Powered By Blogger

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

Hữu thể và Thời gian (XXXIV)

Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
II CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN
[P.328] Chúng ta không cần phải xem xét cách thức nảy sinh của những yêu cầu như vậy, và cách thức quan niệm về đặc tính của chúng—với tư cách là yêu cầu và luật lệ khi xuất phát từ một nguồn gốc như thế. Dù sao đi nữa, Schuldigsein/ Being-guilty Hữu-thể-tội-lỗi theo nghĩa vừa nêu—tức là sự vi phạm một ‘yêu cầu đạo đức’—là một loại Hữu thể vốn thuộc về Dasein. Tất nhiên, điều này cũng đúng với Hữu-thể-tội-lỗi theo nghĩa “tự đặt mình vào vị thế đáng bị trừng phạt” hay ‘mắc nợ’, cũng như bất kỳ trạng thái ‘chịu trách nhiệm về...’ nào khác. Đây cũng chính là những phương thức hành xử của Dasein. Nếu coi việc ‘gánh chịu tội lỗi đạo đức’ như một ‘phẩm tính’ của Dasein thì ta mới chỉ nói được rất ít điều. Trái lại, điều này chỉ cho thấy rõ rằng cách mô tả như vậy là chưa đủ để phân biệt về mặt bản thể luận giữa loại ‘thuộc tính Hữu thế’ này của Dasein với những phương thức hành xử khác mà ta vừa liệt kê. Suy cho cùng, khái niệm tội lỗi đạo đức vốn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn về mặt bản thể luận; do đó, khi các ý niệm như ‘đáng bị trừng phạt’ hay ‘mang nợ với ai đó’ bị gộp vào khái niệm này—hoặc được dùng để định nghĩa chính nó—thì những cách diễn giải như vậy về hiện tượng này đã trở nên phổ biến và vẫn duy trì như thế. Tuy nhiên, hệ quả là trạng thái ‘Có tội!’ bị đẩy sang phạm vi ‘bận tâm’ theo nghĩa tính toán các yêu sách và cân đối chúng. Hiện tượng ‘có tội’—vốn không nhất thiết liên quan đến ‘mang nợ’ hay vi phạm pháp luật—chỉ có thể được làm sáng tỏ nếu trước hết khảo sát về nguyên tắc ‘Hữu-thể-tội-lỗi’ của Dasein; nói cách khác, phải quan niệm ý niệm ‘Có tội!’ trong khuôn khổ loại Hữu thể của Dasein.

Nếu đây là mục tiêu của chúng ta, thì ý niệm ‘Có tội!’ cần phải được hình thức hóa ở mức độ đủ để loại bỏ những hiện tượng ‘có tội’ thông thường vốn gắn liền với cái Hữu thể đầy bận tâm của ta với những-Kẻ-Khác. Ý niệm ‘có tội’ không chỉ cần được nâng lên khỏi phạm vi của mối quan tâm, cân nhắc sự vật, mà còn phải được tách khỏi mối liên hệ với bất kỳ quy luật hay mệnh lệnh ‘phải’ nào mà việc không tuân theo chúng sẽ khiến một người gánh lấy tội lỗi. Bởi lẽ, ở đây ‘có tội’ vẫn nhất thiết được định nghĩa như một sự thiếu hụt—khi một điều gì đó lẽ ra phải hiện hữu và có khả năng hiện hữu lại bị thiếu vắng.1 Tuy nhiên, sự thiếu vắng [tr.329] đồng nghĩa với không-phải-là-Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri. Tình trạng thiếu hụt với tư cách không-phải-là-Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri của một cái gì đó lẽ ra phải hiện hữu—là một kiểu Hữu thể xác định vốn gắn liền với cái hiện-diện-vô-tri. Theo nghĩa này, điều cốt yếu là trong trạng thái hiện hữu không thể có bất kỳ sự thiếu hụt nào; không phải vì sự hiện hữu đó hoàn hảo, mà vì tính chất Hữu thể của nó khác biệt hoàn toàn với bất kỳ sự hiện-diện-vô-tri nào.

Tuy nhiên, trong ý niệm ‘Có tội!’ lại tiềm ẩn tính chất của cái ‘không’. Nếu ‘Có tội!’ là thứ gì đó có thể áp dụng một cách xác thực cho sự hiện hữu, thì điều này đặt ra vấn đề bản thể luận về việc làm sáng tỏ—về phương diện cấu thành hữu thể— tính chất của yếu tố cái ‘không’ này đúng với tư cách là một cái ‘không’. Hơn nữa, gắn liền với ý niệm ‘Có tội!’ là nội dung thường được diễn đạt mà không cần phân biệt chi tiết trong quan niệm về tội lỗi như là ‘có trách nhiệm với’—tức là, với tư cách là Hữu-thể-nền-tảng-cho... Do đó, chúng ta định nghĩa ý niệm mang tính cấu thành hữu thể về phương diện hình thức về cái ‘Có tội!’ với tư cách là Hữu-thể-nền-tảng-cho một Hữu thể vốn được xác định bởi một yếu tố cái ‘không’—hay nói cách khác, với tư cách là ‘Hữu-thể-nền-tảng-của một tính không’.2 Ý niệm về cái ‘không’ vốn tiềm ẩn trong khái niệm có tội như được hiểu về phương diện cấu thành hữu thể, loại trừ trạng thái liên hệ với bất kỳ sự vật hiện-diện-vô-tri nào, dù là khả thể hay là cái đã được đòi hỏi; hơn nữa, Dasein hoàn toàn không thể so sánh được với bất kỳ sự vật hiện-diện-vô-tri hay được công nhận phổ quát mà không phải là chính nó, hoặc không hiện hữu theo cách thức của Dasein—cụ thể là đang tồn tại. Do đó, bất kỳ khả tính nào— liên quan đến Hữu-thể-là-nền-tảng-cho một sự thiếu hụt—cái thực thể tự thân là cơ sở ấy cũng bị coi là ‘thiếu hụt theo một cách nào đó’, là một khả tính bị loại bỏ. Nếu một sự thiếu hụt chẳng hạn như việc không đáp ứng được một yêu cầu nào đó đã ‘gây ra’ theo cách thức đặc thù của Dasein, thì ta không thể đơn thuần quy ngược lại rằng bản thân ‘nguyên nhân’ đó cũng là một cái gì đó thuộc Mangelhaftigkeit trạng thái thiếu hụt. Hữu-thể-là-nền-tảng-cho-một-cái-gì-đó không nhất thiết phải mang cùng tính chất-‘không’ với tư cách là cái privativum thiếu vắng vốn dựa trên nó và nảy sinh từ chính bản thân nó. Cái sơ sở không nhất thiết phải có được nullity tính vô hiệu từ chính thứ dựa trên cái cơ sở kia. Tuy nhiên, điều này hàm ý rằng Hữu-thể-tội-lỗi không phải là kết quả của một Verschuldung tình trạng nợ nần; trái lại, tình trạng nợ nần chỉ trở nên khả thể ‘trên cơ sở’ của một Hữu-thể-tội-lỗi bản nguyên. Liệu một điều như vậy có thể được trưng ra trong Hữu thể của Dasein, và làm sao điều đó lại khả thể về phương diện cấu thành hữu thể?

Hữu thể của Dasein là Sorge chăm lo. Nó bao hàm trong mình cái thực tính là tình trạng bị-ném-vào, sự tồn tại (phóng-chiếu) và sa ngã. Với tư cách là một hiện hữu, Dasein là một thực thể đã bị ném vào đời; nó đã được đưa vào cái ‘có đó’ của mình, nhưng không phải do tự ý nó. Với tư cách là một hiện-hữu, nó đã mang hình thái xác định của một tiềm-năng-cho-Hữu-thể—thứ [tr.330] đã tự lắng nghe và hiến dâng cho chính mình, nhưng lại không phải với tư cách là chính mình.3 Với tư cách hiện hữu, Dasein không bao giờ quay trở lại phía sau ‘tình trạng bị ném vào’ của mình theo cách có thể tách rời cái ‘đó-là-nó-và-phải-là’ này khỏi cái Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó của chính nó để rồi đưa nó vào cái ‘có-đó’. Tuy nhiên, ‘tình trạng bị ném vào’ không nằm lại phía sau như một sự kiện đã xảy ra đối với Dasein—một sự kiện đã ập đến rồi lại tách rời khỏi Dasein;4 trái lại, chừng nào Dasein còn hiện hữu, thì Dasein—với tư cách Sorge chăm lo—vẫn luôn là cái Dass es ist ‘đó-là-nó’ của chính mình. [Chen ngang: Đối với Martin Heidegger, cụm từ ‘Dass es ist’ (đó là nó – cái thực tính có đó của nó) liên kết chặt chẽ với khái niệm Geworfenheit ‘tình trạng bị ném vào’ để mô tả một sự thật căn bản về Dasein hiện hữu người. 1). Ý nghĩa của ‘Dass es ist’: i) Dass es ist nói về thực tính tồn tại của Dasein; nó nhấn mạnh vào cái thực tế rằng tôi đang tồn tại ở đây và lúc này, đối lập với câu hỏi Was es ist Đó là gì; ii) Khi Dasein hiện hữu người nhận thức được chính mình, nó đối mặt với một sự thật trần trụi: Tôi đang tồn tại, và sự tồn tại này là một sự kiện đã rồi, một thực tế không thể chối cãi. 2). Mối liên hệ giữa ‘Dass es ist’ với ‘Geworfenheit’ Tình trạng bị ném vào - Geworfenheit là trạng thái con người bị ném vào thế giới mà không hề được lựa chọn trước: không được chọn cha mẹ, thời đại, quốc gia, ngôn ngữ, hay cấu trúc sinh học của mình; và mối liên kết giữa hai khái niệm được thể hiện qua các điểm sau: i) Dass es ist chính là sự hiển lộ của tình trạng bị ném vào; con người nhận ra tính có đó của chính bản thân mình, và như vậy Dass es ist và phải tồn tại, nhưng hoàn toàn không biết nguồn gốc tại sao mình lại ở đây: Woher - từ đâu đến; và Wohin mình đi về đâu; ii) Tâm thế Befindlichkeit: Heidegger cho rằng chúng ta không nhận thức được ‘Dass es ist’ thông qua tư duy lý tính thuần túy, mà qua Stimmung/moods tâm trạng, đặc biệt là Angst lo âu; trong các trạng thái này, sự bế tắc và gánh nặng của ‘tình trạng bị ném vào’ tồn tại hiện ra rõ ràng nhất; iii) Hiện hữu/ tồn tại như một nhiệm vụ - ‘Dass es ist’ biến sự tồn tại thành một gánh nặng - tôi đã bị ném vào thế giới, việc tôi tồn tại là Dass es ist Một sự thật đã rồi, và bây giờ tôi buộc phải gánh vác sự tồn tại đó, phải tự đưa ra Entwurf – Dự phóng cho tương lai của chính mình. - HHN]. Nó đã bị phó mặc cho cái thực thể này, và do đó, nó chỉ có thể hiện hữu như chính cái thực thể là bản thân nó; và với tư cách là cái thực thể mà nó đã bị phó mặc cho như vậy, trong sự hiện hữu của mình, nó chính là nền tảng cho cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình.

Mặc dù bản thân nó không tự đặt tự ra cái nền tảng đó, nhưng nó vẫn phải gánh chịu sức nặng của nền tảng ấy—thứ được bộc lộ như một gánh nặng bởi tâm trạng của Dasein. Và làm thế nào để Dasein trở thành cái nền tảng bị ném vào này? Chỉ bằng cách nó phóng chiếu chính mình vào những khả tính mà nó đã bị ném vào đó. Cái Tự ngã, vốn phải tự kiến ​​tạo nền tảng cho chính mình—lại không bao giờ có thể nắm giữ cái nền tảng đó trong tầm kiểm soát; tuy nhiên, với tư cách đang hiện hữu, nó buộc phải đảm nhận vai trò là Hữu-thể-một-nền-tảng. Việc trở thành nền tảng bị ném vào của chính mình lại là thứ tiềm-năng-cho-Hữu-thể vốn mang tính cốt yếu đối với sự chăm lo. Với tư cách là một nền tảng —tức là, hiện hữu như một thực thể bị ném vào—Dasein luôn tụt hậu so với các khả tính của chính mình. Nó không bao giờ hiện hữu trước nền tảng của mình, mà chỉ hiện hữu từ nền tảng đó và với tư cách là chính nền tảng này. Do đó, ‘Hữu-thể-một-nền-tảng’ có nghĩa là không bao giờ nắm quyền kiểm soát đối với cái Hữu-thể cốt lõi nhất của chính mình ngay từ nền móng. Cái ‘không’ này thuộc về ý nghĩa cấu thành hữu thể của tình trạng ‘bị-ném-vào’. Bản thân nó—với tư cách là một nền tảng —lại là một loại trạng thái hư vô của chính nó.5 ‘Trạng thái hư vô’ này không có nghĩa là không-phải-Hữu-thể-hiện-diện-vô-tri hay không-tồn tại; ngược lại, cái được nhắm đến ‘không’ mang tính cấu thành cho cái Hữu thể này của Dasein—tình trạng ‘bị-ném-vào’ của nó. Tính chất của cái ‘không’ này với tư cách là cái ‘không’ có thể được định nghĩa về phương diện cấu thành hữu thể: khi là Tự ngã của chính nó, Dasein với tư cách là một Tự ngã—chính là thực thể đã bị ném vào thế giới.

Nó được giải phóng khỏi nền tảng của mình, không phải thông qua chính nó mà là hướng về chính nó, để rồi tồn tại như là chính nền tảng đó. Dasein không tự mình là nền tảng cho Hữu thể của nó theo nghĩa nền tảng này nảy sinh từ sự phóng chiếu của chính nó; thay vào đó, với tư cách là Hữu-thể-Tự -ngã-của-nó, nó chính là cái Hữu thể của nền tảng của nó.6  Cái nền tảng này [tr.331]này không bao giờ là bất cứ thứ gì khác ngoài cái nền tảng cho một thực thể mà Hữu thể của nó phải đảm nhận vai trò là ‘Hữu-thể-một-nền-tảng’. Dasein là nền tảng của chính nó về phương diện cấu thành hữu thể—tức là, nó tự thấu hiểu trong khuôn khổ các khả tính, và với tư cách tự tự thấu hiểu như vậy, nó chính là cái thực thể đã bị ném vào. Tuy nhiên, điều này lại hàm ý là khi sở hữu một tiềm-năng-cho-Hữu-thể, nó luôn trụ trong một khả tính này hay khả tính khác: nó liên tục không là những khả tính khác, và nó đã từ bỏ những khả tính đó trong sự phóng chiếu mang tính thực hữu cụ thể của mình. Phép phóng chiếu—với tư cách là loại phóng chiếu của kẻ đã bị ném vào—không chỉ bị quy định bởi cái Nichtigkeit des Grundseins trạng thái hư vô của Hữu-thể-một-nền-tảng, mà bản thân sự phóng chiếu ấy cũng mang tính hư vô về mặt bản chất. [Chen ngang: das nichtige Grundsein einer Nichtigkeit của Heidegger thường được dịch là ‘nền tảng hư vô của một trạng thái hư vô’ chính là định nghĩa nền tảng cho khái niệm hiện hữu trong Schuldigsein ‘trạng thái tội lỗi’ hay Hữu-thể-tội-lỗi. Khái niệm này không ám chỉ hành vi sai trái về mặt đạo đức hay cảm giác hối tiếc về mặt tâm lý. Thay vào đó, nó mô tả những giới hạn nội tại và sự thiếu vắng nền tảng vốn đã gắn liền với chính cấu trúc của Dasein hiện hữu người. Đó là: 1). Dasein với tư cách là một ‘Nền tảng hư vô’ - Cái hư vô thứ nhất: Trạng thái bị ném vào: Là một ‘nền tảng’ hay ‘cơ sở’ nghĩa là trở thành tác giả hoặc nguyên nhân cho chính sự tồn tại của bản thân. Heidegger lập luận rằng tôi buộc phải là nền tảng cho cuộc đời mình — tôi phải đưa ra các lựa chọn và chịu trách nhiệm về việc mình là ai. Tuy nhiên, nền tảng này lại mang tính ‘hư vô’ được đặc trưng bởi một sự phủ định hoặc thiếu hụt - vì nó gắn liền với Geworfenheit ‘tình trạng bị ném vào’: - Tôi không tự chọn việc mình tồn tại; - Tôi không chọn thời đại lịch sử, cha mẹ, mã di truyền hay môi trường văn hóa ban đầu của mình; - Tôi bị ‘đặt vào’ một thế giới vốn đã tồn tại từ trước; - Do đó, dù Tôi là nền tảng tuyệt đối cho cuộc đời mình, thì nền tảng ấy lại đứng trên một khoảng trống không có cơ sở. Bạn phải chịu trách nhiệm cho một điểm khởi đầu mà chính Tôi không hề tạo ra. 2). Dasein với tư cách là một ‘Trạng thái hư vô’ - Sự hư vô thứ hai - Tự do và Phóng chiếu: Ngay cả khi Tôi tiến về phía tương lai thông qua các lựa chọn, thì sự tồn tại của Tôi vẫn bị định hình bởi một tầng hư vô thứ hai. Điều này xuất phát từ ‘tự do’ và ‘phóng chiếu’ của con người: i) Chọn một con đường trong đời, đồng nghĩa với việc Tôi đã loại bỏ hàng loạt phiên bản tiềm năng khác của chính mình; ii) Nếu Tôi chọn trở thành luật sư, thì bạn không thể là bác sĩ, nghệ sĩ hay nhạc sĩ; iii) Tự do của Tôi chỉ được hiện thực hóa khi chấp nhận và dung nạp cả ‘việc không chọn’ những con đường khác đó. Như vậy, chính hành động tiến về phía trước và phóng chiếu bản thân vào tương lai về cơ bản là vô nghĩa, bởi xét về cấu trúc, nó được xây dựng dựa trên sự loại trừ và khiếm khuyết. 3) Khi kết nối những yếu tố này lại với nhau, Heidegger đi đến kết luận rằng con người là một ‘số không kép’, lơ lửng giữa hai hư vô: i) Tình trạng bị ném vào (Hư vô Nền tảng): Tôi chịu trách nhiệm cho cái nền tảng mà tôi không lựa chọn để tạo ra; ii) Sự phóng chiếu (Trạng thái Hư vô): Mọi lựa chọn Tôi đưa ra đều dựa trên việc loại bỏ các lựa chọn khác; iii) Tại sao điều này quan trọng đối với một cuộc sống đích thực? Đối với Heidegger, việc nhận ra rằng Tôi chính là ‘nền tảng hư vô của một ‘trạng thái hư vô’ chính là bước ngoặt cần thiết để đạt đến một cuộc sống đích thực. Phần lớn mọi người đều trốn chạy khỏi nhận thức này bằng cách tìm đến những sự xao nhãng an toàn, đã được định sẵn trong xã hội, mà Heidegger gọi là das Man cái ‘Họ’. Đối diện với tính hư vô trong tồn tại của mình sẽ khơi dậy nỗi lo âu, nhưng xét đến cùng, nó lại giải phóng tôi. Ở đây Entschlossenheit khai mở là dám thừa nhận khiếm khuyết nền tảng này, rũ bỏ những kỳ vọng của xã hội, và can đảm nhận lấy trách nhiệm cho một cuộc đời vốn không hề có kịch bản được viết sẵn.-HHN]. Điều đó không có nghĩa là nó mang thuộc tính ontish thực hữu về ‘tính không quan trọng’ hay trạng thái ‘vô giá trị’; thay vào đó, đây là một yếu tố mang tính cấu thành về phương diện hữu thể đối với cấu trúc của cái Hữu thể của phóng chiếu. Tính hư vô mà chúng ta đang đề cập thuộc về cái Hữu-thể-tự-do của Dasein đối với các khả tính thực hữu cụ thể của nó. Tuy nhiên, tự do chỉ có trong việc lựa chọn một khả tính—tức là, trong việc chấp nhận thực tế rằng mình đã không chọn những khả tính khác và không thể chọn chúng.

Trong cấu trúc của trạng thái bị ném vào đời, cũng như trong cấu trúc phóng chiếu, về bản chất luôn tiềm ẩn một tính hư vô. Tính hư vô này là nền tảng cho cái khả tính của Dasein không đích thực trong trạng thái sa ngã của nó; và với tư cách sa ngã, mọi Dasein không đích thực đều hiện hữu một cách thực tế. Bản thân sự chăm lo, ngay trong chính bản chất của nó, cũng triệt để thấm đẫm tính hư vô. Như vậy, ‘chăm lo’—tức là Hữu thể của Dasein—với tư cách phóng chiếu trong trạng thái bị ném vào, có nghĩa là Hữu-thể-là-cái-nền-tảng của một tínhhư vô (và chính Hữu-thể-là-cái-nền-tảng này tự thân nó cũng mang tính hư vô). Điều này có nghĩa là Dasein, tự thân nó, là kẻ có tội, nếu cái định nghĩa mang tính cấu thành hữu thể hình thức của chúng ta về ‘tội lỗi’—là ‘Hữu-thể-là-cái-nền-tảng-cho-một-tính-hư-vô’—thực sự đúng đắn. Tính hư vô cấu thành hữu thể này hoàn toàn không mang tính chất của sự thiếu hụt—trạng thái thiếu vắng một điều gì đó so với một lý tưởng đã được đặt ra nhưng không đạt tới được trong bản thân Dasein; trái lại, cái Hữu thể của thực thể này vốn dĩ đã mang tính hư vô với tư cách phóng chiếu; và nó mang tính hư vô ngay cả trước khi [vor] bất kỳ điều gì mà nó có thể phóng chiếu và thường đạt được.7  Hơn nữa, tính hư vô này không phải là thứ thỉnh thoảng mới xuất hiện ở Dasein, hay bám vào Dasein như một phẩm tính mơ hồ nào đó mà Dasein có thể loại bỏ nếu đạt được những bước tiến nhất định.

Mặc dù vậy, ý nghĩa bản thể luận về Nichtheit ‘tính không’ của cái hư vô mang tính cấu thành hữu thể này vẫn còn mơ hồ. Tuy nhiên, điều này cũng đúng với bản chất bản thể luận của cái ‘không’ nói chung. Quả thực, bản thể luận và logic học đã khai thác rất nhiều từ cái ‘không’ và qua đó làm lộ rõ ​​các khả tính của nó một cách rời rạc; nhưng bản thân nó vẫn chưa được làm sáng tỏ về mặt bản thể luận. Bản thể luận chỉ tình cờ bắt gặp cái ‘không’ và sử dụng nó mà thôi. Nhưng liệu có hiển nhiên không [tr.332] khi cho rằng mọi cái ‘không’ đều biểu thị một điều gì đó phủ định theo nghĩa thiếu hụt? Liệu tính khẳng định của nó có cạn kiệt ở việc nó cấu thành nên hành động ‘vượt qua’ một điều gì đó? Tại sao mọi phép biện chứng lại nương nhờ vào sự phủ định, mặc dù chính nó không thể đưa ra các cơ sở biện chứng cho điều này, hay thậm chí chỉ là xác lập nó như một vấn đề? Đã bao giờ có ai đặt vấn đề về nguồn gốc bản thể luận của ‘tính không’, hay xa hơn nữa, tìm kiếm những điều kiện tiên quyết để từ đó có thể đặt ra vấn đề về cái ‘không’, về ‘tính không’ của nó và cái khả tính của ‘tính không’ đó? Và làm thế nào để tìm ra những điều kiện này nếu không phải bằng cách lấy ý nghĩa về Hữu thể nói chung làm chủ đề và làm sáng tỏ nó? Các khái niệm về sự tước bỏ và thiếu hụt—vốn dĩ cũng không mấy minh bạch—đã không còn đủ cho phép Diễn giải bản thể luận về hiện tượng tội lỗi, mặc dù nếu xét chúng một cách hình thức, ta vẫn có thể tận dụng chúng đáng kể. Đặc biệt, ta càng không thể tiến gần hơn đến hiện tượng mang tính cấu thành hữu thể về tội lỗi nếu định hướng theo ý niệm về cái ác—malum cái ác được hiểu là privatio boni sự tước bỏ cái thiện. Cũng như bonum cái thiện và sự tước bỏ nó đều có cùng nguồn gốc bản thể luận trong bản thể luận hiện-diện-vô-tri, mà loại này cũng áp dụng cho ý niệm về ‘giá trị’—thứ vốn được ‘trừu tượng hóa’ từ những loại bản thể luận trên.

Các thực thể có Hữu thể là chăm lo không chỉ có thể tự gánh lấy cái faktische Schuld tội lỗi thật, mà còn mang tội ngay tại nền tảng Hữu thể của chúng, và chính cái Hữu-thể-có-tội này —trên hết—tạo nên điều kiện hữu thể luận cho khả năng mắc nợ bất cứ điều gì trong quá trình tồn tại thật của Dasein. [Chen ngang: Đối với Heidegger, khái niệm faktische Schuld/ factical guilt ‘tội lỗi thật’ — thường được phân biệt với Schuldigsein/ ontological guilt ‘tội lỗi bản thể luận’ và Schuldigsein/ existential guilt ‘tội lỗi mang tính cấu thành hữu thể’ — dùng để chỉ những vi phạm đạo đức cụ thể, các hành vi phạm pháp, hoặc những thất bại nhất định trong các tương tác thường ngày của chúng ta với người khác. Những phân biệt then chốt trong quan điểm của Heidegger về tội lỗi: 1) Tội lỗi bản thể luận và Tội lỗi thật: i) Trạng thái ‘có tội’ về mặt bản thể luận: Đây không phải là một khiếm khuyết đạo đức hay một tội ác; thay vào đó, nó là một điều kiện cấu trúc của Dasein hiện hữu người. Vì chúng ta ‘bị ném vào’ thế giới và luôn phải phóng chiếu bản thân vào những khả tính nhất định — đồng thời phớt lờ hoặc khép lại các khả tính khác — nên về căn bản, chúng ta là ‘nền tảng hư vô của một tính hư vô’. Điều này có nghĩa là chúng ta đóng vai trò làm nền tảng cho cuộc đời mình mà chính chúng ta không hề lựa chọn, và mọi lựa chọn của chúng ta đều đồng thời phủ định những lựa chọn khác; ii) Tội lỗi thật là loại tội lỗi cụ thể, diễn ra trong đời sống thường nhật, phát sinh khi một cá nhân phá vỡ quy tắc, gây tổn thương cho người khác, thực hiện hành vi sai trái, hoặc không hoàn thành một nghĩa vụ cụ thể nào đó trong thế giới thực. 2) Nền tảng của tội lỗi thật: i) Heidegger cho rằng Hữu-thể-tội-lỗi mang tính bản thể luận chính là điều kiện khả tính để tội lỗi thật có thể xuất hiện; một cá nhân không thể trải nghiệm các hành vi sai trái về mặt đạo đức hay pháp lý nếu trước đó họ không tồn tại như một hiện hữu mà chính cái cấu trúc bao gồm việc đưa ra lựa chọn, bỏ lỡ các cơ hội, và mắc nợ chính cái tiềm năng của bản thân mình; ii) Mong-muốn-có-lương-tâm: - Việc trải nghiệm và thừa nhận tội lỗi thật đòi hỏi cái mà Heidegger gọi là ‘mong-muốn-có-lương-tâm’. Điều này không đồng nghĩa với việc cảm thấy mình có một ‘lương tâm trong sạch’ theo cách hiểu thông thường, cũng không phải là đắm chìm trong sự tự trách bản thân; thay vào đó, nó có nghĩa là cởi mở và sẵn sàng chịu trách nhiệm đối với trách nhiệm nền tảng của chính sự tồn tại của bản thân. -HHN]

Cái Hữu-thể-có-tội mang tính bản chất này, về phương diện đồng bản nguyên, chính là điều kiện cấu thành hữu thể cho cái khả tính của cái thiện và cái ác ‘về mặt đạo đức’—tức là cho đạo đức nói chung và các hình thức biểu hiện cụ thể có thật của nó. Cái Hữu-thể-có-tội mang tính bản nguyên này không thể được định nghĩa bằng đạo đức, vì bản thân đạo đức đã mặc nhiên thừa nhận nó cho bản thân nó. Tuy nhiên, loại trải nghiệm nào nói về cái Hữu-thể-có-tội mang tính bản nguyên vốn thuộc về Dasein này? Ta cũng không được quên câu hỏi phản biện: liệu tội lỗi ‘chỉ có’ khi ý thức về tội lỗi được đánh thức, hay chính cái Hữu-thể-có-tội 8 mang tính bản nguyên này lại tự bộc lộ ngay trong chính thực tế là tội lỗi đang ‘ngủ yên’? Việc cái Hữu-thể-có-tội mang tính bản nguyên này vẫn chưa được khai mở trong phần lớn thời gian và ở giai đoạn đầu, cũng như việc nó bị che giấu bởi cái Hữu thể sa ngã của Dasein, chỉ làm lộ rõ ​​tính hư vô đã được đề cập ở trên. Hữu-thể-có-tội mang tính bản nguyên hơn bất kỳ tri thức nào về nó. Và chỉ vì Dasein có tội ngay tại nền tảng Hữu thể của mình, đồng thời tự khép kín với chính mình với tư cách bị ném vào và đang sa ngã, nên lương tâm mới trở nên khả thể, khi tiếng gọi lương tâm thực sự mang đến cho ta cái Hữu-thể-có-tội này như một cái gì đó, xét đến cùng, ta cần phải thấu hiểu. Tiếng gọi đó chính là tiếng gọi của chăm lo. Hữu-thể-có-tội cấu thành nên cái Hữu thể [tr.333] mà ta gọi tên là ‘chăm lo’. Trong tình trạng Unheimlichkeit bất an không nhà, Dasein trụ lại cùng chính mình một cách bản nguyên.

Tình trạng Unheimlichkeit bất an không nhà ấy đặt cái thực thể này đối diện với tính hư vô trần trụi của chính nó—vốn gắn liền với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng tư nhất của nó. Trong chừng mực mà đối với Dasein—với tư cách chăm lo—cái Hữu thể của nó là cả một vấn đề, nó tự triệu vời chính mình như là một das Man cái ‘họ’ đang thực sự sa ngã, đồng thời triệu vời chính mình từ Unheimlichkeit tình trạng bất an không nhà hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của mình.9 Lời kêu gọi này vừa triệu hồi trở lại vừa triệu vời hướng tới:10 nó gọi Dasein hướng tới khả tính tiếp nhận—trong hiện hữu—chính cái thực thể bị-ném-vào là chính bản thân nó; nó triệu gọi Dasein quay trở lại với trạng thái bị-ném-vào của mình để thấu hiểu trạng thái này như là một nền tảng hư vô mà nó phải gánh vác vào quá trình hiện hữu. Hành động triệu vời trở lại này—trong đó lương tâm thực hiện cuộc triệu vời hướng tới—cho Dasein hiểu rằng chính nó - với tư cách là nền tảng hư vô cho sự phóng chiếu hư vô của mình, đang đứng trước cái khả tính Hữu thể của mình - cần phải tự đưa mình trở lại với chính mình từ sự đánh mất bản thân trong das Man cái ‘họ’; và điều đó có nghĩa là nó ‘có tội’. Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy, thì điều mà Dasein tự nhận thức được chỉ là thông tin về chính nó. Và sự lắng nghe tương ứng với lời kêu gọi như vậy sẽ chỉ là ghi nhận cái Sự thật là ta ‘có tội’. Thế nhưng, nếu lời kêu gọi là một kiểu triệu gọi (mệnh lệnh thúc giục), thì liệu cách diễn giải lương tâm như vậy có dẫn đến sự sai lệch hoàn toàn về chức năng của nó hay không? Chẳng phải ‘lời triệu vời hướng tới Hữu-thể-có-tội’ đồng nghĩa với lời triệu vời hướng tới cái ác sao?

Người ta hẳn sẽ không muốn gán cho lương tâm một ý nghĩa tiếng gọi như vậy, ngay cả trong những phép Diễn giải táo bạo nhất. Nhưng nếu không phải vậy, thì ‘lời triệu vời ai đó hướng tới Hữu-thể-có-tội’ có nghĩa là gì? Ý nghĩa của ‘tiếng gọi’ sẽ trở nên rõ ràng nếu, khi tìm hiểu về nó, chúng ta bám sát vào cái ý nghĩa cấu thành hữu thể của Hữu-thể-có-tội, thay vì lấy khái niệm phái sinh về tội lỗi—vốn được hiểu là một tình trạng nợ nần vốn ‘nảy sinh’ từ một hành động đã làm hoặc chưa làm—để tạo thành tính nền tảng. Yêu cầu này không phải là sự áp đặt tùy tiện, nếu tiếng gọi của lương tâm—vốn xuất phát từ chính Dasein—được hướng đến riêng cái thực thể đó. Nhưng nếu vậy thì ‘lời triệu vời tới Hữu-thể-có-tội’ biểu thị một sự kêu gọi hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà trong mỗi trường hợp, tôi—với tư cách Dasein—đã là như thế rồi. Dasein không cần phải tự gánh lấy một ‘tội lỗi’ nào đó thông qua các thất bại hay những thiếu sót; nó chỉ cần phải ‘có tội’ một cách đích thực – thứ ‘tội lỗi’ theo đúng cách thức mà nó hiện hữu.11

Do đó, việc lắng nghe đúng lời kêu gọi cũng đồng nghĩa với việc thấu hiểu bản thân trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể chỉ của riêng mình—tức là phóng chiếu bản thân vào cái tiềm năng đích thực cốt yếu nhất của chính mình để trở thành [tr.334] có tội.12  Khi Dasein thấu hiểu và để cho mình cuốn hút vào lời kêu gọi hướng tới cái khả tính này, thì điều đó bao hàm việc nó trở nên tự do đón nhận tiếng gọi—tức là trạng thái sẵn sàng cho cái tiềm năng được triệu vời. Trong việc thấu hiểu tiếng gọi, Dasein bị cuốn hút bởi cái khả tính hiện hữu cốt yếu nhất của chính mình. Nó đã tự chọn chính mình. Khi chọn lựa như vậy, Dasein làm cho Hữu-thể-có-tội cốt yếu nhất của chính nó trở nên khả thể—là cái vốn vẫn bị che giấu khỏi Tự-ngã-cái-họ. Quan niệm thông thường của das Man cái ‘họ’ chỉ biết đến việc thỏa mãn các quy tắc có thể thao túng được và các chuẩn mực công cộng, cũng như việc không thỏa mãn chúng. Nó tính toán các hành vi vi phạm và cố gắng cân bằng chúng. Nó đã lảng tránh cái Hữu-thể-có-tội cốt yếu nhất của chính mình để có thể lớn tiếng bàn luận về việc phạm ‘sai lầm’. Tuy nhiên, trong lời triệu gọi, thứ Tự-ngã-cái-họ lại bị kêu gọi hướng về cái Hữu-thể-có-tội cốt yếu nhất của Tự ngã. Thấu hiểu tiếng gọi chính là chọn lựa; nhưng đó không phải là sự chọn lựa lương tâm, bởi lẽ lương tâm—với tư cách là lương tâm—không thể được chọn lựa. Cái được lựa chọn chính là có-lương-tâm, với tư cách là Hữu-thể-tự-do cho chính cái Hữu-thể-có-tội cốt yếu nhất của bản thân. ‘Thấu hiểu lời kêu gọi’ có nghĩa là ‘mong muốn có lương tâm’.

Điều đó không có nghĩa là người ta muốn có một ‘lương tâm trong sạch’, và càng không có nghĩa là người ta tự nguyện vun đắp cho tiếng gọi ấy; nó chỉ đơn thuần có nghĩa là người ta sẵn sàng để được tiếng gọi ấy lôi cuốn. Mong muốn có lương tâm cũng khác xa với việc đi tìm kiếm những món nợ hiện thực của chính mình, cũng như khác xa với khuynh hướng muốn giải thoát khỏi tội lỗi theo nghĩa ‘trạng thái có tội’ mang tính cốt yếu. Thay vào đó, mong muốn có lương tâm chính là tiền đề thực hữu cụ thể bản nguyên nhất cho cái khả tính thực sự mắc nợ một điều gì đó. Khi thấu hiểu tiếng gọi, Dasein để cho cái Tự ngã đích thực nhất của mình hành động ngay trong chính nó, theo khuôn khổ của cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà nó đã chọn lựa. Chỉ bằng cách đó, nó mới có thể phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, xét về mặt hiện thực, bất kỳ hành động nào cũng tất yếu mang tính ‘vô lương tâm’, không chỉ vì nó có thể không tránh khỏi một món nợ đạo đức thực tế nào đó, mà còn vì—trên nền tảng hư vô của sự phóng chiếu mang tính hư vô—trong Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác, nó đã trở nên có tội đối với họ. Như vậy, mong-muốn-có-lương-tâm trở thành việc tiếp-nhận trạng thái vô lương tâm mang tính bản chất đó — mà chỉ trong đó, cái khả tính thực hữu cụ thể để trở nên ‘lương thiện’ mới có thể tồn tại.

Mặc dù tiếng gọi không cung cấp thông tin cụ thể, nhưng nó không chỉ mang tính phê phán; nó còn mang tính khẳng định ở chỗ nó khai mở cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể bản nguyên nhất của Dasein với tư cách là Hữu-thể-có-tội. Theo đó, lương tâm biểu lộ như một lời chứng thuộc về cái  Hữu thể của Dasein—một lời chứng mà qua đó, lương tâm đặt chính Dasein đối diện trực tiếp với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng có của mình. Liệu có cách nào cụ thể hơn về mặt hiện sinh để xác định tính chất của [tr.335] cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực đã được chứng thực theo cách này hay không? Tuy nhiên, giờ đây khi đã làm sáng tỏ một tiềm-năng-cho-Hữu-thể được chính Dasein chứng thực, thì một câu hỏi sơ khởi lại nảy sinh: liệu ta có thể khẳng định rằng cách thức trình bày này có đủ sức thuyết phục hay không, chừng nào ta vẫn chưa giải quyết được sự lúng túng nảy sinh từ việc diễn giải lương tâm một cách phiến diện— bằng cách chỉ quy chiếu nó về cái cấu thành của Dasein mà vội vã bỏ qua mọi phát hiện quen thuộc trong cách Diễn giải thông thường, chưa hề suy giảm về lương tâm? Liệu hiện tượng lương tâm—theo đúng bản chất ‘thực sự’ tồn tại—có còn được nhận diện bằng cách Diễn giải mà chúng ta đã đưa ra hay không? Phải chăng chúng ta đã quá tự tin khi suy diễn khái niệm lương tâm từ trạng thái Hữu thể của Dasein một cách đầy chủ quan và đơn giản? Bước cuối cùng trong phép Diễn giải lương tâm là xác định phạm vi cấu thành hữu thể của tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực mà lương tâm chứng thực. Để đảm bảo tìm ra một lối tiếp cận giúp ngay cả cách hiểu thông thường về lương tâm cũng có thể nắm bắt được bước đi này, chúng ta cần phải chứng minh một cách tường minh mối liên hệ giữa các kết quả phân tích bản thể luận của mình với những cách thức trải nghiệm lương tâm trong đời sống thường nhật.

[Chen ngang: Trong quan niệm của Heidegger, Dasein theo nghĩa đen trong tiếng Đức là ‘hiện hữu tại đó’ chỉ một phương thức Hữu thể độc đáo, vốn chỉ dành riêng hiện hữu người—một dạng thực thể mà đối với chính nó, thì Hữu thể của bản thân là một vấn đề hay một mối bận tâm. Thay vì xem con người như những ‘chủ thể’, ‘tâm trí’ hay ‘linh hồn’ biệt lập, tách rời khỏi thế giới bên ngoài - như trong triết học Descartes hay siêu hình học truyền thống, - Heidegger định nghĩa Dasein thông qua trạng thái nền tảng là ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Các đặc điểm cốt lõi trong trạng thái Hữu thể của Dasein bao gồm: 1) In-der-Welt-sein Hữu-thể-trong-thế-giới: Dasein không bao giờ chỉ là một người quan sát bị giam hãm trong một ‘chiếc hộp’ tâm trí; nó vốn đã được đặt vào—hay đúng hơn là ‘bị ném vào’ một thế giới đầy ý nghĩa, nơi nó tương tác thực tiễn và gắn kết cảm xúc với các sự vật cùng những Kẻ khác; 2) Jemeinigkeit Tính-thuộc-về-chính-mình: Dasein luôn là ‘của tôi’ - mỗi cá thể Dasein đều có một mối liên hệ riêng biệt, mang tính cá nhân đối với sự tồn tại của chính mình; nó không thể bị xem như một khách thể trừu tượng hay một vật thể có thể thay thế cho bất kỳ vật thể nào khác; 3) Existenz als Wesen Tồn tại với tư cách Bản chất: Đối với Dasein, ‘tồn tại có trước bản chất’; khác với một vật thể vật lý như hòn đá hay cái búa—vốn chỉ đơn thuần là chính nó—Dasein luôn chủ động lựa chọn, hoạch định và tự kiến ​​tạo ý nghĩa về bản thân theo thời gian; 4) Sorge Chăm lo: Cấu trúc nền tảng bao quát toàn bộ hiện hữu của Dasein chính là ‘chăm lo’. Khái niệm này bao gồm: i) Faktizität/ Facticity Thực tính: Tình trạng ‘bị ném’ vào một hoàn cảnh cụ thể, một lịch sử và một thực tại vật lý nhất định; ii) Existenzialität/ Existentiality Tính cấu thành hữu thể: Xu hướng luôn hướng về phía trước, hướng tới các khả tính và những cách thức hiện hữu tiềm tang; iii) Verfallen Sự sa ngã: Khuynh hướng bị cuốn vào hoặc đánh mất bản thân trong phiếm đàm thường nhật, các ý kiến ​​đám đông và sự tuân thủ theo das Man cái ‘họ’ chung chung; iv) Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết: Dasein hiện hữu người được định hình bởi nhận thức về tính hữu hạn của chính mình. Việc dự cảm về cái chết—như một khả tính riêng biệt và không thể chia sẻ với bất kỳ ai khác—buộc Dasein phải đưa ra lựa chọn: sống một cách không đích thực - tuân theo đám đông; hay thực hiện hành trình tự hiện thực hóa bản thân một cách đích thực.-HHN]

[Chen ngang của chen ngang: 1) Khái niệm Existenzialität/ Existentiality Cấu thành hữu thể tính – đối với Heidegger, ‘cấu thành hữu thể tính’ đề cập đến cấu trúc bản thể luận của Dasein hiện hữu người— cụ thể là tập hợp các khả năng, năng lực và các phương thức Hữu thể mang tính tiên nghiệm (a priori), vốn định nghĩa thế nào là Dasein hiện hữu người. Heidegger phân biệt rõ ràng khái niệm cấu thành hữu thể tính với hai thuật ngữ có liên quan mật thiết khác: i) Existenzial [có tính] cấu thành hữu thể - thuộc về bình diện bản thể luận; thuật ngữ này mô tả các điều kiện mang tính cấu trúc, hình thức và phổ quát — những yếu tố tạo tiền đề cho tồn tại người. Cấu thành hữu thể tính (existentiality) nằm trong phạm trù này, được hiểu như một mạng lưới liên kết các khả tính cấu trúc đó; ii) Existenziell [có tính] cá nhân cụ thể - thuộc về bình diện ontish thực hữu; thuật ngữ này mô tả các lựa chọn, niềm tin và trải nghiệm sống cụ thể, riêng biệt trong đời sống thường nhật của mỗi cá nhân; iii) Existenz Sự hiện hữu/ tồn tại - phương thức hiện hữu đặc thù chỉ dành riêng cho Dasein hiện hữu người, được đặc trưng bởi nguyên lý ‘tồn tại có trước bản chất’ — nghĩa là con người không sinh ra với một bản chất cố định, mà thay vào đó, nó tự phóng chiếu bản thân vào vô vàn các khả tính trong tương lai. 2) Các chiều kích cốt lõi của Cấu thành hữu thể tính - Heidegger không xem Cấu thành hữu thể tính là một tập hợp các đặc điểm tĩnh tại, mà là một sự phóng chiếu năng động, hướng về tương lai của Dasein. Nó được kết nối lại với nhau thông qua cấu trúc của Sorge ‘chăm lo’, vận hành trên ba chân trời thời gian: i) Cấu thành hữu thể tính/ khả tính (Tương lai): Dasein được định nghĩa bởi những gì nó có thể trở thành (Sein-können) — liên tục lựa chọn và định hình con đường của mình giữa các khả tính rộng mở; ii) Thực tính – tình trạng bị ném vào (Quá khứ): Dasein bị ném vào một hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và gia đình cụ thể mà nó không hề lựa chọn; hoàn cảnh này quy định phạm vi hành động của nó; iii) Sự sa ngã (Hiện tại): Dasein thường bị cuốn vào thế giới thường nhật và hòa mình vào đám đông vô danh Das Man, hay cái ‘họ’, dẫn đến một sự tồn tại không đích thực, cho đến khi những khoảnh khắc như nỗi lo âu (Angst) kéo nó trở lại với trạng thái làm chủ bản thân một cách đích thực.- HHN]

________________________________________

(Còn nữa)

Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.

Notes

1 ‘…aufein Sollen und Gesetz, wogegen sich verfehlend jemand Schuld aufsich ladt. Denn auch bier wird die Schuld notwendig noch als Mangel bestimmt, als Fehlen von etwas, was sein soll und kann.' (p.328)

2 ‘…Grundsein für ein durch ein Nicht bestimmtes Sein-das heisst Gnmdsein einer Nichtigkeit’. The noun ‘Nichtigkeit’ which might well be translated here as 'notness', may be used in legal contexts where something has been declared ‘null and void’, and can be used more generally to apply to almost anything that is vacuous, trifling, ephemeral, or 'nil'. Heidegger will rule out some of these connotations on H. 285. (p.329)

3 'Seiend ist es als Seinkonnen bestirnmt, das sich selbst gehOrt und doch nicht als es selbst sich zu eigen gegeben hat. ' It is perhaps tempting to interpret 'gehort' as corning from the verb 'gehoren' ('belong') rather than 'horen' ('hear') ; we could then read 'belongs to itself'rather than 'has heard itself'. Our version, however, seemsto be favoured by the grammar of this passage. (p.330)

4 'Die Geworfenheit aber liegt nicht hinter ihrn als ein tatsachlich vorgefallenes und vom Dasein wieder losgefallenes Ereignis, das mit ihm geschah…’ (p.330)

5 'Es ist nie existent vorseinem Grunde, sondern je nur aus ihm und als dieser. Grundsein besagt demnach, des eigensten Seins von Grund auf nie rnachtig sein. Dieses Nicht gehort zum existenzialen Sinn der Geworfenheit. Grund-seiend ist es selbst eine Nichtigkeit seiner selbst.' Presumably the 'not' to which Heidegger refers in this puzzling passage, is implied in the 'never' of the preceding sentence. (p.330)

6 ‘…Selbst seiend ist das Dasein das geworfene Seiende als Selbst. Nicht durch es selbst, sondern an es selbst ent/assen aus dem Grunde, urn als dieser zu sein. Das Dasein ist nicht insofem selbst der Grund seines Seins, als dieser aus eigenem Entwurf erst entspringt, wohl aber ist es als Selbstsein das Sein des Grundes.’ (p.330)

7 The negative character to which Heidegger here calls attention is not brought out as clearly by the word 'projection' (etymologically, 'throwing forward') as it is by the German 'entwerfen' ('throwing off' or 'throwing away'), where the prefix 'ent-' indicates separation. (p.331)

8 'Schuldigsein'. In the earlier editions the 'sein' is emphasized by having the type spaced out. (p.332)

9 We follow the newer editions in reading: ‘…ruft es aus der Unheimlichkeit sich selbst als faktisch-verfallendes Man auf zu seinem Seinkonnen.’ This is apparently a correction of the older version, where one finds 'Man selbst' instead of 'Man', and might be tempted to construe this as a misprint for 'Man-selbst' ('they-self'). (p.333)

10 ‘Der Anruf ist vorrufender Ruckruf.’ (p.333)

11 ‘…es soll nur das "schuldig"-als welches es ist-eigentluh sein.’ (p.333)

12 'Schuldigwerdenkonnen'. This 'ownrrwst authentic' sense of 'schuldig werden' is presumably to be contrasted with the sense to which we have called attention in notes 2 and 4, p. 327, H. 282 above, and which we have expressed by the phrase 'come to owe'. When it seems to us that Heidegger has the authentic sense in mind, we shall express it by the phrase 'become guilty', though this device exaggerates a contrast which would not be felt so sharply by the German reader. (p.334)

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét