Powered By Blogger

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

Những bước tiến mới trong Siêu hình học (I)

E. J. Lowe

Người dịch: Hà Hữu Nga

1. Triết học, Siêu hình học và Bản thể học

[Tr.3] Có một giả định phổ biến trong giới không phải triết gia, và cũng được nhiều triết gia thực hành chia sẻ, cho rằng ‘tiến bộ’ thực sự không bao giờ đạt được trong triết học, và trên hết là trong siêu hình học. Về mặt này, triết học thường được so sánh, phần lớn là không thuận lợi, với các khoa học thực nghiệm, và đặc biệt là các khoa học tự nhiên, chẳng hạn như vật lý, hóa học và sinh học. Đôi khi, triết học được bảo vệ với lý do rằng việc than phiền về sự thiếu ‘tiến bộ’ trong đó là hiểu sai mục tiêu trung tâm của nó, đó là thách thức và phê phán các ý tưởng và giả định đã được chấp nhận hơn là đưa ra các luận điểm tích cực. Nhưng chính cách bảo vệ này cũng dễ bị các nhà thực hành tấn công như là sự biện hộ đặc biệt không chính đáng từ phía các triết gia thiếu chuyên môn trong các ngành khác, người ta sẽ nói rằng họ không đủ khả năng để đóng vai trò là nhà phê bình tri thức đa năng. Đôi khi người ta còn cho rằng triết học đã ‘chết’, chỉ còn là tàn tích của một thời đại tiền khoa học mà các chức năng hữu ích của nó, nếu có, cuối cùng đã được các ngành khoa học đích thực tiếp quản. Những vấn đề từng được coi là ‘triết học’ giờ đây, theo như lời đồn, đã được chuyển hóa thành những câu hỏi dành cho các phương thức nghiên cứu khoa học chuyên biệt hơn, với các nguyên tắc phương pháp luận và nền tảng lý thuyết riêng biệt.

Quan điểm coi thường triết học này vừa nông cạn vừa nguy hiểm. Đúng là triết học, nói đúng ra, không phải là một khoa học thực nghiệm, nhưng có những ngành khác mang tính chất phi thực nghiệm mà chắc chắn có thể và đã có những tiến bộ, chẳng hạn như toán học và logic. Vì vậy, về nguyên tắc, không có lý do gì để không thể có tiến bộ trong triết học. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng ngay cả các nhà triết học chuyên nghiệp cũng ít đồng thuận với nhau hơn về bản chất của ngành học và các phương pháp thực hành đúng đắn so với các nhà toán học và logic học. Có nhiều bất đồng về các nguyên tắc cơ bản trong triết học hơn bất kỳ lĩnh vực tư duy nào khác của con người. Nhưng điều này không nên làm chúng ta ngạc nhiên, vì triết học chính là mối quan tâm đến những câu hỏi cơ bản nhất mà trí tuệ con người có thể đặt ra. Quan niệm về triết học mà tôi ủng hộ là quan niệm đặt siêu hình học ở trung tâm của triết học và Bản thể học — khoa học về tồn tại — ở trung tâm của siêu hình học.1 Tại sao chúng ta cần một ‘khoa học về tồn tại’, và một khoa học như vậy có thể khả thi như thế nào? Tại sao mỗi ngành khoa học, dù là thực nghiệm hay tiên nghiệm, không thể tự giải quyết các câu hỏi bản thể học của riêng mình mà không cần đến bất kỳ ‘khoa học về tồn tại’ bao quát nào? Câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi này là thực tại là một và chân lý là không thể chia cắt. Mỗi ngành khoa học đều hướng đến chân lý, tìm cách mô tả chính xác một phần nào đó của thực tại. Nhưng các mô tả khác nhau về các phần khác nhau của thực tại, nếu tất cả chúng đều đúng, phải khớp với nhau để tạo thành một bức chân dung có thể đúng về thực tại nói chung. Không khoa học nào có thể tự cho mình nhiệm vụ làm cho các bức chân dung bộ phận khác nhau trở nên nhất quán với nhau: đó chỉ có thể là khoa học về tồn tại, tức là Bản thể học. Nhưng chúng ta không nên bị đánh lừa bởi những lời bàn tán về ‘chân dung’ của thực tại.

Mối quan tâm đúng đắn của bản thể học không phải là những chân dung mà chúng ta xây dựng về nó, mà là chính bản thân thực tại. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta gặp phải một trong những sự chia rẽ lớn trong triết học, có nguồn gốc lịch sử từ thế kỷ XVII và XVIII. Có những nhà triết học — Kant là nhân vật rõ ràng và quan trọng nhất — cho rằng trên thực tế, chúng ta không thể biết bất cứ điều gì về thực tại ‘tự thân nó’, do đó bản thể học chỉ có thể được hình dung một cách mạch lạc như là khoa học tư duy của chúng ta về sự tồn tại, chứ không phải là khoa học về tồn tại theo đùng nghĩa. Mặt khác, có những nhà triết học sẽ truy nguyên lòng trung thành của mình từ Plato và Aristotle, khi cho rằng về nguyên tắc không có trở ngại nào đối với việc chúng ta biết ít nhất một điều gì đó về thực tại như nó vốn có. Để ủng hộ quan điểm mà tôi cũng chia sẻ này, người ta có thể lập luận rằng việc phủ nhận khả năng có được tri ​​thức như vậy cuối cùng là không mạch lạc và phản tác dụng. Cách dễ nhất để duy trì luận điểm này là chỉ ra rằng nếu quả thực chúng ta không thể biết gì về thực tại như tự thân nó, thì chính vì lý do đó chúng ta cũng không thể biết gì về những suy nghĩ hay miêu tả của chính mình về thực tại: bởi vì những suy nghĩ hay miêu tả đó không là gì khác ngoài bản thân các bộ phận của thực tại. Tóm lại, các câu hỏi về bản thể học — được hiểu là những câu hỏi về tồn tại chứ không chỉ về những suy nghĩ của chúng ta về tồn tại — phát sinh liên quan đến vị thế bản thể học trong tư duy của chúng ta, và về vị thế của chính chúng ta với tư cách là kẻ suy tư về những tư duy đó: do đó, việc cố gắng diễn giải lại tất cả các câu hỏi về bản thể học thành những câu hỏi về các tư tưởng của chúng ta đối với những gì tồn tại lại tạo ra một bước thụt lùi rõ ràng là nguy hiểm.

Điều này vẫn để lại câu hỏi chưa có lời giải đáp về cách chúng ta có thể đạt được tri thức về bản thể, hay về thực tại ‘như tự thân nó’, đặc biệt nếu bản thể học được coi là một khoa học tiên nghiệm chứ không phải là một khoa học thực nghiệm. Câu trả lời mà tôi ủng hộ chia nhiệm vụ của bản thể học thành hai phần, một phần hoàn toàn tiên nghiệm và một phần thừa nhận các yếu tố thực nghiệm. Phần tiên nghiệm dành để khám phá lĩnh vực khả tính siêu hình, tìm cách xác định những loại sự vật nào có thể tồn tại và, quan trọng hơn, cùng tồn tại để tạo nên một thế giới khả thể duy nhất. Phần dựa trên bằng chứng thực nghiệm tìm cách xác định, trên cơ sở bằng chứng thực nghiệm và được các lý thuyết khoa học thành công nhất của chúng ta hỗ trợ để biết những loại sự vật nào thực sự tồn tại trong thế giới thực tại này. Nhưng hai nhiệm vụ ấy lại không độc lập: đặc biệt, nhiệm vụ thứ hai phụ thuộc vào nhiệm vụ thứ nhất.

Chúng ta không thể đánh giá được những loại sự vật nào thực sự tồn tại, ngay cả khi dựa trên kinh nghiệm được trang bị khoa học tốt nhất, trừ khi chúng ta có thể xác định một cách hiệu quả những loại sự vật nào có thể tồn tại, bởi vì bằng chứng thực nghiệm chỉ có thể [tr.6] là bằng chứng cho sự tồn tại của một thứ gì đó mà sự tồn tại của nó là khả thể từ trước. Cách nhìn nhận ấy về tri thức bản thể luận và khả tính của nó đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận, dù muốn hay không, rằng tri thức đó là có thể sai lầm — không chỉ tri thức của chúng ta về những gì thực sự tồn tại, mà cả tri thức của chúng ta về những gì có thể tồn tại nữa. Tuy nhiên, về mặt này, bản thể luận không khác gì bất kỳ ngành khoa học nào khác, kể cả toán học và logic. Có thể lập luận chính việc theo đuổi tính chắc chắn sai lầm trong siêu hình học đã dẫn Kant và các nhà triết học khác theo ông từ bỏ quan niệm về bản thể luận như là khoa học về tồn tại để chuyển sang một quan niệm sai lầm về nó như là khoa học tư duy của chúng ta về tồn tại, ảo tưởng là chúng ta có thể đạt được mức độ chắc chắn về nội dung tư duy của chính mình, vốn là chúng ta hoàn toàn không thể đạt được về bản chất thực sự của thực tại ‘như trong tự thân nó’.

2. Các phạm trù Bản thể học

Tôi đã mô tả bản thể học, trong phần tiên nghiệm của nó, liên quan đến những loại sự vật nào có thể tồn tại và cùng tồn tại. Ở đây, ‘loại’ có nghĩa là các phạm trù, một thuật ngữ được kế thừa từ Aristotle, vốn đã viết một luận thuyết mang tựa đề đó.2 (Sau này tôi sẽ sử dụng thuật ngữ ‘loại’ theo nghĩa hẹp hơn, để chỉ một phạm trù bản thể học trong số những phạm trù khác, vì vậy điều quan trọng là không nên có sự nhầm lẫn nào về điểm này.) Và ‘sự vật’ có nghĩa là các thực thể, tức là các tồn tại, theo nghĩa tổng quát nhất của thuật ngữ đó. Vì vậy, lý thuyết phạm trù nằm ở trung tâm của bản thể học — nhưng, nếu được hiểu đúng, nó lại liên quan đến các phạm trù được hình dung là các phạm trù của tồn tại, chứ không phải, theo kiểu Kantian, là các phạm trù của tư duy. (Tất nhiên, cũng có một nhánh của toán học được gọi là ‘lý thuyết phạm trù’, nhưng vì bản thể học [tr.7] có quyền ưu tiên sử dụng thuật ngữ này, nên tôi sử dụng nó ở đây mà không cần xin lỗi các nhà toán học nào có quan tâm.)

Thật kỳ lạ, trong phần lớn thế kỷ XX, nhiều nhà triết học, ngay cả những người có thiện cảm rộng rãi với quan niệm hiện thực về bản thể học mà tôi ủng hộ, lại không thấy cần thiết phải đặt lý thuyết phạm trù ở trung tâm của siêu hình học. Điều này là bởi vì họ tưởng tượng rằng, trên thực tế, tất cả các mục đích của bản thể học có thể được lý thuyết tập hợp đáp ứng, có lẽ với niềm tin rằng bất cứ thứ gì cũng có thể được ‘mô hình hóa’ trong lý thuyết tập hợp và bất kỳ mô hình thích hợp nào cũng có thể được thay thế, mà không thua thiệt vì bất cứ thứ gì được cho là mô hình của nó.3 Do đó, chẳng hạn, họ cho rằng thay vì nói về các thuộc tính của đối tượng, chúng ta có thể nói về các tập đối tượng, hoặc, phức tạp hơn, về các hàm từ các thế giới khả thể (có lẽ bản thân chúng có thể được hình dung như các tập đối tượng) đến các tập đối tượng ‘tại’ hoặc ‘trong’ những thế giới đó. Thuộc tính màu đỏ có thể ‘biểu diễn’ như một hàm số, với mỗi thế giới khả thể làm đối số, thì tập đối tượng màu đỏ trong thế giới đó là giá trị tương ứng. Và bản thân các hàm số, cuối cùng cũng được ‘biểu diễn’ như các tập, cụ thể là tập hợp các cặp có thứ tự của các đối số và giá trị của chúng (các cặp có thứ tự lần lượt được 'biểu diễn' như là các tập của các tập theo cách thức Wiener-Kuratowski tiêu chuẩn).

Không gì có thể thiển cận và trì trệ hơn quan điểm cho rằng tất cả các mục đích của bản thể học có thể được lý thuyết tập và các cấu trúc lý thuyết tập làm thỏa mãn. Bản thân các tập hợp chỉ bao gồm một loại thực thể trong số nhiều loại khác, và chắc chắn đó không thể là loại thực thể duy nhất tồn tại trong bất kỳ thế giới khả dĩ nào.4 Ngay cả khi chúng ta giả sử rằng các tập hợp ‘thuần túy’ — các tập hợp mà trong bao đóng bắc cầu [Transitive closure - bao đóng bắc cầu - của một quan hệ nhị phân R trên tập hợp X là quan hệ bắc cầu nhỏ nhất chứa R, được ký hiệu là R+. Nó bao gồm tất cả các cặp (a,c) sao cho tồn tại một đường đi từ a đến c (tức là aRb, bRc); đây là khái niệm cốt lõi trong toán rời rạc và đồ thị, giúp xác định khả năng kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các phần tử. HHN] của chúng chỉ có các tập hợp khác, bao gồm cả tập ‘rỗng’ — là khả thể thì phải có nhiều loại sự vật hơn trong bất kỳ thế giới khả thể nào ngoài những tập hợp như vậy. Điều này đúng ngay cả khi cũng đúng là bất cứ thứ gì, theo một nghĩa nào đó, đều có thể được ‘mô hình hóa’ về mặt lý thuyết tập hợp. Chúng ta không nên nhầm lẫn một mô hình [tr.8] với cái mà nó mô hình hóa. Thật vậy, có một sự liên minh bất chính giữa cách thức xây dựng bản thể luận giả tạo thông qua các cấu trúc lý thuyết tập hợp và quan niệm phản hiện thực về bản thể luận như là khoa học về những suy nghĩ hoặc biểu tượng của chúng ta về thực tại. Điểm chung của cả hai cách tiếp cận là niềm tin sai lầm rằng chúng ta phải và có thể thay thế, mà không mất mát đáng kể, các mô hình hoặc biểu tượng của sự vật cho chính bản thân sự vật. Vậy thì, các phạm trù bản thể luận là gì và chúng ta nên thừa nhận những phạm trù nào? Làm thế nào để ‘cá thể hóa’, tức là xác định và phân biệt những phạm trù đó? Ở đây tôi sẽ đưa ra hai luận điểm sơ bộ, cả hai đều chưa được diễn đạt chính xác ở giai đoạn này. Thứ nhất, các phạm trù bản thể luận được tổ chức theo thứ bậc; và thứ hai, các phạm trù bản thể luận được cá thể hóa bởi các điều kiện tồn tại và/hoặc nhận dạng đặc trưng của các thành viên của chúng. Hơn nữa, hai luận điểm này phụ thuộc lẫn nhau.

Tôi đã đề cập thoáng qua một số phạm trù bản thể học: ví dụ, các phạm trù đối tượng, thuộc tính và tập hợp. Ngay cả ở đây thì vẫn có thể quan sát được mối quan hệ thứ bậc, vì tập hợp bao gồm một tiểu phạm trù của đối tượng: nghĩa là, một tập hợp là một loại đối tượng đặc biệt — cụ thể, nó là một đối tượng trừu tượng mà sự tồn tại và tính đồng nhất của nó hoàn toàn phụ thuộc vào sự tồn tại và tính đồng nhất của các thành viên của nó. Và do đó, chúng ta cũng thấy ở đây phạm trù tập hợp được cá thể hóa như thế nào dựa trên các điều kiện tồn tại và tính đồng nhất của các thực thể thuộc về nó. (Cần nhấn mạnh ý nghĩa mà một thực thể ‘thuộc về’ một phạm trù không nên nhầm lẫn với ý nghĩa lý thuyết tập hợp đặc biệt mà cái gì đó là ‘thành viên’ của một tập: nếu có nhầm lẫn này thì chính các phạm trù lại là các tập, trong khi trên thực tế, các tập chỉ bao gồm một phạm trù bản thể học trong nhiều phạm trù khác.

Thực ra, có lẽ tôi nên lưu ý rằng các phạm trù bản thể học tự chúng không được coi là các thực thể, càng không được coi là bao gồm một phạm trù bản thể học riêng biệt của chúng, phạm trù [tr.9] của phạm trù. Việc tôi khẳng định rằng các phạm trù bản thể học là các phạm trù của tồn tại, chứ không phải các phạm trù của tư duy, không có nghĩa là các phạm trù này tự chúng là các tồn tại. Để minh họa thêm cho các điểm nêu trên, hãy xem xét hai tiểu phạm trù đối tượng sau đây, mỗi tiểu phạm trù là một loại đối tượng cụ thể đặc biệt, trái ngược với các đối tượng trừu tượng như là tập hợp và mệnh đề: khối lượng, hay một mặt là các vật thể vật chất, và mặt khác là các sinh vật sống. Các thực thể thuộc hai loại này có điều kiện tồn tại và nhận dạng khá khác nhau, bởi vì một sinh vật sống, vốn là loại vật thể có khả năng trải qua quá trình sinh trưởng và trao đổi chất, có thể tồn tại sau một thay đổi vật chất cấu thành của nó theo cách mà một khối vật chất đơn thuần không thể. Một khối vật chất đơn thuần, chỉ là tập hợp các hạt vật chất, không thể tồn tại sau sự mất mát hoặc trao đổi bất kỳ hạt nào, cũng giống như một tập hợp không thể thay đổi các thành viên của nó. Do đó, không thể đồng nhất một sinh vật sống với khối vật chất cấu thành nó ở bất kỳ giai đoạn tồn tại nào, vì được cấu thành bởi các khối khác nhau ở các giai đoạn khác nhau.5

Việc các phạm trù bản thể học được tổ chức theo thứ bậc như thế nào vẫn còn là vấn đề tranh luận, mặc dù phạm trù cao nhất rõ ràng phải là phạm trù tổng quát nhất, đó là phạm trù thực thể hoặc sinh vật. Mọi thứ, bất kể tồn tại hay có thể tồn tại, đều có thể được phân loại là một 'thực thể'. Theo một quan điểm, mà bản thân tôi ủng hộ, ở cấp độ phân loại cao thứ hai, tất cả các thực thể đều có thể chia thành các khái niệm phổ quát hoặc các khái niệm cụ thể.6 …Các nhà bản thể học khác phủ nhận sự tồn tại của các khái niệm phổ quát, trong khi những người khác lại tin rằng tất cả các khái niệm cụ thể đều có thể quy giản về, hoặc được cấu thành hoàn toàn bởi, các khái niệm phổ quát đồng hiện diện hoặc ‘cùng tồn tại’. Ngay tại đây chúng ta [tr.10] thấy một loại câu hỏi trọng tâm của bản thể học: một câu hỏi liên quan đến việc liệu một phạm trù bản thể học có ‘cơ bản’ hơn phạm trù khác hay không. Những nhà bản thể học cho rằng các khái niệm cụ thể được cấu thành hoàn toàn bởi các khái niệm phổ quát đồng hiện diện không phủ nhận — như một số nhà bản thể học khác — sự tồn tại của cả các khái niệm cụ thể hay các khái niệm phổ quát, mà họ cho rằng phạm trù các khái niệm phổ quát là cơ bản hơn trong hai phạm trù này. Mục đích của tuyên bố như vậy là để tạo ra một nền kinh tế bản thể học. Một nhà bản thể học không bao giờ quan tâm đến việc tạo ra những nền kinh tế như vậy có nguy cơ kết thúc với một lý thuyết bản thể học chẳng khác gì một danh sách dài tất cả các loại sự vật đang tồn tại hoặc có thể tồn tại: tàu thuyền, giày dép và sáp niêm phong, bắp cải và vua chúa — chưa kể rồng, phù thủy, chất ngoại cảm và hòn đá triết gia.7

3. Một số hệ thống Bản thể học cạnh tranh

Đây là nơi tôi có thể bắt đầu chứng minh luận điểm của mình, ngầm ẩn trong tiêu đề bài viết này, đó là ý tưởng cho rằng gần đây đã có những tiến bộ trong siêu hình học. Chắc chắn gần đây đã có những tiến bộ trong việc suy nghĩ về cách các phạm trù bản thể học có thể liên quan đến nhau và, đặc biệt hơn, về phạm trù nào được khẳng định mạnh mẽ là ‘cơ bản’. Mô tả một phạm trù bản thể học nhất định là ‘cơ bản’ có nghĩa là gì? Tôi cho rằng chính là ở chỗ này: các điều kiện tồn tại và nhận dạng của các thực thể thuộc phạm trù đó không thể được xác định đầy đủ bằng các mối quan hệ phụ thuộc bản thể học giữa các thực thể đó và các thực thể thuộc các phạm trù khác. Đây là lý do tại sao các cá thể riêng lẻ không thể cấu thành một phạm trù bản thể học ‘cơ bản’ nếu trên thực tế, chúng hoàn toàn được cấu thành bởi các khái niệm phổ quát đồng nhất: vì trong trường hợp đó, một cá thể riêng lẻ chỉ tồn tại khi một số khái niệm phổ quát nhất định [tr.11] đồng nhất và được phân biệt với bất kỳ cá thể riêng lẻ nào khác bởi các khái niệm phổ quát cấu thành nên nó. Tuy nhiên, trên thực tế, không nhiều nhà bản thể học đương đại thấy có nhiều triển vọng trong cách giải thích này về các cá thể riêng lẻ, nhất là vì nó loại trừ một cách phi lý một thế giới trong đó hai cá thể riêng lẻ khác biệt hoàn toàn lại giống nhau về mặt chất lượng như là điều không thể về mặt siêu hình học — nói cách khác, bởi vì nó nâng lên thành một chân lý tất yếu về mặt siêu hình học một phiên bản mạnh mẽ phi lý của nguyên tắc đồng nhất của những thứ không thể phân biệt được của Leibniz.8

Tôi đã hơi vội vàng khi nói về các khái niệm phổ quát và cụ thể mà chưa đưa ra bất kỳ giải thích rõ ràng nào về sự khác biệt giữa chúng. Tuy nhiên, ngay cả trong vấn đề này, vẫn còn nhiều tranh cãi. Một cách khái quát, người ta thường nói rằng các khái niệm phổ quát là những thực thể ‘có thể lặp lại’ và các khái niệm cụ thể là những thực thể ‘không thể lặp lại’. Theo cách hiểu này, thuộc tính màu đỏ, hay sắc đỏ, được coi là một khái niệm phổ quát, là thứ có thể hiện diện một cách toàn diện và lặp đi lặp lại ở nhiều thời điểm và địa điểm khác nhau, trong khi một vật thể màu đỏ cụ thể hoàn toàn bị giới hạn trong một vị trí không gian-thời gian duy nhất và không thể ‘tái xuất hiện’ ở nơi khác và vào thời điểm khác.9 Có những vấn đề với cách mô tả sự khác biệt giữa các khái niệm phổ quát và cụ thể này, nhưng ở đây tôi sẽ không đi sâu vào điều đó. Tuy nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều nhà triết học hiện đại muốn loại bỏ hoàn toàn các khái niệm phổ quát khỏi danh mục tồn tại của họ hoặc quy giản chúng thành các khái niệm cụ thể. Đây là quan điểm của những người theo cái gọi là lý thuyết tropes tỷ dụ, đối với họ, bản thân các thuộc tính là một và tất cả các cá thể cụ thể, với màu đỏ của bất kỳ vật thể màu đỏ nào đều khác biệt về mặt số học so với màu đỏ của bất kỳ vật thể nào khác, ngay cả khi hai vật thể được đề cập giống hệt nhau về màu sắc.

Một sự phân biệt bản thể học khác cần được làm rõ ở điểm này là sự phân biệt giữa đối tượng và thuộc tính. Mặc dù đối với một số nhà bản thể học, điều này đơn giản trùng khớp với sự phân biệt giữa cái cụ thể và cái phổ quát, rõ ràng là không phải vậy đối với những người theo lý thuyết tropes tỷ dụ. Đối tượng [tr.12] là những thực thể sở hữu, hay ‘mang’ các thuộc tính, trong khi thuộc tính là những thực thể được sở hữu, hay các đối tượng ‘mang’ chúng. Vấn đề trở nên phức tạp hơn bởi thực tế là bản thân các thuộc tính có thể sở hữu các thuộc tính khác, của cái gọi là ‘các thuộc tính bậc cao hơn’ — ví dụ, thuộc tính màu đỏ, hay độ đỏ, có thuộc tính bậc hai là thuộc tính màu sắc. Xét về điều này, người ta có thể muốn mô tả một ‘đối tượng’ chính xác hơn là một thực thể mang các thuộc tính nhưng bản thân nó không được bất cứ thứ gì khác mang. Tuy nhiên, đây là một cách truyền thống để mô tả phạm trù của các chất riêng lẻ — một cách có thể tìm thấy trong một số tác phẩm của Aristotle, chẳng hạn.10

Các nhà lý thuyết tropes tỷ dụ cho rằng các đối tượng, hay các chất riêng lẻ, có thể quy giản về các tropes nhóm tu từ, tức là về các thuộc tính được hình dung như những cái cụ thể chứ không phải là những cái phổ quát. Theo quan điểm này, một đối tượng, chẳng hạn như một bông hoa riêng lẻ nhất định, được cấu thành hoàn toàn bởi một số tropes thuộc tính ‘cùng hiện diện’: nói cách khác, không có gì vượt quá các thuộc tính cụ thể mà nó sở hữu, chẳng hạn như màu sắc, hình dạng, kích thước, khối lượng nhất định, v.v. Họ cho rằng nó là một ‘tập’ tropes thuộc tính, tất cả đều tồn tại ở cùng một nơi vào cùng một thời điểm. Các nhà lý thuyết tropes tỷ dụ quảng cáo một trong những ưu điểm chính trong lý thuyết của họ thì đó là một bản thể học ‘một-phạm trù’ — có nghĩa là, theo lý thuyết của họ, chỉ có một phạm trù bản thể học cơ bản duy nhất, đó là các tropes thuộc tính. Như chúng ta vừa thấy, các đối tượng, hay các chất riêng lẻ, được coi là các ‘bó’ thuộc tính mà các hình tượng, sự tồn tại và bản sắc của chúng phụ thuộc vào các tropes thuộc tính cấu thành nên chúng, trong khi các khái niệm phổ quát, nếu có, thì có thể quy giản về các lớp tropes tương tự — ví dụ, màu đỏ về lớp tropes thuộc tính đỏ.

Tôi có thể đã tạo ấn tượng về sự đa dạng quan điểm giữa các nhà bản thể học đương đại đến mức làm suy yếu chính tuyên bố của tôi cho rằng đã có những tiến bộ trong siêu hình học hiện đại. Nhưng tiến bộ không phải lúc nào cũng chỉ đơn giản đạt được bằng cách đi đến [tr.13] đồng thuận về quan điểm. Đôi khi nó được tạo ra bởi sự phát triển của các lý thuyết mới và những cuộc tranh luận lành mạnh giữa những người ủng hộ chúng. Điều này, thực sự, cũng rất thường xảy ra trong các khoa học thực nghiệm. Tuy nhiên, đã đến lúc tôi cần tái sắp xếp thêm nữa đặc điểm của các hệ thống bản thể học đối lập hiện đang được tranh luận. Để thống nhất thuật ngữ, dù chỉ là tạm thời, chúng ta hãy sử dụng các thuật ngữ đối tượng, phổ quát và trope thuộc tính.

Một đối tượng là một cá thể mang thuộc tính mà bản thân nó không được mang bởi bất cứ thứ gì khác: theo thuật ngữ truyền thống, nó là một chất cá thể. Một phổ quát (ít nhất là một phổ quát bậc nhất) là một property thuộc tính được hình dung như một thực thể ‘có thể lặp lại’, nghĩa là, được hình dung như một thứ có thể được mang bởi nhiều cá thể khác nhau, ở những thời điểm và địa điểm khác nhau. Và một trope là một thuộc tính được hình dung như một thực thể cụ thể, một thực thể ‘không thể lặp lại’ mà không thể được mang bởi nhiều hơn một đối tượng. Các lý thuyết bản thể học hiện nay khác nhau về cả câu hỏi về sự tồn tại của các thực thể thuộc ba loại này và về câu hỏi loại nào là cơ bản. Trong số nhiều quan điểm khả thể phát sinh từ các kết hợp khác nhau của các câu trả lời cho hai câu hỏi này, tôi sẽ chọn ra bốn quan điểm đã nhận được một số sự ủng hộ trong thời gian gần đây.

Đầu tiên, có quan điểm của các nhà lý thuyết tỷ dụ thuần túy — chẳng hạn như Keith Campbell11 — những người khẳng định rằng chỉ có tropes tỷ dụ mới cấu thành một loại cơ bản, quy giản các đối tượng thành các bó thuộc tính cùng hiện diện và các khái niệm phổ quát, nếu chúng được muốn sử dụng, thành các lớp tỷ dụ tương tự. Quan điểm thứ hai — được ủng hộ, chẳng hạn, bởi David Armstrong12 — thừa nhận cả đối tượng và khái niệm phổ quát đều cấu thành các loại cơ bản, đồng thời phủ nhận sự tồn tại của tỷ dụ. Một quan điểm thứ ba — hiện đang được C. B. Martin13 ủng hộ — thừa nhận cả đối tượng và tỷ dụ đều cấu thành các phạm trù cơ bản, đồng thời phủ nhận sự tồn tại của các khái niệm phổ quát hoặc, một lần nữa, quy giản chúng thành các lớp tỷ dụ tương tự. Không có gì đáng ngạc nhiên, quan điểm thứ tư [trang 14] thừa nhận cả ba phạm trù thực thể — đối tượng, khái niệm phổ quát và tỷ dụ — đều là cơ bản, tất nhiên không phủ nhận rằng các thành viên của các phạm trù này có các mối quan hệ quan trọng về mặt bản thể học với nhau…

[Tr.15] Trước khi tiếp tục, tôi muốn đặc biệt đề cập đến một biến thể của quan điểm thứ tư, phân biệt giữa hai phạm trù phổ quát khác nhau nhưng đều cơ bản như nhau. Đây là quan điểm mà tôi ủng hộ, vì những lý do mà tôi sẽ trình bày sau. Theo quan điểm này, có hai phạm trù cơ bản của các thực thể cụ thể — đối tượng và tỷ dụ — và hai phạm trù cơ bản của các khái niệm phổ quát: các khái niệm phổ quát bản chất, hay các loại, mà các trường hợp cụ thể của chúng là đối tượng, và các khái niệm phổ quát thuộc tính, mà các trường hợp cụ thể của chúng là tropes các tỷ dụ. Đây là quan điểm được cho là thuộc về Aristotle dựa trên các đoạn văn trong tác phẩm đã đề cập trước đó của ông, cuốn Categories. Quan điểm này cũng đã tìm thấy một số người ủng hộ khác trong thời hiện đại.14

_________________________________________

Nguồn: E. J. Lowe (2003). Recent Advances in Metaphysics. In Facta Philosophica (Volume 5, Issue 1, pages 3–24).

Notes

1 See further my The Possibility of Metaphysics: Substance, Identity, and Time (Oxford: Clarendon Press, 1998), ch. 1, and my A Survey of Metaphysics (Oxford: Clarendon Press, 2002), ch. 1, where many of the points made in the present section of this paper receive a fuller treatment.

2 See Aristotle, Categories and De Interpretatione, trans. J. L. Ackrill (Oxford: Clarendon Press, 1963).

3 For similar strictures, see Barry Smith, 'On Substances, Accidents and Universals: In Defence of a Constituent Ontology', Philosophical Papers 26 (1997), pp. 105-27, especially p. 107.

4 See further my The Possibility of Metaphysics, ch. 12, and also my 'Metaphysical Nihilism and the Subtraction Argument', Analysis, forthcoming.

5 See further my Kinds of Being: A Study of Individuation, Identity and the Logic of Sortal Terms (Oxford: Blackwell, 1989), ch. 7.

6 For an alternative view, see Roderick M. Chisholm, A Realistic Theory of Categories: An Essay in Ontology (Cambridge: Cambridge University Press, 1996), or his 'The Basic Ontological Categories', in Kevin Mulligan (ed.), Language, Truth and Ontology (Dordrecht: Kluwer, 1992).

7 Compare Frank Jackson, From Metaphysics to Ethics: A Defence of Conceptual Analysis (Oxford: Clarendon Press, 1998), pp. 4-5.

8 See further James Van Cleve, ‘Three Versions of the Bundle Theory’, Philosophical Studies 47 (1985), pp. 95-107.

9 See, for example, David Armstrong, Universals: An Opinionated Introduction (Boulder, CO: Westview Press, 1989), pp. 98-9, and, for an objection, my The Possibility of Metaphysics, p. 156.

10 For more on the category of substance, see Joshua Hoffman and Gary S. Rosenkrantz, Substance Among Other Categories (Cambridge: Cambridge University Press, 1994).

11 See Keith Campbell, Abstract Particulars (Oxford: Blackwell, 1990). See also Peter Simons, 'Particulars in Particular Clothing: Three Trope Theories of Substance', Philosophy and Phenomenological Research 54 (1994), pp. 553-75.

12 See David Armstrong, A World of States of Affairs (Cambridge: Cambridge University Press, 1997).

13 See C. B. Martin, 'Substance Substantiated', Australasian Journal of Philosophy 58 (1980), pp. 3-10, and 'The Need for Ontology: Some Choices', Philosophy 68 (1993), pp. 505-22. See also C. B. Martin and John Heil, 'The Ontological Turn', Midwest Studies in Philosophy XXIII (1999), pp. 34-60.

14 See, for example, Barry Smith, 'On Substances, Accidents and Universals: In Defence of a Constituent Ontology', pp. 124-5.

References

Aristotle, Categories and De Interpretatione, trans. J. L. Ackrill (Oxford: Clarendon Press, 1963).

Armstrong, D. M., What is a Law of Nature? (Cambridge: Cambridge University Press, 1983).

Armstrong, D. M., Universals: An Opinionated Introduction (Boulder, CO: Westview Press, 1989).

Armstrong, D. M., A World of States of Affairs (Cambridge: Cambridge University Press, 1997).

Campbell, K., Abstract Particulars (Oxford: Blackwell, 1990).

Chisholm, R. M., 'The Basic Ontological Categories', in Kevin Mulligan (ed.), Language, Truth and Ontology (Dordrecht: Kluwer, 1992).

Chisholm, R. M., A Realistic Theory of Categories: An Essay in Ontology (Cambridge: Cambridge University Press, 1996).

Davidson, D., 'True to the Facts', in his Inquiries into Truth and Interpretation (Oxford: Clarendon Press, 1984).

Hoffman, J. and Rosenkrantz, G. S., Substance Among Other Categories (Cambridge: Cambridge University Press, 1994).

Jackson, F., From Metaphysics to Ethics: A Defence of Conceptual Analysis (Oxford: Clarendon Press, 1998).

Levinson, J., 'Properties and Related Entities', Philosophy and Phenomenological Research 39 (1978), pp. 1-22.

Lowe, E. J., Kinds of Being: A Study of Individuation, Identity and the Logic of Sortal Terms (Oxford: Blackwell, 1989).

Lowe, E. J., The Possibility of Metaphysics: Substance, Identity, and Time (Oxford: Clarendon Press, 1998).

Lowe, E. J., 'Locke, Martin and Substance', Philosophical Quarterly 50 (2000), pp. 499-514.

Lowe, E. J., A Survey of Metaphysics (Oxford: Clarendon Press, 2002).

Lowe, E. J., 'Metaphysical Nihilism and the Subtraction Argument', Analysis, forthcoming.

Lowe, E. J., 'Dispositions and Laws', Metaphysica, forthcoming.

Lowe, E. J., 'Properties, Modes, and Universals', The Modern Schoolman, forthcoming.

Lowe, E. J., 'Kinds, Essence, and Natural Necessity', forthcoming in the proceedings of the conference on 'Individuals, Essence and Identity: Themes of Analytic Metaphysics', held at the University of Bergamo in 2000.

Lowe, E. J., 'A Defence of the Four-Category Ontology', forthcoming in the proceedings of the conference of the Gesellschaft für Analytische Philosophie, held at the University of Bielefeld in 2000.

Martin, C. B., 'Substance Substantiated', Australasian Journal of Philosophy 58 (1980), pp. 3-10.

Martin, C. B., 'The Need for Ontology: Some Choices', Philosophy 68 (1993), pp. 505-22.

Martin, C. B., 'Dispositions and Conditionals', Philosophical Quarterly 44 (1994), pp. 1-8.

Martin, C. B. and Heil, J., 'The Ontological Turn', Midwest Studies in Philosophy XXIII (1999), pp. 34-60.

Mulligan, K., Simons, P. M. and Smith, B., 'Truth-Makers', Philosophy and Phenomenological Research 44 (1984), pp. 287-321.

Neale, S., 'The Philosophical Significance of Gödel's Slingshot', Mind 104 (1995), pp. 761-825.

Simons, P. M., 'Particulars in Particular Clothing: Three Trope Theories of Substance', Philosophy and Phenomenological Research 54 (1994).

Smith, B., 'On Substances, Accidents and Universals: In Defence of a Constituent Ontology', Philosophical Papers 26 (1997), pp. 105-27.

Smith, B. ‘Truthmaker Realism’, Australasian Journal of Philosophy 77 (1999), pp. 274-91.

Van Cleve, J., ‘Three Versions of the Bundle Theory’, Philosophical Studies 47 (1985), pp. 95-107.

Wittgenstein, L., Tractatus Logico-Philosophicus, trans. C. K. Ogden (London: Routledge and Kegan Paul, 1922).

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét