Powered By Blogger

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (II)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Việc đặt nền móng, như chúng ta đã mô tả, đúng hơn là một logic mang tính sản sinh - theo nghĩa nó nhảy vọt [tr.31] như thể, vào một lĩnh vực nào đó của Hữu thể, lần đầu tiên tiết lộ nó trong cấu thành của Hữu thể đó, và sau khi đạt đến các cấu trúc bên trong nó, làm cho những cấu trúc này có sẵn cho các khoa học thực chứng với tư cách là những nhiệm vụ minh bạch để nghiên cứu.1 Ví dụ, điều quan trọng về mặt triết học không phải là lý thuyết về sự hình thành khái niệm của môn lý luận sử học, cũng không phải là lý thuyết về tri thức sử học, hay lý thuyết về lịch sử như là đối tượng của môn lý luận sử học; điều quan trọng hơn cả là Sự diễn giải các thực thể lịch sử đích thực về sử tính của chúng2 Tương tự, kết quả tích cực của Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant nằm ở những gì nó đã đóng góp vào việc làm rõ những gì thuộc về bất kỳ Bản chất nào, chứ không phải là một ‘lý thuyết’ về tri thức. Logic siêu nghiệm của ông là một logic tiên nghiệm cho chủ đề của lĩnh vực Hữu thể được gọi là ‘Bản chất’. Nhưng chính cách khảo sát như vậy – thứ bản thể học-tự thân được hiểu theo nghĩa rộng nhất mà không ưu tiên bất kỳ hướng đi hay xu hướng bản thể học cụ thể nào - lại đòi hỏi thêm manh mối nữa. Thực tế, việc nghiên cứu Bản thể luận mang tính nguyên thủy hơn, trái ngược với việc nghiên cứu ontic thực hữu3 của các khoa học thực chứng. Nhưng bản thân nó vẫn còn ngây thơ và khó hiểu nếu việc nghiên cứu về Hữu thể của các hiện hữu lại không bàn về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Và ngay cả nhiệm vụ bản thể luận là kiến tạo một phả hệ phi-diễn dịch về cách thức khả thể khác nhau của Hữu thể trước hết cũng đòi hỏi phải hiểu được “chúng ta thực sự muốn nói gì bằng thuật ngữ ‘Hữu thể’ này’’.

Do đó, câu hỏi về Hữu thể nhằm mục đích xác định các điều kiện tiên nghiệm không chỉ cho khả tính của các ngành khoa học xác định các hiện hữu như là những hiện hữu thuộc loại này hay loại khác, và khi làm như vậy, đã vận hành cách lý giải về Hữu thể, cũng như cho khả tính của chính những bản thể luận đó, vốn có trước các ngành khoa học ontic thực hữu và cung cấp nền tảng cho chúng. Về cơ bản, toàn bộ bản thể luận, cho dù sở hữu một hệ thống các phạm trù phong phú và vững chắc đến đâu, vẫn mù quáng và lệch lạc khỏi mục đích tối thượng của nó, nếu trước tiên nó không minh định được đầy đủ ý nghĩa của Hữu thể, và coi việc minh định này là nhiệm vụ cơ bản của mình. Chính việc nghiên cứu bản thể luận, nếu hiểu đúng sẽ mang lại cho câu hỏi về Hữu thể một ưu quyền bản thể luận vượt ra ngoài sự tiếp nối đơn thuần của một truyền thống khả kính và tiên tiến với một vấn đề cho đến nay vẫn còn mơ hồ. Nhưng cái ưu quyền khoa học khách quan này lại không phải là duy nhất.

4. Ưu quyền Bản thể luận của Câu hỏi về Hữu thể

Khoa học nói chung có thể được định nghĩa là toàn thể được thiết lập thông qua sự liên kết của các mệnh đề chân.4 Định nghĩa này không đầy đủ, cũng không đạt đến ý nghĩa của khoa học. Là những cách thức mà con người hành xử, khoa học có cách thức của Hữu thể mà hiện hữu tự thân con người này - sở hữu. Chúng tôi biểu thị hiện hữu ấy bằng thuật ngữ ‘Dasein’. Nghiên cứu khoa học không phải là cách thức duy nhất của Hữu thể mà hiện hữu này có thể có, cũng không phải là cách thức gần gũi nhất. Hơn nữa, bản thân Dasein có một đặc điểm riêng biệt so với các hiện hữu khác, và cái đáng để chúng ta xem xét một cách sơ bộ chính là điều này. Ở đây, cuộc thảo luận của chúng ta phải dự đoán các phân tích về bản thân Dasein, trong đó, lần đầu tiên, các kết quả của chúng ta sẽ được trình bày một cách xác thực.

[Ghi chú: dù đoạn trên dịch từ bản Tiếng Anh, nhưng Người đọc muốn trình ra đây đoạn nguyên bản tr.11-12 để lưu ý Bạn đọc hãy so sánh chỉ một điều nhỏ thôi, đó là trường hợp các từ Seiende/ Seienden của bản tiếng Đức được dịch ra tiếng Anh là entity/entities. Đối với Người đọc, vì đã chót quen với cặp Sein/ Seiende là Being/being Hữu thể/hiện hữu nên trong suốt quá trình đọc của mình ở bản tiếng Anh, tôi không thay đổi Being/being bằng Being/entity/entities: Hữu thể/thực thể - dù biết rõ như bất kỳ ai đã ít nhiều theo học tiếng Latin rằng entity xuất hiện lần đầu vào cuối thế kỷ 16 có gốc từ tiếng Latinh entitas có nghĩa là ‘tồn tại’ hoặc ‘hiện hữu’; đến lượt mình entitas được hình thành từ ens có dạng sở hữu cách entis, là một phân từ hiện tại được tạo ra từ động từ Latin esse, có nghĩa là ‘là’ hoặc ‘tồn tại’; hơn nữa, hậu tố ‘-ity’ xuất phát từ ‘-itatem’, với nghĩa ‘chất, tính chất, hoặc trạng thái của’; vậy là theo nghĩa đen, ‘entity’ là ‘một thứ hiện hữu/tồn tại’; các nhà triết học xưa đã đặt ra thuật ngữ này để thiết lập sự phân biệt giữa ‘esse’ - tồn tại thực tế - và ‘ens’ - tồn tại trừu tượng như một khái niệm rồi chuyển từ khái niệm trừu tượng về ‘tồn tại’ thành một đơn vị riêng biệt. Wissenschaft überhaupt kann als das Ganze eines Begründungszusammenhanges wahrer Sätze bestimmt werden. Diese Definition ist weder vollständig, noch trifft sie die Wissenschaft in ihrem Sinn. Wissenschaften haben als Verhaltungen des Menschen die Seinsart dieses Seienden (Mensch). Dieses Seiende fassen wir terminologisch als Dasein. Wissenschaftliche Forschung ist nicht die einzige und nicht die nächste mögliche Seinsart dieses Seienden. Das Dasein selbst ist überdies vor anderem Seienden ausgezeichnet. Diese Auszeichnung gilt es vorläufig sichtbar zu machen. Hierbei muß die Erörterung den nachkommenden und erst eigentlich aufweisenden Analysen vorgreifen. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.11-12. HHN)]

Dasein là một hiện hữu không chỉ xuất hiện giữa các hiện hữu khác. Thay vào đó, nó được phân biệt về phương diện ontic thực hữu luận bởi thực tế là, trong chính Hữu thể của nó, thứ Hữu thể là một vấn đề đối với nó. Nhưng trong trường hợp đó, đây lại là một trạng thái cấu thành Hữu thể của Dasein, và điều này ngụ ý rằng Dasein, trong Hữu thể của nó, có một mối quan hệ đối với Hữu thể đó - một mối quan hệ mà bản thân nó là một mối quan hệ của Hữu thể.5 Và điều này có nghĩa là có một cách nào đó mà Dasein hiểu chính nó trong Hữu thể của nó, và ở một mức độ nào đó, nó làm như vậy một cách rõ ràng. Đặc điểm riêng của hiện hữu này là vớithông qua Hữu thể của nó, Hữu thể đó được tiết lộ cho nó. Sự hiểu biết về Hữu thể tự nó là một đặc điểm nhất định của Hữu thể của Dasein. Dasein mang tính đặc thù ontic thực hữu luận ở chỗ nó mang tính bản thể luận.6 Ở đây, ‘Hữu thể-bản thể luận” chưa đồng nghĩa với việc ‘phát triển một bản thể học’. Vì vậy, nếu chúng ta dành thuật ngữ ‘bản thể luận’ cho việc khảo sát lý thuyết được dành riêng cho ý nghĩa của các hiện hữu, thì điều chúng ta đã nghĩ đến khi nói về ‘Hữu-thế-bản thể luận’ của Dasein cần được chỉ định là một cái gì đó ‘tiền-bản thể luận’. Tuy nhiên, nó không chỉ đơn giản có nghĩa là ‘hiện hữu-thực hữu’, mà đúng hơn là ‘hiện hữu theo cách mà người ta có sự hiểu biết về Hữu thể’.

Loại Hữu thể mà Dasein có thể hướng tới theo cách này hay cách khác, và luôn luôn hướng tới theo một cách nào đó, chúng ta gọi là Existenz ‘tồn tại’. Và bởi vì chúng ta không thể định nghĩa bản chất của Dasein bằng cách trích dẫn một ‘cái gì’ thuộc loại liên quan đến chủ thể, và bởi vì bản chất của nó nằm ở chỗ trong mỗi trường hợp nó [tr.33] đều có Hữu thể của nó để tồn tại, và coi nó là của riêng mình,7  chúng ta đã chọn đặt tên cho thực thể này là ‘Dasein’, một thuật ngữ hoàn toàn là biểu hiện của Hữu thể của nó. [Nguyên bản: Das Sein selbst, zu dem das Dasein sich so oder so verhalten kann und immer irgendwie verhält, nennen wir Existenz. Und weil die Wesensbestimmung dieses Seienden nicht durch Angabe eines sachhaltigen Was vollzogen werden kann, sein Wesen vielmehr darin liegt, daß es je sein Sein als seiniges zu sein hat, ist der Titel Dasein als reiner Seinsausdruck zur Bezeichnung dieses Seienden gewählt – Hữu thể tự thân, mà Dasein liên hệ theo cách này hay cách khác và luôn luôn liên hệ theo một cách nào đó, chúng ta gọi là Existenz tồn tại. Và bởi vì việc xác định thiết yếu hiện hữu này không thể hoàn thành bằng cách chỉ định một ‘cái gì’ thực tế, mà bản chất của nó nằm ở chỗ luôn phải là Hữu thể của chính nó, nên danh xưng Dasein, như một biểu hiện thuần túy của Hữu thể, đã được chọn để chỉ định hiện hữu này. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.12. - HHN)].

Dasein luôn hiểu chính nó theo khuôn khổ sự tồn tại của nó - theo khuôn khổ khả tính của chính nó: là chính nó hay không là chính nó. Dasein hoặc đã tự thân chọn những khả tính này, hoặc đã đạt được chúng, hoặc đã trưởng thành trong chúng. Chỉ có Dasein cụ thể mới quyết định sự tồn tại của nó, cho dù nó làm như vậy bằng cách nắm bắt hay bằng cách bỏ mặc. Câu hỏi về sự tồn tại không bao giờ được làm rõ ngoại trừ thông qua chính tự thân tồn tại. “Das hierbei führende Verständnis seiner selbst nennen wir das existenzielle.” Sự hiểu biết về bản thân dẫn dắt theo con đường này được chúng ta gọi là hiểu biết ‘hiện sinh’.8  [Cần ghi chú nhỏ về cái gọi là ‘hiểu biết hiện sinh’ của Heidegger: Trong triết học của Martin Heidegger, ‘Existenzial’ đề cập đến các đặc điểm cấu trúc, phổ quát của Dasein hiện hữu người, trái ngược với ‘existenziell’, biểu thị những lựa chọn riêng tư, cụ thể của một cá nhân. Do đó, existenziales Verständnis hiểu biết hiện sinh có nghĩa là hiểu được những cách thức cấu trúc, cơ bản mà con người hiện hữu và liên hệ với thế giới. Để phân tích sâu hơn, Heidegger chia hiểu biết của con người thành hai lĩnh vực chính trong tác phẩm kinh điển ‘Hữu thể và Thời gian’ của ông: i) Hiểu biết hiện sinh về phương diện Bản thể luận, đó là hiểu biết lý thuyết hoặc triết học về các cấu trúc phổ quát tạo nên bất kỳ cuộc sống nào của con người, ví dụ: cái chết, tâm trạng xao xuyến, hiện-hữu-trong-thế-giới, v.v…tất cả đều đặt câu hỏi về ý nghĩa của việc làm người. Về phương diện này, Heidegger đã sử dụng thuật ngữ existenzial ‘hiện sinh’ để mô tả phân tích triết học nghiêm ngặt của ông về bản chất cấu trúc của Dasein; ii) Hiểu biết hiện sinh về phương diện ontic thực hữu là sự hiểu biết cụ thể, trải nghiệm mà một cá nhân có được về cuộc sống và những lựa chọn cụ thể của chính họ; nó đặt ra câu hỏi: Tôi là ai và tôi chọn cuộc sống như thế nào; chẳng hạn trong khi Mortalität ‘Khả tử tính’ là một cấu trúc hiện sinh - phổ quát - áp dụng cho tất cả con người, thì sự chấp nhận cái chết của chính bạn, về mặt cá nhân, cảm xúc hoặc thực tiễn, lại Existenzielle mang tính hiện sinh. Hai phương diện đó có mối liên hệ với nhau, Heidegger cho rằng ta không thể có cái này mà thiếu cái kia; cuộc sống thực tiễn hàng ngày mang tính hiện sinh của chúng ta giả định rằng chúng ta đã có một sự hiểu biết mơ hồ, tiềm ẩn hoặc tiền lý thuyết về các cấu trúc vĩ đại của sự tồn tại người - existentiell hiện sinh. - HHN] Câu hỏi về tồn tại là một trong những ‘vấn đề’ ontic thực hữu của Dasein. Điều này không đòi hỏi cái cấu trúc bản thể luận của sự tồn tại phải minh bạch về mặt lý thuyết. Câu hỏi về cấu trúc đó nhằm mục đích Auseinanderlegung phân tích những gì cấu thành nên sự tồn tại. Bối cảnh của những cấu trúc như vậy được chúng ta gọi là ‘tính hiện sinh’. Tính phân tích của nó mang đặc trưng của một sự hiểu biết không phải là existentiell hiện sinh, mà đúng hơn là existential mang tính tồn tại. Nhiệm vụ của một phân tích tồn tại về Dasein đã được vạch ra trước, cả về khả tính và tất yếu tính của nó, trong cấu thành ontic thực hữu luận của Dasein.

Chừng nào tồn tại còn là đặc tính quyết định của Dasein, thì việc phân tích bản thể luận của hiện hữu này luôn đòi hỏi phải xem xét tồn tại tính trước. Bằng ‘tồn tại tính’, chúng ta hiểu là trạng thái của Hữu thể, thứ cấu thành nên những hiện hữu tồn tại. Nhưng trong ý niệm về trạng thái cấu thành của Hữu thể như vậy, thì ý niệm về Hữu thể cũng đã được bao hàm. Và do đó, ngay cả khả tính thực hiện cái có tính phân tích về Dasein cũng phụ thuộc vào việc giải quyết trước câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. [Ghi chú nguyên văn: Sofern nun aber Existenz das Dasein bestimmt, bedarf die ontologische Analytik dieses Seienden je schon immer einer vorgängigen Hinblicknahme auf Existenzialität. Diese verstehen wir aber als Seinsverfassung des Seienden, das existiert. In der Idee einer solchen Seinsverfassung liegt aber schon die Idee von Sein. Und so hängt auch die Möglichkeit einer Durchführung der Analytik des Daseins an der vorgängigen Ausarbeitung der Frage nach dem Sinn von Sein überhaupt. Tuy nhiên, nếu sự tồn tại quyết định Dasein, thì việc phân tích bản thể học của hiện hữu này luôn đòi hỏi phải xem xét trước về tồn tại tính. Chúng ta hiểu điều này như là trạng thái Hữu thể của cái hiện hữu tồn tại. Nhưng ý niệm về một trạng thái Hữu thể như vậy cũng đã bao hàm ý niệm về tự thân Hữu thể đó. Vì vậy, khả tính thực hiện phân tích Dasein cũng phụ thuộc vào việc làm rõ trước câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.13. - HHN)]. Khoa học là những cách thức của Hữu thể mà trong đó tự thân Dasein hành xử đối với các hiện hữu mà bản thân nó không nhất thiết phải tự thân là loại hiện hữu đó. Nhưng Hữu thể trong một thế giới là một cái gì đó tự bản chất lại thuộc về Dasein. Do đó, hiểu biết của Dasein về Hữu thể liên quan đến cả hiểu biết về một cái gì đó giống như một ‘thế giới’, và hiểu biết về Hữu thể của những hiện hữu nào trở nên có thể tiếp cận được trong thế giới đó.9 Vì vậy, bất cứ khi nào một bản thể học lấy các hiện hữu có đặc tính Hữu thể khác với Dasein làm đối tượng của nó, thì nó có nền tảng và động lực riêng trong cấu trúc ontic thực hữu của chính Dasein, trong đó hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể được bao gồm như một đặc điểm xác định.

[Tr.34] Do đó, bản thể học cơ bản, mà duy nhất từ đó tất cả các bản thể học khác có thể nảy sinh, phải được tìm kiếm trong phân tích tồn tại của Dasein. Theo đó, Dasein có ưu quyền hơn tất cả các hiện hữu khác theo nhiều cách. Ưu quyền đầu tiên là ưu quyền mang tính ontic thực hữu luận: Dasein là một hiện hữu mà Hữu thể của nó mang đặc tính xác định của sự tồn tại. Ưu quyền thứ hai là ưu quyền về bản thể luận: Dasein tự nó có tính ‘bản thể luận’, do đó tồn tại mang tính quyết định đối với nó. Nhưng với gleichursprünglich nguyên tính ngang nhau, Dasein cũng sở hữu - như một yếu tố cấu thành cho sự hiểu biết về sự tồn tại của nó - một sự hiểu biết về Hữu thể của tất cả các hiện hữu có đặc tính khác với chính nó. Do đó, Dasein có ưu quyền thứ ba là cung cấp điều kiện ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận cho khả tính của bất kỳ bản thể học nào. Như vậy, hơn bất kỳ hiện hữu nào khác, Dasein đã trở thành hiện hữu đầu tiên phải được xem xét về mặt bản thể luận. Nhưng nguồn gốc phân tích hiện sinh, về phần mình, cuối cùng là hiện sinh, tức là bản thể luận. Chỉ khi nào việc nghiên cứu triết học được nắm bắt hiện sinh như một khả tính về Hữu thể của mỗi Dasein đang tồn tại, thì mới có thể làm sáng tỏ tính hiện sinh của tồn tại và tiến hành một vấn đề bản thể học được đặt nền tảng đầy đủ. Nhưng với điều này, ưu quyền ontisch thực hữu luận của vấn đề hiện hữu cũng trở nên rõ ràng.

Cái ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận của Dasein đã được nhận thấy khá sớm, mặc dù bản thân Dasein chưa được nắm bắt trong cấu trúc bản thể luận đích thực của nó, và thậm chí chưa trở thành một vấn đề mà trong đó cấu trúc này được tìm kiếm. Aristotle nói: ἡ ψυχὴ τὰ ὄντα πώς ἐστι vi (hē psychē ta onta pōs esti) ‘Linh hồn con người, theo một cách nào đó, là các hiện hữu.’ (tri giác, cảm giác, hoặc sự phân biệt - HHN) và νόησις (trí tuệ, sự thông minh, hoặc việc vận dụng lý trí) trong số các cách thức của Hữu thể của nó, và trong những điều này nó khám phá ra tất cả các hiện hữu, cả trong thực tế mà chúng tồn tại, và trong Hữu thể của chúng như chúng vốn có - nghĩa là, luôn luôn trong Hữu thể của chúng. Nguyên tắc của Aristotle, vốn quay trở lại luận đề bản thể luận của Parmenides, là một nguyên tắc mà Thomas Aquinas đã đề cập trong một cuộc thảo luận rất đặc trưng. Thomas đang thực hiện nhiệm vụ tìm ra cái ‘transcendentia’ siêu việt – những đặc tính của Hữu thể nằm ngoài mọi cách thức khả thể trong đó một hiện hữu có thể được phân loại như là loại chủ đề chung nào đó (modus specialis entis phương thức tồn tại đặc thù), và nó nhất thiết phải thuộc về bất cứ thứ gì, bất kể nó có thể là gì. Thomas phải chứng minh rằng cái verum đích thực là một siêu việt như vậy. Ông làm điều này bằng cách viện dẫn một hiện hữu mà, phù hợp với chính cách thức của Hữu thể của nó, thì thích hợp để ‘kết hợp với’ các hiện hữu thuộc bất kỳ loại nào. Hiện hữu đặc biệt này, ens quod natum est convenire cum omni ente "Một hiện hữu được sinh ra để dung hợp với mọi hiện hữu khác", đó chính là anima linh hồn.v11

Ở đây, ưu quyền của ‘Dasein’ so với tất cả các hiện hữu khác nổi lên, mặc dù nó chưa được minh định về mặt bản thể học. Ưu quyền này rõ ràng không có điểm chung nào với việc chủ thể hóa một cách trầm trọng toàn bộ các hiện hữu. Bằng cách chỉ ra cái ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận của Dasein theo cách tạm thời này [tr.35], chúng ta đã đặt nền tảng cho việc chứng minh rằng câu hỏi về Hữu thể mang tính đặc thù ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận. Nhưng khi phân tích cấu trúc của câu hỏi này theo đúng nghĩa (Mục 2), chúng ta đã vấp phải một cách thức đặc biệt mà thực thể này hoạt động trong chính việc đặt ra câu hỏi đó. Vậy là Dasein đã tự bộc lộ là thứ hiện hữu cần được xử lý trước tiên theo cách thức bản thể luận phù hợp, nếu muốn việc khảo sát trở nên minh bạch. Nhưng giờ đây, người ta đã chỉ ra rằng lối phân tích mang tính bản thể luận về Dasein nói chung là cái tạo nên bản thể luận cơ bản, sao cho Dasein hoạt động với tư cách hiện hữu mà về nguyên tắc cần phải được chất vấn trước về Hữu thể của nó. Nếu Diễn giải ý nghĩa Hữu thể trở thành nhiệm vụ của chúng ta, thì Dasein không chỉ là hiện hữu chính yếu cần chất vấn, mà đó cũng là thứ hiện hữu đã tự hành xử, trong Hữu thể của nó, hướng đến cái mà chúng ta đang hỏi đến khi đặt câu hỏi này. Nhưng trong trường hợp đó, câu hỏi về Hữu thể không gì khác lối cấp tiến hóa của một xu-hướng-của-Hữu-thể thiết yếu thuộc về chính Dasein - hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể.      

II. NHIỆM VỤ KÉP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÂU HỎI VỀ HỮU THỂ. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CỦA CHÚNG TÔI

5. Bản thể luận của Dasein - Chân trời Diễn giải Ý nghĩa Hữu thể

Trong việc xác định các nhiệm vụ ‘tạo dựng’ vấn đề Hữu thể, chúng ta đã chỉ ra việc cần phải xác định hiện hữu nào sẽ đóng vai trò là đối tượng chất vấn chính của mình, mà còn ấn định rõ cách tiếp cận đúng đắn đối với hiện hữu này là loại hiện hữu mà chúng ta phải xác định rõ ràng và giữ vững. Chúng ta đã thảo luận về hiện hữu nào đảm nhận vai trò chính trong vấn đề Hữu thể. Nhưng làm thế nào để chúng ta hướng tầm nhìn của mình đến loại hiện hữu này, Dasein, vừa là thứ có thể tiếp cận được với chúng ta, lại vừa là thứ cần được hiểu và diễn giải? Trong việc chứng minh rằng Dasein có ưu quyền về mặt ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận, chúng ta có thể đã khiến người đọc hiểu nhầm rằng loại hiện hữu này cũng phải là cái được coi là ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận chủ yếu không chỉ theo nghĩa nó có thể tự thân được nắm bắt ‘ngay lập tức’, mà còn ở chỗ loại Hữu thể mà nó sở hữu cũng hệt như vậy, phải được trình bày ‘ngay lập tức’. Về mặt thực hữu luận, dĩ nhiên, Dasein không chỉ gần gũi với chúng ta - thậm chí là cái gần gũi nhất: chúng ta chính là nó, mỗi người trong chúng ta, chính bản thân chúng ta. Mặc dù vậy, hay đúng hơn là chính vì lý do này, nó lại là cái xa nhất về mặt bản thể luận. Chắc chắn, cái Hữu thể tối thượng của nó là như vậy, nó có sự hiểu biết về Hữu thể đó, và đã tự duy trì trong mỗi trường hợp hệt như cái Hữu thể của nó đã được diễn giải theo một cách nào đó. Nhưng chúng tôi chắc chắn không nói rằng khi Hữu thể của Dasein được diễn giải theo cách gần gũi nhất về phương diện tiền-bản thể luận, thì cách diễn giải này có thể được coi là một manh mối thích hợp, như thể cách hiểu này về Hữu thể là cái phải xuất hiện khi trạng thái Hữu thể tối thượng của một kẻ được xem xét10 như một chủ đề bản thể luận. Loại Hữu thể thuộc về Dasein, khi hiểu Hữu thể của chính nó, có xu hướng làm như vậy theo khuôn khổ của cái mà nó hướng tới một cách gần gũi và theo cách về cơ bản là không đổi - theo khuôn khổ của ‘thế giới’. Trong tự thân Dasein, và trong hiểu biết của chính nó về Hữu thể, cách thức mà thế giới được hiểu [tr.37], như chúng ta sẽ thấy, được phản ánh lại về mặt bản thể luận lên cái cách thức mà tự thân Dasein được diễn giải.

Vậy là bởi vì Dasein là ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận, nên trạng thái của Hữu thể đặc thù của chính nó (nếu ta hiểu điều này theo nghĩa ‘cấu trúc phạm trù’ của Dasein) vẫn bị che giấu khỏi nó. Dasein về mặt thực hữu luận là ‘gần gũi’ nhất với chính nó và về mặt bản thể luận là xa cách nhất; nhưng về mặt tiền-bản thể luận, nó chắc chắn không phải là một hiện hữu xa lạ. Ở đây, chúng ta chỉ tạm thời chỉ ra rằng một sự Diễn giải về hiện hữu này phải đối mặt với những khó khăn đặc thù bắt nguồn từ loại Hữu thể thuộc về đối tượng được chọn làm chủ đề của chúng ta và từ chính hành vi của việc lựa chọn nó. Những khó khăn này không bắt nguồn từ bất kỳ thiếu sót nào của năng lực nhận thức mà chúng ta được ban tặng, hoặc từ việc thiếu một cách thức phù hợp để hình dung - một thiếu sót dường như không khó để khắc phục. Tuy nhiên, không chỉ sự hiểu biết về Hữu thể thuộc về Dasein; mà sự hiểu biết này còn phát triển hoặc suy giảm cùng với bất kỳ loại Hữu thể nào mà Dasein có thể sở hữu vào thời điểm ấy; do đó, có nhiều cách diễn giải khác nhau về Dasein, và tất cả đều nằm trong tầm kiểm soát của Dasein.

Các cách thức hành xử, năng lực, quyền năng, khả tính và sự thăng trầm của Dasein đã được nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau trong tâm lý học triết học, nhân học, đạo đức học và khoa học chính trị, trong thơ ca, tiểu sử và việc viết lịch sử, mỗi lĩnh vực theo một cách riêng. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu những diễn giải ấy về Dasein có được thực hiện với một tồn tại tính nguyên thủy tương đương với bất kỳ tính nguyên thủy hiện sinh nào mà chúng có thể sở hữu hay không. Cả hai điều này không loại trừ lẫn nhau nhưng chúng không nhất thiết phải đi cùng nhau. Diễn giải hiện sinh có thể đòi hỏi một phân tích tồn tại, nếu thực sự chúng ta coi nhận thức triết học là điều gì đó khả thể và cần thiết. Chỉ khi các cấu trúc cơ bản của Dasein được làm rõ một cách đầy đủ với định hướng rõ ràng hướng tới vấn đề Hữu thể tự thân, thì những gì chúng ta đã đạt được cho đến nay trong việc diễn giải Dasein mới có được sự biện minh mang tính tồn tại của nó. Do đó, một tính chất phân tích về Dasein vẫn phải là yêu cầu đầu tiên của chúng ta trong vấn đề Hữu thể. Nhưng trong trường hợp đó, vấn đề đạt được và đảm bảo loại hình tiếp cận dẫn đến Dasein càng trở nên cấp thiết hơn. Nói một cách phủ định, chúng ta không có quyền viện đến những cấu trúc giáo điều và áp dụng bất kỳ ý niệm nào về Hữu thể và hiện thực tính cho hiện hữu này, cho dù ý niệm đó có ‘hiển nhiên’ đến đâu; cũng không thể áp đặt bất kỳ ‘phạm trù’ nào mà một ý niệm như vậy ấn định lên Dasein mà không có sự xem xét bản thể luận thích đáng. Thay vào đó, phải chọn một cách tiếp cận và diễn giải sao cho hiện hữu này có thể an ihm selbst von ihm selbst her tự thể hiện chính nó và trong tự thân nó. Và điều này có nghĩa là nó phải được thể hiện như nó vốn có và phần lớn [tr.38] trong cuộc sống thường nhật bình thường của nó.11

Trong tính chất thường nhật này, có một số cấu trúc nhất định mà chúng ta sẽ trình bày - không chỉ là những cấu trúc ngẫu nhiên, mà là những cấu trúc thiết yếu, trong mọi loại Hữu thể mà Dasein thực tế có thể sở hữu, vẫn tồn tại như là yếu tố quyết định đến bản chất của Hữu thể đó. Do đó, bằng cách xem xét trạng thái cơ bản của tính chất thường nhật của Dasein, chúng ta sẽ làm nổi bật Hữu thể của hiện hữu này bằng bước chuẩn bị. Khi được xem xét theo cách này, phân tích về Dasein vẫn hoàn toàn hướng tới nhiệm vụ dẫn dắt là giải quyết câu hỏi về Hữu thể. Do đó giới hạn của nó được xác định. Không thể cố cung cấp một bản thể luận hoàn chỉnh về Dasein, điều chắc chắn phải được xây dựng nếu bất cứ điều gì giống như một nhân học ‘triết học’ muốn có một cơ sở triết học đầy đủ.12 Nếu mục đích của chúng ta là làm cho một nhân học như vậy trở nên khả thể, hoặc đặt nền tảng bản thể luận của nó, thì Diễn giải của chúng ta sẽ chỉ cung cấp một số ‘mảnh ghép’, mặc dù chúng không phải là những mảnh ghép không thiết yếu. Tuy nhiên, phân tích về Dasein không chỉ không đầy đủ; mà trước hết, còn mang tính tạm thời. Nó chỉ đơn thuần làm nổi bật Hữu thể của hiện hữu này, mà không diễn giải ý nghĩa của nó, hệt như một quy trình chuẩn bị để làm sáng tỏ chân trời cho cách diễn giải Hữu thể nguyên thủy nhất. Một khi chúng ta đã đạt đến chân trời đó, thì bước phân tích chuẩn bị này về Dasein sẽ phải được lặp lại trên một cơ sở cao hơn và mang tính bản thể học đích thực.

[Ghi chú chút nguyên bản để so sánh: Die so gefaßte Analytik des Daseins bleibt ganz auf die leitende Aufgabe der Ausarbeitung der Seinsfrage orientiert. Dadurch bestimmen sich ihre Grenzen. Sie kann nicht eine vollständige Ontologie des Daseins geben wollen, die freilich ausgebaut sein muß, soll so etwas wie eine »philosophische« Anthropologie auf einer philosophisch zureichenden Basis stehen. In der Absicht auf eine mögliche Anthropologie, bzw. deren ontologische Fundamentierung, gibt die folgende Interpretation nur einige, wenngleich nicht unwesentliche »Stücke«. Die Analyse des Daseins ist aber nicht nur unvollständig, sondern zunächst auch vorläufig. Sie hebt nur erst das Sein dieses Seienden heraus ohne Interpretation seines Sinnes. Die Freilegung des Horizontes für die ursprünglichste Seinsauslegung soll sie vielmehr vorbereiten. Ist dieser erst gewonnen, dann verlangt die vorbereitende Analytik des Daseins ihre Wiederholung auf der höheren und eigentlichen ontologischen Basis. Phiên bừa: Phân tích về Dasein, như được hình dung ở đây, vẫn hoàn toàn tập trung vào nhiệm vụ hướng dẫn để làm rõ câu hỏi về Hữu thể. Điều này xác định giới hạn của nó. Nó không thể nhằm mục đích cung cấp một bản thể luận hoàn chỉnh về Dasein, vốn đương nhiên phải được phát triển nếu một cái gì đó giống như nhân học ‘triết học’ muốn đứng vững trên một nền tảng triết học đầy đủ. Với ý hướng về một nhân học khả thể, hay đúng hơn là nền tảng bản thể luận của nó, cách diễn giải sau đây chỉ đưa ra một vài ‘mảnh ghép’, mặc dù không phải là không mấy ý nghĩa. Ngay từ khởi đầu phân tích về Dasein không chỉ chưa hoàn chỉnh mà còn mang tính tạm thời. Nó chỉ làm sáng tỏ cái Hữu thể của hiện hữu này mà không diễn giải ý nghĩa của nó. Thay vào đó, nó nhằm mục đích chuẩn bị nền tảng cho cách diễn giải độc đáo nhất về Hữu thể. Một khi nền tảng này đã được thiết lập, thì vorbereitende Analytik bước phân tích chuẩn bị về Dasein đòi hỏi sự lặp lại của nó trên cơ sở bản thể luận cao hơn và chân thực. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.17. - HHN)] Chúng ta sẽ chỉ ra thời tính thời13 như là ý nghĩa Hữu thể của thứ hiện hữu gọi là ‘Dasein’. Nếu điều này được chứng minh, thì những cấu trúc của Dasein mà chúng ta sẽ tạm thời trình bày phải được diễn giải lại như là các phương thức của thời tính. Tuy nhiên, khi diễn giải Dasein với tư cách thời tính, chúng ta sẽ không đưa ra lời đáp cho câu hỏi chính của mình về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Nhưng sẽ có sự chuẩn bị nền tảng để có được câu trả lời như vậy.

[Tr.39] Chúng ta đã ám chỉ rằng Dasein có một Hữu thể tiền-bản thể luận với tư cách là trạng thái cấu thành Hữu thể của nó về phương diện thực hữu. Theo cách nào đó Dasein phải là thứ hiểu được thứ gì đó giống như Hữu thể.14 Giữ vững mối liên hệ này trong tâm trí, chúng ta sẽ chỉ ra rằng bất cứ khi nào Dasein ngầm hiểu và diễn giải thứ gì đó giống như Hữu thể, thì nó đều làm như vậy với thời gian với tư cách là quan điểm của mình. Thời gian phải được làm sáng tỏ - và được hình dung một cách chân thực - như là chân trời cho mọi hiểu biết về Hữu thể và cho bất kỳ cách diễn giải nào về nó. Để chúng ta nhận ra điều này, thời gian cần được giải thích một cách cơ bản như là chân trời cho sự hiểu biết về Hữu thể, và trong khuôn khổ thời tính với tư cách là Hữu thể của Dasein, vốn hiểu rõ Hữu thể. Do đó toàn bộ nhiệm vụ này đòi hỏi rằng quan niệm có được về thời gian phải phân biệt với cách hiểu thông thường về nó. Cách hiểu thông thường này đã trở nên rõ ràng bằng một cách diễn giải được hình thành trong khái niệm truyền thống về thời gian, vốn đã tồn tại từ Aristotle đến Bergson và thậm chí cả sau này. Ở đây chúng ta phải làm rõ quan niệm ấy về thời gian, và nói chung, cách hiểu thông thường về nó, đã bắt nguồn từ thời tính, và phải chỉ rõ điều đó đã diễn ra như thế nào. Như vậy, chúng ta sẽ khôi phục lại cho quan niệm thông thường tính tự chủ vốn có của nó, trái ngược với luận điểm của Bergson cho rằng thời gian mà người ta đề cập trong quan niệm này chính là không gian.

‘Thời gian’ từ lâu đã đóng vai trò là một tiêu chí bản thể luận - hay đúng hơn là tiêu chí ontic thực hữu - để phân biệt một cách ngây thơ các lĩnh vực khác nhau của các hiện hữu. Người ta đã phân biệt giữa các thực thể ‘thời gian’ (các quá trình tự nhiên, các sự kiện lịch sử) và các thực thể ‘phi thời gian’ (các mối quan hệ không gian và số học). Chúng ta quen với việc đối lập ý nghĩa ‘phi thời gian’ của các mệnh đề với quá trình theo ‘thời gian’ của các khẳng định mệnh đề. Người ta cũng cho rằng có một ‘sự phân tách’ giữa các thực thể mang tính ‘thời gian’ và cái vĩnh hằng ‘siêu thời gian’, và người ta đang nỗ lực để thu hẹp khoảng cách này. Ở đây, tính chất ‘thời gian’ luôn có nghĩa đơn giản là seiend ‘hiện hữu trong thời gian’ - một ấn định phải thừa nhận là vẫn còn khá mơ hồ. Cái Thực tế vẫn là thời gian, theo nghĩa ‘tồn tại trong thời gian’, đóng vai trò là một tiêu chí để phân biệt các lĩnh vực Hữu thể. Cho đến nay, chưa ai yêu cầu hoặc bận tâm khảo sát cái cách thức làm thế nào mà thời gian lại có được chức năng bản thể luận đặc biệt này, hay bất cứ thứ gì giống như thời gian lại vận hành theo đúng nghĩa một tiêu chí; cũng chưa ai đặt câu hỏi liệu mối liên quan bản thể luận đích thực mà nó có thể mang lại có được thể hiện khi ‘thời gian’ được sử dụng theo cách thức bản thể luận ngây thơ như vậy hay không. ‘Thời gian’ đã tự mình có được chức năng bản thể luận ‘hiển nhiên’ này, có thể nói như vậy; thực tế là nó đã làm được điều đó bên trong cái chân trời của cách thức hiểu biết thông thường về nó. Và nó đã tự duy trì chức năng này cho đến ngày nay.

[Tr.40] Trái ngược với tất cả những điều này, cách chúng ta xử lý vấn đề ý nghĩa của Hữu thể phải cho phép chúng ta chứng minh rằng vấn đề trung tâm của toàn bộ bản thể luận bắt nguồn từ hiện tượng thời gian, nếu được nhìn nhận và giải thích đúng đắn, và chúng ta phải chỉ ra cái cách thức mà điều này là điển hình. Nếu Hữu thể được hình dung bằng khuôn khổ thời gian, và nếu quả thực, các phương thức và dẫn xuất khác nhau của nó trở nên dễ hiểu trong các biến thể và dẫn xuất tương ứng của chúng bằng cách xem xét thời gian, thì chính Hữu thể (và không chỉ là các hiện hữu, chẳng hạn như các hiện hữu ‘trong thời gian’) do đó được hiển thị trong đặc trưng mang tính ‘thời gian’ của nó. Nhưng trong trường hợp đó, ‘tính thời gian’ không còn có thể chỉ đơn giản có nghĩa là ‘hiện hữu trong thời gian’. Ngay cả ‘phi-thời gian’ và ‘siêu-thời gian’ cũng mang tính ‘thời gian’ đối với Hữu thể của chúng, và không chỉ là phủ định bằng cách tương phản với một cái gì đó mang tính ‘thời gian’ như một hiện hữu ‘trong thời gian’, mà còn theo nghĩa khẳng định, mặc dù đó là điều mà trước tiên chúng ta phải giải thích.

Trong cả cách sử dụng tiền-triết học và triết học, cách thể hiện ‘tính chất thời gian’ đã bị chiếm đoạt bởi ý nghĩa mà chúng ta đã trích dẫn; tuy nhiên, trong các nghiên cứu tiếp theo, chúng ta sẽ sử dụng nó cho một ý nghĩa khác. Như vậy, cái cách thức mà Hữu thể và các phương thức cũng như đặc điểm của nó được xác định ý nghĩa một cách nguyên thủy bằng khuôn khổ thời gian, là điều mà chúng ta sẽ gọi là tính xác định ‘Thời gian’ của nó.15 Do đó, nhiệm vụ bản thể luận cơ bản của việc Diễn giải Hữu thể theo đúng nghĩa bao gồm việc làm rõ Thời tính của Hữu thể. Trong phần trình bày về vấn đề Thời tính, câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể trước hết sẽ được trả lời một cách cụ thể. Bởi vì Hữu thể không thể được nắm bắt nếu không xem xét đến thời gian, nên câu trả lời cho câu hỏi về Hữu thể không thể nằm trong bất kỳ mệnh đề nào mù quáng và biệt lập. Câu trả lời không được hình thành đúng cách nếu những gì nó khẳng định về mặt mệnh đề chỉ được truyền đạt lại, đặc biệt nếu nó được lưu hành như một kết quả trôi nổi tự do, đến nỗi chúng ta chỉ được thông báo về một ‘quan điểm’ có thể khác với cái cách mà vấn đề này đã được xử lý từ trước đến nay. Việc câu trả lời có phải là một câu trả lời ‘mới’ hay không vẫn còn khá hời hợt và không mấy quan trọng. Tính khẳng định của nó phải ở chỗ nó đủ cổ xưa để có thể học cách hình dung những khả tính mà ‘Cổ nhân’ đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta. Theo nghĩa sâu xa nhất, câu trả lời này cho chúng ta biết rằng nghiên cứu bản thể luận cụ thể phải bắt đầu bằng một cuộc khảo sát nằm trong phạm vi mà chúng ta đã vạch ra; và đó là tất cả những gì nó cho chúng ta biết. Nếu vậy, lời đáp cho câu hỏi về Hữu thể phải cung cấp manh mối cho nghiên cứu của chúng ta, thì nó không thể đầy đủ cho đến khi mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc rằng loại Hữu thể cụ thể của bản thể luận cho đến nay, và những thăng trầm trong các cuộc khảo sát, các phát hiện và những thất bại của nó, đã nhất thiết phải có trong chính phẩm cách của Dasein.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 '….als durchsichtige Anweisungen des Fragens….'

2 ‘….sondem die Intepretation des eigentlich geschichtlich Seienden auf seine Geschichtlichkeit’. Chúng tôi sẽ dịch thuật ngữ thường gặp “Geschichtlichkeit” là “tính lịch sử”. Heidegger rất hiếm khi sử dụng thuật ngữ ‘Historizität’, như ở H. 20 dưới đây, và thuật ngữ này sẽ được dịch là ‘tính lịch sử’.

3 Trong khi các thuật ngữ ‘ontisch’ (‘ontical’) và ‘ontologisch’ (‘ontological’) không được xác định minh bạch, thì ý nghĩa của chúng lại nổi lên khá rõ ràng. Việc tìm hiểu bản thể luận chủ yếu liên quan đến Hữu thể; việc khảo sát ontisch thực hữu chủ yếu liên quan đến các thực thể và sự thật về chúng.

4 ‘….das Ganze eines Begründungszusammenhanges wahrer Sätze….’. Xem H. 357 bên dưới.

5 ‘Zu dieer Seinsverfassung des Daseins gehort aber dann, dass es in seinem Sein zu dieem Sein ein Seinsverhaltnis hat.’ Đoạn văn này mơ hồ và cũng có thể được đọc là: ‘….và điều này ngụ ý rằng Dasein, trong Hữu thể hướng tới Hữu thể này, có mối quan hệ với Hữu thể này.’

6 ‘….dass es ontologisch ist’. Vì ‘ontologisch’ có thể là tính từ hoặc trạng từ, nên chúng ta cũng có thể viết: ‘….rằng nó mang tính bản thể luận’. Một sự mơ hồ tương tự xảy ra trong hai câu sau, trong đó chúng ta đọc lần lượt là ‘Ontologisch-sein’ và ‘ontisch-seiend’.

7 ‘….class es je sein Sein als seiniges zu sein hat….’

8 Chúng ta sẽ dịch ‘existenziell’ thành ‘existentiell’, và ‘existenzial’ thành ‘existential’. Dường như không có lý do gì để dùng đến những từ ngữ mới phức tạp hơn do các tác giả khác đề xuất.

9 ‘….innerhalb der Welt….’ Heidegger sử dụng ít nhất ba cụm từ có thể được dịch là ‘trong thế giới’: ‘innerhalb derWelt’, ‘in der Welt’, và tính từ (hoặc trạng từ) ‘innerweltlich’. Chúng tôi dịch chúng tương ứng là ‘trong thế giới’, ‘trong thế giới’, và ‘trong-thế giới’ [‘within the world’, ‘in the world’, and ‘within-the-world’.]

10 ‘Besinnung’. Các ấn bản sớm nhất thay thế bằng ‘Bestimmung’.

11 ‘Und zwar soll sie das Seiende in dem zeigen, wie es zunächst und zumeist ist, in seiner durchschnittlichen Alltäglichkeit.’ Cụm từ ‘zunachst und zumeist’ là một cụm từ xuất hiện nhiều lần, mặc dù Heidegger không giải thích nó cho đến Phần 7 1 (H. 370 bên dưới), trong đó ‘Alltaglichkeit’ cũng xuất hiện giải thích. Về ‘zunachst’ xem ghi chú 1 của chúng tôi, tr. 25, H.6.

12 Sự mơ hồ của các tham chiếu đại từ trong câu này và câu trước nó phản ánh sự mơ hồ tương tự trong tiếng Đức. (Người đọc nói tiếng Anh nên lưu ý rằng loại ‘nhân học’ triết học mà Heidegger đề cập đến là một nghiên cứu về con người theo nghĩa rộng nhất, và không nên nhầm lẫn với các khoa học thực nghiệm của nhân học ‘vật chất’ và ‘văn hóa’.)

13 ‘Zeitlichkeit’. ‘Mặc dù rất hấp dẫn khi dịch tính từ ‘zeitlich’ và danh từ ‘Zeitlichkeit’ bằng các từ đồng nghĩa tiếng Anh rõ ràng nhất của chúng, ‘timely’ và ‘timeliness’, nhưng điều này sẽ hoàn toàn gây hiểu lầm; vì ‘temporal’ và ‘temporality’ gần gũi hơn nhiều với những gì Heidegger nghĩ đến, không chỉ khi ông thảo luận về những từ này theo nghĩa phổ biến của chúng (như ông làm ở trang tiếp theo) mà ngay cả khi ông sử dụng chúng theo nghĩa đặc biệt của riêng mình, như trong Phần 65 bên dưới. (Đặc biệt xem H. 326 bên dưới, trong đó 'Zeitlichkeit' được định nghĩa.) Mặt khác, anh ấy thỉnh thoảng sử dụng danh từ 'Tạm thời' và tính từ 'thời gian' theo nghĩa mà anh ấy sẽ giải thích sau (H. 19). Chúng tôi sẽ dịch chúng bằng 'Tạm thời' và 'Tạm thời', với chữ hoa đầu tiên.

14 ‘Dasein ist in derWeise, seiend so etwas wie Sein zu verstehen.’

15 ‘seine tempurale Bestimmtheit’. Xem ghi chú của chúng tôi g, p. g8, H. 17 ở trên.

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Hữu thể và Thời gian (I)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

Dành tặng EDMUND HUSSERL vì Tình bạn và Ngưỡng mộ, Todtnauberg im Boden, Rừng Đen, ngày 8 tháng 4 năm 1926.

«δῆλον γὰρ ὡς ὑμεῖς μὲν ταῦτα (τί ποτε βούλεσθε σημαίνειν ὁπόταν ὂν φθέγγησθε) πάλαι γιγνώσκετε, ἡμεῖς δὲ πρὸ τοῦ μὲν ᾠόμεθα, νῦν δ’ ἠπορήκαμεν» [1] (Denn offenbar seid ihr doch schon lange mit dem vertraut, was ihr eigentlich meint, wenn ihr den Ausdruck „seiend“ gebraucht, wir jedoch glaubten es einst zwar zu verstehen, jetzt aber sind wir in Verlegenheit gekommen) [Tr.20] 'Rõ ràng từ lâu chúng ta đã hiểu ý nghĩa của từ ‘là’ khi sử dụng nó. Tuy nhiên, chúng tôi, những người từng nghĩ rằng mình hiểu nó, giờ đây lại bắt đầu trở nên bối rối.'1  – Plato’s Sophist 244a; Heidegger’s Sein und Zeit, frontispiece.]

Liệu trong thời đại mình, chúng ta có lời đáp cho câu hỏi chúng ta thực sự muốn nói gì bằng từ ‘là/Hữu thể’?1 Hoàn toàn không. Vì vậy, việc chúng ta đặt lại câu hỏi về ý nghĩa2 của Hữu thể là điều thích hợp. Nhưng liệu ngày nay chúng ta có còn bối rối trước sự bất lực của mình trong việc hiểu từ ‘Hữu thể’ không? Hoàn toàn không. Vì vậy, trước hết chúng ta phải khơi dậy cách hiểu về ý nghĩa của câu hỏi này. Mục tiêu của chuyên luận là làm rõ câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể và thực hiện điều đó một cách cụ thể. Mục tiêu tạm thời của chúng tôi là Diễn giải3 thời gian như là chân trời khả thể cho bất kỳ lý giải nào về Hữu thể.4 Nhưng lý do để biến điều này thành mục tiêu thì đã có các nghiên cứu mà mục tiêu đó đòi hỏi, và con đường để đạt tới, cần một vài giới thiệu.

GIỚI THIỆU: GIẢI THÍCH VẤN ĐỀ Ý NGHĨA CỦA HỮU THỂ

I. Tất yếu, Cấu trúc và Vị thế của Vấn đề Hữu thể

1. Tính tất yếu Tái minh định Vấn đề Hữu thể

[Tr.21] Ngày nay vấn đề này dường như đã bị lãng quên. Mặc dù trong thời đại của chúng ta, việc tái chấp thuận ‘siêu hình học’ được coi là tiến bộ, nhưng người ta cho rằng chúng ta đã được miễn trừ khỏi những nỗ lực của một γιγαντομαχία περὶ τῆς οὐσίας Cuộc chiến vì Bản thể giữa những gã Khổng lồ mới được khơi dậy. Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta đang chạm đến không hề là một vấn đề bất kỳ nào. Đó là một chủ đề đã tạo động lực cho các nghiên cứu của Plato và Aristotle, nhưng sau đó lại lắng xuống như một chủ đề khảo sát thực tế.5 Điều mà hai Triết gia Cổ đại đạt được là sự kiên trì qua vô số cải đổi, ‘chỉnh sửa’ cho đến ‘Logic’ của Hegel. Và những gì họ đã nỗ lực trí tuệ tối đa để giành được từ các hiện tượng, dù còn rời rạc và sơ khai, vốn từ lâu đã trở nên tầm thường. Không chỉ có vậy. Trên cơ sở những đóng góp ban đầu của người Hy Lạp đối với một cách Diễn giải về Hữu thể, người ta đã phát triển một giáo điều, không chỉ tuyên bố vấn đề ý nghĩa của Hữu thể là thừa thãi, mà còn cho phép hoàn toàn bỏ qua nó. Người ta nói rằng ‘Hữu thể’ là khái niệm phổ quát nhất và trống rỗng nhất. Vì vậy, nó chống lại mọi nỗ lực định nghĩa. Khái niệm phổ quát nhất và do đó không thể định nghĩa này cũng không cần bất kỳ định nghĩa nào, vì mọi người đều sử dụng nó liên tục và đã hiểu ý nghĩa của nó. Theo cách này, điều mà các triết gia cổ đại liên tục thấy khó hiểu và bị che giấu nay đã trở nên rõ ràng và hiển nhiên đến mức nếu ai đó tiếp tục hỏi về nó thì sẽ bị coi là sai lầm về phương pháp. Ở phần đầu của cuộc khảo sát, không thể đưa ra một bản tường thuật chi tiết [tr.22] về những tiền đề và định kiến ​​liên tục được gieo trồng và nuôi dưỡng niềm tin cho rằng việc tìm hiểu về Hữu thể là không cần thiết. Chúng bắt nguồn từ chính bản thể học cổ đại, và sẽ không thể giải thích bản thể học đó một cách đầy đủ cho đến khi câu hỏi về Hữu thể được làm rõ, được trả lời và được coi là một manh mối - ít nhất là nếu muốn xem xét đến cái nền tảng mà từ đó các khái niệm bản thể học cơ bản được phát triển, và nếu chúng ta muốn xem liệu các phạm trù đã được chứng minh một cách phù hợp và đầy đủ hay chưa. Do đó, chúng ta sẽ chỉ thảo luận về những tiền đề này đến điểm cần thiết phải đặt lại câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể trở nên rõ ràng. Có ba tiền đề như vậy.       

1). Trước hết, người ta cho rằng: Το όν εστί καθόλου μάλιστα πάντων.6 ‘Hữu thể là khái niệm phổ quát nhất’. lllud quod primo cadit sub-apprehensione est ens, cuius intellectus includitur in omnibus, quaecumque quis apprehendit. ‘Hiểu biết về Hữu thể đã được bao hàm trong việc hình dung bất cứ điều gì mà người ta nhận thức như một thực thể.’1,11 Nhưng tính ‘phổ quát’ của ‘Hữu thể’ không phải là tính phổ quát của một lớp hay giống. Thuật ngữ ‘Hữu thể’ không định nghĩa phạm vi các thực thể nằm ở trên cùng khi chúng được diễn đạt về mặt khái niệm theo giống và loài: οὔτε τὸ ὂν γενών Hữu thể không phải là một giống/ loài. Tính ‘phổ quát’ của Hữu thể ‘vượt lên’ bất kỳ tính phổ quát nào của giống loài. Trong triết học bản thể luận thời trung cổ, ‘Hữu thể’  được coi là một ‘siêu việt’. Chính Aristotle đã nhận thức được nhất tính của cái ‘phổ quát’ tiên nghiệm này như một đơn vị tương đồng, trái ngược với tính đa dạng của các khái niệm giống loài cao nhất áp dụng cho sự vật.

Với khám phá này, bất chấp sự phụ thuộc của ông vào cách thức mà Plato đã đặt ra câu hỏi bản thể luận, ông đã đặt vấn đề về Hữu thể trên một cơ sở, về nguyên tắc, là mới. Chắc chắn, ngay cả Aristotle cũng không thể làm sáng tỏ được cái bóng đen của những mối liên hệ phạm trù này. Trong triết học bản thể luận thời trung cổ, vấn đề này đã được thảo luận rộng rãi, đặc biệt là trong các trường phái Thomist và Scotist, mà vẫn chưa đạt được sự rõ ràng về nguyên tắc. Và khi Hegel cuối cùng định nghĩa ‘Bản/Hữu thể’ là ‘cái trực tiếp bất định’ và biến định nghĩa này thành nền tảng cho tất cả các giải thích phạm trù logic tiếp theo của ông, ông vẫn tiếp tục nhìn theo cùng một hướng với bản thể học cổ đại, [tr.23] ngoại trừ việc ông không còn chú ý đến vấn đề của Aristotle về nhất tính của ‘Bản/Hữu thể’ trái ngược với đa tính của các ‘phạm trù’ áp dụng cho sự vật. Vì vậy, nếu nói rằng ‘Bản/Hữu thể’ là khái niệm phổ quát nhất, thì điều này không có nghĩa nó là khái niệm rõ ràng nhất hoặc không cần thảo luận thêm. Ngược lại, nó là khái niệm tối nghĩa nhất trong tất cả.   

2). Thứ hai, người ta cho rằng khái niệm ‘Hữu thể’ không thể định nghĩa được. Điều này được suy ra từ tính phổ quát tối cao của nó,iv và đúng như vậy, nếu definitio fit per genus proximum et differentiam specificam định nghĩa được thực hiện thông qua giống gần nhất và sự khác biệt cụ thể". ‘Hữu thể’ thực sự không thể được hình dung như một thực thể; enti non additur aliqua natura: nó cũng không thể có được đặc tính để được áp dụng thuật ngữ “thực thể”. ‘Hữu thể’ không thể được suy ra từ các khái niệm cao hơn bằng định nghĩa, cũng không thể được trình bày thông qua các khái niệm thấp hơn. Nhưng điều này có ngụ ý rằng ‘Hữu thể’ không còn là vấn đề nữa? Hoàn toàn không. Chúng ta chỉ có thể suy ra rằng ‘Hữu thể’ không thể có đặc tính của một thực thể. Do đó, không thể áp dụng cho ‘Hữu thể’ khái niệm ‘định nghĩa’ như được trình bày trong logic truyền thống, bản thân nó có nền tảng trong bản thể học cổ đại và, trong một giới hạn nhất định, trợ giúp chính đáng cho việc định nghĩa ‘các thực thể’. Tính không thể định nghĩa của ‘Hữu thể’ không loại bỏ câu hỏi về ý nghĩa của nó và buộc chúng ta phải đối mặt với câu hỏi đó.

3) Thứ ba, người ta cho rằng  ‘Hữu thể’ là khái niệm hiển nhiên nhất trong tất cả các khái niệm. Bất cứ khi nào người ta nhận thức được điều gì hoặc đưa ra một khẳng định, bất cứ khi nào người ta ứng xử với các thực thể, thậm chí với chính mình,7 đều sử dụng ‘Hữu thể’; và biểu hiện này được cho là dễ hiểu ‘không cần bàn cãi thêm’, giống như mọi người đều hiểu ‘Trời màu xanh’, ‘Tôi vui vẻ’, và những câu tương tự. Nhưng ở đây chúng ta có một loại dễ hiểu trung bình, điều này chỉ chứng tỏ rằng nó không thể hiểu được. Nó cho thấy rằng trong bất kỳ cách ứng xử nào với các thực thể với tư cách các thực thể - thậm chí trong bất kỳ ‘Hữu thể’ nào đối với các thực thể với tư cách các thực thể - đều chứa đựng một bí ẩn tiên nghiệm.8  Chính việc chúng ta đã sống trong sự hiểu biết về ‘Hữu thể’ và ý nghĩa của ‘Hữu thể’ vẫn còn bị che khuất trong bóng tối chứng tỏ rằng về nguyên tắc, cần phải đặt ra câu hỏi này một lần nữa. Trong phạm vi các khái niệm triết học cơ bản - đặc biệt là khi chúng ta đề cập đến khái niệm  ‘Hữu thể’ - việc viện dẫn tính hiển nhiên là một thủ tục đáng ngờ, ngay cả khi ‘tính hiển nhiên’ („verborgene Urteile über die gewöhnliche Vernunft“ những ‘phán đoán tiềm ẩn của lý tính thông thường’ của Kant)9 [tr.24] trở thành chủ đề rõ ràng và bền vững duy nhất cho ‘công việc của các nhà triết học’ trong phân tích. Tuy nhiên, bằng cách xem xét những định kiến ​​này, chúng ta đã làm rõ không chỉ vấn đề câu hỏi về ‘Hữu thể’ thiếu câu trả lời, mà còn bản thân câu hỏi đó cũng mơ hồ và thiếu định hướng. Vì vậy, nếu muốn khôi phục lại nó, điều đó có nghĩa là trước tiên chúng ta phải tìm ra một cách thức thích hợp để đặt ra câu hỏi đó.

2. Cấu trúc Hình thức của Câu hỏi về Hữu thể

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể cần được đặt ra. Nếu đó là một câu hỏi cơ bản, hoặc thực sự là câu hỏi cơ bản, thì nó phải được làm rõ ràng, và theo một cách thích hợp.10 Do đó, chúng ta phải giải thích ngắn gọn những gì thuộc về bất kỳ câu hỏi nào, để từ quan điểm này, câu hỏi về Hữu thể có thể được làm cho rõ ràng như một câu hỏi rất đặc biệt với đặc điểm riêng biệt của nó. Mỗi cuộc khảo sát là một Suchen cuộc tìm kiếm. Mỗi sự tìm kiếm đều được hướng dẫn trước bởi những gì được tìm kiếm. Khảo sát là một sự tìm kiếm có ý thức về một thực thể cả về thực tế là nó tồn tại và về Hữu thể của nó như nó vốn có.11 Cuộc tìm kiếm có ý thức này có thể mang hình thức Untersuchen ‘khảo sát’, trong đó người ta làm sáng tỏ những gì câu hỏi đề cập đến và xác định tính chất của nó. Bất kỳ cuộc tìm kiếm nào, với tư cách một cuộc tìm kiếm về một cái gì đó, đều có cái sein Gefragtes được hỏi đến. Nhưng tất cả các cuộc tìm kiếm về một cái gì đó bằng cách nào đó đều là việc đặt câu hỏi về Anfragen bei một cái gì đó…. Vì vậy, ngoài những gì được hỏi, một cuộc tìm kiếm còn có cái ein Befragtes được thẩm vấn. Trong các câu hỏi khảo sát - tức là, trong các câu hỏi mang tính lý thuyết cụ thể - đối tượng được hỏi được xác định và khái niệm hóa. Hơn nữa, trong đối tượng được hỏi còn chứa đựng cả điều cần được tìm ra thông qua das Erfragte việc đặt câu hỏi; đây mới là điều thực sự được hướng đến:12 với điều này, cuộc khảo sát đạt được mục tiêu của nó. Bản thân khảo sát là hành vi của kẻ đặt câu hỏi, và do đó là của một thực thể, có đặc tính riêng của Hữu thể. Khi thực hiện khảo sát, người ta có thể làm như vậy ‘một cách ngẫu nhiên’ hoặc có thể đặt [tr.25] câu hỏi một cách rõ ràng. Việc đặt câu hỏi rõ ràng đặc biệt ở chỗ cuộc khảo sát không trở nên minh bạch với chính nó cho đến khi tất cả các yếu tố cấu thành của câu hỏi tự trở nên minh bạch.            

Câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể cần được đặt ra. Do đó, chúng ta phải thảo luận nó với cái nhìn hướng đến những yếu tố cấu trúc này. Việc khảo sát, như một hình thức tìm kiếm, phải được dẫn dắt trước bởi những gì được tìm kiếm. Vì vậy, ý nghĩa của Hữu thể phải đã có sẵn cho chúng ta bằng một cách nào đó. Như chúng ta đã gợi ý, chúng ta luôn tiến hành các hoạt động của mình bằng việc hiểu biết về Hữu thể. Từ sự hiểu biết này nảy sinh cả câu hỏi rõ ràng về ý nghĩa của Hữu thể và xu hướng dẫn chúng ta đến việc hình thành khái niệm về nó. Chúng ta không biết ‘Hữu thể’ có nghĩa là gì. Nhưng ngay cả khi hỏi “Hữu thể là gì?”, thì chúng ta vẫn giữ một cách hiểu về cái ‘là’, mặc dù chúng ta không thể xác định về mặt khái niệm cái ‘là’ đó biểu thị điều gì. Chúng ta thậm chí không biết cái chân trời mà trong khuôn khổ của nó ý nghĩa đó cần phải được nắm bắt và xác định. Nhưng mức độ hiểu biết trung bình mơ hồ này về Hữu thể vẫn là một Sự thật. Cho dù sự hiểu biết này về ‘Hữu thể’ (một sự hiểu biết đã có sẵn cho chúng ta) có thể dao động và trở nên mờ nhạt, và gần như chỉ là sự quen thuộc với một từ ngữ, thì chính tính không rõ ràng của nó lại là một hiện tượng tích cực cần phải được minh định. Không thể mong đợi một cuộc khảo sát về ý nghĩa của ‘Hữu thể’ sẽ mang lại sự minh định ngay từ đầu. Nếu chúng ta muốn có được manh mối cần thiết để Diễn giải mức độ hiểu biết trung bình này về Hữu thể, trước tiên chúng ta phải phát triển khái niệm Hữu thể. Dựa trên khái niệm này và những cách thức mà nó có thể được hiểu một cách rõ ràng, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của sự hiểu biết mơ hồ hoặc chưa được soi sáng này về ‘Hữu thể’, và những loại che khuất - hay cản trở đối với việc soi sáng rõ ràng - về ý nghĩa của Hữu thể là có thể và thậm chí là không thể tránh khỏi. Hơn nữa, mức độ hiểu biết trung bình mơ hồ này về Hữu thể có thể bị ảnh hưởng bởi các lý thuyết và quan điểm truyền thống về Hữu thể đến mức chúng vẫn ẩn giấu như những nguồn gốc của cách thức mà nó được lý giải một cách phổ biến.  

Cái mà chúng ta tìm kiếm khi nghiên cứu về Hữu thể không phải là điều gì đó hoàn toàn xa lạ, ngay cả khi ở mức độ gần gũi13 chúng ta cũng không hề nắm bắt được nó. Trong câu hỏi mà chúng ta cần giải quyết, điều được hỏi là về Hữu thể, cái xác định các thực thể là các thực thể, cái mà woraufhin trên cơ sở đó [tr.26] các thực thể đã được hiểu, cho dù chúng ta có thảo luận chi tiết về chúng như thế nào. Hữu thể của các thực thể tự nó không phải ‘là’ một thực thể. Nếu muốn hiểu vấn đề về Hữu thể, bước triết học đầu tiên của chúng ta là không μῦθον τίνα διηγεῖσθαιv muthon tina diegeisthai, không ‘kể một câu chuyện’ - nghĩa là, không định nghĩa các thực thể là thực thể bằng cách truy tìm nguồn gốc của chúng đến một số thực thể nào đó khác, như thể ‘Hữu thể’ có đặc tính của một thực thể khả thể nào đó vậy. Vì thế, Hữu thể, với tư cách là đối tượng được hỏi, phải được thể hiện theo cách riêng của nó, về bản chất khác với cách thức mà các thực thể được khám phá. Theo đó, điều cần được tìm ra bằng cách hỏi - ý nghĩa của Hữu thể - cũng đòi hỏi nó phải được hình dung theo cách riêng của nó, về bản chất trái ngược với các khái niệm mà các thực thể có được ý nghĩa xác định của chúng.

Chừng nào Hữu thể còn cấu thành đối tượng được hỏi đến, và Hữu thể có nghĩa là Hữu thể của các thực thể, thì hóa ra là chính các thực thể lại là đối tượng phải được chất vấn. Có thể nói, các thực thể này đang bị đặt câu hỏi về Hữu thể của chúng. Nhưng nếu các đặc trưng Hữu thể của chúng có thể được làm rõ mà không bị chứng ngụy, thì bản thân các thực thể này hẳn đã trở nên dễ tiếp cận như chính tự thân chúng vậy. Khi chúng ta đi đến vấn đề cần được chất vấn, câu hỏi về Hữu thể/Being đòi hỏi phải tìm ra và đảm bảo phương thức tiếp cận đúng đắn đối với các thực thể từ trước. Nhưng có rất nhiều thứ mà chúng ta gọi là seiend/being ‘hiện hữu’, và chúng ta gọi như vậy theo nhiều nghĩa khác nhau. Mọi thứ chúng ta nói đến, mọi thứ chúng ta hướng tới, mọi thứ mà chúng ta hành xử theo bất kỳ cách nào, cũng đều là seiend/being ‘hiện hữu’; cái mà chúng ta là chính là hiện hữu, và cách mà chúng ta là cũng chính là hiện hữu. Hữu thể nằm ở sự thật là một cái gì đó là, và ở trong ‘Hữu thể’ của nó như nó vốn là; trong Thực tại; trong Vorhandenheit sự hiện diện trước mắt; trong chất thể; trong tính hợp lệ; trong Dasein; trong cái ‘có đó’.14 Ý nghĩa của ‘Hữu thể’ được nhận biết trong những thực thể nào? Sự tiết lộ về ‘Hữu thể’ bắt đầu từ những thực thể nào? Điểm xuất phát có phải là tùy chọn, hay một thực thể cụ thể nào đó được quyền ưu tiên khi chúng ta đi sâu vào vấn đề ‘Hữu thể’? Chúng ta sẽ lấy thực thể nào làm ví dụ, và nó được quyền ưu tiên theo nghĩa nào?

Nếu câu hỏi về Hữu thể được diễn đạt một cách rõ ràng và được thực hiện theo cách hoàn toàn minh bạch với chính nó, thì bất kỳ cách xử lý nào phù hợp với những giải thích mà chúng ta đã đưa ra đều đòi hỏi chúng ta phải giải thích cách nhìn nhận Hữu thể, cách hiểu và nắm bắt ý nghĩa của nó; nó đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị con đường để lựa chọn thực thể phù hợp cho ví dụ của mình, và tìm ra cách tiếp cận đích thực với nó. Nhìn vào một cái gì đó, hiểu và hình dung nó, lựa chọn, tiếp cận nó - tất cả những cách hành xử này đều cấu thành nên cuộc khảo sát của chúng ta, và do đó là các phương thức Hữu thể đối với những thực thể cụ thể [tr. 27] vốn chính là những người khảo sát chúng ta. Vì vậy, để giải quyết câu hỏi về Hữu thể một cách đầy đủ, chúng ta phải làm cho một thực thể-người khảo sát-trở nên minh bạch trong Hữu thể của bản thân mình. Chính việc đặt câu hỏi này là phương thức ‘Hữu thể’ của một thực thể; và theo đúng nghĩa, nó có đặc tính thiết yếu từ khảo sát - cụ thể là ‘Hữu thể’. Cái thực thể mà mỗi chúng ta đều là chính mình và bao gồm việc tìm hiểu như một khả tính Hữu thể của nó, chúng ta sẽ ký hiệu bằng thuật ngữ ‘Dasein’.15 Nếu chúng ta muốn đặt câu hỏi một cách rõ ràng và minh bạch, trước tiên chúng ta phải đưa ra một lời giải thích thích hợp về một thực thể (Dasein) liên quan đến Hữu thể của nó.

Tuy nhiên, chẳng phải có một vòng tròn hiể hiện trong một việc làm như vậy sao? Nếu trước tiên chúng ta phải định nghĩa một thực thể trong Hữu thể của nó, và nếu chúng ta muốn đặt câu hỏi về Hữu thể chỉ trên cơ sở này, thì điều đó chẳng phải là đi trong một vòng tròn sao? Trong quá trình tìm ra câu hỏi của mình, chẳng phải chúng ta đã ‘giả định’ điều gì đó mà chỉ câu trả lời mới có thể mang lại sao? Những phản đối hình thức như lập luận về ‘suy lý vòng tròn’, vốn có thể dễ dàng được viện dẫn bất cứ lúc nào trong việc nghiên cứu các nguyên tắc thứ nhất, lại luôn vô ích khi người ta xem xét các cách thức khảo sát cụ thể. Khi nói đến việc lý giải vấn đề đang được đề cập, chúng không có trọng lượng và ngăn cản chúng ta thâm nhập vào lĩnh vực nghiên cứu. Nhưng trên thực tế16 hoàn toàn không có vòng tròn nào trong việc đặt câu hỏi như đã mô tả. Có thể xác định bản chất của các thực thể trong Hữu thể của chúng mà không nhất thiết phải có khái niệm rõ ràng về ý nghĩa của Hữu thể trong tầm tay. Nếu không thì cho đến nay đã không có bất kỳ tri ​​thức bản thể luận nào. Khó có thể phủ nhận rằng thực tế đã có loại tri ​​thức như vậy.17

Tất nhiên, cho đến nay ‘Hữu thể’ đã được giả định trong tất cả các lý thuyết bản thể luận, nhưng không phải là một khái niệm trong tầm tay - không phải là loại sự vật mà chúng ta đang tìm kiếm. Việc ‘giả định’ Hữu thể này có tính chất xem xét trước, sao cho dưới ánh sáng của nó, các thực thể được trình bày cho chúng ta được tạm thời Diễn đạt trong Hữu thể của chúng. Hoạt động hướng dẫn [tr.28] này của việc xem xét Hữu thể phát sinh từ sự hiểu biết trung bình về Hữu thể mà chúng ta luôn vận hành và cuối cùng thuộc về cấu thành18 thiết yếu của chính Dasein. Việc ‘giả định’ như vậy không liên quan gì đến việc đặt ra một tiên đề mà từ đó một chuỗi mệnh đề được suy diễn. Hoàn toàn không thể có bất kỳ ‘lập luận vòng tròn’ nào trong việc đặt câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể; bởi vì khi trả lời câu hỏi này, vấn đề không phải là việc đặt nền tảng cho một cái gì đó bằng một sự suy luận như vậy; đúng hơn đó chính là việc vạch trần những căn cứ của nó và trưng bày chúng.19

Trong câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể, không có ‘suy lý vòng tròn’ mà đúng hơn là một ‘mối liên hệ ngược hoặc xuôi’ đáng chú ý mà những gì chúng ta đang hỏi về (‘Hữu thể’) mang đến cho chính cuộc khảo sát như một phương thức Hữu thể của một thực thể. Ở đây, những gì được hỏi có liên quan thiết yếu đến chính cuộc điều tra, và điều này thuộc về eigensten Sinn ý nghĩa riêng của câu hỏi về Hữu thể. Tuy nhiên, điều này chỉ có nghĩa là có một cách, có lẽ thậm chí là một cách rất đặc biệt, trong đó các thực thể có đặc tính Dasein là có liên quan đến câu hỏi về Hữu thể. Nhưng chúng ta đã chứng minh như vậy ở chỗ một loại thực thể nhất định có ưu quyền liên quan đến Hữu thể của nó!? Và chúng ta đã trình bày như vậy ở chỗ thực thể nào đóng vai trò là ví dụ chính sẽ phải được chất vấn trong câu hỏi về Hữu thể sao!? Cho đến nay, cuộc thảo luận chưa chứng tỏ được ưu quyền của Dasein, cũng như chưa dứt khoát chỉ ra liệu Dasein có thể hoặc thậm chí nhất thiết phải đóng vai trò là thực thể chính để được chất vấn hay không. Nhưng thực sự có điều gì đó giống như ưu quyền của Dasein đã tự khẳng định mình.

3. Ưu quyền Bản thể luận của Câu hỏi về Hữu thể

Khi chúng ta chỉ ra những đặc điểm của câu hỏi về Hữu thể, lấy cấu trúc hình thức của câu hỏi theo đúng nghĩa làm manh mối, chúng ta đã làm rõ [tr.29] rằng đây là một câu hỏi đặc biệt, ở chỗ cần một loạt các cân nhắc cơ bản để làm rõ nó, chưa kể đến việc giải quyết nó. Nhưng những đặc điểm riêng biệt của nó sẽ chỉ được làm sáng tỏ đầy đủ khi chúng ta đã xác định rõ ràng nó về chức năng, mục đích và động cơ của nó. Cho đến nay, các lập luận của chúng ta để chỉ ra rằng câu hỏi này cần được đặt lại một phần đã được thúc đẩy bởi nguồn cội đáng kính của nó nhưng chủ yếu là do thiếu một câu trả lời dứt khoát và thậm chí là do tình trạng thiếu vắng của bất kỳ cách diễn đạt thỏa đáng nào về chính câu hỏi đó. Tuy nhiên, có thể chất vấn mục đích của câu hỏi này phục vụ điều gì. Liệu chỉ đơn giản hay là một vấn đề chỉ để suy đoán viển vông về những tổng quát tính tổng quát nhất, hoặc trong tất cả các câu hỏi, nó vừa là câu hỏi cơ bản nhất vừa là câu hỏi cụ thể nhất? 

Hữu thể luôn luôn là Hữu thể của một thực thể. Toàn thể tính của các thực thể, tùy theo các lĩnh vực khác nhau của chúng, có thể trở thành một lĩnh vực để làm sáng tỏ và phân định các phạm vi chủ đề cụ thể. Các lĩnh vực này (ví dụ: lịch sử, tự nhiên, không gian, sự sống, Dasein, ngôn ngữ, v.v.) có thể đóng vai trò là khách thể mà các nghiên cứu khoa học tương ứng có thể lấy làm chủ đề của mình. Nghiên cứu khoa học thực hiện, một cách sơ lược và đơn giản, việc phân định và xác định ban đầu các phạm vi vấn đề-chủ đề. Cấu trúc cơ bản của bất kỳ lĩnh vực nào như vậy cũng đều đã được hình thành theo một cách nào đó trong các phương thức tiền khoa học của chúng ta khi trải nghiệm và diễn giải lĩnh vực Hữu thể mà chính phạm vi chủ đề được giới hạn trong đó. Các ‘khái niệm cơ bản’ phát sinh từ đó vẫn là những manh mối gần gũi nhất giúp chúng ta lần đầu tiên làm sáng tỏ lĩnh vực này một cách cụ thể. Mặc dù nghiên cứu luôn hướng tới cách tiếp cận tích cực này, nhưng sự tiến bộ thực sự của nó không đến từ việc thu thập kết quả và lưu trữ chúng trong các ‘cẩm nang’, mà đến từ việc tìm hiểu cách thức Grundverfassungen cấu thành cơ bản của từng lĩnh vực cụ thể - một cuộc khảo sát mà chúng ta chủ yếu hướng tới do phản ứng lại sự gia tăng như vậy về lĩnh vực thông tin.

Sự ‘vận động’ thực sự của khoa học diễn ra khi các khái niệm cơ bản của chúng trải qua một sự sửa đổi ít nhiều mang tính triệt để, mà bản thân nó cũng nhận thức được. Mức độ mà một ngành khoa học đạt được được xác định bởi khả năng khủng hoảng trong các khái niệm cơ bản của nó. Trong những cuộc khủng hoảng nội tại như vậy, mối quan hệ giữa nghiên cứu khảo sát thực chứng và chính những sự vật đang được chất vấn sẽ đến một điểm mà nó bắt đầu lung lay. Ngày nay trong các ngành học khác nhau trên khắp thế giới, có những xu hướng mới được khơi dậy nhằm đặt công việc nghiên cứu trên những nền tảng mới. Toán học, dường như là ngành khoa học nghiêm ngặt và được xây dựng vững chắc nhất, đã đạt đến một cuộc khủng hoảng các ‘nền tảng’ của nó. Trong cuộc tranh luận giữa những người theo chủ nghĩa hình thức và những người theo chủ nghĩa trực giác, thì vấn đề nằm ở chỗ [tr.30] đạt được và bảo đảm phương thức tiếp cận chính yếu đối với những gì được cho là đối tượng của khoa học này. Thuyết tương đối của vật lý xuất phát từ xu hướng thể hiện sự liên kết của Tự nhiên như nó vốn có ‘trong chính nó’. Là một lý thuyết về các điều kiện mà chúng ta có thể tiếp cận bản thân Tự nhiên, nó tìm cách bảo tồn tính bất biến của các định luật chuyển động bằng cách xác định tất cả các tương đối tính, và do đó gặp phải câu hỏi về cấu trúc của lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của nó - vấn đề vật chất. Trong sinh học, có một xu hướng thức tỉnh để tìm hiểu vượt ra ngoài các định nghĩa mà cơ giới luận và sinh lực luận đã đưa ra cho ‘sự sống’ và ‘sinh vật’, và để định nghĩa lại loại Hữu thể nào thuộc về sự sống theo đúng nghĩa. Trong các khoa học nhân văn có đặc trưng lịch sử,20 sự thôi thúc hướng tới hiện thực lịch sử đã được củng cố theo thời gian bởi truyền thống và bởi cách thức truyền thống được trình bày và truyền lại: lịch sử văn học sẽ trở thành lịch sử của các vấn đề. Thần học đang tìm kiếm một cách giải thích nguyên thủy hơn về Hữu thể của con người đối với Chúa, được quy định bởi ý nghĩa của chính đức tin và nằm trong phạm vi đó. Nó đang dần dần tái lý giải tri thức của Luther cho rằng cái ‘nền tảng’ mà hệ thống giáo điều của nó dựa trên đó không xuất phát từ một cuộc tìm tòi mà trong đó đức tin là yếu tố chính, và về mặt khái niệm, ‘nền tảng’ này không chỉ không đủ cho vấn đề của thần học, mà còn che giấu và bóp méo nó.

Các khái niệm cơ bản xác định cách thức chúng ta có được sự hiểu biết trước về lĩnh vực chủ đề nằm dưới tất cả các đối tượng mà một ngành khoa học lấy làm đối tượng nghiên cứu, và tất cả các nghiên cứu thực chứng đều được hướng dẫn bởi cách lý giải này. Chỉ sau khi chính lĩnh vực đó đã được khám phá trước đó theo một cách tương ứng thì các khái niệm này mới thực sự được chứng minh và ‘có cơ sở’. Nhưng vì mỗi lĩnh vực như vậy đều được hình thành từ chính phạm vi của các thực thể, nên nghiên cứu sơ bộ này, vốn từ đó các khái niệm cơ bản được rút ra, không có ý nghĩa gì khác ngoài việc diễn giải các thực thể đó liên quan đến trạng thái Hữu thể cơ bản của chúng. Nghiên cứu như vậy phải đi trước các ngành khoa học thực chứng, và nó có thể làm được. Ở đây, công trình của Plato và Aristotle là bằng chứng đủ rõ ràng. Việc đặt nền móng cho các ngành khoa học theo cách này về nguyên tắc khác với loại ‘logic’ chỉ đi theo sau, khả sát vị thế của một ngành khoa học nào đó khi tình cờ tìm thấy nó, để khám phá ‘phương pháp’ của nó.

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen

Notes

1 ‘seiend’. Heidegger dịch phân từ hiện tại ov on của Plato bằng phân từ hiện tại của động từ ‘sein’ tiếng Đức (to be ‘là’). Do đó, ở đây và trong một số đoạn văn sau, chúng ta dịch ‘seiend’ bằng phân từ hiện tại ‘being’; ở những chỗ cách dịch này bất thuận tiện, chúng ta sẽ sử dụng các cấu trúc khác, thường thêm từ tiếng Đức trong ngoặc đơn hoặc trong chú thích. Phân từ ‘seiend’ phải được phân biệt với động từ nguyên dạng ‘sein’, mà chúng ta thường dịch bằng động từ nguyên dạng ‘to be’ hoặc bằng danh động từ ‘being’. Nó cũng phải được phân biệt với danh từ quan trọng ‘Sein’ (luôn viết hoa), mà chúng ta sẽ dịch là ‘Being’ (viết hoa), và với danh từ quan trọng không kém ‘Seiendes’, được dẫn xuất trực tiếp từ ‘seiend’, mà chúng ta thường dịch là ‘entity’ hoặc ‘entities’ thực thể. (Xem chú thích 6, H. 3 bên dưới.)

2 ‘Sinn.’ Ý nghĩa Xét tầm quan trọng của sự phân biệt giữa ‘Sinn’ và ‘Bedeutung’ trong các tác giả người Đức đa dạng như Dilthey, Husserl, Frege và Schlick, chúng tôi sẽ dịch ‘Sinn’ bằng ‘meaning’ hoặc ‘sense’, tùy thuộc vào ngữ cảnh, và giữ ‘signification’ và ‘signify’ biểu nghĩa cho ‘Bedeutung’ và ‘bedeuten’. (Động từ ‘mean’ đôi khi sẽ được sử dụng để dịch các động từ như ‘besagen’, ‘sagen’, ‘heissen’ và ‘meinen’, nhưng danh từ ‘meaning’ sẽ được dành riêng cho ‘Sinn’.) Về ‘Sinn’, xem H. 151, 324; về ‘Bedeutung’, v.v., xem H. 87 và chú thích 47 của chúng tôi tại chỗ đó.

3. Heidegger sử dụng hai từ có thể được dịch là ‘diễn giải’: ‘Auslegung’ và ‘Interpretation’. Mặc dù trong nhiều trường hợp, chúng có thể được coi là từ đồng nghĩa, nhưng ý nghĩa của chúng không hoàn toàn giống nhau. ‘Auslegung’ dường như được sử dụng theo nghĩa rộng để bao gồm bất kỳ hoạt động nào mà chúng ta diễn giải một cái gì đó ‘như’ một cái gì đó khác, trong khi ‘Interpretation’ dường như áp dụng cho các diễn giải mang tính lý thuyết hoặc có hệ thống hơn, như trong việc chú giải một văn bản. Xem đặc biệt H. 148 trở đi và 199 trở đi. Chúng ta sẽ giữ nguyên sự phân biệt này bằng cách viết ‘Interpretation’ thay cho ‘Auslegung’, nhưng dùng ‘Interpretation’ cho ‘Interpretation’ của Heidegger, theo các quy ước tương tự đối với các động từ ‘auslegen’ và ‘interpretieren’.

4 ‘….als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt….’ Trong toàn bộ tác phẩm này, từ ‘horizon’ được sử dụng với một ý nghĩa hơi khác so với ý nghĩa mà người đọc nói tiếng Anh thường quen thuộc. Chúng ta thường nghĩ về chân trời như một thứ có thể mở rộng, kéo dài hoặc vượt qua; tuy nhiên, Heidegger dường như nghĩ về nó như một thứ mà chúng ta không thể mở rộng hay vượt qua, mà nó lại đặt ra giới hạn cho một số hoạt động trí tuệ được thực hiện ‘trong’ phạm vi đó. [HHN Ghi chú: Cụm từ tiếng Đức của triết gia Martin Heidegger "als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt" trong tiếng Hy Lạp thường được dịch và diễn đạt sát nghĩa như sau: “ὡς τοῦ δυνατοῦ ὁρίζοντος πάσης κατανόησης τοῦ ὄντος καθόλου”-HHN]

5. ‘….als thernatische Fragt wirklicher Unttrsuchung’. Khi Heidegger nói về một câu hỏi là ‘thematisch’, ông nghĩ đó là một câu hỏi được xem xét nghiêm túc và nghiên cứu một cách có hệ thống. Mặc dù chúng ta thường dịch tính từ này bằng từ đồng nghĩa của nó, 'thematic', nhưng đôi khi chúng ta có thể thấy thuận tiện hơn khi chọn những cách diễn đạt linh hoạt hơn liên quan đến từ ‘theme’. (Heidegger bàn đầy đủ hơn ở H. 363.)

6. ‘…was einer am Seienden erfasst’. Từ ‘Seiendes’, mà Heidegger sử dụng trong diễn giải của mình, là một trong những từ quan trọng nhất trong cuốn sách. Danh từ ‘das Seiende’ được bắt nguồn từ phân từ ‘seiend’ (xem chú thích 1, trang tg), và nghĩa đen là ‘cái đang tồn tại’; ‘ein Seiendes’ có nghĩa là ‘cái gì đó đang là’. Có nhiều điều cần nói về việc dịch ‘Seiendes’ bằng danh từ ‘being’ hoặc ‘beings’ (vì nó thường được sử dụng theo nghĩa tập thể). Tuy nhiên, chúng tôi cảm thấy rằng việc viết ‘entity’ hoặc ‘entities’ sẽ mượt mà và ít gây nhầm lẫn hơn. Chúng tôi nhận thức rõ rằng trong triết học Anh và Mỹ gần đây, thuật ngữ ‘entity’ đã được sử dụng một cách tổng quát hơn để áp dụng cho hầu hết mọi thứ, bất kể vị thế bản thể học của nó là gì. Tuy nhiên, trong bản dịch này, nó sẽ chỉ đơn giản có nghĩa là ‘cái gì đó mà nếu’. Một bản dịch khác của trích dẫn tiếng Latinh được đưa ra bởi các Cha dòng Đa Minh người Anh, Summa Theologica, Thomas Baker, London, 1915: ‘Vì cái mà, trước hết, thuộc về sự nhận thức, là sự tồn tại, khái niệm về nó được bao gồm trong tất cả mọi thứ mà con người nhận thức được.’

7…. in jedem Verhalten zu Seiendem, in jedem Sich-zu-sich-selbst-verhalten….’. Động từ ‘verhalten’ có thể đề cập đến bất kỳ loại hành vi hoặc cách thức nào của tự mình; thậm chí cả cách mà người ta liên hệ bản thân với điều gì đó khác, hoặc cách mà người ta định hình lại hoặc kìm hãm bản thân. Chúng ta sẽ dịch nó theo nhiều cách khác nhau.

8. ‘Sie macht offenbar, dass in jedem Verhalten und Sein zu Seiendem als Seiendem a priori ein Ratsel liegt.’ Cụm từ ‘Sein zu Seiendem’ là điển hình cho nhiều cách diễn đạt tương tự, trong đó danh từ ‘Sein’ được theo sau bởi giới từ ‘zu’. Trong những cách diễn đạt như vậy, chúng ta thường dịch ‘zu’ là ‘hướng tới’: ví dụ, ‘Sự tồn tại hướng tới cái chết’, ‘Sự tồn tại hướng tới người khác’, ‘Sự tồn tại hướng tới các thực thể trong thế giới’.

9. ‘die geheimen Urteile der gemeinen Vernunft”’.

10. ‘….dann bedarf solches Fragen der angemessenen Durchsichtigkeit’. Tính từ ‘durchsichtig’ là một trong những cách diễn đạt ưa thích của Heidegger, và có nghĩa đơn giản là ‘trong suốt’, ‘dễ thấy’, cái gì đó mà người ta có thể ‘nhìn thấu’. Thông thường chúng ta sẽ dịch nó là ‘minh bạch’. Xem H. 146 để thảo luận thêm.

11. ‘….in seinem Dass-und Sosein’.

12. ‘…. das eigentlich Intendierte….’ Trạng từ ‘eigentlich’ xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm này. Nó có thể được sử dụng một cách không chính thức khi người ta có thể viết 'thực sự' hoặc 'về phần nó', hoặc theo nghĩa mạnh mẽ hơn nhiều, khi những từ như 'thực sự' hoặc 'xác thực' sẽ phù hợp hơn. Không phải lúc nào cũng có thể biết được Heidegger đang nghĩ đến ý nghĩa nào. Trong những ngữ cảnh có vẻ tương đối không trang trọng, chúng ta sẽ viết “thực sự”; trong những đoạn văn mang tính kỹ thuật hơn, chúng ta sẽ viết “một cách xác thực”, dành “chính hiệu” cho “chính hiệu” hoặc “biên tập”. Người đọc không được nhầm lẫn loại “tính xác thực” này với loại thuộc về “văn bản xác thực” hoặc “tường thuật xác thực”. Xem H. 42 để thảo luận thêm. Trong đoạn văn này, động từ “intendieren” có lẽ được sử dụng theo nghĩa thời trung cổ là “dự định”, như đã được Brentano và Husserl điều chỉnh và sửa đổi.

13. “zunächst”. Từ này xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm của Heidegger, và ông sẽ thảo luận về việc sử dụng nó ở H. 370 bên dưới. Trong cách sử dụng tiếng Đức thông thường, từ này có thể có nghĩa là “lúc đầu”, “ban đầu”, hoặc “trong trường hợp đầu tiên”, và chúng ta sẽ thường dịch nó theo những cách như vậy. Tuy nhiên, từ này có cùng gốc với tính từ “nah” và dạng so sánh nhất của nó là “nächst”, mà chúng ta sẽ thường được dịch lần lượt là ‘gần’ và ‘gần nhất’; và Heidegger thường sử dụng ‘zunächst’ theo nghĩa ‘gần gũi nhất’, khi ông mô tả những trải nghiệm ‘tự nhiên’ và ‘hiển nhiên’ nhất mà chúng ta có được ở cấp độ không phê phán và tiền triết học. Chúng tôi đã mạo hiểm dịch nghĩa ‘zunächst’ theo Heidegger là ‘gần gũi’, nhưng có nhiều trường hợp ranh giới không rõ ràng liệu Heidegger có ý định sử dụng nghĩa đặc biệt này hay một trong những cách sử dụng phổ biến hơn, và trong những trường hợp như vậy, chúng tôi đã chọn bất kỳ cách diễn đạt nào có vẻ phù hợp hơn về mặt phong cách.

14. ‘Sein liegt im Dass- und Sosein, in Realität, Vorhandenheit, Bestand, Geltung, Dasein, im “es gibt’.’ Về ‘Vorhandenheit’ (‘sự hiện diện trong tầm tay’) xem chú thích 1, trang 2. 48, H. 25. Về ‘Dasein’, xem chú thích 1, trang 27.

15. Từ 'Dasein' đóng vai trò rất quan trọng trong tác phẩm này và đã quá quen thuộc với độc giả nói tiếng Anh đã đọc về Heidegger, đến nỗi có vẻ đơn giản hơn nếu để nguyên không dịch, ngoại trừ trong những đoạn hiếm hoi mà chính Heidegger sử dụng dấu gạch ngang ('Da-sein') để chỉ ra cấu trúc từ nguyên của nó: nghĩa đen là 'Hiện hữu'. Mặc dù trong triết học truyền thống Đức, nó có thể được sử dụng khá chung chung để chỉ hầu hết mọi loại Hiện hữu hay 'sự tồn tại' mà chúng ta có thể nói rằng một cái gì đó có (ví dụ như 'sự tồn tại' của Chúa), nhưng trong cách sử dụng hàng ngày, nó có xu hướng được sử dụng hẹp hơn để chỉ loại Hiện hữu thuộc về con người. Heidegger tuân theo cách sử dụng hàng ngày về mặt này, nhưng ông còn đi xa hơn một chút khi thường sử dụng nó để chỉ bất kỳ người nào có Hiện hữu như vậy, và do đó bản thân người đó là một 'thực thể'. Xem H. 11 bên dưới.

16. 'faktisch'. Mặc dù từ này thường có thể được dịch đơn giản là ‘thực tế’ hoặc ‘như một vấn đề thực tế’, nhưng nó được sử dụng cả như một tính từ và một trạng từ, và đặc trưng cho phong cách của Heidegger đến mức chúng ta thường sẽ dịch nó là ‘thực tế’ hoặc ‘một cách thực tế’, do đó giữ nguyên mối liên hệ của nó với danh từ quan trọng ‘Faktizitiit’ (tính thực tế), và phân biệt nó với ‘tatslichlich’ (thực tế) và ‘wirklich’ (thực sự). Xem phần thảo luận về ‘Tatslichlichkeit’ và ‘Faktizitlit’ trong Phần 12 và 29 bên dưới (H. s6, 135).

17. ‘….deren faktischen Bestand man wohl nicht leugnen wird’.

18. ‘Wesensverfassung’. “Verfassung” là từ chuẩn để chỉ “hiến pháp” của một quốc gia hoặc bất kỳ tổ chức chính trị nào, nhưng nó cũng được dùng để chỉ “tình trạng” hoặc “trạng thái” mà một người có thể đang ở trong đó. Heidegger hiếm khi sử dụng từ này theo một trong hai nghĩa này; nhưng ông sử dụng nó theo những cách tương tự. Theo một nghĩa, “Verfassung” của Dasein chính là “hiến pháp” của nó, cách thức nó được cấu thành, “sa condition humaine”. Theo một nghĩa khác, Dasein có thể có nhiều “Verfassungen” như những “trạng thái” cấu thành hoặc các yếu tố tham gia vào “hiến pháp” của nó. Nói chung, chúng ta sẽ dịch “Verfassung” là “hiến pháp” hoặc “trạng thái cấu thành” tùy theo ngữ cảnh; nhưng trong những đoạn văn mà việc sử dụng “trạng thái cấu thành” sẽ rườm rà và ít có nguy cơ gây nhầm lẫn, chúng ta sẽ chỉ viết là “trạng thái”. Tuy nhiên, những trạng thái này phải luôn được coi là mang tính cấu thành và thiết yếu, chứ không phải là các giai đoạn tạm thời hoặc nhất thời như 'trạng thái' sức khỏe của một người hay 'trạng thái của quốc gia'. Khi Heidegger sử dụng từ ‘Hiến pháp’, chúng ta thường biểu thị điều này bằng cách gọi là ‘Hiến pháp’.

19. ‘….weil es in der Beantwortung der Frage nicht um eineableitende Begrundung, sondern um aufweisende Grund-Freilegung geht.’ Các cách diễn đạt dạng ‘es geht….um –’ xuất hiện rất thường xuyên trong tác phẩm này. Chúng tôi thường dịch chúng theo các biến thể của ‘– là một vấn đề đối với….’

20. ‘In den histcrischen Geistlswissenscluzften….’ Heidegger phân biệt rõ ràng giữa ‘Historie’ và ‘Geschichte’ và các tính từ tương ứng ‘historisch’ và ‘geschichtlich’. ‘Historie’ đại diện cho cái mà Heidegger gọi là ‘khoa học lịch sử’. (Xem H.375, 378.) ‘Geschichte’ thường đại diện cho loại ‘lịch sử’ thực sự xảy ra. Theo quy tắc, chúng ta sẽ dịch chúng tương ứng là ‘sử học’ và ‘lịch sử’, theo các quy ước tương tự trong việc xử lý hai tính từ này. Xem đặc biệt Mục 6 và 76 bên dưới.