Hà Hữu Nga (Chuyên gia Tư vấn Phát triển Xã hội - Giới - DTTS)
(Thực hiện tại tỉnh Quảng Trị) (Từ ngày 17/05/2016 đến ngày 27/05/2016)
I. Mục tiêu
1. Tham vấn với các bên liên quan cấp tỉnh, huyện, xã, thôn bản và người dân về chia sẻ lợi ích trong khuôn khổ Chương trình giảm phát thải (ER-P) tại tỉnh Quảng Trị.
2. Xem xét các khía cạnh về giới, dân tộc thiểu số trong chia sẻ lợi ích thuộc Chương trình giảm phát thải (ER-P) tại tỉnh Quảng Trị.
II. Phương pháp và cách tiếp cận
1. Nhóm thực địa sử dụng cách tiếp cận chuyên gia và thảo luận bàn tròn đối với các cán bộ và các chuyên gia ở cấp tỉnh, huyện, khu Bảo tồn và lãnh đạo Lâm trường tại: i) Khu Bảo tồn Đak Rông, huyện Đak Rông; ii) Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Bến Hải; iii) Xí nghiệp III, Lâm nghiệp Bến Hải; iv) Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa; iv) Lãnh đạo BQLDA FCPF tỉnh Quảng Trị.
2. Nhóm thực địa sử dụng cách tiếp cận tham gia đối với người dân thuộc Thôn Húc Nghì (người Vân Kiều), xã Húc Nghì, thôn La Tó (người Vân Kiều), xã Húc Nghì, huyện Đak Rông; làng Phương Lang, xã Hải Ba (người Kinh); thôn Kim Giao, xã Hải Dương, huyện Hải Lăng; thôn Khe Hó (người Vân Kiều), xã Vĩnh Hà; thôn Khe Trù (người Vân Kiều), xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh; thôn Ra Ly (người Vân Kiều), xã Hướng Sơn; thôn Mới (người Vân Kiều), xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
III. Thực hiện tham vấn
1. Với người dân thôn Húc Nghì, xã Húc Nghì, huyện Đak Rông, Quảng Trị:
Thôn Húc Nghì có 148 hộ, 655 khẩu, trong đó có 9 hộ Kinh (27 khẩu), 1 hộ Pa Kô (4 khẩu); số còn lại là người Vân Kiều. Trong thôn có 100 hộ nghèo (67.56%), 8 hộ cận nghèo. Tỷ lệ mù chữ là 25%, chủ yếu là nữ và người cao tuổi.
Rừng tự nhiên có 12.000ha, trong đó có 8.800 ha thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đak Rông. Diện tích lúa nước: 1,7 ha; lúa rẫy 52 ha; sắn 70 ha; keo lai 67 ha; đàn trâu 72 con; bò 41 con.
Tất cả các nguồn thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Đak Rông trước đây người dân có quyền tiếp cận, khai thác, nhưng từ khi thành lập Khu bảo tồn thì người dân không được phép vào Khu Bảo tồn lấy bất cứ thứ gì ở đó.
Như vậy là người dân bị thiệt thòi lớn về phương diện sinh kế, thậm chí họ cũng không còn được khai thác lâm sản ngoài gỗ gồm mây, đót làm chổi, lá nón, v.v...Tuy ranh giới khu Bảo tồn đã rõ, nhưng vẫn có tình trạng người dân xâm canh đất thuộc Khu Bảo tồn. Rất may là các vụ xâm canh này đều đã được giải quyết ổn thỏa tại cấp thôn bản và cấp xã, mà không phải đưa đến cấp huyện hoặc kiện ra tòa.
Người dân Húc Nghì quan tâm nhất là tình trạng thiếu đất sản xuất, vì hầu hết diện tích đất truyền thống nay đã thuộc khu bảo tồn nên người dân không thể sử dụng để canh tác. Tiếp sau đất sản xuất là nhu cầu cấp bách về việc làm; vì người dân không có bất cứ nghề nào khác ngoài làm nương rẫy và săn bắt hái lượm truyền thống nên sinh kế gặp nhiều khó khăn và thấy tương lai cải thiện việc làm không mấy sáng sủa.
Bên cạnh đó, đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp như sắn, keo lai và các nông sản khác thường bị tư thương người Kinh ép giá, hoặc gây nhiều khó khăn nhằm làm dớt giá, buộc người dân phải bán rẻ.
Về chia sẻ lợi ích: Việc tham gia theo mô hình đồng quản lý trong bảo vệ rừng, thì người dân đề xuất là thôn thành lập nhóm 15 – 20 hộ để thay mặt hưởng lợi, sau một số năm khi được khai thác sản phẩm thì cả thôn chia nhau cùng hưởng.
2. Với người dân thôn La Tó, xã Húc Nghì, huyện Đak Rông, Quảng Trị:
Thôn La Tó có 73 hộ, với 342 khẩu, trong đó có 9 người là người Pa Kô thuộc hai xã A Vao và Tà Rụt lấy vợ lấy chồng và sinh sống tại thôn La Tó. Thôn La Tó có 42 hộ nghèo (57.53%), 8 hộ cận nghèo, có 9 chủ hộ nữ. Tỷ lệ mù chữ chiếm đến 60%; tảo hôn 20%, tỷ lệ bỏ học của trẻ em là 15%.
Cả thôn có 6 ha ruộng lúa nước, 60 ha lúa rẫy, 55 ha keo, 40 ha sắn; chưa có hộ nào được giao rừng, thôn La Tó không có rừng cộng đồng. Trong thôn có 20 hộ nhận khoán bảo vệ rừng từ năm 2015, nhiệm vụ của các hộ này là tuần tra rừng 2-3 lần/ tháng.
Về chia sẻ lợi ích: Trong thôn không xảy ra hiện tượng cháy rừng, mất rừng; mức khoán bảo vệ rừng là 200.000 đ/ ha/ năm. Thường là nam giới lĩnh tiền, vì họ đi tuần và tỷ lệ nam giới biết chữ cao hơn, nên họ có thể ký, còn nữ thì hạn chế về phương diện này. Người dân thôn La Tó vẫn vào rừng bảo tồn thu hái các lâm sản ngoài gỗ như rau, măng, nấm, mật ong, là nón, chổi đót. Riêng mật ong ở đây vẫn còn khai thác khá phổ biến, chủ yếu vào tháng 3-4 hàng năm. Trung bình mỗi hộ lấy được 5-6 lít mật/ năm.
Vẫn có khoảng 15 hộ canh tác trong khu bảo tồn, sở dĩ có hiện tượng này là vì họ đã làm rấy ở khu vực đó từ trước khi thành lập khu Bảo tồn. Riêng năm 2015 có 5 hộ vi phạm trong việc lấn chiếm đất Khu bảo tồn, và bị phạt với mức phạt là 3-5 triệu đồng/ hộ, do UBND xã thực hiện. Không có trường hợp nào khai thác gỗ trái phép trong khu Bảo tồn.
Trước đây một tuần, trong thôn có cuộc thảo luận về xây dựng rừng cộng đồng với sản phẩm chủ yếu là trồng mây (75 ha), xã chuẩn bị giao đất cho thôn quản lý. Phương thức quản lý là giao cho 10 – 15 hộ nhận khoán, hộ không nhận khoán thì không được hưởng lợi. Sẽ tổ chức cuộc họp toàn bộ 73 hộ trong cả thôn để thống nhất cách thức giao rừng và quản lý rừng cộng đồng này. Theo ý kiến của trưởng thôn, nếu không có sự tham gia của toàn bộ 73 hộ trong thôn thì sẽ rất khó quản lý loại rừng này.
Đại diện của chi hội phụ nữ thôn là bà Hồ Thị Thảo cũng cho rằng trong số 73 hộ mà chỉ có 15 hộ tham gia thì sẽ xảy ra tình trạng không công bằng đối với số hộ còn lại, vì họ không hề được hưởng lợi từ rừng cộng đồng và như vậy không còn ý nghĩa là rừng cộng đồng nữa. Kết quả là sẽ rất khó quản lý thành công được. Muốn có rừng cộng đồng đúng như ý nghĩa của nó thì phải giao cho toàn bộ các hộ trong thôn để họ được cùng tham gia quản lý.
Hiện nay có tình trạng là Trưởng thôn là em ruột của vợ Bí thư chi bộ thôn, trong số 10 người dự kiến thì đều liên quan đến bí thư chi bộ: vợ bí thư, con dâu bí thư, em vợ, v.v.
Trường hợp cháy rừng hoặc đi tuần đêm thì các hộ nữ chủ hộ không thể tham gia được. Họ hầu hết là các phụ nữ có chồng bị chết, chứ không có trường hợp nào li dị. Nếu không tham gia mà vẫn được chia đều lợi ích thì sẽ rất khó, vì vậy vận động để các nữ chủ hộ hưởng 40% số tiền công mà thôi.
3. Với người dân làng Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, Quảng Trị:
Xã Hải Ba có tổng diện tích gieo trồng là 1226,6 ha, trong đó: a) lúa 761,2 ha; b) màu 468,4 ha, gồm : i) sắn 158 ha; ii) khoai lang 20 ha; iii) khoai môn 20 ha; iv) rau 61,5 ha; v) đậu 2 ha; vi) ớt 6 ha; vii) dưa hấu/ dưa gang 24 ha; viii) ngô 32,7 ha; ix) kiệu 18 ha.
4. Với người dân thôn Kim Giao, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, Quảng Trị:
Thôn Kim Giao là thôn ven biển thuộc xã Hải Ba, có 247 khẩu, với 915 khẩu, tất cả đều là người Kinh. Trong thôn có 85 ha rừng tự nhiên trên các dải cát ngăn cách giữa thôn và biển. Trong đó có 60 ha được giao là rừng phòng hộ chắn cát và chắn sóng ven biển. Trước đây, Dự án 777 trồng cây phân tán 15 ha rừng sản xuất trong những năm 1993- 1996. Cây trồng trong khu rừng phòng hộ này chủ yếu là bạch đàn, phi lao, chàm hoa vàng, và keo tai tượng. Trong thôn không có rừng ngập mặn.
Về chia sẻ lợi ích: Phương thức quản lý rừng là dân tự đóng góp bảo vệ rừng, tổng số thóc do dân đóng góp mỗi năm là 10 tấn, với mức quy định do dân thôn tự nguyện thống nhất góp là 5 kg/ khẩu/ năm để trả công cho bốn người bảo vệ rừng. Họ gọi những người này là người được “chọn mặt gửi vàng”, mỗi người nhận được 2,5 tấn thóc/ năm. Các điều kiện để lựa chọn người bảo vệ rừng là: i) am hiểu địa giới rừng tự nhiên của thôn; ii) nhiệt tình và tâm huyết với công việc bảo vệ rừng; iii) có sức khỏe tốt.
Dù có hương ước, có quy chế, có người bảo vệ, nhưng trong thôn vẫn còn trường hợp chặt trộm gỗ để làm các công trình dân dụng như nhà cửa, chuồng trại, củi đốt, hàng rào và các loại nguyên vật liệu xây dựng khác.
Về mô hình đồng quản lý của Dự án FCPF thì người dân trong thôn cho rằng từ xưa đến nay dù không có bất cứ khoản hỗ trợ nào, nhưng người dân trong thôn vẫn tự nguyện góp công góp của và góp sức bảo vệ rừng. Đối với DA FCPF thì cách phân chia lợi ích hợp lý nhất là trích ra 50% cho người bảo vệ, còn lại 50% thì để giành cho việc xây dựng các công trình công ích như nước sạch, bảo vệ môi trường, tăng thêm số lượng và chất lượng bảo vệ rừng, giảm đóng góp cho người dân trong thôn xuống dưới mức 5kg thóc/ khẩu/ năm xuống mức còn 2 kg/ khẩu/ năm.
5. Với xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị:
Xã Vĩnh Hà: Tổng diện tích gieo trồng 37 ha, trong đó: i) lúa đông xuân 3.5 ha; ii) ngô: 2ha; iii) khoai môn: 2.5 ha; iv) cao su 816 ha; v) hồ tiêu: 1ha; vi) sắn 23 ha; vii) lạc 3.5 ha; viii) hoa màu khác: 3.5 ha. Trồng rừng 935 ha; năm 2015 khai thác 280 ha; diện tích trồng DA 661 là 129.1ha.
6. Với người dân thôn Khe Trù, xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị:
Thôn Khe Trù là một thôn nhỏ có 27 hộ, với 104 khẩu, tất cả đều là người Vân Kiều. Trong đó có 16 hộ nghèo và cận nghèo, chiếm 59.25%. Thôn không có hộ do nữ làm chủ hộ.
Diện tích rừng là 70 ha, gồm có rừng keo 40 ha, cao su 30 ha; trong thôn có 50% số hộ đã được cấp sổ đỏ. Người dân không rõ rang giới đất đai của thôn với BQL Rừng phòng hộ, với Công ty Cao su, cũng như với Công ty Lâm nghiệp Bến Hải.
Hiện trong thôn không có ai tham gia nhận khoán rừng phòng hộ, vì đã cắt hợp đồng nhận khoán từ năm 2015, do nhà nước không tiếp tục cấp kinh phí cho hạng mục này của BQL Rừng phòng hộ ở đây.
Về chia sẻ lợi ích trong DA REDD+, người dân cho rằng hiện nay dân sống ở rừng, sống với rừng nhưng không được hưởng lợi gì từ rừng, như vậy là không công bằng. Trong khi đó 20% số thực phẩm kiếm được đều từ rừng mà ra, chẳng hạn măng, nấm, rau chuối, rễ cây làm thuốc, ...v.v. Vì vậy nếu triển khai DA REDD+ thì chắc chắn dân sẽ tham gia. Trong khi kiểm lâm một tháng đi tuần vài lần, không thể bảo vệ rừng một cách vững chắc thì người dân sống tại chỗ, có thể bảo vệ rừng một cách tốt nhất. Người dân cũng mong muốn cả xã có khoảng 80 hộ mới tách hộ cần có đất đủ để ở và để sản xuất. Đây thực sự là vấn đề chung của tất cả các cộng đồng DTTS Quảng Trị sống ở rừng, phụ thuộc vào rừng.
- DA có thể làm thí điểm, giao cho lực lượng bảo vệ của người dân trong thôn, từ 10 – 15 hộ tham gia, trả lương cho họ. Nếu toàn bộ 27 hộ trong cả thôn tham gia thì khó, vì cần phải chọn lựa những người phù hợp, có đủ điều kiện đi tuần đêm – ngày, lúc khẩn cấp có thể huy động ngay.
- Việc phân chia lợi ích thì thì theo cách sau: i) trước hết ưu tiên cho người bảo vệ trực tiếp; ii) sau đó phải chia đều cho tất cả các hộ, kể cả hộ chỉ tham gia gián tiếp để có thể huy động toàn bộ các hộ trong thôn đều tham gia và đều được hưởng lợi.
7. Với người dân thôn Ra Ly, xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị:
Thôn Ra Ly có 75 hộ với 303 khẩu, trong đó có 12 hộ Kinh (25 khẩu), số còn lại đều là người Vân Kiều. Cả thôn có 44 hộ nghèo (đều là người Vân Kiều), chiếm 58,66%; có 5 hộ cận nghèo; 2 hộ do nữ làm chủ hộ. Trẻ em bỏ học 30%, chủ yếu do gia đình không đủ tiền cho học tiếp; tỷ lệ tảo hôn là 15%; tỷ lệ mù chữ hoặc tái mù khoảng 60% (chủ yếu là nữ).
Diện tích đất cả thôn là 371 ha, trong đó lúa nước 17,8 ha; lúa rẫy 6 ha; cà phê 48 ha; keo lai 25 ha; sắn 27 ha; trẩu 2 ha; rừng ma-rừng thiêng 15 ha.
Về chia sẻ lợi ích: Sinh kế của dân còn phụ thuộc một phần vào lâm sản ngoài gỗ như măng, nấm, mật ong, chổi đót, lá nón, cây thuốc và các loại rau củ quả khác. Ngoài ra phải kể đến gỗ để làm nhà, trung bình mỗi hộ 3-4 m khối/ năm. Hiện vẫn còn khoảng 10% số hộ vào rừng lấy trộm gỗ bán cho người Kinh. Họ sử dụng trâu để kéo gỗ. Dân vẫn thiếu đất sản xuất và đất ở, nhu cầu cả thôn là khoảng 170 ha, chủ yếu là các hộ mới tách hộ. Trong thôn không có ai nhận khoán bảo vệ rừng; rừng trồng do dân tự bỏ vốn đầu tư, lấy từ nguồn vay của ngân hàng chính sách là chính. Dân thôn được trả dịch vụ môi trường rừng với giá 400.000 đồng/ ha/ năm từ Nhà máy Thủy điện Quảng Trị.
8. Với người dân thôn Mới, xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị:
Thôn Mới có 48 hộ, 203 khẩu, tất cả đều là người Vân Kiều; hộ nghèo 35 hộ, chiếm 72, 91%; cận nghèo 5 hộ; nữ chủ hộ 3. Tỷ lệ tảo hôn là 5%; mù chữ 30%; trẻ em bỏ học 50%.
Toàn thôn có: i) lúa rẫy 18 ha, ii) 1úa nước 15 ha; iii) keo/ bời lời 40 ha; iv) trẩu 50 ha, v) sắn 13 ha; vi) rừng ma/ rừng thiêng 6000 m2. Thôn nhận bảo vệ 565 ha rừng thuộc lưu vực Thủy điện và Khu Bảo tồn.
Về chia sẻ lợi ích: Từ năm 2013, các hộ trong thôn đều nhận khoán bảo vệ rừng; trung bình 10 ha/ hộ; mức khoán là 450.000 đồng/ ha/ năm. Tổ tuần tra nhận 30%, còn 70% chia đều cho các hộ trong thôn. Dân vẫn sống phụ thuộc vào rừng, gồm các lâm sản ngoài gỗ và kể cả gỗ để sửa chữa nhà cửa, làm chuồng trại gia súc. Dân còn thiếu đất sản xuất, vì rừng đều thuộc về Khu bảo tồn Thiên nhiên Hướng Hóa.
9. Với BQL khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, Quảng Trị:
- Tình hình chung: Diện tích khu bảo tồn là 23.467 ha, toàn bộ đều là rừng đặc dụng; trong đó có 22.000 ha rừng tự nhiên. Chia thành hai phân khu, thuộc 5 xã Hướng Lập, Hướng Sơn, Hướng Linh, Hướng Phùng, và Hướng Việt. Tổng cộng gồm có 19 thôn, với hai nhóm dân: i) Dân sống ở vùng đệm trong gồm có thôn Cợp và thôn Cuôi thuộc xã Hướng Lập, mỗi thôn có 22 - 26 hộ, tổng cộng là 48 hộ, hầu hết là người Vân Kiều. Đây là vùng phục hồi sinh thái. Vùng đệm ngoài thì rải rác có người Kinh.
Người dân tham gia nhận khoán thuộc hai dự án: i) DA 661 trước đây, công việc là bảo vệ rừng ở khu vực xã Hướng Lập; DA này ngân sách còn vướng. Công khoán là 200.000 đồng/ ha/ năm; ii) Dịch vụ Môi trường rừng, gồm 3500 ha, thuộc khu vực thủy điện Rào Quán, mức hưởng là 400.000 đồng/ ha/ năm và khả năng sẽ giảm đi vì người dân các vùng khác thắc mắc do không được hưởng số tiền này.
- Về chia sẻ lợi ích: Nguyên tắc chia sẻ của chương trình REDD+ là phải tạo điều kiện cho người DTTS và dân địa phương hưởng lợi thông qua mô hình Đồng quản lý, giống như mô hình Vườn Quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) và Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) vậy. Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trên thực tế, người dân đã sống lâu đời ở đây trước khi có khu bảo tồn.
Để đảm bảo chia sẻ lợi ích thì phải: i) Thành lập Hội đồng Quản lý rừng; ii) Xây dựng quy chế Đồng quản lý, quy định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các bên liên quan; iii) Xây dựng cơ chế hưởng lợi của người dân thông qua việc bán tín chỉ Các bon.
Theo Lãnh đạo BQL Khu bảo tồn thì sớm muộn gì cũng phải thực hiện việc bán tín chỉ các bon, dù giá không cao, chỉ là 300.000 đồng/ năm/ ha. Và đối với Khu bảo tồn thì cần phải có cách tính toán chặt chẽ, vì: i) Rừng do Nhà nước giao cho BQL khu bảo tồn chịu trách nhiệm, trong khi đó phương thức Đồng quản lý lại thuộc về nguyên tắc của Chương trình REDD+; ii) Về phương thức Đồng quản lý thì BQL khu Bảo tồn Bắc Hướng Hóa đã thử nghiệm từ năm 2010, và các bên liên quan đều phải có trách nhiệm về cách quản lý này; iii) Vấn đề nảy sinh đối với phương thức Đồng quản lý ở địa phương còn phụ thuộc vào các nhiệm kỳ của cán bộ, vì mỗi cán bộ chủ chốt khi lên nắm quyền đều theo những quan niệm, cách tiếp cận và thực tiễn chỉ đạo và hành động khác nhau; iv) Trong thời gian thử nghiệm, chúng tôi cũng đã xây dựng quy chế tương tự như phương thức Đồng quản lý; v) Lợi ích của mỗi bên tham gia là vấn đề không đơn giản, trong khi đó BQL Khu Bảo tồn thì ăn lương của Nhà nước, còn người dân thì cần có chế độ như thế nào cho bền vững?; vi) Đối với địa phương, vấn đề không chỉ là tín chỉ Cac bon, vì còn liên quan đến lợi ích của các bộ phận khác của địa phương như: Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Công thương, Phòng Dân tộc v.v...Tất cả đều có các dự án riêng; vii) Cần có phương thức, cơ chế nào có thể tập hợp được các lợi ích khác nhau đó để chia sẻ lợi ích đến người dân lại là vấn đề quản lý của hệ thống chính quyền từ Trung ương xuống đến các cấp tỉnh, huyện, xã.
10. Với BQLDA REDD+, Quảng Trị:
Về việc chia sẻ lợi ích cho người DTTS và người dân địa phương, theo lãnh đạo BQLD REDD+ Quảng Trị (ông Khổng Trung) thì:
- Quan trọng nhất là nâng cao nhận thức bằng phương pháp truyền thông thay đổi hành vi cho người DTTS và người dân địa phương sống trong khu vực có rừng nói chung. Nói chung là người dân thích sử dụng các loại gỗ tự nhiên, thích ăn các loại đồ ăn tự nhiên, trong đó có thịt thú rừng. Vì vậy nhận thức không thể thay thế được cho thực tiễn thay đổi và việc cải thiện sinh kế. Chẳng hạn việc trồng ba kích (Gynochthodes officinalis), sa nhân (Fructus amoni), thảo quả (Amomum tsao-ko hay Amomum tsaoko - là một loài thực vật có hoa thuộc họ Gừng - Zingiberaceae), dây mây (Calamus và Daemonorops) dưới tán rừng để người dân cải thiện sinh kế gắn liền với việc chăm lo bảo vệ rừng thì Đồng quản lý mới có ý nghĩa thực sự.
- Để hiện thực hóa khái niệm đồng quản lý thì có thể để cho người dân khoanh vài ha rừng để họ nuôi lợn hoang dã, ngăn đập giữ nước làm hồ thả cá, canh tác lúa nước. Vì bảo vệ rừng phải là công việc của người địa phương, người DTTS, và chính họ phải biết rõ chỉ có giữ được rừng thì họ mới đực hưởng lợi, vì lợi ích của họ gắn liền với sự tồn tại và phát triển của rừng. Chỉ có như vậy thì mới có đồng quản lý với sự tham gia của người dân.
- Trong thực tế tại xã Hướng Sơn (huyện Hướng Hóa) đã có trường hợp thôn trưởng tùy tiện chi số tiền 400.000 đồng/ ha / năm chỉ cho những người nhà, người thân của ông ta. Ngày xưa những sản phẩm săn bắt từ rừng đem về cả làng chia cho nhau một cách công bằng, bình đẳng. Ngày nay, người DTTS săn bắt được thú rừng là dấu đi để đem bán kiếm lợi riêng cho mình. Tính cộng đồng truyền thống trong việc hưởng lợi từ sản vật rừng không còn như xưa nữa.
- Một trường hợp khác, mới đây, ngành Kiểm lâm Quảng Trị cho tiền để dân một thôn DTTS làm cầu. Thôn trưởng không hề mời già làng tham gia bàn bạc. Trong thực tế, thể chế già làng không còn tiếng nói quyết định đối với việc buôn làng như ngày trước nữa. Vì vậy, thế chế già làng – trưởng buôn làng vùng DTTS đã thực sự không còn tính chất cộng đồng, vì quyền lợi cộng đồng như trước đây nữa.
- Trong bối cảnh mới này, việc tạo ra cơ chế đồng quản lý sẽ phải đối diện với hai vấn đề: i) chủ trương và lý thuyết thì có thể rất hay và dễ được mọi người đồng tình; ii) việc thực hiện trong thực tế thường sẽ khác xa với sự hình dung của lý thuyết. Thực tế cho thấy, Kiểm lâm Quảng Trị đã tiếp cận với lý thuyết đồng quản lý trên 10 năm nay rồi, đã có những dự án đồng quản lý được thiết kế cho Quảng Trị rồi. Cũng có giao rừng cho người dân, rồi xây dựng quy ước cho thôn buôn, nhưng khi kết thúc dự án thì mọi thứ lại trở về nguyên trạng.
- Việc chia sẻ lợi ích cũng không hề đơn giản như khi chúng ta hình dung về lý thuyết, Trong thực tế, rừng giao cho cộng đồng chỉ là rừng phòng hộ, để giúp bảo vệ nguồn nước, giữ môi trường, chắn gió chắn cát. Có thể có một số loại rừng như rừng thiêng, rừng ma thì người dân còn chung tay giữ. Còn các loại rừng cộng đồng khác thường là rừng nghèo kiệt, thường tiền công khai thác và đem sản phẩm đi bán thu lại không đủ bù lỗ. Trong khi đó việc bán tín chỉ các bon còn rất xa; người dân còn không muốn nhận rừng giao khoán, vì số lợi ích nhận được không đáng là bao. Nhà hỏng thà lên rừng chặt trộm gỗ về sửa chữa còn hơn là nhận khoán rừng để được hưởng loại lợi ích này. Chỉ khi nào người dân được hưởng ở mức 30% gỗ trong rừng thì người dân mới hào hứng nhận loại rừng giao khoán này. Nếu không được hưởng lợi tương xứng thì dù có nhận khoán, nhưng người dân cũng sẽ tìm mọi cách thoái thác, không thực sự làm hết trách nhiệm bảo vệ rừng.
- Về hệ thống phân chia lợi ích theo ba cấp: Trung ương – Tỉnh – Chủ rừng, nếu thiết kế thành bốn cấp Trung ương – Tỉnh – Huyện - Chủ rừng. Như vậy chi phí sẽ tăng lên, và không thật hiệu quả. Nhiều DA được thiết kế không có cấp huyện, nhưng vẫn có sự tham gia của các chuyên gia ở huyện, với tư cách là thành viên của các tổ chức chuyên môn, hội đoàn, và hoạt động với tư cách là thành viên hiện trường của cấp tỉnh thì sẽ hiệu quả hơn. Vì vậy không nên thiết kế bộ phận điều hành ở cấp huyện.
- Đối tượng hưởng lợi: trước hết đối tượng này phải là các chủ rừng thì đúng rồi. Nhưng vấn đề là ở chỗ việc phân chia lợi ích có đến được với tất cả các loại chủ rừng hay không. Thông thường lợi ích chỉ đổ về một số loại chủ rừng nhất định, và điều đó tạo ra sự không công bằng ngay trong chính đội ngũ các chủ rừng. Trong khi đó đối với ngành lâm nghiệp thì sự hưởng lợi lớn nhất là các lợi ích gián tiếp như đa dạng sinh học, môi trường, cảnh quan, còn lợi ích từ gỗ, trên thực tế chỉ chiếm khoảng 10% mà thôi.
- Một ví dụ khác về phân chia lợi ích trong việc sử dụng nguồn nước sạch thì lấy tiền ở đâu để chi trả cho người dân nếu như chúng ta cũng theo mô hình chi trả dịch vụ môi trường theo lưu vực như thủy điện? Quảng Trị đã đề nghị cấp các loại giống cây trồng để trồng rừng phân tán cho các cộng đồng thuộc các địa phương liên quan. Đây là giải pháp phân phối theo cách đầu tư chung cho cộng đồng một cách rộng lớn hơn, vì bản thân cộng đồng cũng được hưởng lợi gián tiếp từ việc bảo vệ và phát triển rừng bằng cách chia đều cho các huyện để huyện tự điều hành các lợi ích cộng đồng đó. Đó là các khoản chi cho việc sửa nhà cộng đồng, mua sắm trang thiết bị, nâng cấp các sinh hoạt chung của cộng đồng, ...v.v. Chỉ có như vậy thì việc phân chia lợi ích mới hài hóa và cộng đồng mới đồng thuận.
II. NHỮNG PHÁT HIỆN CHÍNH
1. Việc chia sẻ lợi ích của Chương trình REDD+ trong thực tế gắn liền với quyền sử dụng đất và rừng của loại đối tượng hưởng lợi quan trong nhất, đó là người dân địa phương, mà hầu hết là người dân tộc thiểu số vốn có truyền thống sống dựa vào rừng, phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên rừng.
2. Trong những năm gần đây, hệ thống các chủ rừng đã hình thành và ngày càng trở nên đa dạng, trong đó chủ rừng là các tổ chức nhà nước vẫn là những chủ rừng lớn nhất.
3. Ngày nay lợi ích của những người dân sống phụ thuộc vào rừng lại một lần nữa phụ thuộc vào các chủ rừng lớn – là các tổ chức nhà nước – hoặc với danh nghĩa tổ chức nhà nước đó.
4. Ngày nay, các cộng đồng của địa phương, mà chủ yếu là các cộng đồng DTTS sống ở rừng, sống phụ thuộc vào rừng không còn là các cộng đồng truyền thống với các quan hệ gia đình, dòng họ theo đúng nghĩa cộng đồng truyền thống trong quá khứ nữa. Các cộng đồng này đang trong quá trình biến đổi, từ các gia đình lớn thành các gia đình hạt nhân thông qua quá trình tách hộ: khi con cái xây dựng gia đình, họ không sống cùng ông bà, cha mẹ nữa, mà tách thành hộ riêng. Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, quá trình này đòi hỏi các hộ gia đình mới phải có đủ đất ở, và đất sản xuất. Trong khi đó các chủ rừng lớn ngày càng tập trung trong tay nhiều diện tích đất vốn do các cộng đồng DTTS xưa kia sở hữu. Hai quá trình trái ngược nhau đó càng làm tăng nạn khan hiếm đất ở và đất sản xuất trong vùng núi, vùng người DTTS sinh sống chủ yếu.
5. Để giải quyết được mâu thuẫn ngày càng có chiều hướng gia tăng giữa quá trình tách hộ với nhu cầu đất ở, đất sản xuất tăng nhanh và khuynh hướng ngày càng tập trung đất rừng vào tay các chủ rừng lớn, mà hầu hết là các công ty nhà nước, các tổ chức nhà nước, hoặc vào tay các tập đoàn sản xuất lớn tại vùng núi, vùng DTTS thì việc tìm kiếm một cơ chế chia sẻ lợi ích từ các nguồn tài nguyên đất và rừng là điều tất yếu giữa người dân địa phương – hầu hết là người DTTS – là điều tất yếu.
6. Trong bối cảnh đó, cơ chế chia sẻ lợi ích thông qua phương thức đồng quản lý, với sự tham gia thực sự của người dân bằng việc gắn bó lợi ích của họ trong việc trồng rừng, phát triển rừng và tham gia quản lý bảo vệ rừng với các lợi ích thiết thực về kinh tế, về sinh kế, về môi trường, về xã hội và văn hóa, sao cho họ trở thành một loại chủ rừng quan trọng nhất. Chỉ có như vậy thì cơ chế đồng quản lý của chương trình REDD+ mới có thể thành công tại những vùng chủ yếu có người DTTS sinh sống từ bao đời nay.
Hà Nội, ngày 5 tháng 06 năm 2016
|
NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO
Hà Hữu Nga |
ĐIỀU PHỐI VIÊN DỰ ÁN
Xác nhận
Vũ Hoài Minh |
Phụ lục 01
Phụ lục 01
CHƯƠNG TRÌNH THAM VẤN TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
(từ ngày 17/5 - 27/5/2016)
|
Thời gian |
Nội dung |
Phương tiện |
|
|
17/5/ 2016 |
|
Di chuyển Hà Nội – TP Huế (Nghỉ đêm tại TP Huế) |
|
|
18/5 |
Sáng |
Di chuyển từ TP Huế – Xã Húc Nghì, Huyện Đăkrông |
Ô tô |
|
Chiều |
Tham vấn tại Thôn Húc Nghì, xã Húc Nghì, huyện Đăkrông (Nghỉ đêm tại TP Đông Hà, Quảng Trị) |
Ô tô |
|
|
19/5 |
Sáng |
Tham vấn tại Khu Bao tồn thiên nhiên Đăkrông |
Ô tô |
|
Chiều |
- Tham vấn tại Thôn Cớp, thôn La Tó xã Húc Nghì, huyện Đăkrông (Nghỉ đêm tại TP Đông Hà, Quảng Trị) |
Ô tô |
|
|
20/5 |
Sáng |
Tham vấn tại thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải Lăng |
Ô tô |
|
Chiều |
Tham vấn tại thôn Kim Giao, xã Hải Dương, huyện Hải Lăng
( Nghỉ đêm tại TP Đông Hà, Quảng Trị ) |
Ô tô |
|
|
21/5 |
|
Thứ bảy |
|
|
22/5 |
|
Chủ nhật |
|
|
23/5 |
|
Tham vấn tại Công ty lâm nghiệp Bến Hải (Nghỉ đêm tại TP Đông Hà, Quảng Trị) |
Ô tô |
|
24/5 |
Sáng |
Tham vấn tại Thôn Khe Hó, xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh |
Ô tô
|
|
Chiều |
Tham vấn tại Thôn Khe Trù, xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh (Nghỉ đêm tại TP Đông Hà, Quảng Trị) |
Ô tô
|
|
|
25/5 |
Sáng |
Tham vấn tại Thôn Raly, xã Hướng Sơn, Huyện Hướng Hóa |
Ô tô |
|
|
Chiều |
Tham vấn tại Thôn Mới, xã Hướng Sơn, Huyện Hướng Hóa (Nghỉ đêm tại trị trấn Khe Sanh, Huyện Hướng Hóa) |
Ô tô |
|
26/5 |
|
Tham vấn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hướng Hóa (Nghỉ đêm tại TP Đông Hà) |
Ô tô |
|
27/5 |
Sáng |
Tham vấn tại Sở NN&PTNT Quảng Trị |
Ô tô |
|
Chiều |
TP Đông Hà- TP Huế TP Huế- Hà Nội |
Ô tô Máy bay |
|
PHỤ LỤC 02: DANH SÁCH NGƯỜI THAM DỰ THAM VẤN
|
TT |
Họ và tên |
Giới tính |
Dân tộc |
Địa chỉ |
||||||||
|
Nam |
Nữ |
|||||||||||
|
I. Thôn Húc Nghì, xã Húc Nghì, huyện Đăkrông ( Chiều ngày 18/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Hồ Thị Dế |
|
x |
Vân Kiều |
|
|||||||
|
2 |
Hồ Thị xã Lý |
|
x |
x |
|
|||||||
|
3 |
Hồ Thị Thái |
|
x |
x |
|
|||||||
|
4 |
Hồ Thị Lựu |
|
x |
x |
|
|||||||
|
5 |
Hồ Thị Bảy |
|
x |
x |
|
|||||||
|
6 |
Hồ Thị Trầm |
|
x |
x |
|
|||||||
|
7 |
Hồ Thị Heo |
|
x |
x |
|
|||||||
|
8 |
Hoàng Đình Toàn |
x |
|
|
Cán bộ Nông nghiệp xã |
|||||||
|
9 |
Họ Văn Phin |
x |
|
x |
Bí thư chi bộ |
|||||||
|
10 |
Hồ Y Ta |
x |
|
x |
Trưởng thôn |
|||||||
|
11 |
Hồ A Ròng |
x |
|
x |
Hộ nghèo |
|||||||
|
12 |
Hồ Văn Điều |
x |
|
x |
Hộ nghèo |
|||||||
|
13 |
Hồ Văn Thông |
|
|
x |
Hộ nghèo |
|||||||
|
13 |
Hồ Thị Sắc |
|
x |
x |
|
|||||||
|
II. Khu bảo tồn thiên nhiên Đăkrông (sáng 19/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Ngô Kim Thái |
x |
|
|
Giám đốc |
|||||||
|
2 |
Hoàng Văn Chiến |
x |
|
|
Trưởng phòng |
|||||||
|
III. Thôn Cợp, Thôn La Tó, xã Húc Nghì, huyện Đăkrông (chiều 19/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
A Roi |
x |
|
Vân Kiều |
Trưởng thôn La Tó |
|||||||
|
2 |
Hồ Văn Rông |
x |
|
x |
Bí thư chi bộ thôn La Tó |
|||||||
|
3 |
Hồ Văn Oi |
x |
|
x |
Nông dân |
|||||||
|
4 |
Hồ Văn Kiều |
x |
|
x |
x |
|||||||
|
5 |
Hồ Văn Thao |
x |
|
x |
x |
|||||||
|
6 |
Hồ Thị Phỉ |
|
x |
x |
x |
|||||||
|
7 |
Hồ Thi Dun |
|
x |
x |
x |
|||||||
|
8 |
Hồ Thị Phay |
|
x |
x |
x |
|||||||
|
9 |
Hồ Thị Liên |
|
x |
x |
x |
|||||||
|
10 |
Hoàng Chiến Duy |
x |
|
Kinh |
Phó Trạm trưởng kiểm lâm |
|||||||
|
11 |
Hồ Văn Tới |
|
|
Kinh |
Kiểm lâm |
|||||||
|
12 |
Hồ Vân Vu |
x |
|
Vân Kiều |
Nông dân |
|||||||
|
13 |
Hồ Văn An |
x |
|
x |
Phó thôn Cớp |
|||||||
|
14 |
Hồ Thị La |
|
x |
x |
Giáo viên mầm non |
|||||||
|
15 |
Hồ Thị Vang |
|
x |
x |
Nông dân |
|||||||
|
16 |
Hồ Thị Dấp |
|
x |
x |
Y tế thôn |
|||||||
|
IV. Thôn Phương Lang, xã Hải Ba, huyện Hải lăng (Sáng 20/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Võ Văn Dũng |
x |
|
Kinh |
|
|||||||
|
2 |
Võ Viết Bút |
x |
|
x |
|
|||||||
|
3 |
Nguyễn Vọng |
x |
|
x |
|
|||||||
|
4 |
Đoàn Thị Lan |
|
x |
x |
|
|||||||
|
5 |
Lê Đức Thừa |
|
|
x |
|
|||||||
|
6 |
Nguyễn Quang Đạt |
x |
|
x |
|
|||||||
|
7 |
Nguyễn Minh |
x |
|
x |
|
|||||||
|
8 |
Lê Đức Trị |
x |
|
x |
|
|||||||
|
9 |
Nguyễn Thị Thiệp |
|
x |
x |
|
|||||||
|
10 |
Nguyễn Kỹ |
x |
|
x |
|
|||||||
|
11 |
Nguyễn Bí |
x |
|
x |
|
|||||||
|
12 |
Nguyễn Thành |
x |
|
x |
|
|||||||
|
13 |
Võ Viết Phương |
x |
|
x |
|
|||||||
|
14 |
Nguyễn Thị Hằng |
|
x |
x |
|
|||||||
|
V. Thôn Kim Giao Xã Hải Dương, huyện Hải Lăng (chiều 20/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Trần Thị Nguyệt |
|
x |
Kinh |
Nông dân |
|||||||
|
2 |
Phan Thị Thúy |
|
x |
x |
x |
|||||||
|
3 |
Nguyễn Thị Hà |
|
x |
x |
x |
|||||||
|
4 |
Trương Thị Mỹ Dung |
|
x |
x |
Chi hội trưởng Phụ nữ |
|||||||
|
5 |
Lê Thị Phương |
|
x |
x |
Nông dân |
|||||||
|
6 |
Hồ Thị Mạnh |
|
x |
x |
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh |
|||||||
|
7 |
Hoàng Công Thương |
x |
|
x |
Bí thư chi đoàn thanh niên |
|||||||
|
8 |
Tạ Thanh Bình |
x |
|
x |
Trưởng ban công tác MTTQ |
|||||||
|
9 |
Võ Minh Đức |
x |
|
x |
Bí thư chi bộ |
|||||||
|
10 |
Trần Cao Bằng |
x |
|
x |
Trưởng thôn |
|||||||
|
11 |
Võ Ngọc Lân |
x |
|
x |
Hội Cựu chiến binh |
|||||||
|
12 |
Võ Văn Lân |
x |
|
x |
Hộ nghèo |
|||||||
|
13 |
Võ Công |
x |
|
x |
Hộ cận nghèo |
|||||||
|
14 |
Võ Sương |
x |
|
x |
Hộ cận nghèo |
|||||||
|
15 |
Dương Văn Hảo |
x |
|
x |
Hộ cận nghèo |
|||||||
|
16 |
Hồ Thị Thới |
|
x |
x |
Nông dân |
|||||||
|
VI. Công ty lâm nghiệp Bến Hải(chiều 23/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Nguyễn Viết Thống |
x |
|
Nam |
Phó Giám đốc |
|||||||
|
2 |
Trần Hậu Ngọ |
x |
|
x |
Quyền Trưởng phòng KH |
|||||||
|
3 |
Nguyễn Văn Trung |
x |
|
x |
Giám đốc Xí nghiệp 3 |
|||||||
|
VII. Thôn Khe Hó xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh (Sáng 24/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Hồ Thị Hân |
|
x |
Vân Kiều |
Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ |
|||||||
|
2 |
Hồ Thị Xương |
|
x |
x |
Nông dân |
|||||||
|
3 |
Hồ Văn Tĩnh |
x |
|
x |
Trưởng thôn |
|||||||
|
4 |
Hồ Xuân Quỳ |
x |
|
x |
Chi hội Cựu chiến binh |
|||||||
|
5 |
Hồ Vắn Riêng |
x |
|
x |
Nông dân |
|||||||
|
6 |
Mai Thị Hồng |
|
x |
|
X |
|||||||
|
7 |
Hồ Văn Ga |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
8 |
Hồ Vân Ngọc |
|
x |
x |
X |
|||||||
|
9 |
Hồ Văn Cả |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
10 |
Hồ Văn Lành |
x |
|
x |
Chi Hội trưởng Hội nông dân |
|||||||
|
11 |
Hồ Thị Cường |
|
x |
x |
Mặt trận tổ quốc thôn |
|||||||
|
12 |
Vũ Văn Sanh |
x |
|
x |
Nông dân |
|||||||
|
VIII. Thôn Khe Trù, xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh (Chiều 24/5/2016) |
||||||||||||
|
1 |
Hồ Vân Hương |
x |
|
Vân Kiều |
Nông dân |
|||||||
|
2 |
Hồ Vân Hồng |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
3 |
Hồ Thị Lụt |
|
x |
x |
X |
|||||||
|
4 |
Hồ Thị Cơm |
|
x |
x |
X |
|||||||
|
5 |
Hồ Thị Hương |
|
x |
x |
X |
|||||||
|
6 |
Hồ Thị Chương |
|
x |
|
X |
|||||||
|
7 |
Hồ Thị Liên |
|
x |
x |
X |
|||||||
|
8 |
Hồ Thị Gái |
|
x |
x |
X |
|||||||
|
9 |
Hồ KRai |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
10 |
Hồ Vân Chương |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
11 |
Hồ Vân Thư |
x |
|
x |
Mặt trận thôn |
|||||||
|
12 |
Hồ Vân San |
x |
|
x |
Bí thư chi bộ |
|||||||
|
13 |
Hồ Thị Lài |
|
x |
x |
Hội người cao tuổi |
|||||||
|
14 |
Hồ Văn Lương |
x |
|
x |
Nông dân |
|||||||
|
IX. Thôn Raly, xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa |
||||||||||||
|
1 |
Hồ Văn Thứ |
x |
|
Vân Kiều |
Trưởng thôn |
|||||||
|
2 |
Hồ Văn Sữa |
x |
|
x |
Công an thôn |
|||||||
|
3 |
Hồ Văn Phán |
x |
|
x |
Nông dân |
|||||||
|
4 |
Hồ Văn Thương |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
5 |
Hồ Văn Ngân |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
6 |
Hồ Văn Phong |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
7 |
Hồ Văn Khiên |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
8 |
Hồ Văn Cường |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
X. Thôn Mới, xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa |
||||||||||||
|
1 |
Hồ Văn Vương |
x |
|
Vân Kiều |
Trưởng thôn |
|||||||
|
2 |
Hồ Văn Núi |
x |
|
x |
Phó thôn |
|||||||
|
3 |
Hồ Văn Toàn |
x |
|
x |
Nông dân |
|||||||
|
4 |
Hồ Văn Thành |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
5 |
Hồ Văn Tạo |
x |
|
x |
Công an viên |
|||||||
|
6 |
Hồ Thị Nhương |
|
x |
x |
Nông dân |
|||||||
|
7 |
Hồ Vắn Thái |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
8 |
Hồ Văn Nan |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
9 |
Hồ Văn Long |
x |
|
x |
X |
|||||||
|
10 |
Hồ Thị Niệm |
|
x |
x |
Chi hội phụ nữ thôn |
|||||||
|
11 |
Hồ Thị Thiết |
|
x |
x |
Nông dân |
|||||||
|
12 |
Hồ Văn Lực |
x |
|
|
Nông dân |
|||||||
|
13 |
Hồ Văn Anh |
x |
|
|
Nông dân |
|||||||
|
14 |
Hồ Ta Đooc |
x |
|
|
Hội cựu chiến binh |
|||||||
|
15 |
Hồ Thị Tư |
|
x |
|
Nông dân |
|||||||
|
XI. Khu bảo tồn thiên nhiên Hướng Hóa (ngày 26/5) |
||||||||||||
|
1 |
Hà Văn Hoan |
x |
|
Kinh |
Phó Giám đốc |
|||||||
|
2 |
Nguyễn Mạnh Hà |
x |
|
x |
Cán bộ kiểm lâm |
|||||||
|
3 |
Trần Thị Kim Liên |
x |
|
x |
Cán bộ tổng hợp |
|||||||
|
4 |
Trần Thị Việt Thư |
x |
|
x |
Phó phòng kế hoạch kỹ thuật |
|||||||
|
XII. Sở NN&PTNT Quảng Trị (Sáng ngày 27/5) |
||||||||||||
|
1 |
Khổng Trung |
x |
|
Kinh |
P. Giám đốc sở NN&PTNT |
|||||||
|
2 |
Trần Hiệp |
x |
|
x |
Trưởng phòng tổng hợp |
|||||||

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét