Martin Heidegger
Người đọc: Hà Hữu Nga
PHẦN HAI: DASEIN VÀ THỜI GIAN TÍNH
II CHỨNG THỰC CỦA DASEIN VỀ TIỀM-NĂNG-CHO-HỮU-THỂ ĐÍCH THỰC, VÀ TÍNH QUYẾT ĐOÁN
[Tr. 343] Chỉ trong sự im lặng, lương tâm mới cất tiếng gọi; nghĩa là, tiếng gọi ấy khởi phát từ sự tĩnh lặng của Unheimlichkeit/ uncanniness trạng thái bất an không nhà, và Dasein – thực thể được gọi – bị triệu hồi trở về với trạng thái tĩnh lặng của chính mình, trở về như một hiện hữu cần phải đạt đến tĩnh lặng. Do đó, chỉ trong thái độ kín tiếng, thì cái diễn ngôn thầm lặng này mới được thấu hiểu một cách đúng đắn bởi một hiện hữu đang khao khát có được lương tâm. Nó tước đi những ngôn từ vốn thuộc về lối phiếm đàm tầm thường của das Man cái ‘họ’. Cách diễn giải thông thường về lương tâm – vốn chỉ ‘bám chặt vào các sự kiện’ – lại coi cuộc đối thoại thầm lặng của lương tâm như một cái cớ để gạt bỏ nó, cho rằng đó là thứ không thể xác định hay hiện-diện-vô-tri. [Chen ngang: Cụm từ tiếng Đức nguyên gốc mà Heidegger sử dụng trong Sein und Zeit, tr. 296 / GA 2: 393) là: “die verständige Gewissensauslegung, die sich »streng an Tatsachen hält«”: i) Cụm từ ‘die verständige Gewissensauslegung’ được John Macquarrie và Edward Robinson dịch là ‘the common-sense way of interpreting the conscience’ ‘cách diễn giải lương tâm theo lẽ thường’; ii) Cụm từ ‘die sich »streng an Tatsachen hält«’ dịch sát nghĩa là ‘which sticks rigorously to the facts’ ‘bám sát một cách nghiêm ngặt vào các sự kiện’. Ở đây cần phải lưu ý phân biệt giữa hai từ die Tatsache và das Faktum; đối với tôi die Tatsache ‘sự kiện’ là thực tế, có tính thực tế thuộc cấp độ ontish/ontical thực hữu, còn das Faktum là Sự thật, có Thực tính thuộc cấp độ ontologisch/ontological bản thể luận.-HHN]. Việc das Man cái ‘họ’ – những kẻ chỉ nghe và hiểu được những phiếm đàm ồn ào, vô bổ – không thể ‘báo cáo’ lại bất kỳ tiếng gọi nào, đã được dùng để chống lại lương tâm, với lập luận ngụy biện rằng lương tâm là thứ ‘câm lặng’ và rõ ràng là không hiện-diện-vô-tri. Với cách diễn giải này, das Man cái ‘họ’ thực chất chỉ đang che đậy sự bất lực của chính mình trong việc lắng nghe tiếng gọi, cũng như cho thấy rằng khả năng ‘lắng nghe’ của họ chẳng đi đến đâu cả. Như vậy, trạng thái khai mở của Dasein khi khao khát có lương tâm được cấu thành bởi: nỗi lo âu – là một tâm thế; sự thấu hiểu – là phóng chiếu bản thân vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi chỉ của riêng mình; và diễn ngôn – với tư cách kín tiếng.
Trạng thái khai mở đặc thù và đích thực này – vốn được chính lương tâm chứng thực ngay trong Dasein – tức là tự-phóng chiếu kín tiếng vào chính cái Hữu-thể-tội-lỗi chỉ của riêng mình, nơi cá nhân sẵn sàng đón nhận nỗi lo âu – được chúng tôi gọi là ‘tính quyết đoán’. Tính quyết đoán là một phương thức đặc thù trong trạng thái khai mở của Dasein.1 Tuy nhiên, ở một phần trước đó, chúng tôi đã Diễn giải trạng thái khai mở về phương diện cấu thành hữu thể như là cái chân lý bản nguyên.x Loại chân lý như vậy, trước hết, không phải là một phẩm chất của ‘phán đoán’ hay của bất kỳ cách hành xử cụ thể nào, mà là yếu tố cấu thành nên ‘Hữu-thể-trong-thế-giới’. Chân lý phải được hiểu như một yếu tố cấu thành hữu thể nền tảng. Trong quá trình làm sáng tỏ về mặt bản thể luận đối với mệnh đề ‘Dasein ở trong chân lý’, chúng ta đã lưu ý đến trạng thái khai mở bản nguyên của thực thể này, coi đó chính là chân lý của hiện hữu; đồng thời, để xác định rõ đặc tính của nó, chúng ta đã viện dẫn đến phép phân tích về Eigentlichkeit/ authenticity tính chân thực của Dasein. xi
Thông qua tính quyết đoán, chúng ta đã chạm đến chân lý của Dasein – một chân lý bản nguyên nhất vì nó mang tính chân thực. [Chen ngang: Thuật ngữ Entschlossenheit tính quyết đoán của Heidegger vốn là một danh từ bắt nguồn từ động từ entschließen (quyết định, hạ quyết tâm). Bản thân động từ này có chung gốc với từ schließen/ đóng lại, khép lại, kết hợp cùng tiền tố ent- mang nghĩa mở ra, tháo gỡ, hoặc giải phóng. Trong tiếng Đức thông thường, entschlossen có nghĩa là kiên quyết, quả quyết hoặc táo bạo. Tuy nhiên, Heidegger khai thác cấu trúc nội tại của từ này: ông không xem Entschlossenheit là một hành vi ngoan cố của cái tôi hay một ý chí cứng nhắc; thay vào đó, xét về mặt từ nguyên và hiện tượng học, ông hiểu nó là ‘không-bị-đóng-kín’ hay trạng thái ‘mở ra’ (tương tự như thuật ngữ Erschlossenheit – trạng thái khai mở). Ý nghĩa Triết học trong tư tưởng Heidegger: i) Dasein tự mở ra: ‘Quyết đoán’ là năng lực của Dasein hiện hữu người trong việc ‘khai mở’ khuôn khổ khả tính thấu hiểu của chính mình; điều đó có nghĩa là Dasein chấm dứt tình trạng để bản thân bị cuốn trôi một cách thụ động vào đám đông das Man cái ‘họ’ và bắt đầu trở nên sáng tỏ đối với hoàn cảnh cụ thể của chính mình; ii) Lắng nghe tiếng gọi của lương tâm - trạng thái này được mô tả là ‘khát vọng có được lương tâm’, trong đó Dasein lắng nghe tiếng gọi thầm lặng của lương tâm – tiếng gọi thúc giục Dasein quay trở về với cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chính mình; iii) Không phải là ý chí ngoan cố - Heidegger phân biệt rõ ràng Entschlossenheit tính quyết đoán với sự bướng bỉnh, ngoan cố thường ngày hay một quyết định đạo đức mù quáng. Nó không có nghĩa là cố chấp áp đặt một kế hoạch lên thế giới, thay vì đó là một thái độ tỉnh táo, đã kinh qua lo âu, sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì khả thể trong hoàn cảnh thực tế của cá nhân; iv) Hoàn cảnh – tính quyết đoán tạo ra một ‘hoàn cảnh’ đích thực thay vì chỉ là một hành động mù quáng; nó nắm bắt các khả tính cụ thể, mang tính lịch sử, thay vì trốn chạy vào các lý thuyết trừu tượng hay những sự xao nhãng trong đời sống thường nhật; v) Tính quyết đoán hướng tới tương lai - khi kết hợp với nhận thức về cái chết/tính hữu tử của chính mình, nó trở thành ‘tính quyết đoán hướng tới tương lai’ – cấu trúc cốt lõi của Eigentlichkeit tính chân thực.-HHN]
Bất cứ khi nào một cái ‘có đó’ được khai mở, thì toàn bộ cái Hữu-thể-trong-thế-giới của nó – nghĩa là thế giới, Hữu-thể-trong, và cái Tự ngã mà thực thể này thể hiện qua khẳng định ‘Tôi là’ – đều được khai mở với cùng một trạng thái đồng bản nguyên.2 Mỗi khi thế giới được khai mở, các thực thể ở-trong-thế-giới cũng đã được [tr.344] khám phá từ trước. Việc các thực thể – dù ở dạng sẵn-có-để-dùng hay hiện-diện-vô-tri được khám phá, đều dựa trên nền tảng là sự khai mở của thế giớixii bởi lẽ, để toàn bộ các can dự hiện thời được tự do, thì trước hết, ý nghĩa của chúng phải được thấu hiểu. Trong quá trình thấu hiểu ý nghĩa này, Dasein – với tư cách là thực thể luôn quan tâm – đã hướng tầm nhìn bao quát của mình vào những gì nó bắt gặp như là các thực thể sẵn-có-để-dùng. Mọi hành vi khám phá một tống thể các can dự đều bắt nguồn từ một loại ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’; và chính sự thấu hiểu về ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ này lại là cơ sở cho việc thấu hiểu ý nghĩa – tức là sự khai mở của thế giới hiện thời. Khi tìm kiếm nơi trú ẩn, thức ăn hay sinh kế, chúng ta thực hiện những điều đó ‘vì-mục-đích-của’ những khả tính thường trực của chính Dasein – những khả tính vốn rất gần gũi với nó;3 chính trên những khả tính này, cái Hữu-thể mà đối với nó, sự hiện hữu của chính mình là một vấn đề cần giải quyết, lại đã tự phóng chiếu bản thân.
‘Bị ném vào’ thành cái ‘có-đó’ của mình, mỗi Dasein đều đã thực sự bị đặt vào một ‘thế giới’ xác định – đó chính là cái ‘thế giới’ của riêng nó. Đồng thời, các phóng chiếu thực tế gần gũi nhất với Dasein lại thường bị dẫn dắt bởi trạng thái ‘đánh mất mình’ của nó trong sự bận tâm giữa das Man cái ‘họ’. Dasein có thể tự hướng về trạng thái ‘đánh mất mình’ này, và sự hướng về đó có thể được thấu hiểu thông qua thái độ quyết đoán. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, trạng thái khai mở đích thực này làm biến đổi—với cùng một tính bản nguyên—cả cách thức mà ‘thế giới’ được khám phá (vốn dựa trên chính trạng thái khai mở ấy) lẫn cách thức mà Dasein—trong sự hiện hữu cùng những Kẻ Khác—được khai mở. ‘Thế giới’ vốn sẵn-có-để-dùng không hề thay đổi về ‘nội dung’, và phạm vi những Kẻ Khác cũng không bị thay thế; ngược lại, cả cái Hữu-thể hướng đến cái sẵn-có-để-dùng (thông qua thấu hiểu và bận tâm), lẫn cái Hữu-thể với những Kẻ Khác, giờ đây đều mang một đặc tính xác định, bắt nguồn từ chính cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó riêng tư nhất.
Tính quyết đoán, với tư cách là Hữu-thể-Tự-ngã-của-ai-đó thực sự, không tách rời Dasein hiện hữu người khỏi thế giới của nó, cũng không cô lập nó thành một cái ‘Tôi’ lơ lửng, tách biệt. Làm sao có thể như vậy được, khi mà tính quyết đoán – với tư cách là trạng thái khai mở đích thực – thực chất chẳng phải là gì khác ngoài cái Hữu-thể-trong-thế-giới? Tính quyết đoán đưa cái Tự ngã vào ngay trong cái Hữu-thể-bên-cạnh đầy quan tâm hiện tại của nó – là những gì sẵn-có-để-dùng – đồng thời thúc đẩy nó bước vào cái Hữu-thể-với-những-Kẻ-Khác đầy ân cần. Dưới ánh sáng của cái ‘vì-mục-đích-của-cái-mà’ – vốn xuất phát từ tiềm-năng-cho-Hữu-thể của ai đó tự chọn lựa – một Dasein đầy quyết đoán sẽ tự giải phóng chính mình để hướng về thế giới của nó. Chính tính quyết đoán của Dasein đối với bản thân đã tạo điều kiện để nó có thể để cho những Kẻ Khác cùng với nó được ‘hiện hữu’ trong cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể riêng tư nhất của mình; đồng thời, để đồng-khai mở cái tiềm năng này trong sự ân cần vốn lao lên phía trước và giải phóng. Khi Dasein trở nên quyết đoán, nó có thể trở thành ‘lương tâm’ của những Kẻ Khác. Chỉ đích thực bằng Hữu-thể-Tự-ngã-của-họ trong tính quyết đoán, con người mới có thể đích thực hiện hữu cùng nhau – chứ không phải thông qua những quy ước đầy mơ hồ, đố kỵ, [tr.445] hay những cuộc phiếm đàm giao kết trong cái ‘họ’ và trong cái mà ‘họ’ muốn thực hiện.
Xét về bản chất hữu thể luận, tính quyết đoán luôn là tính quyết đoán của một Dasein có thật tại một thời điểm nhất định. Bản chất của Dasein, với tư cách một thực thể, chính là sự hiện hữu của nó. Tính quyết đoán chỉ ‘hiện hữu’ dưới dạng Entschluss một quyết định – một sự phóng chiếu bản thân dựa trên sự thấu hiểu. Nhưng Dasein tự bộc lộ thông qua tính quyết đoán dựa trên cơ sở nào?4 Nó quyết định về điều gì? Chỉ bản thân quyết định đó mới có thể đưa ra câu trả lời. Sẽ là một sự hiểu lầm hoàn toàn hiện tượng tính quyết đoán nếu chỉ đơn thuần là việc ai đó chọn lấy và nắm bắt những khả tính đã được đề xuất hay gợi ý sẵn. Quyết định kia chính là sự phóng chiếu mang tính khai mở và là việc xác định những gì khả thể có thật tại thời điểm đó. Trạng thái bất định – vốn là đặc trưng của mọi tiềm-năng-cho-Hữu-thể mà Dasein đã bị ném vào đời thật – là một yếu tố tất yếu gắn liền với tính quyết đoán. Chỉ trên cơ sở một quyết định, thì tính quyết đoán mới xác tín được chính mình. Trạng thái bất định mang tính thực hữu cụ thể của tính quyết đoán chỉ trở nên xác định thông qua một quyết định; tuy nhiên, xét về mặt cấu thành hữu thể, nó vẫn mang tính xác định riêng của mình. Điều mà Dasein quyết định hướng tới đã được quy định về mặt bản thể luận trong tính cấu thành hữu thể của Dasein nói chung, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể theo cách thức ân cần đầy chu toàn. Tuy nhiên với tư cách chăm lo, Dasein lại bị quyết định bởi tính thực tế và tình trạng sa ngã.
[Chen ngang: Theo Heidegger, Dasein hiện hữu người được xác định về mặt bản thể luận chỉnh thể thông qua cấu trúc cấu thành hữu thể của Sorge Chăm lo. Chăm lo không mang ý nghĩa tâm lý như lo lắng hay thương yêu, mà là cấu trúc nền tảng định hình toàn bộ cách thức Dasein hiện hữu trong thế giới. Cấu trúc này hợp nhất ba thành tố không thể tách rời: Existentiality - Tính cấu thành hữu thể; Phóng chiếu, và Facticity Thực tính/ Tính bị ném vào đời; và Falling Tình trạng sa ngã/ Hòa tan vào thế giới. 1). Dasein được định hình bởi Chăm lo: Công thức bản thể luận của Heidegger mô tả Chăm lo là: i) Cấu thành Hữu thể-vượt trước chính mình-đã ở trong thế giới-với tư cách là đang ở cùng với các thực thể khác; ii) Chăm lo gắn liền với tính thời gian gồm ba chiều kích Tương lai - Quá khứ - Hiện tại; iii) Ba chiều kích của tính thời gian tương ứng trực tiếp với ba cấu trúc của Dasein: - Tính đi trước chính mình (Sự phóng chiếu) hướng về Tương lai; - Tính đã ở trong thế giới (Tính bị ném/ Thực tính) gắn liền với Quá khứ; - Tính ở cùng với (Sa ngã) diễn ra trong Hiện tại. 2). Vai trò của Facticity Thực tính/ Tính bị ném: i) Bản chất của Facticity (Geworfenheit/ Tính bị ném vào đời - Dasein không tự mình chọn ra đời; nó luôn ‘đã bị ném’ vào một hoàn cảnh có sẵn; ii) Các yếu tố cấu thành: Gia đình, ngôn ngữ, thời đại lịch sử, văn hóa, và những giới hạn sinh học hay xã hội mà Dasein không thể tự định đoạt; iii) Kết nối với Chăm lo: -Facticity/Thực tính đại diện cho khía cạnh “đã-ở-đó” (having-been / quá khứ) trong cấu trúc của Chăm lo; - Dasein không thể đứng ngoài hay xóa bỏ hoàn cảnh của mình; thay vào đó, nó phải mang vác, đối diện và xoay sở với những thứ có sẵn ấy; nó luôn có ‘nhiều hơn’ những gì nó thực tế có - vì nó còn mang trong mình khả tính thay đổi. 3). Vai trò của tình trạng sa ngã/ Bị cuốn hút vào thế giới: i) Bản chất của Verfallen sa ngã- thay vì tỉnh thức đối diện với cấu thành hữu thể và cái chết của chính mình, Dasein có xu hướng bị cuốn hút, hấp dẫn và “chìm đắm” vào thế giới của các sự vật và das Man cái ‘họ’; ii) Các biểu hiện – phiếm đàm, nông cạn, và mơ hồ; iii) Kết nối với Chăm lo – sa ngã đại diện cho cách Dasein tương tác trong hiện tại bằng phân tâm, bám víu vào đời sống thường nhật; iv) Cái ‘họ’ làm cho Dasein rơi vào trạng thái inauthentic không đích thực; đánh mất bản ngã độc lập của mình để hòa tan vào cách tư duy ‘ai cũng thế’ của das Man cái ‘họ’.-HHN].
Được khai mở trong cái ‘ở đó’ của mình, Dasein duy trì bản thân trong cả chân lý lẫn phi-chân lý với cùng một đồng bản nguyên tính.xiii Điều này đặc biệt đúng đối với tính quyết đoán khi nó biểu hiện như một chân lý đích thực. Tính quyết đoán chiếm lĩnh phi-chân lý một cách đích thực. Dasein vốn đã ở trong Unentschlossenheit trạng thái thiếu quyết đoán, và có lẽ chẳng bao lâu nữa, nó sẽ lại rơi vào trạng thái đó. Thuật ngữ ‘Trạng thái thiếu quyết đoán chỉ đơn thuần diễn tả hiện tượng mà chúng ta đã diễn giải là loại Hữu-thể-đầu-hàng cái cách thức mà vạn vật thường được diễn giải bởi das Man cái ‘họ’. [Chen ngang: Đối với Heidegger, Unentschlossenheit Tình trạng thiếu quyết đoán là trạng thái cấu thành hữu thể nền tảng của Uneigentlichkeit tính không đích thực. Thuật ngữ này không chỉ đơn thuần là một trạng thái tâm lý hời hợt kiểu như không thể đưa ra quyết định; thay vào đó, nó mô tả cách mà Dasein hiện hữu người mặc nhiên rơi vào trạng thái khép kín, tách biệt khỏi những khả năng đích thực của chính mình. Khung lý thuyết của Heidegger phân tách Unentschlossenheit thành một vài tầng nghĩa chính: 1). Đối lập với Entschlossenheit Tính quyết đoán/Trạng thái quyết đoán - để hiểu về sự thiếu quyết đoán, ta cần hiểu khái niệm đối lập tích cực của nó, Entschlossenheit: i) Trong tiếng Đức, erschließen có nghĩa là ‘mở ra’ hoặc ‘khai mở’; Heidegger đã vận dụng từ Entschlossenheit theo nghĩa đen là trạng thái ‘không còn-khép kín’ hay ‘trạng thái được khai mở’; ii) Entschlossenheit Tính quyết đoán là một trạng thái đích thực, trong đó Dasein tự ‘mở ra’, đối diện trực tiếp với tính hữu hạn, cái chết và sự tự do lựa chọn cuộc đời của chính mình; iii) Unentschlossenheit Sự thiếu quyết đoán, ngược lại, đồng nghĩa với việc duy trì trạng thái ‘khép kín’; đây là trạng thái mà một cá nhân né tránh việc đối diện với sự thật căn bản về sự tồn tại của chính mình. 2). Bị chi phối bởi das Man cái ‘họ’: i) Khi ở trong trạng thái Unentschlossenheit, Tôi không chủ động chọn lấy con đường cho riêng mình; ii) Thay vào đó, Tôi để các lựa chọn, giá trị và hành vi của mình bị chi phối bởi das Man cái ‘họ’; iii) Tôi làm những gì mà cái ‘họ’ làm, suy nghĩ những gì mà cái ‘họ’ suy nghĩ, và sống theo cách mà cái ‘họ’ cho là nên sống; iv) Việc từ bỏ trách nhiệm cá nhân như vậy chính là dấu hiệu đặc trưng của sự thiếu quyết đoán trong cấu thành hữu thể. 3) Rơi vào Verfallensein Trạng thái ‘sa ngã’: i) Dasein có khuynh hướng tự nhiên là rơi vào trạng thái sa ngã, nghĩa là chúng ta dễ dàng bị cuốn hút và mê hoặc bởi thế giới đời thường xung quanh; ii) Trong trạng thái thiếu quyết đoán, chúng ta sử dụng một chuỗi không dứt những công việc vụn vặt, những phiếm đàm vô bổ và sự tò mò hời hợt để đánh lạc hướng bản thân; iii) Trốn tránh đối diện với những nỗi lo âu cấu thành hữu thể sâu sắc hay cái chết tất yếu của chính mình. 4) Tình trạng căng thẳng thường trực trong cấu thành hữu thể: i) Trạng thái thiếu quyết đoán không phải là một khiếm khuyết cố hữu hay một tội lỗi mà ta có thể loại bỏ vĩnh viễn; ii) Dasein hiện hữu người luôn luôn đã ở trong trạng thái thiếu quyết đoán, và chẳng bao lâu nữa, có lẽ, nó sẽ lại rơi vào trạng thái đó; iii) Một cuộc đời đích thực không phải là trạng thái giác ngộ vĩnh viễn; thay vì, đó là một cuộc đấu tranh không ngừng, lặp đi lặp lại, nhằm tự kéo mình ra khỏi màn sương mù an nhiên giả tạo của tình trạng thiếu quyết đoán để bước vào trạng thái dễ tổn thương nhưng sáng rõ và sắc bén của trạng thái quyết đoán.-HHN]
Dasein, với tư cách là một Tự ngã-họ, bị dẫn dắt bởi tình trạng mơ hồ thông thường của cái không gian công cộng – nơi chẳng ai thực sự quyết định điều gì, nhưng mọi quyết định dường như đã luôn được đưa ra từ trước.5 Tính quyết đoán biểu thị việc để bản thân được đánh thức, thoát khỏi trạng thái lạc lối trong cái ‘họ’ ấy. Dù tình trạng thiếu quyết đoán của cái ‘họ’ vẫn chiếm ưu thế, nó không thể làm lung lay sự tồn tại đầy quyết đoán. Trong khái niệm đối lập với tình trạng thiếu quyết đoán – tức là ‘tính quyết đoán’ hiểu theo nghĩa cấu thành hữu thể – chúng ta không hề ám chỉ bất kỳ đặc điểm thực-hữu-tâm-lý nào theo nghĩa của cái Hữu-thể-đè- nặng bởi những ức chế. Ngay cả các quyết định cũng vẫn phụ thuộc vào [tr.346] das Man cái ‘họ’ và thế giới của nó. Việc thấu hiểu điều này là một trong những khía cạnh được bộc lộ thông qua tính quyết đoán, bởi lẽ chính thái độ quyết đoán này là yếu tố đầu tiên mang lại sự minh bạch đích thực cho Dasein hiện hữu người. Trong thái độ quyết đoán, vấn đề cốt yếu đối với Dasein chính là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù nhất của bản thân nó; với tư cách là một thực thể bị ném vào thế giới, Dasein chỉ có thể phóng chiếu chính mình dựa trên những khả tính xác định có thật. Việc quyết định không hề tách rời khỏi Wirklichkeit/ actuality tính hiện thực, mà nó khám phá ra những gì khả thể trong thực tế; nó thực hiện điều đó bằng cách nắm bắt lấy những khả năng ấy – theo bất kỳ cách nào khả thể đối với nó – với tư cách là cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đặc thù nhất của bản thân nó ngay trong cái ‘họ’.
[Chen ngang: Wirklichkeit/ actuality của Martin Heidegger thường được dịch là tính hiện thực không phải là một tập hợp tĩnh tại, khách quan gồm các sự vật vật lý nằm trong không gian; thay vào đó, nó gắn liền với Wirken (hành động, vận hành, hoặc tạo ra tác động) và cách thức các sự vật tự bộc lộ trước Dasein hiện hữu người. Các khía cạnh then chốt của Wirklichkeit trong tư tưởng Heidegger bao gồm: i) Từ nguyên Wirken, gốc rễ của Wirklichkeit có nghĩa là tạo tác động, vận hành, hoặc thực hiện; đối với Heidegger, một sự vật được coi là wirklich ‘hiện thực’ khi nó hành động, tham gia, hoặc có ý nghĩa trong bối cảnh cụ thể của một thế giới, thay vì chỉ nằm yên một cách thụ động như một đối tượng trung tính; ii) Sự khác biệt so với Realität/ reality thực tại của siêu hình học truyền thống - Trong tiếng Đức thông dụng, Realität được dùng để chỉ ‘thực tại’ — một khái niệm mà Heidegger thường xem là mang tính kỹ thuật, hiện đại và trừu tượng - coi thế giới như một tập hợp các dữ liệu khoa học hoặc các sự vật vorhanden hiện-diện-vô-tri. Ngược lại, Wirklichkeit đi sâu hơn vào cách thức mà các thực thể được bắt gặp thông qua sự tương tác thực tiễn, chủ động trong trạng thái zuhanden ‘sẵn-có-để-dùng’; iii) Höher als die Wirklichkeit steht die Möglichkeit Khả tính còn Cao hơn cả Tính hiện thực’ - Một luận điểm nổi tiếng trong cách Heidegger đọc Aristotle chính là sự phê phán đối với ‘chủ nghĩa hiện thực’ actualism truyền thống. Ông khẳng định Möglichkeit Khả tính còn cao hơn cả tính hiện thực’. Đối với Heidegger, Dasein hiện hữu người được định nghĩa căn bản bởi tiềm năng tự phóng chiếu vào tương lai — tức là bởi các khả tính của chính nó — thay vì chỉ dựa trên những gì đã cố định, hoàn tất, hay đã được ‘hiện thực hóa’ tại thời điểm hiện tại; iv) Mối liên hệ với Aletheia Chân lý phi che giấu/tự bộc lộ: ‘Wirklichkeit’ gắn liền với cách thức mà các thực thể được đưa từ trạng thái ẩn giấu ra ngoài ánh sáng. Chân lý ở đây không phải là sự tương ứng giữa một ý niệm trong tâm trí với một sự kiện vật lý; thay vào đó, Wirklichkeit chính là cách thức mà các thực thể von ihm selbst her tự bộc lộ từ chính bản thân chúng.-HHN]
Các thuộc tính cấu thành hữu thể của bất kỳ Dasein hiện hữu người nào đang ở trạng thái quyết đoán đều bao gồm những yếu tố tạo nên một hiện tượng cấu thành hữu thể mà chúng ta gọi là ‘Tình thế’ – một khái niệm mà trước đây chúng ta chưa đề cập đến. [Chen ngang: Heidegger phân biệt rõ rệt giữa hai từ tiếng Đức cùng mang nghĩa là ‘tình thế’ là Lage và Situation: 1) Die Lage Tình thế chung / Tình thế công cộng - Một hoàn cảnh chung, trạng thái sự việc, hoặc vị trí khách quan: i) Nghĩa triết học là bối cảnh khách quan, thường nhật, được định hình và quy định bởi das Man cái ‘họ’ – ám chỉ đám đông hoặc các chuẩn mực xã hội chung; ii) Trong một Lage, Dasein hiện hữu người chỉ đơn thuần trôi dạt theo các vai trò xã hội tiêu chuẩn, những kỳ vọng tập thể và các cơ hội hời hợt; iii) Đây là một vị trí chung chung, chưa được xem xét thấu đáo, mà bất kỳ ai trong môi trường đó cũng có thể chiếm giữ. 2). Die Situation - Tình thế cấu thành hữu thể/ Tình thế đích thực: i) Nghĩa trong tiếng Đức là một tình huống cụ thể, đã được quyết định và mang tính quyết đoán; ii) Nghĩa triết học - Tình huống này xuất hiện khi một cá nhân thoát khỏi sự kiểm soát vô danh của das Man cái ‘họ’ thông qua Entschlossenheit thái độ quyết đoán và tự mình làm chủ Geworfenheit tình trạng ‘bị ném vào’ của chính mình; ii) Một Situation Tình thế cấu thành hữu thể không chỉ là một bối cảnh vật lý thụ động; nó là một chân trời năng động, minh bạch của những khả tính – nơi toàn bộ ý nghĩa cuộc đời hoặc các lựa chọn của một cá nhân được đặt lên bàn cân thường gắn liền với sự đối diện sáng suốt trước cái chết của chính mình.- HHN]. Trong thuật ngữ Situation ‘Tình thế’ ‘ở trong một tình thế’ ấy, ẩn chứa một sắc thái ý nghĩa liên quan đến không gian.6 Chúng ta sẽ không cố gắng loại bỏ sắc thái này khỏi quan niệm cấu thành hữu thể, bởi chính cái ‘có đó’ của Dasein cũng hàm chứa ý nghĩa ấy. [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới sở hữu một tính không gian riêng, được đặc trưng bởi các hiện tượng như Entfernung xóa bỏ khoảng cách và Ausrichtung/ directionality tính định hướng.
[Chen ngang: Khái niệm Entfernung/ Ent-fernung/ de-severance xóa bỏ khoảng cách của Heidegger chỉ một quá trình cấu thành hữu thể, chủ động, trong đó sự xa xôi bị triệt tiêu và các sự vật được đưa lại gần. 1) Từ tiếng Đức Entfernung - hoặc viết tách là Ent-fernung để nhấn mạnh gốc động từ mang tính hành động của nó bao gồm các khía cạnh sau: i) Trong tiếng Đức thông dụng, Entfernung thường có nghĩa là ‘khoảng cách’ hoặc hành động ‘dời đi’. Tuy nhiên, Heidegger khơi gợi lại các gốc từ nguyên của nó—kết hợp tiền tố phủ định ent- mang nghĩa ‘hủy bỏ’ hoặc ‘lấy đi’ với Ferne - mang nghĩa ‘xa’ hoặc ‘sự xa xôi’; ii) Hành động thay vì đo lường - thuật ngữ này không chỉ một khoảng cách Abstand đo lường tĩnh tại như số ki-lô-mét hay xăng-ti-mét trên bản đồ; thay vào đó, nó là một hoạt động năng động, có tính hướng đích – một Existenzial yếu tố cấu thành hữu thể do Dasein hiện hữu người thực hiện. 2) Ý nghĩa và các đặc điểm cốt lõi: i) Triệt tiêu sự xa xôi - Xóa bỏ khoảng cách là cách thức mà Dasein đưa các sự vật vào phạm vi quan tâm đầy ý nghĩa của chính mình; chẳng hạn, một bức tranh mà bạn đang chăm chú chiêm ngưỡng sẽ mang lại cảm giác gần gũi hơn về mặt hiện tượng học so với cặp kính đang nằm ngay trên sống mũi bạn - dù xét về khoảng cách vật lý thì cặp kính gần hơn; ii) Không mang tính khách quan hay chủ quan thuần túy - đây không phải là một thuộc tính vật lý của các sự vật trong thế giới, cũng không phải là ảo giác thuần túy trong tâm trí một chủ thể; nó bắt nguồn từ cách con người tương tác thực tiễn với các công cụ trong trạng thái ‘sẵn-có-để-dùng’; iii) Gắn liền với tính định hướng - Xóa bỏ khoảng cách luôn song hành cùng Ausrichtung tính định hướng; nghĩa là khi Dasein đưa các sự vật lại gần, nó đồng thời đặt chúng vào một môi trường hoặc không gian có cấu trúc và định hướng cụ thể.-HHN]
Dasein ‘dọn chỗ’ ngay khi nó tồn tại một cách thực tế.xiv Tuy nhiên, tính không gian loại đó vốn thuộc về Dasein — thứ mà dựa vào đó, sự tồn tại luôn xác định ‘vị trí’ của chính mình — lại bắt nguồn từ trạng thái [Cấu thành] Hữu-thể-trong-thế-giới, một trạng thái mà trong đó, tính khai mở đóng vai trò cấu thành căn bản. Cũng như tính không gian của cái ‘có đó’ bắt nguồn từ trạng thái khai mở, thì cái ‘Tình thế’ cũng có các nền tảng ở tính ‘quyết đoán’. Tình thế chính là cái ‘có đó’ được khai mở trong tính quyết đoán — cái ‘có đó’ mà thực thể vẫn tồn tại lại có đó. Nó không phải là một khuôn khổ hiện-diện-vô-tri mà Dasein tình cờ rơi vào, hay là nơi mà Dasein có thể tự đưa mình đến. Khác xa với bất kỳ tập hợp các hoàn cảnh hay ngẫu nhiên nào mà chúng ta bắt gặp như những sự vật hiện-diện-vô-tri, Tình thế chỉ tồn tại thông qua và bên trong tính quyết đoán.
Tính chất liên quan thực tế của các hoàn cảnh chỉ tự khai mở với cái Tự ngã khi tính chất liên quan ấy mang hình thái mà ở đấy, ai đó đã quyết định chọn lấy cái ‘có đó’ – nơi mà Tự ngã, trong quá trình hiện hữu, phải là chính nó.7 Khi thứ mà ta gọi là những thứ ‘ngẫu nhiên’ ập đến từ thế giới chung quanh hay môi trường, chúng chỉ có thể tác động đến tính quyết đoán.8 Ngược lại, đối với das Man cái ‘họ’, thì Tình thế về cơ bản là một điều gì đó đã bị khép kín.9 Cái ‘họ’ chỉ biết đến một ‘tình thế chung’, tự đánh mất mình trong những ‘cơ hội’ gần gũi nhất, và chi trả cho lộ trình của Dasein bằng cách tính toán [tr.347] các ‘ngẫu nhiên’ - mà chính Dasein không nhận ra, nhưng lại cho là thành quả của chính mình và trình bày như thể đó là thành quả của mình.10
Tính quyết đoán đưa cái Hữu thể của cái ‘có đó’ vào hiện hữu của ‘tình huống’ của chính nó. Thật vậy, nó xác định cấu trúc hữu thể của tiềm- năng-cho-Hữu-thể đích thực mà lương tâm minh chứng – đó chính là mong muốn có được lương tâm. Trong cái tiềm năng này, chúng ta nhận ra phương thức thích hợp để thấu hiểu tiếng gọi lương tâm. Điều này cho thấy rõ ràng rằng, khi tiếng gọi của lương tâm triệu hồi chúng ta hướng tới cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể của chính mình, thì nó không đặt ra trước mắt ta một lý tưởng hiện hữu trống rỗng nào, mà thúc đẩy ta bước vào Tình thế đó. Tính khẳng định cấu thành hữu thể này – vốn có trong tiếng gọi của lương tâm khi hiểu đúng đắn – đồng thời mang lại cho chúng ta một nhãn quang: nó cho thấy rằng, nếu xu hướng của tiếng gọi này chỉ bị giới hạn trong những món nợ đã xảy ra hoặc đang hiện diện trước mắt, thì ta đã bỏ lỡ tính chất khai mở của lương tâm. Nó cũng cho thấy rằng, nếu đặt ra giới hạn như vậy, thì việc thấu hiểu tiếng nói của lương tâm chỉ là một sự truyền đạt mang tính bề ngoài. Khi trạng thái thấu hiểu tiếng gọi này được Diễn giải theo nghĩa cấu thành hữu thể là ‘tính quyết đoán’, thì lương tâm được bộc lộ như một loại [Cấu thành] Hữu thể – vốn nằm trong chính nền tảng của Dasein11 – nhờ đó Dasein tự làm cho cái hiện hữu thực tế của chính mình trở nên khả thể, qua đó minh chứng cho cái tiềm-năng-cho-Hữu-thể đích thực của chính mình. Cái hiện tượng mà chúng ta gọi là ‘tính quyết đoán’ này không thể bị nhầm lẫn với một habitus ‘tập quán’ trống rỗng hay một ‘ý muốn mơ hồ’ thiếu xác định. Tính quyết đoán không phải là việc nhận thức một Tình huống rồi đặt Tình huống đó ra trước mặt mình; mà bản thân nó đã tự đặt mình vào trong Tình huống đó rồi.12 Với tư cách quyết đoán, Dasein đã và đang hành động. Chúng ta cố tình tránh dùng thuật ngữ ‘hành động’13, bởi lẽ: thứ nhất, thuật ngữ này cần được hiểu theo nghĩa rộng đến mức bao hàm cả tính thụ động của sự kháng cự.Thứ hai, nó dễ dẫn đến một sự hiểu lầm trong cái bản thể luận về Dasein, cứ như thể quyết đoán chỉ là một kiểu hành vi đặc thù thuộc về năng lực thực tiễn, đối lập với năng lực lý thuyết vậy. Tuy nhiên, chăm lo [tr.348] với tư cách là sự bận tâm đến thế giới và ân cần đối với tha nhân — bao trùm [Cấu thành] Hữu thể của Dasein một cách bản nguyên và toàn diện đến mức, ngay cả khi ta phân biệt giữa hành vi lý thuyết và thực tiễn, thì nó vẫn không thể được xây dựng trước hết từ các năng lực này thông qua một phép biện chứng – một phép biện chứng vốn thiếu nền tảng cấu thành hữu thể, nên tất yếu hoàn toàn không có cơ sở. Tuy nhiên tính quyết đoán chính là tính hiện thực, vốn nằm trong chăm lo và là đối tượng của chính chăm lo đó; nó khả thể với tư cách là chăm lo— chính là tính hiện thực của bản thân chăm lo.
Việc trình bày các khả tính thực hữu cụ thể thực tế cùng những đặc điểm chính và mối liên hệ giữa chúng, đồng thời diễn giải chúng dựa trên cấu trúc cấu thành hữu thể, là một trong những nhiệm vụ của một nền nhân học cấu thành hữu thể chuyên biệt.xv Vì mục đích của nghiên cứu này — vốn là một khảo cứu về bản thể luận nền tảng — nên chỉ cần xác định được theo nghĩa cấu thành hữu thể về ‘tiềm-năng-cho-Hữu-thể hiện thực mà lương tâm đã minh chứng cho chính Dasein là đủ. Giờ đây, tính quyết đoán ấy đã được làm sáng tỏ như là Hữu-thể-tội-lỗi, một cách tự phóng chiếu trong đó một kẻ giữ thái độ im lặng và sẵn sàng đối diện với nỗi lo âu14— thì nghiên cứu của chúng ta đã có đủ cơ sở để xác định ý nghĩa bản thể luận của cái tiềm năng mà chúng ta đang tìm kiếm - đó chính là tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực của Dasein. Giờ đây, Wirklichkeit authenticity tính hiện thực của Dasein không còn là một thuật ngữ trống rỗng hay một ý niệm do ai đó thêu dệt ra nữa. Tuy nhiên, với tư cách là một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực, thì cái Hữu-thể-hướng-đến-cái-chết hiện thực — điều mà chúng ta đã suy luận về phương diện cấu thành hữu thể — vẫn chỉ dừng lại ở một dự phóng thuần túy mang tính cấu thành hữu thể, vốn còn thiếu sự xác chứng từ chính Dasein. Chỉ khi tìm thấy sự xác chứng như vậy, thì công cuộc nghiên cứu của chúng ta mới đủ sức làm sáng tỏ (theo yêu cầu của vấn đề đặt ra) một tiềm-năng-cho-Hữu-thể-một-chỉnh-thể hiện thực, một tiềm năng vốn thuộc về Dasein, được xác nhận và làm rõ trên bình diện cấu thành hữu thể. Bởi lẽ, chỉ khi thực thể này trở nên có thể tiếp cận về mặt hiện tượng trong tính hiện thực và tính trọn vẹn của nó, thì câu hỏi về ý nghĩa của lối [Cấu thành] Hữu thể của cái thực thể mà trong hiện hữu của nó vốn đã bao hàm một sự thấu hiểu về [Cấu thành] Hữu thể — mới có thể đặt trên một nền tảng vững chắc, đủ sức vượt qua mọi kiểm chứng.
___________________________________
(Còn nữa)
Nguồn: Martin Heidegger (1962). Being and Time. Translated by John Macquarrie & Edward Robinson, Copyright© Blackwell Publishers Ltd 1962. First English edition 1962. Translated from the German Sein und Zeit (seventh edition) by permission of Max Niemeyer Verlag, Tübingen.
Notes
1 The etymological connection between 'Entschlossenheit' ('resoluteness') and 'Erschlossenheit' ('disclosedness') is not to be overlooked. [p.343]
2 'Die Erschlossenheit des Da erschliesst gleichurspriinglich das je ganze In-der-Weltseln das heisst die Welt das In-Sein und das Selbst, das als "ich bin" dieses Seiende ist.' It is not clear grammatically whether 'dieses Seiende' or the pronoun 'das' is the subject of the final clause, or whether 'this entity' is 'Dasein' or ‘Being-in’. The grammatical function of the 'als "ich bin" ' is also doubtful. In support of our interpretation, consult H. 54> 114, 117, 267. [p.343]
3 ‘Das Umwillen des Unterkommens, des Unterhalts, des Fortkommens sind nächste und ständige Moglichkeiten des Daseins…’. [p.344]
4 'Aber woraufhin erschliesst sich das Dasein in der Entschlossenheit? Wozu soli es sich entschliessen?' (For similar constructions with 'woraufhin' etc. and 'erschliessen', see H. 141, 143, 145 above.) [p.345]
5 'Das Dasein wird als Man-selbst von der verständigen Zweideutigkeit der Offentlichkeit "gelebt", in der sich niemand entschliesst, und die doch schon immer beschlossen hat.' The etymological connection between 'entschliesst' and 'beschlossen' is lost in our translation. [p.345]
6 The German words ‘Situation’ and ‘Lage’ will be translated by ‘Situation’ and ‘situation’ respectively. [p.346]
7 'Entschlossen für das Da, als welches das Selbst existierend zu sein hat, erschliesst sich ihm erst der jeweilige faktische Bewandtnischarakter der Umstande.' [p.346]
8 ‘Nur der Ent-schlossenheit kann das aus der Mit- und Umwelt zu-fallen, was wir Zufalle nennen.’ Literally a ‘Zufall’ (‘accident’) is something that 'falls to' something, or ‘befalls’ it. (Compare the Latin ‘accidens’, which has basically the same meaning). [p.346]
9. ‘verschlossen’. Contrast ‘erschlossen’ (‘disclosed’) and ‘entschlossen’ (‘resolved’). [p.346]
10 ‘Es kennt nur die “allgemeine
Lage”, verliert sich an die nachsten "Gelegenheiten" und bestreitet
das Dasein aus der Verrechnung der “Zufälle”, die es, sie verkennend, für
die eigene Leistung hält und ausgibt.’ We have preserved
the grammatical ambiguity of the
pronouns ‘die’ and ‘es’. [p.347]
11 ‘…als die im Grunde des Daseins beschlossene Seinsart…’ The participle ‘beschlossene’, which is etymologically akin to ‘erschlossen’, etc., may mean either ‘included or ‘decided upon’, as we have seen on H. 299· Very likely both meanings are here intended. [p.347]
12 ‘Die Entschlossenheit stellt sich nicht erst, kenntnisnehmend, eine Situation vor, sondern hat sich schon in sie gestellt.’ Our rather literal translation brings out the contrast between ‘sich stellen in…’ (‘put itself in…’) and ‘sich stellen… vor…’ (‘put before itself…’), but fails to bring out the important sense of the latter expression: ‘to represent’ or ‘to form an idea of’. [p.347]
13‘“Handeln”’. Far from avoiding this term, Heidegger has used it quite frequently. But he is avoiding it as a possible substitute for the term 'Entschlossenheit'. [p.347]
14 'Mit der Herausarbeitung der Entschlossenheit als des verschwiegenen, angstbereiten Sichentwcrfens auf das eigenste Schuldigsein… ‘The earlier editions have’…dem vcrschwiegenen, angstbereiten Sichentwerfen auf…’ [p.348]

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét