Powered By Blogger

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

Thực chứng luận và “Khảo cổ học Mới” (I)

 Michael Shanks và Christopher Tilley

Người dịch: Hà Hữu Nga

Giới thiệu

Các nhà khảo cổ học nên làm thế nào để có tri​​ thức về quá khứ? Tri thức này liên quan đến những gì? Cái gì tạo nên cách giải thích cho những thứ mà các nhà khảo cổ học tìm thấy? Chương này xem xét lời đáp cho những câu hỏi đã được ngành Khảo cổ học Mới chấp nhận ấy; nó xem xét các vấn đề nhận thức luận được nêu ra bởi một công trình nghiên cứu về quá khứ trong tài liệu khảo cổ học sau năm 1960. Khảo cổ học Mới đã chấp nhận một cách hiển minh và ngầm ẩn một mô hình thực chứng về cách giải thích quá khứ và chúng tôi xem xét việc coi thế giới xã hội như một phần mở rộng của tự nhiên, việc quy giản thực hành thành hành vi, tách rời “hiện thực”, sự kiện, khỏi các khái niệm và lý thuyết. Chúng tôi chỉ trích việc thử nghiệm, xác nhận và bác bỏ lý thuyết như một cách kết nối lý thuyết và sự kiện, bằng cách nhấn mạnh tất cả mọi quan sát đều đầy ắp-lý thuyết. Khảo cổ học Mới tự đối lập một cách không khoan nhượng chính nó với Khảo cổ học “định chuẩn” truyền thống với tư cách là một khoa học xã hội và chúng ta bắt đầu chương này với việc xem xét sự thay đổi ấy cũng như lý do tại sao nó lại diễn ra. Giọng điệu của chương này lại mang tính phê phán. Chúng tôi cho rằng ở cấp độ nhận thức luận, các lập trường hiện có trong văn liệu khảo cổ học là không đủ và không cung cấp được nhiều hiểu biết sâu sắc cho việc nghiên cứu các quá trình xã hội trong quá khứ hoặc hiện tại và mối quan hệ của chúng với văn hóa vật chất.

Hệ mẫu mới - hay Khảo cổ học Truyền thống hồi sinh?

Vào đầu những năm 1960, đã ra đời thứ mà sau đó trở nên có tiếng là “Khảo cổ học Mới”. Ban đầu đây là một sự phát triển của Mỹ bắt nguồn từ công trình của Binford với một bài viết nổi tiếng “Khảo cổ học như là nhân học” (Binford 1962), và tiếp theo là một loạt các bài viết đầy ảnh hưởng khác (Binford 1972). Biểu hiện của người Anh về khuôn khổ mới này đã sớm được trình bày rõ ràng trong các công trình của Clarke (1968) và Renfrew (1972). Rất khó để ấn định niên đại chính xác nhưng vào khoảng năm 1972, một bá quyền mới đã được thiết lập trong ngành khảo cổ học và Khảo cổ học Mới từ không chính thống đã được nhiều người chấp nhận. Đương nhiên, có một số người phản đối (Bayard 1969, Hawkes 1968, Trigger 1968, 1970) nhưng những người này không đưa ra được bất kỳ lựa chọn thay thế rõ ràng hoặc có thể chấp nhận được, ít nhất là đối với những kẻ được truyền cảm hứng với sự nhiệt thành mang tính cách mạng của Khảo cổ học Mới.

Giờ đây có lẽ tất cả các nhà khảo cổ học đều đồng ý rằng đã có những thay đổi lớn trong ngành học, nhưng liệu những thay đổi này có dẫn đến một cuộc cách mạng hay bất cứ điều gì thực sự mới về cơ bản hay không thì lại là vấn đề sức thuyết phục hoặc niềm tin cá nhân và không chắc liệu nó có thể được thiết lập theo bất kỳ cách thức xác quyết nào không. Mặc dù chương này và trong toàn bộ cuốn sách ghi nhận sự bất đồng sâu sắc hầu như với mọi nguyên lý chính hình thành nên dự án “Khảo cổ học Mới”, nhưng chúng tôi vẫn muốn tuyên rằng chúng tôi tin đó là một phát triển rất quan trọng và là điều tối quan trọng. Điều đó không liên quan gì đến nội dung, với những gì các nhà khảo cổ học đã nói hoặc làm trong những chi tiết cụ thể. Thay vì nó lại liên quan đến hành động tự cứu mình.

Renfrew (1982a) đã tinh khéo mô tả giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1960 là “giấc ngủ dài” của khảo cổ học, một thời kỳ mà mục tiêu, quy trình và bản chất của khảo cổ học như một hình thức tra vấn trí tuệ về quá khứ đã không được thảo luận rõ ràng ngoại trừ trong công trình của một vài học giả, đáng chú ý nhất là Childe và Taylor, và chắc chắn đã không thúc đẩy nhiều cuộc tranh luận lớn. Đặc điểm quan trọng của Khảo cổ học Mới và một điều vẫn vĩnh viễn quan trọng là việc tranh luận cũng như thảo luận đã bắt đầu, không phải giữa một hoặc hai người, mà trong toàn bộ cộng đồng học giả về câu hỏi khảo cổ học có thể là gì, có thể và không thể làm gì, quá khứ có thể được khái niệm hóa ra sao và liệu có tồn tại một loại tri ​​thức khách quan về nó hay không và theo cách nào. Nói tóm lại, nó không chỉ trở nên xứng đáng để xây dựng lý thuyết mà điều này được coi là điều cần thiết cho bất kỳ sự phát triển nào diễn ra. Một khối văn liệu lớn về lý thuyết đã được phát triển, đã có nguyên cả những cuốn sách được dành cho chủ đề này, trong khi trước đây điều này rất hiếm thấy. Việc xây dựng lý thuyết không còn bị coi là một hoạt động bất thường, một công cụ hỗ trợ cho công việc khảo cổ học thực sự, mà là một thành phần không thể thiếu của hoạt động khảo cổ. Nếu có bất cứ điều gì có thể coi là thực sự khác biệt hoặc mang tính cách mạng về ngành Khảo cổ học Mới thì đó chính là điều này. Tuy nhiên, nội dung của những gì đã nói lại là một vấn đề khác.

Công trình có ảnh hưởng lớn của Kuhn (1970) về cách mạng khoa học đã được các nhà khảo cổ học sử dụng để thúc đẩy quan điểm cho rằng một sự thay đổi hệ mẫu đã diễn ra và các phân tích trích dẫn đã được sử dụng để hỗ trợ thực nghiệm và hợp thức hóa các khẳng định này (Sterud 1978, Zubrow 1972, 1980). Việc xác định chính xác những gì đã thay đổi và lý do tại sao nó thay đổi trong thực tế đã tỏ ra khó khăn (Meltzer 1979). Một loạt chi tiết cụ thể có thể được nêu tên như việc sử dụng các kỹ thuật định lượng, khái niệm về tính hệ thống hoặc sự nhấn mạnh phương pháp diễn dịch trong nghiên cứu, nhưng tất cả đều có thể hoặc được truy ngược trở lại khảo cổ học trước đó hoặc chỉ có thể được gán cho “tính mới” do suy luận nhầm lẫn. Ví dụ, việc nhấn mạnh vào phương pháp diễn dịch trong nghiên cứu đã trái ngược với quy trình quy nạp trước đây (Hill 1972). Tuy nhiên, điều này giả định rằng người ta có thể làm điều này mà không phải điều khác.

Đương nhiên, tất cả các học giả đều thích nghĩ rằng trong lĩnh vực của họ có nhiều tiến bộ đã được và đang được thực hiện, nhưng dường như điều cốt yếu là các nhà Khảo cổ học Mới phải ghi dấu công trình của họ là hoàn toàn khác với những gì đã làm trước đó và hợp thức hóa nó với tư cách là: (i) thực sự là mới; (ii) đại diện cho sự tiến bộ. Clarke (1973) đã xác định sự xuất hiện của ý thức ngành học như là đặc điểm hứa hẹn nhất của ngành Khảo cổ học Mới, mà “giải thưởng” là khả tính mở rộng hoàn toàn các chân trời của ngành học, phát triển các lựa chọn thay thế cho các thực tiễn hiện tồn, và do đó, kiểm soát “hướng đi và vận mệnh” của ngành học (sđd, tr 7). Đối với Clarke, điều đó ngụ ý là “thời ngây thơ” của khảo cổ học truyền thống cuối cùng cũng đã lùi vào dĩ vãng. Những lý do cho sự thay đổi trong ngành khảo cổ học có liên quan đến cuộc khủng hoảng trong tư duy khảo cổ, nhưng chính xác thì cuộc khủng hoảng này bao gồm những gì và tại sao nó lại xảy ra vào những năm 19601. Có phải cuộc khủng hoảng được nhận thức chỉ là một sự phát triển may rủi. Hill (1972, tr. 61) cho rằng cuộc khủng hoảng ấy là kết quả của sự thất bại của các lý thuyết và phương pháp truyền thống trong việc giải quyết các vấn đề khảo cổ học. Leone (1972, p. 21), liên quan đến vấn đề về sự thành công của khảo cổ học truyền thống, đã đưa ra quan điểm ngược lại. Ông coi mục tiêu chính của khảo cổ học truyền thống là cung cấp một phác thảo về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Vì giờ đây đã có bản phác thảo này, là những gì mà các nhà khảo cổ học dành thời gian của họ để thực hiện – nên Trigger (1981) đã quy những thay đổi trong tư duy khảo cổ học cho những thay đổi xã hội rộng lớn hơn và các thái độ mà bản thân các nhà khảo cổ học không thể kiểm soát được. Về cách giải thích này, các thay đổi trong lý thuyết và thực hành khảo cổ chỉ phản ánh bối cảnh xã hội rộng lớn hơn. Mới đây, theo Trigger, ý tưởng cho rằng tiến bộ kỹ thuật sẽ giải quyết mọi vấn đề xã hội đã được thay thế bằng tình trạng bi quan và tuyệt vọng sâu sắc, ít nhiều được thể hiện trực tiếp trong việc Renfrew sử dụng lý thuyết thảm họa để giải thích sự thay đổi xã hội (Renfrew 1978a). Chúng ta không thể nói rằng cái nhìn của Renfrew về cuộc sống có thực sự bi quan đến mức tuyệt vọng hay không, nhưng công thức của Trigger hầu như không đầy đủ. Nó dựa trên quan niệm về xã hội như là sự đồng thuận mang tính định chuẩn giữa các cá nhân và do đó các lý thuyết của các nhà khảo cổ học, tất yếu phản ánh cách nhìn chung về cuộc sống được tổ chức tại bất kỳ thời điểm nào. Được coi là cực kỳ hợp lý, lập trường của Trigger tin rằng các nhà khảo cổ học với một trí tuệ thiếu năng động, vì vậy họ chỉ có năng lực phản ánh các điều kiện xã hội tồn tại của mình chứ không phải thách thức hoặc cố gắng thay đổi các điều kiện đó.

Tất nhiên, những quan điểm trái ngược nhau của Hill và Leone về lý do của cuộc khủng hoảng trong khảo cổ học có thể được giải quyết bằng cách đơn giản tuyên rằng một số nhà khảo cổ học tin là họ đã hoàn thành tất cả những gì có thể bằng cách sử dụng các lý thuyết và phương pháp luận truyền thống trong khi với những người khác thì lại cảm thấy chẳng có gì đáng quan tâm hay quan trọng cả. Chúng tôi cho rằng có lẽ một lý do chính đáng hơn cho sự phát triển của Khảo cổ học Mới về cơ bản là do động lực của uy tín và sức mạnh, nhưng trên cơ sở ngành học hơn là thuộc khuôn khổ per se tự thân cá nhân. Trong suốt hai thập kỷ qua, các nhà khảo cổ học đã tách rời công trình của họ khỏi lịch sử, coi đó là đặc trưng đặc thù và mang tính biểu ý, và đã mô tả nó như một khoa học “cứng” tổng quát hóa mang tính luật tắc (nomothetic). Khoa học, với chữ K viết hoa, là từ khóa để hiểu những phát triển gần đây trong khảo cổ học. Tại sao phần lớn các nhà khảo cổ học lại muốn choàng chiếc áo khoác trắng vô trùng?. Điều này dường như liên quan đến việc tiếp nhận huyền thoại về tính tối thượng của khoa học như là phương thức hiểu biết tối thượng của con người, nhà khoa học như một nhân vật anh hùng xua tan huyền thoại bằng lý tính sắc bén. Với ưu thống ngày càng tăng của khoa học và công nghệ trong xã hội đương đại, thì việc đúc kết bằng hình ảnh này chính là đạt được sự tôn trọng trí tuệ và sức mạnh, thứ sức mạnh đạt được bằng cách sản xuất hoặc có mục đích tạo ra tri thức khách quan phù hợp với thế giới hiện đại (Fritz và Plog 1970, trang 412), sự phù hợp được hình thành bằng khuôn khổ trung lập về đạo đức và chính trị và do đó vốn có tính bảo thủ (Tilley 1985, Chương 3 tập này). Khảo cổ học Mới bắt đầu một cách lạc quan; khảo cổ học, được xác quyết, có thể là nhân học nhưng những hạn chế của khảo cổ học truyền thống đối với việc có thể đạt được sự hiểu biết sâu sắc về quá khứ đã được tái sáng tạo như là kết quả của chủ trương khoa học thực chứng. Say sưa với vị đậm whisky Hempelian và hương nồng cognac chức năng luận, Khảo cổ học Mới đã thoái trào để có thể nói thêm đôi chút về cái biểu trưng và xã hội, hơn là có thể bị quy giản thành ảnh hưởng của công nghệ và kinh tế, những nấc đầu của thang Hawkes (1954) mà vượt khỏi nó các nhà khảo cổ học truyền thống không quan tâm đến việc mạo hiểm, ngoại trừ trong những thời điểm suy lý thứ cấp hiếm hoi. Phần còn lại của chương này được dành để phê phán bản chất của nhận thức luận và phương pháp luận được áp dụng trong Khảo cổ học Mới.

Xác quyết Tri ​​thức Nền tảng: Thực chứng luận

Các nhà Khảo cổ học Mới không chỉ đối lập khát vọng khoa học với sự hiểu biết lịch sử, mà còn đối lập diễn dịch với quy nạp, thực chứng luận với kinh nghiệm luận. Việc viện vào triết học khoa học thực chứng được coi là con đường vương giả dẫn đến thành công. Đích đến không còn là mô tả quá khứ mà là giải thích nó và cấu trúc giải thích đã trở thành mối quan tâm hàng đầu. Gần như ngay lập tức có sự chia rẽ giữa các nhà khảo cổ học coi nhiệm vụ của họ phải là công thức hóa cùng thử nghiệm các quy luật và những người chủ trương giải thích chức năng luận bằng khuôn khổ hệ thống (xem Hodder 1982a). Cuộc ly giáo này lần đầu tiên được Flannery xác định rõ ràng, ông đã thực hiện một cuộc tấn công chế nhạo các nhà khảo cổ học “quy luật và trật tự” ấy. Kể từ những năm 1970, hai hướng tiếp cận đã tiếp tục được thực hiện nhưng sự thất bại chung trong việc công thức hóa bất kỳ quy luật nào vượt ra ngoài cái tầm thường cũng đều dẫn đến một tình huống mà hiện nay rất ít nhà khảo cổ học sẵn sàng cam kết với cách tiếp cận như vậy. Điểm chung cho cả hai nhóm là việc nhấn mạnh vào nhu cầu khái quát hóa và tin rằng kiểm nghiệm diễn dịch dựa trên hồ sơ khảo cổ học là cách duy nhất để đảm bảo tính khách quan và hợp lệ của các khẳng định về quá khứ.

Cả những người chủ trương sử dụng và xây dựng các quy luật lẫn các nhà lý thuyết hệ thống chức năng luận đều nhầm lẫn giữa thực chứng luận và kinh nghiệm luận. Trớ trêu thay, họ đã thay thế kinh nghiệm luận bằng thực chứng luận, một trong những triết học thực nghiệm nghiêm ngặt nhất để tồn tại, và đó là sự nhầm lẫn chung mà điều này không được nhận ra. Một mô tả triết học được chấp nhận rộng rãi về thực chứng luận cho rằng đó là kinh nghiệm luận hệ thống. Hơn nữa, những nhà khảo cổ học tự cho mình là đã hoàn toàn bác bỏ các lập trường kinh nghiệm luận đặt cơ sở cho công trình của họ trên việc đọc hạn hẹp các văn liệu triết học. Thứ nhất, họ chỉ đề cập đến triết học khoa học (có thể hiểu là họ muốn trở thành nhà khoa học), thứ hai, ít nhiều cho rằng có sự đồng thuận chung tồn tại trong triết học khoa học và công trình của một vài nhà triết học thực chứng về khoa học, đặc biệt là của Hempel, đã được chuyển nhượng bán buôn với rất ít, hoặc thậm chí không được xem xét mang tính phê phán. Các học thuyết thực chứng luận đã được chuyển giao cho khảo cổ học vào thời điểm mà nhiều nhà triết học đang bác bỏ hầu như mọi nguyên lý chủ yếu làm cơ sở cho thực chứng luận. Cảnh tượng bất hạnh chính là cảnh tượng về ngành khảo cổ học vơ lấy những ý tưởng lỗi thời và triệt để mất uy tín để làm khuôn khổ cho sự tiên tiến của bản thân mình.

Thật kỳ lạ là xu hướng này vẫn tiếp tục và các bài viết được trình bày tại hội nghị Southampton gần đây (Renfrew, Rowlands và Segraves (eds.) 1982) của những nhà triết học chuyên nghiệp đó đã mời gọi “tư vấn” cho các nhà khảo cổ học, ngoại trừ bài viết của Gellner (Gellner 1982), còn lại tất cả đều mắc nghiện thực chứng luận, cho dù đó là thứ thực chứng luận đã loãng tuyệch (all took a positivist, if diluted positivist line). Tương tự như vậy, nhà triết học nghiệp-dư duy nhất dám viết một cuốn sách liên quan đến khảo cổ học (Salmon 1982) vẫn níu lấy quan điểm thực chứng luận. Điều đó không có nghĩa là thực chứng luận vẫn còn sống và vẫn là một thứ triết học khả dĩ, mà chỉ là minh họa cho câu ngạn ngữ đánh chết cái nết vẫn chẳng chừa. Thật là bất hạnh nếu thực sự các nhà khảo cổ học vẫn tin vào bất cứ điều gì mà một triết gia mách bảo họ (Flannery 1982, tr. 277). Sự thất vọng hiện tại đối với triết học, và lý thuyết nói chung, được thể hiện qua bài viết gần đây của Flannery (sđd) cùng cả các nhận định của Schiffer (1981). Flannery khuyến nghị quay trở lại công việc thực sự thông thường của khảo cổ học, tức là một lịch sử văn hóa thực nghiệm vững chắc, trong khi Schiffer gợi ý rằng các nhà khảo cổ học nên tách mình khỏi những mối quan tâm triết học không có ý nghĩa thực tế trực tiếp (tức là phương pháp luận) để thực hiện công việc nghiên cứu.

Chính xác thì ở đây chúng tôi lại đưa ra quan điểm đảo đề. Việc bỏ qua những mối quan tâm triết học và lý thuyết là không có lối thoát. Một cách tiếp cận như vậy, khéo dụ chúng ta chỉ cần tiếp tục nghiên cứu dữ liệu mà chẳng cần quan hoài gì về những điều hay ý đúng của lý thuyết, có lẽ lại khêu mời phản hồi trực tiếp với cái mà dữ liệu giả định rằng việc thiếu bất kỳ cách tiếp cận hoặc thủ tục mang tính hệ thống nào bằng cách nào đó đều là một sự đảm bảo kỳ diệu về tính khách quan. Cách tiếp cận thông thường như vậy tránh được một cách hệ thống bất kỳ sự đối đầu nào với các tiền đề của chính nó, bảo vệ bất kỳ phương pháp luận nào hiện có và theo cách này, tạo ra chính sự đối lập với việc nghiên cứu khách quan không có-vấn đề. Nghiên cứu thực nghiệm được trình bày như một công cụ hiển nhiên của lẽ thường không bao giờ được mời gọi để đảm bảo tính nhất quán, im lặng và mâu thuẫn của nó và do đó hoàn toàn không thỏa đáng. Nếu triết học ít được sử dụng cho khảo cổ học thì đó là do các nhà khảo cổ học đã lạm dụng nó một cách có hệ thống và kết quả của tình trạng hiểu biết hời hợt bên lề các văn liệu triết học. Nếu triết học phải thuộc về giá trị, thì điều này sẽ không xuất phát từ việc các nhà triết học kêu gọi chúng ta phải làm gì hoặc tiến hành như thế nào. Các nhà khảo cổ phải tự mình đương đầu với văn liệu, tham gia các cuộc tranh luận và xác lập vị thế. Những ý chí này, cần thiết, là những lập trường triết học vượt lên trên những mối quan tâm thực dụng của ngành học, nhưng sẽ phù hợp với nó. Giải pháp thay thế duy nhất dường như là một sự mò mẫm phi hệ thống một cách mù quáng hướng tới việc nghiên cứu về quá khứ, hoặc để các nhà khảo cổ tiếp tục tự thấy mình phải tuân theo những nhận xét được đưa ra, khá chính xác, của Morgan (1973) liên quan đến Giải thích trong Khảo cổ học [EA - Explanation in Archaeology] (Watson, LeBlanc and Redman 1971): “Nói tóm lại, EA vẻ như sắm vai khơi gợi lại một tay phục hưng tôn giáo, viện vào kinh thánh để thiết lập quan điểm của mình, trong khi vây bọc học thuyết của mình bằng những cụm từ hoa mỹ và những định nghĩa lại để làm cho học thuyết đó trở nên ngon miệng hơn” (Morgan 1973, tr 273).

Ngay cho dù có thể được xác lập - điều mà nó không thể - thì các vấn đề triết học vẫn hoàn toàn không liên quan đến khảo cổ học, sự khác biệt giữa một khẳng định đủ am hiểu về mặt triết học và lý thuyết, và một khẳng định không đến nơi đến chốn, là ở chỗ trong trường hợp khẳng định đủ am hiểu, thì tối thiểu cũng thực sự có một lý do nào đó để tin rằng chúng ta có cơ sở vững chắc cho những gì mình đang nói. Việc tách rời lý thuyết khỏi thực tiễn là một trong những đặc điểm cơ bản của thực chứng luận và bản thân nó chỉ có thể được bảo vệ hoặc bác bỏ dựa trên cơ sở triết học đủ am hiểu. Giờ đây chúng ta sẽ chuyển sang một sự phân định chính xác về những gì thực chứng luận có thể được coi là được bảo vệ, và những cơ sở mà nó có thể bị bác bỏ. Để tạo dựng phê phán này, chúng tôi đã tìm thấy các nguồn văn liệu được sử dụng đặc thù sau đây (Benton 1977; Giddens 1977; Harre và Madden 1975; Hindess 1977; Keat và Urry 1975). Có thể có hai cách để tiến hành. Đầu tiên là xem xét công trình của các nhà triết học thực sự đã được chuẩn bị để gắn nhãn cho công trình của họ là “thực chứng luận”. Ngày càng có ít loại công trình này vì ngày nay thực chứng luận ít nhiều cũng là một thuật ngữ lạm dụng hơn là một truyền thống triết học sống động. Cách thứ hai là xác định các mệnh đề cụ thể với tư cách là thực chứng luận. Chúng tôi sẽ xem xét phần lớn bản thân các lập luận triết học chứ không phải là những phỏng tác khảo cổ học trực tiếp của chúng vì chúng được sử dụng để tạo nên thực chứng luận trong khảo cổ học phụ thuộc vào việc liệu tự thân các lập trường này có căn cứ hay không.

Tự nhiên luận

Luận đề của tự nhiên luận phụ thuộc vào bốn niềm tin tương liên: i) con người về cơ bản là những thực thể vật lý và sinh học. Đồng thời, những gì con người làm và sản xuất, về bản chất, không khác gì các quá trình trong thế giới vật lý mà các nhà khoa học tự nhiên quan tâm; ii) toàn bộ khoa học tạo thành một thể thống nhất sao cho các nguyên tắc liên quan đến việc hình thành và đánh giá các khẳng định là đẳng cấu trong cả khoa học xã hội và khoa học tự nhiên; iii) khoa học tự nhiên cung cấp cho các khoa học xã hội mô hình cho quy trình của các khoa học đó; iv) tri ​​thức chắc chắn nhất là toán học và tính tất định trong quan niệm. Các nhà khảo cổ học đã chấp nhận một cách hiển minh hoặc ngầm ẩn cả bốn học thuyết này. Trên thực tế, toàn bộ “dự án” của Khảo cổ học Mới đều dựa trên các học thuyết đó và không cần phải dùng mánh trích dẫn để xác quyết điều đó. Nhà xã hội học thế kỷ mười tám, Charles Fourier, bị choáng ngợp bởi những thành tựu của Newton trong vật lý học, đối với ông, bao gồm trong việc khám phá ra một nguyên lý phổ quát duy nhất, đó là lực hấp dẫn, nên ông đã mô phỏng Newton bằng đề xuất cho rằng đời sống xã hội bị chi phối bởi nguyên tắc hấp dẫn say mê. Hầu hết các nhà khảo cổ học có lẽ bác bỏ mệnh đề của Fourier vì vô lý, nhưng về cơ bản, nó không khác và không kỳ quái hơn là nhấn mạnh rằng để có giá trị bất kỳ, có giá trị như một loại khảo sát nghiêm túc, thì khảo cổ học phải bắt chước các khoa học tự nhiên (được hiểu là vật lý học) hơn là xem xét các lý thuyết xã hội và bản thân cái mô hình về các khoa học xã hội.

Luận đề của tự nhiên luận có thể bị tấn công trên một số cơ sở liên quan. Thứ nhất, như đã chỉ ra ở trên, không có lý do hợp lý nào để chấp nhận luận điểm (iii), nhưng đổi lại, cũng không thể bác bỏ luận điểm đó trên cơ sở hoàn toàn hợp lý và do đó, tuyên bố này bị bỏ trống. Các luận điểm (i), (ii) và (iv) quan trọng hơn và sẽ được xem xét cùng nhau. Tự nhiên luận phủ nhận rằng con người theo bất kỳ cách nào đều duy nhất và tuyên bố rằng các hành động của họ có thể được giải thích theo cùng một cách giống như các quy tắc vật lý trong thế giới tự nhiên. Giờ đây có thể mở ra để tranh luận xem con người hay một xã hội có phải là một thực thể tự nhiên hay không. Sau rốt tất cả mọi người đều sở hữu cơ thể vật chất và chịu tác động của các lực lượng vật chất tương tự trên thế giới, chẳng hạn như một tảng đá, một cái cây, hoặc sử dụng một ví dụ cổ kinh tế ưa thích, chim sơn ca. Không nghi ngờ gì nữa, có một cốt lõi chân lý trong lập trường như vậy nhưng nó không đưa chúng ta đi quá xa. Con người không phải là các thực thể tự nhiên nếu chúng ta chấp nhận cái ưu việt của năng lực tri giác, tính chủ ý, giao tiếp ngôn ngữ và biểu tượng. Chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng giữa chuyển động của cơ thể vật chất có thể được điều chỉnh thích hợp theo khuôn khổ của luận điểm tự nhiên luận và các hành động của con người không thể được đồng hóa một cách dễ dàng khi chúng liên quan đến các ý định, lựa chọn, tâm tính và động cơ. Thế giới xã hội không phải là tấm gương phản chiếu thế giới tự nhiên mà là một thế giới luôn được cấu trúc sẵn và tạo thành một tổng thể tính mà hình thái và bản chất của nó có nguồn gộc từ các thủ tục diễn giải của các thành viên của nó. Các hiện tượng tự nhiên, không giống như các hiện tượng xã hội, không có ý nghĩa hoặc cấu trúc nhận thức vốn có, cần phải được tính đến khi giải thích.

Wittgenstein hỏi: “Còn lại gì nếu bạn trừ việc cánh tay tôi giơ lên ​​khỏi việc tôi đưa cánh tay ra?” (Wittgenstein 1953, I sec. 621;. Hàm ý của câu hỏi này là có điều gì đó quan trọng hơn nhiều trong hành động đưa một cánh tay ra so với chuyển động cơ thể đơn thuần, ví dụ như một hành động phản xạ. Chúng ta không xếp hành động đó vào khuôn khổ của các quá trình vật lý mà lại xếp vào khuôn khổ ý nghĩa mà nó hướng tới. Ý nghĩa ở đây là một thuật ngữ quan trọng. Một hành động phản xạ là vô nghĩa vì không có mục đích hoặc chủ ý của con người gây ra hoặc có thể liên quan đến chuyển động, nhưng lại có những lý do rõ ràng tại sao ai đó có thể đưa cánh tay của mình ra, chẳng hạn để ra hiệu cho ai đó. Ý nghĩa được kết nối nhất thiết và không ngẫu nhiên với hành động của con người và sản phẩm của họ. Hành động xã hội, trái ngược với chuyển động, vượt ra ngoài bản thân nó. Chủ ý là một khái niệm quan trọng giúp phân biệt tinh thần với các hiện tượng vật chất . Nó liên quan đến quan niệm về những người có thể phân biệt, hiểu và tuân theo các quy tắc, áp đặt các ràng buộc định chuẩn vào hành vi của họ, phán đoán theo phản xạ hoặc giám sát hành động của họ và có năng lực cân nhắc hoặc lựa chọn. Đây là một viễn kiến rất khác với quan điểm thông thường về hành vi được đề cập trong phần lớn các văn liệu khảo cổ học, nơi mà các hành động được cho là thúc đẩy bởi nhiều kích thích bên ngoài, cùng các nhu cầu và kỳ vọng về vai trò (ví dụ, Plog 1974, tr. 49-53; Schiffer 1976; Jarman và cộng sự (eds.) 1982). Con người có khả năng tác động vào thế giới tự nhiên và biến đổi nó một cách có hệ thống và tạo ra thế giới của riêng họ hoặc tạo dựng thực tại xã hội. Đặc biệt, sự giống nhau về bề ngoài được thiết lập bởi trường phái cổ kinh tế (Jarman et al. 1982) và trong các hình thức lý thuyết tân tiến hóa (Dunnell 1978a, 1980; Wenke 1981) giữa hành vi của con người và động vật, che giấu những khác biệt cơ bản và không thể quy giản, chẳng hạn như có sự phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm như sản xuất và khai thác, tộc tính và ngách sinh thái, tài sản và tính lãnh thổ. Một tập hợp các khái niệm không làm sáng tỏ được bất cứ điều gì vì chúng thuộc về các khung quy chiếu khác nhau về cơ bản. Văn hóa con người không phải là một bộ phận của tự nhiên mà là sự biến đổi của nó.

Việc toán học hóa thường là một sự chuyển hướng không liên quan trong nỗ lực tìm hiểu thế giới xã hội. Khảo cổ học đã đạt được rất ít thành tựu ngoài những nghi vấn về công trình trước đó dựa trên sự kém cỏi về viện dẫn định lượng của nó: “cứ như thể người ta phải lên một chiếc tàu ngầm nguyên tử để có một phát hiện mới về châu Mỹ, một phát hiện phải được xác minh đơn giản bởi vì chiếc thuyền “Santa Maria” của Columbus về mặt kỹ thuật là không hoàn hảo” (Wiatr 1969, tr. 23). Cooke và Renfrew (1979) phát triển một mô hình mô phỏng sự xuất hiện của nền văn minh. Các xã hội được xử lý như một hệ thống với con người là các “thành tố” của nó. Mô hình này được thao tác hóa bằng cách sử dụng sáu hệ thống con mà Renfrew (1972) định nghĩa cho giai đoạn Aegean và ở giai đoạn này, các “thành tố” con người rơi khỏi tầm nhìn một cách bất khả vãn hồi. Bước tiếp theo là loại bỏ các hệ thống con thiên về các biến số từ 0 đến 1. Giờ đây, chỉ có thể gán một biến số, như trong tất cả các cách tiếp cận toán học, trên cơ sở các định nghĩa rất rõ ràng đã được cung cấp. Ví dụ, hệ thống con xạ ảnh trở thành “cả số khái niệm trừu tượng được sử dụng trong xã hội liên quan đến việc đo lường lẫn số giờ lao động trên đầu người mỗi năm dành cho các hoạt động tôn giáo hoặc để tạo điều kiện cho các hoạt động đó (ví dụ: xây dựng đền thờ (Cooke và Renfrew1979 , trang 331). Các tác giả tuyên bố rõ ràng rằng mô hình đó chỉ là một nỗ lực thô mộc và sơ bộ nhưng việc đặc tả các biến số toán học không bao giờ có thể thuận lợi. Một tình huống tương tự có thể là yêu cầu ai đó đặt một biến số chính xác (hoặc thậm chí là một phạm vi giá trị), về việc liệu họ có muốn cắt cụt mũi hay chân phải không. Về bản chất, luận đề của tự nhiên luận sụp đổ với phản đề về tính bất khả quy giản của cái xã hội. Đồng thời, nếu cái xã hội là bất khả quy giản thì các tuyên bố về thế giới vật chất và tự nhiên phải có hình thức khác và không cần thiết phải mô hình hóa các quá trình xã hội theo các quá trình tự nhiên.

___________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Shanks M., and Christopher Tilley (1987). Re-Constructing Archaeology - Theory and Practice. Second Edition, London and New York.

References

Bayard, D (1969). Science, theory and reality in the "new archaeology", In American Antiquity 34(4) 376-84.

Benton, T (1977) Philosophical Foundations of the Three Sociologies, Routledge and Kegan Paul.

Binford, L (1962) Archaeology as anthropology, In American Antiquity 28 (2) 217-25.

Binford, L (1963) “Red ochre” caches from the Michigan area a possible case of cultural drift”, In South western Journal of Anthropology 19, 89-108.

Binford, L (1964) A consideration of archaeological research design, In American Antiquity 29 425-51.

Binford, L (1965) Archaeological systematics and the study of culture process, In American Antiquity 31, 203-10.

Binford, L (1972) An Archaeological Perspective, Seminar Press.

Binford, L (1977) General introduction, In For Theory Building in Archaeology, ed L Binford, Academie Press.

Binford, L (1978) Nunamiut Ethnoarchaeology, Academie Press.

Binford, L (1981) Bones Ancient Men and Modem Myths, Academie Press.

Binford, L (1982) Objectivity - explanation archaeology 1981, In Theory and Explanation in Archaeology The Southampton Conference, ed C Renfrew, M Rowlands and B Segraves, Academie Press.

Binford, L (1983a) Working at Archaeology, Academie Press.

Binford, L (1983b) In Pursuit of the Past, Thames and Hudson.

Binford, L and Sabloff, J (1983) Paradigms, systematics and archaeology, In L Binford Working at Archaeology, Academie Press.

Braithwaite, M. (1982). Decoration as ritual symbol: a theoretical proposal and an ethnographic study in southern Sudan, In I. Hodder (ed.).

Braithwaite, R. (1968). Scientific Explanation, Cambridge University Press.

Clarke, D (1968) Analytical Archaeology, Methuen.

Clarke, D (1973) Archaeology the loss of innocence, In Antiquity XLVII 6-18.

Cooke, K and Renfrew, C (1979) An experiment on the simulation of culture changes, In C Renfrew and K Cooke (eds).

Cornforth, M (1968) The Open Philosophy and the Open Society, Lawrence and Wishart.

Dunnell, R. (1978a). Style and function: a fundamental dichotomy, In American Antiquity 43 (2) 197-202.

Dunnell, R. (1980). Evolutionary theory and archaeology, In Advances in Archaeological Method and Theory:, ed. M. Schiffer, Vol. 3

Feigl, H. (1970). The “orthodox” view of theories: some remarks in defence as well as critique, In Minnesota Studies in the Philosophy of Science, ed. M. Radner and S. Winokur, Vol. 4, Minneapolis.

Flannery, K. (1982). The golden Marshalltown, a parable for the archaeology of the 1980s, In American Anthropologist 84: 265-78.

Fritz, J. and Plog, F. (1970). The nature of archaeological explanation, In American Antiquity 35: 405-12.

Gellner, E. (1982). What is structuralisme, In Renfrew, Rowlands and Segraves (eds.).

Giddens, A. (1976). New Rules of Sociological Method, Hutchinson.

Hanson, N. (1958). Patterns of Discovery, Cambridge University Press References 274.

Harre,R and Madden, P (1975) Causal Powers, Blackwell, Oxford.

Hawkes, C (1954) Archaeological theory and method some suggestions From the old world, In American Anthropologist 56, 155-68.

Hawkes, J (1968) The proper study of mankind, In Antiquity 42, 255-62.

Hempel, C (1959) The function of general laws in history, In Theories of History ed P Gardiner, Free Press, New York.

Hempel, C (1965) Aspects of Scientific Explanation, Free Press, New York.

Hill, J (1972) The methodological debate in contemporary archaeology a model, In Models in Archaeology, ed D Clarke, Methuen.

Hindess, B (1977) Philosophy and Methodology in the Social Sciences, Harvester, Hassocks.

Hodder, I (1982a) Theoretical archeology a reactionary view, In I. Hodder (ed).

Hodder, I (1982b) Symbols in Action, Cambridge University Press.

Hodder, I (ed ) (1982) Symbolic and Structural Archaeology, Cambridge University Press.

Keat, R., and Urry, J., (1975). Social Theory as Science, London, Routledge & Kegan Paul.

Kuhn, T.S. (1970). The structure of scientific revolutions. 2nd Edition, Chicago University. The University of Chicago Press.

Jarman, M., Bailey, G. and Jarman, H. (eds.) (1982). Early European Agriculture, Cambridge University Press.

Leone, M (1972) Issues in anthropological archaeology, in Contemporary Archaeology, ed M Leone, Southern Illinois Press. Carbondale.

Mackie, J (1974) The Cement of the Universe, Clarendon Press, Oxford.

Meltzer, D (1979) Paradigms and the nature of change in American archaeology, In American Antiquity 44, 644—57.

Morgan, C (1973) Archaeology and explanation, In World Archaeology 4, 259-76.

Passmore, J. (1962). Explanation in everyday life, in science and history, In History and Theory II (2).

Plog, F. (1974). The Study of Prehistoric Change, Academie Press.

Popper, K. (1959). The Logic of Scientific Discovery, Hutchinson.

Popper, K. (1963). Conjectures and Refutations, Routledge and Kegan Paul.

Popper, K. (1966). The Open Society and its Enemies Vol 2. The High Tide of Prophecy Hegel, Marx and the Aftermath, Routledge and Kegan Paul.

Quine, W. V. O. (1960). Word and Object, Cambridge, Mass.

Quine, W. V. O. (1961). Two dogmas of empiricism, In W. V. O. Quine From a Logical Point, of View, Harvard University Press, Cambridge, Mass.

Raab, L. and Goodyear, A. (1984). Middle-range theory in archaeology a critical review of origins and applications, In American Antiquity 49 (2). 255-8.

Renfrew, C. (1972). The Emergence of Civilisation The Cyclades and the Aegean in the Third Millennium B.C , Methuen.

Renfrew, C. (1978a) Trajectory discontinuity and morphogenesis the implications of catastrophe theory for archaeology, In American Antiquity 43, 202-22.

Renfrew, C. (1982a) Explanation revisited, In C Renfrew, M Rowlands and B Segraves (eds).

Renfrew, C. (1982b) Discussion contrasting paradigms, In Ranking, Resource and Exchange in Early European Prehistory, ed C Renfrew and S Shennan, Cambridge University Press.

Renfrew, C , Rowlands, M and Segraves, B (eds) (1982) Theory and Explanation in Archaeology The Southampton Conference, Academie Press.

Salmon, M. (1975) Confirmation and explanation in archaeology, In American Antiquity 40, 459-65.

Salmon, M. (1982; Philosophy and Archaeology, Academie Press.

Sayre, K. (1976). Cybernetics and the Philosophy of Mind, Routledge and Kegan Paul.

Schiffer, M. (1976). Behavioural Archaeology. Academic Press.

Schiffer, M. (1981). Some issues in the philosophy of archaeology, In American Antiquity 46: 899-908.

Sterud. E (1978) Changing aims of Americanist archaeology a citations analysis of “American Antiquity”, 1964-75, In American Antiquity 43, 294-302.

Tilley, C (1970) Aims in prehistoric archaeology, In Antiquity 44, 26-37.

Tilley, C (1981) Anglo American archaeology, In World Archaeology 13, 138-55.

Tilley, C (1985) Archaeology as sociopolitical action in the present, In Critical Traditions in Contempor ary Archaeology, ed V Pinsky and A Wylie, Cambridge University Press.

Trigger,B (1968) Beyond History The Methods of Prehistory, Holt. Rinehart and Winston, New York.

Tringham. R. (1978). Experimentation, ethnoarchaeology and the leapfrogs in archaeological Methodology, In Explorations in Ethnoarchaeology, ed. R. Gould, University of New Mexico Press, Albuquerque.

Watson, P., LeBlanc, S. and Redman, C. (1971). Explanation in Archaeology: An Explicitly Scientific Approach, Columbia University Press, New York.

Wenke, R. (1981). Explaining the evolution of cultural complexity: a review, In Advances in Archaeological Theory and Method Vol. 5, ed. M. Schiffer, Academic Press.

Wiatr, J. (1969). Sociology-Marxism-Reality, In Marxism and Sociology - Views from Eastern Europe, ed. P. Berger. Appleton Century Crofts, New York.

Willey and Sabloff, J. (1980). A History of American Archaeology (2nd edn), Freeman, New York.

Wittgenstein, I (1953) Philosophical Investigations, Blackwell, Oxford.

Zubrow, E (1972) Environment, subsistence and society the changing archaeological perspective, In Annual Review of Anthropology 1, 179-206.

Zubrow, E (1980) International trends in theoretical archaeology, In Norwegian Archaeological Review 13(1; 14-23.

 

 


 

 

 

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2021

Sự vật Hành động - Diễn giải Ý nghĩa của Sự vật trong Khảo cổ học (I)

Marko Marila

Người dịch: Hà Hữu Nga

Giới thiệu

Các nhà khảo cổ học luôn quan tâm đến ý nghĩa quá khứ của sự vật. Các vấn đề nảy sinh khi người ta nhận ra rằng ý nghĩa của một đối tượng khảo cổ học trong hiện tại có thể rất khác với ý nghĩa trong quá khứ của nó. Điều đó đã dẫn đến nhiều cách xử lý các đối tượng khảo cổ học liên quan đến ý nghĩa. Có những người coi chúng là nguồn tri thức quan trọng về mặt lịch sử, trong khi những người khác lại chỉ thừa nhận tầm quan trọng của chúng trong xã hội đương đại và coi chúng như những đối tượng chỉ thuộc về hiện tại1. Ngoài ra, thuật ngữ ý nghĩa đã được quan niệm theo nhiều cách khác nhau trong khảo cổ học. Một số học giả, vẫn trung thành với truyền thống cấu trúc luận, đã coi ý nghĩa cố hữu có tính ngôn ngữ (Hodder 1986), trong khi những người khác lại coi nó như một khía cạnh vật chất hơn của sự vật (Dudley 2010).

Trong bài viết này, tôi đề cập đến các vấn đề liên quan trong nghiên cứu ý nghĩa của các đối tượng khảo cổ học, đó là, ý nghĩa nên được hiểu như thế nào và dựa trên cơ sở nào để nghiên cứu và tái tạo lại ý nghĩa quá khứ của sự vật2. Luận điểm chính của tôi trong bài viết này là ý nghĩa không phải là một phẩm chất vốn có của một đối tượng, cũng không phải là một kiến tạo xã hội hay lý tưởng về cơ bản có thể liên tục phải thương lượng, mà thực ra thì ý nghĩa luôn ngang bằng với thói quen hành động (EP 1: 131; Lele 2006; Bauer 2013). Theo nghĩa này, việc khái niệm hóa các đối tượng như một mạng thói quen hơn là một mạng quan hệ giúp chúng ta hiểu bản chất của ý nghĩa như một sự kiện lịch sử dài hạn (Lele 2006; Bauer 2013). Cuối cùng, điều đó dẫn đến quan điểm coi ý nghĩa như là quá trình thay vì đã đạt được, như là đang diễn ra hơn là đã được thực hiện, và được dự đoán thay vì được nhận thức. Điều này khác xa với định nghĩa bản chất luận hay duy tâm luận kinh điển về ý nghĩa như một cái gì đó lý tưởng, và bất biến (Johnson 1999: 85–92).

Nhà triết học và ký hiệu học người Mỹ Charles Peirce (1839–1914) vẫn là một nhân vật chủ chốt mà các văn bản về ý nghĩa, thói quen và sự tiến hóa của ông vẫn được trích dẫn thường xuyên, bất cứ khi nào các khái niệm đó được thảo luận (Waal 2001). Bài viết này cũng không ngoại lệ, vì nó rút tỉa được rất nhiều điều từ các bài viết của Peirce. Đồng thời, bài viết cũng đảm nhận một thách đố khá triết học về ý nghĩa, và do đó thiếu đi việc nghiên cứu trường hợp khảo cổ thông dụng và thường tẻ nhạt. Tuy nhiên, để phù hợp với các đặc tính của chủ nghĩa thực dụng, một ví dụ thực tế được rút ra từ lịch sử khảo cổ học. Trong bài viết gây tranh cãi năm 1954 Lý thuyết và Phương pháp Khảo cổ học: Một số Gợi ý từ Thế giới cũ”, nhà khảo cổ học Christopher Hawkes đã trình bày những gì có thể được mô tả như một thể thức suy luận khảo cổ học, một mô hình mà sau này được thăng lên thành “thang Hawkes”. Nguyên lý chính của nó là các nhà khảo cổ học nên bắt đầu bằng cách nghiên cứu các đối tượng được cho là có liên quan đến hoạt động công nghệ và chiến lược sinh tồn, vì chúng có thể ít thay đổi hơn so với các khía cạnh phi vật chất hơn của một văn hóa, như tôn giáo. Vậy là, cách tiếp cận của Hawkes vốn đã mang tính định hướng-sự vật. Ví dụ, có thể chế tác đá lửa theo nhiều cách khác nhau, nhưng nếu tính đến thực tế là ngày nay đá lửa có thể được xử lý giống như cách đây hàng nghìn năm, thì chúng ta khó mà có được những dữ liệu làm cơ sở nghiên cứu. Hơn nữa, vì khó xác định động cơ tôn giáo đằng sau hồ sơ khảo cổ học, vì vậy chỉ nên tiếp cận các câu hỏi liên quan đến chúng khi đã trả lời được các câu hỏi cơ bản hơn.

Ngày nay, cách tiếp cận như vậy có vẻ ngây thơ và mang tính quy giản luận. Quan điểm của Hawkes về suy luận khảo cổ học không khác với những gì điển hình của thời ấy. Cho đến những năm 1950, logic suy luận khảo cổ học có thể được coi là ngây thơ và đậm tính quy nạp (ví dụ, xem Wylie 2002; Lucas 2012; Marila 2013). Mục tiêu là để thu thập hồ sơ khảo cổ học trong tính toàn vẹn của nó. Sau khi mọi tài liệu được đưa ra ánh sáng, thì sự thật về quá khứ sẽ tự khải lộ. Đối với nhà khoa học ngày nay, các ý tưởng của Hawkes tự thể hiện mình là một thứ gì đó mang tính quy giản luận và nhị nguyên luận (Hodder 1989). Ngày nay khảo cổ học được coi là một nỗ lực kết-mở hơn là một quá trình quy nạp với những mục tiêu rõ ràng (Clarke 1973; Fogelin 2007). Hơn nữa, ngày nay các nhà khoa học luôn sẵn sàng, hoặc ít nhất họ cũng nên sẵn sàng thừa nhận rằng khoa học là có thể sai lầm và ngay cả những ý tưởng vững chắc nhất cũng có thể là giả tưởng. Cách tiếp cận của Hawkes đã bị chỉ trích khắp nơi (Hodder 1989; Graves 1994; Robb 1998; xem Evans 1998 để biết tóm tắt về bài phê phán Hawkes) vì sự ngây thơ của nó và thực sự không phù hợp với tư cách là một phương châm nhận thức ngày hôm nay. Tuy nhiên, tôi sử dụng thang Hawkesian làm ví dụ khi thảo luận về các khái niệm chủ chốt của bài viết này, đó là ý nghĩa và thói quen. Tôi cho rằng cho dù có những thiếu sót, nhưng ý tưởng cơ bản đằng sau mô hình Hawkesian không hoàn toàn sai lầm. Một khái niệm khác được triển khai là sự tiến hóa, mà tôi sử dụng để làm rõ hơn bản chất của ý nghĩa với tư cách thói quen. Tôi cho rằng thói quen và tiến hóa là trung tâm của việc hình thành khái niệm ý nghĩa với tư cách là một quá trình tiến hóa hơn là một mạng quan hệ tĩnh.

Ý nghĩa

Ý nghĩa trở thành một thuật ngữ mơ hồ khi vào những năm 1980, các nhà khảo cổ học nhận ra rằng tất cả các ý tưởng về ý nghĩa trong quá khứ đều là những kiến tạo hiện đại (Shanks & Tilley 1987). Vì vậy ý ​​nghĩa chủ yếu được nghiên cứu theo quan điểm cá nhân luận. Ý nghĩa của một đối tượng khảo cổ học thường được coi là ý nghĩa của cá nhân trong quá khứ hoặc người diễn giải hồ sơ khảo cổ học. Không có liên tục tính thực sự nào giữa quá khứ và hiện tại được thừa nhận. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp tiếp cận tường giải trong khảo cổ học (ví dụ Hodder 1986). Bất cứ khi nào một cách tiếp cận có hệ thống hơn được chấp nhận, thì ý nghĩa được coi là có tính cấu trúc (ví dụ như Gardin 1980; Hodder 1986; Shanks & Tilley 1987; Bapty & Yates 1990; Tilley 1990; 1991; Shanks 1992), một cách tiếp cận thường được tin là của Ferdinand de Saussure (1990).

Theo cách tiếp cận này, nghiên cứu ý nghĩa của một sự vật có nghĩa là nghiên cứu cái không phải là nó, tức là tất cả những gì là các thành phần khác của hệ thống khái niệm mà đối tượng nghiên cứu thuộc về chúng. Do đó, một đối tượng có được ý nghĩa của nó trong một hệ thống ý tưởng phức tạp (Preucel 2006: 30–31). Cách tiếp cận này dựa trên ý tưởng cho rằng tâm trí mang tính cấu trúc của con người chi phối mọi nhận thức và diễn giải, đồng thời chịu trách nhiệm cuối cùng về những ý nghĩa của sự vật. Bởi vì cấu trúc chi phối mọi suy nghĩ của con người được cho là không thay đổi, ngôn ngữ được sử dụng để diễn đạt ý tưởng cũng phải mang tính cấu trúc như nhau. Do đó, theo cách tiếp cận này, ý nghĩa quá khứ của một đối tượng (ý tưởng) có thể được biết bằng cách nghiên cứu ý nghĩa của đối tượng (ý tưởng) trong khoảng thời gian này. Cấu trúc đằng sau ngôn ngữ được lấy làm phương tiện kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Khái niệm này dẫn đến ý tưởng cho rằng văn hóa vật chất trong quá khứ được tạo ra theo một ngữ pháp phổ biến và ngày nay có thể được đọc như bất kỳ văn bản nào (ví dụ: Hodder 1986). Điều này đã tạo ra một vấn đề trung tâm. Cũng giống như các chữ cái và từ ngữ, sự vật được coi là các biểu tượng cho những ý nghĩa và động cơ sâu xa hơn đằng sau quá trình sản xuất ra chúng. Các vấn đề mà ý tưởng này dẫn đến đã được đề cập đến ở nhiều công trình khác (ví dụ, xem Hodder 1989; Graves-Brown 1995; Preucel & Bauer 2001; Bauer 2002; Herva & Ikaheimo 2002; Preucel 2006). Phản ứng phổ biến chống lại khảo cổ học biểu tượng là ý nghĩa là một cái gì đó mang tính quá trình và quan hệ hơn là võ đoán và được tạo dựng.

Trong khoảng hai mươi năm gần đây, mô hình Saussurean đã được thay thế bằng một loại ký hiệu học khác trong khảo cổ học, đó là ký hiệu học Peircean thực dụng (ví dụ: Gardin 1992; Graves-Brown 1995; Preucel & Bauer 2001; Bauer 2002; Knappett 2005; Lele 2006; Preucel Năm 2006). Các nhà khảo cổ học chủ trương ký hiệu học Peirce thường đối chiếu ký hiệu học Saussurean với ký hiệu học Peircean bằng cách so sánh mô hình ký hiệu của họ, thường nhấn mạnh tính chất động của mô hình ba bên của Peirce trái ngược với mô hình hai bên cồng kềnh và tĩnh tại của Saussure (ví dụ: Preucel & Bauer 2001: 86; Preucel & Mrozowski 2010: 16). Việc chấp nhận mô hình của Peirce có nghĩa là thay vì coi các đối tượng chỉ đơn giản là các dấu hiệu tượng trưng, ​​các nhà nhân học giờ đây còn sử dụng ký hiệu học bao gồm các dấu hiệu mang tính hình tượng (kết nối bằng tính tương đồng) và chỉ mục (kết nối theo nhu cầu vật chất). Có thể thấy một sự thay đổi thú vị trong cách mà các nhà khảo cổ học bắt đầu nghĩ khác về bằng chứng khảo cổ học với tư cách là các dấu hiệu. Vào những năm 1980 và 1990, các nhà khảo cổ học hậu-quá trình lập luận rằng tổ chức biểu trưng (xã hội) của một văn hóa khảo cổ học thường dễ nghiên cứu hơn các đặc điểm chức năng của sản xuất công nghệ (Hodder 1986: 31; Graves 1994: 167), trong khi các nhà khảo cổ học sau này lấy cảm hứng từ thực dụng luận Peircean lại chống báng quan điểm như vậy. Liebmann và cộng sự (2005: 48), chẳng hạn, cho rằng “văn hóa vật chất [---] chủ yếu chuyển tải ý nghĩa của nó thông qua các thuộc tính mang tính hình tượng và chỉ mục. Các cấp độ ý nghĩa này thường ít mơ hồ hơn các thuộc tính biểu trưng. Nhiều dấu hiệu không mang tính võ đoán bởi vì các yếu tố của chúng có quan hệ xác định với các chỉ vật của chúng. Mặc dù đúng là ý nghĩa của các dấu hiệu có thể thay đổi, nhưng các thành phần hình tượng và chỉ mục của các dấu hiệu lại cố định hơn so với các ý nghĩa biểu trưng.”

Một sự thật thú vị hơn mà các nhà khảo cổ học thường bỏ qua là ký hiệu học của Saussure và của Peirce nói chung dựa trên một loại triết học hoàn toàn khác. Cách tiếp cận cấu trúc luận đối với ý nghĩa là dựa trên triết học duy lý của Descartes (1996) đã trở nên lỗi thời vào cái ngày mà Darwin (1964) xuất bản cuốn Về Nguồn gốc Các loài vào năm 1859. Triết học của Descartes dựa trên ý tưởng cho rằng chủ thể duy lý là bất biến và cuối cùng vẫn không bị ảnh hưởng bởi lĩnh vực vật chất, đó là một ảo tưởng, như ông đã lập luận trong Meditationes de Prima Philosophia - Trầm tư về Đệ nhất Triết học năm 1641 (Descartes 1996). Thuyết tiến hóa chỉ ra rằng môi trường ảnh hưởng đến một cá nhân bao nhiêu thì các cá nhân cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường của họ bấy nhiêu (Silva & Baert sắp xuất bản).

Thật thú vị khi thấy rằng cách tiếp cận duy lý đã có ảnh hưởng trong khảo cổ học cho đến cả thập kỷ gần đây. Trên thực tế, các lý thuyết tác tố (ví dụ như Dobres & Robb 2000), tiếp tục chính truyền thống cấu trúc luận này, mặc dù tác tố đã được triển khai theo kiểu thời thượng hậu-nhân văn như một thuật ngữ nhằm mục đích giải phóng các cá nhân khỏi các mô hình quyết định luận và cấu trúc luận của hành động người (Dornan 2002: 303–304) hoặc ý thức đối với vấn đề đó. Theo nghĩa này, câu hỏi về tác tố trong khảo cổ học tập trung vào loại tác tố của các tác nhân phi con người (Gosden 2005; Knappett & Malafouris 2008; Johannsen 2012; Silva & Baert sắp xuất bản). Đó là ý tưởng cơ bản đằng sau lý thuyết mạng tác tố (Knappett 2002) và lý thuyết sự vật (Brown 2001), cũng như khái niệm về đời sống xã hội của sự vật (Appadurai 1986). Điểm chung của tất cả các ý tưởng này là chúng là những hình thức phóng chiếu những thói quen về cơ bản của con người lên những thứ không phải con người3.

Tuy nhiên, gần đây, nhiều nhà khảo cổ học đã bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu bản thân các sự vật, không phải là một phần của mạng4 hay lĩnh vực xã hội, mà là các sự vật trong bản thân chúng theo nghĩa chúng là những đối tượng có khả năng tự đứng vững, bất kể những gì mà bất kỳ con người nào có thể nghĩ gì về chúng (Gosden 2005; Normark 2010; Olsen 2010; Olsen et al. 2012). Trong triết học, nó bắt đầu nổi tiếng là phản-tương quan luận. Tương quan luận là một thuật ngữ được nhà triết học người Pháp Quentin Meillassoux (2008) sáng tạo ra. Nó đề cập đến ý tưởng tồn tại hàng thế kỷ cho rằng có một mối tương quan cần thiết và không thể tránh khỏi giữa hiện thực và tri ​​thức của chúng ta về nó. Đối với bất kỳ nhà tương quan luận nào, thế giới chỉ có ý nghĩa khi nó liên quan đến suy nghĩ và cách nghĩ của chúng ta về nó. Các hình thức cực đoan của tương quan luận loại trừ sự tồn tại của thực tại với tư cách hoàn toàn độc lập với ý thức của chúng ta. Meillassoux coi hai truyền thống triết học thế kỷ 20 chịu trách nhiệm duy trì lập trường tương quan luận, đó là triết học phân tích và hiện tượng luận: triết học phân tích với mối bận tâm đặc biệt đến ngôn ngữ, còn hiện tượng luận là niềm đam mê với ý thức (Meillassoux 2008: 6).

Mới rồi, một nhánh suy lý đã xuất hiện trong triết học lục địa. Loại triết học được dán nhãn là hiện thực luận suy lý dựa trên ý tưởng cho rằng không hề có mối tương quan cơ bản nào, nhưng những gì là thực thì bao gồm vô số mối quan hệ giữa các đối tượng thực. Theo nghĩa này, cái kết nối các triết học khác nhau có thể được đặt trong thuật ngữ trùm ô hiện thực luận suy lý là phản-bản chất luận của chúng. Khi nói đến các đối tượng, các triết gia như Graham Harman (2005), Levi Bryant (2011), Ian Bogost (2012) và Timothy Morton (2010) khẳng định rằng những gì tồn tại suy cho cùng đều là đối tượng/ vật thể: bất cứ thứ gì từ nguyên tử, mèo con cho đến các đại học. Vấn đề là các mối quan hệ giữa các đối tượng làm phát sinh các đối tượng khác. Các quan hệ là các đối tượng. Theo nghĩa này, cái gọi là triết học hướng-đối tượng không chỉ đơn giản là tương đối luận theo nghĩa nó sẽ phủ nhận những phẩm chất thiết yếu của một đối tượng, mà nó định hướng-đối tượng theo định nghĩa. Quan điểm quan hệ của các đối tượng là trung tâm trong lý thuyết khảo cổ học gần đây, và điều cốt tử là phải hiểu ý nghĩa theo quan điểm phi-nhị nguyên luận (Gell 1998; Ingold 2006; 2007; Herva 2010; Herva et al. 2010; Hodder 2012).

Trong khi hiện thực luận suy lý đem đến một khởi điểm hữu thể luận hợp lệ cho việc nghiên cứu sự vật trong khảo cổ học, thì nó lại không cung cấp nhiều quỹ đạo khả thi cho việc nghiên cứu ý nghĩa. Trên thực tế, triết học lục địa hiện nay (hoặc ít nhất là nhánh định hướng-đối tượng của nó) dường như đang mắc phải một kiểu hỗn độn học thuật gây ra bởi hậu cấu trúc luận và quá nhiều ý nghĩa. Mặc dù cùng một loại phản-bản chất luận là trung tâm của chủ nghĩa thực dụng cổ điển, nhưng nó, với tư cách là một dự nghiệp ký hiệu học, có thể cung cấp điểm xuất phát triết học cho việc nghiên cứu các ý nghĩa trong quá khứ. Một nhà thực dụng luận có thể đồng ý với nhà hiện thực luận suy lý và khẳng định rằng các đối tượng tồn tại như một cái gì đó có thực và vật chất, nhưng kẻ ấy lại tiếp cận ý nghĩa của những đối tượng đó theo quan điểm hiện thực luận một cách bình đẳng5. Một điều khác kết nối hầu hết những người hiện thực luận suy lý và những người thực dụng luận là sự hoài nghi của họ đối với các phân loại theo thứ bậc (ví dụ: Webmoor 2013). Mặc dù chắc chắn tồn tại các khác biệt, nhưng vẫn có vô số mối liên hệ giữa các sự vật. Hơn nữa, sự khác biệt không loại trừ tính liên tục. Suy nghĩ theo khuôn khổ liên tục là sở trường của các nhà khảo cổ học, và đây là một điểm mà các nhà triết học lục địa thường có xu hướng bỏ qua. Ngoài vô số mối liên hệ giữa các sự vật, còn có vô số mối liên hệ chạy xuyên suốt lịch sử nữa.

Ngày nay, ngày càng có nhiều tác giả lấy cảm hứng từ thực dụng luận trong khảo cổ học, có lẽ nổi tiếng nhất trong số những tác giả gần đây là Robert Preucel (2006) và cú đánh cược thực dụng luận của ông về khảo cổ học xã hội. Tương tự như vậy, Timothy Webmoor và Christopher Witmore (2008) cũng đánh cược vào nghiên cứu khảo cổ học xã hội và mối quan hệ vật-người, kết hợp các yếu tố của triết học lục địa, hiện thực luận suy lý nói riêng và thực dụng luận kinh điển. Hơn nữa, Timothy Webmoor (ví dụ: 2007a) đã viết nhiều về thực dụng luận và khảo cổ học. Webmoor (2007a) bênh vực cho một nhận thức luận thực dụng (Jamesian) về khảo cổ học với hy vọng về một “khảo cổ học hòa giải”. Do đó, Webmoor xác định một cách láu lỉnh các khả tính của một cách tiếp cận thực dụng để khiến khảo cổ học trở thành một dự nghiệp thống nhất giữa các khoa học và nhân văn học, cũng như các nhà khảo cổ học và không-khảo cổ học. Christopher Witmore (2012) đưa ra một ví dụ về cách tiếp cận khá thực dụng luận với khái niệm thực dụng học (pragmatology) của khảo cổ học đối xứng, ý tưởng cho rằng các sự vật, sự kiện và hoàn cảnh là thật và có tác động thật đến nhau và theo đúng nghĩa, cung cấp điểm khởi đầu, cũng như căn cứ, để suy đoán về những hành động có thể xảy ra trong tiến trình, điều gì có thể xảy ra ở bất kỳ trường hợp cụ thể nào, hoặc sự liên quan khả thể nào mà một sự việc có với một sự vật khác. Tuy nhiên, ông không ám chỉ rõ ràng đến bất kỳ nhà triết học thực dụng cụ thể nào. Trên thực tế, khái niệm thực dụng học ra đời từ cuộc thảo luận xoay quanh khảo cổ học đối xứng. Tuy nhiên, ý tưởng về thực dụng học chấp nhận thái độ suy lý mang tính cốt tử đối với bất kỳ khảo cổ học hiện thực luận nào.6 Các ví dụ được đề cập trong chương này hoàn toàn không đại diện cho một danh sách đầy đủ các phương pháp tiếp cận thực dụng trong khảo cổ học, mà là tập hợp một số bài viết trong đó cách tiếp cận thực dụng đã được áp dụng liên quan đến việc nghiên cứu bản chất cũng như ý nghĩa của sự vật. Nếu có một xu hướng hoặc dòng suy nghĩ được nhìn nhận theo cách mà các nhà khảo cổ học đã thay đổi ý tưởng của họ về ý nghĩa, thì đó là xu hướng suy nghĩ theo các khuôn khổ năng động hơn. Dù lấy cảm hứng từ hiện thực luận lục địa hay chủ nghĩa thực dụng Mỹ, thì mục tiêu vẫn là từ bỏ quan điểm nhị nguyên luận và thừa nhận mức độ vướng víu (Hodder 2012) trong mọi thứ.

Thói quen Hành động như là Ý nghĩa

Các đối tượng khảo cổ học vật chất là nguồn tư liệu quan trọng nhất cho việc khảo sát khảo cổ học. Trên thực tế, sự vật là nhân chứng tốt nhất cho quá khứ của chúng7. Một trong những nhà khảo cổ học đầu tiên đề xuất điều gì đó theo hướng tiếp cận định hướng-đối tượng để giải mã các ý nghĩa trong quá khứ là Christopher Hawkes. Trong bài báo năm 1954 của mình, Hawkes viết rằng ông “thường bối rối trước sự cần thiết chính thức bắt đầu câu chuyện thời tiền sử ngay từ khởi đầu, nơi mà chúng ta biết ít nhất, và tiếp tục từ đó trở đi” (Hawkes 1954: 167). Sau đó, ông tiếp tục cho rằng “thay vì tiến từ cái chưa biết tới cái đã biết, người ta có thể tiến tới cái chưa biết từ cái đã biết” (Hawkes 1954: 167). Hawkes (1954: 161–162) đề xuất một hệ thống phân cấp suy luận bốn cấp mà sau này được gọi là “thang Hawkes”. Hawkes (1954: 161–162) viết rằng các nhà khảo cổ học trước hết nên bắt đầu bằng việc nghiên cứu công nghệ hoặc kỹ thuật sản xuất. Ông cho rằng lý luận về cấp độ này phải tương đối đơn giản. Mức độ dễ dàng nhất của cấp độ thứ hai liên quan đến các chiến lược sinh tồn trong quá khứ và cũng nên ít nhiều có thể sử dụng được. Cấp độ thứ ba liên quan đến việc suy ra các thể chế chính trị và xã hội trong quá khứ. Cấp độ khó khăn nhất của xã hội quá khứ có lẽ là các thể chế tôn giáo và đời sống tinh thần.8

Hawkes (1954: 156) đã phân biệt giữa khảo cổ học không văn bản và khảo cổ học có văn bản-hỗ trợ và chỉ ra rằng cái gọi là khảo cổ học không văn bản luôn quan tâm đến các tài liệu và lý thuyết tiến hóa. Theo nghĩa đó, khảo cổ học không có văn bản đã tập trung vào việc nghiên cứu các loại hình thể hiện một “mục đích nhất quán từ phía những người tạo ra nó” (Hawkes 1954: 157, nhấn mạnh của tác giả). Tuy nhiên, khảo cổ học có văn bản hỗ trợ luôn dựa trên sự kết nối giữa những gì có thể đọc được trong các văn bản lịch sử và những gì có thể biết được khi nghiên cứu các di tích khảo cổ học (Hawkes 1954: 158). Do đó, các ý nghĩa của một sự vật trong quá khứ có thể được biết khá rõ ràng bằng cách nghiên cứu bối cảnh mà nó được mô tả trong văn bản, hoặc như Hawkes (1954: 158) đã nói, các loại hình có thể được xác định bằng “các khẳng định bằng văn bản đảm bảo rằng đã có những loại hình như vậy, được tiêu chuẩn hóa và chỉ thay đổi về chi tiết” (tác giả nhấn mạnh). Với sự trợ giúp của các “trường hợp được đảm bảo” như vậy, người ta có thể tiến tới suy luận về các loại hình chưa được đảm bảo. Tôi phải kiềm chế bản thân để không sử dụng thuật ngữ đảm bảo của Hawkes, nhưng điều khiến tôi thú vị là cái cách mà loại hình thuật ngữ được sử dụng như một từ đồng nghĩa với phong cách và, như tôi sẽ đề xuất, là thói quen. Như Hawkes (1954: 158) đã viết, cái loại hình học bằng cách đảm bảo các tuyên bố văn bản tương tự loại hình học của các tác vật thành các loại hình dựa trên chất liệu của chúng và các đặc điểm chức năng khác trong khảo cổ học không có văn bản; cả hai đều dựa trên ý tưởng về các chuẩn mực (hoặc thói quen) của con người trong hoạt động có trách nhiệm. Có một sự tiếp nối được phát hiện thấy từ thời tiền sử đến lịch sử, hoặc từ lịch sử đến tiền sử theo nghĩa Hawkesian, và cả hai thời kỳ đều được thể hiện trong các sự vật9. Vì từ ngữ và sự vật có mối quan hệ với nhau bằng các quá trình hoạt động tương tự (từ ngữ là công cụ), nên có một mối quan hệ phải được thấy giữa các văn bản và sự vật được đề cập trong văn bản, và sự vật được đề cập trong văn bản và sự vật thời tiền sử. “Nhận thức về mối quan hệ đó nhất thiết phải đi vào nhận thức của chúng ta về chúng, và tạo điều kiện cho việc diễn giải khảo cổ học của chúng ta” (Hawkes 1954: 159).

Mặc dù hệ thống phân cấp suy luận của Hawkes đã bị chỉ trích vì những thiếu sót của nó10, nhưng tôi vẫn thấy nó rất thú vị khi được nhìn nhận từ quan điểm thực dụng. Cách tiếp cận của Hawkes phù hợp với ý tưởng tiến hóa của các khoa học lịch sử trong thời ông. Việc nghiên cứu về quá khứ dựa trên ý tưởng cho rằng tiến bộ văn hóa diễn ra theo một số quá trình phổ biến và tiến hóa nhất định hệt như tiến bộ diễn ra trong tự nhiên vậy. Cách tiếp cận này sau đó đã bị chỉ trích vì không ai có thể xác định được các quá trình cũng như phương pháp phân tích biến đổi văn hóa (Lyman & O´Brien 2001: 333). Vấn đề là các quá trình tiến hóa sinh học được cho là có thể áp dụng cho hành động của con người theo nghĩa văn hóa. Tất nhiên, điều này đúng ở một mức độ nhất định, nhưng càng xa sự thật khi cách tiếp cận gần đây đã phân biệt rõ ràng giữa tiến hóa văn hóa và tự nhiên (Kristiansen 2004: 82).

Ngày nay quan điểm có phần đơn giản của Hawkes về các cấp độ khảo sát khảo cổ học có thể có vẻ ngây thơ và theo đúng nghĩa là đáng lo ngại về tính nhân học, cũng như tính nhị nguyên, trong việc tạo ra sự phân biệt rõ ràng giữa lĩnh vực công nghệ và tinh thần (xem Hodder 1989; Graves 1994; Robb 1998).11 Ví dụ John Robb (1998: 330), đã chỉ ra rằng lý do phương pháp tiếp cận của Hawkes vẫn phổ biến trong khảo cổ học là ở chỗ định lý thang bậc là trực quan và thông thường. Trong cùng một đoạn văn, Robb lưu ý rằng quan điểm nhị nguyên luận của Hawkes về các lĩnh vực vật chất và tượng trưng với tư cách là các lĩnh vực đặc biệt lại không chính xác. Mối quan tâm của Robb là liệu các nhà khảo cổ có bao giờ phát hiện ra bất cứ thứ văn hóa nào không mang tính biểu trưng (Robb 1998: 331) hay không. Các cấp độ thang bậc của Hawkes theo đúng nghĩa có thể không tự thể hiện là nơi khởi đầu thích hợp cho khoa học khảo cổ học ngày nay, nhưng ý tưởng cơ bản, và đặc biệt là các cấp độ thang bậc của phép ẩn dụ suy luận, vẫn rất thú vị (Graves 1994: 167).

Một cách tiếp cận phù hợp hơn là coi hành động của con người như một thói quen theo nghĩa tiến hóa. Cũng giống như bất kỳ hành động theo thói quen nào, ví dụ, các quy luật tiến hóa và vật lý đều là thói quen hành động12. Như tôi đã đề cập trước đây, đối với Hawkes, việc nghiên cứu về loại hình và phong cách dựa trên ý tưởng về các chuẩn mực của con người trong hoạt động có trách nhiệm. Ý tưởng về sự tiến hóa và tính liên tục có thể thấy trong công thức của Hawkes và nó rất gần với ý tưởng của Charles Peirce về thói quen như một quá trình tiến hóa. Peirce cho rằng thói quen trở thành quy luật chung; mọi thói quen đều là quy luật chung (CP 2,148). Theo nghĩa này, sẽ không quá xa vời để liên kết các chuẩn mực hành động con người của Hawkes với thói quen của Peirce. Tương tự như vậy, giờ đây có thể đi đến kết luận (một quan điểm trọng tâm của tôi trong bài viết này) rằng tất cả con người và phi người đều có thói quen và tiến hóa theo nghĩa này. Một khi chúng ta từ bỏ thứ triết học duy lý, thì mọi thứ trở nên đơn giản hơn: Graham Harman (2010: 146–147) đã ghi nhận một cách sắc sảo rằng, vì thứ triết học truyền thống này coi con người và vạn vật về cơ bản là tách biệt, nên mối quan hệ giữa con người và vạn vật trở nên thú vị về mặt triết học hơn so với mối quan hệ giữa sự vật với nhau, hoặc chủ yếu là sự vật dường như tiếp xúc gần gũi; và những mối quan hệ đó thường được xử lý bởi các khoa học tự nhiên. Việc loại bỏ các nhị nguyên truyền thống này dẫn đến một ý tưởng hoàn toàn khác so với những nhị nguyên được cách tiếp cận cấu trúc luận về ý nghĩa đề cao.

Với cái gọi là bước ngoặt vật chất trong khảo cổ học, chúng ta phải đối mặt với khả tính biến mất hoàn toàn của diễn giải, tường thuật và ý nghĩa. Trong thế giới hậu nhân văn, cách hiểu mang tính cấu trúc luận về ý nghĩa nên được thay thế bằng một định nghĩa ít nhân trung tâm luận hơn. Ý nghĩa không phải là thứ mà con người ban tặng hoặc tạo ra (tạo ra ý nghĩa vẫn là một cụm từ phổ biến trong khảo cổ học và nhân học). Ý nghĩa là những gì diễn ra, nhưng đúng đắn hơn, là những gì trở thành trong thực tiễn vật chất, như Karen Barad (2007: 148) đưa ra trong Meeting the Universe Halfway - Gặp gỡ Vũ trụ Giữa đường. Bjornar Olsen (2012b: 22) đã ghi nhận một cách sâu sắc rằng trong những cuốn sách và bài viết gần đây về nghệ thuật trên đá của vùng Scandinavia, các sự vật (hình ảnh của sự vật) không bao giờ được coi là như nó vốn có, mà luôn được diễn giải là một thứ khác, “một con tuần lộc không bao giờ là một con tuần lộc; một dòng sông luôn là một dòng sông vũ trụ.” Olsen (2012b: 22) không xóa bỏ diễn giải ở dạng “khiêm tốn và quen thuộc” của nó, mà phản đối những diễn giải quá hào nhoáng, trong đó một số đặc điểm vật chất thường được cho là mang tính vũ trụ học, huyền bí, hoặc siêu việt. Trong công trình tinh túy Văn hóa Vật chất sau Văn bản: Tái ghi nhớ Sự vật - Material Culture after Text: Re-Membering Things nổi tiếng của mình, Olsen đã viết rằng “[N]ếu có một lịch sử chạy suốt từ Hẻm núi Olduwai đến Hậu hiện đại, thì nó phải là một lịch sử của tính vật chất ngày càng gia tăng – mà ngày càng nhiều nhiệm vụ được giao phó cho các tác nhân phi-người; ngày càng có nhiều hành động do sự vật điều hòa (Olsen 2003a: 88; xem thêm Olsen 2003b).

_____________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Marila M. (2012). Things in Action - Interpreting the Meanings of Things in Archaeology, In Book: Janne Ikäheimo, Anna-Kaisa Salmi & Tiina Äikäs (eds.): Sounds Like Theory. XII Nordic Theoretical Archaeology Group Meeting in Oulu 25. 8. 4. 2012. Monographs of the Archaeological Society of Finland 2, 9–20, Published by: The Archaeological Society of Finland.

Ghi chú

1. Để có một ví dụ gần đây về sự đối lập như vậy, hãy xem, ví dụ, cái gọi là cuộc tranh luận Holtorf-Kristiansen (Holtorf 2008; Kristiansen 2008). Kristiansen lo lắng về ý tưởng của Holtorf cho rằng đặc tính quá khứ được nhận thức của sự vật quan trọng hơn quá khứ thực của chúng (Kristiansen 2008: 489).

2. Ở đây, tôi sử dụng từ tái cấu trúc theo nghĩa tự do của nó. Do đó không nên chú ý đến sự mơ hồ của từ này. Tái cấu trúc có thể hiểu là một từ đồng nghĩa lỏng lẻo đối với việc diễn giải và quá trình hình thành giả thuyết. Các tái cấu trúc với tư cách là giả thuyết luôn là những suy luận bắt cóc, hoặc những suy luận nhằm đưa ra lời giải thích tốt nhất (Shelley 1996; Fogelin 2007). Theo nghĩa này, các tái cấu trúc nên được coi như một thứ gì đó phụ thuộc.

3. Có thể nói rằng việc phê phán những lý thuyết này vì việc chúng phóng chiếu quan niệm của con người lên sự vật là một hình thức của nhân trung tâm luận, một quan điểm mà ngày nay một số nhà khảo cổ học đang cố gắng hết sức tránh. Nhưng cũng có thể nói rằng bất kỳ nỗ lực nào để tránh nhân trung tâm luận đều tự nó là nhân trung tâm luận (Morton 2010: 76). Một số triết gia, đáng chú ý nhất là Graham Harman (2005) và Ian Bogost (2012) cho rằng bất kỳ nỗ lực nào để hiểu những thứ khác về bản chất đều mang tính ẩn dụ và dựa trên phép loại suy. Ví dụ, Bogost (2012: 66) viết rằng tất cả các phép ẩn dụ mà chúng ta triển khai nhằm nỗ lực hiểu sự vật nhất thiết phải được nhân hình hóa.

4. Đối với những phê phán gần đây về thuật ngữ “mạng”, hãy xem, ví dụ, Bogost (2012), Hodder (2012), Ingold (2008) và Morton (2010). Ý tưởng hàng đầu đằng sau phê phán này là các mạng ngụ ý cấu trúc quá cứng nhắc và không cho phép có chỗ cho các loại tình huống ngẫu nhiên, khác biệt và ‘lộn xộn’ chắc chắn tồn tại. Theo sự đồng thuận hiện nay, sự vật không được kết nối với nhau thông qua các cấu trúc hay sức mạnh giống như mạng phi vật chất, mà đúng hơn, có vô số mối quan hệ giữa các vật thể và bản thân những mối quan hệ đó cũng là vật thể. Các tác giả nói trên đã thay thế thuật ngữ mạng bằng các khái niệm như vướng víu (Hodder), lưới (Morton), hỗn độn (Bogost), và mạng lưới (Ingold).

5. Để có phần giới thiệu ngắn gọn về chủ nghĩa thực dụng, hãy xem Shook & Margolis 2006.

6. Để biết cách tiếp cận Peircean đối với tác tố vật chất, xem Watts (2008). Người đọc cũng quan tâm đến các bài báo được đưa ra tại buổi hội thảo TAG năm 2010 về chủ nghĩa thực dụng [http://proteus.brown.edu/tag2010/8045]

7. Hoặc như Lucas (2012: 24) viết, di vật không nói dối, vì ngay từ đầu chúng đã không định nói gì.

8. Người viết bài này không đồng ý với quan điểm cho rằng khảo cổ học ở bất kỳ cấp độ nào cũng sẽ là đơn giản. Quan điểm của Hawkes cũng nên được xem là phản ánh thái độ đặc trưng của chủ nghĩa kinh nghiệm ngây thơ điển hình trong thời Hawkes.

9. Theo Timothy Morton (2013: 112), “[m]ỗi vật thể đều là một hồ sơ khảo cổ học tuyệt vời về mọi thứ đã từng xảy ra với nó.”

10. Đối với những hiểu lầm về bài báo của Hawkes, xem Evans (1998).

11. Một số phê phán chống lại Hawkes vẫn thuần nhân trung tâm luận, ngây thơ và nhị nguyên luận. Ví dụ, Ian Hodder và Scott Hutson (2003: 138) cho rằng định lý suy luận của Hawkes dựa trên ý tưởng sai lầm rằng “có những nơi mà thời gian bắt đầu và từ đó xuất hiện những khởi đầu.” Đồng thời, Hodder và Hutson luận rằng thời gian là do con người tạo ra và không tồn tại độc lập với cuộc sống. Trừ khi Hodder và Hutson đang biện hộ cho một cách tiếp cận hoạt lực luận (mọi thứ đều sống động), thì triết học của họ vốn dĩ vẫn là tương quan luận.

References

Appadurai, A. 1986. Introduction: Commodities and the Politics of Value. In A. Appadurai (ed.), The Social Life of Things: Commodities in Cultural Perspectives, 3–63. Cambridge, Cambridge University Press.

Bapty, I. & Yates, T. (eds.), 1990. Archaeology after structuralism. Post-structuralism and the practice of archaeology. London, Routledge.

Barad, K. 2007. Meeting the Universe Halfway: Quantum Physics and the Entanglement of Matter and Meaning. Durham, Duke University Press.

Bauer, A. 2002. Is What You See All You Get? Recognizing Meaning in Archaeology. Journal of Social Archaeology 2, 37–52.

Bauer, A. 2013. Objects and Their Glassy Essence: Semiotics of Self in the Early Bronze Age Black Sea. Signs and Society 1, 1–31.

Bogost, I. 2012. Alien Phenomenology or What It’s Like to Be a Thing. Minneapolis, University of Minnesota Press.

Brown, B. 2001. Thing Theory. Critical Inquiry 28, 1–22.

Bryant, Levi. 2011. The Democracy of Objects. Ann Arbor, Open Humanities Press.

Clarke, D. 1973. Archaeology: the loss of innocence. Antiquity 47, 6–18.

CP followed by number of volume and paragraph refers to The Collected Papers of Charles Sanders Peirce. Volumes 1–6 edited by C. Hartshorne & P.Weiss (1931–1935), volumes 7–8 edited by A. Burks (1958). Cambridge, Harvard University Press.

Darwin, C. 1964 (1859). On the origin of species. Cambridge, Harvard University Press.

Davidson, D. 1980. Essays on Actions and Events. Oxford, Oxford University Press.

Descartes, R. 1996 (1641). Meditations on first philosophy. Edited by John Cottingham. Cambridge, Cambridge University Press.

Dewey, J. 1895. The Theory of Emotions. Psychological Review 2, 13–32.

Dobres, M.-A. & Robb, J. E. (eds.), 2000. Agency in archaeology. London, Routledge.

Dornan, J. L. 2002. Agency and Archaeology: Past, Present, and Future Directions. Journal of Archaeological Method and Theory 9, 303–329.

Dudley, S. H. (ed.), 2010. Museum Materialities: Objects, Engagements, Interpretations. London and New York, Routledge.

EP followed by number of volume and page number refers to The Essential Peirce. Selected Philosophical Writings. Volume 1 edited by N. Houser & C. Kloesel (1992), volume 2 edited by the Peirce Edition Project (1998). Bloomington, Indiana University Press.

Evans, C. 1998. Historicism, Chronology and Straw Men: Situating Hawkes’ ‘Ladder of Inference’. Antiquity 72, 398–404.

Fogelin, L. 2007. Inference to the best explanation: a common and effective form of archaeological reasoning. American Antiquity 72, 603–625.

Gardin, J.-C. 1980. Archaeological constructs. An aspect of theoretical archaeology. Cambridge, Cambridge University Press.

Gardin, J.-C. 1992. Semiotic trends in archaeology. In J.-C. Gardin & C. Peebles (eds.), Representations in Archaeology, 87–104. Bloomington, Indiana University Press.

Gell, A. 1998. Art and agency: an anthropological theory. Oxford, Clarendon Press.

Gosden, C. 2005. What Do Objects Want?. Journal of Archaeological Method and Theory 12, 193–211.

Graves, P. 1994. Flakes and ladders: What the archaeological record cannot tell us about the origins of language. World Archaeology 26, 158–171.

Graves-Brown, P. M. 1995. Fearful symmetry. World Archaeology 27, 88–99.

Harman, G. 2005. Guerrilla Metaphysics. Phenomenology and the Carpentry of Things. Chicago, Open Court.

Harman, G. 2010. Towards Speculative Realism: Essays and Lectures. Ropley, Zero Books.

Hawkes, C. 1954. Archaeological Theory and Method: Some Suggestions from the Old World. American Anthropologist 56, 155–168.

Herva, V.-P. 2010. Buildings as persons: relationality and the life of buildings in a northern periphery of early modern Sweden. Antiquity 84, 440–452.

Herva, V.-P. & Ikaheimo, J. 2002. Defusing Dualism: Mind, Materiality and Prehistoric Art. Norwegian Archaeological Review 35, 95–108.

Herva, V.-P., Nordqvist, K., Herva, A. & Ikaheimo, J. 2010. Daughters of magic: esoteric traditions, relational ontology and

the archaeology of the post-medieval past. World Archaeology 42, 609–621.

Hodder, I. 1986. Reading the past: current approaches to interpretation in archaeology. Cambridge, Cambridge University Press.

Hodder, I. 1989. This Is Not an Article About Material Culture as Text. Journal of Anthropological Archaeology 8, 250–269.

Hodder, I. 2012. Entangled: An Archaeology of the Relationships Between Humans and Things. Malden, Wiley-Blackwell.

Hodder, I. & Hutson, C. 2003. Reading the past. Current approaches to interpretation in archaeology. Cambridge, Cambridge University Press.

Holtorf, C. 2008. Academic critique and the need for an open mind (a response to Kristiansen). Antiquity 82, 490–492.

Holtorf, C. 2013. On pastness: a reconsideration of materiality in archaeological object authenticity. Anthropological Quarterly 86, 427–444.

Ingold, T. 2006. Rethinking the animate, reanimating thought. Ethnos 71, 9–20.

Ingold, T. 2007. Materials against materiality. Archaeological Dialogues 14, 1–16.

Ingold, T. 2008. When ANT Meets SPIDER: Social Theory for Anthropods. In C. Knappett & L. Malafouris (eds.), Material

Agency: Towards a Non-Anthropocentric Approach, 209–215. New York, Springer.

Ingold, T. 2013. Dreaming of dragons: on the imagination of real life. Journal of the Royal Anthropological Institute 19, 734–752.

Johannsen, N. 2012. Archaeology and the inanimate agency proposition: a critique and a suggestion. In N. Johannsen, M.

Jessen & H. J. Jensen (eds.), Excavating the mind: cross-sections through culture, cognition and materiality, 305–347. Aarhus,  Aarhus University Press.

Johnson, M. 1999. Archaeological theory: an introduction. Malden, Blackwell Publishing.

Kauffman, S. 2012. From physics to semiotics. In S. Rattasepp & T. Bennett (eds.), Gatherings in Biosemiotics, 30–46. Tartu, University of Tartu Press.

Knappett, C. 2002. Photographs, skeuomorphs and marionettes: some thoughts on mind, agency and object. Journal of Material Culture 7, 97–117.

Knappett, C. 2005. Thinking Through Material Culture: An Interdisciplinary Perspective. Philadelphia, University of Pennsylvania Press.

Knappett, C. & Malafouris, L. (eds.), 2008. Material Agency: Towards a Non-Anthropocentric Approach. New York, Springer.

Kristiansen, K. 2004. Genes versus agents: A discussion of widening theoretical gaps in archaeology. Archaeological Dialogues 11, 77–132.

Kristiansen, K. 2008. Should archaeology be in the service of ‘popular culture’? A theoretical and political critique of Cornelius Holtorf ’s vision of archaeology. Antiquity 82, 488–490.

Lele, V. P. 2006. Material habits, identity, semeiotic. Journal of Social Archaeology 6, 48–70.

Liebmann, M., Ferguson, T. J. & Preucel, R. W. 2005. Pueblo settlement, architecture, and social change in the Pueblo Revolt Era, A.D. 1680 to 1696. Journal of Field Archaeology 30, 45–60.

Lucas, G. 2012. Understanding the Archaeological Record. Cambridge, Cambridge University Press.

Lyman, L. R. & O’Brien, M. J. 2001. The Direct Historical Approach, Analogical Reasoning, and Theory in Americanist Archaeology. Journal of Archaeological Method and Theory 8, 303–342.

Marila, M. 2013. Abduktiivinen paattely arkeologiassa: arkeologian epistemologiasta sen historian ja nykytilanteen valossa. Muinaistutkija 3, 45–63.

Meillassoux, Q. 2008. After Finitude. An Essay on the Necessity of Contingency. London, Continuum.

Morton, T. 2010. The Ecological Thought. Cambridge, Harvard University Press.

Morton, T. 2013. Realist Magic: Objects, Ontology, Causality. Ann Arbor, Open Humanities Press.

Normark, J. 2010. Involutions of materiality: Operationalizing a neo-materialist perspective through the causeways of Ichmul and Yo’okop, Mexico. Journal of Archaeological Method and Theory 17, 132–173.

Olsen, B. 2003a. Material culture after text: re-membering things. Norwegian Archaeological Review 36, 87–104.

Olsen B. 2003b. Fran ting till text: teoretiska perspektiv i arkeologisk forskning. Lund, Studentlitteratur.

Olsen, B. 2010. In defense of things. Lanhan, AltaMira Press.

Olsen, B. 2012a. Symmetrical Archaeology. In Ian Hodder (ed.), Archaeological Theory Today. 2nd edition, 208–228. Cambridge, Polity Press.

Olsen, B. 2012b. After Interpretation: Remembering Archaeology. Current Swedish Archaeology 20, 11–34.

Olsen, B., Shanks, M., Webmoor, T. & Witmore, C. 2012. Archaeology: The Discipline of Things. Berkeley, University of California Press.

Preucel, R. 2006. Archaeological Semiotics. Malden: Blackwell.

Preucel, R. & Bauer, A. 2001. Archaeological Pragmatics. Norwegian Archaeological Review 34, 85–96.

Preucel, R. W. & Mrozowski, S. A. (eds.), 2010. Contemporary archaeology in theory. The new pragmatism. Malden, Wiley-Blackwell.

Robb, J. 1998. The archaeology of symbols. Annual Review of Anthropology 27, 329–346.

Saussure, F. de. 1990. Course in general linguistics. London, Duckworth.

Shanks, M. 1992. Experiencing the past. On the character of archaeology. London, Routledge.

Shanks, M. & Tilley, C. 1987. Re-constructing archaeology. Theory and practice. Cambridge, Cambridge University Press.

Shelley, C. 1996. Visual abductive reasoning in archaeology. Philosophy of science 63, 278–301.

Shook, J. R. & Margolis, J. (eds.), 2006. A companion to pragmatism. Malden, Blackwell Publishing.

Silva, F. C. da & Baert, P. Forthcoming. Evolution, agency, and objects: Re-discovering classical pragmatism. In A. Gardner, M. Lake & U. Sommer (eds.), Oxford Handbook of Archaeological Theory. Oxford, Oxford University Press.

Tilley, C. (ed.), 1990. Reading material culture. Structuralism, hermeneutics and post-structuralism. Oxford, Basil Blackwell.

Tilley, C. 1991. Material culture and text: the art of ambiguity. London, Routledge.

Waal, C. de. 2001. On Peirce. Belmont, Wadsworth.

Watts, C. M. 2008. On Mediation and Material Agency in the Peircean Semeiotic. In C. Knappett & L. Malafouris (eds.), Material Agency: Towards a Non-Anthropocentric Approach, 187–207. New York, Springer.

Webmoor, T. 2007a. The Dilemma of Contact: Archaeology’s Ethics-Epistemology Crisis and the Recovery of the Pragmatic Sensibility. Stanford Journal of Archaeology 5, 224–246.

Webmoor, T. 2007b. What about ‘one more turn after the social’ in archaeological reasoning? Taking things seriously. World Archaeology 39, 563–378.

Webmoor, T. 2013. STS, symmetry, archaeology. In P. Graves-Brown, R. Harrison & A. Piccini (eds.), The Oxford Handbook of the Archaeology of the Contemporary World, 105–120. Oxford, Oxford University Press.

Webmoor, T. & Witmore, C. 2008. Things Are Us! A Commentary on Human/Things Relations Under the Banner of a ‘Social’ Archaeology. Norwegian Archaeological Review 41, 53–70.

Wenban-Smith, F. 1989. The use of canonical variates for determination of biface manufacturing technology at Boxgrove Lower Palaeolithic site and the behavioural implications of this technology. Journal of Archaeological Science 16, 17–26.

Whitehead, A. N. 1978. Process and Reality. New York, The Free Press.

Witmore, C. 2012. The Realities of the Past: Archaeology, Object- Orientations, Pragmatology. In B. Fortenberry & L. McAtackney (eds.), Modern Materials: The Proceedings of CHAT Oxford, 2009, 25–36. Oxford, Archaeopress.

Wylie, A. 2002. Thinking from things. Essays in the philosophy of archaeology. London, University of California Press.