Powered By Blogger

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

Khái niệm Tự nhiên và Hữu thể luận Xác thịt của Merleau-Ponty (I)

Ane Faugstad Aarø

Người đọc: Hà Hữu Nga

Tóm tắt

Bài viết phác thảo cách thức áp dụng Hiện tượng học Tri giác của Maurice Merleau-Ponty vào các lý thuyết quá trình ký hiệu, và cách nó tái cấu trúc khuôn khổ của quan niệm hiện tượng luận giao tiếp. Triết học giai đoạn sau của ông liên quan đến việc tái định hình chủ thể và giải quyết nhị nguyên chủ thể/đối tượng. Luận điểm của tôi là lý thuyết tri giác phi quy giản này hé lộ một cái nhìn khác về tự nhiên như chúng ta trải nghiệm nó trong một tương tác biểu cảm và có ý nghĩa. Góc nhìn mà một sinh vật sống khác có và truyền đạt bao hàm một dạng chiều sâu, chiều không gian vô hình của cái hữu hình hoặc hữu thanh. Hai khía cạnh này của tri giác và đối thoại đan xen trong một phép biện chứng của hiện diện và vắng mặt, do đó ý nghĩa nảy sinh trong trường tri giác chứ không phải trong chủ thể. Đây là kết quả cơ bản nhất trong lý thuyết của ông. Sự hình thành ý nghĩa trong hoạt động giao thoa giữa cái hữu hình và vô hình trong tri giác mở ra ý nghĩa khách quan về bản chất liên chủ thể. Bài luận cũng đề cập đến vai trò quy giản hiện tượng học; cách treo lại niềm tin và tuyên bố về tồn tại trong kinh nghiệm. Phép quy giản trao quyền rọi sáng ảnh hưởng lịch sử và văn hóa vào tư duy của chúng ta.

Giới thiệu

Một trong những nhận định thú vị nhất mà tôi từng bắt gặp trong lĩnh vực ký hiệu học là tuyên bố rằng đối với Hoffmeyer, các dấu hiệu sinh học “vốn dĩ có ý nghĩa do sự tham gia trực tiếp của chúng vào các quá trình mà chúng biểu nghĩa” (Emmeche và cộng sự, 2002). Ngay cả trên nền tảng quan niệm tam phân của Peirce về các quá trình biểu nghĩa [tr.332], thì điều này vẫn thể hiện sự chuyển dịch hướng tới một quan điểm tích hợp hơn về biểu đạt và diễn giải tự nhiên, điều này có thể được bổ sung thêm bởi một số lý thuyết phi quy giản khác. Trong chủ đề diễn giải vượt qua ranh giới giữa con người và phi-nhân, chúng ta thấy rằng các cuộc khám phá tự nhiên vẫn mang dấu ấn di sản khoa học của chúng ta từ thế kỷ 17. Làm thế nào mà một sự thay đổi có thể xảy ra trong các quan niệm về tự nhiên? Tri giác rất thường được quyết định bởi một lợi ích hoặc một dự án. Khi động cơ là khai thác năng lượng từ một hồ nước, thì tri giác về nước bị chi phối bởi lợi ích này. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng khía cạnh năng lượng không phải là tất cả những gì hiện diện trong tri giác về hồ nước. Hiện tượng học của Maurice Merleau-Ponty có thể cung cấp những hiểu biết quý giá về tri giác, kết nối một cách thú vị với sinh ký hiệu học. Bài viết chỉ ra cách tiếp cận của Merleau-Ponty đối với các vấn đề trong lý thuyết tri giác và giao tiếp có liên quan đến ký hiệu học.

Tác phẩm cuối cùng của Maurice Merleau-Ponty, Cái Hữu hình và Cái Vô hình (Merleau-Ponty 1968), là một nỗ lực tìm kiếm những cách nhìn nhận về tri giác và mối quan hệ của nó với thế giới sao cho vẫn duy trì được sự đắm chìm trải nghiệm trong thế giới Tự ngã. Merleau-Ponty cảm thấy rằng triết học đưa ra các luận điểm về chủ thể và tri giác tạo ra những sự đối lập khó có thể dung hòa. Đoạn văn được trích dẫn dưới đây cho thấy ông muốn tìm ra một hướng đi cho triết học về mối quan hệ của chúng ta với hiện hữu, làm rõ chiều sâu tồn tại giữa chúng ta và môi trường xung quanh. Ông muốn thực hiện công việc này mà không gán cho chủ thể một khoảng cách vô hạn với hiện hữu thông qua sự phủ định hiện hữu, như chủ nghĩa hiện sinh của Sartre hàm ý. Ông cũng không hài lòng với các lý thuyết tri giác khách quan, vốn hiểu chiều sâu của tri giác như một lớp cấu trúc chủ quan có thể xác định được, mở ra cho phân tích của chúng ta. Triết học hiểu tri giác trùng khớp với hiện hữu cũng không đầy đủ, bởi vì chiều sâu trong tri giác có nghĩa là có điều gì đó bị che giấu và vô hình; tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp xúc với nó một cách sâu sắc và cơ bản. Bài luận này sẽ chỉ ra cách tiếp cận mới về tri giác và hiện hữu phát triển trong triết học giai đoạn cuối của Merleau-Ponty, chủ yếu bằng cách phân tích khái niệm trung tâm về khả tính đảo ngược trong tri giác. Để bắt đầu hiểu được bí ẩn của sự siêu việt trong tri giác, Merleau-Ponty nói, chúng ta cần đánh giá lại các quan niệm của mình, ngay cả những quan niệm về chủ thể tính, tri giác và siêu việt. Điều này có thể được coi là có những hàm ý định chuẩn, và bài luận của tôi sẽ đề cập đến những khả tính trong triết học này hướng tới một hiện tượng học sinh thái cho phép chúng ta mô tả thế giới của mình vừa là một thế giới nội tâm vừa là một thế giới tự nhiên mà chúng ta đắm chìm trong đó bởi tri giác, chuyển động, cân nhắc và phán đoán của mình. Như Merleau-Ponty đã viết trong cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình: “Sự hiện diện của thế giới chính là sự hiện diện xác thịt của nó với xác thịt của tôi, và tôi “thuộc về thế giới”, tôi không phải là nó, điều này vừa được nói ra đã bị lãng quên: siêu hình học vẫn chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Việc có một lớp xác thịt dày ngăn cách chúng ta với “lõi cứng” của Hữu thể không được đề cập trong định nghĩa: lớp dày này được gán cho tôi, đó là lớp vỏ phi-hiện hữu mà chủ thể tính luôn gắn bó. Khoảng cách vô hạn hay sự gần gũi tuyệt đối, phủ định hay đồng nhất: trong cả hai trường hợp, mối quan hệ của chúng ta với hiện hữu bị bỏ qua theo cùng một cách”. (Merleau-Ponty 1968: 127–128)

Một trong những vấn đề cấp bách nhất của thời đại chúng ta là chỉ ra cách thức cần thiết và khả thể để hiểu được trải nghiệm về tự nhiên. Các lý thuyết khoa học hiện đại [tr.333] về thế giới vật chất giả định một ý tưởng về con người như một chủ thể tự chủ, lý trí, khám phá và thao túng tự nhiên. Nhưng, như nhiều tác giả đương đại đã khẳng định, quan điểm này làm giảm sự tiếp xúc và giao tiếp của chúng ta với thiên nhiên, cả hữu sinh và vô sinh. Việc tri giác thế giới tự nhiên không chỉ là cánh cửa mở ra để thu nhận tri ​​thức về thế giới, mà còn là khả năng trải nghiệm ý nghĩa vốn có của chất lượng, được thực hiện nhờ những phát triển quan trọng và cấp tiến nhất của Merleau-Ponty trong triết học giai đoạn cuối đời của ông, trong đó ông đã tái cấu trúc tư tưởng của mình về chủ thể. Vấn đề nhị nguyên chủ thể và đối tượng nằm ở gốc rễ của những thực tiễn phá hoại trong xã hội loài người hiện đại. Và, như chúng ta sẽ thấy, nhị nguyên này cũng là một yếu tố quan trọng cản trở các lý thuyết về giao tiếp và quá trình ký hiệu. Vậy nhị nguyên chủ thể và đối tượng có liên quan thế nào đến các quan điểm về quá trình ký hiệu? Toàn bộ truyền thống triết học tri thức, hiện hữu và thế giới đều bị nhị nguyên luận này ảnh hưởng bởi câu hỏi then chốt: “Làm sao chúng ta, với tư cách những sinh vật tự nhiên, có thể định hướng bản thân trong môi trường và hiểu biết về thế giới, cũng như truyền đạt cho nhau ý nghĩa của các hiện tượng?” Chính nhờ câu hỏi này mà ta nhận thức được hiện hữu hữu hiện thân cơ bản của mình, từ đó nảy sinh tương tác và diễn giải với tự nhiên.

Thoạt nhìn có vẻ không rõ ràng, nhưng tính ưu việt của tri giác đối với mọi tư duy và mọi chủ thể đã đảo ngược hoàn toàn thế lưỡng nan của chủ nghĩa duy lý về sự trung gian giữa tâm trí và thế giới. Ngoài ra, nó còn liên quan đến giao tiếp nếu chúng ta muốn tránh chủ nghĩa vị kỷ hoặc chủ nghĩa khách quan. Hãy nghĩ xem đôi khi khó khăn như thế nào để hiểu được suy nghĩ của kẻ khác, và quan điểm của kẻ khác bị che giấu như thế nào đối với chúng ta trong mọi thứ ngoại trừ biểu hiện. Hơn nữa, hãy tưởng tượng khó khăn như thế nào khi nói chuyện với một kẻ liên tục khẳng định quyền tự chủ và tự túc của mình bằng cách nâng cao giọng nói, do đó chi phối cuộc trò chuyện. Hãy nghĩ xem dễ dàng như thế nào khi muốn rút lui, từ chối giao tiếp và đơn giản là không muốn được lắng nghe. Giao tiếp chân chính đòi hỏi sự chú ý và cởi mở cũng như khả năng lắng nghe để ý nghĩa được bộc lộ. Việc khám phá tự nhiên bằng cách mổ xẻ nó để xem xét và tính toán tiềm năng hữu ích của nó đặt chúng ta vào vị trí mà chúng ta không thể hiểu được những biểu hiện liên quan; nó liên quan đến việc nhìn một sự vật tự nhiên như một đối tượng cho ý chí và dự án của chúng ta, vốn là sản phẩm của những quan niệm sai lầm của chúng ta về tri giác của chính mình. Đây là lúc tư tưởng cho rằng các dấu hiệu vốn dĩ có ý nghĩa do sự tham gia trực tiếp của chúng vào các quá trình mà chúng biểu nghĩa trở thành chìa khóa hữu ích để xem xét lại các thực tiễn của chúng ta, và tôi tin rằng nó có thể liên quan rất nhiều đến sự giải quyết chủ thể/đối tượng mà Merleau-Ponty đã hướng đến trong cuốn sách cuối cùng của ông.

Vấn đề về Thế giới1

Có nhiều cách để chúng ta tiếp cận những suy nghĩ của Merleau-Ponty về những thách thức khi thẩm vấn thế giới tri giác của chúng ta. Một khái niệm đặc biệt hứa hẹn trong khía cạnh đó là khái niệm rất trung tâm về tính đảo ngược. Và tôi sẽ cố gắng làm rõ một số đặc điểm của trải nghiệm về tính đảo ngược mà Merleau-Ponty [tr.334] đã dành rất nhiều trang trong cuốn sách Cái Hữu hình và Cái Vô hình để truyền đạt ý nghĩa và hàm ý của nó. Bằng cách làm rõ ý tưởng về chìa khóa trung tâm này đối với trải nghiệm về thế giới, Merleau-Ponty hy vọng sẽ mở ra lĩnh vực cho những nghiên cứu sâu rộng và hiệu quả hơn. Đó là một cuộc khảo sát liên quan đến sự tồn tại của chính chúng ta giữa những vấn đề mà ông đưa ra làm chủ đề, và đôi khi nó còn có nghĩa là đuổi theo cái bóng của chính mình trong dòng chảy của kinh nghiệm liên tục. Không cần phải nói, một dự án như vậy thiếu đi sự vững chắc và nền tảng mà triết học luôn tìm kiếm. Nhưng dù các cuộc khảo sát của Merleau-Ponty có kiên quyết đến đâu, ông vẫn không tìm ra cách nào để uốn nắn những câu trả lời của thế giới cho phù hợp với các dự án triết học của chúng ta. Dự án nổi bật trong tác phẩm Cái Hữu hình và Cái Vô hình về việc xem xét lại thuyết nhị nguyên chủ thể và đối tượng có liên quan mật thiết đến khả tính của ý nghĩa trong kinh nghiệm. Đóng góp cuối cùng của ông vào việc phê phán tư tưởng khách quan là việc trình bày ý tưởng về sự đan xen giữa chiều sâu và sự vắng mặt với kinh nghiệm về tính tức thì và hiện diện của thế giới. Ông khẳng định trong Cái Hữu hình và Cái Vô hình rằng việc định hình lại các câu hỏi là điều cần thiết để vượt qua các phân đôi trong tư duy của chúng ta. Những đề xuất của ông có thể mang tính cấp tiến, nhưng không thể phủ nhận rằng chúng ta đang đối mặt với một số vấn đề khá cấp tiến trên thế giới, đòi hỏi phải suy nghĩ lại các khái niệm và thái độ truyền thống, vốn cuối cùng bị chi phối bởi động cơ kiểm soát, và có những hậu quả về mặt nhận thức luận bởi vì chúng quy giản thế giới tự nhiên thành những thuộc tính có thể quản lý được.

Trong triết học giai đoạn cuối của Merleau-Ponty, ý tưởng về cái vật chất của thế giới, tức là xác thịt, được phát triển, trong đó các yếu tố của hiện hữu được đan xen trong một mối liên hệ tương hỗ. Điều này có nghĩa là các yếu tố khác nhau cấu thành một nhất tính, hay một chỉnh thể, trong đó những khác biệt trong biểu hiện hiện diện ở các hiện tượng được giữ nguyên vẹn. Merleau-Ponty hy vọng rằng ông có thể truyền đạt tầm nhìn của mình về mối quan hệ thống nhất tương hỗ này như là nguồn gốc của chân lý, tri thức và lịch sử của thế giới. Điều đó chỉ được thể hiện trong những tác phẩm cuối cùng của ông, nhưng chưa bao giờ được hoàn thiện như một lý thuyết trọn vẹn trước khi ông qua đời năm 1961 khi ông đang viết cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình. Đối với Merleau-Ponty, chân lý là yếu tố vô hình của “hiện hữu thô” của tồn tại chúng ta mà ông mô tả trong những năm cuối đời, và là nền tảng cho mọi niềm tin tri giác, mọi ý tưởng và mọi logic, ông viết trong phần ghi chú cho cuốn sách Cái Hữu hình và Cái Vô hình. Nhưng mầm mống của tư tưởng này đã hiện diện trong các tác phẩm trước đó, và xuất hiện như một mô típ chủ đạo khi đọc các tác phẩm của ông.2 Trong cuốn sách Triết học Hữu thể luận Merleau-Ponty (1997) M. C. Dillon cho là Merleau-Ponty có xu hướng nghĩ rằng chân lý có mối liên hệ mật thiết với tiền-phản tư và tiền-ngôn ngữ hơn là với ngôn ngữ; mặc dù Dillon thận trọng nói rằng ông không thể chứng minh được cách hiểu này. Tôi nhận thấy quan điểm về cái vô hình trong trải nghiệm của mỗi người về thế giới và những kẻ khác như là yếu tố cấu thành nên ý nghĩa và chân lý khá nổi bật trong tác phẩm của Merleau-Ponty, và tôi sẽ cố gắng chứng minh điều đó trong bài luận này.

Trong cách tiếp cận ý nghĩa và chân lý ấy, cần phải nhấn mạnh sự khác biệt quan trọng giữa hiện tượng học và chủ thuyết hiện tượng. [Ghi chú dài về phenomenologism chủ thuyết hiện tượng: Trong siêu hình học, chủ thuyết hiện tượng cho rằng các vật thể vật lý không thể được coi là tồn tại một cách chân chính là ‘vật tự thân’, mà chỉ như những hiện tượng tri giác hoặc kích thích giác quan, ví dụ: màu đỏ, độ cứng, độ mềm, độ ngọt, v.v., nằm trong không gian và thời gian; đặc biệt, một số hình thức của chủ thuyết hiện tượng quy giản mọi cuộc thảo luận về các vật thể vật lý trong thế giới bên ngoài thành những cuộc thảo luận về các tập hợp dữ liệu giác quan; chủ thuyết hiện tượng là một hình thức cực đoan của chủ nghĩa kinh nghiệm; nguồn gốc của nó như một quan điểm bản thể học về bản chất của sự tồn tại có thể được truy ngược lại George Berkeley và chủ nghĩa duy tâm chủ quan của ông, mà David Hume đã phát triển thêm; John Stuart Mill có một lý thuyết về nhận thức thường được gọi là chủ thuyết hiện tượng cổ điển; điều này khác với chủ nghĩa duy tâm của Berkeley trong cách giải thích về việc các vật thể tiếp tục tồn tại khi không ai nhận thức được chúng; Berkeley cho rằng một Thượng đế toàn tri nhận thức được tất cả các vật thể và đó là điều giữ cho chúng tồn tại, trong khi Mill cho rằng khả năng trải nghiệm vĩnh viễn là đủ cho sự tồn tại của một vật thể; những khả năng vĩnh viễn này có thể được phân tích thành các điều kiện phản thực tế, chẳng hạn như ‘nếu tôi có cảm giác loại y, thì tôi cũng sẽ có cảm giác loại’; tuy nhiên, như một lý thuyết nhận thức luận về khả năng nhận thức các vật thể trong thế giới bên ngoài, công thức dễ tiếp cận nhất của chủ thuyết hiện tượng có lẽ được tìm thấy trong chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm của Immanuel Kant; theo Kant, không gian và thời gian, vốn là những hình thức tiên nghiệm và điều kiện tiên quyết của mọi kinh nghiệm giác quan, ‘chỉ liên hệ đến các đối tượng khi chúng được xem như hiện tượng, nhưng không đại diện cho bản thể tự thân của sự vật’; mặc dù Kant khẳng định rằng tri thức bị giới hạn ở các hiện tượng, nhưng ông không bao giờ phủ nhận hay loại trừ sự tồn tại của những đối tượng không thể nhận biết được thông qua kinh nghiệm, tức là những noumena vật tự thân, mặc dù bằng chứng của ông về noumena gặp nhiều vấn đề và là một trong những khía cạnh gây tranh cãi nhất trong tác phẩm Phê phán của ông; do đó, „epistemologischer Phänomenalismus“, ‘chủ thuyết hiện tượng nhận thức’ của Kant, như người ta vẫn gọi, hoàn toàn khác biệt với phiên bản bản thể luận trước đó của Berkeley; theo quan điểm của Berkeley, cái gọi là ‘vật tự thân’ không tồn tại ngoại trừ như những tập hợp cảm giác được tri giác một cách chủ quan, được đảm bảo tính nhất quán và bền vững bởi vì chúng liên tục được tâm trí của Chúa tri giác; do đó, trong khi Berkeley cho rằng các vật thể chỉ đơn thuần là tập hợp các cảm giác, thì Kant lại cho rằng các vật thể không ngừng tồn tại khi chúng không còn được tri giác bởi một chủ thể hoặc tâm trí thuần túy của con người; vào cuối thế kỷ 19, một hình thức cực đoan hơn nữa của chủ thuyết hiện tượng đã được Ernst Mach hình thành, sau đó được Russell, Ayer và các nhà thực chứng luận logic phát triển và hoàn thiện; Mach bác bỏ sự tồn tại của Chúa và cũng phủ nhận rằng các hiện tượng là dữ liệu được trải nghiệm bởi tâm trí hoặc ý thức của các chủ thể; thay vào đó, ông cho rằng các hiện tượng cảm giác là ‘dữ liệu thuần túy’ mà sự tồn tại của chúng được coi là có trước bất kỳ sự phân biệt tùy ý nào giữa các phạm trù tinh thần và vật chất của các hiện tượng; bằng cách này, chính Mach là người đã hình thành luận điểm chính của chủ thuyết hiện tượng, là thứ phân biệt nó với các lý thuyết tập hợp về vật thể: vật thể là những cấu trúc logic được tạo ra từ dữ liệu cảm giác hoặc ý tưởng; trong khi theo các lý thuyết tập hợp, vật thể được tạo thành từ các tập hợp, hoặc các bó, các ý tưởng hoặc tri giác thực tế; theo lý thuyết bó, việc nói rằng quả lê trước mặt tôi tồn tại đơn giản chỉ là nói rằng một số thuộc tính nhất định như màu xanh, độ cứng, v.v., đang được tri giác tại thời điểm này; khi những đặc điểm này không còn được bất kỳ ai tri giác hoặc trải nghiệm nữa, thì vật thể là quả lê, trong trường hợp này, không còn tồn tại; ngược lại, chủ thuyết hiện tượng luận do Mach đề xướng cho rằng các vật thể là những cấu trúc logic được tạo ra từ các thuộc tính tri giác; theo quan điểm này, việc nói rằng có một cái bàn trong phòng khác khi không có ai trong phòng đó để tri giác nó, có nghĩa là nếu có ai đó trong phòng đó, thì người đó sẽ tri giác được cái bàn; điều quan trọng không phải là tri giác thực tế, mà là khả năng có điều kiện của việc tri giác; chủ nghĩa thực chứng logic, một phong trào bắt đầu từ một nhóm nhỏ tập trung quanh nhà triết học Moritz Schlick ở Vienna, đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà triết học trong thế giới nói tiếng Anh từ những năm 1930 đến những năm 1950; những ảnh hưởng quan trọng đến trường phái kinh nghiệm luận của họ bao gồm Ernst Mach — người giữ chức Giáo sư Khoa học Quy nạp tại Đại học Vienna, một vị trí mà Schlick sau này cũng nắm giữ — và nhà triết học Bertrand Russell của Đại học Cambridge; ý tưởng của một số nhà thực chứng luận logic, chẳng hạn như A. J. Ayer và Rudolf Carnap, là áp dụng chủ thuyết hiện tượng theo thuật ngữ ngôn ngữ, cho phép diễn ngôn đáng tin cậy về các đối tượng vật lý, chẳng hạn như bàn, theo đúng nghĩa của kinh nghiệm giác quan thực tế hoặc có thể xảy ra; nhà triết học người Mỹ thế kỷ 20 Arthur Danto khẳng định rằng ‘một người theo chủ thuyết hiện tượng tin rằng bất cứ điều gì cuối cùng có ý nghĩa đều có thể được diễn đạt bằng kinh nghiệm giác quan của bản thân chúng ta; ông tuyên bố rằng ‘Người theo chủ thuyết hiện tượng thực sự cam kết với loại chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để nhất: đối với anh ta, việc tham chiếu đến các đối tượng cuối cùng luôn là việc tham chiếu đến kinh nghiệm giác quan’. Theo: Berlin, Isaiah, The Refutation of Phenomenalism. The Isaiah Berlin Virtual Library, 2004; Bolender, John. Factual Phenomenalism: a Supervenience Theory, in Sorites Issue 09. April 1998. pp. 16–31. HHN] Hiểu lời nói như một hiện tượng tồn tại, mang ý nghĩa, như R. L. Lanigan (1991) [tr.335] và nhiều người khác, đã mở cho triết học ngôn ngữ Merleau-Ponty vào ý nghĩa phi-ngôn ngữ nguyên gốc - một cử chỉ sống động hơn là một hệ thống ký hiệu đã trầm tích. Lanigan viết: Điểm cần nhớ liên quan đến chủ thuyết hiện tượng ngôn ngữ: ý nghĩa là một chức năng của thực tại khách quan được biết đến bởi một chủ thể tri giác. “Ý nghĩa” ở đây là một cấu trúc có ý thức bắt nguồn từ sự gặp gỡ khách quan. Tính nhị nguyên của chủ thể và đối tượng là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành ý nghĩa mạch lạc trong cả hai lĩnh vực—cái cá nhân hoặc cái thế tục. (Lanigan 1991: 29)   

Chủ thuyết hiện tượng ngôn ngữ mà Lanigan đề cập đến là bất kỳ lý thuyết ký hiệu học nào dựa trên chức năng của các dấu hiệu trên cấu trúc bộ ba của đối tượng—dấu hiệu—chủ thể diễn giải. Theo cách hiểu này, dấu hiệu được bắt nguồn từ đối tượng (trong thực tại) và được một knowing subject chủ thể biết thừa nhận. Bất cứ ai ngần ngại khi đối mặt với lời giải thích này về sự truyền đạt ý nghĩa sẽ thấy quan điểm hiện tượng học hữu ích trong công việc của họ. Tác phẩm Lời nói và Ký hiệu học của Lanigan đã đóng góp vào việc giải thích lý do tại sao chủ thuyết hiện tượng của C. S. Peirce lại mang tính nhị nguyên chủ thể/đối tượng và làm thế nào lý thuyết của Merleau-Ponty có thể vượt qua nó. Có lẽ đã tồn tại một số dấu hiệu cho thấy hai nhà triết học không đề cập đến cùng một vấn đề, chẳng hạn, trong khi Merleau-Ponty tìm cách đạt được sự hiểu biết về tri giác và sự ‘sinh thành của ý nghĩa’, thì trọng tâm của Peirce lại là việc tiếp thu tri ​​thức, tức là ‘học hỏi bằng kinh nghiệm’ (Peirce 1958: 134). Những dòng sau đây từ Lanigan (1991: 53) rất hữu ích trong bối cảnh này: “Đối với Peirce, mọi đối tượng xuất hiện trước một chủ thể như một representamen [là một thuật ngữ trong ký hiệu học, đặc biệt là lý thuyết ký hiệu của Ch.S. Peirce, đề cập đến hình thức, biểu tượng hoặc dấu hiệu đại diện cho một đối tượng hay ý niệm khác; nó là khía cạnh hữu hình hoặc nhận thức được như từ ngữ, hình ảnh, âm thanh đại diện cho một thứ gì đó trong tâm trí ai đó. HHN] đại diện được cấu thành từ ‘nền tảng’, ‘đối tượng’ và ‘kẻ diễn giải’.” Tức là, nhận thức hoạt động như một hình thái dấu hiệu hoặc ý nghĩa là kết quả của chủ thể nhận thức, kẻ nhận ra đối tượng trong một ngữ cảnh cho thấy ý nghĩa sử dụng của nó.”

Mối quan ngại (và sự dè dặt) chính của chúng tôi đối với quan niệm bộ ba về các quá trình ký hiệu là nó vẫn bị giới hạn trong phạm vi của nhị nguyên luận chủ thể/đối tượng đã đề cập. Với suy nghĩ này, chúng ta có thể muốn khám phá xem các lý thuyết ký hiệu có thể được bổ sung thêm như thế nào bằng cách làm rõ về tri giác ở cấp độ sâu hơn, nơi người ta phải làm rõ cách thức tri giác về môi trường xung quanh hoạt động ra sao để có thể thiết lập bất kỳ loại ý nghĩa hay nội dung nào đó. Do đó, phạm vi tư tưởng của hai nhà triết học này là khác biệt, nhưng sự khác biệt này lại chỉ ra sự cần thiết phải hiểu thấu đáo hơn về bản thân tri giác để giải thích quá trình biểu nghĩa. Mặc dù vậy, hoặc có lẽ vì lý do tương tự, nghệ thuật hội họa được xem là phương tiện truyền tải ý nghĩa của hiện hữu một cách trọn vẹn nhất trong các tác phẩm của Merleau-Ponty. Hành động sáng tạo của hội họa, theo một cách nào đó, là tri giác nguyên mẫu và chính tri giác đó được thể hiện thông qua hội họa. Tôi diễn giải điều này như một sự thừa nhận về thế giới tri giác phi-ngôn ngữ, cấu thành nên ý nghĩa, và điều đó khiến người họa sĩ chịu trách nhiệm về cách thể hiện về hiện hữu. Theo phương thức đó, họa sĩ phải chịu trách nhiệm về việc thể hiện ý nghĩa vốn có trong hiện hữu thông qua quan điểm của cô ta về thế giới cũng như mạng đan dệt cô ấy với thế giới. Và chính luận điểm về tính đảo ngược của Merleau-Ponty đã làm cho quan điểm của họa sĩ trở nên hợp thức. Đồng thời, trường tri giác giờ đây [tr.336] được đặt ở vị trí trung tâm, trong khi trước đó chủ thể diễn giải tự chủ trụ lại.

Tính định chuẩn Tri giác?

Nếu chúng ta vượt ra ngoài những phân tích mô tả về các yếu tố nền tảng của triết học Merleau-Ponty và muốn tiến một vài bước để sử dụng các khái niệm của ông làm nền tảng cho một triết học định chuẩn, dựa trên những hiểu biết mà luận điểm về tính đảo ngược thể hiện, tôi nghĩ rằng chúng ta đang phù hợp với dự án cơ bản của Merleau-Ponty.3 Tạm thời gác lại những vấn đề về thái độ khách quan luận và công cụ luận đối với thế giới tri giác, vốn là điểm xuất phát của cả Husserl và Merleau-Ponty trong tác phẩm của họ, hãy cho phép tôi chỉ ra một cơ hội khả thể để sử dụng về khái niệm khả nghịch tính để hình thành nền tảng cho một đạo đức về hiện hữu, và thậm chí chứng minh cách thức mà khả nghịch tính hàm ý sự phát triển xa hơn này thành một khái niệm định chuẩn.

Khả nghịch tính trong các trải nghiệm tri giác khác nhau là một loại tương hỗ làm cho cái nhìn thấy cũng là cái được nhìn thấy, cái chạm vào cũng là cái được chạm vào. Tính tương hỗ giữa chủ thể tính và tính vật chất của thế giới là một khía cạnh trung tâm trong triết học của Merleau-Ponty. Thị giác và chuyển động là những yếu tố của tri giác được đánh dấu rõ ràng nhất bởi khả nghịch tính đặc trưng cho cách ông hiểu về lĩnh vực tri giác: Một lần nữa, thứ xác thịt mà chúng ta đang nói đến không phải là vật chất. Đó là sự cuộn xoắn của cái hữu hình lên cơ thể nhìn thấy, của cái hữu hình lên cơ thể chạm vào, điều này được đặc biệt chứng kiến khi cơ thể tự nhìn thấy chính mình, tự chạm vào chính mình khi nhìn và chạm vào mọi vật, sao cho, đồng thời, với tư cách là hữu hình, nó hiện diện giữa chúng, với tư cách là chạm, nó thống trị tất cả và rút ra mối quan hệ này, thậm chí cả mối quan hệ kép này từ chính nó, bằng phép chia tách và sinh ly khối lượng của chính nó. (Merleau-Ponty 1968: 146)

Đoạn mô tả được đưa ra một phần là diễn giải mô tả của Husserl về mối quan hệ phản xạ giữa cơ thể với chính nó, với sự vật và với tự nhiên. Mối quan hệ kép mà ông đề cập là hai khía cạnh mà qua đó cơ thể hoạt động như một “cảm giác-khả cảm” trong một dòng chảy khả nghịch tính. Kế hoạch có sẵn trong các ghi chú làm việc của cuốn Cái Hữu hình và Cái Vô hình cho thấy khả nghịch tính vượt ra ngoài cái hữu hình và tạo thành một mối quan hệ cơ bản có ý nghĩa quan trọng đối với sự hiểu biết về tự ngã, ngôn ngữ, tư duy và tính liên chủ thể. Dù có vẻ bất ngờ, nhưng điều đó vẫn ngụ ý một đồng nhất tính giữa chúng ta và cái hữu hình, mặc dù nó chỉ ra một sự đứt đoạn ngăn cách chúng ta với những thực thể vật lý đơn thuần. Các lớp không bao giờ trùng khớp; tri giác về tự ngã, trong tri giác đầy ý nghĩa về bàn tay chạm vào bàn tay đang chạm, chỉ là điều sắp xảy ra, về nguyên tắc là không thể, cũng không thể có bất kỳ khía cạnh nào trùng khớp của tự ngã trong ý thức. Sự cận kề này thể hiện tính thụ động trong tri giác, cũng như của tự ngã. Có tính thụ động trong trải nghiệm cái vô hình, như một chiều sâu, phủ định tính hiện diện hoặc tính thẳng đứng. “Nhưng thân thể nhìn của tôi bao hàm thân thể hữu hình này, và mọi cái hữu hình cùng với nó.” (Merleau-Ponty 1968: 138).

Theo cách hiểu của Merleau-Ponty, khả nghịch tính là một yếu tố mang ý nghĩa hiện sinh được cho-trước, tiền-phản chiếu, mà chức năng trung tâm của nó được thể hiện trong chiều sâu của tồn tại như cuộc bện dệt của tính vô hình của hiện hữu. Theo tôi, chính trong những đoạn văn ông viết về quan điểm của người họa sĩ, nơi sự tương tác của họa sĩ với thế giới tri giác tạo nên một quan điểm yêu cầu cá nhân phải chịu trách nhiệm về quan điểm đó trong giao tiếp với những cá nhân khác, mà Merleau-Ponty đã làm sáng tỏ chính sự hiểu biết này về tri giác. Đây là lĩnh vực quan trọng nhất trong các luận giải của ông, nơi chúng ta được dẫn dắt để hiểu hiện tượng học mô tả cũng bao hàm một lập trường định chuẩn mực liên quan đến các quan điểm khác nhau về thế giới.4 Edward Casey (2003) viết trong Hiện tượng học Sinh thái: Trở về chính Trái đất nơi chúng ta phát hiện ra thế mất cân bằng hoặc cuộc tàn phá trên bề mặt của cảnh quan theo cùng một cách mà chúng ta nhận thức được biểu hiện của một khuôn mặt trong đạo đức học Levinas. Và hơn nữa, thứ mà chúng ta trải nghiệm những sự xáo trộn này như một điều gì đó sai trái hoặc không đúng trong tự nhiên. Quan điểm của ông dường như giữ vững khẳng định hiện tượng học cơ bản cho rằng không thể nhìn nhận bất cứ điều gì một cách thờ ơ, như một kẻ quan sát trung lập được.

Merleau-Ponty đã mở ra lĩnh vực trải nghiệm, một yếu tố mà ở đó địa vị trung gian và mối tương tác giữa cơ thể và thế giới là khả thể. Trong “Một văn bản chưa được xuất bản”, được in trong cuốn Ưu việt Tri giác (Merleau-Ponty 1964), ông hứa sẽ tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực này nhằm giải quyết nhiệm vụ “lên tiếng vì thế giới câm lặng”: Bởi vì những nghiên cứu về biểu đạt và chân lý này tiếp cận từ khía cạnh nhận thức luận, tiếp cận vấn đề chung về các mối quan hệ con người—đây sẽ là chủ đề chính trong các nghiên cứu sau này của tôi. […] Các cuộc khảo sát của chúng ta cuối cùng sẽ dẫn chúng ta đến phép phản tư về con người siêu việt này, hay “ánh sáng tự nhiên” chung cho tất cả, xuất hiện xuyên suốt dòng chảy lịch sử—đến việc phản ánh về cái Logos này, vốn giao cho chúng ta nhiệm vụ lên tiếng vì một thế giới câm lặng. Cuối cùng, chúng sẽ dẫn chúng ta đến một nghiên cứu về cái Logos của thế giới được tri giác mà chúng ta đã gặp trong những nghiên cứu sớm nhất về bằng chứng của sự vật. (Merleau-Ponty 1964: 9–10) Tôi muốn lưu ý đến một tuyên bố khác mà ông đã đưa ra trong “Một văn bản chưa được xuất bản”. Vào thời điểm đó, ông tin chắc rằng hiện tượng biểu đạt là nơi thích hợp để nghiên cứu liên chủ thể tính, lịch sử, tự nhiên và văn hóa. Ông viết: “Việc thiết lập điều kỳ diệu này sẽ chính là siêu hình học và đồng thời sẽ ban cho ta nguyên tắc của một đạo đức học.” (Merleau-Ponty 1964: 11)    

Thực chất Treo lại của Hiện tượng học5

[Tr.338] Hiện tượng học nhắm đến phép quy giản ảnh hưởng của các mô thức tư duy kế thừa và định kiến ​​trong hiểu biết, bằng cách giới thiệu ‘phép quy giản’ hay epoché ‘treo lại’; một cách đình chỉ niềm tin và các tuyên bố về tồn tại trong kinh nghiệm. Phép quy giản sẽ giúp chúng ta lùi lại một bước và xem xét kỹ hơn hiểu biết của mình, nó đình chỉ niềm tin tự nhiên của chúng ta về những sự vật được trải nghiệm; một trạng thái ý thức được ‘quy giản’, bởi vì nó kiêng dè các tuyên bố về trạng thái của sự vật. Do đó, La Transcendance de l’Ego “Cái tôi Siêu Việt” [Tác phẩm La Transcendance de l’Ego Cái tôi Siêu việt, tác phẩm triết học thực sự đầu tiên và độc đáo của Jean-Paul Sartre, được viết vào năm 1934, một phần trong thời gian ông ở Berlin để nghiên cứu hiện tượng học của Husserl, và được xuất bản năm 1936 trên tạp chí Les Recherches philosophiques Nghiên cứu Triết học; tác phẩm này tiêu biểu cho một cuộc tranh luận nội bộ trong trường phái hiện tượng học, do đó, việc nhắc đến Husserl không có gì đáng ngạc nhiên; mặt khác, điều có thể gây ngạc nhiên là vai trò quan trọng của Kant; do đó thuật ngữ ấy mang dấu ấn của cả Husserl và Kant; trong các tác phẩm sau này của Sartre, thuật ngữ conscience transcendantale ‘ý thức siêu việt’ sẽ không còn được tìm thấy nữa; luận điểm của La Transcendance de l’Ego Cái tôi Siêu việt là cái tôi không phải là một habitant “cư dân” của ý thức, nghĩa là nó không phải là nền tảng của ý thức mà là một đối tượng của ý thức; luận điểm đầu tiên, được nêu ngay từ đầu tác phẩm, được bổ sung thêm một luận điểm thứ hai ở phần cuối, theo đó ý thức siêu việt bắt nguồn từ spontanéité impersonnelle tính tự phát phi cá nhân; quan điểm của Sartre khá độc đáo, bởi vì ông bắt đầu từ ý thức và sau đó xây dựng một triết học về ý thức, nhưng không phải là triết học về chủ thể; như tiêu đề phụ Esquisse d’une Description phénoménologique Phác thảo một mô tả hiện tượng học đã chỉ ra, phương pháp được sử dụng là mô tả; nó bao gồm việc mô tả một thí nghiệm tư duy mà điểm xuất phát là ý thức, và chính xác hơn, là một ý thức được định nghĩa bởi l’intentionnalité ý hướng tính; trong phần đầu, thông qua mô tả, Sartre đưa ra những quan sát và phân tích l’Ego dans sa double composante d’un Je et d’un Moi Cái Tôi gồm hai thành phần: một Tôi và một Bản ngã; trong phần thứ hai của tác phẩm, ông lại sử dụng phương pháp mô tả để xem xét sự cấu thành của Cái Tôi. Sau khi nêu ra vấn đề, ông truy tìm nguồn gốc của nó. Tác phẩm L'Imagination Trí tưởng tượng, xuất bản năm 1936, là một công trình học thuật nằm trong dự án nghiên cứu về hình ảnh và trí tưởng tượng, bắt đầu từ năm 1927 với luận án tốt nghiệp mang tên L’Image dans la vie psychologique : rôle et nature Hình ảnh trong đời sống tâm lý: Vai trò và bản chất; được bắt đầu từ rất lâu trước La Transcendance de l’Ego Cái tôi Siêu việt, tác phẩm này vẫn mang đậm tư tưởng của Husserl nhưng không có nhiều tính độc đáo; thậm chí vài năm sau, Sartre còn viết: “Husserl m’avait pris, je voyais tout à travers les perspectives de sa philosophie qui m’était d’ailleurs plus accessible, par son apparence de cartésianisme. J’étais ‘husserlien’ et devais le rester longtemps.” (Carnets de la drôle de guerre, p. 225) “Husserl đã mê hoặc tôi; tôi nhìn mọi thứ qua lăng kính triết học của ông, hơn nữa, triết học đó dễ tiếp cận hơn với tôi, do tính chất Descartes rõ ràng của nó.” Tôi là một husserlien ‘môn đệ Husserl’ và sẽ vẫn như vậy trong một thời gian dài”. Theo Jean-Paul Sartre, La Transcendance de l’ego, Vrin, Paris, 1936-HHN] này nhận thức rõ hơn về cấu thành của những trải nghiệm có ý nghĩa của chính nó, bằng cách tập trung vào chính hành động tri giác. Điều này được thực hiện để giúp chúng ta nhận thức được những gì và nhận thức được cách thức mà chúng ta đang trải nghiệm, và liệu có bất kỳ mô thức nào đang hoạt động trong kinh nghiệm vốn đang tồn tại trong tâm trí chúng ta và tạo ra những hiểu biết định kiến ​​về thế giới hoặc về các chủ thể khác hay không.

Hơn nữa phép quy giản này còn có thể giúp chúng ta khám phá ra những suy nghĩ sai lầm xung quanh vấn đề tự nhiên là gì, con người là gì và vị trí của chúng ta trong bức tranh này. Phép quy giản cũng giúp chúng ta đặt câu hỏi về điều mà quan điểm cơ học cho là thế giới ‘thực’ duy nhất của sự vật, và để lộ những gì chính kinh nghiệm cho chúng ta biết. Nó biến thế giới của Descartes, Bacon và Galileo chính xác thành ‘thế giới mà chúng ta tri giác’, như Merleau-Ponty viết trong Lời tựa của cuốn Hiện tượng học Tri giác (Merleau-Ponty 2008). Suy ngẫm về những tiên khởi của ý nghĩa trong thế giới của chúng ta đặt ra cho chúng ta một vấn đề rất đặc biệt. Bản chất của thế giới sống dường như nắm giữ sức mạnh biểu đạt riêng của nó, và đồng thời che giấu những khía cạnh sâu sắc hơn trong một ánh sáng lờ mờ, thu hút ánh nhìn soi xét của chúng ta và hứa hẹn sẽ tự bộc lộ. Khi Merleau-Ponty chuyển sang lĩnh vực tri giác, xác thịt vật chất, để tìm kiếm quan hệ nguyên thủy của chúng ta với thế giới, đó là trở lại với khởi đầu nơi triết học có thể thiết lập một nền tảng giúp có thể nhìn thấy những chuyển động sơ khai của ý nghĩa ban đầu.

Nhưng sự suy tư triết học mang tính tuần hoàn, và trong quá trình tiến triển, nó quay trở lại với những lực lượng quyết định của nó, như John Sallis đã diễn đạt (Sallis 1973). Và Merleau-Ponty viết trong “Nhà triết học và cái bóng của ông ta” (trong Merleau-Ponty 1995) rằng nhiệm vụ của chúng ta phải là suy nghĩ lại, đưa ra những diễn giải mới và thực hiện lại những gì mà hiện tượng học của Husserl mô tả là nền tảng tối thượng. Tính tuần hoàn trong suy tư có nghĩa là những câu hỏi ban đầu của chúng ta để lại dấu ấn trên kết quả của cuộc khảo sát; do đó, phép quy giản hiện tượng học không bao giờ hoàn chỉnh và phải được quay trở lại như một nhiệm vụ liên tục. Khi chúng ta đặt câu hỏi về kinh nghiệm là gì và cấu trúc tiền điều kiện của nó là gì, thì thách thức của việc đối mặt với kinh nghiệm được đưa ra trực tiếp trở nên đặc biệt gay gắt.6 Chắc chắn đó là một nhiệm vụ mơ hồ và chưa hoàn thành khi quay trở lại nguồn gốc của kinh nghiệm và cố gắng nắm bắt khoảnh khắc thiết lập ý nghĩa, và bắt gặp trong hành động một tri giác tự nhiên, thô sơ; ý chí muốn nhìn thế giới như nó vốn có trước khi triết học và khoa học, sự suy ngẫm và ngôn ngữ định hình và đánh dấu kinh nghiệm. Nhiệm vụ này tự nó là một câu hỏi về chính chúng ta, về liên chủ thể tính và về bản chất. Có một số định kiến ​​mạnh mẽ liên quan đến kinh nghiệm dựa trên tri giác hoặc là tiếp cận [tr.339] từ bên trong chủ thể như một nội tại, hoặc từ bên ngoài, như một điều đã cho sẵn, trong chủ nghĩa hiện thực.7

Không giả định nào trong số này có thể được áp dụng vào việc khảo sát thế giới, ngay cả khi cuối cùng chúng ta phải đối mặt với niềm tin tri giác của mình, đó là con đường duy nhất dẫn chúng ta đến mối quan hệ cơ bản của chúng ta với thế giới tự nhiên. Nhưng tự nhiên còn hơn cả sự suy ngẫm của chúng ta về nó. Chúng ta phải bằng cách nào đó suy ngẫm về kinh nghiệm mà không định vị hoặc xác định trước bản chất của kinh nghiệm, chẳng hạn như bắt nguồn từ bên trong nội tại của cái tôi, điều này sẽ chỉ sao chép kinh nghiệm trong ý thức. Tất cả biểu hiện của thế giới và tình huống của chúng ta đều mang dấu ấn của cuộc dấn thân hoàn toàn của chúng ta vào thế giới. Chính niềm tin của chúng ta vào một thế giới chung đã làm cho kinh nghiệm về chân lý trở nên khả thể.

___________________________________________

(Còn nữa…)

Nguồn: Aarø Ane Faugstad (2010). Merleau-Ponty’s Concept of Nature and the Ontology of Flesh. In Biosemiotics (2010) 3:331–345.

Tác giả: Nữ giáo viên Trung học dạy các môn tâm lý học, triết học, tiếng Anh và tiếng Pháp, tác giả của nhiều bài viết về hiện tượng học và văn học; lĩnh vực nghiên cứu quan tâm bao gồm triết học, hiện tượng học và triết học tôn giáo.

Notes

1 The first part of the article was presented in an earlier version at the conference “Environment, Embodiment and Gender” at the University of Bergen, Norway, in 2008.

2 The writing of the two works, La Prose du Monde and L’Origine de la vérité, was abandoned in 1959 when Merleau-Ponty focused on The Visible and the Invisible, the work that most explicitly represents his

philosophical foundation for theses on truth and intersubjectivity.

3 A similar argument has been proposed by Sean Kelly (forthcoming) in his article “The normative nature of perceptual experience”, forthcoming. He argues that in The Phenomenology of Perception Merleau-Ponty describes how perception avoids unclear views of objects and that this normativity of experience belongs to experience itself and is not grounded in the subject’s take on it.

4 Contrary to Toadvine’s claim in Merleau-Ponty’s Philosophy of Nature (Toadvine 2009), where the idea of an ethics of being is ruled out as far as the ontology of the flesh is concerned, I emphasize how the origination of sense in the sensible field, which is flesh, is constitutive of all truth, meaning and expression, and therefore ‘better’ or ‘truer’ perspectives. Cf. the statement (Toadvine 2009: 133): “A similar mistake has often been made by those who look to Merleau-Ponty’s descriptions of flesh as the basis for new ethical principles in our relation with nature.” I base my argumentation on a different aspect of flesh, namely its founding function for sense and expression.

5 The second part of this article was presented in an earlier version at the conference “The Genesis of Phenomenology: From Husserl to Merleau-Ponty” at the University of Bergen, Norway, 2009.

6 See for instance “Preobjective being: The solipsist world” in The Visible and the Invisible (Merleau-Ponty 1968).

7 By “access from the outside” I mean theories based on logical investigations that are intended to test the legitimacy of direct experience; or as in realism or empiricism; collectively called objectivism in this context.

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét