Powered By Blogger

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXII)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT
53. Phóng chiếu hữu thể: Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực
[P.309] Khả năng này được bộc lộ bởi vì nó trở nên khả thể thông qua Vorlaufen tiên liệu. Việc duy trì bản thân trong chân lý này—tức là xác tín về điều đã được bộc lộ—đòi hỏi con người càng phải tiên liệu nhiều hơn nữa. Chúng ta không thể tính toán sự xác thực của cái chết bằng cách xác định số lượng các trường hợp tử vong mà ta bắt gặp. Sự xác thực này hoàn toàn không thuộc loại xác thực tự duy trì trong chân lý của cái ‘hiện-diện-vô-tri’. Khi một sự vật ‘hiện-diện-vô-tri’ được phơi bày, ta bắt gặp nó một cách thuần khiết nhất nếu chỉ nhìn vào thực thể đó và để nó tự bộc lộ chính nó. Dasein trước hết phải đánh mất chính mình trong các sự kiện thực tế [Sachverhalte] (đây có thể là một trong những nhiệm vụ và khả năng của chính cấu trúc chăm lo [Sorge/ Care] nếu muốn đạt được tính khách quan thuần khiết—tức là sự vô tư/bàng quan—của bằng chứng hiển nhiên tất yếu (apodictic evidence). [Chen ngang: Sorge/ Care chăm lo - Trong triết học của Martin Heidegger, chăm lo không phải là một hoạt động thể chất đơn thuần hay một thái độ tâm lý, mà là cấu trúc bản thể luận nền tảng của Dasein hiện hữu người. 1). Chăm lo không đơn thuần là một hoạt động, vì: i) Hoạt động là điều bạn thực hiện (như sửa chữa công cụ hay giúp đỡ bạn bè; ii) Nó là nền tảng của hành động - đối với Heidegger, chăm lo chính là yếu tố tiên quyết cho phép mọi hoạt động hay tương tác với thế giới diễn ra. Tôi chỉ có thể tương tác với sự vật hay con người vì chính phương thức Hữu thể của tôi đã được định hình bởi cấu trúc chăm lo này; iii) Chăm lo không đơn thuần là một thái độ vì nó không phải là trạng thái tinh thần - thái độ là cảm xúc, tâm trạng hoặc lập trường tâm lý chủ quan mà bạn có thể chọn có hoặc bỏ đi; chăm lo là điều kiện của hiện hữu - Sorge/chăm lo có trước tâm lý học. Nó mô tả cách con người ‘bị ném’ vào thế giới, phóng chiếu bản thân về phía tương lai, và thấy mình gắn kết với các sự vật cũng như những người khác; iii) Thực tại bản thể luận: Hữu-thể-trong-thế-giới: chăm lo nghĩa là các sự vật có ý nghĩa đối với chúng ta. Dù là khi ta xử lý các công cụ/vật dụng hay khi tương tác với người khác, toàn bộ sự hiện hữu của ta đều được định hình qua cấu trúc toàn vẹn này: luôn hướng về phía trước, vượt trước chính mình, đã ở sẵn trong thế giới, và bị cuốn hút bởi các thực thể bên trong thế giới đó. 3) Ba thành phần tạo nên tính toàn vẹn về mặt cấu trúc của Sorge của chăm lo được Diễn giải như sau: i) Hữu-thể-hướng-về-phía-trước-chính-mình: Heidegger gọi đây là Existenzialität trạng thái hiện hữu của Dasein. Nó đề cập đến định hướng của Dasein đối với tương lai. Con người không phải là những vật thể tĩnh tại; chúng ta liên tục phóng chiếu bản thân vào những khả tính trong tương lai, đưa ra các lựa chọn và thấu hiểu bản thân dựa trên đích đến mà mình đang hướng tới; ii) Định nghĩa cấu trúc: Sich-vorweg ‘Hướng về phía trước chính mình’; iii) Tình trạng bị ném vào thế giới. Khái niệm: Heidegger gọi đây là Faktizität thực tính. Nó đề cập đến quá khứ. Chúng ta không chọn sự tồn tại của mình, cũng không chọn thời đại lịch sử, nền văn hóa, gia đình hay cơ thể mà mình sinh ra trong đó. Chúng ta thấy mình đã ‘bị ném’ vào một thế giới có sẵn, với những giới hạn và bối cảnh mà ta buộc phải đối mặt; iv) Định nghĩa cấu trúc: Schon-sein-in-einer-Welt ‘Đã-hiện-diện-trong-một-thế-giới’. 4) Verfallensein Sự sa ngã: Nó đề cập đến hiện tại. Đó là khuynh hướng con người đánh mất chính mình trong thế giới thường nhật, tức thời. Thay vì sống một cách đích thực, chúng ta thường bị cuốn vào những xao nhãng thường ngày, chuyện phiếm và những kỳ vọng của xã hội - điều mà Heidegger gọi là Das Man hay cái ‘họ’.- HHN] Nếu Hữu-thể-chắc-chắn về cái chết không mang đặc tính này, thì điều đó không có nghĩa là nó ở cấp độ thấp hơn, mà là nó hoàn toàn không thuộc về trật tự phân cấp của các loại bằng chứng mà ta có thể có đối với cái ‘hiện-diện-vô-tri’.

Việc công nhận cái chết là chân (cái chết là của riêng mỗi người) cho thấy một loại xác thực khác, và mang tính bản nguyên hơn bất kỳ sự xác thực nào liên quan đến các thực thể được bắt gặp trong thế giới, hay các khách thể hình thức; bởi vì nó xác tín về Hữu-thể-trong-thế-giới. Như vậy, việc công nhận cái chết là chân không chỉ đòi hỏi một kiểu hành xử nhất định ở Dasein, mà đòi hỏi chính Dasein [tr.310] trong hiện hữu đích thực trọn vẹn của nó.xviii Thông qua tiên liệu, Dasein mới có thể xác tín về cái Hữu thể cốt yếu nhất của chính mình trong tính toàn vẹn—một tổng thể tính không thể bị vượt qua hay bỏ lại phía sau. Do đó, tính chất hiển nhiên thuộc về trạng thái cho sẵn trực tiếp của các Trải nghiệm, của cái ‘Tôi’, hay của ý thức, tất yếu phải xếp sau tính chắc chắn bao hàm trong tiên liệu. Tuy nhiên, điều này không phải do phương thức nắm bắt chúng thiếu đi tính chặt chẽ, mà bởi vì về nguyên tắc, phương thức nắm bắt ấy không thể xác nhận là chân (được khai mở) mà về cốt lõi vốn vẫn kiên định đòi hỏi phải ‘có ở đó’ với tư cách là chân: đó chính là bản thân Dasein—mà chính là tôi—và là thứ hiện hữu với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, tôi chỉ có thể hiện hữu một cách đích thực thông qua tiên liệu.

Khả năng riêng biệt nhất—vốn không mang tính tương quan, không thể bị vượt qua và mang tính chắc chắn—lại bất định về mặt tính chắc chắn của chính nó. Phép tiên liệu khai mở đặc điểm này của khả tính đặc thù của Dasein như thế nào? Sự thấu hiểu mang tính tiên liệu phóng chiếu chính nó lên một tiềm-năng-cho-Hữu-thể vừa chắc chắn vừa thường trực, theo cách mà yếu tố ‘khi nào’—thời điểm mà bất khả tính tuyệt đối của hiện hữu trở thành khả thể—vẫn luôn bất định? Khi tiên liệu trạng thái chắc chắn bất định của cái chết, Dasein mở lòng mình ra trước một mối đe dọa thường trực nảy sinh từ chính cái ‘có-đó’ của nó. Ngay trong mối đe dọa này, trạng thái Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục phải duy trì chính nó. Nó không những không thể làm giảm nhẹ mối đe dọa này, mà trái lại, còn phải nuôi dưỡng trạng thái bất định của tính chắc chắn đó. Làm thế nào để mối đe dọa thường trực này có thể được bộc lộ một cách đích thực về phương diện hữu thể? Mọi sự thấu hiểu đều đi kèm với một tâm thế. Tâm trạng của Dasein đưa nó đối diện với trạng thái bị-ném-vào của ‘trạng thái nó vẫn có đó’. Tuy nhiên, cái tâm thế kia có thể giữ cho mối đe dọa tuyệt đối và thường trực—vốn nảy sinh từ chính cái Hữu thể cá nhân hóa cao độ của Dasein—chính là nỗi lo âu.xx1 Trong tâm thế này, Dasein thấy mình đối diện với ‘cái hư vô’ của cái bất khả tính khả thể của hiện hữu bản thân nó. Nỗi lo âu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của cái thực thể mang định mệnh như thế, và qua đó, nó khai mở cái khả tính tột cùng này. Phép tiên liệu cá nhân hóa Dasein một cách triệt để, và cho phép nó—ngay trong cái cá nhân hóa bản thân ấy—trở nên chắc chắn về tổng thể tính tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình.

Vì lý do này, nỗi lo âu—với tư cách là một tâm thế cơ bản—thuộc về sự tự thấu hiểu như vậy của Dasein, dựa trên chính bản thân Dasein.2 Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, về bản chất, chính là nỗi lo âu. Điều này được minh chứng một cách không thể chối cãi—dù chỉ là gián tiếp—thông qua Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như chúng ta đã mô tả: [p.311] khi nó biến đổi nỗi lo âu thành nỗi sợ hèn nhát, và trong quá trình vượt qua nỗi sợ ấy, nó lại chỉ bộc lộ chính tâm trạng hèn nhát của mình khi đối diện với nỗi lo âu. Giờ đây, ta có thể tóm tắt lại những đặc điểm của Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực theo cách mà ta đã phác họa trên bình diện hữu thể: phép tiên liệu phơi bày cho Dasein thấy tình trạng đánh mất chính mình trong cái they-self ‘tự ngã họ’, đồng thời đặt Dasein đối diện với cái khả tính tự-là-chính-mình—một trạng thái không dựa vào sự quan tâm lo lắng của người khác, mà thay vào đó là tình trạng tự-là-chính-mình trong một sự tự do đầy nhiệt huyết hướng về cái chết; đó là loại tự do đã thoát khỏi những ảo tưởng của cái ‘họ’, một sự tự do mang tính hiện thực, tự xác tín và đầy lo âu.

Tất cả các mối liên hệ thuộc về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết — xét đến toàn bộ nội dung của khả tính tột cùng của Dasein như chúng ta đã mô tả — đều cấu thành nên một tiên liệu; chúng cùng nhau bộc lộ, khai mở và nắm giữ khả tính này như chính cái làm cho khả tính ấy trở nên khả thể. Existential projection Phép phóng chiếu hữu thể — trong đó tiên liệu đã được xác định giới hạn — đã làm hiển lộ cái khả tính bản thể luận về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết mang tính thực hữu, cá nhân, cụ thể vốn đích thực. Tuy nhiên, cùng với nó, cái khả tính để Dasein đạt tới một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực cũng xuất hiện, nhưng chỉ như một khả tính bản thể luận mà thôi. Trong quá trình phóng chiếu hữu thể của tiên liệu, tất nhiên chúng ta vẫn bám sát các cấu trúc của Dasein đã được xác lập trước đó; và chúng ta để cho chính Dasein tự phóng chiếu bản thân mình vào cái khả tính này, thay vì áp đặt một lý tưởng hiện hữu với bất kỳ ‘nội dung’ cụ thể nào đó hay cưỡng ép Dasein phải theo một lý tưởng như vậy ‘từ bên ngoài’. Tuy nhiên, thứ Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ‘khả thể’ về phương diện existentially cấu thành hữu thể này — khi xét từ góc độ existentiell thực hữu cá nhân cụ thể — vẫn chỉ là eine phantastische Zumutung một đòi hỏi mang tính viển vông. [Chen ngang: eine phantastische Zumutung là một thuật ngữ quan trọng của Heidegger. Ý nghĩa của thuật ngữ: Trong ngữ cảnh của Heidegger: Cụm từ này được dùng để chỉ việc Dasein hiện hữu người bị ‘đòi hỏi’ phải phản diện và dự phần trước cái Hữu thể hướng đến cái chết của chính mình một cách chân thực. Thuật ngữ này giúp thừa nhận một vấn đề: Về phương diện bản thể luận, việc con người hướng tới cái chết là một khả tính; nhưng từ góc độ thực hữu cá nhân cụ thể, đó lại là một ‘đòi hỏi bất kỳ ảo’ hay một yêu cầu hoang đường – bởi vì trong cuộc sống thường nhật, không ai thực sự tỉnh táo, sẵn sàng hay chứng minh được công việc của mình liên tục sống trong sự đối diện với cái chết.-HHN] Việc một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực là khả thể về mặt bản thể luận đối với Dasein sẽ chẳng có ý nghĩa gì, chừng nào một tiềm-năng-cho-Hữu-thể tương ứng ở bình diện ontish thực hữu chưa được chứng minh ngay trong chính Dasein. Liệu Dasein có bao giờ thực sự tự ném mình vào một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy hay không? Liệu Dasein có đòi hỏi — ngay từ chính bản chất Hữu thể cốt lõi của mình — một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực được quyết định bởi tiên liệu hay không? Trước khi giải đáp những câu hỏi này, ta cần xem xét liệu Dasein có đưa ra bất kỳ sự chứng thực nào — xuất phát từ chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt lõi của nó — về khả năng đạt tới trạng thái đích thực trong hiện hữu của nó hay không; sao cho nó không chỉ cho thấy trạng thái đích thực đó là khả thể về phương diện cấu thành hữu thể, mà còn tự mình đòi hỏi điều đó. Câu hỏi về Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein và về các cấu thành hữu thể của nó vẫn còn treo trong không trung. Vấn đề này chỉ có thể được đặt trên một nền tảng hiện tượng vững chắc nếu nó có thể bám vào tính chân thực khả thể thuộc về Hữu thể của chính nó, một tính chân thực được chính Dasein xác chứng. Nếu thành công trong việc làm sáng tỏ sự chứng thực đó về hiện tượng học, cùng với nội dung được chứng thực, thì sẽ nảy sinh một vấn đề mới: việc tiên liệu về cái chết—điều mà cho đến nay chúng ta mới chỉ phác thảo dưới khía cạnh khả tính bản thể luận—có mối liên hệ thiết yếu nào với tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn đã được kiểm chứng hay không.

II SỰ CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN

[Chen ngang: Tính Quyết đoán Entschlossenheit/ resoluteness của Heidegger - Từ gốc động từ erschließen, có nghĩa là ‘mở ra’, ‘mở khóa’ hoặc ‘phơi bày/hé lộ’. Theo nghĩa đen Entschlossenheit mang ý nghĩa là ‘trạng thái không còn bị đóng kín’ hay được hé lộ, chứ không đơn thuần là sự bướng bỉnh, quyết tâm hay ý chí mạnh mẽ theo nghĩa tâm lý học thông thường. Heidegger định nghĩa lại trạng thái/tính quyết đoán, tách biệt nó khỏi ý chí đạo đức hay sự quyết định cứng nhắc thường thấy trong đời sống thường nhật. Thay vào đó, đây là một khái niệm mang tính hữu thể: i) Tách khỏi Das Man cái họ - Sự quyết đoán có nghĩa là để bản thân được đánh thức và quay trở về từ trạng thái bị cuốn vào những lời bàn tán nơi công cộng, tuân theo đám đông và các chuẩn mực xã hội vô danh của das Man; ii) Trạng thái khai mở, đó là khi Dasein hiện hữu người mở lòng đón nhận khả tính hữu thể cốt lõi nhất của chính mình; quyết đoán nghĩa là Dasein tự làm cho mình trở nên minh bạch và sẵn sàng đón nhận sự thật về hoàn cảnh của chính mình; iii) Trạng thái quyết đoán mang tính dự phóng vorwegnehmende Entschlossenheit - Quyết đoán đích thực là việc đối diện với tính hữu hạn của con người—cụ thể là ‘Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết’—nhận lãnh tình trạng ‘bị ném vao’ của mình - những điều kiện cụ thể, không do ta chọn lựa trong cuộc đời - và phóng chiếu bản thân vào hành động đích thực ngay trong ‘khoảnh khắc của sự thấu thị’ Augenblick ở hiện tại; iv) Mở ra cho Kẻ Khác - nghịch lý là sự quyết đoán đích thực không cô lập cái tôi; trái lại, nó giải phóng Dasein, cho phép Kẻ khác được là chính họ một cách đích thực thay vì lôi kéo họ vào sự tuân theo các chuẩn mực das Man cái họ nông cạn. - HHN]

54. Vấn đề Cách thức một Khả tính Thực hữu Cá nhân Cụ thể đích thực  được chứng thực.

[Tr.312] Điều chúng ta đang tìm kiếm là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein, một khả tính sẽ được chính Dasein chứng thực là Existenziell/ existenzielle Möglichkeit/ existentiell possibility khả tính thực hữu cá nhân cụ thể của nó. Tuy nhiên, bản thân sự chứng thực này trước hết phải ở dạng thức mà chúng ta có thể nhận diện được. Nếu thông qua sự chứng thực này, chính Dasein—với tư cách là thực thể có khả năng hiện hữu đích thực—được ‘ban cho’ Dasein để ‘thấu hiểu’,3 thì sự chứng thực đó phải bắt rễ từ chính Hữu thể của Dasein. Do đó, khi trình bày nó về phương diện hiện tượng học, chúng ta cũng đồng thời chứng minh rằng nó có nguồn gốc từ trạng thái Hữu thể của Dasein. Trong sự chứng thực này, một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó đích thực được trao cho chúng ta để thấu hiểu. Câu hỏi về cái ‘ai’ của Dasein đã được giải đáp bằng khái niệm Self ‘Tự Ngã’.4 Selbstheit Vị thế Tự ngã của Dasein đã được định nghĩa một cách hình thức như là một cách thức hiện hữu, và do đó không phải là một thực thể hiện-diện-vô-tri. Phần lớn thời gian, bản thân tôi không phải là cái ‘ai’ của Dasein; mà ‘Tự-ngã-cái-họ mới chính là cái ‘ai’ của nó. Cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó đích thực có hình thức xác định của một existentiell modification biến đổi thực hữu cá nhân cụ thể từ cái họ; và sự biến đổi này cần được định nghĩa về existentially phương diện cấu thành hữu thể.ii Sự biến đổi này hàm ý điều gì, và cái gì là các điều kiện bản thể luận cho khả tính của nó?.

[Chen ngang: Selbstheit/Selfhood của Heidegger, Vị thế Tự ngã của Dasein không phải là một thực thể tĩnh tại, một tâm trí hay một cái ‘tôi’ (ego), mà là một phương thức hiện hữu đầy tính động, trong đó chủ thể tự chịu trách nhiệm về sự tồn tại của chính mình. Heidegger bác bỏ dứt khoát quan điểm của Descartes về cái tôi (coi cái tôi là một chủ thể biệt lập hay một ‘vật tư duy’ quan sát thế giới khách quan). Thay vào đó, vì bản chất của Dasein là Hữu-thể-trong-thế-giới, nên tính tự thân được định hình bởi cách Dasein tương tác với các khả tính, thời gian và thực tại xã hội của chính mình. Các khía cạnh cốt lõi của Vị thế Tự ngã ở Dasein: 1) Tự ngã Động Dynamic Self so với Cái Tôi Descartes Cartesian Ego - Triết học truyền thống thường coi cái tôi như một đối tượng hoặc một chiếc bình chứa đầy những suy nghĩ. Đối với Heidegger, cái tôi là một ‘cách thức Hữu thể’ chứ không phải là một ‘vật thể’ hay ‘cái gì đó’ cụ thể. Dasein luôn trải dài theo dòng thời gian (bao gồm quá khứ, hiện tại và các dự phóng tương lai) và gắn liền với một môi trường sống. Tính tự thân chính là quá trình không ngừng định hướng trong trường hành động này và kiến ​​tạo nên bản sắc của chúng ta thông qua những lựa chọn; 2) Hai phương thức của Vị thế Tự ngã được Heidegger giải thích rằng Vị thế Tự ngã tồn tại trong trạng thái căng thẳng thường trực giữa hai phương thức cấu trúc: i) Das Man-Selbst/ the ‘They-Self’ Tự ngã Không-đích-thực hay ‘Tự-ngã-cái-họ’): Trong đời sống thường nhật, Dasein thường tồn tại trong trạng thái ‘sa ngã’. Chúng ta không hành động dựa trên lựa chọn của chính mình; thay vào đó, ta hành động theo cách cái ‘họ’ thường làm, nói theo cách cái ‘họ’ thường nói và tin vào những điều mà cái ‘họ’ tin. Ở phương thức này, tính tự thân của Dasein bị phân tán, thiếu phản tư và bị chi phối bởi sự tuân theo các chuẩn mực xã hội; ii) Eigentlichkeit/ The Authentic Self/ Ownedness Tự ngã Đích thực hay ‘Tính-thuộc-về-chính-mình’: Vị thế Tự ngã đích thực xuất hiện khi Dasein giành lại hiện hữu của mình từ ‘Tự-ngã-của-cái-họ. Điều này không có nghĩa là tìm kiếm một bản sắc nội tại thuần khiết hay ẩn giấu nào đó. Thay vào đó, nó có nghĩa là làm chủ các lựa chọn của mình, thừa nhận những giới hạn của bản thân và nhận thức rằng cuộc đời này là của riêng mình để sống. 3. Cách thức hiện thực hóa Tự ngã đích thực - Dasein chuyển từ trạng thái từ They-Self ‘Tự ngã Cái họ’ vô danh sang Tự ngã đích thực thông qua một số trải nghiệm khai mở/cấu thành hữu thể mang tính đột phá: i) Trạng thái lo âu: Một tâm thế nền tảng giúp gạt bỏ những xao nhãng thường nhật, qua đó phơi bày cho Dasein thấy rằng nó bị ném vào thế giới một mình và buộc phải tự chọn lấy ý nghĩa cho chính mình; ii) Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết: Việc đối diện với giới hạn tột cùng của sự tồn tại—tính hữu tử—đã phá vỡ ảo tưởng về ‘Tự ngã-Cái họ’. Nó buộc Dasein phải nhận thức rằng thời gian của mình là hữu hạn và mọi lựa chọn đều quan trọng; iii) Entschlossenheit Trạng thái quyết đoán là cam kết tập trung, tĩnh tại để hành động một cách đích thực và làm chủ hoàn cảnh của chính mình, ngay cả khi phải đối mặt với cảm giác tội lỗi và sự bất định.-HHN]

Với tình trạng Dasein bị mất hút vào das Man cái ‘họ’, thì cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể thực tính gần gũi nhất với nó—tức là các nhiệm vụ, quy tắc, chuẩn mực, cũng như tính cấp bách và phạm vi của cái Hữu-thể-trong-thế-giới đầy quan tâm lo lắng—đã được định đoạt từ trước. Cái ‘họ’ luôn ngăn cản Dasein nắm bắt những khả tính Hữu-thể này. Cái ‘họ’ thậm chí còn che giấu cách thức mà nó đã âm thầm gánh thay cho Dasein cái gánh nặng phải đích thân lựa chọn những khả tính ấy. Rốt cuộc, chẳng ai xác định được ai là kẻ ‘thực sự’ đã đưa ra lựa chọn. Vì thế, Dasein không tự mình lựa chọn gì cả, mà cứ để cho cái ‘không-ai-cả’ cuốn đi, và do đó tự giam hãm mình trong trạng thái phi-chân-thực. Quá trình này chỉ có thể đảo ngược nếu Dasein chủ động đưa bản thân trở về với chính mình từ trạng thái mất hút trong cái ‘họ’. Tuy nhiên, việc đưa trở về này phải có một loại Hữu thể mà chính việc bỏ lơ nó đi [tr.313] đã khiến Dasein đánh mất bản thân trong trạng thái phi-chân thực. Vì vậy khi Dasein tự đưa mình trở lại từ cái ‘họ’ như vậy, thì Tự-ngã-cái-họ sẽ được biến đổi theo phương thức thực hữu cá nhân cụ thể, để rồi trở thành Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó chân thực. Điều này phải được thực hiện thông qua Nachholen einer Wahl ‘lựa chọn lại một lựa chọn’. Nhưng việc ‘tái lựa chọn’ ấy lại mang ý nghĩa là: lựa chọn thực hiện chính sự lựa chọn này—tức là quyết định chọn một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, và đưa ra quyết định đó từ chính cái Tự ngã của mình. Khi thực hiện việc lựa chọn này, Dasein—trước hết và quan trọng nhất—đã mở ra tiềm-năng-cho-Hữu-thể chân thực của chính nó. Song, vì Dasein đang lạc lối trong cái ‘họ’, nên trước tiên nó phải tìm lại được chính mình. Để có thể tìm thấy bản thân, nó cần được tự ‘phơi bày’ về tính chân thực khả thể của mình. Xét về mặt khả tính, Dasein vốn dĩ đã là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó, nhưng nó cần được xác chứng cho tiếm năng này.

Trong Diễn giải tiếp theo, chúng tôi sẽ khẳng định rằng tiềm năng này được minh chứng bởi điều mà, trong phép tự diễn giải thường nhật của Dasein, vốn quen thuộc với chúng ta như là Stimme des Gewissens ‘tiếng nói của lương tâm’.iii Chính cái ‘sự thật’ lương tâm bị tranh cãi, mà chức năng của nó như một tòa án tối cao đối với hiện hữu của Dasein được đánh giá theo nhiều cách khác nhau, và sự thật ‘cái mà lương tâm lên tiếng’ bị diễn giải theo vô số kiểu—tất cả những điều này có thể dễ dàng khiến ta gạt bỏ hiện tượng này, nếu như chính ‘tính đáng ngờ’ của Sự thật đó—hoặc của cái cách thức mà nó được diễn giải—lại không chứng minh rằng ở đây ta đang đối diện với một hiện tượng bản nguyên của Dasein. Trong phần phân tích sau đây, lương tâm sẽ được xem như một cái gì đó mà ta đã nắm bắt được về mặt lý thuyết từ trước, và nó sẽ được khảo sát purely existential manner theo phương thức thuần túy cấu thành hữu thể, nhằm hướng tới bản thể học nền tảng của chúng ta.   

Trước hết, chúng tôi sẽ truy nguyên lương tâm về các nền tảng và cấu trúc existential cấu thành hữu thể của nó, đồng thời làm hiển lộ nó như một hiện tượng của Dasein, trong khi vẫn kiên định với những gì ta đã xác định được về trạng thái Hữu thể của thực thể này. Phép phân tích bản thể luận về lương tâm mà chúng tôi đang tiến hành có vị thế ưu tiên so với bất kỳ sự mô tả hay phân loại nào về các Trải nghiệm lương tâm, đồng thời nằm ngoài bất kỳ ‘giải thích’ mang tính sinh học nào về hiện tượng này (là cái vốn có nghĩa là tình trạng phân hủy của nó). Tuy nhiên, nó cũng hoàn toàn tách biệt khỏi việc diễn giải lương tâm theo thần học hay việc sử dụng hiện tượng này để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế hoặc để thiết lập một ý thức ‘trực tiếp’ về Thượng đế. Dẫu vậy, ngay cả khi phạm vi khảo sát về lương tâm bị giới hạn như thế, chúng ta cũng không được phép phóng đại kết quả đạt được hay đưa ra những khẳng định sai lệch làm giảm giá trị của nó. Là một hiện tượng của Dasein, lương tâm không chỉ đơn thuần là một sự thật xảy ra và đôi khi hiện-diện-vô-tri. Nó chỉ ‘có’ trong loại Hữu thể của Dasein, và chỉ bộc lộ mình như một Sự thật cùng với và ngay trong sự hiện hữu thực tính. Cái yêu cầu phải đưa ra một ‘bằng chứng thực nghiệm quy nạp’ cho ‘thực tính khách quan’ của lương tâm và cho tính chính đáng của ‘tiếng nói’ của nó, thực chất dựa trên một cách hiểu sai lệch về mặt bản thể học đối với [tr.314] hiện tượng này. [Chen ngang: ‘Thực tính’ của lương tâm được định danh chính xác bằng thuật ngữ Faktizität/Facticity, vẫn được dịch là ‘kiện tính’, còn với chúng tôi nó là Thực tính [hiện hữu người]. 1). Thuật ngữ tiếng Đức: Faktizität đối lập với Tatsächlichkeit - Heidegger phân biệt rất nghiêm ngặt giữa hai trạng thái mang nghĩa thực tính: i) Tatsächlichkeit/ Factuality/ Thực tại tính [khách quan]: Đây là thuộc tính của những vật thể ở trạng thái Vorhandenheit hiện diện vô tri, như hòn đá, cái bàn. Chúng chỉ đơn thuần hiện diện như những dữ kiện vật lý hay đối tượng kiểm nghiệm khoa học; ii) Faktizität/ Facticity/ Thực tính - Đây là thực tính độc quyền của Dasein hiện hữu người. Bản chất sự thực của con người không phải là một đồ vật tĩnh tại, mà là sự thực rằng chúng ta luôn luôn thấy mình đã bị ném vào một thế giới (Geworfenheit) có sẵn. Chúng ta không tự chọn thời đại, ngôn ngữ, hay cái chết của chính mình, nhưng chúng ta buộc phải gánh vác và sống với những thực tế đó. 2). Ý nghĩa của Faktizität/ Facticity/ Thực tính trong Lương tâm - Khi Heidegger phân tích về Lương tâm (Gewissen) thì Thực tính của nó mang những ý nghĩa cốt lõi sau: i) Đột phá khỏi đạo đức luận truyền thống - Lương tâm theo Heidegger không phải là một thực thể tâm lý hay ‘tiếng nói của Chúa’ phán xét đúng sai. Thực tính của lương tâm có nghĩa nó là một cấu trúc hữu thể có sẵn mang tính nền tảng của con người. Dù bạn có muốn hay không, lương tâm luôn ở đó như một sự thực tất yếu của Hữu thể; ii) Der Ruf der Geworfenheit Tiếng gọi của Trạng thái ‘bị ném vào’: Lương tâm hoạt động như một Ruf Tiếng gọi. Ai gọi? Chính Dasein trong sự bất an cô độc đang gọi chính nó. Tiếng gọi này có ‘Thực tính’ vì nó lay tỉnh con người ra khỏi sự lặn ngụp vô định trong das Man/ Cái họ. Nó gọi con người quay về đối diện trực tiếp với thực tính tối hậu của mình: một hiện hữu thể bị ném vào thế giới, giới hạn và Sein-zum-Tode hướng đến cái chết; iii) Lương tâm và Schuld Sự mắc nợ cấu thành hữu thể: Trong tiếng Đức, từ Schuld vừa có nghĩa là tội lỗi/mắc nợ đạo đức, vừa mang nghĩa gốc bản thể luận là ‘hư vô/ thiếu hụt’. Thực tính của lương tâm phơi bày cho con người thấy một Sự thật’ gốc rễ: Bản chất con người là một khoảng trống tự do, chúng ta phải tự lựa chọn số phận của mình dựa trên những gì có sẵn. Việc không thể tự làm chủ gốc rễ của tình trạng ‘bị ném vào đời’ chính là faktische Schuldigsein sự Mắc nợ thực tính. Lương tâm gọi ta gánh vác trách nhiệm đó; iv) Tóm lại Faktizität/ Facticity của lương tâm đối với Heidegger nghĩa là: Lương tâm không phải một lý thuyết hay một tòa án đạo đức do xã hội dựng lên, mà là một cấu thành hữu thể nền tảng. Nó là tiếng gọi thực tế, thầm lặng buộc con người phải thức tỉnh khỏi sự tha hóa thường nhật để tự quyết định và chịu trách nhiệm về sự tồn tại hữu hạn của chính mình.- HHN] Tuy nhiên, cách hiểu sai lệch kia lại là đặc điểm chung của mọi lối phê phán mang tính ‘thượng đẳng’, trong đó lương tâm bị xem như một điều gì đó chỉ xuất hiện chốc lát thay vì là một ‘Sự thật được xác lập và có thể xác định một cách phổ quát’. Giữa những lập luận chứng minh và phản chứng như vậy, cái Sự thật lương tâm lại hoàn toàn không thể tự hiện diện.  

Đây không phải là khiếm khuyết của chính nó, mà chỉ là dấu hiệu để ta nhận ra rằng, xét về mặt bản thể luận, nó thuộc một loại hình khác biệt so với những gì hiện-diện-vô-tri trong môi trường xung quanh. Lương tâm mang đến cho ta ‘một điều gì đó’ để thấu hiểu; nó thực hiện sự khai mở. Khi mô tả hiện tượng này theo cách thức hình thức như vậy, ta thấy mình được thôi thúc phải quy chiếu nó trở lại trạng thái khai mở của Dasein. Trạng thái khai mở này—vốn là trạng thái cơ bản của cái mà cái thực thể vốn là bản thân chúng ta—được cấu thành bởi tâm thế, sự thấu hiểu, tình trạng sa ngã và diễn ngôn. Nếu phân tích lương tâm một cách sâu sắc hơn, ta sẽ thấy nó hiện ra như một Ruf tiếng gọi. Việc cất tiếng gọi chính là một phương thức của diễn ngôn. Tiếng gọi của lương tâm mang tính chất của một lời kêu gọi hướng tới Dasein, triệu gọi nó về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-chính-nó đích thực nhất; và điều này được thực hiện thông qua việc triệu gọi vời nó về với cái Hữu-thể-tội-lỗi đích thực nhất của chính nó.5

Cách diễn giải mang tính cấu thành hữu thể này tất yếu khác xa với lẽ thường tình ontish thực hữu trong đời sống thường nhật, mặc dù nó trình bày các nền tảng bản thể luận cho những gì mà cách diễn giải thông thường về lương tâm vẫn luôn hiểu trong những giới hạn nhất định và khái niệm hóa thành một ‘lý thuyết’ về lương tâm. Theo đó, cách diễn giải mang tính cấu thành hữu thể của chúng ta cần được xác nhận thông qua việc phê phán cách thức mà lương tâm thường được diễn giải. Khi hiện tượng này đã được phơi bày, chúng ta có thể làm rõ mức độ mà nó chứng thực cho một tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của Dasein. Tương ứng với tiếng gọi của lương tâm là một khả năng lắng nghe. Sự thấu hiểu của chúng ta về lời kêu gọi này bộc lộ chính nó như là Gewissenhabenwollen mong muốn có lương tâm. Nhưng ẩn chứa trong hiện tượng này chính là cách lựa chọn existentiell mang tính thực hữu cá nhân cụ thể mà chúng ta đang tìm kiếm—kiểu lựa chọn để chọn lấy một loại Hữu-thể-Tự-ngã-của-mình mà, xét theo cấu trúc cấu thành hữu thể của nó, chúng ta gọi là Entschlossenheit ‘tính quyết đoán’.6 Như vậy, ta có thể thấy cách phân chia các nội dung phân tích trong chương này: các nền tảng hữu thể luận-cấu thành hữu thể [tr.315] của lương tâm (Mục 55); tính chất của lương tâm như một tiếng gọi (Mục 56); lương tâm như là tiếng gọi của quan tâm/lo âu (Mục 57); sự thấu hiểu tiếng gọi và tình trạng tội lỗi (Mục 58); cách diễn giải cấu thành hữu thể về lương tâm và cách lương tâm thường được diễn giải (Mục 59); cấu trúc cấu thành hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực được chứng thực trong lương tâm (Mục 60).

55. Nền tảng Hữu thể luận-Cấu thành hữu thể của Lương tâm

Trong hiện tượng lương tâm, chúng ta nhận thấy—mà chưa cần đến sự phân biệt chi tiết hơn là — bằng cách nào đó, nó mang lại cho chúng ta điều gì đó để thấu hiểu. Phép phân tích của chúng ta bắt đầu từ cách phát hiện này. Lương tâm khai mở, và do đó thuộc về phạm vi các hiện tượng cấu thành hữu thể cấu thành nên Hữu-thể của cái ‘có-đó’ như là trạng thái khai mở.iv Chúng ta đã phân tích các cấu trúc phổ quát nhất của tâm thế, sự thấu hiểu, diễn ngôn và tình trạng sa ngã. Nếu đưa lương tâm vào bối cảnh hiện tượng này, thì đó không phải là vấn đề áp dụng một cách máy móc các cấu trúc này vào một ‘trường hợp’ phơi bày đặc biệt của Dasein. Ngược lại, phép Diễn giải về lương tâm không chỉ phát triển thêm phép phân tích trước đó về tình trạng khai mở của cái ‘có-đó’, mà còn nắm bắt nó một cách bản nguyên hơn liên quan đến cái Hữu thể đích thực của Dasein.

Thông qua tình trạng khai mở, cái thực thể mà chúng ta gọi là ‘Dasein’ luôn ở trong cái khả tính là chính cái ‘có-đó’ của nó. Cùng với thế giới của mình, nó có đó cho chính nó—và quả thực, trước hết và phần lớn là theo cách thức mà nó đã tự khai mở cho chính mình cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của nó trong khuôn khổ của cái ‘thế giới’ quan tâm của nó. Dasein tồn tại như một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà, trong mỗi trường hợp, đã tự phó mặc cho những khả tính xác định.7 Và nó tự phó mặc cho những khả tính này bởi vì nó là một thực thể đã bị ném vào, và là một thực thể mà trạng thái bị ném đó được bộc lộ rõ ​​ràng và ấn tượng hơn hay kém tùy thuộc vào tâm trạng của nó. Sự thấu hiểu luôn gắn liền một cách bình đẳng và đồng bản nguyên với bất kỳ tâm thế hay tâm trạng nào. Theo cách này, Dasein ‘biết’ bản chất và khả năng của chính mình, tùy thuộc vào việc nó đã tự phóng chiếu bản thân vào các khả tính của chính mình hay đã bị cuốn vào das Man cái ‘họ’ đến mức để cho những khả tính đó được trình ra trước nó thông qua cách thức mà cái ‘họ’ diễn giải sự vật một cách công khai. Tuy nhiên, việc đưa trình các khả tính này trở nên khả thể existentially về phương diện cấu thành hữu thể nhờ vào cái sự thật là Dasein—với tư cách là một Hữu-thể-với vốn thấu hiểu—có thể lắng nghe những Kẻ Khác. Khi đánh mất chính mình trong tính công khai và phiếm đàm của cái ‘họ’, nó đã không nghe thấy cái Tự ngã của chính mình vì mải lắng nghe das Man-Selbst tự-ngã-của-cái-họ.

Nếu Dasein muốn được đưa trở lại từ trạng thái đánh mất bản thân do không nghe thấy chính mình, và nếu điều này phải được thực hiện bởi chính nó, thì trước hết nó phải có khả tính tìm thấy chính mình—tìm thấy [tr.316] chính mình như một thực thể đã không nghe thấy bản thân, và thực thể đó không nghe thấy chính mình vì mải hướng sự lắng nghe ra bên ngoài về phía cái ‘họ’.8 Sự lắng nghe hướng ra bên ngoài này cần phải bị cắt đứt; nói cách khác, cái khả tính về một kiểu lắng nghe khác—kiểu lắng nghe sẽ làm gián đoạn sự lắng nghe hiện tại—phải do chính Dasein đưa cho.9 Cái khả tính bị ngắt quãng như vậy bắt nguồn từ việc Dasein được kêu gọi một cách trực tiếp, không qua trung gian. Dasein thường không nghe thấy chính mình mà lại hướng sự chú ý ra bên ngoài, lắng nghe das Man cái ‘họ’; và sự lắng nghe hướng ngoại này bị phá vỡ bởi tiếng gọi, nếu tiếng gọi ấy—đúng với bản chất của nó—khơi dậy một kiểu lắng nghe khác; kiểu lắng nghe này, khi đặt trong tương quan với kiểu lắng nghe đã bị đánh mất kia,10 lại mang đặc tính hoàn toàn trái ngược. Nếu trong kiểu lắng nghe đã bị đánh mất đó, người ta từng bị mê hoặc bởi cuồn cuộn thanh âm ‘om sòm’ của vô vàn những điều mơ hồ—thứ vốn hiện diện trong những cuộc phiếm đàm với vẻ ‘mới mẻ’ thường nhật—thì tiếng gọi kia phải cất lên mà không hề om sòm và đầy dứt khoát, không để lại bất kỳ kẽ hở nào cho sự tò mò bám víu. Thứ mang lại cho ta sự thấu hiểu thông qua cách thức kêu gọi như vậy, chính là lương tâm.

Chúng ta coi tiếng gọi như một phương thức của diễn ngôn. Diễn ngôn làm sáng tỏ tính khả tri. Việc mô tả lương tâm như một tiếng gọi không chỉ đơn thuần là đưa ra một ‘hình ảnh’, chẳng hạn như cách Kant hình dung lương tâm như một tòa án công lý. Tuy nhiên, việc phát âm thành tiếng không phải là yếu tố cốt yếu của diễn ngôn, và do đó cũng không phải của tiếng gọi; điều này không được phép bỏ qua. Diễn ngôn vốn đã được tiền giả định trong bất kỳ sự biểu đạt hay Ausrufen ‘lên tiếng’ nào. Nếu cách hiểu thông thường thừa nhận một ‘tiếng nói’ của lương tâm, thì người ta không thực sự nghĩ đến một lời phát ngôn (vì trên thực tế, ta không bao giờ bắt gặp điều đó); ‘tiếng nói’ ấy được hiểu đúng hơn là một sự truyền đạt để ta thấu hiểu. Trong khuynh hướng bộc lộ vốn thuộc về tiếng gọi, ẩn chứa động lực của một sự thúc đẩy—một sự đánh thức đột ngột. Tiếng gọi vang lên từ xa và hướng về phía xa. Nó chạm đến kẻ đang muốn được đưa trở lại. Nhưng với cách mô tả lương tâm này, chúng ta mới chỉ phác thảo chân trời hiện tượng để phân tích cấu trúc cấu thành hữu thể của nó. Chúng ta không [tr.317] so sánh hiện tượng này với một tiếng gọi thông thường; chúng ta hiểu nó như một dạng diễn ngôn—trong khuôn khổ của trạng thái khai mở vốn cấu thành nên Dasein. Khi xem xét điều này, ngay từ đầu chúng ta đã tránh con đường đầu tiên thường được chọn cho một phép Diễn giải lương tâm—đó là quy nó về một năng lực tâm lý nào đó như sự hiểu biết, ý chí, hay cảm xúc, hoặc giải thích nó như một sự pha trộn giữa các yếu tố này. Khi đối diện với một hiện tượng như lương tâm, ta nhận thấy sự bất cập—xét về mặt bản thể luận-nhân học của một khuôn khổ các năng lực tâm lý hay hành động cá nhân thả nổi và chỉ được phân loại một cách máy móc.vi

___________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Die Befindlichkeit aber, welche die ständige und schlechthinnige, aus dem eigensten vereinzelten Sein des Dasiens aufsteigende Bedrohung seiner selbst offen zu stopen vermag, ist die Angst.’ Lưu ý rằng ‘welche’ có thể được hiểu là chủ ngữ hoặc tân ngữ trực tiếp của mệnh đề quan hệ. [tr.310]

2 ‘… gehört zu dieem Sichverstehen des Daseins aus seinem Grunde die Grund-. befindlichkeit der Angst.’ Không rõ về mặt ngữ pháp liệu 'seinem' ám chỉ 'Sichverstehen' hay 'Daseins' [tr.310].

3 ‘…wenn sie dem Dasein es selbst in seiner moglichen eigentlichen Existem; “zu verstehen geben”…' [p.312]

4 'Der Gewissensruf hat den Charakter des Anrufs des Daseins auf sein eigenstes Selbstseinkonnen und das in der Weise des Aufrufs zum eigensten Schuldigsein.' Bản dịch của chúng tôi về 'Anruf' là 'sự kêu gọi' và 'Aufruf' là 'sự triệu tập' đã che giấu mối liên hệ từ nguyên của những cách diễn đạt này với 'Ruf', mà ở đây chúng tôi dịch là 'gọi' - một từ mà chúng tôi đã sử dụng khi dịch các cách diễn đạt như 'nennen', 'heissen', và một số từ khác. Động từ 'anrufen' ('khiếu nại') có nghĩa đen là 'gọi đến'; 'einen auf etwas anrufen' có nghĩa là 'gọi ai đó và gọi anh ta đến điều gì đó'. Tương tự 'aujrufen' ('triệu tập') có nghĩa là 'gọi lên' ; 'einen zu etwas aufrufen' có nghĩa là 'kêu gọi ai đó làm việc gì đó mà anh ta phải làm', theo nghĩa thách thức anh ta hoặc 'kêu gọi' anh ta đạt đến mức hiệu suất cao hơn. [tr.314]

5 ‘…das gesuchte exenzielle Wahlen der Wahl cines Se!bstseins, das wir, seiner tồn tại Struktur entsprechend, die Entschlossenheit nennen.' Mặc dù bản dịch của chúng tôi vẫn giữ lại sự mơ hồ về mặt ngữ pháp của nguyên bản tiếng Đức, nhưng từ đoạn H. 298, có thể thấy rõ rằng từ quy chiếu (tiền ngữ) của mệnh đề quan hệ thứ hai là 'Selbstsein' ('một dạng thức của việc-là-chính-mình'), chứ không phải 'Wahlen' ('việc lựa chọn'). [tr.314]

6 'Das Seinkonnen, als welches das Dasein existiert, hat sich je schon bestimmten Moglichkeiten iiberlassen.’ [tr.315]

7 ‘…sich selbst, das sich iiberhort hat und iiberhort im Hinhiiren auf das Man.’ Trong đoạn này, Heidegger khai thác ba biến thể của động từ ‘horen’ (nghe/lắng nghe): ‘horen auf…’ (tương đương với ‘lắng nghe...’ trong tiếng Anh), ‘iiberhoren’ (‘không nghe thấy’ hoặc ‘bỏ qua không nghe’), và 'hinhoren' ('hướng sự chú ý lắng nghe ra bên ngoài'). Động từ 'iiberhoren' có hai cách dùng khá khác biệt. Nó có thể mang nghĩa là hành động 'nghe' của một giáo viên khi họ 'nghe' học sinh đọc thuộc lòng bài học; nhưng nó cũng có thể mang nghĩa là 'không nghe thấy', thậm chí là 'phớt lờ' điều gì đó. Đây dường như là ý nghĩa mà Heidegger chú trọng nhất; tuy nhiên, có lẽ ông cũng muốn ám chỉ rằng khi một người bị cuốn vào cái "họ" (das Man), người đó chỉ 'nghe' thấy Bản thân mình theo kiểu một giáo viên làm việc chiếu lệ: 'nghe' học sinh đọc bài mà không 'thực sự lắng nghe' nội dung đó. Trong tiếng Đức thông thường, động từ 'hinhoren' hầu như chỉ có nghĩa đơn thuần là 'lắng nghe'; nhưng Heidegger lại nhấn mạnh vào tiền tố 'hin-', gợi ý rằng người ta đang lắng nghe một điều gì đó khác biệt với chính mình—tức là hướng sự chú ý lắng nghe ra bên ngoài, và trong trường hợp này là lắng nghe cái 'họ'. Các động từ khác liên quan đến nghe và lắng nghe, xem Mục 34 ở trên, đặc biệt là từ đoạn H. 163 trở đi. [tr.316]

8 ‘Dieses Hinhoren muss gebrochen, das heisst es muss vom Dasein selbst die Moglichkeit eines Horens gegeben werden, das jenes unterbricht.’ [tr.316]

9 ‘…zum verlorenen Horen…’ Người ta có thể nghi ngờ rằng 'mất thính lực' là khả năng nghe mà người ta 'mất' do 'không nghe được' ; nhưng Heidegger có thể muốn nói đúng hơn là kiểu nghe mà người ta thực hiện khi người ta lạc vào “họ”-‘Uberhoren’ của Bản ngã của chính mình và ‘Hinhoren’ đối với ‘họ’. [tr.316]

10 'Bạn có đang tức giận không?' [tr.217]

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXI)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

I. KHẢ TÍNH CỦA HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CỦA DASEIN VÀ HỮU-THỂ-HƯỚNG-ĐẾN-CÁI-CHẾT

52. Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục trong đời sống thường nhật và Quan niệm Hữu thể Trọn vẹn về cái Chết

[Tr. 299] Phần phác thảo hữu thể sơ bộ, Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đã được định nghĩa là Hữu-thể-hướng-đến tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính mình—vốn mang tính phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua hay thay thế. Hữu-thể-hướng-đến cái khả tính này—với tư cách là một Hữu thể vẫn tồn tại—được đặt đối diện trực tiếp với cái bất khả tính tuyệt đối của chính hiện hữu. Vượt khỏi cách mô tả có vẻ trống rỗng về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết này, thì tính cụ thể của Hữu thể ấy trong phương thức thường nhật đã được hé lộ. Theo khuynh hướng sa ngã—vốn là bản chất của đời sống thường nhật—Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết bộc lộ ra như một sự lẩn tránh trước cái chết; một sự lẩn tránh mang tính che đậy. Trong khi quá trình nghiên cứu từ trước đến nay của chúng ta đi từ phác thảo hình thức về cấu trúc bản thể luận của cái chết sang phân tích cụ thể về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục trong đời sống thường nhật, thì giờ đây hướng đi đó sẽ được đảo ngược; chúng ta sẽ đạt tới quan niệm hữu thể trọn vẹn về cái chết bằng cách hoàn thiện phép Diễn giải về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục trong đời sống thường nhật. Khi lý giải về Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật, chúng ta đã bám vào những phiếm đàm của cái gọi là das Man  cái ‘họ’, với quan điểm cho rằng: “Ai rồi cũng chết, vào một lúc nào đó, nhưng không phải ngay bây giờ.”1 Tất cả những gì chúng ta đã diễn giải cho đến nay chỉ mới dừng lại ở khía cạnh ‘ai cũng chết’ (hay ‘người ta chết’) theo đúng nghĩa của từ đó. Trong cụm từ ‘vào một lúc nào đó, nhưng không phải ngay bây giờ’, đời sống thường nhật đã thừa nhận một điều gì đó tương tự như sự chắc chắn về cái chết. Không ai nghi ngờ việc con người sẽ chết. Tuy nhiên, cái ‘không nghi ngờ’ này không nhất thiết hàm ý một loại ‘Hữu-thể-chắc-chắn’ tương ứng với cách thức mà cái chết—theo nghĩa là khả tính đặc thù đã được mô tả - bám lấy Dasein. Tính thường nhật giới hạn mình để thừa nhận [tr.300] ‘tính chắc chắn’ về cái chết bằng cách thức mơ hồ, chỉ nhằm làm suy yếu trạng thái chắc chắn đó bằng cách che đậy quá trình hấp hối kỹ càng hơn, và để xoa dịu cảm giác về tình trạng bản thân mình ‘bị ném’ vào cái chết.

Ngay trong ý nghĩa của nó, sự che đậy mang tính né tránh này khi đối diện với cái chết không thể thực sự ‘chắc chắn’ về cái chết, nhưng tuy nhiên, nó lại chắc chắn về điều đó. Chúng ta phải nói gì về ‘trạng thái chắc chắn của cái chết’? Chắc chắn về một hiện hữu có nghĩa coi nó là đúng, là một điều gì đó xác thực.2 Nhưng ‘chân lý’ biểu thị Entdecktheit/ uncoveredness trạng thái ‘bộc lộ’ của một hiện hữu nào đó, và mọi trạng thái ‘bộc lộ’ đều có cơ sở bản thể luận ở cái chân lý bản nguyên nhất: Erschlossenheit/disclosedness trạng thái ‘khai mở’ của Dasein.xiv Là một hiện hữu vừa được khai mở vừa tự khai mở, và là thứ hiện hữu bộc lộ, Dasein về bản chất là ‘ở trong chân lý’ [‘Das Dasein ist als konstituiert durch die Erschlossenheit wesenhaft in der Wahrheit’ - Dasein, với tư cách được cấu thành bởi trạng thái ‘khai mở’, nên về bản chất là nằm trong chân lý]. Song, tính chắc chắn lại có cơ sở ở chân lý, hoặc thuộc về chân lý theo cách thức đồng bản nguyên. Thuật ngữ ‘tính chắc chắn’, cũng giống như thuật ngữ ‘chân lý’, mang hai tầng nghĩa. Về phương diện bản nguyên, ‘chân lý’ đồng nghĩa với ‘Hữu-thể-mang-tính-khai-mở’, như một phương thức hành xử của Dasein. Từ đó nảy sinh nghĩa phái sinh: Entdecktheit/ uncoveredness trạng thái ‘bộc lộ’ của các hiện hữu. Tương ứng, ‘tính chắc chắn’, theo nghĩa bản nguyên, đồng nghĩa với Hữu-thể-chắc-chắn, như một loại Hữu thể thuộc về Dasein. Tuy nhiên, theo nghĩa phái sinh, bất kỳ hiện hữu nào mà Dasein có thể chắc chắn về nó cũng sẽ được gọi là một điều gì đó ‘chắc chắn’. Một phương thức của tính chắc chắn là niềm xác tín. Trong niềm xác tín, Dasein để cho phép chứng thực từ chính sự vật đã được bộc lộ (tự thân sự vật chân thực đó) trở thành yếu tố quyết định duy nhất cho cách nó trở thành Hữu thể hướng đến sự vật ấy bằng thấu hiểu.3 Việc coi một điều gì đó là ‘chân’ thì đúng là phương thức thỏa đáng để duy trì bản thân trong chân lý, miễn là nó được đặt nền tảng trên chính cái hiện hữu đã được bộc lộ, và nếu—với tư cách là Hữu thể đến cái hiện hữu đã bộc lộ đó—nó trở nên minh bạch đối với chính nó về trạng thái phù hợp của nó với hiện hữu ấy. Trong bất kỳ hư cấu võ đoán nào hay khi chỉ đơn thuần có một ‘quan điểm’ về một hiện hữu, thì loại sự vật này lại thiếu vắng.

Tính thỏa đáng của việc ‘cho-là-chân’ được đo lường dựa trên tuyên bố về chân lý mà nó thuộc về. Một tuyên bố như vậy có được sự biện minh từ loại Hữu thể của cái hiện hữu được ‘khai mở’, và từ hướng ‘khai mở’ đó. Loại hình chân lý—và cùng với đó là tính chắc chắn—thay đổi tùy theo sự khác biệt giữa các hiện hữu, đồng thời tương ứng với khuynh hướng chủ đạo và phạm vi khai mở. Những suy tư hiện tại của chúng ta sẽ chỉ giới hạn ở [tr.301] việc phân tích cái Hữu-thể-chắc-chắn liên quan đến cái chết; và cái Hữu-thể-chắc-chắn này, rốt cuộc, sẽ cho thấy một trạng thái chắc chắn đặc thù của Dasein. Phần lớn thời gian, trong đời sống thường nhật Dasein che đậy cái khả tính riêng biệt nhất cái Hữu thể của nó—cái khả tính mang tính phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua. Khuynh hướng thực tính nhằm che đậy này xác nhận luận điểm của chúng ta cho rằng Dasein, với tư cách là một hiện hữu thực tính, luôn ở trong cái ‘phi-chân-lý’.xv Do đó, tính chắc chắn thuộc về việc che đậy Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy hẳn phải là một cách ‘cho-là-chân’ không thích hợp, chứ không phải, chẳng hạn, một trạng thái bất chắc theo nghĩa hoài nghi. Trong trạng thái chắc chắn không thích hợp, là cái thuộc về thứ mà người ta tin chắc lại bị che đậy. Nếu ‘ai đó’ hiểu cái chết như một sự kiện gặp phải trong môi trường sống, thì cái trạng thái chắc chắn liên quan đến các sự kiện như vậy không thuộc về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục.

Người ta nói: “Chắc chắn là ‘Cái chết’ đang đến.”4 Họ nói vậy, và cái ‘họ’ ấy bỏ qua thực tế rằng để có thể chắc chắn về cái chết, bản thân Dasein—trong mọi trường hợp—phải chắc chắn về tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất và phi-quan-hệ của chính mình. Họ nói: ‘Cái chết là điều chắc chắn’; và khi nói như vậy, họ gieo vào Dasein cái ảo tưởng rằng chính nó đang chắc chắn về cái chết của mình. Vậy cái gì là cơ sở cho cái Hữu-thể-chắc-chắn trong đời sống thường nhật? Rõ ràng, đó không chỉ đơn thuần là sự thuyết phục lẫn nhau. Tuy nhiên, ‘cơn hấp hối’ của những Kẻ Khác là điều mà người ta trải nghiệm hàng ngày. Cái chết là một ‘sự thật của trải nghiệm’ không thể chối cãi. Cái cách mà Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết thường nhật thấu hiểu trạng thái chắc chắn được xác lập theo cách này sẽ tự bộc lộ chân tướng khi nó cố gắng ‘suy tư’ về cái chết, ngay cả khi nó thực hiện điều đó với sự tiên liệu đầy tính phê phán—tức là theo một phương thức thích đáng. Theo những gì người ta biết, mọi người đều ‘chết’. Cái chết có xác suất xảy ra cao nhất đối với mỗi người, song nó lại không chắc chắn một cách ‘vô điều kiện’. Xét nghiêm ngặt, cái chết ‘chỉ’ có thể được gán cho một trạng thái kinh nghiệm chắc chắn. Trạng thái đó tất yếu không đạt tới mức độ chắc chắn cao nhất—tính chắc chắn tất định—mà ta có thể đạt được trong một số lĩnh vực tri thức lý thuyết.

Trong sự xác định mang tính ‘phê phán’ này về trạng thái chắc chắn của cái chết cũng như tính chất chực chờ của nó, trong ví dụ đầu tiên—một lần nữa lại thất bại trong việc nhận thức đúng loại Hữu thể của Dasein và loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết vốn thuộc về Dasein—một sự thất bại đặc trưng cho tính thường nhật. Sự thậy thì việc chấm dứt sự sống—với tư cách là một sự kiện diễn ra—‘chỉ’ chắc chắn về mặt kinh nghiệm, hoàn toàn không mang tính quyết định đối với tính chắc chắn của cái chết. Các trường hợp chết có thể là dịp thực tế để Dasein bắt đầu chú ý đến cái chết. Tuy nhiên, chừng nào Dasein còn mắc kẹt trong trạng thái chắc chắn mang tính kinh nghiệm đã nêu, thì cái chết—theo cách thức mà nó ‘hiển thị’—vẫn là một cái gì đó mà Dasein không thể nào dám chắc. Mặc dù trong tính công cộng của cái ‘họ’, Dasein [tr.302] dường như chỉ ‘phán’ về trạng thái chắc chắn ‘mang tính kinh nghiệm’ này của cái chết, nhưng về bản chất, Dasein không chỉ hay chủ yếu bám víu vào những trường hợp chết đơn thuần diễn ra. Ngay cả khi lảng tránh cái chết của chính mình, lối Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục thường nhật vẫn thực sự chắc chắn về cái chết theo một cách khác so với những gì nó muốn tin dựa trên các suy xét thuần túy lý thuyết. ‘Cách khác’ này chính là điều mà tính thường nhật phần lớn tự che giấu khỏi chính nó. Tính thường nhật không dám để cho bản thân trở nên minh bạch theo cách thức như vậy. Chúng ta đã mô tả cái tâm thế thường nhật, vốn mang dáng vẻ của sự tự cho mình là hơn hẳn khi đối diện với ‘sự thật’ về cái chết—một thái độ tự mãn vượt trội đầy ‘âu lo’ nhưng lại có vẻ như chẳng hề lo âu. Trong tâm thế này, tính thường nhật thừa nhận một trạng thái chắc chắn ‘cao hơn’ so với cái trạng thái chỉ thuần túy mang tính thực nghiệm. Người ta biết về tính chắc chắn của cái chết, nhưng lại không thực sự xác tín về cái chết của chính mình. Tính thường nhật sa ngã của Dasein tuy biết rõ cái chết là chắc chắn, nhưng lại né tránh Hữu-thể-chắc-chắn. Nhưng chính hành động này—khi xét đến điều bị né tránh—lại minh chứng hiện tượng là cái chết phải được quan niệm là khả tính riêng biệt nhất của mỗi người: một khả tính không thể chia sẻ với ai khác, không thể vượt qua, và—trên hết—là điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Người ta thường nói: ‘Cái chết chắc chắn sẽ đến, nhưng không phải ngay bây giờ’. Với chữ ‘nhưng’ này, das Man cái ‘họ’ phủ nhận tính chắc chắn của cái chết. Cụm từ ‘không phải ngay bây giờ’ không đơn thuần là một lời phủ định, mà là cách thức cái ‘họ’ tự diễn giải về chính mình. Thông qua cách diễn giải này, cái ‘họ’ hướng sự chú ý vào những gì gần gũi, dễ tiếp cận và phù hợp với mối bận tâm của Dasein. Tính thường nhật lao vào tình trạng cấp bách của những mối bận tâm, đồng thời rũ bỏ gánh nặng của kiểu ‘suy tư thụ động và mệt mỏi về cái chết’. Cái chết bị trì hoãn sang một ‘thời điểm nào đó về sau’, và điều này được thực hiện bằng cách viện dẫn cái gọi là ‘quan điểm chung’. Như vậy, cái ‘họ’ đã che đậy cái đặc thù trong tính chắc chắn của cái chết—điều có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào. Đi đôi với tính chắc chắn của cái chết là trạng thái bất định về ‘khi nào’ nó sẽ đến. Trong đời sống thường nhật, Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết né tránh sự bất định này bằng cách gán cho nó một trạng thái xác định. Tuy nhiên, cách thức này không có nghĩa là tính toán xem khi nào thì cái chết sẽ ập đến. Đối diện với tính xác định như vậy, Dasein thà chọn cách trốn chạy còn hơn. Sự bận tâm thường nhật biến trạng thái bất định của cái chết chắc chắn thành một điều xác định đối với chính nó, bằng cách đặt vào giữa nó và cái chết những vấn đề cấp bách hay những khả tính có thể nắm bắt ngay tức thì—những điều thuộc về các sự việc thường nhật gần gũi nhất với chúng ta. Nhưng khi trạng thái bất định này bị che đậy, thì tính chắc chắn của cái chết cũng bị che đậy theo. Do đó, tính chất cốt lõi nhất của cái chết—với tư cách là một khả tính— là bị che khuất; đó là một khả tính vừa chắc chắn lại vừa bất định, nghĩa là có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào.

Giờ đây, sau khi đã hoàn tất phép Diễn giải cách thức thường nhật mà cái ‘họ’ bàn luận về cái chết cũng như cách thức mà cái chết [tr.303] thâm nhập vào Dasein, chúng ta đã nhận diện được các đặc trưng về tính chắc chắn và tính bất định. Khái niệm mang tính hữu thể-bản thể luận về cái chết giờ đây có thể định nghĩa như sau: cái chết, với tư cách chung cục, là khả tính riêng biệt nhất của chính Dasein—một khả tính phi tương quan, chắc chắn và do đó bất định, và là cái không thể vượt qua. Là chung cục của Dasein, cái chết hiện diện ngay trong chính Hữu thể của hiện hữu này khi nó hướng về cái chung cục của nó. Việc xác định cấu trúc hữu thể của Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục giúp làm sáng tỏ một loại Hữu thể của Dasein, trong đó Dasein—với tư cách là Dasein—có thể trở nên trọn vẹn.

Sự thật là ngay cả Dasein trong đời sống thường nhật cũng đã luôn hướng về cái chung cục của mình—tức là không ngừng đối diện với cái chết, dù là theo một cách thức ‘lẩn tránh’—cho thấy rằng kiểu chung cục này, vốn mang tính dứt khoát và quyết định đối với Hữu-thể-một-chỉnh-thể, không phải là điều mà Dasein rốt cuộc chỉ chạm tới khi lâm chung. Trong Dasein—với tư cách là hiện hữu hướng đến cái chết—đã bao hàm sẵn cái ‘vẫn-chưa’ tột cùng của chính nó; đó là cái ‘vẫn-chưa’ mà mọi cái ‘vẫn-chưa’ khác đều chờ đón nó.5 Do đó, nếu ta đưa ra một Diễn giải không phù hợp về mặt bản thể luận đối với cái ‘vẫn-chưa’ của Dasein—coi nó đơn thuần là một điều gì đó còn dang dở—thì bất kỳ suy luận hình thức nào cho rằng Dasein thiếu đi tổng thể tính dựa trên cách hiểu đó đều sẽ không chính xác. Hiện tượng cái ‘vẫn-chưa’ này được kế thừa từ cái đặc tính ‘vượt-trước-chính-mình’; cũng như cấu trúc-chăm lo nói chung, nó không thể đóng vai trò như một Tòa án cấp trên phán quyết bác bỏ khả tính về một Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện hữu; thực ra, chính cái ‘vượt-trước-chính-mình’ này mới là yếu tố tiên quyết làm cho Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như vậy trở nên khả thể. Vấn đề về cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể khả thể của cái thực thể là mỗi chúng ta, lại chính là một vấn đề xác đáng nếu chăm lo – với tư cách là trạng thái cơ bản của Dasein – luôn ‘kết nối’ với cái chết, tức khả tính tột cùng của thực thể đó. Tuy nhiên, vẫn còn câu hỏi bỏ ngỏ là vấn đề này đã được giải quyết thấu đáo hay chưa. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết luôn có cơ sở ở chăm lo. Dasein, với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới ở trạng thái bị ném vào, luôn bị phó mặc cho cái chết của nó. Khi hiện hữu hướng tới cái chết, Dasein đang chết về phương diện thực tính và liên tục, chừng nào chưa đi đến hồi kết.

Khi nói rằng Dasein đang chết về phương diện thực tính, ta đồng thời khẳng định rằng trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết của mình Dasein luôn tự quyết định bản thân theo cách này hay cách khác. Sự lảng tránh cái chết trong đời sống thường nhật – một dạng thức sa ngã – là một loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết ‘không đích thực’. Song, tính không đích thực lại dựa trên khả năng của tính đích thực.xvi Nhưng tính không đích thực đặc trưng cho một loại Hữu thể mà Dasein có thể hướng mình vào – và phần lớn thời gian là luôn hướng mình vào đó; tuy nhiên, Dasein không nhất thiết và không bắt buộc phải luôn hướng mình vào loại Hữu thể này. Vì Dasein tồn tại, nó tự xác định [tr.304] bản chất của chính mình như là loại hiện hữu mà nó vốn vậy, và nó thực hiện điều đó trong mọi trường hợp dựa trên một khả tính của chính nó và cũng là một khả tính mà nó thấu hiểu.6 Liệu Dasein có thể thấu hiểu một cách đích thực cái khả tính riêng biệt nhất của chính mình – khả tính mang tính phi-quan-hệ, không thể bị vượt qua, chắc chắn nhưng lại bất định về mặt thời điểm – hay không? Nói cách khác, liệu Dasein có thể duy trì bằng thứ Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đích thực của mình? Chừng nào Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực này chưa được trình bày và định nghĩa về bản thể luận, thì phép Diễn giải hữu thể về Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục vẫn còn thiếu một yếu tố cốt lõi. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực biểu thị một khả tính thực hữu cụ thể của Dasein. Cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính ontish thực hữu này, đến lượt nó, phải mang tính khả thể về mặt bản thể luận. Vậy thì những gì là điều kiện hữu thể cho cái khả tính này? Làm thế nào để chính chúng trở nên dễ tiếp cận?

53. Phóng chiếu hữu thể: Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực

Về phương diện thực tính, Dasein thường duy trì bản thân mình—trước hết và phần lớn—bằng một loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không đích thực. Làm thế nào để xác định một cách ‘Khách quan’ cái khả tính bản thể luận của một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực, nếu rốt cuộc Dasein không bao giờ thực sự ứng xử một cách đích thực đối với cái chung cục của chính mình, hoặc nếu—theo đúng ý nghĩa của chính nó—cái Hữu thể đích thực này buộc phải ẩn giấu khỏi những Kẻ Khác? Chẳng phải là một nỗ lực viển vông sao khi phóng chiếu cái khả tính hữu thể của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể existentiell thực hữu cụ thể đầy nghi vấn như vậy? Cần có những gì để phép phóng chiếu này vượt ra khỏi khuôn khổ của một cấu thành võ đoán và thuần túy hư cấu? Liệu chính Dasein có cung cấp cho chúng ta bất kỳ chỉ dẫn nào để thực hiện điều đó không? Và liệu có thể tìm thấy cơ sở cho tính chính đáng mang tính hiện tượng của nó ngay từ chính Dasein hay không? Liệu phép phân tích về Dasein cho đến thời điểm này có thể mang lại những chỉ dẫn nào cho nhiệm vụ bản thể luận vừa đặt ra, để những gì đang hiện diện trước mắt chúng ta có thể được duy trì trên một lộ trình mà chúng ta hoàn toàn chắc chắn?

Quan niệm hữu thể về cái chết đã được thiết lập; và cùng với đó, chúng ta cũng đã xác định được cái mà một Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục đích thực cần phải hướng tới. Chúng ta cũng đã mô tả đặc điểm của Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không đích thực, và qua đó, chúng ta đã xác định—theo hướng phủ định [cấm đoán]—những gì mà Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực không được phép tồn tại. Chính dựa trên những chỉ dẫn mang tính khẳng định và cấm đoán này mà cấu trúc hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực mới có thể được phóng chiếu. Dasein được cấu thành bởi Erschlossenheit/disclosedness trạng thái ‘khai mở’—tức là sự thấu hiểu gắn liền với một Befindlichkeit tâm thế. [Chen ngang: 1. Befindlichkeit theo nghĩa khái quát là tình thế thấy-mình-như-thế-nào [tâm thế], Heidegger dùng khái niệm này để chỉ cách thức mà Dasein hiện hữu người luôn luôn nhận thức và cảm nhận được sự hiện hữu của chính mình trong một hoàn cảnh cụ thể. I) Ý nghĩa cốt lõi của Befindlichkeit bao gồm: i) Tình trạng Geworfenheit/ thrownness bị ném vào thế giới - Befindlichkeit biểu thị thực tế là con người không tự tạo ra chính mình hay tự chọn cách sinh ra; thay vào đó, chúng ta luôn trong trạng thái ‘bị ném vào’ một thế giới, một thời đại và một hoàn cảnh đã có sẵn trước; ii) Vượt qua ranh giới chủ quan - khách quan: Befindlichkeit phá vỡ quan điểm truyền thống chia cắt thế giới thành ‘bên trong tâm trí’ và ‘bên ngoài khách quan’ - Befindlichkeit chỉ ra rằng cảm nhận của ta về thế giới xảy ra ngay từ gốc rễ - thế giới đã có ý nghĩa và tác động đến ta trước khi ta kịp suy lý; iii) Biểu hiện qua tâm trạng Stimmung/ Mood - Trạng thái Befindlichkeit bộc lộ rõ nhất qua các tâm trạng như sự lo âu, nỗi buồn, sự chán nản hay niềm vui. Đối với Heidegger, tâm trạng không phải là một thứ cảm xúc hời hợt bên trong nội tâm, mà là lăng kính bản nguyên giúp thế giới mở ra/ hoặc khép lại -trước mặt chúng ta; iv) Tính đồng bản nguyên Gleichursprünglichkeit Equiprimordiality - Trong cấu trúc hữu thể của con người, Befindlichkeit đứng ngang hàng và gắn bó chặt chẽ với hai yếu tố khác là Sự thấu hiểu Verstehen và Ngôn từ/Diễn ngôn Rede. II) Gleichursprünglichkeit/ Equiprimordiality Tính Đồng bản nguyên: 1) Trong triết học truyền thống, các nhà tư tưởng thường cố gắng tìm ra một nguyên lý tối cao duy nhất để giải thích mọi thứ khác, ví dụ: coi ý thức có trước vật chất, hoặc ngược lại. Tuy nhiên, Heidegger sử dụng thuật ngữ Gleichursprünglichkeit để chỉ ra rằng: i) Một hiện tượng triết học hoặc các cấu trúc hữu thể của Dasein hiện hữu người không cái nào sinh ra từ cái nào; thay vào đó, chúng cùng có trước như nhau, có chung một nguồn gốc cấu trúc và phụ thuộc lẫn nhau một cách không thể tách rời; ii) Heidegger cho rằng Befindlichkeit/Tâm thế và Verstehen/Thấu hiểu là hai cấu trúc đồng bản nguyên: Tôi không thể thấu hiểu điều gì mà không ở trong một tâm trạng hay tình thế nhất định, và ngược lại; chúng xuất hiện cùng nhau và tạo nên cấu trúc toàn vẹn của con người. 2. Gleichursprünglichkeit/ Equiprimordiality / Đồng bản nguyên là một thuật ngữ triết học được tạo ra vào thế kỷ 20 thông qua phương pháp dịch từng phần nhằm diễn đạt một khái niệm cụ thể trong triết học lục địa. Thuật ngữ này được nhà triết học thần học người Scotland John Macquarrie đặt ra vào năm 1960 trong cuốn sách The Scope of Demythologizing Phạm vi Giải huyền thoại. Sau đó Macquarrie và Edward Robinson đã sử dụng từ này để dịch thuật ngữ tiếng Đức gleichursprünglich then chốt được Heidegger sử dụng. Về mặt ngôn ngữ, Macquarrie đã mô phỏng chính xác cấu trúc ghép từ của thuật ngữ tiếng Đức mà Heidegger sử dụng: i) Gleich- bằng nhau / giống nhau, dịch sang tiền tố gốc Latin là Equi-; ii) -ursprünglich bản nguyên/ nguyên thủy / khởi thủy, dịch sang từ gốc Latin là Primordial; iii) -keit hậu tố danh từ tương ứng với đuôi ‘-ty’ trong tiếng Anh, dịch sang hậu tố danh từ trừu tượng là -‘ity’. Gleichursprünglichkeit mô tả hai hoặc nhiều hiện tượng có sự phụ thuộc lẫn nhau và có tính chất nền tảng ngang hàng; nghĩa là không có hiện tượng nào được phái sinh từ hay mang tính nền tảng hơn hiện tượng còn lại. Mặc dù bản thân từ ghép này là sản phẩm của thời hiện đại, nhưng các thành tố cấu thành lại bắt nguồn từ những gốc từ xa xưa trong tiếng Latin và ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy (PIE): Equi- Latin ‘aequus’ là ‘bằng nhau’, ‘ngang bằng’, ‘đều’, bắt nguồn từ gốc từ PIE mang nghĩa là ‘đều’, ‘bằng’, ‘phẳng’; Prim- Latin ‘primus’ nghĩa là ‘đầu tiên’   từ gốc từ PIE là ‘per-‘ nghĩa là hướng về phía trước, xuyên qua, hoặc ở phía trước; -ord- Latin ‘ordiri’ / ‘ordo’ bắt đầu / hàng, cấp , hoặc chuỗi ‘ordiri’ ban đầu có nghĩa là ‘bắt đầu dệt’ - đặt hàng sợi đầu tiên lên khung cửi. Có từ căn từ PIE là ‘ar- mang nghĩa ‘chắp/ghép lại với nhau’ hoặc ‘khớp lại với nhau’, -al Tiếng Latin –alis. hậu tố tính từ mang nghĩa ‘liên quan đến’ được kết hợp với ‘primus’ và ‘ordiri’ trong tiếng Latin muộn để tạo thành từ ‘primordialis’ ‘thuộc về sự khởi đầu’. Đuôi –ité Tiếng Pháp cổ  dịch từ Tiếng Latin –itas, hậu tố danh từ chỉ trạng thái, phẩm chất hoặc điều kiện, được dùng để chuyển đổi tính từ ‘equiprimordial’ đồng bản nguyên - thành khái niệm trừu tượng ‘equiprimordiality’ Trạng thái/tính đồng bản nguyên. Nếu về nguồn gốc từ nguyên xa xưa nhất thì ‘equiprimordiality’ trạng thái/ tính đồng bản nguyên có nghĩa đen là ‘trạng thái dệt những hàng đầu tiên lại với nhau một cách đồng đều/ngang bằng’.-HHN] Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực không thể né tránh khả tính riêng biệt nhất và phi-quan-hệ của chính nó, không thể che đậy khả tính này bằng cách trốn chạy [tr.305] khỏi nó, hay đưa ra một cách giải thích mới để phù hợp với quan niệm thông thường của das Man cái ‘họ’. Do đó, trong sự phóng chiếu hữu thể về một Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đích thực, chúng ta phải trình bày những yếu tố cấu thành nên Hữu thể này như là một sự thấu hiểu về cái chết—và là sự thấu hiểu theo nghĩa Hữu thể hướng tới khả tính này mà không trốn tránh hay che đậy nó.

Trước hết, chúng ta phải xác định Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như là một lối Hữu thể hướng đến một khả tính—thực ra là hướng đến một khả tính đặc thù của chính Dasein. Hữu thể hướng đến một khả tính—tức là hướng tới một điều gì đó có thể xảy ra—có thể mang nghĩa là Aussein auf ‘Hữu thể tìm kiếm’ một điều gì đó khả thể, như khi ta bận tâm đến việc hiện thực hóa nó. Những khả tính như vậy thường xuyên xuất hiện trong phạm vi của những gì sẵn-có-để-dùng và hiện-diện-vô-tri—tức là những gì có thể đạt được, kiểm soát được, thực hiện được, v.v. Trong cái ‘Hữu thể tìm kiếm’ một điều gì đó khả thể, thường có xu hướng triệt tiêu cái khả tính của cái khả thể bằng cách biến nó thành thứ sẵn có cho ta. Nhưng việc hiện thực hóa đầy quan tâm đối với các thiết bị sẵn-có-để-dùng (như sản xuất, chuẩn bị, điều chỉnh lại chúng, v.v.) luôn chỉ mang tính tương đối; bởi lẽ, ngay cả khi đã được hiện thực hóa, chúng vẫn được xác định bởi các mối liên hệ chức năng—thực ra, chính điều này mới đặc trưng hóa được cái Hữu thể của chúng. Dù đã được hiện thực hóa, vật đó—với tư cách là cái hiện thực—vẫn là một cái gì đó có khả năng phục vụ cho một hành động; nó được xác định bởi một mục đích để-làm-gì. Điều mà phân tích của chúng ta cần làm rõ đơn giản là cách thức mà sự bận tâm hướng tới một điều gì đó ứng xử với cái ‘có-thể’: nó không thực hiện điều này bằng cách xem xét lý thuyết-chủ đề về cái có-thể với tư cách có thể, hay chú trọng vào khả tính của nó theo đúng nghĩa, mà thay vào đó, nó hướng cái nhìn bao quát ra khỏi chính cái có thể đó để nhìn vào cái mà nhờ đó nó trở thành das Wofür-möglich cái khả thể-vì-mục-đích-của-cái-mà. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, cụm từ tiếng Đức das Wofür-möglich là cái khả thể-vì-mục-đích-của-cái-mà. Đây là sự kết hợp giữa hai khái niệm cốt lõi của Heidegger: 1). Das Wofür / Das Worum-willen - ‘Cái-vì--mục-đích-của-cái-mà’. Khái niệm này chỉ mục đích, đích đến hoặc vai trò tối hậu định hướng hành động của con người. Ví dụ, một người thợ mộc hành động vì chính vai trò là người thợ mộc của mình. 2). Möglich – ‘có thể’ hoặc ‘khả năng’, đối với Heidegger, khả năng không chỉ là một lựa chọn trừu tượng, mà là một tiềm năng hiện thực và thiết thực để con người có thể chọn lựa phóng chiếu bản thân vào đó. Do đó, ‘Wofür-möglich’ mô tả một khả tính như là mục đích tối hậu hoặc đích đến hữu thể mà Dasein hướng tới và phóng chiếu bản thân vào đó - một cách thức Hữu thể, mang lại ý nghĩa và định hướng cho những gì tôi đang thực hiện ở hiện tại.-HHN]

Rõ ràng là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết  – điều đang được xem xét ở đây – không thể mang tính chất của một Aussein auf ‘Hữu thể tìm kiếm’ bận tâm nhằm hiện thực hóa chính nó. Trước hết, cái chết với tư cách là một khả tính không phải là một khả tính thuộc dạng sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri, mà là một khả tính thuộc về Hữu thể của Dasein. Do đó, việc bận tâm hiện thực hóa cái mang tính khả thể này sẽ đồng nghĩa với việc ‘gây ra cái chết cho chính mình’. Nhưng nếu điều đó được thực hiện, thì Dasein sẽ tự tước bỏ nền tảng cho chính một loại Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đang hiện hữu. Như vậy, nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết không nhắm đến việc ‘hiện thực hóa’ cái chết, thì cũng không thể có nghĩa là chúng ta “chăm chăm nghĩ về cái chung cục trong khả tính của nó”. Đó là cách người ta cư xử khi ‘nghĩ về cái chết’, khi suy ngẫm xem liệu cái khả tính này có thể trở thành hiện thực vào lúc nào và bằng cách nào. Tất nhiên, việc suy tư dai dẳng về cái chết như vậy không hoàn toàn tước bỏ các đặc trưng như một khả tính của nó. Quả thực, người ta luôn suy tư về nó như một điều gì đó sắp xảy ra; nhưng trong sự suy tư đó, ta lại làm suy yếu nó bằng cách tính toán [tr.306] xem làm thế nào để nắm bắt hay kiểm soát được nó. Với tư cách là một cái gì đó khả thể, nó tỏ ra là càng ít khai mở khả tính của mình càng tốt. Mặt khác, nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết phải khai mở cái khả tính mà ta đã mô tả về phương diện thấu hiểu, và nếu nó phải khai mở nó như là một khả tính, thì trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đó, cái khả tính này lại không được làm suy yếu: nó phải được thấu hiểu như một khả tính, nó phải được nuôi dưỡng như một khả tính, và ta phải chấp nhận nó như một khả tính trong cách ta cư xử với nó. Tuy nhiên, Dasein cư xử với một điều gì đó khả thể – ngay trong cái khả tính của nó – bằng cách mong đợi nó. Bất cứ ai chú tâm vào một điều gì đó khả thể đều có thể bắt gặp nó mà không bị cản trở hay suy giảm về cái thực tế là ‘liệu nó có xảy ra hay không, hoặc cho đến rốt cuộc liệu nó có xảy ra hay không’.7 Tuy nhiên, với hiện tượng mong đợi này, chẳng phải phép phân tích của chúng ta đã chạm đến cùng một loại Hữu thể hướng đến cái khả thể mà ta từng lưu ý khi mô tả cái     Aussein auf ‘Hữu thể tìm kiếm một điều gì đó’ theo cách thức đầy quan tâm hay sao? Vorlaufen tiên liệu một điều gì đó khả thể luôn là thấu hiểu nó và ‘có được’ nó xét về việc liệu nó có thực sự hiện-diện-vô-tri hay không, cũng như khi nào và bằng cách nào nó sẽ hiện diện như vậy.

Vorlaufen tiên liệu không chỉ đơn thuần là sự rời mắt khỏi cái khả thể để hướng về sự hiện thực hóa khả thể của nó, nhưng về bản chất, đó là sự chờ đợi sự hiện thực hóa ấy. Ngay cả trong lúc Vorlaufen tiên liệu, người ta cũng ‘nhảy’ khỏi cái khả thể để đặt chân vào cái hiện thực. Điều được ‘tiên liệu’ chính là được ‘tiên liệu’ vì tính hiện thực của nó. Theo chính bản chất của sự ‘tiên liệu’, cái khả thể bị kéo vào cái hiện thực, nảy sinh từ cái hiện thực và quay trở lại với nó.8 Thế nhưng, Hữu thể hướng đến khả tính này — tức là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết — lại đòi hỏi ta phải cư xử với cái chết sao cho, trong chính Hữu thể này và vì nó, cái chết tự bộc lộ như một khả tính. Thuật ngữ của chúng ta cho loại Hữu-thể-hướng-đến-khả-tính này là Vorlaufen ‘tiên liệu’ cái khả tính ấy.9 Tuy nhiên, trong cách hành xử này, chẳng phải có sự tiến lại gần cái khả thể hay sao? Và khi ta ở gần cái khả thể, chẳng phải sự hiện thực hóa của nó sẽ xuất hiện hay sao? Dẫu vậy, với loại tiến lại gần này, người ta không hướng tới việc rất mực quan tâm tạo ra thứ hiện thực có sẵn; thay vào đó, khi ta tiến lại gần hơn bằng sự thấu hiểu, thì cái khả tính của cái khả thể ấy lại trở nên ‘lớn lao’ hơn.

Trạng thái gần gũi nhất mà ta có thể đạt được trong Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết như một khả tính, lại là trạng thái xa cách nhất so với bất kỳ điều gì [tr.307] hiện thực. Cái khả tính này càng được thấu hiểu một cách tường minh, thì sự thấu hiểu càng thâm nhập thuần khiết vào nó như là cái khả tính về cái bất khả tính của bất kỳ sự tồn tại nào. Cái chết, với tư cách là một khả tính, không mang lại cho Dasein bất cứ điều gì để được ‘hiện thực hóa’, cũng không mang lại bất cứ điều gì mà Dasein — với tư cách hiện thực — có thể tự mình trở thành. Đó là cái khả tính của cái bất khả tính của mọi cách thức tự ứng xử đối với bất cứ điều gì, của mọi cách thức tồn tại. Khi ta Vorlaufen ‘tiên liệu’ cái khả tính ấy, nó trở nên ‘ngày càng lớn lao hơn’; nghĩa là, khả tính ấy tự bộc lộ như một điều không có bất kỳ thước đo nào—không có chuyện nhiều hay ít—mà biểu thị cái khả tính về cái bất khả tính vô biên của tồn tại. Theo bản chất của mình, cái khả tính này không cung cấp điểm tựa nào để ta dồn tâm trí vào một điều gì đó, hay để ta 'hình dung' về cái hiện thực tính vốn là khả thể, và do đó quên đi chính cái khả tính của nó. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết, với tư cách là Vorlaufen tiên liệu về khả tính, lại chính là điều đầu tiên làm cho cái khả tính này trở nên khả thể, đồng thời giải phóng nó với tư cách khả tính. Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết là Vorlaufen việc tiên liệu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể của cái thực thể mà loại Hữu thể của nó chính là Vorlaufen tiên liệu.10 Trong sự bộc lộ mang tính tiên liệu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể này, Dasein tự khai mở với chính mình về cái khả tính tột cùng của mình. Tuy nhiên, việc phóng chiếu bản thân vào cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính mình đồng nghĩa với việc có thể thấu hiểu bản thân trong cái Hữu thể của hiện hữu được bộc lộ như vậy—tức là, tồn tại. Vorlaufen việc tiên liệu hóa ra lại chính là cái khả tính thấu hiểu tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất và tột cùng của chính mình—nghĩa là, cái khả tính của tồn tại đích thực. Cấu thành bản thể luận của việc tồn tại như vậy cần được làm sáng tỏ bằng cách trình bày cấu trúc cụ thể của việc tiên liệu về cái chết.     

Làm thế nào để chúng ta xác định cấu trúc này về phương diện hiện tượng? Rõ ràng, ta phải thực hiện điều đó bằng cách xác định những đặc tính cần thiết của một sự khai mở mang tính tiên liệu, để nó có thể trở thành sự thấu hiểu thuần túy về khả tính riêng biệt nhất đó—một khả tính không mang tính tương quan, không thể bị vượt qua, vốn chắc chắn nhưng lại bất định về thời điểm. Cần lưu ý rằng thấu hiểu không chủ yếu có nghĩa là chỉ nhìn ngắm một ý nghĩa, mà đúng hơn là thấu hiểu bản thân trong tiềm-năng-cho-Hữu-thể vẫn tự bộc lộ qua phóng chiếu.xvii Cái chết là khả tính riêng biệt nhất của Dasein. Hữu thể hướng đến khả tính này khai mở cho Dasein thấy tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính nó, nơi mà chính Hữu thể của nó là điều cốt yếu. Ở đây, Dasein có thể nhận thấy rõ ràng rằng trong cái khả tính đặc thù này của chính bản thân mình, nó đã tách mình ra khỏi das Man cái ‘họ’. Thế có nghĩa là trong tiên liệu, bất kỳ Dasein nào cũng có thể tách mình ra khỏi cái ‘họ’ trước. Tuy nhiên, đây là điều mà Dasein ‘có thể’ đã thực hiện, và điều đó chỉ bộc lộ tình trạng lạc lối thực tế của nó trong tính thường nhật của bản-ngã-cái-họ.

[Tr.308] Cái khả tính riêng biệt nhất luôn mang tính phi-tương-quan. Vorlaufen việc tiên liệu cho phép Dasein thấu hiểu rằng tiềm-năng-cho-hiện-hữu—nơi mà Hữu thể riêng biệt nhất của chính nó là điều cốt yếu—phải được đảm nhận bởi riêng Dasein mà thôi. Cái chết không chỉ ‘thuộc về’ Dasein của một ai đó theo một cách thức chung chung, không phân biệt; cái chết đòi hỏi nó với tư cách là một Dasein cá thể. Tính chất phi-quan-hệ của cái chết, khi được thấu hiểu trong tiên liệu, luôn cá nhân hóa Dasein về lại với chính nó. Động thái cá nhân hóa này là một cách thức mà qua đó cái ‘có đó’ được khai mở cho tồn tại. Nó làm hiển hiện thứ mà mọi Hữu-thể-bên-cạnh các sự vật mà ta quan tâm, và mọi Hữu-thể-với Kẻ Khác, đều sẽ không còn giá trị khi vấn đề cốt yếu là tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của chính ta. Dasein chỉ có thể thực sự là chính mình nếu nó tự mình làm cho điều đó trở nên khả thể. Tuy nhiên, việc quan tâm và thái độ ân cần không còn giá trị thì điều đó lại không hề có nghĩa là các cách thức này của Dasein bị cắt đứt khỏi cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-chính-nó một cách đích thực. Với tư cách là những cấu trúc thiết yếu đối với sự cấu thành của Dasein, các cấu trúc này góp phần quy định cái khả tính của bất kỳ sự tồn tại nào. Dasein chỉ thực sự là chính mình khi—với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh rất mực quan tâm và Hữu-thể-với đầy ân cần—nó phóng chiếu chính mình vào tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của mình thay vì vào cái khả tính của Tự-ngã-cái-họ. Hiện hữu nào tiên liệu cái khả tính phi-quan-hệ của chính mình thì, chính nhờ sự tiên liệu đó, bị buộc phải bước vào cái khả tính tự mình tiếp nhận cái Hữu thể riêng biệt nhất của mình, và thực hiện điều đó bằng chính ý chí của mình.

Cái khả tính phi-quan-hệ, riêng biệt nhất này là điều không thể vượt qua hay né tránh được. Hữu thể hướng về khả tính này cho phép Dasein thấu hiểu rằng sự từ bỏ chính mình đang chờ đợi nó như là khả tính tột cùng tồn tại của nó. Tuy nhiên, Vorlaufen việc tiên liệu—khác với lối Hữu-thể-hướng-đên-cái-chết không đích thực—không né tránh sự thật là cái chết là điều không thể vượt qua; thay vào đó, việc tiên liệu giải phóng chính nó để chấp nhận điều này. Khi, nhờ tiên liệu, để được tự do đối với cái chết của chính mình, kẻ đó thoát khỏi tình trạng lạc lối trong những khả tính có thể tình cờ ập đến với mình; và sự giải phóng này diễn ra theo cách mà lần đầu tiên, người đó có thể thấu hiểu và lựa chọn một cách đích thực giữa các khả tính hiện thực nằm phía trước cái khả tính không thể vượt qua kia.11    

Vorlaufen việc tiên liệu khai mở cho sự hiện hữu cái mà khả tính tột cùng của nó nằm ở việc từ bỏ chính mình, và do đó, nó phá vỡ mọi sự bám víu ngoan cố vào bất kỳ tồn tại nào mà ta đã đạt tới. Trong tiên liệu, Dasein tự bảo vệ mình khỏi việc tụt lại phía sau chính mình, hoặc tụt lại phía sau tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà nó đã thấu hiểu. Nó tự bảo vệ mình khỏi việc ‘trở nên quá già cỗi cho những chiến thắng của chính mình’ (Nietzsche). Được tự do hướng tới những khả tính cốt yếu nhất của bản thân—những khả tính được quy định bởi cái chung cục và do đó được hiểu là có giới hạn—Dasein xua tan cái nguy cơ là do sự hiểu biết có giới hạn về tồn tại, nó có thể không nhận ra mình đang bị vượt qua bởi các khả tính tồn tại của những Kẻ Khác, hoặc đúng hơn là nó có thể diễn giải sai lệch các khả tính này và [tr.309] quy chúng về lại với chính mình, để rồi từ đó chối bỏ tồn tại thực tính cốt yếu nhất của bản thân. Với tư cách là khả tính phi-quan-hệ, cái chết cá nhân hóa—nhưng theo cách thức mà, với tư cách là khả tính không thể bị vượt qua, nó khiến Dasein—với tư cách là Hữu-thể-với—có được sự thấu hiểu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể của những Kẻ Khác. Vì việc tiên liệu về cái khả tính vốn không được vượt qua này cũng đồng thời khai mở mọi khả tính nằm phía sau cái khả tín đó, nên sự tiên liệu này bao hàm cả cái khả tính nắm bắt toàn bộ Dasein từ trước theo một phương thức thực hữu cụ thể; nghĩa là, nó bao hàm cái khả tính của tồn tại với tư cách là một chỉnh thê tiềm-năng-cho-Hữu-thể. Cái khả tính riêng biệt, phi-quan-hệ và không thể bị vượt qua này là điều chắc chắn. Cách thức để xác tín về nó được quy định bởi chân lý tương ứng với nó (tính khai mở). Tuy nhiên, khả tính chắc chắn về cái chết lại khai mở Dasein như một khả tính, nhưng chỉ khi tiên liệu khả tính này, Dasein mới làm cho khả tính ấy trở nên khả thể cho chính mình như là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của bản thân nó.12

________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…man stirbt aucb einmal, aber vorlaufig noch nicht.’ [p.299]

2 'Eines Seienden gewiss-sein besagt : es als wahres ftir wahr Halten.' Các phiên bản trước có 'Gewisssein' thay vì 'gewiss-sein'. Bản dịch theo nghĩa đen nhưng khá đơn điệu của chúng tôi đối với cụm từ 'ftir wahr Halten' có vẻ đáng mong đợi khi xét đến việc Heidegger sử dụng rộng rãi động từ 'halten' ('giữ') trong các đoạn tiếp theo nơi cụm từ này xuất hiện, mặc dù điều này bị che khuất bởi cách dịch 'halten sich in...' của chúng tôi là 'duy trì chính nó trong...' và 'halten sich an…như bám vào…hoặc hút vào…'[p.300]

3 ‘In ihr lässt sich das Dasein einzig durch das Zeugnis der entdeckten (wahre) Sache selbst sein verstehendes Sein zu dieer bestimmen.’ Mối liên hệ giữa ‘Überzeugung’ (‘sự kết án’) và ‘Zeugnis’ (lời chứng) bị che khuất trong bản dịch của chúng tôi. [tr.300]

4 ‘Man sagt: es ist gewiss, dass ‘der’ Tod kommt.’ [tr.301]

5 ‘…dem aile anderen vorgelagert sind. …Mệnh đề này không rõ ràng, cả trong tiếng Đức lẫn bản dịch của chúng tôi, mặc dù ý nghĩa khá rõ ràng. Cái 'chưa' cuối cùng không phải là cái mà tất cả những người khác 'đi trước' theo nghĩa là họ nằm ngoài nó hoặc theo sau nó; vì không có gì có thể 'đi trước nó' theo nghĩa này. Nhưng chúng có thể “đi trước nó” theo nghĩa là chúng có thể được hiện thực hóa trước khi cái “chưa” cuối cùng được hiện thực hóa. (Đối chiếu đoạn văn này với H. 302, trong đó phân từ tương tự 'vorgelagert' rõ ràng được áp dụng theo nghĩa trước cho chính cái chết.) [tr.303]

6 ‘Weil das Dasein Exiert, bestimmt es sich als Seiendes, wie es ist, je aus einer Möglichkeit, die es selbst ist und versteht.’ [p.304]

7 'Fur ein Gespanntsein auf es vermag ein Mögliches in seinem "ob oder nicht oder schliesslich doch" ungehindert und ungeschmalert zu begegnen.' [tr.306]

8 'Auch im Erwarten liegt ein Abspringen vom Moglichen und Fussfassen im Wirklichen, dafiir das Erwartete erwartet ist. Vom Wirklichen aus und auf es zu wird das Mögliche in das Wirkliche erwartungsmassig hereingezogen.' [tr.306]

9 ‘…Vorlaufen in die Möglichkeit.’ Trong khi chúng tôi sử dụng 'precipate' để dịch 'vorgreifen', điều này hiếm khi xảy ra, chúng tôi cũng sẽ sử dụng nó - ít theo nghĩa đen hơn - để dịch 'vorlaufen', xuất hiện rất thường xuyên trong các trang tiếp theo, và có ý nghĩa đặc biệt là 'chạy về phía trước'. Nhưng như nhận xét của Heidegger đã chỉ ra, loại ‘dự đoán’ liên quan đến Hữu thể hướng tới cái chết, không bao gồm việc ‘chờ đợi’ cái chết hay ‘sống trong nó’ hay hiện thực hóa’ nó trước khi nó thường đến; cũng như việc 'chạy thẳng vào nó' theo nghĩa này cũng không có nghĩa là chúng ta 'lao đầu vào đó'. [tr.306]

10 ‘… dessen Seinsart das Vorlaufen selbst ist.' Các phiên bản trước có 'hat' thay vì 'ist'. [tr.307]

11 ‘…die der unüberholbaren vorgelagert sind.' Xem chú thích 1, tr. gog, H. 259 ở trên. [tr.308]

12 ‘Die gewisse Möglichkeit des Todes erschliesst das Dasein aber

als Möglichkeit nur so, dass es vorlaufend zu ihr diese Möglichkeit als eigenstes Seinkönnen für sich ermöglicht.’ Trong khi chúng tôi lấy 'Die gewisse Möglichkeit des Todes' làm chủ ngữ của câu khó hiểu này, thì 'das Dasein' có thể là chủ ngữ thay thế. Việc sử dụng giới từ 'zu' thay vì 'in' thông thường sau 'vorlaufend' gợi ý rằng khi đoán trước khả năng xảy ra cái chết, Dasein ở đây được coi là 'chạy trước' về phía nó hoặc hướng tới nó hơn là vào trong nó. Khi cấu trúc này xuất hiện trong những đoạn văn sau, chúng ta sẽ biểu thị nó bằng cách nối phụ ‘zu’ trong ngoặc. [tr.309]


 

 

 

 

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Phân tích Sinh tồn luận về Sự sống Vô tận (II)

Tôn Hướng Thần

Người đọc: Hà Hữu Nga

Dấu hiệu cơ bản nhất của đạo đức là 利群 ‘lợi quần’ lợi ích chung’, vượt lên trên lợi ích ‘cá nhân’. Trong truyền thống văn hóa phương Tây, việc vượt qua tính 自我中心 tự ngã trung tâm ích kỷ đòi hỏi ‘phải có sự đảm bảo về sự sống vĩnh hằng của Thượng đế như một trung giới. Chúa Giê Su nói rằng Ngươi hãy hết lòng, hết linh-hồn, hết ý mà yêu-mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều-răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều-răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân-cận như chính mình. [Ma-thi-ơ 22:37-40 VIE1925, Kinh Thánh Tiếng Việt 1925.-HHN] Đó là tóm tắt cơ bản của Chúa Giê Su về Luật Môi Se. Trung Quốc cổ đại cũng có ý niệm của phái Mặc Gia về 兼愛: ‘愛人若愛其身’ ‘kiêm ái’ ‘ái nhân nhược ái kì thân’ ‘tình yêu thương rộng lớn’, trong đó ‘yêu thương người như yêu thương chính mình’ thực tế là bản dịch trực tiếp của ‘愛鄰如己’ ‘ái lân như kỉ’ ‘yêu thương người lân cận như chính mình’. Tuy nhiên, truyền thống tư tưởng này đã không tồn tại trong văn hóa Trung Quốc. Tại sao? Người Trung Quốc không biết ‘愛鄰如己’ ‘ái lân như kỉ’ ‘yêu thương người lân cận như chính mình’ là tốt sao? Nếu họ biết điều đó là tốt, tại sao nó lại bị Nho giáo tấn công dữ dội như vậy? Nếu họ biết điều đó là tốt, tại sao nó lại không tồn tại ở Trung Quốc? Nếu so sánh với Cơ Đốc giáo, khái niệm ‘yêu thương người lân cận như chính mình’ của Cơ Đốc giáo mang một điều răn lớn hơn: 愛上帝 ‘Ái Thượng đế’ ‘yêu mến Đức Chúa Trời’. Nhiều nhà thần học đã chỉ ra rằng nhân loại thể hiện tình yêu thương Đức Chúa Trời thông qua việc yêu thương người lân cận; nghĩa là, đạt được hiệu quả đạo đức của việc yêu thương người lân cận vượt lên trên nhu cầu và lợi ích ích kỷ đòi hỏi Đức Chúa Trời là điều kiện tiên quyết, và sự bảo đảm về sự sống đời đời của Đức Chúa Trời là điều kiện tiên quyết. Quan niệm 兼愛 kiêm ái ‘tình yêu phổ quát’ của Mặc Gia rõ ràng đã thất bại trong việc đạt được sự bảo đảm của ‘Chúa Trời’. Triết học đạo đức của Kant tìm cách thiết lập ‘tính tự chủ’ trong chính nó, nhưng sự viên mãn tối thượng của đức hạnh vẫn đòi hỏi sự thiết lập một đấng Chúa Trời lý tưởng. Tình yêu của tôi dành cho kẻ khác cũng là tình yêu của tôi dành cho Chúa. Ở đây, sự bảo đảm của cuộc sống vĩnh hằng vẫn là điểm khởi đầu cơ bản khi đối diện với ‘Kẻ Khác’. Để duy trì cuộc sống vĩnh hằng, người ta phải tin vào Chúa, và Chúa đòi hỏi tôi phải yêu thương người lân cận như chính mình. Đây là 生存論機制 sinh tồn luận cơ chế - cơ chế sinh tồn luận của đạo đức trong truyền thống Kitô giáo: trong cuộc sống vĩnh hằng của ‘cá nhân’, với Chúa là điều kiện tiên quyết, vượt lên trên bản ngã và đạt được đạo đức.

Không giống ‘愛鄰如己’ ‘ái lân như kỉ’ ‘yêu thương người lân cận như chính mình’ của Ki Tô giáo, và cũng không giống như 兼愛 kiêm ái - tình yêu phổ quát của Mặc gia, trong bối cảnh sinh tồn luận của ‘sự sống liên tục’ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, đức hạnh lớn nhất của trời đất là ‘sự sống’. Do đó, tồn tại của sự sống chủ yếu thể hiện lòng biết ơn đối với sự ra đời của chính mình, và khái niệm 孝 ‘hiếu’ bắt nguồn từ điều này giữ vị trí nền tảng trong đời sống đạo đức của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Trong quá khứ, khi bàn về ‘hiếu’, người ta thường quá cứng nhắc tuân theo những tập quán lịch sử cụ thể - tức là những hình thức và biểu hiện được thể chế hóa của giá trị cốt lõi này vào thời điểm đó, chẳng hạn như các quy định về sinh nở, chôn cất, cúng tế và thời kỳ để tang. Về cơ bản, đức ‘hiếu’ của con cái đối với cha mẹ thể hiện lòng biết ơn đối với cuộc đản sinh của sự sống, trở về để được phụng dưỡng cha mẹ, và sự tôn kính đối với đức hạnh cao cả của việc 生生大德敬拜 sinh sinh đại đức kính bái - ban sự sống giữa trời và đất. Khái niệm ‘hiếu’ có một nền tảng sinh tồn luận sâu sắc, và thông qua cơ chế của nó, nó vượt lên trên tính ích kỷ cá nhân, cho phép người ta vượt lên chính mình và yêu thương những người thân yêu nhất - cha mẹ - thông qua lòng biết ơn đối với sự sống. Có câu nói trong dân gian rằng, 百善孝為先 ‘Bách thiện hiếu vi tiên’ ‘Trong tất cả các đức tính, hiếu thảo là quan trọng nhất.’ Max Weber cũng hoàn toàn nhận ra điều này, khẳng định rằng trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, 孝是所有其他德性的源頭 “Hiếu thị sở hữu kì tha đức tính đích nguyên đầu” ‘Hiếu thảo là nguồn gốc của mọi đức hạnh khác’, đây là bản dịch câu nói của Tăng Tử 孝,德之始 ‘hiếu, đức chi thủy’ ‘hiếu thảo là khởi đầu của đức hạnh’. Hiếu thảo là điểm khởi đầu và nền tảng của đạo đức trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Hệ thống đạo đức truyền thống, tập trung vào lòng 仁愛 nhân ái, là sự nâng cao và mở rộng nền tảng sinh tồn luận của hiếu thảo. Dựa trên hiếu thảo và 孝悌 huynh đệ tình cảm anh em, Khổng Tử đã phát triển khái niệm nhân ái, một biểu hiện rộng hơn và triết lý hơn so với chỉ đơn thuần là 親親 thân thân  ‘yêu thương cha mẹ’ hay lòng hiếu thảo. Tuy nhiên, cốt lõi của hệ thống nhân ái do Khổng Tử tạo ra vẫn là hiếu thảo và tình huynh đệ. Do đó, Hữu Tử đã thấu hiểu sâu sắc bản chất tư tưởng nhân ái của Khổng Tử như sau: 孝弟也者,其為仁之本也 Hiếu đễ dã giả, kì vi nhân chi bản dã ‘Hiếu thảo và tình huynh đệ là nền tảng của nhân ái’. Mạnh Tử đã diễn đạt điều này rõ ràng hơn, tin bằng 仁義禮智 ‘nhân, nghĩa, lễ và trí’ đều liên quan đến hiếu thảo:「仁之實,事親是也。義之實,從兄是也。智之實,知斯二者弗去是也。禮之實,節文斯二者是也。」‘Nhân chi thật, sự thân thị dã. Nghĩa chi thật, tòng huynh thị dã. Trí chi thật, tri tư nhị giả phất khứ thị dã. Lễ chi thật, tiết văn tư nhị giả thị dã.’ “Cái thật của Nhân là phụng dưỡng cha mẹ. Cái thật của Nghĩa là vâng lời huynh trưởng. Cái thật của Trí là biết hai điều này và không bỏ bê chúng. Cái thật của Lễ là điều chỉnh và thể hiện hai điều này.” Ngay cả trong thời hiện đại, Lương Khải Siêu cũng đã dùng hiếu thảo để minh họa mối quan hệ giữa nhân quần.

‘Nhân ái’ [Benevolence] cũng là một khái niệm quan trọng trong triết học đạo đức phương Tây hiện đại. Khi con người dần từ bỏ việc tìm kiếm nền tảng đạo đức ở Chúa Trời và chuyển sang cuộc sống hữu hạn của ‘cá nhân’, khái niệm ‘nhân ái’ đã xuất hiện. Nhiều triết gia, như Hume, Rousseau và Adam Smith, đã thảo luận về khái niệm này; họ còn viện dẫn ‘lòng thương cảm’ làm cơ sở của ‘nhân’ và sử dụng nó để hiểu cách vượt qua vấn đề về bản ngã. Tuy nhiên, họ cũng nhận thấy rằng ‘lòng thương cảm’ hay ‘nhân’ của con người có những ưu tiên nhất định; tức là, con người luôn yêu thương những người thân thiết trước tiên, sau đó là những người quen biết, và tình yêu dành cho người lạ yếu hơn. Đây là điều mà Nho giáo gọi là 愛有等差 ái hữu đẳng sai ‘tình yêu phân biệt’. Đây là một thực tế sinh tồn luận, và cả các nhà triết học phương Đông và phương Tây đều nhận thấy hiện tượng ‘tình yêu phân biệt’ này, đó là lý do tại sao Nho giáo bác bỏ ‘tình yêu phổ quát’. Tuy nhiên, tồn tại của một xã hội đòi hỏi sự gắn kết cơ bản và một hệ thống giá trị của tình yêu phổ quát đối với tất cả chúng sinh. Các nhà triết học phương Đông và phương Tây có những giải pháp hoàn toàn khác nhau cho vấn đề này. Hume, nhận thấy những hạn chế của ‘lòng nhân ái’ do sự thiên vị và bất bình đẳng của nó, đặc biệt là tính hạn hẹp trong bối cảnh xã hội rộng lớn hơn, đã đề xuất khái niệm Artificial Virtues - 人為的德 ‘nhân vi đích đức’ ‘đức hạnh Nhân tạo’ [phân biệt với 自然的德 ‘tự nhiên đích đức’ ‘đức hạnh Tự nhiên’]. Ông sử dụng ý tưởng về công lý, dựa trên tiền đề bình đẳng cho tất cả mọi người, như một phương thuốc để khắc phục những thiếu sót của lòng nhân ái. Cách tiếp cận này, theo một nghĩa nào đó, vượt ra ngoài phạm vi đạo đức và luân lý, đi vào lĩnh vực chính trị và pháp luật. [Chen ngang: Lòng nhân ái 仁爱 không bị David Hume, Jean-Jacques Rousseau hay Adam Smith hoàn toàn bác bỏ hay coi là một khái niệm ‘đối lập’, song cả ba triết gia này đều đặt ra những giới hạn thực tế nghiêm ngặt đối với nó, với lập luận rằng lòng nhân ái thuần túy hoặc không giới hạn tự thân nó không thể duy trì xã hội loài người. 1) Quan điểm của David Hume về lòng nhân ái: i) Natural Sentiment Tình cảm tự nhiên - David Hume tin rằng con người sở hữu một tia sáng tự nhiên—dù nhỏ bé—của lòng nhân ái và sự tử tế đối với người khác; ii) Limits of Partiality - Giới hạn của sự thiên vị - Hume lập luận rằng những tình cảm nhân ái của chúng ta vốn dĩ mang tính thiên vị—chúng ta quan tâm đến gia đình và bạn bè nhiều hơn là người lạ; iii) Justice over Benevolence - Công lý quan trọng hơn lòng nhân ái: Vì lòng nhân ái tự nhiên quá hạn hẹp để điều hành một cộng đồng lớn, Hume cho rằng công lý - được thúc đẩy bởi lợi ích công cộng và các quy tắc - mới là trụ cột nền tảng thực sự gắn kết xã hội. 2) Quan điểm của Jean-Jacques Rousseau về Compassion et pitié Compassion et Pitié lòng trắc ẩn và sự thương cảm: i) Pitié - Thương cảm tự nhiên - Rousseau lập luận rằng con người trong trạng thái tự nhiên sở hữu một cảm giác bẩm sinh—có trước lý trí—về thương cảm hoặc lòng trắc ẩn đối với nỗi đau khổ của người khác; ii) La corruption de la société Tình trạng Mục ruỗng của Xã hội: Rousseau tin rằng nền văn minh, thói hư vinh do cạnh tranh và triết học duy lý (amour-propre) đã làm xói mòn khả năng yêu thương và sự tôn trọng lẫn nhau vốn có này; iii) Point de vue anti-philosophique Quan điểm phản triết học: Theo Rousseau, lối tư duy trí tuệ lạnh lùng và sự tinh vi hiện đại khiến con người trở nên thờ ơ với người khác, dẫn đến thái độ đối với một người đang đau khổ rằng: ‘Péris si tu veux, moi, je suis en sécurité’ ‘Cứ chết đi nếu muốn, miễn là tôi vẫn an toàn.’ 3) Quan điểm của Adam Smith về vai trò của lòng nhân ái: i) The ‘Butcher’ Passage - Đoạn văn về ‘gã Đồ tể’: Adam Smith đã có câu nói nổi tiếng trong tác phẩm The Wealth of Nations - Thịnh vượng của các Dân tộc, cho rằng trao đổi thương mại dựa trên lợi ích cá nhân thay vì lòng tốt: ‘Không phải nhờ lòng nhân ái của gã bán thịt, người nấu bia hay người làm bánh mà chúng ta có bữa tối, mà là nhờ họ quan tâm đến lợi ích của chính họ.’; ii) Critique of Utopian Kindness - Phê phán lòng tốt kiểu không tưởng: Smith chỉ trích người thầy của mình là Francis Hutcheson vì đã quá chú trọng vào lòng nhân ái thuần túy như là động cơ duy nhất cho đức hạnh, coi đó là điều phi thực tế đối với bản chất con người; iii) Justice as the Pillar - Công lý là trụ cột: Trong tác phẩm The Theory of Moral Sentiments - Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức, Smith mô tả lòng nhân ái như một ‘vật trang trí’ đầy tao nhã của một tòa nhà, trong khi công lý là trụ cột kết cấu chính giúp ngăn xã hội sụp đổ. -HHN]

Trái ngược với việc Hume sử dụng ‘công lý’ để khắc phục sự bất bình đẳng và hạn chế của ‘lòng nhân ái’, văn hóa truyền thống Trung Quốc nhấn mạnh việc phát triển lòng nhân ái từ lòng hiếu thảo nguyên thủy nhất, cuối cùng dẫn đến quan niệm rằng 仁者以天地萬物為一體 nhân giả dĩ thiên địa vạn vật vi nhất thể ‘người có lòng nhân coi trời đất và vạn vật là một’. Hiếu thảo là bước đầu tiên để hiện thực hóa lòng nhân ái; thông qua việc thực hành ‘mở rộng tình cảm của mình cho người khác’, tình yêu này được mở rộng thông qua giáo dục, cuối cùng đạt đến tình yêu thương phổ quát dành cho toàn nhân loại. Như ông Du Anh Thời từng nói: “Xét về giá trị văn hóa, cả Trung Quốc và phương Tây đều có những nguyên tắc phổ quát cao nhất áp dụng cho mọi cá nhân. Ở phương Tây, điều này có thể được thể hiện bằng ‘công lý’, trong khi ở Trung Quốc nó được thể hiện bằng khái niệm ‘nhân ái’”. Trên thực tế, nguồn gốc của sự khác biệt giữa ‘công lý’ và ‘nhân ái’ ở Trung Quốc và phương Tây nằm ở một hiện tượng tồn tại chung: tình yêu có nhiều cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, họ đã chọn những con đường khác nhau để giải quyết vấn đề này. Ở phương Tây, khái niệm bình đẳng cho tất cả được sử dụng để giải quyết vấn đề khác biệt về ‘lòng nhân ái’ thông qua sự tính toán của con người, chẳng hạn như công bằng trao đổi và công bằng phân phối, từ đó nhấn mạnh vai trò của ‘pháp luật’. Ngược lại, truyền thống văn hóa Trung Quốc nhấn mạnh lòng nhân ái, bắt đầu từ nguyên tắc ‘hiếu thảo ở nhà, yêu thương người khác’, sử dụng phương pháp ‘mở rộng lòng nhân ái’ để vượt qua những hạn chế và khác biệt ban đầu về ‘nhân ái’. Chính vì ‘nguồn gốc’ này mà điểm khởi đầu của việc mở rộng tình cảm của mình đến người khác được tìm thấy, cho phép người ta ‘kính trọng người già như cha mẹ, chăm sóc người trẻ như con cái’. ‘Mở rộng’ là một khái niệm quan trọng trong Nho giáo. Làm thế nào để ‘mở rộng’ hơn nữa điều này không phải thông qua ‘công lý’ pháp luật, mà chủ yếu thông qua ‘giáo dục’. Như vậy, Hiếu Kinh có viết: 教以孝,所以敬天下之為父者;教以悌,所以敬天下之為兄者 “Giáo dĩ hiếu, sở dĩ kính thiên hạ chi vi phụ giả; giáo dĩ đễ, sở dĩ kính thiên hạ chi vi huynh giả” “Dạy hiếu thảo để muôn người cha trên đời đều kính trọng; dạy yêu thương anh em để muôn người anh em trên đời đều kính trọng.” Rõ ràng, ‘hiếu’ dựa trên nền tảng sinh tồn luận của ‘dòng đời liên tục’, không chỉ đơn thuần là lòng biết ơn và yêu thương cha mẹ, mà là một cơ chế đạo đức cơ bản. Thông qua hiệu quả giáo dục của sức ‘lan tỏa’, nó hình thành một ý thức đạo đức phổ quát về việc yêu thương muôn người và coi vạn vật như anh em. Cấu trúc phát triển đạo đức này hoàn toàn phù hợp với sự hiểu biết về dòng sống liên tục. Theo Giáo sư Trần Lai, Chu Hi cuối cùng đã nhận ra rằng 仁即生生之體 ‘nhân tức sinh sinh chi thể’ ‘Lòng nhân là bản chất của dòng đời liên tục’.

Cái cấu trúc sinh tồn luận của 生生不息 sinh sinh bất tức ‘dòng đời liên tục’ này cũng có tác động sâu sắc đến chính trị. Các cuộc tranh luận gần đây trong giới học thuật trong nước về 親親相隱 thân thân tương ẩn ‘người thân che giấu lỗi lầm của nhau’ phản ánh đầy đủ điều này. Liệu khái niệm ‘quan hệ họ hàng’ dựa trên cấu trúc sinh tồn luận của ‘dòng đời liên tục’ có mâu thuẫn với chính trị hiện đại? Liệu nó có lệch lạc so với lý tưởng công dân hiện đại? Trước tiên, chúng ta hãy xem xét bối cảnh chính trị hiện đại. Trong triết học chính trị hiện đại do Hobbes thiết lập, cá nhân có ý nghĩa tối thượng. Để bảo vệ sự sống và tránh cái chết bạo lực trong các cuộc xung đột về tự do cá nhân, các cá nhân quyết định từ bỏ một số quyền tự nhiên của mình và thiết lập một nhà nước thông qua một khế ước để đạt được mục tiêu bảo vệ cá nhân. Do đó, nhà nước về cơ bản được thiết lập để bảo vệ cá nhân. Logic ngầm trong cơ chế ‘phục tùng-bảo vệ’ là bảo vệ ‘sự sống cá nhân’. Vì vậy, Hobbes kết luận rằng trong các tòa án của nhà nước, ‘cá nhân’ không có nghĩa vụ phải tự phơi bày mà có quyền giữ im lặng. Đây là cơ sở triết học cho quyền giữ im lặng của bị cáo tại tòa án theo luật pháp phương Tây. Trên thực tế, vấn đề này liên quan trực tiếp đến nguyên tắc ‘các thành viên trong gia đình che giấu hành vi sai trái của nhau’, và việc giữ im lặng có thể được hiểu là một hình thức ‘tự che giấu’. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, 父子天倫 ‘phụ tử thiên luân’ ‘quan hệ cha con’ thực sự là một nền tảng quan trọng của giáo dục đạo đức, và Khổng Tử đã đặc biệt thiết kế một cơ chế ‘che giấu’ rất khéo léo để đối phó với những thách thức của những tình huống cực đoan như vậy trong tòa án. Theo lập luận truyền thống, người ta chắc chắn có thể viện dẫn nhiều lý do và văn bản kinh điển để biện minh cho việc ‘các thành viên trong gia đình che giấu hành vi sai trái của nhau’. Ở đây, chúng ta hiểu vấn đề này từ một góc nhìn mới. Nếu chúng ta định nghĩa đơn vị cơ bản của cuộc sống không chỉ đơn thuần là ‘cá nhân’, mà là ‘sự tiếp nối của cuộc sống’, thì lập luận của Hobbes về ‘sự im lặng’ của cá nhân (tự che giấu) có thể phát triển một cách logic thành lập luận về ‘sự che giấu trong gia đình’. Vì con người không có nghĩa vụ phải phơi bày tội ác của mình trước nhà nước dựa trên động cơ ban đầu khi tham gia vào xã hội chính trị, với tư cách là ‘sự tiếp nối của cuộc sống’, họ cũng không có lý do gì để phơi bày người thân của mình. Do đó, ‘che giấu trong gia đình’ dựa trên tồn tại của ‘sự sống’ không mâu thuẫn với cấu trúc chính trị hiện đại. Trên thực tế, đây không phải là một nhiệm vụ khó thực hiện về mặt pháp lý. Tại Đài Loan, luật pháp quy định rằng cha mẹ, con cái và người thân có quyền từ chối làm chứng trước tòa. Đây là một ví dụ điển hình về cách xã hội hiện đại tuân theo cấu trúc lý thuyết sinh tồn của truyền thống văn hóa Trung Quốc.

Ý nghĩa sinh tồn của ‘học tập’ và ‘giảng dạy’

Trong cấu trúc sinh tồn luận của 生生不息 sinh sinh bất tức ‘dòng đời liên tục’, cha mẹ và con cái chia sẻ một mối liên hệ sinh học sâu sắc, đòi hỏi phép phân tích sinh tồn luận. Điều này luôn là một mắt xích tương đối yếu trong truyền thống văn hóa phương Tây, càng bị suy yếu hơn bởi sự nhấn mạnh hiện đại vào ‘cá nhân’. Locke coi con cái là sản phẩm của Chúa, và việc cha mẹ nuôi dạy con cái chỉ đơn thuần là hoàn thành trách nhiệm của họ đối với Chúa; mối quan hệ cha mẹ - con cái chỉ đơn giản là một hợp đồng pháp lý. Về bản chất, họ là những cá nhân độc lập. Một ‘cuộc sống liên tục’ tự nhiên đã bị cắt đứt đột ngột bởi ý thức về Chúa Trời và luật pháp. Trong diễn ngôn của Heidegger, ‘cuộc sống liên tục’ này cũng không được tích hợp vào hệ thống của ông; phân tích sinh tồn luận của ông thiếu bất kỳ sự hiểu biết nào về ‘tính liên tục của cuộc sống’, và ‘các thế hệ’ không có chỗ đứng trong phân tích sinh tồn luận của ông.

Ngoài khía cạnh ‘hiếu’, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, dựa trên cấu trúc sinh tồn luận của ‘cuộc sống liên tục’, được đặc biệt coi trọng trong truyền thống văn hóa Trung Quốc liên quan đến 學與教 ‘học’ dữ ‘giáo’ ‘học tập’ và ‘giáo dục’. Việc nhấn mạnh vào 生生不息 sinh sinh bất tức ‘dòng đời liên tục’ không chỉ được phản ánh trong sự tiếp nối sinh học của các loài, mà còn trong một mô hình văn hóa dựa trên quan điểm sinh tồn luận này. Vị trí quan trọng của ‘học tập’ và ‘giáo dục’ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc thể hiện điều này. Chương đầu tiên của Luận ngữ là ‘Học nhi’, và luận thuyết của Khổng Tử về học tập rất phong phú. Theo Chu Hi trong ‘Luận ngữ Tập chú’ Tuyển tập Chú giải về Luận ngữ, thì 學之為言效 ‘học chi vi ngôn hiệu’ học tập có nghĩa là bắt chước, và ‘bắt chước’ là ý nghĩa ban đầu của ‘học tập’. Vậy điều gì đang được bắt chước? ‘Bắt chước’ nhất thiết phải bao gồm việc mô phỏng một đối tượng. Trong dòng chảy liên tục của cuộc sống, thông qua ‘học tập’ và ‘bắt chước’, kinh nghiệm sống của các bậc tiền bối được đưa vào cuộc sống hiện tại. “Học tập có nghĩa là tiếp thu và nắm giữ ý nghĩa mà tổ tiên chúng ta đã đầu tư vào truyền thống văn hóa. Bằng cách này, một cộng đồng sẽ sở hữu một thế giới chung, nơi tất cả các thành viên ảnh hưởng, giao tiếp và trao đổi ý tưởng dựa trên nền tảng này.” Do đó, ‘học tập’ là sự bắt chước và nghiên cứu kinh nghiệm của các bậc tiền bối. Vào thời Khổng Tử, việc nghiên cứu các truyền thống văn hóa cổ đại được đặc biệt chú trọng, đó là lý do tại sao Khổng Tử nói về ‘sự học hỏi rộng rãi trong văn chương’. Trong mô tả của Heidegger, ‘Dasein’ tồn tại trong sự cô lập, sự tò mò của nó thường dẫn nó lạc lối khỏi thế giới trần tục. Heidegger cũng dành nhiều không gian để thảo luận về Gewesenheit 曾在 ‘tằng tại’ ‘đã từng tồn tại’, ‘Dasein đã ở đây’, và tác động của nó lên một thế giới cụ thể; tuy nhiên, trong tác phẩm của ông, không có thảo luận nào về cách thức mà Dasein – với tư cách là cái ‘đã từng tồn tại’ tác động như thế nào lên thế giới hiện tại thông qua cơ chế sinh tồn luận ở cấp vi-mô của ‘học tập’ lại không có bát kỳ vị thế sinh tồn luận nào.

Không chỉ ‘học’ [học tập], mà cả ‘giáo’ [‘giáo dục’] cũng có liên quan đến nó. ‘Giáo’ [教] và ‘hiếu’ [孝] là những từ có cùng gốc; bản thân chữ ‘giáo’ [教] ‘giáo dục’ có liên quan trực tiếp đến ‘hiếu’ [孝] hiếu thảo. 說文將教定義為上所施,下所效也 ‘Thuyết văn’ tương ‘giáo’ định nghĩa vi ‘thượng sở thi, hạ sở hiệu dã’ “Sách Thuyết văn định nghĩa ‘giáo dục’ là ‘những gì người bề trên ban tặng, và những gì người bề dưới noi theo”. Như vậy, có thể thấy rằng ‘giáo dục’ cũng bắt nguồn từ cấu trúc tồn tại của ‘cuộc sống liên tục’. Thông qua ‘học tập’ và ‘giáo dục’, kinh nghiệm tồn tại giữa các thế hệ được truyền lại trong cơ chế này. Cá nhân không hoàn toàn bất lực hay hoàn toàn tự do; kinh nghiệm tồn tại của người khác được truyền đạt ngay từ đầu thông qua ‘học tập’ và  ‘giáo dục’, trở thành nguồn hỗ trợ cho việc đưa ra lựa chọn khi đối mặt với sự sinh tồn. Sự trưởng thành của thế hệ kế tiếp gắn liền mật thiết với nền giáo dục của thế hệ trước. Chính Khổng Tử đã tự mô tả mình là 學不厭,教不倦 ‘học bất yếm, giáo bất quyện’ ‘Học không nghỉ, dạy không ngơi’. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, việc ‘dạy’/‘giáo dục’ này chủ yếu và trực tiếp liên quan đến đức  ‘hiếu’. Hiếu Kinh bắt đầu bằng câu nói: 夫孝,德之本也,教之所由生也 ‘Phù hiếu, đức chi bản dã, giáo chi sở do sinh dã’ ‘Phàm hiếu thảo là gốc rễ của đức hạnh vậy, là nguồn gốc của mọi giáo hóa đấy!’. Mạnh Tử cũng nói rằng người ta phải được dạy để ưu tiên hiếu thảo và tình huynh đệ: 謹庠序之教,申之以孝悌為義Cẩn tường tự chi giáo, thân chi dĩ hiếu đễ vi nghĩa ‘Chăm lo việc giáo dục, mở rộng đạo lý hiếu đễ với cha mẹ anh em’. Có thể nói rằng trước khi ý nghĩa rộng lớn nhất của ‘giáo’ [教] ‘giáo dục’ được bộc lộ, thì nội dung trực tiếp nhất của nó là sự mở rộng quan hệ họ hàng. Như chúng ta đã đề cập trước đó, quan hệ họ hàng là tự nhiên, nhưng ‘mở rộng’ nó thì không tự nhiên; đó là ‘giáo dục’ vậy. “Quá trình dạy dỗ được thực hiện hiệu quả nhất thông qua quá trình mô phỏng và bắt chước trong gia đình và nhà nước.”

Trong diễn ngôn của Heidegger, Entwurf/Projection 籌劃 trù hoạch ‘dự phóng’ là một khái niệm quan trọng trong cấu trúc của Dasein trong thế giới. Dasein, với tư cách là Dasein, luôn luôn dự phóng cho sự sinh tồn của chính nó, và thậm chí còn sở hữu một dự phóng tồn tại đích thực cho Tồn-tại-hướng-đến-cái-chết. Nhưng dù đích thực hay không đích thực, dự phóng vẫn là dự phóng của Dasein. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, việc dự phóng giữa các thế hệ trở nên khả thi thông qua ‘học tập’ và ‘giáo dục’. ‘Học tập’ và ‘giáo dục’ cũng là sự mở rộng của việc dự phóng cuộc sống, mở rộng từ việc dự phóng của Dasein cá nhân đến việc dự phóng cho ‘dòng chảy của cuộc sống’. Trong cấu trúc sinh tồn luận ‘Tồn-tại-hướng-đến-cái-chết’ của Heidegger, thì ‘dự phóng’ là một yếu tố quan trọng. Dasein tự ‘dự phóng’ cho chính mình giữa nhiều khả tính sinh tồn khác nhau, bao hàm, đồng thời chứa đựng sự hiểu biết về thế giới liên quan đến sinh tồn của chính nó, chủ yếu là ‘dự phóng’ cho bản thân. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, ‘dự phóng’ sinh tồn luận không chỉ đơn thuần là ‘dự phóng’ của ‘Dasein’ trong thế giới này, mà còn là ‘dự phóng’ cho trạng thái liên tục của cuộc sống, chủ yếu được thể hiện trong ‘giáo dục’. Nội dung của ‘giáo dục’ không chỉ giới hạn ở ‘hiếu thảo’, mà còn liên quan đến cha mẹ và con cái trong sự tiếp diễn của cuộc sống. Do đó, sách Giáo khoa sơ cấp ‘Tam Tự Kinh’ bắt đầu bằng câu 養不教,父之過 ‘Dưỡng bất giáo, phụ chi quá’ ‘Nếu con cái được nuôi nấng mà không được dạy dỗ, đó là lỗi của người cha’, một điểm đặc biệt rõ ràng trong kinh nghiệm sinh tồn luận của truyền thống văn hóa Trung Quốc. ‘Dự phóng’ theo quan điểm của Heidegger chỉ có thể là ‘dự phóng’ cá nhân, giới hạn trong một tuổi thọ hữu hạn. Tuy nhiên, trong cấu trúc sinh tồn luận của truyền thống văn hóa Trung Quốc, thì ‘dự phóng’ cuộc sống mang một bản chất khác.

Trong khi Heidegger nhấn mạnh rằng ‘Dasein’ là một ‘dự phóng bị ném vào’, thì ‘dự phóng’ này thực chất lại có giới hạn, và giới hạn này có thể được hiểu từ một góc độ tích cực hơn. Việc nhấn mạnh vào ‘giáo dục’ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc là điều kiện tiên quyết cho ‘dự phóng’ của ‘Dasein’. ‘Giáo dục’ chủ yếu liên quan đến cách trở thành một con người, không chỉ đơn thuần là tri ​​thức; đây cũng là một yếu tố cốt lõi của cơ chế sinh tồn luận ‘cuộc sống liên tục’. Trong truyền thống văn hóa, ‘dự phóng’ cá nhân không chỉ là một hành động đơn độc; ‘gia đình’ là thực thể chung gần gũi nhất với người khác. Trên thực tế, chỉ thông qua người khác, ‘Dasein’ mới có thể tìm ra một cách thức ‘dự phóng’ nhất định trong chính mình. Sự phụ thuộc này quyết định rằng ‘dự phóng’ của ‘Dasein’ không độc lập. Do đó, cấu trúc sinh tồn luận của việc ‘ban sự sống’ tự nhiên bao gồm các vị trí ‘học tập’ và ‘giáo dục’, phản ánh sự chăm sóc của ‘thế hệ trước’ đối với người đặc biệt khác – ‘thế hệ sau’. Đây là một mối quan hệ cấu trúc, do đó ‘người thầy’, hiện thân của việc giáo dục, chiếm một vị trí đặc biệt trong truyền thống văn hóa Trung Quốc. ‘Người thầy’ luôn gắn liền với ‘người cha’, và trong các truyền thống dân gian, bài vị về tổ tiên luôn được sắp xếp cùng với 天地君親師 ‘thiên địa quân thân sư’ Trời, Đất, Vua, Cha Mẹ, Thầy. Là người mang trọng trách ‘giáo dục’ và là hình mẫu của ‘học tập’, ‘Thầy’ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự tiếp nối của cuộc sống và văn hóa. Điều này không đề cập đến nội dung cụ thể của việc ‘giáo dục’, mà là ‘giáo dục’ và ‘học tập’ nên là một phần không thể thiếu của cấu trúc sinh tồn luận. Khi chúng ta hiểu cấu trúc sinh tồn luận không chỉ từ góc độ ‘sự đứt gãy của cuộc sống’ mà còn từ góc độ ‘sự tiếp nối của cuộc sống’, thì ‘giáo dục’ và ‘học tập’, như một loại ‘dự phóng’ hướng tới tương lai, có thể được liên kết với diễn ngôn của Heidegger.

Cấu trúc sinh tồn luận của -‘cuộc sống liên tục’ kết nối ý thức về cuộc sống thông qua lòng ‘hiếu thảo’ và hình thành di sản văn hóa thông qua ‘giáo dục – học tập’. Do đó, về mặt văn hóa, nó phát triển thành hiện tượng lịch sử và văn hóa “tìm kiếm sự bảo tồn và tiếp nối văn hóa để kế thừa di sản tổ tiên và đạt được một lịch sử văn hóa lâu dài”, từ đó tạo nên một ý thức mạnh mẽ về sự kế thừa văn hóa trong truyền thống văn hóa Trung Quốc. Lịch sử không chỉ đơn thuần là những sự kiện trong quá khứ, mà còn trực tiếp đi vào hiện tại thông qua ‘học tập’ và ‘giáo dục’; cái sinh tồn luận về ‘cuộc sống tiếp diễn’ không chỉ hướng về quá khứ mà còn hướng về tương lai. Sự hiểu biết về cuộc sống vô tận được hình thành bằng cách tưởng nhớ tổ tiên và đặt hy vọng vào các thế hệ tương lai tạo nên ý thức văn hóa 上通千古下通萬世 ‘Thượng thông thiên cổ hạ thông vạn thế’ ‘kết nối quá khứ và tương lai’ trong truyền thống văn hóa Trung Quốc - hướng tới tương lai và truyền lại truyền thống. Kinh Thi có câu: 孝子不匱,永錫爾類 Hiếu tử bất quỹ, vĩnh tích nhĩ loại “Đạo hiếu không vơi, Phúc lành đời đời”. Lòng hiếu thảo của những người kế thừa cuộc sống, và sự nhấn mạnh vào truyền thống ‘giáo dục’ ‘học tập’, chính là gốc rễ của nền văn hóa trường tồn. Theo Rousseau, đặc điểm của nhân loại nằm ở tiềm năng hoàn thiện, không chỉ ở sự hoàn thiện của cuộc sống cá nhân, mà còn ở cấp độ loài người. Tuy nhiên, Rousseau không giải thích chi tiết về cách thức loài người có thể nâng cao sự hoàn thiện của tầm nhìn nhân sinh. Học thuyết Trung Dung, kết hợp với đức ‘hiếu’, đã đưa ra câu trả lời: 夫孝者,善繼人之志,善述人之事者也 “Phù hiếu giả, thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả dã.” “Kìa kẻ Hiếu khéo tiếp nối tâm nguyện, khéo thực hành việc làm Tiên tổ.”

Thậm chí đó còn là một loại 達孝 đạt hiếu ‘hiếu thảo tối thượng’. [Chen ngang: 達孝 Đạt hiếu là một thuật ngữ triết học Nho giáo, mang ý nghĩa là đạo hiếu cao nhất, trọn vẹn nhất hoặc lòng hiếu thảo được thiên hạ công nhận rộng rãi; trong đó, chữ 達 ‘đạt’ mang nghĩa là thông suốt, thấu đạt hoặc phổ biến khắp nơi. Khái niệm này xuất hiện nổi tiếng nhất trong sách cổ Trung Dung thuộc bộ Tứ Thư của Nho giáo, qua lời của Khổng Tử ca ngợi Chu Vũ Vương và Chu Công Đán: 武王,周公,其達孝矣乎! “Vũ Vương, Chu Công kỳ đạt hiếu hĩ hồ!” - Vũ Vương và Chu Công có lẽ là những người đạt đến bậc đại hiếu vậy!. Theo triết lý Nho giáo, cốt lõi của 達孝 ‘Đạt hiếu’ bao gồm hai khía cạnh chính: 善繼人之志thiện kế nhân chi chí - Khéo nối chí người trước: Thấu hiểu, tiếp nối, hoàn thành tâm nguyện, lý tưởng và hoài bão dang dở của cha mẹ, tổ tiên; ii) Khéo thuật việc người trước 善述人之事 Thiện thuật nhân chi sự - Tiếp tục phát huy, gìn giữ và làm rạng danh những sự nghiệp, truyền thống tốt đẹp mà thế hệ trước đã gây dựng. Khác với hiếu thảo thông thường - như chỉ phụng dưỡng cha mẹ về mặt vật chất – ‘Đạt hiếu’ mang tính tinh thần và xã hội sâu sắc. Nó đòi hỏi người con phải tu dưỡng đạo đức, 立身行道 ‘lập thân hành đạo’ tự lập để theo đòi lý tưởng, lưu danh hậu thế, làm rạng rỡ công ơn sinh thành của cha mẹ.- HHN]

‘Hiếu thảo tối thượng’ không chỉ đơn thuần là lòng biết ơn cuộc sống; Hiếu Kinh chép rằng:「立身行道,揚名於後世,以顯父母,孝之終。」Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung – ‘Lập thân hành Đạo, để danh tiếng cho con cháu, tôn vinh cha mẹ, hiếu thảo tối thượng’. Kế thừa khát vọng của tổ tiên và nỗ lực hoàn thành chúng mới đích thực là ‘đạt hiếu’ – hiếu tối thượng’. Ai có thể đạt được ‘hiếu thảo tối thượng’ như vậy? Trong lịch sử, Chu Vũ vương và Chu Công là những ví dụ, bởi vì họ đã có thể kế thừa khát vọng của Chu Văn vương và hoàn thành công việc dang dở của Văn vương. Nói cách khác, thành tựu tối thượng của một cá nhân không chỉ được phản ánh trong việc hiện thực hóa giá trị cá nhân, mà còn thuộc về ‘dòng chảy liên tục’ của lịch sử. Đây là một phẩm chất quan trọng của ‘đạt hiếu’, liên quan trực tiếp đến sự phát triển lịch sử và hướng tới tương lai. Thật vậy, khái niệm về sự tiến bộ liên tục này đặc biệt ăn sâu trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, truyền thống văn hóa phương Tây dựa trên hình mẫu Ki Tô giáo giả định một mục tiêu tối thượng cho một lịch sử tiến bộ như vậy—có lẽ là Ngày Phán xử Cuối cùng, điểm chung cục lịch sử, hoặc một xã hội cộng sản—để thể hiện sự hoàn hảo tối thượng này. Trong cấu trúc sinh tồn luận độc đáo của Trung Quốc, mặc dù có một cơ chế động lực ở cấp độ vi mô như vậy cho sự hoàn thiện của nền văn minh, nhưng sự hoàn hảo là vô tận. Tương ứng với trạng thái ‘vô hạn’ của ‘cuộc sống liên tục’ là hai quẻ cuối cùng trong sáu mươi bốn quẻ của Kinh Dịch: 既 ký tế/‘Đã qua’ và 未濟 vị tế/ ‘Chưa qua’. Điều đáng ngạc nhiên là quẻ ‘Chưa qua’ không giống với quẻ  ‘Đã qua’ ‘Tuyệt đối’ của Hegel, nơi mọi thứ đã được hoàn thành và sự hoàn hảo của nhân loại cuối cùng đã đạt được; trái lại, mọi thứ vẫn chưa thành công, và một sự khởi đầu mới là cần thiết. Quẻ sau, 未濟 vị tế/ ‘Chưa qua’ mang ý nghĩa sâu sắc: nó thể hiện khái niệm cơ bản về sự sống liên tục và cũng chỉ ra cấu trúc của sự phát triển liên tục của vạn vật trong khuôn khổ sinh tồn luận, cũng như các khả tính khác nhau của 可濟 khả tế/có thể qua.

Thực tế, cấu trúc sinh tồn luận của ‘sự sống liên tục’ không mâu thuẫn với sinh tồn của cá thể ‘Dasein’. Tôn trọng truyền thống văn hóa ‘quan hệ ruột thịt’ không ngăn cản chúng ta trân trọng mọi mắt xích trong dòng chảy liên tục của sự sống và đánh giá cao giá trị của mỗi cá nhân. Là thành quả của dòng chảy liên tục của sự sống, mỗi sinh vật đều quý giá. ‘Dòng chảy của sự sống’ có thể bao trùm mọi mắt xích, tức là mọi ‘cá thể’; cái cấu trúc sinh tồn luận này không cố phủ nhận ‘tự do’ được thể hiện trong cấu trúc sinh tồn luận của ‘Dasein’ và ‘Tồn-tại-hướng-đến-cái- chết’. Tuy nhiên, một cấu trúc sinh tồn luận ‘cá nhân hóa’ dễ dàng đánh mất chiều kích ‘tiếp nối sự sống’, vốn chính là nền tảng sinh tồn luận để giải thích nguồn gốc của ‘trách nhiệm’ con người. Triết học của Heidegger, thiếu chiều kích đạo đức và chỉ tập trung vào cái tôi cá nhân, còn xa mới đầy đủ. Các chiều kích phát sinh từ khái niệm ‘tiếp nối sự sống’ không thể được tích hợp vào cấu trúc sinh tồn luận của Heidegger; tuy nhiên, ngược lại là đúng, và tồn tại của mỗi ‘cá nhân’ có thể bao hàm đầy đủ trong cấu trúc ‘tiếp nối sự sống’. Là những đại diện văn minh nhân loại khác nhau, phương Tây và Trung Quốc diễn giải cấu trúc sinh tồn luận của họ từ những góc nhìn khác nhau. Các cấu trúc sinh tồn luận này tiết lộ các cơ chế tiềm ẩn đa dạng tính của trí tuệ con người và cũng phơi bày các nguyên tắc tạo nên nguồn gốc đạo đức tương ứng của chúng.

__________________________________________

Nguồn: 孙向晨 (2017). 生生不息——一种生存论的分析. 第45期,孙向晨 Số 45 | Sun Xiangchen: Tái sinh liên tục—Phân tích Sinh tồn luận. Ngày: 05/06/2017. https://philosophy.fudan.edu.cn/03/23/c20854a262947/page.htm.

Tác giả:

孙向晨 Tôn Hướng Thần (sinh năm 1968) Là người gốc Thượng Hải, ông là giáo sư và người hướng dẫn luận án tiến sĩ tại Khoa Triết học, Đại học Phúc Đán, và từng giữ chức trưởng khoa Triết học từ năm 2011 đến năm 2023. Ông nhận bằng Tiến sĩ Triết học từ Đại học Phúc Đán năm 2000 và đến làm việc tại Regent College, Canada vào năm 1998. Lĩnh vực nghiên cứu của ông bao gồm triết học phương Tây hiện đại, triết học chính trị, triết học Do Thái-Kitô giáo và triết học so sánh. Ông đề xuất lý thuyết ‘Bản thể luận kép’, và các tác phẩm tiêu biểu của ông, Về Gia đình: Cá nhân và Quan hệ họ hàng và Đối diện với Người khác: Nghiên cứu về Tư tưởng Triết học của Levinas, đã khám phá một cách có hệ thống sự tái cấu trúc triết học về ‘gia đình’ trong bối cảnh hiện đại. Ông từng là thành viên của Ủy ban Chỉ đạo của Liên đoàn Triết học Quốc tế, phó chủ tịch của Hội Lịch sử Triết học Nước ngoài Trung Quốc và đồng biên tập của Triết học Nước ngoài Hiện đại và Tạp chí Giáo dục Đại cương. Ông đã chủ trì Dự án Thanh niên Quỹ Khoa học Xã hội Quốc gia ‘Levinas và Triết học Do Thái Hiện đại’, dự án này đã giành giải nhất Giải thưởng Thành tựu Giảng dạy Quốc gia và giải nhì Giải thưởng Thành tựu Xuất sắc về Triết học và Khoa học Xã hội Thượng Hải. Từ năm 2012, ông giữ chức giám đốc Trung tâm Giáo dục Đại cương của Đại học Phúc Đán, dẫn đầu việc xây dựng hệ thống chương trình giảng dạy cốt lõi gồm bảy mô-đun và thúc đẩy mô hình ‘giảng dạy lớp lớn và thảo luận lớp nhỏ’. Những thành tựu liên quan của ông đã giành được Giải thưởng Đặc biệt về Cải cách và Đổi mới Giáo dục Quốc gia lần thứ tư. Ông đã xuất bản các bài báo như ‘Đề cương Triết học Trung Quốc: Tư tưởng Nguyên thủy, Lĩnh vực và Phương pháp’, ủng hộ việc khám phá triết học từ kinh nghiệm Sinh tồn của thế giới Trung Quốc.

Ghi chú của Người đọc:

1.Vài từ Cơ bản

- Sinh tồn là cách nói ngắn gọn để chỉ sự sống và hiện hữu; nó cũng là thuật ngữ chung cho tất cả mọi thứ trong tự nhiên duy trì sự tồn tại và trải qua quá trình phát triển và thay đổi. Nó thường đề cập đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái. Chừng nào tôi còn sống, chừng nào tôi còn tồn tại, thì tôi vẫn đang sinh tồn.

- Tồn tại đề cập đến trạng thái hiện hữu hoặc tồn tại trong thực tế của một thực thể, trái ngược với không tồn tại. Tồn tại thường được đối lập với bản chất: Tồn tại liên quan đến cái gì đang tồn tại, trong khi bản chất đề cập đến các đặc điểm cốt lõi của một thực thể, cho phép người ta hiểu được bản chất của nó ngay cả khi không biết thực thể đó có tồn tại hay không. Bản thể luận là lĩnh vực triết học nghiên cứu bản chất và phân loại tồn tại. Tồn tại đơn lẻ đề cập đến tồn tại của một thực thể riêng lẻ, trong khi sự tồn tại phổ quát đề cập đến tồn tại của các khái niệm và các khái niệm phổ quát; các thực thể chiếm không gian và thời gian là tồn tại cụ thể, trái ngược với tồn tại của các thực thể trừu tượng (như số và tập hợp). Các phân loại khác bao gồm sự tồn tại có thể/ngẫu nhiên/tất yếu, và tồn tại vật chất/tinh thần. Quan điểm chung là các thực thể hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, không có trạng thái trung gian, nhưng một số nhà triết học tin rằng tồn tại có các mức độ khác nhau, nghĩa là mức độ tồn tại của một số thực thể cao hơn mức độ tồn tại của những thực thể khác.

- 存在论 Tồn tại luận: Ontologie hay Fundamentalontologie

- 存在Tồn tại: Sein/Being

- 存在者 Tồn tại giả: Seiendes/ Entity/ being

- 此在Thử tại: Dasein

- 存在论 Tồn tại luận

- 生存论的 existenzial/ existential Sinh tồn luận  

- 生存的 / 实在的 existenziell/ existentiell Sinh tồn đích/ Thực tại đích

- 生存论分析 existenzial Analytik / existential analytic Sinh tồn luận Phân tích