Powered By Blogger

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2026

Hữu thể và Thời gian (XL)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

III. TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CHÂN THỰC CỦA DASEIN, THỜI GIAN TÍNH: Ý NGHĨA BẢN THỂ LUẬN CỦA CHĂM LO

[Tr. 377] Thời gian tính hoàn toàn không phải là một thực thể. Nó không ‘là’ một thực thể, mà tự thân thời gian hóa. Tuy nhiên, chúng ta khó tránh khỏi việc phải diễn đạt rằng: Thời gian tính ‘là’… ý nghĩa của Sorge/ care chăm lo, hay “Thời gian tính ‘là’…được định nghĩa theo cách này hay cách khác”. Điều này chỉ có thể được hiểu rõ khi chúng ta đã làm sáng tỏ khái niệm về ‘Hữu thể’ và ý nghĩa của ‘là’ nói chung. Thời gian tính thời gian hóa, và nó thực sự thời gian hóa các phương thức khả thể của chính nó. Các phương thức này làm cho tính đa dạng trong các phương thức Hữu thể của Dasein trở nên khả thể, đặc biệt là khả tính căn bản về Eigentliche Existenz xuất-hiện đích thực hoặc Uneigentliche Existenz xuất-hiện không đích thực. Cái tương lai, tính chất ‘đã-từng-là’ (quá khứ), và Hiện tại biểu thị các đặc điểm hiện tượng của các trạng thái ‘hướng-về-chính-mình’, ‘quay-trở-lại-với’, và ‘để-cho-bản-thân-được-gặp-gỡ- bởi’.1

Các hiện tượng của cái ‘hướng về’, ‘tới’, và ‘ở bên cạnh’ làm cho thời gian tính hiện ra như là εκστατικόν ekstatikon cấu thành xuất-thân theo nghĩa thuần túy và giản đơn. Thời gian tính, tự thân nó, chính là cái ‘xuất-thân’ bản nguyên trong tự thân và cho tự thân. Do đó, chúng ta gọi các hiện tượng về cái tương lai, tính chất đã-từng-là, và cái Hiện tại là những trạng thái xuất-thân ἔκστασις ékstasis của thời gian tính.2 Thời gian tính không phải là một thực thể tồn tại trước rồi sau đó mới tự xuất hiện; bản chất của nó chính là quá trình thời gian hóa trong nhất tính của các ἔκστασις ékstasis cấu thành xuất-thân này. Đặc điểm của ‘thời gian’ mà chúng ta có thể tiếp cận theo cách hiểu thông thường bao gồm một chuỗi thuần túy các ‘bây giờ’ thuần túy, không có điểm bắt đầu cũng chẳng có điểm kết thúc, trong đó tính chất xuất-thân của thời gian tính bản nguyên đã bị san phẳng. Tuy nhiên, chính sự san phẳng này, theo nghĩa hữu thể của nó, lại có nền tảng từ cái khả tính của một loại thời gian hóa xác định; theo đó, thời gian tính thời gian hóa với tư cách không-đích-thực, là loại ‘thời gian’ mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Do đó, nếu chứng minh được rằng ‘thời gian’ mà ý thức thông thường của Dasein có thể tiếp cận không phải là thời gian bản nguyên, mà nó nảy sinh từ thời gian tính đích thực, thì theo nguyên tắc ‘a potiori fit denominatio’ - gọi tên dựa trên yếu tố chiếm ưu thế, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để gọi thời gian tính mà chúng ta vừa làm sáng tỏ là ‘thời gian bản nguyên’.

[Tr. 378] Khi liệt kê các ἔκστασις ékstasis cấu thành xuất-thân, chúng ta luôn nhắc đến tương lai trước tiên. Chúng ta làm như vậy để chỉ ra rằng tương lai giữ vị trí ưu tiên trong nhất tính xuất-thân của thời gian tính bản nguyên và đích thực. Điều này đúng ngay cả khi thời gian tính không hình thành thông qua một chuỗi tích lũy các cấu thành xuất-thân, mà thay vào đó, trong mỗi trường hợp, nó tự thời gian hóa trong tính đồng bản nguyên của chúng. Tuy nhiên, trong tính đồng bản nguyên này, các phương thức thời gian hóa lại khác nhau. Sự khác biệt ấy nằm ở chỗ bản chất thời gian hóa có thể được xác định chủ yếu dựa trên các cấu thành xuất-thân khác nhau. Thời gian tính bản nguyên và đích thực tự thời gian hóa trong khuôn khổ cái tương lai đích thực; theo cách đó, bằng việc đã-từng về phương diện tương lai, trước hết nó đánh thức cái Hiện tại.3 Hiện tượng chủ đạo của thời gian tính nguyên thủy và đích thực chính là cái tương lai. Vị thế ưu tiên của cấu thành tương lai sẽ thay đổi tùy theo cách thức mà quá trình thời gian hóa của thời gian tính phi đích thực tự thân biến đổi, nhưng nó vẫn luôn hiện diện rõ nét ngay cả trong loại ‘thời gian’ phái sinh.4 Chăm lo chính là Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết. Chúng ta đã định nghĩa ‘tính quyết đoán tiên liệu’ với tư cách Hữu thể đích thực hướng tới cái khả tính mà chúng ta từng mô tả là bất khả tính tuyệt đối của Dasein. Trong loại Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục này, Dasein hiện hữu một cách trọn vẹn đích thực—như chính cái thực thể mà nó có thể trở thành khi ‘bị ném vào cái chết’. Thực thể này không có một chung cục mà tại đó nó chỉ việc dừng lại; thay vào đó, nó hiện hữu một cách hữu hạn.5 Tương lai đích thực được thời gian hóa chủ yếu bởi chính thời gian tính tạo nên ý nghĩa của tính quyết đoán tiên liệu; như vậy, nó tự bộc lộ là hữu hạn.6 Nhưng chẳng phải ‘thời gian vẫn cứ trôi’ bất chấp Dasein của riêng tôi không hiện hữu nữa sao?7 Và chẳng phải vô số sự vật vẫn có thể còn ‘trong tương lai’ để rồi xuất hiện hay sao?

[Chen ngang: Heidegger dùng ékstasis tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là ‘đứng bên ngoài chính mình’ để mô tả bản chất của thời gian tính, vốn không phải là những khoảnh khắc tuyến tính trôi qua mà là cấu trúc đan cài giúp cho Dasein hiện hữu người luôn ‘vượt ra ngoài’ chính nó để kiến tạo thế giới và ý nghĩa. Thay vì coi thời gian là một chuỗi các khoảng khắc trôi từ quá khứ đến tương lai như đồng hồ, Heidegger lập luận rằng Dasein tồn tại bằng cách đồng thời hướng về ba chiều kích thời gian—được gọi là ba chiều kích xuất thân của thời gian tính: i) Tương lai: Dasein luôn đi trước chính mình, tự phóng chiếu bản thân về phía trước để hướng tới các khả tính và mục tiêu tương lai; ii) Quá khứ đã-từng-là: Dasein ở trong trạng huống ‘bị ném vào’ một thế giới, một bối cảnh văn hóa và lịch sử sẵn có mà nó không tự chọn, nhưng vẫn phải mang theo; iii) Hiện tại: Dasein hành động ở hiện tại bằng cách biến các sự vật, hiện tượng xung quanh trở nên hiển hiện và sẵn sàng cho các công việc cụ thể. Ba chiều kích này không tách rời mà đan cài, thống nhất chặt chẽ để tạo nên ‘không gian’ cho ý nghĩa hiện hữu người xuất hiện. Khái niệm này liên quan trực tiếp đến thuật ngữ Ek-sistenz/ Ek-sistence xuất thân, nhấn mạnh rằng Dasein không phải là một khối vật chất tĩnh, mà là một thực thể luôn đứng khai mở ra ngoài và bộc lộ trước chân lý của cấu thành bản thể.-HHN]

Chúng ta phải trả lời khẳng định cho những câu hỏi này. Tuy nhiên, các câu hỏi đó không chứa đựng bất kỳ phản đối nào đối với cái hữu hạn của thời gian tính bản nguyên, bởi vì vấn đề này không còn nằm trong phạm vi xem xét. Câu hỏi không phải là về mọi thứ có thể xảy ra ‘trong một thời gian cứ tiếp diễn’, hay về loại nào của cái để-cho-điều-gì-đó-đến-với- chính-mình nào mà chúng ta có thể bắt gặp ‘từ loại thời gian này’, mà là về cách thức ‘đến-với-chính-mình’, theo đúng nghĩa, phải được xác định về phương diện bản nguyên. Tính hữu hạn của nó không đơn thuần là sự dừng lại, mà là một đặc tính của chính quá trình thời gian hóa. Tương lai bản nguyên và đích thực chính là ‘hướng-đến-chính-mình’ (hướng về bản thân!),8 xuất hiện [tr.379] với tư cách là cái khả tính của hư vô – loại khả tính không được bỏ lại phía sau. Tính chất xuất-thân của tương lai bản nguyên nằm chính ở chỗ: tương lai khép lại tiềm-năng-cho-Hữu-thể của một kẻ nào đó; nghĩa là, bản thân tương lai đó khép kín đối với kẻ ấy,9 và theo đúng nghĩa, nó mở ra khả năng cho một sự thấu hiểu thực hữu cụ thể đầy quyết đoán về tính hư vô. Việc ‘đến-với-chính-mình’ một cách bản nguyên và đích thực chính là ý nghĩa của sự xuất-hiện trong chính tính hư vô riêng tư nhất của kẻ đó. Khi khẳng định thời gian tính vốn hữu hạn bản nguyên, ta không hề phủ nhận ‘thời gian vẫn cứ tiếp diễn’, mà chỉ đơn thuần bám sát vào đặc tính hiện tượng của thời gian tính bản nguyên – một đặc tính tự bộc lộ ​​trong những gì được phóng chiếu thông qua hành động phóng chiếu hữu thể/ cấu thành bản thể bản nguyên của Dasein.

Cám dỗ bỏ qua tính hữu hạn của tương lai bản nguyên và đích thực – do đó là tính hữu hạn của chính thời gian tính – hoặc giả định a priori tiên nghiệm rằng tính hữu hạn như vậy là bất khả, nảy sinh từ cách hiểu thông thường về thời gian luôn tự đẩy mình lên vị thế hàng đầu. Ngay cho dù cách hiểu thông thường là đúng khi nhận biết một loại thời gian vô tận – và chỉ biết đến điều đó – thì cũng chưa có gì chứng minh rằng nó thực sự thấu hiểu loại thời gian này cùng với ‘tính vô tận’ của nó. Vậy, việc nói rằng ‘Thời gian vẫn tiếp diễn’ hay ‘Thời gian cứ trôi qua’ nghĩa là gì? Ý nghĩa ‘trong thời gian’ nói chung, cũng như các cách biểu đạt ‘trong tương lai’ và đến ‘từ tương lai’ nói riêng là gì? Theo nghĩa nào thì ‘thời gian’ là vô tận? Những vấn đề này cần được làm sáng tỏ, nếu không, các phản đối thông thường đối với tính hữu hạn của thời gian bản nguyên sẽ vẫn còn thiếu cơ sở.

Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể soi sáng những vấn đề đó một cách hiệu quả nếu tìm ra được phương thức đặt vấn đề phù hợp liên quan đến tính hữu hạn và tính vô hạn.10 Cách đặt vấn đề như vậy chỉ nảy sinh khi chúng ta nhìn nhận hiện tượng bản nguyên của thời gian một cách thấu đáo. Vấn đề không nằm ở chỗ làm thế nào11 để thời gian vô hạn ‘phái sinh’— nơi mà cái sẵn-có-để-dùng nảy sinh và biến mất — trở thành tính thời gian hữu hạn bản nguyên; vấn đề là làm thế nào để thời gian tính không đích thực nảy sinh từ thời gian tính đích thực hữu hạn, và làm thế nào để thời gian tính không đích thực — với tư cách không đích thực — lại thời gian hóa một loại thời gian vô hạn từ chính cái hữu hạn đó. Chỉ vì thời gian bản nguyên là hữu hạn nên thời gian ‘phái sinh’ mới có thể tự thời gian hóa như là loại thời gian vô hạn. Trong cái trật tự mà chúng ta nắm bắt các sự vật thông qua sự thấu hiểu, thì tính hữu hạn của thời gian lại không thực sự trở nên rõ nét cho đến khi chúng ta đã trưng ra được ‘thời gian vô tận’ để có thể đối sánh.

[Tr.380] Phân tích của chúng ta về thời gian tính bản nguyên cho đến thời điểm này có thể được tóm lược qua các luận điểm sau: Thời gian mang tính bản nguyên với tư cách là tiến trình thời gian hóa thời gian tính, và nhờ đó, nó làm cho Cấu thành của cấu trúc chăm lo trở nên khả thể. Thời gian tính về bản chất mang tính xuất-thân. Thời gian tính tự thời gian hóa theo cách bản nguyên từ tương lai. Thời gian bản nguyên là hữu hạn. Tuy nhiên, phép Diễn giải về chăm lo như là thời gian tính không thể chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp như đã đạt được, dù rằng nó đã giúp chúng ta thực hiện những bước đầu tiên trong việc nhìn nhận cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể bản nguyên và đích thực của Dasein. Luận điểm cho rằng ý nghĩa của Dasein chính là thời gian tính cần phải được xác nhận thông qua nội dung cụ thể trong trạng thái căn bản của thực thể này, như đã được trình bày trước đó.         

66. Thời gian tính của Dasein và Nhiệm vụ nảy sinh Từ đó: Lặp lại Phân tích Hữu thể theo Cách thức Ban nguyên

Hiện tượng thời gian tính mà chúng ta đã làm sáng tỏ không chỉ đòi hỏi một sự xác nhận bao quát hơn về năng lực cấu thành của nó, mà chính thông qua sự xác nhận đó, bản thân nó mới bộc lộ rõ ​​các khả tính cơ bản tự thời gian hóa. Việc chứng minh khả tính trạng thái Hữu thể của Dasein dựa trên nền tảng thời gian tính sẽ được chỉ định một cách ngắn gọn, dù chỉ là tạm thời, là ‘phép Diễn giải mang tính thời gian’. Nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là vượt ra ngoài phép phân tích thời gian về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của Dasein, cũng như vượt ra ngoài việc mô tả khái quát cái thời gian tính của chăm lo, để từ đó làm sáng tỏ tính không đích thực của Dasein thông qua chính thời gian tính đặc thù của nó. Thời gian tính lần đầu tiên tự xuất hiện trong trạng thái quyết đoán mang tính tiên liệu. Đây là phương thức đích thực của trạng thái ‘khai mở’; tuy nhiên, trạng thái này phần lớn lại duy trì trong tính không đích thực — nơi mà das Man cái ‘họ’ tự diễn giải chính mình theo lối sa ngã. Khi mô tả thời gian tính của trạng thái ‘khai mở’ nói chung, nó dẫ chúng ta đến sự thấu hiểu mang tính thời gian về loại Hữu-thể-trong-thế-giới đầy bận tâm vốn gần gũi nhất với chúng ta; từ đó, ta hiểu được trạng thái chưa phân hóa trung bình của Dasein – điểm khởi đầu làm cơ sở cho phép phân tích hữu thể/cấu thành bản thể của nó.xxiv Chúng ta gọi loại Hữu thể trung bình này của Dasein – trạng thái mà nó tự duy trì trong phần lớn thời gian – là ‘tính thường nhật’. Bằng cách xem xét lại các phân tích trước đó, chúng ta phải làm sáng tỏ tính thường nhật trong ý nghĩa thời gian của nó, để những vấn đề bao hàm trong thời gian tính được bộc lộ, đồng thời cái đặc tính dường như ‘hiển nhiên’ của các phân tích chuẩn bị cũng hoàn toàn biến mất. Thật vậy, thời gian tính được xác nhận thông qua tất cả các cấu trúc thiết yếu cấu thành nên nền tảng của Dasein. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ đơn thuần lặp lại các phân tích cũ một cách hời hợt, máy móc theo đúng trình tự trình bày trước đây. Tiến trình phân tích mang tính thời gian lần này khác biệt hơn: nó nhằm làm rõ [tr.381] mối liên kết giữa các lập luận trước đó, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên hoặc có vẻ võ đoán. Tuy nhiên vượt khỏi những đòi hỏi về phương pháp, chính bản thân hiện tượng này cũng cung cấp những lý do thôi thúc chúng ta phải trình bày lại các phân tích của mình theo một cách khác.

Cấu trúc bản thể luận của cái thực thể mà trong mỗi trường hợp chính là bản thân tôi, tập trung vào Selbstständigkeit tính tự lập của sự xuất-hiện. Vì cái Tự ngã không thể được quan niệm như một Substanz/ substance bản thể hay một subject chủ thể, mà thay vào đó lại bắt rễ từ chính sự xuất-hiện, nên phân tích của chúng ta về cái Tự ngã không đích thực, tức là das Man cái ‘họ’, đã hoàn toàn phụ thuộc vào phép Diễn giải chuẩn bị về Dasein.xxv [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, khái niệm Substanz/ substance bản thể vốn bắt nguồn từ thuật ngữ οὖσα ousia trong tiếng Hy Lạp và substantia trong tiếng Latin được chuyển ngữ sang tiếng Đức và tái định nghĩa thông qua hai thuật ngữ riêng biệt, tùy thuộc vào trường hợp ông phê phán siêu hình học truyền thống hay trường hợp xác định một phương thức hiện hữu cụ thể: 1). Substanz - đối tượng phê phán trong Siêu hình học: i) Heidegger sử dụng thuật ngữ Substanz tương đương trực tiếp của từ tiếng Đức khi phê phán siêu hình học phương Tây truyền thống, đặc biệt là triết học của Aristotle và Descartes; ii) Phê phán của Heidegger - trong triết học truyền thống, một Substanz/bản thể được xem là một chỉnh thể độc lập, tự thân, sở hữu các thuộc tính tĩnh tại chẳng hạn một hòn đá hay một khúc gỗ. Heidegger lập luận rằng việc quy giản thực tại thành một tập hợp các thực thể độc lập đã tạo ra sự phân tách giả thành cái chủ thể [tâm trí con người] và cái khách thể [thế giới]. 2). Vorhandenheit - hiện diện vô tri/khách quan trước mắt: i) Ý nghĩa - khi loại bỏ những gánh nặng siêu hình học truyền thống gắn liền với khái niệm ‘bản thể’ để mô tả cách chúng ta tiếp cận các sự vật tĩnh tại trong thế giới một cách khách quan, Heidegger sử dụng thuật ngữ Vorhandenheit thường được dịch là ‘hiện diện khách quan trước mắt’ hay ‘hiện-diện-vô-tri’; ii) Bối cảnh trong tư tưởng Heidegger - trong Sein und Zeit, thuật ngữ này mô tả phương thức hiện hữu của một sự vật khi chúng ta quan sát nó bằng cái nhìn tách biệt, mang tính khoa học; chẳng hạn, nếu một chiếc búa bị hỏng, chúng ta ngừng sử dụng nó và đột nhiên nhìn chằm chằm vào nó như một vật thể gồm gỗ và kim loại—lúc này, ta nhận thức nó như một ‘thực thể’ Vorhanden hiện diện vô tri thay vì một công cụ. 3) Sự tương phản: Dasein và Wesen - Heidegger đưa ra lập luận nổi tiếng rằng con người không phải là các substances ‘thực thể’: i) Để phân biệt con người với các thực thể vô tri, ông sử dụng thuật ngữ Dasein Có-đó; ii) Ông khẳng định rằng Wesen bản thể/thực thể của Dasein nằm trọn vẹn trong chính sự xuất-hiện của nó—nghĩa là con người được định nghĩa bởi những lựa chọn, hành động và cam kết liên tục với thế giới, chứ không phải bởi các thuộc tính cố định hay tĩnh tại.-HHN]

Giờ đây, khi Selbsthei/ Selfhood Tự ngã tính đã được đưa trở lại một cách tường minh vào cấu trúc Sorge/ care chăm lo, và do đó, vào cấu trúc của thời gian tính, thì phép Diễn giải mang tính thời gian về Selbstständigkeit Tự-ngã-kiên-định-tính và Phi-Tự-ngã-kiên-định-tính12 của nó lại trở nên đặc biệt quan trọng. Phép Diễn giải này cần được thực hiện một cách tách biệt và theo chủ đề. Tuy nhiên, nó không chỉ giúp chúng ta tránh được các ngụy biện hay những câu hỏi sai lệch về mặt bản thể luận liên quan đến Hữu thể của cái ‘Tôi’ nói chung, mà — nhờ vào chức năng trung tâm của mình — nó còn mang lại một phép thấu thị bản nguyên hơn về cấu-trúc-thời-gian-hóa của thời gian tính, vốn tự bộc lộ như là sử tính của Dasein. Mệnh đề ‘Dasein mang tính lịch sử’ được xác nhận là một khẳng định bản thể luận hữu thể/cấu thành bản thể nền tảng. Khẳng định này khác xa với việc chỉ đơn thuần xác lập thuấn túy ontish thực hữu cái sự thật là Dasein xuất hiện trong một ‘lịch sử-thế giới’. Thay vào đó, tính lịch sử của Dasein chính là nền tảng cho một kiểu thấu hiểu về diễn ngôn lịch sử, từ đó mở ra khả năng nắm bắt đặc thù về sự phát triển của diễn ngôn lịch sử historiology với tư cách là một ngành khoa học. 

[Chen ngang: Heidegger sử dụng từ Weltgeschichte Lịch sử Thế giới để phân biệt cách nhìn nhận thông thường, hời hợt về lịch sử với phân tích bản thể luận nền tảng của ông về Dasein hiện hữu người. 1). Sự phân biệt giữa cái mang tính ontish thực hữu và cái thuộc về bản thể luận: i) Weltgeschichte/ World-history Lịch sử Thế giới dưới góc độ thực hữu - Khi nói rằng Dasein hiện hữu người xuất hiện trong một ‘Lịch sử-thế giới’, đó chỉ là một phát biểu mang tính ontish thực hữu, coi lịch sử như một dòng thời gian tuần tự, một chiếc hộp chứa đựng các sự kiện quá khứ, hay một chuỗi các biến cố khách quan xảy ra trong thời gian, nơi con người chỉ tình cờ xuất hiện rồi biến mất; ii) Geschichtlichkeit Tính lịch sử với tư cách bản thể luận - Heidegger lập luận rằng lịch sử chân thực không phải là thứ gì đó tình cờ xảy ra với chúng ta hay tồn tại tách biệt bên ngoài chúng ta; thay vào đó Dasein mang tính lịch sử ngay từ cội rễ, nhờ vào cấu trúc nền tảng của thời gian tính (sự tương tác năng động giữa tương lai, cái đã-từng-là/quá khứ, và cái Hiện tại). 2). Dasein làm cho ‘Lịch sử Thế giới’ trở nên khả thể: i) Heidegger đảo ngược quan điểm truyền thống - Không phải Lịch sử Thế giới tạo ra Dasein, mà chính quá trình lịch sử hóa mang tính bản nguyên của Dasein mới là yếu tố làm cho Lịch sử thế giới trở nên khả thể; iii) Vì Dasein hiện hữu người về bản chất được cấu thành bởi cái quá khứ của tình trạng ‘bị ném vào’ thế giới, bởi những dự phóng chủ động hướng tới tương lai, và bởi cuộc dấn thân vào thế giới của chính mình, nên nó luôn mang theo quá khứ, dù nó có nhận thức rõ điều đó hay không. Tóm lại khi Heidegger bác bỏ quan niệm cho rằng Dasein chỉ đơn thuần ‘xuất hiện trong một Lịch sử thế giới’, ông muốn nói rằng việc nhìn nhận con người như những thực thể thụ động trôi dạt trên dòng sông thời gian lịch sử thông thường là chưa nắm bắt được bản chất vấn đề. Dasein không chỉ ‘ở trong lịch sử’, mà trong căn cội của mình, nó đã mang tính lịch sử; còn ‘Lịch sử thế giới’ theo cách hiểu thông thường chỉ là kết quả phái sinh của thời gian tính hữu thể/cấu thành bản thể sâu xa hơn của chính Dasein.-HHN]

[Chen ngang tiếp: Đối với Heidegger thì Historie/ Historiology được hiểu là khoa học lịch sử hoặc sử học—tức là ngành nghiên cứu mang tính học thuật, lý thuyết và khách quan hóa về các sự kiện trong quá khứ. Để hiểu rõ ngọn nguồn khái niệm này cần phải đặt nó đối lập với khái niệm Geschichte/ history lịch sử. Heidegger đã thực hiện một sự phân biệt ngôn ngữ học và triết học sâu sắc giữa hai thuật ngữ này để vạch trần giới hạn của khoa học lịch sử truyền thống. 1) Sự khác biệt cốt lõi giữa Historie và Geschichte: i) Historie/ Historiology/ Khoa học Lịch sử là khoa học về quá khứ, biến quá khứ thành một đối tượng nghiên cứu tĩnh, thu thập dữ liệu, phân tích nguyên nhân và kết quả; ii) Khách quan hóa quá khứ: Heidegger cho rằng Historiology Khoa học Lịch sử nhìn nhận lịch sử như một chuỗi các sự kiện đã qua, ‘đã chết’ và được xếp vào lưu trữ để phân tích mổ xẻ; iii) Khoa học Lịch sử biến lịch sử thành một thứ đồ vật để chiếm lĩnh về mặt tri thức. 2). Căn nguyên từ Sử tính Geschichtlichkeit/ Historicity): Heidegger nhấn mạnh rằng khoa học lịch sử không tự nhiên mà có; nó chỉ khả thể vì Dasein hiện hữu người mang tính lịch sử sâu sắc; nó ‘bị ném vào’ một thế giới có sẵn truyền thống, ngôn ngữ và văn hóa; chính vì hiện hữu với quá khứ, hiện tại, tương lai giao thoa qua Temporality Thời gian tính, nên sử tính Geschichtlichkeit của Dasein mới là nguyên cớ để có thể có một ngành khoa học để nghiên cứu lại quá khứ đó. 3). Mối nguy của Historicism Chủ nghĩa lịch sử: i) Heidegger cảnh báo rằng nếu quá phụ thuộc vào Historie Lịch sử học, con người dễ rơi vào việc thu thập sự kiện một cách vô hồn, biến lịch sử thành một thứ kiến thức bách khoa xa lạ, tách rời khỏi các quyết định hữu thể/cấu thành bản thể của Dasein hiện hữu người ở hiện tại; ii) Kế thừa từ triết gia Friedrich Nietzsche, Heidegger chỉ ra rằng một Khoa học Lịch sử chân thực phải phục vụ cho sự sống và được định hình bởi chính ba chiều kích Thời gian của Dasein, đó là - Sử học tượng đài (Monumental historiology): Hướng về những khả năng lớn lao trong quá khứ để làm động lực cho tương lai; - Sử học cổ vật Antiquarian historiology - Gìn giữ và tôn kính cội nguồn nhằm bảo tồn hiện tại; - Sử học phê phán (Critical historiology): Phán xét và rũ bỏ những gánh nặng quá khứ để giải phóng Dasein khỏi những truyền thống đã thoái hóa. Tóm lại, với Heidegger, Historiology là tầng mặt—ngành khoa học nghiên cứu các dữ kiện lịch sử. Nhưng để không trở thành đống tài liệu vô tri, nó phải luôn bám rễ, soi chiếu vào Geschichte và Geschichtlichkeit—tức là dòng chảy lịch sử sống động mà Dasein hiện hữu người luôn trực tiếp dấn thân và kiến tạo hàng ngày.-HHN]

Thông qua việc Diễn giải tính thường nhật và sử tính về phương diện thời gian, chúng ta sẽ có được cái nhìn đủ rõ nét về thời gian bản nguyên, từ đó làm sáng tỏ nó như là điều kiện khiến cho trải nghiệm thường nhật về thời gian trở nên vừa khả thể, vừa tất yếu. Là một thực thể mà chính Hữu thể của nó là một vấn đề, Dasein chủ yếu tự vận dụng chính mình cho chính mình — dù là một cách tường minh hay không. Một cách trực tiếp nhất và phần lớn, chăm lo biểu hiện dưới dạng một mối bận tâm có tính bao quát cẩn trọng. Trong việc sử dụng chính mình vì lợi ích của chính mình, Dasein ‘tiêu hao chính mình’. Khi tiêu hao chính mình, Dasein sử dụng chính mình—tức là, sử dụng thời gian của chính nó.13 Và khi sử dụng thời gian, Dasein cũng đồng thời tính toán với nó. Thời gian được phát hiện lần đầu tiên trong mối bận tâm có tính toán [tr.382] cẩn trọng, và mối bận tâm này dẫn đến việc hình thành một phương thức tính toán thời gian. Việc tính toán với thời gian là yếu tố cấu thành nên Hữu-thể-trong-thế-giới. Việc khám phá đầy bận tâm và thận trọng, trong hành động tính toán thời gian cho phép các sự vật mà chúng ta đã phát hiện ra, và vốn là những sự vật sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri, đều có thể được bắt gặp trong thời gian. Như vậy, các thực thể bên-trong-thế-giới trở nên có thể tiếp cận với tư cách ‘hiện hữu trong thời gian’. Chúng ta gọi thuộc tính thời gian của các thực thể bên-trong-thế-giới là die Innerzeitkeit ‘tính-ở-trong-thời-gian’. Loại ‘thời gian’ được tìm thấy trước hết về phương diện ontish thực hữu thông qua ‘tính-ở-trong-thời-gian’ này, trở thành nền tảng hình thành nên quan niệm truyền thống thông thường về thời gian. Tuy nhiên, thời gian — dưới dạng ‘tính-ở-trong-thời-gian’ — lại nảy sinh từ một loại thời gian hóa thiết yếu của thời gian tính bản nguyên. Chính sự thật đây chính là nguồn gốc của nó cho thấy rằng thời gian — cái ‘trong-cái- mà’, vốn hiện-diện-vô-tri lại nảy sinh rồi mất đi, là một hiện tượng thời gian chân thực; nó đâu phải là loại ngoại tại hóa một ‘thời gian định tính’ thành không gian, như phép Diễn giải Bergson về thời gian, vốn là phép Diễn giải mơ hồ, không thỏa đáng về phương diện bản thể luận - thì lẽ nào ta phải tin.

[Chen ngang: Henri Bergson cho rằng thời gian thực sự của ý thức là một dòng chảy liên tục, định tính, các trạng thái tâm thức thâm nhập vào nhau mà không thể tách rời hay đếm được. Vì vậy ông đã ‘không gian hóa thời gian’ vì cho rằng vì nhu cầu thực tiễn và khoa học như đo đạc, tính toán, con người đem ‘thời gian’ trải lên một mặt phẳng không gian—biến dòng chảy liên tục thành một chuỗi các ‘khoảnh khắc’ đứng yên, nối tiếp nhau như các điểm trên một đường thẳng hay các vạch trên đồng hồ. Với Bergson, đây là sự hiểu sai thời gian do thói quen không gian hóa. 1). Sự hiểu lầm và chỉ trích của Heidegger đối với Bergson và Heidegger phê phán chính cấu trúc tư duy này của Bergson ở hai điểm cốt lõi: i) Ông cho rằng Bergson vẫn giữ ‘không gian’ làm điểm tựa và cáo buộc rằng khi Bergson định nghĩa thời gian durée nội tâm rồi đối lập nó với việc ‘ngoại hóa thành không gian’, Bergson vô tình vẫn nhìn thời gian qua lăng kính truyền thống bắt nguồn từ Aristotle và Kant, tức là lấy ‘chuỗi liên tục’ ra làm nền tảng, rồi xem thời gian như một cái gì đó được đặt vào hoặc bị tách ra khỏi không gian; ii) Bất định bản thể luận và không thỏa đáng - Heidegger cho rằng quan niệm của Bergson là không gian hóa thời gian nên vẫn mang tính tâm lý học, coi thời gian như một thuộc tính của ý thức chủ thể, chứ chưa chạm đến được bản thể luận gốc gác của thời gian. 2). Thời gian đích thực theo quan niệm của Heidegger: i) Đối với Heidegger, thời gian không phải là một ‘thứ’ dù là định tính hay định lượng nằm bên trong ý thức rồi bị ngoại hóa ra ngoài, cũng không phải là dòng chảy đồng hồ; ii) Dasein hiện hữu người là thời gian - nó không ‘tồn tại trong thời gian’, mà chính Dasein hiện hữu người là Zeitlichkeit/ temporality thời gian tính; iii) Primordial temporality Thời gian bản nguyên của Heidegger là sự phóng chiếu thống nhất của Dasein hướng về tương lai phóng chiếu khả tính, gắn liền với quá khứ của tính đã-từng-là, và Hiện tại của Sorge/care Chăm lo, chứ không phải một đại lượng bị ném vào không gian.-HHN]

Khi phân tích ‘thời gian tính’ của Dasein dưới các khía cạnh như tính thường nhật, tính lịch sử và tính-ở-trong-thời-gian, chúng ta sẽ lần đầu tiên có được cái nhìn sâu sắc và thấu đáo về những phức tạp trong một bản thể luận bản nguyên về Dasein. Với tư cách là Hữu-thể-trong-thế-giới, Dasein tồn tại một cách thực tế cùng với và bên cạnh các thực thể mà nó bắt gặp trong-thế-giới. Do đó, Hữu thể của Dasein chỉ trở nên minh bạch về phương diện bản thể luận một cách toàn diện khi đặt trong một chân trời14 trong đó cái Hữu thể của các thực thể khác Dasein, bao gồm cả những thực thể không thuộc loại sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri mà chỉ đơn thuần ‘tồn tại’, đã được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, nếu các biến thể của Hữu thể cần được diễn giải cho mọi sự vật mà ta khẳng định rằng ‘Nó hiện hữu’, thì ta cần có một ý niệm về Hữu thể nói chung; và ý niệm này cần phải làm sáng tỏ từ trước. Chừng nào chưa đạt tới ý niệm đó, thì việc phân tích tính thời gian của Dasein, dù có được lặp lại, vẫn sẽ mãi dang dở và đầy rẫy những điểm mù; đó là chưa kể đến các khó khăn khách quan khác. Về phần mình, phép phân tích hữu thể-mang tính thời gian đối với Dasein đòi hỏi phải được thực hiện lại từ đầu, trong một khuôn khổ mà khái niệm Hữu thể phải được thảo luận một cách căn bản.

IV THỜI GIAN TÍNH VÀ TÍNH THƯỜNG NHẬT

67. Nội dung Cơ bản Cấu thành Hữu thể của Dasein và Phác thảo Sơ bộ về phép Diễn giải Cấu thành Mang tính thời gian đó

[Tr. 383] Phân tích chuẩn bị của chúng ta đã mở ra vô số hiện tượng có thể tiếp cận; và dù chúng ta có tập trung sâu đến đâu vào tổng thể cấu trúc nền tảng Sorge/care Chăm lo, thì những hiện tượng đó cũng không được phép biến mất khỏi tầm nhìn hiện tượng luận của chúng ta. Tổng thể tính bản nguyên trong cấu thành của Dasein không những không loại trừ một loại đa bội tính như vậy, mà ngược lại, chính cấu thành đó lại đòi hỏi nó phải được diễn giải. Tính bản nguyên của một trạng thái Hữu thể không đồng nhất với tính giản đơn hay tính duy nhất của một yếu tố cấu trúc tối hậu nào đó. Nguồn gốc bản thể luận Hữu thể của Dasein không hề ‘thấp kém’ hơn những gì nảy sinh từ nó; trái lại, ngay từ đầu, nguồn gốc ấy đã vượt trội về sức mạnh. Trong lĩnh vực bản thể luận, bất kỳ sự ‘nảy-sinh-từ’ nào cũng đều là một dạng thoái hóa. Nếu thâm nhập được đến ‘nguồn gốc’ bản thể luận, thì sẽ không bắt gặp những điều vốn hiển nhiên về phương diện thực hữu đối với ‘hiểu biết thông thường’; thay vào đó, chính tính chất đầy nghi vấn của những điều hiển nhiên ấy lại mở ra trước chúng ta.

Khi đưa các hiện tượng đã tìm thấy trong phân tích chuẩn bị trở lại tầm nhìn hiện tượng luận, thì chỉ cần nhắc lại những giai đoạn mà chúng ta đã đi qua là đủ. Định nghĩa Sorge/care Chăm lo của chúng ta xuất phát từ phân tích về Erschlossenheit/disclosedness trạng thái khai mở, vốn cấu thành nên cái Hữu thể của cái ‘có-đó’. Việc làm sáng tỏ hiện tượng này đòi hỏi chúng ta phải đưa ra phép Diễn giải tạm thời về Hữu-thể-trong-thế-giới, trạng thái cơ bản của Dasein. Nghiên cứu của chúng ta bắt đầu bằng việc mô tả Hữu-thể-trong-thế-giới, ngay từ đầu nhằm đảm bảo một chân trời hiện tượng luận thỏa đáng, đối lập với những cách tiếp cận không phù hợp, thường mơ hồ, vốn đã định hình bản chất của Dasein từ trước về phương diện bản thể luận. Hữu-thể-trong-thế-giới trước hết được đặc tả thông qua hiện tượng thế giới. Trong giải thích của chúng tôi, điều này được thực hiện bằng cách mô tả về phương diện thực hữu-bản thể luận những gì sẵn-có-để-dùng và hiện-diện-vô-tri ‘trong’ môi trường; từ đó làm nổi bật tính chất ở-trong-thế-giới, nhờ vậy mà hiện tượng die Weltlichkeit ‘tính thế giới’ nói chung có thể được hiển lộ. Tuy nhiên, sự thấu hiểu lại gắn kết cốt yếu với [tr.384] trạng-thái-khai-mở; và cấu trúc của ‘tính thế giới’, tức là biểu nghĩa, cho thấy mối gắn kết với cái mà sự thấu hiểu tự phóng chiếu vào, đó chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà vì nó Dasein mới xuất-hiện.

[Chen ngang: die Weltlichkeit/worldhood Tính thế giới: i) Lưu ý quan trọng của Heidegger là trong tiếng Đức thông thường, weltlich hay Weltlichkeit mang nghĩa là ‘trần tục/trần thế’ hay ‘thói đời’ của con người. Tuy nhiên, Heidegger tách hẳn từ này khỏi nghĩa thông dụng đó để dùng theo nghĩa bản thể luận-cấu thành bản thể. 1) Ý nghĩa của Weltlichkeit/ Worldhood của Heidegger: i) Weltlichkeit không phải là vật chất hay vũ trụ, không chỉ về vũ trụ vật lý, môi trường tự nhiên, hay một tập hợp các đồ vật nằm bên ngoài con người; ii) Cấu trúc ý nghĩa của Dasein hiện hữu người - là bản chất của việc là một thế giới—tức là mạng lưới các mối quan hệ, ý nghĩa và sự tương tác mà nhờ đó Dasein có thể hiểu và kết nối với các sự vật xung quanh; iii) Tính chất Hữu-thể-trong của Dasein: Thế giới không phải là một chiếc hộp chứa đựng các đồ vật, mà thế giới tính là cấu trúc sẵn có giúp con người luôn In-der-Welt-sein ở-trong-thế-giới một cách gắn bó, thực tiễn thay vì chỉ đứng ngoài quan sát thuần túy; iv) Zeug/ Equipment Mạng lưới công cụ - khi sống trong thế giới, chúng ta không nhìn thấy các sự vật như những vật thể hiện-diện-vô-tri một cách cô lập, mà trải nghiệm chúng qua dụng ích và các mối liên hệ hướng đến (để làm gì, cho ai, với cái gì); v) Weltlichkeit/ Worrldhood chính là điều kiện nền tảng làm cho những ý nghĩa này trở nên khả thể.-HHN]

Việc diễn giải mang tính thời gian đối với Dasein trong đời sống thường nhật phải bắt đầu từ chính những cấu trúc trong đó trạng-thái-khai-mở tự cấu thành: sự thấu hiểu, tâm thế, tình trạng sa ngã và diễn ngôn. Các phương thức mà thời gian tính thời gian hóa cần được làm sáng tỏ thông qua những hiện tượng này; đây sẽ là cơ sở để chúng ta xác định thời gian tính của Hữu-thể-trong-thế-giới. Điều này dẫn chúng ta trở lại với hiện tượng thế giới và cho phép xác định phạm vi các vấn đề mang tính thời gian đặc thù của Weltlichkeit/ Worrldhood tính thế giới. Để khẳng định điều này, cần mô tả loại Hữu-thể-trong-thế-giới gần gũi nhất với chúng ta trong đời sống thường nhật, đó là sự bận tâm mang tính sa ngã và xem xét cẩn trọng. Chính thời gian tính của các mối bận tâm này cho phép việc xem xét cẩn trọng đó biến đổi thành hành vi tri giác các sự vật, cũng như hình thành nên nhận thức lý thuyết vốn bắt rễ từ kiểu tri giác ấy.

Như vậy, thời gian tính của Hữu-thể-trong-thế-giới dần lộ diện, đồng thời trở thành nền tảng cho Räumlichkeit không gian tính đặc thù của Dasein. Chúng ta cũng cần chỉ ra cái Cấu thành mang tính thời gian của các khái niệm ‘xóa bỏ khoảng cách’ và ‘tính định hướng’. Xét một cách tổng thể, những phân tích này sẽ hé lộ khả tính cho hành vi thời gian hóa của thời gian tính, nơi mà tính không-chân-thực của Dasein được đặt nền tảng về phương diện bản thể luận; đồng thời, chúng đưa chúng ta đối diện với câu hỏi: làm thế nào để hiểu được đặc tính thời gian của đời sống thường nhật—tức là ý nghĩa mang tính thời gian ẩn sau cụm từ zunächst und zumeist ‘trước hết và phần lớn’ mà chúng ta vẫn thường xuyên sử dụng từ trước đến nay? [Chen ngang: Heidegger dung các từ tiếng Đức: zunächst und zumeist với ý nghĩa sau: i) zunächst có nächst là cấp so sánh hơn nhất của nah - gần: nghĩa đen là ‘ngay gần nhất’, ‘tiên khởi’, hoặc ‘thứ gần nhất’ không qua trung gian; nó chỉ cái hiện diện trước mắt, đập vào mắt ta ngay lập tức trong cách chúng ta dấn thân vào thế giới; ii) zumeist nghĩa là ‘hầu hết thời gian’, ‘phần lớn’, hay ‘thông thường’, chỉ thói quen, xu hướng lặp đi lặp lại trong đời sống thường nhật. 2). Heidegger dùng cụm từ này để mô tả cái Durchschnittlichkeit trạng thái thường nhật của Dasein: i) Cách Dasein hiện hữu người trước hết cấu thành bản thể: - Khi Dasein xuất-hiện, nó không bắt đầu bằng việc suy tư triết học, hoài nghi Descartes, hay phân tích khoa học; thay vào đó, nó ở-trong-thế-giới bằng mạng quan hệ với công việc, công cụ, và sống theo nề nếp của das Man cái ‘họ’; ii) Che giấu bản nguyên: - Chính vì Dasein hiện hữu người zunächst und zumeist cận kề và phần lớn thời gian bị cuốn vào các bận tâm thực tế thường nhật đó, nên bản chất sâu thẳm của Hữu thể bị khuất lấp đi; iii) Tính phi-chân-thực – Dasein cận kề và phần lớn thời gian là phi-chân-thực, tức là nó tự hiểu mình thông qua những gì das Man cái ‘họ’ đang làm, qua vai trò xã hội hoặc công việc hằng ngày, thay vì nắm bắt chân thực cái khả tính của chính mình.-HHN]. Bằng cách tập trung vào vấn đề này, chúng ta sẽ làm sáng tỏ cách thức lý giải hiện tượng vốn chưa được thấu hiểu đầy đủ, đồng thời cho thấy mức độ của thiếu sót đó. Vì vậy, chương này được chia thành các phần sau: Thời gian tính của trạng-thái-khai-mở (Mục 68); Thời gian tính của Hữu-thể-trong-thế-giới và cái siêu việt (Mục 69); Thời gian tính của không gian tính đặc thù ở Dasein (Mục 70); Ý nghĩa thời gian trong đời sống thường nhật của Dasein (Mục 71).

____________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Zukunft, Gewesenheit, Gegenwart zeigen die phänomenalen Charaktere des “Aufsich-zu”, des “Zurück auf”, des “Begegnenlassens von”.’ Về những cách diễn đạt này cf. H. 326 ở trên. [tr.377]

2 ‘Die Phänomene des zu…, auf…, bei…offenbaren die Zeitlichkeit als das εκστατικόν ekstatikon schlechthin. Zeitlichkeit ist das ursprüngliche "Ausser-sich" and undfür sich selbst. Wir nennen daher die charakterisierten Phänomene Zukunft, Gewesenheit, Gegenwart die Ekstasen der Zeitlichkeit.’ Mối liên hệ của các từ ‘zu’, ‘auf’ và ‘bei’ với các cách diễn đạt được liệt kê trong câu trước, hơi khó hiểu ngay cả trong tiếng Đức và được làm rõ nhất bằng cách nghiên cứu các trang trước. Tóm lại, mối tương quan dường như như sau: i) zu: Zukunft; aufsich zukommen; Auf-sich-zu; Sich-vorweg; Schon-sein-in; ii) auf: Gewesenheit; zurückkommen auf; Cảm thấy khó chịu; iii) bei: Gegenwart; Bắt đầu từ; Sein-bei. Nghĩa gốc của từ ‘ngây ngất’ (tiếng Hy Lạp ἔκστασις; tiếng Đức, ‘Ekstase’) là ‘đứng bên ngoài’. Thường được sử dụng trong tiếng Hy Lạp để chỉ “sự loại bỏ” hay “sự dịch chuyển” của một cái gì đó, nó được áp dụng cho những trạng thái tinh thần mà ngày nay chúng ta gọi là “ngây ngất”. Heidegger thường ghi nhớ nghĩa gốc cơ bản, nhưng ông cũng nhận thức sâu sắc về mối liên hệ chặt chẽ của nó với nghĩa gốc của từ ‘tồn tại’. [tr.377]

3 ‘…dass sie zukünftig gewesen allererst die Gegenwart weckt.’ [p.378]

4 ‘…noch in der abkünftigen “Zeit”.’ Ở đây Heidegger đang đối chiếu loại thời gian đích thực trong đó Dasein “tiến tới” chính nó trong tương lai [‘auf sich zukommt zukünftig’] với loại thời gian không xác thực ‘xuất phát’ từ cái này hoặc ‘bắt nguồn’ từ nó [‘abkommt’], và do đó nó có tính chất ‘phái sinh’ [‘abkünftig’]. [tr.378]

5 ‘…sondern Exiert endlich.’ [tr.378]

6 ‘Die eigentliche Zukunft, die primar die Zeitlichkeit zeitigt, die den Sinn der vorlaufenden Entschlossenheit ausmacht, enthielt sich damit selbst als endliche.’ [p.378]

7 ‘Allein “geht” trotz des Nichtmehrdaseins meiner selbst “die Zeit nicht weiter” ?'[p.378]

8 ‘…das Auf-sich-zu, aufsich…’ [p.378]

9 ‘…class sie das Seinkönnen achliesst, das heisst selbst geschlossen ist…Động từ ‘schliessen’, như được sử dụng ở đây, có thể có nghĩa là kết thúc hoặc đóng cửa, hoặc kết luận hoặc kết thúc. Có lẽ tác giả có cả hai giác quan trong tâm trí. [tr.379]

10 ‘…hinsichtlich der Endlichkeit và Un-endlichkeit…’ Chúng tôi đã cố gắng bảo tồn sự phân biệt chính tả của Heidegger giữa ‘Unendlichkeit’ và ‘Un-endlichkeit’ bằng cách dịch cái trước là ‘vô cực’, cái sau là ‘trong vô hạn’. Tương tự, chúng ta sẽ sử dụng ‘infinite’ và ‘in-finite’ cho ‘unendlich’ và ‘un-endlich’ tương ứng. [tr.379]

11 Từ này (‘wie’) chỉ được in nghiêng trong các lần xuất bản sau. [tr.379]

12 ‘…Selbst-standigkeit và Unselbst-standigkeit…’ Cf. ghi chú 2, tr. 369, H. 322. [tr.381]

13 ‘Umwillen seiner selbst verwendend, “verbraucht” sich das Dasein. Sichverbruchend braucht das Dasein sich selbst, dass heisst seine Zeit.’ Ở đây ba động từ, đôi khi tất cả đều có thể được dịch là ‘sử dụng’, tương phản nhau một cách tinh tế. ‘Verwenden’ có nghĩa đen là ‘đưa cái gì đó đi’, nhưng thường được dùng với nghĩa ‘chuyển cái gì đó vào tài khoản’, ‘tận dụng nó’ ; trong cấu trúc phản thân như chúng ta có ở đây, nó thường mang ý nghĩa đặc biệt hơn là ‘tự mình áp dụng’ thay mặt ai đó. (Trong các đoạn trước chúng ta thường dịch ‘verwenden’ là ‘sử dụng’.) ‘Verbrauchen’ có nghĩa là ‘tiêu thụ’ hoặc ‘sử dụng hết’. ‘Brauchen’ cũng có nghĩa là ‘sử dụng’; nhưng nó cũng có nghĩa là “cần”, và thật khó để nói Heidegger ở đây nghĩ đến giác quan nào trong số những giác quan này. [tr.381]

14 ‘Das Sein des Daseins empfangt daher seine umfassende ontologische Durchsichtigkeit erst im Horizont…’ Trong các ấn bản cũ hơn, ‘erst’ xuất hiện sau ‘daher’ thay vì sau ‘Durchsichtigkeit’. [tr.382]

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXIX)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

III. TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CHÂN THỰC CỦA DASEIN, VÀ THỜI GIAN TÍNH NHƯ LÀ Ý NGHĨA BẢN THỂ LUẬN CỦA CHĂM LO

[Tr. 368] Khi nói ‘Tôi’, Dasein tự biểu đạt mình như là Hữu-thể-trong-thế-giới. Nhưng liệu việc nói ‘Tôi’ theo cách thức thường nhật có bao hàm sự tự nhận thức về chính mình như là một ‘hiện-hữu-trong-thế-giới’ hay không? Ở đây, chúng ta cần phân biệt rõ. Khi nói ‘Tôi’, Dasein chắc chắn đang hướng đến cái thực thể mà trong mọi trường hợp, chính là bản thân nó. Tuy nhiên, cách diễn giải thường nhật về cái Tự ngã lại có xu hướng tự lý giải trong khuôn khổ cái ‘thế giới’ mà nó đang bận tâm. Khi Dasein tự nhìn nhận bản thân ở bình diện thực hữu, nó lại bỏ lỡ việc nhìn nhận chính mình trong mối tương quan với loại Hữu thể của chính cái thực thể là bản thân nó. Điều này đặc biệt đúng đối với trạng thái cơ bản của Dasein, Hữu-thể-trong-thế-giới.xxi

Động cơ nào dẫn đến cách nói ‘Tôi’ mang tính ‘trốn chạy’ này? Nó bắt nguồn từ tình trạng ‘sa ngã’ của Dasein; bởi lẽ, trong trạng thái sa ngã, Dasein trốn chạy khỏi chính mình để ẩn náu vào cái gọi là das Man cái ‘họ’.1  Khi cái ‘Tôi’ được thốt lên theo cách thức ‘tự nhiên’, thì nó được trình diễn bởi cái Tự-ngã-họ.2 Điều được biểu đạt qua cái ‘Tôi’ chính là cái Tự-ngã mà, trong phần lớn các trường hợp và ở giai đoạn đầu, tôi không hiện hữu một cách đích thực. Khi một kẻ đắm chìm trong vô vàn sự vật thường nhật cùng chuỗi biến chuyển dồn dập của những gì mà kẻ đó bận tâm, thì cái Tự-ngã của cái tự ngã lãng quên ‘Tôi đang bận tâm’ kia – lại tự hiện ra như một thực thể giản đơn, luôn đồng nhất với chính nó nhưng lại mơ hồ và trống rỗng. Tuy nhiên, kẻ kia lại chính là kẻ tự bận tâm về bản thân. Trong cung cách mang tính thực hữu ‘tự nhiên’ mà ở đó cái ‘Tôi’ trò chuyện thì nội dung hiện tượng về cái Dasein vốn nhắm đến cái ‘Tôi’ lại thường bị bỏ qua; nhưng đó không phải là lý do chính đáng để chúng ta cùng can dự vào việc tiếp tục lờ nó đi, hay áp đặt một chân trời ‘phạm trù’ không phù hợp lên vấn đề về cái Tự ngã khi ta Diễn giải cái ‘Tôi’ về phương diện bản thể luận. Tất nhiên, việc từ chối đi theo cách thức mà trong đó [tr.369] cái ‘Tôi’ trò chuyện thì cách Diễn giải bản thể luận của chúng ta về cái ‘Tôi’ vẫn hoàn toàn chưa giải quyết được vấn đề; song, cách tiếp cận này đã vạch ra phương hướng cho các nghiên cứu sâu hơn. Bằng cái ‘Tôi’, chúng ta hướng đến chính cái kẻ vẫn ‘hiện hữu-trong-thế-giới’ đó.

Tuy nhiên Hữu-thể-đã-ở-trong-một-thế-giới, với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh-cái-sẵn-có-để-dùng-trong-thế-giới, về phương diện đồng bản nguyên có nghĩa là kẻ kia luôn vượt trước chính mình. Với cái ‘Tôi’, chúng ta đang nhắm đến cái thực thể mà đối với nó, vấn đề chính là cái Hữu-thể của bản thân thực thể đó. Bằng cái ‘Tôi’, Sorge/ care chăm lo tự thể hiện, dù ban đầu và phần lớn chỉ xuất hiện bằng cách thức ‘lảng tránh’ trong đó cái ‘Tôi’ trò chuyện khi tự bận tâm về một điều gì đó. Cái tự-ngã-họ liên tục thốt lên ‘Tôi’ một cách ồn ào và thường xuyên nhất, bởi lẽ về cơ bản, nó không đích thực là chính nó và đang né cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của mình. Nếu cấu thành bản thể luận của Tự ngã không thể quy về một Ichsubstanz/I-substance ‘Tôi’-thực thể hay một Subjekt/Subject ‘chủ thể’ nào đó, mà ngược lại, cách thức ‘lảng tránh’ thường nhật kia, trong đó chúng ta luôn nói ‘Tôi’ phải được thấu hiểu bằng khuôn khổ của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chúng ta, thì mệnh đề mà cái Tự ngã là cơ sở của chăm lo và hiện-diện-vô-tri, thì điều đó vẫn không hợp lý.

[Chen ngang: Ichsubstanz/ I-substance ‘Tôi’-thực thể được Heidegger sử dụng để: i) Bác bỏ quan điểm siêu hình học truyền thống bắt nguồn từ Descartes cho rằng Ego cái Tôi của con người là một Die denkende Substanz thực thể Tư duy, một res cogitans ‘vật tư duy’, hay một điểm tựa cố định kiểu như Ichsubstanz cái ‘Tôi’-thực thể; ii) Trong tiếng Đức, từ chỉ ‘chủ thể’ là das Subjekt (số nhiều: die Subjekte), còn ‘chủ thể tính’ là die Subjektivität. Tuy nhiên, trong tác phẩm của Heidegger, khái niệm này có một vị trí đặc biệt: i) Từ chối quan niệm truyền thống - Heidegger chủ động tránh hoặc phê phán khái niệm Subjekt chủ thể theo kiểu Descartes [đối lập với Objekt khách thể]; ii) Thay thế bằng Dasein - thay vì dùng ‘con người’ hay ‘chủ thể’, Heidegger đưa ra thuật ngữ Dasein hiện hữu người ‘có-đó’ để chỉ cách thức Hữu thể đặc thù của con người trong-thế-giới; iii) Bản chất của Dasein - Dasein không phải là một ‘chủ thể nhận thức’ khép kín, mà là một hiện hữu người đang diễn ra, luôn gắn liền và vướng mắc trong thế giới cùng với những sự vật và những Kẻ khác; iv) Dasein không phải là một Chất thể, mà là Sorge/care Chăm lo và Temporality thời gian tính: Heidegger lập luận rằng sự Xuất-hiện của Dasein hiện hữu người không thể bị quy giản thành một chủ thể biệt lập hay một Ichsubstanz ‘Tôi-chất thể’ chỉ đơn thuần hiện diện trong thời điểm hiện tại; thay vào đó, cái ‘Tôi’ được hình thành thông qua Sorge/care Chăm lo, thông qua In-der-Welt-sein quá trình cấu thành/ khai mở bản thể với tư cách Hữu-thể-trong-thế-giới với các mối quan hệ, và thông qua Zeitlichkeit thời gian tính — tức là sự phóng chiếu về phía các khả tính tương lai trong khi vẫn kế thừa quá khứ; v) Cách nói ‘Tôi’ đầy tính ‘thoáng qua’ - khi thốt lên cái ‘Tôi’ trong giao tiếp thường ngày, chúng ta không hề ám chỉ đến một Ichsubstanz Tôi-chất-thể tĩnh tại hay một đối tượng tinh thần nào đó; thay vào đó, cái tự ngã tính được hiện thực hóa một cách năng động thông qua các tiềm-năng-cho-Hữu-thể dù là Eigentlichkeit chân thực hay Uneigentlichkeit không chân thực —chứ không phải thông qua một thực thể cố định, vĩnh viễn.-HHN]

[Chen ngang tiếp: Sorge/ Care - Chăm lo và Zeitlichkeit/Temporality/ Thời gian tính là hai khái niệm nền tảng gắn bó mật thiết với nhau: Thời gian tính chính là ý nghĩa bản thể luận của Chăm lo với Ý nghĩa sau: 1). Sorge/ care Chăm lo: i) Chăm lo không phải là một cảm xúc tâm lý nhất thời, cũng không phải là sự lo âu vặt vãnh; nó là cấu trúc bản thể luận cơ bản của Dasein hiện hữu người ở-trong-thế-giới; ii) Dasein luôn ‘bị ném vào’ thế giới, luôn bận tâm đến sự tồn tại của chính mình, gắn bó với Mitsein Kẻ khác và tương tác với các Besorgen công cụ/đồ vật – lo toan đối với sự vật; Fürsorge quan tâm đến Kẻ khác; bản chất của Dasein hiện hữu người là hướng về phía trước, bị chi phối bởi các khả tính của chính mình. 2). Thời gian tính Zeitlichkeit và Temporalität/ Temporality - Heidegger phân biệt hai thuật ngữ gốc thời gian: i) Zeitlichkeit Thời gian tính của Dasein - Chỉ cấu trúc thời gian thuộc về Dasein; thời gian ở đây không phải là một chuỗi các ‘khoảng khắc’ vật lý trôi qua một cách khách quan trên đồng hồ như giờ, phút, giây, mà là tính chất ecstatic xuất thân gồm ba chiều kích liên kết chặt chẽ với nhau: - Tương lai (Zu-künftige): Sự phóng chiếu (projection) – Dasein luôn vượt trước chính mình, sống hướng tới những khả thể tương lai; - Quá khứ / Đã-là (Gewesenheit): Tình trạng 'bị ném vào' – Dasein luôn mang theo lịch sử, xuất thân và những gì đã xảy ra với mình; - Hiện tại (Gegenwart): Làm cho hiện diện – Dasein dấn thân, đối diện và 'bắt gặp' các sự vật, hiện hữu trong hiện tại; ii) Temporalität Thời gian tính nói chung của Sein/ Being được Heidegger dùng để chỉ chân trời rộng lớn hơn – nơi thấu hiểu và điều kiện hóa quá trình cấu thành/ khai mở Bản thể nói chung. 3). Mối liên hệ giữa Temporality (Zeitlichkeit) và Sorge/ care: i) Temporality là ‘chìa khóa’ mở ra Sorge/ care Chăm lo: Heidegger chứng minh rằng toàn bộ cấu trúc của Sorge chăm lo có nền tảng vững chắc từ Zeitlichkeit (Tính thời gian); ii) Cụ thể hóa cấu trúc ba chiều của Chăm lo qua lăng kính thời gian: Sich-vorweg-sein/ Being-ahead-of-oneself Hữu-thể-đi-trước-chính-mình/phóng chiếu tương ứng với chiều kích Tương lai; schon-sein-in/ Hữu-thể-đã-ở-trong thế giới/bị ném vào hoàn cảnh - tương ứng với chiều kích Quá khứ; Sein-bei Hữu-thể-bên-cạnh tương ứng với chiều kích Hiện tại; Dasein chăm sóc, lo toan, vướng mắc vào cuộc sống bởi vì nó là thực thể ‘có tính thời gian’ – bị kéo đi giữa quá khứ đã định hình và tương lai đang vươn tới.- HHN]

Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính chỉ có thể được nhận diện về phương diện hữu thể/cấu thành bản thể thông qua tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-kẻ-nào-đó đích thực— nghĩa là, trong tính đích thực của Dasein với tư cách Sorge/care Chăm lo. Trong khuôn khổ Chăm lo, tính ổn định của Selbst cái Tự ngã — vốn thường bị hiểu lầm là sự tồn tại dai dẳng của một subjectum chủ thể — được minh định. Tuy nhiên, hiện tượng về tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực này cũng giúp ta nhìn nhận tính ổn định của Selbst cái Tự ngã theo nghĩa nó đã đạt đến một vị thế nhất định.3 Tính ổn định của Selbst cái Tự ngã, hiểu theo cả hai nghĩa là trạng thái ổn định và trạng thái kiên định chính là cái khả tính đối lập đích thực với trạng thái ổn-định-phi-Tự-ngã, vốn là đặc trưng của tình trạng sa ngã do thiếu quyết đoán.4 Xét về mặt hữu thể/cấu thành bản thể, trạng thái ổn-định-Tự-ngã không gì khác hơn là tính quyết đoán mang tính dự liệu. Cấu trúc bản thể luận của tính quyết đoán như vậy bộc lộ tính hữu thể/cấu thành bản thể của cái Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính của Tự ngã.

Dasein đạt đến tính đích thực của chính mình thông qua quá trình cá nhân hóa mang tính bản nguyên của trạng thái quyết đoán tĩnh lặng — một trạng thái đòi hỏi chính bản thân nó phải đối diện với nỗi lo âu (anxiety/Angst). Với tư cách là một thực thể [tr.370] nín lặng, Hữu-thể-Tự-ngã-của-kẻ-nào-đó đích thực không nằm ở việc liên tục thốt lên ‘Tôi’; thay vào đó, khi nín lặng, nó ‘là’ chính thực thể đã ‘bị ném’ vào thế giới — một thực thể có thể hiện hữu một cách đích thực. Selbst/ Self cái Tự ngã được mở ra qua nín lặng của một sự Xuất-hiện đầy quyết đoán chính là nền tảng hiện tượng bản nguyên để đặt câu hỏi về Hữu thể [Cấu thành/Khai mở bản thể] của cái ‘Tôi’. Chỉ khi chúng ta định hướng về phương diện hiện tượng bằng ý nghĩa về cái Hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-kẻ-nào-đó đích thực thì chúng ta mới có thể thảo luận về cơ sở bản thể luận cho việc coi các khái niệm như Substanzialität/ substantiality thực thể tính, tính đơn giản và nhân cách là những đặc tính của Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính.

Trong cách nói thịnh hành ‘Tôi’, người ta thường mặc định rằng ngay từ đầu đã tồn tại một Selbst-Ding/ Self-Thing ‘Vật-Tự-thân’ luôn hiện-diện-vô-tri; tuy nhiên, câu hỏi bản thể luận về Hữu thể của cái Selbst/ Self Tự ngã phải loại bỏ mọi gợi ý như vậy. Chăm lo không cần phải được tạo dựng dựa trên một cái Tự ngã. Tuy nhiên, tính cấu thành/khai mở bản thể — với tư cách là yếu tố cấu thành nên Sorge/care Chăm lo — tạo nên cấu thành bản thể luận cho Selbstkonstanz Tự-ngã-kiên-định của Dasein; trong đó, xét theo toàn bộ nội dung cấu trúc của Sorge/care Chăm lo, cái Hữu-thể của nó thực sự rơi vào trạng thái kiên-định-phi-Tự-ngã. Khi được hiểu một cách trọn vẹn, cấu-trúc-chăm-lo bao hàm cả hiện tượng Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính. Hiện tượng này được làm sáng tỏ thông qua việc Diễn giải ý nghĩa của chăm lo; và chính với tư cách chăm lo mà tổng thể tính Hữu thể của Dasein đã được xác định.

65. Thời gian tính với tư cách Ý nghĩa Bản thể luận Chăm lo

Khi mô tả mối ‘kết nối’ giữa Sorge/ care chăm lo và Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính, mục tiêu của chúng tôi không chỉ là làm sáng tỏ vấn đề đặc thù về cái Ichheit/ I-hood ‘Tôi’-tính, mà còn là chuẩn bị bước cuối cùng để nắm bắt, về phương diện hiện tượng, cái tổng thể tính chỉnh thể cấu trúc của Dasein. Chúng ta cần một kỷ luật kiên định trong cách đặt vấn đề mang tính cấu thành bản thể; nếu không, từ quan điểm bản thể luận, loại Hữu thể của Dasein có nguy cơ bị biến thành một phương cách Vorhandenheit hiện-diện-vô-tri, ngay cả khi đó là một phương cách hiện diện hoàn toàn không được phân biệt. Dasein trở thành Dasein ‘một cách cốt yếu’ bằng cách Eigentlichkeit tồn tại đích thực, vốn tự cấu thành như một trạng thái vorlaufende Entschlossenheit ‘quyết đoán dự liệu’.5  Trạng thái quyết đoán này, với tư cách là một phương thức đích thực tính của chăm lo, bao hàm Selbstkonstanz Tự-ngã-kiên-định và tống thể tính bản nguyên của Dasein. Chúng ta phải quan sát những yếu tố này một cách tập trung và thấu hiểu chúng theo phương diện hữu thể/cấu thành bản thể, nếu muốn làm sáng tỏ ý nghĩa bản thể luận về Hữu thể của Dasein. Xét về mặt bản thể luận, chúng ta đang tìm kiếm điều gì khi nói đến ý nghĩa của chăm lo? ‘Ý nghĩa’ ở đây biểu thị điều gì? Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã bắt gặp hiện tượng này khi phân tích về sự thấu hiểu và diễn giải.xxii Theo phân tích đó, ý nghĩa chính là cái mà nhờ đó, Verstehbarkeit tính có thể-thấu-hiểu của một sự vật được duy trì — ngay cả [tr.371] đối với những sự vật không xuất hiện một cách tường minh và theo chủ đề. ‘Ý nghĩa’ biểu thị cái das Woraufhin cái hướng-tới-cái-mà của Entwurf/ projection phóng chiếu khởi nguyên, thông qua đó, một sự vật có thể được hình dung trong cái khả tính của chính nó: là cái gì thì nó được hiểu như thế ấy; phóng chiếu mở ra các khả tính, nghĩa là mở ra chính cái yếu tố tạo nên khả tính đó.

[Chen ngang: Theo Heidegger, ‘das Woraufhin’ cái hướng-tới-cái-mà là một khái niệm mang tính kỹ thuật cao, để chỉ chân trời, khuôn khổ hoặc nền tảng cơ sở mà thông qua đó Dasein hiện hữu người thấu hiểu và nắm bắt ý nghĩa của các sự vật; thuật ngữ này có hai phương diện liên hệ với nhau: 1). Ý nghĩa của Sinn Ý nghĩa và Phóng chiếu: i) Đối với Heidegger, các sự vật không tự thân mang ý nghĩa một cách biệt lập; thay vào đó, con người phóng chiếu các khả tính lên thế giới; das Woraufhin cái hướng-tới-cái-mà chính là cơ sở khả tri mà trên đó chúng ta phóng chiếu các khả tính ấy; ii) Trong một đoạn văn nổi tiếng định nghĩa về ý nghĩa, Heidegger viết rằng Sinn ý nghĩa chính là das Woraufhin ‘cái hướng tới’ hoặc ‘cái dựa trên đó’ của một dự phóng, được cấu trúc bởi những tiền-hiểu biết của chúng ta, giúp một sự vật trở nên dễ hiểu với tư cách là một cái gì đó cụ thể; iii) Có thể minh định bằng ví dụ sau: Khi nhìn vào một thanh ván và hiểu nó như một chiếc kệ, nghĩa là Tôi đã phóng chiếu cái khả tính ‘đặt để’ lên nó; khuôn khổ bao quát như ‘nghề mộc’ hay ‘xắp xếp đồ đạc trong nhà’ chính là das Woraufhin — hệ thống nền tảng tạo nên ý nghĩa cho chiếc kệ đó. 2). die Weltlichkeit der Welt/ Worldhood of the World Thế gian tính của Thế giới - Heidegger cũng dùng das Woraufhin để giải thích cách thức ‘thế giới’ vận hành đối với con người: i) Chúng ta liên tục đặt mình vào các mục tiêu và nhiệm vụ das Worumwillen/ for-the-sake-of-which/ hành động ‘vì mục đích nào đó’, thông qua việc sử dụng các công cụ và thực thể thường nhật - những thứ Zuhandenheit/ ‘sẵn-có-để-dùng’; ii) Cấu trúc nền tảng hay mạng quan hệ từ trước của Dasein trong ngữ cảnh này chính là das Woraufhin - hiện tượng ‘thế giới’, một ma trận các mối quan hệ ý nghĩa đã tồn tại từ trước, cho phép tiếp cận và nhận thức các đối tượng có ý nghĩa ngay từ đầu.- HHN]

[Chen ngang: Từ nguyên của das Woraufhin: das Woraufhin - trạng từ đại từ được danh từ hóa, đóng vai trò trung tâm trong quá trình khám phá về ý nghĩa và tính ý hướng. Cụm từ das Woraufhin có thể được dịch là ‘cái-mà-trên-đó-hướng-tới’, ‘cái-hướng-tới’, hay ‘điểm-hướng-đến’ của một phóng chiếu. Heidegger đã sử dụng thuật ngữ này để định nghĩa chính khái niệm ý nghĩa: “Ý nghĩa là ‘cái-mà-trên-đó-hướng-tới’ của một phóng chiếu...”. Xét về từ nguyên và cơ chế ngôn ngữ, từ này được phân tách thành ba thành tố riêng biệt trong tiếng Đức: 1). Phân tích cấu trúc: i) wo- ở đâu/nơi - một thành tố quan hệ hoặc nghi vấn; trong các trạng từ đại từ tiếng Đức như womit [Bằng cái gì? / Với cái gì?], wovon [Từ cái gì? / Về cái gì?], worauf [Vào cái gì? / Trên cái gì?]), wo- đóng vai trò là từ thay thế cho một đối tượng, chức năng hoặc ngữ cảnh, thay vì chỉ một vị trí vật lý cụ thể; nó tương tự như tiền tố ‘where-‘ trong các từ cổ của tiếng Anh như ‘whereupon’ [ngay sau đó/trên cơ sở đó] hay ‘whereby’ [bằng cách đó]; ii) -rauf- trên/phía trên: Một dạng rút gọn của darauf hoặc herauf; phụ âm -r- ở đây là một epenthetic consonant phụ âm chêm, được thêm vào thuần túy để tạo sự thuận tiện trong phát âm, giúp tách biệt hai nguyên âm (wo + auf). ‘Auf’ biểu thị một bề mặt nâng đỡ hoặc một nền tảng; iii)-hin hướng về/về phía đó - một thành tố chỉ phương hướng, biểu thị sự chuyển động rời xa người nói hoặc hướng về một đích đến cụ thể, hay một chân trời tương lai; iv) Trong cách dùng thông thường của tiếng Đức, trạng từ woraufhin mang nghĩa ‘ngay sau đó’ hoặc ‘kéo theo đó’, ví dụ ‘Hắn xúc phạm cô ấy,’ woraufhin ngay sau đó cô ấy bỏ đi’). 2). Cách Heidegger khai thác từ nguyên - Ông đã lấy một từ nối thông thường trong ngôn ngữ tự sự này rồi danh từ hóa nó bằng cách thêm mạo từ trung tính das để tạo thành das Woraufhin, qua đó biến một từ nối trạng từ thành một đích đến mang tính cấu trúc của ý thức con người; bằng cách phân tích các gốc từ theo nghĩa đen (nơi-trên-đó-nó-hướng-tới), Heidegger làm nổi bật hai chiều kích triết học quan trọng: i) ‘Auf’ Nền tảng/Cơ sở - đòi hỏi một khung tham chiếu đã tồn tại sẵn; Dasein hiện hữu người tự phóng chiếu mình lên một bối cảnh nền tảng, vốn đóng vai trò nâng đỡ cho khả tính hiểu được; ii) ‘Hin’ vectơ hướng tới - Dasein về căn bản mang tính mục đích luận và hướng về tương lai; chúng ta không chỉ quan sát sự vật một cách thụ động; sự hiểu biết của chúng ta luôn vận động hướng về phía trước [hin] – hướng tới một mục đích, một cái đích, hay một chân trời tối hậu; iii) Do đó, sự tinh tế từ nguyên ‘das Woraufhin’ là nó bao hàm cả khía cạnh nền tảng [auf] lẫn khía cạnh định hướng [hin]; đó chính là chân trời cấu trúc mà sự hiểu biết của con người phóng chiếu tới, nhờ đó mà các sự vật mới có thể trở nên có ý nghĩa ngay từ đầu.-HHN]

Việc làm sáng tỏ ‘cái-hướng-tới-cái-gì-đó’ của một sự phóng chiếu cũng chính là làm lộ diện nền tảng tạo nên khả tính cho những gì đã được phóng chiếu.6 Để thực hiện điều này, về mặt phương pháp luận, chúng ta cần nghiên cứu sự phóng chiếu (thường là ngầm ẩn) nằm bên dưới một diễn giải; đồng thời, phải thực hiện sao cho những gì đã được phóng chiếu có thể được khai mở và nắm bắt liên quan đến ‘hướng-tới-cái-mà’ của chính nó. Như vậy, việc trình bày ý nghĩa của Sorge/ care chăm lo đồng nghĩa với việc theo dõi phép phóng chiếu vốn định hướng và làm nền tảng cho cách diễn giải hữu thể/cấu thành bản thể bản nguyên về Dasein; đồng thời lần theo nó sao cho, trong nội dung được phóng chiếu đó, ta có thể nhận ra cái ‘hướng-tới-cái-mà’ của chính nó. Cái đã được phóng chiếu chính là Hữu thể của Dasein, và nó được bộc lộ thông qua những yếu tố cấu thành nên cái Hữu thể đó với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực.7 Cái trên đó loại Hữu thể vốn đã được khai mở và vì vậy được cấu thành chính là cái tự thân làm cho cái Cấu thành của Hữu thể với tư cách Chăm lo trở nên khả thể. Khi truy vấn về ý nghĩa của chăm lo, chúng ta đang hỏi điều gì đã làm cho tổng thể tính của chỉnh thể cấu trúc Sorge/care Chăm lo đã được khớp nối trong nhất tính khớp nối của nó, như chúng ta đã bộc lộ, trở nên khả thể.

Xem xét chặt chẽ, ‘ý nghĩa’ chính là ‘cái-dựa-vào-nó’ của sự phóng chiếu sơ khởi trong việc thấu hiểu Hữu thể. Khi In-der-Welt-sein/ ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’ đã tự bộc lộ với chính mình và thấu hiểu Hữu thể của thực thể là chính bản thân nó, thì nó cũng thấu hiểu theo cách đồng bản nguyên cái Hữu thể của các thực thể được khám phá bên-trong-thế-giới – ngay cả khi Hữu thể đó chưa trở thành một chủ đề, hay chưa được phân biệt thành các phương thức hiện hữu và Thực tại cơ bản. Mọi trải nghiệm thực hữu về các thực thể – dù là sự tính toán mang tính bao quát đối với cái sẵn-có-để-dùng, hay nhận thức khoa học thực chứng về cái hiện-diện-vô-tri – đều dựa trên những phóng chiếu về cái Hữu thể của các thực thể tương ứng –những phóng chiếu trong mọi trường hợp vốn đều ít nhiều minh bạch. Nhưng, ẩn sâu trong các phóng chiếu đó chính là cái ‘dựa-vào-cái-mà’ của sự phóng chiếu; và chính nhờ đó mà sự thấu hiểu về Hữu thể được tự thân nuôi dưỡng. Khi ta nói các thực thể ‘có ý nghĩa’, điều đó có nghĩa là chúng đã trở nên có thể tiếp cận bằng Hữu thể của chính chúng; và cái Hữu thể này – khi được phóng chiếu lên [tr.372] ‘cái-mà-dựa-vào-đó’ của nó – mới là thứ ‘thực sự’ ‘có ý nghĩa’ ngay từ đầu. Các thực thể chỉ ‘có’ ý nghĩa vì, với tư cách là Hữu thể đã được bộc lộ từ trước, chúng trở nên dễ hiểu thông qua sự phóng chiếu của chính Hữu thể đó – nghĩa là, thông qua ‘cái-mà-dựa-vào-đó’ của sự phóng chiếu ấy. Chính sự phóng chiếu chủ đạo của thấu hiểu về Hữu thể đã ‘đưa lại’ ý nghĩa. Câu hỏi về ý nghĩa Hữu thể của một thực thể lấy ‘cái-mà-dựa-vào-đó’ của sự thấu hiểu về loại Hữu thể đó của nó — vốn nằm bên dưới mọi Hữu thể của các thực thể — làm chủ đề cho mình.8

Dasein tự bộc lộ với chính mình — xét trên phương diện sự xuất-hiện của nó — theo cách thức đích thực hoặc không đích thực. Trong hành động xuất hiện, Dasein tự thấu hiểu chính mình; sự thấu hiểu này không chỉ đơn thuần là việc nắm bắt một đối tượng nào đó, mà nó còn cấu thành nên chính cái Hữu thể thực hữu cụ thể của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể có thật của nó. Hữu thể được bộc lộ ở đây chính là Hữu thể của một thực thể mà đối với nó thì Hữu thể đó là một vấn đề cốt yếu. Ý nghĩa của Hữu thể này — tức là ý nghĩa của Sorge/care Chăm lo— chính là cái làm cho chăm lo trở nên khả thể trong Cấu thành của nó; đồng thời, nó cũng là cái về phương diện bản nguyên cấu thành nên chính Hữu thể của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này. Ý nghĩa Hữu thể của Dasein không phải là một thứ gì đó trôi nổi tự do, tách biệt hay nằm ‘bên ngoài’ chính nó, mà chính là tự-thấu hiểu bản thân Dasein. Điều gì làm cho Hữu thể của Dasein trở nên khả thể, và cùng với nó là faktische Existenz sự xuất-hiện đúng thực tính của nó?

[Chen ngang: Heidegger dùng faktische Existenz/ factical existence sự xuất-hiện đúng thực tính để chỉ cách thức con người không phải hiện-diện-vô-tri như một sự vật khách quan, mà là một thực thể luôn gắn liền với Faktizität thực tính của nó - một hoàn cảnh lịch sử và cụ thể. 1). Faktizität thực tính phân biệt Dasein với sự vật: i) Tatsächlichkeit/ Factuality Thực tế tính - đây là cách mà các sự vật vô tri vô giác tồn tại. Ví dụ một hòn đá hiện diện ở đó với các thuộc tính vật lý cố định như cân nặng 2kg, màu xám, hình dáng gồ ghề; nó chỉ đơn thuần là một vật thể trong thế giới; ii) Faktizität/ Facticity Thực tính - là cách Dasein hiện hữu người xuất-hiện: Dasein hiện hữu người không bao giờ là một vật thể cố định; sự xuất-hiện của nó luôn đi kèm với việc Dasein đang sống và đang trải nghiệm trong một hoàn cảnh cụ thể. 2). Các đặc điểm cốt lõi của faktische Existenz/ factical existence sự xuất-hiện đúng thực tính: i) Geworfenheit / Thrownness Tính ‘bị ném vào’ thế giới - Tôi không tự chọn nơi mình sinh ra, thời đại mình sống, ngôn ngữ mình nói hay cơ thể của mình; Tôi ‘bị ném vào’ một bối cảnh có sẵn – đây chính là faktisch ‘đúng thực tính’ mà Tôi không thể thay đổi; ii) Existenz xuất-hiện luôn có xu hướng dự phóng tương lai - Dù bị ràng buộc bởi hoàn cảnh bị ném vào, Dasein luôn phải tự đưa ra lựa chọn và quyết định xem mình sẽ sống như thế nào tiếp theo; iii) Mối quan hệ gắn kết: Dasein không đứng tách biệt để quan sát thế giới như một chủ thể nhìn khách thể; Dasein luôn In-der-Welt-sein cấu thành/ khai mở bản thể trong-thế-giới, luôn bận rộn, quan tâm và gắn liền với môi trường xung quanh.-HHN]. Những gì được phóng chiếu trong sự phóng chiếu hữu thể/ cấu thành bản thể bản nguyên về sự xuất-hiện đã tự bộc lộ như là trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu. Điều gì làm cho cái Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực này của Dasein trở nên khả thể, liên quan đến cái nhất tính trong cấu trúc chỉnh thể của nó?9 Trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu, khi xét về mặt hình thức và hữu thể/cấu thành bản thể, mà không cần liên tục định rõ toàn bộ nội dung cấu trúc của nó — chính là Hữu thể hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù và cốt yếu nhất của một kẻ nào đó.

Loại trạng thái này chỉ trở nên khả thể khi Dasein thực sự có thể tiến về phía chính mình trong cái khả tính cốt yếu nhất của bản thân, đồng thời chấp nhận khả tính đó như một khả tính để cho chính mình tiến về phía chính mình; nói cách khác, đó chính là nó xuất-hiện. Việc ‘để-cho-chính- mình-tiến-về-phía-chính-mình’ trong cái khả tính đặc thù mà nó chấp nhận, chính là hiện tượng bản nguyên của tương lai với tư cách là sự ‘tiến về phía trước’.10 Nếu Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết dù ở dạng đích thực [tr.373] hay không đích thực, thuộc về Hữu thể của Dasein, thì cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết đó chỉ trở nên khả thể như một điều gì đó mang tính tương lai, theo nghĩa mà chúng ta vừa chỉ ra và sẽ còn cần định nghĩa rõ ràng hơn nữa. Với thuật ngữ ‘tính tương lai’, ở đây chúng ta không ám chỉ một ‘bây giờ’ chưa trở thành ‘có thật’ và sẽ xuất hiện lần đầu tiên vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Thay vào đó, chúng ta đang nói về cái Kunft/ coming ‘tiến đến’, mà trong đó Dasein, trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính mình, tiến về phía bản thân nó. Dự liệu làm cho Dasein có tính tương lai đích thực; và dự liệu này chỉ khả thể chừng nào Dasein, với tư cách một hiện hữu, vẫn luôn tiến về phía chính mình - nghĩa là, chừng nào Hữu thể của nó cũng có tính tương lai.

Tính quyết đoán tiên liệu thấu hiểu Dasein trong chính cái Hữu-thể-tội-lỗi của nó. Sự thấu hiểu này có nghĩa là, trong quá trình xuất-hiện, kẻ kia tiếp nhận Hữu-thể-tội-lỗi của chính mình; có nghĩa là nó chấp nhận mình là nền tảng hư vô bị ném vào thế giới. Việc tiếp nhận trạng thái bị ném vào này đồng nghĩa với việc hiện hữu như một Dasein đích thực, như nó vốn có.11 Tuy nhiên, sự tiếp nhận trạng thái ‘bị ném vào’ chỉ có thể xảy ra khi Dasein—với tư cách là một thực thể hướng về tương lai—có thể nắm bắt được cái sein ‘Gewesen’ ‘đã từng là’ – (đã từng xuất-hiện) của chính mình. [Chen ngang: Heidegger dùng cụm từ ‘sein Gewesen’ hoặc Gewesenheit để biểu thị một ý nghĩa đặc thù về mặt hữu thể/cấu thành bản thể và thời gian tính. 1). Ý nghĩa cơ bản của từ Gewesen/ Gewesenheit: i) Không phải là Vergangenheit ‘Quá khứ’ tĩnh - Heidegger phân biệt rất sắc bén giữa die Vergangenheit - quá khứ theo nghĩa thông thường, tức là những gì đã trôi qua, đã chấm dứt, đằng sau lưng chúng ta - và die Gewesenheit có tính chất ‘đã-là-như-vậy’ hay ‘được-sinh-ra-từ-quá-khứ’; ii) Gewesen là phân từ hoàn thành của động từ ‘sein’; trong tiếng Đức, nhiều động từ chỉ trạng thái hoặc sự vận động dùng trợ động từ sein thay vì haben, ví dụ ‘ich bin gewesen’ - tôi đã là/đã ở. 2). Ý nghĩa triết học mà Heidegger muốn biểu thị: i) Thực chất ‘đã-từng-là’ của Dasein - Dasein hiện hữu người không đơn thuần sống trong hiện tại rồi đẩy quá khứ ra sau lưng; thay vào đó, Dasein mang theo quá khứ của chính mình như một chiều kích đang hiện diện; ii) Zukunft Quá khứ xuất phát từ Tương lai - Heidegger có một luận điểm nổi tiếng Eigentlich zukünftig ist das Dasein eigentlich gewesen ‘Dasein thực sự hướng tới tương lai thì cũng thực sự là đã-từng-là’; iii) Điều này có nghĩa là Tôi chỉ thực sự hiểu và nắm giữ cái ‘quá khứ/đã-từng-là’ của mình khi Tôi phóng chiếu chính mình về tương lai, rồi từ tương lai đó, Tôi quay trở lại tiếp thu và định hình lại quá khứ của mình; iv) Trạng thái Geworfenheit ‘bị ném vào’ - cụm từ này mô tả cái thực tính Dasein bị ném vào thế giới mà không do mình lựa chọn; cái Gewesen ‘đã từng là’ nhắc nhở Dasein về nguồn gốc, về gánh nặng của lịch sử cá nhân và bối cảnh mà nó không tự tạo ra, nhưng nó phải gánh vác để hướng tới tương lai.-HHN]

Chỉ khi Dasein hiện hữu với tư cách là một thực thể ‘Tôi-đang-là-kẻ-đã-từng-là’, nó mới có thể hướng về phía chính mình từ tương lai, đồng thời quay trở lại với chính mình.12  Với tư cách là có tính tương lai một cách đích thực, Dasein cũng đồng thời xuất-hiện với tư cách đích thực ‘đã-từng-là’.13 Việc dự liệu tới cái khả tính tận cùng và riêng biệt nhất của chính mình cũng là sự quay trở lại đầy thấu hiểu với cái đích thực ‘đã-từng-là’ của Dasein. Cái đặc tính ‘đã-từng-là’ nảy sinh một cách chắc chắn này, chính là từ tương lai.14 Trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu làm bộc lộ cái Tình thế hiện tại của cái ‘có-đó’, sao cho trong hành động, sự xuất-hiện ấy luôn quan tâm bao quát thận trọng đến những gì sẵn-có-để-dùng theo đúng thực tế của môi trường xung quanh. Cái Hữu-thể-bên-cạnh [tr.374] mang tính quyết đoán với những gì sẵn-có-để-dùng trong một ‘Tình thế’—tức là hành động theo cách cho phép kẻ kia chạm trán với cái hiện diện trong môi trường xung quanh—chỉ trở nên khả thể thông qua việc làm cho thực thể đó trở nên hiện diện. Chỉ với tư cách cái Gegenwart/ Present/ Hiện diện15—hiểu theo nghĩa làm cho một thực thể trở nên hiện diện—thì trạng thái quyết đoán mới có thể là chính nó: cụ thể là cho phép những gì mà nó nắm bắt trong hành động được bộc lộ một cách chân thực, không che đậy. Bằng cách quay trở lại với chính mình từ tương lai, trạng thái quyết đoán đưa bản thân vào ‘Tình thế’ bằng cách làm cho các thực thể trở nên hiện diện. Tính chất ‘đã từng là’ nảy sinh từ tương lai, theo cách thức mà tương lai ‘đã từng là’ (hay đúng hơn là tương lai ‘đang trong quá trình trở thành cái đã từng là’) giải phóng cái Hiện tại từ chính nó.16 Hiện tượng này chứa đựng cái nhất tính của một tương lai vốn làm cho hiện diện ngay trong quá trình của cái đã từng là; chúng ta gọi đó là ‘thời gian tính’.17 Chỉ khi Dasein mang đặc tính xác định là thời gian tính, thì cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực của trạng thái quyết đoán mang tính dự liệu, như chúng ta đã mô tả, mới trở nên khả thể đối với chính Dasein. Thời gian tính tự bộc lộ là ý nghĩa chăm lo đích thực. [Chen ngang: Thời gian tính mô tả cái die ekstatische Zeitlichkeit Thời gian tính xuất-thân của Dasein hiện hữu người; nó khác hoàn toàn với thời gian đồng hồ tuyến tính quá-khứ-hiện-tại-tương-lai thông thường. Ý nghĩa của Thời gian tính này bao gồm: i) Tương lai là động lực tiên khởi - con người luôn sống hướng về phía trước, bằng phóng chiếu, mong đợi, lo âu hoặc quyết đoán về những gì mình sẽ trở thành; nhưng tương lai lại không nằm sau lưng chúng ta mà đang kéo chúng ta đi; ii) Quá khứ không phải là ‘đã qua’ mà là ‘đang trong quá trình đã-là’ - nó không phải là thứ chết cứng ở đằng sau; Dasein bị ném  vào một hoàn cảnh có sẵn, và quá khứ ấy luôn hiện diện, tác động và tái cấu trúc liên tục trong Hữu thể của Dasein; iii) Hiện tại được sinh ra từ sự kết nối đó - Hiện tại không phải là một điểm dừng cô lập giữa quá khứ và tương lai; Hiện tại thực chất được ‘giải phóng’ từ sự giao thoa giữa việc hướng về tương lai và việc gánh vác quá khứ; iv) Nhất tính của cả ba chiều kích tương lai, quá khứ, và hiện tại – Chúng không tách rời nhau mà quyện vào nhau thành một thực thể duy nhất; chính cấu trúc năng động này là ý nghĩa bản thể luận của Sorge/care chăm lo là cách Dasein hiện hữu người xuất-hiện trong thế giới của chính mình.-HHN]

Nội dung mang tính hiện tượng của ý nghĩa này, được rút ra từ trạng thái Hữu thể của tính quyết đoán tiên liệu, điền đầy thêm cho cách biểu thị ý nghĩa của thuật ngữ ‘thời gian tính’. Việc sử dụng mang tính thuật ngữ của cách biểu đạt này, chúng ta phải tách biệt khỏi mọi cách biểu thị ý nghĩa đó về ‘tương lai’, ‘quá khứ’ và ‘Hiện tại’ vốn thường áp đặt cho chúng ta từ cách quan niệm thông thường về thời gian. Điều này cũng áp dụng cho các quan niệm về một ‘thời gian’ mang tính ‘chủ quan’ hay ‘Khách quan’, ‘nội tại’ hay ‘siêu việt’. Trong phạm vi mà Dasein thường tự thấu hiểu bản thân theo cách thức không đích thực, nên có thể cho rằng ‘thời gian’ theo cách hiểu thông thường quả thực tái hiện một hiện tượng có thật, nhưng là một hiện tượng phái sinh. Nó nảy sinh từ thời gian tính không đích thực — vốn có nguồn gốc riêng của nó. Các khái niệm ‘tương lai’, ‘quá khứ’ và ‘Hiện tại’ ban đầu xuất hiện từ chính cách hiểu không đích thực về thời gian. Khi cố gắng xác định thuật ngữ cho những hiện tượng bản nguyên và đích thực tương ứng với các khái niệm này, chúng ta phải đối mặt với cùng một khó khăn vốn luôn bao trùm mọi thuật ngữ bản thể luận. Nếu có những ‘cưỡng bách’ nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu này, thì đó không phải mang tính võ đoán, mà là một tất yếu bắt nguồn từ chính các sự thật. Tuy nhiên, nếu muốn chỉ ra một cách mạch lạc, không khiếm khuyết rằng thời gian tính không đích thực bắt nguồn từ một thời gian tính vốn [tr.375] mang tính bản nguyên và đích thực, thì trước hết, ta cần phải làm sáng tỏ một cách chính xác hiện tượng bản nguyên ấy, thứ mà trước đó chúng ta mới chỉ mô tả một cách sơ lược.

Nếu tính quyết đoán tạo nên phương thức chăm lo đích thực, và nếu bản thân điều này chỉ khả thể thông qua thời gian tính, thì cái hiện tượng mà chúng ta đạt được khi xem xét tính quyết đoán phải hiện ra trước chúng ta chỉ bằng một dạng thức của thời gian tính, mà trên hết bằng chính thời gian tính đó thì chăm lo theo đúng nghĩa mới trở nên khả thể. Tính toàn vẹn Hữu thể của Dasein với tư cách chăm lo có nghĩa là: vốn đã-ở-trước-chính-mình trong một thế giới với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh (các thực thể được bắt gặp trong-thế-giới). Khi lần đầu xác định cấu trúc được khớp nối này, chúng ta đã gợi ý rằng liên quan đến kiểu khớp nối này thì câu hỏi mang tính bản thể luận cần phải được truy vấn xa hơn nữa cho đến khi làm lộ rõ ​​được cái nhất tính của toàn bộ cái đa tạp cấu trúc này. xxiii Nhất tính bản nguyên trong cấu trúc chăm lo nằm ở chính thời gian tính.

Cái ‘vượt-trước-chính-mình’ có nền tảng vững chắc từ tương lai. Trong cái ‘Hữu-thể-đã-ở-trong…’, thì đặc tính ‘đã-từng-là’ luôn được làm rõ. Còn ‘Hữu-thể-bên-cạnh…’ trở nên khả thể bằng cách làm cho hiện diện. Mặc dù cái ‘vượt trước’ bao hàm cả khái niệm ‘trước đó’,18 nhưng cả ‘trước đó’ trong ‘vượt trước’ lẫn cái ‘đã’ đều không nên được hiểu theo khuôn khổ thông thường về thời gian; điều này đã được tự động loại trừ bởi gì đã nói đến ở trên. Với cái ‘trước đó’ này, chúng ta không ám chỉ ‘đi trước một điều gì đó’ theo nghĩa ‘chưa phải bây giờ mà là sau này’; tương tự, cái ‘đã’ cũng không có nghĩa là ‘không còn là bây giờ nữa mà là trước đấy’. Nếu các cách biểu đạt ‘trước đó’ và ‘đã’ được hiểu theo nghĩa thời gian thông thường như vậy (dù chúng vẫn có thể mang nghĩa đó trong các ngữ cảnh khác), thì việc nói rằng chăm lo có thời gian tính sẽ đồng nghĩa với việc coi nó như một thứ gì đó thuộc về ‘trước đây’ hay ‘sau này’, ‘chưa tới’ hay ‘đã qua’. Khi đó, chăm lo sẽ được xem là một thực thể xuất hiện và diễn tiến ‘trong thời gian’. Cái Hữu thể của một thực thể mang đặc tính Dasein sẽ trở thành một thứ gì đó hiện-diện-vô-tri. Nếu loại sự vật này là bất khả thể, thì bất kỳ ý nghĩa định-hướng-thời- gian nào mà các cách biểu đạt trên đã đề cập cũng phải khác biệt với cách hiểu đó. Các biểu đạt ‘trước đó’ và ‘vượt trước’ chỉ ra một kiểu tương lai – một tương lai trở nên khả thể cho Dasein để tồn tại theo cách mà cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính nó trở thành một vấn đề cốt yếu.19 Phép tự-phóng-chiếu hướng tới cái ‘vì-mục-đich-của-chính-mình’ có cơ sở vững chắc ở [tr.376] tương lai và là một đặc tính thiết yếu của Existenzialität hữu thể tính/cấu thành bản thể tính. Ý nghĩa chủ đạo của Existenzialität hữu thể tính/cấu thành bản thể tính chính là tương lai.

_______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Durch das Verfallen des Daseins, als welches es vor sich selbst jlieht in das Man.’ Chữ ‘es’ chỉ xuất hiện trong những lần xuất bản sau này. [tr.368]

2 ‘Die “natürliche” Ich-Rede vollzieht das Man-selbst.’ [tr.368]

3 ‘…, für die Ständigkeit des Selbst in dem Sinn des Standgewonnenhabens.’ Ở đây cách dịch thông thường của chúng ta về 'Ständigkeit' là 'không đổi' có vẻ không đầy đủ; có thể 'sự ổn định' sẽ gần với ý nghĩa hơn. [tr.369]

4 ‘Die Ständigkeit des Selbst im Doppelsinne der beständigen Standfestigkeit ist die eigentlicM Gegenmoglichkeit zur Unselbst-standigkeit des unentschlossenen Verfallens.’ Việc in nghiêng những từ mở đầu của câu này chỉ xuất hiện trong những lần xuất bản sau này. Ở đây, cũng như H. 117 và 303, Heidegger khai thác nhiều ý nghĩa khác nhau của tính từ ‘standig’ và các từ khác bắt nguồn từ gốc ‘sta-’, với nghĩa gốc là ‘đứng’. Danh từ 'Unselbständigkeit' thường có nghĩa là không có khả năng tự đứng trên đôi chân của mình hoặc đưa ra quyết định một cách độc lập. Nhưng Heidegger mở rộng nó thành 'Unselbst-ständigkeit', điều này không chỉ gợi ý sự bất ổn và sự thất bại trong việc đứng một mình, mà còn cả sự bất biến hay ổn định của cái không phải là Bản ngã, phi-Bản ngã, hay cụ thể hơn, bản thân chúng. Trong câu tiếp theo, danh từ Selbstständigkeit, thường tượng trưng cho sự tự chủ, độc lập hoặc tự cung tự cấp, cũng được mở rộng tương tự thành 'Selbstständigkeit' - 'Tự kiên định'. [tr.369]

5 ‘Das Dasein wird “wesentlich” in der eigentlichen Existenz, die sich als vorlaufende Entschlossenheit konstituiert.' [tr.370]

6 ‘Das Woraufhin eines Entwurfs freilegen, besagt, das erschliessen, was das Entworfene ermoglicht.’ Câu này mơ hồ ở chỗ ‘das Entworfene’ (‘cái gì được chiếu’) có thể là chủ ngữ hoặc tân ngữ trực tiếp của ‘ermoglicht’ (‘có thể thực hiện được’). [tr.371]

7 ‘Das Entworfene ist das Sein des Daseins und zwar erschlossen m dem, was es als eigentliches Ganzseinkonnen konstituiert.’ Câu này cũng có cấu trúc mơ hồ; chúng tôi đã chọn cách giải thích có vẻ hợp lý nhất cho nội dung của câu tiếp theo. [tr.371]

8 ‘Die Frage nach dem Sinn des Seins eines Seienden macht das Woraufhin des allem Sein von Seiendem zugrundeliegenden Seinsverstehens zum Thema.' Các ấn bản trước đó đọc’…des allem ontischen Sein zu Seiendem…’ (‘…tất cả các thực thể Bản thể đều hướng tới các thực thể…’) [tr.372]

9 ‘Có phải ermoglicht diees eigentliche Ganzsein des Daseins hinsichtlich der Einheit seines gegliederten Strukturganzen?’ [tr.372]

10 ‘Das die ausgezeichnete Moglichkeit aushaltende, in ihr sich auf sich Zukommenlassen ist das ursprüngliche Phanomen der Zu-kunft.’ Trong khi dấu gạch nối trong ‘Zukommenlassen’ chỉ xuất hiện trong các ấn bản sau, dấu gạch nối quan trọng hơn trong ‘Zu-kunft’ xuất hiện trong cả các ấn bản sau và trước đó. Tuy nhiên, trong các phiên bản sau này, nó xuất hiện ở cuối dòng, do đó lực lượng được cho là đã bị mất đi. Không có dấu gạch nối, 'Zukunft' là từ thông thường để chỉ 'tương lai'; với dấu gạch nối, rõ ràng Heidegger mong muốn thu hút sự chú ý đến mối quan hệ họ hàng của nó bằng cách diễn đạt 'zukommen Auf…' ('tiến tới...' hoặc 'tiến tới...') và nguồn gốc của nó từ 'zu' ('đến' hoặc 'hướng tới') và 'kommen' ('đến'). Do đó hendiadys của chúng tôi. (Việc sử dụng 'zukommen' với giới từ 'auf' cần được phân biệt với việc sử dụng cùng động từ này với tặng cách mà chúng ta đã gặp ở các chương trước theo nghĩa 'thuộc về...', 'đang trở thành...', hoặc 'đã đến...'.) [tr.372]

11 ‘Dbernahme der Geworfenheit aber bedeutet, das Dasein in dem, wie esje schon war, eigentlich sein.’ [tr.373]

12 ‘Nur sofern Dasein überhaupt ist als ich bin-gewesen, kann es zukiinftig aufsich selbst 10 zukommen, dass es zurück-kommt.' Nhiều động từ tiếng Đức hình thành thì hoàn thành với sự trợ giúp của trợ từ 'sein' ('to be') thay cho 'haben' ('have') thông thường hơn, giống như đôi khi chúng ta nói trong tiếng Anh 'anh ấy đã biến mất' thay vì 'anh ấy đã đi'. Trong số những động từ như vậy có chính 'sein'. 'Tôi đã từng' này được thể hiện bằng 'ich bin gewesen'; điều này có thể được dịch là “Tôi đã từng”, nhưng trong bối cảnh này, chúng tôi đã mạo hiểm dịch nó là “Tôi như đã từng”. [tr.373]

13 ‘Eigentlich zukünftig ist das Dasein eigentlich gewesen.’ [tr.373]

14 'Die Gewesenheit entspringt in gewisser Weise der Zukunft.' Ở đây 'Nhân vật đã từng' đại diện cho 'Die Gewesenheit' (nghĩa đen là 'thời kỳ đã qua'). Heidegger phân biệt rõ ràng điều này với 'die Vergangenheit' ('quá khứ'). Chúng ta sẽ thường xuyên dịch 'Gewesenheit' đơn giản là 'đã từng'. [tr.373]

15 Về cách diễn đạt của chúng tôi 'có sự hiện diện', 'có mặt' và 'Hiện tại', hãy xem ghi chú 1 và 2, trang 1 của chúng tôi. 47, và 2, tr. 48 trên H. 25 ở trên. [tr.374]

16 ‘Die Gewesenheit entspringt der Zukunft, so zwar, dass die gewesene (besser gewesende) Zukunft die Gegenwart aus sich entlässt.’ Heidegger đã tạo ra dạng ‘gewesend’ bằng cách kết hợp phân từ quá khứ ‘gewesen’ với hậu tố của hiện tại phân từ ‘-end’, như thể trong tiếng Anh người ta viết 'đang'. [tr.374]

17 ‘Dies dergestalt als gewesend-gegenwärtigende Zukunft einheitliche Phänomen nennen wir die Zeitlichkeit.’ [tr.374]

18 Chúng tôi đã nội suy mệnh đề này trong bản dịch của mình để đưa ra quan điểm cho nhận xét của Heidegger về ‘cái “trước” trong “phía trước” ' ('das “Vor” im “Vorweg”'), điều này đủ hiển nhiên trong tiếng Đức nhưng lại có vẻ rất xa vời trong tiếng Anh. Tất nhiên, chúng ta đã gặp biểu thức 'vor' trong nhiều bối cảnh - trong 'Vorhabe', 'Vorsicht' và 'Vorgriff' như 'cấu trúc tiền đề' của sự hiểu biết (H. 150), và trong những biểu thức như khi đối mặt với nó' ('das “Wovor”') người ta sợ hãi, chạy trốn hoặc lo lắng (H. 140, 184, 25 1, v.v.). Tuy nhiên, ở đây cách dịch ‘trước’ có vẻ phù hợp hơn. [tr.375]

19 ‘Das “vor” und “vorweg” zeigt die Zukunft an, als welche sie uberhaupt erst ermoglicht, dass Dasein so sein kann, dass es ihm um sein Seinkonnen geht.’ Đại từ ‘sie’ chỉ xuất hiện trong các phiên bản sau này. [tr.375]