Powered By Blogger

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (III)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

6. Nhiệm vụ Giải gỡ Lịch sử Bản thể luận

[Tr.41] Mọi nghiên cứu—và không kém phần quan trọng là những nghiên cứu vận hành trong phạm vi câu hỏi trung tâm về Hữu thể—đều là một khả tính thực hữu của Dasein. Hữu thể của Dasein tìm thấy ý nghĩa của nó trong thời tính. Nhưng thời tính cũng là điều kiện làm cho sử tính trở nên khả thể như một loại Hữu thể mang tính thời gian mà chính Dasein sở hữu, bất kể Dasein có phải là một hiện hữu ‘trong thời gian’ hay không và là loại hiện hữu như thế nào. Sử tính, với tư cách là một đặc tính xác định, có trước cái được gọi là ‘lịch sử’ (lịch sử hóa mang tính lịch sử thế giới).1 ‘Sử tính’ đại diện cho trạng thái Hữu thể cấu thành nên ‘lịch sử hóa’ của Dasein theo đúng nghĩa; chỉ trên cơ sở ‘lịch sử hóa’ như vậy thì bất cứ điều gì giống như ‘lịch sử-thế giới’ mới khả thể hoặc bất cứ điều gì có thể thuộc về lịch sử-thế giới về mặt lịch sử. Trong Hữu thể thực tế của nó, bất kỳ Dasein nào, như nó đã từng, và nó hiện là ‘cái’ mà nó đã từng. Nó là quá khứ của nó, dù rõ ràng hay không. Điều này không chỉ đúng ở chỗ quá khứ của nó, như thể, đang tự thúc đẩy chính nó từ ‘phía sau’, và Dasein sở hữu những gì thuộc về quá khứ như một thuộc tính Vorhandenheit vẫn hiện diện [Ghi chen ngang: Vorhandenheit Present-at-hand Hiện diện mô tả trạng thái khi chúng ta nhìn nhận một sự vật như một đối tượng vật lý đơn thuần, bị tách rời khỏi bối cảnh sử dụng hay mục đích thực tế. Nó khác với Zuhandenheit Ready-to-hand Có sẵn trong tay: Đây là cách chúng ta thường tương tác với thế giới hàng ngày. Chẳng hạn khi cầm chiếc búa để đóng đinh, ta không nhìn chiếc búa như một khúc gỗ và cục sắt, mà xem nó như một công cụ nối dài bàn tay mình để thực hiện mục đích. Còn hiện diện ngay trước mắt là khi công cụ bị hỏng hoặc mất đi chức năng của nó. Chiếc búa gãy làm ta chú ý đến nó như một vật thể trần trụi: trọng lượng, hình dáng, chất liệu. Ta lùi lại, quan sát và phân tích nó như một nhà khoa học. Heidegger dùng khái niệm này để chỉ ra rằng chúng ta thường hiểu biết về thế giới thông qua thực hành và ready-to-hand trải nghiệm. Trạng thái hiện diện trước mặt chỉ xuất hiện khi có sự cố xảy ra khiến thói quen bị gián đoạn, từ đó buộc chúng ta phải dừng lại để xem xét sự vật với tư cách là một khách thể độc lập.-HHN] và đôi khi có những tác động hậu quả lên nó: Dasein ‘là’ quá khứ của nó theo cách thức Hữu thể của chính nó, nói một cách đại khái, nó ‘lịch sử hóa’ tương lai của nó trong mỗi trường hợp.2

Bất kể cách hiện hữu nào nó có vào thời điểm đó, và do đó với bất kỳ sự hiểu biết nào về Hữu thể mà nó có thể sở hữu, Dasein đã phát triển cả trong và theo một cách diễn giải truyền thống về chính nó: trong khuôn khổ này, nó hiểu chính nó một cách gần gũi và, trong một phạm vi nhất định, liên tục. Bằng sự hiểu biết này, các khả tính Hữu thể của nó được bộc lộ và điều chỉnh. Quá khứ của chính nó - và điều này luôn có nghĩa là quá khứ của ‘thế hệ’ nó - không phải là thứ theo sau Dasein, mà là thứ đã đi trước nó. Sử tính cơ bản này của Dasein có thể vẫn ẩn giấu đối với chính Dasein. Nhưng có một cách để khám phá ra nó và cần được chú ý đúng mức. Dasein có thể khám phá truyền thống, bảo tồn nó và nghiên cứu nó một cách rõ ràng. Việc khám phá truyền thống và tiết lộ những gì nó ‘truyền tải’ và cách thức truyền tải đó, có thể được coi là một nhiệm vụ riêng biệt. Bằng cách này, Dasein tự đưa mình vào loại Hữu thể bao gồm việc tìm tòi và nghiên cứu lịch sử. Nhưng thứ sử luận, hay chính xác hơn là sử tính3 - chỉ có thể là một loại Hữu thể mà Dasein với bản tính tìm tòi có thể [tr.42] sở hữu, chỉ vì sử tính là một đặc điểm quyết định đối với Dasein trong chính nền tảng Hữu thể của nó. Nếu sử tính này vẫn bị che giấu khỏi Dasein, và chừng nào nó còn như vậy, thì Dasein cũng bị từ chối cái khả tính tìm tòi hoặc khám phá lịch sử. Nếu luôn khao khát historiology sử luận, thì đó lại không phải là bằng chứng chống lại sử tính của Dasein; ngược lại, với tư cách một phương thức còn thiếu khuyết4 của trạng thái Hữu thể này, đó chính là bằng chứng ủng hộ cho nó. Chỉ vì nó có ‘tính lịch sử’ nên một kỷ nguyên mới lại có thể phi-sử luận tính.

Mặt khác, nếu Dasein đã nắm bắt được khả tính tiềm ẩn của mình không chỉ làm cho sự tồn tại của chính nó trở nên minh bạch đối với chính nó mà còn tìm hiểu ý nghĩa của tính hiện sinh (nghĩa là, trước đó đã tìm hiểu ý nghĩa của Hữu thể nói chung), [Chen thêm: Trong triết học của Martin Heidegger, Existenzialität Trạng thái hiện sinh đề cập đến những đặc điểm cấu trúc cơ bản định nghĩa tồn tại người, mà ông gọi là Dasein. Thay vì là một tập hợp các đặc điểm được định sẵn, tồn tại người về cơ bản là một dự án năng động của những khả tính, được định hình bởi những lựa chọn, thời tính và cuộc đắm mình không thể tránh khỏi của chúng ta vào thế giới. Heidegger chia khái niệm này thành một vài tiểu chủ đề nền tảng và các thuật ngữ chuyên ngành: i) The Existential Cái Hiện sinh so với The Existentiell Cái Hiện thực: Cái Hiện sinh (Ontological Bản thể luận): Đề cập đến các đặc điểm cấu trúc, phổ quát của cái có nghĩa là người. Nó đặt câu hỏi về cái cấu trúc ‘gì’, chẳng hạn thời tính, nỗi xao xuyến hoặc cái chết về cơ bản cấu trúc cuộc sống con người như thế nào. Còn Cái Hiện thực (Ontic Thực hữu luận): Đề cập đến những thực tại và lựa chọn cụ thể, cá nhân trong cuộc sống của mỗi con người. Đó là cách sống cụ thể của ta đối với những cấu trúc đó, chẳng hạn lựa chọn nghề nghiệp, mối quan hệ hoặc niềm tin cụ thể của tôi. Về vấn đề In-der-Welt-sein Hiện-hữu-trong-Thế-giới: Existenzialität Trạng thái hiện sinh bác bỏ ý tưởng về một tâm trí tách rời, cô lập - thường được gọi là chủ thể Cartesian. Thay vào đó, cách hiện hữu cơ bản của tôi là hiện hữu ‘ở nhà’ In-der-Welt-sein Hiện-hữu-trong-Thế-giới, thực hành gắn bó với các công cụ, nhiệm vụ và những kẻ khác trước khi tôi suy ngẫm về nó theo cách thức lý thuyết. Hai khuôn khổ trọng yếu nữa cần quan tâm là Möglichkeit Khả tínhProjection Sự phóng chiếu: Đối với Heidegger, bản chất của Dasein không nằm ở những gì nó đã có, mà nằm ở những gì nó có thể trở thành. Existenzialität Trạng thái hiện sinh có nghĩa là liên tục ‘phóng chiếu’ bản thân vào những khả tính trong tương lai. Tôi là một hiện hữu được xác định bằng tiềm tính của mìnha hơn là một bản chất cố định. Cùng với nó là Authenticity Tính chân thựcInauthenticity Tính không chân thực: Bởi vì Existenzialität Trạng thái hiện sinh có nghĩa là chúng ta có những khả tính, chúng ta phải tự mình lựa chọn chúng để trở nên chân thực. Ngược lại, khi chúng ta từ bỏ sự lựa chọn của mình cho xã hội, mù quáng tuân theo Das Man đám đông ‘Chúng/Họ’, và chấp nhận những cách sống được đóng gói sẵn, thì tồn tại của chúng ta trở nên không chân thực. Cuối cùng là Zeitlichkeit Thời tính: Đối với Heidegger, ‘ý nghĩa’ của sự tồn tại chính là thời gian. Existenzialität Trạng thái hiện sinh vốn mang tính thời gian: Nó là sự kéo dài liên tục giữa Quá khứ - những gì chúng ta bị ném vào; Hiện tại - những tương tác thực tiễn của chúng ta với thế giới; và Tương lai - những khả tính mà chúng ta hướng tới, đáng chú ý nhất là Hữu tử tính của mỗi kẻ.- HHN] và nếu nhờ sự tìm hiểu đó, đôi mắt của nó đã được mở vào thứ sử tính thiết yếu của chính nó, thì người ta không thể không nhận thấy rằng việc tìm hiểu về Hữu thể (sự cần thiết mang tính ontico-ontological thực hữu-bản thể luận mà chúng ta đã chỉ ra - tự nó được đặc trưng bởi chính sử tính. Ý nghĩa sâu xa nhất của Hữu thể thuộc về việc tìm hiểu về Hữu thể như một cuộc tìm hiểu lịch sử, giao cho chúng ta Anweisung nhiệm vụ tìm hiểu về lịch sử của chính cuộc tìm hiểu đó, nghĩa là, trở thành historiological kẻ sử luận tính. Trong việc giải quyết vấn đề về Hữu thể, chúng ta phải chú ý đến nhiệm vụ này, để bằng cách tích cực biến quá khứ thành của riêng mình, chúng ta có thể nắm bắt trọn vẹn những khả tính sâu xa nhất của cuộc khảo sát đó. Vấn đề về ý nghĩa của Hữu thể phải được thực hiện bằng cách làm rõ Dasein trước đó trong thời tính và sử tính của nó; do đó câu hỏi tự đưa mình đến điểm mà nó tự hiểu mình là sử luận tính.

Diễn giải chuẩn bị của chúng ta về các cấu trúc cơ bản của Dasein liên quan đến loại Hữu thể trung bình gần gũi nhất với nó (một loại Hữu thể mà do đó trong bản thân nó cũng mang tính lịch sử gần gũi), tuy nhiên, sẽ làm rõ không chỉ ở chỗ Dasein có khuynh hướng quay trở lại thế giới của nó (cái thế giới mà nó đang tồn tại) và tự diễn giải bản thân theo khuôn khổ của thế giới đó bằng ánh sáng phản chiếu của nó, mà còn ở chỗ Dasein đồng thời trở thành nạn nhân của truyền thống mà nó đã nắm giữ một cách ít nhiều rõ ràng.5 Truyền thống này ngăn cản nó tự đưa ra hướng dẫn của riêng mình, cho dù trong [tr.43] việc tìm tòi hay trong lựa chọn. Điều này đúng - và không kém phần quan trọng - đối với sự hiểu biết bắt nguồn từ Hữu thể sâu xa nhất của Dasein, và đối với khả tính phát triển nó - cụ thể là, đối với sự hiểu biết bản thể luận. Khi truyền thống trở thành chủ đạo, nó làm như vậy theo cách khiến những gì nó ‘truyền lại’ trở nên khó tiếp cận, gần điểm gốc và phần lớn, đến mức nó trở nên bị che giấu. Truyền thống lấy những gì đã được lưu truyền cho chúng ta và biến nó thành điều hiển nhiên; nó ngăn chặn sự tiếp cận của chúng ta với những ‘nguồn gốc’ nguyên thủy mà từ đó các phạm trù và khái niệm được truyền lại cho chúng ta một phần được rút ra một cách khá chân thực.6 Thật vậy, nó khiến chúng ta quên rằng chúng đã có nguồn gốc như vậy, và khiến chúng ta cho rằng việc cần phải quay trở lại những nguồn cội này là điều mà chúng ta thậm chí không cần phải hiểu. Sử tính của Dasein đã bị truyền thống nhổ tận gốc đến mức nó chỉ giới hạn sự quan tâm của mình vào đa dạng tính của các loại hình, hướng đi và quan điểm có thể có của hoạt động triết học trong những nền văn hóa kỳ lạ và xa lạ nhất; và chính bằng sự quan tâm này, nó tìm cách che giấu sự thật rằng nó không dựa vào nền tảng riêng. Do đó, bất chấp tất cả những mối quan tâm về lịch sử và mọi nhiệt tình của nó đối với lối diễn giải ‘khách quan’về ngữ văn, Dasein không còn hiểu được những điều kiện cơ bản nhất, duy nhất cho phép nó quay trở lại quá khứ một cách tích cực và biến nó thành của riêng mình một cách hiệu quả.

Chúng ta đã chỉ ra ngay từ đầu (Mục 1) không chỉ là cái mà câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể là một câu hỏi chưa được chú ý và chưa được đặt ra một cách đầy đủ, mà nó còn bị lãng quên hoàn toàn bất chấp tất cả sự quan tâm của chúng ta đối với ‘siêu hình học’. Bản thể luận Hy Lạp và lịch sử của nó - mà, trong vô số nhánh và sự bóp méo của chúng, vẫn quyết định đặc điểm khái niệm của triết học cho đến ngày nay - chứng minh rằng khi Dasein hiểu chính nó hoặc Hữu thể nói chung, thì nó làm như vậy theo khuôn khổ ‘thế giới’, và cái mà bản thể luận phát sinh như vậy đã suy thoái thành một truyền thống trong đó nó bị quy giản thành một cái gì đó hiển nhiên - chỉ là vật chất để tái cấu trúc, như trường hợp của Hegel. Vào thời Trung Cổ, thứ bản thể luận Hy Lạp bị lật đổ này đã trở thành một hệ thống học thuyết cố định. Tuy nhiên, hệ thống của nó không chỉ đơn thuần là sự kết hợp các mảnh truyền thống thành một công trình duy nhất. Mặc dù các khái niệm cơ bản về Hữu thể đã được tiếp thu một cách giáo điều từ người Hy Lạp, nhưng rất nhiều công việc khiêm tốn đã được tiến hành thêm trong những giới hạn này. Với đặc điểm riêng biệt mà các nhà triết học kinh viện đã gán cho nó, bản thể luận Hy Lạp, về bản chất, đã đi theo con đường dẫn từ Disputationes Metaphysicae Tranh luận Siêu hình học của Suarez đến ‘siêu hình học’ và triết học siêu nghiệm của thời hiện đại, thậm chí còn xác định cả nền tảng và mục tiêu của ‘logic’ của Hegel [tr.44]. Trong quá trình lịch sử này, một số lĩnh vực riêng biệt của Hữu thể đã xuất hiện và đóng vai trò là kim chỉ nam chính cho các vấn đề tiếp theo: ego cogito của Descartes, chủ thể, cái ‘Tôi’, lý tính, tinh thần, cá nhân. Nhưng tất cả vẫn chưa được xem xét kỹ lưỡng về Hữu thể và cấu trúc của chúng, phù hợp với cách thức triệt để mà vấn đề Hữu thể đã bị bỏ qua. Thay vì nội dung phân loại bản thể luận truyền thống đã được áp dụng cho các hiện hữu này bằng các hình thức hóa tương ứng và hạn chế thuần phủ định, hoặc phép biện chứng đã được sử dụng để Diễn giải thực thể tính của chủ thể về mặt bản thể luận.          

Nếu muốn làm sáng tỏ lịch sử của chính câu hỏi về Hữu thể, thì truyền thống cứng nhắc này cần được nới lỏng, và những điều che giấu mà nó tạo ra7 cần phải được xóa bỏ. Chúng tôi hiểu nhiệm vụ này là lấy câu hỏi về Hữu thể làm manh mối, để giải gỡ nội dung truyền thống của bản thể học cổ đại cho đến khi chúng ta đạt đến những trải nghiệm nguyên thủy mà nhờ đó chúng ta có được những cách thức đầu tiên để xác định bản chất của Hữu thể - những cách thức đã dẫn dắt chúng ta kể từ đó. Bằng cách chứng minh nguồn gốc của các khái niệm bản thể học cơ bản của chúng ta thông qua một cuộc khảo sát trong đó ‘giấy khai sinh’ của chúng được hiển thị, chúng ta không liên quan gì đến việc tương đối hóa một cách nghiêm trọng các quan điểm bản thể học. Nhưng việc giải gỡ này cũng không mang ý nghĩa tiêu cực là rũ bỏ truyền thống bản thể học. Ngược lại, chúng ta phải vạch ra những khả tính tích cực của truyền thống đó, và điều này luôn có nghĩa là giữ nó trong giới hạn của nó; đến lượt mình, những giới hạn này được đưa ra một cách thực tế theo cung cách đặt câu hỏi vào thời điểm đó, và theo cách thức mà các lĩnh vực điều tra khả thể được giới hạn như vậy. Về mặt tiêu cực, cuộc giải gỡ này không liên quan đến quá khứ; sự phê phán ấy nhắm vào ‘ngày nay’ và cách thức phổ biến để xử lý lịch sử bản thể luận, cho dù nó hướng tới khoa chú giải học thuyết, lịch sử trí tuệ, hay lịch sử các vấn đề. Nhưng chôn vùi quá khứ trong Nichtigkeit hư vô không phải là mục đích của cuộc giải gỡ này; mục đích của nó là tích cực; chức năng tiêu cực của nó vẫn chưa được thể hiện và chỉ gián tiếp.        

Cuộc giải gỡ lịch sử bản thể luận về cơ bản gắn liền với cách thức đặt câu hỏi về Hữu thể, và nó chỉ có thể thực hiện được trong khuôn khổ cách đặt câu hỏi đó. Trong khuôn khổ luận văn của chúng ta, nhằm mục đích làm rõ câu hỏi đó về nguyên tắc, chúng ta chỉ có thể thực hiện sự giải gỡ này đối với các giai đoạn của lịch sử đó mà về nguyên tắc là mang tính quyết định. Phù hợp với xu hướng tích cực của cuộc giải gỡ này, trước hết chúng ta phải đặt câu hỏi liệu và ở mức độ nào [tr.45] việc Diễn giải Hữu thể và hiện tượng thời gian đã được kết hợp về mặt chủ đề trong suốt lịch sử bản thể luận, và liệu vấn đề về Thời tính cần thiết cho điều này đã từng được làm rõ về nguyên tắc hay có thể đã từng được làm rõ hay không. Người đầu tiên và duy nhất đã nỗ lực hết sức để nghiên cứu chiều kích của Thời tính, hoặc thậm chí để bản thân bị cuốn hút bởi sự cưỡng chế của tự thân các hiện tượng, chính là Kant. Chỉ khi nào thiết lập được vấn đề về Thời tính, thì chúng ta mới có thể làm sáng tỏ được tính mơ hồ trong học thuyết về hệ thống sơ đồ của ông. Nhưng điều này cũng sẽ cho chúng ta thấy tại sao lĩnh vực này lại phải khép kín đối với ông về các chiều kích thực sự và chức năng bản thể luận trung tâm của nó. Bản thân Kant nhận thức được rằng ông đang dấn thân vào một lĩnh vực mơ hồ: “Hệ thống sơ đồ trong nhận thức của chúng ta về các hiện tượng và hình thức đơn thuần của chúng là một nghệ thuật ẩn sâu trong tâm hồn con người, mà những thủ đoạn thực sự của nó khó có thể được tiên đoán từ Tự nhiên và phơi bày trước mắt chúng ta.”8 Ở đây, Kant như thể lùi bước trước một điều gì đó cần phải được đưa ra ánh sáng như một chủ đề và một nguyên tắc nếu việc biểu đạt ‘Hữu thể’ muốn có được bất kỳ ý nghĩa nào có thể chứng minh. Cuối cùng, chính những hiện tượng sẽ được trình bày dưới tiêu đề ‘Thời tính’ lại là những phán đoán ngầm ẩn nhất của ‘lý trí thông thường’ mà Kant nói rằng đó là ‘nhiệm vụ của các nhà triết học’ phải đưa ra một phân tích.          

Trong quá trình theo đuổi nhiệm vụ giải gỡ này với vấn đề Thời tính như là manh mối, chúng ta sẽ cố gắng Diễn giải chương về lược đồ hóa và học thuyết thời gian của Kant, lấy chương đó làm điểm xuất phát. Đồng thời, chúng ta sẽ chỉ ra lý do tại sao Kant không bao giờ có thể đạt được sự thấu hiểu về vấn đề Thời tính. Có hai điều cản trở ông: thứ nhất, ông hoàn toàn bỏ qua vấn đề Hữu thể; và, liên quan đến điều này, ông đã không đưa ra được một bản thể luận với Dasein làm chủ đề hoặc (nói theo ngôn ngữ của Kant) đưa ra một phân tích bản thể luận sơ bộ về chủ thể tính của chủ thể. Thay vào đó, Kant đã tiếp nhận lập trường của Descartes một cách khá giáo điều, bất chấp tất cả những khía cạnh thiết yếu mà ông đã vượt qua Descartes. Hơn nữa, mặc dù ông đã đưa hiện tượng thời gian trở lại chủ đề nghiên cứu, nhưng ông vẫn hướng về cách hiểu truyền thống về thời gian; về lâu dài, điều này đã ngăn cản ông làm sáng tỏ hiện tượng ‘sự xác định siêu nghiệm về thời gian’ trong cấu trúc và chức năng riêng của nó. Do tác động kép của truyền thống, mối liên hệ quyết định giữa thời gian và cái ‘Tôi tư duy’ đã bị bao phủ trong bóng tối hoàn toàn; thậm chí nó còn không trở thành một vấn đề.

[Tr.46] Khi tiếp quản lập trường bản thể luận của Descartes, Kant đã bỏ sót một điều cốt yếu: ông đã không đưa ra được một bản thể luận về Dasein. Sự bỏ sót này là một điều quyết định trong tinh thần [im Sinne] của những Xu hướng chính của Descartes. Với ‘cogito sum’ ‘Tôi tư duy’, Descartes đã tuyên bố rằng ông đang đặt triết học trên một nền tảng mới và vững chắc. Nhưng thứ mà ông để lại vẫn chưa được xác định khi ông bắt đầu đi theo cách ‘cấp tiến’ này, chính là loại Hữu thể thuộc về res cogitans, hay - chính xác hơn - ý nghĩa Hữu thể của cái ‘sum’ này.9 [Ghi chú dài về cội nguồn của Cogito Ergo Sum: Descartes lần đầu tiên viết cụm từ này bằng tiếng Pháp trong tác phẩm Luận về Phương pháp của ông vào năm 1637. Văn bản sớm nhất về cụm từ này bằng tiếng Latin là trong tác phẩm Nguyên lý Triết học năm 1644 của ông, trong một ghi chú bên lề ông giải thích rõ ràng về ý định của mình: [Chúng ta] không thể nghi ngờ về sự tồn tại của mình trong khi chúng ta nghi ngờ’. Đoạn văn liên quan trong Luận về Phương pháp như sau:Ainsi, à cause que nos sens nous trompent quelquefois, je voulus supposer qu'il n'y avait aucune chose qui fût telle qu'ils nous la font imaginer; Et parce qu'il y a des hommes qui se méprennent en raisonnant, même touchant les plus simples matières de Géométrie, et y font des Paralogismes, jugeant que j'étais sujet à faillir autant qu'aucun autre, je rejetai comme fausses toutes les raisons que j'avais prises auparavant pour Démonstrations; Et enfin, considérant que toutes les mêmes pensées que nous avons étant éveillés nous peuvent aussi venir quand nous dormons, sans qu'il y en ait aucune raison pour lors qui soit vraie, je me résolus de feindre que toutes les choses qui m'étaient jamais entrées en l'esprit n'étaient non plus vraies que les illusions de mes songes. Mais aussitôt après je pris garde que, pendant que je voulais ainsi penser que tout était faux, il fallait nécessairement que moi qui le pensais fusse quelque chose; Et remarquant que cette vérité, je pense, donc je suis, était si ferme et si assurée, que toutes les plus extravagantes suppositions des Sceptiques n'étaient pas capables de l'ébranler, je jugeai que je pouvais la recevoir sans scrupule pour le premier principe de la Philosophie que je cherchais’’. “Vậy là, bởi vì giác quan đôi khi đánh lừa chúng ta, tôi muốn cho rằng không có gì giống như chúng ta tưởng tượng về nó; và bởi vì có những người mắc sai lầm trong lập luận, ngay cả về những vấn đề đơn giản nhất của môn hình học, và phạm phải những ngụy biện, xét thấy tôi cũng dễ mắc sai lầm như bất kỳ ai khác, nên tôi đã bác bỏ tất cả những lý lẽ mà trước đây tôi cho là bằng chứng; và cuối cùng, thấy rằng tất cả những suy nghĩ mà chúng ta có khi tỉnh thức cũng có thể xuất hiện với chúng ta khi đắm chìm trong giấc ngủ, mà chẳng hề có bất cứ lý do nào chân thực nào cho chúng, nên tôi quyết định giả vờ rằng tất cả những điều từng xuất hiện trong tâm trí tôi đều không hề chân thực hơn những ảo ảnh trong giấc mơ của tôi. Nhưng ngay sau đó tôi nhận ra rằng, trong khi tôi muốn nghĩ mọi thứ đều là giả, thì điều cần thiết là tôi, kẻ đang nghĩ về điều đó, phải là một cái gì đó; và nhận thấy rằng cái chân lý này, tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại, vững trãi và chắc chắn đến nỗi tất cả những giả định phóng đại nhất của những Kẻ hoài nghi cũng không thể lay chuyển được nó; tôi cho rằng tôi có thể chấp nhận nó không chút do dự như là nguyên tắc đầu tiên của thứ triết học mà tôi đang tìm kiếm.” Descartes, René (1637). Discours de la méthode pour bien conduire sa raison et chercher la vérité dans les sciences, plus la dioptrique, les météores et la géométrie. Descartes, René (1637). Luận về phương pháp dẫn dắt lý trí đúng đắn và tìm kiếm chân lý trong khoa học, cộng thêm Quang học, Thiên văn học và Hình học. Năm 1641, Descartes xuất bản cuốn Suy ngẫm về Triết học Đầu tiên bằng tiếng Latin trong Meditation II ông đề cập đến mệnh đề, mặc dù không rõ ràng là: hoc pronuntiatum: Ego sum, Ego existo, quoties a me profertur, vel mente concipitur, necessario esse verum. Cái mệnh đề này: Tôi là, Tôi tồn tại, bất cứ khi nào nó được tôi nói ra hoặc tâm trí tôi nghĩ đến, thì nó nhất thiết phải là chân. Để đáp lại sự phản đối của Cha cố Marin Mersennus (1588 –1648) là một nhà thần học, triết học, toán học và lý thuyết âm nhạc người Pháp, Descartes đã viết “cogito, ergo sum” ở dạng mở rộng và, một lần nữa, mở đầu bằng ‘ego’: “Cum advertimus nos esse res cogitantes, prima quædam notio est quæ ex nullo syllogismo concluditur; neque etiam cum quis dicit ‘ego cogito, ergo sum, sive existo,’ ex cogitese per syllogismum deductit, sed tanquam rem per se notam simplici mentis intuitu agnoscit.” “Và khi chúng ta nhận thức được rằng chúng ta đang suy nghĩ về mọi thứ, thì đây là một khái niệm cơ bản không được rút ra bằng bất kỳ tam đoạn luận nào. Khi ai đó nói ‘ego cogito, ergo sum, sive existo,' ‘Tôi đang suy nghĩ, do đó tôi tồn tại, hoặc tôi hiện hữu’, thì người đó không suy ra sự tồn tại từ suy nghĩ bằng phương pháp tam đoạn luận, mà nhận ra nó là một điều hiển nhiên bằng trực giác đơn giản của tâm trí.” Năm 1644, Descartes xuất bản Principia Philosophae Nguyên lý Triết học bằng tiếng Latin, trong đó Cụm từ ‘ego cogito, ergo sum’ xuất hiện ở Phần 1, Mục 7: “Sic autem rejicientes illa omnia, de quibus aliquo modo possumus dubitare, ac etiam, falsa esse fingentes, facilè quidem, supponimus nullum esse Deum, nullum coelum, nulla corpora; nosque etiam ipsos, non habere manus, nec pedes, nec denique ullum corpus, non autem ideò nos qui talia cogitamus nihil esse: repugnat enim ut putemus id quod cogitat eo ipso tempore quo cogitat non existere. Ac proinde haec cognitio, ego cogito, ergo sum, est omnium prima & certissima, quae cuilibet ordine philosophanti detectat.” “Do đó, trong khi chúng ta bác bỏ tất cả những điều mà chúng ta có thể có chút nghi ngờ nhỏ nhất, và thậm chí tưởng tượng rằng điều đó là giả, chúng ta thực sự dễ dàng cho rằng không có Thiên Chúa, không có bầu trời, cũng không có cơ thể, và bản thân ta thậm chí không có tay, chân, cuối cùng cũng không có cả cơ thể; nhưng theo cách tương tự, chúng ta không thể cho rằng chúng ta không như vậy khi chúng ta nghi ngờ về chân lý của những điều này; bởi vì có một mâu thuẫn ghê gớm khi quan niệm rằng cái gì đang suy nghĩ thì không tồn tại ngay lúc nó suy nghĩ. Theo đó, cách hiểu này, ego cogito, ergo sum Tôi nghĩ, vậy nên tôi tồn tại, là cách hiểu đầu tiên và chắc chắn nhất xuất hiện trong tâm trí kẻ suy tư triết học một cách có trật tự.” - HHN]

Bằng cách làm rõ những nền tảng bản thể luận chưa được diễn đạt của ‘cogito sum’, chúng ta sẽ hoàn thành chuyến hành trình của mình tại trạm thứ hai trên con đường hồi tưởng mang tính giải gỡ về lịch sử bản thể luận. Diễn giải của chúng ta sẽ không chỉ chứng minh rằng Descartes đã phải bỏ qua hoàn toàn câu hỏi về Hữu thể; điều đó còn chứng tỏ lý do tại sao ông lại cho rằng Gewissein lương tri - tính ‘chắc chắn tuyệt đối’ của cogito đã miễn cho ông khỏi việc đặt câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể mà thực thể này sở hữu. Tuy nhiên, Descartes không chỉ tiếp tục bỏ qua điều này và do đó chấp nhận một vị thế bản thể học hoàn toàn không xác định cho res cogitans sive mens sive animus [‘thứ nhận thức, dù đó là tâm trí hay tinh thần’]: ông coi thực thể này là một fundamentum inconcussum nền tảng vững trãi và áp dụng bản thể học thời trung cổ vào nó trong việc thực hiện các cân nhắc cơ bản của tác phẩm Meditationes của mình. Ông định nghĩa res cogitans thực thể tư duy về mặt bản thể luận là một ens hiện hữu/thực thể; và trong bản thể luận thời trung cổ, ý nghĩa của Hữu thể đối với một ens như vậy đã được xác định bằng cách hiểu nó là một ens creatum thực thể được tạo ra. Chúa, với tư cách là ens infinitum thực thể vô tận, là ens increatum thực thể bất tạo. Nhưng tính được tạo ra [Geschaffenheit], theo nghĩa rộng nhất là việc một cái gì đó được sản sinh [Hergestelltheit], là một yếu tố thiết yếu trong cấu trúc của quan niệm cổ đại về Bản thể. Bước khởi đầu mới mà Descartes đề xuất cho suy tư triết học đã tự bộc lộ là gieo mầm một định kiến ​​tai hại, đã ngăn cản các thế hệ sau thực hiện bất kỳ phân tích bản thể luận theo chủ đề nào về Gemütes tâm trí theo đúng nghĩa, mà lấy câu hỏi về Hữu thể làm manh mối và đồng thời phê phán bản thể luận cổ đại truyền thống.

Mọi người quen thuộc với thời Trung cổ đều thấy rằng Descartes ‘phụ thuộc’ vào chủ nghĩa kinh viện thời Trung cổ và sử dụng hệ thuật ngữ của nó. Nhưng với ‘phát hiện’ này, về mặt triết học, chẳng có gì đạt được chừng nào người ta vẫn chưa hiểu rõ mức độ sâu sắc mà bản thể luận thời Trung cổ đã ảnh hưởng đến cái cách thức mà hậu thế xác định hoặc không xác định được đặc tính bản thể luận của res cogitans thực thể tư duy. Mức độ đầy đủ của điều này không thể được ước tính cho đến khi cả ý nghĩa và những hạn chế của bản thể luận cổ đại được thể hiện dưới dạng định hướng [tr.47] hướng tới câu hỏi về Hữu thể. Nói cách khác, trong quá trình giải gỡ, chúng ta thấy mình phải đối mặt với nhiệm vụ Diễn giải cơ sở của bản thể luận cổ đại dưới ánh sáng của vấn đề Thời tính. Khi điều này được thực hiện, thì sẽ rõ ràng là cách diễn giải cổ đại về Hữu thể của các hiện hữu hướng tới ‘thế giới’ hoặc ‘Tự nhiên’ theo nghĩa rộng nhất, và theo khuôn khổ ‘thời gian’ mà hiểu biết về Hữu thể của nó đạt được. Bằng chứng bên ngoài cho điều này (mặc dù tất nhiên đó chỉ là bằng chứng bên ngoài) là việc xử lý ý nghĩa của Hữu thể như là παρουσία hoặc οὐσία, cái biểu nghĩa, theo khuôn khổ bản thể học-Thời gian tính, Anwesenheit ‘hiện diện’.10 Các hiện hữu được nắm bắt trong Hữu thể của chúng như là ‘hiện diện’; điều này có nghĩa là chúng được hiểu liên quan đến một phương thức thời gian xác định – ‘Hiện tại’11

Vấn đề của bản thể luận Hy Lạp, giống như bất kỳ vấn đề nào khác, phải lấy manh mối từ chính Dasein. Trong cả cách sử dụng thông thường cũng như trong triết học, Dasein, Hữu thể của con người, được ‘định nghĩa’ là ζῷον λόγον ἔχον zōon logon echon như là động vật ngôn trí mà Hữu thể của nó về cơ bản được xác định bởi tiềm năng diễn ngôn.12 λέγειν légein nói là manh mối để đi đến những cấu trúc của Hữu thể thuộc về các hiện hữu mà chúng ta gặp phải khi Ansprechen bắt chuyện und Besprechen thảo luận về nó. (Xem Mục 7 n.) Đây là lý do tại sao bản thể luận cổ đại do Plato phát triển lại trở thành ‘biện chứng’. Khi manh mối bản thể luận được làm sáng tỏ dần dần - cụ thể là bằng hermeneutic ‘phép tường giải’ của λόγος logos - thì việc nắm bắt vấn đề về Hữu thể một cách triệt để hơn, ngày càng trở nên khả thể. ‘Phép biện chứng’, vốn là một mớ bòng bong triết học thực sự, bỗng trở nên thừa thãi. Đó [tr.48] là lý do tại sao Aristotle ‘không còn lý giải’ về nó nữa, vì ông đã đặt nó trên một nền tảng triệt để hơn và aufhob nâng nó lên một cấp độ mới. Bản thân λέγειν - hay đúng hơn là νοεῖν, nhận thức đơn giản về một cái gì đó hiện hữu trong sự hiện hữu thuần túy của nó,13 mà Parmenides đã dùng để hướng dẫn ông trong cách giải thích của riêng mình về Hữu thể - có cấu trúc Thời gian của một hành động ‘làm-hiện-diện’ thuần túy một cái gì đó.14 Những hiện hữu tự biểu hiện bằng cách này, vì nó, và được hiểu là những hiện hữu theo nghĩa chân thực nhất, do đó được diễn giải liên quan đến cái Hiện tại; nghĩa là, chúng được hình dung như là οὐσία hiện diện.15

Tuy nhiên, người Hy Lạp đã xoay sở để diễn giải Hữu thể theo cách này mà không có bất kỳ tri ​​thức rõ ràng nào về những manh mối hoạt động ở đây, không có bất kỳ sự quen thuộc nào với chức năng bản thể luận cơ bản về thời gian hoặc thậm chí bất kỳ sự hiểu biết nào về nó, và không có bất kỳ cái nhìn sâu sắc nào về nguyên do tại sao chức năng này lại khả thể. Ngược lại, họ coi chính thời gian như một hiện hữu trong số các hiện hữu khác, và cố gắng nắm bắt nó trong cấu trúc Hữu thể của nó, mặc dù cách hiểu Hữu thể mà họ đã chọn làm chân trời của mình lại là một cách hiểu ngây thơ và không rõ ràng hướng về thời gian. Trong khuôn khổ mà chúng ta sắp sửa xây dựng các nguyên tắc của vấn đề Hữu thể, chúng ta không thể trình bày một Diễn giải Thời gian chi tiết về các nền tảng của bản thể luận cổ đại, đặc biệt là giai đoạn khoa học cao nhất và thuần khiết nhất của nó, mà Aristotle đã đạt được. Thay vào đó, cần đưa ra một diễn giải bài luận của Aristotle về thời gian,ii có thể được chọn như một cách để phân biệt cơ sở và các giới hạn của khoa học Hữu thể cổ đại.       

Bài luận của Aristotle về thời gian là Diễn giải chi tiết đầu tiên về hiện tượng này [tr.49] còn lưu lại cho chúng ta. Mọi cách giải thích về thời gian sau này, kể cả của Bergson, về cơ bản đều bị cách diễn giải này chi phối. Phân tích quan niệm của Aristotle chúng ta cũng sẽ thấy rõ, khi quay ngược lại, rằng lối giải thích Kantian về thời gian vận hành trong khuôn khổ mà Aristotle đã đặt ra; điều đó có nghĩa là định hướng bản thể luận cơ bản của Kant vẫn giữ nguyên như của người Hy Lạp, bất chấp mọi sự khác biệt nảy sinh trong một bối cảnh khảo sát mới. Vấn đề về Hữu thể không đạt được tính cụ thể thực sự cho đến khi chúng ta hoàn thành quá trình giải gỡ truyền thống bản thể luận. Bằng cách này, chúng ta có thể chứng minh đầy đủ rằng câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể là một câu hỏi mà chúng ta không thể tránh khỏi, và chúng ta có thể chứng minh ý nghĩa của việc nói về hành động ‘tái khẳng định’ câu hỏi này. Trong bất kỳ cuộc khảo sát nào thuộc lĩnh vực này, nơi ‘bản thân sự vật bị che giấu sâu xa’iii, phải hết sức cẩn thận để không đánh giá quá cao kết quả. Bởi vì một cuộc khảo sát như vậy liên tục bị buộc phải đối mặt với khả tính tiết lộ một chân trời nguyên thủy và phổ quát hơn nữa, mà từ đó chúng ta có thể rút ra lời đáp cho câu hỏi, ‘Hữu thể là gì?’. Chúng ta chỉ có thể thảo luận nghiêm túc và thu được kết quả tích cực về những khả tính như vậy nếu vấn đề về Hữu thể được tái khơi dậy và chúng ta đạt đến một diện trường khả dĩ giải quyết nó theo cách có thể kiểm soát được.

__________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘weltgeschichtliches Geschehen’. Mặc dù động từ ‘geschehen’ thường có nghĩa là ‘xảy ra’, và thường được dịch như vậy, Heidegger nhấn mạnh mối liên hệ về mặt từ nguyên của nó với ‘Geschichte’ hay ‘lịch sử’. Để làm nổi bật mối liên hệ này, chúng tôi đã tạo ra động từ ‘historize’, có thể được diễn giải là ‘xảy ra theo cách thức lịch sử’; chúng tôi thường sẽ dịch ‘geschehen’ theo cách này trong các ngữ cảnh thảo luận về lịch sử. Chúng tôi tin rằng người đọc sẽ ghi nhớ rằng việc ‘lịch sử hóa’ như vậy là đặc trưng của tất cả các thực thể lịch sử, và không phải là loại việc chỉ do các nhà sử học thực hiện (như việc ‘triết lý hóa’, chẳng hạn, do các nhà triết học thực hiện). (Về ‘lịch sử thế giới’ xem H. 381 trở đi.) [trang 41]

2 ‘Das Dasein ‘ist’ seine Vergangenheit in der Weise seines Seins, das, roh gesagt, jeweils aus seiner Zukunft her ‘geschieht’. [trang 41]

3 'Historizität'. Cf. chú thích 2, trang 3 1 . H. 10 ở trên. [trang 41]

4 'defizienter Modus'. Heidegger thích nghĩ về một số đặc điểm nhất định xuất hiện theo nhiều cách hoặc 'chế độ' khác nhau, trong đó có thể bao gồm một số cách 'không xuất hiện' hoặc 'chỉ xuất hiện ở mức độ không đầy đủ' hoặc, nói chung, xuất hiện 'thiếu sót'. Nó giống như thể số không và các số nguyên âm được coi là đại diện cho 'các chế độ thiếu sót của việc là một số nguyên dương'. [tr.42]

5 ‘….das Dasein hat nicht nur die Geneigtheit, an seine Welt, in der es ist, zu verfallen and reluzent aus ihr her sich auszulegen, Dasein verfällt in eins damit auch seiner mehr oder minder ausdrücklich ergriffenen Tradition.' Động từ 'verfallen' là động từ mà Heidegger sẽ sử dụng nhiều lần. Mặc dù chúng ta thường dịch nó đơn giản là “rơi”, nhưng nó có hàm ý xấu đi, sụp đổ hoặc sụp đổ. Cả 'rơi trở lại' và 'rơi vào con mồi' của chúng ta đều không hoàn toàn đúng: nhưng 'rơi vào' và 'rơi vào', theo nghĩa đen hơn, sẽ gây hiểu lầm cho 'an ….zu verfallen'; và mặc dù 'falls to the lot of' và 'devolves upon' sẽ phù hợp với 'verfallt' ở dạng cách thức dative trong các ngữ cảnh khác, nhưng chúng sẽ không phù hợp ở đây. [trang 42]

6 Trong đoạn văn này! Heidegger đặt cạnh nhau một số từ bắt đầu bằng tiền tố ‘über-‘; ‘übergibt’ (‘truyền tải’); ‘überantwortet’ (‘giao nộp’); ‘das Oberkommene’ (‘những gì đã đến với chúng ta’); ‘überlieferten’ (‘được truyền lại cho chúng ta’). [trang 43]

7 ‘…der durch sie gezeitigten Verdeckungen.’ Động từ ‘zeitigen’ sẽ xuất hiện thường xuyên trong các chương sau. Xem H. 304 và chú thích của chúng tôi tại chỗ. [trang 44]

8 Chúng tôi theo các ấn bản sau này khi đọc ‘der Seinssinn des ‘sum’’’. Các ấn bản trước đó có một từ 'den' thay cho 'der'. [trang 46]

9 Danh từ οὐσία được bắt nguồn từ một trong những gốc từ được sử dụng để chia động từ bất quy tắc είναι, ('là'); trong truyền thống Aristoteles, nó thường được dịch là 'chất', mặc dù những người dịch Platon có nhiều khả năng viết là 'bản chất', 'sự tồn tại' hoặc 'sự hiện hữu'. Heidegger gợi ý rằng ovala nên được coi là đồng nghĩa với danh từ phái sinh παρουσία ('sự hiện hữu tại', 'sự hiện diện'). Như ông ấy chỉ ra, παρουσία có sự tương ứng về mặt từ nguyên học chặt chẽ với từ 'Anwesenheit' trong tiếng Đức, từ này cũng được bắt nguồn từ gốc của một động từ có nghĩa là 'là' (Cf. O.H.G. 'wesan') và tiền tố chỉ địa điểm hoặc thời gian ('an-'). Nói chung, chúng ta sẽ dịch 'Anwesenheit' là 'sự hiện diện', và phân từ 'anwesend' là một dạng nào đó của biểu thức 'có sự hiện diện'. [trang 47]

10 die ‘Gegenwart’. Mặc dù danh từ này, giống như 1rapovala hoặc 'Anwesenheit', có thể có nghĩa là sự hiện diện của ai đó ở một nơi nào đó hoặc vào một dịp nào đó, nhưng nó thường có nghĩa là hiện tại, khác với quá khứ và tương lai. Tuy nhiên, trong cấu trúc gốc từ nguyên học của nó, nó có nghĩa là sự chờ đợi hướng tới. Mặc dù Heidegger dường như cho rằng tất cả những ý nghĩa này bằng cách nào đó được kết hợp lại, chúng ta thường sẽ dịch danh từ này là 'Hiện tại', dành 'trong hiện tại' cho tính từ tương ứng 'gegenwiirtig'. [trang 47]

11 Cụm từ ζῷον λόγον ἔχον theo truyền thống được dịch là 'động vật có lý trí', với giả định rằng λόγος đề cập đến năng lực lý tính. Tuy nhiên, Heidegger chỉ ra rằng λόγος có nguồn gốc từ cùng một gốc với động từ λέγειν ('nói chuyện', 'diễn thuyết'); Ông lần lượt đồng nhất điều này với νοεῖν ('nhận thức', 'biết', 'hiểu'), và lưu ý rằng cùng một gốc từ được tìm thấy trong tính từ διαλεκτικός ('phương ngữ'). (Xem thêm H. 1 65 bên dưới.) Do đó, ông giải thích Λόγος là 'Rede', mà chúng ta thường dịch là 'diễn ngôn' hoặc 'nói chuyện', tùy thuộc vào ngữ cảnh. Xem Phần 7 B bên dưới (H.32 trở đi) và Phần 34 và 35, nơi 'Rede' sẽ được định nghĩa và phân biệt cả với 'Sprache' ('ngôn ngữ') và với 'Gerede' ('nói chuyện phiếm') (H. 160 trở đi). [trang 47]

12 ‘….von etwas Vorhandenem in seiner puren Vorhandenheit….’ Tính từ 'vorhanden' theo nghĩa đen là 'trong tay', nhưng ý nghĩa này từ lâu đã nhường chỗ cho những ý nghĩa khác. Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, chẳng hạn, nó có thể được áp dụng cho lượng hàng hóa mà một người bán có 'trong tay', hoặc cho các tác phẩm 'hiện có' của một tác giả; và trong các tác phẩm triết học trước đây, nó có thể được sử dụng, giống như chính từ 'Dasein', như một từ đồng nghĩa với từ Latinh 'existentia'. Tuy nhiên, Heidegger phân biệt khá rõ ràng giữa 'Dasein' và 'Vorhandenheit', sử dụng từ sau để chỉ một loại Tồn tại thuộc về những thứ khác với Dasein. Chúng ta sẽ dịch 'vorhanden' là 'hiện có trong tay', và 'Vorhandenheit' là 'sự hiện diện trong tay'. Người đọc phải cẩn thận để không nhầm lẫn những cách diễn đạt này với 'sự hiện diện' ('Anwesenheit') và 'Hiện tại' ('die Gegenwart'), v.v., hoặc với một vài động từ và tính từ khác mà chúng ta có thể thấy thuận tiện khi dịch là 'hiện tại'. [trang 48]

13 ‘….des reinen "Gegenwärtigens" von etwas'. Động từ 'gegenwärtigen', mà tôi rút ra từ tính từ 'gegenwärtig', không phải là một động từ tiếng Đức thông thường, nhưng đã được Husserl sử dụng và được Heidegger sử dụng rộng rãi. Mặc dù chúng ta sẽ dịch nó bằng nhiều hình thức khác nhau của 'làm cho hiện diện', nhưng nó không nhất thiết có nghĩa là 'làm cho hiện diện về mặt vật lý', mà thường có nghĩa là 'gợi nhớ một cách sống động'. [tr.48]

14 'Das Seiende, das sich in ihm für es zeigt und das als das eigentliche Seiende verstanden wird, erhält demnach seine Auslegung in Rücksicht auf-Gegen-wart, d.h. đó là Anwesenheit (οὐσία) bắt đầu.' Dấu gạch nối của 'Gegen-wart' thu hút sự chú ý đến cấu trúc của từ này theo cách không thể sao chép được bằng tiếng Anh. Xem ghi chú 2, tr. 47, H. 25 ở trên. Đại từ 'ihm' và 'es' có lẽ đều đề cập đến Mynv, mặc dù tham chiếu của chúng không rõ ràng, như phiên bản của chúng tôi gợi ý. [trang 48]

15 Lời kêu gọi tới 'Sachen selbst', mà Heidegger trình bày như một khẩu hiệu cho hiện tượng học của Husserl, không dễ dịch mà không gây hiểu lầm. Điều Husserl muốn nói đến là 'những thứ' mà từ ngữ có thể được tìm thấy để biểu thị khi ý nghĩa của chúng được trực giác chính xác bởi kiểu Anschauung phù hợp. (Xem Logische Untersuchungen của ông, tập 2, phần 1, ấn bản thứ hai, Halle, 1913, trang 6.) Chúng tôi đã theo Marvin Farber trong việc sử dụng 'chính những thứ'. (Xem The Foundation of Phenomenology của ông, Cambridge, Mass., 1943, trang 202-3.) Tất nhiên, từ 'Sache' cũng sẽ được dịch theo những cách khác. [trang 50]

 


 

 

 

 

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (II)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Việc đặt nền móng, như chúng ta đã mô tả, đúng hơn là một logic mang tính sản sinh - theo nghĩa nó nhảy vọt [tr.31] như thể, vào một lĩnh vực nào đó của Hữu thể, lần đầu tiên tiết lộ nó trong cấu thành của Hữu thể đó, và sau khi đạt đến các cấu trúc bên trong nó, làm cho những cấu trúc này có sẵn cho các khoa học thực chứng với tư cách là những nhiệm vụ minh bạch để nghiên cứu.1 Ví dụ, điều quan trọng về mặt triết học không phải là lý thuyết về sự hình thành khái niệm của môn lý luận sử học, cũng không phải là lý thuyết về tri thức sử học, hay lý thuyết về lịch sử như là đối tượng của môn lý luận sử học; điều quan trọng hơn cả là Sự diễn giải các thực thể lịch sử đích thực về sử tính của chúng2 Tương tự, kết quả tích cực của Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant nằm ở những gì nó đã đóng góp vào việc làm rõ những gì thuộc về bất kỳ Bản chất nào, chứ không phải là một ‘lý thuyết’ về tri thức. Logic siêu nghiệm của ông là một logic tiên nghiệm cho chủ đề của lĩnh vực Hữu thể được gọi là ‘Bản chất’. Nhưng chính cách khảo sát như vậy – thứ bản thể học-tự thân được hiểu theo nghĩa rộng nhất mà không ưu tiên bất kỳ hướng đi hay xu hướng bản thể học cụ thể nào - lại đòi hỏi thêm manh mối nữa. Thực tế, việc nghiên cứu Bản thể luận mang tính nguyên thủy hơn, trái ngược với việc nghiên cứu ontic thực hữu3 của các khoa học thực chứng. Nhưng bản thân nó vẫn còn ngây thơ và khó hiểu nếu việc nghiên cứu về Hữu thể của các hiện hữu lại không bàn về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Và ngay cả nhiệm vụ bản thể luận là kiến tạo một phả hệ phi-diễn dịch về cách thức khả thể khác nhau của Hữu thể trước hết cũng đòi hỏi phải hiểu được “chúng ta thực sự muốn nói gì bằng thuật ngữ ‘Hữu thể’ này’’.

Do đó, câu hỏi về Hữu thể nhằm mục đích xác định các điều kiện tiên nghiệm không chỉ cho khả tính của các ngành khoa học xác định các hiện hữu như là những hiện hữu thuộc loại này hay loại khác, và khi làm như vậy, đã vận hành cách lý giải về Hữu thể, cũng như cho khả tính của chính những bản thể luận đó, vốn có trước các ngành khoa học ontic thực hữu và cung cấp nền tảng cho chúng. Về cơ bản, toàn bộ bản thể luận, cho dù sở hữu một hệ thống các phạm trù phong phú và vững chắc đến đâu, vẫn mù quáng và lệch lạc khỏi mục đích tối thượng của nó, nếu trước tiên nó không minh định được đầy đủ ý nghĩa của Hữu thể, và coi việc minh định này là nhiệm vụ cơ bản của mình. Chính việc nghiên cứu bản thể luận, nếu hiểu đúng sẽ mang lại cho câu hỏi về Hữu thể một ưu quyền bản thể luận vượt ra ngoài sự tiếp nối đơn thuần của một truyền thống khả kính và tiên tiến với một vấn đề cho đến nay vẫn còn mơ hồ. Nhưng cái ưu quyền khoa học khách quan này lại không phải là duy nhất.

4. Ưu quyền Bản thể luận của Câu hỏi về Hữu thể

Khoa học nói chung có thể được định nghĩa là toàn thể được thiết lập thông qua sự liên kết của các mệnh đề chân.4 Định nghĩa này không đầy đủ, cũng không đạt đến ý nghĩa của khoa học. Là những cách thức mà con người hành xử, khoa học có cách thức của Hữu thể mà hiện hữu tự thân con người này - sở hữu. Chúng tôi biểu thị hiện hữu ấy bằng thuật ngữ ‘Dasein’. Nghiên cứu khoa học không phải là cách thức duy nhất của Hữu thể mà hiện hữu này có thể có, cũng không phải là cách thức gần gũi nhất. Hơn nữa, bản thân Dasein có một đặc điểm riêng biệt so với các hiện hữu khác, và cái đáng để chúng ta xem xét một cách sơ bộ chính là điều này. Ở đây, cuộc thảo luận của chúng ta phải dự đoán các phân tích về bản thân Dasein, trong đó, lần đầu tiên, các kết quả của chúng ta sẽ được trình bày một cách xác thực.

[Ghi chú: dù đoạn trên dịch từ bản Tiếng Anh, nhưng Người đọc muốn trình ra đây đoạn nguyên bản tr.11-12 để lưu ý Bạn đọc hãy so sánh chỉ một điều nhỏ thôi, đó là trường hợp các từ Seiende/ Seienden của bản tiếng Đức được dịch ra tiếng Anh là entity/entities. Đối với Người đọc, vì đã chót quen với cặp Sein/ Seiende là Being/being Hữu thể/hiện hữu nên trong suốt quá trình đọc của mình ở bản tiếng Anh, tôi không thay đổi Being/being bằng Being/entity/entities: Hữu thể/thực thể - dù biết rõ như bất kỳ ai đã ít nhiều theo học tiếng Latin rằng entity xuất hiện lần đầu vào cuối thế kỷ 16 có gốc từ tiếng Latinh entitas có nghĩa là ‘tồn tại’ hoặc ‘hiện hữu’; đến lượt mình entitas được hình thành từ ens có dạng sở hữu cách entis, là một phân từ hiện tại được tạo ra từ động từ Latin esse, có nghĩa là ‘là’ hoặc ‘tồn tại’; hơn nữa, hậu tố ‘-ity’ xuất phát từ ‘-itatem’, với nghĩa ‘chất, tính chất, hoặc trạng thái của’; vậy là theo nghĩa đen, ‘entity’ là ‘một thứ hiện hữu/tồn tại’; các nhà triết học xưa đã đặt ra thuật ngữ này để thiết lập sự phân biệt giữa ‘esse’ - tồn tại thực tế - và ‘ens’ - tồn tại trừu tượng như một khái niệm rồi chuyển từ khái niệm trừu tượng về ‘tồn tại’ thành một đơn vị riêng biệt. Wissenschaft überhaupt kann als das Ganze eines Begründungszusammenhanges wahrer Sätze bestimmt werden. Diese Definition ist weder vollständig, noch trifft sie die Wissenschaft in ihrem Sinn. Wissenschaften haben als Verhaltungen des Menschen die Seinsart dieses Seienden (Mensch). Dieses Seiende fassen wir terminologisch als Dasein. Wissenschaftliche Forschung ist nicht die einzige und nicht die nächste mögliche Seinsart dieses Seienden. Das Dasein selbst ist überdies vor anderem Seienden ausgezeichnet. Diese Auszeichnung gilt es vorläufig sichtbar zu machen. Hierbei muß die Erörterung den nachkommenden und erst eigentlich aufweisenden Analysen vorgreifen. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.11-12. HHN)]

Dasein là một hiện hữu không chỉ xuất hiện giữa các hiện hữu khác. Thay vào đó, nó được phân biệt về phương diện ontic thực hữu luận bởi thực tế là, trong chính Hữu thể của nó, thứ Hữu thể là một vấn đề đối với nó. Nhưng trong trường hợp đó, đây lại là một trạng thái cấu thành Hữu thể của Dasein, và điều này ngụ ý rằng Dasein, trong Hữu thể của nó, có một mối quan hệ đối với Hữu thể đó - một mối quan hệ mà bản thân nó là một mối quan hệ của Hữu thể.5 Và điều này có nghĩa là có một cách nào đó mà Dasein hiểu chính nó trong Hữu thể của nó, và ở một mức độ nào đó, nó làm như vậy một cách rõ ràng. Đặc điểm riêng của hiện hữu này là vớithông qua Hữu thể của nó, Hữu thể đó được tiết lộ cho nó. Sự hiểu biết về Hữu thể tự nó là một đặc điểm nhất định của Hữu thể của Dasein. Dasein mang tính đặc thù ontic thực hữu luận ở chỗ nó mang tính bản thể luận.6 Ở đây, ‘Hữu thể-bản thể luận” chưa đồng nghĩa với việc ‘phát triển một bản thể học’. Vì vậy, nếu chúng ta dành thuật ngữ ‘bản thể luận’ cho việc khảo sát lý thuyết được dành riêng cho ý nghĩa của các hiện hữu, thì điều chúng ta đã nghĩ đến khi nói về ‘Hữu-thế-bản thể luận’ của Dasein cần được chỉ định là một cái gì đó ‘tiền-bản thể luận’. Tuy nhiên, nó không chỉ đơn giản có nghĩa là ‘hiện hữu-thực hữu’, mà đúng hơn là ‘hiện hữu theo cách mà người ta có sự hiểu biết về Hữu thể’.

Loại Hữu thể mà Dasein có thể hướng tới theo cách này hay cách khác, và luôn luôn hướng tới theo một cách nào đó, chúng ta gọi là Existenz ‘tồn tại’. Và bởi vì chúng ta không thể định nghĩa bản chất của Dasein bằng cách trích dẫn một ‘cái gì’ thuộc loại liên quan đến chủ thể, và bởi vì bản chất của nó nằm ở chỗ trong mỗi trường hợp nó [tr.33] đều có Hữu thể của nó để tồn tại, và coi nó là của riêng mình,7  chúng ta đã chọn đặt tên cho thực thể này là ‘Dasein’, một thuật ngữ hoàn toàn là biểu hiện của Hữu thể của nó. [Nguyên bản: Das Sein selbst, zu dem das Dasein sich so oder so verhalten kann und immer irgendwie verhält, nennen wir Existenz. Und weil die Wesensbestimmung dieses Seienden nicht durch Angabe eines sachhaltigen Was vollzogen werden kann, sein Wesen vielmehr darin liegt, daß es je sein Sein als seiniges zu sein hat, ist der Titel Dasein als reiner Seinsausdruck zur Bezeichnung dieses Seienden gewählt – Hữu thể tự thân, mà Dasein liên hệ theo cách này hay cách khác và luôn luôn liên hệ theo một cách nào đó, chúng ta gọi là Existenz tồn tại. Và bởi vì việc xác định thiết yếu hiện hữu này không thể hoàn thành bằng cách chỉ định một ‘cái gì’ thực tế, mà bản chất của nó nằm ở chỗ luôn phải là Hữu thể của chính nó, nên danh xưng Dasein, như một biểu hiện thuần túy của Hữu thể, đã được chọn để chỉ định hiện hữu này. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.12. - HHN)].

Dasein luôn hiểu chính nó theo khuôn khổ sự tồn tại của nó - theo khuôn khổ khả tính của chính nó: là chính nó hay không là chính nó. Dasein hoặc đã tự thân chọn những khả tính này, hoặc đã đạt được chúng, hoặc đã trưởng thành trong chúng. Chỉ có Dasein cụ thể mới quyết định sự tồn tại của nó, cho dù nó làm như vậy bằng cách nắm bắt hay bằng cách bỏ mặc. Câu hỏi về sự tồn tại không bao giờ được làm rõ ngoại trừ thông qua chính tự thân tồn tại. “Das hierbei führende Verständnis seiner selbst nennen wir das existenzielle.” Sự hiểu biết về bản thân dẫn dắt theo con đường này được chúng ta gọi là hiểu biết ‘hiện sinh’.8  [Cần ghi chú nhỏ về cái gọi là ‘hiểu biết hiện sinh’ của Heidegger: Trong triết học của Martin Heidegger, ‘Existenzial’ đề cập đến các đặc điểm cấu trúc, phổ quát của Dasein hiện hữu người, trái ngược với ‘existenziell’, biểu thị những lựa chọn riêng tư, cụ thể của một cá nhân. Do đó, existenziales Verständnis hiểu biết hiện sinh có nghĩa là hiểu được những cách thức cấu trúc, cơ bản mà con người hiện hữu và liên hệ với thế giới. Để phân tích sâu hơn, Heidegger chia hiểu biết của con người thành hai lĩnh vực chính trong tác phẩm kinh điển ‘Hữu thể và Thời gian’ của ông: i) Hiểu biết hiện sinh về phương diện Bản thể luận, đó là hiểu biết lý thuyết hoặc triết học về các cấu trúc phổ quát tạo nên bất kỳ cuộc sống nào của con người, ví dụ: cái chết, tâm trạng xao xuyến, hiện-hữu-trong-thế-giới, v.v…tất cả đều đặt câu hỏi về ý nghĩa của việc làm người. Về phương diện này, Heidegger đã sử dụng thuật ngữ existenzial ‘hiện sinh’ để mô tả phân tích triết học nghiêm ngặt của ông về bản chất cấu trúc của Dasein; ii) Hiểu biết hiện sinh về phương diện ontic thực hữu là sự hiểu biết cụ thể, trải nghiệm mà một cá nhân có được về cuộc sống và những lựa chọn cụ thể của chính họ; nó đặt ra câu hỏi: Tôi là ai và tôi chọn cuộc sống như thế nào; chẳng hạn trong khi Mortalität ‘Khả tử tính’ là một cấu trúc hiện sinh - phổ quát - áp dụng cho tất cả con người, thì sự chấp nhận cái chết của chính bạn, về mặt cá nhân, cảm xúc hoặc thực tiễn, lại Existenzielle mang tính hiện sinh. Hai phương diện đó có mối liên hệ với nhau, Heidegger cho rằng ta không thể có cái này mà thiếu cái kia; cuộc sống thực tiễn hàng ngày mang tính hiện sinh của chúng ta giả định rằng chúng ta đã có một sự hiểu biết mơ hồ, tiềm ẩn hoặc tiền lý thuyết về các cấu trúc vĩ đại của sự tồn tại người - existentiell hiện sinh. - HHN] Câu hỏi về tồn tại là một trong những ‘vấn đề’ ontic thực hữu của Dasein. Điều này không đòi hỏi cái cấu trúc bản thể luận của sự tồn tại phải minh bạch về mặt lý thuyết. Câu hỏi về cấu trúc đó nhằm mục đích Auseinanderlegung phân tích những gì cấu thành nên sự tồn tại. Bối cảnh của những cấu trúc như vậy được chúng ta gọi là ‘tính hiện sinh’. Tính phân tích của nó mang đặc trưng của một sự hiểu biết không phải là existentiell hiện sinh, mà đúng hơn là existential mang tính tồn tại. Nhiệm vụ của một phân tích tồn tại về Dasein đã được vạch ra trước, cả về khả tính và tất yếu tính của nó, trong cấu thành ontic thực hữu luận của Dasein.

Chừng nào tồn tại còn là đặc tính quyết định của Dasein, thì việc phân tích bản thể luận của hiện hữu này luôn đòi hỏi phải xem xét tồn tại tính trước. Bằng ‘tồn tại tính’, chúng ta hiểu là trạng thái của Hữu thể, thứ cấu thành nên những hiện hữu tồn tại. Nhưng trong ý niệm về trạng thái cấu thành của Hữu thể như vậy, thì ý niệm về Hữu thể cũng đã được bao hàm. Và do đó, ngay cả khả tính thực hiện cái có tính phân tích về Dasein cũng phụ thuộc vào việc giải quyết trước câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. [Ghi chú nguyên văn: Sofern nun aber Existenz das Dasein bestimmt, bedarf die ontologische Analytik dieses Seienden je schon immer einer vorgängigen Hinblicknahme auf Existenzialität. Diese verstehen wir aber als Seinsverfassung des Seienden, das existiert. In der Idee einer solchen Seinsverfassung liegt aber schon die Idee von Sein. Und so hängt auch die Möglichkeit einer Durchführung der Analytik des Daseins an der vorgängigen Ausarbeitung der Frage nach dem Sinn von Sein überhaupt. Tuy nhiên, nếu sự tồn tại quyết định Dasein, thì việc phân tích bản thể học của hiện hữu này luôn đòi hỏi phải xem xét trước về tồn tại tính. Chúng ta hiểu điều này như là trạng thái Hữu thể của cái hiện hữu tồn tại. Nhưng ý niệm về một trạng thái Hữu thể như vậy cũng đã bao hàm ý niệm về tự thân Hữu thể đó. Vì vậy, khả tính thực hiện phân tích Dasein cũng phụ thuộc vào việc làm rõ trước câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.13. - HHN)]. Khoa học là những cách thức của Hữu thể mà trong đó tự thân Dasein hành xử đối với các hiện hữu mà bản thân nó không nhất thiết phải tự thân là loại hiện hữu đó. Nhưng Hữu thể trong một thế giới là một cái gì đó tự bản chất lại thuộc về Dasein. Do đó, hiểu biết của Dasein về Hữu thể liên quan đến cả hiểu biết về một cái gì đó giống như một ‘thế giới’, và hiểu biết về Hữu thể của những hiện hữu nào trở nên có thể tiếp cận được trong thế giới đó.9 Vì vậy, bất cứ khi nào một bản thể học lấy các hiện hữu có đặc tính Hữu thể khác với Dasein làm đối tượng của nó, thì nó có nền tảng và động lực riêng trong cấu trúc ontic thực hữu của chính Dasein, trong đó hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể được bao gồm như một đặc điểm xác định.

[Tr.34] Do đó, bản thể học cơ bản, mà duy nhất từ đó tất cả các bản thể học khác có thể nảy sinh, phải được tìm kiếm trong phân tích tồn tại của Dasein. Theo đó, Dasein có ưu quyền hơn tất cả các hiện hữu khác theo nhiều cách. Ưu quyền đầu tiên là ưu quyền mang tính ontic thực hữu luận: Dasein là một hiện hữu mà Hữu thể của nó mang đặc tính xác định của sự tồn tại. Ưu quyền thứ hai là ưu quyền về bản thể luận: Dasein tự nó có tính ‘bản thể luận’, do đó tồn tại mang tính quyết định đối với nó. Nhưng với gleichursprünglich nguyên tính ngang nhau, Dasein cũng sở hữu - như một yếu tố cấu thành cho sự hiểu biết về sự tồn tại của nó - một sự hiểu biết về Hữu thể của tất cả các hiện hữu có đặc tính khác với chính nó. Do đó, Dasein có ưu quyền thứ ba là cung cấp điều kiện ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận cho khả tính của bất kỳ bản thể học nào. Như vậy, hơn bất kỳ hiện hữu nào khác, Dasein đã trở thành hiện hữu đầu tiên phải được xem xét về mặt bản thể luận. Nhưng nguồn gốc phân tích hiện sinh, về phần mình, cuối cùng là hiện sinh, tức là bản thể luận. Chỉ khi nào việc nghiên cứu triết học được nắm bắt hiện sinh như một khả tính về Hữu thể của mỗi Dasein đang tồn tại, thì mới có thể làm sáng tỏ tính hiện sinh của tồn tại và tiến hành một vấn đề bản thể học được đặt nền tảng đầy đủ. Nhưng với điều này, ưu quyền ontisch thực hữu luận của vấn đề hiện hữu cũng trở nên rõ ràng.

Cái ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận của Dasein đã được nhận thấy khá sớm, mặc dù bản thân Dasein chưa được nắm bắt trong cấu trúc bản thể luận đích thực của nó, và thậm chí chưa trở thành một vấn đề mà trong đó cấu trúc này được tìm kiếm. Aristotle nói: ἡ ψυχὴ τὰ ὄντα πώς ἐστι vi (hē psychē ta onta pōs esti) ‘Linh hồn con người, theo một cách nào đó, là các hiện hữu.’ (tri giác, cảm giác, hoặc sự phân biệt - HHN) và νόησις (trí tuệ, sự thông minh, hoặc việc vận dụng lý trí) trong số các cách thức của Hữu thể của nó, và trong những điều này nó khám phá ra tất cả các hiện hữu, cả trong thực tế mà chúng tồn tại, và trong Hữu thể của chúng như chúng vốn có - nghĩa là, luôn luôn trong Hữu thể của chúng. Nguyên tắc của Aristotle, vốn quay trở lại luận đề bản thể luận của Parmenides, là một nguyên tắc mà Thomas Aquinas đã đề cập trong một cuộc thảo luận rất đặc trưng. Thomas đang thực hiện nhiệm vụ tìm ra cái ‘transcendentia’ siêu việt – những đặc tính của Hữu thể nằm ngoài mọi cách thức khả thể trong đó một hiện hữu có thể được phân loại như là loại chủ đề chung nào đó (modus specialis entis phương thức tồn tại đặc thù), và nó nhất thiết phải thuộc về bất cứ thứ gì, bất kể nó có thể là gì. Thomas phải chứng minh rằng cái verum đích thực là một siêu việt như vậy. Ông làm điều này bằng cách viện dẫn một hiện hữu mà, phù hợp với chính cách thức của Hữu thể của nó, thì thích hợp để ‘kết hợp với’ các hiện hữu thuộc bất kỳ loại nào. Hiện hữu đặc biệt này, ens quod natum est convenire cum omni ente "Một hiện hữu được sinh ra để dung hợp với mọi hiện hữu khác", đó chính là anima linh hồn.v11

Ở đây, ưu quyền của ‘Dasein’ so với tất cả các hiện hữu khác nổi lên, mặc dù nó chưa được minh định về mặt bản thể học. Ưu quyền này rõ ràng không có điểm chung nào với việc chủ thể hóa một cách trầm trọng toàn bộ các hiện hữu. Bằng cách chỉ ra cái ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận của Dasein theo cách tạm thời này [tr.35], chúng ta đã đặt nền tảng cho việc chứng minh rằng câu hỏi về Hữu thể mang tính đặc thù ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận. Nhưng khi phân tích cấu trúc của câu hỏi này theo đúng nghĩa (Mục 2), chúng ta đã vấp phải một cách thức đặc biệt mà thực thể này hoạt động trong chính việc đặt ra câu hỏi đó. Vậy là Dasein đã tự bộc lộ là thứ hiện hữu cần được xử lý trước tiên theo cách thức bản thể luận phù hợp, nếu muốn việc khảo sát trở nên minh bạch. Nhưng giờ đây, người ta đã chỉ ra rằng lối phân tích mang tính bản thể luận về Dasein nói chung là cái tạo nên bản thể luận cơ bản, sao cho Dasein hoạt động với tư cách hiện hữu mà về nguyên tắc cần phải được chất vấn trước về Hữu thể của nó. Nếu Diễn giải ý nghĩa Hữu thể trở thành nhiệm vụ của chúng ta, thì Dasein không chỉ là hiện hữu chính yếu cần chất vấn, mà đó cũng là thứ hiện hữu đã tự hành xử, trong Hữu thể của nó, hướng đến cái mà chúng ta đang hỏi đến khi đặt câu hỏi này. Nhưng trong trường hợp đó, câu hỏi về Hữu thể không gì khác lối cấp tiến hóa của một xu-hướng-của-Hữu-thể thiết yếu thuộc về chính Dasein - hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể.      

II. NHIỆM VỤ KÉP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÂU HỎI VỀ HỮU THỂ. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CỦA CHÚNG TÔI

5. Bản thể luận của Dasein - Chân trời Diễn giải Ý nghĩa Hữu thể

Trong việc xác định các nhiệm vụ ‘tạo dựng’ vấn đề Hữu thể, chúng ta đã chỉ ra việc cần phải xác định hiện hữu nào sẽ đóng vai trò là đối tượng chất vấn chính của mình, mà còn ấn định rõ cách tiếp cận đúng đắn đối với hiện hữu này là loại hiện hữu mà chúng ta phải xác định rõ ràng và giữ vững. Chúng ta đã thảo luận về hiện hữu nào đảm nhận vai trò chính trong vấn đề Hữu thể. Nhưng làm thế nào để chúng ta hướng tầm nhìn của mình đến loại hiện hữu này, Dasein, vừa là thứ có thể tiếp cận được với chúng ta, lại vừa là thứ cần được hiểu và diễn giải? Trong việc chứng minh rằng Dasein có ưu quyền về mặt ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận, chúng ta có thể đã khiến người đọc hiểu nhầm rằng loại hiện hữu này cũng phải là cái được coi là ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận chủ yếu không chỉ theo nghĩa nó có thể tự thân được nắm bắt ‘ngay lập tức’, mà còn ở chỗ loại Hữu thể mà nó sở hữu cũng hệt như vậy, phải được trình bày ‘ngay lập tức’. Về mặt thực hữu luận, dĩ nhiên, Dasein không chỉ gần gũi với chúng ta - thậm chí là cái gần gũi nhất: chúng ta chính là nó, mỗi người trong chúng ta, chính bản thân chúng ta. Mặc dù vậy, hay đúng hơn là chính vì lý do này, nó lại là cái xa nhất về mặt bản thể luận. Chắc chắn, cái Hữu thể tối thượng của nó là như vậy, nó có sự hiểu biết về Hữu thể đó, và đã tự duy trì trong mỗi trường hợp hệt như cái Hữu thể của nó đã được diễn giải theo một cách nào đó. Nhưng chúng tôi chắc chắn không nói rằng khi Hữu thể của Dasein được diễn giải theo cách gần gũi nhất về phương diện tiền-bản thể luận, thì cách diễn giải này có thể được coi là một manh mối thích hợp, như thể cách hiểu này về Hữu thể là cái phải xuất hiện khi trạng thái Hữu thể tối thượng của một kẻ được xem xét10 như một chủ đề bản thể luận. Loại Hữu thể thuộc về Dasein, khi hiểu Hữu thể của chính nó, có xu hướng làm như vậy theo khuôn khổ của cái mà nó hướng tới một cách gần gũi và theo cách về cơ bản là không đổi - theo khuôn khổ của ‘thế giới’. Trong tự thân Dasein, và trong hiểu biết của chính nó về Hữu thể, cách thức mà thế giới được hiểu [tr.37], như chúng ta sẽ thấy, được phản ánh lại về mặt bản thể luận lên cái cách thức mà tự thân Dasein được diễn giải.

Vậy là bởi vì Dasein là ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận, nên trạng thái của Hữu thể đặc thù của chính nó (nếu ta hiểu điều này theo nghĩa ‘cấu trúc phạm trù’ của Dasein) vẫn bị che giấu khỏi nó. Dasein về mặt thực hữu luận là ‘gần gũi’ nhất với chính nó và về mặt bản thể luận là xa cách nhất; nhưng về mặt tiền-bản thể luận, nó chắc chắn không phải là một hiện hữu xa lạ. Ở đây, chúng ta chỉ tạm thời chỉ ra rằng một sự Diễn giải về hiện hữu này phải đối mặt với những khó khăn đặc thù bắt nguồn từ loại Hữu thể thuộc về đối tượng được chọn làm chủ đề của chúng ta và từ chính hành vi của việc lựa chọn nó. Những khó khăn này không bắt nguồn từ bất kỳ thiếu sót nào của năng lực nhận thức mà chúng ta được ban tặng, hoặc từ việc thiếu một cách thức phù hợp để hình dung - một thiếu sót dường như không khó để khắc phục. Tuy nhiên, không chỉ sự hiểu biết về Hữu thể thuộc về Dasein; mà sự hiểu biết này còn phát triển hoặc suy giảm cùng với bất kỳ loại Hữu thể nào mà Dasein có thể sở hữu vào thời điểm ấy; do đó, có nhiều cách diễn giải khác nhau về Dasein, và tất cả đều nằm trong tầm kiểm soát của Dasein.

Các cách thức hành xử, năng lực, quyền năng, khả tính và sự thăng trầm của Dasein đã được nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau trong tâm lý học triết học, nhân học, đạo đức học và khoa học chính trị, trong thơ ca, tiểu sử và việc viết lịch sử, mỗi lĩnh vực theo một cách riêng. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu những diễn giải ấy về Dasein có được thực hiện với một tồn tại tính nguyên thủy tương đương với bất kỳ tính nguyên thủy hiện sinh nào mà chúng có thể sở hữu hay không. Cả hai điều này không loại trừ lẫn nhau nhưng chúng không nhất thiết phải đi cùng nhau. Diễn giải hiện sinh có thể đòi hỏi một phân tích tồn tại, nếu thực sự chúng ta coi nhận thức triết học là điều gì đó khả thể và cần thiết. Chỉ khi các cấu trúc cơ bản của Dasein được làm rõ một cách đầy đủ với định hướng rõ ràng hướng tới vấn đề Hữu thể tự thân, thì những gì chúng ta đã đạt được cho đến nay trong việc diễn giải Dasein mới có được sự biện minh mang tính tồn tại của nó. Do đó, một tính chất phân tích về Dasein vẫn phải là yêu cầu đầu tiên của chúng ta trong vấn đề Hữu thể. Nhưng trong trường hợp đó, vấn đề đạt được và đảm bảo loại hình tiếp cận dẫn đến Dasein càng trở nên cấp thiết hơn. Nói một cách phủ định, chúng ta không có quyền viện đến những cấu trúc giáo điều và áp dụng bất kỳ ý niệm nào về Hữu thể và hiện thực tính cho hiện hữu này, cho dù ý niệm đó có ‘hiển nhiên’ đến đâu; cũng không thể áp đặt bất kỳ ‘phạm trù’ nào mà một ý niệm như vậy ấn định lên Dasein mà không có sự xem xét bản thể luận thích đáng. Thay vào đó, phải chọn một cách tiếp cận và diễn giải sao cho hiện hữu này có thể an ihm selbst von ihm selbst her tự thể hiện chính nó và trong tự thân nó. Và điều này có nghĩa là nó phải được thể hiện như nó vốn có và phần lớn [tr.38] trong cuộc sống thường nhật bình thường của nó.11

Trong tính chất thường nhật này, có một số cấu trúc nhất định mà chúng ta sẽ trình bày - không chỉ là những cấu trúc ngẫu nhiên, mà là những cấu trúc thiết yếu, trong mọi loại Hữu thể mà Dasein thực tế có thể sở hữu, vẫn tồn tại như là yếu tố quyết định đến bản chất của Hữu thể đó. Do đó, bằng cách xem xét trạng thái cơ bản của tính chất thường nhật của Dasein, chúng ta sẽ làm nổi bật Hữu thể của hiện hữu này bằng bước chuẩn bị. Khi được xem xét theo cách này, phân tích về Dasein vẫn hoàn toàn hướng tới nhiệm vụ dẫn dắt là giải quyết câu hỏi về Hữu thể. Do đó giới hạn của nó được xác định. Không thể cố cung cấp một bản thể luận hoàn chỉnh về Dasein, điều chắc chắn phải được xây dựng nếu bất cứ điều gì giống như một nhân học ‘triết học’ muốn có một cơ sở triết học đầy đủ.12 Nếu mục đích của chúng ta là làm cho một nhân học như vậy trở nên khả thể, hoặc đặt nền tảng bản thể luận của nó, thì Diễn giải của chúng ta sẽ chỉ cung cấp một số ‘mảnh ghép’, mặc dù chúng không phải là những mảnh ghép không thiết yếu. Tuy nhiên, phân tích về Dasein không chỉ không đầy đủ; mà trước hết, còn mang tính tạm thời. Nó chỉ đơn thuần làm nổi bật Hữu thể của hiện hữu này, mà không diễn giải ý nghĩa của nó, hệt như một quy trình chuẩn bị để làm sáng tỏ chân trời cho cách diễn giải Hữu thể nguyên thủy nhất. Một khi chúng ta đã đạt đến chân trời đó, thì bước phân tích chuẩn bị này về Dasein sẽ phải được lặp lại trên một cơ sở cao hơn và mang tính bản thể học đích thực.

[Ghi chú chút nguyên bản để so sánh: Die so gefaßte Analytik des Daseins bleibt ganz auf die leitende Aufgabe der Ausarbeitung der Seinsfrage orientiert. Dadurch bestimmen sich ihre Grenzen. Sie kann nicht eine vollständige Ontologie des Daseins geben wollen, die freilich ausgebaut sein muß, soll so etwas wie eine »philosophische« Anthropologie auf einer philosophisch zureichenden Basis stehen. In der Absicht auf eine mögliche Anthropologie, bzw. deren ontologische Fundamentierung, gibt die folgende Interpretation nur einige, wenngleich nicht unwesentliche »Stücke«. Die Analyse des Daseins ist aber nicht nur unvollständig, sondern zunächst auch vorläufig. Sie hebt nur erst das Sein dieses Seienden heraus ohne Interpretation seines Sinnes. Die Freilegung des Horizontes für die ursprünglichste Seinsauslegung soll sie vielmehr vorbereiten. Ist dieser erst gewonnen, dann verlangt die vorbereitende Analytik des Daseins ihre Wiederholung auf der höheren und eigentlichen ontologischen Basis. Phiên bừa: Phân tích về Dasein, như được hình dung ở đây, vẫn hoàn toàn tập trung vào nhiệm vụ hướng dẫn để làm rõ câu hỏi về Hữu thể. Điều này xác định giới hạn của nó. Nó không thể nhằm mục đích cung cấp một bản thể luận hoàn chỉnh về Dasein, vốn đương nhiên phải được phát triển nếu một cái gì đó giống như nhân học ‘triết học’ muốn đứng vững trên một nền tảng triết học đầy đủ. Với ý hướng về một nhân học khả thể, hay đúng hơn là nền tảng bản thể luận của nó, cách diễn giải sau đây chỉ đưa ra một vài ‘mảnh ghép’, mặc dù không phải là không mấy ý nghĩa. Ngay từ khởi đầu phân tích về Dasein không chỉ chưa hoàn chỉnh mà còn mang tính tạm thời. Nó chỉ làm sáng tỏ cái Hữu thể của hiện hữu này mà không diễn giải ý nghĩa của nó. Thay vào đó, nó nhằm mục đích chuẩn bị nền tảng cho cách diễn giải độc đáo nhất về Hữu thể. Một khi nền tảng này đã được thiết lập, thì vorbereitende Analytik bước phân tích chuẩn bị về Dasein đòi hỏi sự lặp lại của nó trên cơ sở bản thể luận cao hơn và chân thực. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.17. - HHN)] Chúng ta sẽ chỉ ra thời tính thời13 như là ý nghĩa Hữu thể của thứ hiện hữu gọi là ‘Dasein’. Nếu điều này được chứng minh, thì những cấu trúc của Dasein mà chúng ta sẽ tạm thời trình bày phải được diễn giải lại như là các phương thức của thời tính. Tuy nhiên, khi diễn giải Dasein với tư cách thời tính, chúng ta sẽ không đưa ra lời đáp cho câu hỏi chính của mình về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Nhưng sẽ có sự chuẩn bị nền tảng để có được câu trả lời như vậy.

[Tr.39] Chúng ta đã ám chỉ rằng Dasein có một Hữu thể tiền-bản thể luận với tư cách là trạng thái cấu thành Hữu thể của nó về phương diện thực hữu. Theo cách nào đó Dasein phải là thứ hiểu được thứ gì đó giống như Hữu thể.14 Giữ vững mối liên hệ này trong tâm trí, chúng ta sẽ chỉ ra rằng bất cứ khi nào Dasein ngầm hiểu và diễn giải thứ gì đó giống như Hữu thể, thì nó đều làm như vậy với thời gian với tư cách là quan điểm của mình. Thời gian phải được làm sáng tỏ - và được hình dung một cách chân thực - như là chân trời cho mọi hiểu biết về Hữu thể và cho bất kỳ cách diễn giải nào về nó. Để chúng ta nhận ra điều này, thời gian cần được giải thích một cách cơ bản như là chân trời cho sự hiểu biết về Hữu thể, và trong khuôn khổ thời tính với tư cách là Hữu thể của Dasein, vốn hiểu rõ Hữu thể. Do đó toàn bộ nhiệm vụ này đòi hỏi rằng quan niệm có được về thời gian phải phân biệt với cách hiểu thông thường về nó. Cách hiểu thông thường này đã trở nên rõ ràng bằng một cách diễn giải được hình thành trong khái niệm truyền thống về thời gian, vốn đã tồn tại từ Aristotle đến Bergson và thậm chí cả sau này. Ở đây chúng ta phải làm rõ quan niệm ấy về thời gian, và nói chung, cách hiểu thông thường về nó, đã bắt nguồn từ thời tính, và phải chỉ rõ điều đó đã diễn ra như thế nào. Như vậy, chúng ta sẽ khôi phục lại cho quan niệm thông thường tính tự chủ vốn có của nó, trái ngược với luận điểm của Bergson cho rằng thời gian mà người ta đề cập trong quan niệm này chính là không gian.

‘Thời gian’ từ lâu đã đóng vai trò là một tiêu chí bản thể luận - hay đúng hơn là tiêu chí ontic thực hữu - để phân biệt một cách ngây thơ các lĩnh vực khác nhau của các hiện hữu. Người ta đã phân biệt giữa các thực thể ‘thời gian’ (các quá trình tự nhiên, các sự kiện lịch sử) và các thực thể ‘phi thời gian’ (các mối quan hệ không gian và số học). Chúng ta quen với việc đối lập ý nghĩa ‘phi thời gian’ của các mệnh đề với quá trình theo ‘thời gian’ của các khẳng định mệnh đề. Người ta cũng cho rằng có một ‘sự phân tách’ giữa các thực thể mang tính ‘thời gian’ và cái vĩnh hằng ‘siêu thời gian’, và người ta đang nỗ lực để thu hẹp khoảng cách này. Ở đây, tính chất ‘thời gian’ luôn có nghĩa đơn giản là seiend ‘hiện hữu trong thời gian’ - một ấn định phải thừa nhận là vẫn còn khá mơ hồ. Cái Thực tế vẫn là thời gian, theo nghĩa ‘tồn tại trong thời gian’, đóng vai trò là một tiêu chí để phân biệt các lĩnh vực Hữu thể. Cho đến nay, chưa ai yêu cầu hoặc bận tâm khảo sát cái cách thức làm thế nào mà thời gian lại có được chức năng bản thể luận đặc biệt này, hay bất cứ thứ gì giống như thời gian lại vận hành theo đúng nghĩa một tiêu chí; cũng chưa ai đặt câu hỏi liệu mối liên quan bản thể luận đích thực mà nó có thể mang lại có được thể hiện khi ‘thời gian’ được sử dụng theo cách thức bản thể luận ngây thơ như vậy hay không. ‘Thời gian’ đã tự mình có được chức năng bản thể luận ‘hiển nhiên’ này, có thể nói như vậy; thực tế là nó đã làm được điều đó bên trong cái chân trời của cách thức hiểu biết thông thường về nó. Và nó đã tự duy trì chức năng này cho đến ngày nay.

[Tr.40] Trái ngược với tất cả những điều này, cách chúng ta xử lý vấn đề ý nghĩa của Hữu thể phải cho phép chúng ta chứng minh rằng vấn đề trung tâm của toàn bộ bản thể luận bắt nguồn từ hiện tượng thời gian, nếu được nhìn nhận và giải thích đúng đắn, và chúng ta phải chỉ ra cái cách thức mà điều này là điển hình. Nếu Hữu thể được hình dung bằng khuôn khổ thời gian, và nếu quả thực, các phương thức và dẫn xuất khác nhau của nó trở nên dễ hiểu trong các biến thể và dẫn xuất tương ứng của chúng bằng cách xem xét thời gian, thì chính Hữu thể (và không chỉ là các hiện hữu, chẳng hạn như các hiện hữu ‘trong thời gian’) do đó được hiển thị trong đặc trưng mang tính ‘thời gian’ của nó. Nhưng trong trường hợp đó, ‘tính thời gian’ không còn có thể chỉ đơn giản có nghĩa là ‘hiện hữu trong thời gian’. Ngay cả ‘phi-thời gian’ và ‘siêu-thời gian’ cũng mang tính ‘thời gian’ đối với Hữu thể của chúng, và không chỉ là phủ định bằng cách tương phản với một cái gì đó mang tính ‘thời gian’ như một hiện hữu ‘trong thời gian’, mà còn theo nghĩa khẳng định, mặc dù đó là điều mà trước tiên chúng ta phải giải thích.

Trong cả cách sử dụng tiền-triết học và triết học, cách thể hiện ‘tính chất thời gian’ đã bị chiếm đoạt bởi ý nghĩa mà chúng ta đã trích dẫn; tuy nhiên, trong các nghiên cứu tiếp theo, chúng ta sẽ sử dụng nó cho một ý nghĩa khác. Như vậy, cái cách thức mà Hữu thể và các phương thức cũng như đặc điểm của nó được xác định ý nghĩa một cách nguyên thủy bằng khuôn khổ thời gian, là điều mà chúng ta sẽ gọi là tính xác định ‘Thời gian’ của nó.15 Do đó, nhiệm vụ bản thể luận cơ bản của việc Diễn giải Hữu thể theo đúng nghĩa bao gồm việc làm rõ Thời tính của Hữu thể. Trong phần trình bày về vấn đề Thời tính, câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể trước hết sẽ được trả lời một cách cụ thể. Bởi vì Hữu thể không thể được nắm bắt nếu không xem xét đến thời gian, nên câu trả lời cho câu hỏi về Hữu thể không thể nằm trong bất kỳ mệnh đề nào mù quáng và biệt lập. Câu trả lời không được hình thành đúng cách nếu những gì nó khẳng định về mặt mệnh đề chỉ được truyền đạt lại, đặc biệt nếu nó được lưu hành như một kết quả trôi nổi tự do, đến nỗi chúng ta chỉ được thông báo về một ‘quan điểm’ có thể khác với cái cách mà vấn đề này đã được xử lý từ trước đến nay. Việc câu trả lời có phải là một câu trả lời ‘mới’ hay không vẫn còn khá hời hợt và không mấy quan trọng. Tính khẳng định của nó phải ở chỗ nó đủ cổ xưa để có thể học cách hình dung những khả tính mà ‘Cổ nhân’ đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta. Theo nghĩa sâu xa nhất, câu trả lời này cho chúng ta biết rằng nghiên cứu bản thể luận cụ thể phải bắt đầu bằng một cuộc khảo sát nằm trong phạm vi mà chúng ta đã vạch ra; và đó là tất cả những gì nó cho chúng ta biết. Nếu vậy, lời đáp cho câu hỏi về Hữu thể phải cung cấp manh mối cho nghiên cứu của chúng ta, thì nó không thể đầy đủ cho đến khi mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc rằng loại Hữu thể cụ thể của bản thể luận cho đến nay, và những thăng trầm trong các cuộc khảo sát, các phát hiện và những thất bại của nó, đã nhất thiết phải có trong chính phẩm cách của Dasein.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 '….als durchsichtige Anweisungen des Fragens….'

2 ‘….sondem die Intepretation des eigentlich geschichtlich Seienden auf seine Geschichtlichkeit’. Chúng tôi sẽ dịch thuật ngữ thường gặp “Geschichtlichkeit” là “tính lịch sử”. Heidegger rất hiếm khi sử dụng thuật ngữ ‘Historizität’, như ở H. 20 dưới đây, và thuật ngữ này sẽ được dịch là ‘tính lịch sử’.

3 Trong khi các thuật ngữ ‘ontisch’ (‘ontical’) và ‘ontologisch’ (‘ontological’) không được xác định minh bạch, thì ý nghĩa của chúng lại nổi lên khá rõ ràng. Việc tìm hiểu bản thể luận chủ yếu liên quan đến Hữu thể; việc khảo sát ontisch thực hữu chủ yếu liên quan đến các thực thể và sự thật về chúng.

4 ‘….das Ganze eines Begründungszusammenhanges wahrer Sätze….’. Xem H. 357 bên dưới.

5 ‘Zu dieer Seinsverfassung des Daseins gehort aber dann, dass es in seinem Sein zu dieem Sein ein Seinsverhaltnis hat.’ Đoạn văn này mơ hồ và cũng có thể được đọc là: ‘….và điều này ngụ ý rằng Dasein, trong Hữu thể hướng tới Hữu thể này, có mối quan hệ với Hữu thể này.’

6 ‘….dass es ontologisch ist’. Vì ‘ontologisch’ có thể là tính từ hoặc trạng từ, nên chúng ta cũng có thể viết: ‘….rằng nó mang tính bản thể luận’. Một sự mơ hồ tương tự xảy ra trong hai câu sau, trong đó chúng ta đọc lần lượt là ‘Ontologisch-sein’ và ‘ontisch-seiend’.

7 ‘….class es je sein Sein als seiniges zu sein hat….’

8 Chúng ta sẽ dịch ‘existenziell’ thành ‘existentiell’, và ‘existenzial’ thành ‘existential’. Dường như không có lý do gì để dùng đến những từ ngữ mới phức tạp hơn do các tác giả khác đề xuất.

9 ‘….innerhalb der Welt….’ Heidegger sử dụng ít nhất ba cụm từ có thể được dịch là ‘trong thế giới’: ‘innerhalb derWelt’, ‘in der Welt’, và tính từ (hoặc trạng từ) ‘innerweltlich’. Chúng tôi dịch chúng tương ứng là ‘trong thế giới’, ‘trong thế giới’, và ‘trong-thế giới’ [‘within the world’, ‘in the world’, and ‘within-the-world’.]

10 ‘Besinnung’. Các ấn bản sớm nhất thay thế bằng ‘Bestimmung’.

11 ‘Und zwar soll sie das Seiende in dem zeigen, wie es zunächst und zumeist ist, in seiner durchschnittlichen Alltäglichkeit.’ Cụm từ ‘zunachst und zumeist’ là một cụm từ xuất hiện nhiều lần, mặc dù Heidegger không giải thích nó cho đến Phần 7 1 (H. 370 bên dưới), trong đó ‘Alltaglichkeit’ cũng xuất hiện giải thích. Về ‘zunachst’ xem ghi chú 1 của chúng tôi, tr. 25, H.6.

12 Sự mơ hồ của các tham chiếu đại từ trong câu này và câu trước nó phản ánh sự mơ hồ tương tự trong tiếng Đức. (Người đọc nói tiếng Anh nên lưu ý rằng loại ‘nhân học’ triết học mà Heidegger đề cập đến là một nghiên cứu về con người theo nghĩa rộng nhất, và không nên nhầm lẫn với các khoa học thực nghiệm của nhân học ‘vật chất’ và ‘văn hóa’.)

13 ‘Zeitlichkeit’. ‘Mặc dù rất hấp dẫn khi dịch tính từ ‘zeitlich’ và danh từ ‘Zeitlichkeit’ bằng các từ đồng nghĩa tiếng Anh rõ ràng nhất của chúng, ‘timely’ và ‘timeliness’, nhưng điều này sẽ hoàn toàn gây hiểu lầm; vì ‘temporal’ và ‘temporality’ gần gũi hơn nhiều với những gì Heidegger nghĩ đến, không chỉ khi ông thảo luận về những từ này theo nghĩa phổ biến của chúng (như ông làm ở trang tiếp theo) mà ngay cả khi ông sử dụng chúng theo nghĩa đặc biệt của riêng mình, như trong Phần 65 bên dưới. (Đặc biệt xem H. 326 bên dưới, trong đó 'Zeitlichkeit' được định nghĩa.) Mặt khác, anh ấy thỉnh thoảng sử dụng danh từ 'Tạm thời' và tính từ 'thời gian' theo nghĩa mà anh ấy sẽ giải thích sau (H. 19). Chúng tôi sẽ dịch chúng bằng 'Tạm thời' và 'Tạm thời', với chữ hoa đầu tiên.

14 ‘Dasein ist in derWeise, seiend so etwas wie Sein zu verstehen.’

15 ‘seine tempurale Bestimmtheit’. Xem ghi chú của chúng tôi g, p. g8, H. 17 ở trên.