Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
Việc đặt nền móng, như chúng ta đã mô tả, đúng hơn là một logic mang tính sản sinh - theo nghĩa nó nhảy vọt [tr.31] như thể, vào một lĩnh vực nào đó của Hữu thể, lần đầu tiên tiết lộ nó trong cấu thành của Hữu thể đó, và sau khi đạt đến các cấu trúc bên trong nó, làm cho những cấu trúc này có sẵn cho các khoa học thực chứng với tư cách là những nhiệm vụ minh bạch để nghiên cứu.1 Ví dụ, điều quan trọng về mặt triết học không phải là lý thuyết về sự hình thành khái niệm của môn lý luận sử học, cũng không phải là lý thuyết về tri thức sử học, hay lý thuyết về lịch sử như là đối tượng của môn lý luận sử học; điều quan trọng hơn cả là Sự diễn giải các thực thể lịch sử đích thực về sử tính của chúng2 Tương tự, kết quả tích cực của Phê phán Lý tính Thuần túy của Kant nằm ở những gì nó đã đóng góp vào việc làm rõ những gì thuộc về bất kỳ Bản chất nào, chứ không phải là một ‘lý thuyết’ về tri thức. Logic siêu nghiệm của ông là một logic tiên nghiệm cho chủ đề của lĩnh vực Hữu thể được gọi là ‘Bản chất’. Nhưng chính cách khảo sát như vậy – thứ bản thể học-tự thân được hiểu theo nghĩa rộng nhất mà không ưu tiên bất kỳ hướng đi hay xu hướng bản thể học cụ thể nào - lại đòi hỏi thêm manh mối nữa. Thực tế, việc nghiên cứu Bản thể luận mang tính nguyên thủy hơn, trái ngược với việc nghiên cứu ontic thực hữu3 của các khoa học thực chứng. Nhưng bản thân nó vẫn còn ngây thơ và khó hiểu nếu việc nghiên cứu về Hữu thể của các hiện hữu lại không bàn về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Và ngay cả nhiệm vụ bản thể luận là kiến tạo một phả hệ phi-diễn dịch về cách thức khả thể khác nhau của Hữu thể trước hết cũng đòi hỏi phải hiểu được “chúng ta thực sự muốn nói gì bằng thuật ngữ ‘Hữu thể’ này’’.
Do đó, câu hỏi về Hữu thể nhằm mục đích xác định các điều kiện tiên nghiệm không chỉ cho khả tính của các ngành khoa học xác định các hiện hữu như là những hiện hữu thuộc loại này hay loại khác, và khi làm như vậy, đã vận hành cách lý giải về Hữu thể, cũng như cho khả tính của chính những bản thể luận đó, vốn có trước các ngành khoa học ontic thực hữu và cung cấp nền tảng cho chúng. Về cơ bản, toàn bộ bản thể luận, cho dù sở hữu một hệ thống các phạm trù phong phú và vững chắc đến đâu, vẫn mù quáng và lệch lạc khỏi mục đích tối thượng của nó, nếu trước tiên nó không minh định được đầy đủ ý nghĩa của Hữu thể, và coi việc minh định này là nhiệm vụ cơ bản của mình. Chính việc nghiên cứu bản thể luận, nếu hiểu đúng sẽ mang lại cho câu hỏi về Hữu thể một ưu quyền bản thể luận vượt ra ngoài sự tiếp nối đơn thuần của một truyền thống khả kính và tiên tiến với một vấn đề cho đến nay vẫn còn mơ hồ. Nhưng cái ưu quyền khoa học khách quan này lại không phải là duy nhất.
4. Ưu quyền Bản thể luận của Câu hỏi về Hữu thể
Khoa học nói chung có thể được định nghĩa là toàn thể được thiết lập thông qua sự liên kết của các mệnh đề chân.4 Định nghĩa này không đầy đủ, cũng không đạt đến ý nghĩa của khoa học. Là những cách thức mà con người hành xử, khoa học có cách thức của Hữu thể mà hiện hữu tự thân con người này - sở hữu. Chúng tôi biểu thị hiện hữu ấy bằng thuật ngữ ‘Dasein’. Nghiên cứu khoa học không phải là cách thức duy nhất của Hữu thể mà hiện hữu này có thể có, cũng không phải là cách thức gần gũi nhất. Hơn nữa, bản thân Dasein có một đặc điểm riêng biệt so với các hiện hữu khác, và cái đáng để chúng ta xem xét một cách sơ bộ chính là điều này. Ở đây, cuộc thảo luận của chúng ta phải dự đoán các phân tích về bản thân Dasein, trong đó, lần đầu tiên, các kết quả của chúng ta sẽ được trình bày một cách xác thực.
[Ghi chú: dù đoạn trên dịch từ bản Tiếng Anh, nhưng Người đọc muốn trình ra đây đoạn nguyên bản tr.11-12 để lưu ý Bạn đọc hãy so sánh chỉ một điều nhỏ thôi, đó là trường hợp các từ Seiende/ Seienden của bản tiếng Đức được dịch ra tiếng Anh là entity/entities. Đối với Người đọc, vì đã chót quen với cặp Sein/ Seiende là Being/being Hữu thể/hiện hữu nên trong suốt quá trình đọc của mình ở bản tiếng Anh, tôi không thay đổi Being/being bằng Being/entity/entities: Hữu thể/thực thể - dù biết rõ như bất kỳ ai đã ít nhiều theo học tiếng Latin rằng entity xuất hiện lần đầu vào cuối thế kỷ 16 có gốc từ tiếng Latinh entitas có nghĩa là ‘tồn tại’ hoặc ‘hiện hữu’; đến lượt mình entitas được hình thành từ ens có dạng sở hữu cách entis, là một phân từ hiện tại được tạo ra từ động từ Latin esse, có nghĩa là ‘là’ hoặc ‘tồn tại’; hơn nữa, hậu tố ‘-ity’ xuất phát từ ‘-itatem’, với nghĩa ‘chất, tính chất, hoặc trạng thái của’; vậy là theo nghĩa đen, ‘entity’ là ‘một thứ hiện hữu/tồn tại’; các nhà triết học xưa đã đặt ra thuật ngữ này để thiết lập sự phân biệt giữa ‘esse’ - tồn tại thực tế - và ‘ens’ - tồn tại trừu tượng như một khái niệm rồi chuyển từ khái niệm trừu tượng về ‘tồn tại’ thành một đơn vị riêng biệt. Wissenschaft überhaupt kann als das Ganze eines Begründungszusammenhanges wahrer Sätze bestimmt werden. Diese Definition ist weder vollständig, noch trifft sie die Wissenschaft in ihrem Sinn. Wissenschaften haben als Verhaltungen des Menschen die Seinsart dieses Seienden (Mensch). Dieses Seiende fassen wir terminologisch als Dasein. Wissenschaftliche Forschung ist nicht die einzige und nicht die nächste mögliche Seinsart dieses Seienden. Das Dasein selbst ist überdies vor anderem Seienden ausgezeichnet. Diese Auszeichnung gilt es vorläufig sichtbar zu machen. Hierbei muß die Erörterung den nachkommenden und erst eigentlich aufweisenden Analysen vorgreifen. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, pp.11-12. HHN)]
Dasein là một hiện hữu không chỉ xuất hiện giữa các hiện hữu khác. Thay vào đó, nó được phân biệt về phương diện ontic thực hữu luận bởi thực tế là, trong chính Hữu thể của nó, thứ Hữu thể là một vấn đề đối với nó. Nhưng trong trường hợp đó, đây lại là một trạng thái cấu thành Hữu thể của Dasein, và điều này ngụ ý rằng Dasein, trong Hữu thể của nó, có một mối quan hệ đối với Hữu thể đó - một mối quan hệ mà bản thân nó là một mối quan hệ của Hữu thể.5 Và điều này có nghĩa là có một cách nào đó mà Dasein hiểu chính nó trong Hữu thể của nó, và ở một mức độ nào đó, nó làm như vậy một cách rõ ràng. Đặc điểm riêng của hiện hữu này là với và thông qua Hữu thể của nó, Hữu thể đó được tiết lộ cho nó. Sự hiểu biết về Hữu thể tự nó là một đặc điểm nhất định của Hữu thể của Dasein. Dasein mang tính đặc thù ontic thực hữu luận ở chỗ nó mang tính bản thể luận.6 Ở đây, ‘Hữu thể-bản thể luận” chưa đồng nghĩa với việc ‘phát triển một bản thể học’. Vì vậy, nếu chúng ta dành thuật ngữ ‘bản thể luận’ cho việc khảo sát lý thuyết được dành riêng cho ý nghĩa của các hiện hữu, thì điều chúng ta đã nghĩ đến khi nói về ‘Hữu-thế-bản thể luận’ của Dasein cần được chỉ định là một cái gì đó ‘tiền-bản thể luận’. Tuy nhiên, nó không chỉ đơn giản có nghĩa là ‘hiện hữu-thực hữu’, mà đúng hơn là ‘hiện hữu theo cách mà người ta có sự hiểu biết về Hữu thể’.
Loại Hữu thể mà Dasein có thể hướng tới theo cách này hay cách khác, và luôn luôn hướng tới theo một cách nào đó, chúng ta gọi là Existenz ‘tồn tại’. Và bởi vì chúng ta không thể định nghĩa bản chất của Dasein bằng cách trích dẫn một ‘cái gì’ thuộc loại liên quan đến chủ thể, và bởi vì bản chất của nó nằm ở chỗ trong mỗi trường hợp nó [tr.33] đều có Hữu thể của nó để tồn tại, và coi nó là của riêng mình,7 chúng ta đã chọn đặt tên cho thực thể này là ‘Dasein’, một thuật ngữ hoàn toàn là biểu hiện của Hữu thể của nó. [Nguyên bản: Das Sein selbst, zu dem das Dasein sich so oder so verhalten kann und immer irgendwie verhält, nennen wir Existenz. Und weil die Wesensbestimmung dieses Seienden nicht durch Angabe eines sachhaltigen Was vollzogen werden kann, sein Wesen vielmehr darin liegt, daß es je sein Sein als seiniges zu sein hat, ist der Titel Dasein als reiner Seinsausdruck zur Bezeichnung dieses Seienden gewählt – Hữu thể tự thân, mà Dasein liên hệ theo cách này hay cách khác và luôn luôn liên hệ theo một cách nào đó, chúng ta gọi là Existenz tồn tại. Và bởi vì việc xác định thiết yếu hiện hữu này không thể hoàn thành bằng cách chỉ định một ‘cái gì’ thực tế, mà bản chất của nó nằm ở chỗ luôn phải là Hữu thể của chính nó, nên danh xưng Dasein, như một biểu hiện thuần túy của Hữu thể, đã được chọn để chỉ định hiện hữu này. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.12. - HHN)].
Dasein luôn hiểu chính nó theo khuôn khổ sự tồn tại của nó - theo khuôn khổ khả tính của chính nó: là chính nó hay không là chính nó. Dasein hoặc đã tự thân chọn những khả tính này, hoặc đã đạt được chúng, hoặc đã trưởng thành trong chúng. Chỉ có Dasein cụ thể mới quyết định sự tồn tại của nó, cho dù nó làm như vậy bằng cách nắm bắt hay bằng cách bỏ mặc. Câu hỏi về sự tồn tại không bao giờ được làm rõ ngoại trừ thông qua chính tự thân tồn tại. “Das hierbei führende Verständnis seiner selbst nennen wir das existenzielle.” Sự hiểu biết về bản thân dẫn dắt theo con đường này được chúng ta gọi là hiểu biết ‘hiện sinh’.8 [Cần ghi chú nhỏ về cái gọi là ‘hiểu biết hiện sinh’ của Heidegger: Trong triết học của Martin Heidegger, ‘Existenzial’ đề cập đến các đặc điểm cấu trúc, phổ quát của Dasein hiện hữu người, trái ngược với ‘existenziell’, biểu thị những lựa chọn riêng tư, cụ thể của một cá nhân. Do đó, existenziales Verständnis hiểu biết hiện sinh có nghĩa là hiểu được những cách thức cấu trúc, cơ bản mà con người hiện hữu và liên hệ với thế giới. Để phân tích sâu hơn, Heidegger chia hiểu biết của con người thành hai lĩnh vực chính trong tác phẩm kinh điển ‘Hữu thể và Thời gian’ của ông: i) Hiểu biết hiện sinh về phương diện Bản thể luận, đó là hiểu biết lý thuyết hoặc triết học về các cấu trúc phổ quát tạo nên bất kỳ cuộc sống nào của con người, ví dụ: cái chết, tâm trạng xao xuyến, hiện-hữu-trong-thế-giới, v.v…tất cả đều đặt câu hỏi về ý nghĩa của việc làm người. Về phương diện này, Heidegger đã sử dụng thuật ngữ existenzial ‘hiện sinh’ để mô tả phân tích triết học nghiêm ngặt của ông về bản chất cấu trúc của Dasein; ii) Hiểu biết hiện sinh về phương diện ontic thực hữu là sự hiểu biết cụ thể, trải nghiệm mà một cá nhân có được về cuộc sống và những lựa chọn cụ thể của chính họ; nó đặt ra câu hỏi: Tôi là ai và tôi chọn cuộc sống như thế nào; chẳng hạn trong khi Mortalität ‘Khả tử tính’ là một cấu trúc hiện sinh - phổ quát - áp dụng cho tất cả con người, thì sự chấp nhận cái chết của chính bạn, về mặt cá nhân, cảm xúc hoặc thực tiễn, lại Existenzielle mang tính hiện sinh. Hai phương diện đó có mối liên hệ với nhau, Heidegger cho rằng ta không thể có cái này mà thiếu cái kia; cuộc sống thực tiễn hàng ngày mang tính hiện sinh của chúng ta giả định rằng chúng ta đã có một sự hiểu biết mơ hồ, tiềm ẩn hoặc tiền lý thuyết về các cấu trúc vĩ đại của sự tồn tại người - existentiell hiện sinh. - HHN] Câu hỏi về tồn tại là một trong những ‘vấn đề’ ontic thực hữu của Dasein. Điều này không đòi hỏi cái cấu trúc bản thể luận của sự tồn tại phải minh bạch về mặt lý thuyết. Câu hỏi về cấu trúc đó nhằm mục đích Auseinanderlegung phân tích những gì cấu thành nên sự tồn tại. Bối cảnh của những cấu trúc như vậy được chúng ta gọi là ‘tính hiện sinh’. Tính phân tích của nó mang đặc trưng của một sự hiểu biết không phải là existentiell hiện sinh, mà đúng hơn là existential mang tính tồn tại. Nhiệm vụ của một phân tích tồn tại về Dasein đã được vạch ra trước, cả về khả tính và tất yếu tính của nó, trong cấu thành ontic thực hữu luận của Dasein.
Chừng nào tồn tại còn là đặc tính quyết định của Dasein, thì việc phân tích bản thể luận của hiện hữu này luôn đòi hỏi phải xem xét tồn tại tính trước. Bằng ‘tồn tại tính’, chúng ta hiểu là trạng thái của Hữu thể, thứ cấu thành nên những hiện hữu tồn tại. Nhưng trong ý niệm về trạng thái cấu thành của Hữu thể như vậy, thì ý niệm về Hữu thể cũng đã được bao hàm. Và do đó, ngay cả khả tính thực hiện cái có tính phân tích về Dasein cũng phụ thuộc vào việc giải quyết trước câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. [Ghi chú nguyên văn: Sofern nun aber Existenz das Dasein bestimmt, bedarf die ontologische Analytik dieses Seienden je schon immer einer vorgängigen Hinblicknahme auf Existenzialität. Diese verstehen wir aber als Seinsverfassung des Seienden, das existiert. In der Idee einer solchen Seinsverfassung liegt aber schon die Idee von Sein. Und so hängt auch die Möglichkeit einer Durchführung der Analytik des Daseins an der vorgängigen Ausarbeitung der Frage nach dem Sinn von Sein überhaupt. Tuy nhiên, nếu sự tồn tại quyết định Dasein, thì việc phân tích bản thể học của hiện hữu này luôn đòi hỏi phải xem xét trước về tồn tại tính. Chúng ta hiểu điều này như là trạng thái Hữu thể của cái hiện hữu tồn tại. Nhưng ý niệm về một trạng thái Hữu thể như vậy cũng đã bao hàm ý niệm về tự thân Hữu thể đó. Vì vậy, khả tính thực hiện phân tích Dasein cũng phụ thuộc vào việc làm rõ trước câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.13. - HHN)]. Khoa học là những cách thức của Hữu thể mà trong đó tự thân Dasein hành xử đối với các hiện hữu mà bản thân nó không nhất thiết phải tự thân là loại hiện hữu đó. Nhưng Hữu thể trong một thế giới là một cái gì đó tự bản chất lại thuộc về Dasein. Do đó, hiểu biết của Dasein về Hữu thể liên quan đến cả hiểu biết về một cái gì đó giống như một ‘thế giới’, và hiểu biết về Hữu thể của những hiện hữu nào trở nên có thể tiếp cận được trong thế giới đó.9 Vì vậy, bất cứ khi nào một bản thể học lấy các hiện hữu có đặc tính Hữu thể khác với Dasein làm đối tượng của nó, thì nó có nền tảng và động lực riêng trong cấu trúc ontic thực hữu của chính Dasein, trong đó hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể được bao gồm như một đặc điểm xác định.
[Tr.34] Do đó, bản thể học cơ bản, mà duy nhất từ đó tất cả các bản thể học khác có thể nảy sinh, phải được tìm kiếm trong phân tích tồn tại của Dasein. Theo đó, Dasein có ưu quyền hơn tất cả các hiện hữu khác theo nhiều cách. Ưu quyền đầu tiên là ưu quyền mang tính ontic thực hữu luận: Dasein là một hiện hữu mà Hữu thể của nó mang đặc tính xác định của sự tồn tại. Ưu quyền thứ hai là ưu quyền về bản thể luận: Dasein tự nó có tính ‘bản thể luận’, do đó tồn tại mang tính quyết định đối với nó. Nhưng với gleichursprünglich nguyên tính ngang nhau, Dasein cũng sở hữu - như một yếu tố cấu thành cho sự hiểu biết về sự tồn tại của nó - một sự hiểu biết về Hữu thể của tất cả các hiện hữu có đặc tính khác với chính nó. Do đó, Dasein có ưu quyền thứ ba là cung cấp điều kiện ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận cho khả tính của bất kỳ bản thể học nào. Như vậy, hơn bất kỳ hiện hữu nào khác, Dasein đã trở thành hiện hữu đầu tiên phải được xem xét về mặt bản thể luận. Nhưng nguồn gốc phân tích hiện sinh, về phần mình, cuối cùng là hiện sinh, tức là bản thể luận. Chỉ khi nào việc nghiên cứu triết học được nắm bắt hiện sinh như một khả tính về Hữu thể của mỗi Dasein đang tồn tại, thì mới có thể làm sáng tỏ tính hiện sinh của tồn tại và tiến hành một vấn đề bản thể học được đặt nền tảng đầy đủ. Nhưng với điều này, ưu quyền ontisch thực hữu luận của vấn đề hiện hữu cũng trở nên rõ ràng.
Cái ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận của Dasein đã được nhận thấy khá sớm, mặc dù bản thân Dasein chưa được nắm bắt trong cấu trúc bản thể luận đích thực của nó, và thậm chí chưa trở thành một vấn đề mà trong đó cấu trúc này được tìm kiếm. Aristotle nói: ἡ ψυχὴ τὰ ὄντα πώς ἐστι vi (hē psychē ta onta pōs esti) ‘Linh hồn con người, theo một cách nào đó, là các hiện hữu.’ (tri giác, cảm giác, hoặc sự phân biệt - HHN) và νόησις (trí tuệ, sự thông minh, hoặc việc vận dụng lý trí) trong số các cách thức của Hữu thể của nó, và trong những điều này nó khám phá ra tất cả các hiện hữu, cả trong thực tế mà chúng tồn tại, và trong Hữu thể của chúng như chúng vốn có - nghĩa là, luôn luôn trong Hữu thể của chúng. Nguyên tắc của Aristotle, vốn quay trở lại luận đề bản thể luận của Parmenides, là một nguyên tắc mà Thomas Aquinas đã đề cập trong một cuộc thảo luận rất đặc trưng. Thomas đang thực hiện nhiệm vụ tìm ra cái ‘transcendentia’ siêu việt – những đặc tính của Hữu thể nằm ngoài mọi cách thức khả thể trong đó một hiện hữu có thể được phân loại như là loại chủ đề chung nào đó (modus specialis entis phương thức tồn tại đặc thù), và nó nhất thiết phải thuộc về bất cứ thứ gì, bất kể nó có thể là gì. Thomas phải chứng minh rằng cái verum đích thực là một siêu việt như vậy. Ông làm điều này bằng cách viện dẫn một hiện hữu mà, phù hợp với chính cách thức của Hữu thể của nó, thì thích hợp để ‘kết hợp với’ các hiện hữu thuộc bất kỳ loại nào. Hiện hữu đặc biệt này, ens quod natum est convenire cum omni ente "Một hiện hữu được sinh ra để dung hợp với mọi hiện hữu khác", đó chính là anima linh hồn.v11
Ở đây, ưu quyền của ‘Dasein’ so với tất cả các hiện hữu khác nổi lên, mặc dù nó chưa được minh định về mặt bản thể học. Ưu quyền này rõ ràng không có điểm chung nào với việc chủ thể hóa một cách trầm trọng toàn bộ các hiện hữu. Bằng cách chỉ ra cái ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận của Dasein theo cách tạm thời này [tr.35], chúng ta đã đặt nền tảng cho việc chứng minh rằng câu hỏi về Hữu thể mang tính đặc thù ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận. Nhưng khi phân tích cấu trúc của câu hỏi này theo đúng nghĩa (Mục 2), chúng ta đã vấp phải một cách thức đặc biệt mà thực thể này hoạt động trong chính việc đặt ra câu hỏi đó. Vậy là Dasein đã tự bộc lộ là thứ hiện hữu cần được xử lý trước tiên theo cách thức bản thể luận phù hợp, nếu muốn việc khảo sát trở nên minh bạch. Nhưng giờ đây, người ta đã chỉ ra rằng lối phân tích mang tính bản thể luận về Dasein nói chung là cái tạo nên bản thể luận cơ bản, sao cho Dasein hoạt động với tư cách hiện hữu mà về nguyên tắc cần phải được chất vấn trước về Hữu thể của nó. Nếu Diễn giải ý nghĩa Hữu thể trở thành nhiệm vụ của chúng ta, thì Dasein không chỉ là hiện hữu chính yếu cần chất vấn, mà đó cũng là thứ hiện hữu đã tự hành xử, trong Hữu thể của nó, hướng đến cái mà chúng ta đang hỏi đến khi đặt câu hỏi này. Nhưng trong trường hợp đó, câu hỏi về Hữu thể không gì khác lối cấp tiến hóa của một xu-hướng-của-Hữu-thể thiết yếu thuộc về chính Dasein - hiểu biết tiền-bản thể luận về Hữu thể.
II. NHIỆM VỤ KÉP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÂU HỎI VỀ HỮU THỂ. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CỦA CHÚNG TÔI
5. Bản thể luận của Dasein - Chân trời Diễn giải Ý nghĩa Hữu thể
Trong việc xác định các nhiệm vụ ‘tạo dựng’ vấn đề Hữu thể, chúng ta đã chỉ ra việc cần phải xác định hiện hữu nào sẽ đóng vai trò là đối tượng chất vấn chính của mình, mà còn ấn định rõ cách tiếp cận đúng đắn đối với hiện hữu này là loại hiện hữu mà chúng ta phải xác định rõ ràng và giữ vững. Chúng ta đã thảo luận về hiện hữu nào đảm nhận vai trò chính trong vấn đề Hữu thể. Nhưng làm thế nào để chúng ta hướng tầm nhìn của mình đến loại hiện hữu này, Dasein, vừa là thứ có thể tiếp cận được với chúng ta, lại vừa là thứ cần được hiểu và diễn giải? Trong việc chứng minh rằng Dasein có ưu quyền về mặt ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận, chúng ta có thể đã khiến người đọc hiểu nhầm rằng loại hiện hữu này cũng phải là cái được coi là ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận chủ yếu không chỉ theo nghĩa nó có thể tự thân được nắm bắt ‘ngay lập tức’, mà còn ở chỗ loại Hữu thể mà nó sở hữu cũng hệt như vậy, phải được trình bày ‘ngay lập tức’. Về mặt thực hữu luận, dĩ nhiên, Dasein không chỉ gần gũi với chúng ta - thậm chí là cái gần gũi nhất: chúng ta chính là nó, mỗi người trong chúng ta, chính bản thân chúng ta. Mặc dù vậy, hay đúng hơn là chính vì lý do này, nó lại là cái xa nhất về mặt bản thể luận. Chắc chắn, cái Hữu thể tối thượng của nó là như vậy, nó có sự hiểu biết về Hữu thể đó, và đã tự duy trì trong mỗi trường hợp hệt như cái Hữu thể của nó đã được diễn giải theo một cách nào đó. Nhưng chúng tôi chắc chắn không nói rằng khi Hữu thể của Dasein được diễn giải theo cách gần gũi nhất về phương diện tiền-bản thể luận, thì cách diễn giải này có thể được coi là một manh mối thích hợp, như thể cách hiểu này về Hữu thể là cái phải xuất hiện khi trạng thái Hữu thể tối thượng của một kẻ được xem xét10 như một chủ đề bản thể luận. Loại Hữu thể thuộc về Dasein, khi hiểu Hữu thể của chính nó, có xu hướng làm như vậy theo khuôn khổ của cái mà nó hướng tới một cách gần gũi và theo cách về cơ bản là không đổi - theo khuôn khổ của ‘thế giới’. Trong tự thân Dasein, và trong hiểu biết của chính nó về Hữu thể, cách thức mà thế giới được hiểu [tr.37], như chúng ta sẽ thấy, được phản ánh lại về mặt bản thể luận lên cái cách thức mà tự thân Dasein được diễn giải.
Vậy là bởi vì Dasein là ưu quyền ontisch-ontologische thực hữu-bản thể luận, nên trạng thái của Hữu thể đặc thù của chính nó (nếu ta hiểu điều này theo nghĩa ‘cấu trúc phạm trù’ của Dasein) vẫn bị che giấu khỏi nó. Dasein về mặt thực hữu luận là ‘gần gũi’ nhất với chính nó và về mặt bản thể luận là xa cách nhất; nhưng về mặt tiền-bản thể luận, nó chắc chắn không phải là một hiện hữu xa lạ. Ở đây, chúng ta chỉ tạm thời chỉ ra rằng một sự Diễn giải về hiện hữu này phải đối mặt với những khó khăn đặc thù bắt nguồn từ loại Hữu thể thuộc về đối tượng được chọn làm chủ đề của chúng ta và từ chính hành vi của việc lựa chọn nó. Những khó khăn này không bắt nguồn từ bất kỳ thiếu sót nào của năng lực nhận thức mà chúng ta được ban tặng, hoặc từ việc thiếu một cách thức phù hợp để hình dung - một thiếu sót dường như không khó để khắc phục. Tuy nhiên, không chỉ sự hiểu biết về Hữu thể thuộc về Dasein; mà sự hiểu biết này còn phát triển hoặc suy giảm cùng với bất kỳ loại Hữu thể nào mà Dasein có thể sở hữu vào thời điểm ấy; do đó, có nhiều cách diễn giải khác nhau về Dasein, và tất cả đều nằm trong tầm kiểm soát của Dasein.
Các cách thức hành xử, năng lực, quyền năng, khả tính và sự thăng trầm của Dasein đã được nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau trong tâm lý học triết học, nhân học, đạo đức học và khoa học chính trị, trong thơ ca, tiểu sử và việc viết lịch sử, mỗi lĩnh vực theo một cách riêng. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu những diễn giải ấy về Dasein có được thực hiện với một tồn tại tính nguyên thủy tương đương với bất kỳ tính nguyên thủy hiện sinh nào mà chúng có thể sở hữu hay không. Cả hai điều này không loại trừ lẫn nhau nhưng chúng không nhất thiết phải đi cùng nhau. Diễn giải hiện sinh có thể đòi hỏi một phân tích tồn tại, nếu thực sự chúng ta coi nhận thức triết học là điều gì đó khả thể và cần thiết. Chỉ khi các cấu trúc cơ bản của Dasein được làm rõ một cách đầy đủ với định hướng rõ ràng hướng tới vấn đề Hữu thể tự thân, thì những gì chúng ta đã đạt được cho đến nay trong việc diễn giải Dasein mới có được sự biện minh mang tính tồn tại của nó. Do đó, một tính chất phân tích về Dasein vẫn phải là yêu cầu đầu tiên của chúng ta trong vấn đề Hữu thể. Nhưng trong trường hợp đó, vấn đề đạt được và đảm bảo loại hình tiếp cận dẫn đến Dasein càng trở nên cấp thiết hơn. Nói một cách phủ định, chúng ta không có quyền viện đến những cấu trúc giáo điều và áp dụng bất kỳ ý niệm nào về Hữu thể và hiện thực tính cho hiện hữu này, cho dù ý niệm đó có ‘hiển nhiên’ đến đâu; cũng không thể áp đặt bất kỳ ‘phạm trù’ nào mà một ý niệm như vậy ấn định lên Dasein mà không có sự xem xét bản thể luận thích đáng. Thay vào đó, phải chọn một cách tiếp cận và diễn giải sao cho hiện hữu này có thể an ihm selbst von ihm selbst her tự thể hiện chính nó và trong tự thân nó. Và điều này có nghĩa là nó phải được thể hiện như nó vốn có và phần lớn [tr.38] trong cuộc sống thường nhật bình thường của nó.11
Trong tính chất thường nhật này, có một số cấu trúc nhất định mà chúng ta sẽ trình bày - không chỉ là những cấu trúc ngẫu nhiên, mà là những cấu trúc thiết yếu, trong mọi loại Hữu thể mà Dasein thực tế có thể sở hữu, vẫn tồn tại như là yếu tố quyết định đến bản chất của Hữu thể đó. Do đó, bằng cách xem xét trạng thái cơ bản của tính chất thường nhật của Dasein, chúng ta sẽ làm nổi bật Hữu thể của hiện hữu này bằng bước chuẩn bị. Khi được xem xét theo cách này, phân tích về Dasein vẫn hoàn toàn hướng tới nhiệm vụ dẫn dắt là giải quyết câu hỏi về Hữu thể. Do đó giới hạn của nó được xác định. Không thể cố cung cấp một bản thể luận hoàn chỉnh về Dasein, điều chắc chắn phải được xây dựng nếu bất cứ điều gì giống như một nhân học ‘triết học’ muốn có một cơ sở triết học đầy đủ.12 Nếu mục đích của chúng ta là làm cho một nhân học như vậy trở nên khả thể, hoặc đặt nền tảng bản thể luận của nó, thì Diễn giải của chúng ta sẽ chỉ cung cấp một số ‘mảnh ghép’, mặc dù chúng không phải là những mảnh ghép không thiết yếu. Tuy nhiên, phân tích về Dasein không chỉ không đầy đủ; mà trước hết, còn mang tính tạm thời. Nó chỉ đơn thuần làm nổi bật Hữu thể của hiện hữu này, mà không diễn giải ý nghĩa của nó, hệt như một quy trình chuẩn bị để làm sáng tỏ chân trời cho cách diễn giải Hữu thể nguyên thủy nhất. Một khi chúng ta đã đạt đến chân trời đó, thì bước phân tích chuẩn bị này về Dasein sẽ phải được lặp lại trên một cơ sở cao hơn và mang tính bản thể học đích thực.
[Ghi chú chút nguyên bản để so sánh: Die so gefaßte Analytik des Daseins bleibt ganz auf die leitende Aufgabe der Ausarbeitung der Seinsfrage orientiert. Dadurch bestimmen sich ihre Grenzen. Sie kann nicht eine vollständige Ontologie des Daseins geben wollen, die freilich ausgebaut sein muß, soll so etwas wie eine »philosophische« Anthropologie auf einer philosophisch zureichenden Basis stehen. In der Absicht auf eine mögliche Anthropologie, bzw. deren ontologische Fundamentierung, gibt die folgende Interpretation nur einige, wenngleich nicht unwesentliche »Stücke«. Die Analyse des Daseins ist aber nicht nur unvollständig, sondern zunächst auch vorläufig. Sie hebt nur erst das Sein dieses Seienden heraus ohne Interpretation seines Sinnes. Die Freilegung des Horizontes für die ursprünglichste Seinsauslegung soll sie vielmehr vorbereiten. Ist dieser erst gewonnen, dann verlangt die vorbereitende Analytik des Daseins ihre Wiederholung auf der höheren und eigentlichen ontologischen Basis. Phiên bừa: Phân tích về Dasein, như được hình dung ở đây, vẫn hoàn toàn tập trung vào nhiệm vụ hướng dẫn để làm rõ câu hỏi về Hữu thể. Điều này xác định giới hạn của nó. Nó không thể nhằm mục đích cung cấp một bản thể luận hoàn chỉnh về Dasein, vốn đương nhiên phải được phát triển nếu một cái gì đó giống như nhân học ‘triết học’ muốn đứng vững trên một nền tảng triết học đầy đủ. Với ý hướng về một nhân học khả thể, hay đúng hơn là nền tảng bản thể luận của nó, cách diễn giải sau đây chỉ đưa ra một vài ‘mảnh ghép’, mặc dù không phải là không mấy ý nghĩa. Ngay từ khởi đầu phân tích về Dasein không chỉ chưa hoàn chỉnh mà còn mang tính tạm thời. Nó chỉ làm sáng tỏ cái Hữu thể của hiện hữu này mà không diễn giải ý nghĩa của nó. Thay vào đó, nó nhằm mục đích chuẩn bị nền tảng cho cách diễn giải độc đáo nhất về Hữu thể. Một khi nền tảng này đã được thiết lập, thì vorbereitende Analytik bước phân tích chuẩn bị về Dasein đòi hỏi sự lặp lại của nó trên cơ sở bản thể luận cao hơn và chân thực. (Heidegger M., (1967) Sein und Zeit. Elfte, unveränderte Auflage 1967, Max Niemeyer Verlag Tübingen, p.17. - HHN)] Chúng ta sẽ chỉ ra thời tính thời13 như là ý nghĩa Hữu thể của thứ hiện hữu gọi là ‘Dasein’. Nếu điều này được chứng minh, thì những cấu trúc của Dasein mà chúng ta sẽ tạm thời trình bày phải được diễn giải lại như là các phương thức của thời tính. Tuy nhiên, khi diễn giải Dasein với tư cách thời tính, chúng ta sẽ không đưa ra lời đáp cho câu hỏi chính của mình về ý nghĩa của Hữu thể nói chung. Nhưng sẽ có sự chuẩn bị nền tảng để có được câu trả lời như vậy.
[Tr.39] Chúng ta đã ám chỉ rằng Dasein có một Hữu thể tiền-bản thể luận với tư cách là trạng thái cấu thành Hữu thể của nó về phương diện thực hữu. Theo cách nào đó Dasein phải là thứ hiểu được thứ gì đó giống như Hữu thể.14 Giữ vững mối liên hệ này trong tâm trí, chúng ta sẽ chỉ ra rằng bất cứ khi nào Dasein ngầm hiểu và diễn giải thứ gì đó giống như Hữu thể, thì nó đều làm như vậy với thời gian với tư cách là quan điểm của mình. Thời gian phải được làm sáng tỏ - và được hình dung một cách chân thực - như là chân trời cho mọi hiểu biết về Hữu thể và cho bất kỳ cách diễn giải nào về nó. Để chúng ta nhận ra điều này, thời gian cần được giải thích một cách cơ bản như là chân trời cho sự hiểu biết về Hữu thể, và trong khuôn khổ thời tính với tư cách là Hữu thể của Dasein, vốn hiểu rõ Hữu thể. Do đó toàn bộ nhiệm vụ này đòi hỏi rằng quan niệm có được về thời gian phải phân biệt với cách hiểu thông thường về nó. Cách hiểu thông thường này đã trở nên rõ ràng bằng một cách diễn giải được hình thành trong khái niệm truyền thống về thời gian, vốn đã tồn tại từ Aristotle đến Bergson và thậm chí cả sau này. Ở đây chúng ta phải làm rõ quan niệm ấy về thời gian, và nói chung, cách hiểu thông thường về nó, đã bắt nguồn từ thời tính, và phải chỉ rõ điều đó đã diễn ra như thế nào. Như vậy, chúng ta sẽ khôi phục lại cho quan niệm thông thường tính tự chủ vốn có của nó, trái ngược với luận điểm của Bergson cho rằng thời gian mà người ta đề cập trong quan niệm này chính là không gian.
‘Thời gian’ từ lâu đã đóng vai trò là một tiêu chí bản thể luận - hay đúng hơn là tiêu chí ontic thực hữu - để phân biệt một cách ngây thơ các lĩnh vực khác nhau của các hiện hữu. Người ta đã phân biệt giữa các thực thể ‘thời gian’ (các quá trình tự nhiên, các sự kiện lịch sử) và các thực thể ‘phi thời gian’ (các mối quan hệ không gian và số học). Chúng ta quen với việc đối lập ý nghĩa ‘phi thời gian’ của các mệnh đề với quá trình theo ‘thời gian’ của các khẳng định mệnh đề. Người ta cũng cho rằng có một ‘sự phân tách’ giữa các thực thể mang tính ‘thời gian’ và cái vĩnh hằng ‘siêu thời gian’, và người ta đang nỗ lực để thu hẹp khoảng cách này. Ở đây, tính chất ‘thời gian’ luôn có nghĩa đơn giản là seiend ‘hiện hữu trong thời gian’ - một ấn định phải thừa nhận là vẫn còn khá mơ hồ. Cái Thực tế vẫn là thời gian, theo nghĩa ‘tồn tại trong thời gian’, đóng vai trò là một tiêu chí để phân biệt các lĩnh vực Hữu thể. Cho đến nay, chưa ai yêu cầu hoặc bận tâm khảo sát cái cách thức làm thế nào mà thời gian lại có được chức năng bản thể luận đặc biệt này, hay bất cứ thứ gì giống như thời gian lại vận hành theo đúng nghĩa một tiêu chí; cũng chưa ai đặt câu hỏi liệu mối liên quan bản thể luận đích thực mà nó có thể mang lại có được thể hiện khi ‘thời gian’ được sử dụng theo cách thức bản thể luận ngây thơ như vậy hay không. ‘Thời gian’ đã tự mình có được chức năng bản thể luận ‘hiển nhiên’ này, có thể nói như vậy; thực tế là nó đã làm được điều đó bên trong cái chân trời của cách thức hiểu biết thông thường về nó. Và nó đã tự duy trì chức năng này cho đến ngày nay.
[Tr.40] Trái ngược với tất cả những điều này, cách chúng ta xử lý vấn đề ý nghĩa của Hữu thể phải cho phép chúng ta chứng minh rằng vấn đề trung tâm của toàn bộ bản thể luận bắt nguồn từ hiện tượng thời gian, nếu được nhìn nhận và giải thích đúng đắn, và chúng ta phải chỉ ra cái cách thức mà điều này là điển hình. Nếu Hữu thể được hình dung bằng khuôn khổ thời gian, và nếu quả thực, các phương thức và dẫn xuất khác nhau của nó trở nên dễ hiểu trong các biến thể và dẫn xuất tương ứng của chúng bằng cách xem xét thời gian, thì chính Hữu thể (và không chỉ là các hiện hữu, chẳng hạn như các hiện hữu ‘trong thời gian’) do đó được hiển thị trong đặc trưng mang tính ‘thời gian’ của nó. Nhưng trong trường hợp đó, ‘tính thời gian’ không còn có thể chỉ đơn giản có nghĩa là ‘hiện hữu trong thời gian’. Ngay cả ‘phi-thời gian’ và ‘siêu-thời gian’ cũng mang tính ‘thời gian’ đối với Hữu thể của chúng, và không chỉ là phủ định bằng cách tương phản với một cái gì đó mang tính ‘thời gian’ như một hiện hữu ‘trong thời gian’, mà còn theo nghĩa khẳng định, mặc dù đó là điều mà trước tiên chúng ta phải giải thích.
Trong cả cách sử dụng tiền-triết học và triết học, cách thể hiện ‘tính chất thời gian’ đã bị chiếm đoạt bởi ý nghĩa mà chúng ta đã trích dẫn; tuy nhiên, trong các nghiên cứu tiếp theo, chúng ta sẽ sử dụng nó cho một ý nghĩa khác. Như vậy, cái cách thức mà Hữu thể và các phương thức cũng như đặc điểm của nó được xác định ý nghĩa một cách nguyên thủy bằng khuôn khổ thời gian, là điều mà chúng ta sẽ gọi là tính xác định ‘Thời gian’ của nó.15 Do đó, nhiệm vụ bản thể luận cơ bản của việc Diễn giải Hữu thể theo đúng nghĩa bao gồm việc làm rõ Thời tính của Hữu thể. Trong phần trình bày về vấn đề Thời tính, câu hỏi về ý nghĩa của Hữu thể trước hết sẽ được trả lời một cách cụ thể. Bởi vì Hữu thể không thể được nắm bắt nếu không xem xét đến thời gian, nên câu trả lời cho câu hỏi về Hữu thể không thể nằm trong bất kỳ mệnh đề nào mù quáng và biệt lập. Câu trả lời không được hình thành đúng cách nếu những gì nó khẳng định về mặt mệnh đề chỉ được truyền đạt lại, đặc biệt nếu nó được lưu hành như một kết quả trôi nổi tự do, đến nỗi chúng ta chỉ được thông báo về một ‘quan điểm’ có thể khác với cái cách mà vấn đề này đã được xử lý từ trước đến nay. Việc câu trả lời có phải là một câu trả lời ‘mới’ hay không vẫn còn khá hời hợt và không mấy quan trọng. Tính khẳng định của nó phải ở chỗ nó đủ cổ xưa để có thể học cách hình dung những khả tính mà ‘Cổ nhân’ đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta. Theo nghĩa sâu xa nhất, câu trả lời này cho chúng ta biết rằng nghiên cứu bản thể luận cụ thể phải bắt đầu bằng một cuộc khảo sát nằm trong phạm vi mà chúng ta đã vạch ra; và đó là tất cả những gì nó cho chúng ta biết. Nếu vậy, lời đáp cho câu hỏi về Hữu thể phải cung cấp manh mối cho nghiên cứu của chúng ta, thì nó không thể đầy đủ cho đến khi mang lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc rằng loại Hữu thể cụ thể của bản thể luận cho đến nay, và những thăng trầm trong các cuộc khảo sát, các phát hiện và những thất bại của nó, đã nhất thiết phải có trong chính phẩm cách của Dasein.
______________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag,Tiibingen
Notes
1 '….als durchsichtige Anweisungen des Fragens….'
2 ‘….sondem die Intepretation des eigentlich geschichtlich Seienden auf seine Geschichtlichkeit’. Chúng tôi sẽ dịch thuật ngữ thường gặp “Geschichtlichkeit” là “tính lịch sử”. Heidegger rất hiếm khi sử dụng thuật ngữ ‘Historizität’, như ở H. 20 dưới đây, và thuật ngữ này sẽ được dịch là ‘tính lịch sử’.
3 Trong khi các thuật ngữ ‘ontisch’ (‘ontical’) và ‘ontologisch’ (‘ontological’) không được xác định minh bạch, thì ý nghĩa của chúng lại nổi lên khá rõ ràng. Việc tìm hiểu bản thể luận chủ yếu liên quan đến Hữu thể; việc khảo sát ontisch thực hữu chủ yếu liên quan đến các thực thể và sự thật về chúng.
4 ‘….das Ganze eines Begründungszusammenhanges wahrer Sätze….’. Xem H. 357 bên dưới.
5 ‘Zu dieer Seinsverfassung des Daseins gehort aber dann, dass es in seinem Sein zu dieem Sein ein Seinsverhaltnis hat.’ Đoạn văn này mơ hồ và cũng có thể được đọc là: ‘….và điều này ngụ ý rằng Dasein, trong Hữu thể hướng tới Hữu thể này, có mối quan hệ với Hữu thể này.’
6 ‘….dass es ontologisch ist’. Vì ‘ontologisch’ có thể là tính từ hoặc trạng từ, nên chúng ta cũng có thể viết: ‘….rằng nó mang tính bản thể luận’. Một sự mơ hồ tương tự xảy ra trong hai câu sau, trong đó chúng ta đọc lần lượt là ‘Ontologisch-sein’ và ‘ontisch-seiend’.
7 ‘….class es je sein Sein als seiniges zu sein hat….’
8 Chúng ta sẽ dịch ‘existenziell’ thành ‘existentiell’, và ‘existenzial’ thành ‘existential’. Dường như không có lý do gì để dùng đến những từ ngữ mới phức tạp hơn do các tác giả khác đề xuất.
9 ‘….innerhalb der Welt….’ Heidegger sử dụng ít nhất ba cụm từ có thể được dịch là ‘trong thế giới’: ‘innerhalb derWelt’, ‘in der Welt’, và tính từ (hoặc trạng từ) ‘innerweltlich’. Chúng tôi dịch chúng tương ứng là ‘trong thế giới’, ‘trong thế giới’, và ‘trong-thế giới’ [‘within the world’, ‘in the world’, and ‘within-the-world’.]
10 ‘Besinnung’. Các ấn bản sớm nhất thay thế bằng ‘Bestimmung’.
11 ‘Und zwar soll sie das Seiende in dem zeigen, wie es zunächst und zumeist ist, in seiner durchschnittlichen Alltäglichkeit.’ Cụm từ ‘zunachst und zumeist’ là một cụm từ xuất hiện nhiều lần, mặc dù Heidegger không giải thích nó cho đến Phần 7 1 (H. 370 bên dưới), trong đó ‘Alltaglichkeit’ cũng xuất hiện giải thích. Về ‘zunachst’ xem ghi chú 1 của chúng tôi, tr. 25, H.6.
12 Sự mơ hồ của các tham chiếu đại từ trong câu này và câu trước nó phản ánh sự mơ hồ tương tự trong tiếng Đức. (Người đọc nói tiếng Anh nên lưu ý rằng loại ‘nhân học’ triết học mà Heidegger đề cập đến là một nghiên cứu về con người theo nghĩa rộng nhất, và không nên nhầm lẫn với các khoa học thực nghiệm của nhân học ‘vật chất’ và ‘văn hóa’.)
13 ‘Zeitlichkeit’. ‘Mặc dù rất hấp dẫn khi dịch tính từ ‘zeitlich’ và danh từ ‘Zeitlichkeit’ bằng các từ đồng nghĩa tiếng Anh rõ ràng nhất của chúng, ‘timely’ và ‘timeliness’, nhưng điều này sẽ hoàn toàn gây hiểu lầm; vì ‘temporal’ và ‘temporality’ gần gũi hơn nhiều với những gì Heidegger nghĩ đến, không chỉ khi ông thảo luận về những từ này theo nghĩa phổ biến của chúng (như ông làm ở trang tiếp theo) mà ngay cả khi ông sử dụng chúng theo nghĩa đặc biệt của riêng mình, như trong Phần 65 bên dưới. (Đặc biệt xem H. 326 bên dưới, trong đó 'Zeitlichkeit' được định nghĩa.) Mặt khác, anh ấy thỉnh thoảng sử dụng danh từ 'Tạm thời' và tính từ 'thời gian' theo nghĩa mà anh ấy sẽ giải thích sau (H. 19). Chúng tôi sẽ dịch chúng bằng 'Tạm thời' và 'Tạm thời', với chữ hoa đầu tiên.
14 ‘Dasein ist in derWeise, seiend so etwas wie Sein zu verstehen.’
15 ‘seine tempurale Bestimmtheit’. Xem ghi chú của chúng tôi g, p. g8, H. 17 ở trên.
