Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
VI. Phân loại Logic Truyền thống và Nền tảng của Logic này
[Tr.21] Khi quay trở lại những vấn đề như chân lý theo đúng nghĩa, cơ sở, khái niệm, tính quy luật và tự do, chúng ta đang tìm kiếm một logic triết học, hay nói đúng hơn, cái nền tảng siêu hình của logic (initia logicae). Chúng ta tìm cách quay trở lại những vấn đề cơ bản này, và do đó, trở lại với một lối vào bản thân triết học một cách cụ thể, bằng con đường phân tích phê phán logic truyền thống xuống đến những nền tảng ẩn giấu của nó. Tuy nhiên, lịch sử của logic, chính xác là nếu người ta không chỉ nhìn vào kết quả mà trong mỗi trường hợp, còn nhìn vào sự xuất hiện ít nhiều rõ ràng của nó từ triết học thì vấn đề không chỉ rộng lớn và phức tạp. Nó còn thể hiện một số giai đoạn quan trọng chủ yếu cần phải gọi tên: Plato, Aristotle, trường phái Khắc kỷ, thời Trung cổ, Leibniz, [tr.22] Kant, Hegel, trong thế kỷ XIX và giai đoạn chuyển tiếp sang thế kỷ XX: Lotze, Sigwart, Husserl. Trong khóa học này, không thể phát triển một bức tranh về lịch sử logic cùng với việc xử lý các vấn đề. Dựa trên vấn đề trọng tâm đang hướng tới, chúng ta phải cố gắng tìm đến một điểm tựa thích hợp cho việc hồi tưởng từ lịch sử. Nói cách khác, một điểm tựa thích hợp có nghĩa là, chúng ta phải tìm thấy ở đó một sự sắp xếp các chủ đề truyền thống của logic sao cho, đồng thời, nó cho phép tiến hành một cách nhất quán từ đó trở lại các vấn đề cơ bản đã đề cập trước đó. Một điểm tựa lịch sử như vậy thực sự có thể được tìm thấy ở Leibniz (1646-1716). Không chỉ truyền thống logic cổ đại và trung cổ hội tụ trong ông dưới một hình thức mới độc lập; ông còn trở thành động lực để đặt ra những câu hỏi mới, đưa ra những gợi ý cho các nhiệm vụ mà một phần chỉ được thực hiện trong thời gian gần đây. Từ Leibniz, chúng ta có thể tạo ra cho mình những góc nhìn quay trở lại thời cổ đại và hướng tới hiện tại, những góc nhìn quan trọng đối với các vấn đề nền tảng của logic.
Chắc chắn, trong Leibniz, chúng ta không trình bày một cách hệ thống về logic, bởi vì ngay cả những điều quan trọng mà ông để lại cũng nằm rải rác trong các bức thư, các chuyên luận nhỏ, các bài viết lẻ tẻ và các chương trình. Vì vậy, chúng ta không thể nghĩ đến việc xây dựng một bản trình bày đầy đủ về những lời dạy của ông. Chúng ta không cần một bản báo cáo lịch sử, mà muốn nắm bắt cơ hội để đi sâu vào chính các vấn đề. Nhưng trước tiên, ngay cả khi muốn tập trung vào Leibniz, thì câu hỏi vẫn còn đó: Chúng ta nên chọn những đối tượng logic truyền thống nào? Logic tự thân đề cập đến điều gì? Hãy quay lại khái niệm logic hình thức như đã mô tả. Theo đó, logic là một khoa học về λόγος logos, về những phát ngôn xác định một cái gì đó là một cái gì đó. ‘Phát ngôn’ ở đây mang tính mơ hồ. Nó có thể có nghĩa là đưa ra một phát ngôn, giao tiếp, trái ngược với việc im lặng và giữ kín điều gì đó cho riêng mình. Kiểu phát ngôn này luôn luôn cần thiết là một phát ngôn ngôn ngữ. Tuy nhiên, ‘phát ngôn’ cũng có nghĩa, và ở đây chủ yếu có nghĩa là, nói điều gì đó về một cái gì đó, ‘A là b,’ để xác định b thuộc về A. Đây là phát ngôn theo nghĩa vị ngữ. Đặc tính mệnh đề này của λόγος logos được thể hiện rõ nhất trong mô tả của Aristotle về nó. Cách xử lý rõ ràng của Aristotle đối với λόγος nằm trong một chuyên luận nhỏ và khó, có tựa đề Περί Εμένειας (de Interprete), ‘Về Diễn giải’. Ở đây Aristotle nói (Chương 4, 16b, 26ff.): Λόγος δὲ έστι φωνέ σημαντικἡ, ἡς τών μερών τι σημαντικόν έστι κεχωρισμένον ως φασις ἀλλ᾿ οὐχ ως κατάφασις λέγω δέ οἷον ἄνθρωπος σημαίνειν μέν τι, ἀλλ᾿ οὐχ ως ὄτι ἢ οὐχ έστιν. Đây là một điều đáng chú ý [p.23] άπόφασις, έάν τι προστεθῇ. Chúng tôi dịch như sau: ‘Lời nói, phát ngôn, là một hình thức phát âm bằng giọng nói có nghĩa, chứa đựng nội dung ý nghĩa theo cách mà trong mỗi trường hợp, một phần của phát ngôn này, khi được tách riêng, vẫn có nghĩa như một φασις lời nói đơn thuần chứ không phải là một κατάφασις khẳng định chắc chắn, ‘gã kia đang bị kích động’; κατά có nghĩa là ‘nhìn cái gì đó từ trên xuống dưới’. Vì vậy, ví dụ, từ ‘gã kia’ tự nó có nghĩa (chúng ta nói rằng chúng ta có thể nghĩ về một điều gì đó khi nghe từ này), nhưng chỉ bằng việc nói ra từ riêng lẻ này, người ta không thể khẳng định liệu gã kia có tồn tại hay không. Nhưng khi thêm một điều gì đó (cụ thể là việc anh ta tồn tại hay không) vào từ đứng riêng lẻ (‘gã’), thì câu này trở thành κατάφασις khẳng định chắc chắn hoặc άπόφασις, một khẳng định hoặc phủ nhận.
Mỗi mệnh đề, với tư cách là sự xác định một cái gì đó là một cái gì đó, vì vậy hoặc là một khẳng định hoặc là một phủ định. Những cách diễn đạt này phải được hiểu theo nghĩa đen. Khẳng định có nghĩa là xác nhận một cái gì đó thuộc-về, và phủ định có nghĩa là bác bỏ một cái gì đó không thuộc-về. Trong các bản dịch tác phẩm của Aristotle và trong các bài bình luận về sách logic và về Porphyry, Boethius (khoảng 480-524) dịch φασις là diction [ Dictio trong tiếng Latin, là danh động từ dicere – nói, có nghĩa là một câu nói, cách diễn đạt, từ ngữ, hoặc ngôn luận; nó thường ám chỉ nghệ thuật lựa chọn từ vựng hoặc phong cách diễn đạt (cách nói/viết) của một ai đó; xuất phát từ gốc từ dict- của dicere, có ý nghĩa liên quan đến hành động ‘nói’, ‘bảo’, hoặc ‘phát biểu’; trong ngôn ngữ từ này là gốc của các từ tiếng Anh như diction cách diễn đạt, dictionary từ điển, và dictation đọc cho ai đó viết - HHN] κατάφασις là affirmatio [Từ affirmation tiếng Anh, lời khẳng định, sự xác nhận thì trong tiếng Latin là adfirmatio hoặc affirmatio danh từ, giống cái, thuộc biến cách 3; ý nghĩa: sự khẳng định, củng cố niềm tin, lời quả quyết, sự xác nhận; từ liên quan: adfirmare/affirmare động từ: khẳng định, làm vững chắc; gốc từ: các cách diễn đạt khác liên quan đến khẳng định trong tiếng Latin là cách nói thông thường để diễn đạt ‘vâng’ hoặc ‘đúng vậy’, thể hiện sự đồng ý/khẳng định- HHN] và άπόφασις là negation [Trong ngữ pháp tiếng Latin, negation phủ định, được thể hiện chủ yếu thông qua các từ ngữ đặc biệt như non không, nemo không ai, nihil không gì, nullus không cái nào, và nunquam không bao giờ; dưới đây là các điểm chính về phủ định trong tiếng Latin: từ phủ định cơ bản non là từ phổ biến nhất để phủ định động từ; đại từ/trạng từ phủ định nemo không ai (người), nihil không gì (vật), nullus không cái nào (tính từ), nunquam không bao giờ (thời gian); tiền tố phủ định: nhiều tiền tố trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Latin như in-, un-, non-, dis-; các tiền tố này được thêm vào trước từ gốc để đảo ngược nghĩa của từ đó, ví dụ in- thường dùng cho các từ có nguồn gốc Latin; cấu trúc câu tiếng Latin có thể sử dụng các hình thức phủ định kép, trong đó hai từ phủ định được sử dụng cùng nhau, thường để nhấn mạnh sự phủ định; nhìn chung, negation trong tiếng Latin là hệ thống các công cụ ngôn ngữ để bác bỏ, cự tuyệt hoặc thể hiện sự tiêu cực trong câu-HHN]. Các phán đoán tích cực và tiêu cực sau này tương ứng với sự phân biệt này. ‘Phán đoán’ là cách diễn đạt được sử dụng thường xuyên nhất hiện nay cho λόγος. Chúng ta thấy ngay cách tiếp cận của Aristotle vẫn hướng mạnh mẽ đến hình thức ngôn ngữ của λόγος, khi ông trình bày λόγος như một συμπλοκἠ, nexus, connexio sự kết nối của nhiều từ có nghĩa riêng. Ví dụ, từ Latin pluit, nghĩa là trời đang mưa, cũng chính xác là một λόγος, và κατάφασις khẳng định - tuy nhiên chỉ được tạo thành từ một 'từ' duy nhất: Đây chắc chắn là một vấn đề riêng biệt. Vậy thì ý nghĩa mà từ ‘mưa’ được khẳng định là gì; ‘nó [trời] đang mưa’ – thì ‘nó’ có nghĩa là gì?
Dù sao đi nữa, trong cách giải thích quyết định đầu tiên, λόγος được hình dung như một sự kết nối các khái niệm, như một sự liên kết các ý nghĩa, như một sự ràng buộc các ý niệm lại với nhau. Do đó, các thành phần cơ bản của λόγος là những khái niệm, ý nghĩa, khái niệm riêng lẻ này; τὰ μὲν οὐν ὀνόματα αὐτὰ καὶ τὰ ῥήματα ἔοικε τὡ ἄνευ συνθἐσεως καὶ διαὶρἐσεως νοήματι (de Interpret. 1, 16a 13f.) [Bản thân một danh từ hoặc một động từ rất giống một khái niệm hoặc ý nghĩ, không kết hợp cũng không rời rạc. Về Diễn giải 1, 16a 13f.]. Vì vậy, để làm rõ λόγος, phương pháp được đề xuất dường như là bắt đầu từ cái tạo nên nó; yếu tố cơ bản của λόγος là khái niệm. Do đó, học thuyết về khái niệm phải đi trước học thuyết về λόγος với tư cách là phán đoán. Mặt khác, sau đó tư duy lại hoạt động để kết nối các mệnh đề riêng lẻ thành các hình thức kết nối cụ thể: A là B, [tr.24] B là C, do đó A là C. Sự liên kết các phán đoán này được gọi là suy luận. Như vậy, chúng ta đi đến ba phân chia chính của logic: học thuyết về khái niệm, về phán đoán và về suy luận. Aristotle thực sự đã xử lý cả ba thành phần cơ bản này - mà không hề có kế hoạch phát triển một bộ môn theo cách này. Điều đó chỉ xảy ra sau này trong quá trình phát triển triết học Aristotelian của trường phái Kinh viện. Từ thời kỳ đó cũng xuất hiện sự sắp xếp và đặt tên cho các tác phẩm xử lý các vấn đề về bản chất logic dưới tiêu đề Ὄργανον Organon công cụ, phương tiện. Khái niệm logic mang tính kỹ thuật bề ngoài được thể hiện ngay trong tiêu đề này. Từ đó, Ὄργανον Organon được dùng để chỉ logic học của Aristotle. Ὄργανον Organon này bao gồm năm hoặc sáu khảo sát khác nhau về các vấn đề logic; và thứ tự truyền thống xuất phát từ việc sử dụng các quan điểm sư phạm. Các phần gồm: Phạm trù, Về diễn giải, Phân tích Tiên nghiệm (về suy luận), Phân tích Hậu nghiệm (về các nguyên tắc chứng minh và tri thức; có liên quan chặt chẽ hơn đến bản thể luận so với Phân tích Tiên nghiệm), Chủ đề (suy luận xác suất), và Về Bác bỏ Ngụy biện (về các lỗi ngụy biện; thường được coi là một phần của Chủ đề).4
[Ghi chú dài Về Diễn giải Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation của Aristotles, Κεφάλαιον 1 [16a.1]: Πρῶτον δεῖ θέσθαι τί ὄνομα καὶ τί ῥῆμα, ἔπειτα τί ἐστιν ἀπόφασις καὶ κατάφασις καὶ ἀπόφανσις καὶ λόγος. Ἔστι μὲν οὖν τὰ ἐν τῇ φωνῇ τῶν ἐν τῇ ψυχῇ παθημάτων σύμβολα, καὶ τὰ γραφόμενα τῶν ἐν τῇ φωνῇ. καὶ ὥσπερ οὐδὲ γράμματα πᾶσι τὰ αὐτά, οὐδὲ φωναὶ αἱ αὐταί· ὧν μέντοι ταῦτα σημεῖα πρώτων, ταὐτὰ πᾶσι παθήματα τῆς ψυχῆς, καὶ ὧν ταῦτα ὁμοιώματα πράγματα ἤδη ταὐτά. περὶ μὲν οὖν τούτων εἴρηται ἐν τοῖς περὶ ψυχῆς, — ἄλλης γὰρ πραγματείας· — ἔστι δέ, ὥσπερ ἐν τῇ ψυχῇ ὁτὲ μὲν νόημα ἄνευ τοῦ ἀληθεύειν ἢ ψεύδεσθαι ὁτὲ δὲ ἤδη ᾧ ἀνάγκη τούτων ὑπάρχειν θάτερον, οὕτω καὶ ἐν τῇ φωνῇ· περὶ γὰρ σύνθεσιν καὶ διαίρεσίν ἐστι τὸ ψεῦδός τε καὶ τὸ ἀληθές. τὰ μὲν οὖν ὀνόματα αὐτὰ καὶ τὰ ῥήματα ἔοικε τῷ ἄνευ συνθέσεως καὶ διαιρέσεως νοήματι, οἷον τὸ ἄνθρωπος ἢ λευκόν, ὅταν μὴ προστεθῇ τι· οὔτε γὰρ ψεῦδος οὔτε ἀληθές πω. σημεῖον δ᾿ ἐστὶ τοῦδε· καὶ γὰρ ὁ τραγέλαφος σημαίνει μέν τι, οὔπω δὲ ἀληθὲς ἢ ψεῦδος, ἐὰν μὴ τὸ εἶναι ἢ μὴ εἶναι προστεθῇ ἢ ἁπλῶς ἢ κατὰ χρόνον.” Phiên bừa: Mục 1 [16a.1]: “Trước tiên, chúng ta phải định nghĩa các thuật ngữ ‘danh từ’ và ‘động từ’, sau đó là các thuật ngữ ‘phủ định’ và ‘khẳng định’, rồi ‘mệnh đề’ và ‘câu’. Các từ được nói ra là biểu tượng của kinh nghiệm tinh thần và các từ được viết ra là biểu tượng của các từ được nói ra. Cũng như không phải tất cả mọi người đều có cùng một cách viết, thì không phải tất cả mọi người đều có cùng một âm thanh lời nói, nhưng những kinh nghiệm tinh thần mà những âm thanh này trực tiếp biểu trưng thì đối với tất cả mọi người lại giống nhau, cũng như những sự vật mà kinh nghiệm của chúng ta là hình ảnh của chúng. Tuy nhiên, vấn đề này đã được thảo luận trong luận văn của tôi về linh hồn, vì nó thuộc về một khảo sát khác biệt với những gì đang có trước mắt chúng ta. Cũng như trong tâm trí có những suy nghĩ không bao hàm chân hay giả, và cũng có những suy nghĩ phải là đúng hoặc sai, thì trong lời nói cũng vậy. Bởi vì chân và giả hàm chứa sự kết hợp và tách biệt. Danh từ và động từ, miễn là không có gì được thêm vào, cũng giống như những suy nghĩ không có sự kết hợp hoặc tách biệt; ‘người’ và ‘trắng’, với tư cách là những thuật ngữ riêng lẻ, vẫn chưa phải là chân hay giả. Để chứng minh điều này, hãy xem xét từ τραγέλαφος tragélaphos, [mô tả một sinh vật tưởng tượng nửa dê τράγος tragos và nửa nai/hươu έλαφος - elaphos; vật trang trí, một loại cốc uống nước có khắc hình sinh vật này; nghĩa ẩn dụ/khác, đôi khi dùng để chỉ một thứ gì đó kỳ dị, không có thật, tương tự như khái niệm ‘hircocervus’ trong tiếng Latin mô tả một sinh vật nửa thân trên là dê (hircus) và nửa thân dưới là cervus hươu/ nai, về nguồn gốc triết học, sinh vật này thường được Aristotle và Plato thảo luận như một ví dụ về một khái niệm có thể mô tả được vì có hình ảnh trong tâm trí, mặc dù nó không thực sự tồn tại trong tự nhiên. HHN] Nó có ý nghĩa, nhưng không có đúng hay sai tuyệt đối nào về nó, trừ khi thêm từ ‘là’ hoặc ‘không phải là’, ở thì hiện tại hoặc ở một thì khác.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 2 [16a.20]: Ὄνομα μὲν οὖν ἐστὶ φωνὴ σημαντικὴ κατὰ συνθήκην ἄνευ χρόνου, ἧς μηδὲν μέρος ἐστὶ σημαντικὸν κεχωρισμένον· ἐν γὰρ τῷ Κάλλιππος τὸ ιππος οὐδὲν καθ᾿ αὑτὸ σημαίνει, ὥσπερ ἐν τῷ λόγῳ τῷ καλὸς ἵππος. οὐ μὴν οὐδ᾿ ὥσπερ ἐν τοῖς ἁπλοῖς ὀνόμασιν, οὕτως ἔχει καὶ ἐν τοῖς πεπλεγμένοις· ἐν ἐκείνοις μὲν γὰρ οὐδαμῶς τὸ μέρος σημαντικόν, ἐν δὲ τούτοις βούλεται μέν, ἀλλ᾿ οὐδενὸς κεχωρισμένον, οἷον ἐν τῷ ἐπακτροκέλης τὸ κελης. τὸ δὲ κατὰ συνθήκην, ὅτι φύσει τῶν ὀνομάτων οὐδέν ἐστιν, ἀλλ᾿ ὅταν γένηται σύμβολον· ἐπεὶ δηλοῦσί γέ τι καὶ οἱ ἀγράμματοι ψόφοι, οἷον θηρίων, ὧν οὐδέν ἐστιν ὄνομα. — τὸ δ᾿ οὐκ ἄνθρωπος οὐκ ὄνομα· οὐ μὴν οὐδὲ κεῖται ὄνομα ὅ τι δεῖ καλεῖν αὐτό, — οὔτε γὰρ λόγος οὔτε ἀπόφασίς ἐστιν· — ἀλλ᾿ ἔστω ὄνομα ἀόριστον. τὸ δὲ Φίλωνος ἢ Φίλωνι καὶ ὅσα τοιαῦτα οὐκ ὀνόματα ἀλλὰ πτώσεις ὀνόματος. λόγος δέ ἐστιν αὐτοῦ τὰ μὲν ἄλλα κατὰ τὰ αὐτά, ὅτι δὲ μετὰ τοῦ ἔστιν ἢ ἦν ἢ ἔσται οὐκ ἀληθεύει ἢ ψεύδεται, — τὸ δ᾿ ὄνομα ἀεί, — οἷον Φίλωνός ἐστιν ἢ οὐκ ἔστιν· οὐδὲν γάρ πω οὔτε ἀληθεύει οὔτε ψεύδεται.” Phiên bừa: Mục 2 [16a.20]: “Theo nghĩa của từ danh từ, chúng ta hiểu đó là một âm thanh có ý nghĩa theo quy ước, không liên quan đến thời gian, và không có phần nào của nó có ý nghĩa độc lập với phần còn lại. Trong từ danh từ καλὸς kalos hay, tốt, tuyệt vời ἵππος hippos chiến mã, phần ἵππος không có ý nghĩa riêng lẻ, như trong cụm từ καλὸς ἵππος. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa danh từ đơn và danh từ kép; vì trong danh từ đơn, phần đó không có ý nghĩa gì, còn trong danh từ kép, nó góp phần vào ý nghĩa của toàn bộ, mặc dù nó không có nghĩa độc lập. Ví dụ, trong từ ἐπακτροκέλης thuyền cướp biển, từ κέλης không có nghĩa gì ngoại trừ khi là một phần của toàn bộ từ. [ἐπακτροκέλης Epaktrokelēs là một loại tàu nhỏ, nhẹ và nhanh thường được cướp biển sử dụng trong thời cổ đại, nó kết hợp các đặc điểm của κέλης keleis tàu nhanh và ἐπακτρον epaktron tàu của cướp biển, có hình dạng hơi tròn hơn; do có tốc độ cao nên nó là một phương tiện lý tưởng cho các cuộc tấn công của cướp biển; từ nguyên ἔπακτρον tính từ dùng để chỉ tàu cướp biển và κέλης keleis tàu nhanh- HHN] Như vậy, trong từ ἐπακτροκέλης ‘thuyền cướp biển’, từ κέλης ‘thuyền’ không có nghĩa gì ngoại trừ khi nó là một phần của toàn bộ từ. Giới hạn ‘theo quy ước’ được đưa ra vì bản chất không có gì là danh từ hay tên riêng - nó chỉ là danh từ khi trở thành một biểu tượng; những âm thanh không rõ nghĩa, chẳng hạn như âm thanh mà loài vật tạo ra, có ý nghĩa, nhưng không âm thanh nào trong số đó cấu thành một danh từ. Cụm từ ‘không phải người’ không phải là một danh từ. Thực tế không có thuật ngữ nào được công nhận để chúng ta có thể dùng để chỉ một cụm từ như vậy, vì nó không phải là một câu hay một sự phủ định. Vậy thì hãy gọi nó là một danh từ bất định. Các cụm từ ‘của Philo’, ‘đến Philo’, v.v., không phải là danh từ, mà là các trường hợp của một danh từ. Định nghĩa của những trường hợp này của danh từ về các khía cạnh khác giống với định nghĩa của danh từ riêng, nhưng khi kết hợp với ‘là’, ‘đã là’ hoặc ‘sẽ là’, chúng không tạo thành một mệnh đề đúng hay sai, trong khi danh từ riêng luôn tạo thành một mệnh đề đúng ở những hoàn cảnh này. Hãy xem các từ ‘của Philo là’ hoặc ‘của’ hoặc ‘ của Philo không là’; những từ này, khi đứng riêng lẻ, không tạo thành một mệnh đề đúng hay sai.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 3 [16b.5]: Ῥῆμα δέ ἐστι τὸ προσσημαῖνον χρόνον, οὗ μέρος οὐδὲν σημαίνει χωρίς· ἔστι δὲ τῶν καθ᾿ ἑτέρου λεγομένων σημεῖον. λέγω δ᾿ ὅτι προσσημαίνει χρόνον, οἷον ὑγίεια μὲν ὄνομα, τὸ δ᾿ ὑγιαίνει ῥῆμα· προσσημαίνει γὰρ τὸ νῦν ὑπάρχειν. καὶ ἀεὶ τῶν ὑπαρχόντων σημεῖόν ἐστιν, οἷον τῶν καθ᾿ ὑποκειμένου. — τὸ δὲ οὐχ ὑγιαίνει καὶ τὸ οὐ κάμνει οὐ ῥῆμα λέγω· προσσημαίνει μὲν γὰρ χρόνον καὶ ἀεὶ κατά τινος ὑπάρχει, τῇ διαφορᾷ δὲ ὄνομα οὐ κεῖται· ἀλλ᾿ ἔστω ἀόριστον ῥῆμα, ὅτι ὁμοίως ἐφ᾿ ὁτουοῦν ὑπάρχει καὶ ὄντος καὶ μὴ ὄντος. ὁμοίως δὲ καὶ τὸ ὑγίανεν ἢ τὸ ὑγιανεῖ οὐ ῥῆμα, ἀλλὰ πτῶσις ῥήματος· διαφέρει δὲ τοῦ ῥήματος, ὅτι τὸ μὲν τὸν παρόντα προσσημαίνει χρόνον, τὰ δὲ τὸν πέριξ. — αὐτὰ μὲν οὖν καθ᾿ αὑτὰ λεγόμενα τὰ ῥήματα ὀνόματά ἐστι καὶ σημαίνει τι, — ἵστησι γὰρ ὁ λέγων τὴν διάνοιαν, καὶ ὁ ἀκούσας ἠρέμησεν, — ἀλλ᾿ εἰ ἔστιν ἢ μή οὔπω σημαίνει· οὐ γὰρ τὸ εἶναι ἢ μὴ εἶναι σημεῖόν ἐστι τοῦ πράγματος, οὐδ᾿ ἐὰν τὸ ὂν εἴπῃς ψιλόν. αὐτὸ μὲν γὰρ οὐδέν ἐστιν, προσσημαίνει δὲ σύνθεσίν τινα, ἣν ἄνευ τῶν συγκειμένων οὐκ ἔστι νοῆσαι. Phiên bừa: Mục 3 [16b.5]: “Động từ là từ, ngoài nghĩa thông thường, còn mang theo khái niệm về thời gian. Không có bộ phận nào của nó có nghĩa độc lập, và đó là dấu hiệu của một điều gì đó được nói về một điều khác. Tôi sẽ giải thích ý nghĩa của việc nói rằng nó mang theo khái niệm về thời gian. ‘Sức khỏe’ ὑγίεια hygieia là một danh từ, nhưng ὑγιαίνει hygiainei ‘khỏe lên’ là một động từ; bởi vì ngoài nghĩa thông thường, nó còn chỉ ra sự tồn tại hiện tại của trạng thái được đề cập. Hơn nữa, động từ luôn là dấu hiệu của một điều gì đó được nói về một điều khác, tức là của một điều gì đó có thể được gán cho hoặc hiện diện trong một sự vật khác. Những biểu hiện như ‘không khỏe mạnh’, ‘không ốm’, tôi không mô tả chúng là các động từ; vì mặc dù chúng mang thêm ý nghĩa về thời gian và luôn tạo thành một vị ngữ, nhưng không có tên gọi cụ thể nào cho loại này; nhưng hãy gọi chúng là động từ bất định, vì chúng áp dụng thỏa đáng như nhau cho cả cái tồn tại và cái không tồn tại. Tương tự, ὑγίανεν anh ấy ‘đã khỏe mạnh’, ὑγιανεῖ anh ấy ‘sẽ khỏe mạnh’, không phải là động từ, mà là thì của động từ; [Ghi chú ngữ pháp tiếng Hy Lạp: từ ὑγίανεν hygianen trong tiếng Hy Lạp cổ là một dạng đã chia của động từ ὑγιαίνω hygiainō, mang các ý nghĩa chính sau: ‘mạnh khỏe’, ‘khỏe’, ‘vững vàng’, ‘lành mạnh’; đây thường là thì bất định hoặc thì chưa hoàn thành, ngôi thứ ba số ít: anh ấy/cô ấy/nó đã mạnh khỏe; từ này thường được dùng để chỉ tình trạng sức khỏe thể chất tốt hoặc sự lành mạnh trong tư tưởng, lời nói, chẳng hạn ὑγιαίνω (hygiainō): Tôi khỏe mạnh; ὑγίεια (hygieia) sức khỏe; trong khi đó từ ὑγιανεῖ hygianei cũng là một dạng chia của động từ ὑγιαίνω (hygiainō), mang các ý nghĩa chính sau: ‘sẽ khỏe mạnh’, ‘sẽ lành lặn’ hoặc ‘sẽ chữa lành’; đây là ngôi thứ 3, số ít, thì tương lai của động từ ὑγιαίνω; nghĩa đen: Anh ấy/Cô ấy/Nó sẽ khỏe mạnh - HHN]. Khác biệt ở chỗ động từ chỉ thời điểm hiện tại, trong khi thì của động từ chỉ những thời điểm ngoài hiện tại. Bản thân động từ là danh từ và có ý nghĩa, vì sử dụng các biểu hiện như vậy thu hút người nghe và tập trung chú ý của họ; nhưng ở dạng từ nguyên, chúng không thể hiện bất kỳ phán xét nào, dù tích cực hay tiêu cực. Bởi vì cả εἶναι tồn tại và μὴ εἶναι không tồn tại cũng không mang ý nghĩa của bất kỳ sự kiện nào, trừ khi có thêm điều gì đó được bổ sung; vì bản thân chúng không chỉ ra điều gì, mà chỉ hàm ý một sự kết hợp, mà chúng ta không thể hình dung ra nếu tách rời khỏi những thứ được kết hợp.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 4 [16b.25] Λόγος δέ ἐστι φωνὴ σημαντική, ἧς τῶν μερῶν τι σημαντικόν ἐστι κεχωρισμένον, ὡς φάσις ἀλλ᾿ οὐχ ὡς κατάφασις. λέγω δέ, οἷον ἄνθρωπος σημαίνει τι, ἀλλ᾿ οὐχ ὅτι ἔστιν ἢ οὐκ ἔστιν (ἀλλ᾿ ἔσται κατάφασις ἢ ἀπόφασις ἐάν τι προστεθῇ)· ἀλλ᾿ οὐχ ἡ τοῦ ἀνθρώπου συλλαβὴ μία· οὐδὲ γὰρ ἐν τῷ μῦς τὸ υς σημαντικόν, ἀλλὰ φωνή ἐστι νῦν μόνον. ἐν δὲ τοῖς διπλοῖς σημαίνει μέν, ἀλλ᾿ οὐ καθ᾿ αὑτό, ὥσπερ εἴρηται. ἔστι δὲ λόγος ἅπας μὲν σημαντικός, οὐχ ὡς ὄργανον δέ, ἀλλ᾿ ὥσπερ εἴρηται κατὰ συνθήκην· ἀποφαντικὸς δὲ οὐ πᾶς, ἀλλ᾿ ἐν ᾧ τὸ ἀληθεύειν ἢ ψεύδεσθαι ὑπάρχει· οὐκ ἐν ἅπασι δὲ ὑπάρχει, οἷον ἡ εὐχὴ λόγος μέν, ἀλλ᾿ οὔτ᾿ ἀληθὴς οὔτε ψευδής. οἱ μὲν οὖν ἄλλοι ἀφείσθωσαν, — ῥητορικῆς γὰρ ἢ ποιητικῆς οἰκειοτέρα ἡ σκέψις, — ὁ δὲ ἀποφαντικὸς τῆς νῦν θεωρίας. Phiên bừa: Mục 4 [16b.25]: “Câu là một phần quan trọng của lời nói, trong đó một số bộ phận có nghĩa độc lập, tức là, như một phát ngôn, mặc dù không phải là sự thể hiện của bất kỳ phán đoán tích cực nào. Hãy để tôi giải thích. Từ ἄνθρωπος ánthrōpos ‘con người’ có nghĩa, nhưng không cấu thành một mệnh đề, dù là tích cực hay tiêu cực. Chỉ khi thêm các từ khác vào thì toàn bộ câu mới tạo thành một khẳng định hoặc phủ định. Nhưng nếu ta tách một âm tiết của từ ἄνθρωπος ‘con người’ ra khỏi âm tiết khác, nó sẽ không có nghĩa; tương tự như vậy trong từ μῦς mys ‘con chuột’, phần ‘ῦς’ tự nó không có nghĩa, mà chỉ là một φωνή phōnḗ âm thanh. Trong các từ ghép, các bộ phận góp phần tạo nên nghĩa của toàn bộ câu; tuy nhiên, chúng không có nghĩa độc lập. Mỗi câu đều có nghĩa, không phải là phương tiện tự nhiên để thực hiện một khả năng vật lý, mà là theo quy ước. Tuy nhiên, không phải mọi câu đều là một mệnh đề; chỉ những câu có chứa đựng sự thật hoặc sai lầm mới là mệnh đề. Do đó, một lời cầu nguyện là một câu, nhưng nó không đúng cũng không sai. Do đó, chúng ta hãy loại bỏ tất cả các loại câu khác ngoại trừ mệnh đề, vì mệnh đề này liên quan đến việc khảo sát hiện tại của chúng ta, trong khi việc khảo sát các loại câu khác thuộc về lĩnh vực nghiên cứu phép tu từ hoặc thi ca.” Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 5 [17a.8]: Ἔστι δὲ εἷς πρῶτος λόγος ἀποφαντικὸς κατάφασις, εἶτα ἀπόφασις· οἱ δὲ ἄλλοι συνδέσμῳ εἷς. ἀνάγκη δὲ πάντα λόγον ἀποφαντικὸν ἐκ ῥήματος εἶναι ἢ πτώσεως· καὶ γὰρ ὁ τοῦ ἀνθρώπου λόγος, ἐὰν μὴ τὸ ἔστιν ἢ ἔσται ἢ ἦν ἤ τι τοιοῦτο προστεθῇ, οὔπω λόγος ἀποφαντικός (διότι δὲ ἕν τί ἐστιν ἀλλ᾿ οὐ πολλὰ τὸ ζῷον πεζὸν δίπουν, — οὐ γὰρ δὴ τῷ σύνεγγυς εἰρῆσθαι εἷς ἔσται, — ἔστι δὲ ἄλλης τοῦτο πραγματείας εἰπεῖν). ἔστι δὲ εἷς λόγος ἀποφαντικὸς ἢ ὁ ἓν δηλῶν ἢ ὁ συνδέσμῳ εἷς, πολλοὶ δὲ οἱ πολλὰ καὶ μὴ ἓν ἢ οἱ ἀσύνδετοι. τὸ μὲν οὖν ὄνομα καὶ τὸ ῥῆμα φάσις ἔστω μόνον, ἐπεὶ οὐκ ἔστιν εἰπεῖν οὕτω δηλοῦντά τι τῇ φωνῇ ὥστ᾿ ἀποφαίνεσθαι, ἢ ἐρωτῶντός τινος, ἢ μὴ ἀλλ᾿ αὐτὸν προαιρούμενον. τούτων δ᾿ ἡ μὲν ἁπλῆ ἐστὶν ἀπόφανσις, οἷον τὶ κατὰ τινὸς ἢ τὶ ἀπὸ τινός, ἡ δ᾿ ἐκ τούτων συγκειμένη, οἷον λόγος τις ἤδη σύνθετος.” Phiên bừa: Mục 5 [17a.8]: “Loại mệnh đề đơn giản đầu tiên là khẳng định đơn giản, tiếp theo là phủ định đơn giản; tất cả các loại khác chỉ là một mệnh đề duy nhất bằng cách kết hợp các phần. Mỗi mệnh đề phải chứa một động từ hoặc thì của động từ. Cụm từ xác định loài ‘người’, nếu không thêm động từ ở thì hiện tại, quá khứ hoặc tương lai, thì không phải là một mệnh đề. Có thể hỏi làm thế nào mà cụm từ ‘một loài động vật có hai chân’ lại được gọi là đơn nhất; vì không phải việc các từ nối tiếp nhau không bị gián đoạn mới tạo nên tính thống nhất. Tuy nhiên, câu hỏi này nằm trong một nghiên cứu khác với khảo sát trước mắt chúng ta. Chúng ta gọi những mệnh đề là đơn nhất khi chúng chỉ ra một sự kiện duy nhất, hoặc sự kết hợp các phần của chúng tạo thành một thể thống nhất: mặt khác, những mệnh đề là riêng biệt và có số lượng nhiều, khi chúng biểu thị nhiều sự kiện, hoặc các phần của chúng không có sự kết hợp nào. Hơn nữa, chúng ta hãy thống nhất gọi một danh từ hoặc một động từ chỉ là một cách biểu hiện, chứ không phải là một mệnh đề, vì con người không thể nói theo cách này khi đang diễn đạt điều gì đó, theo cách tạo thành một tuyên bố, cho dù lời nói của họ là câu trả lời cho một câu hỏi hay một hành động do chính họ khởi xướng. Tóm lại: trong các mệnh đề, một loại là mệnh đề đơn giản, tức là mệnh đề khẳng định hoặc phủ định điều gì đó về một điều gì đó, loại kia là mệnh đề phức hợp, tức là mệnh đề được cấu thành từ các mệnh đề đơn giản. Một mệnh đề đơn giản là một tuyên bố có nghĩa, về sự hiện diện của một điều gì đó trong một chủ ngữ hoặc sự vắng mặt của nó, trong hiện tại, quá khứ hoặc tương lai theo các phân chia thời gian. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 6 [17a.23]: Ἔστι δ᾿ ἡ μὲν ἁπλῆ ἀπόφανσις φωνὴ σημαντικὴ περὶ τοῦ εἰ ὑπάρχει τι ἢ μὴ ὑπάρχει, ὡς οἱ χρόνοι διῄρηνται· κατάφασις δέ ἐστιν ἀπόφανσις τινὸς κατὰ τινός, ἀπόφασις δέ ἐστιν ἀπόφανσις τινὸς ἀπὸ τινός. ἐπεὶ δὲ ἔστι καὶ τὸ ὑπάρχον ἀποφαίνεσθαι ὡς μὴ ὑπάρχον καὶ τὸ μὴ ὑπάρχον ὡς ὑπάρχον καὶ τὸ ὑπάρχον ὡς ὑπάρχον καὶ τὸ μὴ ὑπάρχον ὡς μὴ ὑπάρχον, καὶ περὶ τοὺς ἐκτὸς δὲ τοῦ νῦν χρόνους ὡσαύτως, ἅπαν ἂν ἐνδέχοιτο καὶ ὃ κατέφησέ τις ἀποφῆσαι καὶ ὃ ἀπέφησε καταφῆσαι· ὥστε δῆλον ὅτι πάσῃ καταφάσει ἐστὶν ἀπόφασις ἀντικειμένη καὶ πάσῃ ἀποφάσει κατάφασις. καὶ ἔστω ἀντίφασις τοῦτο, κατάφασις καὶ ἀπόφασις αἱ ἀντικείμεναι· λέγω δὲ ἀντικεῖσθαι τὴν τοῦ αὐτοῦ κατὰ τοῦ αὐτοῦ, — μὴ ὁμωνύμως δέ, καὶ ὅσα ἄλλα τῶν τοιούτων προσδιοριζόμεθα πρὸς τὰς σοφιστικὰς ἐνοχλήσεις. Phiên bừa: Mục 6 [17a.23]: “Khẳng định là một tuyên bố tích cực về điều gì đó liên quan đến điều gì đó, còn phủ định là một tuyên bố tiêu cực. Giờ đây, có thể khẳng định và phủ định sự hiện diện của một thứ đang hiện hữu hoặc không hiện hữu, và vì những khẳng định và phủ định này cũng có thể được thực hiện đối với những thời điểm nằm ngoài hiện tại, nên có thể gặp mâu thuẫn với bất kỳ khẳng định hay phủ định nào. Như vậy, rõ ràng mọi khẳng định đều có một phủ định trái ngược, và tương tự, mọi phủ định đều có một khẳng định trái ngược. Vậy thì một cặp mệnh đề như vậy là mâu thuẫn. Những mệnh đề tích cực và tiêu cực được gọi là mâu thuẫn khi chúng có cùng chủ ngữ và vị ngữ. Tính đồng nhất của chủ ngữ và vị ngữ không được ‘mơ hồ’. Thực tế, ngoài ra còn có những điều kiện xác định khác có thể đưa ra để đối phó với những xảo lý của các nhà ngụy biện. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 7 [17a.38]: Ἐπεὶ δέ ἐστι τὰ μὲν καθόλου τῶν πραγμάτων τὰ δὲ καθ᾿ ἕκαστον, — λέγω δὲ καθόλου μὲν ὃ ἐπὶ πλειόνων πέφυκε κατηγορεῖσθαι, καθ᾿ ἕκαστον δὲ ὃ μή, οἷον ἄνθρωπος μὲν τῶν καθόλου Καλλίας δὲ τῶν καθ᾿ ἕκαστον, — ἀνάγκη δ᾿ ἀποφαίνεσθαι ὡς ὑπάρχει τι ἢ μή, ὁτὲ μὲν τῶν καθόλου τινί, ὁτὲ δὲ τῶν καθ᾿ ἕκαστον. ἐὰν μὲν οὖν καθόλου ἀποφαίνηται ἐπὶ τοῦ καθόλου ὅτι ὑπάρχει ἢ μή, ἔσονται ἐναντίαι ἀποφάνσεις, — λέγω δὲ ἐπὶ τοῦ καθόλου ἀποφαίνεσθαι καθόλου, οἷον πᾶς ἄνθρωπος λευκός, οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός· — ὅταν δὲ ἐπὶ τῶν καθόλου μέν, μὴ καθόλου δέ, οὐκ εἰσὶν ἐναντίαι, τὰ μέντοι δηλούμενα ἔστιν εἶναι ἐναντία, — λέγω δὲ τὸ μὴ καθόλου ἀποφαίνεσθαι ἐπὶ τῶν καθόλου, οἷον ἔστι λευκὸς ἄνθρωπος, οὐκ ἔστι λευκὸς ἄνθρωπος· καθόλου γὰρ ὄντος τοῦ ἄνθρωπος οὐχ ὡς καθόλου χρῆται τῇ ἀποφάνσει· τὸ γὰρ πᾶς οὐ τὸ καθόλου σημαίνει ἀλλ᾿ ὅτι καθόλου. — ἐπὶ δὲ τοῦ κατηγορουμένου τὸ καθόλου κατηγορεῖν καθόλου οὐκ ἔστιν ἀληθές· οὐδεμία γὰρ κατάφασις ἔσται, ἐν ᾗ τοῦ κατηγορουμένου καθόλου τὸ καθόλου κατηγορηθήσεται, οἷον ἔστι πᾶς ἄνθρωπος πᾶν ζῷον. Phiên bừa: Mục 7 [17a.38]: Một số thứ mang tính phổ quát, một số khác mang tính cá nhân. Thuật ngữ ‘phổ quát’ ở đây có nghĩa là những thứ có bản chất có thể được gán cho nhiều đối tượng, còn ‘cá nhân’ có nghĩa là những thứ không được gán như vậy. Ví dụ, ‘con người’ là một khái niệm phổ quát, ‘Callias’ là một khái niệm cá nhân. Các mệnh đề của chúng ta đôi khi liên quan đến một đối tượng phổ quát, đôi khi liên quan đến một đối tượng cá nhân. Nếu một người đưa ra một mệnh đề khẳng định và một mệnh đề phủ định có tính chất phổ quát đối với một khái niệm phổ quát, thì hai mệnh đề này là ‘trái ngược nhau’. Cụm từ ‘một mệnh đề có tính chất phổ quát đối với một khái niệm phổ quát’ ám chỉ những mệnh đề như ‘mọi người đều da trắng’, ‘không ai da trắng’. Mặt khác, khi các mệnh đề khẳng định và phủ định, mặc dù có liên quan đến một khái niệm phổ quát, nhưng lại không có tính chất phổ quát, thì chúng sẽ không trái ngược nhau, mặc dù ý nghĩa được dự định đôi khi là trái ngược nhau. Ví dụ về các mệnh đề được đưa ra liên quan đến một khái niệm phổ quát, nhưng không có tính chất phổ quát, ta có thể lấy các mệnh đề ‘con người da trắng’, ‘con người không da trắng’. ‘Con người’ là một khái niệm phổ quát, nhưng mệnh đề kia không được đưa ra với tính chất phổ quát; vì từ ‘mọi’ không làm cho chủ ngữ trở thành một khái niệm phổ quát, mà chỉ làm cho mệnh đề mang tính chất phổ quát. Tuy nhiên, nếu cả vị ngữ và chủ ngữ đều được phân chia, thì mệnh đề được cấu thành như vậy là trái với chân lý; trong những trường hợp như vậy, không một khẳng định nào là đúng. Mệnh đề ‘mọi người đều là mọi loài động vật’ là một ví dụ về loại này. Một khẳng định trái ngược với một phủ định theo nghĩa mà tôi dùng thuật ngữ ‘mâu thuẫn’, khi, trong khi chủ ngữ vẫn giữ nguyên, thì khẳng định mang tính chất phổ quát còn phủ định thì không. Khẳng định ‘mọi người đều da trắng’ là mâu thuẫn với phủ định ‘không phải mọi người đều da trắng’, hoặc mệnh đề ‘không ai da trắng’ mâu thuẫn với mệnh đề ‘một số là người da trắng’. Nhưng các mệnh đề được coi là đối lập khi cả khẳng định và phủ định đều mang tính phổ quát, như trong các câu ‘mọi người đều da trắng’, ‘không ai da trắng’, ‘mọi người đều công bằng’, ‘không ai công bằng’. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
Κεφάλαιον 7 [17b.16]: Ἀντικεῖσθαι μὲν οὖν κατάφασιν ἀποφάσει λέγω ἀντιφατικῶς τὴν τὸ καθόλου σημαίνουσαν τῷ αὐτῷ ὅτι οὐ καθόλου, οἷον πᾶς ἄνθρωπος λευκός — οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός — ἔστι τις ἄνθρωπος λευκός· ἐναντίως δὲ τὴν τοῦ καθόλου κατάφασιν καὶ τὴν τοῦ καθόλου ἀπόφασιν, οἷον πᾶς ἄνθρωπος δίκαιος — οὐδεὶς ἄνθρωπος δίκαιος· διὸ ταύτας μὲν οὐχ οἷόν τε ἅμα ἀληθεῖς εἶναι, τὰς δὲ ἀντικειμένας αὐταῖς ἐνδέχεται ἐπὶ τοῦ αὐτοῦ, οἷον οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, καὶ ἔστι τις ἄνθρωπος λευκός. ὅσαι μὲν οὖν ἀντιφάσεις τῶν καθόλου εἰσὶ καθόλου, ἀνάγκη τὴν ἑτέραν ἀληθῆ εἶναι ἢ ψευδῆ, καὶ ὅσαι ἐπὶ τῶν καθ᾿ ἕκαστα, οἷον ἔστι Σωκράτης λευκός — οὐκ ἔστι Σωκράτης λευκός· ὅσαι δ᾿ ἐπὶ τῶν καθόλου μὴ καθόλου, οὐκ ἀεὶ ἡ μὲν ἀληθὴς ἡ δὲ ψευδής· — ἅμα γὰρ ἀληθές ἐστιν εἰπεῖν ὅτι ἔστιν ἄνθρωπος λευκὸς καὶ ὅτι οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός, καὶ ἔστιν ἄνθρωπος καλὸς καὶ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος καλός· εἰ γὰρ αἰσχρός, καὶ οὐ καλός· καὶ εἰ γίγνεταί τι, καὶ οὐκ ἔστιν. — δόξειε δ᾿ ἂν ἐξαίφνης ἄτοπον εἶναι διὰ τὸ φαίνεσθαι σημαίνειν τὸ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός ἅμα καὶ ὅτι οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός· τὸ δὲ οὔτε ταὐτὸν σημαίνει οὔθ᾿ ἅμα ἐξ ἀνάγκης. — φανερὸν δ᾿ ὅτι καὶ μία ἀπόφασις μιᾶς καταφάσεως· τὸ γὰρ αὐτὸ δεῖ ἀποφῆσαι τὴν ἀπόφασιν ὅπερ κατέφησεν ἡ κατάφασις, καὶ ἀπὸ τοῦ αὐτοῦ, ἢ τῶν καθ᾿ ἕκαστά τινος ἢ ἀπὸ τῶν καθόλου τινός, ἢ ὡς καθόλου ἢ ὡς μὴ καθόλου· λέγω δὲ οἷον ἔστι Σωκράτης λευκός — οὐκ ἔστι Σωκράτης λευκός (ἐὰν δὲ ἄλλο τι ἢ ἀπ᾿ ἄλλου τὸ αὐτό, οὐχ ἡ ἀντικειμένη ἀλλ᾿ ἔσται ἐκείνης ἑτέρα), τῇ δὲ πᾶς ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐ πᾶς ἄνθρωπος λευκός, τῇ δὲ τὶς ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐδεὶς ἄνθρωπος λευκός, τῇ δὲ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός ἡ οὐκ ἔστιν ἄνθρωπος λευκός. Phiên bừa: Mục 7 [17b.16]: Ta thấy rằng trong một cặp mệnh đề như vậy, cả hai mệnh đề đều không thể cùng đúng, nhưng các mệnh đề trái ngược trong một cặp mệnh đề đối lập đôi khi đều có thể cùng đúng khi xét đến cùng một đối tượng; ví dụ, ‘không phải mọi người đều da trắng’ và ‘một số là người da trắng’ đều đúng. Đối với những mệnh đề khẳng định và phủ định tương ứng như vậy, khi xét đến các khái niệm phổ quát và có đặc trưng phổ quát, thì một mệnh đề phải đúng và mệnh đề kia phải sai. Điều này cũng đúng khi đối tượng được xét đến là các cá nhân, như trong các mệnh đề ‘Socrates da trắng’, ‘Socrates không phải da trắng’. Mặt khác, khi đối tượng được xét đến là các khái niệm phổ quát, nhưng các mệnh đề không mang tính phổ quát, thì không phải lúc nào một mệnh đề là đúng còn mệnh đề kia thì sai, bởi vì người ta có thể khẳng định đúng rằng con người da trắng và con người không da trắng, và con người đẹp và con người không đẹp; vì nếu một người bị dị dạng thì người đó trái ngược với cái đẹp, cũng như nếu người đó đang tiến gần đến cái đẹp thì người đó vẫn chưa đẹp. Thoạt nhìn, phát biểu này có vẻ mâu thuẫn, bởi vì mệnh đề ‘con người không phải là da trắng’ dường như tương đương với mệnh đề ‘không ai là người da trắng’. Tuy nhiên, điều này không đúng, và chúng cũng không nhất thiết phải cùng đúng hoặc cùng sai. Rõ ràng là sự phủ định tương ứng với một khẳng định duy nhất cũng là duy nhất; vì sự phủ định phải phủ định chính xác điều mà khẳng định khẳng định về cùng một chủ thể, và phải tương ứng với khẳng định cả về tính chất phổ quát hay cụ thể của chủ thể và về nghĩa phân tán hay không phân tán mà nó được hiểu. Ví dụ, khẳng định ‘Socrates là người da trắng’ có sự phủ định thích hợp của nó trong mệnh đề ‘Socrates không phải là người da trắng’. Nếu bất cứ điều gì khác được gán cho chủ thể một cách phủ định hoặc nếu bất cứ điều gì khác là chủ thể mặc dù vị ngữ vẫn giữ nguyên, thì sự phủ định sẽ không phải là sự phủ định thích hợp của khẳng định đó, mà là khác biệt. Sự phủ định thích hợp của khẳng định ‘mọi người đều là người da trắng’ là ‘không phải mọi người đều là người da trắng’; mệnh đề đúng với khẳng định ‘một số là người da trắng’ là ‘không ai là người da trắng’, trong khi mệnh đề đúng với khẳng định ‘người đàn ông là người da trắng’ là ‘người đàn ông không phải là người da trắng’. Theo Περὶ Ἑρμηνείας Peri Hermeneias On Interpretation, Aristotle Translated by E. M. Edghill - HHN]
[Tr.24 tiếp] Aristotle tin rằng λόγος theo nghĩa định nghĩa mệnh đề, λόγος theo nghĩa phán đoán, rõ ràng thể hiện hiện tượng cơ bản của logic. Bởi vì, trước hết, λόγος là một thể thống nhất nguyên thủy. Mặc dù nó có thể được phân giải thành các khái niệm riêng lẻ, nhưng những yếu tố tách rời này vẫn không cấu thành nên toàn thể. Chúng thiếu chính xác sự thống nhất thiết yếu của chúng. Logos không phải là tổng hay tập hợp của hai khái niệm. Nhưng điều tạo nên sự thống nhất cuối cùng chính là điều thiết yếu trong νοεῖν tư duy, và trong διάνοεῖν ý hướng. Thứ hai, chỉ có sự thống nhất này mới thực sự đúng hoặc sai. Do đó, nó mang đặc điểm đặc trưng cho tri thức theo đúng nghĩa. Thời gian gần đây chính cân nhắc này cũng đã dẫn đến việc tìm kiếm cốt lõi của logic trong phán đoán và trong học thuyết về phán đoán. Không thể phủ nhận rằng có điều gì đó đúng đắn trong việc ưu tiên lý thuyết phán đoán (phát biểu) này - mặc dù những lý lẽ đưa ra vẫn còn khá hời hợt. Vì vậy, chúng tôi cũng muốn tập trung định hướng ban đầu của mình về các vấn đề cơ bản của logic từ Leibniz vào học thuyết phán đoán của ông và từ đó cố gắng vạch ra những đường nét chính của chúng vào chiều kích triết học của các vấn đề đã đề cập: tính quy luật của các nguyên tắc cơ bản, chân lý, khái niệm, nền tảng, tự do. Từ đó, chúng ta đi đến chủ đề chính của mình.
____________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Heidegger Martin (1992). The Metaphysical Foundations of Logic. Translated by Michael Heim, Indiana University Press. Bloomington and Indianapolis, First Midland Book Edition 1992.
Notes
4. Still the best separate edition, with a (!ommentaIy by Theodor Waitz, Aristotelis Organon Graece, 2 volumes, (Leipzig, 1844 and 1846) [reprinted in Aalen in 19651.
