Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
II SỰ CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN
56. Đặc tính của Lương tâm như một Tiếng gọi
[Tr. 317] Mọi diễn ngôn đều gắn liền với nội dung được đề cập trong đó. Diễn ngôn cung cấp thông tin về một điều gì đó, và thực hiện điều này dưới một khía cạnh xác định. Từ nội dung được đề cập đó, diễn ngôn rút ra những gì nó đang nói—tức là điều được diễn đạt trong cuộc trò chuyện theo đúng nghĩa. Trong diễn ngôn với tư cách là sự giao tiếp, đối với Dasein nội dung này trở nên có thể tiếp cận với của những Kẻ Khác, chủ yếu thông qua việc diễn đạt nó bằng ngôn ngữ. Trong tiếng gọi của lương tâm, điều gì được đề cập đến – hay nói cách khác, tiếng gọi hướng tới điều gì? Hiển nhiên là chính Dasein. Câu trả lời này vừa không thể chối cãi lại vừa bất định. Nếu tiếng gọi có một đích đến mơ hồ như vậy, thì cùng lắm nó chỉ là dịp để Dasein chú ý đến chính mình. Tuy nhiên, một yếu tố cốt lõi của Dasein là: song hành với die Erschlossenheit ihrer Welt trạng thái khai mở cái thế giới của nó, thì chính nó cũng được khai mở với bản thân, nhờ đó nó luôn thấu hiểu chính mình. Tiếng gọi tìm đến Dasein ngay trong cách tự thấu hiểu này – một cách thấu hiểu đầy quan tâm theo lối sống thường nhật, trung bình. Tiếng gọi chạm tới das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ của Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác đầy quan tâm ấy.
Và khi đó, tiếng gọi hướng ta đến điều gì?1 Hướng về chính cái Tự ngã của mình. Không phải hướng về những gì Dasein tính toán, có thể thực hiện, hay bận tâm trong đời sống công cộng cùng người khác; cũng không phải hướng về những gì nó đã nắm bắt, bắt tay vào làm, hay để bản thân bị cuốn theo. Hình thái Dasein vốn được hiểu theo lối thức ‘thế giới dành cho những Kẻ Khác và cho cả chính mình’ bị bỏ qua trong tiếng gọi này; tiếng gọi hướng về cái Tự ngã hoàn toàn không đoái hoài gì đến khía cạnh đó. Và vì chỉ có cái Tự ngã của cái Tự-ngã-họ mới được kêu gọi và được đánh thức để lắng nghe, nên das Man cái ‘họ’ liền sụp đổ. Tuy nhiên, việc tiếng gọi bỏ qua cả cái ‘họ’ lẫn cách thức Dasein được diễn giải trong đời sống công cộng hoàn toàn không có nghĩa là cái ‘họ’ không bị tác động. Chính nhờ việc bỏ qua cái ‘họ’ (vốn luôn khao khát danh tiếng nơi công cộng), nên tiếng gọi đã đẩy nó vào cái Bedeutungslosigkeit trạng thái vô nghĩa. Ngược lại, Tự ngã – vốn bị tiếng gọi tước mất chỗ trú ngụ và nơi ẩn náu ấy – lại được đưa trở về với chính mình.
[Tr. 318] Khi das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ được kêu gọi, nó được triệu hồi hướng về phía cái Tự ngã.2 Nhưng nó không bị triệu hồi về phía cái Tự ngã có thể tự biến mình thành một ‘khách thể’ để phán xét, cũng không phải về phía cái Tự ngã thụ động mổ xẻ ‘đời sống nội tâm’ của mình với sự tò mò vụn vặt, hay về phía cái Tự ngã mà người ta hình dung khi nhìn ngắm một cách ‘phân tích’ các trạng thái tâm lý và những gì ẩn sau chúng. Lời kêu gọi hướng tới cái Tự ngã trong das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ không ép buộc nó phải quay vào bên trong chính mình để rồi tự tách biệt khỏi ‘thế giới bên ngoài’. Lời kêu gọi lướt qua và xua tan tất cả những điều đó, chỉ nhằm triệu hồi duy nhất cái Tự ngã mà, bất chấp mọi điều ấy, không tồn tại theo cách nào khác ngoài việc là Hữu-thể-trong-thế-giới. Nhưng làm thế nào để xác định cái được nói đến thuộc về kiểu diễn ngôn này? Lương tâm kêu gọi điều gì ở kẻ mà nó đang hướng tới? Xét một cách nghiêm ngặt, thì chẳng có gì cả. Lời kêu gọi không khẳng định điều gì, không cung cấp thông tin về các sự kiện-thế giới, và cũng chẳng có gì để kể lại. Nó càng không hề có ý định khơi mào das Selbstgespräch một cuộc ‘độc thoại’ bên trong cái Tự ngã vừa được triệu hồi. ‘Không-gì-cả’ là điều được gọi đến cái Tự ngã này, nhưng bản thân nó đã được triệu hồi về tự thân – nghĩa là, về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt yếu nhất của chính nó. Khuynh hướng của tiếng gọi không phải là đặt cái Tự ngã – đối tượng được hướng tới – vào một cuộc ‘xét xử’; thay vào đó, nó triệu hồi Dasein bước ra (và ‘tiến về phía trước’) để đến với những khả tính cốt yếu nhất của chính mình, như một lời hiệu triệu hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó đích thực nhất của chính nó.3
Tiếng gọi này không sử dụng bất kỳ kiểu phát ngôn nào. Nó hoàn toàn không diễn đạt bằng ngôn từ; tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó mơ hồ hay bất định. Lương tâm chỉ và luôn luôn lên tiếng theo phương thức giữ im lặng. Theo cách này, nó không những không mất đi khả tính nhận biết, mà còn buộc Dasein—thực thể đang được kêu gọi và triệu hồi—phải bước vào trạng thái tự giữ mình trong sự im lặng. Việc nội dung của tiếng gọi không được diễn đạt thành lời không làm cho hiện tượng này trở nên mơ hồ như một giọng nói bí ẩn; nó chỉ cho thấy rằng sự thấu hiểu của chúng ta về điều được ‘gọi’ không nên bị trói buộc vào kỳ vọng về một sự truyền đạt thông tin thông thường.
Tuy nhiên, cái mà tiếng gọi khai mở lại vô cùng rõ ràng, dù nó có thể được diễn giải khác nhau ở mỗi Dasein tùy thuộc vào những khả tính thấu hiểu riêng của nó. Trong khi nội dung của tiếng gọi dường như bất định, thì hướng đi của nó lại rất chắc chắn và không thể bị bỏ qua. Tiếng gọi không đòi hỏi chúng ta phải mò mẫm tìm kiếm đối tượng mà nó hướng tới, cũng không cần bất kỳ dấu hiệu nào để nhận biết liệu kẻ đó có phải là đối tượng được nhắm đến hay không. Khi những ‘ảo tưởng’ nảy sinh trong lương tâm, nguyên nhân không phải do tiếng gọi có sai sót (gọi nhầm),4 mà chỉ vì cách tiếng gọi được lắng nghe: thay vì [tr.319] được thấu hiểu một cách đích thực, nó bị das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ lôi kéo vào một cuộc độc thoại biện hộ, khiến khuynh hướng khai mở của nó bị biến tướng. Cần lưu ý rằng khi coi lương tâm là một ‘tiếng gọi’, thì tiếng gọi ấy chính là lời kêu gọi hướng tới das Man-Selbst cái Tự-ngã-họ ngay trong chính Tự ngã của nó; theo đúng nghĩa một tiếng gọi, nó triệu vời cái Tự ngã hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó của chính mình, và qua đó thúc đẩy Dasein bước tới những khả tính của chính nó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể đạt tới một sự lý giải thỏa đáng về mặt bản thể luận đối với lương tâm cho đến khi làm sáng tỏ được không chỉ ai là người được gọi và ai là người cất tiếng gọi, mà còn cả mối tương quan giữa kẻ được kêu gọi với kẻ cất tiếng gọi, cũng như cách thức mà ‘mối quan hệ’ này cần được nhìn nhận về phương diện bản thể luận—như một phương thức kết nối giữa họ ngay trong chính Hữu thể của mình.
57. Lương tâm như là Tiếng gọi Chăm lo
Lương tâm triệu vời cái Tự ngã của Dasein thoát khỏi tình trạng lưu lạc trong das Man cái ‘họ’. Cái Tự ngã được tiếng gọi này nhắm đến vẫn bất định và trống rỗng trong cái ‘là gì’ của nó. Khi Dasein tự diễn giải bản thân dựa trên những gì nó bận tâm, thì tiếng gọi ấy vượt qua khỏi hình ảnh mà Dasein – theo cách thức gần gũi và phổ biến nhất – thường dùng để tự hiểu về chính mình. Tuy nhiên, cái Tự ngã ấy đã thực sự được chạm đến, một cách dứt khoát và không thể nhầm lẫn. Tiếng gọi không chỉ hướng đến người được gọi vốn ‘không thiên vị bất kỳ ai’, mà ngay cả chủ thể cất tiếng gọi cũng lồ lộ kẹt trong một tình trạng bất định. Nếu ta hỏi về tên tuổi, địa vị, nguồn gốc hay danh tiếng của chủ thể cất tiếng gọi, nó không chỉ từ chối trả lời mà còn không để lại bất kỳ cơ hội nào để ta biến nó thành một thứ gì đó quen thuộc – điều thường xảy ra khi sự hiểu biết về Dasein mang định hướng ‘thế tục’. Mặt khác, nó hoàn toàn không che giấu bản thân trong tiếng gọi. Thứ cất lên tiếng gọi ấy đơn giản là giữ khoảng cách với mọi cách thức trở nên nổi tiếng, và điều đó thuộc về bản chất hiện tượng của nó. Việc để bản thân bị lôi cuốn vào sự bàn tán hay xem xét của người đời đi ngược lại với loại Hữu thể của nó.5 Tính bất định đặc thù của kẻ gọi và việc không thể xác định rõ hơn cái kẻ gọi đó là gì không phải là hư vô; chúng là những đặc điểm mang tính khẳng định đối với nó. Chúng cho ta thấy rằng kẻ gọi chỉ chuyên tâm vào việc triệu vời ta hướng tới một điều gì đó, và nó chỉ được lắng nghe đúng với tư cách ấy, và hơn nữa, nó không để mình bị dụ dỗ. Nhưng nếu vậy, chẳng phải việc gác lại câu hỏi ‘kẻ cất tiếng gọi là gì’ là hoàn toàn phù hợp với hiện tượng này sao? Đúng vậy, khi ta lắng nghe tiếng gọi thật của lương tâm theo cách existentiell thực hữu cá nhân cụ thể, nhưng không phải khi ta phân tích theo nghĩa existentially cấu thành hữu thể về thực tính của hành động gọi và existentiality tính cấu thành hữu thể của hành động lắng nghe.
[Tr.320] Nhưng liệu có thực sự cần thiết phải liên tục đặt ra câu hỏi một cách tường minh rằng ai là kẻ cất tiếng gọi hay không? Chẳng phải câu hỏi về việc tiếng gọi hướng đến ai đã được giải đáp cho Dasein một cách dứt khoát như câu hỏi về chính tiếng gọi đó hay sao? Trong lương tâm, Dasein tự gọi chính mình. Sự thấu hiểu về kẻ gọi này có thể tỉnh thức ở mức độ nhiều hay ít trong quá trình thực sự lắng nghe tiếng gọi. Tuy nhiên, xét về mặt bản thể luận, sẽ không đủ nếu chỉ trả lời rằng Dasein đồng thời vừa là kẻ gọi vừa là kẻ mà tiếng gọi hướng tới. Khi Dasein được gọi, chẳng phải nó đang ‘có đó’ theo một cách khác biệt so với khi chính nó thực hiện hành động gọi hay sao? Liệu ta có thể nói rằng cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-nó có đóng vai trò là kẻ gọi không? Quả thực, tiếng gọi chính là cái mà bản thân chúng ta không hề lên kế hoạch, chuẩn bị hay chủ động thực hiện, và chúng ta cũng chưa từng làm như vậy. ‘Nó’ cất tiếng gọi,6 bất chấp những kỳ vọng và thậm chí cả ý muốn của chúng ta. Mặt khác, tiếng gọi chắc chắn không đến từ một kẻ nào khác đang cùng hiện diện với tôi trong thế giới. Tiếng gọi đến từ chính tôi nhưng đồng thời cũng đến từ một nơi vượt ra ngoài tôi.7
Những phát hiện mang tính hiện tượng này không thể bị gạt bỏ hay giải thích một cách hời hợt. Suy cho cùng, chúng đã được dùng làm điểm khởi đầu để lý giải tiếng nói lương tâm như một thế lực xa lạ chi phối Dasein. Nếu phép diễn giải tiếp tục theo hướng này, thì người ta sẽ gán cho thế lực được giả định đó một chủ thể sở hữu,8 hoặc coi chính thế lực ấy là một nhân vị tự bộc lộ—cụ thể là Thượng đế. Ngược lại, người ta cũng có thể cố gắng bác bỏ cách giải thích coi kẻ cất tiếng gọi là biểu hiện xa lạ của một thế lực như vậy, đồng thời tìm cách lý giải lương tâm về phương diện ‘sinh học’. Cả hai cách giải thích này đều bỏ qua những phát hiện hiện tượng một cách quá vội vàng. Những cách tiếp cận như vậy được thúc đẩy bởi một luận điểm chỉ đạo—vốn không được diễn đạt thành lời nhưng lại mang tính giáo điều về mặt bản thể luận—cho rằng cái gì ‘là’ (nói cách khác, bất cứ điều gì có thật như tiếng gọi) thì nhất thiết phải là một sự vật ‘hiện-diện-vô-tri’, và cái gì không thể được chứng minh một cách khách quan như là ‘hiện-diện-vô-tri’ thì đơn giản là không hề tồn tại.
Tuy nhiên, xét về mặt phương pháp luận, điều này là quá vội vàng. Thay vào đó, chúng ta phải kiên định không chỉ với phát hiện mang tính hiện tượng rằng tôi tiếp nhận tiếng gọi như thể nó đến từ cả chính tôi lẫn từ bên ngoài tôi, mà còn với hàm ý rằng hiện tượng này—ở đây—được phác họa về mặt bản thể luận như là một hiện tượng của Dasein. Chỉ có cấu trúc cấu thành hữu thể của thực thể này mới có thể cung cấp cho chúng ta manh mối để diễn giải về loại Hữu thể của cái ‘nó’ vốn cất lên tiếng gọi đó. Liệu phép phân tích trước đây của chúng ta về trạng thái Hữu thể của Dasein có chỉ ra cách thức để hiểu được—về mặt bản thể luận—loại Hữu thể thuộc về kẻ gọi, và cùng với nó, loại Hữu thể thuộc về chính hành động gọi hay không? Việc tiếng gọi không phải là điều do tôi thực hiện một cách tường minh, mà đúng hơn [tr.321] là ‘nó’ thực hiện hành động gọi, không biện minh cho việc tìm kiếm kẻ gọi ở một thực thể nào đó có đặc tính khác với Dasein. Tuy nhiên, mọi Dasein đều luôn hiện hữu thực tính. Nó không phải là một sự tự phóng chiếu lơ lửng tự do; trái lại, đặc tính của nó được quy định bởi trạng thái bị ném vào như là một Sự thật của chính cái thực thể là bản thân nó; và khi được quy định như vậy, trong mỗi trường hợp, nó đã được phó mặc cho việc hiện hữu, và luôn duy trì trạng thái đó. Dẫu vậy, Faktizität/ facticity [事實性 sự thật tính] thực tính của Dasein về bản chất lại khác biệt với Tatsächlichkeit/ factuality [實際性 thật tế tính] Tính thực tế của một cái gì đó ‘hiện-diện-vô-tri. [Chen ngang: Đối với Heidegger, sự khác biệt giữa Faktizität/ facticity Thực tính của Dasein và Tatsächlichkeit/ factuality Thực tế tính của các sự vật nằm ở cách thức một hiện hữu được bắt gặp và liệu nó có mối liên hệ mang tính trải nghiệm và tính thời gian với chính sự tồn tại của nó hay không. 1). Faktizität/ facticity Thực tính của Dasein bao gồm: i) Geworfenheit/ Thrownness Trạng thái bị ném vào – Thực tính đề cập đến trạng thái Dasein hiện hữu người ‘bị ném vào’ một hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và gia đình cụ thể mà chính nó không hề lựa chọn hay tạo ra; ii) Mang tính trải nghiệm và ý nghĩa – Thực tính đó không phải là tập hợp các dữ liệu chết hay trung tính; trái lại, đó là một reality thực tại đang vận hành mà Dasein chủ động mang theo, diễn giải và phản hồi thông qua các tâm thế và những lựa chọn của mình; iii) Thực tính đó gắn bó mật thiết với phép phóng chiếu – Thực tính không thể tách rời khỏi existentiality tính cấu thành hữu thể của Dasein - năng lực phóng chiếu bản thân hướng tới các khả tính trong tương lai; Dasein không bao giờ chỉ là tập hợp các ràng buộc của quá khứ, mà là sự dấn thân sống động vào chính những ràng buộc đó; iv) Thực tính đó mang tính bản thể luận vì đặc tính cấu thành hữu thể của nó - nó thuộc về chính cấu trúc Hữu thể của Dasein với tư cách Sorge ‘Chăm lo’. 2). Tatsächlichkeit/ factuality Tính thực tế bao gồm: i) Các sự kiện khách quan, thuần túy - Tính thực tế áp dụng cho các thực thể không phải là Dasein—chẳng hạn như các vật thể vật lý, công cụ hoặc các hiện tượng tự nhiên; ii) Bản chất của Tính thực tế là Vorhanden hiện-diện-vô-tri; đây chỉ đơn thuần là các thuộc tính, sự kiện hoặc trạng thái khách quan, ví dụ một tảng đá có trọng lượng nhất định, một sự kiện xảy ra vào một năm cụ thể có thể được quan sát một cách trung lập hoặc theo phương pháp khoa học; iii) Tính thực tế không có chiều góc cấu thành hữu thể: Các sự vật mang Tatsächlichkeit/ factuality tính thực tế theo nghĩa thuần túy kategorial phạm trù hoặc ontic thực hữu; chúng không ‘sở hữu’, diễn giải hay quan tâm đến các sự kiện của mình, cũng như không phóng chiếu các khả tính vào tương lai.-HHN]. Dasein vẫn tồn tại không bắt gặp chính mình như một vật thể hiện-diện-vô-tri trong-thế-giới. Nhưng cái trạng thái bị-ném-vào cũng không gắn liền với Dasein như một đặc điểm không thể tiếp cận và chẳng có ý nghĩa gì đối với sự tồn tại của nó. Là một thực thể bị-ném-vào, Dasein đã bị ném vào hiện hữu. Nó tồn tại như một thực thể buộc phải là chính nó—như nó hiện tại và như nó có thể trở thành.
Việc nó tồn tại một cách thực tính như vậy có thể vẫn còn mơ hồ và bị che giấu xét về cái ‘tại sao’ của nó; nhưng chính cái Dass-sein ‘nó-có-đó’ đã tự phơi bày cho Dasein.9 Trạng thái bị-ném-vào của thực thể này thuộc về tính khai mở của cái ‘có-đó’ và liên tục tự bộc lộ trong trạng tâm thế hiện thời của nó. Tâm thế này đưa Dasein—một cách ít nhiều tường minh và đích thực—đối diện với sự thật rằng ‘đó-là-nó’, và nó phải là một cái gì đó với một tiềm-năng-cho-Hữu-thể với tư cách là nó chính là cái thực thể đó.10 Tuy nhiên, phần lớn thời gian, tâm trạng của nó lại khiến cho trạng-thái-ném-vào này bị che lấp. Khi đối diện với trạng-thái-bị-ném-vào của mình, Dasein trốn chạy để tìm sự nhẹ nhõm với cái tự do giả tạo của cái ‘Tự-ngã-họ’. Cuộc trốn chạy này được mô tả như một hành động chạy trốn khỏi cái Unheimlichkeit tình cảnh ‘bất an không nhà’—yếu tố về cơ bản mang tính quyết định đối với cái Hữu-thể-trong-thế-giới cá nhân hóa. Cảm giác bất an không nhà này tự bộc lộ một cách đích thực trong tâm thế cơ bản là lo âu; và, với tư cách là cách thức cơ bản nhất mà qua đó Dasein vốn bị-ném vào đời được khai mở, nó đặt cái Hữu-thể-trong-thế-giới của Dasein đối diện với cái ‘hư vô’ ấy của thế giới; trước cái ‘hư vô’ này, Dasein cảm thấy lo âu về chính tiềm-năng-cho-Hữu-thể cốt lõi nhất của mình. Sẽ ra sao nếu cái Dasein này—kẻ đang thấy mình nằm sâu trong cảm giác bất an không nhà của chính nó—lại chính là kẻ cất lên tiếng gọi của lương tâm? Không có gì phủ nhận điều này; trái lại, tất cả những hiện tượng mà chúng ta đã trình bày trước đó để mô tả kẻ-gọi và hành động gọi của nó đều ủng hộ giả thuyết này.
Trong cái ‘ai’ của nó, kẻ-gọi hoàn toàn không thể được định nghĩa theo cung cách ‘có tính trần thế’. Kẻ-gọi chính là Dasein trong trạng thái bất an không nhà của nó: loại Hữu-thể-trong-thế-giới bản nguyên, bị-ném vào đời với tư cách là kẻ ‘không-ở-nhà’—một sự hiện hữu trần trụi ‘đó-là-nó’ giữa cái ‘hư vô’ của thế giới. Kẻ gọi này xa lạ đối với cái Tự-ngã-họ thường nhật; nó tựa như một giọng nói xa lạ. Còn điều gì xa lạ hơn đối với cái ‘họ’ — vốn đang lạc lối trong [tr.322] cái ‘thế giới’ đa tạp của những mối bận tâm của nó — so với cái Tự ngã vốn đã được cá nhân hóa thành tự thân nó trong tình trạng bất an không nhà và bị ném vào cái ‘hư vô’? ‘Nó’ cất tiếng gọi, mặc dù chẳng mang lại điều gì cho đôi tai vốn tò mò và bận tâm kia để có thể kể lại hay phiếm đàm nơi công cộng. Nhưng Dasein có thể tường thuật điều gì từ tình trạng bất an không nhà của cái Hữu-thể-bị-ném-vào của nó? Còn lại gì cho nó ngoài cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của riêng nó được bộc lộ trong nỗi lo âu? Và ‘nó’ có thể cất tiếng gọi bằng cách nào khác ngoài việc triệu vời Dasein hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể này — điều duy nhất thực trở thành vấn đề quan trọng?
Tiếng gọi không tường thuật các sự kiện; nó gọi mà không thốt ra bất cứ lời nào. Tiếng gọi diễn ngôn theo phương thức bất an không nhà của sự im lặng. Và nó làm điều này chỉ vì, khi lên tiếng gọi cái kẻ được nhắm đến, nó không lôi kéo kẻ ấy vào những phiếm đàm công cộng của cái ‘họ’, mà gọi kẻ ấy rời nơi đó quay trở lại với trạng thái kín tiếng của tiềm-năng-cho-Hữu-thể vẫn hiện hữu ở chính hắn. Khi kẻ gọi chạm đến cái kẻ được nhắm đến, nó mang theo một sự xác tín lạnh lùng — một sự xác tín đầy bất an không nhà nhưng hoàn toàn không minh nhiên. Cơ sở cho sự xác tín này nằm ở đâu, nếu không phải ở chỗ: khi Dasein đã được cá nhân hóa về với tự thân trong tình trạng đầy bất an không nhà ấy, tự thân nó trở thành một cái gì đó tuyệt đối không thể bị nhầm lẫn với bất cứ thứ gì khác? Điều gì đã triệt để tước bỏ của Dasein cái khả tính tự hiểu lầm mình thông qua bất kỳ kiểu ‘bào chữa’ hay ‘lý do thoái thác’ nào để không nhận ra chính mình, nếu không phải là tình trạng Verlassenheit bị-bỏ-mặc cho chính mình?
Trạng thái bất an không nhà là dạng thức cơ bản của Hữu-thể-trong-thế-giới, mặc dù trong đời sống thường nhật, nó đã bị che lấp. Từ chiều sâu của loại Hữu thể này, chính Dasein—với tư cách là lương tâm—đã cất tiếng gọi. Việc ‘es ruft mich’ ‘nó gọi tôi’ là một loại diễn ngôn đặc thù đối với Dasein. Tiếng gọi với tâm trạng được định hình bởi lo âu—chính là điều kiện tiên quyết cho phép Dasein phóng chiếu bản thân mình vào tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính nó. Tiếng gọi của lương tâm, khi được thấu hiểu về phương diện cấu thành hữu thể, lần đầu tiên làm sáng tỏ cái mà trước đây chúng ta mới chỉ dừng lại ở mức phỏng đoánvii rằng trạng thái bất an không nhà luôn đeo bám Dasein và đe dọa trạng thái đánh mất chính mình vào nơi mà Dasein đã đánh mất mình trong đó. Cái mệnh đề cho rằng Dasein đồng thời vừa là kẻ gọi vừa là kẻ được gọi nay đã không còn mang tính hình thức sáo rỗng hay vẻ hiển nhiên đơn thuần nữa. Lương tâm tự biểu hiện như là tiếng gọi của ‘chăm lo’: kẻ gọi chính là Dasein—kẻ mà trong trạng thái ‘bị ném vào’ (trong cái Hữu-thể-đã-ở-trong), luôn mang nỗi lo âu11 về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình. Kẻ được gọi cũng chính là Dasein ấy, được triệu vời hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của mình (vượt trước chính mình...). Dasein đang rơi vào cái ‘họ’ (trong Hữu-thể-đã-ở bên cạnh cái thế giới mà nó quan tâm), và tiếng gọi ấy triệu vời nó thoát khỏi tình trạng sa ngã kia. Tiếng gọi của lương tâm—hay chính là bản thân lương tâm—có cái [tr.323] khả tính bản thể luận của nó ở sự thật là Dasein, ngay trong nền tảng Hữu thể của nó, chính là ‘chăm lo’.
Do đó, chúng ta không cần phải viện đến những quyền năng có tính chất khác biệt với Dasein; thực vậy, việc trông cậy vào những sức mạnh đó chẳng những không làm sáng tỏ được trạng thái bất an không nhà của tiếng gọi, mà trái lại, còn triệt tiêu nó. Suy cho cùng, chẳng phải lý do khiến các cách ‘giải thích’ về lương tâm đi chệch hướng nằm ở chỗ chúng ta đã không quan sát đủ lâu để xác lập những phát hiện mang tính hiện tượng về tiếng gọi ấy, và ở chỗ ta đã mặc định Dasein sở hữu một loại trạng thái xác định hay bất định nào đó về mặt bản thể luận, cho dù nó có rơi vào hoàn cảnh nào đi nữa? Tại sao ta lại phải tìm kiếm thông tin từ những quyền năng xa lạ trước khi chắc chắn rằng, ngay khi bắt đầu phân tích, ta đã không đánh giá quá thấp Hữu thể của Dasein—khi coi nó như một chủ thể vô hại được phú cho ý thức cá nhân và tồn tại theo một cách thức hoặc ngẫu nhiên nào khác? Tuy nhiên, nếu kẻ gọi—vốn ‘không là ai cả’ khi nhìn theo cung cách của cái thế giới— được diễn giải như một quyền năng, thì điều này dường như là sự thừa nhận vô tư về một thứ gì đó mà ta có thể ‘bắt gặp một cách Khách quan’. Thế nhưng, khi nhìn nhận đúng đắn, cách diễn giải này thực chất chỉ là hành động trốn chạy khỏi lương tâm—một cách để Dasein lẩn tránh khỏi cái bức vách mỏng manh ngăn cách das Man cái ‘họ’ với trạng thái bất an không nhà trong Hữu thể của chính nó.
Phép diễn giải về lương tâm này tự khoác lên mình vẻ ngoài của việc thừa nhận tiếng gọi như một mệnh lệnh có tính ràng buộc ‘phổ quát’, cất lên theo cách ‘không chỉ mang tính chủ quan’. Hơn nữa, thứ lương tâm ‘phổ quát’ ấy còn được tôn lên thành ‘lương tâm-thế giới’—một thứ vẫn mang đặc tính hiện tượng của cái ‘nó’ và ‘không ai cả’, nhưng lại cất tiếng—ngay trong ‘chủ thể’ cá nhân—như một cái gì đó bất định. Nhưng cái ‘lương tâm công cộng’ này—nó là gì nếu không phải là tiếng nói của cái ‘họ’? ‘Lương tâm-thế giới’ là một sự hư cấu đáng ngờ; và Dasein chỉ có thể đi đến quan niệm này bởi lẽ lương tâm, xét về nền tảng và bản chất, luôn là của chính tôi—không chỉ theo nghĩa tiếng gọi ấy hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của một kẻ, mà còn bởi tiếng gọi ấy xuất phát từ chính cái thực thể là bản thân tôi trong mỗi trường hợp cụ thể. Với phép Diễn giải về kẻ gọi này—một cách diễn giải hoàn toàn phù hợp với tính chất hiện tượng của chính tiếng gọi—thì cái ‘quyền năng’ của lương tâm không hề bị suy giảm hay bị biến thành ‘thuần túy mang tính chủ quan’. Trái lại, chỉ bằng cách này, tính tất yếu và tính dứt khoát, không thể chối cãi của tiếng gọi mới thực sự trở nên tự do. Phép Diễn giải này lần đầu tiên thực sự tôn trọng cái ‘Khách thể tính’ của lời kêu gọi bằng cách chấp nhận cái ‘chủ thể tính’ của nó—điều tất nhiên sẽ tước bỏ quyền chi phối của cái Tự-ngã-họ. Tuy nhiên, cách lý giải lương tâm như là tiếng gọi của ‘chăm lo’ sẽ vấp phải câu hỏi: liệu có thể đứng vững được không nếu một cách lý giải về [tr.324] lương tâm lại tách biệt quá xa khỏi ‘trải nghiệm tự nhiên’? Làm sao lương tâm có thể đóng vai trò là kẻ triệu vời ta hướng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực nhất của chính mình, trong khi ở mức độ gần gũi và phổ biến nhất, nó dường như chỉ đưa ra những lời cảnh báo và quở trách? Phải chăng lương tâm lên tiếng về cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của ta một cách mơ hồ và trống rỗng như vậy? Hay đúng hơn, chẳng phải nó lên tiếng một cách dứt khoát và cụ thể về những thất bại, thiếu sót đã xảy ra hoặc những điều ta còn phải đối mặt hay sao? Liệu lời kêu gọi được đề cập đó xuất phát từ một lương tâm ‘xấu’ hay một lương tâm ‘tốt’? Liệu lương tâm có mang lại cho ta bất cứ điều gì tích cực không? Hay nó chỉ hoạt động theo cách thức phê phán mà thôi?
Nhưng điều mà lương tâm chứng thực chỉ trở nên hoàn toàn xác định khi ta đã vạch rõ đặc tính lắng nghe vốn thực sự tương ứng với việc gọi. Sự thấu hiểu đích thực ‘tiếp nối’ tiếng gọi không phải là một yếu tố bổ sung đơn thuần gắn vào hiện tượng lương tâm thông qua một quá trình có thể xảy ra hoặc không. Chỉ từ sự thấu hiểu tiếng gọi và cùng với sự thấu hiểu đó, ta mới có thể nắm bắt được trọn vẹn Trải nghiệm về lương tâm. Nếu trong mọi trường hợp, kẻ gọi và kẻ được gọi đều chính là bản thân Dasein, thì bất kỳ tính trạng không nghe thấy tiếng gọi hay sự lắng nghe sai lệch về bản thân đều hàm chứa một loại Hữu thể xác định của Dasein. Về phương diện cấu thành hữu thể, một tiếng gọi lơ lửng không dẫn đến kết quả gì là một điều hư cấu bất khả. Đối với Dasein, việc ‘không dẫn đến kết quả gì’ lại mang một ý nghĩa tích cực. Do đó, chỉ bằng phép phân tích cách thức tiếng gọi được thấu hiểu, ta mới có thể đi đến thảo luận một cách tường minh về cái mà tiếng gọi truyền tải cho ta hiểu. Tuy nhiên, chỉ với sự mô tả khái quát mang tính hữu thể luận về lương tâm đã nêu ở trên, ta mới có thể hình dung theo cách cấu thành hữu thể về tiếng gọi [tr.325] ‘Có tội!’ 12 của lương tâm. Mọi trải nghiệm và phép diễn giải về lương tâm đều thống nhất ở điểm: chúng khiến cho ‘tiếng nói’ của lương tâm cất lên, theo một cách nào đó, về ‘tội lỗi’.
58. Thấu hiểu Tiếng gọi và Tội lỗi
Để nắm bắt về phương diện hiện tượng những gì ta nghe được khi hiểu lời kêu gọi, ta cần quay trở lại xem xét lời kêu gọi đó một lần nữa. Lời kêu gọi hướng tới ‘Tự-ngã-họ’ mang ý nghĩa triệu hồi cái ‘Tự ngã’ đích thực nhất của mỗi người về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình—và tất nhiên, đó với tư cách là Dasein, tức là một Hữu-thể-trong-thế-giới đầy quan tâm và là Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác. Do đó, khi Diễn giải theo cách cấu thành hữu thể về điều mà tiếng gọi hướng tới, ta không thể cố gắng khu biệt bất kỳ khả tính tồn tại cụ thể, đơn lẻ nào, miễn là ta hiểu đúng các khả tính và nhiệm vụ phương pháp luận mà một cách lý giải như vậy hàm chứa. Cái có thể được xác lập—và cũng là cái hướng tới được xác lập— lại không phải là cái được triệu vời và đến cái triệu vời với mỗi Dasein xét từ lập trường existentiell thực hữu cá nhân cụ thể, mà thay vào đó là điều kiện existential cấu thành hữu thể cho cái khả tính của tiềm-năng-cho-Hữu-thể thực hữu cá nhân cụ thể thực tính của nó.13
Khi tiếng gọi được thấu hiểu bằng một cách lắng nghe mang tính thực hữu cá nhân cụ thể, thì sự thấu hiểu đó càng trở nên đích thực khi Dasein lắng nghe và thấu hiểu cái Hữu-thể-được-gọi-về của riêng nó theo cách không-liên-đới, và khi ý nghĩa của lời kêu gọi ít bị bóp méo bởi những gì người đời bàn tán hay bởi những chuẩn mực được coi là phù hợp và được chấp nhận. Vậy, điều gì hàm chứa cốt yếu khi lời kêu gọi được thấu hiểu đích thực? Đâu là điều cốt yếu mà lời kêu gọi mang lại cho ta để thấu hiểu tại bất kỳ thời điểm nào, ngay cả khi trên thực tế, không phải lúc nào nó cũng được thấu hiểu?
Tuy nhiên, chúng ta đã trả lời câu hỏi này trong luận điểm cho rằng tiếng gọi không ‘nói’ bất cứ điều gì có thể trở thành chủ đề bàn luận, cũng như không cung cấp thông tin về các sự kiện. Tiếng gọi hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của Dasein, và nó thực hiện điều này như một tiếng gọi xuất phát từ trạng thái bất an không nhà.14 Quả thực, kẻ gọi là bất định; nhưng cái ‘nguồn cội’ phát ra tiếng gọi lại vẫn được coi là yếu tố không quan trọng đối với chính hành động gọi đó. Cái ‘nguồn cội’ này—tức là trạng thái bất an không nhà của cái cá nhân hóa do bị-ném-vào-thế-giới—cũng được gọi lên cùng với tiếng gọi; nghĩa là, nó cũng được khai mở cùng lúc. Khi tiếng gọi thúc giục ta hướng về một điều gì đó, thì ‘nguồn cội’ của hành động gọi lại chính là cái ‘đích đến’ mà ta được gọi quay trở về. Khi tiếng gọi mang đến cho ta một tiềm-năng-cho-Hữu-thể để thấu hiểu, thì nó không đưa ra một tiềm năng mang tính lý tưởng hay phổ quát; thay vào đó, nó khai mở cái tiềm năng ấy như một thứ đã được cá nhân hóa trong hiện tại và vốn thuộc về chính cái Dasein cụ thể đó. Ta chưa thể xác định trọn vẹn bản chất của tiếng gọi như một khai mở cho đến khi hiểu nó là tiếng gọi vừa thúc giục ta hướng tới phía trước, lại vừa gọi ta quay trở về. Nếu thấu hiểu tiếng gọi theo cách này và định hướng bản thân dựa vào nó, trước hết phải tự hỏi nó mang lại điều gì để thấu hiểu.
Nhưng liệu câu hỏi về điều mà tiếng gọi ấy lên tiếng chẳng phải sẽ được giải đáp dễ dàng và chắc chắn hơn nếu chúng ta ‘đơn giản’ chỉ cần viện dẫn đến cái mà ta thường nghe thấy—hoặc không nghe thấy—trong bất kỳ trải nghiệm nào về lương tâm hay sao: cụ thể là việc tiếng gọi hoặc trực tiếp kêu Dasein là ‘Có tội!’, hoặc—như trong trường hợp lương tâm đưa ra lời cảnh báo—ám chỉ đến một khả năng ‘Có tội!’ có thể xảy ra, hoặc khẳng định (với tư cách là một lương tâm ‘tốt’) cái khả năng mà ta ‘không ý thức được bất kỳ tội lỗi nào’? Dù lương tâm được trải nghiệm hay diễn giải theo cách nào đi nữa, thì mọi trải nghiệm của chúng ta đều ‘đồng thuận’ về điều này: ‘Có tội!’. Giá mà nó không bị định nghĩa theo những cách hoàn toàn khác biệt đến thế! Và ngay cả khi ý nghĩa của từ ‘Có tội!’ này có thể được hiểu theo một cách mà mọi người đều đồng thuận, thì cái quan niệm cấu thành hữu thể về cái Hữu-thể-tội-lỗi này vẫn sẽ còn mơ hồ.
Tuy nhiên, nếu Dasein tự gọi chính mình là ‘Có tội!’, thì nó có thể lấy ý niệm về tội lỗi từ đâu nếu không phải từ phép Diễn giải về chính Hữu thể của nó? Dẫu vậy, câu hỏi mới lại nảy sinh: ai là kẻ nói cho ta biết ta có tội như thế nào và ‘tội lỗi’ có nghĩa là gì? Mặt khác, ý niệm về tội lỗi không phải là thứ có thể được tưởng tượng ra một cách tùy tiện rồi áp đặt lên Dasein. Nếu việc thấu hiểu bản chất của tội lỗi là khả thể, thì cái khả tính đó hẳn đã phải được phác thảo sẵn trong Dasein. Làm thế nào để ta tìm ra manh mối dẫn đến việc hé lộ hiện tượng này? Mọi khảo sát bản thể luận về các hiện tượng như tội lỗi, lương tâm và cái chết đều phải bắt đầu từ những gì mà phép diễn giải thường nhật về Dasein ‘nói’ về chúng. Bởi vì Dasein với tư cách là loại Hữu thể ‘sa ngã’, nên cách Dasein được diễn giải phần lớn đều bị ‘định hướng’ theo lối không-chân-thực và không chạm tới được ‘bản chất’; lý do là vì phương thức đặt câu hỏi mang tính hữu thể luận thích hợp theo cách bản nguyên vẫn còn xa lạ đối với Dasein. Tuy nhiên, bất cứ khi nào ta nhìn nhận sai lệch về một điều gì đó, thì đồng thời cũng hé lộ một chỉ dẫn nào đó về cái ‘ý niệm’ bản nguyên của hiện tượng ấy.
Thế nhưng, ta sẽ lấy đâu ra cái tiêu chuẩn cho ý nghĩa cấu thành hữu thể bản nguyên của từ ‘Có tội!’? Từ thực tế là kẻ ‘Có tội!’ này xuất hiện như một vị ngữ cho cái ‘Tôi là’. Vậy thì liệu có thể điều được hiểu là ‘có tội’ trong cách diễn giải thiếu tính chân thực của chúng ta lại nằm ngay trong chính Hữu thể của Dasein, và nằm ở chỗ: hễ Dasein nào thực sự hiện hữu trên thực tế, thì Dasein đó cũng có tội? Như vậy, việc viện dẫn tiếng gọi ‘Có tội!’ — vốn ai cũng thừa nhận là mình nghe thấy — vẫn chưa giải đáp được câu hỏi về ý nghĩa cấu thành hữu thể của cái [tr.327] đã được xướng lên trong tiếng gọi đó. Cái được gọi lên cần phải khái niệm hóa trước tiên nếu ta muốn hiểu ý nghĩa của tiếng gọi ‘Có tội!’, cũng như hiểu tại sao và bằng cách nào mà ý nghĩa của nó bị biến dạng qua cách diễn giải thường nhật. Quan niệm thông thường hàng ngày trước hết hiểu Schuldigsein ‘Hữu-thể-có-tội’ theo nghĩa ‘nợ nần’, là ‘có một khoản phải trả’.15 Đó là việc phải hoàn trả cho Kẻ khác một thứ gì đó mà họ có quyền đòi hỏi. Cái Schuldigsein ‘Hữu-thể-có-tội’ hiểu theo nghĩa Schulden haben ‘mắc nợ’ này là một cách thức Hữu-thể-với-những-Kẻ-khác trong phạm vi bận tâm, chẳng hạn như việc cung cấp hay mang đến một cái gì đó. Các phương thức khác của mối bận tâm này bao gồm: tước đoạt, vay mượn, giữ lại, chiếm lấy, trộm cắp, hoặc không đáp ứng — theo cách này hay cách khác — những yêu cầu mà những Kẻ Khác đặt ra đối với các tài sản của họ. Loại ‘Hữu-thể-có-tội’ này gắn liền với những gì mà ta có thể bận tâm đến. ‘Hữu-thể-có-tội’ còn mang ý nghĩa là ‘chịu trách nhiệm về’ — tức là trở thành nguyên nhân hay tác giả của một cái gì đó, hoặc thậm chí chỉ ‘là cái cớ’ dẫn đến sự việc đó. Theo nghĩa ‘có trách nhiệm’ về một điều gì đó, ta có thể ‘có tội’ mà không nhất thiết phải ‘nợ’ bất cứ ai hay rơi vào tình trạng ‘nợ’ kẻ đó. Ngược lại, ta có thể nợ kẻ khác một điều gì đó mà bản thân ta không phải là người chịu trách nhiệm về nó. Một kẻ khác có thể ‘gánh nợ’ với những Kẻ khác ‘thay cho tôi’.16
__________________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 ‘Và nó được triệu gọi đến với điều gì?’ (tr.317)
2 ‘Cái tôi được triệu gọi.’ (tr.318)
3 ‘Theo khuynh hướng triệu gọi của nó, cái tôi được triệu gọi không tự mình chịu sự “thương lượng”, mà đúng hơn, như một lời kêu gọi đến bản thể sâu thẳm nhất của chính nó, nó là một lời kêu gọi hướng tới sự tồn tại vào những khả năng sâu thẳm nhất của chính nó.’ Các động từ ‘anrufen’, ‘aufrufen’ và ‘vorrufen’ đều có thể được sử dụng theo nghĩa pháp lý của một ‘lệnh triệu tập’. (tr.318)
4 ‘…một sự hiểu lầm (một sự hiểu lầm) về lời kêu gọi…’ (tr.318)
5 ‘Nó đi ngược lại bản chất tồn tại của nó khi để bản thân bị cuốn vào sự chiêm nghiệm và thảo luận.’ (tr.319)
6 ‘Nó đang gọi…’ Ở đây, đại từ ‘es’ được sử dụng khá phi cá nhân, và các tài liệu không đề cập lại đến chính ‘lời kêu gọi’ (‘Der Ruf’). (tr.320)
7 “Lời kêu gọi đến từ tôi nhưng lại ở trên tôi.” (tr.320)
8 “…người ta gán cho quyền lực đã được thiết lập một chủ sở hữu…” (tr.320)
9 “Việc nó là sự thật có thể bị che giấu về lý do tại sao, nhưng chính ‘điều đó’ lại được tiết lộ cho Dasein.” (Xem H. 135 ở trên.) (tr.321)
10 “Điều này đưa Dasein đến trước sự tồn tại của nó một cách rõ ràng và đúng đắn hơn, “rằng nó là và phải có khả năng là sự tồn tại mà nó là.”” (tr.321)
11 “…lo lắng…” Các ấn bản cũ hơn có cụm từ “sich iingstend”, về cơ bản có cùng nghĩa và đặc trưng hơn cho phong cách của Heidegger. (tr.322)
12 ‘…để nắm bắt theo cách cấu thành hữu thể “tội lỗi” được kêu gọi trong lương tâm.’ Như Heidegger sẽ chỉ ra, các từ ‘schuldig’, ‘Schuld’ và các từ phái sinh của chúng có nhiều nghĩa khác nhau, không chỉ tương ứng với ‘món nợ’, như chúng ta đã thấy ở H. 242 ở trên, mà còn với ‘tội lỗi’ và ‘trách nhiệm’. Trong chương này, chúng ta sẽ dịch chúng bằng ‘guilty’ và ‘guilt’ bất cứ khi nào có thể, mặc dù những cách diễn đạt này không phải lúc nào cũng hoàn toàn phù hợp. (tr.325)
13 ‘Không phải cái được kêu gọi theo cách cấu thành hữu thể trong Dasein tương ứng có thể và sẽ được hợp nhất vào điều này, mà đúng hơn là cái thuộc về điều kiện cấu thành hữu thể của cái khả tính về tiềm- năng-cho-Hữu-thể của Dasein thực tínhg.’ Trong các ấn bản cũ hơn, chúng ta thấy ‘an dieses’ thay vì ‘in dieses’, và ‘zur’ xuất hiện bằng kiểu chữ giãn cách. (tr.325)
14 ‘Lời kêu gọi chỉ ra sự tồn tại tiềm năng của nó, và đó như một lời kêu gọi từ điều kỳ lạ.’ (tr.325)
15 ‘Sự hiểu biết hàng ngày ban đầu diễn giải “có tội” theo nghĩa “nợ”, “có điều gì đó trên lương tâm của ai đó”.’ Mặc dù đây là cách sử dụng rất quen thuộc của từ ‘Schuldigsein’ trong tiếng Đức, nhưng tất nhiên nó không phải là cách sử dụng thông thường của từ ‘being-guilty’ trong tiếng Anh, xuất phát từ một ý nghĩa hoàn toàn khác. (tr.327)
16 ‘Theo nghĩa “có tội” về điều gì đó, người ta có thể “có tội” mà không “nợ” hoặc trở nên “có tội” với người khác. Ngược lại, người ta có thể nợ người khác điều gì đó mà bản thân không có lỗi. Người khác có thể “mắc nợ” với người khác.’ Về ‘trở nên “có tội”, xem chú thích 1 của chúng tôi, tr.334, H. 287 bên dưới. (trang 327)
17 “…điều mà chúng ta gọi là “tự làm cho mình có tội”, tức là vi phạm một quyền và phạm tội bằng cách mắc nợ.” (tr.327)
18 “…trở nên có tội đối với người khác.” (tr.327)
19 “…cơ sở thiếu hụt trong tồn tại của kẻ khác, sao cho chính cơ sở này được xác định bởi bản chất của nó là “thiếu hụt.” (tr.328)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét