Nora Hämäläinen & Turo-Kimmo Lehtonen
Người dịch: Hà Hữu Nga
1. Tóm tắt
[Tr.20] Trong bài viết này, chúng tôi xem xét phương thức mà Bruno Latour sử dụng siêu hình học trong dự án khoa học xã hội và triết học của ông. Trái ngược với cách đọc gần đây của Graham Harman về tác phẩm của ông, chúng tôi xem xét nghiêm túc lập trường kiên quyết của Latour về việc không tạo ra một hệ thống siêu hình học, và do đó, về cơ bản ông đang chia sẻ khuynh hướng phản siêu hình học của phần lớn triết học thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông không ngại đưa ra những tuyên bố táo bạo liên quan đến cách thức vận hành của thế giới. Vì vậy, chúng ta cần phải hỏi: vậy thì, mục đích mà Latour sử dụng siêu hình học là gì? Chúng tôi nhận thấy hai câu trả lời chính cho câu hỏi này. Mục đích đầu tiên là tạo ra một Hữu thể luận phương pháp luận thực dụng, tạm thời. Các khái niệm của ông như thực nghiệm, sự kiện, mệnh đề, tập thể, phương thức, không nhằm mục đích mô tả ‘đồ đạc của thế giới’ theo phong cách siêu hình học cổ điển. Thay vào đó, chúng tạo thành một loại minimum-wage metaphysics ‘siêu hình học lương tối thiểu’, một siêu hình học ‘thực nghiệm’ hoặc ‘kinh nghiệm’ phục vụ mục đích mở ra thế giới theo cách mới mẻ, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm. Mục đích thứ hai là việc Latour làm sáng tỏ siêu hình học của thời hiện đại, nhằm giúp chúng ta nhận ra những định kiến của chính mình. Theo ông, các giả định siêu hình là một phần không thể tránh khỏi trong mối quan hệ của chúng ta với thế giới, nhưng chúng ta, những người hiện đại, lại có xu hướng mô tả sai lệch những giả định này. ‘Các phương thức tồn tại’ trong cuốn sách gần đây của Latour nhằm mục đích làm sáng tỏ sự phức tạp của siêu hình học thực sự của người hiện đại. Tuy nhiên, chúng không phải là một danh sách những gì thực chất có đó, mà cung cấp một bộ công cụ để hiểu cách thức hiện hữu và thực hành của chúng ta.
2. Giới thiệu
[Tr.21] Trong suốt cuốn sách The Politics of Nature Chính trị của Tự nhiên, xuất bản lần đầu năm 1999, Bruno Latour nói về công trình của mình như là ‘siêu hình học thực nghiệm’ (Latour, 2004: ví dụ 60–1; 241–2). Ở những nơi khác, ông mô tả định hướng triết học của mình là về ‘siêu hình học thực nghiệm’ (1993a: 224; 2005: 51, 68).1 Điều này mang tính khiêu khích và có chủ ý như vậy. Chẳng phải siêu hình học được cho là để giải quyết những tiền đề của tư duy và being hiện hữu/tồn tại chi phối mọi thử nghiệm và đi trước nó sao? Tuy nhiên, dường như sự khiêu khích này đã bị bỏ qua. Mặc dù các tác phẩm của Latour đã thu hút nhiều sự quan tâm từ giới triết học (Bloor, 1999; Kochan, 2010; Kusch, 2002; Riis, 2008), nhưng không nhiều người thực sự chú ý đến những luận điểm của ông về khía cạnh siêu hình và ý nghĩa của các tác phẩm. Tình hình này đã thay đổi với sự xuất bản cuốn sách Prince of Networks: Bruno Latour and Metaphysics (2009) Hoàng tử Mạng: Bruno Latour và Siêu hình học của Graham Harman. Harman coi Latour là ‘một nhân vật chủ chốt trong siêu hình học’ (tr.5), và đưa ra những tuyên bố táo bạo về tác phẩm của Latour và giá trị của nó, cho rằng đó là ‘thứ triết học bị đánh giá thấp nhất trong thời đại chúng ta’ (tr.6).
Cuốn sách của Harman chứa đựng nhiều hiểu biết sâu sắc và rất dễ đọc. Điều làm cho nó đặc biệt có giá trị là nó buộc các học giả phải nhìn nhận Latour không chỉ như một nhà khoa học xã hội truyền cảm hứng mà còn là người có những tác phẩm ảnh hưởng đến nền tảng triết học của tư tưởng đương đại. Tuy nhiên, cách trình bày tác phẩm Latour của Harman cũng có những vấn đề cần xem xét. Ông không coi trọng đầy đủ khía cạnh kinh nghiệm trong triết học của Latour và do đó không đánh giá đúng mức những hàm ý của việc nhấn mạnh khía cạnh kinh nghiệm đối với bản chất siêu hình học của Latour. Điều đáng chú ý là ông đặt triết học của Latour vào bối cảnh thông qua việc đọc kỹ bốn văn bản mang tính chương trình (Irreductions, Science in Action, We Have Never Been Modern và Pandora’s Hope - Những điều bất khả quy giản, Khoa học Hành động, Chúng ta Chưa hề Hiện đại và Niềm Hy vọng của Hộp Pandora) nhưng lại không chú ý nhiều đến những văn bản của Latour dựa trực tiếp vào nghiên cứu thực địa hoặc nghiên cứu lịch sử. Chính Harman đã diễn đạt rất rõ điều thực sự còn thiếu trong cách hiểu của ông về siêu hình học của Latour khi ông hình dung thế giới sẽ như thế nào nếu một triết học theo Latour thống trị lĩnh vực câu hỏi cơ bản của nó: “Một tinh thần thực nghiệm mới thấm nhuần triết học: tất cả những người làm siêu hình học giờ đây đều đang làm ‘siêu hình học thực nghiệm’, phát triển các phạm trù của họ thông qua nghiên cứu trực tiếp về núi lửa, quả mơ hoặc tàu hỏa thực tế” (Harman, 2009: 121). Không rõ liệu Latour được miêu tả như vị hoàng tử của siêu hình học, người xây dựng hệ thống, có cần phải bận tâm đến việc nghiên cứu ‘núi lửa, quả mơ, hoặc tàu hỏa’ hay không—chưa kể đến Pasteur, Aramis hay Pedofil của Boa Vista. Tất nhiên, cách tiếp cận của Harman phản ánh một sự căng thẳng cơ bản trong toàn bộ tác phẩm của Latour; trong khi Latour liên tục khẳng định rằng triết học [tr.22] không là gì nếu không có liên kết với tài liệu nghiên cứu kinh nghiệm, thì một nửa số sách của ông lại mang tính chương trình hơn là kinh nghiệm. Quan điểm của chúng tôi không chỉ đơn thuần là tranh luận về tính hợp thức của việc Harman lựa chọn các văn bản mà là để nói rằng, thứ nhất, một kiểu lựa chọn khác có thể đã được thực hiện và thứ hai, với kiểu lựa chọn khác này, khía cạnh siêu hình học trong triết học của Latour cũng sẽ được thể hiện đầy đủ hơn.2
Có vẻ dễ dàng nhất để làm sáng tỏ định hướng triết học và siêu hình học của Latour thông qua những diễn đạt rõ ràng của ông về vấn đề này, nhưng việc phân loại chúng mà không chú ý đúng mức đến sự gần gũi với các công trình kinh nghiệm có thể dẫn đến một cái nhìn sai lệch. Nếu thực sự muốn đưa triết học của Latour ra xét xử và xem nó có khả năng làm được gì và vượt qua những thử thách nào—bằng cách áp dụng chính phương pháp luận của Latour—thì người ta nên xem xét cách thức sử dụng triết học của ông. Do đó, một bộ sách phù hợp hơn để nghiên cứu triết học của ông có thể là Laboratory Life, Pasteurization of France, Aramis and The Making of Law – Thí nghiệm sống, Thanh trùng nước Pháp, cùng Aramis và Làm luật. Có lẽ quan trọng hơn nữa, người ta nên nghiêm túc xem xét thực tế rằng Latour đã phải viết cả hai loại sách để thực hành triết học. Trong bài viết này, chúng tôi không cung cấp kiểu đọc kỹ lưỡng các nghiên cứu trường hợp của Latour để thể hiện siêu hình học thực nghiệm của ông trong thực tiễn, mà chỉ đưa ra một công trình sơ bộ cho cuộc xét xử sâu rộng hơn này. Câu hỏi cơ bản mà chúng tôi đặt ra là: Latour sử dụng siêu hình học vì mục đích gì và chúng định hình công trình siêu hình học của ông như thế nào? Chúng tôi đưa ra một cái nhìn tổng quan về dự án triết học của Latour nhằm làm rõ vai trò cụ thể của siêu hình học trong đó và làm sáng tỏ bản chất của các luận điểm siêu hình của ông. Harman nhấn mạnh thực tế rằng Latour đưa ra một số tuyên bố siêu hình thú vị. Tuy nhiên, đối với Harman, dường như không thể hiểu được tại sao Latour lại không hệ thống hóa những tuyên bố này. Vì vậy, ông làm điều đó thay cho Latour. Trái ngược với Harman, trong bài viết này, chúng tôi không chủ yếu quan tâm đến việc thảo luận về nội dung của các tuyên bố cụ thể của Latour, tính mạch lạc hay tính hợp lệ của chúng. Thay vào đó, mục tiêu của chúng tôi là làm rõ phương thức tiếp cận siêu hình học của Latour. Nếu mối quan hệ của Latour với siêu hình học không được hiểu đúng đắn, thì các cuộc thảo luận liên quan đến những tuyên bố cụ thể mà Latour đưa ra sẽ vẫn vô ích và có nguy cơ đi chệch hướng.3 Luận điểm của chúng tôi là Latour gợi lên tư tưởng siêu hình học vì hai mục đích có liên quan đến nhau: 1) Tạo ra một vốn từ vựng siêu hình học thực dụng cho công việc thực nghiệm, và 2) Phê phán và làm sáng tỏ siêu hình học của người hiện đại, cả hai đều không đòi hỏi trình bày một lý thuyết siêu hình học truyền thống.
[Tr.23] Mặc dù chắc chắn có sự quan tâm của giới học thuật trong việc hiểu đúng mối quan hệ của Latour với siêu hình học, nhưng những vấn đề có ý nghĩa rộng lớn hơn đang bị đe dọa trong cuộc thảo luận này. Thứ nhất, trong các tác phẩm của mình, Latour liên tục quay trở lại chủ đề siêu hình học để cho thấy rằng nó có liên quan đến nghiên cứu thực nghiệm; các nhà khoa học xã hội không nên nghĩ rằng họ có thể né tránh siêu hình học mà không phải trả giá (ví dụ: Latour, 1999; 2005: 51). Thay vào đó, lập trường siêu hình của người ta không chỉ được phản ánh một cách tất yếu trong thực tiễn khoa học xã hội, mà một đặc điểm cốt lõi của thực tiễn này nên bao gồm việc xem xét siêu hình học ngầm định đang hoạt động và có những tác động cụ thể trong thế giới đương đại. Đó là lý do tại sao mối quan tâm đến siêu hình học không chỉ là gánh nặng của các nhà triết học. Các nhà khoa học xã hội cũng nên lắng nghe nó. Tuy nhiên, cuộc thảo luận này cũng có những hàm ý theo chiều ngược lại, bắt đầu từ các nhà khoa học xã hội và kết thúc ở các nhà triết học. Đây là điểm thứ hai khiến việc thảo luận về siêu hình học thực nghiệm của Latour trở nên quan trọng đối với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với chỉ những học giả chuyên nghiên cứu về Latour. Đối với Latour, siêu hình học không chỉ đơn thuần là một sự theo đuổi lý thuyết trừu tượng. Thay vào đó, các giả định siêu hình học được đan xen vào cuộc sống hàng ngày theo nhiều cách và không thể bị bác bỏ một cách đơn giản bởi các nhà triết học đã mất niềm tin vào khả năng của lý thuyết siêu hình học. Tuy nhiên, chính vì siêu hình học là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta, nên các vấn đề siêu hình học không thể được giải quyết bằng cách đơn giản đưa ra một lý thuyết mới về cấu tạo cơ bản của thế giới.
Trong phần tiếp theo, trước tiên chúng ta sẽ mô tả quan điểm của Harman về mối quan hệ giữa Latour và siêu hình học. Chúng ta sẽ phê phán cách đọc của Harman, không chỉ vì nó có ảnh hưởng đến việc định hình sự tiếp nhận Latour như một nhà siêu hình học, mà còn vì nó đại diện cho một cách tư duy về siêu hình học vừa mang tính truyền thống vừa tự nhiên đối với các học giả hiện đại. Sau đó, chúng ta sẽ chỉ ra lý do tại sao nỗ lực của Latour không phải là xây dựng một hệ thống siêu hình học truyền thống, bất chấp những gì Harman ám chỉ. Theo một hướng tích cực hơn, chúng ta sẽ nhấn mạnh tính chất thực dụng, tạm thời của các giả thuyết siêu hình học của Latour, cách chúng được thiết kế để được đưa vào nghiên cứu thực nghiệm. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét một khía cạnh khác trong tác phẩm của Latour, mục đích làm sáng tỏ siêu hình học đầy vấn đề của ‘người hiện đại’ và siêu hình học ngầm ẩn đương đại mà ông đặt ra trong tác phẩm ‘Khảo sát Phương thức Tồn tại’ (2013). Cuối cùng, trước khi kết luận, chúng ta sẽ thảo luận về khía cạnh chính trị và ‘ngoại giao’ theo quan điểm siêu hình học của Latour.
Harman bàn về Latour và Siêu hình học
[Tr.24] Trong khi Harman đã thực hiện một công việc đáng ngưỡng mộ trong việc làm rõ lập trường của Latour liên quan đến truyền thống triết học, thì dường như ông lại không coi trọng tự nhận thức của Latour, theo đó triết học của ông không dựa trên các nguyên tắc bất biến theo cách mà siêu hình học cổ điển lấy làm cơ sở. Latour nhấn mạnh rằng ông không có nhiệm vụ mô tả ‘đồ đạc của thế giới’ (Latour và cộng sự, 2011: 44-45). Tuy nhiên, theo Harman, thiên tài của ông chính là nằm ở hệ thống siêu hình học mà ông đề xuất. Dưới đây là một số điểm chính của nó (Harman, 2009: 14-16): 1) ‘Thế giới được tạo thành từ các actants tác nhân’ (con người, công cụ, hộp đất [thùng trồng cây tự tưới], ống nghiệm, ghế, v.v.). 2) ‘Không có đối tượng nào vốn dĩ có thể quy giản hoặc không thể quy giản về bất kỳ đối tượng nào khác.’ 3) Phương tiện để liên kết một đối tượng với đối tượng khác là phép phiên dịch. ‘Không có tầng nào của thế giới là một trung gian trong suốt, vì mỗi tầng đều là một môi trường: hay theo thuật ngữ mà Latour ưa dùng, là một mediator trung gian hòa giải.’ Nói cách khác, mối liên kết biến đổi các đối tượng mà nó kết nối và không trung lập. 4) ‘Actants các tác nhân chỉ mạnh lên thông qua các liên minh của chúng/họ.’ 5) Những ‘tiên đề siêu hình’ này được thống nhất bởi một nguyên tắc chung: tính cụ thể tuyệt đối. Mỗi object/actant đối tượng/tác nhân chỉ là chính nó, tất cả các tác nhân (‘lớn và nhỏ, con người và phi-nhân’) đều ở cùng một vị thế. Điều này ngụ ý một nền dân chủ tuyệt đối của các đối tượng.
Đây đều là những giả định Hữu thể luận mà Harman rút ra trực tiếp từ Irreductions Không thể quy giản (phụ lục lý thuyết của Latour trong cuốn The Pasteurization of France – Thanh trùng nước Pháp) và quen thuộc với bất kỳ ai tham gia vào actor–network theory lý thuyết mạng tác nhân. Vì vậy, quả thực, Latour đã đưa ra những tuyên bố Hữu thể luận táo bạo này, và ông đã đề cập rõ ràng đến các cuộc thảo luận của mình dưới góc độ siêu hình học. Vậy thì tại sao Harman lại không được quyền giải thích hệ thống siêu hình của Latour, vốn rõ ràng gắn liền với những nghiên cứu thực nghiệm của ông? Vấn đề là Harman có một quan niệm cụ thể về công việc ‘làm siêu hình học’ - một quan niệm xa lạ với công trình của Latour và làm sai lệch động cơ thực sự của ông khi tham gia vào siêu hình học. Đối với Harman, siêu hình học là việc tạo ra một hệ thống giải thích cấu trúc tối thượng của thế giới - trên hết là ‘cái có đó’ và ‘cái có thật’. Ngược lại, việc đưa ra các giả thuyết về những gì có đó lại chính là hướng tới một hệ thống siêu hình. Như ông thẳng thắn thừa nhận, ‘Tôi thực sự nghĩ rằng siêu hình học tạo nên furniture of the universe đồ đạc của vũ trụ’ (Latour và cộng sự, 2011: 57). Đây là một ý tưởng rất đơn giản về những gì chúng ta thường nghĩ rằng siêu hình học phải là, một hoạt động từng bị bác bỏ trong triết học siêu việt của Kant và một lần nữa bị bác bỏ bởi những nhà triết học có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20: những người theo chủ nghĩa thực dụng, Heidegger, những người theo chủ nghĩa thực chứng logic, Wittgenstein, Derrida. Đối với họ, triết học không liên quan đến giả thuyết cấu tạo cơ bản của [tr.25] thực tại; những giả thuyết như vậy không thể có ý nghĩa trong khuôn khổ thực tiễn triết học.
Tuy nhiên, đây không phải là kết thúc của siêu hình học, bởi vì việc xây dựng hệ thống triết học mang tính khẳng định chỉ là một trong những cách mà các ý tưởng liên quan đến make-up cấu tạo cơ bản của thế giới được lưu truyền trong triết học, trong khoa học, và thực tế là trong những hoạt động thường nhật tẻ nhạt nhất của chúng ta. Ngay cả những nhà triết học phản siêu hình học của thế kỷ 20 cũng đưa ra những tuyên bố có hàm ý siêu hình, nghĩa là, họ có những giả định về những gì tồn tại và những gì là có thật. Harman nhận thức rõ điều này. Khi Latour đề xuất siêu hình học thực dụng như một phương pháp, một cách thức để tiến đến những nơi khác nhau thay vì đưa ra các giả thuyết (Latour và cộng sự, 2011: 59), Harman phản bác bằng gợi ý cho rằng chủ nghĩa thực dụng cũng đưa ra những giả thuyết riêng về những gì có đó, mặc dù theo cách thức không thỏa đáng: ‘bạn cũng phải có khả năng nói về những sự vật không tạo ra sự khác biệt thực tiễn đối với con người’ (tr.61). Như vậy, ý tưởng của Harman là bất kể chọn cách tiếp cận triết học hay lý thuyết nào cũng có những cam kết hoặc những giả định siêu hình.
Theo quan điểm của ông, cách tiếp cận trung thực và hữu ích để giải quyết vấn đề này là đào sâu vào siêu hình học ngầm định và biến nó thành siêu hình học tường minh. Công việc này tỏ ra đặc biệt hiệu quả với những người như Latour, kẻ có các văn bản chứa đầy những tuyên bố Hữu thể luận cấp tiến và những phản bác vui vẻ đối với siêu hình học phương Tây tiêu chuẩn, và hệ thống siêu hình học được cho là của ông tạo ra sự tương phản hấp dẫn với những gì đã có trước đây. Do đó, Harman hết lời ca ngợi tính độc đáo của Latour. Harman đã đặt Latour vào bối cảnh tương phản với triết học ‘Copernican’ (‘Husserl, Heidegger, Derrida, Russell, hoặc Quine’) mà ‘quy giản các đối tượng thành việc tiếp cận của con người đối với chúng’ (Harman, 2009: 25). Kết quả là, Latour xuất hiện như một nhà siêu hình học trung thực trong một thời đại phản siêu hình học đầy hỗn loạn. Chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng các giả định siêu hình học là không thể tránh khỏi trong nghiên cứu và trong thế giới quan. Chúng tôi cũng thấy sự phân biệt được đề xuất giữa siêu hình học ngầm định và siêu hình học tường minh là một điểm trọng tâm và hữu ích. (Chúng ta sẽ quay lại vấn đề này khi làm rõ các thảo luận của Latour về siêu hình học của người hiện đại.) Mối quan hệ giữa ngầm định và tường minh được chỉ ra bởi quy trình của Harman lại ít hữu ích. Ông coi việc xây dựng hệ thống siêu hình học vừa là cách giải thích những gì đã được giả định thừa nhận, vừa là hệ thống hóa xây dựng của nó.
Việc hình thành một hệ thống siêu hình học, tức là một hệ thống các giả thuyết về fundamental make-up cấu tạo cơ bản của thế giới, được coi là một sự cải tiến sẽ đưa chúng ta tiến lên phía trước—ví dụ, giúp chúng ta quyết định xem liệu chúng ta đã nhắm đúng mức độ nghiên cứu hay chưa, liệu các thực thể mà chúng ta đã tập trung vào có thực sự tồn tại và/hoặc có ý nghĩa hay không. Theo quan điểm của Harman, siêu hình học thực dụng không thỏa đáng phần lớn vì nó không cho phép loại lý thuyết siêu hình học mạch lạc, tường minh này; nó đưa ra các giả định liên quan đến cấu trúc của thế giới, nhưng lại ngăn chặn bất kỳ nỗ lực có hệ thống nào để xác định rõ ràng những gì có đó. Tuy nhiên, [tr.26] giả định này liên quan đến mối quan hệ giữa siêu hình học ngầm định và tường minh không hề vô hại. Không có ý nghĩa rõ ràng nào cho thấy những giả định siêu hình ngầm ẩn trong bất kỳ thế giới quan hay lý thuyết nào cần được giải thích dưới dạng một lý thuyết siêu hình có hệ thống, cũng không có gì đơn thuần làm sáng tỏ về việc tạo ra một thứ như vậy từ những mảnh vụn của giả định siêu hình. (Theo quan điểm của nhiều người thực dụng chủ nghĩa, nó chỉ có thể là một con quái vật Frankenstein đáng thương, không thể hình thành mối quan hệ hiệu quả với thế giới của kẻ tạo ra nó.) Điều mà Harman bỏ sót, hoặc cố tình phớt lờ, là cách mà tư duy phản siêu hình đương đại về cơ bản được Latour chia sẻ trong việc ông từ chối tham gia vào việc giả định các yếu tố cấu thành của thế giới một cách trừu tượng, và trong cách thức mà siêu hình học của ông mang tính tạm bợ, thực dụng và gắn liền với các đối tượng nghiên cứu cụ thể (Latour, 2004: 60, 77; Latour và cộng sự, 2011: 44-5).
Một tiền đề cơ bản mà chúng ta dựa vào là các tuyên bố siêu hình (và những phê phán về các giả định siêu hình của kẻ khác) có thể được đưa ra cho nhiều mục đích và theo nhiều phong cách khác nhau, đa phần trong số đó lại ít liên quan đến ‘lý thuyết’ siêu hình hay ‘xây dựng hệ thống’ theo kiểu mà Harman giả định. Các mục đích khác nhau thúc đẩy các phong cách siêu hình học khác nhau. Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang thảo luận về hai mục đích chính mà Latour sử dụng siêu hình học, cả hai đều không thể được thúc đẩy bởi việc tạo ra một lý thuyết hoặc hệ thống siêu hình học truyền thống. Thứ nhất là một siêu hình học phương pháp luận thực dụng, tạm thời, phục vụ mục đích mở ra một thế giới mới cho mục đích nghiên cứu thực nghiệm. Điều này được thể hiện rõ trong cả các nghiên cứu thực nghiệm của ông và các văn bản mang tính chương trình hơn mà Harman nhấn mạnh. Thứ hai là làm sáng tỏ siêu hình học rõ ràng và ngầm định của thời hiện đại, phục vụ mục đích làm cho các định kiến của chính chúng ta trở nên rõ ràng đối với chính chúng ta, từ đó cho phép chúng ta sửa đổi và tái đàm phán về chúng. Quan điểm này chủ yếu được thể hiện trong các tác phẩm We Have Never Been Modern Chúng ta Chưa hề Hiện đại và An Inquiry into Modes of Existence Khảo sát Phương thức Tồn tại, nhưng nó cũng xuất hiện xuyên suốt các tác phẩm khác của Latour. Hai khía cạnh này đan xen phức tạp và đều nhằm mục đích nới lỏng sự ràng buộc của những tiền đề siêu hình ‘hiện đại’ quen thuộc của chúng ta để tạo ra những cách thức tồn tại mới. Do đó, chúng tôi tìm cách làm sáng tỏ 1) Các hình thức mà siêu hình học xuất hiện trong các tác phẩm của Latour, và 2) Cách thức mà Latour có thể giúp chúng ta suy nghĩ về tầm quan trọng của tư duy siêu hình trong các khoa học nhân văn và xã hội, cũng như trong tư tưởng chính trị.
Lý thuyết siêu hình của Latour? Trước hết, chúng ta cần xem xét bản chất của những giả định ‘siêu hình’ của Latour: về những gì tồn tại, về tính dân chủ của các đối tượng, về mạng lưới, về các trung gian và phép phiên dịch. Đối với bất kỳ ai đã đọc sách của Latour, rõ ràng là Latour không muốn nói điều gì dứt khoát, một lần và mãi mãi, về cấu tạo của thế giới. Thay vào đó, ông nhấn mạnh rằng các khái niệm của ông không được can thiệp vào cách thức mà các tác nhân được ông nghiên cứu hiểu về các hoạt động của chính chúng/họ: ‘các tác nhân biết chúng/họ làm gì và chúng ta phải học hỏi từ chúng/họ không chỉ những gì chúng/họ làm, mà còn cả cách thức và lý do tại sao chúng/họ làm điều đó’ (1999: 19). Đây là khó khăn mà ông phải vật lộn - sử dụng các thuật ngữ cho phép các thuật ngữ của chính các tác nhân xuất hiện, chứ không phải áp đặt một siêu hình học của riêng ông. Đây là cách ông tìm phương pháp tạo ra một sự hiểu biết mới chung có thể giúp chúng ta vượt qua các khía cạnh có vấn đề của các khái niệm trừu tượng tập thể của chúng ta. ‘Tôi đồng ý rằng chúng ta không phải lúc nào cũng trung thành với nhiệm vụ ban đầu, và phần lớn vốn từ vựng của chúng ta đã làm ô nhiễm khả năng để các tác nhân tự xây dựng không gian của riêng họ’ (1999: 20; xem thêm 2005: 49). Do đó, các khái niệm của Latour phải linh hoạt liên quan đến các tình huống nghiên cứu cụ thể và không nên được sử dụng trừu tượng, ngoài bối cảnh nghiên cứu; chúng không tạo nên một bức tranh về thế giới có thể được rút ra từ bối cảnh sử dụng của chúng trong các nghiên cứu thực nghiệm. Lý do tồn tại của chúng hoàn toàn mang tính thực dụng.
Để hiểu thực chất việc nhấn mạnh này, chúng ta cần nắm bắt được nguồn gốc của nó. Iris Murdoch từng lưu ý rằng sẽ là điều hữu ích khi hỏi về một nhà triết học: Ông ta sợ điều gì? (Murdoch, 1997: 359). Chúng ta đừng diễn giải điều này theo cách thức tâm lý hóa sâu xa, bởi vì những nỗi sợ hãi quan thiết của các nhà triết học và nhà khoa học (như Murdoch đã biết) thường mang tính trí tuệ. Đặt câu hỏi theo nghĩa thứ hai này rất hữu ích đối với Latour: Harman mở đầu cuốn sách của mình bằng cách kể lại một giai thoại hệ trọng về nỗi sợ hãi triết học của Latour. Ở đây, Latour trẻ tuổi đang lái xe thì bị ‘buộc phải dừng lại’, ‘tỉnh ngộ vì quá tải quy giản luận’. Tiếp theo là danh sách các nhân vật chủ chốt trong lịch sử triết học, cùng với các phương thức quy giản tất cả các thực thể trên thế giới thành một. Tại đó, bên vệ đường, ông khám phá ra tín điều sẽ loại bỏ sức mạnh của những quy giản này đối với ông: ‘Lúc đó, tôi không biết gì về những gì tôi đang viết bây giờ, nhưng chỉ đơn giản là tự nhủ: “Không gì có thể quy giản thành bất cứ thứ gì khác, không gì có thể suy ra từ bất cứ thứ gì khác, mọi thứ đều có thể liên kết với mọi thứ khác”’. ‘Điều này giống như một cuộc trừ tà lần lượt đánh bại từng con quỷ một vậy.’ (Latour, 1984: 181-183; được Harman trích dẫn, 2009: 13)
Ngoài việc là một giai thoại sinh động khẳng định ý tưởng của Harman về Latour như một nhà triết học nghiêm túc, câu chuyện này còn làm suy yếu giọng điệu chung trong cách Harman miêu tả Latour như một người xây dựng hệ thống siêu hình. Điều này là bởi vì nó nhấn mạnh một cách sống động mục đích thực tiễn của thuyết bản thể học độc đáo của Latour—không phải để xác định chính xác những gì thực sự tồn tại (và bằng cách nào) mà là để cho thực tại của sự vật được hé lộ thông qua sự xem xét kỹ lưỡng hơn. Đó là sự treo lại mang tính phương pháp luận của xu hướng tìm kiếm sự hiểu biết hoặc lời giải thích bằng cách quy giản nhiều thực thể thành một thực thể duy nhất (hoặc một số lượng nhỏ hơn). Theo nghĩa này, đó cũng là một phản siêu hình học, nếu và khi ‘siêu hình học’ được hiểu theo cách cổ điển như một hình thức xây dựng hệ thống. Ngược lại, điều mà Latour tìm kiếm là một siêu hình học tạm thời, loại bỏ, trong chừng mực có thể, những thành kiến lý thuyết và siêu hình trong [tr.28] cách chúng ta nhìn nhận thế giới, và để cho các thực thể được nghiên cứu tự nói lên (trong chừng mực có thể). Do đó, tính dân chủ của các đối tượng và sự tập trung vào các trung gian—những gì có đó và cách các thực thể này liên hệ với nhau, điều gì quan trọng và điều gì không—cần được nghiên cứu từng trường hợp một. Đây không phải là một ‘hệ thống’ triết học. Mô tả nó như một ‘bức tranh’ cũng có thể gây hiểu lầm, vì trên hết nó là một phương thức hành động, tác động lên cách nhìn nhận thông thường, mang tính triết học, cũng như lên các đối tượng mà chúng ta chú ý. Nó hoàn toàn thực dụng. Bức tranh hoặc siêu hình học được cung cấp không có giá trị ứng dụng nào ngoài bối cảnh nghiên cứu thực nghiệm tương tác giữa các thực thể con người và phi-nhân.
Vấn đề cuối cùng này rất quan trọng để thấy được sự khác biệt trong quan điểm của Harman và Latour. Harman cho rằng những giả thuyết kiểu này tạo nên một hệ thống thú vị, mà theo quan điểm của Harman là đủ hoàn chỉnh. Nếu chúng không hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu, chúng có thể góp phần tạo nên một siêu hình học về cơ bản là không thỏa đáng, như trường hợp của những người theo chủ nghĩa thực dụng (Harman 2009: 143; Latour và cộng sự 2011: 61). Nhưng ở đây Latour lại đứng về phía những người theo chủ nghĩa thực dụng. Sự hoàn chỉnh dường như có trong siêu hình học của ông là kết quả của sự tập trung cao độ vào việc nghiên cứu các tài liệu thực nghiệm; những tình huống và cấu hình mới xuất hiện, tạo ra nhu cầu về các thực thể và giả thuyết tạm thời mới, và thế là, một siêu hình học khá hoàn chỉnh đã xuất hiện. Tuy nhiên, những giả thuyết này lại ít liên quan đến yêu cầu của Harman về một Hữu thể luận ổn định. Như Latour nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn gần đây, việc nghiên cứu có hệ thống các chủ đề siêu hình và duy trì tính mạch lạc không nhất thiết đồng nghĩa với việc hướng đến việc tạo ra một hệ thống (Latour 2015). Nói cách khác, vấn đề không phải là định hướng thực dụng của Latour dẫn ông đến việc chỉ đơn thuần giữ các tuyên bố siêu hình ở mức độ ngầm định. Ngược lại, Latour muốn tiếp cận siêu hình học một cách rõ ràng, không chỉ bằng cách phân tích các quan niệm siêu hình của người khác, mà còn bằng cách tạo ra các công cụ siêu hình hữu ích để hiểu và xây dựng thế giới. Tuy nhiên, vị thế của những công cụ này không phải là những nguyên tắc bất biến; đúng ra thì chúng có thể thay đổi khi thế giới xung quanh thay đổi.
Sự khác biệt, nếu có, sẽ được hình dung rõ ràng hơn ở chỗ, điều gì sẽ đóng vai trò là thước đo cho các loại siêu hình học khác nhau này. Trung thành với một truyền thống triết học cổ điển, Harman tìm kiếm một siêu hình học giải thích đúng đắn và không có những khoảng trống, lỗ hổng hoặc bước nhảy vọt đáng kể về những gì tồn tại và cách thức tồn tại của chúng. Nó cần được kiểm chứng về tính mạch lạc và đầy đủ, cùng với những yếu tố khác, và được bổ sung theo những hướng này. Điều này có thể được thực hiện trên ghế bành. Latour tìm cách tác động đến tri thức của chúng ta, hay chính xác hơn, đến tri thức của chúng ta về tri thức của chính mình: siêu hình học của ông cần được kiểm chứng về cách nó có thể tác động đến chúng ta, cách ông và những người khác vận dụng nó để có được cái nhìn sâu sắc thực sự về quá trình hình thành và lưu thông tri thức. Việc kiểm chứng này [tr.29] chỉ có thể được thực hiện ở mức độ hạn chế trên ghế bành; nền tảng thực sự của nó là nghiên cứu thực nghiệm. Đối với Latour, siêu hình học như một cấu trúc lý thuyết trừu tượng, được giả định là ít hữu ích.4
Lần tìm Siêu hình học Hiển minh và Tiềm ẩn
Đây không phải là toàn bộ câu chuyện về siêu hình học của Latour. Chúng ta cũng có siêu hình học mà Latour tìm thấy trong thế giới của người hiện đại; đây là trọng tâm tranh luận của cuốn sách We Have Never Been Modern ‘Chúng ta Chưa hề Hiện đại’ và điều mà ông đặt ra để suy nghĩ lại trong cuốn An Inquiry into Modes of Existence Khảo sát Phương thức Tồn tại. Ở đây, chúng ta sẽ theo Latour khi gọi những người hiện đại là ‘họ’, mặc dù điều cần thiết là chúng ta, bao gồm cả Latour, đều có liên quan đến điều này; chúng ta vừa là những nhà nhân học nghiên cứu về bộ lạc của người hiện đại, vừa là một phần của bộ lạc này, chia sẻ niềm tin của họ trong mọi khía cạnh thiết yếu. Do đó, công việc nghiên cứu về người hiện đại cũng chính là công việc nghiên cứu về chính bản thân chúng ta. Như trong tác phẩm Khảo sát Phương thức Tồn tại, không chỉ có một mà là hai siêu hình học của người hiện đại khiến Latour quan tâm. Một mặt, đó là siêu hình học trọng tâm cho sự tự hiểu biết của họ, có thể được mô tả bằng các cặp đối lập: chủ thể/đối tượng, tâm trí/thế giới, sự kiện/giá trị. Nó cũng được đặc trưng bởi một lý thuyết tương ứng về ý nghĩa (ngôn ngữ tương ứng với thế giới); một ý niệm về ‘thế giới vật chất’ như là hình mẫu của ‘thực tại’; một sự nhiệt thành bài trừ hình tượng trong việc loại bỏ tôn giáo, đức tin, niềm tin; sự tái cấu trúc tất cả những thứ ‘phi vật chất’ thành ‘tinh thần’ hoặc ‘tâm lý’, sự phụ thuộc nặng nề vào một ý niệm cụ thể về ‘lý tính’. Bức tranh này, được xây dựng nhờ quy giản và nhị nguyên, được Latour mô tả theo nhiều cách khác nhau trong các tác phẩm của ông (2013: 146-147), dễ dàng được nhận ra như một mô tả về những gì chúng ta, những người phương Tây/hiện đại, coi là hiển nhiên, những gì chúng ta cho là vững chắc và đã xác lập.
Chúng ta không chấp nhận nó như một tín điều siêu hình, hay xây dựng nó như một lý thuyết hoặc hệ thống siêu hình—mà đúng hơn, đó là điều chúng ta bắt gặp trong nhiều bối cảnh khác nhau như thước đo của những gì hiển nhiên, không thể phủ nhận. Nó là chân trời mà dựa vào đó chúng ta mạo hiểm đặt ra các câu hỏi liên quan đến thực tại và tri thức. Ngoài ra, nó hướng dẫn hành động của chúng ta và do đó mang tính trình diễn: những người hiện đại tích cực nỗ lực tạo ra một thế giới phù hợp với siêu hình học này, chẳng hạn, bằng cách cố gắng tách biệt các lĩnh vực tự nhiên và văn hóa khỏi nhau. Tuy nhiên, Latour lưu ý rằng đây là một trật tự mà chúng ta trân trọng vì thiếu sự hiểu biết tốt hơn—thực sự, thiếu sự tự hiểu biết tốt hơn. Trên thực tế, rất ít thực tiễn của chúng ta chứng minh cho siêu hình học nhị nguyên/tự nhiên này; đó là những gì chúng ta phô trương khi bị chất vấn về các vấn đề liên quan đến chân lý và thực tại, nhưng đó lại không phải là những gì chúng ta thực sự dựa vào trong khoa học, chính trị, tòa án, hay bất cứ lĩnh vực nào khác [tr.30]. Ngoài ra, siêu hình học thực sự của chúng ta phức tạp hơn nhiều, có khả năng bao hàm nhiều thực thể, mối quan hệ và trung gian. Thật vậy, người hiện đại không thể tồn tại với tư cách là người hiện đại (Latour, 2013: 105, 125). Do đó, theo quan điểm của Latour, có một bất chỉnh hợp nghiêm trọng giữa một bên là những gì chúng ta nghĩ rằng chúng ta tin tưởng và những gì chúng ta nghĩ là chân trời hiểu biết của mình, và bên kia là những gì chúng ta thực sự dựa dẫm khi sống trải cuộc đời mình. Chúng ta gọi cái trước, những gì chúng ta coi là hiển nhiên và viện dẫn khi bị ép buộc, là siêu hình học tường minh của người hiện đại. Cái sau, những gì chúng ta sống theo trong các hoạt động khác nhau của mình, là siêu hình học ngầm định của người hiện đại.
Thử thách mà Latour đặt ra cho chính mình trong tác phẩm Khảo sát Phương thức Tồn tại là học cách nói về siêu hình học thực sự, ngầm ẩn nằm dưới các thực tiễn khác nhau của người hiện đại theo cách mà chính họ cũng có thể hiểu được (2013: 139, 262-3). Các giá trị và thực tiễn của họ cần được mô tả theo cách mà họ thấy phù hợp, mặc dù khác biệt hoàn toàn so với hình ảnh tự thân, duy lý luận, tự nhiên luận, duy vật luận được mô tả ở trên. Ý tưởng là có một siêu hình học thực sự của người hiện đại (mà chúng ta thực sự sống theo) mang tính đa nguyên về mặt Hữu thể luận và rất nhạy cảm với bối cảnh; các thực thể, các mối liên hệ khả thể và có liên quan trong nghị viện khác với những thực thể và mối liên hệ có liên quan trong phòng thí nghiệm. Để hiểu được các thực tiễn, sự kiện hoặc địa điểm hành động khác nhau của con người, chúng ta cần nắm bắt được Hữu thể luận cơ bản của họ - những loại thực thể nào mà những kẻ tham gia tác động lên, vượt ra ngoài ‘nhị nguyên luận của người hiện đại’. Một trong những sự phân đôi gây nhiều vấn đề cốt lõi là sự phân biệt giữa tự nhiên khách quan và văn hóa nhân loại tương đối/chủ quan, một giả thuyết mà theo quan điểm của Latour đã làm sai lệch nghiêm trọng sự hiểu biết của chúng ta về cuộc sống thực tại trong thế giới vật chất. Câu hỏi đặt ra là: ‘Liệu trong quá trình tìm hiểu, chúng ta có thể thúc đẩy Hữu thể luận xem xét nhiều hơn hai thể loại, hai phương thức của thực tại hay không?’ (Latour, 2013: 146).
Rõ ràng là dự án đầy tham vọng nhằm cho chúng ta thấy lại thế giới của chính mình sẽ bị pha loãng. Điều mà Latour tìm kiếm là một sự đa dạng hoàn toàn khác với các ‘diễn ngôn’ hậu hiện đại. Theo ông, sẽ không có khoảng cách siêu hình cơ bản giữa ngôn ngữ và vật thể, giữa tâm trí và thế giới. ‘Thực tại’ không phải là một loại siêu việt, mà nằm ngay trong tầm tay chúng ta, trong tính đa dạng của nó, trong tính đa dạng của cách chúng ta tác động lên nó và trong cách nó tác động lên chúng ta. Chúng ta cần một cách nói chuyện không sao chép bộ máy hiện đại—cho phép chúng ta lấy lại vị trí của mình trong một thể bện dệt liên tục của tồn tại mà chúng ta chưa bao giờ thực sự bị tách rời. Như Latour đã nói trong cuốn Chúng ta Chưa hề Hiện đại, ‘Tất cả các nền văn hóa tự nhiên đều giống nhau ở chỗ chúng đồng thời xây dựng nên con người, thần thánh và phi-nhân. Không nền văn hóa nào sống trong một thế giới của các dấu hiệu hoặc biểu tượng được áp đặt một cách tùy tiện lên một Tự nhiên bên ngoài…’ (Latour, 1993: 106). Một điểm quan trọng ở đây là đối với Latour, siêu hình học hiển minh của người hiện đại không chỉ đơn giản là ‘sai lầm’. Latour không tham gia vào kiểu phê phán hệ tư tưởng cho rằng siêu hình học hiển minh của người hiện đại chỉ là một sự mô tả méo mó về thế giới. Mặc dù chắc chắn là bị bóp méo, theo Latour, nó còn hơn cả một bức tranh đơn thuần. Nó cũng mang tính trình diễn theo nghĩa tác động đến suy nghĩ và hành động của chúng ta, cách tổ chức các hoạt động liên quan đến những thứ như khoa học và môi trường. Sự kết hợp giữa tính sai lầm và tính trình diễn khiến nó trở nên nguy hiểm. Chúng ta không hiểu những gì mình đang làm, nhưng các hoạt động của chúng ta lại gây ra những hệ quả không thể khắc phục.
Ngoài siêu hình học (hiển minh) mà người hiện đại sử dụng để tự giải thích, và theo Latour là hoàn toàn có vấn đề, và siêu hình học thực tiễn, ngầm định của họ mà Latour muốn làm rõ, cuốn Khảo sát Phương thức Tồn tại còn chứa đựng một chiều thứ ba, cũng cần được thảo luận về vị thế siêu hình học của nó. Với mục đích thực tiễn là vượt qua những nhị nguyên của người hiện đại, Latour đã thiết kế các ‘phương thức tồn tại’, việc làm sáng tỏ chúng chiếm gần 500 trang trong cuốn sách gần đây của ông. Vậy những ‘phương thức’ này là gì? Ở đây chúng ta cần phải đi chậm lại. Các ‘phương thức tồn tại’ là một phần không thể thiếu trong việc Latour loại bỏ siêu hình học hiển minh của người hiện đại, nhưng chúng không cấu thành một công thức hay bức tranh về siêu hình học thực tiễn, ngầm định, ‘hiện thực’ của người hiện đại; không có mối quan hệ một-một nào ở đó. Chúng cũng không cấu thành một ‘hệ thống siêu hình học’ mà Latour muốn người hiện đại áp dụng để hiểu rõ hơn về chính mình. (Ông không phải là người theo chủ nghĩa xét lại siêu hình học, ngoại trừ việc ông muốn loại bỏ siêu hình học giả tạo hiện đại, thứ mà thực tế không ai sống theo.) Các phương thức tồn tại được mô tả tốt hơn như một hộp các công cụ Hữu thể luận phức tạp được sử dụng để ‘nói tốt’ về siêu hình học thực sự của người hiện đại, như nó thể hiện trong các bối cảnh thực tiễn khác nhau của cuộc sống. Siêu hình học hư ảo hiện đại không bị loại bỏ bởi một siêu hình học xa lạ, ưu trội mà là bởi sự hiểu biết tốt hơn về những thực tại phức tạp mà người hiện đại thực sự dựa vào. Do đó, có ba phương diện cần được phân biệt: 1) Siêu hình học hiển minh về tự hiểu biết (sai lầm) của người hiện đại (thế giới quan nhị nguyên); 2) Các Hữu thể luận ngầm định đa dạng thể hiện trong các thực tiễn khác nhau của người hiện đại; và 3) Bảng các phương thức tồn tại của Latour, cung cấp một bộ khung khái niệm để tìm hiểu về lối sống của người hiện đại.
Sự phân biệt giữa 2) và 3) ở đây, khẳng định rằng các phương thức tự thân không phải là giả thuyết hay mô tả về siêu hình học ngầm ẩn của chúng ta, cần phải có một số giải thích. Trước hết, nên nhớ Latour kiên quyết ra sao về việc không xây dựng một hệ thống siêu hình học.5 Do đó, nếu không muốn nghĩ rằng ông ấy không thành thật hoặc đơn giản là nhầm lẫn về nỗ lực của chính mình, thì chúng ta cần đưa ra một lời giải thích khác về những gì ông ấy làm. Liệu một mô tả toàn diện về siêu hình học thực tế của người hiện đại có phù hợp không? Nó sẽ mang tính thực nghiệm theo nghĩa nó dựa trên kinh nghiệm và quan sát người hiện đại. Nó sẽ khiêm tốn theo nghĩa không đưa ra những giả thuyết lớn lao vượt ra ngoài những gì đang được quan sát. Nó sẽ không phải là một nỗ lực để [tr.32] mô tả những thứ ổn định của thế giới, bởi vì nó thực sự mô tả một cái gì đó cục bộ và phụ thuộc vào lịch sử - siêu hình học hiện tại của chúng ta, như nó có thể. Nhưng đề xuất này đã xem nhẹ khó khăn trong việc mô tả siêu hình học thực sự, các phạm trù Hữu thể luận thực sự, các phương thức ‘tồn tại’ thực sự mà người hiện đại biết hoặc có thể biết được. Như thể đây là những thứ mà Latour có thể tập hợp lại trên ghế bành, với sự trợ giúp của một tập hợp các nghiên cứu thực nghiệm khá hạn chế do chính ông và một số đồng nghiệp thực hiện trong vài thập kỷ. Vậy thì trong bức tranh này, chúng ta sẽ đặt sự nhấn mạnh của Latour về việc xem xét nghiêm túc sự hiểu biết của chính mọi người về những gì họ làm, về những gì là thực, trong các hoạt động khác nhau của họ ở đâu? (Latour, 1993b: 21, 96; Latour, 2005: 240-1; Latour, 2013: 128)
Những vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách chú ý đến những gì ông viết trong chương được coi là quan trọng của cuốn Khảo sát Phương thức Tồn tại: Chương 5 – “Loại bỏ một số trở ngại trong ngôn ngữ”, một chìa khóa, tức là, để hiểu các phương thức nói về điều gì. Sau khi xác định rằng các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người (tòa án, chính trị, phòng thí nghiệm, v.v.) có các phương thức xác thực khác nhau, được định hướng bởi các giá trị khác nhau, liên quan đến các thực tế khác nhau và được diễn đạt một cách thích hợp nhất theo những cách khác nhau, Latour tiếp tục xua đuổi bóng ma hiện đại của ‘lời nói thẳng thắn’, ‘tiếng nói của chân lý’ (Latour, 2013: 138). “Họ thật kỳ lạ: họ có ngôn ngữ, và họ không ngần ngại tự tước bỏ nó, để sử dụng một ngôn ngữ khác, bất khả thể, không phát âm được! Bằng cách tìm ra một ngôn ngữ hoàn toàn đúng, vượt ra ngoài mọi ngữ cảnh, không phụ thuộc vào bất kỳ phiên dịch nào, bằng cách kết nối chặt chẽ các thực thể giống hệt nhau, họ đã chế giễu ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ duy nhất mà chúng ta có được.” (Latour, 2013: 138-9) Thách thức đối với nhà nhân học (tức là chúng ta) là học cách nói về mọi thứ không phải bằng một ngôn ngữ được cho là trung lập, khách quan vượt ra ngoài phạm vi thông thường mà bằng ngôn ngữ phù hợp nhất với vấn đề đang được đề cập và với những người có liên quan; ‘tính chặt chẽ duy nhất quan trọng đối với chúng ta là học cách nói đúng ngữ điệu, nói tốt – nói ngắn gọn là “nói tốt ở quảng trường với ai đó về điều gì đó liên quan đến họ”’ (Latour, 2013: 139). Điều chúng ta cần là sự nhạy cảm với những khác biệt giữa các cấp độ hoạt động của con người: không phải một phương thức biểu đạt hay cấp độ thực tại nào đó có thể làm cho tất cả chúng trở nên tương xứng.6
Tuy nhiên, nói tốt theo nghĩa này không chỉ đơn thuần là nói theo cách mà những người liên quan sẽ nói, bởi vì trong trường hợp này chúng ta sẽ không cần một nhà nhân học, chúng ta chỉ cần một máy ghi âm ghi lại những âm thanh mà những kẻ cung cấp thông tin tạo ra trong khi họ thực hiện công việc của mình. Mọi người không nhất thiết phải mô tả chi tiết những nỗ lực của họ trong bối cảnh ‘bình thường’ [tr.33]; họ không nhất thiết phải nêu bật những gì đặc thù trong lĩnh vực hoạt động của mình. Khi làm như vậy, họ không phải lúc nào cũng đúng về bản thân mình. Ví dụ, họ có thể đang bị chi phối bởi những phân đôi hiện đại. Thách thức đối với nhà nhân học (nhà khoa học xã hội, nhà triết học) là tìm ra ngôn ngữ phù hợp với hiểu biết của chính kẻ cung cấp thông tin, đồng thời phát triển nó; điều này thúc đẩy hiểu biết của nhà nghiên cứu và tự hiểu biết của kẻ cung cấp thông tin. Nhà xã hội học/nhân học không có quyền áp đặt những phạm trù riêng của mình lên những kẻ mà họ nghiên cứu.7
__________________________________
Nguồn: Nora Hämäläinen & Turo-Kimmo Lehtonen (2016). Latour's empirical metaphysics, Distinktion: Journal of Social Theory, 17:1, 20-37.
Notes
1. Tất nhiên, Latour không phát triển những thuật ngữ như vậy trong một môi trường tư tưởng biệt lập, nhưng việc sử dụng chúng lại có sự tương đồng với công trình của các cộng sự thân thiết của ông như Isabelle Stengers, Annemarie Mol, John Law, Michel Callon và Antoine Hennion, cùng một số người khác. Hơn nữa, có thể lập luận rằng cách Latour đi đến những thuật ngữ này chịu ảnh hưởng bởi cả phương pháp dân tộc học và ký hiệu học, những lĩnh vực mà ông đã dựa vào rất nhiều trong các tác phẩm trước đó, và các triết gia như Gilles Deleuze và Michel Serres, hoặc gần đây hơn là A. N. Whitehead, Gabriel Tarde, John Dewey và William James. Nhưng việc nghiên cứu những dòng tư tưởng này nằm ngoài phạm vi của bài viết này.
2. Để có một phân tích tương tự về lập trường siêu hình của Latour, từ quan điểm của triết học khoa học phân tích, hãy xem Collin 2010. Collin, giống như Harman, coi Latour là một nhà siêu hình học khá truyền thống, bảo vệ nhiều loại thuyết nhất nguyên Hữu thể luận, có thể nói là bỏ qua tính chất thực dụng triệt để trong công trình của ông mà chúng ta đang nghiên cứu ở đây.
3. Do đó, chủ đề thảo luận của chúng ta khác biệt rõ rệt so với một số phê bình lý thuyết xã hội gần đây về Latour, trong đó có những phê bình dựa trên Harman. Bài viết này không đi sâu vào thảo luận, ví dụ, liệu Latour có thể xem xét đến vấn đề sự xuất hiện (Elder-Vass 2008) hay không, hoặc liệu những tiền đề Hữu thể luận của Latour, với sự nhấn mạnh triệt để vào tính hiện thực và tính tương quan, có bỏ sót điều gì đó cơ bản liên quan đến tính khách quan của các đối tượng hay không, một chủ đề mà Harman đã thảo luận một cách tinh tế (Harman 2009; xem thêm Pierides và Woodman 2012).
4. Trong bối cảnh này, mối quan hệ giữa Latour và siêu hình học của A. N. Whitehead đáng được lưu ý. Như Harman đã chỉ ra một cách chính xác, có nhiều điểm tương đồng giữa hai người. Latour có thể là một người theo chủ nghĩa “tình cờ” theo trường phái Whitehead, như Harman nói, và ông thậm chí còn sử dụng các khái niệm như “mệnh đề” và “sự kiện” theo cách rõ ràng bị ảnh hưởng không chỉ bởi cách đọc Whitehead của chính ông mà còn bởi cách đọc của cộng sự Isabelle Stengers (2002). Tuy nhiên, trong khi tác phẩm Process and Reality (1929) của Whitehead có thể được coi là một trường hợp điển hình về việc viết siêu hình học theo phong cách cổ điển trong thời đại chúng ta, thì phong cách này lại chính xác là điều xa lạ với các tác phẩm của Latour, ngoại trừ tác phẩm đầu tay Irreductions.
5 Về mặt này, Latour vẫn trung thành với dự án siêu hình học của Étienne Souriau, người mà ông cũng mượn ý tưởng về tính đa dạng của ‘các phương thức tồn tại’. Đối với Souriau, việc làm siêu hình học không nhất thiết phải xây dựng một hệ thống khép kín (Souriau 2009 [1943]).
6 Latour, bất chấp bản thân, ở đây lại vô cùng gần gũi với Wittgenstein. Lý do Latour không đánh giá cao điều này là do ông đã bác bỏ một cách thô thiển tất cả các triết học thuộc về ‘bước ngoặt ngôn ngữ học"’. Ông cho rằng những triết học này vận hành với ngôn ngữ như một hệ thống phù du, khép kín, về cơ bản tách rời khỏi thực tại (một sản phẩm muộn màng của cuộc đảo chính Kant, theo đó thực tại như vậy được cho là không thể tiếp cận được với chúng ta). Chắc chắn có những khác biệt nền tảng quan trọng giữa quan điểm của Latour và Wittgenstein, nhưng triết học hậu Wittgenstein trên thực tế đã nuôi dưỡng một loại nhạy cảm theo ngữ cảnh hiện thực rất giống với những gì Latour tìm cách diễn đạt trong đoạn thảo luận được trích dẫn. (Diamond, 1991; McDowell, 1998; Winch, 1987; để phân tích sự tương đồng giữa Wittgenstein và Latour từ một góc nhìn khác, xem Collin 2010: 136-138.)
7 Một lần nữa, điểm mà nhà nghiên cứu phải ‘theo dõi các tác nhân’ được nhấn mạnh rất nhiều trong các tác phẩm đầu tiên của Latour, ví dụ như trong (Latour, 1984: 14, 16) và (Latour, 1992: 18, 137 và 141); xem thêm (Latour, 2005: 11-12; 68).
References
Bloor, D. (1999) ‘Anti-Latour’, Studies in History and Philosophy of Science 30 (1): 81–112.
Collin, F. (2010) Science Studies as Naturalized Philosophy, Heidelberg: Springer.
Elder-Vass, D. (2008) ‘Searching for realism, structure and agency in Actor Network Theory’, The British Journal of Sociology 59 (3): 455-473.
Diamond, C. (1991) The Realistic Spirit. Cambridge, Massachusettes: MIT Press.
Harman, G. (2009) Prince of Networks: Bruno Latour and Metaphysics. Melbourne: re.press.
Harman, G. (2014) Bruno Latour: Reassembling the Political. London: Pluto Press.
Kochan, J. (2010) ‘Latour’s Heidegger’, Social Studies of Science 40(4): 579–598.
Kusch, M. (2002) ‘Metaphysical déjà vu: Hacking and Latour on science studies and metaphysics’, Studies in Philosophy and History of Science 33 (3): 639–647
Latour, B. (1984) Les microbes: Guerre et paix suivi de Irréductions. Paris: Métailié.
Latour, B. (1992) Aramis ou l’amour des techniques. Paris: La découverte.
Latour, B. (1993a) La clef de Berlin et autres leçons d’un amateur de sciences. Paris: La découverte.
Latour, B. (1993b) We Have Never Been Modern, trans. Catherine Porter. Cambridge: Harvard University Press.
Latour, B. (1999) ‘On Recalling ANT.’ The Sociological Review Monograph 47 (S1): 15–25.
Latour, B. (2002) ‘The End of the Means.’ Theory, Culture & Society 19: 247-260.
Latour, B. (2004) Politics of Nature: How to Bring the Sciences into Democracy, trans. Catherine Porter. Cambridge: Harvard University Press.
Latour, B. (2005) Reassembling the Social. An Introduction to Actor–Network–Theory. Oxford: Oxford University Press.
Latour, B. (2009) The Making of Law. An Ethnography of the Conseil D’Etat. Cambridge: Polity Press.
Latour, B. (2013) An Inquiry into Modes of Existence, trans. Catherine Porter. Cambridge: Harvard University Press.
Latour, B. (2015) ‘À métaphysique, métaphysique et demie. L’Enquête sur les modes d’existence forme-t-elle un système?’, Les Temps Modernes, 682, pp. 72-85.
Latour, B., G. Harman and P. Erdélyi (2011) The Prince and The Wolf: Latour and Harman at the LSE. Hants: Zero Books.
McDowell, J. (1998) Mind, Value and Reality. Cambridge, Massachusettes: Harvard University Press
Murdoch, I. (1997) Existentialists and Mystics. London: Chatto & Windus.
Pierides, D. and Woodman, D. (2012) ‘Object-oriented sociology and organizing in the face of emergency: Bruno Latour, Graham Harman and the material turn. The British Journal of Sociology 63(4): 662-679.
Putnam, H. (1981) Reason, Truth and History. Cambridge: Cambridge University Press.
Putnam, H. (2002) The Collapse of the Fact/Value Dichotomy and Other Essays. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press.
Riis, S. (2008) ‘The Symmetry Between Bruno Latour and Martin Heidegger. The Technique of Turning a Police Officer into a Speed Bump’, Social Studies of Science 38 (2): 285–301.
Souriau, É. (2009 [1943]) Les différents modes d’existence. Paris: Presses Universitaires de France.
Stengers, I. (1997) Cosmopolitiques. Tome 7. Pour en finir avec la tolerance. Paris: La Découverte.
Stengers, I. (2002) Penser avec Whitehead: Une libre et sauvage création de concepts. Paris: Seuil.
Whitehead, A. N. (1978 [1929]) Process and Reality, Corrected Edition (eds D. R. Griffin and D. W. Sherburne. New York: The Free Press.
Winch, P. (1987) Trying to Make Sense. Oxford: Basil Blackwell.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét