Powered By Blogger

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXVIII)

Martin Heidegger

Người đọc: Hà Hữu Nga

PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH

III. TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ-MỘT-CHỈNH-THỂ CHÂN THỰC CỦA DASEIN, VÀ THỜI GIAN TÍNH NHƯ LÀ Ý NGHĨA BẢN THỂ LUẬN CỦA CHĂM LO

[Tr.360] Có lẽ phương pháp của chúng ta đòi hỏi cách trình bày ‘quyết liệt’ này về các khả tính của tồn tại; nhưng liệu một cách trình bày như vậy có thể nằm ngoài phạm vi tự do quyết định của chúng ta hay không? Nếu phép phân tích coi tính quyết đoán tiên liệu là nền tảng cho một tiềm-năng-cho-Hữu thể theo cung cách thực hữu cụ thể vốn mang tính đích thực—một tiềm năng mà chính Dasein tự kêu gọi chúng ta hướng tới ngay từ nền tảng tồn tại của nó—thì liệu tiềm năng này có đơn thuần là điều tùy thuộc vào quyền tự do quyết định của chúng ta? Phải chăng phương-thức-của-Hữu-thể, trong đó [tr.361] cái tiềm-năng-cho-Hữu thể của Dasein hướng về cái khả tính đặc thù nhất của chính nó, tức cái chết— đã chỉ là một điều tình cờ được túm lấy? Liệu Hữu-thể-trong-thế-giới có một căn cứ nào cao hơn cho cái tiềm-năng-cho-Hữu thể của chính nó ngoài cái chết của chính nó hay sao?1 Ngay cả khi sự phóng chiếu mang tính thực hữu-bản thể luận của Dasein hướng tới một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể đích thực không hoàn toàn còn là vấn đề tùy thuộc vào quyền tự do quyết định của chúng ta, thì điều đó có đủ để biện minh cho cách Diễn giải hữu thể đã đưa ra cho hiện tượng này không? Cách diễn giải này bắt đầu từ đâu, nếu không phải từ một ý niệm về tồn tại nói chung, đã được ‘giả định’ trước? Các bước trong phép phân tích trạng thái thường nhật không đích thực  đã được định hướng như thế nào, nếu không phải bởi chính khái niệm Existenz Xuất-hiện mà chúng ta đã đặt định?

[Chen ngang: Đối với Heidegger Existenz/ existence Xuất-hiện không chỉ đơn thuần là việc một vật hiện diện trên thế giới, mà là cách thức tồn tại đặc thù của con người được ông gọi là Dasein – ‘Có đó’. Nội hàm khái niệm này bao gồm: 1). Bản chất của Existenz: i) Xuất-hiện trước bản chất - khác với các vật thể vô tri (như hòn đá, hay sinh vật khác như động vật, con người không có một ‘bản chất’ cố định hay định sẵn từ trước; ii) Con người không sinh ra với một ‘bản thiết kế’ sẵn có về việc mình phải là ai; thay vào đó, sự Xuất-hiện của nó đi trước bản chất - Tôi Xuất-hiện trước, rồi mới tự định hình bản chất của mình thông qua những gì Tôi lựa chọn và hành động trong cuộc đời. 2). Ek-sistence Xuất-thân: đứng ngoài/ Vượt lên chính mình: i) Heidegger cắt nghĩa từ Existenz theo từ nguyên Latin ex-sistere/ ek-sistence có nghĩa là ‘đứng ra ngoài’; ii) Con người không bị đóng khung trong một hiện trạng tĩnh tại; thay vào đó, nó luôn xuất-thân ‘đứng ra ngoài’ chính mình để phóng chiếu về tương lai, hướng đến các khả tính và tự quyết định xem mình sẽ trở thành ai. 3). Jemeinigkeit Tính-luôn-là-của-tôi: i) Sự Xuất-hiện của con người luôn mang tính cá nhân sâu sắc, gọi là Jemeinigkeit - mỗi Dasein luôn là của riêng tôi; ii) Không ai có thể sống hộ, chết hộ hay chịu trách nhiệm hộ cuộc đời của Tôi; iii) Tôi là kẻ duy nhất phải đối diện trực tiếp với chính sự Xuất-hiện của mình. 4). Xuất-hiện Chân thực (Authentic) và Không chân thực (Inauthentic): i) Xuất-hiện không chân thực: Con người đánh mất chính mình, hòa lẫn vào das Man đám đông của cái ‘họ’, sống theo thói quen, những phiếm đàm thay vì tự lựa chọn; ii) Xuất-hiện chân thực: Con người thức tỉnh, nhận thức rõ tính hữu hạn của mình (đặc biệt là việc đối diện với cái chết bằng Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết và chịu trách nhiệm trọn vẹn cho các lựa chọn của bản thân.-HHN] 

Nếu chúng ta nói rằng Dasein ‘sa ngã’, và do đó, tính đích thực của cái tiềm-năng-cho-Hữu thể của nó phải được giành lấy từ chính Dasein—bất chấp khuynh hướng này trong Hữu thể2 của nó—thì nhận định đó được đưa ra từ quan điểm nào? Chẳng phải mọi thứ đều đã được chiếu rọi bởi ánh sáng của ý niệm về Xuất-hiện vốn đã được ‘giả định’ đó sao, dù chỉ là một cách mờ nhạt? Ý niệm này được biện minh từ đâu? Phải chăng sự phóng chiếu ban đầu của chúng ta—nơi chúng ta hướng sự chú ý đến ý niệm này—đã chẳng dẫn đến đâu cả? Hoàn toàn không phải vậy. Khi chỉ ra các khía cạnh hình thức của ý niệm Xuất hiện, chúng ta đã được dẫn dắt bởi chính thấu-hiểu-về-Hữu-thể vốn đã tiềm ẩn ngay trong bản thân Dasein. Dù thiếu minh bạch về mặt bản thể luận, vẫn hé lộ một sự thật là trong mọi trường hợp, chính Tôi là cái thực thể mà chúng ta gọi là Dasein, và Tôi xuất-hiện với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu thể – một thứ tiềm năng mà đối với nó, việc là chính thực thể này là cả một vấn đề. Dasein tự thấu hiểu mình như là Hữu-thể-trong-thế-giới, ngay cả khi sự thấu hiểu ấy còn thiếu tính xác định về mặt bản thể luận. Là loại Hữu thể ấy, Dasein bắt gặp các thực thể có kiểu Hữu thể của cái sẵn-có-để-dùng hoặc hiện-diện-vô-tri.

Dù sự phân biệt giữa Existenz Xuất-hiện và Realität Thực tại có xa rời các khái niệm bản thể luận đến đâu, hay ngay cả khi Dasein ban đầu hiểu Existenz Xuất-hiện là Realität thực tại, thì Dasein vẫn không chỉ hiện-diện-vô-tri mà nó đã tự thấu hiểu chính mình – bất kể cách diễn giải mà nó đưa ra có mang màu sắc huyền thoại hay ma thuật đến thế nào đi nữa. Bởi lẽ, nếu không như vậy, Dasein đã chẳng bao giờ ‘sống’ trong các huyền thoại, cũng chẳng bận tâm đến ma thuật trong các nghi lễ hay tín ngưỡng. Khái niệm ‘Xuất-hiện’ mà chúng ta đặt ra cung cấp một phác thảo về cấu trúc hình thức trong sự tự thấu hiểu của Dasein – một phác thảo không mang tính ràng buộc từ quan điểm thực hữu cụ thể. Dưới sự dẫn dắt của ý niệm này, phép phân tích dự bị về đời sống thường nhật – vốn gần gũi nhất với chúng ta – đã được thực hiện, dẫn đến định nghĩa [tr.362] khái niệm đầu tiên về Sorge/care ‘Chăm lo’. Hiện tượng này cho phép chúng ta nắm bắt chính xác hơn về sự Xuất-hiện cũng như mối quan hệ của nó với Faktizität/ facticity ‘thực tính’ và Verfallen/ falling sa ngã. Việc xác định cấu trúc của Sorge/care Chăm lo đã tạo cơ sở để chúng ta phân biệt, về mặt bản thể luận, giữa Existenz Xuất-hiện và Realität thực tại.vi Điều này dẫn đến luận điểm cho rằng: bản chất của con người chính là Xuất-hiện. Tuy nhiên, ngay cả trong ý niệm hình thức về Existenz Xuất-hiện này – vốn không ràng buộc chúng ta theo cách thức thực hữu cụ thể – vẫn tiềm ẩn một ‘nội dung’ bản thể luận xác định, dù khiêm nhường; nội dung này – cũng giống như ý niệm Realität thực tại đã được tách biệt khỏi nó – đều ‘tiền giả định’ một ý niệm về Hữu thể nói chung. Chỉ trong chân trời của ý niệm Hữu thể này, sự phân biệt giữa Existenz Xuất hiện và Realität thực tại mới có thể được thực hiện. Rõ ràng, trong cả hai khái niệm ấy, điều mà chúng ta đang hướng tới chính là Hữu thể.

Nhưng nếu muốn đạt được một ý niệm sáng tỏ về Hữu thể từ phương diện bản thể luận nói chung, chẳng phải chúng ta cần bắt đầu bằng việc khai triển hành động ‘thấu hiểu về Hữu thể’ vốn thuộc về Dasein hay sao? Tuy nhiên, hành động thấu hiểu này chỉ có thể được nắm bắt một cách bản nguyên dựa trên cơ sở phép Diễn giải bản nguyên về Dasein, trong đó chúng ta lấy ý niệm tồn tại làm đầu mối. Phải chăng cuối cùng, vấn đề bản thể luận nền tảng mà chúng ta vừa đề cập lại chính là thứ vận động theo một ‘vòng tròn’? Trong khi phân tích cấu trúc thấu hiểu nói chung, chúng ta đã chỉ ra rằng điều thường bị chỉ trích một cách sai lệch là một ‘vòng tròn’ thực chất lại thuộc về bản chất và đặc tính riêng biệt của thấu hiểu theo đúng nghĩa. viii Dẫu vậy, nếu muốn làm sáng tỏ Tình thế phép tường giải của vấn đề bản thể luận nền tảng, thì công cuộc nghiên cứu của chúng ta giờ đây phải quay trở lại một cách tường minh với cái ‘lập luận vòng tròn’ này. Khi bị ​​phản đối cho rằng phép Diễn giải cấu thành bản thể mang tính ‘vòng tròn’, người ta ngụ ý việc ‘giả định trước’ ý niệm về Xuất-hiện và về Hữu thể nói chung, rồi diễn giải Dasein ‘theo’ những giả định đó, để rồi rút ra ý niệm về Hữu thể. Nhưng ‘giả định trước’ nghĩa là gì?

Khi đặt định ý niệm về Xuất-hiện, liệu chúng ta có đang đặt định một mệnh đề nào đó để từ đó suy diễn ra các mệnh đề khác về Hữu thể của Dasein theo các quy tắc logic hình thức nhất quán hay không? Hay cái ‘giả định trước’ này mang đặc tính của một phóng chiếu thấu hiểu, theo cách mà phép Diễn giải vốn phát triển từ sự thấu hiểu đó cho phép đối tượng vốn phải được diễn giải tự cất lời lần đầu tiên, để chính nó có thể tự quyết định xem, với tư cách là cái thực thể kia, liệu nó có thực sự sở hữu trạng thái Hữu thể như đã được bộc lộ trong sự phóng chiếu liên quan đến các khía cạnh hình thức của nó hay không?3 Liệu [tr.363] có cách nào khác để một thực thể có thể tự cất lời về cái Hữu thể của chính mình hay không? Trong phân tích hữu thể/ cấu thành bản thể, chúng ta không bao giờ có thể ‘tránh được’ một lập luận mang tính ‘vòng tròn’, bởi lẽ kiểu phân tích này hoàn toàn không thực hiện bất kỳ cách chứng minh nào theo các quy tắc ‘logic nhất quán’. Điều mà tư duy thông thường muốn loại bỏ khi cố tránh cái ‘vòng tròn’ kia, với giả định rằng mình đang tuân thủ tính nghiêm ngặt tột độ trong nghiên cứu khoa học — thực chất không có gì khác hơn là cái cấu trúc cơ bản của Sorge/care Chăm lo. Vì được cấu thành một cách bản nguyên bởi chăm lo, nên bất kỳ Dasein nào cũng luôn vượt trước chính mình. Với tư cách hiện hữu, Dasein đã luôn tự phóng chiếu bản thân vào những khả tính xác định cho sự Xuất-hiện của chính nó; và trong những phóng chiếu thực hữu cụ thể ấy, nó cũng đã phóng chiếu — theo cách thức tiền-bản thể luận — những điều gì đó như Existenz/extence Xuất-hiện và Sein/Being Hữu thể. Giống như mọi nghiên cứu khác, việc phát triển và khái niệm hóa loại Hữu thể thuộc về Existenz/extence tồn tại cũng chính là một loại Hữu thể mà thực thể khai mở Dasein sở hữu; liệu loại nghiên cứu như vậy có thể bị khước từ hành động phóng chiếu vốn cốt yếu đối với Dasein không?

Tuy nhiên, chính cái ‘cáo buộc về tính vòng tròn’ kia lại nảy sinh từ một loại Hữu thể thuộc về Dasein. Đối với tư duy thông thường — vốn đang đắm chìm trong sự bận tâm với das Man cái ‘họ’ — thì phóng chiếu dù mang tính bản thể luận vẫn là một cái gì đó xa lạ; tư duy thông thường tự dựng rào chắn chống lại nó ‘về mặt nguyên tắc’. Tư duy thông thường, dù là dưới góc độ ‘lý thuyết’ hay ‘thực tiễn’, chỉ bận tâm đến các thực thể có thể được bao quát trong một cái nhìn quan sát cẩn trọng. Đặc điểm nổi bật của tư duy thông thường là nó chỉ chú trọng vào việc trải nghiệm các thực thể ‘thực tế’, nhằm mục đích gạt bỏ sự thấu hiểu về Hữu thể. Nó không chấp nhận rằng các thực thể chỉ có thể được trải nghiệm một cách ‘thực tế’ khi Hữu thể đã được thấu hiểu từ trước, ngay cả khi sự thấu hiểu đó chưa được khái niệm hóa. Tư duy thông thường hiểu sai về chính hành vi ‘thấu hiểu’. Do đó, bất cứ điều gì nằm ngoài tầm hiểu biết của nó, hoặc bất kỳ nỗ lực nào xa đến mức đó, đều bị tư duy thông thường gán nhãn ‘bạo lực’.

Khi nói đến ‘vòng tròn’ trong thấu hiểu, thì người ta đang bộc lộ là thất bại trong việc nhận ra hai điều, đó là: (1) thấu hiểu theo đúng nghĩa tạo nên một loại Hữu thể cơ bản của Dasein, và (2) cái Hữu thể này được cấu thành với tư cách là Sorge/ care Chăm lo. Hành động chối bỏ vòng tròn này, che giấu nó, hay thậm chí muốn vượt qua nó, xét cho cùng chỉ càng làm gia tăng thất bại ấy. Thay vào đó, chúng ta phải nỗ lực nhảy vào cái ‘vòng tròn’ ấy một cách bản nguyên và trọn vẹn, để ngay từ khi bắt đầu phân tích về Dasein, chúng ta có thể đảm bảo có được cái nhìn đầy đủ về cái Hữu thể vòng tròn của Dasein. Nếu trong bản thể luận về Dasein, chúng ta ‘xuất phát’ từ một cái ‘Tôi’ phi-thế-giới, rồi cố gán cho cái ‘Tôi’ đó bằng một Khách thể và một mối quan hệ với Khách thể ấy mà không có cơ sở bản thể luận, thì khi đó, chúng ta không phải đã ‘giả định’ quá nhiều, mà là quá ít. Nếu chúng ta biến ‘cuộc sống’ thành một vấn đề cần giải quyết, rồi chỉ thỉnh thoảng mới cân nhắc đến cái chết, thì cách nhìn ấy là quá thiển cận. Cái khách thể mà chúng ta chọn làm chủ đề sẽ bị giới hạn một cách nhân tạo và giáo điều nếu [tr.364] ngay từ đầu, chúng ta chỉ giới hạn nó vào một ‘chủ thể lý thuyết’, rồi sau đó mới cố gắng hoàn thiện nó bằng cách gắn thêm một thứ ‘đạo đức học’ vào ‘khía cạnh thực tiễn’. Cách tiếp cận này có thể giúp làm sáng tỏ ý nghĩa hữu thể/cấu thành bản thể trong Tình thế tường giải của một phân tích bản nguyên về Dasein.

[Chen ngang: Đối với Heidegger, „der hermeneutische Sinn der hermeneutischen Situation einer ursprünglichen Analytik des Daseins“ bao gốm các ý nghĩa sau: 1. Hermeneutischen Situation Tình thế Tường giải học - trong hiện tượng học của Heidegger, thuật ngữ này chỉ rõ điểm khởi đầu cụ thể, chân trời và cấu trúc vòng tròn (vòng tròn phép tường giải) mà từ đó bắt đầu một phép Diễn giải: i) Đó không phải là một quan điểm trừu tượng hay trung gian, mà gắn liền với chính phương thức hiện hữu của Dasein; ii) Ursprüngliche Analytik des Daseins - Phép phân tích bản nguyên về Dasein - là cách truy vấn bản thể luận nền tảng về Dasein hiện hữu người, đóng vai trò là chìa khóa chính để mở ra câu hỏi về ý nghĩa của Seinsfrage Hữu thể nói chung. Ursprünglich ‘bản nguyên’ ở đây có nghĩa là quay trở về với nguồn gốc căn bản nhất, trước khi hình thành nên các quan điểm lý thuyết hay khách quan mang tính phái sinh; iii) Existenzialer Sinn Ý nghĩa hữu thể/cấu thành bản thể - là Ý nghĩa gắn liền với các cấu trúc Existenz Xuất-hiện của Dasein hiện hữu người; là cách Dasein tự thấu hiểu bản thân thông qua các khả tính, chăm lo, và thời gian tính của chính mình, thay vì các thuộc tính phân loại hay tâm lý học truyền thống thường thấy ở một ‘chủ thể’ hay ‘khách thể’. 2.) Ý nghĩa triết học cốt lõi đối với Heidegger: i) Một loại truy vấn về Dasein hiện hữu người không thể bắt đầu từ một ‘chủ thể khoa học’ tách biệt và trung lập; ii) Loại truy vấn đó phải xem xét đến tính vòng tròn của chính nó - hay còn gọi là ‘Tình thế Tường giải’, trong đó đối tượng được nghiên cứu Dasein vốn đã tham gia vào việc thấu hiểu chính Hữu thể của bản thân mình; iii) Việc nắm bắt tình thế này về phương diện hữu thể/cấu thành bản thể cho phép hướng tới tự thấu hiểu đích thực, chẳng hạn như vorlaufende Entschlossenheit tính quyết đoán dự liệu tương lai, mà không rơi vào lối phân tách chủ thể - khách thể mang tính giáo điều hoặc truyền thống.-HHN]. Thông qua việc làm hiển lộ ‘tính quyết đoán dự liệu tương lai’, chúng ta đã đặt Dasein ra trước mắt trong tổng thể tính đích thực của nó, nhờ đó mà có thể nắm bắt được nó ngay từ đầu. Tính đích thực của tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-mình bảo đảm rằng chúng ta có thể nhìn nhận được tính hữu thể/cấu thành bản thể bản nguyên ngay từ bước khởi đầu; điều này cũng xác nhận rằng chúng ta đang xây dựng được những khái niệm hữu thể/cấu thành bản thể phù hợp.4 Đồng thời, phép phân tích của chúng ta về tính quyết đoán dự liệu tương lai đã dẫn đến hiện tượng chân lý bản nguyên và đích thực. Trước đó đã chỉ ra sự thấu-hiểu-về-Hữu-thể vốn chiếm ưu thế trong trạng thái gần gũi và phổ quát, thường quan niệm Hữu thể theo nghĩa hiện-diện-vô-tri, mà che khuất hiện tượng bản nguyên của chân lý.ix

[Chen ngang: Đối với Heidegger “das ursprüngliche Phänomen der Wahrheit” hiện tượng bản nguyên của chân lý có Ý nghĩa cốt lõi sau: i) Bác bỏ tính Tương ứng - Heidegger bác bỏ quan điểm triết học truyền thống vốn chiếm ưu thế, cho rằng chân lý chỉ đơn thuần là adaequatio sự tương ứng hay đồng nhất giữa một phán đoán/phát biểu trong tâm trí với một đối tượng bên ngoài; ii) Chân lý với tư cách là Alētheia Không che giấu - trước khi một phát biểu có thể được coi là ‘chân’ hay ‘giả’ thông qua việc khớp nối với một sự kiện, các thực thể đã phải được hiển lộ, được để cho thấy, hoặc được đưa ra khỏi bóng tối. Heidegger diễn giải lại thuật ngữ Hy Lạp cổ đại alētheia thành Unverborgenheit tình trạng không bị che giấu; iii) Dasein với tư cách là nền tảng, cách thức hiện hữu người, tức là Hữu-thể-trong-thế-giới gồm cả khai mở một thế giới; trạng thái mở mang tính tiền-phán đoán này của Dasein chính là điều kiện cho phép các phát biểu cụ thể có thể làm bộc lộ hoặc che đậy sự vật; như vậy, trạng thái khai mở của Dasein chính là nền tảng cho hiện tượng bản nguyên của chân lý.-HHN].

Tuy nhiên, nếu ‘có đó’ Hữu thể chỉ khi ‘có’ chân lý, và nếu sự thấu hiểu về Hữu thể thay đổi tùy theo loại chân lý, thì chân lý mang tính bản nguyên và đích thực phải là cơ sở bảo đảm cho sự thấu hiểu về cái Hữu thể của Dasein cũng như về Hữu thể nói chung. ‘Chân lý’ bản thể luận của existential analysis phép phân tích hữu thể/ cấu thành bản thể được phát triển trên nền tảng của primordial existentiell truth chân lý thực hữu cụ thể bản nguyên; ngược lại, cái chân lý thực hữu cụ thể bản nguyên đó không nhất thiết phải phụ thuộc vào phép phân tích hữu thể/ cấu thành bản thể kia. Cái chân lý hữu thể/ cấu thành bản thể và bản nguyên nhất – vốn là cái mà vấn đề bản thể luận nền tảng hướng tới khi chuẩn bị cho câu hỏi về Hữu thể nói chung lại chính là trạng thái khai mở ý nghĩa của Hữu thể Sorge/ care Chăm lo. Để làm sáng tỏ ý nghĩa này, chúng ta cần nắm giữ trọn vẹn, không khiếm khuyết, toàn bộ nội dung cấu trúc của chăm lo.

64. Chăm lo và Tự ngã tính

Thông qua nhất tính của các yếu tố cấu thành nên chăm lo – bao gồm Existenzialität/ existentiality tính hữu thể, Faktizität/ facticity thực tính và tình trạng sa ngã Verfallen/ fallenness – chúng ta đã có thể đưa ra định nghĩa bản thể luận đầu tiên cho chỉnh thể cấu trúc của Dasein. Chúng ta đã thiết lập một công thức hữu thể/ cấu thành bản thể cho cấu trúc của Sorge/ care Chăm lo với tư cách là “Hữu-thể-có-trước-chính-mình-đã-ở-trong (một thế giới) với tư cách là Hữu-thể-bên-cạnh (các thực thể bắt gặp trong-thế-giới)”5. Chúng ta thấy rằng cấu-trúc-chăm-lo không phải cấu thành bằng việc ghép nối các thành phần rời rạc, mà bản thân nó vốn đã được khớp nối nội tại.x Khi đánh giá kết quả bản thể luận này, cần xem xét mức độ [tr.365] đáp ứng của nó đối với các yêu cầu Diễn giải bản nguyên về Dasein.xi

Kết luận rút ra từ những xem xét này là: cả chỉnh thể Dasein lẫn cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của nó đều chưa từng được đặt ra như một chủ đề. Tuy nhiên, cấu trúc chăm lo dường như lại chính là nơi mà nỗ lực nắm bắt cái chỉnh thể của Dasein như một hiện tượng đã gặp bế tắc. Khái niệm ‘vượt trước chính mình’ được tự trình bày như một trạng thái ‘vẫn-chưa’. Thế nhưng, khi cái ‘vượt-trước-chính-mình’ — vốn được mô tả như một điều gì đó còn đang bỏ ngỏ — được xem xét theo cách thức hữu thể/cấu thành bản thể đích thực, nó lại tự bộc lộ là Hữu-thể-hướng-đến-chung-cục — một điều gì đó mà trong chiều sâu Hữu thể của nó, bất kỳ Dasein nào cũng đều mang trong mình. Đồng thời, chúng ta cũng làm rõ rằng, thông qua tiếng gọi của lương tâm, chăm lo đã vời gọi Dasein hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu- thể đặc hữu nhất của chính nó. Khi chúng ta bắt đầu thấu hiểu từ bản nguyên về cách thức thấu hiểu tiếng gọi này, ta thấy rằng sự thấu hiểu đó biểu hiện thành ‘tính quyết đoán tiên liệu’—vốn bao gồm cả khả-tính-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể, một tiềm năng vốn thuộc về Dasein. Vậy là cấu-trúc-chăm-lo không hề phủ nhận cái khả tính Hữu-thể-một-chỉnh-thể, mà trái lại, nó chính là điều kiện cho cái khả tính của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể mang tính thực hữu cụ thể như vậy. Qua các phân tích này, rõ ràng là những hiện tượng hữu thể/cấu trúc bản thể như cái chết, lương tâm và cảm giác tội lỗi đều bắt rễ từ hiện tượng Sorge/care chăm lo. Tổng thể tính của cấu trúc này đã được làm sáng tỏ một cách phong phú hơn; và chính vì thế, câu hỏi mang tính hữu thể/cấu trúc bản thể về cái nhất tính của tổng thể tính này lại càng trở nên cấp thiết. Chúng ta phải hình dung nhất tính này như thế nào? Làm sao Dasein có thể tồn tại như một nhất tính trong các cách thức và các khả tính Hữu thể của nó mà chúng ta đã đề cập? Rõ ràng, nó chỉ có thể tồn tại bằng cách tự mình là chính Hữu thể đó trong các khả tính cốt yếu của nó — nghĩa là, trong mỗi trường hợp, chính Tôi là thực thể này. Cái ‘Tôi’ dường như ‘gắn kết’ tổng thể cái chỉnh thể cấu trúc đó lại với nhau. Trong cái ‘bản thể luận’ về thực thể này, cái ‘Tôi’ và cái ‘Tự ngã’ từ lâu đã được xem là nền tảng nâng đỡ (như một Substanz chất thể hay một chủ thể).

[Chen ngang: Trong quan niệm của Heidegger, khái niệm Substanz/chất thể hoặc cách ông tiếp cận truyền thống là Vorhandenheit Tính-hiện-diện-vô-tri mang một ý nghĩa đặc biệt trong nỗ lực phê phán lịch sử siêu hình học phương Tây. 1) Ý nghĩa truyền thống của khái niệm Substanz -Trong lịch sử triết học từ Aristotle qua Descartes đến Kant, Substanz có nguồn gốc của từ Latin substantia và gốc Hy Lạp ousia chỉ một cái gì đó ‘trụ ở dưới’ hoặc tồn tại độc lập, mang theo các thuộc tính cố định. Ví dụ: một khối gỗ hay cục sắt được xem là một ‘chất thể’ mang các đặc tính. Dưới cách nhìn của mình, Heidegger cho rằng việc quan niệm vạn vật như những Substanz ‘chất thể’ là một sự thu hẹp và hiểu sai về Sein/ Hữu thể. Ông bác bỏ việc coi con người hay đồ vật trước hết là một ‘chất thể’ hay một cỗ máy gồm linh hồn và thể xác. 2). Vorhandenheit Sự-hiện -diện-vô-tri: i) Ý nghĩa: Đây là thuật ngữ cốt lõi mà Heidegger dùng để thay thế hoặc mô tả cách tư duy siêu hình coi sự vật như một ‘đối tượng’ thuần túy, trơ lì, đứng tách biệt để cho một chủ thể quan sát lý thuyết; ii) Khi một vật bị nhìn nhận theo kiểu Vorhandenheit, nó hiện ra như một tập hợp các sự kiện hoặc đặc tính rời rạc, ví dụ: một chiếc búa bị gãy không còn dùng được nữa, ta chỉ thấy nó là một cục sắt gắn mẩu gỗ nằm ở đó. 3). Zuhandenheit/ Readiness-to-hand Tính-sẵn-có-để-dùng: i) Ý nghĩa - đối lập với Vorhandenheit, đây là cách con người tương tác bản nguyên với thế giới trong đời sống hàng ngày; tôi không nhận thức chiếc búa như một ‘chất’ hay một ‘đối tượng’ độc lập, mà nó hiện ra trong hành động sử dụng ‘để đóng đinh’; và như vậy Ý nghĩa của sự vật sinh ra từ mạng lưới thực tiễn của con người. 4). Dasein Hiện hữu người – Có đó: Thay vì gọi con người là ‘chủ thể có lý tính’ hay ‘chất thể có tư duy’ như Descartes, Heidegger dùng từ Dasein để chỉ đặc thù hiện hữu của con người — đó là tình trạng khai mở, là ‘nơi’ mà câu hỏi về Hữu thể được đặt ra và thấu hiểu.-HHN]

Ngay cả trong mô tả dự bị về đời sống thường nhật, phân tích của chúng ta đã sớm chạm đến câu hỏi về cái ‘ai’ của Dasein. Người ta đã chỉ ra rằng, xét về phương diện gần gũi nhất, Dasein phần lớn không phải là chính nó mà bị đánh mất trong das Man cái ‘họ’ — một biến thể existentiell thực hữu cụ thể của cái Selbst/ Tự ngã đích thực. Câu hỏi về cấu thành bản thể luận của Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính vẫn chưa có lời giải đáp. Tất nhiên, về nguyên tắc, chúng ta đã xác định được một manh mối cho vấn đề này;xii bởi lẽ, nếu cái Tự ngã thuộc về các thuộc tính cốt yếu của Dasein, trong khi Essenz ‘bản chất’ của Dasein lại nằm ở chính Existenz tồn tại, thì Ichheit/ ‘I’-hood ‘Ngã’-tính và Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính phải được quan niệm dựa trên phương diện hữu thể/cấu thành bản thể. [Chen ngang: Trong triết học của Martin Heidegger, các khái niệm về Ichheit/ ‘I’-hood ‘Ngã’-tính và Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính đóng vai trò trung tâm trong phân tích của ông về Dasein hiện hữu người. Thay vì xem cái Selbst/ Self Tự ngã như một thực thể tĩnh tại, biệt lập kiểu cogito của Descartes, Heidegger định nghĩa nó thông qua cách thức mà nó hiện hữu trong thế giới. Dưới đây là các thuật ngữ tiếng Đức chính mà Heidegger sử dụng cho những khái niệm này cùng ý nghĩa của chúng: 1). Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính chỉ trạng thái siêu hình của việc là một ‘tự ngã’: i) Đối với Heidegger, Tự ngã tính không phải là một ‘vật thể’ hay một linh hồn nằm bên trong cơ thể, mà là một phương thức hiện hữu; ii) Cấu trúc hữu thể/cấu thành bản thể là một cấu trúc nội tại của Dasein; sở hữu tự ngã tính nghĩa là hiện hữu của Dasein luôn là một vấn đề đối với chính nó; iii) Tính năng động, không tĩnh tại là điều mà Dasein ‘đạt được’ hoặc ‘không đạt được’ thông qua các lựa chọn và hành động của mình, chứ không phải là một đối tượng hay một cái tôi/ego cố định, vĩnh viễn. 2). Ichheit/ ‘I’-hood ‘Ngã’-tính/ Tính ‘Tôi’: i) Heidegger sử dụng thuật ngữ Ichheit để phê phán triết học phương Tây truyền thống - như của Descartes và Kant - vốn xem cái ‘Tôi’ như một chủ thể tư duy khép kín, nhìn ra thế giới khách quan bên ngoài; ii) Sự phê phán: Heidegger lập luận rằng việc tập trung vào Ichheit Ngã tính sẽ cô lập con người; khi ai đó nói ‘Tôi’, thực chất kẻ đó đã luôn là một ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’; iii) Trạng thái phái sinh: Theo Heidegger, Ichheit ‘Tính tôi’ trở nên vô căn cứ nếu bị tách rời khỏi Selbstheit Tự ngã tính; trải nghiệm hiện tượng luận khi nói ‘Tôi’ chỉ có thể xảy ra vì Dasein vốn đã sở hữu một cấu trúc sâu xa hơn của Tự ngã tính. 3). Tự ngã đích thực và Tự ngã không đích thực: Heidegger phân tích sâu hơn về cách thức mà Tự ngã tính thực sự được sống trải trong tồn tại thường nhật thông qua hai thuật ngữ then chốt: i) Eigentlichkeit/ Authenticity/ Tính đích thực: điều này xảy ra khi Dasein tự chịu trách nhiệm về các lựa chọn của chính mình, nhận thức được tính hữu tử của bản thân, và hướng tới những khả tính đích thực của chính mình - đây chính là Das eigentliche Selbst cái Tự ngã đích thực; ii) Uneigentlichkeit Tính không đích thực/ Tình trạng đánh mất chính mình - điều này xảy ra khi Dasein tự đánh mất bản thân vào das Man cái ‘họ’, chạy theo những kỳ vọng, các phiếm đàm và các chuẩn mực của xã hội, dẫn đến sự hình thành Das uneigentliche Selbst Cái Tôi không đích thực.-HHN].

Ở khía cạnh phủ định, cũng đã có minh chứng cho thấy việc mô tả bản thể luận về das Man cái ‘họ’ ngăn cản chúng ta sử dụng các phạm trù hiện-diện-vô-tri (như phạm trù chất thể). Về nguyên tắc, xét về mặt bản thể luận, đã rõ ràng là khái niệm Sorge/care chăm lo không thể được suy ra từ Realität thực tại tính hay được xây dựng dựa trên [tr.366] các phạm trù của thực tại. iii Bản thân khái niệm chăm lo đã hàm chứa hiện tượng Selbst/ Self cái Tự ngã, nếu giả định sau đây là đúng: cụm từ Selbstsorge tự chăm lo sẽ trở thành một phép lặp thừa nếu ta hiểu nó theo cách tương tự như khái niệm Fürsorge chăm lo cho những Kẻ Khác.xiv Tuy nhiên, nếu vậy, vấn đề xác định cái Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính về phương diện bản thể luận của Dasein sẽ trở nên sắc bén hơn, chuyển thành câu hỏi về ‘mối liên hệ’ hữu thể/ cấu thành bản thể giữa chăm lo và Tự ngã tính. Để làm rõ tính hữu thể của cái Tự ngã, chúng ta lấy điểm xuất phát ‘tự nhiên’ là cách giải thích cái Tự ngã thường nhật của Dasein. Khi nói ‘Tôi’, Dasein tự diễn đạt về ‘chính nó’. Không nhất thiết Dasein phải đưa ra bất kỳ phát ngôn nào khi làm như vậy. Với cái ‘Tôi’, thực thể này hướng về chính nó. Nội dung của cách biểu thị này được coi là một cái gì đó hoàn toàn đơn giản. Trong mỗi trường hợp, nó chỉ đại diện cho tôi và không hơn không kém. Hơn nữa, cái ‘Tôi’ này, với tư cách là một cái gì đó đơn giản, không phải là thuộc tính của những Sự vật khác; bản thân nó không phải là một vị ngữ, mà là ‘chủ ngữ’ tuyệt đối. Cái được diễn đạt và cái được hướng đến khi nói ‘Tôi’, luôn luôn được gặp gỡ như cùng một cái gì đó vẫn tiếp tục tồn tại. Các đặc điểm của ‘tính đơn giản’, ‘tính thực thể’ và ‘nhân cách’, mà Kant, chẳng hạn, đã lấy làm cơ sở cho học thuyết ‘về những sai lầm logic của lý tính thuần túy’ của ông,xv xuất phát từ một kinh nghiệm tiền hiện tượng học đích thực. Câu hỏi đặt ra là liệu những gì chúng ta đã trải nghiệm một cách ontish thực hữu như vậy có thể được diễn giải về phương diện bản thể luận với sự trợ giúp của các ‘phạm trù’ đã đề cập hay không.

[Chen ngang: Đối với Kant, Substantialität/ substantiality tính thực thể / phạm trù thực thể không phải là một đặc tính vật chất của sự vật, mà là Kategorie des Verstandes một phạm trù thuần túy của trí tuệ thuộc nhóm phạm trù quan hệ, dùng để thiết lập tính liên tục và ổn định của thế giới hiện tượng, được Kant định nghĩa qua các ý nghĩa cốt lõi sau: 1). Cái trường tồn trong thời gian: i) Kant lập luận rằng chúng ta không thể tri giác bản thân ‘thời gian’ một cách trực tiếp; ii) Để nhận thức được sự thay đổi/ biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, trí tuệ của chúng ta bắt buộc phải giả định có một cái gì đó không thay đổi, trường tồn làm nền tảng; cái trường tồn đó chính là Substanz/ substance ‘thực chất’; iii) Ví dụ khi một khúc gỗ cháy thành tro, trạng thái thay đổi từ ‘gỗ’ sang ‘tro’, nhưng trí tuệ chúng ta hiểu rằng có một ‘thực chất’ vật chất căn bản vẫn tồn tại xuyên suốt quá trình đó mà không tự nhiên biến mất. 2). Sự phân biệt giữa Substanz/ Substance Thực chất và Akzidenz/ Accident Ngẫu tính: i) Substance Thực chất là cái tự thân tồn tại độc lập, đóng vai trò là substrate/ chất nền chứa đựng các đặc tính; ii) Akzidenz Accident Ngẫu tính: Là các trạng thái, tính chất thay đổi của thực thể đó (như màu sắc, hình dáng, nhiệt độ). Ngẫu tính không thể tồn tại nếu không bám vào một thực thể. 3. Khác biệt cốt lõi giữa Kant và triết học truyền thống: i) Trước Kant, các Triết gia Descartes, Spinoza, Leibniz coi Substanz/ substance Thực chất là một thứ gì đó có thật theo cách siêu hình tồn tại độc lập ở thế giới bên ngoài, đó là noumena vật tự thân; ii) Với Kant, Substanz/ substance Thực chất không phải là ‘một thứ’ ta có thể tìm thấy ở thế giới bên ngoài, mà là một cấu trúc tư duy của con người. Trí tuệ của chúng ta buộc phải áp đặt phạm trù ‘thực chất’ lên các dữ kiện giác quan để sắp xếp chúng thành một thế giới có trật tự, nhất quán và có thể hiểu được. Khái niệm này nằm trong phần Analogies of Experience ‘Loại suy Kinh nghiệm của’ Kant.-HHN]

Thật vậy, hoàn toàn phù hợp với nội dung hiện tượng được đưa ra khi nói ‘Tôi’, Kant đã chỉ ra rằng các luận điểm ontish thực hữu về Seelensubstanz thực-chất-linh-hồn được suy luận từ những đặc điểm này là không có cơ sở. Nhưng khi làm như vậy, ông chỉ đơn thuần bác bỏ một giải thích thực hữu sai lầm về cái ‘Tôi’; ông hoàn toàn không đạt được một phép Diễn giải bản thể luận về Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính, thậm chí ông cũng không có được sự đảm bảo nào về điều đó và không có sự chuẩn bị thực chứng nào cho nó. Kant đã nỗ lực nghiêm ngặt hơn những người tiền nhiệm của mình để giữ vững nội dung hiện tượng của việc nói ‘Tôi’; tuy nhiên, mặc dù về mặt lý thuyết ông đã phủ nhận rằng các nền tảng thực hữu của bản thể luận về cái thực chất áp dụng cho cái ‘Tôi’, ông vẫn quay trở lại với bản thể luận không phù hợp này. Điều này sẽ được trình bày chính xác hơn, để chúng ta có thể xác định ý nghĩa của việc nói ‘Tôi’ làm điểm xuất phát cho việc phân tích Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính về phương diện bản thể luận. Phân tích của Kant về cái ‘Tôi nghĩ’ sẽ được đưa ra như một minh họa, nhưng chỉ khi cần thiết để làm rõ những vấn đề này.xvi Cái ‘Tôi’ là một ý thức trần trụi, đi kèm với tất cả các khái niệm. Trong cái ‘Tôi’, ‘không có gì được biểu hiện hơn là một chủ thể siêu nghiệm của tư tưởng’. ‘Ý thức tự thân (không phải) là một biểu hiện… mà là một hình thức biểu hiện nói chung.’xvii Cái ‘Tôi nghĩ’ là ‘hình thức Apperzeption thống giác, bám vào mọi kinh nghiệm và đi trước nó’.xviii

[Tr. 367] Kant nắm bắt đúng nội dung hiện tượng của cái ‘Tôi’ trong cách diễn đạt ‘Tôi nghĩ’, hoặc - nếu người ta cũng chú ý đến việc bao gồm ‘người thực hành’ khi nói về ‘trí tuệ’ - trong cách diễn đạt ‘Tôi hành động’. Theo nghĩa của Kant, chúng ta phải hiểu việc nói ‘Tôi’ là nói ‘Tôi nghĩ’. Kant cố gắng thiết lập nội dung hiện tượng của cái ‘Tôi’ như là res cogitans thực thể tư duy. Nếu trong quá trình đó, ông gọi cái ‘Tôi’ này là một ‘chủ thể logic’, điều đó không có nghĩa là cái ‘Tôi’ nói chung là một khái niệm chỉ thu được thông qua logic. Cái ‘Tôi’ đúng hơn là chủ thể của hành vi logic, của sự liên kết. ‘Tôi nghĩ’ có nghĩa là ‘Tôi liên kết’. Tất cả sự liên kết đều là một ‘Tôi liên kết’. Trong bất kỳ sự kết hợp hay liên hệ nào, cái ‘Tôi’ luôn luôn ὑποκείμενον hypokeimenon nằm bên dưới/thể nề. Do đó, subjectum [tiếng Latin, danh từ trung tính, số ít, thuộc biến cách thứ hai - nghĩa gốc là cái ‘đặt ở dưới’, ‘nền tảng’ hoặc ‘chủ thể’-HHN] cái chủ thể là ‘ý thức tự thân’, không phải là một biểu hiện mà là ‘hình thức’ của biểu hiện. Nói cách khác, cái ‘Tôi nghĩ’ không phải là một cái gì đó được biểu hiện, mà là cấu trúc hình thức của việc biểu hiện theo đúng nghĩa, và chỉ có cấu trúc hình thức này mới cho phép bất cứ điều gì được biểu hiện. Khi chúng ta nói về ‘hình thức’ của biểu hiện, chúng ta không đề cập đến một khuôn khổ hay một khái niệm phổ quát, mà là cái, với tư cách là εἶδος eidos [tiếng Hy Lạp, danh từ giống trung, có nghĩa gốc là ‘hình dáng’, ‘vẻ bề ngoài’, ‘hình thù’ hoặc ‘kiểu, loại’ có từ căn là động từ εἴδω eido - nghĩa là ‘nhìn thấy’, ‘quan sát’, ‘biết’. -HHN], làm cho mọi sự biểu hiện và mọi thứ được biểu hiện trở thành chính nó. Nếu cái ‘Tôi’ được hiểu là hình thức của biểu hiện, thì điều này tương đương với việc nói rằng nó là ‘chủ thể logic’. Phân tích của Kant có hai khía cạnh thực chứng. Thứ nhất, ông nhận thấy cái bất khả tính của việc quy giản ontish thực hữu cái ‘Tôi’ thành một Substanz thực chất; thứ hai, ông kiên định với quan điểm cái ‘Tôi’ là ‘Tôi nghĩ’. Tuy nhiên, ông lại coi cái ‘Tôi’ này là chủ thể, và ông làm như vậy theo một nghĩa không phù hợp về mặt bản thể luận. Bởi vì khái niệm bản thể luận về chủ thể không đặc trưng cho Selbstheit/ Selfhood Tự ngã tính của cái ‘Tôi’ với tư cách là Selbst/Self Tự ngã, mà là tính đồng nhất và tính ổn định của một cái gì đó luôn hiện-diện-vô-tri. Định nghĩa cái ‘Tôi’ về mặt bản thể luận là ‘chủ thể’ có nghĩa là coi nó như một cái gì đó luôn hiện-diện-vô-tri. Hữu thể của cái ‘Tôi’ được hiểu là cái Thực tại của res cogitans thực thể tư duy.xix

Nhưng làm thế nào mà trong khi cái ‘Tôi nghĩ’ mang lại cho Kant một điểm khởi đầu mang tính hiện tượng chân thực, ông lại không thể khai thác nó về mặt bản thể luận, mà buộc phải quay trở lại với khái niệm ‘chủ thể’—nghĩa là, một cái gì đó mang tính thực thể? Cái ‘Tôi’ không chỉ đơn thuần là ‘tôi nghĩ’, mà là ‘tôi nghĩ về một điều gì đó’. Chẳng phải chính Kant vẫn luôn nhấn mạnh rằng cái ‘Tôi’ luôn gắn liền với các biểu hiện của nó, và nếu không có chúng thì cái ‘Tôi’ chẳng là gì cả sao? Tuy nhiên, đối với Kant, những biểu hiện này là cái ‘kinh nghiệm’ vốn đi kèm với những biểu hiện mà cái ‘Tôi’ ‘bám vào’. Kant chưa bao giờ làm rõ loại Hữu thể của việc ‘bám vào’ hay ‘đi kèm’ này. Xét đến cùng, loại Hữu thể đó được hiểu như là Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri thường trực của cái ‘Tôi’ cùng với các biểu hiện của nó. Kant quả thực đã tránh được việc cắt lìa cái ‘Tôi’ ra khỏi hành vi suy tư; nhưng ông làm vậy mà không xuất phát từ cái ‘Tôi nghĩ’ với đầy đủ nội dung cốt yếu của nó [tr.368], tức là ‘Tôi nghĩ về một cái gì đó’, và quan trọng hơn, ông không nhận ra những gì đã được ‘giả định’ về mặt bản thể luận khi coi cái ‘Tôi nghĩ về một điều gì đó’ là đặc điểm cơ bản của cái Selbst/Self ‘Tự ngã’. Bởi lẽ, ngay cả mệnh đề ‘Tôi nghĩ về một điều gì đó’ cũng chưa đủ xác định về mặt bản thể luận để làm điểm khởi đầu, vì cái ‘một điều gì đó’ ấy vẫn còn mơ hồ. Nếu hiểu ‘một điều gì đó’ kia là một thực thể nằm-trong-thế-giới, thì điều đó ngầm định rằng thế giới đã được giả định trước rồi; và chính hiện tượng thế giới này góp phần quy định trạng thái Hữu thể của cái ‘Tôi’, nếu quả thực cái ‘Tôi’ có thể tồn tại như một điều gì đó giống cái ‘Tôi nghĩ về một điều  gì đó’. Khi nói ‘Tôi’, là khi tôi đang hướng đến chính cái thực thể mà trong mỗi trường hợp cụ thể, tôi với tư cách là một ‘Tôi-đang-ở-trong-một-thế-giới’. Kant đã không nhìn thấy hiện tượng thế giới, và ông đã nhất quán trong việc tách biệt các ‘biểu hiện’ ra khỏi nội dung a priori tiên nghiệm của cái ‘Tôi nghĩ’. Nhưng hệ quả là, cái ‘Tôi’ lại bị đẩy lùi về vị thế của một chủ thể biệt lập, Đi kèm với các biểu hiện theo một cách thức hoàn toàn bất định về mặt bản thể luận.xx

______________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘Hat das In-der-Welt-sein eine hiihere Instanz seines Seinlciinnens als seinen Tod?’ [tr.361]

2 ‘…und deshalb sei ihm die Eigentlichkeit des Seinkonnens gegen diese Seinstendenz abzuringen…’ Tất nhiên điều này không có nghĩa là tính xác thực này sẽ bị tước bỏ khỏi Dasein; nó có nghĩa là vì tính xác thực như vậy đi ngược lại với xu hướng sa ngã của Dasein, nên Dasein phải thực sự nỗ lực để đạt được nó, hay có lẽ đúng hơn là Diễn giải của chúng tôi yêu cầu một nỗ lực tương tự nếu tính xác thực này muốn được nhận biết một cách đúng đắn. [tr.361]

3 ‘Oder hat diees Voraus-setzcn den Charakter des verstehenden Entwerfens, so zwar, class die solches Verstehen ausbildende Interpretation das Auszulegende gerade erst selbst zu Wort kommen liisst, damit es von suh aus entscheide, ob es als diees Seiende die Seinsverfassung hergibt, aufwelche es im Entwurfformalanzeigend erschlossen wurde?' Tuy nhiên, ở đây Heidegger có thể đang sử dụng động từ ‘erschliessen’ theo nghĩa ‘suy luận’, bất chấp những nhận xét của ông về H. 75 ở trên (xem ghi chú 1 của chúng tôi, trang 105 quảng cáo Joe.) và 'Entwurf' theo nghĩa 'phác thảo'. [tr.362]

4 ‘Die Eigentlichkeit des Selbstseinkonnens Veriirgt die Vor-sicht auf die urspriingliche Existenzialitat, und diese sichert die Pragung der angemessenen Exenzialen Begriffiichkeit.’ Sự mơ hồ của ‘điều này’ của chúng ta phản ánh sự mơ hồ tương tự trong ‘diese’ của Heidegger, có thể ám chỉ ‘die Vor-sicht’ hoặc tới ‘die Vor-sicht’ hoặc tới ‘die urspriingliche Existenzialitat’. [tr.364]

5 ‘Sich-vorweg-schon-sein-in (einer Welt) als Sein-bei (innerweltlich begegnenden Seienden)’. Ở đây chúng tôi theo dõi các phiên bản trước đó. Trong các phiên bản sau này có dấu gạch nối thay vì dấu gạch ngang giữa 'vorweg' và 'schon'. [tr.364]

 

 


 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét