Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
II CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN
[Tr.335] Lương tâm là tiếng gọi của Sorge chăm lo khởi phát từ Unheimlichkeit/ uncanniness trạng thái bất an không nhà của Hữu-thể-trong-thế-giới — một tiếng gọi triệu hồi Dasein hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-có-tội riêng biệt nhất của chính nó. Tương ứng với tiếng gọi này, ‘mong-muốn-có-lương-tâm’ xuất hiện như một cách thức thấu hiểu lời kêu gọi đó. Hai định nghĩa này không thể dễ dàng hòa hợp với cách diễn giải thông thường về lương tâm; thực tế, chúng dường như hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Chúng ta gọi cách diễn giải này là cách ‘thông thường’, bởi lẽ khi mô tả hiện tượng này cùng ‘chức năng’ của nó, thì cách hiểu ấy chỉ bám víu vào những gì mà das Man ‘họ’ coi là lương tâm, cũng như cách ‘họ’ tuân theo hoặc phớt lờ nó. Nhưng liệu phép Diễn giải mang tính bản thể luận có nhất thiết phải đồng nhất với cách diễn giải thông thường hay không? Chẳng phải cách hiểu thông thường ấy, về nguyên tắc, vốn đã đáng ngờ dưới góc độ bản thể luận sao? Nếu Dasein luôn tự thấu hiểu bản thân thông qua những đối tượng mà nó bận tâm, và nếu nó diễn giải mọi cách thức hành xử của mình với tư cách quan tâm, thì chẳng phải chính cách diễn giải đó đã chứa đựng sa ngã và che đậy đối với chính cách diễn giải về Hữu thể của nó — một phương thức vốn đóng vai trò như tiếng gọi, nỗ lực đưa Dasein trở về từ trạng thái lạc lối trong những mối bận tâm của cái ‘họ’2 hay sao?
[Tr.336] Đời sống thường nhật xem Dasein như một thứ sẵn-có-để-dùng cần được bận tâm đến — nghĩa là một thứ cần được quản lý và tính toán. ‘Đời sống’ trở thành một ‘doanh vụ’, bất kể nó có bù đắp được chi phí hay không. Do đó, xét đến loại Hữu thể thông thường của chính Dasein, thì không có gì đảm bảo rằng ‘cách diễn giải về lương tâm nảy sinh từ đó — hay các lý thuyết về lương tâm được theo định hướng này — đã đạt đến được cái chân trời bản thể luận đúng đắn cho phép Diễn giải của nó. Mặc dù vậy, ngay cả trải nghiệm thông thường về lương tâm cũng phải bằng cách nào đó — ở cấp độ tiền-bản thể luận — chạm đến được hiện tượng này. Từ điều này, hai hệ quả được rút ra: một mặt, cách diễn giải thường nhật về lương tâm không thể được chấp nhận làm tiêu chí cuối cùng cho cái ‘Khách thể tính’ của một phân tích bản thể luận. Mặt khác, một phân tích như vậy cũng không có quyền phớt lờ cách hiểu thường nhật về lương tâm, hay bỏ qua các lý thuyết nhân học, tâm lý học và thần học về lương tâm vốn đã được xây dựng dựa trên cách hiểu đó. Nếu existenzielle Analytik phân tích mang tính hữu thể đã làm sáng tỏ hiện tượng lương tâm từ tận cội rễ bản thể luận của nó, thì chính thông qua phân tích này, các cách diễn giải thông thường phải trở nên dễ hiểu; chúng cần được hiểu rõ, ngay cả ở những điểm mà chúng bỏ lỡ hiện tượng này hoặc những lý do khiến chúng che đậy nó.
Đối với cách diễn giải thông thường này, có bốn phản bác có thể được đưa ra nhắm vào cách chúng ta diễn giải lương tâm như là lời kêu gọi của chăm lo hướng tới Hữu-thể-tội-lỗi: (1) chức năng của lương tâm về cơ bản mang tính phê phán; (2) lương tâm luôn lên tiếng gắn liền với một hành động cụ thể đã được thực hiện hoặc được dự định thực hiện; (3) khi cái ‘tiếng nói’ ấy được trải nghiệm, thì nó không bao giờ liên hệ một cách triệt để đến chính [Cấu thành] Hữu thể của Dasein; (4) cách diễn giải của chúng ta không tính đến các dạng thức cơ bản của hiện tượng này— ‘Bình an’ và ‘Bất an’, loại lương tâm ‘khiển trách’ và loại ‘cảnh báo’. Chúng ta hãy bắt đầu thảo luận từ vấn đề sau cùng này. Trong mọi cách diễn giải về lương tâm, thì ‘Bình an’ hay ‘Bất an’ thường được ưu tiên xem xét: lương tâm về bản chất là ‘Bất an’; kiểu lương tâm này cho chúng ta biết rằng trong mỗi trải nghiệm về lương tâm, điều đầu tiên xuất hiện chính là tâm cảm: ‘Tội lỗi!’. Nhưng trong khái niệm về loại ‘Bất an’ ấy, thì việc bộc lộ về [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi này được hiểu như thế nào? ‘Trải nghiệm về lương tâm’ thường xuất hiện sau khi một hành động đã được thực hiện hoặc bị bỏ lại không thực hiện. Tiếng gọi xuất hiện sau hành vi vi phạm và hướng về chính sự kiện đã xảy ra đó – sự kiện khiến [tr.337] Dasein hiện hữu người tự gánh lấy tội lỗi. Nếu lương tâm cho thấy một [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi, thì nó không thực hiện điều đó bằng cách thúc giục ta hướng tới một điều gì đó, mà bằng cách gợi nhớ lại tội lỗi đã phạm phải và quy chiếu về nó.
Nhưng liệu cái ‘sự thật’ rằng thứ tiếng gọi kia xuất hiện sau đó có ngăn cản bản chất của nó – vốn là một sự ‘kêu gọi’ – hay không? Việc coi tiếng gọi này như một sự lay động của lương tâm nảy sinh sau sự việc vẫn chưa đủ để chứng minh rằng chúng ta đã thấu hiểu hiện tượng lương tâm một cách bản nguyên. Sẽ ra sao nếu trạng thái ‘mắc nợ’ thật chỉ là dịp để lương tâm cất tiếng gọi thật? Sẽ ra sao nếu phép Diễn giải về một loại ‘bất lương’ mà chúng ta đã mô tả chỉ mới đi được nửa chặng đường? Điều này trở nên rõ ràng khi xét đến cái có-trước về bản thể luận ontological fore-having) – phạm vi mà cách diễn giải này đã đặt hiện tượng kia vào trong đó. [Chen ngang: Đối với Heidegger, khái niệm Vorhabe/ fore-having có-trước về phương diện bản thể luận là một thành phần thuộc Vor-Struktur tiền-cấu trúc của sự thấu hiểu ở con người. Heidegger chia cấu trúc này thành ba yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau trong bất kỳ Auslegung hành vi diễn giải nào: i) Vorhabe/ Fore-having Có trước - những gì chúng ta đã ‘nắm giữ từ trước’ — đó là sự quen thuộc Bewandtnisganzheit của tổng thể can dự và tiền khái niệm đối với bối cảnh chung, hoặc toàn bộ mạng lưới các can dự mà trong đó một thực thể mới trở nên có nghĩa; chẳng hạn trước khi nhìn vào một chiếc búa cụ thể, Tôi đã có sẵn sự hiểu biết về thế giới của các công cụ hay xưởng làm việc; ii) Vorsicht/ Fore-sight Thấy trước - những gì chúng ta ‘nhìn thấy từ trước’ — đó là quan điểm, góc nhìn hoặc hướng quan tâm cụ thể mà từ đó chúng ta tách biệt hoặc tiếp cận một phần của cái ‘có trước’ nêu trên; iii) Vorgriff/ Fore-conception Tiền khái niệm: Những gì chúng ta ‘nắm bắt từ trước’ — đó là khung khái niệm hoặc ngôn ngữ mà chúng ta dùng để định hình hoặc phóng chiếu đối tượng đang được diễn giải vào đó. Tổng hợp lại, các yếu tố này tạo nên ‘vòng tròn thấu hiểu’ — nghĩa là chúng ta không bao giờ tiếp cận thế giới hay một đối tượng với một tâm thế trống rỗng, hoàn toàn không có tiền giả định nào.- HHN]. Tiếng gọi là một thứ xuất hiện, có vị trí trong chuỗi các Trải nghiệm vốn hiện-diện-vô-tri, và theo sau Trải nghiệm về hành động đã thực hiện.
Tuy nhiên, cả tiếng gọi, hành động đã xảy ra, lẫn cảm giác tội lỗi mà một cá nhân phải gánh chịu, đều không phải là những sự cố mang đặc tính của một cái gì đó hiện-diện-vô-tri đi theo tiến trình. Tiếng gọi có loại [cấu thành] Hữu thể gắn liền với Sorge/care chăm lo. Trong tiếng gọi, Dasein ‘hiện hữu’ trước chính mình, theo cách thức đồng thời cũng hướng ngược trở lại trạng thái ‘bị ném vào’ của chính nó. Chỉ khi giả định rằng Dasein là một chuỗi liên kết các trải nghiệm kế tiếp nhau, người ta mới có thể coi tiếng gọi như một điều đến sau, một thứ xuất hiện muộn hơn và do đó tất yếu phải quy chiếu ngược trở lại. Tiếng gọi quả thực có tính chất quy chiếu ngược lại, nhưng nó vượt ra ngoài hành động đã xảy ra để hướng về [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi mà kẻ kia đã bị ném vào — một trạng thái vốn ‘có trước’ bất kỳ món nợ nào. Đồng thời, tiếng-gọi-ngược này cũng thúc đẩy hướng tới chính [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi đó, như một điều cần được nắm bắt trong sự tồn tại của chính mình; vì vậy, [Cấu thành] Hữu-thể-tội-lỗi thực hữu cụ thể đích thực chỉ ‘đi theo sau’ tiếng gọi, chứ không phải ngược lại. Schlechtes Gewissen/ Bad conscience ‘Bất an’ không chỉ đơn thuần là khiển trách hay quy chiếu về quá khứ; thực chất, nó hướng về phía trước3 ngay khi kêu gọi cá nhân quay trở lại với trạng thái ‘bị ném vào’ của chính mình. Trình tự diễn tiến của các Trải nghiệm không cho ta thấy được cấu trúc hiện tượng của sự tồn tại.
[Chen ngang: Về Gewissen lương tâm Heidegger cho rằng đó không phải là công cụ để phán xét đạo đức, mà là một cơ chế bản thể luận của sự thức tỉnh. Ông đã lật đổ những cách hiểu đạo đức truyền thống của Kitô giáo hoặc thế tục về ‘Schlechtes Gewissen/ Bad Conscience tình trạng ‘Bất an’ và ‘Bình an’ trong lương tâm, gán cho chúng những ý nghĩa triết học hoàn toàn mới. Sự bình an trong lương tâm và mãn nguyện nội tâm sau khi không làm điều sai trái hoặc tích lũy được nhiều việc thiện. Một trạng thái tự lừa dối của ‘sa ngã’. Sai lầm khi tin rằng mình không có tội, thực chất là từ chối lắng nghe tiếng gọi của Bản thể. 1) Das schlechte Gewissen / Unheimlichkeit Lương tâm Bất an: i) Là sự xáo trộn bình yên của das Man con người bình thường, với Dasein trải nghiệm Angst ‘lo lắng’ và Unheimlichkeit ‘vô định’; ii) Tiếng Gọi của Lương tâm: Lương tâm đưa ra một tiếng gọi ‘thầm lặng’. Đó không phải là một vị thần hay người khác lên tiếng, mà là ‘Dasein tự gọi mình trong sự sa ngã của nó’; iii) Nội dung của tiếng gọi - nó không buộc tội Tôi về bất kỳ hành vi sai trái nào, mà là kéo Tôi ra khỏi trạng thái trôi dạt hàng ngày và mù quáng tuân theo das Man cái ‘họ’, nhắc nhở Tôi đang lãng phí cuộc đời mình; tôi không chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của chính mình; iv) Tội lỗi đích thực (Schuld): Heidegger tin rằng con người vốn dĩ ‘có tội’; đó không phải là tội lỗi về mặt đạo đức, mà là một ‘thiếu sót’ về mặt bản thể luận; bởi vì con người bị ném vào thế giới này, chúng ta không thể chọn điểm xuất phát của mình, và khi đưa ra lựa chọn, chúng ta chắc chắn phải từ bỏ những khả tính khác; nhận ra tình trạng bất hoàn hảo và hạn chế không thể tránh khỏi này dẫn đến ‘tội lỗi lương tâm’ sâu sắc. 2) Das gute Gewissen Good Conscience Sự bình an trong lương tâm - Heidegger có thái độ phê phán mạnh mẽ đối với trạng thái ‘bình an trong lương tâm’ truyền thống - tức là sự hài lòng khi có lương tâm trong sạch và làm việc thiện; ông cho rằng trạng thái này nguy hiểm về mặt bản thể học: i) Che đậy sự sa ngã - khi một người cảm thấy ‘bình an trong lương tâm’, thường là vì họ hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực của công chúng (người bình thường). Ví dụ: đi làm đúng giờ, lịch sự và tuân thủ các quy tắc; ii) Trốn tránh bản ngã – trạng thái bình an này thực chất là một chất an thần; nó khiến Dasein tin tưởng một cách sai lầm rằng họ đã làm tốt, do đó thoải mái tiếp tục trôi dạt trong thế giới của das Man cái ‘họ’, quên đi việc theo đuổi những khả năng sống đích thực của chính mình; iii) Tự lừa dối - Tồn tại đích thực gánh nặng tội lỗi, lo âu và hướng đến cái chết; do đó, trạng thái ‘bình an lương tâm’ đích thực không tồn tại ở Heidegger; bất kỳ trạng thái bình an tự xưng nào cũng là sự trốn tránh và quên lãng sự thật tồn tại của chính mình.-HHN]
Nếu chúng ta không thể tiếp cận hiện tượng bản nguyên thông qua việc mô tả lương tâm ‘Bất an’, thì lại càng không thể làm như vậy thông qua việc mô tả lương tâm ‘Bình an’—bất kể ta coi nó là một dạng lương tâm độc lập4 hay là dạng lương tâm về cơ bản được xây dựng dựa trên lương tâm ‘Bất an’. Cũng như ‘Hữu-thể-cái-Ác’ của Dasein được bộc lộ qua lương tâm ‘Bất an’, thì lương tâm ‘Bình an’ cũng phải bộc lộ ‘Hữu-thể-cái-Thiện’ của chính nó. Dễ thấy rằng, thứ lương tâm vốn từng được coi là ‘sự tuôn trào từ quyền năng thiêng liêng’ nay lại trở thành Knecht des Pharisäismus nô lệ cho Thói đạo đức giả. Một lương tâm như vậy sẽ khiến một người tự nói về [tr.338] bản thân mình rằng: ‘Tôi là người tốt’; thử hỏi còn ai khác có thể tự nhận mình là người tốt, và ai lại là người ít muốn khẳng định điều đó hơn chính người tốt ấy? Nhưng nếu từ ý niệm lương tâm ‘Bình an’ mà đi đến một kết luận bất khả như vậy, thì lương tâm thực chất đang lên tiếng về ‘Hữu-thể-tội-lỗi’ lại càng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết.
Để tránh kết luận này, lương tâm ‘Bình an’ đã được Diễn giải như là sự thiếu vắng của lương tâm ‘Bất an’, và được định nghĩa là ‘trải nghiệm về sự vắng bóng của lương tâm ‘Bất an’.viii Theo cách hiểu này, đó là trải nghiệm về việc không có tiếng gọi nào vang lên—tức là, tôi không có điều gì để tự trách mình. Nhưng làm thế nào mà một sự ‘thiếu vắng’ như vậy lại có thể được ‘Trải nghiệm’? Trải nghiệm giả định này hoàn toàn không phải là việc trải nghiệm một tiếng gọi; đúng hơn, đó là việc đảm bảo chắc chắn5 rằng một hành động được gán cho Dasein không phải do chính nó thực hiện, và do đó, Dasein không có tội. Việc trở nên chắc chắn rằng mình không làm điều gì đó hoàn toàn không mang đặc tính của một hiện tượng lương tâm. Thay vào đó, nó có thể biểu thị rằng một kẻ đang quên đi lương tâm của chính mình—nói cách khác, kẻ đó đang thoát khỏi cái khả tính có thể được kêu gọi. Trong ‘tính chắc chắn’ được đề cập ở đây ẩn chứa một sự trấn an, một nỗ lực dập tắt mong muốn có lương tâm—tức là dập tắt sự thấu hiểu về cái Hữu-thể-tội-lỗi vốn là bản chất cốt lõi và thường trực của chính mình. Lương tâm ‘Bình an’ không phải là một dạng lương tâm độc lập, cũng không phải là một dạng lương tâm phái sinh; tóm lại, nó hoàn toàn không phải là một hiện-tượng-lương-tâm. Khi cách nói về lương tâm ‘Bình an’ nảy sinh từ lối trải nghiệm lương tâm của Dasein trong đời sống thường nhật, thì chính Dasein thường nhật đó đã bộc lộ rằng, ngay cả khi nó nói về lương tâm ‘Bất an’, về cơ bản nó vẫn không chạm tới được cái hiện tượng đó. Bởi lẽ, khái niệm về lương tâm ‘Bất an’ trên thực tế lại được định hướng bởi khái niệm về lương tâm ‘Bình an’. Cách diễn giải thường nhật này vẫn nằm trong phạm vi của việc tính toán, cân đo đong đếm giữa ‘có tội’ và ‘vô tội’. Đây chính là chân trời mà trong đó, tiếng nói của lương tâm được ‘Trải nghiệm’.
Khi xác định những gì là bản nguyên trong ý tưởng về lương tâm ‘Bất an’ và lương tâm ‘Bình an’, chúng ta đồng thời cũng làm rõ sự khác biệt giữa một kiểu lương tâm hướng về phía trước, mang tính cảnh báo, và một kiểu lương tâm hướng về phía sau, mang tính khiển trách. Ý tưởng về lương tâm cảnh báo dường như tất nhiên, là điều gần gũi nhất với hiện tượng triệu gọi. Nó có chung đặc điểm là hướng về phía trước. Nhưng sự tương đồng này chỉ là một ảo tưởng. Khi trải nghiệm một lương tâm mang tính cảnh báo, ta thường coi tiếng nói ấy chỉ đơn thuần hướng vào hành động mà ta đã định thực hiện — một hành động mà lương tâm muốn ngăn ta lại. Tuy nhiên, sự cảnh báo — với tư cách là một rào cản đối với điều ta đã định làm — chỉ có thể xảy ra vì tiếng gọi ‘cảnh báo’ ấy nhắm vào tiềm- năng-cho-Hữu-thể của Dasein, tức là nhắm vào sự tự thấu hiểu của chính nó trong Hữu-thể-tội-lỗi; không phải cho đến khi ta đạt đến [tr.339] sự thấu hiểu như vậy, thì ‘cái ta đã định làm’ mới có thể bị phá vỡ. Lương tâm cảnh báo đóng vai trò điều tiết, giúp ta duy trì trạng thái không mắc nợ6 trong từng khoảnh khắc. Trong trải nghiệm về một lương tâm ‘cảnh báo’, ý nghĩa của tiếng gọi chỉ được nhìn nhận ở mức độ mà ‘ý thức thông thường’ của cái gọi là das Man cái ‘họ’ có thể tiếp cận được.
Điểm thứ ba mà chúng ta đã đề cập dựa trên thực tế là trải nghiệm thường nhật về lương tâm hoàn toàn không biết đến bất cứ điều gì giống như việc bị ‘triệu vời’ vào Hữu-thể-tội-lỗi. Điều này phải được thừa nhận. Nhưng liệu trải nghiệm thường nhật ấy có đảm bảo rằng toàn bộ nội dung tiềm tàng của tiếng gọi từ lương tâm đã được lắng nghe trọn vẹn hay chưa? Liệu có thể suy ra rằng các lý thuyết về lương tâm — vốn dựa trên cách trải nghiệm thông thường — đã xác định đúng đắn cái ‘chân trời bản thể luận’ của chúng để phân tích hiện tượng này hay không? Chẳng phải tình trạng sa ngã — vốn là một loại Hữu thể thiết yếu đối với Dasein — cho thấy rằng, về mặt ontish thực hữu, thực thể này tự thấu hiểu bản thân chủ yếu thông qua ‘chân trời quan tâm’, trong khi về mặt bản thể luận, nó lại định nghĩa ‘Hữu thể’ theo nghĩa Vorhandenheit ‘hiện-diện-vô-tri’ hay sự vật hiện hữu như một đối tượng khách quan sao? Cách hiểu này dẫn đến việc che khuất hiện tượng theo hai hướng: những gì được nhìn nhận trong lý thuyết này chỉ là một chuỗi các ‘Trải nghiệm’ hay ‘quá trình tâm lý’ — một chuỗi mà loại Hữu thể của nó phần lớn hoàn toàn không xác định. Trong trải nghiệm kiểu này, lương tâm xuất hiện như một kẻ phán xử hay một người khuyên răn, mà trước đó, Dasein phải tính toán và biện minh cho hành vi của chính mình.
Khi Kant mô tả lương tâm như một ‘tòa án’ và biến ý niệm này thành kim chỉ nam cơ bản trong cách ông Diễn giải về nó, thì đó không phải là điều ngẫu nhiên; ý niệm này bắt nguồn từ khái niệm về quy luật đạo đức — mặc dù quan niệm của Kant về đạo đức khác xa với thuyết vị lợi hay eudaemonism hạnh phúc luận. Ngay cả lý thuyết về giá trị — dù được xem xét dưới góc độ hình thức hay nội dung — cũng ẩn chứa một tiền giả định bản thể luận, đó chính là ‘siêu hình học về đạo đức’ — hay nói cách khác, là một bản thể luận về Dasein hiện hữu người và sự tồn tại. Dasein được nhìn nhận như một thực thể mà cá nhân có thể tự quan tâm đến, dù loại ‘quan tâm’ này mang nghĩa ‘hiện thực hóa các giá trị’ hay đáp ứng một chuẩn mực nào đó. Nếu muốn viện dẫn toàn bộ phạm vi mà trải nghiệm thường nhật về lương tâm — vốn được coi là tòa án tối cao duy nhất để Diễn giải lương tâm — có thể chạm tới, thì điều này chỉ hợp lý khi ta đã cân nhắc trước xem liệu lương tâm có thể thực sự tiếp cận được trong bối cảnh đó hay không. Do đó, một phản biện khác cho rằng phép Diễn giải cấu thành hữu thể đã bỏ qua cái sự thật là tiếng gọi của lương tâm luôn gắn liền với một hành động cụ thể — hành động đã được ‘hiện thực hóa’ hoặc được mong muốn thực hiện — cũng trở nên mất đi sức nặng.
[Tr. 340] Không thể phủ nhận rằng tiếng gọi ấy thường được trải nghiệm như thể nó có một khuynh hướng như vậy. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu trải nghiệm này có cho phép tiếng gọi ấy ‘tự tuyên bố’ một cách trọn vẹn hay không. Theo cách diễn giải thông thường, người ta có thể cho rằng mình đang bám sát vào các ‘sự thật’; nhưng xét cho cùng, chính cách diễn giải dựa trên lẽ thường này lại vô tình thu hẹp phạm vi khai mở của tiếng gọi. Cũng như việc một lương tâm ‘Bình an’ không thể bị biến thành công cụ cho cái Pharisäismus Thói đạo đức giả—tức sự tự mãn đạo đức—thì chức năng của một lương tâm ‘Bất an’ cũng không thể bị quy giản thành việc chỉ ra những món nợ hiện-diện-vô-tri hay gạt bỏ những món nợ tiềm tàng. Nếu hiểu như vậy, thì chẳng khác nào coi Dasein như một ‘hộ gia đình’, nơi các khoản nợ chỉ cần được cân đối một cách ngăn nắp, để rồi cái Tự ngã có thể đứng ngoài cuộc như một khán giả dửng dưng, mặc cho những Trải nghiệm ấy tự diễn tiến. Tuy nhiên, nếu yếu tố cốt yếu trong tiếng gọi không phải là mối liên hệ với một tội lỗi đang thực sự ‘hiện-diện-vô-tri’, hay với một hành vi mang nặng tội lỗi đã được thực tình mong muốn; và nếu theo đó, các dạng thức ‘quở trách’ hay ‘cảnh báo’ của lương tâm không biểu đạt những chức năng bản nguyên của tiếng gọi, thì chúng ta cũng đã làm lung lay lập luận được đề cập trước đó — cho rằng phép Diễn giải cấu thành hữu thể đã bỏ sót cái đặc tính phê phán của những gì mà lương tâm dấy lên. Lập luận này cũng nảy sinh từ việc nhìn nhận hiện tượng đó theo một cách thức mà trong những giới hạn nhất định — là chân thực; bởi lẽ, trong nội dung của tiếng gọi, quả thực không thể chỉ ra bất cứ điều gì mà tiếng gọi đó đề xuất hay áp đặt ‘một cách tích cực’. Nhưng ta phải hiểu thế nào về tính tích cực vốn vắng bóng trong hoạt động của lương tâm? Liệu có phải vì thế mà lương tâm mang tính ‘tiêu cực’?
Chúng ta thấy thiếu một nội dung ‘tích cực’ trong điều được gọi, bởi lẽ chúng ta kỳ vọng nhận được những chỉ dẫn hữu ích, cụ thể về các khả tính ‘hành động’ chắc chắn, sẵn có và có thể tính toán được. Kỳ vọng này bắt nguồn từ một cách diễn giải gắn liền với mối quan tâm theo lẽ thường — một cách diễn giải ép buộc tồn tại của Dasein phải nằm dưới ý tưởng về một quy trình công việc có thể điều tiết được. Những kỳ vọng như vậy (vốn cũng ngầm ẩn trong yêu cầu về một đạo đức học giá trị dựa trên nội dung cụ thể, đối lập với một đạo đức học ‘chỉ thuần túy’ hình thức) tất nhiên sẽ không được lương tâm đáp ứng. [Chen ngang: materiale Wertethik đạo đức học giá trị là một trường phái triết học và đạo đức học hiện tượng luận do Max Scheler khởi xướng vào đầu thế kỷ 20, sau đó được Nicolai Hartmann và Dietrich von Hildebrand phát triển. Trường phái này cho rằng đạo đức phải dựa trên nội dung cụ thể của các giá trị khách quan, chứ không phải dựa trên các quy tắc hình thức khô khan. Các đặc điểm cốt lõi bao gồm: i) Phản đối chủ nghĩa hình thức của Kant: Immanuel Kant xây dựng đạo đức dựa trên mệnh lệnh nhất trí mang tính hình thức, không chứa nội dung cụ thể. Ngược lại, Scheler cho rằng đạo đức cần phải có ‘chất liệu’, đó chính là các giá trị như cái thiện, cái cao cả, tình yêu, sự công bằng; ii) Giá trị tồn tại khách quan: Các giá trị không phải do con người tự tạo ra một cách chủ quan, hay chỉ là công cụ để đạt mục đích khác, mà chúng có thực tại khách quan và độc lập; iii) Trực giác cảm xúc: Con người không nhận thức ra giá trị bằng lý trí thuần túy, vì lý trí vốn ‘mù’ trước giá trị, mà thông qua cảm xúc có tính ý hướng, giống như ‘trái tim có lý lẽ riêng của nó’; iv) Thứ bậc của giá trị: Các giá trị được sắp xếp theo một trật tự khách quan từ thấp đến cao, bao gồm: giá trị cảm giác như khoan khoái/đau đớn; giá trị sinh học gồm sức khỏe/sự sống; giá trị tinh thần như chân lý, cái đẹp, công lý; và giá trị tôn thần/thiêng liêng.-HHN] Tiếng gọi của lương tâm không đưa ra bất kỳ chỉ dẫn ‘thực tiễn’ nào như thế, chỉ vì nó kêu gọi Dasein hướng tới tồn tại, hướng tới tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó rất riêng tư.
Nếu lương tâm đưa ra những nguyên tắc hành động cụ thể — những nguyên tắc có thể liệt kê và tính toán một cách rành mạch — thì nó sẽ tước đi của sự tồn tại chính khả tính thực hiện hành động. Song, vì lương tâm rõ ràng không thể mang tính ‘tích cực’ theo cách đó, nên nó cũng không vận hành theo kiểu ‘chỉ thuần túy tiêu cực’. Lời kêu gọi không khai mở bất cứ điều gì [tr. 341] có thể được coi là tích cực hay tiêu cực theo nghĩa của những thứ mà chúng ta có thể bận tâm đến; bởi lẽ, điều mà nó hướng tới là một Hữu thể khác biệt hoàn toàn về mặt bản thể luận — đó chính là sự hiện hữu. Mặt khác, khi lời kêu gọi được thấu hiểu một cách đúng đắn, nó mang lại cho chúng ta điều mà xét theo nghĩa cấu thành hữu thể là ‘tích cực nhất’ trong tất cả — đó chính là cái khả tính riêng biệt nhất mà Dasein có thể tự trình ra cho chính mình, với tư cách là một sự kêu gọi-quay-về, đồng thời cũng là sự kêu gọi-hướng-tới, thúc đẩy Dasein bước vào cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó thật sự tại thời điểm đó. Lắng nghe lời kêu gọi một cách đích thực đồng nghĩa với việc tự đưa mình vào một hành động thật. Chỉ khi làm sáng tỏ cái cấu trúc hữu thể hàm ẩn trong sự thấu hiểu đối với lời kêu gọi, khi lắng nghe nó một cách đích thực, thì chúng ta mới có thể đạt được một phép Diễn giải hoàn toàn thỏa đáng về nội dung được truyền tải trong lời kêu gọi ấy.
Trước hết, chúng ta phải chỉ ra rằng, khi được hiểu theo một cách thức phù hợp về mặt bản thể luận, những hiện tượng vốn quen thuộc trong cách diễn giải thông thường thực chất lại hướng về ý nghĩa bản nguyên của tiếng gọi lương tâm; tiếp đó, chúng ta cần cho thấy rằng cách diễn giải thông thường này nảy sinh từ những hạn chế trong cách Dasein tự diễn giải chính mình khi rơi vào trạng thái sa ngã; và vì trạng thái sa ngã vốn thuộc về tự thân ‘chăm lo’, nên cách diễn giải này — dù hiển nhiên đến đâu — cũng hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. Khi phê phán cách diễn giải thông thường về lương tâm dưới góc độ bản thể luận, người ta dễ rơi vào hiểu lầm rằng: nếu chứng minh được cách trải nghiệm lương tâm thường nhật không mang tính bản nguyên về phương diện cấu thành hữu thể, thì đồng nghĩa với việc đưa ra phán xét về ‘phẩm chất đạo đức’ thực hữu cụ thể của bất kỳ Dasein nào đang duy trì loại trải nghiệm đó. Cũng như việc hiểu không đầy đủ về lương tâm ở cấp độ bản thể luận không nhất thiết làm tổn hại trực tiếp đến sự hiện hữu, thì ngược lại, một cách diễn giải lương tâm đúng đắn về phương diện cấu thành hữu thể cũng không đảm bảo rằng cá nhân đó đã thực sự thấu hiểu tiếng gọi lương tâm theo cách thức thực hữu cụ thể. Một người trải nghiệm lương tâm theo cách thông thường vẫn có thể hoàn toàn nghiêm túc, cũng như một người có cách hiểu bản nguyên hơn về lương tâm vẫn có thể thiếu đi sự nghiêm túc đó. Tuy nhiên, cách diễn giải vốn bản nguyên hơn về phương diện cấu thành hữu thể sẽ khai mở những khả tính cho một cách thấu hiểu bản nguyên hơn về phương diện thực hữu cụ thể, miễn là cách khái niệm hóa bản thể luận của chúng ta không bị tách rời khỏi những trải nghiệm thực hữu của mình.
60. Cấu trúc hữu thể của Tiềm-năng-cho-Hữu-thể Đích thực được Minh chứng trong Lương tâm
Phép Diễn giải cấu thành hữu thể về lương tâm nhằm làm sáng tỏ một sự minh chứng rõ tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng biệt nhất của Dasein, vốn hiện hữu ngay trong chính Dasein. Lương tâm không minh chứng bằng cách thông báo một điều gì đó một cách chung chung, mà bằng cách kêu gọi và triệu hồi chúng ta hướng tới Hữu-thể-có-tội. Việc minh chứng như vậy sẽ được ‘nắm bắt’ [tr.342] bằng lắng nghe, vốn thấu hiểu tiếng gọi lương tâm một cách trực diện, đúng theo ý nghĩa mà chính tiếng gọi đó hướng tới. Việc thấu hiểu lời kêu gọi là một phương thức Hữu thể của Dasein, và chỉ theo nghĩa đó, nó mới cung cấp cho chúng ta cái nội dung hiện tượng về những gì mà tiếng gọi của lương tâm minh chứng. Cách thấu hiểu đích thực về lời tiếng gọi này được mô tả là ‘mong muốn có lương tâm’. Đây là cách để cái Tự ngã riêng có nhất của một cá nhân tự hành động theo ý chí riêng của chính nó bằng Hữu-thể-có-tội, đồng thời thể hiện, xét trên bình diện hiện tượng, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực mà chính Dasein tự minh chứng. Cấu trúc hữu thể này cần được làm sáng tỏ. Chỉ khi đó mới có thể tiến tới việc xác định cái cấu thành nền tảng tính đích thực của hiện hữu Dasein, vốn đã được khai mở ngay trong chính Dasein.
Mong muốn có lương tâm – với tư cách tự thấu hiểu về tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng có nhất của bản thân – chính là một phương thức mà qua đó Dasein đã được khai mở. Trạng thái khai mở này được cấu thành từ diễn ngôn, tâm thế cũng như bằng thấu hiểu. Thấu hiểu theo nghĩa thực hữu cụ thể đồng nghĩa với việc mỗi cá nhân tự phóng chiếu bản thân vào cái khả tính thật nhất của chính mình để có được cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-trong-thế-giới. Tuy nhiên, cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này chỉ có thể được thấu hiểu thông qua việc thực sự hiện hữu trong cái khả tính đó. Vậy thì loại tâm thái nào tương ứng với sự thấu hiểu này? Việc thấu hiểu tiếng gọi sẽ khai mở chính Dasein trong trạng thái bất an trong quá trình cá nhân hóa của nó. Trạng thái bất an này – vốn được hé lộ bằng thấu hiểu và được hé lộ cũng với nó – trở nên thực sự khai mở thông qua tâm thế Angst lo âu, vốn thuộc về sự thấu hiểu đó. Sự thật về lo âu của lương tâm mang lại bằng chứng hiện tượng là: khi thấu hiểu tiếng gọi, Dasein bị đặt vào tình thế phải đối diện trực tiếp với nỗi bất an của chính mình. Như vậy, mong-muốn-có-lương-tâm trở thành một trạng thái sẵn sàng đón nhận nỗi lo âu.
Nhân tố thiết yếu thứ ba trong trạng thái khai mở chính là diễn ngôn. Bản thân tiếng gọi là một loại diễn ngôn bản nguyên đối với Dasein; tuy nhiên, không hề tồn tại một ‘phản-diễn-ngôn’ tương ứng – chẳng hạn như việc một người bàn luận về những gì lương tâm đã nói, hay cố gắng biện minh cho bản thân. Khi thấu hiểu tiếng gọi, cá nhân tự từ bỏ mọi phản biện; điều này không phải vì họ bị một ‘thế lực mơ hồ’ nào đó tấn công hay ngăn cản việc lắng nghe, mà bởi vì chính hành động lắng nghe ấy đã tiếp nhận nội dung của tiếng gọi một cách minh bạch, không che giấu. Trong tiếng gọi đó, cái Hữu-thể-tội-lỗi thường trực của cá nhân được tái hiện; nhờ vậy, cái Tự ngã được kéo trở về từ những phiếm đàm ồn ào vốn gắn liền với quan niệm chung của das Man cái ‘họ’. Như vậy, phương thức Ngôn thuyết gắn liền với mong muốn có được lương tâm chính là sự im lặng.ix [Chen ngang: Đối với Heidegger, thuật ngữ Rede/ Articulative discourse Ngôn thuyết/diễn ngôn được định nghĩa là một biểu đạt trí lực của Dasein về thế giới. Để hiểu một cách đơn giản, Articulative discourse không phải là ngôn ngữ nói hay chữ viết thông thường. Nó là cấu trúc nền tảng giúp con người phân tách, sắp xếp và tạo ra ý nghĩa cho thực tại trước khi chúng ta thực sự phát ngôn thành lời. Bản chất của khái niệm này được làm rõ qua các khía cạnh cốt lõi sau: 1). Phân biệt giữa Rede/ Diễn ngôn và Sprache/ Ngôn ngữ: Heidegger chia hiện tượng này thành hai cấp độ bản thể luận: i) Rede/Discourse là cấu trúc có trước, pre-linguistic tiền-ngôn ngữ, mang tính phi ngôn từ. Đó là cách Dasein định hình thế giới thành các mối quan hệ có nghĩa, ví dụ: hiểu cái búa dùng để đóng đinh trước khi gọi tên nó; ii) Sprache/Language là sự biểu đạt ra bên ngoài của Rede bằng các hệ thống ký hiệu, từ vựng và ngữ âm. Heidegger khẳng định: ‘Chỉ vì có diễn ngôn mới có ngôn ngữ, chứ không phải ngược lại’. 2) Ý nghĩa của Artikulation/ Articulation/ Ngôn thuyết: từ Articulative ở đây không có nghĩa là ‘nói năng lưu loát’. Artikulation có nghĩa là chia tách và gắn kết. Khi Dasein tồn tại trong thế giới, thế giới không phải là một khối hỗn độn ngổn ngang. Articulative discourse hoạt động như một bộ khung giúp định hình rõ ràng - ‘khớp nối’ mạng lưới ý nghĩa đó: cái gì đi với cái gì, cái gì phục vụ cho mục đích gì. Nó biến một nhận thức nền tảng thành các cấu trúc ý nghĩa cụ thể. 3). Bốn yếu tố cấu thành của Diễn ngôn (Rede): Khi một diễn ngôn mang tính khớp nối được thực hiện, dù là nói hay nghĩ, nó luôn bao gồm 4 thành phần cấu trúc: i) Das Worüber/ Cái được nói đến - Chủ thể, thực tại hay sự vật đang được hướng tới; ii) Das Geredete/ Cái được phát ngôn - Bản thân nội dung hoặc cấu trúc ý nghĩa được đưa ra; iii) Mitteilung/ Truyền thông/Chia sẻ - đồng chia sẻ cái thế giới được hé mở đó với những người khác trong không gian chung; iv) Bekundung/ Biểu thị/Bộc lộ - cách Dasein bộc lộ tâm trạng/ tâm thế và sự hiện hữu của chính mình thông qua diễn ngôn đó. Tóm lại Articulative discourse của Heidegger là năng lực nền tảng giúp con người phân tách và tổ chức ý nghĩa của thế giới xung quanh. Nó đóng vai trò là chiếc cầu nối từ hiểu biết trực giác, trải nghiệm thực tế bên trong của con người sang hệ thống ngôn ngữ nói thành lời bên ngoài.-HHN]. Giữ im lặng được xem là một khả tính thiết yếu của diễn ngôn. Bất cứ ai giữ im lặng khi muốn truyền đạt điều gì đó cho người khác thì hẳn phải là người ‘có điều gì đó để nói’. Thông qua tiếng gọi này, Dasein tự nhận thức được tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng tư nhất của chính mình. Do đó, tiếng gọi này chính là một sự im lặng. Diễn ngôn của lương tâm không bao giờ được thốt lên thành lời.
________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘Die existenziale Interpretation des Gewissens und die vulgare Gewissensauslegung’. [p.335]
2 ‘…wird es dann
nicht gerade die
Weise seines
Seins verfallend-verdeckend auslegen, die es als Rufaus der Verlorenheit in die Besorgnisse des Man zurilckholen
will.’ While we feel that the meaning of this sentence is probably as we have represented it, the grammar
is quite ambiguous. [p.335]
3 'vorweisend'. We have followed English idiom in translating 'vorweisen' as 'point forward' and 'vorrufen' as 'call forth'; but the prefix 'vor-' is the same in both cases, and means 'forward' as opposed to 'backward'. [p.337]
4 'selbstiindige'. See note I, p. I53, H. I I7 and note I, P· 351, H. 303. [p.337]
5 In this paragraph Heidegger takes pains to disassociate 'Gewissen' ('conscience') from the adjective 'gewiss' ('certain') and its derivatives-'Sichvergewissem' ('makingcertain'), 'Gewisswerden' ('becoming certain'), and 'Gewissheit' ('certainty'). [p.338]
6 'Das warnende Gewissen hat die Funktion der momentweisen Regelung eines Freibleibens von Verschuldungen.' The earlier editions contradict this by writing ‘…hat nicht die Funktion…’. [p.339]

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét