũng như trong nhiều đoạn văn khác, chúng ta đã dịch 'vorgeben' bằng nhiều dạng khác nhau của động từ 'trình bày'; nhưng có lẽ sẽ phù hợp hơn với cuộc thảo luận của Heidegger về tiền tố 'vor-' nếu viết '…về một điều gì đó đã được dự liệu từ trước'.
15 'Sinn ist das durch Vorhabe, Vorsicht und Vorgijf strukturierte Woraufhin des Entwurjs, aus dem her etwas als etwas verstiindlich wird.' (Lưu ý rằng cách dịch thông thường của chúng ta về 'verstandlich, và 'Verstandlichkeit' là 'có thể hiểu được' và 'có thể hiểu được', không thể hiện được mối liên hệ giữa các từ với 'Verstandnis', v.v. Mối liên hệ này có thể được thể hiện một cách hiệu quả bằng cách viết 'có thể hiểu được', 'có thể hiểu được', v.v., nhưng chỉ phải trả giá bằng sự lúng túng.)
16 'Sinn "hat" nur das Dasein, sofern die Erschlossenheit des In-der-Welt-seins durch das in ihr entdeckbare Seiende "erftillbar" ist.' Ý nghĩa của câu khó hiểu và mơ hồ này có thể trở nên rõ ràng hơn phần nào nếu người đọc nhớ lại rằng ở đây cũng như ở những nơi khác (xem H. 75 ở trên) động từ 'erschliessen' ('tiết lộ') được dùng theo nghĩa 'mở một cái gì đó !JP' để nội dung của nó có thể được 'khám phá'. Do đó, những gì được 'mở ra' sẽ được 'điền vào' khi ngày càng nhiều nội dung của nó được khám phá.
17 'Der Sinn von Sein kann nie in Gegensatz gebracht werden zum Seienden oder zum Sein als tragenden "Grund" des Seienden, wei! "Grund" nur als Sinn zugiinglich wird, und sei er selbst der Abgrund der Sinnlosigkeit.' Lưu ý mối quan hệ từ nguyên giữa 'Grund' ('mặt đất') và 'Abgrund' ('vực thẳm').
