Powered By Blogger

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXVII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

III. TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CHÂN THỰC CỦA DASEIN, VÀ THỜI GIAN TÍNH NHƯ LÀ Ý NGHĨA BẢN THỂ LUẬN CỦA CHĂM LO

61. Phác thảo sơ bộ về bước chuyển Phương pháp luận: từ việc Xác định Hữu-thể-một-chỉnh-thể Chân thực của Dasein đến việc Minh định Thời gian tính như một Hiện tượng

[Tr. 349] Một khả năng hiện hữu đích thực – khả năng hiện hữu như một chỉnh thể – của Dasein đã được phóng chiếu về existentially phương diện hữu thể/ cấu thành Bản thể. Thông qua việc phân tích hiện tượng này, chúng ta đã phát lộ phương thức Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực chính là sự tiên liệu.1 Tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein, trong sự minh chứng existentiell mang tính thực hữu cụ thể của nó, đã được bộc lộ – đồng thời được diễn giải về existentially phương diện hữu thể/ cấu thành Bản thể – như là tính quyết đoán. Làm thế nào để gắn kết hai hiện tượng tiên liệu và tính quyết đoán này lại với nhau? Phải chăng sự phóng chiếu bản thể luận của chúng ta về Tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực đã dẫn chúng ta đến một chiều kích của Dasein vốn khác biệt hoàn toàn với hiện tượng tính quyết đoán? Cái chết và ‘Tình huống cụ thể’ của hành động có điểm gì chung? Liệu việc dứt khoát gắn kết tính quyết đoán và sự tiên liệu với nhau có khiến chúng ta rơi vào một cấu thành không thể chấp nhận được, một cấu thành hoàn toàn phi-hiện tượng luận – thứ mà ta không còn có thể khẳng định là một đặc tính phóng chiếu bản thể luận dựa trên các hiện tượng? Bất kỳ cách gắn kết hời hợt nào giữa hai hiện tượng này cũng đều bị loại trừ. Chỉ còn lại một lối thoát, cũng là phương pháp duy nhất khả thể: lấy hiện tượng tính quyết đoán – vốn được minh chứng trong khả tính thực hữu cụ thể của nó – làm xuất phát điểm, rồi đặt câu hỏi: “Liệu tính quyết đoán, trong khuynh hướng thực hữu cụ thể đặc thù nhất của chính nó, có hướng tới ‘tính quyết đoán tiên liệu’ như là khả tính đích thực nhất của chính nó hay không?” Sẽ ra sao nếu tính quyết đoán, xét theo ý nghĩa nội tại của nó, chỉ đạt đến trạng thái đích thực khi nó không phóng chiếu bản thân vào bất kỳ khả tính ngẫu nhiên gần gũi nhất nào, mà lại phóng chiếu vào cái khả tính tột cùng nằm phía trước mọi tiềm-năng-cho-Hữu-thể thực tế của Dasein; 2 và theo đúng nghĩa, nó bắt đầu can dự – một cách không mấy [tr.350] che đậy – vào mọi tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà Dasein thực tế nắm lấy? Sẽ ra sao nếu chỉ trong sự tiên liệu hướng tới cái chết, bản tính quyết đoán – với tư cách là chân lý đích thực của Dasein – mới đạt được sự xác tín đích thực vốn thuộc về chính nó? Điều gì sẽ xảy ra nếu chỉ trong sự tiên liệu về cái chết, thì toàn bộ ‘tính tiên liệu’ thực tế của hành động quyết đoán mới được thấu hiểu một cách đích thực — nói cách khác, thì tính quyết đoán ấy mới được nắm bắt bằng một cách thức thực hữu cụ thể? 3

Trong phép diễn giải existential hữu thể/ cấu thành Bản thể của chúng ta, cái thực thể được trình ra trước chúng ta với tư cách chủ đề lại có loại Hữu thể của Dasein, và không thể được lắp ghép thành một cái gì đó hiện-diện-vô-tri từ những mảnh rời rạc vốn cũng chỉ là những mảnh hiện-diện-vô-tri. Chừng nào còn ghi nhớ điều này, thì mỗi bước trong phép Diễn giải của chúng ta đều phải được dẫn dắt bởi ý niệm về sự hiện hữu. Cái mà điều này biểu thị ý nghĩa cho câu hỏi về mối gắn kết khả thể giữa tiên liệu và tính quyết đoán không là gì khác ngoài cái yêu cầu rằng chúng ta sẽ dự phóng những hiện tượng hữu thể/ cấu thành Bản thể này lên các khả tính thực hữu cụ thể vốn đã được phác họa trong chúng, và ‘tư duy về các khả tính này thấu suốt đến kết cục’ theo một cung cách hữu thể. Nếu thực hiện được điều đó, thì việc làm sáng tỏ tính quyết đoán tiên liệu với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể, sao cho cái tiềm năng vừa đích thực lại vừa khả thi một cách thực hữu cụ thể, sẽ mất đi đặc tính của một cấu thành tùy tiện. Thay vào đó, nó trở thành cách Diễn giải giúp giải phóng Dasein, để hướng đến cái khả tính hiện hữu tối hậu của chính nó.

Khi thực hiện bước đi này, phép Diễn giải existential hữu thể/ cấu thành Bản thể đồng thời bộc lộ tính chất phương pháp luận đặc hữu của chính nó. Cho đến nay, ngoại trừ một vài lưu ý cần thiết, chúng ta vẫn chưa thảo luận một cách tường minh về phương pháp. Nhiệm vụ tiên quyết là phải ‘tiến về phía’ các hiện tượng. Tuy nhiên, trước khi làm sáng tỏ ý nghĩa hữu thể của một thực thể vốn đã được bộc lộ qua nội dung hiện tượng cơ bản của nó, chúng ta cần tạm dừng tiến trình nghiên cứu; không phải để ‘nghỉ ngơi’, mà để tạo đà cho những suy tư sâu sắc hơn. Bất kỳ phương pháp chân chính nào, theo một cách thức phù hợp, cũng đều dựa trên việc nhìn nhận trước cái cấu thành cơ bản của ‘đối tượng’ phải được khai mở, hoặc của cái cấu thành phạm vi thuộc về đối tượng đó. Như vậy, bất kỳ sự cân nhắc nào mang tính phương pháp luận thực thụ — vốn khác biệt hoàn toàn với những bàn luận sáo rỗng về kỹ thuật — đều phải cung cấp thông tin về loại Hữu thể của cái thực thể đang được chọn làm chủ đề nghiên cứu của chúng ta. Việc làm sáng tỏ các khả tính, yêu cầu và hạn chế về mặt phương pháp luận của phép phân tích hữu thể/ cấu thành Bản thể nói chung chính là điều kiện tiên quyết để tạo ra sự minh bạch cần thiết, nhờ đó chúng ta mới có thể [tr.351] thực hiện bước đi căn bản: làm sáng tỏ ý nghĩa Hữu thể Sorge Chăm lo. Tuy nhiên, phép Diễn giải ý nghĩa bản thể luận Chăm lo phải được thực hiện trên cơ sở hình dung trọn vẹn và nhất quán, theo phương pháp hiện tượng luận, về Hữu thể của Dasein như chúng ta đã trình bày từ trước đến giờ.

Xét về mặt bản thể luận, Dasein về nguyên tắc khác biệt với mọi thứ hiện hữu dưới dạng hiện-diện-vô-tri hay Thực tại. Việc tự duy trì của nó không dựa trên tính thực thể của một chất thể, mà dựa trên việc ‘Tự-ngã-duy- trì’ của chính cái ‘Tự ngã’ (Self) đang hiện hữu—mà Hữu thể của nó được quan niệm là Chăm lo.4 Hiện tượng về ‘Tự ngã’—một hiện tượng vốn được bao gồm trong chăm lo—cần được định nghĩa về phương diện hữu thể/ cấu thành Bản thể bằng một cách thức bản nguyên thủy và đích thực; điều này tương phản với cách trình bày mang tính chuẩn bị của chúng ta trước đó về cái Tự-ngã-họ không đích thực. Cùng với điều đó, chúng ta phải xác định xem những câu hỏi bản thể luận nào khả thể phải được hướng đến cái ‘Tự ngã’, nếu nó không phải là chất thể cũng chẳng phải chủ thể. Bằng cách này, hiện tượng chăm lo sẽ lần đầu tiên sáng tỏ thỏa đáng, và từ đó, chúng ta có thể truy vấn nó về ý nghĩa bản thể luận của chính nó. Khi ý nghĩa này được xác định, thì thời gian tính sẽ được bộc lộ.

Trong quá trình làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta không bị dẫn dắt vào những lĩnh vực xa lạ hay biệt lập của Dasein; thay vào đó, chúng ta đạt được một quan niệm về toàn bộ nội dung hiện tượng về cấu thành hữu thể cơ bản của Dasein, ngay tại những nền tảng sâu xa nhất tạo nên tính khả tri bản thể luận của chính nó. Thời gian tính được trải nghiệm theo cách bản nguyên về mặt hiện tượng trong Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein—cụ thể là trong hiện tượng trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu. Nếu thời gian tính tự bộc lộ một cách bản nguyên trong trạng thái này, thì ta có thể cho rằng thời gian tính của trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu chính là một phương thức đặc thù của thời gian tính. Thời gian tính có những khả tính khác nhau và những cách thức khác nhau để tự thời gian hóa.5 Các khả tính căn bản [tr.352] của sự hiện hữu—tính đích thực và tính không-đích-thực của Dasein—đều được đặt nền tảng về mặt bản thể luận dựa trên các cách thức thời gian hóa của thời gian tính.

Nếu sự thống trị của lối hiểu về Hiện hữu theo kiểu sa ngã về Hữu thể (coi Hữu thể như là hiện-diện-vô-tri)6 khiến Dasein rời xa tính chất bản thể luận của chính cái Hữu thể riêng có, thì nó lại càng đẩy Dasein ra xa hơn khỏi những nền tảng bản nguyên của chính Hữu thể đó. Do vậy, không có gì đáng ngạc nhiên nếu ngay từ cái nhìn đầu tiên, thì thời gian tính dường như không tương ứng với khái niệm thời gian vốn quen thuộc trong lối hiểu thông thường. [Chen ngang: Zeitlichkeit/ temporality – thời gian tính - đối với Heidegger, Zeitlichkeit là cấu trúc bản thể luận sâu sắc nhất tạo nên bản chất của Dasein hiện hữu người). Ý nghĩa cốt lõi của Zeitlichkeit: 1) Không phải là thời gian vật lý - khác với thời gian thông thường bao gồm chuỗi các thời điểm ‘bây giờ’ nối tiếp nhau trên một trục tuyến tính như đồng hồ đo đạc, Zeitlichkeit không phải là thứ mà con người ‘trôi qua’ hay ‘sống bên trong’, mà Dasein chính là thời gian; 2) Ek-stasis/ Ecstatic Temporality: Cấu trúc xuất-thân được Heidegger mô tả mang tính ‘xuất-thân’ – nghĩa là Dasein luôn luôn đứng ngoài chính mình và phóng chiếu đồng thời vào ba chiều kích không tách rời là: i) Tương lai Zukunft - Dasein luôn hướng về phía trước, sống bằng các khả thể, bằng những gì mình có thể trở thành; ii) Quá khứ/ Trạng thái Gewesenheit - Dasein ‘bị ném vào’ một hoàn cảnh có sẵn, mang theo lịch sử và xuất thân mà mình không tự chọn; iii) Hiện tại Gegenwart - Dasein ở cùng với các sự vật và hiện diện ngay trong thế giới ở thời điểm hiện tại. 3) Thuật ngữ ‘Zeitlichkeit’ được dịch sang tiếng Anh là ‘temporality’ thời gian tính: i) Mặc dù xét về mặt từ nguyên, zeitlich trong tiếng Đức có thể gợi liên tưởng đến các từ như ‘timely’ đúng lúc hay ‘timeliness’ sự đúng lúc/kịp thời, nhưng các bản dịch tiếng Anh đều nhất quán sử dụng thuật ngữ ‘temporality’, lý do là bởi trong tiếng Anh, ‘timeliness’ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt; ii) Heidegger phân biệt hai loại ‘thời gian tính’ temporality trong triết học: (1) Zeitlichkeit Temporality đề cập riêng đến cách thời gian quy định Dasein hiện hữu người; đây là cấu trúc nội tại, được trải nghiệm thực tế về cách một con người cảm nhận sự tồn tại của chính mình, trải dài giữa hai điểm đầu và cuối là sinh và tử; (2) Temporalität/ Temporality được Heidegger sử dụng khi thảo luận về cách thời gian quy định Sein/Hữu thể nói chung, thay vì chỉ giới hạn trong Dasein hiện hữu người.-HHN]. Như vậy, cả cách thời gian được quan niệm trong trải nghiệm thông thường của chúng ta, lẫn những vấn đề nảy sinh từ trải nghiệm đó, đều không thể được dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá tính phù hợp của một cách diễn giải về thời gian nếu chưa qua xem xét kỹ lưỡng. Thay vào đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng ta phải làm quen trước với hiện tượng bản nguyên của thời gian tính, để từ đó có thể làm sáng tỏ sự cần thiết, nguồn gốc và lý do tại sao cách hiểu thông thường về thời gian lại chiếm ưu thế.

Hiện tượng bản nguyên thời gian tính sẽ được xác lập vững chắc thông qua việc chứng minh rằng: nếu xét đến tổng thể tính, nhất tính và sự phát triển của các cấu trúc nền tảng của Dasein hiện hữu người — những cấu trúc mà chúng ta đã trình bày trước đó — thì tất cả các cấu trúc này, xét đến cùng, đều mang tính ‘thời gian’ và là các phương thức thời gian hóa của thời gian tính. Do đó, khi thời gian tính đã được bộc lộ, thì nhiệm vụ đặt ra cho phân tích hữu thể là phải thực hiện lại phép phân tích Dasein, cụ thể là Diễn giải các cấu trúc thiết yếu của nó dưới góc độ thời gian tính của chúng. Các định hướng cơ bản của những phân tích này được tự thân thời gian tính quy định. Theo đó, chương này sẽ được chia thành các phần như sau: tính quyết đoán tiên liệu với tư cách là cách thức mà trong đó tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein đạt được tính chân thực thực hữu cụ thể7 (Mục 62); tình thế tường giải mà chúng ta đã đạt tới để diễn giải ý nghĩa của Hữu thể Chăm lo, cùng với đặc điểm phương pháp luận của phân tích hữu thể nói chung (Mục 63); chăm lo và Vị thế Tự ngã (Selfhood) (Mục 64); thời gian tính như là ý nghĩa bản thể luận của chăm lo (Mục 65); thời gian tính của Dasein và các nhiệm vụ nảy sinh từ đó, đòi hỏi phải thực hiện lại phân tích hữu thể/ cấu thành Bản thể theo cách thức bản nguyên (Mục 66).

62. Tính Quyết đoán Tiên liệu: Tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-Chỉnh-thể của Dasein đạt được Tính chân thực Thực hữu Cụ thể

Khi tính quyết đoán được suy tư đến tận cùng — theo đúng xu hướng hiện hữu đặc thù nhất của chính nó — thì ở mức độ nào, nó [tr. 353] dẫn chúng ta đến Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết một cách chân thực? Chúng ta phải hiểu như thế nào về mối liên hệ giữa mong muốn có lương tâm và tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực được phóng chiếu về phương diện hữu thể của Dasein? Liệu việc kết hợp hai yếu tố này lại với nhau có tạo ra một hiện tượng mới hay không? Hay chúng ta vẫn chỉ còn lại tính quyết đoán – vốn được minh chứng bằng khả tính thực hữu cụ thể của chính nó – và liệu tính quyết đoán này có thể trải qua một sự biến đổi mang tính thực hữu cụ thể thông qua Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết hay không? ‘Suy tư đến tận cùng’ về phương diện hữu thể đối với hiện tượng tính quyết đoán có nghĩa là gì? Chúng ta đã mô tả tính quyết đoán như một cách thức phóng chiếu bản thân một cách kín tiếng vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi riêng tư nhất của mình, đồng thời tự đặt mình vào trạng thái lo âu. Hữu-thể-tội-lỗi thuộc về Hữu thể của Dasein, biểu thị loại Hữu-thể-nền-móng mang tính hư vô của một trạng thái hư vô. Trạng thái ‘Có tội!’ – vốn thuộc về Hữu thể của Dasein – là một điều không thể tăng thêm cũng chẳng thể bớt đi. Nó tồn tại trước bất kỳ phép định lượng nào, nếu giả sử rằng khái niệm định lượng đó thực sự có ý nghĩa.

Hơn nữa, Dasein về bản chất là có tội — chứ không phải lúc thì có tội, lúc thì không. Khát-vọng-có-lương-tâm chính là quyết đoán dấn thân vào cái Hữu-thể-tội-lỗi này. Việc phóng chiếu bản thân vào vào cái Hữu-thể-tội-lỗi này — một trạng thái gắn liền với Dasein chừng nào nó còn tồn tại — chính là ý nghĩa cốt lõi của Entschlossenheit tính quyết đoán. Do đó, cái cách thức thực hữu cụ thể để tiếp nhận ‘tội lỗi’ này trong tính quyết đoán chỉ thực sự trọn vẹn khi tính quyết đoán đó — trong tính khai mở của chính Dasein — trở nên minh bạch đến mức Hữu-thể-tội-lỗi được thấu hiểu như một điều thường hằng. Tuy nhiên, sự thấu hiểu này chỉ trở nên khả thể khi Dasein tự khai mở cho chính mình cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó, và khai mở nó ‘cho đến chung cục’. Tuy nhiên, về phương diện hữu thể, cái ‘Hữu-thể-tại-một-chung-cục’ của Dasein hàm ý Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục. Với tư cách Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đầy thấu hiểu — nghĩa là, với tư cách dự liệu về cái chết — thì tính quyết đoán mới chân thực trở thành cái mà nó có thể trở thành. Tính quyết đoán không chỉ đơn thuần ‘có’ một mối liên hệ với việc dự liệu như thể đó là một thứ gì đó chứ không phải bản thân nó. Bản thân nó đã mang trong mình Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực, như một phương thức thực hữu cụ thể khả thi cho chính tính đích thực của nó. ‘Mối liên hệ’ này cần được làm sáng tỏ về phương diện hiện tượng.

Với ‘tính quyết đoán’, chúng ta hiểu đó là việc “để cho bản thân được triệu vời đến cái Hữu-thể-tội-lỗi vốn thuộc về riêng mình”. Hữu-thể-tội-lỗi thuộc về chính cái Hữu thể của Dasein, và chúng ta đã xác định rằng đây trước hết là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể. Việc nói rằng Dasein thường hằng ‘là’ có tội chỉ có thể hiểu là trong mọi trường hợp, Dasein luôn duy trì chính mình trong cái Hữu thể này, dù là hiện hữu đích thực hay không đích thực. Hữu-thể-tội-lỗi không đơn thuần là một thuộc tính cố định của một vật thể luôn vorhanden hiện-diện-vô-tri, mà là một khả tính thực hữu cụ thể để trở nên có tội theo cách đích thực hoặc không đích thực. Trong mọi trường hợp, trạng thái ‘có tội’ chỉ tồn tại trong chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể có thật của Dasein tại thời điểm đó. Do đó, bởi vì Hữu-thể-tội-lỗi thuộc về chính cái Hữu thể của Dasein, nên nó phải được quan niệm như một cái -tội-lỗi. Tính quyết đoán phóng chiếu chính nó lên cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này [tr.354] — nghĩa là, nó tự thấu hiểu bản thân thông qua tiềm năng ấy. Do đó, sự thấu hiểu này duy trì chính nó trong một khả tính bản nguyên của Dasein. Nó duy trì một cách đích thực trong khả tính ấy nếu tính quyết đoán về mặt bản nguyên là cái mà nó hướng tới. Tuy nhiên, chúng ta đã chỉ ra rằng cái Hữu thể bản nguyên của Dasein hướng đến tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó lại chính là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết—tức là hướng tới cái khả tính đặc thù của Dasein mà chúng ta đã mô tả trước đó. Vorlaufen/ anticipation phép tiên liệu làm bộc lộ khả tính này với tư cách là một khả tính. Như vậy, chỉ với tư cách tiên liệu thì tính quyết đoán mới trở thành một Hữu thể bản nguyên hướng đến cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc hữu nhất của Dasein. Chỉ khi tự ‘định tính’ mình là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, thì tính quyết đoán mới thấu hiểu được cái ‘có thể’ của tiềm-năng-cho-Hữu-thê-tội-lỗi của chính nó.8

Khi Dasein quyết đoán, nó tiếp nhận một cách đích thực — ngay trong sự tồn tại của mình — cái thực tế là nó chính là nền tảng hư vô cho trạng thái hư vô của chính nó. Chúng ta đã quan niệm cái chết về phương diện hữu thể, như là cái mà chúng ta đã đặc trưng hóa là cái khả tính của cái bất khả tính về tồn tại — nghĩa là, như là trạng thái hư vô tuyệt đối của Dasein. Cái chết không phải là thứ được ‘gán thêm’ vào Dasein tại điểm ‘chung cục’ của nó; trái lại, Dasein với tư cách chăm lo, chính là nền tảng bị-ném-vào (nền tảng hư vô) cho cái chết của chính nó. Trạng thái hư vô, yếu tố chi phối bản nguyên và triệt để Hữu thể của Dasein, bộc lộ cho chính Dasein trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực. Chỉ trên nền tảng toàn bộ Hữu thể của Dasein, thì tiên liệu mới làm hiển lộ Hữu-thể-tội-lỗi.     

Chăm lo tự thân nó bao hàm cả cái chết lẫn tội lỗi, một cách đồng bản nguyên. Chỉ có tính quyết đoán tiên liệu mới thấu hiểu được tiềm-năng-cho-Hữu-thể-tội-lỗi một cách đích thực và trọn vẹn — nghĩa là, theo cách bản nguyên.ii Khi tiếng gọi của lương tâm được thấu hiểu, thì tình trạng lạc lối trong das Man cái ‘họ’ sẽ bị phơi bày. Tính quyết đoán đưa Dasein trở về với tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó đặc hữu nhất của chính nó. Khi một kẻ thấu hiểu được Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết với tư cách là khả tính riêng biệt nhất của chính mình — thì cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của kẻ đó trở nên đích thực và hoàn toàn minh bạch. Trong lời kêu gọi của mình, tiếng gọi lương tâm bỏ qua mọi uy tín và các tiềm năng ‘trần thế’ của Dasein. Nó không ngừng cá nhân hóa Dasein trở về với tiềm-năng-cho-Hữu-thể-tội-lỗi, đồng thời đòi hỏi Dasein phải thực hiện tiềm năng này một cách đích thực. Sự chính xác kiên định, qua đó Dasein được cá thể hóa một cách cốt yếu về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính mình, đã khai mở ​​phép tiên liệu cái chết như một khả tính phi-quan-hệ. Tính quyết đoán tiên liệu cho phép tiềm-năng-cho-Hữu-thể-tội-lỗi—với tư cách là khả tính riêng biệt nhất, phi quan hệ của chính cá nhân đó — được khắc sâu trọn vẹn vào lương tâm.

Mọi Dasein hiện hữu người có thật đều được xác định bởi cái Hữu-thể-tội-lỗi riêng có của nó—trạng thái này tồn tại cả trước khi bất kỳ món nợ thực tại nào phát sinh, lẫn sau khi [tr.355] món nợ đó đã được thanh toán; khát-vọng-có-lương-tâm biểu thị sự sẵn sàng đón nhận lời kêu gọi hướng về cái Hữu-thể-tội-lỗi riêng có này. Cái Hữu-thể-tội-lỗi có trước này vốn luôn hiện diện cùng ta, chỉ thực sự bộc lộ rõ ​​nét đặc tính có trước của nó khi chính trạng thái này được đặt vào cái khả tính không bị vượt. Khi tính quyết đoán, thông qua phép dự liệu, thu nhận khả tính về cái chết vào trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình, thì sự tồn tại đích thực của Dasein không còn có thể bị bất cứ điều gì vượt qua hay bỏ lại phía sau được nữa. Hiện tượng tính quyết đoán đã đưa chúng ta đến trước chân lý bản nguyên của tồn tại. Với tư cách quyết đoán, Dasein tự bộc lộ với chính mình trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể có thật của nó, và theo cái cách mà tự thân Dasein vừa là cái Dasein hé lộ, lại vừa là cái Hữu-thể-được-bộc-lộ. Với bất kỳ sự thật nào, cũng đều có một xác nhận sự thật tương ứng. Việc chiếm lĩnh một cách tường minh những gì đã được khai mở hoặc khám phá chính là Hữu-thể-chắc-chắn. Chân lý bản nguyên của sự tồn tại đòi hỏi một Hữu-thể-chắc-chắn đồng bản nguyên, trong đó một kẻ tự duy trì bản thân ngay trong những gì mà tính quyết đoán đã khai mở. Nó9 tự cho mình Tình thế có thật hiện thời và đưa chính nó vào Tình thế đó. Tình thế này không được tính toán trước, cũng không được trình bày như là hiện-diện-vô-tri đang chờ đợi ai đó đến nắm bắt.

Nó chỉ được khai mở thông qua một quyết định tự do—một quyết định không hề được định trước, nhưng luôn mở ngỏ cho cái khả tính của việc xác định đó. Vậy, sự xác tín gắn liền với kiểu quyết đoán này có ý nghĩa gì? Sự xác tín ấy phải duy trì chính nó trong những gì được khai mở bởi quyết định đó. Nhưng điều này có nghĩa là nó không được phép trở nên cứng nhắc đối với Tình thế; trái lại, nó phải hiểu rằng quyết định đó—vốn mang ý nghĩa là một sự khai mở—cần phải luôn được giữ mở và tự do để đón nhận cái khả tính có thật hiện thời. Tính chắc chắn của quyết định hàm ý rằng cá nhân giữ cho bản thân được tự do để có thể rút lại quyết định đó—một khả năng vốn là tất yếu trên thực tế.10 Tuy nhiên, việc xác-nhận-là-chân trong trạng thái quyết đoán (với tư cách là chân lý của sự tồn tại) hoàn toàn không khiến chúng ta rơi ngược trở lại trạng thái thiếu quyết đoán. Ngược lại, việc xác-nhận-là-chân này—với tư cách là một thái độ tự do giữ cho bản thân có khả năng rút lại quyết định—chính là tính quyết đoán đích thực, một trạng thái quyết đoán luôn tự lặp lại chính nó.11 Như vậy, [tr. 356] theo cách thức thực hữu cụ thể, tình trạng lạc lối của kẻ nào đó trong trạng thái thiếu quyết đoán phải bị lung lay tận gốc rễ. Việc xác-nhận-là-chân này gắn liền với tính quyết đoán, xét theo ý nghĩa của nó, luôn duy trì sự tự do—tức là tự do hướng tới chỉnh thể tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein. Tính chắc chắn thường trực này chỉ được bảo đảm cho trạng thái quyết đoán khi nó tự thân liên hệ với cái khả tính mà ở đó, nó có thể hoàn toàn chắc chắn. Trong cái chết, Dasein buộc phải ‘rút lại’ tất cả mọi thứ. Vì tính quyết đoán luôn chắc chắn về cái chết—hay nói cách khác, vì nó dự liệu về cái chết—nên tính quyết đoán đạt được một sự chắc chắn mang tính đích thực và trọn vẹn.

Tuy nhiên, Dasein theo một cách đồng bản nguyên cũng tồn tại trong trạng thái phi chân lý. Tính quyết đoán mang tính dự liệu đồng thời mang lại cho Dasein tính chắc chắn bản nguyên rằng bản thân nó đã bị khép kín. Trong trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu, Dasein giữ cho mình luôn mở ngỏ trước tình trạng lạc lối thường trực trong trạng thái thiếu quyết đoán của das Man cái ‘họ’—một tình trạng lạc lối vốn có thể nảy sinh ngay từ nền tảng Hữu thể của chính nó. Là một khả tính thường trực của Dasein, trạng thái thiếu quyết đoán cũng có tính đồng-chắc chắn. Khi tình trạng quyết đoán trở nên minh bạch với bản thân, nó hiểu rằng tính bất định trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của một kẻ nào đó chỉ trở nên xác định thông qua một quyết định liên quan đến Tình thế hiện tại. Nó nhận thức được tính bất định vốn chi phối triệt để một thực thể vẫn tồn tại. Nhưng nếu hành vi nhận biết này tương ứng với trạng thái quyết đoán đích thực, thì bản thân nó cũng phải nảy sinh từ một sự khai mở đích thực. Tính bất định trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của riêng một kẻ nào đó — ngay cả khi tiềm năng này đã trở nên chắc chắn bằng một quyết định — chỉ thực sự bộc lộ trọn vẹn trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết. Phép dự liệu đặt Dasein hiện hữu người đối diện với một khả tính vốn luôn chắc chắn, nhưng lại luôn bất định về thời điểm mà khả năng ấy sẽ trở nên một bất khả tính. Dự liệu làm hiển lộ sự thật là thực thể này đã bị ném vào tính bất định của ‘Tình-thế-giới-hạn’ tự thân; khi quyết tâm dấn thân vào tình thế đó, Dasein đạt được cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của nó. Trạng thái bất định của cái chết được hé lộ một cách bản nguyên thông qua lo âu. Tuy nhiên, lo âu bản nguyên này lại thúc đẩy chính nó hướng tới tính quyết đoán. Nó gạt bỏ mọi thứ vẫn che đậy sự thật Dasein bị bỏ mặc cho chính mình. Cái ‘hư vô’ mà lo âu buộc ta phải đối diện đã phơi bày tính hư vô vốn định hình nên Dasein từ nền tảng của nó; và chính nền tảng này là trạng thái bị ném vào cái chết.

Phân tích của chúng tôi đã lần lượt làm sáng tỏ các phương diện của tính quyết đoán — một thái độ tự thân hướng tới cái chết, vốn được hiểu là khả tính riêng biệt nhất, phi-quan hệ, không thể bị vượt qua, chắc chắn, nhưng đồng thời cũng bất định. Tính quyết đoán chỉ đích thực và trọn vẹn khi nó là trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu. Mặt khác, trong phép Diễn giải mối ‘kết nối’ giữa tính quyết đoán và dự liệu, chúng ta đã đạt được một sự thấu hiểu [tr.357] hữu thể đầy đủ về tự thân dự liệu đó. Trước đây, khái niệm này chỉ dừng lại ở mức độ một phóng chiếu bản thể luận. Giờ đây, chúng ta đã chứng minh rằng dự liệu không phải là một khả tính hư cấu do chúng ta đã áp đặt lên Dasein, mà là một phương thức của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính thực hữu cụ thể—một phương thức mà chính Dasein tự đòi hỏi ở bản thân, nếu nó thấu hiểu đích thực chính mình như là có tính quyết đoán. Dự liệu không phải là một kiểu hành vi trôi nổi tự do, mà phải được hiểu là khả tính về tính chân thực của chính trạng thái quyết đoán đã được minh chứng theo cách thức thực hữu cụ thể — một khả tính ẩn giấu ngay trong tính quyết đoán như vậy, vì thế mà được minh chứng cùng với nó. ‘Suy tư về cái chết’ một cách chân thực chính là khát-vọng-có-được- lương-tâm, vốn trở nên minh bạch đối với tự thân theo cách thức thực hữu cụ thể. Nếu tính xác quyết — với tư cách là chân thực — hướng tới phương thức được xác định bởi dự liệu, và nếu dự liệu góp phần cấu thành nên cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein, thì trong trạng thái quyết đoán được minh chứng theo cách thức thực hữu cụ thể, cũng đồng thời xuất hiện một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể chân thực vốn thuộc về Dasein. Câu hỏi về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể là một vấn đề mang tính thực tế và thực hữu cụ thể. Lời đáp được chính Dasein đưa ra với tư cách mang tính quyết đoán. Câu hỏi về tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể của Dasein giờ đây đã hoàn toàn rũ bỏ đặc điểm từng được nêu ra lúc ban đầu—khi chúng ta xem xét nó như thể đó chỉ là một vấn đề lý thuyết hoặc phương pháp luận trong việc phân tích Dasein, nảy sinh từ nỗ lực muốn nắm bắt toàn bộ Dasein như một cái gì đó được ‘đưa ra’ trọn vẹn.

Vấn đề về tổng thể tính của Dasein—điều mà lúc đầu chúng ta chỉ thảo luận dưới góc độ phương pháp bản thể luận—thực sự có cơ sở chính đáng; tuy nhiên, cơ sở đó bắt nguồn từ một khả tính thực hữu của chính Dasein. Bằng cách làm sáng tỏ mối ‘kết nối’ giữa tiên liệu và tính quyết đoán—theo nghĩa tính quyết đoán có thể được biến đổi về phương thức nhờ vào tiên liệu—chúng ta đã làm lộ rõ một hiện tượng: đó chính là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực vốn thuộc về Dasein. Nếu thông qua hiện tượng này, chúng ta chạm đến một cách thức Hữu thể của Dasein trong đó nó tự đưa mình về với chính mình và đối diện trực tiếp với chính mình, thì hiện tượng này, cả trên phương diện thực hữu lẫn phương diện bản thể luận, vẫn là điều khó hiểu đối với cách nhìn thông thường, phổ quát mà Dasein thường được diễn giải bởi das Man cái ‘họ’. Sẽ là hiểu lầm nếu gạt bỏ cái khả tính thực hữu cụ thể này với lý do ‘chưa được chứng minh’, hoặc mong muốn ‘chứng minh’ nó bằng lý thuyết.

Dẫu vậy, hiện tượng này vẫn cần được bảo vệ khỏi những xuyên tạc thô thiển nhất. Trạng thái quyết đoán mang tính tiên liệu không phải là một lối thoát được dựng lên để ‘vượt qua’ cái chết; trái lại, đó chính là sự thấu hiểu tuân theo tiếng gọi của lương tâm—một sự thấu hiểu mở đường cho cái chết, đem đến cho cái chết khả tính giành lấy quyền kiểm soát đối với sự tồn tại của Dasein, đồng thời giải tán tận gốc mọi hình thức che đậy Tự ngã vốn mang tính trốn chạy. Hơn nữa, việc ‘khao-khát-có-lương-tâm, vốn đã được xác định cụ thể là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết—không hề đồng nghĩa với một kiểu tách biệt, nơi [tr.358] một kẻ trốn chạy khỏi thế giới; ngược lại, nó đưa kẻ đó, không chút ảo tưởng, bước vào trạng thái quyết đoán ‘thực hiện hành động’. Trạng thái quyết đoán mang tính tiên liệu cũng không hề bắt nguồn từ những yêu cầu ‘duy tâm’ viển vông, tách rời khỏi tồn tại và các khả tính của nó; nó bắt nguồn từ một sự thấu hiểu tỉnh táo về những khả tính căn bản, xét theo thực tế, dành cho Dasein hiện hữu người.

Song hành cùng lo âu tỉnh thức – thứ đưa ta đối diện với tiềm-năng-cho-Hữu-thể được cá nhân hóa của chính mình – là một niềm vui kiên định trong cái khả tính này. Trong đó, Dasein trở nên tự do, thoát khỏi những ‘ngẫu nhiên’ đầy tính giải trí mà sự tò mò bận rộn vẫn thường tự cung cấp cho chính nó từ các sự kiện diễn ra trong thế giới.12 Tuy nhiên, việc phân tích những tâm trạng cơ bản này sẽ vượt quá giới hạn mà chúng ta đã đặt ra cho phép Diễn giải hiện tại – vốn nhắm đến bản thể luận nền tảng. Thế nhưng, liệu có tồn tại một cách thức thực hữu nhất định trong việc tiếp nhận sự tồn tại đích thực – một lý tưởng thực tế của Dasein – nằm bên dưới phép Diễn giải bản thể luận của chúng ta về tồn tại của Dasein hay không? Quả thực là có. Nhưng đây không chỉ là Sự thật không thể phủ nhận và buộc chúng ta phải thừa nhận; nó còn cần được thấu hiểu trong tính tất yếu tích cực của chính nó, xét trên phương diện đối tượng mà chúng ta đã chọn làm chủ đề cho cuộc nghiên cứu này. Triết học không bao giờ tìm cách phủ nhận các ‘tiền giả định’ của chính mình, nhưng cũng không thể chỉ đơn thuần chấp nhận chúng. Triết học hình dung về chúng, đồng thời ngày càng đào sâu hơn vào cả các tiền giả định đó lẫn những gì có vai trò tiền giả định. Những cân nhắc về phương pháp luận cần thực hiện lúc này chính là để phục vụ cho mục đích đó.

63. Tình thế Tường giải để Diễn giải Ý nghĩa Hữu thể Chăm lo - Tính chất Phương pháp luận Phân tích Hữu thể nói chung13

Trong trạng thái quyết đoán dự liệu, Dasein giờ đây đã trở nên hiển lộ về mặt hiện tượng, liên quan đến tính chân thực và tổng thể tính khả thể của nó. Tình thế tường giảiiv – vốn trước đây chưa đủ khả năng để diễn giải ý nghĩa Hữu thể của chăm lo– nay đã đạt tới tính bản nguyên đáp ứng yêu cầu. Dasein đã được đặt vào trong cái mà chúng ta đã có trước; điều này được thực hiện một cách bản nguyên thủy – nghĩa là, được thực hiện dựa trên tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể chân thực của Dasein. Khái niệm về sự tồn tại – vốn đóng vai trò dẫn đường như một cái gì đó được nhìn thấy từ trước – nay đã trở nên xác định thông qua việc làm sáng tỏ tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng có nhất của chúng ta. Giờ đây, khi cấu trúc về Hữu thể của Dasein đã được làm rõ một cách cụ thể, thì đặc tính bản thể luận riêng biệt của nó trở nên rõ ràng đến mức, khi so sánh với bất kỳ thực thể nào vorhanden hiện-diện-vô-tri, ta đều thấy existentiality tính hữu thể của Dasein đã được nắm bắt từ trước [tr.359] với sự Khớp nối đủ rõ ràng để làm kim chỉ nam cho việc khái niệm hóa các existentialia cấu trúc hữu thể. Con đường mà chúng ta đã đi trong quá trình phân tích Dasein đã dẫn đến một minh chứng cụ thể cho luận điểmv từng được nêu ra một cách tình cờ ngay từ đầu rằng cái thực thể mà trong mọi trường hợp chính là bản thân chúng ta, xét về mặt bản thể luận, lại là cái xa xôi nhất. Lý do nằm ngay trong tự thân chăm lo.

Cái Hữu thể của chúng ta bên cạnh những sự vật mà ta bận tâm một cách gần gụi nhất trong ‘thế giới’ – một Hữu thể vốn Verfallen sa ngã – đã định hình cách diễn giải thường nhật về Dasein, đồng thời che khuất đi cái Hữu thể chân thực của nó ở cấp độ thực hữu đến mức là cái bản thể luận vốn hướng tới thực thể này bị khước từ một nền tảng phù hợp. Do đó, cách thức bản nguyên để thực thể này được trình hiện như một hiện tượng lại không hề hiển nhiên chút nào, nhất là khi bản thể luận thường có xu hướng đi theo lối diễn giải thường nhật về Dasein. Việc phơi bày Hữu thể bản nguyên của Dasein phải được giành lấy từ chính Dasein, thông qua một lộ trình ngược lại với lộ trình đi theo khuynh hướng diễn giải mang tính thực hữu-bản thể luận sa ngã. Không chỉ thông qua việc trưng ra những cấu trúc căn bản nhất của Hữu-thể-trong-thế-giới, trong việc xác định phạm vi khái niệm thế giới, trong việc làm sáng tỏ cái ‘ai’ trung bình của thực thể này (cái ‘ai’ gần gũi nhất với chúng ta, tức là cái-Tự-ngã-họ), trong việc Diễn giải cái ‘có-đó’, nhưng quan trọng hơn cả là bằng phép phân tích chăm lo, cái chết, lương tâm và tội lỗi – qua tất cả những phương diện này, chúng ta đã cho thấy cách thức mà ý thức thông thường đầy bận tâm trong chính Dasein hiện hữu người đã kiểm soát cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein và sự khai mở của tiềm năng đó – hay nói đúng hơn là sự che đậy – của chính cái tiềm năng đó.

Vì vậy loại Hữu thể của Dasein đòi hỏi rằng bất kỳ phép Diễn giải bản thể luận nào – với mục tiêu làm sáng tỏ các hiện tượng ở trạng thái bản nguyên của chúng – đều phải nắm bắt được cái Hữu thể của thực thể này, mặc dù khuynh hướng tự thân của chính thực thể đó lại che đậy sự vật. Do đó, phép phân tích hữu thể luôn mang tính chất của một trạng thái Gewaltsamkeit cưỡng bách – dù là đối với những khẳng định từ cách diễn giải thường nhật, hay đối với tính tự mãn và trạng thái an nhiên chấp nhận của nó. Mặc dù đặc điểm này đặc biệt nổi bật trong bản thể luận về Dasein, nhưng nó thực chất là yếu tố gắn liền với bất kỳ phép Diễn giải nào, bởi lẽ, sự thấu hiểu nảy sinh Diễn giải vốn mang cấu trúc phóng chiếu. Tuy nhiên, liệu một tiến trình như vậy có được dẫn dắt và điều tiết theo cách thức riêng của nó hay không? Các dự phóng bản thể luận lấy bằng chứng từ đâu để khẳng định rằng những ‘phát hiện’ của chúng thực sự phù hợp về phương diện hiện tượng? Phép Diễn giải bản thể luận phóng chiếu cái thực thể được trình hiện với nó lên chính cái Hữu thể vốn thuộc về thực thể đó, nhằm khái niệm hóa nó dựa trên cấu trúc của chính nó. Đâu là những chỉ dấu định hướng cho sự phóng chiếu này, để đảm bảo rằng ta có thể chạm đến được Hữu thể? Và điều gì sẽ xảy ra nếu thực thể trở thành chủ đề của phép phân tích hữu thể lại tự che giấu cái Hữu thể vốn thuộc về nó – ngay trong chính cách thức hiện hữu của nó? Để trả lời [tr.360] những câu hỏi này, trước hết chúng ta cần tập trung làm rõ phép phân tích về Dasein, đúng như yêu cầu từ chính các câu hỏi đó. Phép Diễn giải về cái Tự ngã thuộc về Hữu thể của Dasein. Trong quá trình khám phá mang tính quan tâm bao quát cái ‘thế giới’, thì bản thân sự quan tâm cũng trở nên hiển lộ.

Dasein luôn tự thấu hiểu chính mình một cách thực tế thông qua các khả tính thực hữu cụ thể, ngay cả khi những dự phóng của nó chỉ bắt nguồn từ nhận thức thông thường của das Man cái ‘họ’. Dù tường minh hay không, dù phù hợp hay không, thì sự hiện hữu vẫn luôn được thấu hiểu theo một cách nào đó. Có những yếu tố mà mọi sự thấu hiểu mang tính thực hữu đều ‘bao hàm’, dù chỉ là tiền-bản thể luận — nghĩa là chưa được hình dung về phương diện lý thuyết hay chủ đề. Mọi câu hỏi tường minh về mặt bản thể luận liên quan đến Hữu thể của Dasein đều đã được chuẩn bị sẵn lộ trình bởi chính loại Hữu thể mà Dasein sở hữu. Tuy nhiên, làm thế nào để xác định điều gì tạo nên tồn tại ‘đích thực’ của Dasein? Trừ khi chúng ta có một sự thấu hiểu mang tính thực hữu cụ thể, còn không thì mọi phân tích về trạng thái hữu thể đều sẽ trở nên vô căn cứ. Chẳng phải bên dưới cách chúng ta diễn giải về tính đích thực và tổng thể tính của Dasein luôn tiềm ẩn một cách thức thực hữu trải nghiệm tồn tại vốn có thể khả thi nhưng không nhất thiết phải mang tính bắt buộc đối với tất cả mọi người hay sao? Phép Diễn giải mang tính hữu thể không bao giờ tìm cách áp đặt bất kỳ tuyên bố độc đoán nào về những gì được coi là khả thi hoặc bắt buộc từ quan điểm thực hữu cụ thể. Thế nhưng, chẳng phải nó vẫn cần phải tự biện minh thông qua chính những khả tính thực hữu cụ thể đó — những khả tính vốn cung cấp nền tảng thực hữu cho phép Diễn giải bản thể luận hay sao?

Nếu Hữu thể của Dasein về bản chất là tiềm-năng-cho-Hữu-thể, nếu đó là Hữu-thể tự do hướng tới các khả tính riêng biệt nhất của chính nó, và nếu trong mọi trường hợp, Dasein chỉ tồn tại thông qua trong tự do (hoặc thiếu tự do) đối với những khả tính này, thì liệu phép Diễn giải bản thể luận có thể làm gì khác ngoài việc dựa trên các khả tính thực hữu — các cách thức của tiềm-năng-cho-Hữu-thể — và phóng chiếu những khả tính này lên khả tính bản thể luận của chúng? Và nếu phần lớn thời gian, Dasein tự diễn giải theo khuôn khổ trạng thái đánh mất chính mình khi bận tâm đến ‘thế giới’, thì chẳng phải phương thức bộc lộ phù hợp cho một thực thể như vậy chính là xác định các khả tính thực hữu- cá nhân cụ thể (theo cách thức ngược lại với lộ trình thông thường), rồi từ đó đưa ra một phép phân tích hữu thể dựa trên chính những khả tính đó hay sao? Nếu vậy, chẳng phải tình trạng ‘cưỡng bách’ của cách phóng chiếu này thực chất lại chính là hành động giải phóng nội dung hiện tượng không che đậy của Dasein hay sao?

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘In seiner Exenziellen Bezeugung wurde das eigentliche Seinkonnen des Daseins als Entschlossm Mit aufgezeigt und zugleich Exenzial Interpretiert.’ Trong các ấn bản trước đó, từ ‘aufgezeigt und zugleich Exenzial Interpretiert’ được chèn vào giữa ‘Bezeugung’ và ‘wurde’, chứ không phải ở vị trí hiện tại. [349]

2 ‘…die allem faktischen Seinkonnen des Daseins vorgelagert ist…’ Cf. lưu ý tôi' p. gog, H. 1159 ở trên. [349]

3 'Wenn im Vorlatifen zum Tode erst aile faktische “Vorläufigkeit” des Entschliessens eigentlich verstanden, das heisst Exenziell eingeholt ware?' Bản dịch của chúng tôi về 'Vorläufen' là 'sự mong đợi' một lần nữa không đưa ra được ẩn dụ 'chạy về phía trước', mà ở đây có mối liên hệ rõ ràng với khái niệm 'bắt kịp'. (Xem chú thích 3 của chúng tôi, trang 306, H. 262 ở trên.) Tương tự, cách dịch 'Vorläufigkeit' của chúng tôi là 'tính dự đoán', làm nảy sinh mối liên hệ với 'vorläufen', không phù hợp với cách dịch thông thường của chúng tôi về tính từ 'vorläufig' là 'tạm thời'. [tr.350]

4 'Sein “Bestand” gründet nicht in der Substanzialität einer Substanz, sondem in der "Selbständigkeit" des exierenden Selbst, dessen Sein als Sorge begriffen wurde.' Trong câu này Heidegger đã sử dụng không ít hơn năm từ có nguồn gốc từ gốc Ấn Âu 'sta-' (Cf. tiếng Anh 'stand', tiếng Latin 'stare', tiếng Đức 'stehen'): 'Bestand', 'Substanz', 'Substantialität', 'Selbständigkeit', 'existierenden'. Trong mỗi trường hợp, chúng tôi đã sử dụng một từ tương đương trong tiếng Anh có nguồn gốc từ cùng một cơ sở. Thuật ngữ quan trọng 'Bestand' – mà ở đây chúng tôi dịch một cách tương đối tùy ý là 'sự tồn tại' (subsistence), dù trong những ngữ cảnh khác chúng tôi từng dịch theo các cách khác nhau – tương ứng với động từ 'bestehen' (có nghĩa là 'tồn tại', 'duy trì', 'bao gồm', hoặc thậm chí là 'hiện hữu' theo một nghĩa rộng hơn cách dùng của Heidegger). Do đó, từ này có thể mang nghĩa là 'sự tồn tại' theo nghĩa rộng nhất, hoặc cụ thể hơn là 'sự tồn tại liên tục'; nó cũng có thể chỉ cái mà một sự vật 'được cấu thành từ đó' – tức 'nội dung' hay toàn bộ 'kho dự trữ' các yếu tố tạo nên sự vật ấy. Đây là nghĩa mà Heidegger thường xuyên sử dụng nhất, đặc biệt trong các cụm từ như 'der phänomenale Bestand' ('nội dung hiện tượng', 'kho dự trữ các hiện tượng'). Chúng tôi cũng dịch 'Selbständigkeit' là 'tự tồn tại' (self-subsistence) một cách tương đối tùy ý, nhất quán với cách chúng tôi dịch tính từ 'selbständig' ở các trang H. 291–292. Tuy nhiên, như sẽ thấy sau này (H. 322), thuật ngữ 'tự kiên định' (self-constancy) có lẽ sẽ phù hợp hơn. [tr. 351]

5 'Zeitlichkeit kann sich in verschiedenen Möglichkeiten und in verschiedener Weise zeitigen' (Tính thời tính có thể tự biểu hiện theo những khả năng khác nhau và bằng những phương thức khác nhau). Trong tiếng Đức thông dụng, động từ 'zeitigen' có nghĩa là 'mang lại' hoặc chính xác hơn là 'làm cho chín muồi'; đây là cách chúng tôi đã dịch từ này trong các phần trước của tác phẩm. Tuy nhiên, ở phần hiện tại và các phần tiếp theo, Heidegger khai thác mối liên hệ từ nguyên giữa 'zeitigen' với các từ như 'Zeit' ('thời gian') và 'Zeitlichkeit' ('tính thời tính'); vì vậy, chúng tôi quyết định dịch từ này là 'tự thời tính hóa' (to temporalize). Chúng tôi đã từng lưu ý đến các đoạn trước đó (H. 122, 178), nơi từ 'zeitigen' đã được thay đổi thành 'zeigen' (biểu hiện/chỉ ra) trong các ấn bản về sau. Nếu những thay đổi này không đơn thuần là lỗi in ấn, thì có lẽ đó là một ý định cố ý nhằm tránh sử dụng động từ này theo bất kỳ nghĩa nào khác ngoài nghĩa đặc thù được giới thiệu tại đây. (Tương phản H. 152, ở đó không có sự chỉnh sửa nào được thực hiện.) [tr.351]

6 ‘…(Sein als Vorhandenheit)…’ Chữ 'als' trong các lần xuất bản sau thay thế dấu bằng mà chúng ta tìm thấy trong các lần xuất bản trước. [tr.352]

7 'Das Exenziell eigentliche Ganzseinkonnen- des Daseins als vorlaufende Entschlossenheit.' [tr.352]

8 'Das "kann" des Schuldigseinkonnens versteht die Entschlossenheit erst, wenn sie &ich als Sein zum Tode "qualifiziert".' [tr.354]

9 Đại từ nhập nhằng của Heidegger ám chỉ đến “sự kiên quyết”, như được nêu rõ trong H. 326 dưới đây. [tr.355]

10 'Die Gewissheit des Entschlusses bedeutet : Sichfreihalten für seine mögliche und je faktisch notwendige , Zurücknahme'. Về mặt ngữ pháp, không rõ liệu tính từ sở hữu 'seine' đề cập đến 'Entschlusses' ('độ phân giải') hay 'Sich-' của 'Sichfteihalten' ('chính mình'). Chúng tôi đã chọn cách giải thích trước đây sao cho tự nhiên hơn. Nhưng thật thú vị khi giải thích câu này và câu tiếp theo như là sự chuẩn bị cho nhận xét của Heidegger ở vài dòng dưới đây rằng 'In seinem Tod muss sich das Dasein schlechthin "zurücknehmen" '- có thể được dịch là 'Khi chết, Dasein phải 'rút lui' chính nó

hoàn toàn.” Trong trường hợp đó, sẽ rất hấp dẫn nếu dịch câu hiện tại bằng cách viết ‘… giữ bản thân tự do rút lui…’ [tr.355]

11 ‘…eigentliche Entschlossenheit zur Wiederholung ihrer selbst.' Ý tưởng dường như là sự kiên quyết đích thực luôn lặp đi lặp lại khi đối mặt với nhận thức thường xuyên rằng nó có thể phải rút lại hoặc rút lại bất cứ lúc nào. [tr.355]

12 'Trong ihr wird das Dasein frei von den "Zufalligkeiten" des Unterhaltenwerdens die sich die geschäftige Neugier primär aus den Weltbegebenheiten verschafft.' [tr.358]

13 'Diefur eine Interpretation des Seinssinnes der Sorge gewonnene hermeneutisck Situation und der methodisck Charakter der existenzialen Anafytik uherhaupt.'[p.358]

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXVI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

II CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN

[Tr. 343] Chỉ trong sự im lặng, lương tâm mới cất tiếng gọi; nghĩa là, tiếng gọi ấy khởi phát từ sự tĩnh lặng của Unheimlichkeit/ uncanniness trạng thái bất an không nhà, và Dasein – thực thể được gọi – bị triệu hồi trở về với trạng thái tĩnh lặng của chính mình, trở về như một hiện hữu cần phải đạt đến tĩnh lặng. Do đó, chỉ trong thái độ kín tiếng, thì cái diễn ngôn thầm lặng này mới được thấu hiểu một cách đúng đắn bởi một hiện hữu đang khao khát có được lương tâm. Nó tước đi những ngôn từ vốn thuộc về lối phiếm đàm tầm thường của das Man cái ‘họ’. Cách diễn giải thông thường về lương tâm – vốn chỉ ‘bám chặt vào các sự kiện’ – lại coi cuộc đối thoại thầm lặng của lương tâm như một cái cớ để gạt bỏ nó, cho rằng đó là thứ không thể xác định hay hiện-diện-vô-tri. [Chen ngang: Cụm từ tiếng Đức nguyên gốc mà Heidegger sử dụng trong Sein und Zeit, tr. 296 / GA 2: 393) là: “die verständige Gewissensauslegung, die sich »streng an Tatsachen hält«”: i) Cụm từ ‘die verständige Gewissensauslegung’ được John Macquarrie và Edward Robinson dịch là ‘the common-sense way of interpreting the conscience’ ‘cách diễn giải lương tâm theo lẽ thường’; ii) Cụm từ ‘die sich »streng an Tatsachen hält«’ dịch sát nghĩa là ‘which sticks rigorously to the facts’ ‘bám sát một cách nghiêm ngặt vào các sự kiện’. Ở đây cần phải lưu ý phân biệt giữa hai từ die Tatsache và das Faktum; đối với tôi die Tatsache ‘sự kiện’ là thực tế, có tính thực tế thuộc cấp độ ontish/ontical thực hữu, còn das Faktum là Sự thật, có Thực tính thuộc cấp độ ontologisch/ontological bản thể luận.-HHN]. Việc das Man cái ‘họ’ – những kẻ chỉ nghe và hiểu được những phiếm đàm ồn ào, vô bổ – không thể ‘báo cáo’ lại bất kỳ tiếng gọi nào, đã được dùng để chống lại lương tâm, với lập luận ngụy biện rằng lương tâm là thứ ‘câm lặng’ và rõ ràng là không hiện-diện-vô-tri. Với cách diễn giải này, das Man cái ‘họ’ thực chất chỉ đang che đậy sự bất lực của chính mình trong việc lắng nghe tiếng gọi, cũng như cho thấy rằng khả năng ‘lắng nghe’ của họ chẳng đi đến đâu cả. Như vậy, trạng thái khai mở của Dasein khi khao khát có lương tâm được cấu thành bởi: nỗi lo âu – là một tâm thế; sự thấu hiểu – là phóng chiếu bản thân vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi chỉ của riêng mình; và diễn ngôn – với tư cách kín tiếng.

Trạng thái khai mở đặc thù và đích thực này – vốn được chính lương tâm chứng thực ngay trong Dasein – tức là tự-phóng chiếu kín tiếng vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi chỉ của riêng mình, nơi cá nhân sẵn sàng đón nhận nỗi lo âu – được chúng tôi gọi là ‘tính quyết đoán’. Tính quyết đoán là một phương thức đặc thù trong trạng thái khai mở của Dasein.1 Tuy nhiên, ở một phần trước đó, chúng tôi đã Diễn giải trạng thái khai mở về phương diện hữu thể như là cái chân lý bản nguyên.x Loại chân lý như vậy, trước hết, không phải là một phẩm chất của ‘phán đoán’ hay của bất kỳ cách hành xử cụ thể nào, mà là yếu tố ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Chân lý phải được hiểu như một yếu tố cấu thành hữu thể nền tảng. Trong quá trình làm sáng tỏ về mặt bản thể luận đối với mệnh đề ‘Dasein ở trong chân lý’, chúng ta đã lưu ý đến trạng thái khai mở bản nguyên của thực thể này, coi đó chính là chân lý của hiện hữu; đồng thời, để xác định rõ đặc tính của nó, chúng ta đã viện dẫn đến phép phân tích về Eigentlichkeit/ authenticity tính chân thực của Dasein. xi

Thông qua tính quyết đoán, chúng ta đã chạm đến chân lý của Dasein – một chân lý bản nguyên nhất vì nó mang tính chân thực. [Chen ngang: Thuật ngữ Entschlossenheit tính quyết đoán của Heidegger vốn là một danh từ bắt nguồn từ động từ entschließen (quyết định, hạ quyết tâm). Bản thân động từ này có chung gốc với từ schließen/ đóng lại, khép lại, kết hợp cùng tiền tố ent- mang nghĩa mở ra, tháo gỡ, hoặc giải phóng. Trong tiếng Đức thông thường, entschlossen có nghĩa là kiên quyết, quả quyết hoặc táo bạo. Tuy nhiên, Heidegger khai thác cấu trúc nội tại của từ này: ông không xem Entschlossenheit là một hành vi ngoan cố của cái tôi hay một ý chí cứng nhắc; thay vào đó, xét về mặt từ nguyên và hiện tượng học, ông hiểu nó là ‘không-bị-đóng-kín’ hay trạng thái ‘mở ra’ (tương tự như thuật ngữ Erschlossenheit – trạng thái khai mở). Ý nghĩa Triết học trong tư tưởng Heidegger: i) Dasein tự mở ra: ‘Quyết đoán’ là năng lực của Dasein hiện hữu người trong việc ‘khai mở’ khuôn khổ khả tính thấu hiểu của chính mình; điều đó có nghĩa là Dasein chấm dứt tình trạng để bản thân bị cuốn trôi một cách thụ động vào đám đông das Man cái ‘họ’ và bắt đầu trở nên sáng tỏ đối với hoàn cảnh cụ thể của chính mình; ii) Lắng nghe tiếng gọi của lương tâm - trạng thái này được mô tả là ‘khát vọng có được lương tâm’, trong đó Dasein lắng nghe tiếng gọi thầm lặng của lương tâm – tiếng gọi thúc giục Dasein quay trở về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chính mình; iii) Không phải là ý chí ngoan cố - Heidegger phân biệt rõ ràng Entschlossenheit tính quyết đoán với sự bướng bỉnh, ngoan cố thường ngày hay một quyết định đạo đức mù quáng. Nó không có nghĩa là cố chấp áp đặt một kế hoạch lên thế giới, thay vì đó là một thái độ tỉnh táo, đã kinh qua lo âu, sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì khả thể trong hoàn cảnh thực tế của cá nhân; iv) Hoàn cảnh – tính quyết đoán tạo ra một ‘hoàn cảnh’ đích thực thay vì chỉ là một hành động mù quáng; nó nắm bắt các khả tính cụ thể, mang tính lịch sử, thay vì trốn chạy vào các lý thuyết trừu tượng hay những sự xao nhãng trong đời sống thường nhật; v) Tính quyết đoán hướng tới tương lai - khi kết hợp với nhận thức về cái chết/tính hữu tử của chính mình, nó trở thành ‘tính quyết đoán hướng tới tương lai’ – cấu trúc cốt lõi của Eigentlichkeit tính chân thực.-HHN]

Bất cứ khi nào một cái ‘có đó’ được khai mở, thì toàn bộ cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó – nghĩa là thế giới, Hữu-thể-trong, và cái Tự ngã mà thực thể này thể hiện qua khẳng định ‘Tôi là’ – đều được khai mở với cùng một trạng thái đồng bản nguyên.2  Mỗi khi thế giới được khai mở, các thực thể ở-trong-thế-giới cũng đã được [tr.344] khám phá từ trước. Việc các thực thể – dù ở dạng sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri được khám phá, đều dựa trên nền tảng là sự khai mở của thế giớixii bởi lẽ, để toàn bộ các can dự hiện thời được tự do, thì trước hết, ý nghĩa của chúng phải được thấu hiểu. Trong quá trình thấu hiểu ý nghĩa này, Dasein – với tư cách là thực thể luôn quan tâm – đã hướng tầm nhìn bao quát của mình vào những gì nó bắt gặp như là các thực thể sẵn-có-để-dùng. Mọi hành vi khám phá một tống thể các can dự đều bắt nguồn từ một loại ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’; và chính sự thấu hiểu về ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ này lại là cơ sở cho việc thấu hiểu ý nghĩa – tức là sự khai mở của thế giới hiện thời. Khi tìm kiếm nơi trú ẩn, thức ăn hay sinh kế, chúng ta thực hiện những điều đó ‘vì-mục-đích-của’ những khả tính thường trực của chính Dasein – những khả tính vốn rất gần gũi với nó;3 chính trên những khả tính này, cái Hữu-thể mà đối với nó, sự hiện hữu của chính mình là một vấn đề cần giải quyết, lại đã tự phóng chiếu bản thân.

‘Bị ném vào’ thành cái ‘có-đó’ của mình, mỗi Dasein đều đã thực sự bị đặt vào một ‘thế giới’ xác định – đó chính là cái ‘thế giới’ của riêng nó. Đồng thời, các phóng chiếu thực tế gần gũi nhất với Dasein lại thường bị dẫn dắt bởi trạng thái ‘đánh mất mình’ của nó trong sự bận tâm giữa das Man cái ‘họ’. Dasein có thể tự hướng về trạng thái ‘đánh mất mình’ này, và sự hướng về đó có thể được thấu hiểu thông qua thái độ quyết đoán. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, trạng thái khai mở đích thực này làm biến đổi—với cùng một tính bản nguyên—cả cách thức mà ‘thế giới’ được khám phá (vốn dựa trên chính trạng thái khai mở ấy) lẫn cách thức mà Dasein—trong sự hiện hữu cùng những Kẻ Khác—được khai mở. ‘Thế giới’ vốn sẵn-có-để-dùng không hề thay đổi về ‘nội dung’, và phạm vi những Kẻ Khác cũng không bị thay thế; ngược lại, cả cái Hữu-thể hướng đến cái sẵn-có-để-dùng (thông qua thấu hiểu và bận tâm), lẫn cái Hữu-thể với những Kẻ Khác, giờ đây đều mang một đặc tính xác định, bắt nguồn từ chính cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó riêng tư nhất.

Tính quyết đoán, với tư cách là Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó thực sự, không tách rời Dasein hiện hữu người khỏi thế giới của nó, cũng không cô lập nó thành một cái ‘Tôi’ lơ lửng, tách biệt. Làm sao có thể như vậy được, khi mà tính quyết đoán – với tư cách là trạng thái khai mở đích thực – thực chất chẳng phải là gì khác ngoài cái Hữu-thể-trong-thế-giới? Tính quyết đoán đưa cái Tự ngã vào ngay trong cái Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm hiện tại của nó – là những gì sẵn-có-để-dùng – đồng thời thúc đẩy nó bước vào cái Hữu-thể-với-những-Kẻ-Khác đầy ân cần. Dưới ánh sáng của cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ – vốn xuất phát từ tiềm-năng-cho-Hữu-thể của ai đó tự chọn lựa – một Dasein đầy quyết đoán sẽ tự giải phóng chính mình để hướng về thế giới của nó. Chính tính quyết đoán của Dasein đối với bản thân đã tạo điều kiện để nó có thể để cho những Kẻ Khác cùng với nó được ‘hiện hữu’ trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng tư nhất của mình; đồng thời, để đồng-khai mở cái tiềm năng này trong sự ân cần vốn lao lên phía trước và giải phóng. Khi Dasein trở nên quyết đoán, nó có thể trở thành ‘lương tâm’ của những Kẻ Khác. Chỉ đích thực bằng Hữu-thể-Tự-ngã-của-họ trong tính quyết đoán, con người mới có thể đích thực hiện hữu cùng nhau – chứ không phải thông qua những quy ước đầy mơ hồ, đố kỵ, [tr.445] hay những cuộc phiếm đàm giao kết trong cái ‘họ’ và trong cái mà ‘họ’ muốn thực hiện.

Xét về bản chất hữu thể luận, tính quyết đoán luôn là tính quyết đoán của một Dasein có thật tại một thời điểm nhất định. Bản chất của Dasein, với tư cách một thực thể, chính là sự hiện hữu của nó. Tính quyết đoán chỉ ‘hiện hữu’ dưới dạng Entschluss một quyết định – một sự phóng chiếu bản thân dựa trên sự thấu hiểu. Nhưng Dasein tự bộc lộ thông qua tính quyết đoán dựa trên cơ sở nào?4  Nó quyết định về điều gì? Chỉ bản thân quyết định đó mới có thể đưa ra câu trả lời. Sẽ là một sự hiểu lầm hoàn toàn hiện tượng tính quyết đoán nếu chỉ đơn thuần là việc ai đó chọn lấy và nắm bắt những khả tính đã được đề xuất hay gợi ý sẵn. Quyết định kia chính là sự phóng chiếu mang tính khai mở và là việc xác định những gì khả thể có thật tại thời điểm đó. Trạng thái bất định – vốn là đặc trưng của mọi tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà Dasein đã bị ném vào đời thật – là một yếu tố tất yếu gắn liền với tính quyết đoán. Chỉ trên cơ sở một quyết định, thì tính quyết đoán mới xác tín được chính mình. Trạng thái bất định mang tính thực hữu cụ thể của tính quyết đoán chỉ trở nên xác định thông qua một quyết định; tuy nhiên, xét về mặt cấu thành hữu thể, nó vẫn mang tính xác định riêng của mình. Điều mà Dasein quyết định hướng tới đã được quy định về mặt bản thể luận trong tính hữu thể của Dasein nói chung, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể theo cách thức ân cần đầy chu toàn. Tuy nhiên với tư cách chăm lo, Dasein lại bị quyết định bởi tính thực tế và tình trạng sa ngã.

[Chen ngang: Theo Heidegger, Dasein hiện hữu người được xác định về mặt bản thể luận chỉnh thể thông qua cấu trúc hữu thể của Sorge Chăm lo. Chăm lo không mang ý nghĩa tâm lý như lo lắng hay thương yêu, mà là cấu trúc nền tảng định hình toàn bộ cách thức Dasein hiện hữu trong thế giới. Cấu trúc này hợp nhất ba thành tố không thể tách rời: Existentiality - Tính hữu thể; Phóng chiếu, và Facticity Thực tính/ Tính bị ném vào đời; và Falling Tình trạng sa ngã/ Hòa tan vào thế giới. 1). Dasein được định hình bởi Chăm lo: Công thức bản thể luận của Heidegger mô tả Chăm lo là: i) Hữu thể-vượt trước chính mình-đã ở trong thế giới-với tư cách là đang ở cùng với các thực thể khác; ii) Chăm lo gắn liền với tính thời gian gồm ba chiều kích Tương lai - Quá khứ - Hiện tại; iii) Ba chiều kích của tính thời gian tương ứng trực tiếp với ba cấu trúc của Dasein: - Tính đi trước chính mình (Sự phóng chiếu) hướng về Tương lai; - Tính đã ở trong thế giới (Tính bị ném/ Thực tính) gắn liền với Quá khứ; - Tính ở cùng với (Sa ngã) diễn ra trong Hiện tại. 2). Vai trò của Facticity Thực tính/ Tính bị ném: i) Bản chất của Facticity (Geworfenheit/ Tính bị ném vào đời - Dasein không tự mình chọn ra đời; nó luôn ‘đã bị ném’ vào một hoàn cảnh có sẵn; ii) Các yếu tố cấu thành: Gia đình, ngôn ngữ, thời đại lịch sử, văn hóa, và những giới hạn sinh học hay xã hội mà Dasein không thể tự định đoạt; iii) Kết nối với Chăm lo: -Facticity/Thực tính đại diện cho khía cạnh “đã-ở-đó” (having-been / quá khứ) trong cấu trúc của Chăm lo; - Dasein không thể đứng ngoài hay xóa bỏ hoàn cảnh của mình; thay vào đó, nó phải mang vác, đối diện và xoay sở với những thứ có sẵn ấy; nó luôn có ‘nhiều hơn’ những gì nó thực tế có - vì nó còn mang trong mình khả tính thay đổi. 3). Vai trò của tình trạng sa ngã/ Bị cuốn hút vào thế giới: i) Bản chất của Verfallen sa ngã- thay vì tỉnh thức đối diện với cấu thành hữu thể và cái chết của chính mình, Dasein có xu hướng bị cuốn hút, hấp dẫn và “chìm đắm” vào thế giới của các sự vật và das Man cái ‘họ’; ii) Các biểu hiện – phiếm đàm, nông cạn, và mơ hồ; iii) Kết nối với Chăm lo – sa ngã đại diện cho cách Dasein tương tác trong hiện tại bằng phân tâm, bám víu vào đời sống thường nhật; iv) Cái ‘họ’ làm cho Dasein rơi vào trạng thái inauthentic không đích thực; đánh mất bản ngã độc lập của mình để hòa tan vào cách tư duy ‘ai cũng thế’ của das Man cái ‘họ’.-HHN].

Được khai mở trong cái ‘ở đó’ của mình, Dasein duy trì bản thân trong cả chân lý lẫn phi-chân lý với cùng một đồng bản nguyên tính.xiii Điều này đặc biệt đúng đối với tính quyết đoán khi nó biểu hiện như một chân lý đích thực. Tính quyết đoán chiếm lĩnh phi-chân lý một cách đích thực. Dasein vốn đã ở trong Unentschlossenheit trạng thái thiếu quyết đoán, và có lẽ chẳng bao lâu nữa, nó sẽ lại rơi vào trạng thái đó. Thuật ngữ ‘Trạng thái thiếu quyết đoán chỉ đơn thuần diễn tả hiện tượng mà chúng ta đã diễn giải là loại Hữu-thể-đầu-hàng cái cách thức mà vạn vật thường được diễn giải bởi das Man cái ‘họ’. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Unentschlossenheit Tình trạng thiếu quyết đoán là trạng thái cấu thành hữu thể nền tảng của Uneigentlichkeit tính không đích thực. Thuật ngữ này không chỉ đơn thuần là một trạng thái tâm lý hời hợt kiểu như không thể đưa ra quyết định; thay vào đó, nó mô tả cách mà Dasein hiện hữu người mặc nhiên rơi vào trạng thái khép kín, tách biệt khỏi những khả năng đích thực của chính mình. Khung lý thuyết của Heidegger phân tách Unentschlossenheit thành một vài tầng nghĩa chính: 1). Đối lập với Entschlossenheit Tính quyết đoán/Trạng thái quyết đoán - để hiểu về sự thiếu quyết đoán, ta cần hiểu khái niệm đối lập tích cực của nó, Entschlossenheit: i) Trong tiếng Đức, erschließen có nghĩa là ‘mở ra’ hoặc ‘khai mở’; Heidegger đã vận dụng từ Entschlossenheit theo nghĩa đen là trạng thái ‘không còn-khép kín’ hay ‘trạng thái được khai mở’; ii) Entschlossenheit Tính quyết đoán là một trạng thái đích thực, trong đó Dasein tự ‘mở ra’, đối diện trực tiếp với tính hữu hạn, cái chết và sự tự do lựa chọn cuộc đời của chính mình; iii) Unentschlossenheit Sự thiếu quyết đoán, ngược lại, đồng nghĩa với việc duy trì trạng thái ‘khép kín’; đây là trạng thái mà một cá nhân né tránh việc đối diện với sự thật căn bản về sự tồn tại của chính mình. 2). Bị chi phối bởi das Man cái ‘họ’: i) Khi ở trong trạng thái Unentschlossenheit, Tôi không chủ động chọn lấy con đường cho riêng mình; ii) Thay vào đó, Tôi để các lựa chọn, giá trị và hành vi của mình bị chi phối bởi das Man cái ‘họ’; iii) Tôi làm những gì mà cái ‘họ’ làm, suy nghĩ những gì mà cái ‘họ’ suy nghĩ, và sống theo cách mà cái ‘họ’  cho là nên sống; iv) Việc từ bỏ trách nhiệm cá nhân như vậy chính là dấu hiệu đặc trưng của sự thiếu quyết đoán trong cấu thành hữu thể. 3) Rơi vào Verfallensein Trạng thái ‘sa ngã’: i) Dasein có khuynh hướng tự nhiên là rơi vào trạng thái sa ngã, nghĩa là chúng ta dễ dàng bị cuốn hút và mê hoặc bởi thế giới đời thường xung quanh; ii) Trong trạng thái thiếu quyết đoán, chúng ta sử dụng một chuỗi không dứt những công việc vụn vặt, những phiếm đàm vô bổ và sự tò mò hời hợt để đánh lạc hướng bản thân; iii) Trốn tránh đối diện với những nỗi lo âu cấu thành hữu thể sâu sắc hay cái chết tất yếu của chính mình. 4) Tình trạng căng thẳng thường trực trong cấu thành hữu thể: i) Trạng thái thiếu quyết đoán không phải là một khiếm khuyết cố hữu hay một tội lỗi mà ta có thể loại bỏ vĩnh viễn; ii) Dasein hiện hữu người luôn luôn đã ở trong trạng thái thiếu quyết đoán, và chẳng bao lâu nữa, có lẽ, nó sẽ lại rơi vào trạng thái đó; iii) Một cuộc đời đích thực không phải là trạng thái giác ngộ vĩnh viễn; thay vì, đó là một cuộc đấu tranh không ngừng, lặp đi lặp lại, nhằm tự kéo mình ra khỏi màn sương mù an nhiên giả tạo của tình trạng thiếu quyết đoán để bước vào trạng thái dễ tổn thương nhưng sáng rõ và sắc bén của trạng thái quyết đoán.-HHN]

Dasein, với tư cách là một Tự ngã-họ, bị dẫn dắt bởi tình trạng mơ hồ thông thường của cái không gian công cộng – nơi chẳng ai thực sự quyết định điều gì, nhưng mọi quyết định dường như đã luôn được đưa ra từ trước.5 Tính quyết đoán biểu thị việc để bản thân được đánh thức, thoát khỏi trạng thái lạc lối trong cái ‘họ’ ấy. Dù tình trạng thiếu quyết đoán của cái ‘họ’ vẫn chiếm ưu thế, nó không thể làm lung lay sự tồn tại đầy quyết đoán. Trong khái niệm đối lập với tình trạng thiếu quyết đoán – tức là ‘tính quyết đoán’ hiểu theo nghĩa cấu thành hữu thể – chúng ta không hề ám chỉ bất kỳ đặc điểm thực-hữu-tâm-lý nào theo nghĩa của cái Hữu-thể-đè- nặng bởi những ức chế. Ngay cả các quyết định cũng vẫn phụ thuộc vào [tr.346] das Man cái ‘họ’ và thế giới của nó. Việc thấu hiểu điều này là một trong những khía cạnh được bộc lộ thông qua tính quyết đoán, bởi lẽ chính thái độ quyết đoán này là yếu tố đầu tiên mang lại sự minh bạch đích thực cho Dasein hiện hữu người. Trong thái độ quyết đoán, vấn đề cốt yếu đối với Dasein chính là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù nhất của bản thân nó; với tư cách là một thực thể bị ném vào thế giới, Dasein chỉ có thể phóng chiếu chính mình dựa trên những khả tính xác định có thật. Việc quyết định không hề tách rời khỏi Wirklichkeit/ actuality tính hiện thực, mà nó khám phá ra những gì khả thể trong thực tế; nó thực hiện điều đó bằng cách nắm bắt lấy những khả năng ấy – theo bất kỳ cách nào khả thể đối với nó – với tư cách là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù nhất của bản thân nó ngay trong cái ‘họ’.

[Chen ngang: Wirklichkeit/ actuality của Martin Heidegger thường được dịch là tính hiện thực không phải là một tập hợp tĩnh tại, khách quan gồm các sự vật vật lý nằm trong không gian; thay vào đó, nó gắn liền với Wirken (hành động, vận hành, hoặc tạo ra tác động) và cách thức các sự vật tự bộc lộ trước Dasein hiện hữu người. Các khía cạnh then chốt của Wirklichkeit trong tư tưởng Heidegger bao gồm: i) Từ nguyên Wirken, gốc rễ của Wirklichkeit có nghĩa là tạo tác động, vận hành, hoặc thực hiện; đối với Heidegger, một sự vật được coi là wirklich ‘hiện thực’ khi nó hành động, tham gia, hoặc có ý nghĩa trong bối cảnh cụ thể của một thế giới, thay vì chỉ nằm yên một cách thụ động như một đối tượng trung tính; ii) Sự khác biệt so với Realität/ reality thực tại của siêu hình học truyền thống - Trong tiếng Đức thông dụng, Realität được dùng để chỉ ‘thực tại’ — một khái niệm mà Heidegger thường xem là mang tính kỹ thuật, hiện đại và trừu tượng - coi thế giới như một tập hợp các dữ liệu khoa học hoặc các sự vật vorhanden hiện-diện-vô-tri. Ngược lại, Wirklichkeit đi sâu hơn vào cách thức mà các thực thể được bắt gặp thông qua sự tương tác thực tiễn, chủ động trong trạng thái zuhanden ‘sẵn-có-để-dùng’; iii) Höher als die Wirklichkeit steht die Möglichkeit Khả tính còn Cao hơn cả Tính hiện thực’ - Một luận điểm nổi tiếng trong cách Heidegger đọc Aristotle ​​chính là sự phê phán đối với ‘chủ nghĩa hiện thực’ actualism truyền thống. Ông khẳng định Möglichkeit Khả tính còn cao hơn cả tính hiện thực’. Đối với Heidegger, Dasein hiện hữu người được định nghĩa căn bản bởi tiềm năng tự phóng chiếu vào tương lai — tức là bởi các khả tính của chính nó — thay vì chỉ dựa trên những gì đã cố định, hoàn tất, hay đã được ‘hiện thực hóa’ tại thời điểm hiện tại; iv) Mối liên hệ với Aletheia Chân lý phi che giấu/tự bộc lộ: ‘Wirklichkeit’ gắn liền với cách thức mà các thực thể được đưa từ trạng thái ẩn giấu ra ngoài ánh sáng. Chân lý ở đây không phải là sự tương ứng giữa một ý niệm trong tâm trí với một sự kiện vật lý; thay vào đó, Wirklichkeit chính là cách thức mà các thực thể von ihm selbst her tự bộc lộ từ chính bản thân chúng.-HHN]

Các thuộc tính cấu thành hữu thể của bất kỳ Dasein hiện hữu người nào đang ở trạng thái quyết đoán đều bao gồm những yếu tố tạo nên một hiện tượng cấu thành hữu thể mà chúng ta gọi là ‘Tình thế’ – một khái niệm mà trước đây chúng ta chưa đề cập đến. [Chen ngang: Heidegger phân biệt rõ rệt giữa hai từ tiếng Đức cùng mang nghĩa là ‘tình thế’ là Lage và Situation: 1) Die Lage Tình thế chung / Tình thế công cộng - Một hoàn cảnh chung, trạng thái sự việc, hoặc vị trí khách quan: i) Nghĩa triết học là bối cảnh khách quan, thường nhật, được định hình và quy định bởi das Man cái ‘họ’ – ám chỉ đám đông hoặc các chuẩn mực xã hội chung; ii) Trong một Lage, Dasein hiện hữu người chỉ đơn thuần trôi dạt theo các vai trò xã hội tiêu chuẩn, những kỳ vọng tập thể và các cơ hội hời hợt; iii) Đây là một vị trí chung chung, chưa được xem xét thấu đáo, mà bất kỳ ai trong môi trường đó cũng có thể chiếm giữ. 2). Die Situation - Tình thế cấu thành hữu thể/ Tình thế đích thực: i) Nghĩa trong tiếng Đức là một tình huống cụ thể, đã được quyết định và mang tính quyết đoán; ii) Nghĩa triết học - Tình huống này xuất hiện khi một cá nhân thoát khỏi sự kiểm soát vô danh của das Man cái ‘họ’ thông qua Entschlossenheit thái độ quyết đoán và tự mình làm chủ Geworfenheit tình trạng ‘bị ném vào’ của chính mình; ii) Một Situation Tình thế cấu thành hữu thể không chỉ là một bối cảnh vật lý thụ động; nó là một chân trời năng động, minh bạch của những khả tính – nơi toàn bộ ý nghĩa cuộc đời hoặc các lựa chọn của một cá nhân được đặt lên bàn cân thường gắn liền với sự đối diện sáng suốt trước cái chết của chính mình.- HHN]. Trong thuật ngữ Situation ‘Tình thế’ ‘ở trong một tình thế’ ấy, ẩn chứa một sắc thái ý nghĩa liên quan đến không gian.6 Chúng ta sẽ không cố gắng loại bỏ sắc thái này khỏi quan niệm cấu thành hữu thể, bởi chính cái ‘có đó’ của Dasein cũng hàm chứa ý nghĩa ấy. [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới sở hữu một tính không gian riêng, được đặc trưng bởi các hiện tượng như Entfernung xóa bỏ khoảng cách và Ausrichtung/ directionality tính định hướng.

[Chen ngang: Khái niệm Entfernung/ Ent-fernung/ de-severance xóa bỏ khoảng cách của Heidegger chỉ một quá trình cấu thành hữu thể, chủ động, trong đó sự xa xôi bị triệt tiêu và các sự vật được đưa lại gần. 1) Từ tiếng Đức Entfernung - hoặc viết tách là Ent-fernung để nhấn mạnh gốc động từ mang tính hành động của nó bao gồm các khía cạnh sau: i) Trong tiếng Đức thông dụng, Entfernung thường có nghĩa là ‘khoảng cách’ hoặc hành động ‘dời đi’. Tuy nhiên, Heidegger khơi gợi lại các gốc từ nguyên của nó—kết hợp tiền tố phủ định ent- mang nghĩa ‘hủy bỏ’ hoặc ‘lấy đi’ với Ferne - mang nghĩa ‘xa’ hoặc ‘sự xa xôi’; ii) Hành động thay vì đo lường - thuật ngữ này không chỉ một khoảng cách Abstand đo lường tĩnh tại như số ki-lô-mét hay xăng-ti-mét trên bản đồ; thay vào đó, nó là một hoạt động năng động, có tính hướng đích – một Existenzial yếu tố cấu thành hữu thể do Dasein hiện hữu người thực hiện. 2) Ý nghĩa và các đặc điểm cốt lõi: i) Triệt tiêu sự xa xôi - Xóa bỏ khoảng cách là cách thức mà Dasein đưa các sự vật vào phạm vi quan tâm đầy ý nghĩa của chính mình; chẳng hạn, một bức tranh mà bạn đang chăm chú chiêm ngưỡng sẽ mang lại cảm giác gần gũi hơn về mặt hiện tượng học so với cặp kính đang nằm ngay trên sống mũi bạn - dù xét về khoảng cách vật lý thì cặp kính gần hơn; ii) Không mang tính khách quan hay chủ quan thuần túy - đây không phải là một thuộc tính vật lý của các sự vật trong thế giới, cũng không phải là ảo giác thuần túy trong tâm trí một chủ thể; nó bắt nguồn từ cách con người tương tác thực tiễn với các công cụ trong trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’; iii) Gắn liền với tính định hướng - Xóa bỏ khoảng cách luôn song hành cùng Ausrichtung tính định hướng; nghĩa là khi Dasein đưa các sự vật lại gần, nó đồng thời đặt chúng vào một môi trường hoặc không gian có cấu trúc và định hướng cụ thể.-HHN]

Dasein ‘dọn chỗ’ ngay khi nó tồn tại một cách thực tế.xiv Tuy nhiên, tính không gian loại đó vốn thuộc về Dasein — thứ mà dựa vào đó, sự tồn tại luôn xác định ‘vị trí’ của chính mình — lại bắt nguồn từ trạng thái [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới, một trạng thái mà trong đó, tính khai mở đóng vai trò cấu thành căn bản. Cũng như tính không gian của cái ‘có đó’  bắt nguồn từ trạng thái khai mở, thì cái ‘Tình thế’ cũng có các nền tảng ở tính ‘quyết đoán’. Tình thế chính là cái ‘có đó’ được khai mở trong tính quyết đoán — cái ‘có đó’ mà thực thể vẫn tồn tại lại có đó. Nó không phải là một khuôn khổ hiện-diện-vô-tri mà Dasein tình cờ rơi vào, hay là nơi mà Dasein có thể tự đưa mình đến. Khác xa với bất kỳ tập hợp các hoàn cảnh hay ngẫu nhiên nào mà chúng ta bắt gặp như những sự vật hiện-diện-vô-tri, Tình thế chỉ tồn tại thông qua và bên trong tính quyết đoán.

Tính chất liên quan thực tế của các hoàn cảnh chỉ tự khai mở với cái Tự ngã khi tính chất liên quan ấy mang hình thái mà ở đấy, ai đó đã quyết định chọn lấy cái ‘có đó’ – nơi mà Tự ngã, trong quá trình hiện hữu, phải là chính nó.7 Khi thứ mà ta gọi là những thứ ‘ngẫu nhiên’ ập đến từ thế giới chung quanh hay môi trường, chúng chỉ có thể tác động đến tính quyết đoán.8 Ngược lại, đối với das Man cái ‘họ’, thì Tình thế về cơ bản là một điều gì đó đã bị khép kín.9 Cái ‘họ’ chỉ biết đến một ‘tình thế chung’, tự đánh mất mình trong những ‘cơ hội’ gần gũi nhất, và chi trả cho lộ trình của Dasein bằng cách tính toán [tr.347] các ‘ngẫu nhiên’ - mà chính Dasein không nhận ra, nhưng lại cho là thành quả của chính mình và trình bày như thể đó là thành quả của mình.10        

Tính quyết đoán đưa cái Hữu thể của cái ‘có đó’ vào hiện hữu của ‘tình huống’ của chính nó. Thật vậy, nó xác định cấu trúc hữu thể của tiềm- năng-cho-Hữu-thể đích thực mà lương tâm minh chứng – đó chính là mong muốn có được lương tâm. Trong cái tiềm năng này, chúng ta nhận ra phương thức thích hợp để thấu hiểu tiếng gọi lương tâm. Điều này cho thấy rõ ràng rằng, khi tiếng gọi của lương tâm triệu hồi chúng ta hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình, thì nó không đặt ra trước mắt ta một lý tưởng hiện hữu trống rỗng nào, mà thúc đẩy ta bước vào Tình thế đó. Tính khẳng định cấu thành hữu thể này – vốn có trong tiếng gọi của lương tâm khi hiểu đúng đắn – đồng thời mang lại cho chúng ta một nhãn quang: nó cho thấy rằng, nếu xu hướng của tiếng gọi này chỉ bị giới hạn trong những món nợ đã xảy ra hoặc đang hiện diện trước mắt, thì ta đã bỏ lỡ tính chất khai mở của lương tâm. Nó cũng cho thấy rằng, nếu đặt ra giới hạn như vậy, thì việc thấu hiểu tiếng nói của lương tâm chỉ là một sự truyền đạt mang tính bề ngoài. Khi trạng thái thấu hiểu tiếng gọi này được Diễn giải theo nghĩa cấu thành hữu thể là ‘tính quyết đoán’, thì lương tâm được bộc lộ như một loại [Cấu thành] Hữu thể – vốn nằm trong chính nền tảng của Dasein11 – nhờ đó Dasein tự làm cho cái hiện hữu thực tế của chính mình trở nên khả thể, qua đó minh chứng cho cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chính mình. Cái hiện tượng mà chúng ta gọi là ‘tính quyết đoán’ này không thể bị nhầm lẫn với một habitus ‘tập quán’ trống rỗng hay một ‘ý muốn mơ hồ’  thiếu xác định. Tính quyết đoán không phải là việc nhận thức một Tình huống rồi đặt Tình huống đó ra trước mặt mình; mà bản thân nó đã tự đặt mình vào trong Tình huống đó rồi.12 Với tư cách quyết đoán, Dasein đã và đang hành động. Chúng ta cố tình tránh dùng thuật ngữ ‘hành động’13, bởi lẽ: thứ nhất, thuật ngữ này cần được hiểu theo nghĩa rộng đến mức bao hàm cả tính thụ động của sự kháng cự.Thứ hai, nó dễ dẫn đến một sự hiểu lầm trong cái bản thể luận về Dasein, cứ như thể quyết đoán chỉ là một kiểu hành vi đặc thù thuộc về năng lực thực tiễn, đối lập với năng lực lý thuyết vậy. Tuy nhiên, chăm lo [tr.348] với tư cách là sự bận tâm đến thế giới và ân cần đối với tha nhân — bao trùm [Cấu thành] Hữu thể của Dasein một cách bản nguyên và toàn diện đến mức, ngay cả khi ta phân biệt giữa hành vi lý thuyết và thực tiễn, thì nó vẫn không thể được xây dựng trước hết từ các năng lực này thông qua một phép biện chứng – một phép biện chứng vốn thiếu nền tảng cấu thành hữu thể, nên tất yếu hoàn toàn không có cơ sở. Tuy nhiên tính quyết đoán chính là tính hiện thực, vốn nằm trong chăm lo và là đối tượng của chính chăm lo đó; nó khả thể với tư cách là chăm lo— chính là tính hiện thực của bản thân chăm lo.

Việc trình bày các khả tính thực hữu cụ thể thực tế cùng những đặc điểm chính và mối liên hệ giữa chúng, đồng thời diễn giải chúng dựa trên cấu trúc cấu thành hữu thể, là một trong những nhiệm vụ của một nền nhân học cấu thành hữu thể chuyên biệt.xv Vì mục đích của nghiên cứu này — vốn là một khảo cứu về bản thể luận nền tảng — nên chỉ cần xác định được theo nghĩa cấu thành hữu thể về ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể hiện thực mà lương tâm đã minh chứng cho chính Dasein là đủ. Giờ đây, tính quyết đoán ấy đã được làm sáng tỏ như là Hữu-thể-tội-lỗi, một cách tự phóng chiếu trong đó một kẻ giữ thái độ im lặng và sẵn sàng đối diện với nỗi lo âu14— thì nghiên cứu của chúng ta đã có đủ cơ sở để xác định ý nghĩa bản thể luận của cái tiềm năng mà chúng ta đang tìm kiếm - đó chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực của Dasein. Giờ đây, Wirklichkeit authenticity tính hiện thực của Dasein không còn là một thuật ngữ trống rỗng hay một ý niệm do ai đó thêu dệt ra nữa. Tuy nhiên, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực, thì cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết hiện thực — điều mà chúng ta đã suy luận về phương diện cấu thành hữu thể — vẫn chỉ dừng lại ở một dự phóng thuần túy mang tính cấu thành hữu thể, vốn còn thiếu sự xác chứng từ chính Dasein. Chỉ khi tìm thấy sự xác chứng như vậy, thì công cuộc nghiên cứu của chúng ta mới đủ sức làm sáng tỏ (theo yêu cầu của vấn đề đặt ra) một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực, một tiềm năng vốn thuộc về Dasein, được xác nhận và làm rõ trên bình diện cấu thành hữu thể. Bởi lẽ, chỉ khi thực thể này trở nên có thể tiếp cận về mặt hiện tượng trong tính hiện thực và tính trọn vẹn của nó, thì câu hỏi về ý nghĩa của lối [Cấu thành] Hữu thể của cái thực thể mà trong hiện hữu của nó vốn đã bao hàm một sự thấu hiểu về [Cấu thành] Hữu thể — mới có thể đặt trên một nền tảng vững chắc, đủ sức vượt qua mọi kiểm chứng.

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 The etymological connection between 'Entschlossenheit' ('resoluteness') and 'Erschlossenheit' ('disclosedness') is not to be overlooked. [p.343]

2 'Die Erschlossenheit des Da erschliesst gleichurspriinglich das je ganze In-der-Weltseln das heisst die Welt das In-Sein und das Selbst, das als "ich bin" dieses Seiende ist.' It is not clear grammatically whether 'dieses Seiende' or the pronoun 'das' is the subject of the final clause, or whether 'this entity' is 'Dasein' or ‘Being-in’. The grammatical function of the 'als "ich bin" ' is also doubtful. In support of our interpretation, consult H. 54> 114, 117, 267. [p.343]

3 ‘Das Umwillen des Unterkommens, des Unterhalts, des Fortkommens sind nächste und ständige Moglichkeiten des Daseins…’. [p.344]

4 'Aber woraufhin erschliesst sich das Dasein in der Entschlossenheit? Wozu soli es sich entschliessen?' (For similar constructions with 'woraufhin' etc. and 'erschliessen', see H. 141, 143, 145 above.) [p.345]

5 'Das Dasein wird als Man-selbst von der verständigen Zweideutigkeit der Offentlichkeit "gelebt", in der sich niemand entschliesst, und die doch schon immer beschlossen hat.' The etymological connection between 'entschliesst' and 'beschlossen' is lost in our translation. [p.345]

6 The German words ‘Situation’ and ‘Lage’ will be translated by ‘Situation’ and ‘situation’ respectively. [p.346]

7 'Entschlossen für das Da, als welches das Selbst existierend zu sein hat, erschliesst sich ihm erst der jeweilige faktische Bewandtnischarakter der Umstande.' [p.346]

8 ‘Nur der Ent-schlossenheit kann das aus der Mit- und Umwelt zu-fallen, was wir Zufalle nennen.’ Literally a ‘Zufall’ (‘accident’) is something that 'falls to' something, or ‘befalls’ it. (Compare the Latin ‘accidens’, which has basically the same meaning). [p.346]

9. ‘verschlossen’. Contrast ‘erschlossen’ (‘disclosed’) and ‘entschlossen’ (‘resolved’). [p.346]

10 ‘Es kennt nur die “allgemeine Lage”, verliert sich an die nachsten "Gelegenheiten" und bestreitet das Dasein aus der Verrechnung der “Zufälle”, die es, sie verkennend, für die eigene Leistung hält und ausgibt.’ We have preserved the grammatical ambiguity of the
pronouns ‘die’ and ‘es’. [p.347]

11 ‘…als die im Grunde des Daseins beschlossene Seinsart…’ The participle ‘beschlossene’, which is etymologically akin to ‘erschlossen’, etc., may mean either ‘included or ‘decided upon’, as we have seen on H. 299· Very likely both meanings are here intended. [p.347]

12 ‘Die Entschlossenheit stellt sich nicht erst, kenntnisnehmend, eine Situation vor, sondern hat sich schon in sie gestellt.’ Our rather literal translation brings out the contrast between ‘sich stellen in…’ (‘put itself in…’) and ‘sich stellen… vor…’ (‘put before itself…’), but fails to bring out the important sense of the latter expression: ‘to represent’ or ‘to form an idea of’. [p.347]

13‘“Handeln”’. Far from avoiding this term, Heidegger has used it quite frequently. But he is avoiding it as a possible substitute for the term 'Entschlossenheit'. [p.347]

14 'Mit der Herausarbeitung der Entschlossenheit als des verschwiegenen, angstbereiten Sichentwcrfens auf das eigenste Schuldigsein… ‘The earlier editions have’…dem verschwiegenen, angstbereiten Sichentwerfen auf…’ [p.348]